Bùi Phan Thảo
với khúc ca bi tráng
Tâm huyết, nhanh nhạy và đầy tinh thần nhân văn, trường ca “Những ngọn khói về trời” của nhà thơ Bùi Phan Thảo gây xúc động và vừa được trao Giải thưởng Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh năm 2022. Vanvn.vn trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Châu Hồng Thủy về tác phẩm này.
Trường ca “Những ngọn khói về trời” của Bùi Phan Thảo
là cuốn truyện bằng thơ, kể lại một thảm họa lịch sử – đại dịch Covid-19 vừa mới
xảy ra ở TP. Hồ Chí Minh.
“Những ngọn khói về trời” giống như một bộ phim tư liệu
nhiều tập, có nhiều phân cảnh đan xen, có những khung cảnh chung bi tráng, có
lúc lại cụ thể chi tiết như ống kính tập trung đặc tả. Mười chương của trường
ca:”Đêm trước ngày phong tỏa”, “Nhân loại bàng hoàng”, “Sài Gòn đau một phần
thân thể”, “Những chiến binh thầm lặng”, “Thơm mãi những bàn tay”, “Chúng tôi
chỉ tạm xa thành phố”, “Những ngọn khói về trời”, “Đối diện”, “Tưởng niệm”, “Hồi
sinh” đã tái hiện được cả quá trình của thảm họa đau thương mà người dân
thành phố gánh chịu…
Mở đầu tập thơ là những “thước phim” tả cảnh TP Hồ Chí
Minh “Đêm trước ngày phong tỏa” đầy âu lo, với dự cảm tang tóc cận kề.
Ống kính tập trung vào nhân vật “tôi – tác giả” đang mất ngủ “đứng trên tầng
20 cao ốc chung cư” nhìn xuống thành phố “ánh điện nhiều tháng rồi
vàng vọt hơn…”. Vì dịch bệnh kéo dài đã nhiều ngày nên “thành phố vắng
hoe… tiếng rao đêm đã chìm sâu sau những bức tường mái tôn dãy trọ/ không có tiếng
xe ba gác phành phạch giữa khuya/ í ới gọi nhau ra chợ Bình Điền gom hàng về bỏ
mối…” (tr 14).
Những âm thanh trong đêm bây giờ chỉ là những âm thanh báo hiệu
chết chóc: “Xe cứu thương rúc những hồi còi dài nhức nhối tâm can/ xoắn thêm những
nỗi lo rõ ràng và mơ hồ/ có tên và không tên/ cứ sợ thành phố bật cơn ho rũ rượi/
ôm ngực đau/ đôi mắt thâm quầng”… Rồi ống kính máy quay đặc tả hai gương mặt: “Ông
già bán vé số nằm chèo queo không biết ngày mai lấy gì để sống/ thằng bé lượm
ve chai ngồi mơ gói xôi mặn có miếng lạp xưởng mỏng dính mỡ màng” (tr 14).
Hai nhân vật này đại diện cho những thân phận tha hương nghèo khổ nhất, mỏng
manh nhất trong đại dịch.
Nhà thơ dành nhiều dòng thơ miêu tả hoàn cảnh và nỗi tuyệt vọng
của ông già bán vé số không rõ từ vùng quê nào lên thành phố mưu sinh. Tuy “Đất
Sài Gòn dễ sống/ siêng năng tần tảo là có cơm ăn/ một góc vỉa hè cũng lập nghiệp,
lập thân/ đất không phụ người, người không phụ đất/ Sài Gòn không đất lành chim
đậu/ nhưng Sài Gòn bao dung cưu mang những phận dân nghèo” (tr 14), nhưng
nào có ai nghĩ đến có một ngày dịch bệnh toàn thế giới kéo dài, cũng chẳng có
ai nghĩ đến một ngày cả TP Hồ Chí Minh bị phong tỏa, nên giờ lâm vào cảnh lao
đao. Lệnh phong tỏa đến trong lúc“những đồng tiền còm cõi đã bay đi theo bàn
tay trắng”, nhiều người chẳng còn khả năng trả tiền thuê nhà trọ, chẳng
còn tiền mua nổi một cái bánh mỳ, hay cân gạo. Ông già kể: “Mấy hôm trước
theo nhau làm một cuộc hồi hương bất thành/ quay lại sống qua ngày trong xóm trọ
buồn thiu dây giăng tứ phía/ nay thành phố phong tỏa thêm một tháng/ lại vội vã
hồi hương rồi cũng bất thành…” (tr 15).
Dịch bệnh đã tạo nên cảnh “sân bay vắng bóng người/ quốc lộ vắng
bóng người/ phố xá đìu hiu/ làng quê quạnh quẽ/ ai ở đâu yên đấy/ mà lòng nào
yên…” (tr 26). TP Hồ Chí Minh trở thành nơi ”những chùm ca bệnh dồn
vào hẻm nhỏ/ khăn tang trắng từ đầu con phố/ nước mắt vòng quanh ra đến bờ
kinh” (tr 33-34).
Là nhà báo trực tòa soạn hàng ngày phải nhận dữ liệu, sắp xếp
đưa tin số ca nhiễm bệnh, số người chết vì COVID-19 lên báo kịp thời, với Bùi
Phan Thảo, đó không chỉ là những con số, mà còn là những thân phận bất hạnh của
kiếp người: “Biết mỏng mảnh lằn ranh tử sinh/ mà vẫn nhói lòng con số mỗi
ngày trên báo/ tôi ngồi lặng trước tin bài từng đêm giông bão/ ngoài kia gió quật
mưa gào/ nước mắt khô lại đầy như biển/ sóng dâng lên trôi hết những vì sao” (tr
35).
Chương “Chúng tôi chỉ tạm xa thành phố” viết về cuộc hồi
hương bất đắc dĩ là chương bi tráng nhất của trường ca. “Về thôi em/ về
quê mình ư, xa lắm/ xa cũng phải về, ở đây không biết ra sao/ kéo nhau đi còn
hơn chờ điều không rõ/ ừ thôi chở nhau về trên xe máy/ những ngả đường thiên lý
vắng người qua/ bên vệ đường có ai nằm lại/ không đi nổi, bỏ cuộc rồi/ một nén
nhang thay cho lời tạm biệt” (tr 68-69). Cuộc hồi hương vạn dặm này (chủ yếu
về phương Bắc) là con đường đi ngược với hành trình của cha ông. “Chúng
tôi đi đường thiên lý rùng rùng/ vó ngựa xưa của cha ông tung bụi mù thế kỷ/
chinh chiến lao lung đổi lấy hòa bình/ con cháu hôm nay đối diện với nghiệt ngã
tử sinh/ phải chọn lối về trú ngụ…” (tr 70).
Khó cầm được nước mắt khi đọc những dòng thơ tác giả miêu tả trong đoàn người hồi hương ấy, có hình ảnh người vợ trở về trong một chiếc bình tro trên tay người chồng: “Cha đưa mẹ về quê/ cha nâng mẹ trên tay ôm mẹ trong lòng/ đường dài hun hút mắt cha sâu như đêm trường/ Thôi em về yên nghỉ với quê hương/ bỏ lại phồn hoa những ngày yêu dấu/ những buổi tan ca hò hẹn tình đầu/ chúng ta đã có một gia đình/ có tiếng cười trong veo của con/ chúng ta đã có tất cả/ nhưng đại dịch đã lấy đi tất cả/ anh đưa em về/ quên hết buồn thương đau khổ/ em ngủ ngon trên xứ sở quê nhà/ trong lời ru ngọn gió đồng xa/ trong nỗi nhớ buồng tim anh quặn thắt…” (tr 73), hoặc người vợ vừa thoát khỏi lưỡi hái tử thần, mất trí, thẫn thờ, bởi trụ cột tựa nương của đời mình giờ chỉ còn là một bình tro: “Nhưng sao anh bỏ em đi trước/ em cô đơn và con mồ côi/… nén đau thương em biết mình mất trí/ quờ quạng đi quờ quạng sống qua ngày/ đưa anh về bến gió lắt lay/ gửi tro cốt lên chùa cho ấm cúng/ chiều xưa bờ sông tay trong tay/ chiều nay bờ sông hồi chuông rụng/ hơi thở trầm nghi ngút khói hương…” (tr 76)
Hình ảnh “Những ngọn khói về trời”, là ngọn khói lò
hỏa thiêu, là biểu trưng cho những linh hồn từ bỏ cõi đời trần thế về với cao
xanh. Nhìn những ngọn khói bay lên trời suốt ngày đêm, kéo dài trong nhiều ngày
không ngớt, người ta biết được mức độ của thảm họa.
Đọc “Những ngọn khói về trời“, ta thấy Bùi Phan Thảo như
hóa thân vào linh hồn của những người đã khuất, nhiều người chưa đi hết nửa cuộc
đời đã phải chịu cái chết oan uổng – để nói lên nỗi lòng của họ: “Lối về
đã trùng trùng vạn dặm/ lũ quỷ dẫn đường cho cuộc chia ly/ âm dương nhập nhòa
chiều hôm nhập nhoạng/ có người vịn cành cây rướn cổ hát một bài ca/ Hát rằng:
Quê hương ơi ta từng có quê hương/ nhà cửa ơi ta từng có cửa nhà/ phiêu bạt
thân ta về viễn xứ” (tr 86) “Những người mà thân xác không được trở về với
nơi chôn rau cắt rốn: “Xác thân cha mẹ cho trở về tro bụi/ không về với đất bên
mảnh vườn nhà/ không về làng xóm nghe tre ru ngân nga/ vào chùa nghe kinh nhẹ
lòng siêu thoát/ ra sông tan vào phù sa/ ở ngoài kia còn có bao người chờ tới
lượt/ bó lấy thân và dòng chữ ghi tên/ có người chỉ ghi vỏn vẹn: vô danh” (tr
87). Hình như tất cả tình cảm, bút lực của nhà thơ đã trút hết vào chương “Những
ngọn khói về trời” để tạo nên một chương cảm động nhất, hay nhất của trường ca.
Dịch bệnh đã tạm lắng. TP Hồ Chí Minh cùng cả nước tưởng niệm,
cầu siêu cho những người đã mất, mong cho linh hồn họ được siêu thoát ở cõi vô
cùng. Khói của những ngọn nến cũng giống như ngọn khói lò hỏa thiêu, là linh hồn
những người từ bỏ cõi trần, những ngọn khói giống như những câu hỏi day dứt đối
với người đang sống: “Ngọn khói như dấu hỏi quẩn quanh/ rồi cũng tan vào hư vô
thăm thẳm… những câu hỏi không lời đáp/ những đớn đau không di cư…” (tr
102-103). Trong khi tưởng niệm, cầu nguyện cho người đã khuất, không khí đau buồn,
bi thương lại hiện về: “Có ngày người dân nước tôi đã khóc/ nước mắt thành
dòng/ chảy như sông/ trên khắp ba miền/ ngược nguồn thấm vào núi/ xuôi dòng về
biển khơi/ bé thơ đội vành tang trắng/ thương em gan ruột bời bời/ Đại dịch cướp
đi bao sinh linh vô tội/ trong mắt đầy lên ám tượng không rời/ chập choạng
phiên chợ chiều cánh dơi bay vào lịch sử/ người gọi người hoảng hốt chơi vơi/
xin những người không thể trở về/ hãy yên nghỉ trong tiếc thương vô tận/ đêm
nay ngọn nến sáng lòng người/ xoa dịu nỗi đau bằng bàn tay ấm” (tr
103-104). Và mừng thay, bĩ cực thái lai, thành phố đã hồi sinh: “Nắng lên
xanh phố phường tấp nập… bé thơ đến trường rộn ràng lớp học/ xí nghiệp vào ca
tiếng máy như reo… xin cảm ơn người đã trở về/ lá gọi ngày đông tàn khẽ rụng/ đất
gọi trời đem về xuân xanh/ đóa tình thơm, nở giữa lòng lành” (tr 107-114).
Covid-19 là đại họa, đồng thời đại họa cũng là lời cảnh báo, dạy cho con người những bài học đắt giá: Không được tự phụ, cao ngạo trước thiên nhiên – tạo hóa. Chỉ là con virus nhỏ bé, gần như vô hình, mà nó đã quật ngã những thân thể cường tráng, lấy đi hàng triệu sinh mạng trên thế giới, làm cả loài người chao đảo, bàng hoàng, nó tàn phá nền kinh tế của các quốc gia. Đại dịch cũng là phép thử, góp phần sàng lọc con người: Những mặt tốt của con người được bộc lộ rõ ràng, những mặt xấu được phơi bày trần trụi. Hai chương “Những chiến binh thầm lặng” (tr 39- 47) và “Thơm mãi những bàn tay” (tr 49-61) tập trung miêu tả sự hy sinh cao cả của những chiến sĩ ngành y cứu mạng sống của người dân; miêu tả tình thương yêu đùm bọc lẫn nhau của cả nước dành cho người dân Sài Gòn. Hai chương “Nhân loại bàng hoàng” (tr 17-28) và “Đối diện” (tr 91-98) góp phần vạch trần những bọn bất nhân vì lòng tham móc nối câu kết với nhau làm tiền trên sinh mạng của người dân vô tội và yếu thế. Nhà thơ khẳng định sẽ có lúc bọn bất nhân phải đối diện với tòa án lương tâm, đối diện với linh hồn những người chết trong oan ức, đối diện với luật nhân quả.
18/12/2022
Châu Hồng Thủy
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét