Thứ Năm, 18 tháng 9, 2025

Con đường Hồi Giáo 2

Con đường Hồi Giáo 2

Chương 8 - Jordan: Những “tội lỗi” và “tai tiếng” ở vùng Biển Chết
Hồi mới lớn, tôi thường hình dung về Trung Đông như một xứ sở thần tiên với những mối tình lãng mạn, những harem tràn trề nhục dục, những chàng trai Ả Rập đẹp thắt tim và những cô gái eo thon với điệu múa bụng còn mê hoặc hơn cả ánh nhìn của hổ mang chúa. Lớn hẳn lên, những câu chuyện trên báo chí về Trung Đông khiến tôi vỡ mộng bởi vùng đất này giống như một hoang mạc về tình dục và những cuộc hôn nhân dường như chỉ có mỗi một mục đích là… phối giống. Bây giờ được đặt chân lên đây, tôi thấy cả hai sự hình dung của mình đều đúng và đều sai, bởi hình như ai cũng bận rộn với hai cuộc sống, một truyền thống đến thành cổ hủ, một tà dâm đến thành nổi loạn. Dưới tà áo chùng đen nào dường như cũng ẩn chứa một ngọn lửa tình bị kìm hãm, và sau ánh mắt rạp xuống khiêm nhường nào cũng cháy bỏng một nỗi đam mê thèm khát.
Một tí da là… nhiều tí tội lỗi
Trong vòng chưa đầy bốn mươi tám tiếng đặt chân đến Jordan, tôi thành người nổi tiếng.
Một tờ báo chính thống của Jordan đăng ảnh tôi lên trang nhất, một tờ khác post hình tôi lên facebook và tính cho đến thời điểm này thì đã có khoảng 120 người “share”, chia sẻ, phát tán trên mạng cái hình tôi bé xíu. Kể đến đây đã biết ngượng nên phải đính chính lại ngay rằng tôi “tai tiếng” chứ không phải nổi tiếng. Mà cũng chẳng phải tôi, chỉ là… cái vai tôi tự dưng xấu số thành đề tài cho thiên hạ ném đá.
Chiều hôm ấy, tôi và hai người bạn đi qua phía thánh đường Hồi giáo ở trung tâm thủ đô Amman đúng vào lúc gần một ngàn tín đồ trải chiếu ra con đường chính để cầu nguyện. Bình thường họ cầu nguyện trong thánh đường, nhưng từ khi Mùa xuân Ả Rập tràn qua, chiều cuối tuần nào phe đòi cải cách chính phủ cũng cố tình tổ chức cầu nguyện tràn cả ra đường. Trên vỉa hè, ai mua bán qua lại thì cứ việc buôn bán lại qua. Dưới lòng đường, các ông các anh và các bé trai dập đầu nhằm hướng Mecca quỳ lạy. Được một chặp thì con bé tôi hơn hớn mặc áo hở vai tình cờ đi qua. Đúng kiểu một khách du lịch, thấy lạ là giương máy ảnh lên chụp. Toách!
Chưa đầy ba tiếng sau, thằng Rudy gọi điện hộc tốc triệu tập tôi lên facebook. Chình ình trên trang chính của tờ báo là cái vai trần của tôi phơi ra. Dưới lòng đường, một nửa đám đàn ông cúi đầu cầu nguyện, một nửa cả gan… ngước mắt nhìn. Đấy, chỉ có thế thôi. Thế mà dân tình bù lu bù loa, hết kêu tôi không tôn trọng tín đồ đang làm nghi lễ, rồi lại quay ra chửi bới mấy gã tín đồ nửa mùa đang lạy Chúa Trời mà thấy gái một cái là giướng mắt lên.
Cái vai tai tiếng của tôi ở Amman khi tình cờ đi qua một buổi hành lễ chiều thứ Sáu ngay trên mặt đường.
Tôi hết hồn, kêu Rudy giải thích xem bản thân sai chỗ nào. Bởi khách du lịch ăn mặc như tôi ở Amman là chuyện thường. Và hàng chục khách du lịch tình cờ đi qua chụp ảnh họ là điều đương nhiên, vì họ đã chọn cầu nguyện trên vỉa hè nơi buôn bán chợ búa chứ không phải trong thánh đường tôn nghiêm. Rudy nhíu trán một hồi rồi kêu cái ảnh này không đăng mặt tôi, ý đồ cố tình muốn cho dân tình hiểu nhầm tôi là người bản xứ chứ không phải khách du lịch. Chung quy chỉ là muốn bán được báo và câu lượt xem.
“Thế tại sao lại phải câu view kiểu nửa mùa như thế?”
Đơn giản là vì trâu bò đang đánh nhau nên cần ruồi muỗi chết cho xôm tụ. Sau mỗi chiều thứ Sáu cầu kinh xong là cả ngàn tín đồ này đứng lên lôi băng rôn ra tuần hành biểu tình đòi thay đổi chính phủ. Suốt hơn một năm rưỡi sau Mùa xuân Ả Rập, trung bình cứ sáu tháng Jordan lại có một ông thủ tướng mới, ông nào cũng có thời từng làm… cựu thủ tướng. Sau tầm nửa năm không cải cách kịp bèn phải từ chức để thay nội các. Vì thứ Sáu nào cũng có biểu tình nên báo chí phải căng óc tìm ra khía cạnh mới giật tin cho ăn khách. Việc đưa cái vai của tôi lên báo theo Rudy là “lá cải” hết phương cứu chữa. “Sex sells!”
Tình dục bao giờ cũng là một vũ khí chính trị thần kỳ. Ở phương Tây, những vụ xì căng đan có dính đến da thịt dễ dàng quật chết một tài năng lãnh đạo. Ở Trung Đông, sex và sự “suy đồi về cuộc sống tình dục” theo kiểu châu Âu thậm chí trở thành một trong những động lực để cả một chủ nghĩa Hồi giáo ra đời (Islamism) với mục tiêu chống lại ảnh hưởng tiêu cực của phương Tây và phục hưng một thời huy hoàng của đế chế Hồi giáo. Phương thức để có thể đưa Trung Đông nghèo nàn lạc hậu quay trở lại những năm tháng vinh quang là dùng đạo Hồi làm kim chỉ nam và nền tảng cho cuộc sống cá nhân và chính trị của toàn xã hội. Trong một xã hội lý tưởng mà họ mơ ước đạt được, những phụ nữ (bản địa) nhơn nhơn mặc áo hở vai tung tăng ngoài đường như con bé tôi chiều hôm qua là một vết nhơ của văn minh phương Tây đột nhập vào đây làm biến thái văn hóa nội địa. Đã thế, tôi lại đặt chân đến Jordan vào thời điểm những giá trị cũ mới đang bị soi mói và nhìn nhận lại, thậm chí những điều đang là rất bình thường cũng bắt đầu trở nên nhạy cảm. Khách du lịch và người nước ngoài bắt đầu bị Hồi giáo cực đoan săm soi kỹ hơn dưới lăng kính tôn giáo vì họ đại diện cho một phương Tây “suy đồi”. Tôi có cảm giác kể cả nếu như họ có biết sự thật tôi chỉ là một khách du lịch tình cờ đi qua, thì phe cực đoan cũng sẽ lập tức kêu gọi thiết lập điều luật để chấn chỉnh đạo đức của hàng triệu khách nước ngoài đến Jordan, bất chấp nguồn ngoại tệ khổng lồ đang nuôi sống đất nước. Nói một cách khác, cái vai của tôi, vốn là chuyện chẳng có gì đáng nói, sẽ trở thành cái cớ để gây sự và đối đầu với văn hóa phương Tây trong một cuộc chiến đang bắt đầu phôi thai hình thành. Chính vì thế, những cái còm trong bài báo không đơn giản chỉ là yêu cầu những tín đồ tuy ngồi ở giữa chốn chợ búa thì vẫn phải một lòng với chuyện cầu kinh, mà còn nhằm vào chính bản thân tôi với sự xấu xa đáng hổ thẹn của một đứa con gái mang tiếng là người Jordan mà lại còn ti toe “cố tình” ăn mặc hở cả vai ra giống lũ dân Tây để tạo điều kiện cho đàn ông sa chân vào tội lỗi. Thế là ăn đập! Chết này!
Trái cấm nào mà chẳng ngọt ngào
Sau bao tháng lăn lê ở Trung Đông, tôi đã đủ minh mẫn để có thể gác chân lên thành ghế trong phòng khách nhà Rudy, vừa tra nghĩa các lời bình luận trên facebook vừa phá lên cười sằng sặc.
Thằng Rudy cũng cười. Cả hai chúng tôi đều biết rằng nếu cứ tin vào những gì nổi lềnh phềnh trên bề mặt cuộc sống ở Trung Đông, hay những lời nói đạo đức hoa mỹ từ miệng những tín đồ hoặc quá sùng đạo, hoặc quá cực đoan, thì chẳng khác gì nhìn một phụ nữ mặc niqab che kín thân thể mặt mũi và vội vàng kết luận cô ta hẳn là xấu đau xấu đớn và khô như ngói. Sự thật là dưới lớp khăn che mặt đen sì nặng nề ấy rất có thể phập phồng một cơ thể nóng bỏng với bộ đồ chíp khêu gợi hoặc thậm chí chẳng-có-gì. Trong muôn vàn câu chuyện rúc rích của tụi con gái là một đề tài muôn thuở: làm thế nào để “ấy” mà không bị rách, để có khoái lạc mà không cần bọn con trai phải đi vào, để vẫn đi vào mà không vào… đúng chỗ (!), hoặc để đi ra đi vào thoải mái mà lại không có thai.
Sex trước hôn nhân là điều cấm kỵ, đi hẹn hò có khi còn bị bố mẹ cử em trai đi theo, trai gái hầu như không bao giờ bắt tay nhau, nhưng nghiên cứu chỉ ra rằng có tới 1/3 đám thanh niên ngoạm mồm vào trái cấm. Trước khi ngày cưới được ấn định, một số cô gái trẻ lại tìm đến những bác sĩ bí mật để vá lại màng trinh, để đêm tân hôn sẽ chảy máu, để mặt một ông chồng sẽ dãn ra hạnh phúc, để nếu là một đám cưới truyền thống thì miếng vải có dính máu trinh sẽ được đưa ra cho toàn thể hai họ chiêm ngưỡng, và những người đàn ông sẽ bắn súng lên trời để chào mừng. Thế là một cô gái ngoan hiền đã có nơi có chốn. Và rất có thể, cái con bé ngoan hiền ấy lấy chồng xong cũng mở cờ trong bụng vì “thế là bây giờ tôi có thể làm bất kỳ điều gì tôi muốn mà không lo bị mất trinh”.
Con gái là ngọc ngà châu báu trong nhà, được bảo vệ và phải tự bảo vệ bản thân vì phẩm giá và danh dự của gia đình. Đám cưới này hiện đại hơn ở Yemen một chút vì không chỉ có chú rể mới được nhìn mặt cô dâu và các phụ nữ bên nhà gái, mà khoảng hơn một chục anh em họ hàng cũng được phép lên nhảy một điệu truyền thống với gia đình nhà gái.
Khi còn ở Syria, có lần tôi và Hani đang ăn thì anh chỉ cho tôi một phụ nữ mặc abaya đen vừa bước chân ra khỏi cổng một ngôi nhà đối diện quán cà phê nơi chúng tôi ngồi: “Mai đừng tin cứ cô gái nào ăn mặc truyền thống như thế kia đều là gái cấm cung hết. Cô ả này thậm chí có thể là gái điếm. Tại sao? Vì cách cô ta trang điểm, và nhất là vì người đàn ông vào trước thuê phòng rồi bây giờ xong việc thì đang bước ra, mỗi người đi một hướng kia kìa”.
Những nhà thổ ở Trung Đông nhiều có khi chẳng kém gì nơi khác. Nước nào cũng có đạo luật chống các hành vi làm tiền nhưng thực tế là một bức tranh hoàn toàn khác. Ở Ai Cập, những chàng nàng gái điếm có ở khắp mọi hang cùng ngõ hẻm. Ở Syria, sex được mua bán ngấm ngầm trước sự tảng lờ của chính quyền. Ở Bahrain, nền công nghiệp hương phấn phát triển tột đỉnh để đáp ứng cho một đội quân đực rựa khát khao nhục dục từ Saudi cứ mỗi cuối tuần lại lái xe qua đường biên giới để bật nút chai giải thoát cái bình hoóc môn đàn ông bị đè nén. Ở Tunisia, chính quyền thế tục của cựu độc tài Ben Ali còn tiên tiến đến mức hợp thức hóa nghề đĩ điếm, mỗi thành phố đều có quận Đèn Đỏ và những cô gái bán hoa được cấp thẻ phát số cùng sự bảo trợ và chăm sóc xã hội tối thiểu. Ở Saudi, Iran và Ai Cập, “hôn nhân tạm thời” là một kiểu xoắn vặn tôn giáo để hợp pháp hóa việc mua bán dâm bởi những hợp đồng hôn nhân tính-theo-giờ hoàn toàn được tòa án công nhận. Xong việc là ly dị, ai về nhà người nấy.
“Sex ở Trung Đông dễ lắm Mai ạ” – Hani tiếp tục – “Ở Tây nơi Mai sống người ta có thể nhầm những tín hiệu bạn bè đơn thuần với tín hiệu của tình dục, chứ ở Trung Đông nơi con trai con gái không được tiếp xúc với nhau thì hễ có tín hiệu thì 100% là tín hiệu sex. Không thể nhầm lẫn được. Không tin để tôi chứng minh cho Mai xem!”
Hani bật blue tooth trong điện thoại. Màn hình rà soát trong tầm phủ sóng xung quanh và thông báo có khoảng hơn chục cái điện thoại cũng đang mở blue tooth. Một cái nick tên là “lonely princess” (công chúa cô đơn) thu hút sự chú ý của tôi. Lập tức, Hani gõ một tin nhắn làm quen:
– Hi!
– Hello!
Tôi thì thào, thậm chí cũng không hiểu sao mình lại thì thào: “Như thế đã phải là tín hiệu chưa?”. Hani cười khì: “99% rồi! Con cá này chỉ chờ để được cắn câu thôi mà!”
Kết luận: Chỉ cần trao đổi với nhau hai từ “Hi” và “Hello” là toàn bộ chu trình “tà lưa cưa cẩm” đã hoàn thành. Siêu kỷ lục!
“Đàn ông không tiến hóa!”
Từ sau cuộc nói chuyện với Hani, tôi không bao giờ nhe răng cười bừa bãi với mọi người xung quanh nữa. Một chiếc áo hở vai, một khuôn mặt không đội khăn hijab, một thái độ thân thiện, một lời chào hỏi quan tâm đều có thể bị coi là “tín hiệu”. Đám phụ nữ châu Âu sang Trung Đông quần áo ngắn cũn cỡn, gặp ai cũng bắt tay bắt chân, nói cười thân thiết như bạn bè hẳn nhiên là khiến cho hệ thống rađa của đàn ông nơi đây loạn lên và phụ nữ Tây hẳn nhiên được coi là dễ dãi, sẵn sàng ngủ lang xả láng. Những bộ phim Mỹ để lại ấn tượng con gái đàn bà Tây ai cũng có một cuộc sống phóng túng, sẵn sàng lên giường. Một gã thậm chí thành thật than phiền rằng cô bạn mình không hề giống người Mỹ bình thường chút nào, bằng chứng là cô ta từ chối hôn vì đã có bạn trai ở nhà.
Tôi luôn phải khốn khổ giải thích cho họ rằng sự dễ dãi của trai gái phương Tây hầu hết tập trung vào khoảng thời gian họ còn tự do, chưa có ràng buộc. Trong thời gian này, trao nhau một nụ hôn hay một cuộc làm tình là điều không đến nỗi quá khắt khe. Tuy nhiên, một khi mối quan hệ chính thức được xác lập thì tỉ lệ phản bội bạn tình của họ thấp hơn so với các xã hội cổ điển. Tại sao? Bởi người phương Tây không phải chịu nhiều sức ép về việc ly hôn, trong khi người Trung Đông và Á châu sẽ chấp nhận ông ăn chả bà ăn nem vụng trộm mà không ly hôn để khỏi bị điều tiếng.
Với khuôn mặt da vàng mũi tẹt, tôi còn phải hứng chịu những kiếp nạn trời ơi, hậu quả của một số lượng lớn người giúp việc châu Á nhập khẩu vào Trung Đông bị coi thường như kẻ tôi tớ với sức lao động và thậm chí thân thể cũng có thể cho thuê. Kể cả khi tôi không để hở một tí da thịt nào thì một vài cái rađa mẫn cán vẫn cứ hoạt động hết công suất và những lời đề nghị khiếm nhã vẫn có thể rơi xuống đầu. Một buổi chiều, khi tôi đang đi trên đường thì một lão già lập cập chạy theo, đi sát vào bên, mắt không nhìn tôi mà tay thì xòe ra bên trong có một xấp dina dày cộp. Tôi thấy máu sôi hết trong người, lập tức gào lên cho cả thành Amman phải nghe thấy: “Tati li umika! Tati li umika!” Tiếng Ả Rập có nghĩa là: “Đưa tiền đó trả cho mẹ mày ấy!” (E hèm! Tôi đã nói là khi cần thì tôi cũng có thể đanh đá chưa nhỉ?)
Ấm ức kể lại cho bạn nghe chuyện này, câu đầu tiên cô ta hỏi tôi là: “Thế lúc đó mày mặc gì”? Câu hỏi này lại khiến tôi ba máu sáu cơn nổi điên lên thêm một lần nữa. Tôi ghét cay ghét đắng những lối suy nghĩ hủ lậu như thế này. Trong một xã hội mà cái gì cũng có thể đổ vấy cho con gái, thay vì phải giáo dục thằng đàn ông ngừng suy nghĩ bằng chim và phải tư duy bằng đầu, thì phụ nữ lại được răn dạy là phải che mặt lại, quấn mình vào cái đụp vải đen sì, và tránh đàn ông càng xa càng tốt. Bao nhiêu vụ hiếp dâm xảy ra đã được lũ yêu râu xanh ngụy biện là “Lỗi của cô ta! Ai bảo cô ta ăn mặc khiêu khích? Ai bảo cô ta đi ra đường một mình? Ai bảo cô ta không ở nhà vào giờ này? Ai bảo cô ta thích thể hiện?” Với tôi, điều này chẳng khác gì việc sỉ nhục đàn ông, coi giống đực là một đám nô lệ của ham muốn tình dục và hoàn toàn không có khả năng tự kiềm chế bản thân. Hồi ở Yemen, khi được một anh bạn nhắc khéo, tôi đã kiên quyết không thay chiếc áo cộc tay đang mặc bằng một chiếc áo kín đáo hơn. Tôi thẳng thắn bảo anh ta rằng: “Mai coi anh và những người đàn ông xung quanh là những cá nhân có văn hóa, có tư chất và đạo đức đủ để không hình thành những ý nghĩ xấu xa khi nhìn thấy một cô gái mặc áo cộc tay”. Tôi mất cả mấy tiếng để tranh luận và giải thích với anh rằng đàn ông phải cảm thấy bị xúc phạm khi phụ nữ từ chối bắt tay, đơn giản vì khi ấy trong đầu cô ta nghĩ rằng: “người đàn ông này có tiềm năng hãm hại mình”. Một xã hội toàn cấm đoán là một xã hội của sự bất lực và mất hoàn toàn niềm tin với con người.
Bạn tôi chăm chú lắng nghe, và cuối cùng tôi đã thuyết phục được anh tin rằng việc bắt những bé gái nhỏ xíu phải trùm khăn hijab hay che kín mặt mũi thân thể bằng niqab là hành động biến một đứa trẻ ngây thơ thành đối tượng tình dục có tiềm năng bị quấy rối và chiếm hữu. Điều đó cũng tương tự như việc ngấm ngầm đồng ý rằng giống đực sau bấy nhiêu ngàn năm văn minh nhưng không hề tiến hóa mà vẫn giữ nguyên lòng ham muốn nhục dục của loài cầm thú, thấy thịt da là nhào tới, rằng trí óc của đám đàn ông xung quanh đầy rẫy những ý nghĩ đen tối bẩn thỉu đến mức một đứa bé gái chưa có hình hài phụ nữ cũng phải tự bảo vệ mình khỏi những con đực cuồng dâm.
Sinh ra từ tội lỗi
Nhưng nghĩ cho cùng, không tự bảo vệ không được. Đơn giản vì nếu không tự bảo vệ mình thì đôi khi những người đầu tiên muốn mình lìa đời chính là gia đình. Cái màng trinh của một đứa con gái không đơn giản chỉ là một lớp da có thể bị rách khi đi xe đạp mà là một cái bằng chứng nhận đạo đức và danh dự của cả một dòng họ. Trong một xã hội mà phẩm giá quan trọng hơn tất thảy, người ta sẵn sàng ra tay giết chết người thân để bảo tồn danh tiếng cho gia đình. Những người phụ nữ không phải là chủ nhân của cơ thể mình, bởi cơ thể đàn bà của họ là cội nguồn của sự sinh sôi và cũng là cội nguồn của tội lỗi. Ba tôn giáo cùng nguồn gốc Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo tin vào câu chuyện Adam đã bị Eva dụ dỗ ăn trái cấm và kết cục là cả loài người được sinh ra từ lỗi lầm của phụ nữ. Câu chuyện tôn giáo này kết hợp với một nền văn hóa phụ hệ gia trưởng của sa mạc nơi sức mạnh của bộ lạc dựa vào khả năng chinh chiến của đàn ông, nơi các bé gái và phụ nữ trở thành gánh nặng trong những cuộc sống du mục, nơi đàn ông quyền sinh quyền sát và đàn bà trở thành những kẻ bám theo lưng lạc đà, thua trận là bị thu gom thành chiến lợi phẩm. Số phận những người phụ nữ vì thế bị kìm kẹp bởi trái tim, lý trí và cái “phần mềm phía trước” của đàn ông. Trong tiếng Ả Rập, namus có nghĩa là danh dự (honor). Danh dự của một người đàn ông phụ thuộc vào phẩm hạnh của người đàn bà: sự trinh trắng, sự khiêm tốn, sự có thể đẻ con, sự có thể đẻ con trai, sự ngoan ngoãn, sự gọi dạ bảo vâng, sự răm rắp cưới người chồng đã được gia đình lựa chọn, sự trung thành, sự tiết hạnh. Nếu vì một lý do nào đó người phụ nữ trót đánh rơi một mẩu phẩm hạnh này, người bị ô nhục là người đàn ông. Và cái chết của người phụ nữ (honor killing) là để rửa nhục cho đàn ông. Danh sách những điều khiến phụ nữ có thể bị chính người thân của mình phải ra tay thì dài vô tận: người Thiên Chúa mà dám yêu người Hồi giáo, người Hồi giáo mà dám trốn đi với người ngoại đạo, người Hindu không cùng một đẳng cấp mà dám dan díu với nhau… Thậm chí, khi một cô gái bị cưỡng hiếp, điều đó có nghĩa là những người đàn ông trong gia đình cô đã bị ô nhục vì không hoàn thành nghĩa vụ gìn giữ namus của chính mình. Trong một vài trường hợp, họ cảm thấy không còn cách nào khác là giết người phụ nữ hoặc thuyết phục kẻ cưỡng hiếp phải cưới người phụ nữ vừa bị hãm hại. Giữa việc bị gia đình giết và phải sống với kẻ vừa cưỡng bức mình đến hết đời, tôi thực sự không biết lựa chọn nào khủng khiếp hơn.
Cuộc chiến không cân sức
Phải nhấn mạnh một điều rằng tục lệ giết vì danh dự không phải là sản phẩm của Hồi giáo, thậm chí đi ngược lại những ý muốn tốt đẹp của tiên tri Muhammad nhằm bảo vệ phụ nữ. Tuy nhiên, tôn giáo đã không mạnh bằng hủ tục văn hóa. Khủng khiếp hơn, trong một sự xuyên tạc xoắn vặn tôn giáo kinh hoàng để phục vụ cho nhu cầu quyền lực của giống đực, hủ tục văn hóa đã chiến thắng dưới chiêu bài tôn giáo. Ví dụ điển hình nhất của sự xuyên tạc tôn giáo này có liên quan đến việc tòa án tôn giáo của một số nước yêu cầu nạn nhân bị cưỡng hiếp phải có đủ bốn… nhân chứng tận mắt nhìn thấy việc cô ta bị bức hại. Nếu không đưa ra đủ bốn nhân chứng, điều đó có nghĩa là cô ta dan díu tình ái ngoài phạm vi hôn nhân, và đương nhiên là bị trừng phạt thích đáng, nhẹ thì vài trăm roi, nặng thì bị ném đá đến chết.
Hai người phụ nữ ăn mặc đối lập nhau nhưng có suy nghĩ giống nhau: “Đúng là một xã hội đàn ông làm bá chủ” (phụ nữ là đồ chơi cho đàn ông). Bức biếm họa này chỉ trích sự cực đoan trong phục trang thật ra giống nhau về bản chất: người phụ nữ ăn mặc hở hang và người phụ nữ che kín mặt mũi rốt cuộc đều là nạn nhân của một xã hội lệ thuộc vào đàn ông. (Tác giả: Malcolm Evans)
Như mọi con người có lương tri khác, tôi đã từng sôi sục điên dại khi đọc về vụ án thương tâm của một cô gái Afghanistan bị quân lính chính phủ cưỡng bức. Gia đình cô kiện kẻ hiếp dâm ra tòa. Không lấy lại được sự công bằng, cả dòng họ đau đớn vì nỗi nhục không được rửa sạch. Cha mẹ của cô gái quằn quại vì viễn cảnh phải giết con gái của chính mình, bản thân nạn nhân cũng tuyên bố rằng nếu danh dự không được khôi phục, cô thà chết chứ không sống để trở thành vết nhơ của bộ tộc. Câu chuyện gần đây nhất xảy ra ở Dubai khi một phụ nữ Na Uy tố cáo bị hãm hiếp và được yêu cầu phải trình ra bốn nam nhân chứng, nếu không cô sẽ bị tống giam mười sáu tháng. Cả châu Âu làm loạn lên và thế là Dubai sợ quá đành tha bổng. Vấn đề là, tại sao tòa án Hồi giáo Shariah lại có một yêu cầu quái đản như thế?
Trở lại thời của Muhammad gần 1400 năm trước, trong một chuyến hành quân, cô vợ trẻ Aisha của ông vì mải tìm chiếc vòng cổ khiến cả đoàn quân đã nhổ trại rời đi mà không hay biết Aisha vẫn còn rớt lại. Một chiến binh tìm thấy cô nằm giữa đường và đặt cô lên lưng lạc đà quay trở về. Việc Aisha trải qua đêm một mình với một chàng trai lạ mặt khiến cả thành Medina nổi cơn thị phi. Để bảo vệ người vợ yêu của mình, Muhammad tĩnh tâm ngồi thiền để “hỏi ý kiến Thượng Đế”. Thượng Đế trả lời, và thế là một thiên khải được thêm vào trong Quran (24:4-5) “Nếu ai đó muốn kết tội một phụ nữ tiết hạnh, hãy đem đến bốn nhân chứng, bằng không lời kết tội là vu cáo và sẽ bị phạt 80 roi”.
Cùng với thời gian, các thầy tu tôn giáo đã xoắn vặn thiên khải này theo hướng có lợi cho một xã hội trọng nam khinh nữ bằng cách kết luận rằng: kể cả nếu phụ nữ có muốn kết tội đàn ông bức hại thì cũng phải có bốn nhân chứng, nếu không, lời kết tội của cô ta sẽ trở thành lời thú nhận phạm tội thông dâm và sẽ bị trừng phạt. Và có lẽ chỉ những kẻ bị tẩy não hoặc yếu thế cùng đường mới có thể chấp nhận việc trên đời này có khả năng diễn ra một cảnh tượng quái đản đến mức một cô gái bị cưỡng hiếp và có bốn thằng người khác đứng xung quanh, khoanh chân khoanh tay theo dõi với vai trò “nhân chứng”. Suốt gần 1400 năm qua, không biết bao nhiêu phụ nữ đã lâm nạn vì câu chuyện này, và đến bây giờ, hơn 50% số phạm nhân nữ trong các nhà tù ở Pakistan là kết quả của việc phụ nữ phải trả giá cho một thiên khải đã trở thành nền tảng của pháp luật. Cả Muhammad và Aisha có lẽ đang không thể nằm yên dưới mồ suốt gần mười bốn thế kỷ qua vì câu chuyện tình lâm li của họ đã trở thành thảm họa cho rất nhiều phụ nữ ở thế kỷ 21 và không biết đến bao giờ mới kết thúc.
Cuộc chiến không cân sức giữa tôn giáo và hủ tục văn hóa hiện diện ở vô vàn những tục lệ mà bản chất là những tập quán không hề liên quan đến Hồi giáo hoặc có từ trước khi Hồi giáo ra đời nhưng lại được nhìn nhận là đặc trưng của Hồi giáo, trong đó có một hủ tục khá man rợ là khâu cắt bộ phận sinh dục nữ (female genital mutilation/circumcision). Một phần hoặc toàn bộ các môi trong ngoài âm hộ được cắt bỏ bằng dao hoặc banh xà lam, khâu kín lại nửa chừng hoặc thậm chí kín hết chỉ để chừa ra một lỗ nhỏ chừng hai mi li mét để ra máu kinh nguyệt. Nếu cô gái chịu khâu cắt ở mức độ cao nhất, đêm tân hôn, người chồng thường phải rạch âm hộ của vợ ra mới có thể đưa dương vật của mình vào. Và khi đẻ con, bác sĩ phải cắt toang toàn bộ phần cửa mình cô gái ra thêm một lần nữa để em bé có thể chào đời. Đối với rất nhiều các quốc gia Hồi giáo ở Bắc Phi, tục lệ này là một phần quan trọng của cuộc sống, thể hiện phẩm chất trinh trắng, trong sạch của phụ nữ. Đối với nhiều cô gái ở đây, tôi là một kẻ đáng thương hại vì ba mẹ đã không biết lo lắng cho tương lai của tôi, một việc quan trọng đến thế mà không thực hiện.
Tuy nhiên, lặn sâu trong nội tại của hành động này là việc coi phụ nữ như một giống loài dâm dục, là sự lo sợ về sức mạnh tình dục của phụ nữ, và việc khâu kín âm hộ của một cô gái là cách để quản lý, kiểm soát cuộc sống của cô ta một cách chắc chắn nhất. Khi được phủ lên bằng một tấm màn tôn giáo, hủ tục đó trở thành niềm tự hào của cả đàn ông (với vai trò thống trị) và đàn bà (đã bị tẩy não và coi đó là quyền lợi của mình). Hủ tục này có thể được so sánh với tục bó chân ngày xưa ở Trung Quốc, khi xương chân của các bé gái bị bẻ gập lại và bó chặt tạo thành một hình cung như mặt trăng khuyết. Người phụ nữ không thể đi lại được lâu trên đôi chân bị bẻ quặt, dáng đi khúm núm và đau đớn, nhưng lại tin rằng đó là biểu hiện của cái đẹp, của sự gợi tình và địa vị cao quý. Trên thế giới, không biết bao nhiêu trong số 125 triệu phụ nữ có thể cũng đang tin rằng cái âm hộ bị cắt xẻo của mình là biểu hiện của cái đẹp, sự gợi tình và phẩm chất trinh trắng mà một tín đồ Hồi giáo cần phải có. Họ không hiểu được rằng một trong những nguồn gốc của hủ tục này bắt đầu từ việc những nô lệ châu Phi bán được nhiều tiền hơn nếu âm hộ bị khâu – bằng chứng cho cái màng trinh chưa một lần bị phá vỡ.
Có lần tôi hỏi một người bạn Ai Cập hiện đang sống ở Jordan: “Tại sao cậu lại để em gái mình chịu đau đớn một cách phi lý như thế?” Anh ta cười xòa và trả lời: “Mai biết không, thời tiết ở đây rất nóng nực, phụ nữ lúc nào cũng hừng hực thì không ổn tí nào!”
Phải kìm lắm tôi mới không xóa tên người bạn này khỏi facebook. Sau này, anh ta theo đuổi một cô gái Jordan và bị cô ta ném vào mặt câu sau, chính xác từng từ một: “Xin lỗi anh! Ở Jordan, phẩm hạnh của phụ nữ không đựng trong cái quần xì líp!”
Sodom và Biển Chết
Lại nói về cậu bạn Rudy của tôi. Tối hôm tôi trở nên nổi tiếng (e hèm, tai tiếng!), hai đứa nằm vắt cẳng lên thành ghế sofa thổ lộ tâm tình. Tôi thú nhận là sau bấy nhiêu tháng lăn lê ở Trung Đông, hiện tại bản thân chỉ có một niềm khao khát khá mãnh liệt là được mặc áo ba lỗ hở rốn và quần đùi vừa đi vừa mút kem ngoài đường mà không sợ bị phạm húy. Rudy thở dài một cái rồi bảo, niềm khao khát mãnh liệt nhất của nó là được… hôn bạn trai một cái ngoài đường mà không bị “ném đá” cho chết. Tôi hò reo trong bụng, phục mình đoán trúng phóc ngay từ giây phút đầu tiên gặp Adam: cậu chàng là dân đồng tính.
Việc mò đến thăm địa danh Sodom là gợi ý của Rudy. Theo niềm tin của Do Thái, Thiên Chúa và Hồi giáo, người dân nơi đây nhiều tội lỗi không kể xiết, trong đó có cả tội quan hệ tình dục với người cùng giới (xuất phát từ câu chuyện này, thuật ngữ sodomy dùng để chỉ việc quan hệ qua đường hậu môn). Thượng Đế cử ba thiên thần giả dạng khách lỡ độ đường xuống điều tra và ở nhà của một người tên Lot. Khi những cư dân của Sodom và Gomorrah kêu gào đòi Lot nộp mạng những khách lạ, Lot vì danh dự chủ nhà, cương quyết chối từ và hiến dâng hai cô con gái còn trinh của mình cho lũ người man rợ. Tuy nhiên họ không chịu nhân nhượng và xông vào tấn công. Những thiên thần giả dạng liền tuân lệnh Chúa, tiêu diệt toàn bộ Sodom bằng lũ lụt và biển lửa. Những xác chết của đám người vô đạo tích tụ lại khiến lòng Biển Chết trở nên mặn chát.
Mặn chát thật ra không đúng khi miêu tả nước ở Biển Chết. Tôi trót dại ghé mặt thè lưỡi nếm thử và lập tức quên phắt lễ nghi bao năm bố mẹ dạy dỗ, bụm miệng khạc nhổ ầm ĩ. Như nếm axít. Cái chất lỏng kinh khủng ấy vừa chạm đầu lưỡi đã đốt cháy các tế bào cảm nhận. Bên cạnh tôi, anh bạn người Mỹ tên Des nhảy tưng tưng vì hôm qua trót cạo râu, bây giờ nước biển ngấm qua lỗ chân lông như ngàn mũi kim châm. 35% dung lượng nước là muối thế nên ở Biển Chết không bao giờ có người chết đuối. Xung quanh tôi ai ai cũng bập bềnh trên nước như ngồi ghế sofa. Có kẻ còn mang theo tờ báo để vừa đọc vừa lững lờ trôi. Tử vong chỉ xảy ra khi có kẻ dại dột ngụp đầu xuống nước và bị sặc muối, hoảng loạn mà chết.
Vì là một sự trừng phạt của Thượng Đế, Biển Chết tuyệt nhiên không một loài sinh vật nào có thể sống sót, trừ mấy con vi sinh vật cổ đại. Ngày xưa tôi đọc đâu đó một cảm nhận khá hoa mỹ nói rằng Biển Chết không có sự sống vì nó chẳng chia sẻ nước của mình cho đại dương nào. Vớ vẩn! Thế các hồ ao thì sao? Từ ngày xửa ngày xưa các ông hoàng bà chúa Trung Đông, bao gồm cả Nữ hoàng Cleopatra đã biết sử dụng nước Biển Chết để kéo dài sự sống và nhan sắc. Là điểm thấp nhất trái đất nên ít chịu ảnh hưởng của tia cực tím nhất, ngày nay, hàng triệu lượt người mỗi năm trầm mình nơi đây, phơi nắng suốt ngày để thay da đổi thịt. Tuy nhiên, Rudy bảo tôi rằng tín đồ Hồi giáo cực đoan sẽ không bao giờ đặt chân tới Biển Chết, đơn giản vì đây là tượng đài của tội lỗi, tình dục đồng giới và sự vô đạo. Đừng quên bùn Biển Chết chính là thịt da xương cốt tích tụ của những kẻ dâm dục bị Thượng Đế thiêu chết. Đáp lại lời răn dạy, tôi gửi nó tấm ảnh mình mặc áo bơi hai mảnh để cho một ông to béo xoa bùn đen lên khắp người. Rudy khịt mũi, bảo thể nào tôi cũng rơi xuống địa ngục, thế cũng tốt, ở đó cùng nó cho vui.
Trung Đông mặn chát
Rudy thực lòng tin rằng nó sẽ xuống địa ngục, cho nên còn sống trên hạ giới ngày nào thì nó phải hưởng thụ ngày ấy. Một buổi tối, Des và tôi đang nằm dài ra xem ti vi thì nó xộc về, đuổi cổ hai đứa ra khỏi nhà và bảo căn giờ đúng hai tiếng nữa mới được quay lại. Khi chúng tôi nằng nặc đòi xem mặt người tình của nó, kêu rằng Jordan là nơi duy nhất không treo cổ hoặc bỏ tù người đồng tính thì nó kêu lên: “Chúng mày điên à, luật nhà nước là một chuyện, luật rừng là chuyện khác!” rồi xua chúng tôi như xua gà. Hai đứa bèn len lén nấp vào một góc phố để rình. Des căng tai lắng nghe, rồi anh thì thào: “Bạn trai thằng Rudy là người Iran. Nó nói tiếng Farsi chứ không phải tiếng Ả Rập”.
Đúng hai tiếng sau, chúng tôi không nhịn được đập cửa đòi vào. Rudy lách cách mở khóa với vẻ mặt thỏa mãn, và bởi vì nó thỏa mãn nên nó hạ cố gọi bạn tình ra phòng khách cho chúng tôi gặp mặt. Tôi và Des há hốc mồm. Faraj rõ ràng là con trai, nhưng môi nó tô son đỏ choe choét và đầu nó trùm khăn như một cô ả người Hồi chính hiệu. Nó cười e thẹn, nói rằng ở Iran, tình yêu đồng tính cũng có nghĩa là chết.
Chú ý rằng Faraj nói “tình yêu đồng tính” chứ không phải “tình dục đồng giới”. Hai cái này khác hẳn nhau, và sự lầm lẫn giữa cái trước với cái sau sẽ có kết quả là một mạng người bị treo cổ lủng lẳng, bởi tình yêu đồng tính sẽ đáng tội chết, còn tình dục đồng giới thì là chuyện thường ngày ở huyện.
Tôi có đọc một tài liệu nói rằng khắp Trung Đông, nhục dục đồng tính là một tập tục xưa như Trái đất, rằng môi trường nam nữ thụ thụ bất thân khiến cho những mối quan hệ thịt da giữa người cùng giới trở thành một phần của cuộc sống chứ không hẳn là tình yêu sâu sắc. Điều tương tự xảy ra trong các trại lính và nhà tù nơi hoóc môn nam tính cần được giải tỏa hơn là tình cảm yêu đương chân thật. Tại Afghanistan, nam nữ sống cách biệt đến mức tình cảm thương mến, ân cần, chăm sóc hầu như chỉ có thể nảy nở giữa những người đàn ông với nhau. Chuyện thậm chí trở nên tức cười khi năm 2002, một đơn vị lính Mỹ đổ bộ tới vùng Pashtun để săn lùng khủng bố Taliban. Taliban thì chưa thấy đâu nhưng đám lính Tây đẹp trai ngời ngời sợ vãi ra quần khi liên tục bị các nhóm đàn ông Afghan năn nỉ đòi… sơn móng tay, đòi vuốt tóc, sờ má, sờ môi (!). Một người đàn ông Afghan khi được giải thích làm thế nào để có con với vợ mình đã thành thực thốt lên: “Làm sao tôi có thể mê đắm vợ tôi được? Thượng Đế chẳng đã tạo ra phụ nữ là giống loài không sạch sẽ đó sao?” Những người đàn ông giàu có và quyền lực ai cũng sắm cho mình một cậu bé xinh đẹp để nhảy múa và đêm về vần vò gọi là halekon hay bacha. Vùng Kandahar và Pashtun nổi tiếng bởi những bài thơ ca tụng các thiếu nam da mặt mịn màng. Dân tình đồn rằng ở đây, trên trời những con chim bay chỉ cần một cánh, cánh còn lại chúng nó bận che lỗ hậu môn.
Cuộc sống nhục dục ở Trung Đông cứ mặn chát một cách yên ả như vậy dưới thời Ottoman cho đến khi các nước phương Tây nhảy vào đô hộ và rống lên gọi tên các hành động của dân bản xứ là homosexuality để phân biệt với heterosexuality. Thế là Trung Đông nhảy dựng hết cả lên, vì chẳng ai chịu nhận mình là người đồng tính cả. “Làm sao mà tôi lại gay được? Tôi lúc nào cũng nằm trên!” Kẻ đáng xấu hổ là kẻ đóng vai đàn bà nằm dưới. Gọi mặt chỉ tên hai năm rõ mười xong thế là một “nét văn hóa” bỗng trở thành tội lỗi, thế là thành ác mộng, thế là thành vô số các phương pháp “chữa trị” vô dụng như sốc điện, bắt tự xóc chai rồi phóng tinh, thậm chí khâu nhỏ lỗ hậu môn lại để chỉ còn cảm giác đau đớn khi giao hợp. “Luật rừng” mà Rudy nhắc đến thì rùng rợn, với những nhục hình tra tấn man rợ, với cầm tù và bị hãm hiếp bởi chính những gã cai tù đói sex. Một người đồng tính ở Palestine bị bắt đứng trong hố phân ngập đến cổ, rồi bị lột hết quần áo và bắt ngồi lên chai Coca Cola cho cái cổ chai cắm ngập sâu vào giữa mông. Khi xác kẻ tội đồ bị ném trả về nhà, hậu môn của anh bị lèn đầy keo đặc.
Tôi nổi hết cả da gà da ốc.
“Nhưng mà Mai yên tâm! Faraj sắp phẫu thuật để trở thành phụ nữ rồi! Khi đó chúng tôi sẽ cưới nhau và ở bên nhau trọn đời!”
Tôi há hết cả mồm như cá ngão.
Lại thêm một bất ngờ nữa của Trung Đông. Cuộc phẫu thuật chuyển đổi giới tính của Faraj sẽ được chính phủ Iran tài trợ hẳn 1200 đôla. Té ra, Iran là nơi treo cổ các đôi uyên ương đồng giới, nhưng cũng là đất nước có số người phẫu thuật chuyển đổi giới tính đông hàng thứ hai trên thế giới chỉ sau Thái Lan. Theo quan niệm của tòa án Hồi giáo Shariah tại Iran, chỉnh sửa lại giới tính là điều cần thiết, miễn là trai cho ra trai, gái cho ra gái. Ai mà lớ xớ ở giữa thì mời lên giàn treo cổ.
Tôi rời Jordan, hào hứng kết luận với Rudy là sex ở Trung Đông ngược lại với đá bóng ở Việt Nam. Ở Việt Nam, ai cũng nói về bóng đá, từ trong nhà ra vỉa hè, nhưng chẳng mấy ai đá bóng. Ở Trung Đông, ai cũng bận bịu với những hoan lạc và tội lỗi của sex, nhưng chẳng ai dám mở mồm thốt ra một câu.
Từ ngày rời Jordan, cứ mỗi lần ngửa mặt nhìn trời là tôi có cảm giác con chim nào cũng chỉ bay bằng một cánh.
Chương 9 - Palestine: Mê cung của niềm tin
Tôi còn nhớ những ngày rất bé, chừng 10 tuổi, đọc báo Thiếu Niên có một bài viết tựa đề là: “Palestine Nuna – Đất Palestine là của người Palestine”. Bài viết có hình ảnh một cô bé trạc tuổi tôi, mắt mở to thảng thốt. Đôi mắt ấy in sâu dai dẳng theo suốt những năm tháng tôi lớn khôn. Bài viết về một vấn đề chính trị to tát nhưng đăng vắn tắt trên tờ báo trẻ con đã làm nên một điều thần kỳ: tôi chẳng biết Palestine là ở đâu, dân Palestine là ai, cái gì đang diễn ra trên vùng đất ấy, nhưng tôi tin chắc một điều: lẽ phải luôn thuộc về người Palestine.
Niềm tin đơn giản và ngây thơ ấy, bất chấp bao nhiêu cuộc chiến thông tin, đã tìm được cách gắn chặt vào tiềm thức của tôi, cho đến ngày tôi gặp Ahmad trong một trại tị nạn của người Palestine ở Li Băng. Chưa kịp nghe tôi mở miệng, anh đặt tay lên vai tôi và nhẹ nhàng nói: “Mai à! Trên đời này làm gì có cái gọi là đất nước Palestine?”
Câu chuyện của Ahmad làm đảo lộn niềm tin thiêng liêng của tuổi thơ tôi.
Đất lành chim đậu, cú cáo trị vì
Từ xa xưa khoảng hơn 3000 năm trước, vùng đất rộng lớn phía tây bán đảo Ả Rập là nơi sinh sống của một số tộc người Ả Rập. Rất nhiều bộ lạc khác cũng di cư đến đây như một quy luật tất yếu của dòng chảy cuộc sống. Hai trong số những bộ lạc di cư này là tộc người Israel đến từ Ur (thuộc Iraq bây giờ) do họ tin rằng Thượng Đế đã hứa ban tặng cho những đứa con cưng của mình một miền đất mới trù phú, điều này được viết trong Kinh Cựu Ước của người Do Thái. Tộc người thứ hai từ vùng đảo Crete (Hy Lạp bây giờ) cũng vượt biển tới đây tìm nơi sinh sống mới. Người từ đảo Crete mạnh mẽ, thiện chiến, trở thành kẻ thù của nhiều tộc người khác do chiếm được nhiều đất đai, thậm chí gây hấn cả với Pharaoh Ai Cập. Họ được người Israel gọi là Peleshet (tiếng Anh – Philistine), có nghĩa là những người di cư và chiếm đóng. Cái tên Palestine lần đầu tiên được nhắc đến bởi một nhà sử học Hy Lạp, ám chỉ vùng đất nơi những người của nhiều bộ tộc khác nhau cùng đến di cư và tranh chấp.
Hơn 1000 năm sau đó, khu vực này nằm dưới sự trị vì của đế chế La Mã rộng lớn. Tộc người Israel khi đó đã lớn mạnh và thành lập nhà nước vững vàng nhưng cũng không thoát khỏi ách đô hộ của La Mã. Họ liên tục nổi dậy. Hoàng đế La Mã sau khi đập tan một cuộc cách mạng của dân Do Thái Israel thì quyết định đổi tên quốc gia này thành Palestine, sáp nhập vào với cả vùng đất rộng lớn của các tộc người Ả Rập gốc quanh đó nhằm xóa bỏ triệt để dấu ấn của nhà nước Do Thái. Cái tên Palestine và người Palestine tiếp tục được Syria, đế chế Thổ Nhĩ Kỳ và đế chế Anh dùng để chỉ vùng thuộc địa bao la của mình. Vùng đất tên là Palestine đó, một vùng đất không có đường biên rõ ràng với một vài thành phố lớn và hàng trăm bộ lạc sống bên cạnh nhau: người Ả Rập, người Do Thái, người Thiên Chúa, người Hồi, người từ đủ các cành nhánh tôn giáo nhỏ hơn. Tất cả bọn họ đều tự nhận mình là người vùng Palestine. Đó không phải là một quốc gia độc lập mà đơn giản chỉ là một cái sân chim.
Tuy nhiên, đất lành không những chỉ có chim đậu mà còn có cả cú cáo muốn trị vì. Hai đế chế lớn La Mã và Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman coi Palestine là thuộc địa của mình nhưng giữ nguyên vùng đất này với cấu trúc thành phố tự trị và bộ lạc. Ottoman hùng mạnh chừng được 500 năm thì hai ông lớn Anh và Pháp nổi lên. Để đánh sụp Ottoman, Anh, Pháp đi đêm với tất cả các bộ lạc và sắc tộc ở Palestine cùng các vùng xung quanh, xúi giục họ nổi dậy chống lại kẻ đô hộ. Với sắc tộc nào Anh, Pháp cũng mạnh mồm hứa hẹn sẽ giúp họ chuyển đổi từ cơ chế bộ lạc và thành phố tự trị lên thành quốc gia, và cho họ quyền lập nhà nước tự chủ một khi đế chế Ottoman sụp đổ.
Khi công việc đã xong xuôi, hai ông lớn chia nhau phần đất đai cai trị thì câu chuyện vỡ óc mới thực sự bắt đầu. Họ ngồi vào bàn, và với cây bút chì trong tay bắt đầu kẻ vẽ các đường biên giới. Một vùng đất rộng lớn nhoằng cái đã trở thành năm quốc gia mới toanh. Mỗi đường biên là một mưu mô toan tính vô cùng cẩn thận, đại để là làm thế nào để các quốc gia mới sẽ không-bao-giờ yên ổn, sẽ lúc nào cũng chênh vênh. Thế thì mới dễ cai trị. “Chia để trị” mà. Và thế là từ cơ thể Syria, Li Băng được Pháp xé ra hình thành một quốc gia mới để sao cho các sắc tôn giáo Thiên Chúa, Hồi giáo Sunni, Shia và Hồi giáo dòng Druze sẽ luôn phải dè chừng nhau. Kuwait được Anh đẻ non bằng cách vặt một mẩu từ Iraq nhằm mục đích chắn đường Iraq không cho ra biển (sau này cuộc chiến Iraq mang quân đánh Kuwait chính là để đòi lại đất ngày xưa). Đồn rằng, khi đang vẽ đường biên giới Jordan thì tự dưng ông Churchill hắt hơi một cái, thế là lãnh thổ của Jordan nguệch vào Saudi một phát. Churchill quẹt nước mũi, cúi xuống và tiếp tục đưa bút lượn trở lại vị trí cũ, thế cho nên đường ranh giới của Jordan trông mới kỳ quái như vậy. Cứ thế, các quốc gia mới của bán đảo Ả Rập được hình thành dưới quyền đô hộ của Anh và Pháp. Chẳng có nước nào được độc lập trọn vẹn, thậm chí tộc người Kurd với dân số tới 40 triệu, dù được hứa sẽ cho lập nước nhưng cuối cùng bị phản bội trắng trợn khi vùng đất nơi họ sinh sống bị chia thành năm phần, nằm ngửa mặt dang chân dang tay, mỗi phần thuộc về lãnh thổ của năm quốc gia khác nhau. Người Kurd cho đến bây giờ vẫn là dân tộc không quê hương lớn nhất và thảm thương nhất trong lịch sử hiện đại.
Quay trở lại thời điểm người Anh đi phân phát lời hứa. Không những hứa suông, họ còn hứa ba tầng chồng chéo lên nhau cho ba nhóm đồng minh khác nhau. Vùng Palestine rộng lớn được hứa khi Ottoman sụp đổ sẽ dành cho các bộ lạc Ả Rập để thành lập một hợp chủng quốc thống nhất, rồi cũng chính miếng bánh đó lại được hứa cho gia tộc Hashimi danh giá từng thống trị vùng đất thánh Mecca của Hồi giáo, cuối cùng, miếng mồi ngon béo được dùng để nhử một dân tộc đã hàng ngàn năm mất nước và tan tác khắp chân trời góc bể nhưng vẫn đau đáu nhìn về vùng đất tổ ở Palestine: người Do Thái.
Trở về miền đất hứa
Theo Kinh Cựu Ước của người Do Thái, cách đây 3000 năm tại vùng Palestine, vua David lập nên Vương quốc Israel nơi thành Jerusalem là trái tim của tôn giáo. Với dân tộc Do Thái, vùng đất này là những gì Thượng Đế đã hứa với tổ phụ của họ Abraham, như Kinh Cựu Ước đã ghi: “Ta ban cho con cháu của ngươi mảnh đất này, trải rộng từ sông Ai Cập đến sông Euphrates…”. Vì thế đây còn gọi là miền đất hứa (The Promised Land). Đổi lại, Abraham và các con cháu của ông phải thực hiện nghi lễ rạch bao quy đầu – một cuộc phẫu thuật nhỏ mở phần da ở đầu dương vật – để được công nhận là người thừa kế miền đất hứa. Việc tại sao Thượng Đế lại đòi hỏi một cái điều kiện có vẻ “trời ơi” như vậy thì còn nhiều tranh cãi. Nhưng đại đa số cho rằng rạch bao quy đầu sẽ vệ sinh hơn do cặn bã không còn nơi tích tụ, và nghi lễ này cũng mang tính tượng trưng cho việc mở trái tim mình để hoàn toàn cởi lòng không vẩn đục với Chúa (circumcision of the heart).
Tại Jerusalem, con trai của vua David là vua Solomon xây một Đền Thờ Thiêng hùng vĩ nơi cất giữ bản “10 điều răn của Thượng Đế” (The 10 commandments) nổi tiếng. Cũng ở vị trí Đền Thờ Thiêng này là Tảng Đá Nền (Foundation Stone) nơi Người bắt đầu công việc tạo dựng nên Trái Đất, nơi Người vun đất nặn nên Adam ông tổ của loài người. Và đây cũng là nơi Người thử lòng sùng đạo của Abraham bằng cách yêu cầu ông hiến dâng mạng sống của chính con trai mình. Abraham thi hành lệnh giết con. Thượng Đế chứng nhận lòng trung thành tuyệt đối của ông và thay thế chỗ của con trai ông bằng một con cừu.
Người Do Thái dựng nước chưa được bao lâu thì liên tục bị xâm chiếm bởi hết đế quốc này đến đế quốc khác. Người dân bắt đầu cuộc lưu lạc kéo dài hàng nghìn năm. Đền Thờ Thiêng bị người Babylon tàn phá, xây dựng lại thì đến lượt đế chế La Mã đốt trụi. Tất cả những gì còn lại của chốn linh thiêng nhất trong tôn giáo Do Thái là một mẩu bé xíu của bức tường khổng lồ vốn chỉ xây bao quanh để bảo vệ cho Đền Thờ Thiêng và một phần của Tảng Đá Nền. Người Do Thái ở Jerusalem cứ mỗi chiều tối thứ Bảy lại tập trung dưới chân bức tường vừa đọc Kinh Cựu Ước, vừa dập đầu than khóc. Cái cách than khóc khi cầu kinh của người Do Thái cũng rất đặc biệt, họ gập người, liên tục đổ gục đầu về phía trước như một kẻ lên đồng, trên tay cầm cuốn thánh kinh nhỏ xíu vừa khít trong lòng bàn tay. Phụ nữ thường trùm lên đầu một chiếc khăn, đàn ông đội một miếng vải tròn nhỏ thể hiện sự tôn kính. Khi họ bước đi, những chùm dây dài thò ra ngoài cuốn xoắn theo từng bước chân. Tất cả để nhắc nhở người Do Thái rằng trên đầu và xung quanh luôn có Thượng Đế ngóng nhìn, và mỗi lời ăn tiếng nói, mỗi hành động, mỗi lời thở than của họ đều có thể lay động tới Đấng Tối Cao.
Tôi tìm đến Wailing Wall vào đúng một chạng vạng cuối tuần như thế. Từ trên một góc phố cổ nhìn xuống, bức tường được chiếu sáng rực rỡ. Phía dưới chân tường, mặt đất đen thẫm lại bởi màu áo của hàng ngàn người dân Jerusalem. Tôi theo chân những người phụ nữ tiến lại gần chân tường, chọn một góc thật sâu thật khuất và lặng lẽ để mình chìm đuối trong tiếng khóc, tiếng cầu kinh, tiếng than thân thống thiết. Thật khó có thể tưởng tượng người Do Thái đã than khóc vật vã như thế này suốt hơn 2000 năm qua. Đó là một nỗi đau được truyền từ đời này sang đời khác, không có cơ hội hàn gắn, sẻ chia, và lãng quên. Có những thời kỳ người Do Thái thậm chí còn không được bén mảng đến gần Jerusalem nếu không muốn bị khép vào tội chết. Mỗi năm một lần, vài vị vua của đế chế cầm quyền La Mã hào phóng ban tặng cho họ một ngày được đặt chân vào thành Jerusalem, đến gần bức tường, và cũng chỉ đủ thời gian để mà than khóc cho một đất nước tan tác, một tôn giáo bị vùi dập, cho số phận chốn thiêng liêng nhất của linh hồn dân tộc đã bị đốt thành tro tàn chẳng còn mấy dấu vết.
Tuy nhiên, gì thì gì, lịch sử Do Thái như kể trên vẫn chỉ là từ cái nhìn của tôn giáo. Miền đất hứa sau bao thăng trầm của lịch sử, dân Do Thái chỉ còn chiếm có 3%, phần còn lại đa số là Hồi giáo Ả Rập. Năm 1897, một phóng viên Do Thái người Áo-Hung tên là Theodor Herzl dấy lên phong trào kêu gọi phục hưng nhà nước Do Thái tên là Zionism (bắt nguồn từ chữ Zion, chỉ Jerusalem). Kể từ đó, Zionism khiến hàng ngàn người Do Thái quay trở về Palestine. Thượng Đế hứa cho họ miền đất này từ 3000 năm trước. Người Anh gì thì gì cũng đã lại trót hứa cho họ một quốc gia độc lập. Cộng thêm thảm họa diệt chủng Đức Quốc xã giết năm triệu rưỡi dân Do Thái sau năm 1945 khiến châu Âu cảm thấy cần có trách nhiệm nặng nề đền bù thiệt hại cho một dân tộc vừa bị tàn sát dã man. Khi đó, làn sóng trở về lên đến đỉnh điểm, người Do Thái từ châu Âu ồ ạt tìm cách mua lại đất đai và bất động sản ở Palestine khiến người Ả Rập ở đây vô cùng tức giận. Liên Hợp Quốc bèn đề xuất việc chia vùng Palestine làm hai phần, một cho dân Do Thái Palestine lập nhà nước Israel, một cho dân Hồi giáo Palestine thành lập nhà nước Ả Rập thống nhất, riêng Jerusalem thì trở thành đặc khu quốc tế do Liên Hợp Quốc kiểm soát.
Dân Do Thái Palestine đồng ý và lập tức thành lập nhà nước Israel. Tuy nhiên, không giống như những đất nước được tạo nên bằng ngòi bút như Kuwait, Li Băng, Jordan… một trong hai quốc gia được phương Tây vẽ ra lần này lại dành riêng cho một tôn giáo khác Hồi giáo và một sắc dân khác người Ả Rập. Dân Hồi ở Palestine kịch liệt phản đối. Họ cho rằng cả vùng Palestine phải được công nhận là một nhà nước độc lập duy nhất, và vì đa số dân chúng là người Hồi nên theo nhà nước mới thành lập phải là nhà nước Hồi giáo.
Chỉ một ngày sau khi nhà nước Israel non trẻ tuyên bố thành lập, liên minh năm nước khổng lồ quanh đó gồm Ai Cập, Jordan, Syria, Iraq và Li Băng đồng loạt nổ súng tấn công với danh nghĩa đồng minh bảo vệ người Hồi Palestine thấp cổ bé họng. Đất đai giành giật, chiếm đi cướp lại xóa nhòa đường biên vốn do Liên Hợp Quốc đề xuất. Israel mới đầu chỉ là tự vệ, sau càng chiến càng hăng, một mình đánh tan tác liên quân Hồi giáo. Năm 1967, trong một cuộc xung đột dài sáu ngày, quân Israel không những đánh bật Syria, Ai Cập và Jordan mà còn chiếm thêm vài khoảng lớn lãnh thổ của cả ba nước này, trên đà thắng thế chiếm luôn cả Jerusalem làm thủ đô, rồi kiểm soát cả một phần lớn vùng đất của người Hồi Palestine, đẩy hàng chục ngàn dân Hồi tị nạn không còn chỗ quay về, vì thế nên đây còn gọi là vùng bị chiếm đóng. Liên quân Hồi giáo Ả Rập đành cay đắng chấp nhận thua cuộc, thậm chí phải xuống nước ký hòa ước với Israel để đổi lại các vùng đất bị mất. Cuộc chiến sáu ngày là một vết nhơ đầy nhục nhã trong thế giới Ả Rập, một vết thương không bao giờ lành, một mối thâm thù khiến người Hồi ở bất kỳ đâu cũng có thể biến thành Che Guevara xả thân xối máu để giành lại công bằng cho người Hồi Palestine. Đây cũng chính là lý do tại sao tổ chức (được coi là khủng bố) Hezbollah dòng Hồi Shia ở Li Băng được tung hô vì họ đã đẩy lùi quân Israel năm 2006, một phần nào rửa vết nhơ cho thế giới Hồi giáo.
Việt Nam đương nhiên đứng về phía Palestine, thậm chí cuối những năm 80 còn gửi cả cố vấn quân sự đến Trung Đông để giúp quân Palestine. Tuy nhiên, Palestine chưa bao giờ là một quốc gia độc lập, và cho đến tận bây giờ vẫn chưa được hoàn toàn công nhận là nhà nước độc lập. Việc từ chối lời đề nghị chia đất của Liên Hợp Quốc và sau đó tấn công Israel bây giờ nhìn lại hẳn là một lỗi lầm chính trị phải trả giá quá đắt. Palestine giờ đã trở thành biểu tượng của mối hằn thù tôn giáo, là kho chất nổ tiềm tàng, chỉ cần độc lập là lập tức sẽ bị các nước Ả Rập xung quanh biến thành một cái vòi rồng, cuốn lũ xả bão san phẳng Israel đến ngọn cỏ cuối cùng. Tôi thậm chí nghi ngờ những kẻ võ mồm này thực lòng muốn Palestine được độc lập. Bởi một Palestine tan tác trong bàn tay của kẻ chiếm đóng cũng đồng thời là thứ vũ khí lợi hại để các nhà độc tài Hồi giáo lợi dụng nhằm triệt hạ Israel, khuấy động lòng người hướng đến một kẻ thù chung, và đương nhiên là quên đi những vấn đề nội bộ còn đáng xấu hổ hơn gấp nhiều lần. Như người ta lợi dụng một đứa bé tàn tật bị ngược đãi để điều khiển dư luận lòng người. Đứa bé ấy khỏe mạnh lên thì tất nhiên là không ai có lợi. Rốt cuộc, cũng là một cách chia để trị, nhưng lại lấy danh nghĩa là tình thương.
Con đường Sầu Thương
Sau khi Do Thái giáo ra đời được khoảng 1000 năm, Jerusalem lúc đó đang bị đô hộ bởi đế chế La Mã và người Do Thái bị phân biệt đối xử, rất nhiều người phải bỏ xứ mà đi. Vào một buổi sáng mùa xuân, một người Do Thái trẻ tuổi tên là Jesus (Giê-xu) tiến vào thành Jerusalem trên lưng một con lừa. Quần chúng tiếp đón ông nồng nhiệt. Vì Kinh Cựu Ước của người Do Thái nói rằng một messiah, người được chọn lựa, Đức Vua tương lai của Israel sẽ xuất hiện một cách khiêm nhường trên lưng lừa. Thế nên ai cũng hào hứng và hy vọng.
Mỗi ngày mới, hàng trăm người lại tụ hợp nghe Jesus nói chuyện, ngay chính tại Đền Thờ Thiêng Do Thái khi đó vẫn còn chưa bị chính quyền thống trị La Mã thiêu hủy. Nhưng vì những điều Jesus đề cập đến trực tiếp đối đầu với quyền lực của tầng lớp đô hộ, chỉ sau chừng một tuần trụ lại Jerusalem, Jesus bị chính quyền La Mã đóng đinh thập giá. Sau khi Jesus chết, đại bộ phận người Do Thái không còn tin ông là messiah nữa. Đơn giản bởi vì Jesus không hoàn thành sứ mạng của một messiah, tức là đưa toàn bộ dân Do Thái biệt xứ trở về Jerusalem, đánh đuổi chính quyền đô hộ La Mã, và đem đến hòa bình cho toàn nhân loại.
Suốt những thế kỷ thăng trầm sau đó, những người Do Thái tin vào Jesus, tin ông chính là con trai của Thượng Đế và sự bất diệt của Người dần dần tách ra khỏi tôn giáo gốc và hình thành Thiên Chúa giáo, nối thêm kinh Tân Ước vào kinh Cựu Ước của người Do Thái. Suốt trong 2000 năm sau đó, Jerusalem trở thành điểm hành hương quan trọng nhất của các tín đồ Thiên Chúa.
Con đường Sầu Thương (Via Dolorosa) đánh dấu 600 mét của máu và đau đớn bắt đầu từ cổng Sư Tử. Mười bốn điểm dừng kể lại tấn bi kịch được tương truyền là cao quý nhất trong lịch sử tôn giáo độc thần. Vào thời điểm bộ phim The Passion of Christ (Khổ hình của Chúa) của Mel Gibson mới công chiếu, tôi còn nhớ mình kéo bạn bè tò mò đi xem và… nhắm tịt mắt liên tục suốt cả bộ phim. Thành Jerusalem thế kỷ 21 lèn kín khít khịt hàng ngàn sạp hàng đủ màu sắc tươi vui, nhưng tôi thấy chóng hết cả mặt vì suốt mười bốn điểm dừng trên Via Dolorosa đâu đâu cũng gợi lại những thước phim tóe máu. Đi qua vòm cổng đá uy nghi nhưng trong đầu tôi là hình ảnh Jesus bị kết tội và bị xích sắt quật nát thân thể. Một cô bé giơ tay chỉnh lại chiếc khăn trùm làm tôi liên tưởng đến lúc Người bị mão gai ghim vào đầu tóe máu. Bọn trẻ con cười đùa hò hét váng trời trên con đường Người từng vác thập giá lết qua và ngã gục ba lần vì đòn roi tra tấn. Một anh chàng chủ hiệu đồ lưu niệm với theo câu chào hàng ngọt như mía lùi, đúng nơi ấy là điểm dừng nơi Jesus gặp mẹ mình quỵ ngã trước mặt đứa con rứt ruột đẻ ra đang chuẩn bị bước vào cõi chết bằng những chiếc đinh đóng phập qua xương bàn tay găm vào thập giá. Máu! Máu! Và máu! Cả một bộ phim bê bết và đỏ lòm tàn khốc.
Cuối con đường Sầu Thương là thánh đường Holy Sepulchre, cũng có nghĩa là thánh đường Lăng Mộ. Nơi đây 2000 năm trước là ngọn đồi nơi thánh giá được dựng lên, Jesus bị đóng đinh, hạ xuống chôn cất, và ba ngày sau sống lại (Phục sinh). 2000 năm sau, Holy Sepulchre đông nghịt tín đồ từ khắp nơi trên thế giới. Họ quỳ hôn tấm đá nơi thi thể Jesus được hạ xuống từ thập giá. Họ xếp hàng vài tiếng đồng hồ, nhích từng xen ti mét nhỏ để được đến gần hầm mộ Chúa. Ban thờ được trang hoàng lộng lẫy nhất là nơi thập giá cắm xuống, tương truyền cũng là nơi chiếc đầu của Adam – ông tổ loài người được chôn cất.
Ngày Chúa ra đời
Hôm sau, tôi bắt xe vượt qua biên giới Israel để vào vùng đất còn lại của Palestine vẫn chưa được công nhận chủ quyền quốc gia và gần như hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Israel. Theo dòng người đổ về Bethlehem, tôi bị cuốn vào hàng trăm tín đồ vừa sùng kính vừa nóng ruột cố nhích từng xen ti mét suốt hai tiếng liền để được bước chân vào hang đá nơi Chúa Jesus chào đời.
Thánh đường Nativity là thánh đường Thiên Chúa lâu đời nhất trên thế giới vẫn còn tồn tại. Cái cổng vào bằng đá bé tí xíu thấp lè tè nằm khuất nẻo khiến một lữ khách vô tâm có thể dễ dàng bỏ qua. Cổng này có tên là Khiêm Nhường (Humility), chỉ được xây cao chừng 1,2 mét vốn để ngăn không cho xe kéo và trâu bò đi qua. Tất nhiên là cho đến ngày hôm nay thì chẳng ai còn phải lo trâu bò phạm thượng. Trong một cuộc đọ súng giữa quân Israel và các chiến binh Palestine, sự linh thiêng của Nativity đã khiến quân Israel chỉ dám đứng trấn ở ngoài suốt ba mươi tám ngày vì không dám nổ súng trong thánh đường.
Cúi đầu bước chân qua cửa đá Khiêm Nhường là cả một không gian mịt mù hương khói, vừa âm u khí thiêng, vừa náo nức con chiên. Tôi xếp hàng nhích dần từng bước đến cửa hang đá, đi sâu xuống chừng chục bậc thang thì lọt thỏm vào một hầm núi nhỏ chỉ bằng một căn phòng be bé. Bên dưới một ban thờ trang hoàng lộng lẫy là nền đá nơi Jesus lọt lòng được đánh dấu bằng một ngôi sao bạc. Tôi cũng quỳ xuống, cũng thò đầu vào bên dưới cái bệ thờ chỉ rộng chừng một mét, cũng chạm tay vào ngôi sao bạc. Chạm một cái rồi phải rụt lại ngay vì bên cạnh tôi, bà du khách ngoan đạo người Thái đã gục mặt xuống ngôi sao bạc mà hôn, mắt giàn giụa nước.
Chỉ không đầy năm phút sau, cả tôi và bà con chiên người Thái suýt bị tống cổ ra khỏi hang đá. Nguyên do là tôi và bà ấy khi ngồi xuống ở bậc thang để hoàn hồn thì ông giáo sĩ đứng canh ở đó yêu cầu cả hai không được… vắt chân chữ ngũ. Sau này tôi mới biết chỉ một vài kẻ khó tính lý luận rằng vắt chân là biểu hiện của cái sự thư giãn, không hợp với không khí nghiêm trang của thánh đường. Bà người Thái hóa ra rất bướng, bà bật lại ông giáo sĩ bằng tiếng Anh rất chuẩn: “Phụ nữ vắt chân là biểu hiện của kín đáo và khiêm nhường”. Ông thầy tu cãi không lại nên hằn học đứng nhìn hai ả đàn bà vừa ngồi vắt chéo chân, tim vừa rung thùm thụp.
Chuyến bay đêm lên Thiên Đường
Do Thái giáo tồn tại được khoảng 1600 năm, Thiên Chúa giáo tồn tại được khoảng 600 năm, thì tôn giáo độc thần thứ ba ra đời từ trong lòng sa mạc sâu thẳm của bán đảo Ả Rập, cách Jerusalem khoảng bảy ngày đường bằng lạc đà. Chàng Muhammad trẻ trung nhận lời cầu hôn của một góa phụ giàu có hơn chàng đến mười lăm tuổi. Họ sống với nhau khoảng hai mươi năm hạnh phúc cho tới khi người vợ qua đời và Muhammad mới chỉ bắt đầu những bước đầu tiên truyền bá về một tôn giáo có tên là Người tuân lệnh (Islam).
Islam Hồi giáo ghi nhận hầu như tất cả những nhân vật trong kinh Cựu Ước và Tân Ước, coi họ như những thiên sứ mà Thượng Đế tối cao đã gửi xuống mang thông điệp cho loài người. Jesus cũng được coi là một vị thiên sứ quan trọng, nhưng nhất định chỉ là thiên sứ người trần mắt thịt chứ không phải là con của Thượng Đế. Rất nhiều bạn bè Hồi giáo của tôi cười phì vào câu chuyện Maria là gái đồng trinh mà cũng đẻ được con. Đối với họ, Jesus của Thiên Chúa giáo hay Moses của Do Thái giáo đều là những đấng tôn nghiêm, nhưng không phải là đấng để thờ phụng. Khi Muhammad xuất hiện, ông tự xưng và được coi là thiên sứ cuối cùng của Thượng Đế, giới thiệu cho nhân loại Quran – cuốn kinh thánh bằng tiếng Ả Rập được ông nhấn mạnh là thông điệp gốc từ chính Thượng Đế, không hề bị thay đổi hay biến hóa trong quá trình được con người truyền bá như kinh Cựu Ước và Tân Ước.
Trong vòng hơn một năm đầu tiên của Hồi giáo, các tín đồ được Muhammad hướng dẫn quay về Jerusalem mỗi lần cầu nguyện. Nhiều học giả cho rằng Muhammad có thể muốn thúc đẩy quá trình cải đạo của cộng đồng Do Thái tại Mecca nên lấy Jerusalem – hướng cầu nguyện của người Do Thái luôn thể làm hướng cầu nguyện cho Hồi giáo. Tuy nhiên, chỉ hơn một năm sau đó, Muhammad tuyên bố Thượng Đế gửi thông điệp cho tín đồ Hồi giáo chuyển hướng cầu nguyện sang Mecca, nơi Muhammad được giác ngộ.
Thánh đường Đá và thánh đường Viễn Xứ của người Hồi trên nền Đền Thờ Thiêng của người Do Thái và Tảng Đá Nền của người Thiên Chúa. Khoảng cách từ mái vòm màu bạc thâm trầm đến mái vòm dát vàng rực rỡ đánh dấu nơi hội tụ khí thiêng của ba tôn giáo độc thần cùng cha mẹ, nơi 4 tỉ tín đồ khắp thế giới hướng về, nơi ẩn náu nguyên nhân sâu xa của bao hận thù tôn giáo từ suốt 2000 năm qua.
Theo Kinh Quran, một ngày kia, Muhammad được Thượng Đế đưa lên thăm thiên đàng. Chuyến bay từ Mecca lên chín tầng trời có điểm dừng tại một thánh đường ở “nơi xa nhất”, tiếng Ả Rập dịch là Al-Aqsa (Viễn Xứ). Chỉ có vậy, Kinh Quran tuyệt nhiên không nói gì về tên của thành phố nơi thánh đường quan trọng này tọa lạc. Các học giả ngành thần học thường tranh luận khốc liệt để xem liệu thánh đường Viễn Xứ có phải là ở Jerusalem, và thành phố này có phải là nơi Muhammad dừng chân trong chuyến viếng thăm thiên đường ngắn ngủi? Tên thành phố Jerusalem thậm chí còn không được nhắc đến, dù chỉ một lần trong Kinh Quran.
Tuy nhiên, sự thể được quyết định khi một cựu tín đồ Do Thái đã cải đạo sang thành người Hồi quả quyết rằng Muhammad đã cầu nguyện ở thánh đường Viễn Xứ và cất cánh lên thiên đàng từ chính Tảng Đá Nền ngay cạnh thánh đường Viễn Xứ trong khu Đền Thờ Thiêng của người Do Thái. Ngay lập tức, chính quyền Hồi giáo thống trị Jerusalem lúc bấy giờ lệnh cho một thánh đường Hồi giáo lộng lẫy được xây vòng lấy Tảng Đá Nền, và được đặt tên là Dom of the Rock (Thánh Đường Đá). Người Hồi giáo coi Thánh Đường Đá là một trong những chốn linh thiêng nhất của tôn giáo. Oái ăm thay, mảnh đất nơi Thánh Đường Đá được xây lên cũng là nơi Đền Thờ Thiêng từng đứng oai nghiêm, là nơi tột cùng linh thiêng của người Do Thái, là nơi người Thiên Chúa coi như chốn giao nhau giữa trời và đất, là nơi Thượng Đế vun đất nặn nên con người đầu tiên, là nơi cả tín đồ Do Thái lẫn Thiên Chúa tin rằng ông tổ của họ Abraham đã đặt con trai mình lên trên Tảng Đá Nền, và sẵn sàng cầm dao cắt cổ đứa con ruột thịt của mình, vì một khi Thượng Đế đã yêu cầu thì không cần phải biết lý do tại sao. Tảng Đá Nền vì thế có thể coi như một lò hạt nhân tôn giáo, nơi khí thiêng và tôn nghiêm không thể tích tụ đậm đặc hơn.
Jerusalem
Tôi không thể bước chân vào Tảng Đá Nền, đơn giản vì bao trùm lên vị trí tột đỉnh linh thiêng của ba tôn giáo này giờ là Thánh Đường Đá của người Hồi và thường chỉ người Hồi mới có quyền bước chân vào. Nhưng không cần phải chạm tay vào Tảng Đá Nền thì Jerusalem cũng đã khiến nhiều người ngạt thở. Từ hầu như bất kỳ chiếc cửa sổ nào ở Jerusalem, phóng tầm mắt ra xa bạn có thể nhìn thấy những tháp chuông nhà thờ Thiên Chúa với hình thánh giá, xen lẫn những vòng cung hình trăng lưỡi liềm trên đỉnh tháp gọi cầu kinh của các thánh đường Hồi giáo, và dưới thấp một chút là lúp xúp các mái vòm hình trứng của thánh đường Do Thái giáo. Những ngày cuối tuần Jerusalem chìm vào ba nhịp đập khác nhau, thứ Sáu là ngày lễ của người Hồi, thứ Bảy là ngày lễ của người Do Thái và Chủ nhật của người Thiên Chúa.
Chỉ trong vòng 0,9 ki lô mét vuông, Jerusalem nắm gọn trong tay những địa chỉ hành hương quan trọng bậc nhất của ba tôn giáo độc thần lớn nhất thế giới, ba anh em cùng cha mẹ và cũng là ba kẻ thù lớn nhất của nhau. Bản đồ Jerusalem chia gọn gàng thành ba phần, phần của người Do Thái, phần của người Thiên Chúa và phần của người Hồi. Cả thành phố như một phim trường thời Trung Cổ với những lễ nghi tôn giáo thấm đẫm vào từng hơi thở của mỗi người dân. Mỗi lối rẽ ngoặt trái hay ngoặt phải đều có thể làm bước chân một kẻ ngoại đạo run lên trong từng nhịp cầu kinh thống thiết.
Những ngày đầu ở Jerusalem, tôi lang thang từ sáng đến tối không mục đích. Mỗi người dân ở Jersalem là một di tích lịch sử sống động: những chàng trai Do Thái dòng cổ điển tóc tết hai bím dài hễ nhìn thấy phụ nữ là tránh hẳn sang đường bên kia, các ông già người Hồi chậm rãi bước đi tay lần tràng hạt miệng lẩm nhẩm cầu kinh, hay một thân hình bê bết máu của một kẻ đóng vai Chúa Jesus vai vác thánh giá chân đeo xích sắt bước từng bước khó nhọc trên Con đường Sầu Thương. Họ như bước ra từ một bộ phim, ai cũng như một kẻ vội vã vâng mệnh Chúa Trời, ai cũng chỉ có một mối lo duy nhất rằng mình không phải là con chiên ngoan đạo, ai cũng có con mắt của một kẻ mộng du, bàng quan với tất cả cõi trần, vừa bước chân vội vã trên những con đường lát đá cổ kính, vừa hướng cả thể xác lẫn tâm linh về một cõi xa xăm, nơi ai cũng tin rằng tình yêu của mình với Đấng Tối Cao là tấm vé chắc chắn để có thể gõ cổng thiên đường.
Từ hàng bao thế kỷ nay, Jerusalem là trung tâm của thế giới, là điểm giao nhau của ba lục địa Á Âu Phi. Trong suốt 3000 năm lịch sử gần đây, Jerusalem đã bị thiêu trụi 2 lần, bao vây 23 lần, tấn công 52 lần và bị trao qua tay các chính quyền đô hộ khác nhau 44 lần. Từ sau cuộc chiến sáu ngày, Jerusalem trở thành một phần của Israel. Hình ảnh những người lính súng ống chằng chịt từ đầu đến chân khiến cuộc sống tín ngưỡng đã đậm đặc càng trở nên căng thẳng. Jerusalem như một cái chuồng sắt nơi chúa sơn lâm, vua sư tử và mãnh tướng rồng lửa bị buộc phải sống cùng nhau và chia chác khẩu phần ăn một cách hòa thuận.
Thật khó có thể tưởng tượng hầu như tất cả những câu chuyện tôn giáo nổi tiếng nhất đều diễn ra ở đây, trong cái khoảng chưa đầy một ki lô mét vuông này. Đằng sau những đường phố lát đá lộng lẫy của thành Jerusalem là cuộc sống tín ngưỡng cực điểm, là sự căng thẳng đến tột cùng của xung khắc tôn giáo như một quả bóng đầy hơi có thể bục tung bất cứ lúc nào. Ở Jerusalem, mỗi hòn đá là một câu chuyện kinh thánh, mỗi người dân là một tín đồ sẵn lòng tử vì đạo, mỗi ngọn gió tràn qua cũng có mùi thánh thần, một lời nói bâng quơ cũng có thể trở thành điều tiên tri chờ ngày ứng nghiệm. Sự hội tụ đậm đặc của tôn giáo và ức chế xung đột khiến nơi đây nổi tiếng với hội chứng có tên là Jerusalem Syndrome: người nào yếu bóng vía sống ở đây lâu sẽ có cảm giác mình bước ra từ… kinh thánh.
Người Hồi tin rằng Muhammad đã được một linh vật có cánh (buraq) chở trên lưng bay từ Mecca, vượt qua chặng đường 1240km chỉ trong nháy mắt để đến Jerusalem. Từ trên Tảng Đá Nền của Jerusalem, Muhammad đã bay lên, đến thăm Thiên Đàng ngắn ngủi chỉ có một đêm. Thánh đường Viễn Xứ được xây lên chính vì niềm tin vào câu chuyện này.
Sau hơn một tuần trụ lại Jerusalem, tôi bỏ chạy. Đó là ngày bà dọn phòng bước vào và bắt đầu vừa lau chùi toa lét vừa lảm nhảm rằng bà chính là thánh Andrew (!). Là một kẻ vô thần, tôi thấy mình bỗng trở nên kỳ quái giữa Jerusalem. Đến bọn mèo ở đây cũng tin Chúa. Chúng “ngoao” lên mắt long sòng sọc nhìn tôi như muốn xua đuổi một kẻ lạc đàn.
Israel
Tôi rời Jerusalem và bắt xe đi dọc Israel: đất nước với sức sáng tạo kỳ diệu đã khiến sa mạc phải nở hoa, nhưng cũng là kẻ thù không đội trời chung với gần như toàn bộ Trung Đông. Cái quốc gia Do Thái nằm lọt thỏm giữa thế giới Hồi giáo rộng lớn này chẳng khác gì cái gai đâm thọc vào mắt, thế nên cả sáu mươi năm qua ở đây chưa lúc nào ngớt tiếng súng tổng tấn công hoặc bét ra là cũng phải vài trận bom cảm tử. Cái sự ghét Israel lớn đến nỗi bất kỳ ai trên hộ chiếu có đóng dấu của hải quan Israel cũng có nghĩa là sẽ lập tức bị tống cổ khỏi biên giới của gần hai mươi quốc gia Hồi giáo khác nhau, kể cả Malaysia, Brunei và Bangladesh ở tít bên châu Á. Tôi nhớ lúc bắt đầu bước chân vào Israel, tất cả những gì tôi tâm niệm trong đầu khi xếp hàng chờ qua cửa khẩu là: “Không cho chúng nó đóng dấu! Nhất định là KHÔNG-CHO-CHÚNG-NÓ-ĐÓNG-DẤU!”
Thế cho nên tôi suýt gào lên khi mất bao nhiêu công giải thích đứt hơi mà vẫn nghe thấy gã nhân viên hải quan dang tay dập con dấu đánh CHÁT cái xuống bàn. Chưa để tôi kịp la làng, gã giơ lên cho tôi xem cái dấu xanh trên một mảnh giấy nhỏ kẹp vào đằng sau bìa hộ chiếu. Hú hồn!
Gia đình tôi ở nhờ có lẽ là điển hình của câu chuyện Israel. Tamara là người Nga, sinh ra trong một gia đình theo Do Thái giáo. Một ngày kia, cô được mai mối cho một anh chàng Do Thái cũng sống ở Nga nhưng nhìn như người ngoài hành tinh. Anh ta cạo trọc tóc chỉ để hai lọn dài vàng óng uốn xoăn tít ở hai bên mai rồi chụp lên trên một cái mũ quả dưa. Uriel cầu hôn cô, nói rằng không những yêu cô mà việc cưới một người con gái Do Thái cũng tự nhiên và cần thiết như cá thì phải về với nước vậy. Luật Do Thái ghi rõ rằng tôn giáo đi theo dòng mẹ. Chỉ có những đứa trẻ sinh ra từ một người mẹ Do Thái thì mới đương nhiên được công nhận là người Do Thái. Việc ông bố có ngoan đạo sùng tín đến cỡ như Uriel, sống ở Nga mà vẫn cạo đầu để lọn chụp mũ, nhưng nếu không cưới một cô vợ Do Thái, hoặc ít nhất… mẹ của cô ấy phải là người Do Thái thì con cái sinh ra cũng sẽ là người ngoại đạo.
Tamara trở thành vợ, và được ông chồng giàu đức tin giúp cô hiểu được nguồn gốc của dân tộc mình. Uriel dạy cô nói tiếng Hebrew của người Do Thái, cùng cô tra gia phả của dòng họ để biết rằng tổ tiên của cả hai người chỉ là một trong hàng triệu triệu nhánh nhỏ của người Israel từ suốt ba thiên niên kỷ nay lưu lạc khắp năm châu bốn bể.
Hai năm sau ngày cưới, Tamara cùng chồng khăn gói rời Nga di cư đến Israel. Đối với họ, chữ di cư có thể bị hiểu là một từ khá phỉ báng, vì thực ra họ chỉ trở về nơi cội nguồn của dòng giống Israel, nơi vua David lập nên Vương quốc Israel từ 3000 năm trước, nơi người Israel bị hết chế độ thống trị này đến chế độ đô hộ khác chèn ép, xua đuổi khỏi đất đai của tổ tông, và suốt hàng nghìn năm qua vẫn liên tục tìm đường trở về. Hai vợ chồng Tamara hòa vào hàng triệu người Do Thái chủ yếu từ châu Âu và Nga hối hả đặt chân vào Israel và ngay lập tức trở thành công dân Israel. Luật pháp của Israel đã quy định rõ: bất kỳ ai, chỉ cần chứng minh được mình là người Do Thái, thì sẽ được trao hộ chiếu.
Trong tổng số khoảng 800 giải Nobel từng được trao có tới ít nhất 20% thuộc về những người Do Thái sinh sống chủ yếu ở Mỹ và châu Âu. Cùng với dòng người trở về là một lượng kiến thức khổng lồ, sự đa dạng về văn hóa, sự rộng dài về tầm hiểu biết, sự nhạy bén và linh hoạt của những kẻ đã được thử lửa, đã kinh qua đau thương và mất mát, dám chấp nhận thử thách, dám thay đổi, dám xóa bỏ và làm lại từ đầu, từ khắp năm châu bốn biển đổ về. Với một lịch sử non trẻ chỉ chừng sáu mươi năm, từ năm 2002 đến nay trung bình cứ một năm rưỡi Israel lại có một người được tặng giải Nobel.
Tôi ở nhờ nhà của Tamara và Uriel khá lâu, nhưng cho đến gần khi rời đi mới phát hiện ra cái phòng mình ngủ được trang bị một bộ cánh cửa sổ bằng thép rất kỳ quái. Tường nhà cũng rất dày, chừng 30 xen ti mét. Tiếng địa phương gọi căn phòng này là mamad. Từ năm 1991 khi Israel bị Iraq tấn công bằng tên lửa Scud, mỗi gia đình ở Israel phải trang bị một căn phòng kiên cố như vậy để tránh vũ khí hóa học và sinh học. Đóng cửa vào là gần như vô trùng. Đóng lâu quá đà chắc chết ngạt luôn.
Cả Tamara lẫn Uriel đều đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, được quy định từ hai đến ba năm cho hầu như tất cả mọi người bất kể nam nữ. Đi trên đường phố Israel nhiều lúc có cảm giác như bước trong doanh trại quân đội sau giờ tập trận. Các cô lính bé nhỏ đeo những khẩu súng máy nặng trĩu hồn nhiên bá vai nhau cười nói. Các chàng trai mặc nguyên quân phục ôm hôn bạn gái trên xe điện đông người. Cả nước sẵn sàng. Mỗi người dân là một quân nhân. Ngân sách chi cho chiến tranh của Israel so với thu nhập quốc gia đứng cao nhất thế giới. Hiểm họa chiến tranh lúc nào cũng chực bùng nổ.
Người Israel buộc phải sống chung với bão. Đối với họ, Israel là đất nơi tổ tông họ 3000 năm trước từng hưng danh lập quốc, nhưng Israel đã và sẽ mãi mãi là chiếc gai đâm vào mắt cộng đồng Hồi giáo Ả Rập ở Trung Đông, như một kẻ đã đi xa đến mấy ngàn năm rồi bỗng dưng quay lại ngang nhiên mua đất rồi chiếm đất của người Hồi.
Nơi ông tổ mất
Không những ba tôn giáo Do Thái, Thiên Chúa và Hồi giáo đều thờ Thượng Đế tối cao và duy nhất, họ còn có cùng một ông tổ sống chừng 4000 năm trước tên là Abraham. Nơi Abraham và gia đình được chôn cất là một hang đá ở Hebron. Người Hồi xây trùm lên hang đá này một thánh đường tên là Machpela và trong suốt hơn 600 năm chỉ cho phép tín đồ Hồi giáo vào làm lễ. Người Do Thái muốn đến vái ông tổ của mình (thật ra là của chung) thì chỉ được bước đến bậc thang thứ bảy. Cho đến khi phần này của vùng Palestine bị Israel chiếm đóng thì Machpela mới được mở cửa cho cả người Thiên Chúa, Do Thái và người ngoại đạo.
Thánh đường Machpela là nơi cuối cùng tôi đặt chân đến trước khi rời vùng Palestine. Ở nơi Jesus sinh ra, tôi phải xếp hàng hai tiếng cùng hàng trăm người mới vào được đến thánh đường. Ở nơi ông tổ của cả ba tôn giáo yên nghỉ, tôi là du khách duy nhất. Ấy là tôi tưởng thế cho đến khi đang bước qua mấy lần cửa gác của lính chiếm đóng Israel thì giật bắn mình khi nghe thấy những tiếng ra lệnh gằn ngắn gọn từ phía sau. Chỉ trong một giây lát, hàng chục lính đặc nhiệm Israel với đầy người súng ống lựa đạn đã tỏa ra chiếm lĩnh các hướng và vị trí cố thủ. Họ quỳ gối, tay đặt lên nòng, nheo mắt nhìn tôi, sẵn sàng xả đạn.
Machpela và ngôi mộ của Abraham tổ tiên ba giáo phái. Người đàn ông được quyền ngồi là người Hồi.
Một cậu bé Palestine đang chơi bóng gần đó bật cười ha ha. Cậu chạy lại, kéo tay tôi và chỉ lên tầng trên của thánh đường Machpela. Vừa thoáng thấy những cái chỏm đầu đàn ông có phủ một miếng mũ nhỏ tròn tròn của người Do Thái[47], tôi đã hiểu ngay ra vấn đề. Mỗi khi có du khách người Do Thái dám cả gan liều mạng (mà cũng chắc chắn chỉ vì công chuyện) phải tới Palestine nói chung và Machpela nói riêng, việc bảo vệ họ có lẽ còn cẩn thận hơn bảo vệ các tổng thống. Rất nhiều bạn bè Do Thái của tôi dù trông không khác gì người Ả Rập Palestine, nhưng cả đời họ sẽ không bao giờ dám nghĩ đến chuyện đặt chân qua biên giới. Họ cho rằng ai nhìn cũng sẽ biết họ là người Do Thái, có lẽ bởi nỗi sợ hãi bị trả thù không thể che giấu nổi trong đôi mắt của kẻ chiếm đóng.
Nếu ở Thánh đường Thiên Chúa Nativity tôi suýt bị đuổi cổ vì dám ngồi vắt chân, thì ở Thánh đường Hồi giáo Machpela, tôi cũng suýt bị đuổi cổ chỉ vì dám cả gan… ngồi. Nhà thờ Hồi giáo luôn trải thảm cho tín đồ quỳ hành lễ, ngồi nghỉ ngơi, dựa lưng tán dóc, và thậm chí nằm ngủ trưa tránh nắng. Mỗi lần vào các thánh đường Hồi, tôi không bao giờ để ai nhắc mà luôn trùm khăn lên đầu như một biểu hiện của sự thành tâm. Khi tôi ngồi xuống bên cạnh bức tường để ngắm nhìn hai cái lăng mộ cả nghìn năm tuổi thì bị một ông cai đến nhắc đứng dậy. Tôi bắt chước bà người Thái ở Navivity cũng thu hết can đảm cãi lại: “Thế cái ông đang ngồi dựa hẳn lưng vào lăng mộ, chân co chân duỗi lim dim mắt kia thì sao?” – “Ông ấy là người Hồi!” Tôi ngoan cố không nghe, vẫn tiếp tục ngồi nép vào chân tường. Đây không phải là lần đầu tiên lý do người Hồi hay người Ả Rập được đưa ra để biện minh cho một đặc ân hay một vị trí được coi là cao quý hơn bình thường. Tôi từng tức giận đến nỗi gắt gỏng om lên với một người bạn ở Oman khi anh ta tỏ ý khinh rẻ người Hồi Pakistan vì họ không phải là người Ả Rập, và rồi chính gã người Hồi Pakistan đó lại tỏ ý khinh rẻ một người Ấn Độ vì anh ta không phải là người Hồi. Toàn bộ ý thức hệ của Hồi giáo dựa trên sự ưu việt về tính tinh khiết của Quran (được tín đồ Hồi cho là không bị loài người làm vẩn đục như Cựu Ước và Tân Ước) và tính chốt hạ của thiên sứ Muhammad (được tín đồ Hồi cho là thiên sứ cuối cùng của loài người). Ý thức hệ này khiến tín đồ Hồi giáo có một niềm tin mãnh liệt rằng tôn giáo họ đi theo là phiên bản tín ngưỡng độc thần trong sạch nhất, thanh lọc nhất, đúng với nguồn gốc nhất, trong khi các phiên bản khác như Do Thái, Thiên Chúa đã bị thời gian và con người làm cho pha tạp, ô uế. Theo cách suy diễn này, tất cả các nhân vật trong kinh thánh Adam, Eva, Jesus, Moses, Abraham đều là người Hồi vì đây mới là đạo gốc. Chưa hết, bất kể tín đồ Do Thái hay Thiên Chúa nào cũng là người Hồi, chỉ có điều họ không tự biết điều đó mà thôi (!). Kẻ vô thần như tôi, không tin Thượng Đế là Đấng Tối Cao duy nhất thì hầu như chắc chắn sẽ kết thúc cuộc đời trong địa ngục.
Và trên tất cả một bậc, người Hồi Ả Rập không những tự hào mình là tín đồ của một phiên bản tôn giáo họ tự cho là trong sạch hơn, mà còn là công dân của đế chế oai hùng, bất thần hiện ra từ trong cát bụi sa mạc và triệt hạ Ba Tư cùng tôn giáo hùng mạnh Zoroastrianism của đế chế này trong vòng hai mươi năm, đánh thẳng vào trái tim của châu Âu và chiếm đóng Tây Ban Nha chỉ trong vòng một trăm năm, từ những bộ lạc du mục (bedouin) lẻ tẻ và bé nhỏ ở bán đảo Ả Rập trở thành những người chủ hùng mạnh của thế giới với những đỉnh cao nghệ thuật và khoa học chói lọi trong khi châu Âu vẫn còn chìm trong đêm trường Trung Cổ. Hẳn không ít những người Việt khi coi thường gọi xách mé dân Ả Rập là “Rệp” có rất ít khái niệm về một quá khứ oai hùng của họ, cũng như sự tổn thương sâu sắc mà những con người với trái tim kiêu hãnh này vẫn không thể nào quen nổi sau khi Ottoman – đế chế Hồi giáo cuối cùng sụp đổ.
Hoặc ít nhất là trong Thánh đường Machpela này, không phải là người Hồi và nhất là không nhìn giống như người Ả Rập thì đừng mơ đến việc được có quyền ngồi chứ đừng nói đến việc ngồi dựa hẳn vào thành lăng mộ của ông tổ Abraham mà thản nhiên chân co chân duỗi vân vê tràng hạt. Máu nóng trong người tôi dồn lên khi bị ông cai lườm nguýt đi đi lại lại canh chừng. Tôi không còn hứng thú nhìn cái lăng mộ nữa, thấy uất ức thay cho những tín đồ bao nhiêu trăm năm qua phải chịu đứng ngoài hoặc chỉ được đi đến bậc thang thứ bảy. Thế có khác gì cha mẹ chung chết đi nhưng anh chị mình không cho mình có quyền cúng bái?
Tôi bỏ đi. Trên đường ra cửa thì bị một vài cô gái Palestine đến làm lễ túm lại tíu tít hỏi chuyện. Khi chúng tôi đang hồ hởi chia sẻ thì ông cai đi đến, quát mắng đám con gái, và thẳng cánh đòi hất tôi ra cửa. Những cô gái trẻ đứng im, và len lén quay trở lại sảnh đường dành cho phụ nữ khuất sau lần rèm cửa dày cộp. Tôi nghẹn họng, cảm nhận rõ những mạch máu của mình giật liên hồi. Ông ta không những bắt nạt tôi chỉ vì tôi không phải người Hồi, không phải người Ả Rập, mà thậm chí còn bắt nạt tôi và những cô gái hiếu khách vì chúng tôi là đàn bà con gái. Mắt long lên, tôi gằn giọng: “Ông muốn ăn hiếp tôi à? Để tôi đi mách… lính Israel!”
Như một con chuột bị dọa mèo, ông cai lủi thẳng.
Còn tôi đứng khóc rưng rức. Nước mắt giàn giụa còn hơn cả bà người Thái khi được hôn lên nơi Chúa chào đời.
Tôi không phải là kẻ mau nước mắt. Nhất là nước mắt khi bị dọa nạt thì lại càng không. Phải mất mấy phút sau định thần lại tôi mới hiểu tại sao mình khóc.
Palestine khiến tôi kiệt sức và quỵ ngã. Tôi thấy niềm tin bị cạn kiệt, có lẽ bởi mình là người ngoại đạo. Nếu tôi tin Chúa, tôi sẽ như bà người Thái, sẽ gục mặt trên ngôi sao bạc trong hang đá nơi Chúa sinh ra và hồi sinh với lòng tin rằng sự bất tận yêu thương của Chúa chịu nạn sẽ cứu rỗi con người, kể cả những con người mình căm ghét. Tôi khóc vì thấy mình chẳng có một tín ngưỡng để làm nơi bấu víu: dù đứng trong trung tâm linh thiêng hội tụ tổ tiên của ba tôn giáo tồn tại hơn 3000 năm với hơn bốn tỉ tín đồ mà phải cầu cứu đến bạo lực của kẻ chiếm đóng để cứu rỗi những quyền tưởng chừng như cơ bản nhất của con người.
Lần đầu tiên trên đường vạn dặm, tôi thấy mình giống như một người Palestine bị chiếm đất phải chạy tị nạn suốt hơn năm mươi năm qua, chỉ như là bèo dạt mây trôi vậy thôi. “Kẻ chiếm đóng”, “giặc ngoại xâm”, “Chúa hài đồng”, “lòng yêu thương”, “niềm oán hận”…, tất cả chéo mòng mòng, va đập nhau và tan tác trong một ma trận không nhìn ra lối thoát.
Và thế là tôi chính thức từ biệt tuổi thơ, chính thức hiểu rằng thế giới này không có ranh giới rõ ràng giữa điều xấu xa và tốt đẹp, chính thức từ biệt niềm tin vào việc có một Lẽ Phải Giản Đơn tồn tại ở trên đời.
Chương 10 - Ai Cập: Con Nhân Sư ngàn năm không ngủ
Ngồi xe buýt suốt cả ngày từ biên giới Israel tôi mới đặt chân được tới Giza khi trời đã tối khuya. Thành phố vệ tinh của Cairo đông tới gần bốn triệu dân, dãn bớt mạch máu cuồn cuộn chảy của thủ đô gần tám triệu dân không lúc nào yên ngủ. Với tôi, lý do đến Giza không có chi khác ngoài việc đánh dấu vào một trong những ước mơ thuộc loại “hàng chợ” nhất của những kẻ chưa một lần đặt chân đến Ai Cập: chiêm ngưỡng Kim Tự Tháp Giza 4500 tuổi – viên ngọc duy nhất còn sót lại của bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Những giấc mơ Ai Cập của tôi lung linh hình tam giác huyền thoại hiên ngang trên sa mạc Phi châu cả mấy ngàn năm. Như một điều đương nhiên, cội nguồn sinh sôi và sức mạnh tiềm tàng của đất nước đông dân nhất thế giới Ả Rập hẳn phải tụ hội ở Giza.
Nhưng người ta không kết bạn ở Giza…
Tôi đã có hẹn với một chủ nhà trên Couch Surfing đến đón về ở với gia đình. Mạng bạn bè tình nguyện trên internet này khiến cho những chuyến đi của tôi luôn gần gũi với người dân bản xứ. Hồ sơ của Ramy tuy không có nhiều lời nhận xét nhưng tất cả những đánh giá của bạn bè đã từng ở cùng Ramy đều “tích cực”. Điều khiến tôi quyết định nhận lời mời của Ramy là việc anh ở cùng với mẹ và các cô em gái. Tôi luôn thích được sống cùng với một đại gia đình vì đó là nơi tôi có thể cảm nhận rõ nhất mạch nguồn văn hóa của một dân tộc. Tuy nhiên, khi Ramy xuất hiện ở bến xe, tiến thẳng đến chỗ tôi đứng và kêu lên: “Cô là cô gái trên Couch Surfing phải không?” thì lập tức trong đầu tôi réo lên một hồi chuông cảnh giác: “Anh ta thậm chí còn không nhớ tên mình!”
Trên chuyến xe hôm ấy có tới gần một chục bạn trẻ khoác ba lô đi bụi, một nửa là dân châu Á. Ramy quay sang đám thanh niên còn đang bơ phờ sau chặng đường dài và hào hứng dang rộng vòng tay: “Tôi là Ramy! Tôi là bạn của cô gái này! Tôi xin mời tất cả các bạn về nhà tôi ở hôm nay!”
Tôi thở hắt ra, chắc chắn đến 90% là mình đã xúi quẩy vớ phải một kẻ lợi dụng Couch Surfing để kiếm tiền từ một lũ ngỗng Tây nhiều tiền thiếu kinh nghiệm. May thay đám ba lô bụi đã đặt chỗ trước ở khách sạn, chỉ có một cậu chàng người Mỹ tên Harold bơ vơ chưa quyết định gì là tin lời Ramy và cùng tôi leo lên xe để hắn trở về nhà.
Y như rằng, Ramy không hề ở cùng với gia đình. Căn hộ hai phòng ngủ của anh ta thậm chí có cả dầu xả tóc cho con gái. Tôi bấm tay ra hiệu cho Harold cẩn trọng khi Ramy liến thoắng về những tour cưỡi lạc đà, hay lời hứa hẹn sẽ đưa chúng tôi đi đến cửa hàng bán giấy papyrus của Ai Cập thời cổ đại nơi bạn anh ta làm chủ tiệm. Nhưng Harold là gà gô chính hiệu, không biết khi tôi đi ngủ rồi cậu ta bị Ramy xúi bẩy thế nào mà mua một tour thăm Kim Tự Tháp ngồi trên lưng lạc đà với giá cắt cổ. Ramy cực kỳ điêu luyện, thậm chí đã biến sự hiếu khách giả vờ của mình thành bài bản khi nhường hai phòng ngủ cho chúng tôi và qua đêm trên sàn nhà. Đỉnh điểm của sự thiện nghệ là khi tôi chào từ biệt, anh ta bảo tôi chọn một miếng sò trong chiếc rổ đựng đầy vỏ ốc đặt dưới gậm bàn và nhắm mắt vào trong vòng hai phút. Khi tôi mở mắt ra, chiếc vỏ sò đã được biến thành một bức tranh tuyệt đẹp với phong cảnh núi non nạm đầy kim sa và một trái tim bằng nhựa bé xíu gắn lên bầu trời.
Tôi không tin vào mắt mình, lòng dạ băn khoăn. Cho đến khi tình cờ nhìn vào ngăn tủ buồng tắm và phát hiện ra Ramy đựng trong đó đầy đủ bộ đồ nghề để có thể chế biến ra một tác phẩm thủ công trong vòng hai phút: bút dạ không trôi để vẽ hình lên vỏ sò, nước sơn móng tay không màu để tạo nền dính, bột ngũ sắc để phủ lên trên, và hàng trăm trái tim nhựa bé tý để gắn vào lớp sơn móng tay, chỉ cần thổi phù phù vài cái là khô và kết chặt lấy nhau thành một bức tranh nổi xinh xắn. Tôi bổ nhào ra phòng khách đến chỗ có cái rổ vỏ sò, và đương nhiên, cái vỏ sò nào cũng đã có sẵn một cái lỗ để Ramy nhanh chóng xâu dây qua và buộc lại thành một chiếc vòng đeo cổ cho một cô gái ngây thơ chết lăn quay vì một đòn lãng mạn.
Tôi ấm ức kể lại chuyện này trên facebook và bị một đám quen thân cười vào mũi: “Sao Mai ngốc thế? Người ta không kết bạn ở Giza! Ở quanh Kim Tự Tháp, đến những con lạc đà cũng biết đi theo người có cái ví dày tiền”.
Đào quá khứ lên mà sống
Và đám bạn ấy nói quả không sai.
Bao nhiêu năm tháng tôi mơ mộng về Giza là thế mà buổi sáng hôm ấy, vừa lọt qua cổng vào khu di tích được chừng năm phút, tôi đã muốn bổ nhào chạy ra.
Cứ như bị đánh úp. Một gã trai nhanh chóng đón lấy tấm vé của tôi từ tay nhân viên an ninh và hối hả dẫn thẳng tôi nhằm hướng tượng con Nhân Sư. Gã ta múa mép liên tục, nói rằng mỗi khách du lịch đều cần có nhân viên của khu di tích đi theo. Vượt qua phút hoang mang, tôi kiên quyết đòi lại vé thì gã nhất định không trả. Tôi khùng lên dọa báo cảnh sát thì gã mới hậm hực bỏ đi. Gã chưa kịp khuất bóng thì tôi liên tục bị hàng chục gã khác tấn công, gã thì đòi xem vé, gã thì đòi mua nước, gã thì bắt đi tour, gã thì ép đi xe ngựa. Thậm chí khi tôi nhét tai nghe nhạc, giả vờ không để ý thì vẫn liên tục bị đeo bám. Đỉnh điểm là một gã cò mồi cưỡi lạc đà sau khi đã lải nhải suốt cả trăm mét dọc đường thậm chí còn kiên quyết yêu cầu tôi bỏ tai nghe ra để… nói chuyện, rồi nhân danh bạn bè đưa ra lời khuyên nên làm gì, rồi nhân danh “người Ai Cập” ca thán tôi thiếu thân thiện với dân bản xứ, cuối cùng là nhân danh “một người bình thường” lên án tôi thiếu lịch sự khi không muốn tiếp chuyện. Đến khi tôi đã trèo tút lên một đống gạch đổ nát thì vẫn nghe văng vẳng tiếng cái gã chết dằm ấy gào lên từ xa trên lưng lạc đà: “Die young! Lady, die young!” (Chết sớm đi! Cô nàng, chết sớm đi!). Tôi cáu tiết lập tức gào lên đáp trả: “Your camel will die young!” (Con lạc đà của mày chết sớm đi thì có!). Chưa được một tiếng đi loanh quanh trong khu Kim Tự Tháp mà tôi đã muốn nổ tung.
Một khu sa mạc rộng lớn với tất cả những đền đài tượng đá đẹp đẽ, lung linh, thần bí, thiêng liêng của Ai Cập ngàn xưa bỗng trở nên lố bịch với cái đám cò du lịch lộn nhộn hung hãn tự xưng là con cháu truyền đời của một nền văn minh hùng vĩ. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao dân du lịch nhiều kinh nghiệm đã tôn vinh Giza là “thủ đô của lũ cò quấy nhiễu” (the world’s capital of hassle). Gần 12% dân số Ai Cập, tức là chừng khoảng mười triệu dân, sống dựa vào hơn năm triệu khách du lịch đổ đến đất nước này mỗi năm. Mùa xuân Ả Rập bất thần tràn đến đây khiến an ninh mất thăng bằng, lượng khách giảm sút, cạnh tranh vì thế càng trở nên khốc liệt. Những ngày tôi ở lại Ai Cập rơi đúng vào điểm đáy của một nền du lịch đang ngắc ngoải vì tranh ăn.
Cuối ngày, tôi mệt lả. Khắp khu di tích nắng chói chang cát mênh mang không chỗ trú ẩn cho một kẻ lữ hành cô độc muốn chạy trốn khỏi đám tàn quân săn tiền, hậu thế của các Pharaoh quyền uy khi xưa. Ngồi xuống một bụi cây là có kẻ đến “hỏi thăm”. Ghé vào bóng râm một Kim Tự Tháp dù đổ nát và khuất nẻo đến mấy cũng có người đến “mời mọc”. Tôi chẳng khác gì một con mồi còm chạy trốn lũ thú săn thiếu đói.
Nơi ẩn náu cuối cùng
Chẳng ai có thể tưởng tượng được bến bình yên duy nhất của tôi lại chính là Trái Tim của Kim Tự Tháp khổng lồ Giza, ngay tại căn phòng bí mật nơi chiếc quan tài bằng đá của Pharaoh Khufu (Khê-ốp) đã nằm lặng yên suốt 4500 năm.
Đường hầm đến căn phòng bí mật bắt đầu ở một hốc đá nhỏ trổ ra trên lưng chừng Kim Tự Tháp cách mặt đất khoảng hơn chục mét. Hàng trăm bậc thang nhỏ hun hút xuyên thẳng vào thăm thẳm lòng sâu của gần sáu triệu tấn đá tảng. Khí lạnh âm u, những góc tối đặc nối với nhau bởi ánh sáng yếu ớt tỏa ra từ những chiếc đèn vàng. Sau gần chục phút uốn mình qua hầm đá, tôi bước chân vào căn phòng vuông vức rộng chừng hơn hai chục mét vuông nơi chỉ có duy nhất một chiếc quan tài đá bị bật nắp nằm chính giữa. Một ánh sáng nhỏ từ chiếc đèn trong góc phòng hắt lên chiếc quan tài đá, để lại cả bầu không gian bao trùm trong quánh đặc của lặng yên và huyền bí. Khi tiến gần đến nơi, tim tôi thót lên vì bất ngờ thấy một người đàn ông và một người phụ nữ đang ngồi nép đằng sau quan tài đá, im lặng trong tư thế thiền.
Tôi ngồi dựa lưng vào tường, lắng nghe tiếng bước chân xa dần của hai du khách cùng leo lên hầm mộ bí mật sau ít phút ngó nghiêng đã nhanh chóng bỏ đi. Có một điều lạ kỳ là nơi chôn cất thi hài của Khufu giản đơn đến khó hiểu. Tường và quan tài trống trơn, không có lấy bất kỳ một hình vẽ nào như thường thấy ở các lăng tẩm Ai Cập cổ. Nhiều người cho rằng Kim Tự Tháp Khufu không phải là nơi chôn cất nhà vua, xác của Khufu cũng không phải là đã bị ăn cắp. Khufu thực ra là một đền thờ thiêng, nơi các tín đồ của cổ đạo Ai Cập được dẫn tới để hành lễ. Những kẻ mới nhập đạo trên con đường mê cung dẫn tới căn phòng bí mật sẽ bị giết chết, xác đặt trong quan tài đá không nắp, bởi nếu được chấp nhận và có chân tu, kẻ đó sẽ được phục sinh và trỗi dậy bước ra từ cõi chết.
Đang mê mải với những ý nghĩ lan man, bất thình lình, tôi thấy người đàn ông từ phía góc phòng đứng dậy. Ông ta dừng chân, cúi đầu một giây, và vắt chân… chui tọt vào nằm gọn trong chiếc quan tài đá.
Tôi trố mắt ngạc nhiên. Người đàn ông phía trong bắt đầu dùng điện thoại mở một giai điệu kỳ bí, u u mê mê. Cả gian phòng ngập chìm trong bầu âm thanh huyền hoặc. Tôi như bị thôi miên, cả thân người tan đi. Chừng ba phút sau khi người đàn ông bước ra. Tôi như bị bỏ bùa, đứng lên và tiến lại gần ông ta. Tôi đưa tay ra hiệu được nằm trong quan tài. Ông ta lặng lẽ gật đầu và đưa tay ra đỡ tôi trèo vào.
Chưa bao giờ tôi trải qua một cảm giác không thực và kỳ ảo đến vậy. Giây phút tôi duỗi thẳng người trên nền quan tài đá lạnh buốt là giây phút toàn bộ các mạch máu trong tôi căng ra, từng tế bào trên da thốt nhiên bỏng rát. Đầu tôi quay mòng mòng với hàng triệu dây thần kinh điên đảo. Tim tôi đập dồn dập. Phía trên, người đàn ông lạ mặt tì tay vào thành quan tài ra hiệu cho tôi nhắm mắt. Âm thanh của một buổi hành lễ ma quái choáng ngợp và mê muội. Tôi vô thức làm theo lời ông ta, và ngay lập tức bị cuốn tuột đi theo một cơn xoáy lốc kỳ lạ của hàng triệu triệu những ý nghĩ siêu thực.
Có thể tôi là một kẻ đặc biệt nhát gan. Có thể tổng số thời gian tôi nằm trong quan tài đá chỉ tính bằng giây. Nhưng sự thật là tôi đã cố sức chống lại sự mãnh liệt đầy quyền năng của cơn lốc âm thanh kỳ bí để bật dậy bước ra khỏi chiếc quan tài ma thuật có tuổi đời còn lâu hơn cả lịch sử của đất nước tôi, chiếc quan tài nơi vị Pharaoh quyền lực của Ai Cập đã từng yên nghỉ một cách bí mật trong suốt hơn 4000 năm, lắt léo vùi trong lòng Kim Tự Tháp lớn nhất của nền văn minh cổ đại.
Tahrir không dành cho phụ nữ yếu tim
Trong thời gian ở lại Cairo, tôi kết thân với một phóng viên tên Luai. Anh và hầu như tất cả những người bạn Ai Cập tôi gặp chẳng mấy ai quan tâm đến lũ cò mải kiếm tiền, đến Kim Tự Tháp và những câu chuyện từ cả vài ngàn năm trước. Đối với họ, Ai Cập của ngày hôm nay chỉ có hai từ: “cách mạng”. Và thế là cuộc phiên lưu Cairo của tôi bắt đầu.
Đầu tiên, Luai đưa tôi đến quảng trường Tahrir nổi tiếng nơi ba trăm nghìn người cắm trại ngủ đêm biểu tình trong mười tám ngày và lật đổ nhà độc tài Mubarak sau ba mươi năm cầm quyền. Thời điểm tôi ở Cairo, Mubarrak đã ngồi sau song sắt nhà tù chờ ngày ra tòa, nhưng Tahrir vẫn nhộn nhịp trắng đêm. Hãng thông tấn của Al-Jazeera thuộc vương quốc dầu mỏ Qatar xây một trụ cần cẩu cao chót vót với một bóng đèn khổng lồ như một mặt trời chiếu sáng toàn bộ quảng trường Tahrir, camera đưa tin đi khắp thế giới 24 giờ/ngày không bỏ sót bất kỳ một động thái nào. Al-Jazeera đánh bật CNN, BBC và tất cả những gã khổng lồ truyền thông khác với tư cách một kênh thông tin không phải của phương Tây với tiếng nói tự do, và thắng đậm trong cuộc chiến truyền thông khốc liệt.
Tahrir những ngày sục sôi biểu tình, cả ngày lẫn đêm. Bên cạnh hàng ngàn người ngủ trong lều trại hoặc ngay trên sân quảng trường, hàng ngàn người khác vẫn hô khẩu hiệu, lập nhóm tranh luận, mở băng chiếu hình, dựng đài kỷ niệm. Trong bức ảnh này, Layla (5 tuổi) và em trai (hơn 1 tuổi) dù đã 3 giờ sáng nhưng vẫn háo hức phất cờ. Bằng tuổi họ, các cô bé cậu bé khác đang mơ về thế giới của Disney trong khi Layla và em trai đang học bài học đầu tiên về thế giới của dân chủ.
Tuy nhiên, Mubarak đã cạp đất. Lần này, trong ánh đèn của Al-Jazeera và chiếc camera liên tục ngày đêm quét hình, Tahrir lại hừng hực, nhưng không phải là đám đông đồng lòng đồng dạ đòi phế truất Mubarak nữa mà Tahrir đã bắt đầu trở thành chiến trường chia cắt phe thắng cuộc thành hai bên, giữa những người ủng hộ việc thành lập một chính quyền thế tục và phe của Huynh Đệ Hồi giáo đòi thành lập một chế độ thần quyền lấy Kinh Quran làm tôn chỉ. Khi Luai đưa tôi đến đây cùng một nhóm những nhà hoạt động cánh tả, tôi để ý thấy một cô gái rất xinh đẹp, tóc nhuộm vàng rực rỡ không đội khăn trùm đầu hijab được Luai giới thiệu là diễn viên Rehab El Gharawy. Làn da trắng muốt và khuôn dung sắc sảo sáng bừng một cách quá lộ liễu của cô thu hút rất nhiều ánh nhìn, và chỉ ít phút sau đó biến thành một cuộc cãi cọ nho nhỏ khi một nhóm những người ủng hộ Huynh Đệ Hồi giáo từ chối không cho cô đứng nhờ ánh sáng trong lều của họ để trả lời phỏng vấn. Trong cơn xô xát, một gã đàn ông lợi dụng động chạm vào người Rehab. Lo sợ cho hai người phụ nữ trong nhóm, tất cả quyết định rời Tahrir.
Mấy tháng sau, khi đã quay trở lại châu Âu, báo chí bắt đầu lên tiếng về những vụ quấy rối, thậm chí cưỡng hiếp phụ nữ ở Tahrir khi đám đàn ông lợi dụng tình cảnh đông đúc vây bắt và tấn công phụ nữ giữa thanh thiên bạch nhật với đỉnh điểm gần một trăm vụ mỗi ngày, trong đó có cả một nữ phóng viên Hà Lan bị cưỡng hiếp khi đang tác nghiệp. Tôi lo lắng nhắn tin cho bạn bè thì họ khẳng định đây là một khối ung nhọt trong đầu óc đàn ông và xã hội Ai Cập chỉ chờ đúng thời điểm cách mạng để lộ ra bộ mặt thật. Tồi tệ hơn, lỗi bao giờ cũng bị đổ cho phụ nữ trước tiên: “Lúc đó cô mặc cái gì?”; “Tại sao con gái nhà lành không ở nhà mà xông vào chỗ đông người làm gì?” hay “Cô là con gái ngoan, bỏ qua đi!”. Bạn tôi và những phụ nữ khác đã đối phó bằng cách găm những chiếc kim dài chừng một gang tay dọc mép quần để có thể nhanh chóng rút ra khi bị tấn công.
Chữ trinh đáng giá bao nhiêu?
Có lẽ chưa bao giờ Ai Cập trở nên xấu xí như vậy trong con mắt của thế giới. Những tin vui từ Ai Cập tối sầm lại bởi những vụ xì căng đan sex gần như không thể tin được, trong đó có việc hai mươi cô gái tham gia biểu tình ở Tahrir bị quân đội bắt giam và chia thành hai nhóm, một nhóm đã kết hôn và một nhóm chưa có gia đình. Trước sự chứng kiến của các sĩ quan, các cô gái chưa có chồng bị ép phải cởi bỏ quần áo, giạng chân cho một nam nhân viên y tế thò tay vào cửa mình kiểm tra để biết chắc chắn màng trinh còn nguyên vẹn. “Virginity test” trở thành một cú sốc với cả thế giới khi một cô gái trong số đó công khai đâm đơn kiện quân đội, một việc chưa có tiền lệ ở đất nước vừa thoát ra khỏi chế độ độc tài. Để thanh minh cho hành động nhằm mục đích hạ nhục đáng kinh tởm này, một viên chức quân đội đã giải thích rằng rất nhiều phụ nữ tham gia biểu tình ở Tahrir không phải là loại đàn bà đứng đắn. Và việc kiểm tra màng trinh là để chứng minh rằng họ đã bị ô uế từ trước chứ không phải là bị cưỡng hiếp trong thời gian bị giam giữ.
Chưa ở đâu chữ trinh lại có sức nặng khủng khiếp như ở Trung Đông. Nếu ở Việt Nam nó đáng giá ngàn vàng thì ở Trung Đông nó đáng giá cả mạng người. Vẫn còn một chút từ lượng khi chúng ta công nhận “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường” (Kiều). Ở Việt Nam, một cô gái không còn trinh tiết nếu bất hạnh vớ phải một lão chồng cổ hủ thì câu chuyện cũng thường chỉ có một mình đôi uyên ương tự giải quyết. Ở Yemen và Ma Rốc, cả đại gia đình và bạn bè tổ chức hội hè thâu đêm để… chờ đôi trẻ động phòng và tới khi tấm vải thấm máu trinh được đưa ra, những người đàn ông Yemen sẽ bắn súng lên trời còn những gia đình ở Ma Rốc sẽ nhảy múa ăn mừng. Cái màng da mong manh của cô dâu không chỉ là biểu tượng trong trắng của chính cô ấy mà trở thành phẩm hạnh và danh dự của cả dòng tộc.
Như tôi đã kể ở chương Jordan, hủ tục cắt khâu âm hộ kinh hoàng vẫn đang diễn ra để có thể đảm bảo chắc chắn các cô gái không bị con quỷ dục vọng lôi kéo. Trải qua nhiều thăng trầm của các chế độ phụ hệ trọng nam khinh nữ, phần mu thịt ở cửa mình phụ nữ bị coi là bẩn thỉu vì người ta cho rằng đó là nơi tạo khoái cảm nhục dục. Việc khâu cửa mình trở thành một nghi lễ quan trọng để bé gái trở nên tinh khiết, được gia đình và xã hội tôn trọng. Con số 90% bé gái và phụ nữ ở Ai Cập tình nguyện hoặc bị gia đình quyết định phải trải qua các cấp độ cao thấp khác nhau của việc cắt bỏ và khâu cửa mình khiến tôi kinh hoàng. Khi gã bạn người Ai Cập đàng hoàng là dân học cao, tư tưởng tự do và theo chủ nghĩa thế tục cánh tả cho rằng “… ở Ai Cập trời nóng lắm! Thế cho nên đàn bà con gái dường như cũng dễ bị lôi kéo vào dục vọng hơn”, tôi suýt nữa thì gào lên “Đồ ngu!” nhưng may thay kìm lại được. Bây giờ thì tôi đã hiểu tại sao một cô gái tôi quen, dù còn rất trẻ tuổi đã muốn lấy chồng: “Lấy chồng cho xong đi chị ơi, để mà còn được bắt đầu cuộc sống tự do. Còn muốn tự do tuyệt đối ư? Lấy chồng cho xong rồi… bỏ chồng! Người đời chỉ khắc nghiệt với con gái chưa chồng, chứ đàn bà ly hôn thì chả ai buồn quấy nhiễu!”
Tôi lập tức nhớ đến một chị bạn ở Việt Nam sau khi trở thành quả phụ đã tình cờ phát hiện ra cuộc sống của một bà mẹ đơn thân có sự nghiệp tuyệt vời đến mức “có điên mới tái hôn và mua họa vào thân”. Ở những xã hội nơi phụ nữ đã tiến bộ trong khi đàn ông lại vẫn bị cầm tù trong mớ tư tưởng cổ hủ, hôn nhân trở thành một gánh nặng cho người đàn bà trẻ vừa phải lo kiếm tiền chẳng khác gì đức ông chồng mới cưới lại vừa phải làm vợ cho ông ấy, đẻ bằng được con (trai) cho cả họ nhà ông ấy, chăm con cho ông ấy, và cung phụng cả một bộ sậu tông ti họ hàng nhà ông ấy. Chẳng phải ngẫu nhiên mà một bìa báo Time năm 2013 đưa vào tâm điểm thực tế báo động ở Nhật Bản nơi 90% các cô gái trẻ không hứng thú với chuyện lấy chồng vì cho rằng hôn nhân giết chết sự nghiệp. Xã hội cổ điển kiểu Nhật không dễ dàng chấp nhận một phụ nữ vừa làm mẹ vừa đi làm, dẫn đến kết cục 70% phụ nữ cứ lấy chồng xong là thôi việc. Để thoát khỏi vòng kìm tỏa, một thế hệ các cô gái trẻ lựa chọn cuộc sống độc thân và trở nên thờ ơ với sex. Thế mới thấy tư tưởng bất bình đẳng nam nữ giống nhau từ Á sang Phi, mặc dù cái cách mà mỗi đất nước phản ứng lại có thể hoàn toàn đối lập nhau, từ việc đặt cái màng trinh lên bệ mà thờ giống như ở Trung Đông hay chối bỏ cuộc sống hôn nhân và giường chiếu yêu đương như ở Nhật.
Mùa xuân chết yểu
Trở lại với Luai, anh bạn phóng viên tại Cairo, người đã giúp tôi chứng kiến sự biến động chính trị và tôn giáo không ngừng ở quảng trường Tahrir. Vào thời điểm năm 2012 khi tôi đang ở Ai Cập và cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên sau khi nền độc tài sụp đổ đang diễn ra, chỉ vài giờ sau khi các hòm phiếu đóng cửa, tôi thấy mình ngồi trên chiếc xe không thể cũ bẩn và lung lay hơn được nữa của Luai. Anh chàng vừa lái xe vòng vòng vừa kẹp điện thoại vào vai sốt ruột trao đổi và chờ hướng dẫn để có thể đặt chân vào trụ sở đầu não của một trong những tổ chức cách mạng lớn của Ai Cập. Sau gần một tiếng loanh quanh, chúng tôi được hướng dẫn đỗ xe ở bãi đất công cộng và đi bộ một quãng dài với đủ kiểu ngoặt trái ngoặt phải để cuối cùng có thể bấm chuông một căn hộ bí mật nằm khuất nẻo trong khu lao động Cairo.
Khi những người Ai Cập trẻ tuổi xuống đường đòi phản đối chế độ độc tài Mubarak vào năm 2011, họ nhận được sự ủng hộ hết mình của phương Tây. Tổng thống Mỹ Obama thậm chí còn hùng hồn tuyên bố: “Chúng ta cần giáo dục con em mình noi gương những người Ai Cập trẻ tuổi”. Nhưng không ai học được chữ ngờ, phong trào cách mạng bột phát, thiếu cả tiền bạc lẫn tổ chức quy củ của những chiến sĩ dân chủ theo chủ nghĩa thế tục này nhanh chóng bị Huynh Đệ Hồi giáo chiếm lĩnh thượng đài. Arab Spring với tư cách là cuộc nổi dậy của những người trẻ không phân biệt sắc màu tôn giáo đòi cải cách dân chủ gần như bị chết yểu. Họ trở thành kẻ dọn đường cho Huynh Đệ, một đối thủ không cân sức, một tổ chức theo chủ nghĩa Hồi giáo (Islamism) từ lâu đã luôn là đối tượng đàn áp của chính phủ nhân cơ hội này trả thù và chiếm lĩnh chính quyền.
Những người trẻ tuổi mà Luai và tôi gặp đêm hôm ấy là một phần của phong trào thế tục chết yểu. Bước qua hành lang còn cuộn đầy cờ khởi nghĩa và băng rôn đòi quyền dân chủ, trong căn phòng hơn chục mét vuông, mười hai thanh niên, cả Hồi giáo lẫn Thiên Chúa giáo, với điện thoại trong tay, họ tiếp nhận thông tin từ các điểm bầu cử, gửi đi hàng ngàn twits và post trên facebook. Trưởng nhóm Ahmed là một anh chàng trẻ măng, có lẽ chưa đến 21 tuổi. Anh chỉ cho tôi kết quả của một điểm bầu cử gần Cairo nơi Mursi – ứng cử viên của Huynh Đệ dẫn đầu bảng phiếu: “Chủ nghĩa Hồi giáo đã bắt cóc Mùa xuân Ả Rập. Tôi bám trụ quảng trường Tahrir biểu tình cả đêm lẫn ngày để nhìn thấy một Ai Cập với chế độ dân chủ, nhất định không phải để Huynh Đệ với âm mưu đưa đất nước trở về thời kỳ đồ đá. Vào giờ phút này, tất cả những gì chúng tôi có thể làm là giám sát kết quả bỏ phiếu thật chặt chẽ. Nhưng nếu Huynh Đệ thắng cử, chúng tôi nhất định sẽ bắt đầu một cuộc cách mạng mới”.
Không may cho Ahmed và phong trào dân chủ thế tục ở Ai Cập, Huynh Đệ quả thật đã thắng không lâu sau đó, dù là một bàn thắng không thể sát nút hơn với khoảng cách chỉ hơn 1% số phiếu bầu. Gần một năm sau, khi tôi đang trên giảng đường thì điện thoại nháy lên tin nhắn của Luai trên facebook: “Mai, Mai! Chúng tôi đang chuẩn bị có một cuộc cách mạng mới. Ngày 30-6 sẽ có một cuộc biểu tình lớn đòi Tổng thống Mursi từ chức. Suốt một năm qua, ông ta đã chẳng làm cho kinh tế Ai Cập đỡ khốn nạn hơn thì chớ, lại còn muốn đưa toàn bè lũ Huynh đệ Hồi giáo của mình lên nắm các chức vị chủ chốt! Ai Cập tưởng là đã có dân chủ nhưng hóa ra chúng tôi sai toét”.
Khốn thay, Luai, cũng như bao nhiêu người dân Trung Đông không những sai mà còn cả tin. Người Ai Cập cho rằng với một tổng thống được bầu cử theo quy chế tự do và dân chủ thì họ đã có dân chủ. Mà nếu họ đã có dân chủ thì kinh tế phải phát triển, dân phải đỡ nghèo chứ sao lại xăng còn không có mà mua, bánh mì còn không có mà bán, đã thế ông tổng thống mới lại hiện nguyên hình là một nhà độc tài mới như thế này?
Có lẽ phương Tây đã tuyên truyền một niềm tin hoàn toàn ngây thơ rằng có dân chủ là có hết, và để có dân chủ thì chỉ cần một hệ thống bầu cử chính trị dân chủ là đủ. Thế nên bây giờ Ai Cập vỡ mộng. Họ xuống đường biểu tình, yêu cầu tổng thống từ chức. Quân đội nhìn thấy khả năng đổ máu liền can thiệp bằng cách yêu cầu tổng thống trong vòng bốn mươi tám tiếng phải giải quyết cuộc khủng hoảng niềm tin với dân chúng. Ông Mursi từ chối. Và thế là bị hất cẳng. Những người biểu tình reo mừng: “Dân chủ đã chiến thắng!”
Sự thực là: dân chủ đã thua một bàn thua đắng ngắt. Vị tổng thống đầu tiên được bầu cử nghiêm túc của Ai Cập chỉ có một năm thay vì bốn năm để lãnh đạo và sửa sai một cách dân chủ. Ngày 03-07-2013, tướng Al-Sisi của quân đội Ai Cập đã tuyên bố cách chức và bắt giam Tổng thống Mursi sau một năm cầm quyền. Sau ba ngày biểu tình, những người phản đối chính phủ của ông Mursi đã thành công trong việc tống khứ vị tổng thống đầu tiên được bầu cử dân chủ ra khỏi chiếc ghế quyền lực bằng một phương pháp khá là phi dân chủ: dùng quân đội làm công cụ gây sức ép và thực hiện việc dỡ bỏ chính quyền.
Người Ai Cập có lẽ chưa sẵn sàng để chấp nhận rằng dân chủ không phải là cách thức, mà là kết quả của một quá trình lâu dài, của một con đường phát triển gian nan chứ không phải là một sự kiện. Một cuộc bầu cử dân chủ không có nghĩa là một xã hội dân chủ đã hình thành. Và để có một xã hội dân chủ đúng nghĩa chứ không chỉ ở cái mác tên nước Democratic thì cần biết bao nhiêu thời gian, bao nhiêu là cố gắng chứ không chỉ là một cuộc bầu cử tự do và công bằng. Để lật đổ một chế độ độc tài chỉ cần một mồi lửa ở đúng điểm sôi, để có một cuộc bầu cử tự do chỉ cần vài tháng, để đảng thắng cử thể hiện rõ tài năng của mình cần một nhiệm kỳ vài năm, nhưng để có các bộ phận cấu thành nên một xã hội dân chủ thực sự cần cả một hay nhiều thế hệ. Bất cứ sự thay đổi về chất nào ban đầu thường đi kèm yếu tố bất ổn, dân chủ quá độ, thậm chí là gian khó chẳng khác gì một cơn đau đẻ.
Xã hội dân chủ không phải là món quà đêm Giáng sinh, nó là kết quả của một quá trình.
Có lẽ cái mà người dân Ai Cập mong muốn từ những ngày đầu của Mùa xuân Ả Rập không phải là dân chủ mà chỉ là thay đổi cái chính quyền thối nát mà họ căm ghét. Thế cho nên khi tổng thống được bầu cử dân chủ không giải quyết nhanh chóng được các vấn đề của đất nước thì họ lập tức đòi ông ta từ chức thay vì các phương thức dân chủ có tính xây dựng khác. Dân chủ đã thua một bàn, và kẻ chiến thắng là những nhà quân sự, nhất là khi tướng Al-Sisi sau khi lật đổ chính quyền dưới sức ép của người dân đang trở nên lạm quyền và đã quyết định ứng cử tổng thống trong cuộc bầu cử mới. Ai Cập trở thành một đất nước nơi quân đội có quyền lực vô tiền khoáng hậu dù không phải là chế độ quân chủ chuyên chế. Điều này cũng tạo ra một trường hợp đặc biệt, đó là người dân đã chiến thắng nhưng dân chủ thì có một bàn thua. Ông Mursi nhậm chức bằng lá phiếu và ra đi dưới bàn tay vũ lực. Với những người ủng hộ Huynh Đệ và Mursi, họ cảm thấy bị phản bội và cho rằng dân chủ chẳng còn có ý nghĩa gì.
Và khi quá trình dân chủ chẳng có ý nghĩa gì thì cách duy nhất để giành quyền lực là dùng bạo lực.
Sự vô tội của Sphinx
Tôi quên rất nhiều câu chuyện đọc hồi bé, nhưng không bao giờ quên câu chuyện về lời đố hóc búa của Sphinx, ai giải được nó sẽ tự nổ tung, ai không giải được thì sẽ bị siết cổ đến chết: “Con gì buổi sáng đi bằng bốn chân, buổi chiều đi bằng hai chân, buổi tối đi bằng ba chân?”
Tôi từng ngốc nghếch nghĩ rằng con Nhân Sư bảo vệ kho báu này chính là con Sphinx ở Giza cho đến ngày phát hiện ra loài kỳ thú đầu người mình sư tử này có ở trong thần thoại khắp nơi trên thế giới.
Trên đường rời Giza, tất nhiên là không thể thiếu một gã đánh xe ngựa lẵng nhẵng bám đuôi năn nỉ, mời chào, quấy rối…, tôi ngoái nhìn con Sphinx lần cuối. Tôi nói lần cuối vì tôi đã thề sẽ không bao giờ quay lại Giza lần nữa. Cảm giác rời Giza giống hệt như cảm giác khi tôi rời Angkor Wat vàng son, rời Machu Pichu thần bí, rời Roma nguy nga. Những nền văn minh lớn rồi sẽ lụi tàn. Những người bạn tôi ở đây đang tự hào về một Ai Cập cổ nguy nga nhưng oái ăm thay lại chẳng còn mấy chút dính dáng với một nền văn hóa đang thực sự là xương là máu của hiện tại với những ngổn ngang tro tàn của vinh quang đã tắt, của độc tài đàn áp dưới danh nghĩa văn minh, của tôn giáo cực đoan dưới danh nghĩa đạo đức, của những hủ tục ghê rợn thời hoang sơ bộ lạc được hợp pháp hóa dưới danh nghĩa truyền thống, của sự giày xéo thân xác đàn bà dưới danh nghĩa phẩm hạnh tiết trinh. Văn minh Ai Cập đã mất. Tiếng Ai Cập đã mất. Người Ai Cập giờ theo tôn giáo của kẻ từng tràn đến thống trị: Hồi giáo. Người Ai Cập giờ đây nói tiếng của kẻ từng đô hộ Ai Cập: tiếng Ả Rập. Một bộ phận tôn giáo cực đoan ở Ai Cập thậm chí muốn hủy hoại các Kim Tự Tháp và đền đài ở Ai Cập vì cho rằng việc tôn thờ các lăng tẩm linh tượng là trái với giáo lý Hồi.
Văn minh Ai Cập cổ từng mạnh mẽ đến mức đế chế Hy Lạp chiếm được Ai Cập đã tự nguyện thay đổi hình ảnh bản thân khi trị vì xứ này và xưng là Pharaoh, đi theo tín ngưỡng của các Pharaoh. Nữ hoàng Cleopatra bản chất không phải người Ai Cập. Câu chuyện trở nên khác hẳn khi đế chế Hồi giáo – kẻ trị vì tiếp theo của Ai Cập – đã đồng hóa nơi đây đến mức Ai Cập cổ hùng vĩ chỉ còn như một họa tiết trang trí chứ không còn là xương máu linh hồn của dân tộc.
Con Sphinx ở Giza có thể đã siết cổ chết nền văn minh lâu đời nhất của loài người. Vạn vật có sinh có thác. Cũng như con người, một dân tộc dù hùng mạnh đến mấy cũng có thời kỳ non yếu phải bò bằng tứ chi, lớn lên trưởng thành vững vàng trên hai chân, để rồi suy yếu trong chiều tàn với cây gậy chống đỡ tuổi già. Mấy ngàn năm của một nền văn minh chói sáng cũng không thể thoát khỏi vòng sinh tử bất biến ấy. Và chẳng phải chỉ có mình con Sphinx đang vắt kiệt những hơi thở cuối cùng của Ai Cập cổ ra khỏi cuộc sống thường nhật, Ai Cập chết vì bản thân những người Ai Cập đã bị văn hóa ngoại xâm đồng hóa đến mức thấy Ai Cập cổ trở nên xa lạ mà dửng dưng với nó như một họa tiết trang trí chứ không còn là xương máu linh hồn của dân tộc.
Có một niềm tự hào len lỏi trong tim tôi, tự nhủ rằng dẫu nền văn minh Việt không hùng vĩ và lâu đời như Ai Cập, nhưng trải qua bao thăng trầm sóng gió của đô hộ và thực dân, ít nhất người Việt mình vẫn biết ai là bạn ai là thù, dù có đổi thù thành bạn, dù có vay mượn ít nhiều cũng vẫn còn một tiếng nói kia để biết rằng ngọn này còn nối liền với gốc.
Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời…
(Phạm Duy)
Chương 11 - Libya: Ngỡ ngàng rạng đông
Libya là một trong ba đất nước hoàn toàn trong tình trạng vô chính phủ vào đúng thời điểm tôi đặt chân qua biên giới. Tuy nhiên, không giống như Yemen nơi máy bay hạ cánh ngay tại thủ đô, hay Ai Cập nơi dù chính trị có tí loạn lạc nhưng đám khách du lịch kiểu “chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ” vẫn chất đầy vài chuyến xe buýt từ biên giới heo hút, Libya bắt tôi chờ gần năm tiếng ở cửa khẩu vì hải quan Ai Cập nhất định không tin ở tít phía bên kia đường biên, nhân viên của công ty du lịch Libya đang chờ sẵn với visa nhập cảnh. Họ nhìn tôi và bốn bạn đường người Nhật rồi lắc đầu quầy quậy: Làm gì có chuyện thời điểm này có ai xin được visa vào Libya? Ngay cả ở thời bình xin visa du lịch còn khó, phải đăng ký đi theo đoàn hoặc được người bản xứ viết thư mời nữa là lúc đất nước đang loạn lạc kiểu rắn mất đầu như thế này.
Với vốn tiếng Ả Rập vừa ít vừa sai toe toét, tôi dùng cả tứ chi lẫn ngũ giác quan để hiểu và giải thích rằng xin được cái visa này phải mất mấy tháng trời mò tìm môi giới trên mạng, rồi hết hơi tìm bạn đồng hành để được giảm giá, rồi phải gửi đủ thứ giấy tờ bảo đảm, rồi cuối cùng mỗi đứa vẫn mất tới gần 200 đô cho một lời hứa sẽ-được-cộp-dấu còn chưa biết có phải là đồ xịn hay không. Khoa chân múa tay, nhưng cả lũ lòng dạ thắc thỏm: Nhỡ mấy lão hải quan này nói đúng thì sao? Nhỡ bên kia đường biên quả là không có ai chờ chúng tôi thì sao? Nhỡ số tiền chuyển khoản mất hút vào một cái ngân hàng ma nào đấy thì sao? Giữa Ai Cập và Libya là một khoảng đồng không mông quạnh chẳng thuộc địa phận của bất kỳ quốc gia nào. Bước vào đó là coi như chắc chắn thành dê con lạc mẹ, rồi trở thành món lẩu dê lúc nào có trời mới biết.
Người hùng hay kẻ tội đồ?
Từ biên giới, lái xe của công ty cấp visa đưa tôi và ông bạn đường Kazuo đặt chân đến Benghazi lúc gần ba giờ sáng. Thành phố trong màn đêm vẫn không giấu nổi vẻ hào hoa của một đế chế dầu mỏ nhiều tiền nhưng đang cố sức hoàn hồn sau cuộc chiến với những tòa nhà bị đánh bom nát bươm. Đất nước vừa qua binh đao loạn lạc mà khách sạn nào ở Benghazi cũng kín chỗ khiến chúng tôi phải hết hơi mò mẫm mới tìm được một phòng hai giường đơn giá không đến nỗi cắt cổ (115 đô la). Ba người bạn Nhật đi xe máy phân khối lớn thì tiết kiệm triệt để bằng cách chăng lều ngủ ngay ngoài vỉa hè. Họ đã trải qua hơn ba năm lang thang khắp thế giới trên con ngựa sắt của mình nên túi tiền sắp cạn kiệt. Bức tường nơi “băng đảng tha phương” này chọn làm phông nền để hạ cánh phủ kín một bức graffiti khổng lồ hình một gã râu ria xoăn tít đang hốt hoảng bỏ chạy, ị đùn be bét cả ra quần. Cả lũ soi đèn pin lên ngắm nghía rồi cười ha ha. Cái gã khốn khổ đó tên là Gaddafi.
Trung Đông hầu như toàn các nhà độc tài, nhưng danh hiệu về sự ấn tượng thì không ai vượt qua nổi vị đại tá từng thống trị Libya suốt bốn mươi hai năm và bị quân nổi dậy giết chết một cách thảm khốc trong Mùa xuân Ả Rập năm 2011. Tiếng xấu tiếng tốt đan xen, sau gần nửa thế kỷ cầm quyền, nhà độc tài kỳ quặc này khiến thế giới dở khóc dở cười. Không chỉ là cách ăn mặc kỳ quái, nhiều lần công du nước ngoài, Gaddafi thường đòi chủ nhà phải đến tiếp mình trong một cái… lều kiểu châu Phi dựng ở đâu đó quanh khu nhà chính phủ. Danh sách các vị trí dựng lều của Gaddafi bao gồm cả quảng trường Đỏ nổi tiếng ở Nga, và đương nhiên, danh sách các vị nguyên thủ chịu chui vào lều nói chuyện với Gaddafi bao gồm cả ông mặt sắt Putin. Sự thân cận với Nga dù chỉ là lớt phớt bề mặt cũng khiến Mỹ khó chịu và tổng thống Mỹ Reagan đã không ngần ngại đặt cho Gaddafi biệt hiệu nổi tiếng: “Con chó điên của Trung Đông”.
Ngày đầu tiên đặt chân đến Libya, tôi đánh bạo ngó vào một vài cửa hàng sách hỏi cuốn Al-Kitab al-Khadra. Ai cũng nhìn tôi như sắp muốn xé phay đến nơi: “Đốt hết rồi! Hỏi làm gì?” Không nản chí, tôi nhờ bạn bè ở Libya tìm hộ, nhưng rốt cuộc phải thôi vì bắt gặp ánh nhìn nghi ngại với cái dấu hỏi to tướng treo trên trán: “Chết! Con này gián điệp…”
Al-Kitab al-Khadra – hay còn gọi là cuốn Sách Xanh (Green Book) là tên một tài liệu được lưu truyền như thánh kinh trong chế độ chủ nghĩa xã hội Hồi giáo (Islamic socialism) mà Gaddafi tạo ra. Ông ta tuyên bố hai mô hình chính trị đang đánh nhau khốc liệt lúc ấy là chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản đều sai toét. Chủ nghĩa tư bản thì chỉ biết có tiền tiền tiền, chủ nghĩa cộng sản thì là một lũ vô đạo không biết kính sợ Thượng Đế. Rốt cuộc, chỉ có mô hình của ông ta (The Third International Theory) là chuẩn nhất, các nước thế giới thứ ba cứ đi theo mô hình này là ổn thỏa hết, đặc biệt là mấy nước châu Phi, vì tiên đoán của Gaddafi là đã qua cái thời dân da trắng làm chủ thuộc địa, dân da vàng xâm lấn bằng vó ngựa, ắt bây giờ phải đến thời dân da đen đứng lên làm bá chủ thế giới.
Những luận thuyết đơn thuần là đậm đặc chủ nghĩa Mác cộng với tí mùi tôn giáo của Gaddafi được ông ta viết thành một cuốn sách với ngôn ngữ dân dã để ai cũng có thể đọc hiểu. Al-Kitab al-Khadra là khao khát của Gaddafi, để nói cho cả Libya thấy rằng sinh ra là một người gốc Phi không có gì đáng xấu hổ. Trải qua bao nhiêu trận chiến chinh, người Ả Rập tràn đến châu Phi, đem theo tôn giáo, văn minh và dần dần đồng hóa người bản địa, trở thành dòng giống cao quý hơn cả người bản địa. Cậu học sinh nghèo sinh ra trong một bộ lạc Phi Berber dù bị bạn bè trêu ghẹo nhưng không nản chí học hành, đêm phải ngủ nhờ các thánh đường, mỗi tuần phải cuốc bộ hai mươi dặm gió bụi mới về đến nhà. Gaddafi làm tôi nhớ đến những gương học giỏi vượt khó ở Việt Nam quyết tâm đổi đời bằng kiến thức. Tuổi thơ bần hàn của Gaddafi khiến ông quyết định dân dã hóa học thuyết của mình để cho đến cả những kẻ nghèo hèn ít học sống du canh du cư ở sa mạc như quá khứ xa xưa của chính bản thân mình nếu có đọc cũng có thể vỡ ra vài điều.
Ôm cuốn Sách Xanh trong tay, đám học sinh Libya mỗi tuần bỏ ra hai giờ để ngấm đến tận xương tủy rằng gia đình quan trọng thế nào, tự do ngôn luận là điều sống còn ra sao (!), đàn ông đàn bà hiển nhiên là hoàn toàn bình đẳng, hay tất cả các chế độ chính trị trên thế giới đều không thực sự dân chủ vì quyền năng nằm trong tay một số ít các nhà lãnh đạo. Để giải quyết khiếm khuyết này, ở Libya, hệ thống hội đồng nhân dân được thiết lập để tạo nên một nhà nước “dân chủ trực tiếp” không có người đứng đầu (direct democracy), “mỗi người dân là một Tổng thống”. Bản thân Gaddadi không giữ một chức vụ gì chính thức mà chỉ là một nhà lãnh đạo tinh thần. Hẳn nhiên, trong thực tế, Gaddafi đã cho ra đời một chế độ xã hội độc nhất vô nhị nơi ông ta là kẻ độc tài nhưng núp dưới chiêu bài dân chủ tuyệt đối.
Tuy nhiên, cũng trong đất nước độc tài ấy, chỉ trong vòng mười lăm năm tỉ lệ biết chữ từ 10% tăng lên 90%, tuổi thọ bình quân từ 57 tăng lên tới 77, giáo dục miễn phí lên đến tận bậc đại học. Đầu những năm 80, Libya trở thành một trong những nước giàu nhất thế giới, đứng trên cả Thụy Sỹ, Ý, Tây Ban Nha và Hàn Quốc. Gaddafi tuyên bố rằng utopia – cái xã hội cộng sản hạnh phúc tốt đẹp đến mức không tưởng mà tác giả Thomas More và loài người hằng ngày đêm mơ ước từ thế kỷ thứ 16 đã trở thành sự thực ở Libya. Đối với những người chỉ nhìn thấy Gaddafi từ màn hình ti vi thì ít nhất đội vệ sĩ toàn phụ nữ còn trinh, cô nào cô nấy quần áo rằn ri, vuốt lông mi đen rợp cả má của ông đã đủ để lại một ấn tượng không thể quên.
Nói đi cũng phải nói lại, Gaddafi có thể đem lại sự bình đẳng cho phụ nữ của cả Libya, tạo tiền đề cho việc sau cách mạng có tới hàng trăm phụ nữ tham gia tranh cử và chiếm tới gần 17% số ghế quốc hội, nhưng sau khi ông ta chết đi, hàng loạt các câu chuyện hãm hiếp động trời của Gaddafi và các con trai dần dần bị lộ ra ngoài. Trong cuốn sách mới xuất bản của mình, tác giả Annick Cojean phỏng vấn trực tiếp những nạn nhân giấu mặt của vị đại tá ham mê nhục dục một cách bệnh hoạn. Khi đến thăm các trường học, ông ta thường đặt tay lên đầu một cô bé học sinh nữ, dấu hiệu để tay chân thân cận nhận mặt và tiến hành bắt ép gia đình phải giao con gái cho Gaddafi. Một vài nô lệ tình dục của ông ta đơn thuần là khoác lên người bộ quần áo vệ sĩ trên những chuyến công du, bề ngoài là để huênh hoang với phương Tây về vị trí của người phụ nữ trong xã hội Libya hiện đại, bên trong là tấn bi kịch đường cùng của những cô gái không còn có thể quay trở về nhà vì rất nhiều lý do, trong đó có vết nhục làm ô uế danh dự của gia đình và dòng họ.
Là một nhà độc tài với những tính cách oái ăm, nhiều mảng miếng tốt xấu như thế nên tôi không ngạc nhiên khi người đầu tiên tôi kết bạn tại thủ đô Tripoly, sau một hồi ngần ngại, đã thẳng thắn cho tôi biết rằng ông trung thành với Gaddafi. Jamal là quản đốc trong một công ty dầu lửa. Ông nói tiếng Anh lưu loát, từng tu nghiệp nhiều năm ở châu Âu. Suốt bữa ăn mời bạn mới quen, Jamal kể cho tôi nghe về lịch sử Libya từng là thuộc địa của Ý. Trong cuộc chạy đua chiếm hữu các vùng đất của châu Phi, Ý chậm chân hơn nhiều so với các trùm sò khác như Anh, Pháp, Hà Lan. Libya là mẩu Bắc Phi duy nhất còn sót lại mà Ý có thể chiếm đoạt với lý do là vùng đất này cách Ý chỉ vài trăm cây số đường biển. Vướng phải sự kháng cự quyết liệt của người bản xứ, quân đội Ý tàn phá hàng trăm xóm làng, đày ải hàng chục nghìn người trong các trại lao động và không ngần ngại dùng bom hóa học phá hủy mùa màng.
Lái xe đưa tôi vòng vèo qua những con phố còn đầy những hình vẽ chế nhạo và rủa xả Gaddafi, Jamal thả từng câu chậm rãi: “Đại tá Gaddafi chính là người khiến thủ tướng Ý Berlusconi phải hôn tay và xin lỗi vì ba mươi năm đô hộ và trả gần bốn tỉ đô la cho những thiệt hại xảy ra trong quá khứ. Cô có thể tưởng tượng được thủ tướng nước cô khiến tổng thống Pháp phải hôn tay, xin lỗi vì gần một trăm năm đô hộ Việt Nam, rồi lại còn ngỏ ý đền bù cho dân nước cô hàng tỉ đô la?”
Tôi phì cười!
Chạng vạng
Đất nước đang trong thời kỳ chuyển tiếp hỗn mang, các nhóm quân nổi dậy sau khi hạ được nhà độc tài thì quay ra tranh giành nhau về vùng ảnh hưởng. Libya bản chất là một xã hội bộ lạc, dù phát triển hiện đại vẫn còn nguyên thủy sự trung thành với họ mạc và tư tưởng vùng miền. Đường phố Libya cũng vì thế mà nguy hiểm hơn bởi sự đụng chạm giữa các phe phái khởi nghĩa. Hai lần tôi và một người bạn bản xứ đang đi trên đường phải nhanh chóng rời sang một dãy phố khác vì bất thần có xung đột vũ trang. Hàng toán thanh niên vác súng chạy rầm rập qua các ngõ hẻm. Đám trẻ con đang chơi bóng đá hối hả thu nhặt quần áo, hét toáng lên xua chúng tôi chạy ngược lại, nhanh chóng rời khỏi khu vực khuy hiểm. Đêm nằm trong khách sạn tôi và Kazuo đếm được hàng chục tiếng súng bắn xa gần. Tôi trèo lên thành cửa sổ, đặt máy quay phim chĩa vào đêm tối, mắt thao thức không sao ngủ được, đầu óc quay quay nghĩ đến quãng đường từ biên giới tới Bengazhi không biết cơ man nào là trạm kiểm soát, xe tăng, và các chiến binh cách mạng xuất xứ thường dân mặc áo phông quần bò, quanh bụng giắt đầy lựu đạn, tay vác khẩu súng máy to tướng gõ cạch cạch vào thành xe, hứng lên là đòi chặn đường xét hỏi giấy tờ.
Màn hình điện thoại của tôi nhấp nháy, báo có tin nhắn mới của Hashim. Hashim là một cậu bạn trên Couch Surfing tôi hẹn uống cà phê hồi chiều: hồn nhiên, ga lăng, và đẹp trai quá mức cần thiết (híc!). Trái tim tôi chỉ bớt xao xuyến khi Hashim kể rằng cậu tham gia khởi nghĩa từ những ngày đầu tiên, lần đầu tiên trong đời chạm tay vào cây AK47 cũng là lần đầu tiên kéo cò và giết chết một người lính trong quân đội của Gaddafi: “Tôi tập bắn những phát đạn đầu tiên bằng cách siết cò súng nhằm thẳng vào quân thù!” Hashim vừa lái xe vừa giải thích. Cậu chìa cho tôi xem chiếc thẻ vệ sĩ có ghi sinh quán tại Zintang. Người vùng Zintang nổi tiếng hiếu chiến. Ai nhìn thấy tên quê hương của cậu cũng phải nể sợ. Rồi Hashim cười, nụ cười làm mê mẩn lòng dạ con bé tôi. Cậu xuống xe, bước vòng qua phía sau và lịch lãm mở cửa, lùi lại một bước, nghiêng đầu, dang rộng cánh tay. Tim tôi rơi cộp một phát xuống lòng đường.
Rời Benghazi, tôi và Kazuo bắt xe khách tới thủ phủ Tripoly. Kazuo 50 tuổi, là một phóng viên tự do, được tôi và ba tay du lịch bằng xe máy rủ nhập hội để giảm giá xin thị thực. Như rất nhiều kẻ đi phượt bụi bặm khác, chúng tôi nghe theo sách hướng dẫn du lịch Lonely Planet nhằm thẳng Youth Hostelling International (YHI) – một thương hiệu nhà trọ quốc tế giá rẻ sạch đẹp có dormitory giường tầng kiểu ký túc xá chung cho cả nam và nữ.
Chưa bao giờ tôi thấy một cái YHI nào bẩn và tồi tàn hơn thế, toa lét dơ dáy, ga nệm nhăn nhúm, cầu thang đầy bụi, buổi tối hơn mười giờ đã khóa trái cổng khiến tôi phải hết hơi gọi điện. Khắp hai tầng toàn khách vãng lai nội địa mặt mũi khó đăm đăm, khác một trời một vực với các YHI trên thế giới toàn nam thanh nữ tú trẻ trung vui tươi từ bốn biển tụ về. Ở chưa được một ngày, chúng tôi bị một vài thanh niên sống quanh đó bắt ép quản lý YHI yêu cầu rời khách sạn với lý do Libya là đất nước Hồi giáo, không phải là vợ chồng không được ở chung phòng, dù là phòng dorm với cả chục cái giường một thiết kế cho nhiều khách ở chung.
Mới đầu viên quản lý còn ngọt nhạt giải thích rằng kiểu YHI toàn thế giới nó phải thế, sau bị đe dọa dữ quá lão ta chuyển hệ kiên quyết tống cổ chúng tôi ra đường cho yên chuyện. Tôi cũng không vừa, một tay lia máy quay phim, một tay khăng khăng chìa mảnh giấy bắt gã quản lý phải ký chứng nhận sự việc. Lời qua tiếng lại ỏm tỏi, thấy tôi thân con gái một mình mà gân cổ lên cãi không mệt mỏi (lão Kazuo nhát cáy đã ngoan ngoãn rời đi trước), gã quản lý nắm tay đấm choang choang xuống bàn còn mấy gã thanh niên máu bốc lên tận mặt thì nhảy choi choi bẻ tay răng rắc, chắc chỉ thiếu chút nữa là nhảy vào nghiền tôi tan xác. Không hiểu ma xui quỷ khiến thế nào mà lúc ấy tôi lại… cười khẩy rồi nói mỉa mai: “Còn trò gì giở nốt ra đi!” Giờ nghĩ lại vẫn thấy mình ngu.
Ai cũng có quyền bảo tôi ngu, điếc không sợ súng. Đất nước đang không có chính quyền, không có cảnh sát, không có tòa án, nếu tôi có mệnh hệ gì thì chẳng ai thèm giải quyết. Chính vì tình trạng vô chính phủ như vậy mà những gã thanh niên vô công rồi nghề mới đột ngột trở nên hung hăng, đường phố mới bất an, và mới có những kẻ chẳng danh tính gì cũng tự cho mình quyền hành xóa bỏ và áp đặt các luật lệ đạo đức lên người khác.
Bị đuổi khỏi YHI, tôi và Kazuo lang thang khắp nơi để đi tìm một khách sạn không hét giá cứa cổ. Trong khoảng một tuần ở lại Tripoly, hai đứa phải chuyển chỗ ở tới bốn lần. Lần cuối cùng trụ lại tại một khách sạn tư nhân gần khu phố cổ, nơi tình cờ tôi gặp Magdi Elsharif – người phát ngôn của mạng giám sát bầu cử quốc gia Elshed. Kể lại cho anh nghe chuyện một lũ đàn ông nhân danh Thượng Đế và tôn giáo tống cổ con bé tôi ra đường giữa đêm hôm khuya khoắt, tôi lo lắng cho tương lai của Libya sẽ rơi vào tay các đảng của chủ nghĩa Hồi giáo Islamism giống như Ai Cập, Magdi liền vỗ vai cười lớn: “Ôi Mai đừng lo! Tôi dám đánh cược cái thủ cấp của mình rằng bè lũ Islamist sẽ không bao giờ thắng cử. Những người Hồi chân chính ở Libya giàu có và đầy một sàng học thức, chứ đâu có nghèo và ngu như dân Hồi ở Ai Cập?”
Tôi vừa cười vừa mếu vì cách nói thẳng thắn diễn đạt sự thật kiểu “trần như nhộng” của Magdi. Nhưng không thể không công nhận anh nói đúng phần nào. Người Ai Cập ở các vùng nông thôn non nửa mù chữ, non nửa đói nghèo, thế cho nên mạng lưới Islamism Huynh Đệ Hồi giáo mới có thể dùng các chiêu bài bánh mì và cứu trợ để mua chuộc. Khi người ta đói ăn thì cái quan trọng nhất không phải là chính trị mà là cái bụng no cái đã. Khi người ta còn phải lăn ra làm quần quật thì đảng phái nào cho thêm miếng thịt vào bát cơm là đảng phái đó sẽ được lá phiếu bầu. Tôi nhớ lần ở châu Phi, một bà mẹ đã cười khì vào mũi tôi mà rằng: “Tôi bận lắm cô ơi! Bao giờ tôi có thời gian rỗi thì tôi sẽ nghĩ về dân chủ!”
Sau này khi tôi đã về châu Âu, nghe tin bầu cử từ Libya với chiến thắng áp đảo của những người Hồi theo chủ nghĩa tự do, tôi hối hả mò lên facebook chúc mừng Magdi. Anh cười: “Bảo rồi mà không nghe! Thấy chưa? Toàn lo hão! Người Libya túi đầy tiền đâu dễ gì bị mấy gã thầy tu làm chính trị dùng bánh mì mua chuộc”.
Chân chất
Libya có lẽ là đất nước khiến tôi khổ sở nhất, nhưng cũng là đất nước khiến tôi ngỡ ngàng nhất bởi sự chân thành và hướng thiện của người dân bản xứ. Dù trong hoàn cảnh hỗn mang vô chính phủ nhưng tội ác không bao trùm đường phố, các phiến quân vũ khí đầy mình nhưng không làm hại đến người dân. Tận mắt tôi chứng kiến một người đàn ông khiêng hai tay xách đầy tiền, tiền phòi cả ra ngoài, hồn nhiên từ góc khuất ngã tư xuất hiện và bước vào nhà băng. Cảm giác yên ổn rõ nhất là khi bước quanh những phiên chợ đông đúc mà không bị cò chào mời, không bị người bán hàng níu kéo, không lo bị móc túi và không lo bị lừa hàng dỏm. Những tiệm vàng ở Tripoly không có cửa sắt, vòng vàng dài hàng mét mỗi nút to bằng miệng chén vắt hàng chục hàng trăm chuỗi trên giá hệt như các sản phẩm tiêu thụ hàng loạt trong các siêu thị. Người dân Tripoly mỗi lần bước vào tiệm vàng mua hàng ký, hoặc là để chuẩn bị đám cưới, hoặc là để dành đầu tư. Thấy tôi lấp ló ở cửa, một anh chủ còn vui vẻ bắt tôi đeo một cái vòng vàng quanh người để chụp ảnh. Cổ tôi trĩu xuống vì vàng, miếng nào miếng ấy xòe tướng to như bàn tay trẻ con đâm vào da ngứa ngáy. Tôi cười như mếu trong khi anh chủ tiệm thì khoái chí xoa tay vì ảnh đẹp. Giàu có thế này quả là hao tổn nhan sắc!
Hàng cân vàng è cổ…
Khắp Trung Đông những phiên chợ như thế chỉ có ở Libya nơi người dân có mức sống khá cao. Những người bạn Libya mời tôi ăn hàng rồi tranh trả tiền cho những cái hóa đơn mà nhìn liếc qua cũng nặng ký chẳng khác gì một bữa đánh chén ở châu Âu. Trong số những người tôi quen ở Libya có tới hai ông bạn kết thân từ việc các ông ấy hồn nhiên bước tới làm quen khi thấy tôi ngơ ngác tìm đường. Tôi thường cảnh giác vô cùng với những cú giao tiếp kiểu này vì rất hay có mùi lợi dụng, nhưng sự chân chất của họ khiến tôi thực sự tin rằng người Libya đơn giản chỉ là… tò mò. Sự chân chất bỡ ngỡ của dân bản xứ cũng có thể là do hàng chục năm qua họ bị ngăn cấm giao du với người nước ngoài. Nghe nói dưới thời Gaddafi, 1/10 dân số Libya thuộc lực lượng chìm, theo dõi và báo cáo mọi khả nghi cho chính quyền nhà độc tài.
Trước khi rời Libya, tôi tranh thủ bắt xe tới Sabratha để thăm một trong những tổ chức hỗ trợ bầu cử mà Magdi giới thiệu. Nhóm thanh niên tình nguyện gồm bốn chàng trai cô gái trẻ trung, tất cả đều tốt nghiệp đại học và đi làm ra một đống tiền chẳng thua gì các thanh niên mới khởi nghiệp ở châu Âu. Đón tôi trong văn phòng, họ khiến tôi liên tưởng đến những tháng ngày làm việc vui vẻ và hồn nhiên ở báo Hoa Học Trò nơi tôi và cả bộ sậu cộng tác viên trẻ măng sống bên nhau như một gia đình ấm cúng, cười tẹt ga, làm việc thâu đêm, ăn thủng nồi trôi rế, trêu chọc thọc léc nhau không nể nang. Ở Sabratha, mới gặp nhau mà tất cả đã hồn nhiên pha trò. Họ nhảy múa, vỗ đùi, hát ráp liên tu bất tận những bài hát mà tên tôi và tên mọi người được khéo léo lồng vào kèm theo những chuỗi cười vô tư lự.
Tuy nhiên, những cảm nhận của tôi về Libya có lẽ không giống những cảm nhận của gần mười nghìn người Việt Nam xuất khẩu lao động sang đây. Với những công nhân bị buộc phải trở về nước sớm hơn thời hạn do cuộc nổi dậy Mùa xuân Ả Rập, Libya trong trí nhớ của họ có lẽ chỉ là những công trình xây dựng còn ngổn ngang, thiếu cơm thiếu nước khi bị mắc kẹt trong khói bom, và hơn hết là khoản nợ ba bốn chục triệu đồng chồng chất để lo giấy tờ đi xuất khẩu lao động chưa thể trả, mà lương thì không được nhận. Rất nhiều người trong cơn quýnh quáng đã lại xin đi các nước Trung Đông khác để có tiền trả nợ: Oman (ok), Dubai (e hèm), và Saudi (chỉ nghe thôi đã thấy run).
Mỗi lần nhắc đến Libya, tôi luôn thấy trong lòng bất an, rồi thậm chí cũng không biết mình lo lắng cái gì. Có lẽ bởi những trải nghiệm Libya của tôi là một mớ hỗn độn thập cẩm vui buồn, thất vọng và hy vọng, phơi phới vui tươi và cả phát rồ lên vì tức tối. Ở phía trên tôi từng cáu tiết viết rằng đất nước thời kỳ chạng vạng, chuyển tiếp hỗn mang, nhưng khách quan mà nhìn nhận, ít nhất là khi tôi đang viết những dòng cuối chương này, người lao động Việt Nam đã bắt đầu trở lại Libya với mức lương xấp xỉ 300-400 đô la/tháng, cao hơn hẳn 30% so với thời kỳ trước cách mạng. Đất nước này lại trở thành “tia sáng cuối đường hầm” cho ngành xuất khẩu lao động của Việt Nam đang trong cơn thừa người thiếu việc. Khách du lịch đã bắt đầu trở lại những thành quách La Mã đẹp nhất thế giới ở Sabratha, Leptis Magna và những bãi biển đẹp như mơ. Visa du lịch không còn là điệp vụ bất khả thi. Là đất nước duy nhất nơi các đảng bảo thủ của chủ nghĩa Hồi giáo không thắng cử, Magdi bạn tôi thậm chí đã thấy chính trị trở nên “nhạt nhẽo” và tếch sang Malaysia du học. Jamal – kẻ ủng hộ Gaddafi – đã thôi không còn luyến tiếc vị đại tá độc tài lúc nào cũng đeo kính đen và mặc những bộ đồ lụng thụng chẳng giống ai. Thậm chí sau vụ đại sứ quán Mỹ bị tấn công ở Benghazi, những người dân Libya đã trực tiếp xông vào tấn công trụ sở của nhánh Hồi giáo cực đoan trong khi dưới lòng đường, những thanh niên Libya đứng xếp hàng lặng lẽ, biển tưởng niệm trên tay với hàng chữ: “Nước Mỹ, chúng tôi vô cùng xin lỗi!”
Không biết ai tư vấn tiếng Hoa cho tổng thống Mỹ Kennedy, nhưng ông đã dùng nó trong một lần chơi chữ tuy không chính xác về mặt ngữ nghĩa nhưng lại rất thông minh: “Chữ khủng hoảng trong tiếng Hoa gồm hai chữ hiểm nguy và cơ hội. Trong hiểm nguy có cơ hội.” Libya cũng vậy, trong sự hỗn loạn của một Mùa xuân Ả Rập ầm ầm bão tố rất có thể là một rạng đông với phập phồng nắng mới cho Libya.
Chương 12 - Tunisia: Nơi dòng sông bắt đầu
Người bạn đầu tiên lang thang cùng tôi chụp ảnh ở Tunisia là một cậu bé có khuôn mặt vừa điển trai vừa hồn nhiên. Hamdi 22 tuổi sinh ra trong một gia đình lao động ở thành phố Kairouan. Vừa mới quen nhau mà em đã tíu tít tâm sự chuyện tình yêu, rằng từ sau Mùa xuân Ả Rập, những cô gái trùm khăn hijab xuất hiện nhiều hơn hẳn. Em đánh bạo nói chuyện với họ vài lần, và ngạc nhiên vô cùng khi thấy họ cũng rất là dễ thương.
Hamdi nói về những cô gái trùm khăn như thể nói về một sắc tộc hoàn toàn xa lạ mà đến bây giờ em mới có dịp tiếp xúc. Thật ngỡ ngàng khi chiếc khăn tưởng như là đặc trưng của Hồi giáo lại là điều lạ lẫm trong một đất nước với 98% dân số theo đạo Hồi.
“Trả lại khăn cho em”
Tôi gặp Maya ở Libya, tức là từ trước khi tôi đến Tunisia. Maya có thân hình hơi mỡ màng, nhưng khuôn mặt cô xinh đẹp đến mức ai cũng bị hút hồn bởi đôi mắt nâu nhạt to sắc và nụ cười rất đôn hậu. Buổi chiều hôm ấy, tôi vừa kịp ngỏ ý muốn nhờ Magdi tìm một phụ nữ trẻ để phỏng vấn thì Maya tình cờ bước qua bàn chỗ chúng tôi đang ngồi để đi về phía nhà vệ sinh. Magdi chẳng nói chẳng rằng, đứng lên chặn đường cô gái lạ mặt. Tôi tròn mắt ngạc nhiên. Nhưng anh chàng Magdi duyên dáng chết thôi đã thuyết phục được Maya… không đi vệ sinh nữa mà ngồi trước máy quay phim đến tận gần một tiếng để tôi và Kazuo quay như chong chóng.
Sau khi ly dị ông chồng lười chảy thây, Maya quyết định một mình từ bỏ quê hương tìm đường sang Libya gây dựng cuộc sống mới. Cuộc sống thiếu hơi thở tự do văn hóa ở Libya khiến cô nhớ Tunisia đến điên cuồng. Biết tôi chuẩn bị bắt xe đi thủ phủ Tunis, cô liệt kê một danh sách dài những món ngon và đường phố đẹp mà tôi nhất định phải nếm thử và đến thăm. Tôi phì cười hỏi thế có điều gì không muốn nhớ nhung ở Tunisia không, Maya đăm chiêu một lúc rồi trả lời: “Cảnh sát”.
Nếu bạn cho rằng Tunisia cũng là một kiểu Taliban ép phụ nữ phải che mặt, hay Saudi nơi hàng ngàn kẻ tình nguyện mang danh người bảo vệ sự trong sạch của Islam (mutaween) tràn ngập phố phường để quản lý hành vi của người dân và lên giọng đạo đức mắng mỏ những phụ nữ không che mặt thì bạn lầm to. Ở Tunisia trong suốt mấy chục năm qua, một trong những nhiệm vụ của cảnh sát là chặn đường các cô gái dám đội khăn trùm đầu, cấm tiệt các cô ả cả gan trùm kín mặt mũi với niqab, và nếu đàn ông muốn để râu dài lùm xùm kiểu salafi thì trước hết phải xin cho được cái… giấy phép của chính quyền. Nguyên nhân? Vì những người lãnh đạo Tunisia cho rằng đây không phải là tinh thần Hồi giáo chính thống mà chỉ là tàn dư của xã hội bộ lạc sa mạc Ả Rập mông muội, theo chân Hồi giáo tràn đến vùng này, đi ngược lại với bản chất văn hóa và truyền thống của Tunisia.
Không chỉ Tunisia, một đất nước khác hùng mạnh đến mức từng thống trị cả Trung Đông cũng áp dụng những điều luật tương tự. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, chiếc khăn hijab trùm đầu từng bị cấm trong toàn bộ các trụ sở chính quyền và trường đại học. Năm 1925 thậm chí còn đánh dấu bằng một đạo luật cấm loại mũ đàn ông truyền thống (fez) và thay thế bằng chiếc mũ phớt kiểu panama. Tusinia và Thổ Nhĩ Kỳ là hai đại diện tiêu biểu cho phong trào chủ nghĩa dân tộc thế tục ở Trung Đông nơi các nhà lãnh đạo coi những tập tục tôn giáo hủ lậu là rào cản của sự phát triển và tiến hành một cuộc cách mạng cải tạo văn hóa song song với hiện đại hóa đất nước.
Không thể phủ nhận những thành tựu rực rỡ của hai quốc gia Hồi giáo này trong thời kỳ đổi mới tư tưởng. Một kẻ bại trận sau thế chiến và một đất nước vô danh tiểu tốt ở châu Phi bỗng dưng trở thành hai ngôi sao băng với những thành tựu phát triển làm cả thế giới sửng sốt, làm nên một sự thần kỳ gần giống với Nhật Bản của châu Á. Chỉ trong vòng hai năm, tỉ lệ biết chữ ở Thổ Nhĩ Kỳ tăng từ 10% đến 70%, tất cả người dân đến dưới 40 tuổi đều có trách nhiệm đi học. Đất nước cải tổ hoàn toàn với luật kinh doanh mượn của Đức, luật tố tụng mượn của Ý, luật dân sự mượn của Thụy Sĩ. Phụ nữ có quyền bầu cử và ứng cử từ năm 1935, trước cả các nước châu Âu như Pháp, Ý, Bỉ, Thụy Sĩ, và đương nhiên trước cả Việt Nam.
Tuy nhiên, khi chọn cho mình con đường thế tục (secular), các quốc gia ở Trung Đông thực chất không hẳn là tách rời tôn giáo ra khỏi nhà nước như châu Âu mà là đè bẹp tôn giáo dưới bàn tay độc tài. Thử làm một phép so sánh, khi châu Âu thế tục, nhà thờ đơn giản là tách ra khỏi thể chế cầm quyền trong khi tín đồ Thiên Chúa và các sắc tôn giáo khác vẫn được tôn trọng và tự do hoạt động. Ở Trung Đông, quá trình thế tục đi kèm với sự thủ tiêu một cách cưỡng ép những hành vi tôn giáo bị coi là hủ lậu (khăn trùm đầu, mạng che mặt, tục đa thê) và hàng loạt các tổ chức, nhóm, nhánh tôn giáo bất đồng chính kiến. Ở châu Âu, thế tục là chuyển quyền lực từ nhà thờ sang tay các chế độ được bầu cử dân chủ. Ở Trung Đông, thế tục là chuyển quyền lực từ thánh đường Hồi giáo sang tay các nhà độc tài chính trị.
Chính vì vậy, Maya bạn tôi tiêu biểu cho một bộ phận nhỏ những phụ nữ ở Tunisia – những người coi Mùa xuân Ả Rập là một tiếng thở phào nhẹ nhõm để họ có thể tự do thực hiện một thứ quyền dân chủ mà từ lâu họ luôn bị các nhà độc tài vùi dập: đó là quyền tự do tôn giáo, hay đơn giản chỉ là quyền được đội khăn trùm đầu.
“Dù là đất nước Hồi giáo nhưng trước đây mỗi lần tôi trùm hijab ra đường là thể nào cũng có cảnh sát đến hỏi han quấy nhiễu. Khăn trùm đầu bị coi như một thứ phục trang ngoại lai, bị cấm tiệt ở các công sở. Có lần một gã cảnh sát còn hỏi thẳng tôi: Cô là người Hồi chứ có phải là tay chân của khủng bố Al-Qaeda đâu mà che chắn kín như bưng thế này?”
Maya cười khinh khích, cô vui sướng cho tôi xem tủ quần áo mới đã được ních đầy những chiếc hijab đính kim sa lấp lánh. Mỗi buổi sáng tỉnh dậy, cô hào hứng chọn cho mình những màu sắc khăn mới điệp màu cùng váy áo. Chẳng còn gã cảnh sát nào có thể chặn cô giữa đường và hoạnh họe về một thứ phục trang mà Maya tin rằng không phải để che giấu bớt đi vẻ đẹp của phụ nữ mà đơn giản là đã trở thành một dấu hiệu của đức tin, cũng như người Thiên Chúa đeo thánh giá trước ngực, đàn ông Do Thái thường đội yarmulke, đàn ông Sikh thích đội khăn quấn turban, hay nhiều phụ nữ Hindu giáo vẫn hằng ngày gắn hạt bindi trên trán.
Đức tin ở trong tim thôi chưa đủ, mà còn phải thể hiện nó ra bên ngoài nữa. Mùa xuân Ả Rập rốt cuộc đã trả lại cho Maya bạn tôi chiếc khăn tôn giáo, trả lại cho cô quyền được xuất hiện hai năm rõ mười, không ai có thể nhầm lẫn, là một tín đồ Islam. Tôi mong trên đời có nhiều cô gái như Maya, được hưởng một nền giáo dục tốt, được có ít nhất mười tám năm cuộc đời để tự cân nhắc, tự so sánh, tự chọn lựa, và tự thực hiện những gì thuộc về niềm tin của cô ấy, kể cả đó là việc trùm lên đầu một chiếc khăn tôn giáo, nhưng đó không phải là chiếc khăn của sự bất bình đẳng hay bị chà đạp, đó là chiếc khăn của trí thức, sự tự tin, và là biểu tượng của nữ quyền.
Quran không dễ nhằn
Vấn đề là chiếc khăn tôn giáo của đạo Hồi không đơn giản như cây thập giá hay hạt bindi. Thậm chí về bản chất nó cũng không phải là một thứ đặc trưng của Hồi giáo. Maya tự hào rằng chiếc khăn khiến cô trông giống một tín đồ Hồi, nhưng trong thực tế, hàng tỉ tín đồ các tôn giáo khác có thể ăn mặc hệt như Maya. Các bà xơ trong nhà thờ Thiên Chúa, những phụ nữ Thiên Chúa dòng Chính Thống giáo đi lễ, hay những phụ nữ Do Thái cổ điển trông chẳng khác gì người Hồi. Tôi vẫn thường tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu các tín đồ Hồi giáo như Maya chọn vầng trăng lưỡi liềm trên đỉnh các thánh đường làm dấu hiệu của đức tin thay vì một chiếc khăn rất chung chung và chẳng có gì là đặc thù của tôn giáo?
Bởi thực tế là: chiếc khăn trùm đầu và mạng che mặt đã có từ rất xa xưa trong rất nhiều mô hình xã hội và tôn giáo khắp thế giới như một biểu tượng của sự tôn kính với bề trên hoặc để đề cao đức khiêm nhường. Xuất hiện từ thế kỷ 13 trước Công Nguyên, tức là 2000 năm trước khi Hồi giáo ra đời, khăn trùm thoạt đầu chỉ dành cho phụ nữ các gia đình quý tộc, trong khi tầng lớp lao động chân lấm tay bùn đương nhiên không thể áp dụng phong cách ăn mặc thượng lưu này. Nếu bạn lục lại lịch sử, nữ hoàng Elizabeth có rất nhiều ảnh trùm khăn khi tiếp kiến đại sứ nước ngoài. Con gái các nhà quý phái ở Việt Nam ngày xưa đi ra ngoài phố là che lọng kín mít. Hoàng tộc Việt Nam và châu Á có tục buông rèm nhiếp chính. Được nhìn thấy mặt rồng của các ông hoàng bà chúa là một diễm phúc không thể được ban bố cho bất cứ thường dân nào. Nữ tín đồ Thiên Chúa và Do Thái thường xuyên trùm khăn. Bạn chẳng cần nhìn đâu xa, tượng Đức Mẹ Đồng Trinh Maria nào cũng thấy bà khăn áo lướt thướt. Nói tóm lại, chiếc khăn với những biến thể khác nhau là một cách phục trang rất bình thường của phụ nữ trong suốt bao nhiêu nghìn năm lịch sử.
Hồi giáo đơn giản là tiếp thu phong tục này. Kinh Quran (24:31) yêu cầu nữ tín đồ che kín khe ngực (juyub) và chỉ để lộ những phần cơ thể “bình thường” (zahara minha) hay tiếng Anh tương ứng là “normally apparent”. Nhưng mà những phần nào là “bình thường”? Tóc? Cổ? Mặt mũi? Chân tay? Quran lại chẳng hề nói rõ. Mỗi thời kỳ văn hóa và tư tưởng lãnh đạo giải thích một kiểu, đương nhiên là theo kiểu có lợi cho mình. Các nhà nước thế tục muốn hiện đại hóa đất nước thì ủng hộ người Hồi theo trường phái hiện đại và ăn mặc hoàn toàn bình thường. Phần lớn các trào lưu tư tưởng trung dung khuyến khích phụ nữ che một phần tóc bằng khăn hijab hoặc toàn bộ tóc và cổ gọi là al-amira. Các tổ chức tôn giáo bảo thủ và cổ điển thì yêu cầu choàng khăn đen trùm qua vai hở mỗi khuôn mặt gọi là chador. Chính quyền cực đoan thì một mực cho rằng đàn bà phải mặc niqab chỉ được hở mỗi con mắt, hoặc như thời Taliban ở Afghanistan thì ai cũng buộc phải trùm một cái “bao tải” kín bưng, phần mắt có khoét ra một khoảng hình chữ nhật nhưng khâu thêm miếng lưới thưa để nhìn qua, gọi là burka. Tóm lại thêm lần nữa: Kinh Quran là kim chỉ nam cho các xã hội Hồi giáo, nhưng việc hiểu Kinh Quran ra sao và áp dụng trên thực tế như thế nào thì khá là… tùy tâm. Chiếc khăn chỉ là một ví dụ rất nhỏ được trích ra từ một danh sách dài lê thê bao gồm rất nhiều sự tranh cãi khác nhau trong nội bộ Hồi giáo, từ những việc tưởng chừng như đã thành hiển nhiên như cầu kinh bao nhiêu lần một ngày (3 hay 5 lần?), hoặc vợ không nghe lời thì chồng có quyền đánh đập không (!), ăn trộm bị bắt thì có được phép chặt tay không, cho đến những vấn đề lớn lao hơn như liệu Thượng Đế có cho phép con người lập ra nhà nước thế tục?
Sự ra đời của chủ nghĩa Hồi giáo
Buổi phỏng vấn thứ hai của tôi diễn ra ở một quán café trên đại lộ chính của thủ phủ Tunis. Tôi ngỏ ý muốn được Abdul giới thiệu với một vài phụ nữ Hồi mặc niqab che kín mặt. Vừa lúc ấy có hai bóng đen lướt qua. Hệt như Magdi ở café Casa, Abdul lập tức bật dậy, lao đến chặn đường. Không biết anh ba hoa những gì mà đến lượt hai cô gái lạ mặt này cũng bỏ cả việc mua hàng giữa chừng, sà vào quán cà phê để tôi chĩa máy quay phỏng vấn. Họ đen kịt từ đầu đến chân, tay đi găng đen, đến cả đôi mắt cũng được che lại sau một làn voan đen mỏng.
Trái với sự lầm tưởng của nhiều người, các tôn giáo độc thần ở Trung Đông có sự tương đồng về cách ăn mặc nhiều hơn là đối lập. Các nhân vật trong kinh thánh hay các nữ tu Thiên Chúa giáo đều có thể bị nhầm với tín đồ Hồi giáo vì cách mặc áo chùng rộng và trùm khăn che kín đầu. Ba cô gái Hồi giáo người Ma Rốc với cách chít khăn ra đằng sau cổ và mặc váy dài khiến không ít người khẳng định họ là dân Do Thái. (Nhưng bảo họ giống dân Do Thái chắc là họ vô cùng tức giận).
Tôi nhìn quanh, chưa bao giờ trong đời tôi gặp một tổ hợp phức tạp và đa dạng đến thế của những con người cùng tôn giáo nhưng cách họ nhìn nhận tôn giáo khác nhau đến mức khó có thể bịa ra một điểm tương đồng.
Thứ nhất là Abdul. Anh từng sống ở Pháp và kết hôn với một cô gái Hàn Quốc. Một ngày đẹp trời cùng vợ đi chơi, không biết xô xát gì với cảnh sát mà gã này buột mồm hỏi vợ Abdul: “Tại sao cô lại cặp với thằng mọi Ả Rập này cơ chứ?” Abdul rút dao kết liễu đời viên cảnh sát. Tòa án cho anh được lựa chọn, hoặc là vào tù hoặc là rời Pháp về Tunisia vĩnh viễn. Anh chia tay vợ về cố hương, sau đó tái hôn và sinh được một cô con gái độc nhất tên là Aysha.
Aysha ngồi cạnh bố, 17 tuổi, đen từ đầu đến chân, cả bàn tay của cô cũng đeo găng đen. Cô bẽn lẽn, e thẹn, phải để bố thuyết phục mãi mới dám ngồi trước máy quay. Hơn nửa năm trước, Aysha còn mặc bikini tắm nắng ở biển. Mùa xuân Ả Rập mang tự do đến cho cô gái mới dậy thì. Mặc cho cả nhà trố mắt ngạc nhiên, cô tuyên bố từ nay sẽ trở thành một tín đồ Hồi giáo theo “đúng nghĩa” chứ không kiểu “nửa mùa” như ngày xưa. Chưa hết, cô còn muốn che kín cả mặt mũi, ông bố khốn khổ phải van vỉ khuyên can mãi mới thôi.
Ngồi cạnh Aysha là Hassan. Cậu chàng cũng mới tròn 18 tuổi, râu ria lưa thưa nhưng dài ngoằng. Rõ ràng là cậu đang cố gắng để mình giống như salafi – những tín đồ Hồi giáo khá cực đoan, cổ động cho cách sống giống hệt như Hồi giáo từ thời mới khởi phát ở thế kỷ thứ 7. Khi mới gặp tôi, cậu bắt tay một cách miễn cưỡng, sau này thổ lộ rằng nguyên tắc tôn giáo cổ điển không cho phép chạm vào người khác giới, dù chỉ là cái bắt tay. Khi tôi hỏi cậu: “Mẹ của chị theo đạo Phật, ăn chay, bố thí, thế có phải là người tốt không?” – Cậu bé mười tám tuổi nghiêm khắc nhìn tôi trả lời: “Nhưng mẹ chị cũng sẽ vẫn xuống địa ngục! Nếu cụ mà theo đạo Hồi nữa thì cụ sẽ thành người hoàn hảo và được lên thiên đường” (!).
Người cuối cùng là Hosni, ba mươi tuổi, hiện đang làm tiến sĩ. Anh cố ý ngồi xa xa, vẻ như không muốn gần cái đám mà anh coi là cuồng đạo. Dù cũng là người Hồi, nhưng Hosni từng kiên nhẫn tranh luận rất điềm đạm và khoa học về các phê phán khá hiểm hóc của tôi suốt hàng tiếng đồng hồ mà không hề nổi cáu.
Chưa hết, những người này giỏi tiếng Pháp hơn tiếng Ả Rập, họ hoàn toàn giao tiếp bằng tiếng Pháp – ngôn ngữ của kẻ đô hộ Tunisia bảy mươi năm, chứ không phải tiếng Ả Rập – ngôn ngữ của kẻ chiếm đóng và đồng hóa Tunisia hơn 1300 năm. Văn hóa Pháp ngấm sâu và lâu ở Tunisia hơn hẳn Việt Nam, có lẽ bởi gốc văn hóa của người Việt mình mạnh hơn gốc văn hóa kiểu bộ lạc rời rạc và cấu trúc xã hội du mục của Tunisia trước khi đất nước này trở thành một phần của đế chế Hồi giáo.
Quay trở lại quán cà phê ở Tunis, tôi hiểu mình đang ngồi cùng bàn với những người Hồi có tư duy hòa bình, cởi mở. Và cũng ở ngay bên cạnh họ là những đại diện trẻ trung nhất, mới mẻ nhất, và cũng là những đại diện hăm hở nhất, cuồng nhiệt nhất của một tư tưởng mà chỉ nghe tên cũng khiến bất kỳ một nhà lãnh đạo phương Tây hay một tín đồ Hồi chân chính nào đều phải rùng mình ớn lạnh: chủ nghĩa Hồi giáo (Islamism).
Việc đế chế Hồi giáo một thời vinh quang chói lọi bị sụp đổ, cộng với hầu như toàn bộ Trung Đông đắm chìm trong nghèo đói và trở thành các nước chư hầu của thực dân Anh, Pháp, Ý là một vết nhơ trong lịch sử phát triển cực thịnh của Islam. Cùng với Al-Afghani của Thổ Nhĩ Kỳ, một nhân vật xuất sắc của Ai Cập tên là Muhammad Abdul đã dấy lên phong trào phục hưng, lấy ý tưởng và nguồn lực từ chính tôn giáo đã tạo nên vinh quang cho đế chế. Chủ nghĩa Hồi giáo thống nhất được hình thành với thông điệp tiên phong là chống lại chủ nghĩa thực dân Anh, Pháp, Ý, giải phóng Trung Đông, và tái xây dựng một dải văn minh rực rỡ trên nền tảng tôn giáo của đạo Hồi, dùng đạo Hồi làm kim chỉ nam cho cuộc sống cá nhân và chính trị của toàn xã hội.
Từ trung tâm Ai Cập, chủ nghĩa Hồi giáo phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới, tỏa ra nhiều nhánh với nhiều hướng đi khác nhau, thậm chí xung khắc và triệt tiêu nhau dữ dội. Tư tưởng Islamism cũng ngày càng trở nên cực đoan hơn với mục tiêu tối thượng nhằm vào việc thiết lập một đế chế Hồi giáo toàn cầu thay thế hệ thống nhà nước thế tục, thiết lập một hệ thống luật pháp dựa trên Shariah, xây dựng một đế chế tôn giáo toàn trị khắp thế giới nơi Thượng Đế nắm quyền tối cao. Các tổ chức của Islamism tỏa nhánh ở năm châu với nhiều đảng chính thống ở châu Âu, đi theo ba trường phái: bạo lực (Al-Qaeda, Taliban), phi bạo lực (Wahhabism) hoặc kết hợp cả hai (Huynh Đệ Hồi giáo, Hizb ut-Tahrir).
Một trong những nhánh chủ nghĩa Hồi giáo có sức công phá mạnh nhất, có tổ chức quy củ chặt chẽ nhất, có ảnh hưởng rộng lớn nhất không những tại Trung Đông mà còn ở châu Âu và Mỹ chính là tổ chức Huynh Đệ Hồi giáo. Khi Mùa xuân Ả Rập tràn từ Tunisia đến Ai Cập với hàng ngàn người xuống đường biểu tình chống lại chế độ độc tài, Huynh Đệ Hồi giáo hoàn toàn bị bất ngờ, tuy nhiên đã nhanh chóng tham gia dòng biểu tình, và bằng sự chỉn chu về mặt tổ chức đã trở thành kẻ cầm đầu và thậm chí trúng cử tổng thống dù mới đầu tuyên bố không tham gia chính trường. Với tuyên ngôn “Kinh Quran là Hiến pháp” và “Hồi giáo chính là Giải pháp”, Mursi đã có những bước đi sai lầm, không những không khiến cho kinh tế Ai Cập thoát khỏi trạng thái rơi tự do mà còn xây dựng một hình tượng độc tài mới thâu tóm quyền lực và thao túng chính trường bằng người của đảng mình. Chỉ một năm sau khi nhậm chức, vị tổng thống đầu tiên được bầu cử dân chủ của Ai Cập bị hạ bệ.
Trong khi Huynh Đệ Hồi giáo tổn thất nặng nề, một nhánh Islamism khác thì lại hân hoan. Đó là các tổ chức khủng bố chủ trương dùng vũ lực như Al-Qeada và Taliban. Ngay từ những ngày đầu của Mùa xuân Ả Rập, thủ lĩnh Ayman al- Zawahiri của Al-Qeada đã lớn tiếng nhận định rằng đường lối ôn hòa, dùng chính trị để đi lên của Huynh Đệ Hồi giáo chỉ có thất bại. Việc Mursi bị quân đội lật đổ khiến Zawahiri mở cờ trong lòng, vì nó chứng minh rằng không phải dân chủ mà vũ lực mới là con đường để đạt được mục đích cách mạng.
Và bước trên con đường ấy là những chiến binh Islamist trẻ tuổi đầy nhiệt huyết với ước mơ dùng tôn giáo để xóa bỏ sự bành trướng văn hóa phương Tây, khôi phục lại đạo đức kỷ cương xã hội, tạo dựng một đế chế toàn cầu. Cùng với Mùa xuân Ả Rập, sự trắng tay của những người khởi xướng cách mạng, và cuộc soán ngôi ngoạn mục của các đảng phái Hồi giáo, không ai có thể nói trước liệu những thanh thiếu niên như Hassan, Aysha có trở thành những chiến binh biến giấc mơ đế chế mới thành hiện thực. Giờ đây, các bậc cha mẹ như Abdul hay bậc đàn anh đàn chị như Hosni và Maya chỉ còn biết lo thầm ngay ngáy, nhưng há miệng mắc quai, không thể cấm cản. Việc cô con gái tuổi teen mơn mởn bỗng dưng che chắn kín bưng mặt mũi thậm chí có thể được hiểu là cô ta đang trở thành một người ngoan đạo. Cha mẹ nào dám cấm cản con cái trở nên ngoan đạo? Tuy nhiên, không ai có thể kiểm soát được những đổi thay đang diễn ra trong cái đầu tuổi 17 thừa cả hăm hở lẫn dại khờ. Cũng như không ai có thể dám chắc sự đổi thay quyết liệt về mặt hình thức không đi cùng sự tẩy não của những cô cậu tuổi mới lớn, và liệu họ có đang rơi vào tay các tổ chức Islamism với giấc mơ trở thành những chiến binh của Thượng Đế.
Ngọn nguồn của cơn lũ cuốn
Những cuộc phỏng vấn ở Tunisia khiến tôi hiểu Mùa xuân Ả Rập từ một góc nhìn khác hẳn. Nhưng để cho chắc, tôi vẫn bắt xe về một thị trấn nhỏ xíu tên là Sidi Bouzi.
Ngày 17 tháng 12 năm 2010, một người bán hoa quả rong ở Sidi Bouzi tên là Bouzizi bị tịch thu đồ nghề và bị một nữ cảnh sát tát vào mặt. Anh phẫn uất tìm đến kêu gào đòi được thị trưởng giải thích, nếu không anh sẽ châm lửa tự thiêu. Bị từ chối, ngọn lửa sống bốc lên ngay trước cổng tòa thị chính Sidi Bouzi. Hàng chục cuộc biểu tình nổi dậy diễn ra khắp Tunisia, nhưng linh hồn của những cuộc biểu tình không phải là tầng lớp dân nghèo như Bouzizi mà là tầng lớp trí thức tự do cánh tả đã quá chán ngán chế độ độc tài. Chỉ hơn hai tuần sau, Ben Ali phải cuốn gói rút chạy sau hai mươi ba năm cầm quyền. Chỉ vài tháng sau, cả Trung Đông dậy sóng, chính quyền của tất cả các nhà độc tài lung lay, kẻ vội vàng hứa cải cách ( Jordan), thậm chí cả những cải cách hiến pháp kiểu Ma Rốc khi chuyển đổi từ “Đức Vua là thánh thần” thành “Đức Vua không ai có quyền xâm phạm”, kẻ nhanh chóng xì ra cả một đống tiền để dân im miệng (Saudi, Oman), kẻ chết thảm như đại tá Gaddafi (Libya), kẻ sống mà như chết Mubarak (Ai Cập), và kẻ như Assad vẫn đang cố kiết trì hoãn bản án tử hình trong trò chơi nội chiến đẫm máu cướp đi sinh mạng của hơn 100.000 người (Syria).
Hơn một năm sau ngày Bouzizi biến mình thành đuốc sống vì miếng cơm manh áo bị chà đạp, cả Tunisia không có gì đổi khác, cái sự đổi khác về cơm áo gạo tiền mà Bouzizi đã đổi mạng sống của mình để cất tiếng kêu. Kinh tế Tunisia vẫn đi xuống, trí thức như Hosni phải dừng học tiến sĩ để đi làm cho công ty điện thoại, Maya bỏ quê hương mà đi, Ali quần quật 10 tiếng/ngày, 6 ngày/tuần trong lò bánh mì.
Những điều thay đổi ở Tunisia không phải kinh tế mà là tôn giáo. Cuộc cách mạng bột phát của tầng lớp tự do cánh tả thiếu tiền thiếu tổ chức phải nhường chỗ cho sự lớn mạnh của các tổ chức Hồi giáo từng bị chế độ độc tài cũ kìm hãm. Trước Mùa xuân Ả Rập, chỉ số nghèo đói của Tunisia là 2% thuộc loại thấp nhất thế giới, quyền phụ nữ ngang với châu Âu, là nước Hồi giáo duy nhất hợp pháp hóa nạo thai vô điều kiện, giáo dục đứng hàng thứ mười bảy, mô hình nhà nước kiểu độc tài được xếp cùng thứ hạng với Singapore. Sau Mùa xuân Ả Rập, đảng phái Ennahda, một đồng minh của Huynh Đệ Hồi giáo Ai Cập lên nắm chính quyền với hàng loạt chính sách không phải nhằm thúc đẩy kinh tế mà trước nhất là “chỉnh đốn đạo đức” của một xã hội đang xuống cấp về đức tin.
Tuy nhiên, chỉ có ngoan đạo thì làm sao tìm được thiên đường nơi hạ giới? Tunisia thời hậu Mùa xuân Ả Rập kinh tế càng thê lương trong khi các thành tựu nhân quyền thì có nguy cơ bị dồn chết vào góc tường. Điển hình là khi người phụ nữ đầu tiên của Tunisia đem về cho đất nước tấm huy chương bạc Olympic ở cự li chạy 3000m, Habiba Ghribi đón nhận hàng ngàn lời tung hô nhưng cũng không ít lời sỉ vả: “Cô ta trần truồng chạy trên đường. Tunisia đâu cần một tấm huy chương từ một ả điếm không còn nhân phẩm? Cần phải tước bỏ quốc tịch của cô ta!”. Bộ trang phục thể thao của Habiba hoàn toàn bình thường so với chuẩn mực quốc tế, nhưng đối với những tín đồ Hồi giáo bảo thủ ở quê nhà, đó chẳng khác gì một cái quần xì líp. Tôi gần như hét lên vì sướng khi Habiba được rất nhiều quan chức có tiếng tăm trong chính phủ bảo vệ: “Cái quần xì líp của cô ấy đem lại vinh quang cho Tunisia, chứ cái quần xì líp của các vị thì đã làm nên trò trống gì cho đất nước nào?”. Chính thời điểm Habiba đoạt huy chương cũng là thời điểm Ennahda đang dần dần để lộ bộ mặt thật của mình, không phải là một đảng Hồi giáo dung hòa (moderate) như họ đã tự vẽ vời hình ảnh của mình lúc tranh cử, mà là một tổ chức chính trị cổ hủ. Hãy xem Ennahda đã yêu cầu chỉnh sửa hiến pháp của Tunisia như thế nào là có thể nhận ra ngay chân tướng của kẻ muốn kéo lùi tiến bộ xã hội bằng con bài tôn giáo. Phụ nữ Tunisia được giải phóng trước cả phụ nữ châu Âu, nhưng cứ theo Ennahda thì hiến pháp phải quy định rằng: “Phụ nữ là người bổ trợ cho đàn ông trong gia đình, và là người hỗ trợ cho đàn ông trong xã hội”.
Thánh đường Hồi giáo Kairouan với tháp gọi cầu kinh (minaret) cổ xưa nhất thế giới được xây từ thế kỷ thứ 8. Hầu hết các minaret sau này của Hồi giáo đều dựa vào thiết kế này của Kairouan.
May thay, khi tôi đang sửa những trang cuối của tập sách này, Ennahda đã phải tự rút lui khỏi chính trường dưới sức ép của phe dân chủ ủng hộ nhà nước thế tục. Hiến pháp mới đã được bỏ phiếu thông qua với vai trò của phụ nữ và nam giới hoàn toàn bình đẳng. Tôi thở phào nhẹ nhõm, cuộc chiến bên bàn cà phê ở Tunis hơn một năm trước dường như đang chuyển dịch với phần thắng nghiêng về những người Hồi như Hosni, Maya và Abdul – những Muslim muốn giữ đức tin ở trong trái tim mình chứ không phải Islamist muốn làm vấy bẩn tôn giáo bằng những mớ chiêu bài chính trị.
Tôi ghét thuật ngữ “Mùa xuân Ả Rập” từ ngày đặt chân đến Tunisia. Tôi gọi đó là cơn lũ cuốn Ả Rập khiến cả Trung Đông dậy sóng, thức tỉnh cả thiên thần lẫn quỷ dữ. Nó bắt đầu bằng một tiếng kêu thống thiết từ khô cằn cát sỏi ở Sidi Bouzi, hóa thành một dòng sông tràn qua sa mạc giãy nóng Trung Đông. Con tạo xoay vần, dòng sông đáng lẽ mang nặng phù sa bị biến thành một cơn lũ cuồng nộ, cuốn phăng đi cả mùa màng đang chờ ngày gặt hái.
Bouzizi chết để phản đối cuộc sống đói nghèo. Đài báo loan tin anh chết để khai sinh cho cuộc cách mạng tự do dân chủ. Rốt cục, kẻ lên nắm chính quyền lại là những thầy tu tôn giáo. Thế mới biết, dù kẻ nào thắng hay thua, cuộc chiến lý tưởng cao thấp nào cũng bắt đầu và kết thúc bằng máu xương của dân nghèo.
Chương 13 - Ma Rốc: Tình yêu Thượng Đế và tình yêu trần thế
Ngủ yên nhé tình thơ!
“I fell in love with you watching Casablanca… Making love all long hot summer night…”
Hồi thiếu nữ, tôi cũng như hàng triệu cô bé mới xuân thì khác từng say mê bài hát Casablanca, từng say mê một trong những bộ phim lãng mạn kinh điển nhất của điện ảnh thế giới và nằm mơ đến một tình yêu cháy bỏng đêm hè trong ánh nến bập bùng bên biển đêm. Trong trí tưởng tượng của tôi ngày ấy, Casa là thiên đường của nàng thơ.
Thế cho nên tôi thót hết cả tim khi bước chân lên máy bay, bất ngờ để ý thấy chữ Royal Air (Hãng Hàng không Hoàng Gia) ở cửa máy bay được… sơn bằng tay.
Tôi đứng chết trân mất tới mấy giây, thậm chí còn bước tới sờ vào lớp sơn đen lem luốc, nét nguệch ngoạc xiên xẹo còn rõ cả vết chổi bị tòe. Tim đập thùm thùm, tôi thắt dây an toàn chặt hơn hẳn mọi khi, bụng thầm cầu khấn tên tất cả các vị thánh thần mà tôi có thể nhớ ra tên. Một cách logic, không ai trên đời muốn di chuyển trên đường bộ bằng một phương tiện thủ công đến mức cái nhãn hiệu của nó được sơn bằng tay, huống chi đây là hẳn một cái máy bay bay trên trời. Như thế này khác gì đi tàu bay giấy?
Chưa bao giờ tôi có một chuyến đi đầy thấp thỏm như thế. Khi hạ cánh, tôi thậm chí còn muốn nhảy lên vỗ tay, thiếu điều muốn đập cửa cabin vồ lấy phi trưởng mà ôm hôn. Ấn tượng đầu tiên về Ma Rốc rất “thô sơ” như vậy nên khi bước chân vào sân bay Casa tôi khá bất ngờ trước sự hiện đại tiện nghi và phong cách phục vụ chuẩn châu Âu đến khó tin. Không có kiểm tra visa, không phải đóng bất kỳ một thứ phí nhập cảnh nào. Khi tôi bước xuống cầu thang thì một cô gái xinh đẹp trong đội tiếp thị đã chờ sẵn và đưa cho tôi một chiếc sim điện thoại miễn phí. Chỉ trong vòng năm phút, tôi đã có thể nhoay nhoáy vào Internet 3G với giá 10 đô la trong một tuần (thế mới biết internet ở Việt Nam vẫn là rẻ nhất).
Nhưng mà Casa buồn, chẳng có tí lãng mạn nào. Tìm hết hơi cũng không thấy biển đêm ánh nến bập bùng và tình yêu mùa hè cháy bỏng. Trung tâm thành phố hiện đại và sạch bong như một cái tủ lạnh. Chỉ có những người dân ở Casa là dễ thương, rất hồn hậu và hiếu khách, kiểu hiếu khách của một đô thị tuy lớn nhưng vì không có mấy khách du lịch nên người dân không bị vô tâm. Bất kỳ ai tôi tình cờ hỏi đường đều bỏ hết cả công việc đang làm để đưa tôi đến tận nơi. Giấc mơ thời thiếu nữ của tôi có lẽ vì thế không bị đập cho tan nát mà chỉ lẳng lặng trôi qua chìm vào giấc ngủ yên như một lời nói dối vô hại.
Xin chào những mối tình đầu tiên
Ở rất nhiều thành phố của Ma Rốc, những cô gái bán hoa trở thành một phần tất yếu của cuộc sống đến mức bạn tôi nói hầu như không ai coi đó là chuyện bất ngờ nữa. Cũng như nhiều xã hội Hồi giáo khác, quan hệ tình ái trước hôn nhân là điều cấm kỵ nên đa số kinh nghiệm giường chiếu của những chàng trai Ma Rốc đều bắt đầu bằng những cô gái làm nghề hương phấn. Bạn tôi Abdullah nhận được món quà năm 19 tuổi từ một người em họ: một cô gái điếm rất dạn dày. Abdullah nói anh vô cùng biết ơn cô vì nếu không có cô tận tình chỉ bảo, anh sẽ không bao giờ biết rằng “thiên đường có thật và nó ở ngay trên giường”.
Tối hôm ấy, tôi, Abdullah và một cô bạn người Canada lần mò theo tiếng nhạc đến một đám cưới ở khu chúng tôi ở. Giữa quảng trường thành phố, hàng trăm thanh niên nam nữ reo hò quanh một chiếc lọng che kín mít đặt trên lưng một con bạch mã tuyệt đẹp. Đoàn rước đi vòng quanh hàng tiếng đồng hồ, trống chiêng um trời, đám thanh niên nhảy múa lắc mông lắc ngực hệt như trên một sàn nhảy chính hiệu. Chiếc lọng nghiêng ngả theo vó ngựa khiến tôi có cảm giác cô dâu ngồi bên trong nếu không phải là một con manơcanh giả thì chắc chắn cũng đã ngất xỉu vì chóng mặt. Không nén nổi tò mò, tôi chen vào giữa đám đông và bảo người nhà cô dâu vén lọng ra cho tôi bắt tay chúc mừng. Họ cười vui vẻ và gõ vào chiếc lọng. Một khuôn mặt đẹp như ngọc ló ra và một nụ cười hạnh phúc rạng rỡ. Tôi thở phào. Đồ – thật!
“Nhưng chưa chắc cái màng trinh của cô ấy đã là thật!” – Abdullah cười, không rõ là bông phèng hay ác ý.
Các cô gái Ma Rốc hiện đại bây giờ rất hay ăn cơm trước kẻng. Là một chuyên viên điều tra xã hội, Abdullah có thể đưa ra những số liệu khoa học chắc chắn rằng chủ đề nóng bỏng của các cô gái là “lỡ” mất gin thì làm thế nào để khi động phòng vẫn chảy máu. “Nhưng 1/3 phụ nữ dù chưa quan hệ bao giờ cũng vẫn không chảy máu mà!” – cả tôi và cô bạn Canada cùng đồng thanh phẫn uất kêu lên. “Trời ơi! Mấy bà không hiểu bọn tôi gì sất! Khoa học làm sao thắng được sự ngu lâu ích kỷ của đàn ông?” (!)
Bó tay!
Ở chương Jordan, tôi có nhắc sơ qua đến dịch vụ vá màng trinh ở Hà Lan giá từ vài trăm đến vài ngàn euro cho một cuộc tiểu phẫu ba mươi phút rất thịnh hành đối với những cô gái xuất thân từ gia đình nhập cư người Hồi. Không chỉ ở Hà Lan, mà khắp châu Âu và Trung Đông, việc khâu vá màng trinh đã trở thành chuyện thường ngày ở huyện. Trong tất cả các quốc gia Hồi giáo Trung Đông thì có lẽ Iran là cởi mở về vấn đề này nhất. Khi đám đàn ông thường đùa với nhau rằng ở thủ phủ Tehran chẳng còn gái trinh đâu, thì thậm chí hình thức phẫu thuật này còn được hẳn một lãnh đạo tôn giáo của Iran – đại giáo chủ (Grand Ayatollah) Sadeq Rouhani chính thức ban fatwa cho phép. Tin mới nhất: Trung Quốc không hổ danh là vô địch nhái hàng đã bắt đầu đổ bộ vào thị trường của công nghệ trinh tiết với sản phẩm siêu rẻ made in China: màng trinh giả, chỉ có 25 đô la, chảy máu như đồ xịn.
Tây Ban Nha
– Tây Ban Nha ư? Tây Ban Nha từng bị chiếm gọn dưới lưỡi gươm của một tên nô lệ Hồi giáo!
Châu Phi cách châu Âu gần như chỉ có một tí tẹo nước. Chiều hôm ấy, tôi và Abdullah trèo lên vắt vẻo ở sân thượng một trường học của Tangier, thõng chân đung đưa, vừa nghếch mũi về phía châu Âu vừa tán phét.
 
Những chú lừa thồ hàng giao đến từng ngôi nhà nằm ngoắt ngoéo trong thành phố cổ Fes.
Người Ma Rốc ở miền này rất xinh, cứ như thể chỉ vừa mới hôm qua họ đã chạy từ Tây Ban Nha về châu Phi sau hơn bảy thế kỷ người Hồi giáo thống trị toàn bộ cửa ngõ châu Âu. Những cô gái Ma Rốc da trắng mịn, mắt nâu đen, sống mũi cao, dáng người nhỏ nhắn rất đặc trưng của người vùng Nam Âu. Cũng dễ hiểu bởi tuy chính thức là người châu Phi nhưng họ chỉ cách Tây Ban Nha, theo cách nói của Abdullah, có một “vũng nước”.
Tôi chẳng thèm cãi Abdullah, dù không cần hỏi Gú Gồ thì tôi cũng thừa biết đoàn quân Hồi giáo chiếm được Tây Ban Nha một phần lớn vì nội bộ của triều đình Visigoth chia rẽ. Ngày ấy, một người quyền quý tên là Julian gửi con gái mình tới hoàng cung để đi học nhưng lại bị đức vua mới lên ngôi Roderic hãm hiếp. Julian nuôi mối thù, và khi quân Hồi giáo chuẩn bị vượt biển đánh Tây Ban Nha thì ông mở toang cửa ngõ Ceuta. Chỉ trong ba tháng, vùng đất tươi đẹp nhất của châu Âu thời ấy nằm gọn trong tay Tariq – một nô lệ được trả tự do và bằng tài năng quân sự của mình trở thành một tướng tài trong đoàn quân Hồi giáo đi thánh chiến.
Người Hồi chiếm Tây Ban Nha, chọc thẳng vào trái tim châu Âu đến tận vùng Tours của Pháp. Bảy thế kỷ sau đó (thế kỷ 8-13) đánh dấu thời kỳ vàng son (Golden Age) của văn minh Hồi giáo, thời kỳ cực thịnh của khoa học kỹ thuật, triết học và nghệ thuật. Châu Âu mông muội bỗng sáng bừng lên bởi những thành tựu rực rỡ của các học giả người Hồi. Chưa một tôn giáo nào lại mang trong mình một thái độ cởi mở, tân tiến, hiện đại đối với khoa học đến thế. Những trung tâm học thuật lớn mời gọi chèo kéo rất nhiều tên tuổi hàng “khủng” về giảng dạy, bất kể họ là người của tôn giáo nào. Hàng ngàn cuốn sách cổ có nguy cơ tuyệt chủng của văn minh Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Quốc, Ba Tư được sưu tầm, thu thập, và dịch ra tiếng Ả Rập. Được xóa rào cản về ngôn ngữ, dòng kiến thức ào ạt chảy giữa Đông và Tây. Đó là thời kỳ mà “một giọt mực của học giả còn cao quý hơn một giọt máu của kẻ tử vì đạo”.
Hẳn nhiên, cũng như mọi triều đại khác, Golden Age của Hồi giáo dần dần lụi tàn. Thiên Chúa giáo trở lại Tây Ban Nha, dần dần đánh đuổi hết người Hồi về phía bên kia “vũng nước”, quay trở lại Bắc Phi và Trung Đông.
Bảy trăm năm trôi qua cũng là bảy trăm năm đế chế Hồi giáo bỏ lại sau lưng một thời kỳ vàng son. Giờ đây, từ phía bên này “vũng nước”, mỗi ngày có đến hàng chục, hàng trăm kẻ liều mạng tìm cách đặt chân lên châu Âu bằng đủ mọi kế sách: trốn dưới gầm xe tải, chen chúc như cá hộp trong các ngăn chứa đồ ở xe buýt, vượt biển bằng thuyền tự chế hoặc trả tới 5000 đô la cho các tay mối lái. Tôi từng đặt chân đến vùng cửa khẩu nơi có đến cả trăm thanh niên lang thang lởn vởn chờ các chuyến xe chạy qua để đu người lên. Nhưng thê thảm nhất vẫn là những chiếc thuyền bị lật chìm trên đường vượt biển.
Thành phố màu xanh lam Chefchounen là biểu tượng của giao lưu tôn giáo. Những năm 1930, người Do Thái từ châu Âu bỏ chạy đến đây do bị bài xích bởi trào lưu trở về Miền Đất Hứa (Palestine). Họ sơn nhà màu xanh lam bởi màu lam tượng trưng cho bầu trời, cho Thiên Đàng. Người Do Thái không còn nhưng dân Hồi vẫn giữ màu xanh trên những căn nhà của mình.
Eo Gibraltar nối hai châu lục chỉ dài có hơn chục ki lô mét nhưng sở hữu những trận gió khủng khiếp thổi qua Đại Tây Dương và Địa Trung Hải. Gió mạnh, biển xanh, cát trắng, nắng vàng tạo nên một thiên đường cho những tay đua thuyền buồm và lướt dù gió bên bờ châu Âu. Nhưng thảm thương thay, ở bờ bên này, cũng chính trận gió này mỗi năm lật nhào hàng trăm chiếc thuyền, cướp đi mạng sống của hàng chục ngàn người cố sức rời bỏ châu Phi đi tìm miền đất mới. Rất nhiều trong số họ là phụ nữ có thai. “Tại sao?” – Tôi hỏi Abdullah khi hai đứa đã ngồi tới hàng giờ trước biển, chong mắt nhìn về châu Âu như một dải mờ mờ xa hút. Ở giữa chúng tôi và cái dải đất trông mong manh như sương khói đó là một chuyến phà tôi đi mất chưa đầy ba mươi phút, trong khi có những kẻ mất cả một đời người, tôi trả 30 đô la trong khi họ phải trả bằng cả mạng sống của mình.
“Tạo sao lại có nhiều phụ nữ có thai ư? Vì họ tin rằng châu Âu văn minh nhân quyền sẽ nương tay với những phụ nữ đang ở cữ. Thế nên họ cố tình làm mình có thai trước khi lên đường vượt biển… Mai đừng tin vào Casablanca nữa. Tình yêu lãng mạn đã chết thật rồi! Cuộc sống trần trụi thế này nên niềm ngây thơ bị phá sản cũng là điều dễ hiểu thôi!”
Những chiến binh tình dục
Tôi biết một cô bé sinh viên người gốc Ma Rốc, sinh ra và lớn lên tại Hà Lan. Hãy tạm gọi em là Layla, một cái tên thường gặp trong tiếng Ả Rập, có nghĩa là “màn đêm”. Layla thường tự hỏi liệu mình có nên trùm lên đầu chiếc khăn tôn giáo hay không. Ở trường đại học, em được các chuyên gia tư vấn khuyên nên tự tìm hiểu một cách nghiêm túc và sau đó hãy sử dụng quyền tự quyết cho bản thân mình. Hai năm sau gặp lại tôi, Layla mặc niqab che khăn kín mặt, từ chối bắt tay những người nam khác giới, thuyết phục thành công hàng chục bạn nữ khác cũng đeo mạng che mặt, trở thành một thành viên của tổ chức chính trị Hồi giáo, cổ động cho Shariah trở thành luật chính thức ở Hà Lan. Em tiết lộ với tôi rằng vị hôn thê của mình đang ở Syria chiến đấu vì Thượng Đế (chứ không phải vì Syria). Khủng khiếp hơn, tôi không tin vào tai mình khi em hỏi: “Cô đến đó (Syria) rồi, cô có cho rằng sex jihad là điều chính đáng cho những chiến binh của Thượng Đế không?”
Trong tiếng Ả Rập, jihad (cuộc chiến đấu) có hai cách hiểu chính: chiến đấu chống lại kẻ thù của Hồi giáo, và cuộc chiến đấu nội tâm để bảo vệ phần tốt đẹp và tính thiện trong cuộc sống. Tuy nhiên, khi báo chí nhắc đến jihad là nhắc đến cuộc thánh chiến với những tín đồ sẵn sàng chết vì Thượng Đế, và cái chết đó là tấm vé vào thẳng cửa thiên đàng. Ở Syria, có hai phe cùng chống lại nhà độc tài Assad, một là các nhóm cách mạng có tư tưởng tôn giáo dung hòa, hai là đội ngũ chiến binh Hồi giáo jihadist từ khắp nơi đổ về, chủ yếu là khủng bố Al-Qeada và các tổ chức Islamism khác. Các nhóm cách mạng muốn lật đổ Assad để xây dựng một nhà nước dân chủ thế tục. Các nhóm chiến binh Hồi giáo dòng Sunni muốn lật đổ Assad theo dòng Hồi Shia để vinh danh Thượng Đế. Cả hai nhóm này hai tay hai kiếm, một kiếm đánh nhau với kẻ thù chung Assad, một kiếm để giết người của nhóm kia. Tuy nhiên, nhóm các chiến binh cách mạng có một điểm thua rõ ràng so với nhóm các chiến binh của Thượng Đế: họ đói sex.
Câu chuyện cho đến lúc này đã chắc chắn là sự thật, nhưng vẫn chưa hết kinh hoàng cho những ai lần đầu tiên nghe tới. Tất cả bắt đầu từ fatwa không rõ thật hay giả của một lãnh đạo tôn giáo dòng Wahhabi kêu gọi các nữ tín đồ Sunni hãy tới Syria để giúp các chiến binh jihadist xả cơn khát tình dục. Fatwa đảm bảo rằng sự hy sinh này không được coi là tội thông dâm, và do mục đích cao cả vì Thượng Đế, các cô gái cũng sẽ trở thành jihadist và sẽ được lên thẳng thiên đàng. Không biết bao nhiêu cô gái Tunisia dại dột đã lên đường tới Syria, dâng hiến tấm thân mình cho hàng loạt những gã đàn ông đã hai năm trời bận bắn giết nhau không một cơ hội làm tình, trở thành những chiến binh tình dục, và quay trở về với cái thai trong bụng. Sex jihad có lẽ là ví dụ khủng khiếp nhất về sức mạnh của tôn giáo khi bị bóp méo, của Thượng Đế khi bị lợi dụng, của nhục dục dơ bẩn và sự ngu muội của con người khi bị đánh tráo trá hình trên danh nghĩa của đức tin.
Châu Âu mong manh
Trở lại với cô sinh viên Layla. Đối diện với em, giờ nhìn chẳng khác gì một “bóng đêm” theo đúng nghĩa đen, tôi thấy quặn hết cả ruột gan, ước chi mình có thể trói chặt cô bé này lại và chui vào cỗ máy thời gian quay trở về quá khứ. Tôi như bị giáng cho một cú chí mạng vào đầu khi nhận ra rằng những tín đồ của chủ nghĩa Hồi giáo tại châu Âu, về bản chất được sinh từ chính những giá trị mà châu Âu luôn tôn vinh và tự hào: tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, và tự do phán quyết. Những nhà giáo dục như tôi đã ngây thơ tin rằng tự do nhất định sẽ giải phóng con người và hướng con người tới sự cởi mở về tư tưởng. Ai có thể lường trước được rằng “quyền tự do lựa chọn” cũng đồng thời là “quyền tự do lựa chọn” con đường bảo thủ cực đoan, và nhất là quyền tự do lạm dụng những giá trị cao quý khác. Châu Âu bỗng chốc thấy mình há miệng mắc quai. Vì đã tự hào về dân chủ thì sao dám cấm khăn trùm kín mặt, dám ngăn chặn làn sóng đổ bộ của các thánh đường Hồi giáo, dám kiểm soát các bài giảng đạo, dám giải tán các cuộc biểu tình với băng rôn “Dân chủ là bệnh ung thư của châu Âu”, hay dám phản đối việc các Islamist thành lập đảng có tên “Shariah for Holland”[Luật Hồi giáo áp dụng cho Hà Lan]?
Tự do thế nào là đủ? Dân chủ thế nào là vừa?
Châu Âu bảy trăm năm sau ngày dồn nền văn minh Hồi giáo chói sáng ra khỏi lãnh thổ, giờ đây đang đối mặt với một cuộc thánh chiến thứ hai trong lịch sử, lần này không phải là đoàn chiến binh Muslim từ Trung Đông đem theo kiến thức và sự khai sáng, mà là một đội quân jihadist/ Islamist được sinh ra và lớn lên từ trong lòng châu Âu, sử dụng chính những giá trị cơ bản nhất của văn minh châu Âu để đánh đổ châu Âu. Phương Tây sẽ bị “chinh phạt và sụp đổ từ bên trong”, đúng như cương lĩnh của tổ chức Huynh Đệ Hồi giáo.
Chưa bao giờ châu Âu mong manh hơn thế.
Các đảng phái của Islamism chính thức xuất hiện ở ba mươi hai nước, trong đó có bốn nước phương Tây là Mỹ, Phần Lan, Hà Lan và Anh. Chính tại trái tim của châu Âu này, các tín đồ Hồi giáo trẻ tuổi con cháu thế hệ đầu của những người Hồi di cư trở thành những nạn nhân dễ dàng nhất của Islamism. Chân trong chân ngoài, bật gốc cội rễ, cộng với sự phân biệt đối xử và hoàn cảnh kinh tế khó khăn, những thanh niên sinh ra ở châu Âu với hộ chiếu và nền tảng giáo dục châu Âu vẫn rơi vào một cuộc khủng hoảng danh tính trầm trọng: Tôi là ai? Người Hà Lan? Người Ma Rốc? Người Hồi? Người Ả Rập? Các câu hỏi tiếp nối câu hỏi với: Tôi sống để làm gì? Mục đích tối thượng của cuộc đời tôi là gì? Ai thực sự cần đến tôi trong đời này? Trong cơn hoang mang, ngày càng nhiều thanh niên Hồi rơi vào ma trận của Islamism. Họ được thuyết phục để tin rằng danh tính quan trọng nhất không phải là một công dân Hà Lan mà là một chiến binh Hồi giáo, mục đích tối thượng của cuộc đời không phải là trở thành một con người tốt mà trở thành một tín đồ chết vì Thượng Đế, đất nước duy nhất họ có nghĩa vụ trung thành không phải là tổ quốc nơi họ sinh ra mà là một đế chế toàn cầu không biên giới quốc gia ummah. Chính vì quá trình tráo đổi danh tính, xóa nhòa biên giới văn hóa-chủng tộc-quốc gia đó mà người ta trở nên bất ngờ khi ngày càng nhiều khuôn mặt khủng bố có da trắng, mắt xanh, tóc vàng, sinh ra và lớn lên trên chính đất Mỹ và châu Âu, ăn McDonald và đòi đánh bom nền văn hóa tư bản. Sự việc trở nên có phần hoang mang khi năm 2012, một người Hồi quốc tịch Mỹ gốc Việt tên là Phạm Quang Minh bị bắt trong đường dây khủng bố Al-Qaeda. Những yếu tố cấu thành hồ sơ của nhân vật này hầu như chẳng liên quan gì đến nhau (người Việt, sống ở Mỹ, Hồi giáo cực đoan) khiến cho khi thông tin được bung ra thì các phản ứng của độc giả là những câu cảm thán vừa ngơ ngác, vừa tếu táo như không tin vào sự thật, lại vừa hoảng hốt: “Thế là thế nào?”; “Chắc anh chàng này bị chập điện nên chọn nhầm kẻ thù”; “Thôi chết, đến cả dân nhập cư người Việt ở Mỹ cũng có thể thành Hồi giáo cực đoan thì còn cửa nào để thoát đây trời?”
Trong khi đó, đại đa số người Hồi vừa giận giữ, vừa run sợ. Tuy chiếm số đông nhưng cộng đồng Muslim ở châu Âu hầu như không có tiếng nói chính thống. Cũng giống như mọi công dân khác, họ mải mê với công việc làm ăn, lo lắng cho tụi trẻ con đến trường, nấu những bữa cơm vui vẻ trong một gia đình ấm cúng. Cây muốn lặng gió chẳng đừng, cộng đồng người Hồi bị kẹp giữa một bên là sự phân biệt đối xử, thậm chí bài xích và căm ghét của người da trắng bản địa, một bên là mạng lưới Islamism – kẻ đã cướp diễn đàn của những tín đồ Hồi chân chính đang ngày đêm lớn mạnh và bành trướng bởi những đồng tiền dầu lửa. Hầu như rất ít người ở châu Âu có thể nhìn ra được sự khác biệt giữa một Muslim và một Islamist, hay giữa Hồi giáo với tư cách một tôn giáo (Islam) và Hồi giáo với tư cách một chủ nghĩa chính trị (Islamism). Cũng giống như phần còn lại của thế giới đã luôn gom tất cả các định nghĩa này vào cùng một giuộc, và những tội ác gây ra bởi Islamist thường bị đổ vấy cho Muslim, sự căm ghét Islamist thường bao trùm cả cộng đồng Muslim vô can một cách oan uổng. Mà Muslim ở châu Âu thì giận giữ, nhưng rời rạc và run sợ.
Châu Âu mong manh, còn là vì châu Âu còn lòng tin, nhưng đã mất đức tin.
Vào một buổi chiều tháng 10 năm ngoái (2013), tôi vào facebook và thấy thông tin về nhà thờ Thiên Chúa St Peter ở Staffordshire (Anh) đã được bán cho các tín đồ Hồi giáo địa phương vì không còn người đi lễ. Tin mới đăng, có 61 người thích, 13 người chia sẻ, và một lời bình đập vào mắt tôi: “Cảm ơn Thượng Đế! Cuộc chinh phạt phương Tây của Hồi giáo đã bắt đầu!”
Là một kẻ vô thần, nhưng tay tôi run bắn lên. Hơn 1300 năm trước, Trung Đông cái nôi của Thiên Chúa biến thành lãnh thổ của Hồi giáo, những nhà thờ Thiên Chúa nguy nga sau những cuộc chinh phạt của vó ngựa Ả Rập biến thành các thánh đường Hồi giáo. Hơn 1300 năm sau, những nhà thờ Thiên Chúa lộng lẫy của châu Âu bị bỏ hoang, không cần ai chinh phạt, ế ẩm qua một đêm đã tự nguyện giạng cửa toang hoang, hiến thân cho một tôn giáo đã từng là kẻ cưỡng đoạt mình trong quá khứ.
Bạn tôi than: “Châu Âu thế tục đã chán Thượng Đế mất rồi, bán đức tin cho đồng tiền và đặt cược lòng tin vào những điều phù du như tình yêu trần thế”.
Chương 14 - Tây Ban Nha: Đoạn cuối một cung đường
Bước chân vào Tây Ban Nha, tôi bắt xe thẳng tới Cordoba.
Và tôi dành nguyên một ngày chỉ để đi vòng quanh và lang thang trong khuôn viên của một trong những công trình kiến trúc tôn giáo đẹp nhất châu Âu: St Vincent.
Được xây dựng từ hơn 1400 năm trước với tư cách là một nhà thờ Thiên Chúa, St Vincent là biểu tượng của sự khoan dung trong tư tưởng cai trị của nhà cầm quyền Hồi giáo. Dù là kẻ thắng cuộc, họ không có chủ trương đốt sạch phá sạch giết sạch mà chỉ yêu cầu tín đồ các tôn giáo khác phải đóng thuế và chịu thần phục. St Vincent bị chia làm đôi, một nửa vẫn là nhà thờ Thiên Chúa, một nửa được xây dựng lại thành thánh đường Hồi giáo. Kết quả của sự giao hòa tuyệt vời độc nhất vô nhị ấy để lại cho hậu thế một công trình kiến trúc đẹp đến nín thở với một sảnh đường khổng lồ được nâng đỡ bằng 856 cột đá và hàng nghìn mái vòm đôi xây bằng gạch đỏ rực rỡ. Giữa trùng trùng lớp lớp của rừng cột đá đó là những thánh điện Thiên Chúa và Hồi giáo uy nghiêm dát vàng son lộng lẫy. Từng nhóm du khách ngửa cổ lên cao, xuýt xoa trầm trồ thán phục.
Đây là một trong những thánh đường hiếm hoi, nếu không phải duy nhất, có sự hòa trộn của hai tôn giáo: ban thờ Chúa được trang trí bằng những câu trích lấy từ kinh Hồi giáo Quran.
Giữa hàng trăm con người ấy, tôi tình cờ để ý thấy một nữ du khách người Hồi đội khăn xanh. Cô len lén rời nhóm bạn và lẩn vào sau một bệ thờ lớn. Tôi tò mò bật máy ảnh và zoom ống kính dõi theo. Thật bất ngờ khi thấy cô ngồi thụp xuống, nhằm hướng Mecca, và bắt đầu nghi lễ quỳ lạy của người Hồi.
Tôi hốt hoảng nhìn quanh, may thay, tất cả các nhân viên bảo vệ đều đứng ở rất xa. Cô gái Hồi đang vi phạm một trong những điều cấm kị của Thánh đường Thiên Chúa St Vincent. Tôi chợt thấy buồn thắt cả tim, thốt nhiên thấm hết cái oái ăm của vòng xoay phát triển và lời nguyền độc địa của thời gian. Loài người té ra có những cái mà trải qua cả một ngàn năm cũng chẳng văn minh hơn. Chuyện hai tôn giáo thù địch vẫn có thể chung nhau một mảnh đất thiêng là chuyện chỉ có thể xảy ra hơn một ngàn năm trước. Cũng như chuyện Hồi giáo với tư cách là tôn giáo đi đầu trong khoa học công nghệ và nam nữ bình quyền cũng đã là chuyện của hơn một ngàn năm trước. Ai có thể giải thích được một tôn giáo cởi mở như thế, tân tiến hùng mạnh đi trước thời đại như thế cả ngàn năm sau lại bị xoắn vặn, bị nhân danh, mang cả tên Thượng Đế ra để làm công cụ vùi dập chính những điều mà nó từng tôn vinh?
Nhưng thực tế là, có ai cần Thượng Đế?
“Lũ chúng ta ai mà không cần Thượng Đế?” – Riana bật lại khi chúng tôi đang lái xe vòng vòng quanh Cordoba – “Không có Người thì lấy đâu ra niềm tin rằng cái lũ khốn kiếp quanh ta rồi sẽ bị trừng phạt, rằng ta vẫn có thể cắn răng làm người tốt dù thiên hạ xấu xa, rằng đâu đó cuối con đường rồi sẽ có công bằng. Mai không thấy xã hội càng bất công loạn lạc thì Thượng Đế càng đắt hàng đó sao?”
Cũng giống như hầu hết người Việt Nam, trên chứng minh thư của tôi phần “tôn giáo” có chữ “Không”. Nhưng tôi sinh ra đã nhìn thấy bàn thờ tổ tiên, thức dậy mỗi sáng trong tiếng mẹ cầu kinh niệm Phật. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình theo đạo, nhưng lên chùa biết chắp tay cầu an, vái lạy cả ông Phật, ông Khổng Tử, ông Lão Tử, vái lạy các Thánh Mẫu. Và mỗi khi cảm xúc nổi lên thì tôi vẫn kêu trời một cách vô thức. Vậy nghĩa là tôi có theo đạo, không những một mà nhiều thứ đạo khác nhau: Phật, Lão, Nho, đạo Mẫu, cộng thêm cả Thượng Đế dưới cái tên ông trời hay ông giời thậm chí đôi khi không cần viết hoa, và cả tín ngưỡng thờ tổ tiên nữa. Như vậy, điều khác biệt lớn nhất giữa tôi và những người bạn mới quen ở Trung Đông đó là tôi lớn lên từ một nền văn minh đa thần giáo, còn Trung Đông và hầu như toàn bộ phần còn lại của thế giới thuộc về những nền văn minh độc thần giáo.
Đạo độc thần đầu tiên trên thế giới – Zoroastrianism – ra đời 4000 năm trước ở Iran. Từ Iraq, dân Israel bước chân về miền đất hứa với đạo độc thần Do Thái. Từ miền đất hứa, Thiên Chúa giáo ra đời ở Palestine. Từ bán đảo Ả Rập, Hồi giáo tiếp dòng và trở thành tôn giáo cuối cùng của hệ tôn giáo độc thần. Bốn chân kiềng ở trái tim của Trung Đông đặt nền móng cho các tôn giáo độc thần lan tỏa và bắt rễ ra toàn thế giới. Linh hồn của độc thần giáo ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính cách và văn hóa gốc của Trung Đông và phương Tây: miệt mài đi tìm một sự thật duy nhất, không chấp nhận sự mập mờ, nước đôi vì trên đời chỉ có một Thượng Đế, kinh thánh chỉ có một bản mà tôn giáo của họ giữ là linh thiêng, và để sống tốt thì chỉ có cách là noi theo một hệ thống thực hành đạo đức nhất định mà tôn giáo của họ đã chỉ ra (10 giáo lý của Chúa, 5 quy tắc của đạo Hồi v.v.). Quá trình đi tìm cái sự-thật-duy-nhất ấy khiến khoa học và triết học của họ phát triển rực rỡ, nhưng cũng khiến sự khoan dung với nhau trở thành một điều xa xỉ. Ai cũng tự cho mình là đúng và duy nhất, cách thờ phụng Thượng Đế của mình là đúng và duy nhất, lời răn dạy của Thượng Đế gửi cho mình là đúng và duy nhất. Đó là mầm mống của cực đoan.
Khi sự khoan dung với nhau là điều xa xỉ thì sự khoan dung với những thiểu số tôn giáo nhỏ trót sinh ra từ sự giao hòa của cả độc thần và đa thần, hay những nhánh tín ngưỡng nhỏ tách ra từ dòng chính là điều không tưởng: Thiên Chúa từng chứng kiến sự tàn sát man rợ giữa Công giáo và Tin Lành; Hồi giáo suốt hơn ngàn năm qua chưa bao giờ máu ngừng rơi, nhất là máu của những cộng đồng thiểu số như Sufi, Alevi, Druze, và Alawite. Hẳn bạn còn nhớ Hani bạn tôi ở Syria theo dòng Hồi Alawite, tuy bắt nguồn từ một ông tổ đạo Hồi nhưng bản chất là một món cocktail tổng hợp từ rất nhiều tôn giáo khác nhau, cả độc thần và đa thần: Thiên Chúa, thần giáo Hy Lạp, và Hindu/Phật giáo. Ở Alawite, cái ranh giới rõ ràng giữa đúng và sai, có đạo và vô đạo không rõ ràng, nguyên tắc sự-thật-duy-nhất bị phá bỏ. Và thế là cả hệ thống tâm lý, suy nghĩ, phán xét của nguyên lý độc thần tự dưng thấy mình không thể đưa ra quyết định cuối cùng: Alawite! Rốt cuộc mày là ai, mày có phải là người Hồi không? Chỉ có thể là có hoặc không! Chỉ có thể có một câu trả lời đơn giản, vì sự thật chỉ có một và duy nhất!
Hẳn nhiên châu Á với truyền thống đa thần không phải không có xung đột tôn giáo, nhưng ít nhất sự khoan dung, chấp nhận, thậm chí tôn vinh những tôn giáo tổng hòa là có thật. Những triết lý cơ bản của Hindu vẫn thấm đẫm trong Jain giáo và Phật giáo. Cao Đài vẫn mềm mại thờ tứ phương từ Khổng Tử đến Chúa Jesus, từ Victor Hugo đến Nguyễn Bỉnh Khiêm, và thậm chí ngồi trên ngôi cao để tín đồ Cao Đài người Việt khấn vái còn có cả Nour el Din Mahmoud – một ông vua ở tận Thổ Nhĩ Kỳ. Một người Việt Nam bình thường vẫn sống theo Tam giáo (Nho-Phật-Lão). Đền thờ đạo Hindu ở Sài Gòn vẫn tấp nập những người Việt theo Tam giáo đến quỳ lạy trước linga. Các ngôi chùa Phật giáo ở Bhutan kết hợp với Bon giáo sừng sững tượng nam nữ giao phối và dương vật đàn ông được mô tả chi tiết với đầy đủ “cà pháo lông mao” (!). Người Chăm Bà ni theo Hồi giáo ở Việt Nam vẫn thờ Thượng Đế cạnh ông bà tổ tiên, Thần Mưa, Thần Nước, Thần Sông. Linh mục Moon của Unification Church ở Hàn Quốc có thể hồn nhiên tuyên bố rằng ông còn là một thầy cúng (shaman). Con chiên Thiên Chúa của Unification vẫn công nhận rằng Jesus dạy những gì tinh túy nhất của Khổng giáo và Phật giáo. Bàn thờ gia đình một người họ hàng của tôi vẫn có bốn tầng: Thánh Giá, Phật Quan Âm, ảnh các cụ tổ tiên, và giữa tất cả là ảnh… đức Giáo hoàng. Chính vì thế tôi tin rằng, hay đúng hơn là cầu mong rằng 70.000 tín đồ và 100 thánh đường Hồi giáo ở Việt Nam sẽ luôn ngấm chất dịu thuần của văn hóa Á Đông để có thể ngăn không cho dù một mảy may nọc độc cực đoan được lẻn vào dải đất mềm mại của quê hương.
Trở về từ Trung Đông, tôi thầm cảm ơn việc đa thần giáo đã sinh sôi nảy nở trên đất này, đã trở thành một triết lý sống (philosophy of life) hơn là một tôn giáo, đã thấm vào hệ thống logic tinh thần của xứ sở này từ khi nảy mầm đến khi kết hạt, đã dạy cho con dân phương Đông sự tôn kính với thánh thần của mình và cả khoan dung với thánh thần của kẻ khác, thậm chí không những khoan dung mà còn rộng cửa chào mời một sự giao thoa giáo lý và đức tin đến mức kết quả của quá trình kết hợp ấy là một hỗn thể không còn phân biệt được biên giới. Dù rằng đôi lúc cũng phát rồ lên vì 1+1 chưa chắc đã bằng 2; dù phải đánh vật với cái thăng bằng âm dương nơi tốt xấu hầu như không có tính giá trị chuẩn, quá nhiều tốt thành xấu, và đôi khi quá nhiều xấu xa lại dẫn đến sự tốt đẹp; dù phải chấp nhận rằng mọi thứ đều tương đối, và sự-thật-duy-nhất là điều không bao giờ tồn tại.
Chín tháng lăn lê qua mười ba đất nước Trung Đông, một đất nước nội chiến, hai đất nước trong tình trạng vô chính phủ, số còn lại ì ầm biểu tình hằng ngày, chưa bao giờ tôi cảm nhận rõ hơn sức mạnh của tôn giáo và đức tin. Tôi tin rằng Thượng Đế và tôn giáo không đơn giản chỉ là để con người chúng ta biết rằng công bằng là có thật, lẽ phải cuối cùng rồi sẽ thắng, rằng mụ phù thủy độc ác sẽ phải đền tội và Lọ Lem rồi sẽ sống đời đời hạnh phúc. Nhất định còn phải có một cái gì đó cao hơn thế nữa, ví như sự khao khát được thâu tóm vũ trụ này trong tầm tay trong khi biết rằng mình hữu hạn, hay ước mơ cháy bỏng về sự bất tử trong khi biết mình chắc chắn một ngày rồi sẽ chết. Tôi không tin con người đã chán ngán Thượng Đế và quay ra chỉ biết có yêu bản thân mình hoặc một tình yêu trần ai phù du xác thịt. Bất lực nhưng lại tham lam và đầy hoài bão, khát khao vô tận nhưng phải trở nên hèn mọn vì sự hữu hạn của chính mình, con người đã phản chiếu sự quằn quại bất lực của giống loài lên thành một niềm mơ ước có tên là Thượng Đế. Không sinh không diệt, thấu rõ tứ phương vũ trụ, quyền lực tối thượng.
Trở về nhà lòng dạ rối bời còn hơn cả lúc mới đặt chân lên đường, tôi bắt đầu hiểu rằng sản phẩm lớn nhất của con người không phải là những nền văn minh rực rỡ, mà là một khái niệm chạm đến tận cùng của sự trừu tượng: Thượng Đế toàn năng.
Nhưng nếu ai phản đối và cãi rằng Thượng Đế không thể là sản phẩm tưởng tượng của con người dựa trên hình hài của chính mình thì tôi cũng sẽ lặng im, bởi những trải nghiệm ở Trung Đông khiến tôi hoang mang. Không lẽ mấy ngàn năm qua, con người đã hoan ca và đổ máu chỉ vì một ảo ảnh?
Cũng có thể Thượng Đế có thật! Và Người chỉ quá buồn mà đã bỏ đi thôi!
Chương 15 - Giờ sao?

Tôi có một ông bạn vong niên người Anh sống rất thực tế, khác hẳn với cái con bé tôi đầu óc lúc nào cũng chơi vơi “ở trển”. Lúc rỗi việc gặp nhau, tôi xả phanh ầm ầm, nói mình khát khao được làm cái này, thèm được làm cái nọ, muốn nhân tiện làm cả cái kia. Lúc tôi dừng lại để thở, ông thường buông nhõn một câu: “Giờ sao?”
Trở về Hà Lan phờ phạc sau chuyến đi gần năm trời ròng rã vào một ngày cuối tháng 8 năm 2012, ông bạn quý đón tôi ở sân bay, chưa kịp để tôi há mỏ ra luyên thuyên, phán một câu tỉnh rụi: “Giờ sao?”
Như mọi khi, tôi vẫn thường không biết sẽ bắt đầu từ đâu. Bình thường thì tôi vẫn viết, như một cách để ngòi bút khỏi cùn, để khỏi quên tiếng mẹ đẻ, và để bơm chút đỉnh vào cái hầu bao lúc nào cũng rỗng đến mức nhìn cả thấy đáy. Nhưng mỗi lần lên facebook tôi lại thấy nhụt chí, vì nhận ra rằng những câu chữ của mình chẳng ăn thua vào đâu so với cơn cuồng nộ của thông tin ăn xổi. Tôi muốn nói với cái đám đông đang hăng máu rỉa róc những mẩu tin đẫm máu từ Trung Đông rằng vùng đất khổng lồ mà họ đang nói đến trải dài qua ba châu lục mênh mang. Trên cái diện tích lãnh thổ từ địa đầu châu Phi sang đến trung tâm của châu Á ấy, những quốc gia nghèo thiếu ăn nằm cạnh những đất nước mà bữa ăn tối bình thường mắc tiền hơn cả Amsterdam, những thành phố nơi gần như 100% phụ nữ che khăn kín mặt ở cách nơi váy siêu ngắn và cổ áo siêu trễ chỉ non một giờ bay. Trung Đông đối với tôi như một trò ú òa, mỗi buổi sáng thức dậy mở mắt ra là có một bất ngờ mới. Ấy là nơi một tối party nhảy nhót vui tươi điên cuồng trong khi đất nước nội chiến lửa cháy ngút trời là điều có thể, ấy là nơi các nhà độc tài được người dân yêu quý và luyến tiếc là điều có thể, ấy là nơi một cô gái mơn mởn xuân thì bỗng dưng muốn che chắn kín bưng mặt mũi chân tay là điều có thể, ấy là nơi phẫu thuật chuyển giới tính bằng tiền trợ cấp của chính phủ cũng là điều có thể. Bất kể một định kiến gì về Trung Đông đều có thể bị đập tan bởi những câu chuyện hoàn toàn đối lập.
Tôi vừa thích vừa sợ facebook và các mạng xã hội. Tất cả những gì quan trọng nhất không phải thông tin mà là tốc độ của thông tin. Báo chí bị cuốn theo cơn lốc cạnh tranh với mục tiêu duy nhất là làm thế nào để thông tin đến tay của tất cả mọi người và chẳng cần làm cho bất kỳ một ai thông thái hơn. Thế giới phức tạp, tươi đẹp và hỗn loạn khi bị post và twit lên internet trở thành những lát cắt ngắn ngủn và giản đơn. Tại sao? Vì chúng ta hình như chỉ đủ thời gian để tiêu hóa những gì giản đơn và ngắn ngủn. Trung Đông với những cách nhìn phức tạp, các câu chuyện đối chọi và lịch sử ngàn năm giằng chéo với hiện tại sẽ bị lọc qua mạng xã hội và hệ thống báo chí chỉ để lại những chi tiết sốc nhất, những con chữ có tính chất “đập một nhát vào mặt”, và những hình ảnh đạt tiêu chuẩn “không cần đọc lời bình vẫn có thể đưa ra kết luận”.
Sau đây là một ví dụ điển hình:
Một buổi chiều trở về nhà sau ngày dài làm việc, tôi tức ức ói máu khi nhìn thấy tấm ảnh này trên tường facebook nhà mình với cái tiêu đề to tướng: “Người Hồi bị đàn áp ở Việt Nam”. Đăng lên mạng ngày 23-8-2013, mới chỉ vài hôm đã có gần 4000 người chia sẻ, và có lẽ hàng triệu người trên thế giới này đang đinh ninh rằng người Hồi ở Việt Nam bị trói chằng tay vào nhau, bắt quỳ xuống đất với dao găm kề vào cổ.
Mới đầu, tôi đơn giản chỉ cho rằng kẻ đăng bức ảnh này là một trong muôn vàn những tín đồ Hồi giáo bình thường cảm thấy bị oan ức khi người Hồi bị xua đuổi và áp bức ở Myanmar, rồi trong cơn ngu dại lôi cả Việt Nam vào mà không thèm suy nghĩ. Sau khi vào tận trang chủ, đọc thêm hàng loạt post, truy cứu nguồn gốc và tổ chức tài trợ, tôi mới phát hiện ra rằng đây là một forum của Islamism tuyên truyền và kích động thánh chiến. Phương pháp của forum là tìm mọi cách mô tả Islam như một tôn giáo đang lâm nguy, Muslim là một cộng đồng đang bị trù dập, và cả thế giới này đang tìm cách để tiêu diệt Hồi giáo, thậm chí kể cả ở một đất nước xa xôi như Việt Nam. Chính vì thế, việc đưa một bức ảnh tù binh chiến tranh ở Việt Nam bị trói chân trói tay lên và lu loa rằng người Hồi ở đây bị đàn áp không chỉ đơn thuần là một sai sót. Đó là chủ ý. Và thế là tất cả nhao nhao lên. Và thế là tất cả sôi máu lên. Và thế là tất cả sẵn sàng lăn vào, xả thân cứu anh em bằng hữu. Chỉ có vài comment lẻ tẻ yếu ớt hô lên rằng hình như đây là cuộc chiến Việt Nam từ ngày xửa ngày xưa. Nhưng vô dụng. Thịt đè người, số lượng like và share đè chết sự thật. Chưa bao giờ người hại người lại dễ dàng đến thế.
Mạng xã hội khiến bất kỳ một gã vô danh tiểu tốt nào cũng cảm thấy như mình là một nhà báo quyền lực vô song. Kể cả khi nhà báo ấy ngu dốt, quan điểm sai lạc, hay như những kẻ đã like và share cái ảnh này, chỉ nhăm nhăm muốn gào lên cho cả thế gian này biết người Hồi đang bị hãm hại, còn thời gian đâu mà suy nghĩ, mà truy tìm tư liệu. Rồi thì trong cơn phẫn uất, bạ ai cũng lên án, vô tình biến cả bạn bè thành kẻ thù. Ai bảo chỉ có mấy thằng khủng bố mới làm cho người ta trở nên dị ứng với đạo Hồi?
Phải thú thật là tôi thường chỉ hào hứng với các cuộc tranh luận khi người đối ẩm là các học giả về Hồi giáo. Không đơn giản là sự học cao hiểu sâu mà là khả năng họ có thể bước ra khỏi vầng hào quang tôn giáo của chính mình, rồi cùng nắm tay tôi “bay” lên, thoát xác, lơ lửng phía trên những thực thể tôn giáo và văn hóa ấy, nhìn ngắm chúng, thảo luận, tranh cãi như thể nói về một thực thể khoa học mà không sợ bị phạm húy, không sợ vô tình xúc phạm, tổn thương lẫn nhau. Để làm điều này với những người khác thật là khó, bởi sự nhạy cảm quá mức của một tôn giáo đang bị cả thế giới hiểu lầm, những tín đồ Hồi thường có hệ thống tự bảo vệ luôn ở chế độ mẫn cảm cực độ, bất kể câu nói gì cũng có thể dễ dàng được họ dịch ra thành ý đồ của một cuộc tấn công vào đức tin của chính mình.
Tôi cảm thấy lo lắng vì mình đang sống trong một thế giới mà tốc độ thông tin quá nhanh khiến người thường không mấy ai đủ thời gian để thích nghi. Một bức ảnh bây giờ không chỉ còn có sức mạnh hơn một nghìn con chữ nữa mà còn có thể biến một nghìn kẻ ngu xuẩn thành một nghìn kẻ sẵn sàng phanh ngực áo thành quân cảm tử. Ở thế hệ Facebook và You Tube này, chẳng mấy ai còn có thì giờ để đọc, để cân nhắc, chưa nói đến để suy ngẫm. Đập vào mặt một cái ảnh hay một cái clip thì lập tức tình cảm dồn lên đè bẹp tư duy, chân tay như bị chập điện rùng rùng trở thành vũ khí cho anh hùng bàn phím. Ai cũng có thể ngồi xuống để viết, dù có thể chưa bao giờ dám đứng lên để sống.
Nhưng mà rồi tôi vẫn chọn cách viết, vì không còn gì khổ sở hơn là phải giữ khư khư một câu chuyện luôn cựa quậy đòi được ra đời. Nhất là những câu chuyện ấy dường như chỉ đợi giây phút mổ vỏ trứng chui ra là có thể ngay lập tức tự đứng lên, tay chống nạnh, mặt hất hàm thách thức những thông điệp chỉ toàn chiến tranh, khủng bố và chém giết từ Trung Đông. Nói đi cũng phải nói lại, một cách thực lòng, vùng đất rộng lớn này không phải là thiên đường của nàng thơ. Và tôi dù đọc nhiều cách mấy, viết nhiều cách mấy cũng không thể có câu trả lời cho cái mớ bòng bong rối rắm này. Nhưng có hề gì, nhà thơ người Mỹ Maya Angelou có nói một câu rất đỉnh: “Con chim cất tiếng hót không phải vì nó đã tìm ra được giải pháp cho cuộc đời. Nó hót đơn giản bởi vì nó có một bài hát thôi”.
Trong cuốn sách này tôi xin được nhận là con chim. Hót váng lên một chặp. Có khi chối tai, chẳng giải quyết được việc gì. Nhưng ít nhất nó cũng cố gắng hoàn thành sứ mệnh của mình. Đã là chim thì phải hót.
Kết - Đi tìm Taliban
Con đường Hồi giáo cho đến giờ phút này đã hoàn thành một nửa quãng đường với cánh cung từ Saudi tỏa sang hướng Tây. Tôi dừng lại đơn giản bởi vì tôi hết tiền. Là chim, tôi xin hứa bao giờ gom góp đủ sẽ tiếp tục bay nốt quãng đường sang phía Đông. Nếu thành công, thì bài hát tiếp theo sẽ có tựa đề: Đi tìm Taliban.
Xin giới thiệu với các bạn một mẩu viết trên facebook của tôi sau chuyến đi tiền trạm tới một đất nước ở cánh cung phía Đông: Pakistan.
Mấy hôm trước tôi phải ngồi soạn đề thi cho sinh viên, đọc bản gợi ý của đồng nghiệp thấy có một câu hỏi về Malala, cô bé Pakistan mười lăm tuổi – nhà hoạt động chính trị bảo vệ quyền được đi học bị tổ chức Hồi giáo cực đoan theo Islamism Taliban ám sát hụt và bị thương nặng ở đầu. Malala đã nổi tiếng càng trở nên nổi tiếng với đề cử giải Nobel Hòa Bình. Từ cõi chết trở về, cô gái nhỏ đầu trùm chiếc khăn tôn giáo màu đen xuất hiện trước toàn thế giới, tiếng Anh không tì vết nói đĩnh đạc như một chính trị gia: “Với một cuốn sách và một cây viết, một bé gái sẽ làm đổi thay thế giới”.
Hệt như ti tỉ người khác, tôi tan chảy vì Malala bao nhiêu thì căm ghét bè lũ Taliban bấy nhiêu. Sự yêu ghét rõ ràng ấy chỉ bị đập tan tác cho đến khi chính bản thân mình đặt chân đến Pakistan và suốt mấy tuần qua đã kịp ngấm đến tận óc một bức tranh chính trị và tôn giáo vô cùng phức tạp của đất nước này.
Gia đình cưu mang tôi ở Islamabad là một tổ ấm năm người với ông bố giảng dạy tại trường đại học. Tối hôm ấy từ trong phòng mình, tôi nghe thấy cô con gái hai mươi tuổi vừa đi học về khóc nức nở. Cậu em trai đi đón chị từ bến xe trên đường về bị một nhóm cướp chặn đường gí súng vào đầu để trấn lột. Gia đình đã báo cảnh sát nhưng tất cả khẳng định rằng cảnh sát biết rất rõ tụi cướp là ai nhưng sẵn sàng làm ngơ. Bên bàn ăn, đôi mắt cậu bé mới mười bảy tuổi rực lên sự uất ức, căm phẫn và bất lực. Người bố thở dài: “Chính quyền tham nhũng, thối nát. Nếu phải chọn giữa Taliban và cái chính quyền tồi tệ này, tôi chọn Taliban. Ít nhất với Taliban, chúng tôi có thể đòi lại sự công bằng”.
Trong cuộc chiến chống Liên Xô tại Afghanistan, rất nhiều tổ chức chính trị và vũ trang của cả Afghanistan và láng giềng Pakistan được Mỹ hỗ trợ để chống lại kẻ thù chung. Khi Liên Xô và chính quyền bù nhìn thua trận rồi Mỹ buông tay, các nhóm quyền lực này tranh giành đẩy Afghanistan rơi vào cơn loạn lạc. Một trong những nhóm quyền lực này hình thành Taliban (Sinh Viên), bao gồm năm mươi sinh viên người Afghanistan đang tị nạn tại Pakistan với tham vọng thiết lập lại trật tự dựa trên sự nghiêm khắc của tôn giáo. Hành động đầu tiên của họ là giải cứu hai bé gái bị quan chức địa phương gọt đầu hãm hiếp và một bé trai bị đe dọa cưỡng bức. Taliban bắt kẻ có tội đền tội theo luật Hồi giáo và nhận được sự ủng hộ của nhiều dân thường.
Về sau khi đã lan rộng và được nhận dạng là một tổ chức Hồi giáo cực đoan, sự tàn khốc của chính quyền ngắn ngủi lãnh đạo bởi Taliban khiến cả thế giới rùng mình. Cách diễn giải Quran và sunnah (lối sống/lời dạy của Muhammad) từ phía lãnh đạo tôn giáo Taliban hạn hẹp, thiển cận và bạo lực đến mức đàn ông buộc phải để râu, phụ nữ ra đường buộc phải trùm burka kín từ trên xuống dưới và có đàn ông trong nhà đi theo (một cô gái bị bắt quả tang đi cùng đàn ông không phải người nhà bị đánh 100 roi), phụ nữ chỉ có quyền được làm việc trong bệnh viện, điều này khiến hàng trăm trường học phải đóng cửa trong đó có trường của Malala, các cuộc tàn sát và các lệnh cấm ngặt nghèo như không được nghe nhạc, không được vỗ tay trong các trận đấu thể thao trở thành cuộc sống thường nhật.
Tuy nhiên, sau khi bị lật đổ, Taliban đã dần dần thay đổi phương pháp, bất chấp mọi cố gắng của quân đội chính phủ và can thiệp phương Tây, Taliban đang trở thành một lực lượng chính trị không thể bị tiêu diệt mà buộc phải coi như một đối tác trên bàn đàm phán. Tại sao? Vì những câu chuyện như đã xảy ra với gia đình cưu mang tôi ở Pakistan: khi tội ác đã rõ rành rành và quan chức địa phương đứng khoanh tay, Taliban dường như là kẻ cuối cùng có thể đòi lại chân lý, mặc dù việc chọn Taliban đồng nghĩa với lựa chọn một nhà tù. Cuối cùng, trong cơn uất ức, tức nước không vỡ được bờ, khát khao trả thù đã mạnh hơn sự đe dọa mất tự do.
Thêm một lần nữa tôi ngấm bài học: “Trên đời không có kẻ xấu và người tốt, chỉ có kẻ tốt nhiều và tốt ít hơn, hay kẻ xấu nhiều và xấu ít hơn”. Giữa hai kẻ xấu, gia đình Pakistan của tôi trong một phút giây giận dữ thậm chí đã chọn Taliban với tư cách là kẻ xấu ít hơn. Với góc nhìn này, thế giới không có trắng đen, nhất là khi một giáo sư đại học buộc phải cầu mong công lý từ một tổ chức cực đoan và tội ác như Taliban.
Gió to làm tắt ngọn lửa nhỏ và thổi bùng ngọn lửa lớn,
Xin cảm ơn ngọn gió của tôi!.
Nguyễn Phương Mai
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

XXXXXTruyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt

Truyện ngắn Phùng Cung, nhìn từ bản sắc văn hóa Việt Phùng Cung sinh ra ở làng Kim Lân, xã Hồng Châu, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhưng...