“Một chiều hồ Tây cuối năm Vũ trụ luân hồi u u sóng nước Rưng rưng lắm mà em chẳng khóc Hóa vàng đi em lễ Phật Phủ Tây Hồ” Thái Thăng Long Phan rảo quanh và ngắm đi ngắm lại quang cảnh mình muốn vẽ.
Buổi chiều làm hồ Tây thêm mênh mông, anh nhìn mặt trời, kiên nhẫn chờ đợi cái
vầng đỏ ối ấy đang từ từ hạ xuống sau lưng triền núi xa. Cuối cùng Phan cũng chọn được một góc độ, anh nhanh chóng giở
giá vẽ. Phan dùng bút chì vạch ngang đường chân trời, rồi bắt đầu vẽ
từ gần đến xa. Khi phác xong những nét cơ bản, anh gật gù: “Sẽ là một bức tranh
đẹp!” Phan đi màu thật nhanh, tin mình vẽ kịp trước khi trời tối.
Trong trường Mỹ thuật, Phan vẫn nổi tiếng về tốc họa, có lẽ vì thế anh thích vẽ
thủy mặc, cần những nét cọ nhanh, chính xác và tài hoa. Chiều nay, Phan muốn bắt được cái màu vàng còn sót lại của
hoàng hôn, ánh xạ xuống những gợn sóng hồ Tây thành mầu vàng xám, điểm chút bạc.
Và nhất là màu mây hồng nồng nàn như sương chiều vương vấn lưng chừng rặng núi
tím. Núi Ba Vì như trôi trên hồ Tây, như bay theo mây… Khi Phan chỉ còn điểm thêm vài nét cuối thì bỗng nghe có tiếng
bước chân nhè nhẹ từ phía sau… Anh quay lại và bắt gặp một phụ nữ có gương mặt
rất đẹp. Nàng nhoẻn cười và gật đầu chào Phan, rồi khoan thai tiến lại
phía bể đốt hương. Phan bàng hoàng đê mê bởi mùi hương kỳ diệu! Nhất là vóc dáng
liêu trai quá đẹp của nàng. Phan dụi dụi mắt, biết rằng mình không mơ. Gái Hà Nội vốn trắng đẹp, nhưng Phan không ngờ chốn thanh vắng
này lại có mỹ nhân đẹp thế này! Da trắng như trứng gà bóc, môi mọng đỏ tựa hoa
đào, gương mặt trái xoan đầy đặn phúc hậu. Nàng vấn khăn mỏ quạ thò lọn tóc
đuôi gà, mặc yếm màu hồng phấn, áo tứ thân màu vàng chanh, quần lĩnh trắng,
chân đi hài xanh nõn chuối… Màu sắc y phục trên người nàng thật trang nhã hài
hòa, rực sáng thêm bởi những hoa văn thêu kim tuyến sáng lóng lánh. Là nghệ sĩ yêu cái đẹp, Phan hồi hộp ngẩn ngơ, nghĩ: “… Người
đẹp mặc y phục xưa đi lễ… thật hợp với phong cảnh chùa chiền!… Nhất là giữa chiều
cuối năm như thế này, càng thêm phong vị hoài cổ…” Anh lại nghĩ: “… Chắc nàng mới
dự đám cưới gần đây về?… Hay nàng là cô dâu?…”. Người đẹp chậm rãi thắp nhang, thành kính hóa vàng, đôi môi
hé mở mấp máy cầu xin… Phan ở cuối gió, khói hương như mang lời khẩn cầu của
nàng dạt dào bay về phía chàng… Phan vớ vội lấy cọ, và chỉ vài nét vẽ, người đẹp với y phục cổ
truyền hiện ra trong tranh như cô Tấm. Nàng dựa lưng vào gốc vối già, khẽ vén lọn
tóc mai, ngước đôi mắt bồ câu mơ màng nhìn lên trời. Với con mắt họa sĩ, Phan
nhận ra ngay cái cổ cao ba ngấn của người phụ nữ đẹp và quý phái. Nàng chợt quay lại nhìn Phan, nghiêm trang không cười, nhưng
mắt thuyền chao nghiêng như mời. Phan phân vân!… Anh cố nhìn nét hoa văn trên áo nàng, cùng
vài chi tiết cần vẽ. Khi chấm màu, Phan nghĩ: “Cố chút nữa là xong, rồi mình sẽ
tìm cách làm quen với nàng…” Người đẹp dường như biết Phan đang ngắm vẽ mình, nhưng nàng
phớt lờ, thong thả bước lại mé hồ, khoan thai tháo đôi hài xếp ngay ngắn, rồi
vén áo ngồi lên, thả hai chân trần trắng muốt đung đưa đùa với những gợn sóng. Khi Phan tô màu đôi hài xong, ngẩng lên thì không thấy nàng
đâu?… Anh giật mình dáo dác nhìn quanh: “Ơ! Mới đây mà?…” Rồi xếp vội
giá vẽ, tay cầm bức tranh chưa kịp khô, hấp tấp bước nhanh vào gian chính điện. Phan rảo nhanh khắp lượt, sang cả dãy cung chầu bên phải, liếc
nhìn xuống bếp… nhưng vẫn không thấy nàng đâu?… Chiều cuối năm vắng lặng, bà quản dãy cung chầu chậm rãi thắp
đèn… Phan hoang mang bước ra, hỏi ông Từ thủ đền đang chuẩn bị khép cửa: “Thưa
cụ, cụ có thấy cô gái nào mới vào đây không ạ?” Ông Từ lắc đầu: “Không… Cậu định
tìm ai?” Phan gãi đầu, rồi vắn tắt kể, anh chìa cả bức tranh mới vẽ:
“Cô ấy ăn vận như thế này… Vừa ngồi bên hồ…” Ông Từ chợt thất sắc: “Ngồi bên hồ
à? Không khéo!…” – “Sao ạ?…” Ông Từ không trả lời, nhìn anh rồi hấp tấp chạy ra cửa. Phan
ngơ ngác chạy theo… Mặt trời đã lặn hẳn, bóng tối chụp xuống làm Phan chẳng còn
trông rõ cảnh vật. Mưa xuân lắc rắc và gió chợt lạnh. Phan rùng mình liên tiếp,
run run hỏi ông Từ: “Cụ… nghĩ sao?” Ông Từ cúi nhìn xuống mé hồ: “Đã lâu không
có… Nhưng trước đây vài năm, những cô gái thất tình cứ hay đến đây trầm mình.”
Phan giật mình: “Vậy sao!?” Rồi hỏi: “Thưa cụ, chắc… chết cũng khá nhiều?” Ông
Từ im lặng, lúc sau mới nói: “Ừ… Nhưng sau đó cũng có những chàng trai biết vậy
nên chực chờ đón sẵn” – “Ra thế!… Hay thật!…” – “Thường sau đó họ lấy nhau.” –
“Vậy mà cháu không biết!… Giá lúc nãy…” Ông Từ gật đầu thông cảm, rồi chỉ vào bệ
đá xây ven hồ: “Cậu thấy cô ấy ngồi đây à?” – “Vâng, chính chỗ này.” – “Thần sắc
có buồn không?” Phan phân vân: “Cháu không để ý…” Rồi hỏi lại: “Gần đây có đám
cưới nào không cụ?” – “Tôi không rõ… Nhưng nếu có thì họ thường vào lễ Phủ”. Phan lần bước lại gần bể hóa vàng, đến chỗ giai nhân áo vàng
đứng lúc nãy. Anh cúi nhìn đống tro tàn trong bể, không phân biệt được mới hay
cũ, ảo ảnh hay phù du? Lòng Phan vừa lo vừa tiêng tiếc, anh lẩm bẩm: “Mong nàng về
nhà rồi…”. Sau đó, Phan chợt thấy thấp thoáng một chiếc thuyền con neo ở
mé hồ, liền nẩy ý tìm nàng… “Thuyền của ai đây hở cụ?” – “Của Phủ…” Ông Từ nhìn chàng vẻ
hiểu ý, hỏi: “Cậu chèo được không?” Phan gật: “Cháu dân bể. Cụ cho cháu mượn
thêm cây đèn bấm” – “Có đèn bão được không?” – “Vâng, càng tốt!” Phan chèo luôn tay, tiết xuân lạnh và gió hồ lồng lộng, nhưng
lưng áo anh đẫm mồ hôi. Phan hết cho thuyền trôi dọc men bờ, lại quanh quẩn ra
xa… Anh mỏi nhừ đôi tay: “Mình thật không đâu vào đâu!…” Rồi lo lắng:
“Nói dại, nếu cô ay có gì… thì giờ này!…” Mãi một lúc sau, Phan thất vọng định quay thuyền vào thì chợt
thấy một chiếc thuyền nhỏ có mui lơ lửng trôi ngang phía trước… Phan quẫy chèo cho thuyền tránh sang bên, cũng có ý nhìn thoảng
vào khoang thuyền lạ?… Anh bỗng giật mình khi nghe tiếng phụ nữ cười khúc
khích?… Phan bán tín bán nghi, liền cặp thuyền sát vào… Dưới ánh đèn bão, một đôi mắt to đen long lanh ngước nhìn
anh, cái cổ cao ba ngấn… Phan mừng rỡ kêu lên: “Cô đấy à?” Người đẹp mỉm cười gật đầu, đôi tay vẫn nhẹ nhàng khua chèo,
nàng cất giọng thánh thót hỏi lại: “Đêm hôm chàng chèo thuyền đi đâu đấy?” Phan
lúng túng; “À… Tôi du xuân đấy mà…” Nàng cười khanh khách: “Định bắt chước Trạng
Bùng sao?”. Nàng nói làm Phan nhớ ngay đến Phùng Khắc Khoan – một danh sĩ
thời Lê, thường du thuyền chơi hồ Tây. Phan thích thú lẫn ngạc nhiên! Ra nàng
biết cả tích xưa!… Anh nhìn cô gái với vẻ ngưỡng mộ: “Không dám! Thật ra tôi lo
cho cô quá!…” Nàng chớp mắt cảm động, mỉm cười: “Tôi có nhảy xuống hồ. Nhưng cuộc
đời đẹp thế này, tôi làm sao chết được?”. Phan ngơ ngẩn vì những lời đối đáp của nàng, chưa nói thêm được
lời nào… Anh chợt nhớ mình chèo thuyền quanh quẩn đã khá lâu rồi, sợ
ông Từ lo, liền ướm rủ: “Ta vào bờ chứ?…” Nàng lắc đầu: “Vội gì? Đêm xuân đẹp
thế này!…” – “Cô đi thuyền một mình không sợ sao?” – “Tôi quen rồi, nhà gần đây
mà. Vả lại cô đơn mới đáng sợ hơn”. Phan gục gặc đầu: “Hay thật!” Rồi đánh bạo
hỏi: “Xin lỗi!… Thế gia đình cô?…” Nàng đáp ngay: “Chồng tôi mất rồi”. Phan giật mình, suýt hỏi ngớ ngẩn: “Có chồng rồi à?…” Anh mỉm
cười liếc nhìn nàng… Tài hoa như thế này… Rồi ướm hỏi: “Tôi muốn mời cô ghé vào
một quán gần Phủ, ta ăn bún ốc Tây Hồ?…” Nàng gật đầu: “Tôi biết một quán ngon
lắm!” Phan mừng rỡ: “Vậy xin cô hướng dẫn…” Người đẹp nhoẻn miệng cười rồi quẫy
mạnh tay chèo. Phan chèo thuyền cặp sát thuyền nàng, mùi hương kỳ diệu ban
chiều từ người nàng tỏa ra làm chàng ngây ngất! Khuôn mặt nàng nhìn nghiêng
trông càng đẹp. Tóc sáng như gương, sóng mũi cao và thanh, hàng mi dầy cong vút
như trăng liềm, mắt chơm chớp ánh sao long lanh tựa sóng. “Tôi tên Phan… Còn cô?…” Nàng cười, dùng ngón tay viết lên
khoảng không một chữ như phượng bay bướm lượn. Phan đọc ngay: “Quỳnh”. Nàng mở to mắt nhìn anh rồi gật đầu. Thuyền len vào giữa đám lau sậy khá dầy, cuối cùng tấp vào một
quán vắng dựng cheo leo ven hồ… Nàng Quỳnh nhanh nhẹn cột thuyền, rồi thoăn thoắt lên bờ.
Phan cầm đèn soi theo… Cả hai bước vào quán, tường bằng đất nện rơm, mái lợp cỏ.
Trong quán kê vẻn vẹn một bàn và bốn ghế, tất cả bằng tre ngà, trông đơn sơ
nhưng rất sạch sẽ. Phan buột miệng: “Ồ quán rất thơ!” Anh nhìn sâu vào bên
trong, hỏi nàng Quỳnh: “Sao không thấy chủ quán?” Quỳnh cười chúm chím: “Thú thật,
tôi là chủ quán này. Vì địa điểm vắng nên phải cất công mời khách”. Nàng ngước
nhìn anh, nói thêm: “Mà phải là khách tri âm”. Phan chưa hết ngạc nhiên thì nàng đã nhanh nhẹn lui vào gian
bếp. Phan để đèn lên bàn rồi phân vân nhìn theo… Giờ chàng mới thấy trong quán sáng dìu dịu, bởi ánh trăng rọi
chếch qua liếp cửa trống, và trên mái cỏ lợp thưa chi chít những ánh sao. Chốc sau, nàng Quỳnh bê ra một mâm bún ốc nghi ngút khói, lại
có cả bình rượu và một chén nhỏ. Nàng thấy Phan đang săm soi những câu thơ viết
bằng mực Tàu treo trên vách, bèn cười: “Không ngờ chàng cũng giỏi Hán Nôm.”
Phan quay lại: “Tôi may mắn được ông nội dạy cho ít chữ” Nói xong anh giở bức
tranh vẽ lúc chiều ra: “Bài thơ này sao hợp với tranh của tôi quá!” Quỳnh cười:
“Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Phan mở to mắt nhìn nàng: “Cô chắc
cũng yêu thơ?” Quỳnh trả lời quanh: “Thơ là tinh túy trời đất, của chung thiên
hạ.” – “Những bậc tài hoa mới nắm được.” – “Tài hoa thường ba chìm bảy nổi…”
Phan gật gù, chỉ vào tố nữ trong tranh: “Dáng cô đang hóa vàng lẫn trong khói
hương trông đẹp và huyền ảo lắm! Cứ như là tiên!” Quỳnh mơ màng: “Khói hương
cho thanh thản một phần đời(1)…” Phan đùa: “Tôi ngửi được tiếng khói” – “Lời khấn
của tôi ư?” – “Có thể.” – “Chàng thử nói xem?” – “Hình như là lời cầu xin được
hạnh phúc và tình yêu”. Quỳnh đỏ mặt cúi đầu. Phan nói tiếp: “Đồng khí tương cầu”.
Quỳnh mỉm cười, nhẹ nhàng sắp bát đũa rồi rót rượu ra chén…: “Chàng ăn bún cho
nóng.” Phan ngồi xuống ghế tre: “Vâng, mời cô!” Phan vừa ăn vừa tấm tắc khen:
“Ngon quá!” Quỳnh cười: “Món này hơn nhau bởi cách làm và nước chấm. Phải dùng
chính nước ốc luộc hấp lá bưởi, pha thêm gia vị…” – “Tuyệt thật! Cô nấu lúc nào
mà nhanh vậy?” – “À… Quán lúc nào cũng sẵn. Tôi hâm trên tro nóng… Chờ vài
khách quen…” Rồi chỉ lên vách: “Họ làm thơ tặng tôi đấy.” – “Tôi cũng xin tặng
cô bức họa này” – “Ồ! Cảm ơn chàng.” – “Có lẽ nên sửa thêm đôi chút…” – “Đẹp lắm
rồi!… Chỉ cần chàng đề thơ.” – “Sao cô biết tôi?…” – “Thơ họa thường đi đôi.”
Phan cười: “Nhưng tôi biết cô đề thơ sẽ hay hơn”. Quỳnh lắc nhẹ đầu, nhưng sau
đó lại đọc: Đây lúc kề hoa bày tiệc rượu Họa khi tựa bóng đứng đầu mui. Phan lắng nghe, sung sướng uống cạn chén rượu, nhớ hai câu
thơ của Nguyễn Khuyến: Từ xưa mặt ngọc ai mà chẳng Chén rượu bên đèn luống tỉnh say… Anh nhìn nàng, gật gù khen: “Hay quá! Nhưng âm điệu hơi cổ…”
– “Tôi già lắm sao?” – “Không. Cô trẻ và đẹp lắm!” Quỳnh đỏ mặt, cúi đầu rót
thêm rượu: “Chàng uống thêm đi…” Phan gật đầu: “Vâng, rượu ngon lắm! Mời cô
cùng nhấp chén cho vui”. Quỳnh khẽ nhấp môi rồi chuyền cho Phan. Phan vốn hay rượu,
nhưng hôm nay rượu ngọt rót bởi tay ngà, mới mấy chén chàng đã say… Mãi chiều hôm sau Phan mới tỉnh dậy, anh giật mình dụi mắt!
Bàng hoàng khi thấy mình đang nằm giữa một bụi chuối lớn rậm rạp. Ngay trước mặt
anh là một buồng chuối lạ dài chấm đất, phải đến trăm nải(2). Phan bật dậy ngơ
ngác nhìn quanh, chẳng thấy lều cỏ đâu? Thuyền cột ven hồ trôi đâu không còn?…
Chỉ thấy cây đèn bão dằn lên bức tranh, và một giọt sương vô tình điểm thành hạt
lệ trên khóe mắt giai nhân… Phan sững sờ một lúc lâu, bần thần nhìn Phủ Tây Hồ cách xa đến
hơn cây số. Sau đó, Phan đành cuốc bộ, nhắm hướng tìm lối về Phủ. Dọc theo đường cái quan, Phan ghé vào hỏi thăm, anh hết sức
hoang mang khi nghe các bà các cô bán hàng nói: “Chúng tôi bán ở đây đã lâu, chẳng
thấy cô gái nào tên Quỳnh bán bún ốc cả”. “Hay anh say quá rồi mơ?”. “Đang đêm
sao lại có cô gái ăn vận như thế?” . “Rõ lẩn thẩn!…” Cuối cùng, Phan vào Phủ gặp ông Từ và kể lại chuyện đêm qua.
Ông Từ trầm tư lắng nghe: “Lạ thật! Lạ thật!” Rồi gật gù: “Ừ, biết đâu có cô
gái nào đó, chẳng thất tình gì cả, nhưng muốn được yêu nên giả trầm mình…” Phan
ngơ ngác: “Như vậy nghĩa là…” Ông Từ vuốt râu: “Cũng có thể là hồn ma của cô
gái nào đó?…” Phan rùng mình, ông Từ chợt bảo: “Anh cố nhớ và đọc lại hai
câu thơ nàng Quỳnh đọc đêm qua?…” Lạ thay Phan thuộc lòng như đã từng đọc ở đâu rồi… Ông Từ nhíu mày, vỗ vỗ bàn tay lên trán: “Nghe quen quá!…
Này, hình như thơ Bà Chúa Liễu Hạnh(3)… Phan giật mình! Anh ngước nhìn pho tượng Bà Chúa Liễu… “Cổ
cao ba ngấn!… Hay nàng tiên Ngọc Quỳnh và quán Tây Hồ Phong Nguyệt?…” Mắt tượng Chúa Liễu lim dim như đùa ghẹo Phan. Như kẻ mộng
du, anh bâng khuâng bước ra… Ngoài kia chiều như chậm rơi, sóng bồng bềnh bồng bềnh… Phan chợt nhớ hình như câu cuối cùng nàng Quỳnh nói với chàng
đêm qua: “… Cái Đẹp bất tử…”. Chú thích: (1) Thái Thăng Long. (2) Loại chuối lạ này có trong khuôn viên Phủ Tây Hồ. (3) Đúng là thơ của Bà Chúa Liễu Hạnh (Bản dịch của Phan
Kế Bính). Theo truyền thuyết, nàng tiên Ngọc Quỳnh bị Trời đày xuống trần, nàng
xinh đẹp, giỏi cầm kỳ thi họa, nhưng số đào hoa lận đận. Lớn lên lấy chồng, chồng
mất, nàng buồn phiền ngao du đây đó, lập quán Tây Hồ Phong Nguyệt, xướng họa
thơ phú với các danh sĩ tài hoa như Trạng Bùng – Phùng Khắc Khoan… Khi Ngọc Quỳnh về Trời, vẫn còn quyến luyến dương gian nên
thường xuống trần chọc ghẹo các danh sĩ. Nàng rất linh thiêng, hay giúp đỡ dân
chúng thoát khỏi thiên tai, được nhiều nơi nhớ ơn thờ phụng tôn là Bà Chúa Liễu
Hạnh. (Theo Việt Nam danh nhân dị sử của Phan Kế Bính). 16/10/2022 Phan Đức Nam Theo https://vanvn.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét