Những tác phẩm viết cho thiếu nhi
của nhà văn Hoàng Văn Bổn
Hoàng Văn Bổn còn là một “nhà văn của các em” (Ngô Vĩnh Bình). Ông viết rất nhiều cho thiếu nhi, và một điều đặc biệt là tất cả các tác phẩm viết cho thiếu nhi của ông đều lấy bối cảnh miền đông Nam bộ, cụ thể là mảnh đất Đồng Nai quê hương ông. Năm 1996, Nhà xuất bản Đồng Nai đã xuất bản “Tuyển tập thiếu nhi Hoàng Văn Bổn” gồm 2 tập, độ dày hơn 800 trang. Với một độ dày như vậy cũng đủ gây kinh ngạc cho các nhà phê bình, chứng tỏ Hoàng Văn Bổn sáng tác rất sung sức, ở nhiều mảng đề tài khác nhau.
Tướng Lâm Kỳ Đạt và những mảnh đời tuổi thơ trong làng
“Tướng Lâm Kỳ Đạt” là truyện dài đầu tiên viết cho thiếu nhi
của nhà văn Hoàng Văn Bổn (1962). Ông đã viết tác phẩm này trong bảy ngày, và
đã được độc giả miền Bắc đón nhận nhiệt liệt, không chỉ trẻ em mà cả người lớn
cũng vậy. “Tướng Lâm Kỳ Đạt” là cả một thế giới trẻ thơ bí mật trong làng, bên
cạnh một thế giới không kém bí mật của những người cộng sản, những tên Việt
gian khét tiếng, của người lớn…
Lâm Kỳ Đạt là một cậu bé sớm phải đối mặt với kẻ thù. Cha cậu
đã bị bọn Tây cắt cổ, ông bác đêm đêm vượt sông ra vùng giải phóng, nhưng không
cho cậu biết, song bác lại hay dặn dò cậu phải cảnh giác với bọn Thần Nước Mặn,
hoặc phải ghi nhớ những điều mắt thấy tai nghe trong lúc đi chăn trâu. Bác cho
rằng Đạt còn quá nhỏ, chưa thể giúp bác như một cộng sự được. Song Lâm Kỳ Đạt
đã bí mật theo dõi những việc đáng nghi ngờ ở nhà Thần Nước Mặn, lập một tổ nhi
đồng làm được nhiều công việc giúp ích cho làng xóm, bà con. Nhóm của cậu đã
đang đêm đi đến nhà ông thầy lang bốc thuốc cho một bà lão bị bệnh nặng không
có người săn sóc, cắt cỏ giúp những gia đình có người ở chiến khu, lập mưu bắt
lại được con trâu của bé Ai bị Thần Nước Mặn bắt. Các em ao ước bắt được một
kho vàng trong nhà Thần Nước Mặn, nhưng rồi phát hiện cả một kho giấu súng. Bọn
giặc tràn đến, ba bé Ái bị chúng giết. Lâm Kỳ Đạt đã một mình cưỡi con trâu trắng
vượt sông để báo tin cho bộ đội biết. Cậu xứng đáng là một vị tướng nhi đồng của
làng Bình Long yêu dấu. Cảnh tượng Đạt vượt sông được nhà văn miêu tả rất đỗi
dũng cảm:
“Bây giờ thì quanh Lâm Kỳ Đạt chỉ thấy khói và những cột nước
vọt cao, xoay tròn, rơi lả tả như những tàn nấm.
Đạt đã chìm nghỉm xuống mặt nước. Đạt nắm đuôi con trâu trắng
lặn qua những cột nước. Bỗng thình lình, con trâu trắng nhảy dựng lên, giống
như cánh buồm bạt gió. Hai chân trước nó choạng ra, bơi bơi trên không (…) Bên
kia sông, các chú du kích bắn trả lại dữ dội. Có một bóng người cao lớn từ trên
bờ nhảy xuống rất nhanh, bơi ra chỗ Đạt đang với với. Hai cái bóng ấy đã trườn
lên bờ bên kia. Phía trong bãi cát ấy, là chiến khu Đ”.
Đã là tướng thì phải xưng Tướng, phải đánh nhau để phân thắng
bại, phải có quân sư quạt mo, phải có lễ ăn thề. Đủ cả. Từ một nhóm nhỏ, Lâm Kỳ
Đạt đã “chiêu binh mãi mã”, thu dưới trướng những Việt quân sư, Bảy Cối Xay, Mặt
Dài, Lý Xích Hoài, Huỳnh Thăng, toàn là những “tay” tài năng và có sức chịu đựng
dẻo dai. Các em bé vẫn sống trong sự hồn nhiên của tuổi nhỏ, đồng thời lại rất
nhạy cảm với những đổi thay trong cuộc sống hằng ngày. Trước những mất mát của
các gia đình trong làng, trước nỗi đau của những người bạn nhỏ, các em đã sớm
có ý thức góp phần bé nhỏ của mình vào công việc chung. Thế là những việc xưng
hùng xưng bá, tranh giành lãnh thổ chăn trâu, kết nhóm để chơi đã mang một ý
nghĩa quan trọng là bảo vệ cuộc sống cho chính mình và của bà con cô bác.
Dường như tuổi nhỏ thích nghi rất nhanh với hoàn cảnh cuộc sống
mới, khi mà tất cả người trong làng đều khiếp sợ bọn giặc và bọn Việt gian, cuộc
sống hằng ngày diễn ra khá căng thẳng. Các em nghiễm nhiên phải sống trong điều
kiện sống ngặt nghèo này, nhưng không để cho nó trói buộc tuổi thơ của mình
trong những đau khổ và sợ hãi. Dẫu thế giới riêng của các em chỉ là cánh đồng,
nơi gò mả chăn trâu và trong bóng tối (“làm nhiệm vụ” theo dõi Thần Nước Mặn và
chú nó là lão cai tổng), song các em tỏ ra một bản lĩnh làm người thật đàng
hoàng, tự chủ. Người lớn, cha anh qua sông làm bộ đội, bà và mẹ ở lại làm ruộng,
coi giữ nhà cửa, các em mới thật sự là chủ nhân của mảnh đất quê làng. Các em
thay người lớn cáng đáng công việc bằng cách rất riêng của các em.
Nhân vật chính trong truyện, Lâm Kỳ Đạt là một cậu bé khá vững
vàng trong mọi công việc, dữ tợn và rất nam nhi. Đội quân của cậu, thực chất là
một đội nhi đồng cứu quốc được tác giả miêu tả lồng ghép giữa ước mơ làm người
quân tử “kiến ngãi bất vi vô dõng dã” như thời Lưu Bị, Khổng Minh, Quan Công,
Trương Phi, với ước mơ làm người cách mạng như cha và bác của Tướng Lâm Kỳ Đạt.
Cậu làm theo phương châm: làm tướng phải làm gương, phải chịu đau mới làm tướng
được, và phải thông minh mới xứng đáng làm một vị tướng. Chẳng những thế, cậu để
cho Việt nắm tóc mình mà giật, không hề kêu khóc một tiếng nào, cũng nhất định
không chịu thua cuộc. Lần tranh đồng sau, cậu xuất hiện với một cái đầu trọc
lóc, nhờ thế mà hoàn toàn chiến thắng. Bác cậu nhờ cậu thức canh để bác ngủ, cậu
rất lấy làm hãnh diện, và ghi nhớ một điều hết sức quan trọng là chỉ được ngủ một
mắt mà thôi, một mắt luôn phải thức để canh chừng bọn Việt gian. Nhân vật hết sức
đáng yêu và đáng khen ở tinh thần cách mạng rất sâu sắc và tự giác, biết gánh
vác những công việc vừa sức mình đúng như lời dạy của Bác Hồ: Tuổi nhỏ làm việc
nhỏ, tùy theo sức của mình.
Tác phẩm đã kết thúc ở hành động dũng cảm, gan dạ của “Tướng”
Lâm Kỳ Đạt: cưỡi con trâu trắng qua sông để báo tin cho bộ đội ta biết bọn giặc
đã đến càn dưới làn đạn dày đặc của bọn chúng. Đây là hành động dũng cảm nhất,
có tính chất quyết định cho sự sống của bao nhiêu người. Con trâu trắng mà đội
thiếu nhi của cậu đã từng cứu khỏi tay Thần Nước Mặn, từng cắt cỏ, trị bệnh cho
nó, đã trở thành một con trâu anh hùng, can đảm không kém gì một thành viên thực
thụ của đội. Qua sông, nghĩa là Lâm Kỳ Đạt đã trở thành một chiến sĩ cách mạng.
Đó chính là giây phút ra đi làm cách mạng của em, chia tay với xóm làng, với bà
con, bè bạn mặc dù có thể chính em cũng không biết rõ điều ấy.
“Tướng Lâm Kỳ Đạt” là một bức tranh tả thực, rất đơn sơ, mộc
mạc của nhà văn Hoàng Văn Bổn về quê hương mình. những cánh đồng cỏ, gò mả cũ,
bụi mía, nhà kho chứa thóc, cối xay lúa… là những hình ảnh rất quen thuộc của
trẻ chăn trâu. Đây cũng là bối cảnh làng Bình lăng trong tác phẩm “Trên mảnh đất
này” được tác giả hoàn thành năm 1962. Không khí ngột ngạt của những ngày đầu
giặc Pháp quay lại đánh chiếm miền Nam, gây bao đau thương ly tán. “Tướng Lâm Kỳ
Đạt” đã thể hiện trung thực hoàn cảnh xã hội này qua lăng kính thế giới trẻ
thơ. Sự ra đi của Lâm Kỳ Đạt cũng là một tất yếu có tính lịch sử, báo hiệu cả một
thế hệ tuổi trẻ ra đi cứu nước. Sau “Tướng Lâm Kỳ Đạt” có “Lũ chúng tôi”, nhà
văn Hoàng Văn Bổn đã kể về những năm tháng trưởng thành của thế hệ những em bé
“Lâm Kỳ Đạt” ở ngôi trường trong chiến khu Đ, cũng chính là thế hệ của nhà văn.
Viết về những mảnh đời tuổi thơ ở trong làng, nhà văn Hoàng
Văn Bổn còn có những truyện dài“Tuổi thơ trong làng”, “Bên kia sông Đồng Nai”,
“Theo dấu người xưa”, “Ngày xửa ngày xưa”. Những tác phẩm này đều vẽ nên một
làng quê nghèo, nơi có những em bé phải sống trong đau thương mất mát của quê
hương và gia đình. Các em luôn phải sống trong những “tiếng giày đinh nện
rầm rập theo con hẻm phía sau nhà, phía bên kia bờ tường trước nhà. Tiếng báng
súng dộng cửa một nhà nào đó ngoài đầu hẻm” (Theo dấu người xưa). Trong giấc
ngủ, chú bé Ngọc đã thét lên: “Bắn đi! Bắn đi ba ơi!…” (Bên kia sông
Đồng Nai). Còn trong truyện “Tuổi thơ trong làng”, cô bé Hương bị tên xã trưởng
bắt về làm ở đợ, phải làm việc quần quật suốt ngày, bị đánh đập đến phát điên.
Bọn giặc và bọn tề ngụy tàn ác đến độ: “Phải làm cho dân chúng đoạn tuyệt
với quá khứ, đoạn tuyệt với truyền thống chín năm kháng chiến chống Pháp…” Vì
thế, trẻ em là những mầm non tươi xanh, ngây thơ và tràn đầy lòng tin vào tương
lai là đối tượng hàng đầu để chúng khủng bố: “Phải dập tắt được sức sống
con người trong tim con nhỏ. Dập tắt tình thương yêu quái gở giữa con nhỏ và lũ
trẻ tức là thắng. Để nó tươi tỉnh, biết thương yêu, đùm bọc nhau tức là ta
thua…”
Song các em không bao giờ chấp nhận sự đàn áp dã man ấy. Sống
trong cuộc sống đau thương ấy, tự trong nhận thức của các em đã có sự phản
kháng dữ dội, cùng với sự đùm bọc yêu thương của gia đình, bà con, anh chị, các
em không bao giờ chịu khuất phục. Các em tự nhiên đến với những người cộng sản,
tìm đến những ngôi mộ cổ, những bụi chuối, những kho giấu súng, tìm cách che chở
cho cha anh và lấy cắp hoặc cướp lấy vũ khí. Không gian trong truyện luôn chia
thành hai khoảng, đối lập nhau: ban ngày, các em phải sống trong ánh mắt cú vọ
của bọn Việt gian, đầy bất trắc; ban đêm, các em được làm những người chiến sĩ
nhỏ góp phần mình vào công việc chung.
Luôn có đôi bạn bên nhau trong các tác phẩm viết về tuổi thơ
trong làng của nhà văn Hoàng Văn Bổn. “Tướng Lâm Kỳ Đạt” có Đạt và bé Ái, “Tuổi
thơ trong làng” có Hương và Phước, “Bên kia sông Đồng Nai” có Ngọc và cô bé
Năm,… Những bé trai luôn che chở cho những bé gái bằng tình cảm trẻ thơ hồn
nhiên xen lẫn niềm tự hào được làm người bảo vệ, làm một vị “anh hùng” của làng
quê. Còn các em gái đã sớm đảm nhận vai trò người phụ nữ bất khuất, trung hậu,
đảm đang, luôn có mặt ở những nơi “nước sôi lửa bỏng” nhất.
Cuộc sống vẫn diễn ra với vẻ đẹp tự nhiên, vốn có của nó. Những
em nhỏ từng tự hỏi: “Trong cái ấp chiến lược Tân Phú – Bình Long này, ai
là Thạch Sanh, ai là Lý Thông, ai là con chằn tinh?” (Tuổi thơ trong
làng). Truyện cổ tích đã đi vào đời thường, vào tâm hồn các em như tất cả những
em bé khác. Đồng thời, thiên nhiên cũng là một người bạn tốt nhất, vô tư nhất của
các em. Những con bồ nông trên đầm, cá dưới bàu, những vườn quả náo động là những
hình ảnh quen thuộc trong tác phẩm. Chẳng hạn, trong truyện “Tướng Lâm Kỳ Đạt”:
“Bầy cò nghểnh cổ hàng trăm con trên những tàu dừa, cành đa.
Trên những ngọn cây to, hàng trăm chú vạc quạt cánh ào ào đảo cánh một vòng
quanh khu vườn, rồi mới chịu bắt đầu đi kiếm ăn. Cạnh những bác bồ nông hói đầu
đang đứng im ỉm, đám sáo, cưỡng cũng đang đứng líu lo, đá lộn nhau ỏm tỏi hoặc
rỉa lông cho nhau.
Có những chú chim cu, ưỡn ngực đồ sộ, chạm trổ như cẩn ốc xà
cừ, gục gặc đầu bên nhau. Từ trên ngọn dừa cao vút, hai chú chim sẻ ôm nhau đùa
nghịch, rơi thành một đường thẳng xuống tận mặt đất mới chịu buông ra, bay vút
lên. Tại miệng bọng cây sao lớn, một mụ tầm bồng đang há hoác cái mỏ bẹt, giẫm
bành bạch đôi chân bè bè, nổi gân cổ chửi kẻ nào dám chui vào tổ đầy ắp trứng
vàng trứng ngọc của mụ mà xéo tung, làm đổ vỡ tất cả rồi! Còn hai cô chèo bẻo
đen sì thì đang ra sức quạt đôi cánh đuổi bán mạng một con chuồn chuồn, vì cái
dạ dày của các cô chưa được đầy…”
Cái bàu Mật cật “nước lênh láng tràn đồng. Lúa trời và cỏ
bấc, cỏ ống, cỏ sình, cỏ năn che kín mặt nước… Lúa trời, lúa sạ càng xanh tốt,
nước tới đâu, lúa lên tới đó” đã đi vào nhiều tác phẩm khác nhau với vẻ đẹp
dân dã và sức sống tràn đầy của nó: Trai gái cắt cỏ trâu, cỏ ngựa lội xuống
bàu, nước tới ngực, tới cổ, tay quơ một vòng đã bứt được một bó cỏ non mượt. Mỗi
chàng trai cô gái bước đi trước, đằng sau, bong bóng nước trồi lên nổ lụp bụp
quanh người như bông hoa đất. Kẻ buông câu, người giăng lưới. Kẻ chống xuồng,
người chống bè tre, bè chuối. Gái thì khăn rằn vắt vai, quần áo bà ba bó sát
người. Trai thì lưng trần quần cụt, da cháy nắng, tóc vàng khè, chở lúa, chở cỏ,
chở cá. Có thuyền chở toàn hoa sen thơm lừng cả vùng trời mênh mông. Vịt trời từng
đàn từng đàn bay về kêu quàng quạc thâu đêm suốt sáng…” (Bên kia sông Đồng
Nai) Thiên nhiên đủ đầy, giàu có, cùng với tình người nhân hậu, tràn đầy đã giữ
gìn tuổi thơ cho các em.
Trong những tác phẩm này, chúng ta gặp lại những nhân vật rất
quen thuộc như chú Từ Khiêm, ông Bảy lò rèn, ông Hai Thố chèo đò, má Mười, má
Sáu. Tất cả đã làm nên một thế giới trẻ thơ rất riêng, đồng thời tạo nên một
khung cảnh làng quê đặc biệt quen thuộc trong tác phẩm Hoàng Văn Bổn.
“Ó ma lai”, “Lũ chúng tôi” và khung cảnh chiến khu Đ hùng vĩ
“Ó ma lai” là tác phẩm cũng được hoàn thành trong thời gian rất
ngắn của nhà văn Hoàng Văn Bổn, vào năm 1980. Ý tưởng về một vùng Đồng Nai thượng
đã hình thành rất lâu, song chỉ đến “Ó ma lai”, nhà văn Hoàng Văn Bổn mới thực
sự khai thác ấn tượng hùng vĩ, dữ dội của rừng núi thượng nguồn sông Đồng Nai.
Và đây là một tác phẩm chứa đựng trong nó sự phóng khoáng của thiên nhiên và
tình yêu con người trong cuộc sống man dã cô đơn.
Truyện đi theo một mô típ rất lạ so với các tác phẩm khác của
Hoàng Văn Bổn. Chỉ có hai nhân vật trong truyện, Quỳ và Suma, là hai em bé lạc
loài, một từ đồng bằng lên để tránh bọn giặc, một vốn dĩ được sinh ra và lớn
lên giữa muông thú, cây cỏ. Ban đầu, Quỳ sống một mình với bầy khỉ, luôn phải cảnh
giác vì có người theo dõi. Ông Hai chèo đò, người đã đưa Quỳ lên rừng dặn sẽ có
người tìm đến cậu. Người ấy là Suma, cô bé người rừng cũng đang sống đơn độc
trong hang với những con trăn lớn. Hai em đã gặp nhau, Quỳ và bầy khỉ nhỏ cùng
sống với Suma và những con trăn trong cùng một hang đất, cùng làm rẫy để lấy
cái ăn. Quỳ nghiễm nhiên đóng vai trò một người đàn ông, lo lắng cho Suma từ
cái ăn, cái ngủ và… cái mặc. Ó ma lai, thú dữ, “người rừng” luôn đe dọa, rình rập.
Quỳ bị trúng độc, Suma đã không ngại dùng miệng hút chất độc cứu sống Quỳ. Sống
trong khung cảnh rừng rú thiếu thốn trăm bề, không nơi nương tựa, Suma đêm đêm
bị tiếng Ó ma lai trong rừng sâu ám ảnh. Điều này không làm Quỳ sợ hãi, mà càng
thương Suma hơn, tình thương của con người dành cho đồng loại, đồng thời cũng
là một tình yêu của âm thầm của hai người đồng cảnh ngộ, sau này đã phát triển
thành tình đồng đội, đồng chí khi cả hai em tìm được con đường mà cha anh đã chỉ.
Hai nhân vật đã hoàn toàn xa cách với cuộc sống bình thường của
loài người. Nhân vật không chỉ là những em bé bất hạnh, bị đẩy ra khỏi cộng đồng,
mà còn là hai con người cô đơn giữa cuộc sống đầy dẫy hiểm nguy và thử thách.
Tác giả lột tả rất kỹ nhân vật Quỳ qua những diễn biến tâm lý phức tạp, vừa phù
hợp với nhân vật, vừa có tính nhân bản cao. Cậu đã sớm trưởng thành trong nhân
cách, khác hẳn Lâm Kỳ Đạt, Út, Ngọc… Giữa rừng đại ngàn, nghe tiếng hổ gầm “căm
hờn, đe dọa lẫn tuyệt vọng”, “tâm hồn của Quỳ bỗng dưng trống rỗng, chới với,
khiến Quỳ không còn nhớ được mình đang sống ở đâu, đang làm gì, cái gì vừa mới
xảy ra. Rừng đại ngàn quằn quại trong cơn đấu sống mái giữa cọp vằn và heo rừng
độc chiếc bỗng mơ màng, im ắng, trống trải. Đến tiếng đập con tim trong lồng ngực,
Quỳ cũng không nghe, không cảm biết. May sao, khẩu rulô Sanhêchiên và chiếc ná,
chiếc rựa quéo vẫn theo một bản năng tự vệ sâu nặng, vẫn còn dính với tay chân
của ông bạn nhỏ”. Quỳ “thẫn thờ đưa khẩu rulô Sanhêchiên lên mũi, hít
lấy hít để mùi sắt thép và thuốc súng, lại đưa chiếc ná cánh bằng trắc vàng hực
lên ngắm nghía như cố tìm điều kỳ lạ trong hai thứ vũ khí đã trở thành hai vật
bất ly thân của Quỳ nhiều năm qua”.
Vì vậy, khi đã cùng sống với Suma, cậu luôn là người thức dậy
trước, lo lắng cho Suma. Cậu bắt cá để Suma làm mắm, dẫn Suma đi tìm nơi làm
nương rẫy, dạy cho Suma mặc quần áo che kín thân thể… Tình thương của cậu dành
cho Suma lớn đến độ, cậu nghĩ: “Nếu mình bỏ đi, Suma sẽ sống một mình với
hai trăn bông, ba chú khỉ dù khôn ngoan đến mấy cũng không thể thay thế Quỳ được”.
Suma lại khác, cô bé là một người dân tộc, không biết nghĩ ngợi sâu xa, không
biết cách biểu lộ tình cảm của mình, nhưng tấm lòng cô hết sức trong sáng, ngay
thẳng. Cuối cùng, Quỳ đã đưa Suma trở về với cuộc sống loài người, với mẹ, và
cùng Suma ra đi với các anh, để lại cả rừng xanh đại ngàn, đàn khỉ, trăn thân
yêu mà người mẹ vô cùng yêu quý của Quỳ. Cái tên Ó ma lai như một sự ám ảnh bao
đời, thực ra là tiếng cha Suma dặn lại, giờ trở thành mật hiệu để mai sau, người
và vật có còn gặp lại nhau sẽ nhắc lại để nhận ra nhau. Đây là một kết thúc đẹp
của một tác phẩm đẹp, mang đến những giá trị thẩm mỹ và giá trị nhân bản rất mạnh
mẽ, có tác động sâu đậm tâm hồn trẻ thơ.
Thế giới thiên nhiên trong “Ó ma lai” là bối cảnh một vùng rừng
núi hiểm trở, hoang sơ, nơi truyền thuyết Ó ma lai còn sống động, người và thú
sống chung với nhau trong đời sống cộng đồng bình đẳng. Sống giữa đại ngàn rừng
thẳm, suối sâu, con người làm bạn với thú vật và làm chủ thiên nhiên hoang dã.
Nhân vật Quỳ tuy còn nhỏ tuổi, lại là người đồng bằng lên vùng thượng nguồn
sông Đồng Nai, nhưng cậu am hiểu rất rõ đời sống ở núi rừng, cầm đầu một bầy khỉ
tinh nhanh và ngoan ngoãn. Mùa bắp chín, chỉ sau một đêm, cả rẫy bắp của Quỳ đã
được thú rừng hái giúp, như trong truyện thần thoại. Đêm đêm, cậu đi soi cá dưới
suối, có hai ”người bạn” nằm dưới khe đá luôn chờ cậu. Nỗi buồn chất chứa trong
lòng Quỳ quá lớn, quá sâu sắc. Điều này lý giải được vì sao cậu lại dành cho
Suma một tình yêu thương vượt quá tuổi cậu như vậy. “Ó ma lai” chính là một sự
hiểu biết chân thực thiên nhiên và con người, bối cảnh rừng đại ngàn bao la,
ghê gớm ấy chính là chiến khu Đ anh hùng của một vùng Đồng Nai thượng năm xưa.
Một tác phẩm khác viết về chiến khu Đ rất thành công là “Lũ
chúng tôi”, có dáng dấp một tự truyện của chính tác giả trong những năm đầu đi
theo cách mạng. Tác phẩm có mười ba chương, kể lại đời sống của nhà văn Hoàng
Văn Bổn và các em nhỏ ở trường tiểu học Tân Uyên trong rừng. Nhân vật Tôi là một
cậu bé đi tìm trường chiến khu để học, cậu đã gặp tất cả những người bạn học
cùng trường như Ut, Sâm hột mít, Cúc, Đoàn công tử, Ngọc đen, Trần bột… và “anh
Chín” (tên thân mật của nhà văn Hoàng Văn Bổn). Hầu hết các em là trẻ mồ côi,
hoặc thất lạc mẹ cha, gia đình, hoặc xóm làng đã bị tàn phá. Các em sống lang
thang, vất vưởng, dựa vào những đoàn thể cách mạng. Cho đến khi nghe tin Trường
tiểu học Tân Uyên sắp mở trong rừng chiến khu Đ, mọi người cho các em đi học
ngay. Các chú, các anh nhắn nhủ: “… Cuộc kháng chiến này còn lâu dài và
gian khổ… Phải có lớp người kế tiếp lớp già… Thôi các em ráng học văn hóa trước
đã”. Họ đã trải qua bao nhiêu gian khổ, thậm chí có cả mất mát hy sinh để học
được cái chữ. Trong hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt ấy, các em đã làm thành một
gia đình, yêu thương đùm bọc nhau, nghe lời và noi gương anh chị lớn, không hề
nản lòng dù bom đạn phá sập trường bao nhiêu lần cũng cất lại cho bằng được để
học. Bọn giặc đến, các em đã quyết chiến với chúng như những người chiến sĩ thực
thụ. Tiếc ngôi trường, thương bạn, thương thầy, các em không ngại hy sinh, đau
đớn. Các em dần trưởng thành, lần lượt đi bộ đội. Cảnh các em chia tay nhau thật
hết sức cảm động: “Hai đứa nó ra đi, ba lô nhẹ tênh, một đứa trắng trẻo
như con một công tử bột, cao lêu đêu, một đứa đen thui như cột nhà cháy, thấp
tè, da thịt săn cứng, hàm răng trắng lóa. Hai đứa nai nịt gọn gàng, đội mũ ca
lô màu vàng do Cúc may có thêu ông sao ở giữa, áo sơ mi có cầu vai, quần áo chật
ống kiểu bộ đội thường mặc lúc bấy giờ. Tự nhiên trông chúng nó như hai người
khác hẳn… Chúng tôi rủ nhau khắc tên từng đứa trên thân cây cẩm lai cổ thụ trước
trường… Khắc tên xong, chúng tôi nhìn nhau, nhìn cây cẩm lai cổ thụ, bỗng nhiên
ôm chầm lấy nhau, lau nước mắt tuôn trào lên mặt. Thôi, bỏ qua hết. Từ nay, bỏ
qua hết giận hờn, nũng nịu nhau đến mắng chó chửi mèo, giận cá chém thớt,
thương nhớ nhau đến bổi hổi bồi hồi, giặt giùm cái áo, vá giùm đường kim… Cái
tuổi mười bốn mười lăm của chúng tôi, ngày nào cũng chạy giặc, ngày nào cũng
đói rách, và ngày nào cũng học… Qua rồi cái tuổi mười bốn mười lăm của lũ chúng
tôi dưới mái trường tiểu học kháng chiến. Nhớ mẹ, nhớ cha, nhớ anh, nhớ em, nhớ
chị, nhớ bạn bè… Tạm biệt chúng mày, tao cầm súng lên đường vào bộ đội lên đường
đánh giặc đây. Nếu chúng tao không còn trở về được nữa, tụi mày hãy tìm tụi tao
ở nơi có súng nổ”…
Viết “Lũ chúng tôi”, nhà văn Hoàng Văn Bổn đã bộc lộ những
tình cảm sâu kín của mình về một thời tuổi thơ của mình. Ngay sau khi làng quê
bị giặc chiếm, ông đã “lạy mẹ báo hiếu” để “lên xanh”, giã từ tuổi thơ lúc mới
hơn mười sáu tuổi. Khoảng thời gian ấy đã để lại một dấu ấn sâu đậm trong lòng
nhà văn. Ông thương cho tuổi thơ của mình, và thương những em nhỏ đồng cảnh ngộ
với mình.
“Lũ chúng tôi” không chỉ có những em bé sớm tự lập, bước vào
cuộc đời gian khổ, bất hạnh, mà còn có cả một khung cảnh thiên nhiên vô cùng
ghê gớm, làm bạn đồng hành với những con người. Mùa mưa chiến khu Đ kỳ lạ: “Mỗi
buổi chiều, mây khói đen vần vũ kín chân trời phía Bắc. Cây cối im phăng phắc,
oi bức đến ngộp thở. Các ổ mối đùn cao giống hình thù nhiều loại thú trong rừng.
Mới trải đệm nằm ngủ trưa có chút xíu, mối càng gặm sạch chung quanh, chiếc đệm
chỉ còn lại một mảnh đúng thân hình người nằm. Trưa trưa, đang nắng chói chang,
ngột ngạt tự nhiên hạt mưa rơi lộp độp rồi mưa ở đâu bỗng tuôn ào ào như trút…”
Song nơi đây cũng có những điều không nơi nào có thể làm cho tuổi nhỏ yêu thích
như thế, với những trò săn thú, bắt cá, rình xem thú rừng đánh nhau, xem công
múa. Thiên nhiên chan hòa một sức sống mạnh mẽ, khiến con người cũng dạn dĩ
lên. Suốt những năm kháng chiến dài, các em cùng tất cả mọi người đều tự lực tự
cuờng, tự kiếm cái ăn, tự học hỏi và phấn đấu thành người. Chiến khu Đ trở
thành một gia đình lớn, một cái nôi lớn, một trường học lớn.
“Đội quân Hoa và Cỏ” là một tác phẩm ca ngợi sức sống tràn đầy
của thiên nhiên Đồng Nai bằng nghệ thuật nhân cách hóa rất tự nhiên và phóng
khoáng. Một đội quân Hoa Cỏ, thú vật, chim chóc, côn trùng trên cánh đồng Nai
cùng “ra trận”. Đứng đầu đội quân này là Trần Chãn tướng quân, một con trâu của
cha con cậu bé Huỳnh. Ban đầu, Chãn cũng như bè bạn ở cánh đồng Nai, cùng sống
vui đùa trong cảnh thanh bình: “Ngày nào Huỳnh cũng cùng con trâu Chãn ấy
ra đây sau giờ làm lụng mệt nhọc. Con Chãn thong dong gặm cỏ, đùa nghịch cùng
lũ bướm, đàn sáo trâu nhảy nhảy nhót nhót, mổ rận dưới cằm, trên lưng… Đàn sáo
mỏ đỏ, chân đỏ, cánh đen pha mặt trăng trắng. Trông con Chãn như một lẵng
hoa. Song bẵng đi có hai ngày, Chãn xuất hiện một mình, với cái chân trái
phía sau cà nhắc, mắt đỏ quạch, đùi trái chảy máu, lưng nổi cục bướu. Ấy là vì
Chãn bị đám nguời lạ mặt “mặt khỉ quần áo cứt ngựa… mồm đứa nào cũng đầy răng
nhọn hoắt như răng chó sói” đổ xăng, châm lửa đốt đuôi Chãn. Chãn đã chọc
thủng bụng một tên giặc, lao vào bọn chúng, bị chúng bắn vào đùi. Chãn và Pháo
ban đầu đánh nhau giành đồng, nhưng chính Pháo cũng bị bọn người lạ đánh. Chãn
quát: “Ai đánh mày nặng dữ vậy, Pháo? Nói đi, tao chém nó đổ ruột trả thù
cho mày” Bọn giặc rải thuốc độc khắp cánh đồng Gấu bên cạnh để tiêu diệt sự
sống. Bắt đầu từ đây, anh Chãn trở thành Trần Chãn tướng quân, đứng đầu đội
quân trăm loài đánh đuổi bọn xâm lược, bất luận đó là kẻ thù nào. Nếu Pháo nói:
“Cả vùng Đồng Nai chỉ có cái đồng cỏ này. Bây giờ sống chết cũng phải giữ cánh
đồng này. Chúng nó phải dẫm qua xác tôi mới chiếm được cánh đồng này “,
thì Chãn gầm vang đồng: “Đất này là của tui. Cỏ này là của tui. Mỹ hay gì gì
cũng kệ mẹ, hễ đặt chân lên đây, tui chém đổ ruột”.
Câu nói này đã bộc lộ khẩu khí người Nam bộ trong “tính cách”
của trâu Chãn. Trước đây, Chãn đánh nhau với con hổ dữ: “…phá tung cửa chuồng,
múa sừng đuổi theo con hổ. Con hổ bất thần quay lại vồ con Chãn… Con Chãn rống
một tiếng, phóng qua gữa bụi tre, con hổ bị gạt rơi xuống đất. Lập tức con Chãn
quay phắt lại trong nháy mắt, lia mũi sừng nhọn hoắt vào giữa cổ con hổ. Thấy
chết đến nơi, con hổ vội chụp lấy mũi sừng con Chãn, thò tay móc phăng một cục
thịt giữa cổ Chãn. Đau điếng, Chãn nhảy lên cao, uốn mình cho lưng rơi đánh rầm
xuống mặt đất. một chân con hổ bị toàn thân con Chãn đè dập nát…Trước khi chìm
hẳn xuống tận đáy sông Đồng Nai, con hổ còn cố ngoi lên mặt nước lần cuối cùng,
gầm một hồi thê thảm, ai oán: Tao chết vì tao đã trót dại lìa rừng sang đồng nội.
Gặp tao giữa rừng, tao chấp mày một tay…” Ngày nay, bọn giặc người đến bắn
chết trâu Bầu để làm “bít tết”, bơm chất độc cho đàn ong chết hàng loạt, gây
không biết bao nhiêu tội ác, Chãn hết sức căm thù đánh trả: “Chãn xông thẳng
vào một thằng giặc đang quỳ mọp sau khẩu súng máy. Khẩu súng máy gãy đánh rắc.
Thằng giặc xạ thủ bị hất bay lên cao, rơi đánh uỵch, lại vội vàng tháo chạy, mắt
sưng húp, một cánh tay gãy nát. Nó lùi mãi, lùi mãi, tựa lưng vào một gò đất lấy
thế. Từ xa, con Chãn tướng quân như chiếc xe bọc thép xông vào nó. Cả gò đất đỏ
và thằng giặc bay tung ra xa. Thằng giặc bẹp gí như đồng xu bị xe lửa cán”.
Lòng căm thù đã khiến Chãn và đàn trâu trở thành những chiếc xe bọc thép, tấn
công bọn giặc cho đến khi chúng không còn dám trở lại phá hoại cánh đồng Nai
yêu quý. Trâu Pháo trở thành phó tướng đoàn quân bọc thép, húc thủng bụng giặc,
đàn ong trở thành binh đoàn không quân thiện chiến, phóng lút nọc vào bọn
chúng. Cánh đồng Nai đã trở lại thanh bình: “Chỗ những thằng giặc chết trong trận
chiến đấu hôm trước, cỏ mọc rất cao, xanh um. Hoa các loại cũng mọc trở lại,
nhiều nhụy hơn trước. Sáng sáng, chiều chiều, sau khi ung dung kéo cày, con
Pháo phó tướng và con Chãn tướng quân lại đến cánh đồng Nai, cạp cỏ, đùa giỡn
cùng mấy chú nghé con, đàn sáo và đàn ong trên cây xoài cổ thụ. Quanh ngôi mộ
người chỉ huy du kích năm xưa, đàn trâu cả cánh đồng Gấu và cánh đồng Nai nằm
nhơi cỏ, thở phì phò, kể chuyện vừa qua. Trên bầu trời, đàn ong đi về tấp nập,
nhị hoa vàng bám rực chân, cánh”. Tác phẩm này kết thúc trong cảnh râm ran đi về
của đàn ong, làm rơi mật ngọt mà Chãn tưởng lầm là “nước mắt”.
Đại ngàn chiến khu Đ đã trở thành một người đồng đội vĩ đại,
một “con người” có phẩm chất cao quý, sáng trong, một nơi đào luyện tốt nhất của
người chiến sĩ. Mảng sáng tác này nhìn chung sinh động và tự nhiên hơn hẳn so với
mảng sáng tác về tuổi thơ trong làng. Nhà văn Hoàng Văn Bổn đã khai thác khung
cảnh rừng đại ngàn chiến khu Đ hùng vĩ, hoang sơ và dữ dội, ông đã sống những
năm kháng chiến chống Pháp. Vì thế, những tác phẩm này thực hơn, trần trụi hơn.
Chất sống mạnh mẽ đã hòa làm một với sức lực con người, làm thành bản anh hùng
ca bên cạnh chất trữ tình của “Tuổi thơ trong làng”, “Bên kia sông Đồng Nai”,
“Theo dấu người xưa” v.v…
Sông Đồng Nai – hình tượng lớn giữa đôi bờ tuổi thơ
Đôi bờ tuổi thơ trong tác phẩm Hoàng Văn Bổn chính là đôi bờ
của dòng sông Đồng Nai: một bên là làng quê (nơi mà những em bé như Lâm Kỳ Đạt,
Út, Năm, Hương đã sống, đã chăn trâu, cắt cỏ, ở đợ, bị hành hạ; và đã chứng kiến
bao nhiêu đau thương mà bọn giặc tây, giặc Mỹ gây ra cho gia đình, bà con), một
bên là đại ngàn chiến khu Đ (nơi các em dựng trường tiểu học Tân Uyên, trồng rẫy,
đánh trả kẻ thù, nơi đào luyện các em thành những người bộ đội, y tá, giáo
viên; đây cũng là nơi có cánh đồng Nai của Trần Chãn tướng quân, là nơi đeo đẳng
truyền thuyết Ó ma lai…). Đây là hai không gian nghệ thuật chính trong hầu hết
các tác phẩm viết cho thiếu nhi của nhà văn, mà sự nối kết của nó là hình tượng
con sông Đồng Nai.
Qua thống kê, trong 2 tập “Tuyển tập thiếu nhi Hoàng Văn Bổn”
có 105 lần nhà văn nhắc đến đích danh con sông Đồng Nai, riêng “Tuổi thơ trong
làng” có đến 30 lần. Qua lăng kính nghệ thuật diễn đạt cho tuổi thơ, sông Đồng
Nai đã trở thành một hình tượng lớn, duy nhất, không thể thay thế được trong
tâm hồn các em nói riêng và trong tâm hồn người Đồng Nai nói chung.
Sông Đồng Nai là hình ảnh mở đầu cho các tác phẩm, gần như là
sự mở đầu không thể thiếu được, là một cách khẳng định tự nhiên nhất. Trong
truyện “Tướng Lâm Kỳ Đạt” : “trên gác chòi trâu bên sông Đồng Nai, một chú gà
trống…”; trong “Đội quân Hoa và Cỏ”: “Có một cánh đồng bên con sông Đồng
Nai, gọi là Đồng Nai”, trong “Tuổi thơ trong làng”: “Trên một mỏm gò cao bên bờ
sông Đồng Nai, cậu bé giàu trí tưởng tượng đứng nhón trên muời đầu ngón chân…”
hình ảnh sông Đồng Nai xuất hiện như cách mở đầu “Ngày xửa ngày xưa” trong truyện
cổ dân gian vậy. Tuy nhiên, sự xuất hiện này chưa gây ấn tượng đặc biệt nếu
không có những sự xuất hiện sau đó của con sông Đồng Nai mạnh mẽ và bao dung.
Nhà văn Hoàng Văn Bổn là người rất nặng lòng với quê hương, và với tuổi thơ của
mình. Vì vậy, mở đầu các tác phẩm bằng một hình ảnh thân thuộc nhất đời mình là
hợp lý. Và cũng vì vậy, ông đã dựng nên một tổng thể nghệ thuật mà hình tượng
con sông Đồng Nai là hình tượng gốc. Đây không phải là một điều lạ lùng, vì nhà
văn Nga M. Solôkhốp đã lấy sông Đông làm điểm mở đầu và kết thúc trong nhiều
tác phẩm của ông; John Steinbeck (nhà văn Mỹ) viết rất nhiều tác phẩm về thung
lung Salinas giữa hai dãy núi và con sông Salinas quê ông (trong đó có “Phía
đông vườn Địa Đàng” và “Của chuột và người” nổi tiếng).
Sông Đồng Nai cũng là một đường chân trời trong thế giới tuổi
thơ các em. Con sông ôm lấy xóm làng nơi các em ở chính là hình ảnh hiền từ,
không thay đổi trong cuộc đời nhiều khổ cực, bất hạnh của các em. Con sông tuyệt
đẹp, cho các em nhiều niềm vui nhất. Cậu bé Phước trong “Tuổi thơ trong làng”
đã thấy “một chùm tia nắng vừa giã từ ông mặt trời, buồn bã và luyến tiếc
bay về hướng con sông Đồng Nai của cậu. Bay đến đầu làng, chúng rắc xuống dòng
sông Đồng Nai từng đám bụi vàng rồi bay lướt qua làng…”. Những lúc gặp đau đớn
hoạn nạn, con sông xuất hiện bên cạnh các em. Hai chị em Hiền và Hương đứng trước
mộ cha và cất tiếng hỏi: “Làm sao bây giờ?”, thì:
“Hai ngôi mộ và hai chị em, chẳng ai trả lời câu hỏi ấy được.
chỉ có đêm tối đen, đầy mây khói đèn sũng nước. Chỉ có dòng sông Đồng Nai lặng
lẽ, nước dâng tràn trề…”
Con sông Đồng Nai cũng là nơi chứa chất những nỗi đau đớn, uất
hận nhất của người Đồng Nai: “Có những khuya nghe tiếng súng nổ dồn dập
ngoài đầu làng, tiếng chày vồ đập vào đầu người, tiếng người rên rỉ, quằn quại
ngoài giữa dòng sông Đồng Nai và tiếng quát thét trao gởi lại dân làng: “Tao là
Việt cộng đây…” Đó là sức mạnh ghê gớm của con người tích tụ từ nỗi đau
thương của bao nhiêu con người. Sông Đồng Nai là nơi những người cha, anh vượt
qua tìm cách mạng, cũng là nơi họ gửi mình, xác đồng bào, xác những con vật vô
tội cũng đã nằm trong lòng con sông. Sông không phải là người song cũng bốn mùa
đổ máu, quằn quại, rên xiết. “Tiếng đào huyệt dọc bờ sông Đồng Nai giữa đám mía
tơ”.
Các em hướng về dòng sông bằng một tình cảm tự nhiên, và hồn
nhiên của tuổi thơ. Út (Bên kia sông Đồng Nai) đêm nào cũng nghe tiếng súng,
cũng mơ thấy mình và cha bị bắn, cậu hết sức lo lắng. Con sông ở bên cạnh cậu
thay cho mẹ cậu: “Nghĩ nhiều quá, Út bị nhức đầu. Nó rón rén ngồi dậy nhìn xuống
dòng sông Đồng Nai qua vuông cửa sổ”. Cô bé Hương mỗi lần bị hành hạ đều hướng
về dòng sông mà cầu cứu, giãi bày…
Vì sao? vì dòng sông Đồng Nai là thiên đường tuổi thơ của các
em. Nơi đây đã diễn ra cuộc sống êm đềm của những ngày làm công, cấy lúa, bắt
cá, mò tôm, những đêm trăng đẹp. Út đã “thiếp đi trong đau khổ, mơ thấy uống nước
dừa tươi, ăn bưởi ổi, ngồi vắt vẻo trên lưng trâu, tìm bắt ổ chim và câu cá dọc
bờ sông Đồng Nai…”. Bên bờ sông Đồng Nai, tướng quân Lâm Kỳ Đạt đã từng có những
trận thư hùng để theo dõi Thần Nước Mặn v.v… Các em theo chú Tà Khâm vớt được
Theo điên dưới sông Đồng Nai, chứng kiến chuyện “Người điên ba lần tỉnh lại” và
tự hỏi trong những lúc nằm ở chiến hào khi đã là một nhà văn quân đội : “Hay
chính chú Tà Khâm, chú Bảy khùng, cô Theo điên, dòng sông Đồng Nai… đã nuôi dưỡng
tuổi thơ tôi…”
Tuy nhiên, con sông Đồng Nai trong thực tại vẫn là một hình
tượng của nỗi đau thương. Tuổi thơ gắn liền với con sông trnong nỗi cô đơn
không biết và không thể diễn đạt thành lời. Con sông hóa giải nỗi đau câm lặng
của các em và của người dân Đồng Nai. Thời gian nghệ thuật diễn đạt mối tương
giao này thường là đêm. Đêm để thoát khỏi sự nguy hiểm:“Khi trăng đã xế bên kia
sông Đồng Nai, hai người lạ mặt ấy mới đưa mẹ con nó xuống bờ sông”; đêm các em
tự do sống với tuổi tuổi thơ của mình: “Hai đứa men theo bóng tối dọc bờ sông Đồng
Nai xóm Lò Heo trở lại chỗ Năm vừa tới đây” (Theo dấu người xưa); đêm các em
tìm lời giải đáp cho cuộc đời mình: “Nó nhìn người chị nuôi, nhìn ngọn đồi,
nhìn ra dòng sông Đồng Nai hửng sáng trong ánh chiều tà, nhìn những dấu chân
người, chân thú dẫm chồng chất lên nhau thành những đường ngang ngõ tắt khắp đường
làng; cánh rừng chồi, gò nổng, khu nghĩa địa…” (Tuổi thơ trong làng); đêm
Út thực sự lớn lên, giúp ích cho các chú, các anh: “Vậy là đêm nay, trên dòng
sông này, nó đã thực sự làm người tiếp lương, tải đạn cho cách mạng” (Bên kia
sông Đồng Nai) v.v…
Từ trong vô thức, con sông Đồng Nai đóng một vai trò rất quan
trọng trong đời sống và nhận thức của các em. nó trở nên thân thiết hơn bao giờ
hết khi cha, mẹ, anh, chị các em hoặc đã bỏ xác nơi dòng sông này, hoặc đã vượt
sông tìm bộ đội, hoặc chính các em bị đánh đập, mất tổ ấm, sống lang thang bên
bờ sông này. Trong “Đội quân Hoa và Cỏ”, những loài ong, hoa, cỏ, thú vật đều
được nhân cách hóa, riêng con sông Đồng Nai vẫn giữ nguyên tính cách chứa đựng,
bao trùm của nó, không biểu lộ thành lời mà chỉ Cho và Nhận. Cho bầu không khí
tươi đẹp, cho niềm tin và hướng chảy bất tận; nhận những nỗi đau, nhận cả xác
quân thù và nhấn chìm tận đáy.
Sông Đồng Nai còn là hiện thân của quê hương, là cội nguồn
sinh ra của các nhân vật. Con sông thay mặt cho một vùng đồng bằng trù phú, nơi
các em lớn thành người, nhưng cũng chính nơi đó đã bị bọn giặc tàn phá, bị xâm
lấn, và in hằn những vết thương không thể chữa lành. Sông Đồng Nai đã chia đôi
thế giới tuổi thơ của các em: bên này sông, trong làng là quê hương âm thầm, lấy
cổ tích, ca dao, ước mơ để nuôi lớn tâm hồn các em; bên kia sông, chiến khu Đ,
là rừng đại ngàn tự do, là không gian biến đau thương thành hành động, đào luyện
các em trưởng thành. Trong “Ó ma lai”, sông Đồng Nai luôn in sâu vào tâm hồn Quỳ
dù cậu không hề nhìn thấy nó. Bởi vì nơi đó là quê hương, cậu đã phải rời bỏ để
xây dựng một cuộc đời mới. Còn trong “Tuổi thơ ngọt ngào”, hình ảnh con sông
cháy như dòng thép nóng cuộn chảy trở thành hình ảnh biểu trưng cho nỗi uất giận
của con người trước sự tàn ác của lũ giặc và bọn Việt gian. Khi nhà văn đã vượt
sông, vào rừng dựng trường kháng chiến, những người bạn đồng lứa với ông tìm
cách vượt sông, về thăm nhà là đoạn hồi ký hết sức cảm động và đau lòng.
Song, hình tượng con sông Đồng Nai chỉ trọn vẹn trong lòng mỗi
người, khi chính nơi ấy, các em đã giã từ tuổi thơ, vượt sông theo gót cha anh.
Đây là một hành động quyết liệt, đánh dấu sự trưởng thành của các em. Lâm Kỳ Đạt
(Tướng Lâm Kỳ Đạt), Quỳ (Ó ma lai), Út (Bên kia sông Đồng Nai), Hiền (Tuổi thơ
trong làng)… đều đã vuợt sông. Các em rời chiếc nôi quê hương, rời khỏi vòng
tay Mẹ – sông Đồng Nai yêu dấu để thực hiện cho bằng được ước mơ của mình: đánh
được bọn giặc, trả thù cho cha mình, cha bé Ái như “tướng” Lâm Kỳ Đạt; làm Thạch
Sanh chém hết “chằn tinh” xã trưởng, trung úy như cậu bé Phước tật nguyền. Ngay
cả trong lúc mê man, bị đánh đập chết đi sống lại, cô bé Hương “bỗng nghe tiếng
thơ theo tiếng sóng rì rầm của dòng sông Đồng Nai, theo tiếng gió từ chiến khu
Đ bên kia sông bay vào”. sông Đồng Nai như là nơi tiềm tàng một sức sống mãnh
liệt, và không ngừng tiếp sức cho các em. Môtip vượt sông đã hình thành qua các
tác phẩm viết cho thiếu nhi của Hoàng Văn Bổn, con sông mang dáng dấp Dòng Sông
Mẹ có tính sử thi rất cao.
Như vậy, con sông Đồng Nai qua ngòi bút của nhà văn đã đạt đến
tầm văn hóa cụ thể nhất và cũng khái quát nhất cho mỗi mảnh đời, mỗi số phận tuổi
thơ. Hình ảnh con sông lúc nào cũng bàng bạc, bao trùm và đi theo các em cả cuộc
đời. Một điều đơn giản rằng chính tuổi thơ của nhà văn đã được con sông nuôi nấng,
bao dung.
***
Con sông Đồng Nai đã đi vào thi pháp của nhà văn Hoàng Văn Bổn
một các rất tập trung và giản dị như vậy. Tuy nhiên, những gợi mở trên đây chỉ
là một phần nhỏ trong số các tác phẩm của ông. Mảng sáng tác lớn hơn, những tiểu
thuyết như “Trên mảnh đất này”, “Nước mắt giã biệt”, “Người điên kể chuyện người
điên”, “Thuở hồng hoang”… còn lột tả hình ảnh con sông Đồng Nai ở khía cạnh tâm
linh sâu thẳm. Tình yêu của Ba Râu và cô Năm Đồng Nai, cuộc đời của bá hộ Ngô Kỳ
Hồng, tiếng kêu “Gấy ghên” của chú Từ Khiêm, những năm tháng đầu tiên khai dân
lập ấp của gia đình Lâm Huỳnh… tất cả đều gắn liền với hình ảnh con sông Đồng
Nai rộng lớn. Song mỗi con người của những tác phẩm này đều có một quá khứ của
tuổi thơ xưa bên con sông này. Trong các tiểu thuyết, hình tượng dòng sông có
phần chìm lắng hơn, sâu sắc hơn, cần có sự nghiên cứu kỹ hơn của các nhà chuyên
môn.
7/12/2022
Trần Thu Hằng
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét