|
“Cánh chim hồng bay đi/ Dấu còn in trên tuyết” (Tưởng nhớ nhà thơ Nguyễn Viết Lãm Tôi vẫn nhớ, trong không gian mờ tối của căn gác sàn lát gỗ
cũ kỹ ở ngôi trụ sở Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng một ngày vào năm 1979,
nhà thơ Nguyễn Viết Lãm mắt sáng lên với xúc động chân thực của một nghệ sĩ,
thông báo đến các tác giả thành phố về cuộc chiến tranh khốc liệt đang diễn
ra ở biên giới Tây Nam. Ông nói rằng việc bộ đội Việt Nam đang làm ở
Campuchia là hành động trượng nghĩa của những hiệp sĩ. Tôi chú ý đến từ “Hiệp
sĩ”. Đó là một từ đặc biệt khi đó không ai dùng, thậm chí còn e ngại vì tính
cổ điển khiến có thể bị suy diễn theo nghĩa xấu. Nhưng tôi thấy trong trường
hợp này, đó là một từ rất xác đáng, có màu sắc lãng mạn, với ý nghĩa thật đẹp
đẽ. Sau đấy ít lâu, tôi tham gia đoàn chuyên gia Việt Nam sang Campuchia
trong một chương trình trợ giúp tổng hợp. Suốt những chặng đường loang lổ hố
bom đạn còn bốc khói luôn rình rập những mũi súng bắn tỉa và những bẫy mìn của
đám phiến quân Pol Pot, tôi mang theo trong đầu ý nghĩa của từ “Hiệp sĩ” để tự
trấn an. Khi thiết kế đài tưởng niệm những liệt sĩ Việt Nam và Campuchia trên
một đỉnh đồi cao ở Compongsom, tôi đã dùng hình tượng hai thanh kiếm chống xuống
đất cạnh nhau, như cách người ta để lại vũ khí trên nấm mồ của những hiệp sĩ
thời xưa. Sau này tôi nói lại với Nguyễn Viết Lãm điều đó, ông cười tỏ ra rất
thú vị vì thấy được công dụng mạnh mẽ của ngôn từ. Nguyễn Viết Lãm ở trong những người sáng lập Hội Nhà văn Việt
Nam. Hôm đưa đoàn chuyên viên Bảo tàng Văn học của Hội đến gặp Nguyễn Viết
Lãm, tôi được thấy bức ảnh ông đang đọc bản kiểm tra tư cách các đại biểu với
cương vị trong Ban Tổ chức đại hội Nhà văn Việt Nam ngày 23 tháng 4 năm 1957.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi là Tổng thư ký và nhà thơ Nguyễn Viết Lãm là Chánh
Văn phòng Hội Nhà văn khóa đầu tiên ấy. Năm 1954, trước khi thành lập Hội Nhà
văn, tuần báo Văn nghệ được xuất bản thay thế tạp chí Văn nghệ trong kháng
chiến, có sự tham gia của ông cùng các nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân,
Thanh Châu, Lê Đại Thanh. Năm 1962 nhà thơ Nguyễn Viết Lãm cùng nhà văn Nguyên Hồng
được Hội Nhà văn cử về Hải Phòng tổ chức thành lập Chi hội Văn học Nghệ thuật
Hải Phòng. Ông ở lại thành phố Cảng từ đó cho đến khi mất ở tuổi 95. Nguyễn Viết Lãm là bạn tâm giao của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử
và nhiều văn nhân danh tiếng khi ông sinh hoạt trong nhóm thơ Quy Nhơn từ năm
1936. Thời ấy, mới non 20 tuổi, ông đã có thơ, truyện ngắn, tiểu luận đăng
trên Tiểu thuyết Thứ Bảy, Tiểu thuyết Thứ Năm, Sông Hương, Tao Đàn... ký
tên Việt Chi, Nguyễn Hạnh Đàn, Tường Khanh... Ông còn là dịch giả chuyển sang
Việt ngữ các tác phẩm của Aragon, Eluard, Nazim Hickmet, Jébéléanu, Andersen,
những nhà thơ Pháp hiện đại, và ông còn dịch cả Rabindranath Tagore nữa. Tôi
thực sự thán phục những ai dịch thơ Tagore cho dù dịch từ Anh ngữ hay Pháp ngữ.
Vì không dễ dàng gì khi truyền cho người đọc Việt Nam những vần thơ trữ tình
linh diệu, sự lãng mạn vô biên độ hàm chứa tinh túy triết học phương Đông của
nhà thơ châu Á đầu tiên được giải Nobel văn chương này. Tác phẩm của Nguyễn
Viết Lãm đã được dịch giới thiệu ở Pháp, Canada, Hungari, Anbani, Ba Lan...
Có lẽ vì Nguyễn Viết Lãm dùng nhiều bút danh cho các tác phẩm văn học nên người
ta không biết nhiều đến tên chính của ông chăng? Phong trào Thơ Mới được coi là cuộc vượt thoát ngoạn mục
khi các nhà thơ rũ bỏ những niêm luật khô cứng của cổ thi Trung Hoa có từ
hàng ngàn năm trước để đến với thơ phương Tây. Bây giờ, lùi xa hơn để nhìn nhận
một cách công bằng thì sự thay đổi ấy vẫn chỉ là “dùng chiếc bình sứ đời Đường
để đựng rượu Tây”. Tuy thế nhiều nhà Thơ Mới vẫn không dứt khỏi những mây Tần,
gió Sở, tuyết sương ải Nhạn,... vẫn Cô Tô thành, bến Tầm Dương, lầu Hoàng Hạc,...
với những Hạng Vũ, Ngu Cơ, Đường Minh Hoàng, Dương Quý phi,... Còn Nguyễn Viết
Lãm khi ấy tuy viết những bài thơ hình thức Đường thi nhưng đã không viện đến
điển cố hay địa danh của Trung Hoa. Ông có bài thơ đề “tặng Ân Ngũ Tuyên”, một
tên khác của nhà văn Nguyễn Tuân theo lối hoán tự. Bài thơ viết về người bạn
văn nổi danh giang hồ với cái “thú xê dịch”, người luôn “thiếu quê hương” có
câu đặc sắc rất riêng biệt so với các tác giả khác thời đó: Chân say dặm
mới, chân mây lạ/ Mộng hướng đời theo vết lạc đà... (Sông hồ - 1940). Cho dù
câu thơ có gợi đến vùng sa mạc Taklamakan Trung Quốc đi chăng nữa thì ta vẫn
có thể hình dung ra một lãng tử người Việt trong đoàn thương gia trên con đường
tơ lụa sang xứ Tây Á. Năm 1942, Đoàn Phú Tứ - cây bút nòng cốt của nhóm Xuân Thu
Nhã Tập, nhóm tác giả có tinh thần tiên phong trong lý luận văn học và thơ,
viết bài thơ “Màu thời gian” được đánh giá cao về sự đổi mới, nhưng vẫn còn
những câu:... Tóc mây một món chiếc dao vàng/ Nghìn trùng e lệ phụng quân
vương/ Trăm năm tình cũ lìa không hận/ Thà nép mày hoa thiếp phụ chàng... Trong
khi ấy Nguyễn Viết Lãm viết bài thơ “Màu đi” với những câu thơ mà bây giờ,
sau hơn 70 năm, đọc lại vẫn có thể khiến chúng ta ngạc nhiên:... Anh lắng giữa đêm dài Khe khẽ tiếng màu đi Qua những kẽ bàn tay không cầm hương được nữa Qua những kẽ thời gian rạn vỡ Sáng sáng anh tìm Một chút màu xưa nhạt mất trong đêm... Nguyễn Viết Lãm ở trong số ít tác giả Thơ Mới có những câu
thơ mà ông vận dụng kỹ thuật tạm gọi là “thuật đồng từ” với sự cố ý dùng lẫn
từ loại. Ví dụ, trong bài Trăng vào cửa tháp (1937) có câu “Vành
nôi xưa bặt tiếng ru Hời”. Ông đã cố ý ghép từ “ru” với từ “Hời” một cách tài
tình để biểu đạt ý: tiếng “ru hời” cũng là tiếng “ru dân tộc Hời” hãy yên nghỉ.
Và “hời” còn là tiếng khóc than nữa. Tôi nhớ, và cảm thấy một chút tiếc khi cả
tập thơ “Điêu tàn” Chế Lan Viên khóc thương dân tộc Hời đã không thấy có sự vận
dụng đắt giá về cái từ “Hời” ấy. Sau này, Quang Dũng viết bài thơ “Chiêu Quân” dùng thuật
này với điệp khúc “Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang” đã đem các từ hồ, xừ,
xang, xư, líu, ú, liu, cống... là tên các notes của cổ nhạc lẫn với
những từ sang cống Hồ (kể sự việc) làm thành nền âm thanh réo rắt
cho tình sử bi thảm của nàng Chiêu Quân. Nhà văn Nguyễn Viết Lãm cùng các nhà văn và lãnh
đạo TP Hải Phòng Tôi hân hạnh ở trong số người được Nguyễn Viết Lãm đối xử với
“lòng yêu mến và tình anh em của người bạn văn vong niên” như lời đề tặng tôi
trong cuốn sách của ông (Tuyển tập Nguyễn Viết Lãm - NXB Văn học -
1997). Nhà văn Cao Năm đã có những bài viết về thơ ông. Nhà văn Đình Kính đã
làm bộ phim tư liệu về Nguyễn Viết Lãm cho đài truyền hình VTV3. Còn tôi, lúc
này ân hận vì đã mấy lần toan viết về ông, về những tác phẩm của hai ông bà tặng
tôi, nhưng rồi cứ nấn ná chưa viết; nghĩ rằng, nói về một người như ông phải
nghiền ngẫm thật kỹ lưỡng; để rồi bây giờ ông không thể đọc được bài viết
này. Nguyễn Viết Lãm là người đa tài trong văn chương. Ngoài
thơ, truyện, ký và dịch thuật, ông viết cả nghiên cứu lý luận. Những luận điểm
của ông trong các vấn đề văn học, chính trị, xã hội đã biểu thị học vấn của một
trí thức hoàn hảo. Trong một hội thảo về truyện ngắn, ông đã có những ý kiến
rất xác đáng và hữu ích về một truyện ngắn của tôi, dù ý kiến đó không hẳn là
những lời khen ngợi. Có lần tôi đến thăm, thấy ông nằm trên chiếc ghế dài đọc
sách. Ông nhặt tập truyện ngắn của tôi tặng ông đã lâu trong mấy cuốn sách đặt
bên đầu, cười đùa: “Mình gối đầu sách của Bão Vũ đấy”. Ông có nụ cười và ánh
mắt hóm hỉnh thông thái, trong sáng với giọng nói Quảng Ngãi giàu biến âm rất
vui tai khi ông nói những chuyện bông đùa với chúng tôi. Nguyễn Viết Lãm thuộc
thế hệ những nhà văn nhiệt huyết, giàu tri thức và đa tài ngày nay rất hiếm
hoi, mà chỉ đến khi họ mất đi rồi ta mới thấy hết giá trị lớn lao của họ. Và
ta cũng thấy một điều đáng buồn là không thể lấp đầy khoảng trống vắng khi
không còn họ. Tôi nghĩ, hình như đã có một sự thiếu sót khi văn học sử Việt
Nam chưa đặt nhà thơ Nguyễn Viết Lãm ở một vị trí xứng đáng hơn với tài năng,
nhân cách và công lao của ông. Chúng ta đều biết có những tác giả được tôn
vinh chỉ với một bài thơ, thậm chí chỉ với một câu thơ. Chúng tôi đã từng tìm cách giúp ông xuất bản một tập sách gồm
những bài viết về tư liệu lịch sử văn học thời tiền chiến, nhưng không có kết
quả vì vấp phải đặc thù về thương mại của ngành kinh doanh sách. Hy vọng rồi
đây, như một sự tưởng thưởng những cống hiến của ông cho Văn học nước nhà, tập
sách đó sẽ được xuất bản. Ngôi nhà nhỏ của hai vợ chồng Nguyễn Viết Lãm ở khá xa
trung tâm thành phố. Ngoài sân nhà có giàn dây leo rủ xuống những dải hoa mà
ông bà gọi tên là “Rèm Hoàng hậu”. Bà Đoan Trang, vợ ông, một người đàn bà nhỏ
nhắn, yêu chiều chăm sóc ông chu đáo với nhiệt tình và đôi tay khéo kéo của một
bác sĩ. Bà có một thời thiếu nữ nhan sắc và từng là một nghệ sĩ vĩ cầm. Có lẽ
vì biết chơi loại nhạc cụ tinh tế ấy mà bà yêu ông, trở thành vợ nhà thơ khi
ông đã ở tuổi 80. Bà cũng làm thơ, đã xuất bản 2 tập thơ với những câu thơ đẹp
rất giàu nữ tính. Hôm Nguyễn Viết Lãm mất, tôi đến đưa tang; bà ôm lấy tôi
khóc và bảo rằng bà đã sắp sẵn một chỗ yên nghỉ cho cả hai ông bà trong một
ngôi chùa. Tôi cảm động nghĩ đến những chuyện tình cổ điển. Hai người Thơ sẽ ở
bên nhau mãi mãi trong cõi vô cùng. Mấy năm trước, hai ông bà tặng tôi giống cây hoa dây buông
có tên “rèm hoàng hậu” khi thấy tôi thích. Bây giờ loài hoa ấy vẫn còn trong
bồn cây nhà tôi. Đã sắp vào mùa hoa, những dải dây dài rũ xuống đính những
bông hoa mỏng phớt hồng sẽ nhắc tôi nhớ đến nhà thơ Nguyễn Viết Lãm, nhớ câu
thơ của ông: Cánh chim hồng bay đi Dấu còn in trên tuyết.Bão Vũ Nguồn: nhavantphochiminh Theo http://www.bichkhe.org/ |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét