Thơ tình Tế Hanh, đọc lại
Trong suốt dọc đường thơ của mình, nhà thơ Tế Hanh để lại tổng cộng 15 tập thơ (trong đó có tập cuối cùng chưa in thành tập riêng, nhưng đã kịp đưa vào Tuyển tập Tế Hanh, Nxb Văn học, 1987). Tuyển tập thông thường được hiểu là một tập hợp các tác phẩm tiêu biểu của một nhà văn nào đó do một (hoặc một nhóm) người làm công việc tuyển chọn theo quan điểm nhất định.
Về sự nghiệp thơ của nhà thơ Tế Hanh cả trên cấp độ tổng quát
và cấp độ bộ phận đã có khá nhiều bài tiểu luận nghiên cứu, phê bình, ghi nhận
những đặc sắc và đóng góp của nhà thơ vào nền thơ Việt Nam hiện đại.
Riêng tôi cho rằng, xét trên đại lượng lớn, tầm vóc sự nghiệp
của nhà thơ xứ núi Ấn sông Trà này chưa thể gọi là thật lớn, nhất là khi so với
các nhà thơ cùng thế hệ.
Tuy nhiên, rất lạ, trong một kích cỡ tưởng chừng khiêm tốn ấy,
ở một góc/mảng nào đó nhà thơ lại có những tiếng nói xuất sắc, đến mức không
thua kém với bất cứ nhà thơ nào: tôi muốn nói tới mảng thơ tình của Tế Hanh. Có
nhiều người khẳng định, nếu chọn một tuyển thơ tình tinh hoa thơ Việt Nam hiện
đại thế kỷ 20 theo một tiêu chuẩn mỹ học khắt khe nhất, không thể không chọn
thơ Tế Hanh.
Tôi ngồi tỉ mẩn làm công việc thống kê trong Tuyển tập Tế
Hanh (đã dẫn trên kia), để có được số lượng bài thơ tình tổng cộng 35/258
(không kể các bài viết cho thiếu nhi). Với con số này, có thể tách ra đủ để có
một tập thơ tình Tế Hanh xinh xắn và chất lượng.
Nếu ai từng đọc thơ Tế Hanh có hệ thống, sẽ thấy một motif chủ
đạo, có tính xuyên suốt, quán xuyến toàn bộ thi cảm nhà thơ, đó là nỗi cách xa.
Sự xa cách này như một ám ảnh, phát tán ra khắp các chủ đề như làng quê, chiến
đấu, xây dựng, tình bạn, tình yêu lứa đôi gắn liền với các không gian: làng –
muôn phương, Nam – Bắc, trong nước – ngoài nước, ở đây – nơi xa…Và thật lạ,
chỉ khi nào, mỗi câu thơ/ bài thơ gắn với motif chia xa này mới có thể trở nên
xuất sắc.
Điều này có thể giải thích được phần nào, căn cứ vào tiểu sử
của nhà thơ. Ngay từ thuở hoa niên, nhà thơ đã ra theo học ở Huế (1936), năm
1943 ra Hà Nội học trường Luật, sau rồi bỏ học trở lại Huế cho đến năm 1945
tham gia tổ chức Văn hóa cứu quốc; sau đó suốt 9 năm ròng tham gia kháng chiến
khắp miền Trung Nam Bộ; 1954 tập kết ra Bắc, và đến sau 1975 mới được trở lại
thăm quê…Như vậy, ngay từ lúc 15 tuổi, chàng thiếu niên đã phải sống trong xa
cách với gia đình, quê hương; và cuộc xa cách ấy kéo dài cho đến hết đời.
Tuy nhiên, việc phải sống xa nhà xa quê từ tuổi hoa niên như
nhà thơ Tế Hanh thì không ít người cũng từng trải, và cũng đều ít nhiều có cảm
xúc ngậm ngùi. Nhưng khác với họ, chỉ có ở Tế Hanh, nỗi cách xa, chia ly, tiễn
biệt với các biến thể của nó mới chụm lại, tập trung và kết tinh sâu đậm trong
hồn thơ này. Chỉ có ở Tế Hanh, cách xa mới trở thành một ám ảnh, mới trở thành
nguồn cảm hứng thi ca một cách thường trực trong sáng tạo thơ của ông. Điều này
có thể giải thích thêm bằng một điều phi luận lý rằng do cái tâm thể, cái tông
tạng của nhà thơ mà thành vậy. Hay cũng có thể do sự “đày ải” bí ẩn và không
kém phần kỳ diệu của con Tạo đối với bản mệnh thi sĩ đã bắt Tế Hanh suốt
đời sống cùng với những cách xa?
Và như vậy, những bài thơ tình của ông cũng bị phủ trong từ
trường đó, cũng toàn những cách xa, tiễn biệt, ngóng trông…
Trong tình yêu lứa đôi, có một dấu chỉ để xác nhận tình yêu
đúng là tình yêu, không gì khác hơn là nỗi nhớ. Nhớ chính là yêu. Còn nhớ là
còn yêu. Hết nhớ tất hết yêu. Nhạt phai nhớ cũng là lúc tình yêu phai nhạt. Nỗi
nhớ trong tình yêu như là năng lượng, là máu, là nguồn sống nuôi dưỡng tình yêu
vậy.
Thơ Tế Hanh biểu đạt một nỗi nhớ trong tình yêu khá sâu, đa dạng.
Có khi là những chiêm bao, những giấc mơ, những mơ về; và nhiều khi là nỗi
nhớ trực tiếp, cụ thể, hiện sinh trong từng giây phút sống.
Ngay từ tháng 5-1956, nghĩa là mới sau chưa đầy một năm nhà
thơ tập kết ra Bắc, sống trong nỗi cách xa, nhà thơ đã có bài thơ “Chiêm bao”
xuất sắc: “Chiêm bao bừng tỉnh thức/Biết là em đã xa/Trên tường một tia nắng/Biết
là đêm đã qua”. Bài thơ có ba khổ, chỉ khổ thơ đầu mới làm nên hồn vía và vẻ đẹp
của bài thơ này; chỉ cần khổ thơ này thôi đã hội đủ trọn vẹn cả chiều sâu tâm
tình và nỗi nhớ của chủ thể trữ tình; cũng chỉ 4 câu này thôi đã đủ đứng thành
một bài thơ độc lập. Cái “tia sáng” trên tường ấy đã như một tín hiệu lấp lánh
để nói về một tình yêu sâu nặng của đôi người trẻ tuổi ấy.
Khi đang ở Hàng Châu, sống trong nỗi nhớ dào dạt, người thơ
nhìn mùa thu Hàng Châu bằng một cái nhìn của người đang yêu, rất đỗi tình tứ: “Mùa
thu đã đi qua còn gửi lại/Một ít vàng trong nắng trong cây/Một ít buồn trong
gió trong mây/Một ít vui trên môi người thiếu nữ…”, theo đó thấy: “Lá phong đỏ
như tình yêu rực cháy/Hoa cúc vàng như nỗi nhớ day dưa” (Bài thơ tình ở Hàng
Châu). Đừng ai nghĩ đó là những câu thơ phong cảnh. Không, nó chỉ là phong cảnh
bề ngoài. Còn bên trong là ăm ắp nỗi nhớ của lòng trai đang yêu. Đó là những
câu thơ thuộc về thơ tình. Có phải cũng chỉ viết trong xa cách mới có được những
câu thơ trác tuyệt như thế?
Như trên đã nói, nhiều bài thơ được cất lên khi chủ thể trữ
tình sống trong nỗi nhớ do những cách xa. Có lẽ những người từng đọc thơ Tế
Hanh khó có thể quên được hai bài thơ xuất sắc thuộc dạng này: Bão, Hà Nội vắng
em. Trường hợp thứ nhất đã làm tốn giấy mực không ít của những người yêu thơ.
Bài thơ khởi lên từ một cái tứ rất chặt: cơn bão thiên nhiên và cơn bão lòng;
trong cơn bão thiên nhiên đôi người còn bên nhau, chăm sóc nhau; sau đấy cơn
bão tạnh, tưởng bình yên, nhưng cơn bão của nhớ nhung ập đến do đôi người phải
chia xa: “Và cơn bão lòng anh thổi mãi”. Bài thơ sống động trong từng hình ảnh,
ngôn từ, kiệm lời mà “thổi mãi” vào lòng bạn đọc từ bấy đến nay, không dứt…Trường
hợp thứ hai, nỗi nhớ êm ả, hiền lành hơn, nhưng cũng không kém phần sâu sắc,
“dây dưa”: “Anh theo các phố đó đây/Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em”. Một cách
nói thoạt đọc tưởng rất đỗi mộc mạc, thật thà; hóa ra không phải, “vắng đầy cả
em” là một sáng tạo đột xuất, có tính lạ hóa, khiến câu thơ gây ấn tượng, khía
vào ký ức người đọc. Bài thơ chọn lối thơ lục bát, nhịp nhàng, nhuần nhị suốt
bài, bỗng câu cuối đột ngột, gây sửng sốt, biểu đạt một cảm xúc yêu nặng và đầy.
Nếu chỉ được chọn một bài thơ tình xuất sắc nhất của Tế Hanh
làm đại diện, có lẽ rất dễ xảy ra xung đột khi phải chọn một trong hai bài này.
Ngoài những cảm xúc có tính chất trực tiếp, bộc phát trước một
cảnh huống nào đó, đôi lần Tế Hanh cũng hướng vào suy tưởng, mặc dù đây không
phải là thế mạnh của ông. Loại thơ này có thể vẫn xuất phát từ tình thế thực tại,
tuy nhiên không dừng ở đó, mà chỉ lấy đó làm nguyên cớ, vượt lên để biểu đạt những
ý niệm, ý tưởng có tính phổ quát. Cái hay của dạng thơ này chỉ có thể đạt được
khi có sự hòa trộn nhuần nhuyễn, tới độ tự nhiên của những ý tưởng khái quát và
những hình ảnh, chi tiết trực quan. Dưới đây là một thành công đột xuất của nhà
thơ:
“Em gần gũi, em xa xôi
Sao em như thể chân trời trước anh?
Đưa tay tưởng với được tình
Bước đi tới mãi mà mình vẫn xa”
(Em gần gũi em xa xôi)
Hình ảnh “chân trời”, một hình dung về người con gái mà mình
hướng tới; chân trời thì vừa hấp dẫn, mời gọi, vừa vô định, xa xăm…Động từ “với”
có tính tình thái, chỉ một ý chí, chạy theo, rượt đuổi, chấp chới, như có như
không, nhờ vậy, câu thơ có hình hài, sống động. Thì ra, tình yêu đơn phương
muôn đời vẫn thế, vừa mê đắm, vừa vô vọng, tuyệt vọng. Cũng là một nỗi khổ của
giống người.
Quan sát khu vực thơ tình trong nền thơ hiện đại (một cách
nói mang tính ước lệ nhằm chỉ quãng từ sau 1945 đến những năm 80 của thế kỷ
20), thấy có hai ngã rẽ: thứ nhất, thơ tình có sự kết hợp giữa tình riêng
và tình chung, tình đôi lứa với tình cộng đồng, Tổ quốc; và thứ hai, thơ tình
được là thơ tình đúng nghĩa. Hầu hết các nhà thơ của một thời văn học cách mạng
ở phía Bắc đều có cả hai dạng thơ này. Nếu chỉ làm thơ tình như là thơ tình, rất
dễ bị quy là chủ nghĩa cá nhân tiểu tư sản. Cho nên, để tồn tại được, các nhà
thơ phải hợp thức hóa bằng cách ở một số bài thơ tình có chêm xen vào tình cách
mạng, tình kháng chiến; còn một số đứng riêng, độc lập để trở thành thơ tình
thuần khiết. Từ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, cho đến Quang Dũng, Nguyễn
Đình Thi… rất nhiều, trong đó có Tế Hanh đều đi theo cách thức này. Tuy nhiên,
vẫn cứ cần ghi nhận ở dạng thơ tình có sự chung sống giữa tình riêng và tình
chung thì có lẽ không phải tất cả là đều kết quả của một “chiến lược diễn
ngôn”, mà cũng có khi là kết quả của một tình cảm và niềm tin chân thành, bởi
khung diễn ngôn thời đại đã chi phối, quy định nên như vậy. Trong khổ thơ “Ban
ngày công tác bận/Ban đêm dành nhớ em/Ban ngày ở miền Bắc/Ở miền Nam ban đêm” (Chiêm
bao), chỉ một từ “công tác” thôi đã là một tín hiệu ngôn ngữ cho thấy cả một diện
mạo xã hội thời chiến lúc bấy giờ. Bài thơ có được sự thành thật của một người
trai-cán bộ. Từ “công tác” này còn thấy trở lại một lần nữa trong Vườn xưa, một
bài thơ tình cũng khá đặc sắc của Tế Hanh.
Cho đến bây giờ, tôi hoàn toàn có thể khẳng định rằng trong số
những bài thơ thành công nhất của Tế Hanh, thì phần lớn thuộc thơ tình. Nói ra
điều này, có thể ai đó không hài lòng, thậm chí dễ quy kết. Nhưng ở mảng thơ
ngoài thơ tình, những bài thơ thuộc đẳng cấp Quê hương, Lời con đường quê,
Những ngày nghỉ học (trước 1945), Liễu, Nhớ con sông quê hương, Vườn
xưa, Nông trường cà phê, Đến Mộc Châu, Kinh nghiệm làm thơ 1,2 (sau 1954)
chiếm số lượng hơi khiêm tốn, ít hơn những bài thành công ở mảng thơ tình.
Tôi vẫn cứ cả quyết rằng, phần thành công nhất trong sự nghiệp
của nhà thơ Tế Hanh thuộc về mảng thơ tình. Không thế, làm sao có được nhiều
bài thơ tình xuất sắc đến vậy. Không thế, làm sao có được những câu thơ tình xuất
chúng: “Chắc gì mắt em như lá liễu/Đã cắt lòng anh một nét dao” (Liễu); “Anh
yêu em như người vào bữa tiệc/Uống cốc rượu đầy không nghĩ đến khi tan” (Anh
yêu em)…Nhờ thế, hồn thơ Tế Hanh mãi thuộc về tuổi trẻ, thuộc về những giá trị
nhân bản phổ quát.
Hà Nội, 22/5/2021
Văn Giá
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét