Phác thảo về Nguyễn Trí
Có thể nói Nguyễn Trí xuất hiện trên văn đàn khá
muộn, khi tiến trình đổi mới văn học Việt Nam hiện đại đã được định hình. Nhưng
anh xứng đáng là đại diện cho một khuynh hướng văn học trong khoảng thời gian
2012 – 2022.
Từ cuốn sách đầu tay “Bãi vàng, đá quý, trầm hương” được NXB Trẻ in năm 2012, ẵm ngay giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam 2013, Nguyễn Trí ào ạt tung ra liên tiếp những cuốn sách mới và đều được bạn đọc đón nhận trân trọng, anh cũng được kết nạp làm Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Công lao ấy phải kể đến “bà đỡ mát tay” – nhà văn Hồ Anh Thái, từ năm 2009 đã tỉ mẩn biên tập cho từng truyện ngắn rời và đề lời giới thiệu cho bạn đọc biết đến một Nguyễn Trí như một nhà văn thứ thiệt: “văn chương của Nguyễn Trí là kiểu hấp dẫn nhờ một đời sống thực và cần được nghe thêm bồi đắp từ những người đã nếm trải thực”.
Nguồn năng lượng nào cho một người trong vòng 10 năm cho ra đời
liên tiếp 18 đầu sách như Nguyễn Trí? Sách ra không phải cho vui, mà như hối hả
kể lại những gì trải qua trong đời mình, sợ rằng một mai không có dịp kể chăng?
Đâu chỉ thuần túy kể chuyện, mà Nguyễn Trí đang sống lại chuỗi ký ức gắn với thời
đại đầy biến động, tạo nên bao sóng gió thăng trầm trong cuộc đời anh. Trong
các tác phẩm ấy, có lẽ chắp nối lại cũng hình dung phần nào về con người nhà
văn: một “tuổi thơ không có cánh diều” phải lưu lạc nhiều vùng, dọc ngang vật
vã với đời, Minh Trí thành một Minh Tàn rồi tự nhận hỗn danh “Trí Khùng” trong
cuốn tự truyện.
Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi…
Đi mãi rồi gã giang hồ cũng dừng chân, và mười năm nay, gã kể
chuyện. Người ta nghe gã “kể chơi” ròng rã như nghe nghìn lẻ một đêm, và thật sự
bị cuốn vào vòng xoáy đời sống, vui buồn khóc cười cùng nhân vật của gã. Cái
ngang tàng bụi bặm của một anh trai Bình Định thuở nào cộng với cách sống đậm
chất nghĩa hiệp của anh hai Nam bộ, vị tân toan của đời hằn trên gương mặt “cô
hồn” lại tuôn chảy dòng văn hòa nhịp với đời thường, người ta nghe chuyện và gặp
mình trong đó. Vẫn còn đâu đó chút chất chơi, dù chủ nhân từ lâu đã hết “quota”
rượu chè, đổ bác, hút xách (còn cái khoản thứ tư trong “tứ đổ tường” thì …chịu,
vì nó tế nhị, thường là cái cuối cùng cho mấy cha nói dóc bản lĩnh đàn ông!).
Cũng lạ, sau khi đi qua tất cả đau thương cuộc đời, sứt mẻ kha khá mà còn đam
mê viết lách, “mê cháy bỏng” như gã nói, thì đúng là Trí Khùng giữa cái thời
thiên hạ đều tỉnh táo chứ gì nữa!
Coi, chuyện kể của một dân chơi có gì mà hấp dẫn người ta thế?
1. Văn Nguyễn Trí trên tiến trình đổi mới văn học
Có thể nói Nguyễn Trí xuất hiện trên văn đàn khá muộn, khi tiến
trình đổi mới văn học Việt Nam hiện đại đã được định hình. Nhưng anh xứng đáng
là đại diện cho một khuynh hướng văn học trong khoảng thời gian 2012 – 2022. Xuất
hiện trên văn đàn nhờ sự đỡ đầu của Hồ Anh Thái – nhà văn có biệt tài phát hiện
giọng văn mới, rất nhanh chóng Nguyễn Trí đã khẳng định được mình ở giọng văn kể
chuyện không trộn lẫn, với không gian cũng rất đặc trưng và thời gian bao quát
được một giai đoạn đầy biến động của đất nước: miền Trung, miền Đông Nam Bộ; những
năm cuối của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ, những năm khốn khó trong nền
kinh tế bao cấp, giai đoạn chuyển mình khốc liệt sang nền kinh tế thị trường.
Anh không đóng vai trò của một người chép sử, mà chính là chứng nhân, là sản phẩm
của thời đại. Cũng hiếm có ai đi qua bao thăng trầm mà vẫn kiên nhẫn nuôi giấc
mộng văn chương từ thuở hoa niên. Anh tập trung bút lực vào hai thể loại truyện
ngắn và tiểu thuyết, tuy nhiên chất truyện ngắn lấn át và chiếm lĩnh cả không
gian tiểu thuyết theo kiểu phân đoạn chương hồi hiện đại.
May mắn hay không khi anh không được đào tạo bài bản “dưới
mái trường xã hội chủ nghĩa” hay con đường học vấn của anh đứt ngang giữa chừng
không đủ để vỗ ngực ta dân Tú tài bán, Tú tài toàn bụng đầy chữ nghĩa, xổ tiếng
Anh như gió kiểu mấy trí thức “triều cũ” tiếc nuối thời vàng son. Khi vừa kịp
trưởng thành và bị ném vào đời, gia tài văn chương của Nguyễn Trí có lẽ chỉ là
mấy bài thơ, tản văn viết trong các tập san học trò không còn lưu dấu tích. Cái
thời bao cấp có lẽ vốn liếng văn chương là những gì còn lưu giữ trong cậu học
trò trung học đệ tam cấp mê lời giảng của các ông bà giáo dạy Việt văn uyên bác
vốn cổ, là những tác phẩm Kim Dung, Cổ Long… thời đó chuyền tay nhau tả tơi
trang đầu trang cuối, là những “văn hóa phẩm độc hại” còn sót lại sau những cuộc
truy quét. Chút vốn liếng của văn học sau 1975 có lẽ anh cũng chịu khó tìm đọc,
sau khi đã tạm yên ổn qua ngày tháng bụi bặm lăn lóc, hoặc được cung cấp để cán
bộ giáo dục dân “lao cải”, mà với một kẻ thèm đọc thèm viết lại thành tư liệu để
kiểm chứng với đời sống thực anh phải nếm trải. Cho nên nhìn vào tác phẩm Nguyễn
Trí, sẽ không có những trăn trở chuyển hướng từ “khuynh hướng sử thi, cảm hứng
lãng mạn cách mạng” sang “cảm hứng thế sự, nhân sinh”. Truyện Nguyễn Trí thuần
túy là chuyện đời, tự kể hay hồi ức, có hư cấu nhưng rất gần với dòng văn học
“non – fiction” (không hư cấu) được người đọc hiện nay ưa thích. Xuất hiện
trong thời điểm người đọc còn thòm thèm sau Mùi Cọp (Quý Thể), Tấm
ván phóng dao (Mạc Can), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư),
truyện và tiểu thuyết của Nguyễn Trí hướng về đại chúng với chuyện về giới
giang hồ, đồ tể, ăn bay,… một phần thỏa mãn trí tò mò về những góc khuất những
mảng tối của cuộc sống chưa từng được biết, nhưng cũng là cách anh trả ơn cuộc
đời, viết để nhìn lại và giúp mọi người hiểu trong bùn có sen, trong tuyệt vọng
vẫn có lý do để người ta hi vọng, vươn lên.
2. Không gian chuyện kể của Nguyễn Trí
Ở một góc nhìn về sáng tác của nhà văn, để tìm hiểu tư tưởng
nghệ thuật của tác giả, theo cách tiếp cận của giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, cần
chú ý dấu ấn tuổi thơ của tác giả. Nguyễn Trí có tuổi thơ gắn với Bình Định,
nơi giao tranh ác liệt của hai phe từ khoảng thời gian 1964 – 1972, lại là con
của một lính cộng hòa đòn trú nhiều nơi. Tuổi thơ chỉ có niềm vui đọc sách là
đáng giá, đủ để quên những nỗi ám ảnh chết chóc, chiến tranh. Nhưng cũng từ “Tuổi
thơ không có cánh diều” này, niềm đam mê đọc sách đã biến thành nỗi oan khuất đầu
đời với trận đòn của cha đẩy anh ra cuộc sống lề đường, tiếp xúc với các thành
phần bất hảo của xã hội cuối cuộc chiến: lính tráng, lưu manh trộm cướp, xì ke
gái điếm…Cuộc chiến tàn cũng là lúc cuộc chiến cơm áo gạo tiền lôi tuột anh vào
rừng sâu núi thẳm, sống cuộc đời “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”. Cứ thế mà
phiêu dạt chốn thâm sơn cùng cốc mà lại không làm ẩn sĩ, bởi có hàng vạn người
như anh lầm lũi trong hành trình khốn khó, liều lĩnh và bất cần đời. Qua tuổi
“tri thiên mệnh” mới chính thức cầm bút như một nhu cầu phải viết, hối hả như
kiểu H. Banzac viết bộ Tấn trò đời. Cuộc đời phiêu dạt trả lại cho anh đôi
bàn tay trắng cùng gánh nặng gia đình tiếp tục đeo bám chữ “nghèo” như một nghiệp
dĩ, duy nhất giàu là những chuyện kể như nghìn lẻ một đêm, lai rai không biết
bao nhiêu cuộc rượu, cũng chẳng tham vọng gì lớn, mua vui cũng được một
vài trống canh…
Tính chất tự truyện chiếm phần lớn các trang viết của Nguyễn
Trí, anh hóa thân vào phần lớn nhân vật của mình để tham gia vào những biến cố,
kể lại rành mạch bao chà xát của đời lên phận người. Anh là một người kể chuyện
giỏi, hoạt ngôn và phóng túng, không câu nệ trong cách dùng từ, đặt câu chỉn
chu như phần lớn nhà văn chuyên nghiệp. Có chuyện là kể, chuyện nọ có thể vắt
sang chuyện kia, phá vỡ các lý thuyết về kết cấu truyện, xây dựng tình huống, tạo
dựng tâm lý nhân vật. Nhưng không có nghĩa là ẩu bưởng, thích gì kể nấy, vẫn có
một mạch xuyên suốt trong các chuyện kể của anh, khi lách qua một rừng những sự
kiện ập đến với nhân vật, bóc tỉa các mối quan hệ phức tạp chồng chéo trong đám
đông giữa các không gian xô bồ, nhốn nháo, chụp giật tranh cướp. Nhân vật của
anh thường có một chuỗi những đụng độ va chạm với đời sống, trải qua các miền đời
“nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương”, vẫy vùng vượt lên nghịch cảnh để vươn
lên làm một người bình thường; loại nhân vật thứ hai là kiểu người sống bất chấp,
bất cần, và trượt dài trên hành trình tha hóa, trả giá cho những việc làm của
mình, như một tiên nghiệm nhân – quả, với những kết cục tất yếu có thể dễ hình
dung. Phần lớn các nhân vật đều có một nét éo le, bất ngờ trong số phận, bị xô
dạt vào tâm xoáy bão đời, bị dồn đẩy vào ngõ cụt, luôn phải sống trong cảm giấc
bất an của cuộc sống dưới đáy, ngoài vòng pháp luật hoặc thuộc về một thế hệ
đánh mất (the lost generation – thuật ngữ của văn học phương Tây sau chiến
tranh thế giới thứ Nhất về lớp người mất niềm tin vào thực tại khi trở về sau
chiến tranh). Thế giới nhân vật của Nguyễn Trí đa dạng nhưng có thể tìm thấy mẫu
số chung: phần lớn họ không được ưu ái của định mệnh, của thời cuộc. Có những kẻ
thuộc “triều cũ” – như cách nói cửa miệng của dân gian, có những thành phần cơ
bản đã dấn thân vào cuộc chiến đấu của dân tộc thống nhất đất nước hoặc bảo vệ
biên giới, từ cuộc chiến trở về với rất nhiều đổ vỡ, họ ít nhiều đều dính dáng
đến nhưng thói tệ của con người, sống vi nhau bằng giành giật tranh cướp, mưu
toan, thủ đoạn…
Giữa đủ hạng người đó, luôn xuất hiện một Minh Tàn, Minh Bụi,
Hùng Tàn, Trí Khùng, Năm Già… đủ từng trải để nhận diện, đủ lọc lõi để đối phó,
đủ khôn ngoan để thoát hiểm, dại mà không khờ để đủ ngộ ra chân tướng từng người
khi lộ diện. Đặc điểm của nhân vật này là đọc nhiều, hay suy tư dằn vặt, luôn sẵn
sàng trong tư thế “đi với ma mặc áo giấy” nhưng cuối cùng luôn hướng thiện, phục
thiện. Ngang tàng có thừa, nhưng khi cần thì nhũn nhặn lịch sự trước các đàn
anh hổ báo, quan quyền thầy chú. Thế giới nghệ thuật của Nguyễn Trí có nét
hoang dã giống dân Mỹ thời các cao bồi đấu súng, cưỡi ngựa rong ruổi trên đường
chinh phục giấc mộng vàng – có đầy đủ Thiện – Ác – Tà (tên một bộ phim nổi tiếng
của miền Viễn Tây). Bên cạnh đó lại pha trộn chất kiếm hiệp Kim Dung với thanh
lâu, tửu quán in dấu chân của hắc đạo – bạch đạo, uống rượu như hũ chìm và ngất
ngưởng ngạo nghễ trong các cuộc tỉ thí, phút trước đánh nhau vỡ đầu phút sau đã
cạn ly gọi nhau hảo bằng hữu! Mạch chuyện kể của Nguyễn Trí nhiều khi là những
gì anh trực tiếp nếm trái đắng, đặc biệt là những sáng tác ban đầu của anh;
chuyện về sau là của bao giang hồ thứ thiệt anh từng gặp trên hành trình mưu
sinh khốn khó. Mỗi người mỗi cảnh, đều được kể bằng một giọng tỉnh rụi, dẫu sự
thực tàn nhẫn khủng khiếp đến mấy cũng khó làm cho anh đổi giọng, có lẽ vị tân
toan đếm đủ, máu và nước mắt của chính anh đã đổ không ít lần, để không còn run
rẩy trong câu chữ uất nghẹn hay cảm thương. Anh không có cái kiểu viết giật gân
câu khách, cố tỏ vẻ như một số cây bút lấy viết lách để thể hiện ta đây cũng
sành sỏi lắm. Anh cũng chẳng cần thận trọng ngòi bút để “tự trói mình” như thế
hệ nhà văn được giáo dục “hồng và chuyên” để gọt đẽo nhân vật của mình an toàn
theo một mẫu hình nào đó. Cứ khề khà, “kể nghe chơi…” với đúng thứ ngôn ngữ khi
trà dư tửu hậu, chuyện nọ nối chuyện kia, “mua vui cũng được một vài…” cữ
sương sương. Nhưng nghe chơi mà nhớ lâu, mà thảng thốt, mà bàng hoàng, mà kinh
khiếp, mà giật mình vì cái gã kể chuyện kia nhiều khi như biết tỏng gan ruột
người khác, phơi tuốt luốt trên trang giấy. Mà “ta bà” khoái vụ gì, nếu không
phải là “Tình, Tiền, Tù Tội”, là “tứ khoái”, là đủ thứ “ma bùn, lưu manh”, những
“mánh” những “chiêu” những “bài” qua người kể chuyện hấp dẫn nghe thâu đêm suốt
sáng vẫn “đã lỗ nhĩ”…? Vốn liếng đời sống, trải nghiệm văn hóa đâu mà lắm vậy?
Thì gã tích lũy quan sát, ghi nhớ và xài đi xài lại kiểu mấy ông già xưa nói
thơ hát thơ Vân Tiên, vui vui thì nói trạng, kể tiếu lâm kiểu bác Ba Phi cho đỡ
buồn. Chữ nghĩa thì đời nói sao tui thuật lại vậy, có chêm xen đưa đà đưa cay
thì cũng là chuyện nhỏ, mấy đứa nghe chẳng còn “rành sáu câu” hơn hay sao? Chừng
nào đời còn nhiều chuyện thì Nguyễn Trí vẫn còn kể mãi không ngưng!
3. Dòng đời trong văn Nguyễn Trí
Dân chơi phải có chất – ấy là giang hồ đồn. Và cái chất dân
chơi trong chuyện kể của Nguyễn Trí gắn với các đề tài sở trường bất đắc dĩ của
anh: cuộc sống của đám trẻ trong vùng cài răng lược Bình Định 64 -72 – tuổi thơ
không có cánh diều, cuộc đời của đám lưu manh sống bám vào chiến tranh như hệ
quả tất yếu của “bên thua cuộc”, số phận phiêu dạt bất định của lớp người sau
1975, cuộc sống bất cần đời của dân tứ xứ 39 tỉnh thành ở “Bãi vàng, đá
quý , trầm hương”, nghề đồ tể, bán vé số, chạy xe ôm, ma cô, gái điếm; nghề
giáo hợp đồng, cuộc sống công nhân ở các khu công nghiệp…
Trước khi dấn thân vào cuộc sống lưu lạc giang hồ, tuổi thơ của
Nguyễn Trí cũng in đậm những lần luân chuyển theo gia đình ở các khu gia binh.
Từ Tân Cảnh, Kontum xuống Bình Định, vùng cài răng lược với những cuộc giao
tranh ác liệt của quân chủ lực Mỹ và bộ đội, từ Đệ Đức, Bồng Sơn về Phú Tài. Những
đứa trẻ lớn lên đã phải quen với mùi thuốc súng, chơi với thuốc súng và nếm trải
cả nỗi đau mang mùi đạn bom… Cảm giác bất an cứ rình rập trở thành một ám ảnh vận
vào các nhân vật của Nguyễn Trí sau này. Biến động lịch sử cũng cuốn phăng bao
dự định tương lai, và chính thức Nguyễn Trí dấn thân vào đời gió bụi mưu sinh kể
từ sau giải phóng năm 1975. Lưu lạc vào miền Đông Nam Bộ, có mặt ở những chốn
cao nguyên đất đỏ, bãi đá hầm vàng cùng giấc mơ đổi đời, bán sức và bán mạng một
cách liều lĩnh trong cuộc sống đặt ngoài vòng pháp luật, tụ hội dân tứ xứ giang
hồ trong một mẫu số chung: nghèo và liều. Giang hồ thứ thiệt chứ không phải kiểu “nghe
tiếng cơm sôi đã nhớ nhà”. Cuộc đời đã lộn trái anh, vắt kiệt anh từ Minh Trí
thành Minh Tàn, trút lên gánh nặng một vợ bốn con mà những xui rủi số phận dồn
đuổi đến tận cùng. Nếu làm một bản thống kê đầy đủ những nghề nghiệp thì có lẽ
đỉnh cao để đời trọng vọng kiêng nể là làm anh giáo hợp đồng bảy năm, còn tận
cùng nhất là một kẻ tù lao cải, nếm trải bao hãi hùng địa ngục trần gian. Cái xấu,
cái ác, cái đểu giả, lọc lừa luôn bủa vây; tệ nạn, tứ đổ tường chưa gì chưa trải
qua, từ quan cộng hòa đến quan cách mạng cũng chẳng lạ gì các trò tháu cáy, “ma
bùn, lưu manh”. Trong tận cùng dưới đáy ấy, chỉ khao khát được làm người bình đẳng
như bao người, một mái nhà một gia đình êm ấm, mà đến tận bây giờ chẳng biết số
phận trớ trêu đã buông tha anh chưa?
Đọc Nguyễn Trí, có thể thấy rất nhiều cái chết được hiện diện
từ chiến tranh đến thời bình: bất đắc kỳ tử vì tên bay đạn lạc, nổ lựu đạn, bắn
giết nhau; chết vì thanh toán ân oán giang hồ, vì sốt rét rừng, rắn cắn, đuối
nước, cây đá đè, sập hầm, sản hậu, ghen tuông, cướp, “hát có ết”… mới thấy
phận người đầy bất an!
4. Thông điệp trong từng trang viết
Lần theo mạch văn Nguyễn Trí, dấu ấn của một thời tao loạn in
hằn lên số phận của từng nhân vật. Cố nhiên, trung tâm sẽ là loại nhân vật trải
đời, lăn xả vào đời vì miếng cơm manh áo một cách bất đắc dĩ, vẫn luôn khao
khát một cuộc sống bình dị, “rửa tay gác kiếm” để bình tâm kể lại đời mình cũng
như chiêm nghiệm luật đời rất sòng phẳng. Nếu đi tìm một triết luận cao siêu, một
tư tuorng mang tầm nhân loại, e rằng các nhà phê bình hàn lâm sẽ thất vọng. Quy
luật kinh tế thị trường, sự thay đổi các bậc thang giá trị, viết như một sự nhập
cuộc đáp ứng thị hiếu công chúng…e rằng xa lạ với văn Nguyễn Trí. Mà những hệ lụy
thời chiến sang thời bình, bao cấp sang mở cửa, giang hồ đến hoàn lương chính
là chất liệu từ đời được anh nếm trải để chuyển hóa thành văn. Hãy đọc lý do
anh đến với văn qua Trí Khùng tự truyện “Thiên hạ có ăn học thì có văn có
chương, mình vô học thì kể (…)Và cứ thế, tôi kể hết cuốn vở trăm trang
này qua trăm trang khác. Kể lại chuyện đời mình thì dễ và nhanh như sao xẹt, và
thế là vài mươi cuốn vở dầy đặc chữ nghĩa xếp đầy cái tủ thảm thiết trong nhà
tôi” (tr.217 – 218). Bắt đầu là như thế, học viết, để nối lại giấc mơ thời
trẻ, để kéo lại cái niềm tin chữ nghĩa còn có ích cho đời. Học và đọc, kể và chờ
đợi những phản hồi, một chặng đường 5 năm (2009 – 2013) để tin mình không phải
kẻ bất tài, văn Nguyễn Trí có bạn đọc của Nguyễn Trí, anh dấn thân trở thành
nhà văn vì “viết đã giúp sự tăm tối của gia đình tôi sáng lên một chút”.
Những câu chuyện kể nối chuỗi ngày tháng biến động đời người ấy
sẽ đi vào quên lãng, nếu qua từng trang viết người đọc không được sống lại những
ký ức một cách chi tiết và sống động, gặp được chính mình trong đó. Ký ức cũng
không phải để gặm nhấm mòn mỏi mà sức cuốn hút của nó trước hết là sự chân thực,
không cường điệu không đánh bóng bằng ngôn từ hay cố ra vẻ cao đạo triết luận.
Văn và đời gần nhau trong từng câu chuyện của Nguyễn Trí. Ít ra trong buổi đầu,
từ truyện ngắn đầu tay in trên Tuổi trẻ cuối tuần tạo được tiếng vang, cho đến
89 số báo trên Đại biểu nhân dân là mảnh đất riêng anh thỏa sức tung hoành từ
truyện ngắn đến truyện vừa, Nguyễn Trí đã tìm ra lối đi cho riêng mình khi nối
dài từ chuyện mình, chuyện người, chuyện đời để người đọc hình dung ra có một
thế giới với bao phận người chưa được hiểu rõ, giờ được kể lại bởi chính người
trong cuộc, với những “sự thật đắng cay”, “sự thật tàn nhẫn” mà cảm xúc của người
viết đã đủ độ lắng để chắt lọc giữa bộn bề những chuyện đời khác thường mà với
tác giả lại là chuyện thường ngày chưa được kể!
Nhân vật Nguyễn Trí có chất Bình Định: võ nghệ và chịu thương
chịu khó, chất miền Đông hảo hán và trượng nghĩa, có cả chất nổi loạn của “con
người bé nhỏ”, tự trọng không để ai khinh. Ranh giới sang – hèn đo ở cách ứng xử
với nhau trong “cõi ta bà”. Gần đây, văn của anh thêm chất triết lý pha trộn của
tôn giáo nhập thế, thiên về chiêm nghiệm quy luật bù trừ, nhân quả, mang màu sắc
luật đời hơn là giáo lý kinh viện. Anh không cố cắt nghĩa trong những truyện của
mình, mà cứ để cho các nhân vật của mình sống với cái bản năng hoang dã nhất của
họ, chà xát đụng độ bạo liệt, trần trụi trong một thế giới có quá nhiều hiểm
nguy rình rập, đôi khi thấm thía đến tận cùng cái vô nghĩa, nhạt nhẽo của đời
nhưng vẫn phải quằn quại, vật vã sống. Có những truyện chưa có hồi kết nhưng
tác giả cũng cứ để lửng lơ, vì có viết nữa sẽ sa vào rao giảng, biện luận, nhào
nặn nhân vật vào khuôn tư biện của mình. Nên có những truyện kết thúc theo một
cách ấm ức kiểu Con Luốc, Trăng rừng,…Nhiều truyện tác giả kể, nhân vật
chính đều kết thúc bằng những cái chết, có những cái chết rất “khùng”, những
cái chết được báo trước, cái chết như sự trả giá ân oán giang hồ, cái chết lãng
xẹt nhưng đôi khi là tất yếu trong một môi trường mà người ta không lường được
tai họa giáng xuống lúc nào. Thường là sau cái chết, một Minh Tàn, Hùng Tàn,
Năm Lựu Đạn… – người kể chuyện – cứ nhẩn nha buông ra một câu tưởng chừng trớt
quớt, nâng một ly xây chừng để kết lại câu chuyện; hoặc cũng có thể anh dành lời
kết cho đám đông – người nghe – như vỡ lẽ “À, ra thế, rồi sao nữa …”. Mà đời
thì có bao giờ hết chuyện, người ta cứ tự móc nối các thân phận, các mối quan hệ
trong lời kể, để thấy một điều nghĩa lý nào đó sau bao điều vô nghĩa lý.
Từ truyện ngắn, Nguyễn Trí đã đầu tư sang lĩnh vực tiểu thuyết,
với anh là những chuỗi chuyện kể xoay quanh biến động cuộc đời nhân vật với các
biến cố thời gian dài hơi hơn: Thiên đường ảo vọng, Ngoi lên từ đáy, Bụi đời
và Thục nữ, Ăn bay, gần đây nhất là Ma lực của cội nguồn. Bên cạnh đó
là mảng truyện thiếu nhi mà anh gọi là truyện dài: Tuổi thơ không có cánh
diều, Trên đồi đất đỏ…Tiểu thuyết là nơi tác giả có thể đảo điểm nhìn trần thuật,
tạo ra sự đa thanh đa nghĩa, hay xếp chồng truyện trong truyện, sống cùng nhiều
miền đời, nhiều thân phận khác nhau… Tôi tin Nguyễn Trí tìm đến tiểu thuyết để
kể cho đã, dẫn dắt người đọc đi hết hành trình thân phận nhân vật hơn là để thể
nghiệm những lý thuyết tự sự, những triết luận nhân sinh hay phát ngôn tư tưởng…
Tiểu thuyết là để tác giả giúp người đọc khảo nghiệm đầy đủ hơn “cõi ta bà” –
như cách nói của anh. Không thuộc về khuynh hướng văn học “bước qua lời nguyền”,
cũng chẳng phải lối viết giải thiêng thần tượng, pha trộn lịch sử – huyền thoại
mà truyện Nguyễn Trí là của con người đương đại, là những vấn đề của lịch sử để
lại, được nhìn từ góc độ của nhóm người yếu thế, dưới đáy, thậm chí đứng ngoài
vòng pháp luật. Hiện lên sau các tiểu thuyết của anh trước hết là bóng dáng tác
giả hóa thân trong từng nhân vật của mình, như xâu chuỗi của một thời bạt mạng
bất cần đời, lì lợm đến vô cảm trước máu chảy, sinh ly tử biệt, cùng lắm chỉ là
“nín lặng khóc”, âm thầm nghiến răng “ngoi lên từ đáy”.
Bức tranh cuộc sống hiện lên cũng khá đa dạng với lẫn lộn thật
– giả, ngụy – cách mạng thời tranh tối tranh sáng, những khốc liệt yêu – hận,
ranh giới sang – hèn, những toan tính tình – tiền thời kinh tế thị trường,
những trò ma bùn, lưu manh lại tái hiện trong tiểu thuyết đầy đủ và hệ thống
hơn. Nhưng xuyên suốt trong cách kể, giọng kể của Nguyễn Trí là thái độ buông xả,
vị tha. Nên không cần cao giọng, chẳng cần lên lớp hay triết lý, mà cứ bình thản
một giọng. Theo tôi, có một Nguyễn Trí với giọng văn khác biệt, cảm xúc đong đầy
và không giấu giếm thương yêu xa xót cho nhân vật của mình là hai truyện dài viết
cho thiếu nhi. Tuổi thơ không có cánh diều là của chính anh và bạn bè anh, những
đứa trẻ sống trong lằn ranh đạn bom từ hai phía, với ký ức không thiếu những ấn
tượng hãi hùng, máu và nước mắt, để những đứa trẻ lớn lên trong thời bình biết
một thời tuổi thơ của cha ông trải qua khói lửa chiến tranh. Còn Trên đồi
đất đỏ anh viết về tuổi thơ của những đứa con anh, chỉ biết làm bạn cùng
thiên nhiên hoang dã, trải nghiệm cuộc sống lăn lộn mưu sinh quá sớm. Thiệt
thòi là thế, nhưng may mắn cho những đứa trẻ là còn có một thế giới kỳ thú của
rừng, nơi chúng được dạy kĩ năng sinh tồn, nơi có bao điều lạ cần khám phá và ở
đó là những bài học về tình thương yêu của những con người khốn khó. Trẻ con
nên chúng không bận tâm những phức tạp của thế giới người lớn. Lớn trong khốn
khó, tranh giành nên chúng sơm khôn trước tuổi, thương má thương ba, phụ việc
nhà và háo hức được chơi đùa. Cô bé Linh – nhân vật trung tâm, là một cô bé đặc
biệt ngoan, ham thích khám phá. Thế giới của em là cậu bạn đặc biệt Bảy Xoáy,
là con Luốc tinh khôn, là rừng với bao bài học sinh tồn. Nguyễn Trí muốn lưu lại
tất cả những câu chuyện trong đó, như để gửi gắm bao thương yêu và trọn vẹn tấm
lòng của một người cha. Truyện tưởng chẳng có gì mà lại làm người đọc xúc động
vì tình yêu giản dị ấy.
Tôi còn muốn viết thật nhiều, muốn phân tích đi sâu vào từng mảng truyện ngắn, tiểu thuyết với những đề tài được tác giả đề cập còn khá mới mẻ và xa lạ với giới phê bình nghiên cứu văn học hiện nay. Nhưng e rằng làm công việc quá sức của một người đọc và cảm Nguyễn Trí, nên chỉ làm một phác thảo ban đầu về anh. Văn của anh cũng không tham vọng xếp chiếu trên, chiếu dưới làng văn; cũng chẳng chen chân vào dòng văn học thị trường nhan nhản những ngôn tình, những best-seller vừa lòng bạn đọc thập phương. Hành trình của anh muộn màng và có lẽ tác giả còn tiếp tục những tìm tòi, mở rộng sang chuyện người, chuyện đời cũng như tìm một phong cách, một tư tưởng để ít ra cũng dễ phân loại cho các nhà nghiên cứu chăng? Tôi nghĩ, anh còn sức viết và cũng rất cầu thị, tự mình nhận ra ưu khuyết để làm mới chính mình. Vậy là đủ! Vì Nguyễn Trí có văn riêng của Nguyễn Trí!.
1/12/2022
Trần Hà Nam
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét