Thi ca bình dân Việt Nam 1
Đêm đêm đốt đỉnh hương trầm
Khói lên nghi ngúc âm thầm
nhớ quê.
(Ca dao)
NIỀM GIAO CẢM
Sau khi cho chào đời bộ «Việt Nam
thi nhân tiền chiến» và
quyển «Khuynh hướng thi ca tiền chiến», hoàn tất cuộc hành trình 13 năm thi
ca – 1932-1945 –, đánh dấu một diễn biến cách mạng của nền thơ mới
đã chịu ảnh hưởng của trào lưu thi ca thế giới, chúng tôi – nhà xuất bản cũng
như soạn giả – đồng dự thảo sẽ liên tục cống hiến thêm nhiều tài liệu mới mẻ
trong biến cố văn học thế hệ 1932-1945.
Nhưng, bỗng dưng tâm hồn chúng
tôi rúng động! Tự vấn lại lòng. Một cảm giác có cái gì ruồng rẫy, hất hủi, phũ
phàng đang trùm kín tâm linh. Trí não được huy động, tập trung để khám phá cho
ra trạng thái bí ẩn đang ray rứt, giày vò.
Thì ra! Chúng tôi đang bị sự
hành phạt của lương tri, bị vướng phải cái mới chuộng cũ vong, theo đuổi một
hình bóng tân kỳ mà bỏ quên một nền thi ca cổ truyền của dân tộc.
Cảm nhận từ cõi vô hình dội thấu
đáy hồn những lời hờn giỗi, thống trách, lòng chúng tôi bỗng dâng lên niềm hối
hận của một linh hồn lạc lõng vừa bừng tỉnh và nhận định được hướng đi.
Vạch ra được con đường về dân tộc,
lương tâm chúng tôi vơi đi sự tủi hổ, đau buồn, trút bỏ được cái gì đang đè nặng
trong tâm tư.
Thế rồi, với đôi mảnh hình hài bẩm
thụ khí thiêng của non sông đất Việt, chúng tôi dốc cả tâm não và mọi khả năng
để đúc kết thành hình bộ THI CA BÌNH DÂN VIỆT-NAM
Hỡi tiền nhân của dân tộc!
Chúng con kính dâng lên Hồn Nước
sự đóng góp bé mọn này, mặc dù không như ý nguyện, nhưng cũng nói lên được một
tấc lòng thành.
Mùa hè, năm Kỷ dậu (1969)
NHÀ XUẤT-BẢN và SOẠN-GIẢ
PHẦN MỞ ĐẦU
A. QUA VÀI Ý NIỆM VỀ VĂN HỌC BÌNH
DÂN
Nói đến văn học sử là đề cập sự
diễn biến của tâm tư con người trong lẽ sống trải qua nhiều thế hệ.
Sự diễn biến ấy được giao tiếp,
trao đổi, tìm một tinh lý, rồi ghi lại những kinh nghiệm có liên hệ đến cuộc sống,
tạo thành dòng lịch sử của nhân loại.
Trong vạn vật, chỉ con người là
sinh vật có tâm tư, có ngôn ngữ, chỉ nhân loại mới tạo được cho mình một dòng lịch
sử văn học.
Vậy lịch sử văn học là sản phẩm của
tư tưởng, mà tư tưởng con người là cái gì phức tạp, không thể dùng khoa học
phân tích, minh định chiều hướng diễn biến một cách tuyệt đối được.
Tuy nhiên, với sự cố gắng, các
nhà làm văn học sử từ trước đến nay đã căn cứ vào trạng thái biến động của lịch
sử chính trị để xác định trạng thái biến động của lịch sử văn học.
Dĩ nhiên, việc xác định như vậy
tương đối hợp lý, vì trên thực tế, khi đi sâu vào sinh hoạt của loài người,
chúng ta không thể phủ nhận tâm tư con người chịu ảnh hưởng của cuộc sống. Như
thế cho ta một nhận định, văn học là phản ảnh của sinh hoạt xã hội, mà văn học
sử là lịch trình đúc kết của tâm tư qua mọi biến cố xã hội.
Mặt khác, các nhà văn học sử lại
phân chia văn học ra hai dòng: dòng bác học và dòng bình dân.
Tại sao có sự phân chia ấy?
Vì theo nhận định trên, văn học
là sản phẩm của tâm tư phản ảnh theo mọi diễn biến của chế độ xã hội, dù trải
qua bao nhiêu biến cố, lịch sử vẫn bao gồm hai lớp người chính yếu là: quí tộc
và bình dân.
Chính sự cách biệt giữa hai lớp
người quí tộc và bình dân đã tạo ra hai dòng tâm tư riêng rẽ nhưng vẫn song
hành với nhau.
Dòng tâm tư quí tộc được mệnh
danh là nền văn học bác học, phát xuất từ trạng thái tư tưởng của lớp người thống
trị, mang tính chất phong lưu, đài các. Tuy là của chung của một lớp người,
song thường phản ảnh riêng rẽ từng nhóm nhỏ, tượng trưng cho cá biệt hơn là nhất
thể (cái riêng trong cái chung). Bởi vậy nền văn học bác học ít trung thực với
dân tộc tính, địa phương tính. Mặt khác, lớp người quí tộc là hạng giàu sang, rảnh
rỗi, có đủ phương tiện học vấn, có đủ khả năng tìm hiểu tư tưởng của mọi dân tộc
khác, do đó nền văn học bác học thường chịu ảnh hưởng tư tưởng bên ngoài mà trở
thành đồng hóa, hoặc lai căn, tức là thoát ly hay xa lìa dân tộc tính.
Trái ngược với văn học bác học, nền
văn học bình dân phản ảnh tâm tư đại đa số quần chúng nghèo khổ, dốt nát, tiếng
nói của họ là tiếng nói chung của lớp người cùng sống trong một hoàn cảnh, mà
cũng là tiếng nói chân thành nhất của mỗi dân tộc trong sinh hoạt xã hội.
Nhiều nhà nghiên cứu đã đồng quan
điểm cho rằng muốn nhận định nếp sống, phong tục và tập quán của một dân tộc
không gì bằng khảo sát nền văn học bình dân của mỗi nước.
Ý niệm ấy rất đúng. Tuy nhiên các
quốc gia trên thế giới ngày nay hầu như ít lưu tâm đến nền văn học bình dân,
các sách khảo cứu về văn học bình dân cũng rất ít ỏi, bởi lẽ lớp người bình dân
thiếu phương tiện phát triển văn học của họ, còn lớp người trí thức lại đang
vươn mình trước ánh sáng văn minh vật chất, khai thác những phù phiếm, hào hoa,
không lưu tâm đến bản sắc dân tộc, mà lẽ ra trong địa hạt tâm tư ta càng thấy
rõ tính chất của dân tộc ấy.
Ở Trung-hoa, thời chiến quốc, Khổng-Tử
là một chính trị gia, sau khi chu du khắp xứ, trở về nước Lỗ san định quyển
Kinh Thi.
Kinh Thi là một bộ sách gồm 300
bài luận về phong, nhã, tục ; trong ấy một phần lớn trích dẫn những tục ngữ,
phong dao của lớp dân giả, ghi lại tiếng nói chân thật của giai cấp bị trị, thống
khổ trong thời phong kiến. Khổng-Tử muốn mượn tiếng nói trong sạch của lớp người
đứng ngoài vòng danh lợi để xây đời, để cải hóa xã hội đẳng cấp.
Một trong những chủ điểm của đạo
Khổng là dùng tình cảm để cải thiện con người. Khổng-Tử tin rằng con người có
thể nhờ sự giáo hóa mà sửa đổi được tính tình,
vươn đến cõi thiện, mà tiếng nói
bình dân là tiếng nói đích thực của tâm tư con người gần với thiên nhiên. Cho
nên Khổng-Tử đặt giá trị Kinh Thi ngang hàng với những sách giáo dục khác về
triết học.
Ở Pháp, P. Lafargue, một
nhà phê bình nổi tiếng đã nói về văn chương bình dân như sau : « Một bài
ca bình dân thường thường là do người có danh nào đó khẩu chiêm ra, rồi dần dần
qua miệng các người vô danh khác sửa chữa một cách rất ngẫu nhiên. Không riêng
một ai in bản sắc mình vào đó, mà tất cả mọi người đều có dự phần vào. Tác giả
đích thực của bài ca chính là dân gian. Dân gian hát nó lên, truyền cho nhau,
và cứ sửa chữa dần dần cho đến khi nào bài ca phản chiếu đúng hẳn tâm lý của họ
thì mới được nhận là hoàn toàn. »
Như vậy, P. Lafargue cũng
cùng một ý niệm cho văn học bình dân là nền móng tâm tư của dân tộc.
Khi đã nhận định văn học bình dân
là cơ cấu tư tưởng căn bản của dân tộc thì tài liệu văn học bình dân chính là
tài liệu xã-hội-học rất quí. Hoặc nó vẽ lại một phong tục, hoặc nó đánh dấu một
trạng thái kinh tế, hoặc nó lưu truyền một lễ nghi tôn giáo, nhất là bộc lộ
tình cảm thiên nhiên của con người… tất cả những tác dụng ấy đều giúp chúng ta
hiểu được cuộc sinh hoạt của xã hội ở các thời kỳ đã qua. Chúng ta có thể căn cứ
vào văn học bình dân của mỗi nước để tìm lại nguồn sống chung đã mai một trong
quá khứ hay những trạng thái sinh hoạt chẳng bao giờ tái diễn được nữa.
Riêng ở Việt Nam từ xưa, nền văn
học bình dân cũng được nhiều học giả chú ý.
Ngược dòng thời gian, chúng ta thấy
những câu vè, câu hát, tục ngữ, phong dao… được rải rác ghi chú, hoặc trích dẫn
trên các báo chí. Và trước khi có chữ quốc ngữ, các nhà nho học cũng đã dùng chữ
nôm ghi nhận những mẩu tâm tư của lớp người bình dân qua các bài khảo lục. Như
vậy, trong thời gian chưa có văn tự, nền văn học bình dân Việt-nam đã phát hiện
qua ngôn ngữ bằng cách truyền khẩu, lưu trữ trong ký ức mọi người, và nó chính
là nguồn gốc văn học của dân tộc Việt-nam vậy.
Nhà bình luận Trương-Tửu trong
quyển Kinh Thi Việt-Nam có một đoạn nhận xét ở lời mở đầu :
« Phong dao Việt-nam rất có thể
là linh hồn Việt-nam xưa, nếu ta biết nghiên cứu nó một cách hợp lý và thông
minh. Nếu quả dân tộc Việt-nam có một đặc tính khác biệt hẳn với những dân tộc
khác – nhất là dân Trung-hoa – thì đặc tính ấy, theo ý tôi, ta có thể tìm thấy
được bằng cách nghiên cứu những ca dao, cái tiếng nói trung thành của dân gian.
Đọc hết những ca dao truyền tụng lại ta sẽ thấy nổi bật hẳn lên cái tinh thần độc
lập của dân ta và cái nỗ lực liên tiếp của tổ tiên ta đã thực hành trong bao
nhiêu thế kỷ để tránh nạn Trung-quốc-hóa. Nhờ sự nỗ lực phi thường này mà hiện
giờ chúng ta có thể tự hào rằng chúng ta vẫn giữ được trong cõi ý thức một tinh
túy Việt-nam, cái tinh túy mà văn hóa Trung-quốc chỉ có thể kết tinh lại chứ
không thể nào thôn tính được.
Sở dĩ ta đã bắt chước các chế độ
chính trị và học thuật Trung-quốc là chỉ bởi chế độ và học thuật này rất thích
dụng cho một xã-hội nông nghiệp và quân chủ (tức là xã hội Việt-nam thời xưa).
Nhưng chế độ chính trị và học thuật nhập cảng ấy đã phải biến cải đi rất nhiều
cho thích hợp với tinh thần dân chúng Việt-nam. Bởi vì chúng ta không giống người
Trung-quốc. Chúng ta là một khối tinh thần thành lập từ trước thời Bắc thuộc.
Khối tinh thần ấy gặp sự xâm lăng của văn hóa Trung-quốc đã chồm dậy, phản
kháng mãnh liệt, làm cho các vua quan tuy biết là văn hóa Trung-quốc củng cố được
địa vị mình mà vẫn phải châm chước cho hợp với bản chất riêng của dân tộc Việt-nam.
Khối tinh thần dân tộc đó đã may mắn được nhiều điều kiện kinh tế, lịch sử và địa
dư riêng của xứ Việt-nam ủng hộ cho thắng đoạt nổi được cái tai nạn Trung-quốc-hóa
».
Lời nhận xét trên đây của ông
Trương-Tửu tuy không hoàn toàn trái ngược với nhận định của chúng tôi, song luận
về tính chất căn bản của nền văn học bình dân Việt-nam thì có chỗ khác.
Chúng tôi đồng ý rằng trải bao
nhiêu thế kỷ bị người Trung-hoa đô hộ, dân tộc Việt-nam mang dòng huyết thống
chống xâm lăng, chống đồng hóa, chống họa diệt chủng, nhưng đó cũng là tâm trạng
chung của các dân tộc trên thế giới.
Bất luận dưới một áp lực nào, phản
ứng trước tiên thường phát xuất từ lớp bình dân, vì họ là khối người chịu trực
tiếp sự đè nén. Chế độ khắc nghiệt sẽ tạo cho họ những bất mãn, âm ỉ, tích tụ,
và nổ tung.
Ngay ở các nước độc lập, không bị
ngoại bang đô hộ, lớp người bình dân vẫn luôn luôn có tiếng nói bất bình, tiếng
nói cố hữu của tâm tư đa số quần chúng.
Như vậy, tính chất căn bản của nền
văn học bình dân không phải chỉ chống ách đô hộ của ngoại bang, mà chống tất cả
những gì áp bức, bất công của lớp người thống trị trong xã hội. Nói cách khác,
nó là những mảnh tâm tư của lớp người bị chế độ xã hội chà đạp, tước đoạt quyền
sống của họ.
Cho nên, nếu chúng ta quan niệm
theo Trương-Tửu trong Kinh Thi Việt-nam, bảo rằng: «Nền ca dao Việt-nam
đã kết tinh được cái tinh thần chống Nho-giáo rất mạnh của dân chúng Việt-nam,
và đã vẽ lại rõ ràng các điều kiện kinh tế giúp cho tinh thần ấy phát triển và
chiến thắng…»
Thì quả thật chưa đúng với tính
chất căn bản. Nền văn học bình dân Việt-nam không chống Nho-giáo, hay nói rộng
hơn, không chống một giáo lý nào cả. Nó chỉ chống những bất công, áp bức, lừa
phỉnh, thiếu thực tế, trái với bản chất tự nhiên của con người. Cũng vì vậy mà
tiếng nói bình dân không bị giáo điều mê hoặc, cũng không bị danh lợi ràng buộc
để phải tự dối mình.
Thật vậy, lớp người bình dân dù sống
trong hang cùng ngõ hẻm, hay gần với thửa ruộng nương dâu, trời đất, thánh thần
là những linh tượng trong tâm tư được họ kính trọng, tôn thờ, thế mà trong văn
chương bình dân chúng ta lại thấy nhan nhản những lời châm biếm, trào lộng. Như
vậy không có nghĩa là lớp người bình dân chống lại tín ngưỡng, mà chính họ chống
lại những kẻ mang mặt nạ dối đời.
Lịch sử văn học bình dân Việt Nam
đối với Nho giáo cũng thế. Nho-giáo không phải là đối tượng đả kích của giới
bình dân, đối tượng chính yếu của họ là lớp người thống trị trong chế độ phong
kiến đã đội lốt Nho-giáo khống chế xã hội Việt-nam.
Xác định tính chất căn bản như vậy
chúng ta có thể quả quyết rằng trong xã hội loài người ngày nào còn bất công,
áp bức thì ngày nào đó còn lớp người bình dân. Mà lớp người bình dân còn thì nền
văn học bình dân vẫn tồn tại với mọi tiến triển trong lịch sử văn học.
Khảo cứu về văn học bình dân ở nước
ta có thể kể đến những nhà Nho học thời xưa như các ông :
- Trần-tất-Văn soạn tập An-nam
phong thổ thoại.
- Vương-duy-Trinh soạn tập Thanh-hóa
quan phong sử.
- Ngô-giáp-Đậu soạn tập Đại
Nam quốc túy.
- Việt-nam phong sử (khuyết
danh).
Đó là những tập sách viết bằng chữ
Nôm. Còn có sách chữ Nôm dịch ra chữ Hán như :
- Nam phong giải trào của
cụ Liễu-am Trần tiên sinh và Ngô-hạo-Phu.
Sách chữ Nôm dịch ra chữ quốc ngữ
như :
- Quốc phong thi tập hợp
thái của cụ Mộng-liên-đình Hi Lượng-Phủ.
- Nam quốc phương ngôn, tục
ngữ bị lục (khuyết danh).
Lại có sách quốc ngữ dịch ra tiếng
Pháp như :
- Tục ngữ An-nam của
ông Triệu-hoàng-Hòa.
Gần đây, lúc chữ quốc ngữ nước ta
được bành trướng và thông dụng, các học giả tên tuổi đương thời cũng đã chú ý đến
việc khảo cứu văn học bình dân:
- Ông Phạm-quang-Sán soạn tập Nam
ngạn trích cẩm.
- Ông Nguyễn-bá-Thời viết Câu
hát và hò góp.
- Ông Nguyễn-công-Chánh viết Câu
hò xay lúa
- Ông Hoàng-minh-Tự viết Câu
hát huê tình.
- Ông Đinh-thái-Sơn viết Câu
hát huê tình.
- Ông Đoàn-duy-Bỉnh viết loạt
bài Gương phong tục trong Đông-dương tạp chí.
- Ông Phạm Quỳnh viết bài Người
nhà quê Bắc-kỳ xét qua những ca dao bình dân.
- Ông Đào-duy-Anh viết bài Nền
học quốc ngữ trong Văn Lang tạp chí.
- Ông Nguyễn-văn-Ngọc soạn tập Tục
ngữ phong dao xuất bản năm 1928.
Ông Phan-Khôi viết loạt bài
khảo cứu Văn học nữ giới trong Phụ-nữ Tân-văn năm 1930.
- Ông Trương-Tửu xuất bản Kinh
thi Việt-nam 1940.
- Ông Nguyễn-văn-Mại viết Việt-nam
phong sử.
- Ông Trọng-Toàn xuất bản Hương
hoa đất nước 1949.
- Ông Nguyễn-trọng-Lực viết Tiếng
nói của đồng ruộng, Vĩnh Bảo Sài gòn xuất bản năm 1949.
- Ông Thuần-Phong viết Ca
dao giảng luận năm 1957 Á Châu xuất bản
- Ông Hoa-Bằng viết Dân tộc
tính trong ca dao, Vỡ Đất Hà-nội xuất bản năm 1952.
- Ông Trọng-Toàn viết Câu
hát Việt-nam, nhà in Nguyễn văn Huấn Sài Gòn xuất bản 1953.
- Ông Cố-bửu-Anh viết Bạn
gái trong ca dao, Văn Hóa Sài-gòn xuất bản năm 1954.
- Ông Nguyễn-kế-Truyền viết Tục
ngữ phương ngôn, Bạc-liêu (Nam-phần) 1955.
- Ông Thanh-Lãng viết Văn
chương bình dân, Văn Hợi Sài-gòn xuất bản năm 1957.
- Ông Hoàng-trọng-Miên viết Văn
chương truyền khẩu ở quyển Việt-nam văn học toàn thư do Quốc Hoa
xuất bản 1959.
- Ông Đào-văn-Hội viết Phong
tục miền Nam qua mấy vần ca dao, Khai-trí Sài-gòn xuất bản năm 1961.
- Ông Dương-đình-Khuê viết La
littérature populaire Vietnamienne năm 1967.
Ngoài ra còn có những sách soạn
theo chương trình giáo khoa, trong đó cũng có nói đến văn học bình dân.
Tuy nhiên, việc làm ấy cũng chỉ
trong vi phạm lược luận và sưu tập chứ chưa đặt thành đường hướng khảo sát qui
mô khả dĩ làm nền tảng cho văn học sử.
Có lẽ vì vậy mà các nhà trí thức
Việt-nam nóng lòng trước kho tàng quí báu bị mất dần theo thời gian.
Ông Đào-duy-Anh trong tạp chí
Văn-Lang viết : « Trong văn hóa cũ của ta, tôi thấy về phần văn hóa bình
dân còn nhiều điều khả thủ, mà trong văn hóa bình dân thì tục ngữ, ca dao là phần
trọng yếu, cho nên tôi quí trọng tục ngữ và ca dao. Nếu ta nhận thấy rằng muốn
kiến thiết văn hóa mới ta không thể không nghiên cứu văn hóa cũ thì sự nghiên cứu
tục ngữ và ca dao ta phải cho là cần thiết. »
Chia thành văn hóa cũ mới, ông
Đào-duy-Anh chưa minh định rõ rệt tính chất tiến triển của hai nền văn học bình
dân và bác học. Có lẽ ông cho rằng những phong tục cổ truyền, những tâm tư và nếp
sống di lưu từ ngàn xưa là sản phẩm của nền văn hóa cũ, còn những cải cách du
nhập từ nước ngoài vào là sản phẩm của nền văn hóa mới. Nói cách khác, nền văn
hóa mới là sự tiếp thu ảnh hưởng ngoại lai, nền văn hóa cũ là tính chất cố hữu
của dân tộc.
Nếu quan niệm như vậy tức là có sự
đồng hóa giữa hai dòng lịch sử văn học, mà thực tế, theo chúng tôi nghĩ, nền
văn học bình dân và bác học chẳng thể nào có sự đồng hóa được. Tính chất mỗi nền
văn học tuy song hành và có biến đổi theo thời gian nhưng vẫn giữ đường nét
riêng biệt. Do đó không thể quan niệm hai nền văn học bằng tính chất mới và cũ.
Cũng để góp phần vào việc xây đắp
nền văn học bình dân, ông Nguyễn-văn-Ngọc đã sưu tầm trên sáu nghìn câu tục ngữ,
phong dao in thành hai tập sách vào năm 1928, và trong lời tựa có viết:
«… Ngày nay, ai là người đã lưu
tâm đến quốc văn, quốc túy mà không lo sợ rằng những câu lý thú tối cổ của ông
cha để lại, tức là cái kho vàng chung của cả nhân loại, nếu không chịu mau mau
thu nhặt, giữ gìn lấy, thì rồi tất mỗi ngày một sai suyển, lưu lạc đi thực đáng
tiếc.
Cho nên chúng tôi quả không dám
kén chọn, lựa lọc, san thi gì. Chúng tôi chỉ vụ thu thập cho được nhiều câu
không phân biệt thế nào là thành ngữ, tục ngữ, lý ngữ, sấm ngữ, mê ngữ, phương
ngôn, đồng dao, ca dao hay phong dao gì cả. Đối với việc sưu tập bây giờ
thiết tưởng ta còn phải quí hồ đa trước rồi nhiên hậu mới có nơi khảo cứu mà
quí hồ tinh được»
Với dụng ý ấy, ông Nguyễn-văn-Ngọc
sắp xếp những câu tục ngữ, phong dao Việt-nam theo thứ tự mẫu tự La-tinh, cho
nên việc làm của ông chỉ là công việc góp nhặt để bảo tồn.
Trước công trình sưu tập nói
trên, khi nhìn vào số lượng trong hai tập Tục ngữ phong dao ấy, ông
Trương-Tửu cho đó là vật liệu đủ để cấu tạo nền móng cho ngôi nhà văn học Việt-nam.
Ông viết :
«Hai tập Tục ngữ Phong
dao của Nguyễn văn Ngọc tiên sinh là đống vôi cát, gạch ngói tàm tạm đủ
cho ta dựng một Kinh Thi Việt-nam sáng sủa.
Trước đây hai nhà học giả Phạm Quỳnh
và Phan Khôi cũng đã có ý xây dựng ấy. Một ông viết cuốn «Người nhà quê Bắc-kỳ
xét qua những ca dao bình dân», một ông soạn tập «Nghiên cứu sự hoạt
động của phụ nữ Việt-nam hồi xưa» căn cứ theo phong dao tục ngữ. Cả hai
ông đều đã chứng thực rằng với những câu thơ vụn vặt kia ta có thể khôi phục lại
được một quan niệm hay một cuộc sống không còn nữa.
Nhưng công việc của mỗi ông chỉ
là công việc riêng của mỗi người thợ làm lấy khéo ở một địa hạt nho nhỏ. Thiếu
hẳn một bản đồ kiến trúc duy nhất để làm đích cho từng người thợ giỏi, nên sự nỗ
lực đã có, sự khéo léo đã có, mà căn nhà vẫn chưa thành…»
Với nhận xét ấy, ông Trương-Tửu
dùng công trình sưu tập của ông Nguyễn-văn-Ngọc, phỏng theo lối san định Kinh
Thi của Khổng-Tử bên Trung-hoa, soạn thành quyển Kinh Thi Việt-nam.
Dĩ nhiên việc làm của ông
Trương-Tửu là một cố gắng trong việc bồi đắp nền văn học nước nhà. Nhưng theo
nhận định của chúng tôi thì bộ Kinh Thi của Khổng-Tử làm ra với tính cách một
nhà đạo-đức-học, sưu tập những kinh nghiệm sống trong dân gian đúc thành những
giáo lý răn đời, uốn nắn cuộc sống loài người đến cõi thiện.
Mang tính chất ấy, bộ Kinh Thi
Trung-hoa nặng màu sắc giáo dục hơn là sử liệu – chúng tôi muốn nói tinh thần
vô tư của sử học, cho nên mặc dù Kinh Thi Trung-hoa chứa đựng tâm tư
của lớp người bình dân mà thực chất chưa phản ảnh được căn bản sinh hoạt của lớp
người bình dân Trung-hoa.
Còn Kinh Thi Việt-nam của
ông Trương-Tửu tuy có mang ít nhiều sắc thái sinh hoạt của dân gian, song lối
trình bày cũng như tinh thần khảo cứu nặng nề mặt chính trị hơn xã hội. Sự
thiên lệch ấy làm cho tinh thần khảo cứu không được toàn diện, chỉ nói lên một
khía cạnh tâm tư của đám bình dân mất nước bị nô lệ. Mặt khác, quyển Kinh
Thi Việt-nam của ông soạn thảo quá ít (246 trang nhỏ), mà gần nửa quyển
dành cho việc cắt nghĩa Kinh Thi của Khổng-Tử rồi, thì Kinh Thi Việt-nam của
ông còn gì để nói nữa. Như vậy tức là chúng ta vẫn chưa tạo nổi nền móng cho
ngôi nhà văn học bình dân.
Điều đáng chú ý là vào thời tiền
chiến (thế hệ 1932-1945) trong lúc phong trào lãng mạn tràn ngập từ Âu sang Á, ở
Việt-nam hai nền thơ cũ, thơ mới nổi lên chống đối nhau mãnh liệt, thì ngay lúc
ấy lại có nhiều thức giả lưu tâm đến văn học bình dân. Trạng thái ấy chính là một
đổ vỡ của nền văn học bác học, mà cũng có nghĩa là một xáo trộn trong hệ thống
tâm tư của lớp người quí tộc. Trong đổ vỡ, người ta đi tìm cái tinh túy tồn tại
là quốc hồn. Nhờ vậy, nền văn học bình dân được xác định giá trị.
Trong báo Phụ nữ tân văn số
181 ra ngày 15-12-1932, ông Phan Khôi viết một loạt bài về Văn học bình
dân để thương xác cùng các học giả trong nước. Ông viết :
«Trước đây, hễ nói đến văn học
thì chỉ biết là văn học chớ có nói đến văn học bình dân bao giờ, bởi vì đã là
bình dân thì hầu như mất cả mọi sự, một chút quyền lợi gì trong tay cũng không
có nữa là văn học.
Song xét ra thì nước nào cũng vậy,
nền văn học bao giờ cũng bắt đầu vun đắp lên từ hạng bình dân.
Thật vậy, văn học của một nước hầu
hết là do lời ca dao của dân gian mà ra, cho nên bình dân là hạng có công lớn đối
với văn học.
Từ ngày dân quyền thạnh hành ở
các nước thì lớp người bình dân đã khôi phục lại chủ quyền, còn khôi phục luôn
cả nền văn học của họ nữa. Các bậc văn hào thế giới gần đây nhiều người đã có
khuynh hướng về văn học bình dân.
Bởi vậy, ngày nay là ngày hai nền
văn học bình dân và quí tộc đang tranh với nhau. Mà hai nền văn học ấy cách biệt
nhau lắm, ta có thể nói nền văn học bình dân là thật thà, còn nền
văn học quí tộc là giả dối.
Cho nên, tác phẩm văn học bình
dân là cái gương phản chiếu bộ mặt xã hội. Muốn tìm sử liệu của một thời đại
nào, hay muốn biết rõ nhân tâm, phong tục của một nước nào không gì bằng theo
dõi văn học bình dân vậy… »
Trong báo Tao đàn số 69
ra ngày 3-10-1942, Lưu Trọng Lư viết:
«Nước ta là một trong những nước
có phong tục thuần nhã và trang nghiêm vào bậc nhất. Ảnh hưởng Khổng-giáo với một
luân lý chặt chẽ đã đi sâu vào tâm hồn khiến mỗi chúng ta trở nên những trang
văn nho lễ độ và đài các.
Văn chương vì vậy mà lúc nào cũng
đượm vẻ nghiêm nghị, thận trọng. Các văn nhân, thi sĩ trước nhất là một nhà đạo
đức.
Nhưng phải chăng đó là tính chất
đặc biệt Việt-nam?
Không, văn chương ấy là do một số
thượng lưu được thấm nhuần những lời lẽ của thánh hiền. Họ là số ít.
Ta phải xuống thấp hơn, đến những
hạng người mà sách vở là non sông, cây cỏ, những người chỉ được học trong quyển
sách thiên nhiên, đất đai, đồng ruộng là nơi họ sống.
Tôi muốn nói đến bình dân. Chỉ có
bình dân là những hình ảnh rõ rệt của một dân tộc. Chỉ ở đó ta mới nhận thấy
tâm hồn chất phác, tự nhiên nảy nở, không bị ràng buộc bởi những tục lệ quá cầu
kỳ. Ở đó họ ca tụng ái tình, ta thấy họ biết yêu mà không giấu giếm cõi lòng.
Cả một văn chương chân thật cảm động,
súc tích trong những câu ca dao mộc mạc mà bà mẹ hát ru con hay đứa mục đồng
nghêu ngao trên lưng trâu giữa những lề ruộng um cỏ, trong những câu hò trên
sông, trong những điệu hò khoang mà ta đã nghe trong những cuộc giã gạo dưới
trăng, giữa những làng quê bình lặng, hay trong những truyện cổ tích mà ta đã
được nghe kể lại.
Dù ta có khinh họ, ta vẫn phải
công nhận rằng họ không dối lòng họ. Việc gì phải che đậy cái không đáng che đậy»
Trong Văn học tuần san số
4 ra ngày 1-12-1934, ông Hoàng Tân Dân viết: «Gây dựng văn
hóa bình dân là nhiệm vụ lớn của tất cả các bạn thanh niên ngày nay. Lớp người
bình dân phải có một tinh thần đặc biệt, thích hợp với quyền lợi mình, để giúp
cải tạo chế độ đương thời được bình đẳng, thiện mỹ.
Phần đông các nước, như ở Pháp,
trong nhóm trí thức tỉnh ngộ, người ta đều tìm cách phổ biến văn hóa bình dân,
hoặc mở trường dạy, hoặc viết sách vở, báo chí, nói lên quyền lợi thiết yếu của
những người nghèo khổ ấy mới là nguyên động lực tiến hóa của xã hội sau này. »
Trong Tiểu thuyết thứ bảy số
43 ra ngày 13-3-1935, Ông Thiếu Sơn viết :
«Nếu hỏi «Bình dân» là gì thì
chắc ai cũng hiểu cả rồi. Nhưng muốn hiểu bình dân một cách thấm thiết và cảm động
hơn, tôi tưởng nên trích đoạn văn này của Jules Vallès, một nhà văn sĩ bình dân
ở cuối thế kỷ thứ 19.
Người kia da thịt như thú, đội
nón như kẻ chết treo, bị nước mưa tưới lạnh, bị hơi nóng hun đốt, đứng ở đầu xe
lửa cản gió, nuốt tuyết, hoặc làm người coi máy, hoặc làm kẻ đốt than, đó là
bình dân.
Con vật kia ở ngoài đồng ruộng, dựng
đứng cái xương sống gầy mòn, vươn cái cổ gầy mà những thớ thịt nổi lên như những
sợi dây, đem con mắt mờ tối để nhìn toa xe đang chạy, da xạm như một cái lá
nho, hay trắng toẹt như một cây cải, đó là bình dân.
Kẻ râu ria xồm xoàm, vai rộng lớn,
nón màu hắc ín, ở trên sông đang bình thản thả bè gỗ trôi xuôi, chìm ngập giữa
khoảng trời nước, anh lái đò ướt tới bụng, lạnh tới tim, chính là bình dân.
Anh thợ kia mang đèn lên trán,
chui qua hầm than cháy, mà bữa nọ bị chôn sống mất mười giờ ở dưới một cái mỏ sập.
Người ta chỉ thấy anh bằng một cặp mắt trắng trong một cái lỗ tối đen, chính là
bình dân.
Người thợ lợp ngói từ trên mái
nhà ngã xuống như một con chim chết. Người thợ thổi kính mà sự sống như trộn lẫn
vào với thủy tinh trong lò than hồng. Người thợ tiện mà bụi hồng làm cho ngạt
thở. Người thợ vẽ mà thuốc độc trong màu cắn hại. Người làm bánh da xanh như bột
mì… hết thảy đều là bình dân.
Hạng người anh hùng và khốn nạn,
chịu đựng được với đủ cả mọi việc, chống lại với nước, với gió, với đất, với lửa,
chính những hạng người đó mà chúng ta cần phải nói tới»
Đoạn văn kiệt tác này, tôi dịch
chưa hết ý và tinh thần, nhưng cũng đủ tả được những tình trạng sinh hoạt của lớp
người bình dân.
Chính những trạng thái sinh hoạt
đó là những tài liệu quí báu chẳng những đối với văn học bình dân mà đối với
toàn thể văn học nước nào cũng vậy.
… Một mai, nếu có nhiều học giả
chú ý đến hoạt động của lớp người bình dân thì nền văn học Việt-nam cũng sẽ bước
một bước dài trên lịch sử tiến hóa…
Trên báo Loa ra ngày
25-7-1935, Trương-Tửu viết :
«Trong cái yên lặng giả dối của
xã hội Việt-nam vẫn nấp một sự phá hoại. Dân tộc ta sống theo hai dòng sinh khí
ngược nhau. Ở từng trên, các đồ đệ trung thành của đạo Khổng chịu hy sinh cá thể
cho chế độ tổ truyền. Trái lại, ở từng dưới, đám bình dân quê mùa, thô lỗ, vẫn
sống theo thiên nhiên.
Những câu ca dao, tục ngữ bông
lơn, mách khóe – theo ý tôi – chính là sự trả thù của dân chúng đối với quan niệm
nhân sinh khô khan của Nho-giáo.
Những câu ve vãn, bỡn cợt, những
bài ca than thân trách phận, những khúc hát ai oán của cô thôn nữ lỡ làng tình
duyên, những ngạn ngữ phóng đãng, táo bạo, ta thường nghe vẳng trong lũy tre
xanh… tất cả đều chứng thực rằng dân chúng Việt-nam vẫn khao khát sống một cuộc
đời đầy đủ hơn, lý thú hơn cái đời nhân đạo ngoài xã hội (của nhà nho). Họ có một
tâm hồn rào rạt, biết cảm xúc tất cả những tình tha thiết của loài người»
Trên đây chúng tôi chỉ trích dẫn
vài đoạn văn trong những bài bình khảo của các học giả nổi tiếng đương thời.
Ngoài ra, trong cuộc bút chiến trên báo chí còn rải rác những ý kiến có tính
cách cổ xúy việc khảo cứu văn học bình dân, lấy đó làm nền tảng cho quốc học Việt-Nam.
Nói đến quốc học, chúng tôi tưởng
cũng nên nêu lại quan điểm của một số học giả nước ta gần đây.
Quốc học là gì ? Thực chất ra sao?
Đó là vấn đề được nêu lên vào đầu
năm 1930.
Người đầu tiên đưa ra danh từ «quốc học» lúc
lấy là ông Sở-Cuồng Lê Dư. Ông có soạn một số sách, lấy tên là Quốc học
tùng san. Loại sách ông biên soạn đều đề tên là Sở-Cuồng văn khố quốc học
tùng san.
Cuốn sách khảo cứu đầu tiên của
ông là cuốn Bạch-vân am thi văn tập, trong đó ông sưu tầm, chú thích những
dật sử và thi thơ, sấm ký của ông Trạng-Trình Nguyễn-bỉnh-Khiêm. Tiếp theo là tập Vị-xuyên
thi văn tập. Cả hai có lời giới thiệu của nhà xuất bản Nam Ký và lời tuyên
bố của soạn giả.
Đây là lời giới thiệu của nhà xuất
bản Nam Ký: «Quốc hồn ở đâu ? Ở tại tư tưởng. Tư tưởng phát ra là văn
chương. Văn chương của các nhà học giả của ta từ xưa đến nay chính là quốc hồn ở
đấy. Ông Sở-Cuồng là một nhà dốc chí hiếu học, phát huy ánh văn chương riêng của
nước nhà, ngót mười năm nay ở trường Bác-cổ, lưu ý sưu tập những tài liệu thuộc
về quốc văn, quốc sử, biên tập thành bộ Quốc học tùng san kể hơn một
trăm tập, nào là lịch sử, nào là văn chương, tài liệu như núi như non, từ tảo
như hoa như gấm, đủ chứng minh kho văn học nước ta phong phú như vậy»
Và đây là lời tuyên bố của soạn
giả Sở-Cuồng: «Bản văn khố muốn lấy sức mọn vun bồi cái cơ sở nền quốc học,
phát huy văn chương của nước nhà, ra công sưu tập văn chương và lịch sử của các
nhà học giả xưa, biến thành bộ Quốc học tùng san này theo lối khảo cổ,
cố thu thập được nhiều tài liệu cho tiện về sau các nhà văn học muốn khảo cứu về
vấn đề gì đều sẵn đủ cả, cho nên cái nội dung nó khác với các quyển sách giáo
khoa và các quyển thi văn tinh tuyển khác. Xin độc giả lượng xét cho»
Việc làm của ông Sở-Cuồng Lê Dư bị
hai ông Phạm Quỳnh và Trịnh-đình-Rư phản đối.
Trịnh-đình-Rư viết bài phê
bình Bạch-vân am thi văn tập, bác bỏ danh từ «quốc học» và phủ nhận cả nền
quốc học Việt-nam.
Theo ông Trịnh-đình-Rư thì: «Nước Việt-nam từ xưa đến nay chưa có gì gọi là quốc học cả, chưa thấy
người nào dựng ra một học thuyết gì to tát. Nếu xét đến lịch sử các nhà học giả
Đông Tây mà nghĩ đến nền quốc học nước nhà thì tự lấy làm thẹn»
Ông Phạm Quỳnh cũng cùng một ý ấy,
ông viết trong Phụ nữ tân văn số 67 ra ngày 28-8-1936: «Nói đến
học thuyết chân chính thì cổ lai nước ta đã có gì? Không dám nói bạc tiền
nhân, nhưng thật không có người nào vậy. Tương truyền lý học thâm thúy của cụ
Chu-An và cụ Trạng-Trình, nhưng các cụ được điều gì trứ thuật, được những sách
gì có ích?»
Tiếp đến, ông Phan Khôi cũng cùng
một ý với Trịnh-đình-Rư và Phạm Quỳnh, phủ nhận công việc làm của ông Sở-Cuồng
Lê Dư, không nhìn nhận nước Việt-nam có nền quốc học.
Ông Phan Khôi định nghĩa danh từ
«quốc học» trong Phụ nữ tân văn số 94 ra ngày 6-8-1931: «Quốc
học là một danh từ mà cũ mới có nghĩa khác nhau. Hồi trước ta nói «quốc học»
tức là cái trường học cho cả nước. Như «Trường Quốc-học» ở Huế là lấy nghĩa
đó. Còn chữ «quốc học» ngày nay thường dùng là chỉ về cái học riêng của một
nước, có vẻ đặc biệt, có chỗ khác với nước ngoài. Vậy khi nói đến «quốc học cũng như nói đến «quốc phục» là y phục riêng của một nước, nói đến «quốc kỳ» là hiệu cờ riêng của một nước. Chữ «quốc học» tôi muốn nói trong bài này với
nghĩa ấy…»
Ông Phạm Quỳnh cũng định nghĩa «quốc học» trong Phụ nữ tân văn số 104 ra ngày 15-10-1931: «Quốc
học là môn gồm những phong trào về tư tưởng, học thuật trong một nước, có đặc sắc
với các nước khác, và có kết tinh thành ra sự nghiệp trước tác lưu truyền trong
nước ấy và ảnh hưởng đến các học giả trong nước ấy»
Như vậy Phạm Quỳnh cũng như Phan
Khôi đều quan niệm « quốc học » là một học thuật tư tưởng phát xuất riêng rẽ từ
một dân tộc. Học thuật ấy phải dựa trên một học thuyết căn bản, mà so với các
nước thì Việt-nam ta chưa có.
Bởi vậy, trong báo Phụ nữ
tân văn số 105 ra ngày 22-10-1931, ông Phạm Quỳnh có lời than: «Anh
hùng ta có, liệt nữ ta có, danh sĩ ta có, cao tăng ta có, nhưng trong cõi học
nước ta kim cổ chưa có người nào có tài sáng khởi, phát minh ra những tư tưởng
mới, thiết lập ra những học thuyết mới, đủ cái vẻ độc lập « nhà» đối với «các nhà » khác, như «Bách khoa chư tử» bên Tàu ngày xưa… »
Theo ông Phạm Quỳnh thì cái học
nước ta thời xưa chỉ là cái học mướn, cái học mướn ấy cũng chưa đến nơi đến chốn.
Tổ tiên ta chỉ chú trọng đến cử nghiệp, cho nên rốt cuộc sau hàng ngàn năm, các
cụ học hành mà con cháu ngày nay nhìn về các cụ chẳng tìm thấy gì gọi là học
thuật tư tưởng đâu cả.
Cuộc bút chiến về « quốc học »
khá sôi nổi, và trên mặt báo đã có những lời nói khích khí của đôi bên. Ông Sở-Cuồng
Lê Dư đưa ra những lời lẽ chua chát trong Phụ nữ tân văn số 107: «Ôi! Sao các ông không xét đến sự thật tình hình học vấn nước nhà xưa
nay mà đã vội mạt sát tiền nhân như vậy?… Ôi! Không căn cứ theo sách vở thì dễ
nói bậy bạ, cho nên tôi thường có một câu cách ngôn rằng: Không biết pháp luật
thì dễ nói ngang, không xem sách vở thì dễ nói càn…»
Trong lúc đó, ông Phạm Quỳnh và
Phan Khôi cố đi ngược dòng lịch sử văn học, tìm kiếm nguyên nhân phát sinh ra
tình trạng tủi nhục của nước nhà. Ông Phạm Quỳnh cắt nghĩa ba nguyên nhân làm
cho nước Việt-nam không có nền quốc học:
«1) VỀ LỊCH SỬ: Nước ta bị nước
tàu đè nén ngoài 10 thế kỷ. Trong thời gian nô lệ, dân ta phải đối phó gay go với
mọi khổ cực đối với người Tàu. Ấy là chưa nói đến việc ta coi các học thuyết du
truyền từ Tàu sang ta đều là tôn giáo cả, cho nên không khi nào dám bàn cãi.
2) VỀ ĐỊA LÝ: Nước ta quá
nhỏ bé nên hầu như bị Trung-hoa nuốt trửng, mất hẳn độc lập về tinh thần.
3) VỀ CHÍNH TRỊ: Nước ta từ
xưa bị các nạn quân chủ chuyên chế. Nhà vua đặt ra lối học rất gò bó để làm
tiêu chuẩn chọn người tài, thành ra bao nhiêu sáng kiến tư nhân bị tiêu diệt dần
đi… »
Sau khi nhìn về dĩ vãng với nhận
định bi quan ấy, ông Phạm Quỳnh hướng về tương lai đặt vấn đề xây dựng nền quốc
học. Ông viết trong Phụ nữ tân văn số 105 ra ngày 22-10-1931: «Muốn gây thành một nền quốc học riêng của mình thì phải dùng phương pháp phê
bình, khảo cứu của khoa học mà phân tách những học thuyết cùng nghĩa lý cũ của
Á-đông, rồi đem nghiền ngẫm, suy nghĩ, đối chiếu với những điều chân lý cùng những
sự phát minh của khoa học thái Tây. Kết quả sự phân tách, tổng hợp đó tức là
tài liệu để gây ra quốc học sau nầy vậy…»
Cuộc bàn cãi về «quốc học» ngót
hơn mười năm trời, chưa ngã ngũ, thì ông Nguyễn-trọng-Thuật đứng ra giảng hòa
giữa hai phe với bài Điều đình cái án Quốc học đăng trên Nam
phong tạp chí 167 tháng 12-1931.
Mục đích ông Nguyễn-trọng-Thuật
là xóa bỏ chống đối giữa hai phe, nên ý kiến ông trình bày rất lờ mờ, không
minh định đâu là lẽ phải.
Tuy nhiên, bài báo của ông vẫn có
tác đụng làm cho cuộc bút chiến về «Quốc học» chấm dứt trong dở dang, hướng
cuộc tranh luận qua một vấn đề khác.
Kết quả vấn đề « Quốc học » vẫn
chưa ai thỏa mãn.
Ở đây chúng tôi nêu lại cuộc bút
chiến ấy tưởng không vô ích. Chúng tôi cần phải tiếp tục khai sáng những gì
chưa được minh xác trong thế hệ của tiền nhân.
Vậy « Quốc học » là gì ?
Định nghĩa một cách vắn tắt thì
Quốc-học là xu hướng và học thuật của một dân tộc.
Tuy nhiên, chúng ta chưa vội phân
tích định nghĩa trên, hãy thử tìm nguồn gốc của quốc học đã.
Quốc học phát xuất từ nền văn hóa
của một dân tộc. Mỗi dân tộc có một ngôn ngữ riêng, sinh hoạt riêng, sống quây
quần trong một xã hội tất nhiên phải có một nền văn hóa phù hợp với tính chất
sinh hoạt của họ.
Vậy mọi liên hệ hàng ngày, mọi cảm
nghĩ phát sinh bằng ngôn ngữ, trao đổi nhau, đó là nền móng của văn học. Cho
nên, nói đến văn học là căn cứ vào tư tưởng diễn biến phát hiện bằng ngôn ngữ
chứ không phải bằng văn tự. Văn tự chỉ là phương tiện ghi lại ngôn ngữ mà thôi.
Với quan niệm trên thì một dân tộc
bán khai, còn là bộ lạc, chưa có văn tự vẫn có văn học. Triết lý nhân sinh của
họ là những gì họ cảm nghĩ thường ngày, sách vở của họ là trí nhớ, trường học của
họ là sự truyền đạt bằng lời nói giữa người này người nọ. Tuy đó là một nền văn
học phôi thai nhưng vẫn có đủ tính chất của một nền văn học. Nghĩa là nó bao gồm
cả hai phương diện tư tưởng và học thuật.
Xã hội loài người tiến lên, ngôn
ngữ được thay bằng văn tự, mọi diễn biến tư tưởng được hệ thống hóa, ghi lại bằng
sách vở, lối học truyền khẩu được thay bằng một hệ thống tổ chức trường ốc, thì
đó là nền quốc học của một nước.
Tuy nhiên khi nói đến danh từ «
quốc học » là chúng ta đã vạch ra ranh giới, đóng khung trong một nước, tìm
trong đó những tư tưởng riêng biệt và lối tổ chức giáo dục riêng biệt của một
dân tộc. Đó là ý nghĩa của danh từ « quốc học » mà chúng ta bàn đến.
Vậy quốc học dù trong tính chất
riêng biệt, vẫn gồm hai phần : hệ thống tư tưởng và hệ thống tổ chức học đường.
Hệ thống tư tưởng là dòng lịch sử
tâm tư của một dân tộc, phản ảnh diễn biến chính trị, phản ảnh hoàn cảnh kinh tế,
tạo trong dân tộc một nếp sống, một phong tục có tính chất riêng biệt.
Hệ thống tổ chức học đường chỉ là
phương tiện trao đổi, phổ biến những kinh nghiệm thực tiễn trong cuộc sống để bảo
vệ sinh tồn.
Hai hệ thống ấy từ trạng thái thô
sơ tiến đến hoàn bị. Từ chỗ liên hệ giữa một quốc gia tiến đến chỗ liên hệ quốc
tế.
Loài người vì sức tranh đoạt mà
xã hội xảy ra những biến thái tư tưởng.
Trạng thái biến động ấy chính là
mầm phân chia giai cấp, là sự cách biệt giữa hai hệ thống sinh hoạt của hai lớp
người quý tộc và bình dân.
Bởi vậy, xã hội tiến triển, đưa hệ
thống sinh hoạt loài người đến chỗ phân hóa, và hệ thống tư tưởng của mỗi dân tộc
cũng bị phân hóa theo.
Tóm lại, nền văn học của mỗi nước
đều dựa theo lịch sử xã hội mà chia ra làm hai dòng : dòng quí tộc và dòng bình
dân.
Dòng văn học quí tộc tiêu biểu
cho sinh hoạt và tư tưởng của lớp người thượng lưu quí phái. Dòng văn học bình
dân tiêu biểu cho sinh hoạt và tư tưởng của lớp người bình dân. Hai hệ thống ấy
song hành trước lịch sử xã hội.
Vậy quốc học căn cứ trên dòng văn
học nào?
Nếu định nghĩa quốc học là bao gồm
hệ thống tư tưởng và hệ thống tổ chức học đường có tính chất riêng biệt của một
dân tộc thì dòng văn học bình dân chính là sắc thái riêng biệt của mỗi dân tộc.
Và, không có dân tộc nào, quốc gia nào không có nền quốc học cả, dù là dân tộc
trong một quốc gia nô lệ.
Vậy nước Việt-nam ta không thể
không có quốc học, như một số học giả đã quan niệm trước kia.
Nền văn học bình dân nước ta
chính là một hệ thống tư tưởng của dân tộc đúc kết và di lưu từ đời thượng cổ,
nhưng vì nước ta sớm bị nô lệ nên hệ thống tư tưởng ấy bị lớp người quí tộc bỏ
rơi, và bị nền văn học ngoại lai trấn áp.
Khi nói đến văn học, người ta
nghĩ ngay đến những học thuyết du nhập từ nước ngoài phổ biến trong lớp người
quí tộc, còn những tư tưởng rút trong đời sống thực nghiệm, thực ra, cái họ gọi
cổ lỗ, quê mùa ấy lại là căn bản của nền văn học dân tộc.
Dù bị bỏ rơi, dù bị trấn áp,
chúng ta phải công nhận là nền văn học bình dân vẫn âm thầm tiến triển trong
tâm tư của người dân Việt-nam, bởi lẽ nền văn học ấy là của dân tộc, được dân tộc
bảo vệ và nuôi dưỡng.
Là người Việt-nam, từ giàu đến
nghèo, từ sang đến hèn, lúc sơ sinh cho đến khi trưởng thành không ai khỏi ghi
vào tâm tư mình những câu hát ru con, những câu ca dao, tục ngữ. Sách vở của nền
văn học bình dân là trí nhớ, trường sở của văn học bình dân là chiếc nôi, là
cánh đồng, là những đêm trăng trong mùa làm lụng.
Như thế tại sao chúng ta phủ nhận
hệ thống tư tưởng và học thuật ấy?
Một học thuyết du nhập từ nước
ngoài không phải do một siêu nhân sáng tạo, mà chính do siêu nhân ấy đã đúc kết
những cảm nghĩ, những kinh nghiệm thực tiễn trong cuộc sống qua nhiều thế hệ của
tiền nhân họ. Vậy tiền nhân chúng ta cũng đã trải qua một cuộc sống dài nối tiếp
hằng bao thế hệ, và cũng để lại cho chúng ta một hệ thống tâm tư, được nuôi dưỡng
trong lòng dân tộc, tại sao chúng ta không đúc kết để tìm ra một học thuyết, tức
là lẽ sống cá biệt của dân tộc?
Chúng ta đi tìm tính chất riêng
biệt của dân tộc mà chỉ trông cậy vào những cái du nhập từ bên ngoài thì làm
sao tìm cho được.
Chúng ta bảo chúng ta không có gì
cả. Cái học của tiền nhân không để lại cho chúng ta gì cả. Cái học chúng ta chỉ
là cái học mướn mà chưa đến đích. Nói thế tức là chúng ta chỉ nhìn phiến diện
vào nền văn học bác học, tức là nền văn học quí tộc thôi.
Thực vậy, nếu nhìn vào nền văn học
bác học thì nước ta quả không có gì. Chế độ phong kiến, thực dân du nhập từ nước
ngoài đem đến cho chúng ta một nền văn học nô lệ. Chúng ta chỉ biết tuân phục
và kính trọng nó như một giáo điều. Những gì chúng ta biết đều là của nước
ngoài cả.
Nhìn vào nền văn học bình dân,
cái kho tàng quí báu di lưu kia, nếu chúng ta bảo là không có gì thì quả chúng
ta đã xa rời dân tộc, chối bỏ gia sản của tiền nhân, hoặc không nhìn thấy bóng
dáng dân tộc chúng ta đang hiện hữu trên mặt đất.
Hoặc nếu bảo rằng trong lúc thế
giới năm châu vươn mình lên cõi học tân tiến, nghiên cứu kỹ thuật, dùng khoa học
tranh đoạt sự sống còn, há nước ta lại lùi về dĩ vãng, đem những câu hát ngả ngớn
nơi đồng ruộng nương dâu để ca tụng cuộc sống quê mùa, và cho đó là tài sản văn
học của nước nhà sao ? Thì cũng vẫn là một quan niệm lầm lạc.
Chúng tôi không phủ nhận nền văn
minh khoa học của thế giới đương thời. Tuy nhiên, cái học của con người không
phải chỉ để mưu tìm cái sống, mà còn phải tìm lẽ sống như
thế nào cho phải đạo làm người. Bởi vậy khi nói đến khoa học, chúng ta không
nên xem nhẹ đạo học.
Vậy thế nào là khoa học? Thế
nào là đạo học?
Khoa học là cái học thực nghiệm,
cái học mưu sinh, cái học để tìm mọi khả năng dồn vào con người những phương tiện
phục vụ cho đời sống. Cái học ấy là phương pháp đào tạo con người về khả năng
tranh đấu để kiến tạo xã hội vật chất.
Nhưng khi nói đến kiến tạo xã hội
bằng cách nào, tranh đấu ra sao cho hợp với nhân tính, thì đó là phần đạo học.
Đạo học là cái học thuật về tư tưởng,
tìm tòi trong suy tư, trong ý thức con người những gì còn gọi là cao đẹp, khiến
cho cuộc sống giữa loài người không vì sự mưu sinh mà biến xã hội nhân loại
thành một vũ trường.
Tóm lại, khoa học là cái học để cải
tạo đời sống vật chất, mà đạo học là cái học để cải tạo đời sống tinh thần. Hai
lãnh vực ấy quan hệ mật thiết với nhau, không thể thiếu một.
Ngày nay, khoa học đã trở thành
cái học chung của thế giới. Khoa học không còn là của riêng một quốc gia nào.
Nhưng về đạo học thì mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có tính chất khác biệt mà
chúng ta gọi là dân tộc tính.
Trước đây ông Phạm Quỳnh cũng đã
có ý thức về hai ngành học thuật ấy, và đã tường trình trong một bài báo đăng ở Nam
phong tạp chí. Ông viết:
«Nói đến văn học, chúng ta không
thể không nói đến học thuật : nền học thuật Đông-phương và nền học thuật
Tây-phương. Xét về nguyên lý thì hai nền học thuật Đông Tây có tính chất khác
nhau.
Nền học thuật Đông-phương chú trọng
về đạo đức, nền học thuật Tây-phương chú trọng về khoa học.
Tiếng « khoa học » ở đây xin hiểu
cho nghĩa rộng. Nó là phương pháp tổ chức, là sự phân chia các khoa loại, đặt
thành lề lối để đạt lấy kết quả đích xác, để tìm chân lý sự vật. Khoa học là
phép học đi tìm trong thực thể, không mơ tưởng những huyền vi, lấy lý luận làm
tiên phong, lấy thực nghiệm làm hậu kính, lấy hiển nhiên làm căn cứ, lấy tất
nhiên làm mục đích.
Lối học như vậy khác lối học Đông
phương. Lối học Đông-phương thuộc về đạo học chứ không phải khoa học. Đạo học
là lối học «thụ dụng», tự tìm lấy được chứ không phải do sự tìm kiếm của người
ngoài. Còn khoa học là lối học «ứng dụng» theo lối biện luận tích lũy mà ra,
lại tùy thuộc vào trình độ văn minh xã hội mà tiến hóa. Do đó, khoa học chuộng
mới, còn đạo học chỉ một lời nói cũ kỹ tự ngàn xưa, kẻ hiền triết đời nay vị tất
đã nói hay hơn. Khoa học chuộng rộng ; đạo học đối với một lời nói, một nửa
câu, có thể đem ra thụ dụng suốt đời không hết.
Bởi vậy, nguyên lý của đạo học càng tiến dần đến chỗ uyên thâm thì cái chi tiết bên ngoài càng bớt đi, để dần dần chui vào lãnh vực tối thượng của đạo lý.Tuy nhiên, đạo học là cái học «thụ dụng» tự nó mang tính chất tiêu cực, nên đã bị khoa học lấn áp. Từ lúc mở đầu kỷ nguyên khoa học, nền học thuật Tây-phương đáp ứng nhu cầu vật chất cho nhân loại, đã làm cho nền học thuật Đông-phương bị lu mờ. Chúng ta là người Đông-phương, hẳn cảm thấy một sự mất mát ở cái kho tàng của tinh thần Đông-phương chúng ta.Chúng ta lại thấy rằng nền văn minh vật chất càng tiến bộ thì nền văn minh tinh thần cũng cần phải bồi đắp cho cân xứng. Tinh thần, vật chất là hai yếu tố tất yếu trong con người, phải được thăng bằng, nếu bị chênh lệch thiếu một trong hai yếu tố ấy dù là nền văn minh nào cũng chẳng tồn tại được…»Trong bài Điều đình cái án Quốc-học, ông Nguyễn-trọng-Thuật cũng có ý chia ra hai nền học thuật. Ông viết :«Học thuật các nước trên thế giới đến ngày nay đã hoàn bị và tinh tế. Song lấy quốc tính mà suy ra thì học thuật có hai phần là quốc học và thế giới công học.Quốc học là cái học riêng, chỉ một mình nước ấy có. Thế giới công học là cái học chung của các nước học lẫn nhau.Đem ví với con người thì quốc học là phần bản thể, thế giới công học là phần bồi dưỡng. Bản thể cần phải nuôi dưỡng cho lớn khôn, khoẻ đẹp mà không bỏ và thay vào được. Còn bồi dưỡng thì tùy thuộc vào nhu cầu bản thể mà lấy ở bên ngoài… »Tóm lại, các học giả nước ta trước kia từ Phạm Quỳnh đến Phan Khôi, Nguyễn-trọng-Thuật, Trần-trọng-Kim… hầu hết tuy có thiết tha với nền văn học Việt-nam, muốn tìm trong học thuật nước nhà những gì gọi quốc hồn, quốc túy để gây cho nước nhà một nền quốc học. Tuy nhiên, vì ảnh hưởng tinh thần nho giáo, các bậc tiền bối chỉ nhìn vào dòng văn học bác học du nhập từ nước ngoài, xem giáo lý Khổng Mạnh như là một năng lực tuyệt đối về tư tưởng mà bỏ quên cả một hệ thống tinh thần rải rác trong dân tộc Việt-nam di lưu hằng bao nhiêu thế kỷ chưa được đúc kết.Bởi vậy, khi nền văn học Tây-Âu truyền sang Á-Đông đánh ngã đạo Nho, các học giả nho giáo nước ta băn khoăn lo sợ giáo lý Khổng Mạnh bị mai một, nên khuyến khích ông Trần-trọng-Kim đứng ra ghi lại những tinh túy của nho học trong quyển sách nhan đề Nho giáo để lưu truyền hậu thế. Dĩ nhiên việc làm ấy không phải vô ích, nhưng với tinh thần lo lắng như vậy nếu dành một phần nào chiếu cố nền văn học dân tộc thì có lẽ ngày nay nền văn học bình dân Việt-nam không đến nỗi quá phũ phàng như nhiều người đã tha thiết.Hôm nay chúng tôi đặt vấn đề khảo cứu văn học bình dân, nhưng trong quyển sách chỉ giới hạn bộ môn thi ca mà thôi. Chúng tôi không có hoài bão xây dựng nền tảng cho ngôi nhà văn học bình dân mà hiện chúng ta chưa có. Chúng tôi chỉ ước vọng khơi lên một đóm lửa đang âm iu trong lòng một dân tộc sống trên mảnh đất nhỏ bé, mang lịch sử bốn ngàn năm văn hiến mà suốt thế hệ này sang thế hệ khác vẫn luôn luôn bị áp bức, nô lệ.Hỡi tiền nhân của dân tộc ! Có lẽ đến ngày nay tiền nhân không còn nhận ra bóng dáng con cháu mình nữa. Hình hài những đứa con sống trên đất mẹ đã khác xưa. Những mái nhà tranh yêu dấu không sụp đổ bằng bão táp, phong ba, mà phải phũ phàng trải qua cuộc giành giựt bằng khói súng, làn bom, và người ta đã thay vào đấy những lớp xi-măng cốt sắt. Những vết chân trâu trên mặt ruộng, những thảm cỏ xanh rì trong đồng nội đã bị chiến tranh cày nát và chôn sâu vào lòng đường trải nhựa. Cô thôn nữ trên bờ đê giờ đã vứt bỏ chiếc yếm thắm vã hồ, khoác vào người bộ áo cánh hở ngực trống tay… và tất cả, không còn cái gì là của tiền nhân để lại nữa !Nhưng không, thưa tiền nhân, hình bóng đổi mới chỉ là dấu vết của thời gian, chứng tích của một dân tộc đang ngoi đầu lên trước mọi áp lực để giữ một chỗ đứng trên mặt địa cầu. Dòng máu của tiền nhân vẫn đang chảy rần rật trong huyết quản của con cháu. Những câu hát ru con cạnh chiếc nôi, những giọng hò dưới trăng tự thuở nào, bên tai họ vẫn còn được nghe nhắc nhở như tiếng gọi của hồn nước.Hỡi bạn trẻ, lớp người của thế hệ mai sau ! Có thể một ngày nào đó các bạn không còn biết « ông Táo » là gì, hình dáng ra sao, vì bếp lửa của các bạn ngày nay là chiếc lò nấu bằng điện. Các bạn sẽ không biết « giã gạo » là gì, vì các bạn có những máy móc thay cho việc làm mà tiền nhân đã khổ cực… Nhưng, các bạn đừng tưởng tâm tư các bạn thoát hẳn ra ngoài đặc tính của dân tộc.Không, các bạn vẫn sinh trên lòng đất Mẹ, lớn lên trên chiếc nôi, và được ru ngủ bằng giọng hát « Ạ, ời ời ! » Chúng tôi quả quyết, dù cuộc sống có thay đổi đến đâu, khi văng vẳng nghe một câu hát của tiền nhân, các bạn cũng không thể kềm được lòng cảm xúc.Như vậy, tức là trong tâm hồn các bạn vẫn âm ỉ sống đôi chút hồn dân tộc.Và khi đã cảm thấy tâm hồn mình còn lưu luyến hồn dân tộc thì các bạn hãy đem nó sưởi vào đóm lửa này, các bạn sẽ bớt lạnh nhạt, niềm thiết tha đối với di sản của tiền nhân sẽ dậy lên, và cõi lòng các bạn sẽ được ấm dịu vì có nơi nương tựa.B. XÁC ĐỊNH MỘT CHIỀU HƯỚNG SƯU KHẢOCũng như dòng văn học bác học, dòng văn học bình dân chia ra làm nhiều bộ môn, mỗi bộ môn có một tính chất khác nhau.Đặt ranh giới, hướng về bộ môn thi ca, trong tập sách này chúng tôi chỉ khảo cứu riêng về những loại văn vần.Văn vần trong thi ca bình dân Việt-nam gồm một phần tục ngữ, và tất cả những câu ca dao, những điệu hát, điệu hò và những bài vè. Mỗi loại có một tính chất riêng.1) Tục ngữ là những câu tự lâu đời, nhiều người thường nói thành thói quen. Những câu tục ngữ có tính chất địa phương thì gọi là « phương ngôn ».2) Ca dao là câu hát phổ thông trong dân gian (ca là những bài hát thành khúc, dao là những câu hát ngắn độ một vài câu). Ca dao được gọi là phong dao khi những câu hát ấy lưu hành trong dân chúng, diễn tả lề lối, phong tục, tính tình của đại chúng bình dân.3) Điệu hát được chia ra làm nhiều thể điệu hoặc ru con bên nôi, hoặc để giúp vui lúc đình đám.4) Điệu hò là lối hát tập thể, gồm nhiều người tham gia để giải trí trong lúc làm lụng mệt nhọc.5) Vè là một bài văn vần dùng châm biếm một người hay một việc gì.Tuy nhiên, với đường hướng sưu khảo trong tập sách này, chúng tôi không đi vào phần kỹ thuật sáng tác. Chúng tôi muốn cùng các bạn bước vào lãnh vực tâm tư của đại chúng bình dân, đúc kết những chuỗi tâm tư của ngàn xưa thành một hệ thống tư tưởng.Với mục đích ấy, trước khi vào phần sưu khảo, chúng tôi thấy cần xác định các khó khăn sau đây.Thường thường những tài liệu văn học muốn được nghiên cứu tường tận phải tìm hiểu xuất xứ, tức nguồn gốc của nó. Mỗi câu ca, mỗi bài hát không phải tự nhiên mà có, nó thoát thai do ảnh hưởng của thời đại. Mà trạng thái xã hội không phải là trạng thái bất biến. Nó luôn luôn thay đổi. Tuy cùng một chế độ chính trị mà mỗi thời một khác. Nhưng tài liệu sử học với tính chất phản ảnh tâm tư của người dân trong xã hội ấy không thể đứng yên, biệt lập với mọi biến chuyển của thời gian được.Cho nên, nếu bảo tâm tư con người là những chứng tích của thời gian, thì thi ca bình dân chính là những chứng tích của dân tộc hơn bốn ngàn năm lịch sử ghi lại bằng lối truyền khẩu, và chúng ta không thể căn cứ vào đâu để tìm ra nguồn gốc của mỗi câu tục ngữ, phong dao ấy được.Đã không tìm được thời-gian-tính thì những chứng tích của thời gian sẽ mất hẳn giá trị sử liệu. Nói cách khác, sản phẩm của tâm tư bao giờ cũng do hoàn cảnh thời gian tạo nên, nếu chúng ta không tìm được hoàn cảnh thời gian thì cũng không thể nào hiểu nổi trạng thái của tâm tư trong lúc ấy. Đó chính là điều khó khăn cho những người muốn sưu khảo nền văn học bình dân Việt-nam ngày nay.Ông Nguyễn-văn-Ngọc lúc sưu tập bộ Tục ngữ Phong dao đã phải phàn nàn:«Những sách của các nhà biên soạn trước kia làm không theo trật tự nào, hoặc đổi nhau từng hai câu một, hoặc chia từng mục: Trời đất, năm tháng, Tiền của văn học, từng thiên : Sơn-tây, Lạng-sơn, Tuyên-quang, Thừa-thiên ; từng chương: Tống-sơn, Nga-sơn, Hoằng-mỹ, Hậu-hộc, hoặc xếp theo từng thời đại các Triều Vua, tự Kinh-dương-vương đến bản Triều. Những câu chép trong sách thường không có chú thích, phê bình. Tựu trung, một đôi quyển cũng gọi có cắt nghĩa qua từng câu hoặc kê cứu lai lịch của cả các câu mà ghép cho câu nào cũng như có can thiệp đến Lịch-sử nước nhà.Kể như thế thì những sách Tục ngữ, Phong-dao thực không phải là hiếm. Nhưng đáng tiếc rằng hiện có nhiều quyển chỉ mới là sách viết bỏ quên trong một thư viện nhà nào, chớ chưa từng đem công bố, ấn hành cho thiên hạ dùng bao giờ. Còn một hai quyển đã xuất bản, cứ như chúng tôi xem, thì góp nhặt chưa có phần dồi dào chắc chắn, mà xếp đặt cũng chưa lấy gì làm tinh tế, hoàn hảo… »Tuy nhiên, lời nói ông Nguyễn-văn-Ngọc chỉ là lời phàn nàn khi gặp khó khăn trong việc khảo cứu. Đến như ông Trương-Tửu lại khác. Ông lớn tiếng phủ nhận lời ghi chú của tiền nhân.Ông viết: «Theo ý tôi, kê cứu lai lịch tục ngữ, phong dao mà ghép cho câu nào cũng như có can thiệp đến lịch sử nước nhà là một việc liều lĩnh. Thản hoặc cũng có ít nhiều câu dính líu đến một vài chuyện lịch sử thiết thực nhưng xét kỹ, phần nhiều những câu đã sưu tập được thường chỉ có liên lạc với những trạng thái sinh hoạt hoặc phong tục lễ giáo của dân gian. Điều ta nên chú ý hơn hết là cách tả thuật những trạng thái sinh hoạt ấy, và cách phô diễn ý kiến của dân chúng về những phong tục, lễ giáo đó. Còn việc tìm biết những câu nào nói vào tình trạng của thế kỷ nào là một điều rất khó. Về vấn đề này ta chỉ có quyền ức thuyết mà thôi»Một mặt phủ nhận lời ghi chú, một mặt ông Trương-Tửu lại đổ tội cho tiền nhân thiếu tinh thần trách nhiệm đối với văn học nước nhà.Ông viết: «Phong dao, tục ngữ nước ta có từ đời thượng cổ mà mãi đến gần đây mới có một ít nhà khảo cứu sưu tập chép ra thì tất nhiên không thể nào biết rõ được câu nào ở về thế kỷ nào. Cái khuyết điểm này nên qui tội vào bọn nhà nho. Vì họ coi nôm na và mách qué, chỉ thờ phụng Kinh Thi của Trung-quốc, không biết noi gương Chu-công, Khổng-tử lấy văn tự mà ghi chép những phong dao, tục ngữ của mình. Hay bởi tại phần nhiều thi ca của dân chúng phản đối tư tưởng họ, nên họ vì tự ái, tự tôn mà không chép lại?»Chúng tôi thấy trách cứ tiền nhân như vậy cũng không đúng. Vào thời đại của các cụ, muốn san định một tập sách không phải dễ, mà phương tiện ấn loát cũng không có. Vả lại, theo chúng tôi nghĩ, mọi việc chẳng có gì tuyệt đối. Ngay khi bộ Kinh Thi Trung-hoa, lúc Khổng-Tử san định thì mỗi bài thơ, mỗi câu phong dao đều đã được Chu-công sưu tập, chú dẫn đủ cả thời gian và sự tình rồi, việc đi tìm nguồn gốc không còn ai thắc mắc nữa. Nhưng thực tế vẫn chưa thể hoàn toàn, bởi vì những câu chú dẫn tồn trữ trong văn khố đời nhà Chu xét lại cũng có nhiều chỗ rất mơ hồ, không chân xác, mà các học giả sau này còn phải suy cứu, tranh luận, đặt ra nhiều nghi vấn.Ví dụ: Thơ Bách chu văn chương tiểu tựa ghi chú là người hiền không gặp thời mà làm ra. Nhưng ở truyện Liệt nữ của Lưu Hương thì lại chép rằng: «Con gái vua nước Tề gả sang vua Tuyên-công nước Vệ vừa đến cổng thành thì Tuyên-công chết. Phu nhân vào thành ở, cư tang ba năm. Sau khi hết tang, người em vua Tuyên-công nối ngôi muốn lấy người chị dâu góa ấy làm vợ, phu nhân nhất định không nghe, làm ra hai bài thơ ấy. Nhưng đến thầy Chu thì lại bác cái sự tình ấy, cho rằng ở Tả-truyện chép rõ ràng Tuyên-Khương (tức vợ Tuyên-vương) thông dâm với Chiêu-Bá đâu phải là người đàn bà chính đáng như vậy được»Xem thế thì những tích truyện thời xưa, mặc dù có ghi chú sự tích và thời gian vị tất đã trung thành với sử liệu. Nhiều khi lời ghi chú ấy do ý kiến độc đoán của người làm ra, cốt thuyết minh một giáo lý có sẵn hơn là tôn trọng sự thật.Cho nên khi khảo cứu một tài liệu văn học sử, chúng ta không nên ỷ lại vào lời ghi chú, mà cũng không nên quá bi quan với những tài liệu chúng ta cho là mất gốc.Gần đây với quan niệm mới, việc khảo cứu văn học không nhất thiết phải tìm hiểu lịch sử và thời gian của tác giả đối với tác phẩm. Quan niệm ấy cho rằng tác phẩm là sản phẩm tư tưởng của tác giả, tự nó đã phản ảnh đủ cả tính chất tâm tư và thời gian trong sinh hoạt xã hội rồi. Tìm hiểu tác phẩm tức là tìm hiểu tác giả, bởi vì tác phẩm là hình bóng của tác giả.Nhưng có người cho rằng tác phẩm không phải là hình bóng đích thực của tác giả, mà chỉ là hình bóng giả tạo trong con người đích thực của tác giả mà thôi.Thực ra, chúng tôi không phủ nhận hoàn toàn ý kiến trên đây. Tuy nhiên, chúng tôi cũng không thể chối bỏ sự liên hệ giữa hai thực thể : tác phẩm và con người. Dù có giả dối cách nào đi nữa, ý thức con người cũng không thể đúc kết ngoài thời gian và trạng thái sinh hoạt xã hội đương thời được.Huống chi văn học bình dân là tiếng nói chân thành của một dân tộc, không phải là tiếng nói riêng của cá nhân, thì việc giả dối ấy tất nhiên không thể có. Khi tác phẩm đã là hình bóng đích thực của xã hội rồi thì bên trong tất chứa đựng đủ tính chất thời gian và hoàn cảnh xã hội. Chúng ta có thể nghiên cứu tác phẩm, minh định thời gian và trạng thái xã hội để biết tâm tư của tác giả cũng không phải là việc làm liều lĩnh, thiếu thực tế.Nói như thế có nghĩa là chúng tôi muốn xác định một quan niệm khảo cứu, không cho những tác phẩm từ ngàn xưa để lại, thiếu chỉ dẫn, là hoàn toàn mất giá trị sử liệu.Để minh xác điều này, chúng tôi cùng các bạn thử tìm « địa vị thi ca trong đời sống con người».Thi ca là gì?Theo triết thuyết của Khổng-Tử, thi ca là sản phẩm của tình cảm con người. Do tình cảm mà con người cần phải có thi ca.Không một dân tộc nào có ngôn ngữ mà không có một nền thi ca riêng. Người ta vì muốn bộc lộ tâm tình mà làm thơ, vì muốn nhịp sống hòa hợp với tình cảm mà đem âm thanh ghép thành nhạc điệu. Vậy triết thuyết Khổng-Tử xác định thơ nhạc gốc ở tình cảm không phải là một định lý sai lầm.Khi đã tìm được thi ca gốc ở tình cảm rồi, tất nhiên chúng ta có thể dùng thi ca làm tấm gương phản chiếu tìm lại tình cảm của một dân tộc. Tuy nhiên, tấm gương chỉ mới là dụng cụ phản chiếu, chưa phải là hình bóng đích thực. Muốn tìm hình bóng đích thực, kẻ nào nhìn vào tấm gương còn phải gặp nhiều khó khăn.Cho nên, khi đã nhận rằng thi ca gốc ở tình cảm thì chúng ta cũng không thể không tìm hiểu « tình cảm con người do đâu mà có » ?Câu hỏi ấy thuộc phạm vi các nhà triết học, nhưng với nhà khảo cứu văn học vẫn không thể không quan tâm đến. Bởi vì, khảo cứu văn học là tìm hiểu trạng thái tư tưởng con người trước lịch sử xã hội. Công việc khảo cứu ấy bắt buộc chúng ta phải có một quan điểm thích hợp với đà tiến hóa chung của nhân loại.Đứng vào quan điểm này chúng ta hình dung sự tiến hóa xã hội loài người bằng trạng thái này, đứng vào quan điểm kia, chúng ta lại hình dung sự tiến hóa xã hội loài người bằng trạng thái kia. Mọi dị biệt ấy đều do chúng ta không đồng quan điểm. Cho nên, nếu chúng ta nhận thấy khảo cứu văn học là đem tâm tư khám phá những bí hiểm của dĩ vãng, đúc kết thành hệ thống tư tưởng nối liền lại với hiện tại, thì chúng ta không thể không tự mình xác định một lập trường tư tưởng trước khi bắt tay vào công việc ấy.Hoặc nếu chúng ta bảo rằng dĩ vãng không còn là bí hiểm nữa, mọi diễn biến đã được ghi rõ bằng dấu vết của thời gian, phơi bày trước lịch sử rồi, thì đó là quan niệm sai lầm.Theo chúng tôi, dĩ vãng cũng như tương lai, cả hai đều luôn luôn nằm trong bí hiểm, mà loài người, trong thế hệ nào cũng vẫn phải tìm kiếm nó. Chúng ta nhìn về dĩ vãng cũng như hướng về tương lai, cái đã mất cũng như cái chưa có, những gì chúng ta thấy di lưu trên dòng thời gian chỉ là những dấu vết để chúng ta đi tìm chứ chưa đích thực là những cái hiện hữu chúng ta mong tìm được. Trong những dấu vết ấy chứa đựng không biết bao nhiêu bí hiểm, mà bộ óc con người hầu như bất lực.Nói cách khác, chúng ta có thể ví nhà khảo cứu văn học cũng như nhà thám hiểm, đem năng lực hiểu biết hiện tại đi vào thế giới dĩ vãng, lần mò theo dấu vết thời gian, khám phá những gì mới lạ, hoặc bị mất mát. Như vậy nhà thám hiểm ấy tất phải nghiên cứu sẵn trong tay một bản đồ. Bản đồ ấy chính là lập trường tư tưởng.Trở lại vấn đề tình cảm con người. Khi chúng ta đã thừa nhận thi ca gốc ở tình cảm mà ra, vậy chúng ta thử tìm hiểu xuất xứ của tình cảm con người. Với quan niệm Đông-phương, triết huyết Nho-giáo cho rằng cảm tình cảm con người do ảnh hưởng chính trị mà có. Tình cảm con người là tấm gương phản chiếu mọi sinh hoạt chính trị trong nước – chính trị ở đây theo quan niệm Nho-giáo là đường lối cai trị của vua quan.Từ quan niệm «thi ca gốc ở tình cảm, tình cảm gốc ở chính trị », Nho giáo đã đi đến một định thuyết là « có thể dùng thi ca cải tạo tình cảm con người và cũng có thể cải tạo luôn cả xã hội nữa ».Bởi vì, theo Khổng-Tử không có một năng lực nào làm điều hòa tình cảm con người bằng thơ và nhạc. Thơ và nhạc do tình cảm con người mà có, thì thơ và nhạc cũng có hiệu lực tác động ngược chiều đối với tình cảm con người. Hễ tình cảm trong sạch thì thơ nhạc tinh khiết, tình cảm vẩn đục thì thơ nhạc dâm ác. Ngược lại, thơ nhạc dâm ác sẽ lôi tình cảm con người vào tội lỗi, thơ nhạc khoan hòa sẽ biến tình cảm con người vào cõi thiện.Với định lý ấy, Khổng-Tử áp dụng vào chính trị, nghiên cứu phương pháp trị dân, đúc thành một giáo lý cho lớp người thống trị (vua, quan) dùng thơ nhạc cải thiện tình cảm con người, cải thiện xã hội.Theo quan niệm Khổng-Tử thì tình cảm con người chỉ là bãi sa mạc (trống rỗng) chịu ảnh hưởng ngoại vật, và phản ứng theo tác động của ngoại vật mà thôi. Tuy nhiên, tình cảm ấy là tình cảm của thứ dân (lớp người bị trị), còn đối với lớp người thống trị thì lại khác. Lớp người thống trị là hạng quân tử, mang trong người một kiến thức, có thể dùng kiến thức ấy điều khiển tình cảm mình được.Cho nên xã hội loài người theo quan niệm Nho-giáo là một xã hội đẳng cấp. Đẳng cấp không căn cứ vào giàu nghèo, sang hèn, mà căn cứ vào kiến thức tất yếu do thiên tánh tạo nên. Một quốc gia, một dân tộc xấu hay tốt đều do người lãnh đạo tạo ra trạng thái chính trị xấu hay tốt mà thôi. Như vậy, kiến thức của lớp người thống trị là khả năng tuyệt đối, chi phối mọi sinh hoạt xã hội.Trái với triết thuyết Nho-giáo Đông-phương, một số học thuyết Tây-Âu lại cho tình cảm con người do bản năng thiên nhiên mà có, không chịu ảnh hưởng vào một cái gì cả. Nếu con người có những buồn vui, thương ghét chỉ là vì bản năng thiên nhiên của con người phản ứng đối với mọi áp lực của ngoại năng mà thôi. Trong mỗi người chúng ta tự nó đã có những tình cảm do bản năng thiên nhiên cấu tạo rồi, không một ảnh hưởng nào bên ngoài có thể thay đổi tính chất ấy được. Triết thuyết này chối bỏ xã hội đẳng cấp, chối bỏ mọi giáo điều, chủ trương nghệ thuật thi ca là sản phẩm của tình cảm hoàn toàn tùy thuộc vào thiên tính. Do đó, khi khảo sát về thi ca, họ không coi đó là một tài liệu xã hội, mà chỉ khai thác ở lãnh vực con người của thiên nhiên.Gần đây, khoa học tiến triển, một vài học thuyết nghiêng về sinh hoạt xã hội, xem tình cảm con người không phải là sản phẩm chính trị như quan niệm Nho-giáo, mà là sản phẩm của sinh hoạt kinh tế trong mỗi nước. Chính nền kinh tế của mỗi nước chi phối mọi sinh hoạt xã hội, hun đúc cho mỗi dân tộc có một tình cảm, một phong tục, một lề thói khác biệt nhau mà chúng ta gọi là dân tộc tính. Quan niệm này thừa nhận nguyên lý tác động ngoại năng đối với nội thức, nhưng gạt bỏ hệ thống giáo điều, không cho tình cảm con người có thể dùng tâm thức cải tạo, và xã hội loài người không thể dùng giáo lý chuyển hóa được. Muốn chuyển hóa xã hội phải chuyển hóa sinh hoạt xã hội trước, nghĩa là biến cải nền kinh tế, và tình cảm con người cũng sẽ biến cải theo.Với quan niệm ấy, các nhà khảo cứu thi ca đi tìm trạng thái xã hội bằng động lực kinh tế, mổ xẻ trong thi ca tìm kiếm những mâu thuẫn trong sinh hoạt xã hội đẳng cấp, nghĩa là đi tìm trạng thái bất bình đẳng trong lịch sử mỗi dân tộc.C. THỬ ĐẶT MỘT PHƯƠNG PHÁP MỚI TRONG VIỆC KHẢO SÁT THI CA BÌNH DÂNTìm về thi ca bình dân tức là đi vào vũ trụ hỗn mang, chứa đựng một thời gian dằng dặc, một không gian bao la, nơi ấy chúng ta chỉ còn bắt gặp những vết tích, những âm hưởng chồng chất ngổn ngang tự thời sơ cổ. Hình bóng, màu sắc lẫn lộn đến nỗi nhãn quang chúng ta không thể nào hình dung ra được một khung cảnh rõ rệt. Dưới lớp bụi thời gian dày bịch ấy, dù bộ óc con người có tinh vi đến đâu cũng chỉ cho phép chúng ta nhận định theo chiều hướng suy tư của mình. Việc làm chỉ có thế. Và cũng chỉ còn cách ấy thôi. Vì vậy, ở phần vừa qua chúng tôi đã phải bàn đến chiều hướng suy tư.Nhưng chiều hướng suy tư chỉ mới là mũi tên điểm chỉ ta về thế giới thẳm sâu của dĩ vãng. Cuộc hành trình còn nhiều cam go, vất vả ; không gian thì mù mịt, mọi vật đều mờ ảo trong ký ức khiến chúng ta không còn biết định hướng là đâu, và ngày nay chúng ta trở lại con đường bị quên lãng ấy, những chứng tích đánh dấu cho kẻ lữ hành đã bị thời gian xóa nhòa. Những nẻo dẫn về lâu đài văn hóa dân tộc đã bị cỏ dại phủ kín. Quá khứ phai dần. Muốn tìm lại những tâm tư của dân tộc đã bị thời gian khép kín tự ngàn đời, kẻ lữ hành phải tự tạo cho mình những dụng cụ cần thiết : đó là chiếc la bàn dẫn hướng và một chìa khóa mở cửa lâu đài văn hóa dân tộc.La bàn ? Chúng tôi muốn nói đến chiều hướng suy tư, tức là con đường dẫn chúng ta đến thế giới dĩ vãng và chìa khóa, chúng tôi muốn nói đến kỹ thuật sắp xếp để dựng lên ngôi nhà văn học dân tộc.Được thế, chúng ta mới có thể phiêu lưu vào dĩ vãng để hình dung cho ra một vũ trụ, một thế giới đã bị chôn lấp tự ngàn xưa.Việc làm tất khó khăn ! Chúng ta phân vân tự hỏi phải dùng sự hiểu biết nào để phân tích, dùng kích thước nào để đo lường bề dày của lớp thời gian đã che mờ cảnh vật ? Chúng ta phải có một nhận định nào, một thẩm mỹ nào để uốn nắn lại các hình thái đã bị thời gian phá mất nguyên trạng ? Cuối cùng chúng ta lại phải có tầm mắt thế nào để phân định giới hạn cõi u minh kia ?Không một nhà khảo cứu nào không tự đặt cho mình một ranh giới trước khi bắt tay vào việc. Ranh giới ấy chính là cái nhìn của họ khi đứng trước một đối tượng.Thật vậy, thế giới thi ca, vũ trụ của tinh thần, của tình cảm, của sinh hoạt xã hội, của bản chất thiên nhiên, chứa đựng mọi tiềm năng sinh lực, nên khi đặt mình trước đối tượng bao la ấy, nhà khảo cứu tự thấy tầm mắt mình chỉ là một con đóm giữa ngàn sao. Ánh sáng một con đóm quả thật không đủ khả năng soi thấu cõi huyền diệu vô biên ?Biết vậy, lẽ ra những con đóm kia không nên có tham vọng đem sức bé mọn của mình soi sáng thiên nhiên, nhưng những con đóm, những bộ óc của các nhà khảo cứu – nếu vũ trụ chưa tan rã thì những con đóm kia vẫn còn tiếp tục sinh tồn. Và nếu dĩ vãng của loài người cứ chôn dần vào bóng tối thời gian thì chính những con đóm li ti kia lại trở thành những sinh vật hữu dụng cho bóng tối ; nó sẽ vạch ra trong bóng tối những vệt sáng, tuy nhỏ, nhưng điều hòa được sinh khí giữa vũ trụ, đem cái chết gần với cái sống, nối dĩ vãng với hiện tại và tương lai, tạo một chuỗi tâm tư không bị đứt quãng.Những con đóm – chúng tôi muốn nói đến tiền nhân, những người thiết tha với nền văn học dân tộc – đã bỏ nhiều công lao để xâm nhập vào cõi u minh – vũ trụ thi ca bình dân. Và chúng tôi hiện nay cũng chỉ là những con đóm hậu thế đang tiếp tục việc làm của tiền nhân.Ánh đóm chúng tôi lạc loài và quá mong manh ! Lớp thời gian mù mịt của thế giới ngày nay đã phủ lên chúng tôi, đã trùm kín chúng tôi bằng những học thuyết tân kỳ, chia cách chúng tôi xa rời với vũ trụ cố hữu của dân tộc.Trở lại con đường văn học bình dân, chúng tôi không dám phủ nhận việc làm của tiền nhân, nghĩa là định lập lại một lần nữa công trình góp nhặt. Vì làm thế, chúng tôi cũng chỉ lẩn quẩn tới lui trên con đường đã dọn sẵn. Lẽ dĩ nhiên chúng tôi không thể đi xa hơn để tìm một nhận thức nào mới lạ trong dĩ vãng. Là con người của thế hệ trẻ, chúng tôi muốn bước ra ngoài tầm ánh sáng đã có, đào xới trong cõi u minh ấy những gì chưa khai quật, bới lên những tinh hoa đã bị thời gian mai một, sửa lại những viên gạch bị xiêu đổ, tại tạo ngôi nhà văn học bình dân.
Đã không tìm được thời-gian-tính thì những chứng tích của thời gian sẽ mất hẳn giá trị sử liệu. Nói cách khác, sản phẩm của tâm tư bao giờ cũng do hoàn cảnh thời gian tạo nên, nếu chúng ta không tìm được hoàn cảnh thời gian thì cũng không thể nào hiểu nổi trạng thái của tâm tư trong lúc ấy.
Trở lại vấn đề tình cảm con người. Khi chúng ta đã thừa nhận thi ca gốc ở tình cảm mà ra, vậy chúng ta thử tìm hiểu xuất xứ của tình cảm con người.
Trái với triết thuyết Nho-giáo Đông-phương, một số học thuyết Tây-Âu lại cho tình cảm con người do bản năng thiên nhiên mà có, không chịu ảnh hưởng vào một cái gì cả. Nếu con người có những buồn vui, thương ghét chỉ là vì bản năng thiên nhiên của con người phản ứng đối với mọi áp lực của ngoại năng mà thôi. Trong mỗi người chúng ta tự nó đã có những tình cảm do bản năng thiên nhiên cấu tạo rồi, không một ảnh hưởng nào bên ngoài có thể thay đổi tính chất ấy được.
Dĩ nhiên chưa thể nói đến hoàn bị. Vì làm thế nào mỹ mãn được khi chúng ta, con người của thế hệ hiện tại đã mất hẳn hình dáng đích thực của ngôi nhà cổ kính kia, chỉ còn lại những dấu vết phai mờ, những đường nét bị hủy hoại.Tuy nhiên, chúng tôi hy vọng những vết tích được di lưu và tồn tại với thời gian, với dân tộc ngày nay cũng đủ để chúng ta căn cứ vào đó xây dựng lại ngôi nhà Việt-nam thời cổ theo một bức sơ đồ.Ngôi nhà Việt-nam ! Chúng tôi muốn nói đến mái tranh, đến vườn rau ao cá, đến cỏ nội mây ngàn, đến con đường mòn dẫn về thôn xóm, đến những vết chân trâu in trên thửa ruộng, những lũy tre xanh, những đêm trăng tiếng chày khua qua câu hò, giọng hát… và tất cả những gì chứa đựng, nuôi dưỡng tâm hồn một dân tộc.Dân tộc Việt-nam đã trưởng thành trong ngôi nhà với những sắc thái ấy. Và thời gian, khi chưa phá vỡ những vết tích trong tâm tư họ thì cũng chưa thể xóa nhòa được nguồn gốc văn minh của họ được.Hãy vượt thời gian trở về dĩ vãng tìm dựng lại ngôi nhà chúng ta, ngôi nhà văn học bình dân, ngôi nhà tư tưởng, nền móng của cuộc sống chúng ta ngày nay.Chúng ta phải nói đến ngôi nhà tư tưởng, và tạo dựng ngôi nhà văn học bình dân trên lối kiến trúc ấy. Bởi vì, chúng tôi nghĩ, con người thời nay không có gì khác lạ nếu chúng ta tách rời trạng thái sinh hoạt và chiều hướng suy tư. Chính hai yếu tố ấy đã đẩy dòng thời gian, đưa chúng ta đến nếp sống và những cảm nghĩ đương thời.Trạng thái sinh hoạt và chiều hướng suy tư cũng chính là nền móng của xã hội loài người, tạo cho loài người một nền văn hóa. Cho nên khi kiến tạo trên nền văn học bình dân một ngôi nhà tư tưởng, tức là chúng ta chỉ ghi lại được vết tích xã hội và căn bản con người.Ngày nay, chúng ta sống trong những luồng tư tưởng mới, hướng về những triết thuyết này nọ, và chúng ta tự cho là văn minh, phù hợp với lẽ sống con người, thử hỏi người bình dân thời xưa có những suy tư, cảm nghĩ như chúng ta chăng ? Đành rằng những suy tư và cảm nghĩ họ không giống với chúng ta ngày nay, nhưng không phải không có, mặc dù họ không thể viện ra được những triết thuyết này nọ để chứng minh. Khi con người đã lao mình vào lẽ sống thì dù man rợ hay văn minh vẫn có những cảm nghĩ đối với lẽ sống. Cảm nghĩ ấy phát xuất từ nền móng sinh hoạt xã hội, và làm nền tảng cho cuộc sống tinh thần. Nếu chúng ta biết đem những cảm nghĩ đó sắp xếp thành hệ thống tư tưởng, dĩ nhiên chúng ta sẽ tìm thấy một triết thuyết của người bình dân qua từng thời đại, có đủ tính chất nhân sinh, xã hội, vũ trụ quan như mọi triết thuyết khác. Đó là ngôi nhà tư tưởng của văn học bình dân mà chúng tôi muốn nói đến.Nếu chúng ta nghĩ rằng người bình dân áo vải quần thâm, sống cuộc đời mộc mạc trong thửa ruộng nương dâu, trên bùn lầy nước đọng, làm gì có ý thức triết học mà chúng ta đem gắn cho họ những công trình ấy, thì thật chúng ta đã lầm. Mọi tư tưởng triết học bắt nguồn từ suy tư do sinh hoạt xã hội tạo nên. Vậy người bình dân có những suy tư trong cuộc sống của họ không ? Từ tục ngữ, phong dao đến những chuyện cổ tích, tiếu lâm bàng bạc những cảm nghĩ của họ đối với lẽ sống con người, chúng ta có quyền gì phủ nhận công trình suy tư của họ trong văn hóa dân tộc ? Sở dĩ họ không hệ thống hóa những suy tư ấy chỉ vì họ là người bình dân, con người từ thời đại này đến thời đại khác không bao giờ được quyền sống theo ý muốn của mình. Mất hẳn quyền sống, họ có thể bị tước đoạt cả áo cơm, bị đày đọa thể xác, giam hãm trong hắc ám, nhưng ở địa hạt suy tư, sản phẩm của tư tưởng, quyền tuyệt đối của con người, không một bạo chúa, một hung thần nào có thể cấm đoán họ được. Thế thì đem suy tư của họ đúc kết trên nền tảng văn học, dựng một ngôi nhà tư tưởng chính là đi tìm nguồn gốc văn hóa của dân tộc.Nhưng việc làm ấy đối với tiền nhân như thế nào? Khi đã vạch ra một con đường hướng sưu khảo, chúng ta là lớp người thế hệ trẻ, dĩ nhiên phải có bổn phận soát xét lại những gì đã có do tiền nhân để lại, và bổ túc thêm những gì còn thiếu thốn do cảm nghĩ chúng ta.Rồi ngày mai kia, cái ngày của thế hệ tương lai, những gì chúng ta góp nhặt hôm nay chỉ còn là vết tích của thời gian, lúc bấy giờ ngôi nhà văn học bình dân của chúng ta cần phải trang trí thêm, mở rộng thêm bằng mọi khám phá mới lạ trong tiềm năng dân tộc. Như vậy ở địa hạt văn học, và với nhiệt tình của chúng ta, thời gian không hẳn là mầm hủy diệt mà sẽ trở thành yếu tố tăng trưởng cho dĩ vãng.Đặt vấn đề soát xét lại công trình của tiền nhân đối với nền thi ca bình dân, chúng tôi không nói cổ nhân trong thời gian nước ta chưa có văn tự. Bởi vì, khi một nước chưa có văn tự thì làm gì có việc sưu khảo. Thi ca bình dân đã có từ thuở dân tộc bán khai, song vì chưa có văn tự nên vẫn phải lu mờ trong trạng thái truyền khẩu. Mãi đến lúc người Tàu đặt ách thống trị trên đất nước Việt-nam, các bậc Nho học nước ta mới mượn Hán tự mà chế ra một lối văn tự riêng để ghi chép quốc âm, gọi là chữ « Nôm ». Với hoàn cảnh ấy, các cụ góp nhặt được một ít những hiện tượng văn học bình dân lưu truyền trong dân chúng cũng đã quí lắm rồi. Chúng ta không có quyền đòi hỏi ở các cụ những quyển sách sưu khảo phong phú, hoặc một phương pháp hoàn mỹ làm nền tảng cho văn học dân tộc được.Gần đây, vì nhiệt tâm đối với văn học bình dân, nhiều học giả đã bỏ công sưu khảo, do đó, những tác phẩm nói đến văn chương bình dân lần lượt ra đời. (Chúng tôi đã lược dẫn trong đoạn B ở phần này).Những tác phẩm ấy là ngọn đuốc tiên phong đã đóng góp công trình cho văn học. Tuy nhiên, khi một dân tộc đang vươn đến độ trưởng thành phá vỡ những xiềng xích trong tâm tư, bẻ gãy những kềm kẹp bên ngoài xã hội thì nhu cầu tư tưởng cần được mở rộng, đòi hỏi chúng ta phải xét lại mọi suy tư trong lẽ sống, dĩ vãng cũng như hiện tại, để xác định bản chất đích thực của con người, của dân tộc, của nền tảng văn học chúng ta. Trở lại vấn đề phương pháp sưu khảo, ở đây chúng tôi không có ý nêu ra từng tác phẩm để phê phán, mà chỉ lược khảo những công trình đã có, rút tỉa kinh nghiệm làm nền tảng cho quyển sách này.Xuyên qua gần hai mươi tác phẩm và nhiều bài tiểu luận về thi ca bình dân, chúng ta có thể quy những công trình ấy vào bốn phương pháp chính yếu sau đây :I. PHƯƠNG PHÁP SƯU TẬPPhương pháp này làm công việc góp nhặt những tục ngữ, phong dao, rồi phân loại câu dài, câu ngắn theo số chữ, và sắp xếp theo mẫu tự từ A đến Y. Nó là một phương thức của những người có nhiệt tâm đối với nền thi ca dân tộc. Họ làm cái việc giữ gìn kho tàng văn học của lớp người ở quá khứ cho thế hệ tương lai. Chủ trương của họ là sưu tập càng nhiều càng tốt mà họ gọi theo từ ngữ thời đại của họ là « quí hồ đa » không « quí hồ tinh ». Họ là những người vì thời gian thúc bách, vì lòng ưu ái thi ca dân tộc, vì nỗi lo âu về sự mài giũa ký ức con người, họ chỉ còn đủ thì giờ tạo sẵn những vật liệu : vôi, cát, gỗ, đá v.v… cho ngôi nhà văn học bình dân mà chưa biết sẽ xây dựng theo lối kiến trúc nào ; nên họ vội vã xếp sẵn vật liệu riêng rẽ đâu vào đấy cho lớp người đi sau.Thời gian trôi nhanh ! Rồi trách vụ của họ qua ! Hình hài của họ bị tàn tạ hay bị hủy diệt, chỉ còn lưu lại trong văn học nước nhà một dấu vết đóng góp chân thành.Nhìn vào công trình thu góp của họ, nhà phê bình Trương-Tửu đã nói: «Chúng ta có đủ vôi cát để xây dựng ngôi nhà văn học bình dân rồi» Đưa ra nhận xét trên, tức ông Trương-Tửu vô hình trung xác định phương pháp sưu tập không phải là phương pháp phê bình văn học, mà chỉ có tác dụng trong việc chu cấp tài liệu.Đành vậy, nhưng theo chúng tôi nghĩ, sưu tập là bước đầu của phương pháp phê bình. Có nhà phê bình nào thành công mà không nhờ vào tài liệu sưu tập. Vậy, sưu tập không thể tách rời khỏi phương pháp phê bình. Hơn nữa, công trình sưu tập nếu có một kỹ thuật tinh vi, dùng những hình ảnh thu nhặt được, sắp xếp thế nào cho người thưởng thức cảm thông được ý nghĩa của kẻ trình bày, thì đó cũng là một lối giảng luận không cần đến lời chỉ dẫn.Một cành hoa cắm trong chiếc lọ, đặt ở cuối phòng, chủ nhân không nói với khách ý thức khiêm tốn của mình, nhưng khách vẫn hiểu được ý nghĩa đó.Điều chúng tôi không thỏa mãn ở những quyển sách thuộc loại trên về cách trình bày số chữ theo câu dài, câu ngắn ; hình thức xem ra có trật tự, có mỹ thuật vì số chữ được đồng đều, nhưng về nội dung thì lại hỗn độn.Tục ngữ, phong dao là sản phẩm của tâm tư, phản ảnh từ sinh hoạt xã hội ; người đọc muốn rung động theo chiều tâm tư ấy, không thể bắt tâm hồn mình ở vào trạng thái hỗn độn như vậy. Từ một câu tâm tình giữa trai gái, xen lẫn những câu đay nghiến, nguyền rủa xã hội, rồi pha trộn những câu có tính chất hài hước, châm biếm, người đọc có cảm giác như mình được mời vào một vườn hoa muôn nghìn hương sắc. Ta đang ngắm vùng cúc đọng sương, thì chủ nhân vội chỉ về cành hải đường lả ngọn. Ta vừa quay nhìn liền bị đập vào nhãn quang sắc vàng rực rỡ của đóa hướng dương, thì chủ nhân lại khoe màu thắm của hoa thược dược. Ta bị liên tục đón nhận sự biến đổi nhanh chóng của những màu vàng, xanh, trắng, đỏ – quá phức tạp ! quá hỗn độn ! – chồng chất lên ấn tượng khiến ta không nhận thức một sắc thái nào khả ái đối với mỹ cảm của mình. Như vậy là ta đã bị đưa đến một trạng thái hoa mắt vì màu sắc.Nói chung, mỹ quan về màu sắc hay sự rung động về tình cảm đều bị mất tính chất thuần túy của nó.Đến phương pháp sắp xếp theo « lối tự điển », chúng tôi thấy giá trị khảo luận của nó rất ít đối với thi ca. Khi ta muốn nói về lòng luyến ái thì không nhất thiết phải chữ « yêu » đứng đầu, như : Con dao vàng rọc lá trầu vàng,Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa.Đọc qua ta cảm ngay lòng của họ đang xao xuyến những gợn sóng tình, mà ta có thấy hình dạng chữ « yêu » nào đâu. Và đây, nếu ta đi tìm tình yêu theo tự dạng « yêu », ta sẽ bắt gặp :Yêu nhau thời ném bả trầu,Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra.Yêu nhau cau bảy bổ ba,Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười.Tính chất yêu đương không thể tìm dễ dàng ở đây, trái lại ta chỉ thấy họ phải để tâm dè dặt, phòng ngự sự mâu thuẫn, sự phản động của ái tình.Vả lại, « lối tự điển » còn gây ra luộm thuộm nhan nhản với những câu trùng hợp. Độc giả đã xem qua ở trước, có câu :Gió đưa bụi chuối sau hè,Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.Rồi sau đấy lại gặp :Phất phơ bụi chuối sau hè,Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.Ỡm ờ, ta có thể đặt thêm cho nó :Đong đưa bụi chuối sau hè,Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.Rồi quý bạn sẽ thấy nó biến thể theo thời gian hoặc địa phương tính như sau :Nói chơi một chút không dè,Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ, Con thơ tay ẵm tay bồng.Thương con đứt ruột, giận chồng bất nhơn.Chỉ một chút khác biệt như thế đã không thể tra cứu được rồi, mà văn chương bình dân Việt-nam là văn chương truyền khẩu, ảnh hưởng từng ngôn ngữ địa phương, di lưu từ nhiều thế hệ, từ miền nọ đến miền kia, một câu cùng một ý nghĩa nhưng nói khác đi một vài tiếng là chuyện thường.Ngoài cách sắp xếp trên, trong lối sưu tập còn có những quyển chia tục ngữ phong dao thành từng miền : Nam, Trung, Bắc.Mục đích chia từng miền cốt làm nổi bật tính chất địa phương trong ca dao, tục ngữ, nhưng lối sắp xếp ấy cũng gặp nhiều bất tiện.Trước hết, muốn phân chia, phải nắm vững nguồn gốc, xuất xứ của từng câu tục ngữ, ca dao. Đó là điều khó khăn không thể làm được, vì dân tộc Việt-nam đã cùng chung một ngôn ngữ, một hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội. Đành rằng phong tục mỗi miền tuy có khác nhau đôi chút song tâm tư người dân đối với lẽ sống không có gì dị biệt. Sự đồng hóa về tư tưởng làm cho người dân ở mỗi miền dễ trao đổi nhau về tình cảm. Do đó, ca dao, tục ngữ, sản phẩm của tâm tư người dân, từ miền này du nhập vào miền kia, và trở thành đồng hóa, mất hẳn tính chất địa phương, chỉ còn lại tính chất dân tộc.Với loại văn chương truyền khẩu ấy, khi đã đồng hóa, và trải qua nhiều thế hệ, chúng ta còn căn cứ vào đâu để tìm ra tính chất địa phương nữa. Nếu ta có tìm được họa chăng ở một số ít những câu ca dao có mang tên địa phương nào đó. Nhưng chưa hẳn đã đúng ; bởi vì một câu ca dao ở miền này du nhập vào miền khác có thể được sửa đổi lại thành tính chất địa phương, mà thực ra địa phương ấy không phải là xuất xứ. Ví dụ như :Chiều chiều quạ nói với diều,Vườn cau kia rậm lại nhiều gà con.Và câu ấy trở thành :Chiều chiều quạ nói với diều,Ngã kinh ông Hóng có nhiều vịt con.Rồi câu ấy lại trở thành :Chiều chiều quạ nói với diều,Cù lao ông Chưởng có nhiều cá tôm.Như thế chúng ta lấy gì để chứng minh câu ca dao ấy xuất xứ ở địa phương nào.Giữ lấy tinh thần địa phương tức là chúng ta chưa thoát khỏi phạm vi chật hẹp – chúng tôi muốn nói riêng trên địa hạt tâm tư, trong tư tưởng giới của người dân Việt-nam.Ngày nay chúng ta nên nhìn nhận sự đồng hóa tâm tư của dân tộc mà không nên đặt vấn đề tính chất địa phương đối với nền thi ca bình dân nữa. Sản phẩm của dân tộc hãy trả về của chung cho dân tộc.Khi những dòng suối đã vượt thời gian, không gian chảy về sông lớn, đang cuốn gió reo lên muôn ngàn nhịp sóng, thì chúng ta đi tìm phân tách những giọt nước kia để làm gì ? Mà làm thế nào phân tách được khi mọi dòng suối cũng chỉ là nước, hay nói cách khác, mọi tâm tư trên đất Việt-nam vẫn là tâm tư của dân tộc Việt-nam.II. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCHPhương pháp này dựa vào một số lớn tục ngữ, phong dao đã sưu tầm được đem chia từng loại, nhưng không căn cứ vào trạng thái tâm tư, hay trạng thái xã hội diễn biến, mà căn cứ vào hình thức cấu tạo thi ca, nói chung là hình thức cấu tạo văn chương bình dân.Với phương pháp ấy, khi nhà phê bình chú trọng hình thức tất phải để ý đến cú pháp, phân tích tỉ mỉ lối hành văn, lối lập ý, và cuối cùng đi đến chỗ rút tỉa trong văn chương bình dân những mẫu mực này nọ để nguyên-tắc-hóa hình thức sáng tác.Theo chúng tôi, phương pháp này đã làm sai lạc tính chất văn chương bình dân.Văn chương bình dân khác với văn chương bác học không chỉ ở chỗ đơn giản, mộc mạc, không cầu kỳ, không điển tích, mà quan trọng hơn còn ở chỗ phóng khoáng, tự do, phá vỡ mọi ràng buộc đối với họ. Họ nói lên tiếng nói tự nhiên của cảm xúc con người, họ đi tìm cái đẹp trong cởi mở chứ không đi tìm cái đẹp trong nguyên tắc. Chúng ta nguyên-tắc-hóa tiếng nói của họ tức là phản lại tính chất văn học của họ.Cứ để tiếng nói của họ lâng lâng với cỏ nội hoa ngàn, tuôn theo dòng suối, bay bổng lên tầng mây, tỏa vào không gian bao la, mênh mông như cõi thiên nhiên mà không còn tìm thấy ranh giới nữa. Chúng ta đừng đem tiếng nói của họ nhốt vào một cái khung, hoặc đem hình thức một cái khung nào đó chụp vào tiếng nói của họ.Hoặc chúng ta quan niệm văn chương phải có thể thức, dù là văn chương bình dân. Người bình dân lúc sáng tác không đặt thành thể thức, nhưng chúng ta, người nghiên cứu văn chương họ, phải có nhiệm vụ thể thức hóa văn chương ấy để tạo cho họ một ngôi nhà văn học ?Nếu quan niệm như vậy tức là chúng ta đã đứng trên quan điểm văn chương bác học mà luận xét văn chương bình dân, vô tình chúng ta đã xóa bỏ tính chất bình dân của họ nữa.Ngôi nhà bình dân không cần phải có tiền đường, hậu tẩm, không cần phải có đông phòng, tây phòng, không cần phải theo kiểu chữ Môn, chữ Điền, mà nó chỉ biểu tượng bằng nguồn sống, bằng mọi hình dáng của nguồn sống. Một tàu lá vắt ngang trên cành cây bên ven suối, một mái tranh phủ kín giữa ngàn lau… và muôn vạn hình thái không cố định, biểu tượng cho cái gì đang sống, đang điều hòa với mọi sinh vật trong vũ trụ, đó là ngôi nhà bình dân. Nếu chúng ta góp nhặt những vật liệu thô sơ của họ dựng lên một ngôi nhà theo kiểu qui mô thì còn đâu là ngôi nhà bình dân nữa.Một người thợ săn muốn bắn cọp phải đội đèn đốm vào rừng, tuy âm u nhưng dễ tìm thấy cọp. Ngược lại, nếu đem đèn pha rọi sáng khu rừng thì chẳng còn thấy cọp đâu nữa.Nói thế, không có nghĩa chúng tôi phủ nhận phương pháp phân tích trong kỹ thuật phê bình. Có nhà phê bình nào không phân tích mà tìm được chân lý ? Tuy nhiên, về phương diện văn chương bình dân, chúng tôi thấy không thể áp dụng kỹ thuật phân tích của văn chương bác học được. Chúng ta phải tìm một phương pháp mới để hình dung ngôi nhà văn học bình dân theo tính chất đích thực của nó.III. PHƯƠNG PHÁP TRÍCH DẪNPhương pháp này đem những tâm trạng chất chứa trong phong dao tục ngữ sắp xếp thành mạch lạc để chứng dẫn con người và nếp sống bình dân qua mọi sinh hoạt xã hội. Dĩ nhiên không còn phương pháp nào hơn khi thế giới dĩ vãng chỉ còn để lại những chứng tích thời gian. Tục ngữ, cao dao biểu tượng cho tính chất con người, mà con người với xã hội như bóng với hình, có liên quan mật thiết. Dùng tâm tư con người tìm hiểu xã hội, vẽ lại trạng thái xã hội đương thời không phải là chuyện vô lý.Nhưng, công trình khảo cứu của các học giả nước ta từ trước đến nay đối với phương pháp này đã thu nhặt kết quả ra sao trong lãnh vực thi ca bình dân?Trương-Tửu trước đây đã có nhận xét về những nhà khảo cứu văn học bình dân theo phương pháp trích dẫn. Ông cho đó chỉ là những người thợ làm lấy khéo trong một phạm vi nhỏ hẹp nào đó thôi.Nhận xét của Trương-Tửu không phải vô trách nhiệm.Nếu chúng ta có cảm nghĩ con người là những chứng tích của xã hội, thì khi muốn nhận xét những chứng tích ấy cho đích thực không thể không căn cứ vào trạng thái biến chuyển của xã hội trên dòng lịch sử thời gian.Sự biến chuyển của xã hội trên dòng lịch sử thời gian ghi lại trong tâm tư con người, kết thành dòng lịch sử văn học. Vậy khi đi tìm dòng lịch sử văn học, trước nhất phải đi tìm dòng lịch sử thời gian để làm căn bản cho chiều hướng suy tư.Nếu chúng ta không nắm vững trạng thái biến chuyển của lịch sử xã hội, mà chỉ đi tìm những chứng tích trong tâm tư con người khác nào chúng ta chỉ vuốt ve, sửa lại những cái đã đổ vỡ để rồi không biết đặt vào đâu cho đúng chỗ cũ của nó. Lẽ ra, những đổ vỡ ấy chúng ta phải biết nó từ đâu rơi xuống, và lý do nào đã bị rơi. Có như thế công việc tìm tòi của chúng ta mới đem lại kết quả mỹ mãn.Nói cách khác, biến cố xã hội như một luồng gió, mà tâm tư con người là những ngọn cây. Nếu chúng ta tìm được chiều hướng của luồng gió rồi thì chúng ta có thể nhìn vào một vài ngọn cây để xác định trạng thái của hàng ngàn ngọn cây khác, khỏi cần phải tốn công đi quan sát từng ngọn cây một.Nhưng làm thế nào để tìm được chiều hướng của luồng gió mà không nhờ vào sự quan sát các đọt cây. Cũng như chúng ta làm cách nào để tìm ra động lực biến chuyển của xã hội loài người mà không nhờ vào những chứng tích ghi lại trong tâm tư của kẻ đương thời ?Muốn rõ điều đó tất nhiên chúng ta phải nhận định qui luật tương quan giữa con người và lẽ sống. Chính lẽ sống là động lực xoay chuyển bánh xe xã hội mà con người chỉ là nạn nhân của chiếc bánh xe ấy.Lẽ sống ! Guồng máy kinh tế, sự cướp đoạt của loài người trong qui luật tự diệt, tự tồn. Nhà nghiên cứu văn học sử không thể tách rời qui luật ấy ra ngoài sản phẩm tâm tư.Tóm lại, phương pháp trích dẫn mà chúng ta đã áp dụng trước đây bị một phần khiếm khuyết do chúng ta chưa tổng hợp được con người với xã hội. Chúng ta chỉ mới ở một khía cạnh đem tâm tư con người khai thác trạng thái xã hội, chứ chưa phối hợp được nguồn gốc biến chuyển của xã hội để xác định sự diễn biến trong tâm tư con người.Dùng phương pháp đúc kết tâm tư để phân tách xã hội con người, tìm lẽ sống, chúng ta phải đi rất xa vào công tác sưu khảo mới tổng kết được hình bóng đích thực của thế giới hiện hữu. Việc làm ấy đòi hỏi một công trình khá lớn, mà trước đây chẳng có mấy người lưu tâm đến, nên thành quả của việc làm chưa đem lại bao nhiêu.IV. PHƯƠNG PHÁP SUY CỨUPhương pháp này đứng trên quan điểm của nhà xã hội học đi tìm định hướng cho một xã hội, rồi mới đem những chứng tích của tâm tư con người trong lịch sử xã hội chứng minh theo chiều hướng suy cứu của mình.Đó là phương pháp độc nhất của nhà phê bình Trương-Tửu đã áp dụng trong việc khảo sát thi ca bình dân từ trước đến nay. Dĩ nhiên phương pháp ấy không phải dở, nhưng khi đã đặt nặng yếu tố xã hội hơn yếu tố con người, nhà phê bình không chú trọng đến tính chất cá biệt nữa. Chúng tôi muốn nói đến sự tác động ngược chiều của bản ngã đối với ngoại năng.Cùng một rừng cây trên một mảnh đất, chung một khí hậu, nhưng không cây nào giống cây nào. Cùng một cành lá, nhưng không lá nào giống lá nào. Cùng một loài thú, con nào cũng nhìn đèn trước gã thợ săn, nhưng không trạng thái con nào giống với con nào. Tính chất cá biệt không phải không quan trọng trong cuộc sống loài người. Nó là bản chất tự tại, đặc tính của một sinh vật, một con người, một dân tộc, mà nhà xã hội học trong lúc khảo sát xã hội không thể không bận tâm.Tóm lại, phương pháp suy cứu của nhà phê bình Trương-Tửu tuy có nêu ra chiều hướng quan trọng cho việc tạo dựng ngôi nhà văn học bình dân, song việc làm hãy còn phiến diện. Bởi vì muốn kiến trúc ngôi nhà không phải chỉ dùng một la bàn định hướng, mà còn phải tổng hợp cả đồ án xây cất và công trình thẩm mỹ của thợ thuyền nữa.Trên đây là những phương pháp đại lược mà chúng tôi đã ghi nhận được ở các sách kê cứu. Nếu riêng từng phương pháp một, chúng tôi thấy đều có ít nhiều ưu và khuyết điểm.Dò tìm về thế giới thi ca bình dân, chúng tôi đã băn khoăn khi phải lựa chọn cho mình một phương pháp thích ứng với công việc khảo cứu. Và chúng tôi quyết định dùng phương pháp tổng hợp. Phương pháp này không phải xa lạ với chúng ta ; nó vẫn được áp dụng thường xuyên trong cuộc tiến hóa của nhân loại. Then chốt của nó đòi hỏi ở khả năng lãnh hội và kỹ thuật của người áp dụng. Phương pháp tổng hợp thai nghén từ kinh nghiệm rút tỉa những cái hay, tránh những cái dở của người đi trước, mà ngày nay chúng tôi xét thấy có bổn phận điều chỉnh để tiếp tục vun đắp sự nghiệp văn học dân tộc.Để quý bạn có ý niệm rõ rệt về phương pháp tổng hợp, chúng tôi xin hình dung 4 phương pháp vừa nêu trên là 4 màu : vàng, xanh, trắng, đỏ. Chúng tôi sẽ không dùng đơn thuần một màu xanh, hay một màu đỏ, hoặc một màu vàng hay một màu trắng, vì như thế là lập lại những gì đã làm qua, dù chúng tôi cố gắng bành trướng thêm công trình suy luận.Với phương pháp tổng hợp, chúng tôi sẽ phối hợp màu vàng cùng màu đỏ để trở thành màu cam nhẹ nhàng, hoặc pha trộn màu đỏ cùng màu xanh để được thành màu tím huyền hoặc v.v…Nói chung, chúng tôi tìm sắc thái dị biệt trong sự cấu tạo dung hợp của màu sắc để làm nẩy nở ra sự biến ảo linh động của những màu mới lạ. Do đó, ở phần đầu tập sách này, chúng tôi đã mạnh dạn đặt ra hai vấn đề : Chiều-hướng và Phương-pháp.Hai vấn đề ấy, theo chúng tôi nghĩ, là then chốt của hành trình vào thế giới thi ca bình dân, mà cũng là căn bản chính yếu của bất kỳ một đề mục nào đem ra suy cứu sau này.a) VỀ CHIỀU HƯỚNGChúng tôi quan niệm con người và xã hội loài người là hai yếu tố tương quan, cùng tồn tại và mâu thuẫn nhau liên tiếp không ngừng trên chuỗi thời gian từ cổ lỗ hoang sơ đến văn minh tiến bộ, và vẫn còn dắt nhau đi mãi trên chiều hướng ấy.Trong lãnh vực văn học, chúng ta muốn tìm lại dĩ vãng, không phải đi tìm những cái vụn vặt của tâm hồn con người diễn biến trong trạng thái nào đó trước một cảnh huống xã hội, mà chúng ta phải đi tìm hệ thống suy tư của một dân tộc trước những mâu thuẫn giữa con người và xã hội loài người qua từng thời đại.Hệ thống suy tư con người chính là yếu tố căn bản đúc kết thành nền văn hóa, mà động lực thúc đẩy từ xưa đến nay và mãi mãi vẫn là sự mâu thuẫn giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, giữa con người với thiên nhiên.
Nhưng việc làm ấy đối với tiền nhân như thế nào?
Những tác phẩm ấy là ngọn đuốc tiên phong đã đóng góp công trình cho văn học. Tuy nhiên, khi một dân tộc đang vươn đến độ trưởng thành phá vỡ những xiềng xích trong tâm tư, bẻ gãy những kềm kẹp bên ngoài xã hội thì nhu cầu tư tưởng cần được mở rộng, đòi hỏi chúng ta phải xét lại mọi suy tư trong lẽ sống, dĩ vãng cũng như hiện tại, để xác định bản chất đích thực của con người, của dân tộc, của nền tảng văn học chúng ta.
Phương pháp này làm công việc góp nhặt những tục ngữ, phong dao, rồi phân loại câu dài, câu ngắn theo số chữ, và sắp xếp theo mẫu tự từ A đến Y.
Nhìn vào công trình thu góp của họ, nhà phê bình Trương-Tửu đã nói: «Chúng ta có đủ vôi cát để xây dựng ngôi nhà văn học bình dân rồi»
Đến phương pháp sắp xếp theo « lối tự điển », chúng tôi thấy giá trị khảo luận của nó rất ít đối với thi ca. Khi ta muốn nói về lòng luyến ái thì không nhất thiết phải chữ « yêu » đứng đầu, như :
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ,
Phương pháp này đem những tâm trạng chất chứa trong phong dao tục ngữ sắp xếp thành mạch lạc để chứng dẫn con người và nếp sống bình dân qua mọi sinh hoạt xã hội.
Nói chung, chúng tôi tìm sắc thái dị biệt trong sự cấu tạo dung hợp của màu sắc để làm nẩy nở ra sự biến ảo linh động của những màu mới lạ.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét