Thi ca bình dân Việt Nam 3
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN
1. Ai ăn cau cưới thì đền,
Tuổi em còn bé, chưa nên lấy chồng.
2. Ai ơi ! đừng lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.
Ngày thì cắp sách đi rong,
Tối về lại giữ đèn chong một
mình.
3. Ai chồng, ai vợ mặc ai,
Bao giờ ra bảng, ra bài sẽ hay.
Bao giờ tiền cưới trao tay,
Tiền cheo rấp nước, mới hay vợ chồng.
4. Anh khôn nhưng vợ anh đần,
Lấy ai lo liệu xa gần cho anh.
5. Anh cũng đã hay :
Tôi ngay phò chúa thánh,
Gái chẳng lấy hai chồng,
Biết em buông mối chỉ hồng,
Tiếc anh đi chậm nên đứng ngoài
phòng bơ vơ.
6. Anh về thắt rế kim cang,
Vót đôi đũa bếp cưới nàng còn dư.
Anh về bán ruộng cây đa,
Bán đôi trâu già chẳng cưới đặng
em.
Ruộng cây đa anh cấp phần hương
quả,
Đôi trâu già ta chả bán chi,
Anh về xách áo ra đi,
Bán rồi mới cưới nữ nhi chốn nầy.
7. Ăn mày nơi cả thế,
Làm rể nơi nhiều con.
8. Ăn xin cho đáng ăn xin,
Lấy chồng cho đáng bù nhìn giữ
dưa.
9. Ăn đong cho đáng ăn đong,
Lấy chồng cho đáng tấm chồng hẳn
hoi.
10. Ăn đua cho đáng ăn đua,
Lấy chồng cho đáng việc vua, việc
làng.
11. Ăn cam ngồi gốc cây cam,
Lấy anh thì lấy về Nam không về.
12. Ấu với sen trồng lộn một
bồn
Hai đứa mình chồng vợ, ai đồn mặc
ai.
13. Ba bốn nơi đến nói không
màng,
Chờ cho chết vợ, sẵn sàng qui mô.
14. Ba năm ở với người đần,
Chẳng bằng một lúc ghé gần người
khôn.
15. Ba vợ bảy nàng hầu,
Đêm nằm chuồng trâu, gối đầu bằng
chổi.
16. Bảo cho những khách má hồng,
Thà hầu quân tử, còn hơn chồng ngốc
ngu.
17. Bắc thang thử hỏi trăng
già,
Phải rằng phận gái mưa sa giữa trời.
18. Bắc thang lên đến tận trời,
Bắt ông Nguyệt-lão đánh mười cẳng
tay.
Đánh thôi, lại trói vào đây,
Hỏi ông Nguyệt-lão nào dây tơ hồng?
19. Bắc cầu cho kiến leo
qua,
Cho con ông xã tới nhà mà chơi.
20. Bố mẹ là vớ cọc chèo,
Mẹ vợ là bèo trôi sông,
Chàng rể là ông Ba-vì.
21. Bố chồng là lông con lợn,
Mẹ chồng là trợn mắt lên,
Nàng dâu mới về là bà hoàng hậu.
22. Bốn màu bông cúc nở xây,
Để coi trời khiến duyên nầy về
ai.
23. Buồn chẳng muốn nói, gọi
chẳng muốn trông,
Tưởng sự lấy chồng tỉnh như con
sáo.
24. Cái cóc ăn trầu đỏ môi,
Có ai làm lẽ chồng tôi thì làm.
25. Cái cóc lặn lội bờ sông,
Muốn lấy vợ đẹp nhưng không có tiền.
26. Cái cóc lặn lội qua
ngòi,
Lấy sống lấy chết, ta ưng lấy
mình.
27. Căn duyên gặp gỡ giữa trời,
Ông tơ dìu dắt, ông trời khiến
nên.
28. Có trầu mà chẳng có cau,
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm.
29. Có phúc lấy được dâu hiền,
Vô duyên lấy phải dâu dại.
30. Có cưới mà chẳng có
cheo,
Nhân duyên trắc trở như kèo không
đanh.
31. Có con mà gả chồng gần,
Có bát canh cần nó cũng mang cho,
Hoài con mà gả chồng xa,
Một là mất giỗ, hai là mất con.
32. Có duyên lấy được chồng
già,
Ăn xôi bỏ cháy, ăn gà bỏ xương.
33. Con gái có hai bến nước,
Bến đục thì chịu, bến trong thì
nhờ.
34. Con ơi chớ lấy vợ giàu,
Cơm ăn chê hẩm, cá kho bầu nó chê
tanh.
35. Con ơi gia cảnh mình
nghèo,
Ham chi vợ đẹp vợ giàu cho nó
khinh.
36. Con gái là con người ta,
Con dâu mới thực mẹ cha mua về.
37. Con cá đối nằm trong cối
đá,
Con chim đa đa đậu nhánh đa đa,
Chồng gần bậu không lấy, bậu lấy
chồng xa.
Mai sau cha yếu mẹ già,
Chén cơm bát nước bộ kỷ trà ai
bưng?
38. Còn duyên kẻ đón người
đưa,
Hết duyên vắng ngắt như chùa bà
Đanh.
39. Còn duyên anh cưới ba
heo,
Hết duyên anh cưới con mèo cụt
đuôi.
40. Còn duyên như tượng tô
vàng,
Hết duyên như tổ ong tàn ngày
mưa.
41. Cô kia nước lọ cơm niêu,
Chồng con chả có, nằm liều nuôi
thân.
- Chồng con là cái nợ nần,
Chẳng thà ở vậy nuôi thân béo mầm.
42. Cô thỉ cô thi,
Cô đang đương thì, cô kẹo với ai.
Cô tú kẽo kẹt cô cai,
Vợ chồng thuyền chài kẽo kẹt dưới
sông.
Mâm cốm kẽo kẹt mâm hồng,
Bát bịt, mâm đồng kẽo kẹt một
nơi.
Mâm thịt kẽo với mâm xôi,
Thịt bùi xôi dẻo, kẽo nơi bà già.
Cùi dừa kẽo kẹt bánh đa,
Cái dĩa thịt gà kẽo kẹt lá chanh.
Nồi cơm kẽo với nồi canh,
Quả bí trên nhành kẽo với tôm he.
Bánh rán kẽo với nước chè,
Cô kia cò kè kẽo với anh đây.
Bà cốt kẽo với ông thầy,
Con chim loan phượng kẽo cây ngô
đồng.
43. Cơm trắng ăn với chả
chim,
Chồng đẹp, vợ đẹp những nhìn mà
no.
Cơm hẩm ăn với cà kho,
Chồng xấu, vợ xấu những lo mà gầy.
44. Của rẻ ấy là của tôi,
Lấy phải vợ dại khốn tôi trăm đường.
45. Củi mục lành đun,
Chồng đần dễ khiến, chồng khôn
khó chiều.
46. Củi tre dễ nấu, chồng xấu
dễ xài,
Ham chi bóng sắc, hành hài tấm
thân.
47. Cực chẳng đã mới gả cho
vua,
Gả cho vua thì thua nhiều nỗi.
48. Cực chẳng đã mới gả con
cho chệt,
Biết ngày nào hết mệt con tôi.
49. Cha mẹ đòi ăn cá thu,
Gả con xuống biển mù mù, tăm tăm.
50. Chẳng tham ruộng cả ao
sâu,
Tham vì anh tú rậm râu mà hiền.
51. Chẳng tham nhà ngói ba
tòa,
Tham về một nỗi mẹ cha hiền lành.
52. Chẳng tham nhà ngói bức
màn,
Trái duyên như thể một gian chuồng
gà.
Ba gia nhà rạ lòa xòa,
Phải duyên coi tựa chín tòa nhà
lim.
53. Chim khôn đậu nóc nhà
quan,
Trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm
chồng.
Chim khôn lót ổ lựa chỗ nhiều
nhành,
Gái như em kiếm chỗ trai lành gởi
thân.
54. Chim khôn lựa nhánh lựa
cành,
Gái khôn lựa chốn trai lành gởi
thân.
55. Chim manh manh bay quanh
vòng cỏ,
Qua với nàng hiểu rõ mấy năm,
Tình yêu vẫn giữ âm thầm,
Đợi quyền cha mẹ sắt cầm định
phân.
56. Chim đa đa đậu nhánh đa
đa,
Chồng gần không lấy mà lấy chồng
xa.
Một mai cha yếu mẹ già,
Bát cơm ai xới, kỷ trà ai bưng?
57. Chốn ước mơ lất lơ mà hỏng,
Nơi tình cờ mà đóng nhân duyên.
58. Chồng thấp mà lấy vợ
cao,
Nồi tròn vung méo úp sao cho vừa.
59. Chồng già vợ trẻ là
tiên,
Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần.
60. Chồng con là cái nợ nần,
Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm.
61. Chồng khôn thì nổi cơ đồ,
Chồng dại luống tốn công phu nhọc
mình.
62. Ví dầu chồng thấp vợ
cao,
Như đôi đũa lệch biết bao giờ bằng.
63. Chồng khôn vợ được đi
hài,
Vợ khôn chồng được nhiều bài cậy
trông.
64. Chồng lớn vợ bé thì
xinh,
Chồng bé vợ lớn ra tình chị em.
65. Chồng chèo thì vợ cũng
chèo,
Hai đàng đã nghèo lại đụng lấy
nhau.
66. Chồng rồi ! chồng rồi,
nghĩ rằng chị em đã có chồng rồi.
Sao em chửa có đứng ngồi vân vi,
Ới thầy mẹ ơi ! cấm đoán em chi,
Mười lăm, mười tám sao chưa cho
đi lấy chồng,
Ới ông Trời ơi ! Sao ông ở không
công,
Duyên em đã lỗi, em trách ông
Tơ-hồng
Sao ông khéo trêu ngươi,
Cứ đêm đêm tôi nằm, tôi vuốt bụng,
tôi gọi trời.
Xin ông thí bỏ cho tôi chút chồng.
Tôi về làm lễ tế ông,
Mổ con bò béo, ông cho tôi lấy được
anh chồng cho nó to.
Bõ công tôi mượn chú lái đi mổ
bò.
67. Chồng ta áo rách ta
thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc
người.
68. Chớ thấy duyên muộn mà
phiền,
Tuy rằng duyên muộn, có tiên đợi
chờ.
69. Chớ nghe quân tử nói
dòn,
Mà rồi có lúc ẵm con một mình.
70. Chớ chê em xấu em đen,
Em như nước đục đánh phèn lại
trong.
71. Chớ tham ngồi mũi thuyền
rồng,
Tuy rằng tốt đẹp nhưng chồng người
ta.
Chớ tham vóc lĩnh chiếu hoa,
Lấy chồng làm lẻ người ta giày
vò.
72. Chuồn chuồn có cánh thì
bay,
Kẻo thằng ỏng bụng bắt mày đem
chôn.
73. Chuồn chuồn có cánh thì
bay,
Kẻo thằng bé nhỏ thò tay bắt mày.
74. Chuồn chuồn mắc phải nhện
vương,
Đã trót quấn quít thì thương nhau
cùng.
75. Chửa chồng nón thúng
quai thao,
Chồng rồi nón rách, quai nào thì
quai.
Chửa chồng yếm thắm đeo hoa,
Chồng rồi hai vú bỏ ra tày giành.
76. Dốc một lòng lấy chồng
hay chữ,
Để ra vào kinh sử mà nghe.
77. Dốc một lòng lấy chồng dốt
nát,
Để ra vào rửa bát nấu cơm.
78. Dù em lấy được chồng
khôn,
Như lọ vàng cốm đem chôn đầu giường.
79. Đã sanh làm phận nữ
nhân,
Nữ sanh ngoại tộc bỏ phần mẹ cha.
80. Đàn bà như hạt mưa sa,
Hạt rơi xuống giếng, hạt ra ngoài
đồng.
81. Đào tơ sen ngó xanh
xanh,
Ngọc lành còn đợi giá lành đẹp
duyên.
82. Đắng khổ qua, chua là
chanh giấy,
Ngọt thứ mấy cũng tiếng cam sành.
Đôi ta duyên nợ không thành,
Cũng do Nguyệt-lão chỉ mành xe
lơi.
83. Đấy mây, đây cũng song
già,
Đấy quan Tổng-đốc, đây bà Quận-công.
84. Đèn chong phòng hạnh biếng
xem,
Phải chi trời định anh với em vợ
chồng.
85. Đêm đông trường, em nghe
con vượn cầm canh.
Nghe chim khuyên tổ, nghe anh
khuyên nàng.
Giàu giữa làng, trái duyên khôn
ép,
Khó nước người phải kiếp tìm đi,
Tiền trăm, bạc chục kể chi.
86. Đêm nằm nghĩ lại mà coi,
Lấy chồng đánh bạc như voi phá
nhà.
87. Đêm năm canh, năm vợ ngồi
hầu,
Vợ cả pha nước, têm trầu chàng
xơi,
Vợ hai trải chiếu chia bài,
Vợ ba coi sóc nhà ngoài, nhà
trong.
Vợ tư trải chiếu quạt mùng,
Vợ năm thức dậy trong lòng xót
xa.
Chè thang, cháo đậu bưng ra,
Chàng xơi một bát kẻo mà công
lênh.
88. Đến đây thủ lễ nghiêng
mình,
Dầu không đặng vợ cũng tình mẹ
cha.
89. Đó trai đây cũng là
trai,
Mặc tình người nghĩa đành ai thì
đành.
90. Đôi ta lấm tấm hoa nhài,
Chồng đây, vợ đấy kém ai trên đời.
Muốn cho gần chợ ta chơi,
Gần xong tắm mát, gần nơi đi về.
91. Đôi ta là nợ, là tình,
Là duyên, là kiếp đôi mình kết
giao.
Em như hoa mận, hoa đào,
Cái gì là ngãi tương giao hỡi
nàng ?
92. Đôi ta như thể con bài,
Đã quyết thì đánh, đừng nài thấp
cao.
Đôi ta như đá với dao,
Năng liếc thì sắc, năng chào thì
quen.
93. Đôi ta như lúa phơi màu,
Đẹp duyên thì lấy, tham giàu làm
chi.
Đường đi những lách cùng lau,
Cha mẹ tham giàu ép uổng duyên
con,
Đường dài ngựa chạy biệt tăm,
Người thương có nghĩa mấy năm
cũng chờ.
94. Đồn rằng kẻ Lạng vui
thay,
Đi ba bốn ngày kể đã lắm công.
Bên dưới có sông, bên trên có chợ.
Anh lấy em về làm vợ nên chăng.
Tre già để gốc mọc măng.
- Em như cây quế trong rừng.
Thơm cay ai biết, ngát lừng ai
hay.
Anh như cây phướn Nhà Chay,
Em như chiếc đũa sánh bày sao
nên.
95. Đời xưa kén những con
dòng,
Đời nay ấm cật, no lòng thời
thôi.
96. Đường xa đi gấp lại gần,
Mẹ đi lấy vợ Thanh-thần cho tôi.
97. Em có chồng như ngựa đủ
yên,
Anh chưa có vợ như chiếc thuyền
nghiêng giữa vời.
98. Em ơi chớ khá bôn hành,
Duyên đâu nợ đó ai giành em lo.
99. Em về thưa mẹ cùng cha,
Bắt lợn đi cưới, bắt gà đi cheo.
Đầu lợn lớn hơn đầu mèo,
Làng ăn không hết, làng treo cột
đình.
Ông xã đánh trống thình thình,
Quan viên mũ áo ra đình ăn cheo.
100. Em về thưa mẹ cùng thầy,
Có cho anh cưới tháng nầy anh ra.
- Anh về thưa mẹ cùng cha,
Bắt lợn sang cưới, bắt gà sang
sêu,
Chắc như lời ấy không sai,
Tháng giêng đẵn gỗ, tháng hai làm
nhà.
Tháng ba ăn cưới đôi ta.
101. Em đây chỉ mến người
tài,
Đánh đông đông thắng, dẹp đoài
đoài tan.
102. Em về hỏi mẹ cùng thầy,
Có cho em lấy chồng xa hay đừng.
103. Gà khôn gà chẳng đá
lang,
Gái khôn gái chẳng bỏ làng gái
đi.
104. Gái không chồng như
thuyền không lái,
Trai không vợ như ngựa không
cương.
105. Gái có chồng như gông
đeo cổ,
Trai có vợ như nhợ buộc chân.
106. Gái có chồng như rồng
có vây,
Gái không chồng như cối xay chết
ngõng.
107. Gái có con như bồ hòn
có rễ,
Gái không con như bè gỗ trôi
sông.
108. Gánh nặng mà đi đường
vòng,
Tuy rằng không gánh nhưng lòng
cũng thương.
Gánh nặng mà đi đường dài,
Để anh gánh đỡ một vai nên chồng.
- Gánh thì chị lại trả công,
Mặt em chả đáng là chồng chị đâu
!
109. Gập ghềnh hòn đá cheo
leo,
Biết đâu quân tử mà gieo mình
vào.
110. Giáp, Ất, Bính là tam bất
hạp,
Dần, Thân, Tị, Hợi tứ hành xung,
Khuyên anh hãy xét lại cùng,
Hiệp hôn giá thú em sợ trùng
không nên.
111. Giàu trong làng trái
duyên khôn ép,
Khó nước người phải kiếp cũng
theo.
112. Gió đưa gió đẩy, mây
mưa,
Gặp đâu hay đó kén lừa mà chi.
113. Giường lèo mà trải chiếu
mây,
Làm trai hai vợ như mây buộc
mình.
114. Hỏi vợ thì cưới liền
tay,
Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha.
115. Hỡi cô thắt giải lưng
xanh,
Ngày ngày thấp thoáng bên mành
trông ai ?
Trước cùng xe ngựa bời bời,
Bụi hồng mờ mịt ai người mắt
xanh.
116. Hỡi cô cắt cỏ bên sông,
Có muốn ăn nhãn thì lồng sang
đây.
Sang đây anh nắm cổ tay,
Hỏi rằng duyên ấy tình nầy làm
sao ?
Cái gì là mận, là đào,
Cái gì là nghĩa tương giao hỡi
nàng ?
Phận gái lấy được chồng khôn,
Xem bằng cá vượt vũ môn hóa rồng.
117. Kể từ ngày tôi lấy anh,
Anh bảo tôi rằng : chẳng biết chữ
gì.
Tôi chỉ biết một tiếng « phán sì
» là củ khoai lang.
118. Kềnh nghê vui thú kềnh
nghê,
Cá tôm thì lại vui bề cá tôm.
119. Kiếm nơi cha thảo mẹ hiền,
Gửi thân khuya sớm, bạc tiền
không ham.
120. Khuyên anh đi lính cho
ngoan,
Cho dân được cậy, cho quan được
nhờ.
Bao giờ nên đội, nên cơ,
Thì em sẽ quyết đợi chờ cùng anh.
121. Làm trai chí ở cho bền,
Chớ lo muộn vợ, chớ phiền muộn
con.
122. Làm trai lấy vợ
Sơn-đông,
Thịt xôi chẳng có, tiền chồng như
non.
123. Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được món
ngon.
124. Lạy cha ba lạy một quì,
Lạy mẹ bốn lạy, con đi lấy chồng.
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm
hồng.
Trước là đắc nghĩa cùng chồng,
Sau là họ mạc cũng không chê cười.
Con ơi ! nhớ bấy nhiêu lời.
125. Lâm chữ nghèo ít kẻ
vãng lai,
Không ai mà cậy làm mai nói nàng.
126. Lập đông gió lạnh như đồng,
Lạnh thì chịu lạnh, lấy chồng
cũng không.
Trai ơn vua chầu chực sân rồng,
Gái ơn chồng ngồi võng nuôi con,
Ơn vua xem trọng bằng non,
Ơn chồng như đức tổ tôn ghi truyền.
Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được của
ngon.
127. Lấy chồng làm lẻ khỏi
lo.
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.
128. Lấy chồng cờ bạc là
tiên,
Lấy chồng chè rượu là duyên nợ nần.
129. Lấy lính thì được ăn
lương,
Lấy thầy ăn óc, ăn xương gì thầy
?
Em đừng thấy lính mà khinh,
Lãnh-binh, Thống-chế, Tam-dinh một
dòng.
130. Lên rừng hóa hổ, về đồng
nội hóa long.
Trời xui đất khiến hai đứa con
dòng gặp nhau.
131. Liệu cơm em gắp mắm ra,
Liệu cửa liệu nhà em lấy chồng
đi.
Nữa mai quá lứa lỡ thì,
Cao thì chẳng tới, thấp thì chẳng
thông.
132. Liệu bề đát đặng thì
đươn,
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm
hồng.
Trước là đắc nghĩa cùng chồng,
Sau là họ mạc cũng không chê cười.
Con ơi ! nhớ bấy nhiêu lời.
125. Lâm chữ nghèo ít kẻ
vãng lai,
Không ai mà cậy làm mai nói nàng.
126. Lập đông gió lạnh như đồng,
Lạnh thì chịu lạnh, lấy chồng
cũng không.
Trai ơn vua chầu chực sân rồng,
Gái ơn chồng ngồi võng nuôi con,
Ơn vua xem trọng bằng non,
Ơn chồng như đức tổ tôn ghi truyền.
Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được của
ngon.
127. Lấy chồng làm lẻ khỏi
lo.
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.
128. Lấy chồng cờ bạc là
tiên,
Lấy chồng chè rượu là duyên nợ nần.
129. Lấy lính thì được ăn
lương,
Lấy thầy ăn óc, ăn xương gì thầy
?
Em đừng thấy lính mà khinh,
Lãnh-binh, Thống-chế, Tam-dinh một
dòng.
130. Lên rừng hóa hổ, về đồng
nội hóa long.
Trời xui đất khiến hai đứa con
dòng gặp nhau.
131. Liệu cơm em gắp mắm ra,
Liệu cửa liệu nhà em lấy chồng
đi.
Nữa mai quá lứa lỡ thì,
Cao thì chẳng tới, thấp thì chẳng
thông.
132. Liệu bề đát đặng thì
đươn,
Đừng gầy mà bỏ thói thường cười
chê.
Muốn cho tốt rể tốt dâu,
Xin anh bỏ lễ trầu cau cho tròn.
133. Linh đinh một chiếc
thuyền tình,
Mười hai bến nước biết gởi mình về
đâu.
134. Linh đinh chiếc bách giữa
dòng,
Thương thân góa bụa phòng không lỡ
thì.
Gió đưa cây trúc ngã quì,
Ba năm trực tiết còn gì là xuân ?
135. Lọng vàng che nải chuối
xanh,
Tiếc con chim phượng đậu nhành
tre khô.
136. Lộc còn ẩn bóng cây
tùng,
Thuyền không đợi khách anh hùng
vãng lai.
137. Lửa nhen vừa mới bén trầm,
Trách lòng cha mẹ nỡ cầm duyên
con.
138. Lựa được con dâu sâu
con mắt,
Mua heo lựa nái, mua gái chọn
dòng.
139. Mẫu đơn nở cạnh nhà thờ,
Đôi ta trinh tiết đợi chờ lấy
nhau.
140. Mấy năm trời qua tưởng
xa em,
Nào hay trời định em với anh cang
thường.
142. Mẹ già như chuối chín
cây,
Sao đấy chẳng liệu cho đây liệu
cùng.
143. Mẹ cha chi rứa mẹ cha,
Nơi xa không gả, nơi xa đem vào.
144. Mẹ mong gả thiếp về giồng,
Ăn bông bí luộc, dưa hồng nấu
canh.
145. Mẹ sắm cho em cái yếm
nhất phẩm hồng,
Thắt lưng đũi tím, nhẫn đồng đeo
tay.
146. Mẹ em cấm đoán em chi,
Để em sắm sửa, em đi lấy chồng,
Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
Bỏ công trang điểm má hồng răng
đen.
147. Mẹ ơi con chẳng lấy
dân,
Dù xa dù gần lấy khách mà thôi.
Lấy khách được mặc áo đôi,
Được đi giày đỏ, được ngồi ghế
cao.
- Thà rằng ăn cá diếc chôi,
Chẳng thà lấy khách có đuôi trên
đầu.
148. Mình rằng : mình chỉ lấy
ta,
Ta đi xuống chợ mua gà xem chân.
Một chân xem cửa, xem nhà,
Một chân xem lứa bạn ta thế nào.
149. Một cành tre, năm bảy
cành tre,
Lấy ai thì lấy chớ nghe họ hàng.
150. Một cành dâu, năm bảy
cành dâu,
Bên tài, bên sắc lấy nhau cũng vừa.
151. Một ngày đứng mũi thuyền
rồng,
Còn hơn chín tháng ở trong thuyền
chài.
152. Một là em lấy chồng
quan,
Hai là chồng lính, ba là chồng
dân.
Nhưng em không chịu lấy thằng đần,
Về nhà cha mẹ chửi, ra đường
chúng bạn khinh.
153. Một trăng là mấy Cuội
ngồi,
Một gương Tư-mã mấy người soi
chung ?
Một đôi cho đáng một đôi,
Anh thì sứt mũi, chị tôi lẹm cằm.
154. Một năm chưa dễ máy
xuân,
Gái kia chưa dễ mấy lần đưa dâu.
Chẳng tham ruộng cả, ao sâu,
Tham về anh tú lắm râu mà hiền.
Chẳng tham ruộng cả, ao liền,
Tham về cái bút cái nghiên anh đồ.
155. Một đời được mấy anh
hùng,
Một nước được mấy đức ông trị vì.
Anh đừng cợt ghẹo em chi,
Em đang chắp chỉ chọn ngày cải
hoa.
Tin lên Thiên-thượng, Hằng-nga,
Cậy ông Nguyệt-lão với bà
Tơ-vương.
Chăn loan, gối phượng sẵn sàng,
Màn đào rủ dọc, lầu hồng dãi
ngang.
Còn đang chọn đá thử vàng,
Ngọc lành ai quảy ra đàng bán
rao.
Quan quan bốn tiếng thư cưu,
Mong người quân tử hảo cầu kết
duyên.
Phấn son cho phỉ tấm nguyền,
Anh hùng sánh với thuyền quyên mới
tình.
Phạt-kha thơ ấy rành rành,
Phỉ-môi bất đắc xin anh liệu tường.
156. Một mình lo bảy, lo ba.
Lo cau trổ muộn, lo già hết
duyên.
157. Một vũng nước trong năm
bảy dòng nước đục,
Một trăm người tục một chục người
thanh.
Biết đâu nhơn đạo hiền lành,
Trao thân gởi phận mới đành dạ
em.
158. Mua cau chọn những buồng
sai,
Mua trầu chọn những trăm hai lá
vàng.
Cau tiện ngang, trầu vàng ngắt ngọn,
Thời buổi nầy kén chọn làm chi,
Sao em chẳng lấy chồng đi.
159. Mua cá thì phải coi
mang,
Mua bầu xem cuống mới toan không
nhầm.
160. Mua cam thì chọn lấy
cam,
Lấy chồng thì chọn trưởng nam cho
giàu.
161. Muôn nghìn chớ lấy kẻ
La,
Cái tương thì thối, cái cà thì
thâm.
162. Muốn cho no vợ đủ chồng,
Để mà kết tóc trông mong ở đời.
163. Muốn cho gần bến gần
thuyền,
Gần bác, gần mẹ, nhân duyên cũng
gần.
164. Mưa lâm râm ướt đầm lá
hẹ,
Tôi thương một người có mẹ, có
cha.
165. Mười giờ ông Chánh về
tây,
Cô ba ở lại lấy thầy Thông-ngôn.
- Thông-ngôn, ký lục bạc chục
không thèm màng,
Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ
tay.
166. Nay mừng anh chị tốt
đôi,
Mong cho có cháu để tôi cho vòng.
167. Năm voi anh đúc năm
chuông,
Năm cô anh đóng năm giường bình
phong.
Còn một cô bé chửa chồng,
Lại đây anh kén cho bằng lòng cô.
Một là ông Cống, ông Đồ,
Hai là ông Bát, ông Cửu, ông Đô
cũng vừa.
Giả ơn bà Nguyệt, ông Tơ,
Sớm đi cầu Thước, tối mơ mộng
hùng.
Cho mau cửa lại treo cung,
Để cho cô bế, cô bồng, cô ru.
Cô ru rằng :
Con lẫy, con bò, con chững, con
đi.
Ngày sau con cả lớn khôn,
Con học, con thi, nhảy ba tầng
sóng kinh kỳ khai nhan.
168. Nắm tóc ngôi, tóc ngôi
dài,
Nắm tóc mai, tóc mai cụt.
Cầu trời, khẩn bụt cho tóc mai
dài.
Bao giờ tóc chấm ngang vai,
Thì ta kết ngãi làm hai vợ chồng.
169. Nuôi con những tưởng về
sau,
Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải
nơi.
Mực đen vô giấy khó chùi,
Vợ chồng chồng vợ việc đời trăm
năm.
170. Nuôi lợn thì phải vớt
bèo,
Lấy chồng thì phải nộp cheo cho
làng.
171. Nước đứng mà đựng chậu
thau,
Cái mâm chữ triện đựng rau thài
lài.
Tiếc thay con người da trắng tóc
dài,
Bác mẹ gả bán cho người đần ngu,
Rồng vàng tắm nước ao tù,
Người khôn ở với người ngu nặng
mình.
172. Nước lên cuốn sáo nhổ
đăng,
Trong tay em có ngọc cũng không bằng
có anh.
173. Nước trong veo, bao giờ
có cá,
Nàng lỡ thời tại má với cha.
Kén sui kén rể lọc lừa,
Nên em hiu quạnh cũng vừa phần
duyên.
174. Ngày nào em bé cỏn con,
Bây giờ em đã lớn khôn thế nầy.
Cơm cha, áo mẹ, công thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước
ao.
175. Nghìn muôn chớ lấy học
trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.
- Hay nằm thì có võng đào,
Dài lưng thì có áo trào nhà Vua.
Hay ăn thì có thóc kho,
Việc gì mà chẳng ăn no lại nằm.
176. Người ta câu bể, câu
sông,
Tôi đây câu lấy con ông cháu bà.
Có chồng thời nhả mồi ra,
Không chồng em cắn em tha lấy mồi.
177. Người ta lên núi thì
vui,
Sao tôi lên núi những chui cùng
trèo.
Gập ghềnh hòn đá cheo leo,
Biết đâu quân tử mà gieo mình
vào.
178. Người ta chọn cá nấu
canh,
Em đây chỉ chọn một anh tượng đồng.
179. Nhà ta ba bốn chị em,
Mẹ ta còn thèm một chú rể xa.
Ta về ta bảo mẹ ta,
Rể gần cho ruộng, rể xa cho tiền.
180. Nhà tôi có dãy vườn hoa,
Có ba dãy nhãn, có ba dãy vườn,
Dù anh đi sớm về trưa,
Sao anh chẳng nghĩ dãy dừa nhà
tôi.
Sao anh chẳng đứng, chẳng ngồi,
Hay là anh phải duyên ai anh buồn.
Anh buồn anh lại đi buôn,
Còn tiền lấy vợ anh buồn làm chi
?
181. Như anh có muốn gần em,
Mâm trầu hũ rượu khá đem tới nhà.
182. Ở đời ba bảy đường chồng,
Miễn sao chọn được một lòng là
hơn.
183. Phải duyên hương lửa
cùng nhau,
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.
184. Phải duyên Hồ-Việt cũng
gần,
Trái duyên Tần Tấn dẫu gần cũng
xa.
185. Phải duyên áo rách cũng
màng,
Chẳng phải duyên, áo nhiễu nút
vàng không ham.
186. Phải chi anh chưa vợ,
Hãy còn nợ còn duyên,
Em cũng cậy yên như thuyền cậy
lái.
Ai ngờ phận gái như lái nghịch
chèo.
Thôi anh phải giữ lấy lèo,
Đừng ham thả lỏng hiểm nghèo có
khi.
187. Phận gái bến nước mười
hai,
Gặp nơi trong đục may ai nấy nhờ.
188. Phụ mẫu em không có con
trai,
Kiếm nơi rể thảo một mai phượng
thờ.
Không con trai thời có cháu trai,
Phận anh là rể đứng ngoài ngó vô.
189. Quyết lòng chờ đợi trò
thi,
Dầu ba mươi tuổi lỡ thì cũng ưng.
190. Rồi đây ta kiện ông Tơ,
Nơi thương không vấn, vấn vơ nơi
nào.
191. Ruộng ai thì nấy đắp bờ,
Duyên ai nấy chọn đừng chờ uổng
công.
192. Rượu lưu ly chân quì
tay rót,
Cha mẹ uống rồi, dời gót theo
anh.
193. Rượu hồng đào trút nhào
vô nhạo,
Kiếm nơi nào nhơn đạo hơn anh.
194. Sáng trăng suông, sáng
cả bờ sông,
Ta được cô ấy, ta bồng ta chơi.
Ta bồng, ta tếch lên trời,
Hỏi ông Nguyệt-lão tốt đôi chăng
là ?
195. Sông sâu nước đục lờ đờ,
Cắm sào mà đợi bao giờ cho trong.
196. Sông sâu cá lội biệt
tăm,
Chín tháng cũng đợi, mười năm
cũng chờ.
197. Sông bao nhiêu nước
cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng
lòng.
198. Sông sâu lối hiểm như vầy,
Ai xui em đến chốn nầy gặp anh,
Đào tơ sen ngó xanh xanh,
Ngọc lành còn đợi giá lành đẹp
duyên.
Cho hay tiên lại kiếm tiên,
Phượng hoàng chẳng chịu đứng chen
đàn gà.
199. Sông sâu cá lặn vào bờ,
Lấy ai thì lấy đợi chờ nhau chi.
200. Sông dài cá lội biệt
tăm,
Phải duyên chồng vợ ngàn năm cũng
chờ.
201. Sớm mai đi chợ Gò-vấp,
Mua một xấp vải,
Đem về con hai nó cắt,
Con ba nó may,
Con tư nó đột,
Con năm nó viền,
Con sáu đơm nút,
Con bảy vắt khuy,
Anh bước cẳng ra đi,
Con tám níu, con chín trì,
Ớ mười ơi, sao em để vậy còn gì
áo anh ?
202. Tài trai lấy năm, lấy bảy,
Gái chín chuyên chỉ lấy một chồng.
203. Tại chim điểu nó biểu
chim quỳnh,
Biểu to, biểu nhỏ, biểu mình
thương tui.
204. Tay cầm nhành dứa, lụy ứa
đôi hàng,
Thuở xuân xanh không gặp để hoa
tàn gặp em.
205. Tiếc thay cây quế giữa
rừng,
Để cho thằng Mán thằng Mường nó
leo.
206. Tiếc thay hột gạo trắng
ngần,
Đã vo nước đục, lại vần lửa rơm.
207.Tình thương quán cũng như
nhà,
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói
xây.
208. Tốt số lấy được chồng
chung,
Lương vua khỏi đóng, áo chồng khỏi
may.
209.Thà rằng làm lẽ thứ mười,
Còn hơn chánh thất những người đần
ngu.
210. Thắp hương vái với ông
bà,
Đôi ta kết ngãi đến già an cư.
211. Thân em chẳng đáng mấy
tiền,
Vì tình em nặng, mấy nghìn cũng
mua.
212. Thân em như hạt mưa
rào,
Hạt sa bãi cát, hạt vào vườn hoa.
Thân em như hạt mưa sa.
Hạt vào đồng nội, hạt ra vũng lầy.
213. Thẩn thơ đứng gốc mai
già,
Hỏi thăm ông Nguyệt có nhà hay
không ?
214. Thấy anh em cũng muốn
theo,
Em sợ anh nghèo, anh bán em đi.
Lấy anh em biết ăn gì,
Lộc sắn thì chát, lộc si thì già.
215. Thôi đừng lấy chú biện
tuần,
Tuy lòng bóng bẩy, nợ nần chứa
chan.
Thà rằng lấy chú xẩm xoan,
Công nợ chẳng có, hát dàn cung
mây.
216. Thờ cha kính mẹ đã
đành,
Theo đôi, theo lối mới thành thất
gia.
217. Thuyền em lựa bến cắm
sào,
Em chờ phụ mẫu định nơi nào sẽ
hay.
218. Thứ nhất cung voi ra
na,
Thứ nhì đất đỏ, thứ ba khoa
tràng,
Rủ nhau lên núi đốt than.
Anh trèo Tam-điệp em mang nón
giành.
Ăn chanh ngồi gốc cây chanh,
Lấy anh thì lấy, về Thanh không về.
219. Trai có tài nào lo ế vợ,
Gái có sắc nào sợ ế chồng,
Xin em giữ phận cho đồng,
Tình duyên dầu đứt, em chẳng hề
nhớ thương.
220. Trai tứ chiếng, gái
giang hồ,
Gặp nhau ta nổi cơ đồ từ đây.
221. Trai làm nên năm thê, bảy
thiếp,
Gái làm nên thủ tiết thờ chồng.
222. Trai chê vợ, mất của
tay không,
Gái chê chồng, một đồng thành bốn.
223. Trai giỏi giắn dễ lo ế
vợ,
Gái lịch xinh chẳng sợ ế chồng.
Khuyên em giữ phận cho đồng,
Chọn nơi phải đạo chỉ hồng sẽ xe.
224. Trai anh hùng gái thuyền
quyên,
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên
cỡi rồng.
225. Trai anh hùng gái thuyền
quyên,
Ví như Lữ-Bố Điêu-Thuyền gặp
nhau.
226. Trai làng ở góa còn
đông,
Cớ sao em lại lấy chồng ngụ cư.
- Ngụ cư có thóc cho vay,
Có lụa bán đầy, em lấy ngụ cư.
227. Trăm năm trăm tuổi may
rủi một chồng,
Dù ai thêu phượng vẽ rồng đừng
ham.
228. Trăm năm tính cuộc
vuông tròn,
Phải dò cho hết ngọn ngành lạch
sông.
229. Trăm năm xe sợi chỉ hồng,
Bắt người tài sắc buộc trong
khuôn trời.
Bao giờ tài sắc có lời,
Thì ta lại cỡi khuôn trời cho ra.
230. Trăm năm, trăm tuổi,
trăm chồng,
Hễ ai có bạc thì bồng trên tay.
Trăm năm, trăm tuổi, trăm chồng,
Đẹp duyên thì lấy chẳng ông tơ hồng
nào xe.
231. Trắng như bông lòng anh
không chuộng,
Đen tợ than hồng lòng muốn dạ
ưng.
232. Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia không vợ khi nào có con.
Người ta con trước con sau,
Thân anh không vợ như cau không
buồng.
Cau không buồng ra tuồng cau đực,
Trai không vợ cực lắm anh ơi.
233. Trầu vàng ăn với cau
sâu,
Lấy chồng thua bạn thêm sầu mà
hư.
234. Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia không vợ đời nào có con.
Người ta con trước con sau,
Thân anh không vợ như cau không
buồng.
Cau không buồng như tuồng cau đực,
Trai không vợ cực lắm anh ơi.
Người ta đi bốn về đôi,
Thân anh đi lẻ về loi một mình.
235. Trầu vàng còn để trong
cơi,
Anh kia đũa móc chớ chòi mâm son.
Trầu vàng đâu ở mãi trong cơi,
Sợ mai trầu héo, trầu ơi là trầu
!
236. Trầu đà có đây, cau đã
có đây.
Nhân duyên chửa định trầu nầy ai
ăn.
Trầu này, trầu túi, trầu khăn,
Cùng trầu giải yếm, anh ăn trầu
nào ?
237. Trèo lên Ba-dội tôi
coi,
Bốn dội tôi ngồi, năm dội tôi
trông.
Nồi đồng lại úp vung đồng,
Con gái xứ Huế lấy chồng Đồng-nai,
Giậm chân xuống đất kêu trời,
Lấy chồng trong Quảng biết đời
nào ra.
238. Trên trời băm sáu vì
sao,
Vì thấp là vợ vì cao là chồng.
Cô kia gái lớn ngồng ngồng ?
Hỏi thăm cô đã có chồng hay chưa
?
239. Trên rừng băm sáu thứ
chim,
Thiếu gì chim phượng đi tìm quạ
khoang.
Quạ khoang có của có công,
Tuy rằng chim phượng nhưng không
có gì ?
240. Trong làng bà tú, bà
cai,
Có khôn thì lấy vợ hai cho chồng.
241. Tròng trành như nón
không quai,
Như thuyền không lái, như ai
không chồng.
Gái có chồng như gông đeo vào cổ,
Trai không vợ như phản gỗ long
đanh.
Gái không chồng chạy ngược chạy
xuôi.
Không chồng khổ lắm chị em ơi!.
242. Trời mưa nước chảy qua sân,Em lấy chồng ông lão qua lần thì thôi.Bao giờ ông lão chầu trời,Thì em lại kiếm một người trai tơ.243. Ước gì cho Bắc họp Đông,Cho chim loan phượng ngô đồng sánh đôi.244. Vái trời cưới được cô năm,Làm chay bảy ngọ mười lăm ông thầy.245. Vái ông tơ một dĩa bánh bò bông,Cùng bà Nguyệt-lão gắng công xe giùm.246. Vắn tay vói chẳng tới kèo,Cha mẹ anh nghèo cưới chẳng đặng em.247. Vì dây thiên lý ngang trời,Để cho tài tử gặp người giai nhân.248. Ví dầu nhà dột cột xiêu,Anh đi cưới vợ phải chiều ông mai.249. Vô duyên mới lấy chồng khòm,Mai sau nó chết cái hòm khum khum.250. Vừa đi, vừa gặp em đây,Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần.251. Vườn em đã có choẻn cau,Nhà anh có chiếc cơi son đợi chờ.Anh về thưa mẹ với thầy,Anh sang làm rể tết nầy là xong.252. Xấu tre uốn chẳng nên cần,Xấu mai nên chẳng đặng gần với em.253. Xấu dao xắt chẳng mỏng gừng,Xấu người mai chước lỡ chừng đôi ta.254. Xưa nay những bạn má hồng,Thà hầu quân tử hơn chồng đần ngu.c) TÍNH CHẤT HỜN DỖI, GHEN TƯƠNG CỦA BẢN NĂNG CON NGƯỜITrước đây, chúng ta đã xác định sự luyến ái là tính chất con người, mà quan niệm hôn nhân là bước đường cá nhân từ con người đi vào xã hội. Ngược lại, xã hội cũng ảnh hưởng vào đời sống con người trước nhất từ quan niệm hôn nhân, tức là ý thức cấu tạo gia đình, lần lần đưa con người vào nhịp sống hòa hợp trong guồng máy tập thể.Tuy nhiên, quan niệm hôn nhân cũng chỉ mới là phần ý thức, chịu ảnh hưởng sự phân hóa giữa con người và xã hội chứ chưa phải là phần thực trạng của sự phân hóa ấy. Phần thực trạng của sự phân hóa chính là cuộc đời.Vậy cuộc đời là gì?Nói một cách vắn tắt thì nó là trạng thái mâu thuẫn giữa con người với con người trong tâm tư cũng như ngoài hành động. Sự mâu thuẫn ấy chằn chịt muôn mặt, và phát sinh đủ mọi biến thái. Nhưng, nếu chúng ta truy nguyên thì nguồn gốc phát sinh vẫn là sự mâu thuẫn giữa con người và cuộc sống.Vậy, tại sao con người lại phải mâu thuẫn với cuộc sống con người ? Muốn phân định điều này, chúng ta phải bước vào lãnh vực triết học. Ở đây, vì là quyển sách khảo cứu văn học, không cho phép chúng ta vượt quá xa trong phạm vi tham luận. Nhưng nếu chúng ta buông lửng vấn đề thì chúng ta phải gặp trở ngại khi khảo sát đến tâm tư con người và mọi hiện tượng của sinh hoạt con người trong lẽ sống. Để có một ý niệm làm căn bản cho chiều hướng suy cứu, chúng ta thử đặt ở đây một khái niệm tổng quát.Xưa nay, không phải chỉ những nhà triết học mới quan niệm con người là thân phận bi đát, mà chính những người bình dân sống trong đồng không mông quạnh, bên lũy tre xanh, bên dòng suối bạc, vẫn thấy đời người là một kiếp sống khổ cực về thể xác mà cả đến tâm hồn, chẳng bao giờ được thỏa mãn. Sở dĩ họ cảm thấy như vậy là vì từ lúc họ sinh ra cho đến lúc họ chết đi, lúc nào những ưu tư cũng đè nặng trên tâm hồn họ, mà trước mặt họ, đối với mọi người cũng thế, ngoài những cảnh giành giựt nhau để mà sống, cướp đoạt nhau để mà thụ hưởng thì chẳng có gì là cao đẹp. Thế thì họ bảo thân phận con người là bi đát, cuộc đời là bể khổ tưởng không phải vô lý.Tuy nhiên, đó là họ đứng trong con người mà nhìn xã hội con người. Nếu họ bước ra ngoài phạm vi con người, và đừng đặt con người trước vũ trụ, mà đặt con người trong vũ trụ thì họ sẽ thấy chẳng phải chỉ có cuộc sống con người là bi đát, mà tất cả muôn loài, vạn vật đều chịu chung ảnh hưởng của vũ trụ. Vũ trụ là một hiện tượng mâu thuẫn, trong đó bao gồm con người và sinh hoạt của con người. Con người không thể đặt mình ra ngoài vũ trụ, thì sự mâu thuẫn giữa con người và xã hội con người là việc tất yếu. Sở dĩ chúng ta cảm thấy đau khổ chỉ vì chúng ta là con người, một sinh vật có tâm tư.Tiếng nói đau khổ của tâm tư tràn ra mọi lãnh vực trong cuộc sống, nối tiếp thành một vòng lịch sử tâm tư của nhân loại. Tuy nhiên, nếu trở về với căn nguyên thì cũng chỉ là sự mâu thuẫn trên hai dòng lịch sử con người và xã hội con người.Nguồn gốc mâu thuẫn trong tâm tư con người đi vào xã hội khởi đầu từ luyến ái đến hôn nhân, rồi từ hôn nhân biến thành những thực trạng xã hội tức là cuộc đời.Trong phần này chúng ta khảo sát tính chất hờn dỗi, ghen tương của con người bình dân thời xưa tức là chúng ta mổ xẻ những mâu thuẫn căn bản trong tâm tư con người khi bước vào thực trạng của lẽ sống.Hờn dỗi, ghen tương là trạng thái phản ứng đầu tiên để đi dần đến bất mãn và hành động, nó phát xuất từ ý thức tự ái, tự kỷ.Nhưng thế nào là tự ái, tự kỷ.Con người cũng như mọi sinh vật khác đều ảnh hưởng vào qui luật tất yếu là mỗi cá thể đều vươn lên để tranh đấu tự tồn.Con muỗi, con kiến, con ong đốt chúng ta không phải vì thù oán, mà chính vì quy luật tranh đấu tự tồn. Chúng ta thương một người nào, hoặc ghét một người nào cũng không phải tự nhiên mà có, nó phát xuất ở bản tính thiên nhiên, tức là sự mong muốn đi tìm một sức sống.Chúng ta không thể vui với một mùa đông gió mưa tầm tã, cũng như không thể không cảm hứng trước một cảnh đẹp huy hoàng. Bản chất tự ái, tự kỷ gắn liền với ngoại cảnh, với mọi sinh hoạt chung quanh ta. Những sinh hoạt ấy ảnh hưởng vào tâm hồn chúng ta không phải ít. Tuy nhiên, chúng ta lại thấy có những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp.Trong lãnh vực hôn nhân và luyến ái cũng vậy, bản chất ghen tương hờn dỗi luôn luôn là những trạng thái bênh vực lẽ sống của cá nhân mình, của tâm tư mình, mà mỗi cá nhân, mỗi tâm tư khi đã bị đời sống xã hội chi phối thì trở thành cách biệt và tương phản.Chúng ta cầm một đồng bạc cho người ăn mày, đừng tưởng chúng ta thương người ăn mày ấy, mà chính chúng ta đã tự thương mình. Bởi vì tình thương chúng ta đối với người ăn mày phát xuất trước tiên bằng một cảm giác so sánh. Chúng ta nhìn người ăn mày, chúng ta nghĩ đến thân mình, tuy rằng cảm giác so sánh ấy biểu hiện không rõ rệt trong đầu óc chúng ta do một thói quen về cử chỉ từ thiện. Và, mọi hành động, mọi ý nghĩ, mọi cảm giác của chúng ta hằng ngày không bao giờ thoát ra ngoài bản chất tự ái, tự kỷ của con người được. Bản chất ấy cũng là bản chất thương, ghét, giận, hờn của chúng ta.Từ ngàn xưa, tiền nhân chúng ta tuy không biện bạch, nhưng cũng đã quan niệm một cách xác đáng tính chất căn bản của tình cảm con người trong những câu ca dao :Ớt nào mà ớt chẳng cay,Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.Vôi nào mà vôi chẳng nồng,Gái nào là gái có chồng không ghen ?Tại sao đàn bà lại phải ghen chồng ? Tại sao tâm trạng người đàn bà lại giống nhau một cách cố định trong lãnh vực này ?Thực ra, nếu chúng ta tìm được căn bản mâu thuẫn của tâm tư con người bắt đầu đi vào đời bằng quan niệm hôn nhân thì chúng ta không lấy gì làm lạ trước trạng thái cố định ấy.Ghen là gì ? Phải chăng là cảm giác bất mãn trên con đường từ luyến ái đến hôn nhân ? Sở dĩ đàn bà ai cũng phải ghen chồng là vì họ đều là con người. Căn bản của con người không khác gì cả. Căn bản ấy va chạm với cuộc sống trở thành một hiện tượng mâu thuẫn, con người vẫn giống nhau, tức là ai cũng yêu và ghen.Ghen mới chỉ là cảm giác chứ chưa phát lộ ra tâm tư. Cũng như mâu thuẫn chỉ mới là trạng thái tự nhiên của lẽ sống chứ chưa phát lộ ngoài sinh hoạt. Từ cảm giác đi đến tâm tư, từ trạng thái mâu thuẫn tự nhiên phát lộ ra sinh hoạt xã hội, thì đó mới là bộ mặt của cuộc đời.Cho nên tính chất con người thì ai cũng giống nhau, nhưng tính chất cuộc đời thì không một ai giống nhau. Bởi vì khi con người đã hòa vào cuộc sống, tính chất con người bị chi phối rất nhiều mặt, do đó, đứng vào quan điểm xã hội nhìn con người thì giữa con người rất khác biệt.Cũng như chúng ta nhìn vào ý thức, thì trong lãnh vực luyến ái và hôn nhân không người đàn bà nào khỏi ghen chồng, nhưng nếu nhìn vào tâm tư thì không có cái ghen của người đàn bà nào giống người đàn bà nào cả.Nhưng, người đàn ông và người đàn bà vẫn là con người, tại sao chỉ có người đàn bà ghen chồng, còn người đàn ông lại không ghen vợ ư?Không ai dám phủ nhận người đàn ông không ghen vợ. Tình cảm con người vẫn là một, chỉ khác là ở lãnh vực tâm tư. Người xưa sở dĩ không nói đến đàn ông ghen vợ là vì họ chỉ nhìn vào chiều hướng tâm tư, tức là bộ mặt của cuộc đời trong lãnh vực hôn nhân và luyến ái. Ở lãnh vực này, sự ghen tương của người đàn bà biểu hiện một cách đặc biệt hơn, dễ thấy hơn do tâm tư họ bị ràng buộc vào tổ chức của guồng máy xã hội phong kiến.Ở đây, chúng ta khảo sát tính chất ghen tương, hờn dỗi của người xưa, cũng chỉ khảo sát những tính chất đặt biệt ấy. Bởi vì chỉ có sự diễn biến tâm tư con người trong cuộc sống mới là điều đáng nói.Tâm tư ! Lịch sử tinh thần của nhân loại ! Nếu tách rời khỏi cuộc sống thì không còn xã hội loài người nữa. Trong phạm vi hôn nhân và luyến ái, tâm tư con người đi từ ghen tương đến hờn dỗi, và từ hờn dỗi biến thành nhiều trạng thái của tâm tư, khiến chúng ta không thể nào ghi trọn vẹn được.Hỡi bộ óc của loài người ! Ngày nay chúng ta tự hào là có thể dùng nó để khám phá vũ trụ, nhưng thử hỏi bộ óc loài người đã làm gì được những cái mà người xưa cho là khó khăn ?Thì đây, tiền nhân chúng ta đã bảo cho chúng ta biết :Dò sông, dò biển dễ dò,Nào ai lấy thước mà đo lòng người !Ngày nay chúng có những nhà bác học đang cỡi phi thuyền vượt quả đất lên cung trăng, đang chui vào tiềm thủy đỉnh du hành khắp đáy đại dương, nhưng thử hỏi các nhà bác học tài năng của thế hệ chúng ta đã đo được lòng người chưa ? Lòng con người có bao nhiêu chiều sâu, chiều rộng ?Ôi ! khi nói đến cõi lòng con người, nhà bác học của thế hệ chúng ta cũng phải mù tịt ! Bởi vì lòng người không thể dùng cây thước để đo lường.Nếu sự tiến bộ của khoa học chúng ta ngày nay cảm thấy xấu hổ trước một câu nói thường nghiệm của người ngàn xưa, thì chúng ta cũng chớ nên tự hào đối với bộ óc con ngườiChúng ta hãy trở về với tiền nhân, học hỏi ở tiền nhân trên con người. Tiền nhân chúng ta không ích kỷ, cũng không tự phụ như chúng ta ngày nay đâu. Điều khó khăn ấy, tiền nhân đã bảo chúng ta :Thức đêm mới biết đêm dài,Ở lâu mới biết ai ai bạc tình.Lòng người không thể đo bằng cây thước mà phải tìm hiểu bằng sự cọ xát giữa lòng người với lòng người qua thời gian. Chỉ có lòng người mới đo lường được lòng người. Nói một cách khác, tâm tư con người là một trạng thái biến ảo, mà chúng ta muốn hiểu nó, chúng ta phải dùng tâm tư của chúng ta hòa nhịp với trạng thái biến ảo ấy, không thể đứng khách quan bên ngoài mà nhận định nổi. Bởi vì tâm tư không còn là cảm giác mà cũng chưa thành là ý thức. Tâm tư là cái vùng ảnh hưởng giữa cảm giác và ý thức. Nó mênh mông và vô định. Đem cảm giác mà nói thì cảm giác chưa đạt đến vùng ảnh hưởng của tâm tư, đem ý thức phân tích thì ý thức lại là sản phẩm của bộ óc, vượt lên quá tầm ảnh hưởng của cảm giác đã bị chan hòa với lẽ sống. Cho nên chúng ta chỉ hình dung nó với một hình bóng lờ mờ, mà người xưa gọi là cõi lòng.Để cắt nghĩa thế nào là cõi lòng, cổ nhân đã cho chúng ta thấy :Khó than, khó thở, khó nỗi phân trần,Tóc không xe lại rối, ruột không giần lại đau !Đấy, hiện tượng của cõi lòng như vậy. Các nhà bác học thời nay có thể dùng tài khoa học xác định hình bóng của nó chăng ? Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một trong muôn nghìn hình tượng biến ảo, mà tầm mắt chúng ta dù có mở rộng đến bực nào cũng chẳng thể thu thập hết.Người xưa muốn tìm nó, không phải một sớm một chiều mà nói lên được hiện trạng ấy. Chính họ đã phải xả thân vào cuộc sống, đúc kết hình bóng của nó qua tâm tư bằng thời gian, không gian. Vậy, cõi lòng con người cũng chính là kết tinh của thời gian, không gian !Thực vậy, nếu thời gian và không gian biến đổi thực chất của con người từ cảm giác qua tâm tư, thì thời gian cũng chính là đối tượng của cõi lòng. Những ưu tư, những cảm nghĩ của cõi lòng con người không thể vượt ra ngoài thời gian, không gian được.Một mối sầu dằng dặc, chìm đắm trong tâm tư người cô phụ, nếu không thai nghén trong thời gian, không gian làm gì có những nhớ nhung, phiền muộn :Nhớ ai em những khóc thầm,Nằm thân áo vải ướt đầm như mưa !Nhớ ai, ra ngẩn vào ngơ,Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai ?Nhớ ai cơm chẳng buồn ăn,Hồ bưng lấy bát lại dằn xuống mâm !Chúng ta làm sao thông cảm được những nỗi buồn bực nhớ mong ấy nếu không nhờ vào khoảng thời gian không gian của cuộc đời chúng ta đúc kết trong tâm tư chúng ta một đau buồn tương tư. Vậy chỉ có lấy đau buồn mà hiểu đau buồn, tức là lấy tâm tư đo lường, thông cảm với tâm tư.Một giải trăng suông trong đêm trường cô tịch, nếu tâm hồn chúng ta suốt một thời gian chung đụng với cuộc sống không có một lần vương mang mối buồn dưới ánh trăng ấy, thì cũng không thể nào hiểu nỗi niềm tâm tư của cô gái sầu xuân :Đêm đêm ngồi tựa bóng đèn,Thở than với bóng, giải phiền với hoa.Nhưng chúng ta đã thấy rõ tính chất của tâm tư là một khoảng mung lung, biến ảo, thì chuyện trớ trêu của lòng người là chuyện dĩ nhiên ! Lòng người trớ trêu để trạng thái tâm tư biến đổi, và trạng thái tâm tư biến đổi để cho lòng người trớ trêu.Thời xưa, tiền nhân đã đổ lệ khóc cho lòng người. Dòng lệ ấy chảy dài đến thế hệ chúng ta mà vẫn chưa thôi. Ở đây, chúng ta phải trở ngược về nguồn, nhìn lại những chỗ uẩn khúc của dòng tâm tư, và chỉ có tâm tư chúng ta mới thông cảm một phần nào tâm tư của tiền nhân, bởi vì chúng ta với tiền nhân tuy xa cách về thời gian, nhưng lại cùng chung một dòng lịch sử.Giữa một xã hội bình dân, điều kiện kinh tế cho phép gái trai được gần gũi nhau, tự do luyến ái, lẽ ra tâm tư sầu muộn của người xưa không sâu sắc lắm, tính chất ghen tương không đến nỗi đậm đà, thế mà ngược lại, chúng ta vẫn thấy bao giờ cũng như bây giờ, bóng dáng con người trong lĩnh vực tình ái vẫn luôn luôn khắc khoải ! Điều đó, có lẽ người xưa cũng quan niệm như vậy, cho nên đã có ý tưởng :Đã mang lấy cái thân tằm,Không vương tơ nữa, cũng nằm trong tơ !Họ quan niệm tình ái như một yếu tố hờn dỗi, khổ đau, mà tâm trạng của những người đang yêu bao giờ cũng không tránh khỏi :Ai làm cho dạ em buồn,Cho con bướm lụy, chuồn chuồn lụy theo.Ai làm cho một cô gái buồn ! Tất nhiên là một chàng trai rồi ! Nhưng trong lãnh vực luyến ái, tâm hồn con người không bao giờ thấy mình được toại nguyện thì con gái cũng như con trai chưa hẳn ai đã buồn hơn ai.Nếu người con gái cảm thấy :Đêm qua em có ngủ đâu,Em ngồi nghe dế kêu sầu bên tai !Thì người con trai có khác gì :Đêm qua hết nhớ lại buồn,Nhớ buồn nghe dế kêu sương bên thành.Những buồn tủi giữa tâm hồn gái trai như một sự vừa giao cảm vừa mâu thuẫn. Giao cảm khi thấy trong tâm hồn mình chất chứa niềm luyến ái, và mâu thuẫn khi thấy trong tình luyến ái ấy chất chứa một sự bất mãn đối với tình yêu. Luyến ái càng tăng thì bất mãn càng nhiều. Bởi vậy trạng thái ghen tương là một trạng thái mâu thuẫn tương quan, nghĩa là vừa dung hợp vừa chống đối. Đó cũng chính là quy luật tự nhiên trong hiện tượng vũ trụ theo triết lý Đông-phương.Trước đây, chúng ta đã xác định ghen tương là một tính chất tự ái tự kỷ, thì dù người đàn ông hay đàn bà khi đã ghen, bao giờ cũng đứng vào tâm trạng ấy, xem đối tượng của tình yêu như là một phản bội, và tự đặt mình vào thân phận bi đát của ái tình. Nếu họ cảm thấy :Duyên sao cắc cớ lỡ làng,Cầm gương gương tối, cầm vàng vàng phai !Thì chính họ đã đem đau đớn riêng của tâm tư gắn vào ngoại cảnh, oán trách ngoại cảnh đã tàn nhẫn đối với thân phận họ. Nhưng ngoại cảnh bao giờ cũng khách quan, chỉ vì tâm tư họ tự thấy mâu thuẫn với khách quan mà họ đau khổ.Một con bướm hút nhụy hoa, đó là trạng thái tự nhiên của ngoại vật nhưng đối với một kẻ buồn khổ vì tình, khi nhìn cành hoa và cánh bướm, tính chất của họ đi từ cảm giác đến tâm tư, và họ cảm thấy đó là chuyện bất công, phi lý, và chính sự bất công, phi lý ấy đang đè nặng trên thân phận. Họ oán trách :Khá khen con bướm khôn ngoan,Hoa tươi bướm đậu, hoa tàn bướm bay !Mang tâm trạng vị kỷ ấy, con người lao mình vào thực trạng xã hội thì thực trạng xã hội lại rất phũ phàng. Bởi vì thực trạng xã hội là guồng máy chung của loài người, của dân tộc, không còn tính cách cá nhân nữa, cho dù bản chất cá nhân bị bản chất tập thể phủ nhận.Dù vậy, tham vọng cá nhân trong tính chất vị kỷ vẫn luôn luôn đòi hỏi và tranh đoạt những dục vọng cho mình, mà càng tranh đoạt, cá nhân mình càng cảm thấy mất mát, thiếu thốn.Một nhà đạo đức học khi xét đến tâm tư con người đối với xã hội đã phải thở dài than « xã hội không làm cho lòng người đau khổ mà chính dục vọng cá nhân làm cho lòng người cảm thấy phũ phàng ».Dục vọng cá nhân là lòng tham không đáy của con người, dưới mắt nhà đạo đức học thì dục vọng cá nhân là cái gì xấu xa, đê tiện, nhưng dưới mắt nhà triết học thì dục vọng cá nhân là ý thức vươn lên của một cá thể đòi hỏi lẽ sống, nó nằm trong qui luật tất yếu không thể chối bỏ. Bởi vậy, tự ngàn xưa, con người đã bị phủ lên không biết bao nhiêu lớp đạo lý, mà con người vẫn tồn tại với ý thức dục vọng ấy. Mỗi con người trong chúng ta đều mang tính chất vị kỷ tất nhiên ai cũng muốn hưởng thụ hơn là hy sinh. Mà luật tạo hóa khi một kẻ hưởng thụ tất phải có một kẻ hy sinh. Cho nên, kẻ bị đau khổ trong đời là kẻ bị hy sinh, bị tước đoạt tính chất vị kỷ của họ.Khi người đàn bà phê phán người đàn ông :Đàn ông một trăm lá gan,Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.Thì chính người đàn bà đã cảm thấy dục vọng cá nhân mình bị hy sinh. Họ đòi hỏi một khả năng thụ hưởng mà chính người đàn ông đã tước đoạt của họ.Dục vọng cá nhân lại chẳng bao giờ thỏa mãn khi một cá thể đang vươn lên tìm sức sống ! Nếu chúng ta nhìn vào vũ trụ, buồn chán trước những cành khô, lá rủ, những cánh hoa tàn, những ống xương khô đang mục rã qua thời gian, thì chính những dục vọng cá nhân là trạng thái tương phản, chống lại với những gì đang tàn tạ ! Khi dòng máu còn đang rào rạt trong huyết quản con người thì không một ảnh hưởng đạo lý nào đủ quyền lực buộc dòng máu ấy phải dừng lại. Cũng như một con sông, khi dòng nước đã ứ tràn thì dù bị địa thế cản trở, con sông ấy vẫn phải uốn mình để thoát đi. Đó chỉ là sức sống !Chính trong tâm hồn vị kỷ, người xưa cũng đã cảm thấy sức mạnh của nguồn sống ấy xuyên qua sự hờn dỗi của họ :Có mới thì nới cũ ra,Mới để trong nhà, cũ để ngoài sân !Hoặc : Nghĩa nhân mỏng dánhNhư cánh chuồn chuồn.Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay !Tâm tư con người luôn luôn đòi hỏi những mới lạ, và tìm đến những mới lạ ! Bởi vì mới lạ chính là ý nghĩa của cái sống !Một vũng ao tù hằng ngày chúng ta nhìn nó trong trạng thái cô đọng và cạn dần dưới sức nóng mặt trời, chúng ta không tìm thấy bên trong một sinh lực. Một mầm non hàng ngày chúng ta săm soi thấy mỗi sáng lớn thêm lên, chúng ta hình dung được sức phát triển nguồn sống nó. Thế thì tâm tư con người cũng vậy, khi sức sống đã chứa đựng trong cơ thể thì tâm tư tất phải ăn nhịp với nguồn sống của thể xác.Sở dĩ lịch sử loài người không đứng yên một chỗ chính vì ý thức con người luôn luôn tìm kiếm những mới lạ, và trạng thái ấy đã đánh dấu sự sống của con người.Thời xưa, cổ nhân cũng đã tìm thấy bản chất của ý sống, và gởi gắm vào các câu ca dao như :Tới đây lạt miệng thèm chanh,Ở nhà đã có cam sành chín cây.Cam cũng chua, chanh cũng chua, nhưng cam không phải là chanh ! Ý thức con người không cắt nghĩa được sự đòi hỏi của lẽ sống, chỉ có người đang sống, vì chính con người đang sống ấy mới hiểu được bản chất của họ.Một cô giá hờn dỗi chế diễu một chàng trai :Đũa mun bịt bạc anh chê,Đũa tre lau cạnh anh mê nỗi gì ?Hoặc : Cam sành anh chê đắng, chê hôi,Hồng rim chê lạt, cháo bồi khen ngon !Thì cũng mới chỉ đứng trên quan điểm của bản chất xã hội mà chưa đứng trên quan điểm bản chất con người. Xã hội mặc dù thay đổi nhưng thay đổi trên dòng lịch sử giai cấp, nên quí vật được tôn thờ trên truyền thống, còn đối với sự thay đổi của bản chất con người không thể đánh giá bằng quí vật của xã hội được.Chính bản chất con người như vậy, nên trong lãnh vực luyến ái và hôn nhân nẩy sinh không biết bao nhiêu cảnh huống dị thường.Khi đặt mình vào lãnh vực luyến ái, không ai nghĩ đến chung thủy. Nhưng chung thủy tức là duy trì, là giữ lại khả năng phát triển của lẽ sống, mà điều đó, theo qui luật thiên nhiên của bản chất con người là điều trái ngược. Cho nên ái tình duy lý bị phá vỡ, và những kẻ nào đứng trên quan điểm ái tình duy lý đều thấy lòng người là một cái gì bội bạc, phản phúc. Chúng ta không thể không cảm động trước một lời rên siết của cô gái xưa :Nào khi anh bủng anh beo,Tay bưng chén thuốc, tay đèo muối chanh.Bây giờ anh mạnh, anh lành,Anh ham nhan sắc, anh đành phụ tôi !Thật chua chát, đắng cay ! Nếu bảo con người là một sinh vật có trí khôn, có lý trí, thì tại sao có thể tàn nhẫn như thế được ! Tại sao tình cảm của họ không gắn liền với muối chanh, với chén thuốc, với sự săn sóc của người đàn bà đã chịu khổ với họ ! Tuy nhiên, tính chất của con người đối với sự sống đã làm cho họ không còn giữ được đạo lý ! Họ đã chạy theo sức sống của con người, mãnh lực của thụ hưởng.Chẳng những đối với người đàn ông, người đàn bà cũng không khỏi qui luật tự nhiên ấy :Có oản em tình phụ xôi,Có cam phụ quýt, có người phụ ta.Có quán em phụ cây đa,Ba năm quán đổ, cây đa hãy còn.Có mực em tính phụ son,Có kẻ đẹp dòn, em phụ nhơn duyên.Có bạc em tính phụ tiền,Có nhân nghĩa mới quên người tình xưa !Hỡi Tạo-Hóa ! Tạo-Hóa đã phú cho con người có được một tình cảm vô biên, một tinh thần kiêu hãnh trên mọi sinh vật khác, nhưng Tạo-Hóa cũng lại không cho con người thoát ra ngoài qui luật tất yếu của muôn loài, và gây cho loài người những mâu thuẫn giữa tâm tư và bản ngã.Chính con người đã đau khổ trên chiều hướng mâu thuẫn ấy :Một thương, hai nhớ, ba sầu,Ăn cơm chẳng được, ăn trầu ngậm hơi.Nỗi buồn tê tái của con người chẳng những chất chứa trong tâm hồn mà còn tràn ra cảnh vật để giao cảm với thiên nhiên.Đợi chàng không thấy chàng đâu,Bóng trăng đủng đỉnh ra màu cợt trêu !Hoặc : Kiểng xa bồn kiểng lại không xanh,Anh rầu người bất nghĩa, cơm canh bỏ liều !
Chúng ta cầm một đồng bạc cho người ăn mày, đừng tưởng chúng ta thương người ăn mày ấy, mà chính chúng ta đã tự thương mình. Bởi vì tình thương chúng ta đối với người ăn mày phát xuất trước tiên bằng một cảm giác so sánh. Chúng ta nhìn người ăn mày, chúng ta nghĩ đến thân mình, tuy rằng cảm giác so sánh ấy biểu hiện không rõ rệt trong đầu óc chúng ta do một thói quen về cử chỉ từ thiện.
Dục vọng cá nhân là lòng tham không đáy của con người, dưới mắt nhà đạo đức học thì dục vọng cá nhân là cái gì xấu xa, đê tiện, nhưng dưới mắt nhà triết học thì dục vọng cá nhân là ý thức vươn lên của một cá thể đòi hỏi lẽ sống, nó nằm trong qui luật tất yếu không thể chối bỏ. Bởi vậy, tự ngàn xưa, con người đã bị phủ lên không biết bao nhiêu lớp đạo lý, mà con người vẫn tồn tại với ý thức dục vọng ấy.
Khi đặt mình vào lãnh vực luyến ái, không ai nghĩ đến chung thủy. Nhưng chung thủy tức là duy trì, là giữ lại khả năng phát triển của lẽ sống, mà điều đó, theo qui luật thiên nhiên của bản chất con người là điều trái ngược. Cho nên ái tình duy lý bị phá vỡ, và những kẻ nào đứng trên quan điểm ái tình duy lý đều thấy lòng người là một cái gì bội bạc, phản phúc.
Những nét buồn tê tái ấy cứ đeo đẳng mãi trên những hành động của bản ngã, và tâm tư con người đã phải điêu đứng. Tuy nhiên, con người vốn là một sinh vật có tư tưởng, muốn tránh những trạng thái khắc khoải vì bản ngã con người trong lẽ sống, nên cố tìm ra một đạo lý để ngăn chặn mọi dục vọng con người.Đạo lý buộc con người vào đạo nghĩa, vận dụng lý trí để kềm hãm bản năng thiên nhiên. Nhưng, nếu đạo lý kềm hãm được phần nào bản tính con người thì đạo lý cũng bị trở thành đối tượng mâu thuẫn với bản tính con người.Ai cũng thừa nhận đạo nghĩa là trọng trước quan niệm ái tình :Đạo vợ chồng không phải cá tôm,Đang mua mớ nọ lại chồm mớ kia !Tuy nhiên, đạo nghĩa chỉ đem lại cho tâm tư con người buồn tủi thêm. Bởi vì dục vọng con người không vì đạo nghĩa mà chịu nằm yên trong trạng thái bất động. Càng bị đè nén, dục vọng càng chỗi dậyĐây, chúng hãy nghe tiếng rên than của một nạn nhân :Đem em mà bỏ xuống gành,Kéo neo mà chạy sao đành anh ơi !Đêm đêm góc biển chân trời,Một mình em đứng em ngồi em nghe.Em nghe hết giọng con ve,Đến lời con cuốc gọi hè tiếc xuân !Chẳng biết ngôn ngữ loài người có đủ sức mạnh gieo vào tình cảm con người những đau thương, để cho dục vọng của bản năng con người vì thế mà kềm chế chăng ?Nhưng chắc là không ! Tiếng nói bi thảm của con người không đủ sức mạnh sửa đổi qui luật vũ trụ. Bởi vậy, mặc dù tự ngàn xưa, loài người đã vận dụng hết ngôn ngữ nói lên những đau đớn trong lãnh vực phụ tình, mà vẫn còn tiếp diễn mãi những cảnh :Khoác mùng ra thấy mùng không,Gối loan để đó, lệ hồng tuôn rơi !Hoặc : Đi đâu bỏ nhện giăng mùng,Bỏ đôi chiếu lạnh, bỏ phòng quạnh hiuHay : Đi đâu mà chẳng thấy về,Hay là quần tía dựa kề áo nâu !Đi đâu mà chẳng thấy về !Hay là ăn cận ngồi kề với ai ?Lý trí con người đã không thể dùng đạo nghĩa chế ngự bản năng, ngôn ngữ con người cũng chẳng đủ sức mạnh kềm hãm được dục tính, thế thì những đau khổ trong tâm tư đối với những kẻ bị tước đoạt sức sống trong lãnh vực ái tình phải làm sao ? Hiện tượng mâu thuẫn ấy đã đưa xã hội loài người đến một phương thức mới, đó là ý thức trả đũa.Ý thức hờn dỗi, ghen tương bắt đầu đi vào hành động, và sự đấu tranh về tình ái mang tính chất gay gắt hơn. Những tiếng rên than biến thành những lời căm hận :Hồi nào bậu nói với qua,Bậu không hái lựu bẻ đào :Lựu đâu bậu bọc, đào nào cầm tay ?Trăng tròn thì mặc trăng tròn,Bậu xinh mặc bậu ; bậu xằng anh chê !Trống không ai dám đánh thùng,Bậu không lang chạ, ai dám giở mùng chun vô.Từ trạng thái đau buồn đi đến căm hận, và từ căm hận, ý thức ái tình chung thủy tiến đến chỗ mất tin tưởng :Vợ ba con anh còn để bỏ.Huống chi nàng ngọn cỏ phất phơ.Ngọn cỏ phất phơ, ngọn cờ phơ phấtNồi đồng sôi, nồi đất cũng sôi,Đôi ta duyên mặn tình rồi,Bậu phân cho phải, lại rồi sẽ đi.Hoặc : Đánh liều nhợ đứt phao trôi,Đánh liều giấy ướt hồ rơi cho rồi.Nếu lịch sử xã hội loài người là một chuỗi đấu tranh về bạo lực kết tụ, thì lịch sử hôn nhân và luyến ái của loài người cũng là một chuỗi đấu tranh về tâm tư đúc kết và biến chuyển không ngừng.Cho nên những giọt nước mắt thấm đọng nơi cô phòng chưa thể làm lịch sử ái tình cho nhân loại, mà phải kể đến năng lực tranh đấu của ái tình phát hiện trong cuộc sống nữa.Năng lực ấy đã từ những giọt nước mắt kia kết tụ lại, biến thành sức chống đối mãnh liệt.Đây, chúng ta thử nhìn lại ở thế hệ xa xưa, sức chống đối đã vượt ra ngoài những tiếng rên rỉ :Đất xấu nắn chẳng nên nồi,Anh đi lấy vợ thì tôi lấy chồng.Anh đi lấy vợ cách sông,Tôi đi lấy chồng giữa ngõ anh ra.Nước mắt đã biến thành những tia căm hờn ! Và nếu những kẻ chạy theo dục vọng đã tạo thành những giọt nước mắt căm hờn kia, thì ngược lại, những kẻ đã đổ lệ lại dùng bản năng dục vọng để chống đối:Ông ăn chả thì bà ăn nem,Đứa ở có thèm mua bánh mà ăn.Sông sâu nước chảy ngập kiều,Dù anh có phụ, còn nhiều nơi thương !Dứt dây nên gỗ mới chìm,Bởi anh ở bạc, em tìm nơi xa.Chưa hết, lòng căm hận trong lịch sử tình ái còn đi xa hơn nữa. Nếu vì phụ bạc mà trong thế hệ chúng ta đã xảy ra những vụ đầu độc, giết chồng, đánh ghen thì tự ngàn xưa trạng thái ấy cũng đã có :May gối luông bằng nỉ.May cho kỹ mình nằm,Tại mình ở bạc, ta đem bằm gối luông.Hoặc : May cho mình áo lá,Châu xá bông tây,Tại mình ở bạc ngồi xuống đây ta lột trần.Hỡi tiền nhân ! Sự đau đớn trong tâm tư mà xã hội đã gieo rắc cho loài người có lẽ đến ngày nay cũng không khác mấy ! Yêu đương là nguồn gốc của lẽ sống, nếu nguồn gốc bị mất thì mọi vật cũng chẳng còn nghĩa lý gì. Quan niệm ấy, chính tiền nhân đã bộc lộ :Dao phai kề cổ, máu đổ không màng,Chết thời chịu chết, buông nàng không buông.Hoặc : Chợ Sài-gòn đèn xanh đèn đỏ,Anh xem không rõ, anh ngỡ đèn màu.Rút gươm đâm họng máu trào,Để em ở lại kiếm nơi nào hơn anh !Thật vậy, còn gì đắng cay hơn khi xã hội loài người phủ bên ngoài một lớp màu đạo nghĩa, mà bên trong chất chứa những dục vọng cá nhân.Đêm nằm bỏ tóc qua mình,Thề cho bán mạng kẻo lòng anh nghi !Như chúng ta đã thấy, sức mạnh đạo nghĩa không thắng nổi dục vọng yêu đương thì những biến thái của tâm tư con người cũng chẳng còn là chuyện lạ nữa.Nếu một cô gái giận chồng tỏ ra những cử chỉ gần điên dại, như :Gái đâu có gái lạ lùng,Chồng chẳng nằm cùng,Nổi giận đùng đùng ném chó xuống ao !Thì đó cũng chỉ là một phản ứng của tâm tư mà thôi ! Bởi vì nếu không ném chó xuống ao thì họ cũng tìm những cử chỉ khác để cởi mở lòng bực tức của mình. Chẳng hạn như :Ngọt canh là bí đao hồng,Đánh cho một trận xem chồng về ai !Tâm tư con người ở ngoài lãnh vực cảm giác và lý trí, nó hành động theo trạng thái đau khổ, theo dung lượng uất ức chất chứa trong người, cho nên chúng ta không thể dùng ý thức con người mà nhận xét. Chính vì vậy mà chúng ta thấy những cử chỉ ghen tương từ xưa đến nay là những trạng thái mất thăng bằng trong con người.Nhận thức được điều đó, người xưa cũng đã châm biếm, chế diễu :Ao sâu thì lắm ốc nhồi,Chồng mình lịch sự nửa người nửa ta.Ghen lắm thì dứt ruột ra,Chồng mình thì tới tay ta phen này.Em thấy anh em cũng muốn chào,Sợ rằng chị cả giắt dao trong mình,Đấy giắt dao, đây gươm kề nách,Thuận nhân tình cất cánh sang chơi.Chẳng lấy cũng khuấy cho hôi,Làm cho bể trách, bể nồi mà chơi.Tôi đã biết vợ anh rồi,Quăn quăn tóc trán là người hay ghen.Ta rằng ta chẳng có ghen,Chồng ta, ta giữ, ta nghiến, ta nghiền, ta chơi !Cái cò trắng bạch như vôi,Cô kia có lấy chú tôi thì về.Chú tôi chẳng mắng chẳng chê,Thím tôi thì mổ lấy mề nấu canh.Anh thấy em anh cũng muốn chào,Sợ anh chồng cũ, hắn đứng bờ rào hắn trông !- Hắn trông thì mặc hắn trông,Đã quyết một lòng, ta quyết lấy nhau.Nếu tâm tư người xưa đã đau khổ nhiều trong lãnh vực luyến ái, và những giọt lệ thâu đêm đã chảy tràn trên gối mộng thì trái lại tinh thần hài hước của họ cũng chỗi dậy điểm vào đó những nụ cười hóm hỉnh vô cùng.Chúng ta không lấy làm lạ trước trạng thái ấy, bởi vì họ là người bình dân, cuộc sống hằng ngày chung đụng, gần gũi nhau, tâm hồn họ trao đổi nhau rất dễ dàng, và mọi biến cố của tâm tư đều là những đề tài được họ mổ xẻ trong niềm vui sống.Tuy nhiên, những mâu thuẫn của yêu đương dù khốc liệt đến đâu cũng không thể làm người chùng bước trước sự luyến ái giữa gái trai. Cũng như gió bão, mưa lụt, hạn hán không tiêu diệt sự nẩy mầm của cây cối. Tình yêu trong xã hội loài người vẫn huy hoàng. Những đêm trăng sáng, tiếng chày vẫn khua đều trong câu hát giao duyên. Những buổi bình minh, giọng hò trữ tình vẫn vang lên bên sườn núi, như khiêu khích những tâm hồn còn đang nặng trĩu lòng xuân, và chính trong nguồn an ủi ấy họ khuây khỏa phần nào những nỗi hằn học của tâm tư :Chồng giận thì vợ làm lành,Miệng cười hớn hở, rằng anh giận gì ?Thưa anh, anh giận em chi ?Tóm lại, tính chất ghen tương, hờn dỗi trong lãnh vực hôn nhân và luyến ái từ xưa đến nay vẫn giống nhau, chỉ khác một đôi chút về diễn biến của trạng thái tâm tư mà thôi.Người bình dân Việt-nam thời xưa sống dưới ách kềm kẹp của chế độ phong kiến, tuy họ được tự do luyến ái, song quan niệm hôn nhân bị chi phối, thành thử ý thức bình đẳng hôn nhân của họ bị giáo lý Nho-học phá vỡ. Trong những gia đình bình dân chúng ta thấy quyền lực của người đàn ông vẫn đè nặng trên người đàn bà như những gia đình quí tộc, gây cho người đàn bà một áp lực, bắt họ phải chịu đựng.Áp lực của người đàn ông đối với người đàn bà trong gia đình người bình dân đã phản ảnh qua các câu ca dao như :Ví dù tình bậu muốn thôi,Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.Bậu ra cho khỏi tay ta,Cái xương bậu nát, cái da bậu mòn.Hoặc : Không đánh bậu để bậu luông tuồng.Cầm roi đánh bậu cũng buồn dạ anh.Dưới áp lực ấy, người đàn bà là kẻ chịu đựng nhiều nhất. Tâm tư họ bị dồn ép bao nhiêu khổ đau trước bản năng dục vọng, trước đạo lý bất công, trước năng lực tiền tài. Ngày nay, khi đào sâu vào tâm tư của họ trong ca dao tục ngữ, chúng ta phải nhìn nhận người phụ nữ bình dân thời xưa có sức chịu đựng đáng kể. Chỉ vì xã hội bất công và mọi mâu thuẫn trong luyến ái đã ép họ đến ngộp thở, buộc lòng họ phải bật lên tiếng khóc, tiếng than, tiếng gào, tiếng rú… khơi nguồn cho dòng lệ tâm tư chảy mãi đến thế hệ ngày nay.Trên quan điểm mâu thuẫn chung trong lãnh vực luyến ái, chúng ta đã bàn đến rồi, ở đây trong phần kết luận, chúng tôi tưởng không thể bỏ qua một vài đặc tính của xã hội phong kiến thời xưa, có ảnh hưởng đến tâm tư người bình dân trong lãnh vực luyến ái.1) Sự hờn dỗi ghen tương của người bình dân có chịu ảnh hưởng và chế độ phong kiến không ?Dĩ nhiên không thể tránh được. Chế độ phong kiến là chế độ giai cấp, ảnh hưởng giai cấp đã chi phối cả quan niệm luyến ái lẫn hôn nhân, thì sự ghen tương hờn dỗi không thể tách rời ra ngoài. Cho nên, trong tâm tư người bình dân, chúng ta thấy lúc nào cũng phảng phất một ý thức chống đối giữa quan niệm giàu nghèo, như :Tham vàng bỏ ngãi chàng ơi !Vàng ăn cũng hết, ngãi tôi vẫn còn.Bậu chê nước sông, bậu uống nước bàu,Chê đây lấy đó lại giàu hơn ai ?Tính chất người bình dân bao giờ cũng muốn thủ phận, sống một cuộc sống thanh bần và chung thủy.2) Ngoài tâm tư bất mãn guồng máy phong kiến, tính chất ghen tương, hờn dỗi trong xã hội bình dân Việt-nam còn chống giáo lý phụ quyền của Khổng Mạnh nữa. Sự chống đối ấy phản ảnh trong các câu ca dao như :Chàng đành phụ mẫu không đành,Lá che cây khuất ngọn ngành trời ơi !Trách mẹ trách cha, chớ ta không trách bậu,Cha mẹ ham giàu gả bán em đi.Vách thành cao lắm khó dòm,Nhớ em anh khóc đỏ lòm con ngươi !Tiếc công anh lau dĩa chùi bình,Cậy mai tới nói phụ mẫu nhìn bà con.- Trời mưa nhà thiếc bon bon,Phụ mẫu không thương nói vậy, chớ bà con đâu mà nhìn.3) Chẳng những chống phụ quyền trong giáo lý Khổng Mạnh mà tâm tư người bình dân còn chống cả sự bất công trong lễ nghi của Nho giáo. Đây, chúng ta hãy nghe lời than của người mệnh phụ đang xuân:Vai mang bức tượng thờ chồng,Thấy trai nhan sắc, nước mắt hồng tuôn rơi !Những giọt nước mắt ngắn dài trong một biến thái của tình yêu đã tuôn chảy tự ngàn xưa, cho mãi đến ngày nay, và có lẽ không bao giờ dứt khi con người cũng vẫn là con người, một con người tự ái, tự kỷ và chất chưa đầy dục vọng mà không sao thỏa mãn được.PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO TÍNH CHẤT HỜN DỖI, GHEN TƯƠNG1. Ai về đường ấy hôm nay,Ngựa hồng ai cỡi, dù tay ai cầm,- Ngựa hồng đã có tri âm,Dù tay đã có người cầm thì thôi.2. Ai làm cho bướm lìa hoa,Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.Ai đi muôn dặm non sông,Đề ai chất chứa sầu đông vơi đầy.3. Anh khôn nhưng vợ anh đần,Lấy ai lo liệu xa gần cho anh4. Ao sâu thì lắm ốc nhồi,Chồng mình lịch sự nửa người, nửa ta,Ghen lắm thì đứt ruột ra,Chồng mình thì tới tay ta phen nầy.5. Ăn sao cho được mà mời,Thương sao cho được vợ người mà thương.6. Ba bốn năm nay lòng thiếp chí thành,Nữ nhi nan hóa sự tình nam nhi.Phận đàn bà như hoa nở một thì,Thiếp xin anh chàng nghĩ lại thiếp tôi thì đội ơn.Dù chàng nay trăm giận, nghìn hờn,Thiếp xin anh chàng sẽ tới đào tơn chốn này.Có đàn ông tình phụ liễu tây,Bơ vơ phận đàn bà con gái thiếp biết rày làm sao ?Song quân tử chí cao,Diệu thường cốt bạch ra vào quyến ong.Kể từ khi thiếp tới loan phòng,Loan ôm lấy phượng, phượng bồng lấy loan,Bởi vì ai cho thiếp tôi phải võ vàng,Vì chàng tư lự dạ càng long đong.7. Bạc sao bạc chẳng vừa thôi,Để cho nước chảy hoa trôi lỡ làng.Tin sang chẳng thấy người sang,Hẹn ba bốn hẹn, lòng càng xót xa.Đoạn tràng phải bước chân raGió sương hiu hắt, sương sa lạnh lùngChăn đơn gối chếch lạnh lùng,Đôi hàng châu lệ, đôi hàng chứa chanGặp chàng thiếp phải thở than,Dưới khe nước chảy, trên ngàn thông reo.Cơm ăn thất thểu ít nhiều.8. Bây giờ nàng đã nghe ai,Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng chào.9. Bấy lâu vắng mặt khát khao,Bây giờ thấy mặt muốn càu mặt ra.10. Bên đây sông, em bắc cái cầu năm mười tấm ván.Bên kia sông, em lập cái quán năm bảy từng thương.Cái quán năm bảy từng thương,Là để người thương em đi buôn bán.Cái cầu năm mười tấm ván,Là để người thương em đi,Trách anh sao bạc nghĩa vô nghì,Bây giờ có đôi bạn không nói tiếng gì với em.11. Biết nhau từ thuở buông thừng,Trăm chấp nghìn nối xin đừng quên nhau.Bởi vì chàng nên chị thiếp phải chịu hàm oan,Thân phụ già đánh mắng, thế gian ta chê cười.12. Cô kia mà hát đa đoan,Anh cầm con dao lá trúc anh gạch lá gan cô mày.Ruột non anh quấn trên cây,Ruột già anh vấn làm dây kéo thuyền.13. Cô kia xách giỏ đi đâu,Cho tôi gởi trầu cô xách giùm tôi.- Trầu anh trầu đắng trầu nồng,Em không dám nhận sợ chồng em ghen.14. Công tôi gánh gánh gồng gồng,Giở ra theo chồng, bảy bị còn ba.Xưa tôi ở cùng mẹ cha,Mẹ cha yêu dấu như hoa trên cành.Bây giờ tôi về cùng anh,Anh tham nhan sắc, anh tình phụ tôiĐất rắn nặn chẳng nên nồi,Anh đi lấy vợ cho tôi lấy chồngAnh đi lấy vợ cách sông,Để tôi lấy chồng giữa ngõ anh ra.15. Cục đá lăn nghiêng lăn ngửa,Khen ai khéo sửa cục đá lăn tròn,Giận thời nói vậy, chớ dạ còn thương anh.16. Dậm chân xuống đất cái bon,Nay còn ở vậy chồng con đâu nà !Thôi thôi đừng nói nữa nà !Con trâu ăn đám mạ dấu mà còn đây.17. Dù chàng năm thiếp bảy thê,Chàng cũng chẳng bỏ nái sề nầy đâu.18. Đã thành gia thất thì thôi,Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang.19. Đã lâu không gặp bạn vàng,Nay gặp bạn vàng lòng càng thêm tủi.Nghĩ đến ân tình gió thoảng, mây bay,Kể từ ngày xa cách đến nay,Lòng ta ngơ ngẩn đắng cay muôn phần.Còn gì mà thở mà than,Còn anh qua lại ân cần anh ơi !Anh có vợ rồi,Như đũa có đôi,Bỏ mình em lơ lửng mồ côi một mình.20. Đêm qua ngõ cửa chờ ai,Đêm nay cửa đóng then gài khăng khăng.21. Đêm đông lạnh ngắt như đồng,Mượn ai cho mượn, mượn chồng thì không.22. Đêm qua chung bóng chung hơi,Bây giờ kẻ ngược người xuôi mặc lòng.23. Đến đêm chồng lại lần vào,Vội vàng vác sọt đi trao chó về.24. Đi mô mà nỏ thấy về,Hay là ai bỏ bùa mê cho chàng.25. Đôi duyên ta như loan với phượng,Nỡ lòng nào để phượng lìa cây,Muốn cho có đó có đây,Ai làm nên nỗi nước này chàng ôi !Thà rằng chẳng biết thì thôi,Biết chi gối chiếc lẻ loi thêm phiền.26. Đối địch thì địch lại đây,Bên thừng, bên chão xem dây nào bền.- Nhất bền là dây bồ nâu.Chị còn giật đứt nữa đầu chúng em.27. Canh cải mà nấu với gừng,Không ăn thời chớ, xin đừng mỉa mai.Khuyên chàng đừng ở đơn sai.Vắng mặt chàng sẽ yêu ai mặc lòng.28. Cây kiểng đang xanh, sao anh lại tưới ?Còn cây kiểng tàn, sao anh lại bỏ khô ?29. Có yêu thời nói rằng yêu,Chẳng yêu thì nói một điều cho xong.Làm chi dở đục, dở trong,Lờ đờ nước bến cho lòng vẫn thương.30. Có nên thì nói rằng nên,Chẳng nên sao để đấy quên, đây đừng.Làm chi cho dạ ngập ngừng,Đã có cà cuống thì đừng hạt tiêu.31. Có ai thêm bận về ai.Không ai giường rộng chiếu dài dễ xoay.32. Có ai ta cũng thế nầy,Không ai cũng như ngày có ai.33. Chàng đà bạc nghĩa thì thôi,Dù chàng lên ngược xuống xuôi mặc lòng.34. Chàng về cho chóng mà ra,Kẻo em chờ đợi sương sa lạnh lùng.Cơn lạnh còn có cơn nồng,Cơn đắp áo ngắn, cơn chung áo dài.Hay là chàng đã nghe ai,Áo ngắn chẳng đắp, áo dài không chung.Bây giờ sự đã nhạt nhùng,Giấm thanh mà đổ mấy thùng cho chua.35. Chanh chua thì khế cũng chua,Chanh bán có mùa, khế bán quanh năm.36. Chanh chua cũng thể là chanh,Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây.Chẳng khôn cũng chị lâu ngày,Chị đái ra váy cũng tày em khôn.37. Chẳng tư túi, chẳng trăng hoa,Cớ sao lại thiết việc nhà người dưng.38. Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,Chẳng lịch cũng thể là người trường an.39. Chiếu hoa mà trải sập vàng,Điếu ngô xe trúc, sao chàng chẳng say.Những nơi chiếu cói võng đay,Điếu sành, xe sậy chàng say là đà.40. Chồng ăn chả, vợ ăn nem,Đứa ở có thèm mua thịt mà ăn.41. Chồng người chẳng mượn được lâu,
Mượn được hôm trước, hôm sau người đòi.42. Chồng giận thì vợ làm lành,Miệng cười hớn hở rằng anh giận gì ?Thưa anh, anh giận em chi ?Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho.43. Chúng chị là con gái trung vàng,Đứng trên đỉnh núi thì ngang với trời.Chúng chị là hòn đá tảng trên trời.Chúng em chuột lắt cứ đòi lung lay.Cha đời chuột lắt chúng bay !Hòn đá tảng rơi xuống thì mày gãy xương.44. Đồng tiền Vạn-lịch thích bốn chữ vàng.Anh tiếc công anh gắn bó với cô nàng bấy lâu.Bây giờ cô lấy chồng đâu,Để anh giúp đỡ trăm cau, nghìn vàng.Năm trăm anh đốt cho nàng.Còn năm trăm nữa giải oan lời thề.Xưa kia nói nói, thề thề.45. Đừng chê em xấu em đen,Kìa như nước đục đánh phèn lại trong.46. Đường lên xứ Lạng bao xa,Cách một cái núi với ba quãng đồng.Ai ơi đứng lại mà trông.Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam-cờ.Anh chớ thấy em lắm bạn mà ngờ,Bụng em vẫn trắng như tờ giấy phong.47. Em ơi ! chị bảo em nầy,Nhất mặn là muối, nhất cay là gừng.Nhất cao là núi Tam từng,Chị còn đạp đổ nữa rừng cỏ may.Nhất đẹp là núi Sơn-tây,Chị còn chẳng tiếc nữa dây bìm bìm.48. Em thấy anh em cũng muốn chào,Sợ anh chồng cũ, hắn đứng bờ rào hắn trông.- Hắn trông thì mặc hắn trông,Đã quyết một lòng ta quyết lấy nhau.49. Gái đâu có gái lạ lùng,Chồng chẳng nằm cùng,Nổi giận đùng đùng ném chó xuống ao.Đến đêm chồng lại lần vào,Vội vàng vác sọt đi trao chó về.50. Giàu thì thịt, cá, cơm, canh.Khó thì lưng rau, đĩa muối cúng anh tôi đi lấy chồng.Hỡi anh chồng cũ tôi ơi,Anh có khôn thiêng xin anh giở dậy ăn xôi nghe kèn.Thôi đã về nghiệp ấy xin anh đừng ghen,Anh để người khác cầm quyền thê nhi,Miệng em khóc, tay bế ẵm ông thần vì.Tay em gạt nước mắt, tay em thì thắp nén nhang.Bởi vì đâu mà nên xót nỗi võ vàng.51. Giận chồng xách gói ra đi,Chồng theo năn nỉ tù ti trở về.52. Gió đưa cây cải về trời,Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.53. Gió đưa trăng, trăng thanh vằng vặc.Trăng đưa gió, gió mát hiu hiu…Ngày rày anh được chỗ tấn yêu,Nghĩa nhơn hồi trước em kêu thấu trời !Uổng công em cặn kẽ mời lời,Uổng công trao thuốc, trao trầu,Uổng công nóng lạnh nhức đầu em thăm.Uổng công em mang tiếng chịu tăm.54. Khi kia ai ở cùng ai.Bây giờ đặng chiếc thuyền hai, phụ đò.- Khi kia anh ở cùng đò,Bây giờ thuyền lủng, anh mò thuyền nguyên.55. Lấy chồng làm lẽ khỏi lo,Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi.56. Mang bầu tới quán rượu dâu.Say hoa đắm nguyệt quên câu ân tình.57. Mấy bữa ni anh ăn phở với cao lầu,Bữa ni anh ăn một bát canh bầu cho mát chưn răng.58. Mình về ta ngóng ta trông.Ta về mình chẳng chút công đoái hoài.59. Mình về đường ấy hôm hay,Giường kia chiếu nọ hôm nay ai nằm ?60. Mồ cha đẻ mẹ con giơi,Sao mà ăn nói những lời Hà-đông.61. Một thuyền một bến chẳng xong,Một chĩnh đôi gáo còn nong tay vào.62. Một tay đun chín bếp rơm,Một tay nạo mướp, chị nhường chồng cho.63. Một mai thiếp có xa chàng,Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.64. Một trăm con bướm trắng nó cắn sợi dây đờn,Bởi anh thất ngôn lời nói, con bạn hờn trăm năm.65. Một trăng được mấy Cuội ngồi,Một thuyền chở được mấy người tình chung.66. Năm quan tiền tốt bó mo.Làm tờ ký chỉ, chị cho chuộc chồng.Măng non nấu với gà đồng,Chơi nhau một trận xem chồng về ai.Già gan cướp được chồng người,Non gan hết vía rụng rời tay chân.67. Non non nước nước khơi chừng,Ái ân đôi chữ xin đừng chớ quên.Tình sâu mong trả, nghĩa đền.Đừng vui chốn khác mà quên chốn nầy.Nước vơi rồi nước lại đầy,Tình kia chưa trả, nghĩa nầy chớ quên.68. Ngỡi nhân nay giận mai hờn,Lòng em ở thẳng như đờn lên dây.69. Ngựa ô anh không cỡi, anh cỡi ngựa hồng,Đường ngay không chạy, chạy vòng bãi cỏ may.70. Nhớ ai cơm chẳng buồn ăn.Đã bưng lấy bát lại dằn xuống mâm.71. Ớt nào mà ớt chẳng cay,Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.Vôi nào là vôi chẳng nồng.Gái nào là gái có chồng chẳng ghen.72. Phương ngôn câu ví để đời,Nhường cơm nhường áo, dễ ai nhường chồng.73. Qua phân đã cạn lời,Bậu còn hơi hờn trách,Để qua nói sách còn có ghi rằng :Nam trọng tài năng, nữ hằng trinh tiết.Bậu dứt qua rồi, bậu tiếc thương qua.74. Qua truông anh đạp lấy gai,Anh ngồi anh lể trách ai không chờ.75. Rau răm hái ngọn còn tươi,Lặng nghe anh nói mấy lời mà cay.Kể chi những chuyện trước ngày,Lòng em còn tưởng núi này non kia.76. Rõ ràng giấy trắng mực đen,Duyên ai phận nấy chớ ghen mà gầy.77. Sầu đong trong héo ngoài tươi.Vui là vui gượng, cười là cười khuây.78. Sông bao nhiêu nước cũng vừa,Trai bao nhiêu vợ cũng chưa bằng lòng.79. Sông sâu cá lội ngù ngờ,Biết em có đợi mà chờ uổng công.80. Ta rằng ta chẳng có ghen,Chồng ta, ta giữ, ta nghiến, ta nghiền, ta chơi.81. Ta thương mình, mình chẳng thương ta.Muối kia bỏ bể mặn đà có nơi.82. Tảng mảng tê mê vì cô bán rượu,Liệt chiếu liệt giường vì cô bán nem.83. Tiếc công xúc tép nuôi cò,Cò ăn cho lớn cò đò cò bay.84. Tôi đà biết vợ anh rồi.Quăn quăn tóc trán là người hay ghen.85. Tương tư chẳng ốm chẳng sầu,Con ruồi đậu mép chẳng đau chẳng buồn.86. Thấy anh tôi cũng yêu đời,Biết rằng vợ cả có rời anh ra.87. Thiếp toan bồng bế con sang,Thấy chàng bạc bẽo thiếp mang con về.88. Thức đêm mới biết đêm dài,Ở lâu mới biết ai người bạc đen.89. Trách ai đặng cá quên nơm,Đặng chim bẻ ná quên đi hận thù.90. Trách lòng con nhện lăng loàn,Chỉ bao nhiêu sợi, mỗi đàng mỗi giăng.91. Trách người quân tử bạc tình,Có gương mà để bên mình không soi.92. Trồng trầu thì phải khai mương.Làm trai hai vợ phải thương cho đồng.93. Ví dầu cậu giận mợ hờn,Cháu theo cùng cậu kéo đờn cậu nghe.Cậu hờn thì kéo te te,Ú liêu xang xự, xự xang xê liêu hò.94. Vợ ba, vợ bảy, nàng hầu,Đêm nằm chuồng trâu gối đầu bằng chổi.95. Xin đừng phụ thiếp làm chi,Thiếp như cơm nguội để khi đói lòng.96. Xưa kia ăn đâu, ở đâu,Bây giờ có bí chê bầu rằng hôi.d) SỰ SI MÊ CÁC THÚ VUICác thú vui trong đời sống con người chúng ta thường gọi là thú ăn chơi.Nhưng thú ăn chơi là gì? Nếu xét về nguồn gốc thì nó là bản năng dục vọng, phát xuất từ ý thức hưởng thụ, tìm trong nguồn sống chung của xã-hội loài người một nguồn sống riêng cho cá nhân.Bản năng dục vọng chính là mầm móng thường xuyên phá vỡ cơ cấu của tổ chức xã hội, ngược lại tổ chức xã hội là guồng máy kềm hãm bản năng dục vọng con người. Cũng chính vì vậy mà cuộc sống loài người chất chứa đầy mâu thuẫn.Các tổ chức xã hội phong kiến thường mượn giáo lý về đạo học, bắt lý trí chế ngự bản năng con người. Đó là một phương pháp hữu hiệu nhất, mà loài người từ xưa đến nay đã đạt được ít nhiều kết quả trong lẽ sống.Tuy nhiên, đối với bản năng, lý trí chỉ mới làm được nhiệm vụ kềm hãm chứ không thể nào tận diệt được, vì bản năng là nguồn gốc của sức sống, phát triển theo nhu cầu bản ngã, luôn luôn đúc kết thành tiềm lực để phá tung xích xiềng của tổ chức xã hội. Mà đó cũng chính là mâu thuẫn của căn bản trong xã hội loài người giữa thể chất và tinh thần giữa cá nhân và tập thể, giữa con người và lẽ sống.Xã hội Việt-nam từ ngàn xưa đã bị giáo lý Nho học ràng buộc. Lý thuyết Khổng Mạnh lấy đạo tam can, ngũ thường củng cố nền chính trị phong kiến, lấy đức cần kiệm liêm chính chế ngự bản năng. Tuy nhiên cần kiệm liêm chính cũng chỉ là giáo lý được phổ cập trong giai cấp quí tộc, để dạy cho lớp người thống trị biết tự kềm chế mình, làm gương cho kẻ dưới, thực ra giáo lý cần kiệm liêm chính của Nho học không có ý giáo dục trực tiếp đối với lớp người bình dân.Nho giáo chia xã hội con người làm nhiều giai cấp : thượng đẳng, trung đẳng và hạ đẳng. Áp dụng vào chính sách giáo dục thì Nho giáo cho rằng : « Thượng đẳng chi nhơn bất giáo nhi thiện, Trung đẳng chi nhơn giáo nhi hậu thiện, Hạ đẳng chi nhơn giáo diệc bất thiện » (lớp người trên không dạy cũng tốt, lớp người thường phải dạy mới tốt, lớp người dưới dạy vẫn không tốt).Quan niệm như thế có nghĩa là kẻ nào lý trí mạnh, không cần trấn áp mà bản năng dục vọng vẫn không nổi dậy được thì đó là lớp người thượng đẳng. Kẻ nào phải dùng lý trí đàn áp mới thắng được bản năng dục vọng, thì đó là lớp người trung đẳng, còn kẻ nào lý trí quá kém dù có vận dụng cũng không đàn áp được bản năng, thì đó là lớp người hạ đẳng.Quan niệm như thế cũng có nghĩa là Nho giáo cho rằng lớp người bình dân không thể dùng lý trí trấn áp bản năng, họ chỉ sống theo dục vọng, cho nên đối với họ không thể đặt vấn đề lý trí, mà chỉ đem tình cảm sửa đổi họ.Trong quyển « Kinh thi Việt-nam », luận về giáo lý Khổng học, ông Trương-Tửu có viết : « Theo đức Khổng thì tình cảm con người thiện hay ác là do chính trị tốt hay xấu. Chính trị tốt đối với ngài là người cầm quyền tốt. Ngài không thể quan niệm được chính trị ngoài một đấng quân vương. Nếu ông vua là bậc quân tử hiếu đễ nhân nghĩa, biết dùng người hiền để trị nước, biết chế đúng lễ nhạc để dạy dân thì dân sẽ bắt chước, người trên mà làm điều thiện, nghĩ điều thiện, cảm điều thiện, nhiên hậu cái tâm của mỗi người trong dân chúng sẽ cảm nhiễm toàn những điều nhân nghĩa, và cái nền tình cảm của họ được điều hòa, trong trẻo. Nếu, ông vua là một hôn quân, chỉ chuộng tư lợi, không nghĩ đến nhân nghĩa, dùng quần thần toàn là những kẻ tiểu nhân xảo quyệt, pháp chính thì bất công hà khắc, lễ nhạc thì dâm dật, kiêu sa, tất nhiên dân chúng sẽ theo người trên mà cảm điều ác. Cái tâm tư con người tất phải mờ ám, tình cảm tất phải rối loạn, không thể nào tránh được.Tóm lại, Khổng-Tử quan niệm chính trị như một hiện tượng của luật ảnh hưởng từ cao xuống thấp, trên toàn thể thống trị (vua quan), dưới toàn thể bị trị (dân). Sự ảnh hưởng ấy được thực hiện nhờ có một bộ máy nối trên với dưới. Bộ máy này là những cơ quan giáo dục và hành chính, như : pháp luật, luân lý, lễ nhạc, văn từ… Tùy theo cái chủ não tốt hay xấu của kẻ trên (vua), bộ máy đó có phận sự truyền nhiễm những cảm xúc và ý kiến (tốt hay xấu) xuống cho kẻ dưới (dân), bắt kẻ dưới phải hành động theo. Phần bị sức mạnh của xã hội điều khiển, phần có tính chất bắt buộc toàn thể, cá nhân chỉ còn là một phản ảnh của những cảm xúc và ý nghĩ công cộng do bộ máy chính trị truyền từ trên xuống.Xem vậy, theo đạo Khổng thì chính trị đẻ ra một hoàn cảnh xã hội tương đương, hoàn cảnh xã hội lại đẻ ra một cá nhân có những tình cảm tương đương. Tình cảm cá nhân theo chính trị mà tốt xấu cũng như nước theo chum vại mà vuông hay tròn vậy…Cho nên, có thể xem cách chính trị mà biết được tình cảm cá nhân, và ngược lại cũng có thể xem tình cảm cá nhân mà biết cách chính trị trong một xứ… »Thực ra, giáo lý trên đây có một tác động khá mạnh đối với xã hội phong kiến Việt-nam thời xưa. Tuy nhiên, Nho giáo cũng chỉ đứng trên quan niệm lý trí và tình cảm để uốn nắn xã hội chứ chưa kết hợp được ảnh hưởng kinh tế.Áp dụng phương pháp giáo dục về lý trí cho giai tầng trên, và phương pháp giáo dục về tình cảm cho giai tầng dưới tức là Nho giáo đã thừa nhận giữa tình cảm và lý trí con người có sự mâu thuẫn nhau. Đồng thời, Nho giáo cũng cho rằng giai cấp thống trị là giai cấp của lý trí, mà giai cấp bị trị là giai cấp của tình cảm, nên đã chủ trương rèn luyện lý trí cho mạnh (tư tưởng và tư cách của giai cấp trên) để trấn áp bản năng dụcvọng (tình cảm của giai dưới). Với phương thức ấy, lý trí cá nhân đúc thành một khuôn mẫu hun đúc cho tình cảm cá nhân trở thành tình cảm tập thể theo khuôn mẫu ấy.Sự thành công một phần nào của giáo lý Khổng Mạnh trên xã hội phong kiến Việt-nam thời xưa, xét ra không phải hoàn toàn do ảnh hưởng của chủ thuyết nầy.Nếu bảo rằng người bình dân (hạ đẳng chi nhơn) không đủ lý trí để trấn áp dục vọng con người thì cũng không đúng. Hoặc nếu bảo giai cấp quí tộc ngày xưa đã đem giáo lý Khổng Mạnh cảm hóa người bình dân tạo nên một xã hội duy lý, tiết chế dục vọng con người thì cũng không đúng.Trong lãnh vực nầy, chúng ta cần xét soát lại thực trạng của nó.Trước hết chúng ta phải thấy rằng xã hội duy lý thời phong kiến tuy có đạt được sự tiết chế dục vọng bản năng, song không vì thế mà dục vọng bản năng bị tiêu diệt. Ngay trong giai cấp quí tộc (thượng đẳng chi nhơn) bản năng dục vọng vẫn âm thầm phát xuất trong cửa các lầu son mà họ đã phải đem cái hình thức lễ nghi, cái giả dối bên ngoài để che đậy.Thực trạng ấy đã chứng minh rõ ràng qua sử sách, không một ai có thể phủ nhận được.Nhưng nếu giai cấp lý trí (thượng đẳng chi nhơn) đã không đủ nghị lực để tự chế mình, thì làm sao có đủ năng lực để kềm hãm giai cấp bản năng (hạ đẳng chi nhơn) được.Thế mà Khổng giáo vẫn không đủ sức tạo cho giai cấp thượng đẳng một sức mạnh về lý trí, và giai cấp thượng đẳng cũng không đủ khả năng cảm hóa giai cấp hạ lưu.
Trong quyển « Kinh thi Việt-nam », luận về giáo lý Khổng học, ông Trương-Tửu có viết :

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét