Từ Nguyên Tĩnh, một tư duy thơ hiện đại
Dù thành tựu thơ ca của Từ Nguyên Tĩnh chưa ấn tượng như văn xuôi, nhưng có thể thấy ông là người nghệ sĩ có tố chất thi ca đẹp đẽ. Quan tâm đến nhiều chủ đề, ông không dùng thơ luật mà hứng thú theo đuổi các dạng thức thơ tự do. Bằng cảm xúc chân thành, bằng trải nghiệm và tri thức phong phú, ông có nhiều sáng tạo về hình ảnh nhưng không phải là những tân kỳ, khác biệt mà chân thực, tươi mới, giàu khả năng biểu đạt, suy tưởng và liên tưởng…
Từ Nguyên Tĩnh thành danh như ngày hôm nay không phải bởi
thơ. Tôi biết ông là một nhà văn “chuyên canh” thể loại truyện ngắn và tiểu
thuyết, nhưng thơ ông quả thực đã làm cho tôi xúc động. Bắt đầu là một tráng ca
mang tên Trái tim nhịp cầu[1], tôi đã hứng thú tìm
đọc Tuyển tập Từ Nguyên Tĩnh[2]. Tập sách đẹp, công
phu, thể hiện những thành tựu quan trọng của Từ Nguyên Tĩnh trong hoạt động nghệ
thuật. Trong tiểu luận này, tôi muốn nói về thơ ông – thứ thơ của một người
không thật sự chuyên nghiệp về thơ, nhưng có nhiều điều đáng để độc giả suy ngẫm
và trân trọng.
Như đã nói, ấn tượng đầu tiên của tôi về thơ ông là với Trái
tim nhịp cầu. Khúc tráng ca là cảm xúc đau xé của người lính trước cảnh cầu Hàm
Rồng – cây cầu huyết mạch chi viện cho tiền tuyến trong chiến tranh chống Mỹ –
bị giặc ném bom tàn phá. Nhà thơ ngỡ ngàng thốt lên: “Ôi cái phút sinh tử/Trái
tim tôi tan vỡ/Tôi lặn vào tim mình mà gọi/Nhịp cầu ơi!”. Nỗi đau đớn tột cùng
khiến người viết không kịp dùng kỹ thuật, thủ thuật, chỉ dùng một thứ duy nhất
là trạng thái xúc động mãnh liệt. Bởi thế, tiếng nói nghệ thuật của Từ Nguyên
Tĩnh ở đây trở nên mới lạ, không lặp lại, không mòn cũ:
“Kìa đôi Mắt Rồng vẫn mở trơ trơ
Mở mắt
Như chưa bao giờ biết ngủ
Và Hòn Ngọc sáng bừng bên kia sông
Chứa chất ngọc vào trong tim tôi
…
Nòng pháo trên đồi cao suy ngẫm
Trận đánh thương vong ban chiều
Những hố bom quân thù loang lổ
Chạy vào trong tim”
(Trái tim nhịp cầu)
Chiến tranh, ranh giới giữa sự sống và cái chết là gang tấc.
Vậy nên, chỉ trong phút chốc, dòng sông Mã, nhịp cầu Hàm Rồng oai hùng, sừng sững
là thế, trở thành những sinh thể đầy đau đớn, bật lên những phức cảm làm rung động
trái tim nhà thơ, trái tim độc giả. Người lính giữ cầu bằng tất cả tình yêu và
nỗi lo lắng, dường như không đêm nào yên giấc ngủ. Mọi diễn biến liên quan đến
cây cầu đều được anh dùng tất cả giác quan để tri nhận với hy vọng giữ bình yên
trong mỗi phút, mỗi giờ:
“Dòng sông Mã không ngớt thở dài
Hình hài tóc bạc
Hàng dừa đôi bờ lao xao hư thực
Chưa bao giờ có giấc ngủ yên
Đâu đây xạc xào cánh chim
Bay đi tìm tổ”
Vậy nên, khi trận bom làm cây cầu bị thương, người lính như
thấy trái tim mình bị thương tổn nghiêm trọng. Anh chất vấn chính mình: “Tiếng
nổ có làm sai nhịp tim không” và dùng hình ảnh trái tim chứa hố bom để biểu đạt
một nỗi đau quá lớn:
“Tôi bước vào tim mình
Lạ. Rất lạ
Hố bom sao nhiều quá
Mà trái tim lại nhỏ
Có chứa nổi được không
Tôi chưa gặp một căn hầm
Vững chãi như trái tim
Chưa gặp ở đâu một tình thương
Như tình yêu của trái tim mở cửa”
Những hình ảnh “đôi Mắt Rồng vẫn mở trơ trơ”, dòng sông Mã thở
dài, trái tim mở cửa… là những sáng tạo mang ý nghĩa biểu tượng. Cây cầu Hàm Rồng
với những nhịp bằng sắt, trải qua năm tháng, nhìn bên ngoài xù xì, cũ kỹ mà
trong mắt nhà thơ, trong tình yêu mãnh liệt của người lính giữ cầu, trở nên có
sinh mệnh, có tâm hồn, có sức sống mãnh liệt vượt lên tất cả đạn bom, “sừng sững
hiên ngang đứng giữa trời”. Tương tự, những hình ảnh “Hố bom ngày xưa và hố bom
bây giờ chồng lên nhau”, “Hố bom cụp mắt lại/Cỏ đang lan trên miệng hố bom”
không chỉ dừng lại ở ý nghĩa tả thực. Hố bom là biểu tượng của tội ác, của sự hủy
diệt. Hình ảnh hố bom chồng lên nhau hàm nghĩa vết thương cũ chưa liền, vết
thương mới lại làm cho cây cầu đau đớn. Nhưng thời gian sẽ chữa lành các vết
thương, bởi tội ác rồi cũng có khi phải tự thấy xấu hổ trước những tâm hồn
thánh thiện, trước tình yêu tha thiết, từ sâu thẳm trái tim mỗi chàng pháo thủ
dành cho cây cầu yêu dấu. Có lẽ vì tình yêu với cây cầu có thật ấy, nhà thơ –
chủ thể trữ tình ngay lập tức nghĩ đến một cây cầu có thể đưa người vợ mới cưới
đến với tình yêu nếu chẳng may trong trận đánh sau cùng anh ngã xuống:
“Nếu anh ngã xuống
Vào trận đánh sau cùng
Sẽ làm một đoạn cầu bắc trên đường
Cho em đi đến tình yêu.”
Đọc toàn bộ phần thơ và trường ca của Từ Nguyên Tĩnh trong tập
5 của bộ Tuyển tập Từ Nguyên Tĩnh, dễ dàng nhận thấy ông thiên về tạo dựng
những diễn ngôn tư tưởng, triết luận. Từ Nguyên Tĩnh luận bàn nhiều vấn đề: thượng
đế, trời, Phật, thánh thần, nhân tình thế thái… Tư duy thơ của Từ Nguyên Tĩnh
khoáng đạt, linh động. Ông không dừng lại ở một vài đề tài/chủ đề quen thuộc
như quê hương, đất nước, tình yêu, tình bạn…, mà mở rộng chiều kích của không
gian và thời gian, lịch sử và văn hóa. Từ thời gian hiện tại, ông quay về quá
khứ, rồi lại từ quá khứ kết nối hiện tại. Từ không gian có thực, ông liên tưởng
đến những miền không gian tâm tưởng, tâm linh, không gian văn hóa. Tôi đặc biệt
thích những bài ông lấy cảm hứng từ lịch sử như: Ninh Bình, Chè lam
Thành Nhà Hồ, Viếng mộ Nguyễn Du, Đào Duy Từ, Giấc mơ Cồn Cỏ… Dù
kiến thức lịch sử phong phú nhưng Từ Nguyên Tĩnh không chủ trương phô bày mà
dùng cách của người họa sĩ vẽ truyền thần, chỉ một vài nét đủ để gợi cho người
đọc hứng thú tìm kiếm, khám phá, đồng sáng tạo. Từ góc nhìn khác, cũng có thể
nói, ông đã dùng cả các thủ pháp của chủ nghĩa hậu hiện đại như phúng dụ, liên
văn bản để sáng tạo hình tượng trong những thi phẩm này.
Bày tỏ niềm cảm thương và ngưỡng mộ thiên tài Nguyễn Du, ông
viết: “Trong khói hương/ Tôi nghe ông nói/ Ba trăm năm/ Thơ ông đà rất cũ/
Khuôn mặt Tú Bà, Hoạn Thư, Sở Khanh và Thúy Kiều…/ Tránh trần gian chẳng được
nên nhận kiếp phiêu diêu.” (viếng mộ Nguyễn Du). Ám ảnh về thân phận Đào Duy Từ,
ông băn khoăn: “Dấn thân vào chốn binh đao ấy/ Không ngoái đầu nhìn lại đất Văn
Trai/ Đào Duy Từ ông là ai?/ Ông vì ai? Biển Quảng Bình thở dài/ Cát Quy Nhơn
trắng phau thương tiếc/ Ông là ai? Chúa Nguyễn gọi bằng Thầy/ Chúa Trịnh gọi là
đồ “xướng ca vô loài”/ Ông là ai mà như không có thực/ Cưỡi trâu lên tận mây
xanh/ Trăm năm sau/ Thành lũy không còn/ Người đời tìm ông như tìm câu hát/ Sao
thiên hạ gọi ông là thầy/ Biển trắng xóa trùng khơi” (Đào Duy Từ)… Bằng những
cách ấy, ông, một lần nữa đã huyền thoại hóa các danh nhân, thôi thúc người đọc
vén màn sương mờ của thời gian để tiếp tục suy tư cùng lịch sử.
Từ Nguyên Tĩnh nói nhiều điều liên quan đến nhà Phật. Các từ
ngữ, hình ảnh của thế giới Phật giáo như Phật ngàn mắt ngàn tay, nhà sư, chuông
chùa, từ bi, hỉ xả, vô lượng, tham, sân, si… xuất hiện khá dày trong thơ ông,
nhưng có một điều lạ, sau cùng và trên hết, với ông vẫn là cuộc đời thực với những
con người có thực. Đó là mẹ, là cha, anh chị em, vợ con, là người chú thương
binh nặng, là người bạn thơ vừa rời cõi thế, là những người lang thang kiếm ăn
nơi thành phố đông người… Chiêm nghiệm về nhân thế sau nhiều hành trình, Từ
Nguyên Tĩnh đã thức nhận về một vùng mỹ cảm riêng. Với ông, không có cõi tiên,
cõi Phật nào huyền diệu, đáng sống hơn cuộc đời trần thế. Tư tưởng này xuất hiện
trong nhiều bài, bằng những cách thể hiện không lặp lại (Thượng đế, Tế thần, Tâm, Tu
tiên…).
Thực ra, đây không phải là tư tưởng độc sáng của Từ Nguyên
Tĩnh. Ngay từ khi Thế Lữ còn “thoát lên tiên”, Lưu Trọng Lư còn “phiêu lưu
trong trường tình”, Xuân Diệu đã thấy cuộc sống trần thế là một thiên đường
trên mặt đất: “Của ong bướm này đây tuần tháng mật/ Này đây hoa của đồng nội
xanh rì/ Này đây lá của cành tơ phơ phất…” (Vội vàng). Nhưng có lẽ Từ Nguyên
Tĩnh đã không tiếp thu trực tiếp tinh thần của Xuân Diệu – nhà thơ của “niềm
khát khao giao cảm với đời”, mà chiêm nghiệm từ chính những trải nghiệm của
mình. Ông đi nhiều nơi, nếm trải nhiều vui buồn, cả vinh quang lẫn khổ đau, cô
đơn, thậm chí cô độc, nhưng trước sau vẫn chỉ muốn làm một con người trần thế
dù ông nhận thức rõ cuộc đời vô thường, ngay cả những thứ đẹp nhất mà ông từng
có rồi sẽ mất.
Trong cuộc sống thế gian nhiều vui buồn, ông dành những tình
cảm trong trẻo, thương mến nhất cho quê hương dấu yêu – Bàn Thạch (Xuân Quang,
Thọ Xuân, Thanh Hóa). Từ Nguyên Tĩnh cũng dành hẳn một phần trong tuyển tập thơ
và trường ca (Phần II) cho những bài thơ mang tính tự thuật để nói về quê
hương, gia đình, người thân và những tình cảm ông dành cho quê nhà. Với một nhà
văn đã thành danh, có nhiều cách để tự họa chân dung. Từ Nguyên Tĩnh cũng không
thể không để lộ ít nhiều con người tiểu sử trong các truyện ngắn và tiểu thuyết,
nhưng có lẽ với ông, thơ mới là nơi ký thác những chỉ dấu thân phận. Phần thơ tự
thuật của Từ Nguyên Tĩnh làm xúc động người đọc bởi giọng tự sự mộc mạc, chân
thành. Chân thành giới thiệu: “Tôi là đứa trẻ mồ côi/ Mẹ ủ tôi trong rơm rạ/
Nhiều đêm dài đói khát” (những ngôi sao ở phía chân trời). Chân thành thú nhận:
“Ngôi nhà ấy giờ không còn nữa/ Chủ mới đang phá đi để xây lầu/ Ở thành phố đất
con cũng rất chật/ Không đủ tiền chuộc lại dựng lên đâu” (ngôi nhà xưa). Trong
mặc cảm về thân phận mồ côi, nhà thơ một đời “lang thang tìm bóng dáng cha mình”,
không ngừng khắc khoải về một người cha mất từ khi ông chưa đủ trí khôn để nhớ
mặt. Bức chân dung về người cha trong hình dung của Từ Nguyên Tĩnh thật đặc sắc:
“Người làng bảo/ Tôi giống cha mình/ Dáng đi mặt mũi thật y hệt/ Ngồi uống rượu/
Một cút tàn cả đêm không hết/ Say/ Rót nước lã cũng bảo là rượu ngọt” (Cha).
Không phải là một tiếng nói, ông vẽ hình cha mình từ nhiều quan chiếu khác
nhau, chủ yếu là lối nói phúng dụ, tạo nên một hình dung dài rộng theo năm
tháng cuộc đời và những mối quan hệ của cả cha và con. Những tiếng nói, dù đôi
khi không mấy thiện cảm, vẫn đủ để ông phác họa chân dung người cha trong niềm
nhớ tiếc và tự hào, bởi ông cho rằng chính ông, bằng việc tạo dựng những giá trị
của mình, đã làm nên giá trị của đấng sinh thành.
Cũng bằng giọng mộc mạc, chân thành ấy, những tự thuật của Từ
Nguyên Tĩnh đã làm sống lại, theo một cách riêng, không chỉ ký ức của nhà thơ,
mà cả một thời xa xưa của nhiều số phận, từ thời kháng chiến chống Pháp, rồi chống
Mỹ, cả một không gian nông thôn vùng Bắc Trung bộ – mảnh đất “lắm người nhiều
ma” nhưng cũng giàu trầm tích văn hóa, lịch sử, phong tục… Bài thơ Làm người
Thanh Hóa đi em dùng hình thức đối thoại trong tự tình để giới thiệu một
cách đầy tự hào về đất và người Thanh Hóa. Bao nhiêu tên đất, tên người là bấy
nhiêu nét đặc sắc riêng có của một vùng quê – đặc sắc trời phú và người phú,
thiên tạo và nhân tạo: “về làm người Thanh Hóa đi em/ Qua Neo/ Bàn Thạch/ Quần
Tín/ Hậu Hiền/ Qua sông Mã, sông Chu/ Lên miền Tây Bắc/ Qua Vạn Hà/ Ngã Ba
Bông/ Nhớ chè lam Phủ Quảng (…) Về Thanh Hóa làm dâu đi em/ Lên núi
Nưa/ Có gặp bóng tiều phu hái củi/ Mới thương người con gái/ Cỡi voi dẹp giặc/
Cứu nước non” (Làm người Thanh Hóa đi em). Điều thú vị là Từ Nguyên Tĩnh liệt
kê mà không rơi vào kể lể đơn điệu, vốn tri thức bản địa phong phú cùng sự trải
nghiệm sâu sắc cho phép ông nhắc đến mà như gợi dẫn, điểm tên mà như vẽ ra cả
không gian lẫn thời gian, nhẹ nhàng đánh thức quá khứ trở về đầy yêu thương, gắn
bó trong hiện tại.
Nghĩa là, từ những cái cụ thể, ông hay liên tưởng đến cái
vĩnh hằng, cũng như từ những chuyện cá nhân, ông thường suy tư đến cái nhân loại
rộng lớn. Câu chuyện người chú thương binh được ông chia sẻ vừa như là niềm tự
hào mãnh liệt, vừa như là một nỗi đau khó có thể nguôi ngoai. Trở về sau chiến
tranh, người cựu chiến binh với thương tật nặng nề, trở nên tàn phế, thành gánh
nặng của vợ con: “Lúc lên cơn thần kinh, sa sẩm mặt mày/ Nhưng không xé áo quần/
Không đánh đập một ai/ Chỉ khóc, cười…/ Hô: – Bắn! Bắn!” (chú tôi). Nhưng từ
câu chuyện tưởng của riêng một gia đình, từ thân phận của người lính bước ra khỏi
chiến tranh, Từ Nguyên Tĩnh suy ngẫm sâu xa hơn về mối quan hệ giữa chiến tranh
và hòa bình, về vấn đề hòa hợp, hòa giải… sau chiến tranh – những vấn đề mang tầm
nhân loại.
Nhà phê bình Lê Tú Anh ở Đại học Hồng ĐứcThơ của Từ Nguyên
Tĩnh thường dùng lối diễn đạt “điệu nói” với những đặc điểm phổ biến của loại
hình thơ này[3]: câu thơ không đồng nhất với dòng thơ,
dùng nhiều ngôn ngữ lời nói, dùng nhiều kiểu dấu câu, nhiều kiểu câu, nhất là
câu dùng trong hội thoại… Dù vậy, điểm khác dễ thấy là ông không dùng hư từ,
không “à”, “ư”, “nhỉ”, “nhé”, nghĩa là không để câu chữ dư thừa. Thậm chí, động
thái tỉnh lược câu chữ còn khiến nhiều bài thơ của ông mang hơi hướng hậu hiện
đại (từ bi, Ninh Bình, chiều đền Hùng, Hàn Mặc Tử, Hữu Loan…).
“Điệu nói” riêng của ông theo tôi, còn là cách buông lời rất tự nhiên, như lời
nói thường của chủ thể trữ tình, nó khiến cho những cách phối thanh truyền thống
bị phá vỡ: “Tu hiện đại thì tu thôi không sợ/ Lên tiên thì chưa chắc được đâu.”
(tu tiên), “Bây giờ con không sợ gặp ma/ Về đêm con mơ chuộc lại ngôi nhà/ Gặp
được người thân trong giấc ngủ/ Ngôi nhà/ Con chuộc lại/ Trong mơ…” (ngôi nhà
xưa)… Nhưng quan trọng hơn, thơ điệu nói của Từ Nguyên Tĩnh được thể hiện trong
tư duy thơ. Từ Nguyên Tĩnh thường dùng thơ để tư duy về cái thường ngày, về đời
sống đang chảy trôi. Đọc thơ Từ Nguyên Tĩnh có thể thấy ở ông thường trực tư
duy, mỹ cảm và trách nhiệm nghệ sĩ trước cuộc đời. Ông trăn trở nhiều vấn đề: sự
mai một của thuần phong mỹ tục, sự thay đổi của cảnh cũ người xưa, thân phận
con người trong cơn lốc đô thị hóa, những thách thức trong bối cảnh mở cửa hội
nhập… Điều này hẳn nhiên là một thử thách đối với nhà thơ, bởi tư duy về cái
hàng ngày đã khó, diễn tả những bề bộn, phồn tạp của đời sống đương đại càng
khó hơn rất nhiều lần. Người đọc chuyên tâm cũng có thể nhận thấy những nỗ lực
của Từ Nguyên Tĩnh, nhưng tiếc là nhà thơ vẫn hơi ôm đồm, chưa chú trọng lập tứ,
hình ảnh đôi chỗ còn mờ nhạt, thiếu sức sáng tạo bởi rung cảm và mỹ cảm.
Bên cạnh một số bài như vậy, thơ Từ Nguyên Tĩnh cơ bản vẫn thể
hiện một tư duy trẻ trung, năng động, bắt nhịp với hơi thở của đời sống đương đại,
thơ đương đại. Ông cũng có nhiều sáng tạo độc đáo về hình ảnh. Hình ảnh người
bà với tấm lưng “cong như chiếc mo cau” và “Chiếc lưng còng xuống cùng với đất/
Để nước mắt rơi không ai nhận được ra” (bà ngoại) đem lại nhiều xúc cảm: vừa hồi
nhớ về tuổi thơ với những kỷ niệm thân thương với bà, với quê qua hình ảnh chiếc
mo cau; vừa gợi lên sự hy sinh thầm lặng của bà – biểu tượng của người phụ nữ
Việt Nam, những người đã chịu đựng quá nhiều cơ cực, lam lũ, mất mát mà vẫn
kiên cường, bao dung và kiêu hãnh giữa cuộc đời. Cùng cảm xúc đó, trong
bài sao anh không về Bàn Thạch, người đọc sẽ không khỏi bất ngờ khi nhà
thơ ví von: “Nơi có mẹ ta già/ Lưng còng như bờ sông/ Gánh làng quê nghèo khó”.
Và đây là một liên tưởng khác:
“Nhà sư du khúc gỗ nện vào chuông
Chuông buông ra lời:
– Biiinh!… Bôông!…
Đầu nhà sư như chiếc dùi gõ vào da trời
không thành tiếng”
(từ bi)
Dù thành tựu thơ ca của Từ Nguyên Tĩnh chưa ấn tượng như văn xuôi, nhưng có thể thấy ông là người nghệ sĩ có tố chất thi ca đẹp đẽ. Quan tâm đến nhiều chủ đề, ông không dùng thơ luật mà hứng thú theo đuổi các dạng thức thơ tự do. Bằng cảm xúc chân thành, bằng trải nghiệm và tri thức phong phú, ông có nhiều sáng tạo về hình ảnh nhưng không phải là những tân kỳ, khác biệt mà chân thực, tươi mới, giàu khả năng biểu đạt, suy tưởng và liên tưởng. Nắm rõ những đặc trưng thẩm mỹ của thơ nhưng Từ Nguyên Tĩnh không dùng một giọng chủ quan nào mà đưa vào thơ nhiều tiếng nói khác, kết hợp với việc sử dụng nhiều kiểu câu, nhiều thủ pháp như so sánh, phúng dụ, liên tưởng, tỉnh lược, điệp từ/ngữ/cú pháp… tạo nên sự linh hoạt của giọng điệu, ngôn ngữ. Và như thế, tôi gọi Từ Nguyên Tĩnh là nhà thơ có tư duy thơ hiện đại.
Tài liệu tham khảo:
1. Trần Đình Sử (2001), Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Văn hóa –
Thông tin (tái bản), Hà Nội.
2. Tuyển tập Từ Nguyên Tĩnh (2017), 5 tập, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
Chú thích:
[1] Tác phẩm được viết năm 1972,
được công bố lần đầu trên tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, (314 + 315)
– 3 + 4/ 2021.
[2] Tuyển tập Từ Nguyên Tĩnh (2017),
5 tập, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
[3] Thơ trữ tình điệu nói là tên gọi một loại hình thơ được nhà nghiên cứu Trần Đình Sử dùng để chỉ thơ mới giai đoạn 1932-1945, bao gồm cả thơ Tố Hữu, phân biệt với Thơ trữ tình điệu ngâm thời trung đại. Xin xem: Trần Đình Sử, Thi pháp thơ Tố Hữu, Nxb Văn hóa – Thông tin (tái bản), Hà Nội, 2001.
31/5/2023
Lê Tú Anh
Nguồn: Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, số 991/2022
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét