Chuyện lý luận phê bình là câu chuyện muôn thuở của
văn chương. Mọi ý kiến đưa ra chỉ là những quan điểm cá nhân. Văn chương tự
nó đâu có gì to tát, nó chỉ là chất văn, là hồn người. Trước Tết gặp anh Đỗ
Chu, một tác giả đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh ở Hội Nhà văn Việt Nam tôi có
nói với anh “Giải thưởng trao cho anh đúng là giải thưởng thực sự trao cho
văn”. Anh bắt tay tôi lặng lẽ tri kỷ nói một lời “cảm ơn!”. Trong bài viết
này, có những tên tuổi chúng tôi nhắc đến mà bạn đọc chưa biết nhiều... tất cả
suy đến cùng nằm ở chữ văn. Đọc những câu thơ, những trang văn của họ, thực sự
tôi bị chinh phục. Vì vậy tôi không thể không nhắc đến họ. Còn những tác giả
chúng tôi chưa đề cập trong bài viết này thì cũng là do lỗi ở chúng tôi, tạm
thời còn chưa chinh phục được những tầng sâu ẩn trong tác phẩm của họ.Chuyện lý luận phê bình là câu chuyện muôn thuở của văn chương. Mọi ý kiến
đưa ra chỉ là những quan điểm cá nhân. Văn chương tự nó đâu có gì to tát, nó
chỉ là chất văn, là hồn người. Trước Tết gặp anh Đỗ Chu, một tác giả đoạt giải
thưởng Hồ Chí Minh ở Hội Nhà văn Việt Nam tôi có nói với anh “Giải thưởng
trao cho anh đúng là giải thưởng thực sự trao cho văn”. Anh bắt tay tôi lặng
lẽ tri kỷ nói một lời “cảm ơn!”. Trong bài viết này, có những tên tuổi chúng
tôi nhắc đến mà bạn đọc chưa biết nhiều... tất cả suy đến cùng nằm ở chữ văn.
Đọc những câu thơ, những trang văn của họ, thực sự tôi bị chinh phục. Vì vậy
tôi không thể không nhắc đến họ. Còn những tác giả chúng tôi chưa đề cập
trong bài viết này thì cũng là do lỗi ở chúng tôi, tạm thời còn chưa chinh phục
được những tầng sâu ẩn trong tác phẩm của họ. Lý luận phê bình văn học là nhu cầu khách quan trong cuộc sống
văn chương, ở ta từ khi ra đời từ đầu thế kỷ 20 và rồi từ khi bước sang thế kỷ
21 đến giờ, nhiều thập kỷ đã qua lý luận phê bình hiện đại vẫn luôn ngổn
ngang, bức xúc và gây nhiều tranh luận. Lý luận phê bình văn chương cũng như
nghệ thuật về bản chất là sự minh triết của sáng tạo, nó giúp cho nhận thức của
người viết, người nghiên cứu văn chương, cũng như bạn đọc trở nên sáng sủa
đúng đắn, chính xác, không bị lạc và nhầm lẫn trước không ít thật giả lẫn lộn.
Với người sáng tạo vai trò của lý luận phê bình được thể hiện trong phương
pháp luận sáng tác, góp phần tăng cường chất lượng sáng tạo, góp phần định
hình phong cách nghệ thuật. Còn với người tiếp nhận nó thể hiện trong cách đọc
và phương pháp luận nghiên cứu tác phẩm, trong cảm thụ cái hay cái đẹp khi tiếp
nhận tác phẩm nghệ thuật. Bởi vậy, lý luận phê bình từ bản chất đã mang trong
nó yếu tố khoa học, khách quan, phản ánh quy luật chung và riêng của văn
chương nghệ thuật. Song trong thực tế lý luận phê bình văn học về bản chất
còn là một phần không thể tách rời của văn chương - vốn là một loại hình nghệ
thuật, bởi vậy tự thân nó cũng là sáng tạo nghệ thuật. Nó đòi hỏi không chỉ
khả năng suy lý, phân tích, tổng hợp... mà còn cả khả năng tiếp nhận, cảm
thụ và tái tạo hình tượng nghệ thuật, khả năng cảm nhận được sự hoàn mỹ
của cấu trúc nghệ thuật, cũng như tiếp nhận cái hồn sâu thẳm của văn
chương ẩn trong sự linh diệu của ngôn ngữ tiếng Việt. Lý luận phê bình ở ta trong một thời gian dài hàng chục năm qua cũng là lĩnh
vực luôn bị phê phán nhiều nhất. Người ta sẵn sàng dành nhiều trang báo, nhiều
hội thảo với những cảnh báo nào là sự “yếu kém của lý luận phê bình”, “Thực
trạng lý luận phê bình”, nào là “lý luận phê bình bỏ trận địa”... Thực hư thế
nào không biết nhưng nhìn quanh thấy những đồng nghiệp lý luận phê bình như
Chu Văn Sơn, Lê Quang Trang, Văn Giá, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Đức Hiền, Lưu
Khánh Thơ, Nguyễn Văn Dân, Phạm Quang Trung, Nguyễn Đăng Điệp... những bậc
đàn anh như Phương Lựu, Phong Lê, Huệ Chi, Mai Quốc Liên, Hà Minh Đức... Những
bậc tiền bối như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Lê Trí Viễn, Hoàng Trinh, Phan Cự
Đệ, Hoàng Ngọc Hiến... thấy ai cũng là anh tài sáng giá cả, ai cũng tâm huyết
cả đời cho nghề nghiệp chẳng ai bỏ trận địa cả. Và chính họ mới thực sự là những
yếu tố tạo nên hình hài cũng như giá trị thực của lý luận phê bình Việt Nam trước
kia cũng như hôm nay. Đã nhiều lần những cảnh báo nói trên vang lên như điệp
khúc triền miên, và rồi nhìn quanh, tịnh không thấy ai nói lại, cứ mặc nhiên
“công nhận để rồi tiếp tục cố gắng tiến bộ”. Thực ra, lý luận phê bình ở ta
còn lâu mới thỏa mãn được nhu cầu của giới sáng tác, cũng như trong nó vẫn
còn đó không ít những vấn đề tồn tại... song cũng nên thông cảm và cần nhìn
nhận sao cho đúng với thực tế và sự hiện diện vốn có của nó. Trong thực tế, cái tỷ lệ khen chê dành cho lý luận phê bình cũng luôn mang
tính cực đoan, nếu có 101 lời chê thì mới có được gần một lời khen. Suốt thế
kỷ 20, có nhiều người làm phê bình nhưng gần như được khen chỉ có Hoài Thanh
tác giả “Thi nhân Việt Nam”, ông là tác giả bình thơ duy nhất được giải thưởng
Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, mà lời khen cũng không trọn vẹn bởi không
ít người vẫn chê Hoài Thanh là phê bình cảm tính. Thực ra sự phê phán trong
văn chương vốn dĩ đã có từ lâu nhưng về thực chất nó không tạo được giá trị
thực thể mang tính bền vững vì lời chê dẫu có đúng cũng sẽ cùng với tác phẩm
bị chê tất yếu rơi vào lãng quên, bởi vậy cái cần hơn là sự xây đắp và sáng tạo,
là làm điều gì đó để định hình những giá trị cụ thể, có ích cho lý luận phê
bình, cho sáng tạo và tiếp nhận văn chương, đặc biệt cần phát hiện cái hay,
cái đẹp sâu thẳm của những thi phẩm, của những trang văn... Chỉ có xây dựng,
chỉ có chắt chiu gieo trồng, phát hiện và lưu giữ những cái đẹp dù nhỏ nhất
trong văn chương... thì mới hy vọng làm giàu được cho kho tàng văn học Việt
Nam và qua đó lý luận phê bình mới mong sáng tạo được những giá trị thực sự bền
vững và lâu dài. Chính việc tạo ra những cách tiếp nhận và thưởng thức văn
chương khác nhau cũng là sự sáng tạo muôn thuở của lý luận phê bình và thông
qua đó lý luận phê bình duy trì hứng thú cho bạn đọc và góp phần tạo nên sự bất
tử cho một tác phẩm văn chương. Thật kỳ lạ là dù bị chê bai nhiều nhất nhưng lý luận phê bình vẫn luôn hiện
diện và lặng lẽ làm những gì cần làm trong cuộc sống văn chương, góp phần tạo
nên những “thời đại văn chương” thông qua việc định hình và tôn vinh các tên
tuổi văn chương Việt Nam suốt thế kỷ 20 cũng như trong thế kỷ 21. Nhiều thế hệ
nhà văn nhà thơ đã được phát hiện và lưu danh trong lịch sử văn học từ thời kỳ Thơ
mới như Tản Đà, Thế Lữ, Chế Lan Viên, Bàng Bá Lân, Hàn Mặc Tử, Huy Cận,
Xuân Diệu, Nguyễn Bính..., thời đầu thế kỷ 20 như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn
Tuân, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nhất Linh, Khái Hưng... đến thời kháng chiến
chống thực dân Pháp như Nam Cao, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Khương Hữu Dụng, Tô
Hoài, Vũ Cao, Lưu Quang Thuận, Nguyễn Huy Tưởng, Trần Dần, Hoàng Cầm, Lưu
Trùng Dương... Thời kháng chiến chống Mỹ như Thu Bồn, Nguyễn Văn Bổng, Anh Đức,
Giang Nam, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Hữu Thỉnh, Bằng
Việt, Đỗ Chu, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Hoàng Tiến, Phạm Tiến Duật, Hồ
Phương, Trần Thị Thắng, Hà Phương, Ý Nhi, Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trí Huân,
Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Dân Trung, Ngô Thế Oanh, Nguyễn Trác, Nguyễn Hoa,
Nguyễn Khắc Phục, Thanh Thảo, Trần Đăng Khoa, Chu Lai, Nguyễn Phan Hách, Bùi
Minh Quốc, Bế Kiến Quốc, Phạm Đức... Thời đổi mới như Lê Đạt, Nguyễn Huy Thiệp,
Nguyễn Mạnh Tuấn, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Hoàng Minh Tường... Và có một
đại diện của văn học thiếu nhi là nhà thơ Võ Quảng với bài thơ thật mới “Mời
vào” mang âm hưởng tiếng gõ cửa “Cốc, cốc, cốc!” được viết từ thập niên 70 của
thế kỷ trước, bài thơ lần đầu xuất hiện với tên gọi “Mở cửa” và với thi phẩm
xuất thần này Võ Quảng đã gần như là người đầu tiên dự cảm được sự hội nhập “Mở
cửa” của Văn học nghệ thuật Việt Nam. Có thể nói Võ Quảng cùng các tác giả
khác như Phạm Hổ, Định Hải, Đoàn Giỏi, Vũ Ngọc Bình, Thi Ngọc, Trần Hoài
Dương, Văn Biển... với những sáng tạo hồn nhiên cho con trẻ, họ đã là gạch nối
vừa “mở cửa” cho văn học Việt Nam hướng đến tương lai vừa “mở cửa” cho làng
văn hôm nay hội nhập với thế giới. Thời mở cửa hội nhập đang diễn ra hôm nay
với biết bao những nhà văn nhà thơ đang sung sức sáng tạo như Nguyễn Quang
Thiều, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Nhật Ánh, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Bình
Phương, Phan Thị Vàng Anh, Trần Đức Tiến, Nguyễn Ngọc Tư, Inrasara, Văn Vinh,
Phan Huyền Thư, Phong Điệp, Lê Anh Hoài, Lê Phương Liên, Vi Thùy Linh... Họ
đang viết trong tâm thế “Mở cửa” hội nhập của thời đại. Như vậy, với ngần ấy
tên tuổi được định danh, tất nhiên là còn chưa đầy đủ đã cho thấy thành tựu
sáng tạo quan trọng không thể phủ nhận của lý luận phê bình Việt Nam, góp phần
không nhỏ vẽ nên diện mạo văn học Việt Nam ở mỗi giai đoạn văn học. Hội Nhà
văn trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 đã tổ chức được hai hội nghị lý luận phê
bình một ở Tam Đảo và một ở Đồ Sơn. Chính sự hiện diện của Lý luận phê bình
cho thấy nó là một phần không thể tách rời của cuộc sống văn chương, góp phần
tạo nên dòng chảy không ngừng của văn chương Việt Nam, nó là bằng chứng cho
thấy văn học Việt Nam không phải là một nền văn học mông muội mà nó đang được
soi sáng bởi những tư duy minh triết. Thật ra, sự vinh danh những tài năng văn học mới là phần nổi, còn biết bao phần
chìm khuất mà lý luận phê bình lặng lẽ đóng góp cho văn chương Việt Nam, ví dụ
mỗi con chữ mà người viết sử dụng, sự lựa chọn các tình huống nghệ thuật, lựa
chọn các kết cấu hình thức, các thủ pháp nghệ thuật, quyết định công bố hay
không tác phẩm nghệ thuật của mình... đều có sự đóng góp thầm lặng khắt khe của
lý luận phê bình. Trong thực tế, người viết cũng không thể sáng tạo được nếu
không có lý luận phê bình, bởi họ luôn phải trăn trở với câu hỏi: Viết thế
nào và viết sao cho hay? Đó là câu hỏi liên quan đến phương pháp luận sáng
tác, viết cái gì và viết cho ai? Câu hỏi đó liên quan đến nội dung và hình thức
của một tác phẩm nghệ thuật. Sau khi tác phẩm đã hoàn thành thì câu hỏi lại
được đặt ra là: Tác phẩm là cái gì vậy, nó có phải là nghệ thuật đích thực
không? Câu hỏi liên quan đến bản chất của văn học cũng như chất lượng của
sáng tạo. Những câu hỏi này đều mang trong nó những vấn đề cơ bản của lý luận
phê bình mà nếu không giải quyết được thì người viết cũng không thể sáng tạo
được. Nhưng không ít bạn viết nói với tôi: Khi viết tôi đâu nghĩ đến nó. Hay
như nhà thơ Hoàng Cầm kể lại nửa đêm nghẹ tiếng đọc thơ ông vội tìm bút ghi
lai và sáng ra thấy bài thơ “Lá Diêu bông” bên mình. Thực ra, khi viết bạn
không nghĩ đến nó, không nghìn thấy nó và điều đó không có nghĩa là nó không
tồn tại. Thực ra sáng tác chỉ là điểm cuối, giai đoạn về đích và thăng hoa của
cả một quá trình tích lũy sáng tạo lâu dài, những triết lý sang tạo, các thao
tác lý luận đã được chuyển hóa thành vô thức mang tính kỹ năng và người viết
gần như không còn nhận ra nó nữa. Còn nếu ai đó có thể loại bỏ triệt để lý luận
phê bình khỏi sáng tạo nghệ thuật thì lúc đó sự sáng tạo cũng không còn nữa,
xem ra suy đến cùng bản chất của sáng tạo là phải vượt qua những thách đố, trả
lời các câu hỏi hóc búa, giải quyết các vấn đề đầy nghịch lý và mâu thuẫn mà
cuộc sống cũng như nghệ thuật đặt ra và qua đó mới hy vọng gặt hái được thành
tựu. Trong sáng tạo nghệ thuật chín phần là lao động với các thao tác mang
tính minh triết của lý luận phê bình và chỉ có một phần dành cho sự huyền hoặc
là cái tài trời cho vốn linh diệu nhưng cũng không ít vô thường. Trong thực tế, sự sống của tác phẩm văn học nghệ thuật, như định mệnh tri kỷ
luôn có duyên nợ gắn với lý luận phê bình từ sự nhận ra giá trị của một tứ
thơ, một đề tài tiểu thuyết, từ những lời khuyên trong sáng tạo, từ sự phát
hiện đầu tiên của một nhà phê bình có con mắt xanh nghê thuật... và cho đến
việc lý luận phê bình góp phần duy trì sự quan tâm và hứng thú của độc giả đối
với mỗi tác phẩm văn học. Cuộc sống vốn khắc nghiệt và thời gian luôn treo
trên đầu người viết cũng như tác phẩm của họ “bản án tử hình” của sự lãng
quên. Và chỉ có cái hay hồn nhiên hữu xạ tự nhiên hương của chính tác phẩm
cùng với sự phát hiện của những con mắt xanh, của những tài năng lý luận phê
bình là có thể giúp tác phẩm văn học vượt qua được sự sàng lọc khe khắt của
thời gian. Lý luận phê bình là tri kỷ, là luật sư muôn thuở của các tài năng
nghệ thuật, góp phần giúp tác phẩm văn học vượt qua được sự sàng lọc nghiêm
khắc của quan tòa thời gian. Mỗi bài viết phê bình là một sáng tạo nghệ thuật
đem lại sự bất tử cho một bài thơ, một áng văn và sự kỳ diệu cũng như giá trị
của nó đâu có thua kém bất cứ loại hình sáng tạo nghệ thuật nào. Thực tế, lý luận phê bình không chỉ là mối quan tâm của người làm lý luận phê
bình, mà cả người làm văn chương và bạn đọc cũng ngày càng quan tâm đến nó
nhiều hơn. Lý luận phê bình không chỉ giúp cho việc đánh giá và cảm thụ tác
phẩm mà còn giúp người viết tự hoàn thiện phương pháp sáng tạo, phong cách
nghệ thuật, cũng như tự hoàn thiện tác phẩm. Người sáng tác hôm nay cũng xắn
tay áo dấn thân nhiều hơn vào lĩnh vực phê bình và ngược lại cũng có không ít
nhà lý luận phê bình quay sang sáng tác thơ văn. Nguyên Chủ tịch Hội đồng thơ
Vũ Quần Phương cũng là một cây phê bình và nguyên chủ tịch Hội đồng Lý luận
phê bình Lê Quang Trang cũng là một nhà thơ. Nhà thơ nhà văn viết lý luận phê
bình để phát huy ưu thế cảm thụ nghệ thuật của họ. Còn các nhà lý luận phê
bình chuyển sang sáng tác cũng là cách đi thực tế, đó là cái duyên thử khả
năng sáng tạo nghệ thuật, đồng thời góp phần thể nghiệm các phương pháp sáng
tác mới. Có lẽ sự mở cửa hội nhập của văn học Việt Nam trong những thập kỷ qua thể hiện
mạnh nhất là trong lĩnh vực lý luận phê bình văn học với việc nhiều trường
phái văn học hiện đại của thế giới được giới thiệu ở ta. Tất nhiên chủ yếu là
chiều vào còn chiều ra thì không nhiều. Một số tác giả trong văn học Việt Nam
được dịch và giới thiệu ra thế giới, trong công việc này có đóng góp lựa chọn
không thể phủ nhận của lý luận phê bình. Ngay cả chiều vào, đưa văn học nước
ngoài vào Việt Nam, chọn dịch tác phẩm nào, giới thiệu và khẳng định những
giá trị nào, để làm được việc này cũng cần những thao tác phê bình, cũng cần
có tiếng nói lý luận. Để giúp cho nghiên cứu văn học, để hỗ trợ cho sáng tác
văn chương, nhiều trường phái lý luận trên thế giới cũng đã được dịch và giới
thiệu ở ta. Nhiều khái niệm mang tính học thuật của thế giới đã trở nên quen
thuộc như: Hiện thực xã hội chủ nghĩa, hiện thực phê phán, hiện thực huyền ảo,
siêu thực, chủ nghĩa lãng mạn, thi pháp học, ký hiệu học, chủ nghĩa hiện đại,
hậu hiện đại... Đó là sự giao thoa tốt đẹp và đó cũng là sự học hỏi không mệt
mỏi của của lý luận phê bình văn học Việt Nam. Chúng ta đang được hưởng những
thành tựu lý luận phê bình của thế giới. Nhưng đó cũng chưa là toàn bộ của lý
luận phê bình Việt Nam, bởi nó còn có thêm phần suy ngẫm dựa trên kinh nghiệm
sáng tạo của chính người viết Việt Nam. Việc dịch thuật tinh hoa lý luận phê
bình thế giới đóng góp cho không chỉ nghiên cứu văn học mà còn là gợi ý cho
người sáng tạo hình thành phương pháp sáng tác cho riêng mình. Lý luận phê bình ở ta những năm gần đây đã thể hiện được sự hữu ích cho cuộc
sống văn chương, thông qua các bài viết, các hội thảo về các tác giả, tác phẩm
của nhiều thế hệ nhà văn nhà thơ, chủ động góp phần hình thành và định hình
các tác giả lớn cho văn chương dân tộc. Các hội thảo gần đây như Hội thảo về
các tác giả như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Võ Quảng. Nguyễn Tuân, Lê Anh Xuân,
Nguyễn Huy Tưởng, Tố Hữu... là những sự kiện thực sự có chất lượng học thuật,
tạo được sự gắn bó và tác động vào cuộc sống văn chương. Chúng ta cũng cần có
lý luận phê bình văn học thiếu nhi để thông qua đó tạo nên tương lai cho văn
học Việt Nam, giải mã các hiện tượng hình thành tài năng nhí trong văn học Việt
Nam. Lý luận cũng như thực tế luôn chỉ ra rằng sự nuôi dưỡng tài năng hiệu quả
nhất là bắt đầu từ tuổi thơ. Nếu lý luận văn học thiếu nhi giải mã và phát hiện
được quá trình hình thành tài năng nghệ thuật thì đây sẽ là chìa khóa mở cửa
cho sự phát triển và thăng hoa của tương lai văn học nghệ thuật Việt Nam và
chính nó sẽ giúp chúng ta thoát khỏi nổi băn khoăn trăn trở gần như luôn ám ảnh
trong làng văn chúng ta về việc hôm nay cũng như tương lai không có tác giả
và tác phẩm xứng tầm thời đại trong văn học Việt Nam. Lý luận phê bình Việt Nam đã có những bước tiến không chỉ trong nhận thức mà
cả trong thực tiễn sáng tạo. Không ít công trình lý luận đã ra đời dựa trên sự
nghiên cứu thành tựu lý luận phê bình thế giới, dù chưa đậm đà bản sắc Việt
Nam nhưng nó đã giúp giải quyết được những vấn đề chung của sáng tạo và
nghiên cứu văn học nghệ thuật. Mỗi bài viết hay cũng là một sáng tạo nghệ thuật
vì nó góp phần đổi mới và làm thăng hoa sáng tạo trong văn chương. Lý luận
phê bình cùng với những bài thơ, những trang văn đã đang và mãi mãi góp phần
tạo nên không gian văn học, tạo nên sự sống thường nhật cho văn chương. Một
điều nữa chúng ta cũng không thể không ghi nhận đó là ngay trong ban chấp
hành mới được bầu ra của Hội Nhà văn Việt Nam cũng lần đầu tiên có sự hiện diện
của hai nhà lý luận phê bình là Phan Trọng Thưởng và Lê Quang Trang. Chủ tịch
hai hội nhà văn lớn ở thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai nhà lý luận
phê bình Phạm Xuân Nguyên và Lê Quang Trang. Đó là những dấu hiệu đáng quý,
là điểm tựa giúp ta tin tưởng hơn vào tương lai của văn học Việt Nam. Ai đó nói rằng, trong lĩnh vực lý luận văn học Việt Nam chúng ta chỉ học hỏi
và lấy của nước ngoài, hoàn toàn chưa có đóng góp gì, theo tôi điều đó cũng
chưa hắn đúng. Thực ra trong lĩnh vực lý luận văn học, làng văn ta cũng đã có
một số sáng tạo như việc Hoài Thanh xác định đặc trưng khuynh hướng phê bình
thơ của ông là chỉ viết khi cảm nhận được cái hay cái đẹp của những thi phẩm.
Với quan điểm này, Hoài Thanh chính là người đầu tiên khẳng định tính nghệ
thuật của phê bình và ông đã thành công nhờ dựa trên sự tinh tế và chính xác
của xúc cảm thẩm mỹ. Nhà thơ Inrasara khởi xướng phê bình lập biên bản. Còn
nhà phê bình Ngô Vĩnh Bình, bạn bè văn chương gọi vui là vua tư liệu có lối
phê bình gần như chủ yếu là kể chuyện thơ văn. Nhà lý luận Hoàng Ngọc Hiến
thì trăn trở với minh triết Việt Nam, giáo sư Phong Lê luôn lưu một chút tình
khi dựng chân dung biết bao những bạn văn mà ông luôn yêu quý... Trong bộ sách Nhà văn Việt Nam hiện đại nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà
lý luận phê bình đã đưa ra những quan niệm văn chương ít nhiều mang màu sắc
lý luận, tất nhiên chưa thể mang tính lập thuyết mà thường chỉ mang tính đúc
rút kinh nghiệm sáng tạo. Còn về phần mình, chúng tôi cũng xin phép đưa ra
quan điểm lý luận phê bình của riêng mình đó là phê bình hữu xạ tự nhiên
hương. Chúng tôi coi hiện thực văn chương tự thân nó đã có sự hiện diện của
cái hay cái đẹp, bởi đây là trị số logic thể hiện bản chất của nghệ thuật.
Nhiệm vụ của lý luận phê bình là làm cho cái đẹp đó tự nó lộ diện và tỏa
sáng. Và phương pháp của chúng tôi có mục tiêu chủ yếu giúp văn chương hữu xạ
tự nhiên hương, để nó trở nên đẹp hơn, lung linh hơn trong mắt bạn đọc. Chính
điều đó giúp nhà phê bình hướng đến sự phê bình khách quan tối ưu, đồng thời
cũng góp phần giúp bạn đọc tự mình nhận ra được cái hay cái đẹp của văn
chương. Với chúng tôi, mọi thủ thuật phê bình đều có giá trị ngang nhau:
Khen, chê, so sánh, sắp đặt, bình luận, trích dẫn, cảm tính, lý tính, phân
tích, tổng hợp, gợi mở, nhấn mạnh, tô đậm, tạo không gian, tái tạo, liên tưởng,
tiếp cận vi mô, tiếp cận vĩ mô... Vấn đề quan trọng là ở chỗ sử dụng các thủ
thuật đó đúng lúc, đúng chỗ để giúp tác phẩm hữu xạ tự nhiên hương đến với bạn
đọc và giúp bạn đọc tự mình cảm thụ được tác phẩm. Khi bạn đọc phát huy được tính
chủ động trong cảm thụ văn học thì với họ văn học nghệ thuật cũng trở nên thú
vị hơn. Lý luận phê bình hôm nay được sự hỗ trợ của công nghệ và khoa học có thể chủ
động hơn trong việc phát hiện và nuôi dưỡng tài năng nghệ thuật. Sẽ hữu ích
hơn khi ta không chờ cho tài năng trở nên viên mãn rồi mới nói đến, phê bình
văn học luôn tiềm ẩn khả năng góp phần cùng trời đất tạo tác tài năng từ khi
mới hình thành, kích thích tài năng đơm hoa và kết quả. Những lâu đài nghệ
thuật muốn đứng vững và trường tồn với gió bão thời gian luôn cần dựa trên những
nền tảng vững chắc của lý luận phê bình. Võ Gia Trị Nguồn: TCNV 3/2013 Theo http://www.bichkhe.org/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét