Thứ Năm, 18 tháng 9, 2025

Con đường Hồi Giáo 1

Con đường Hồi Giáo 1

Khi đọc cuốn sách này, mình nhớ đến một câu:
“That’s the thing about books. They let you travel without moving your feet.”_ Jhumpa Lahiri
Đọc “Con đường hồi giáo”, mình quả thực đã được phiêu lưu đến các quốc gia Hồi giáo, giữa những tòa nhà nguy nga mọc lên trên sa mạc, đến những vùng đất mà xung đột là chuyện cơm bữa, con người ngày nào cũng sống với sự hoang mang; rồi ngược thời gian hàng ngàn năm để khám phá cội nguồn của tôn giáo. Để nhận ra rằng, hóa ra tôn giáo lại ảnh hưởng nhiều như vậy đến chính trị và số phận của một quốc gia. Một cuốn sách đã thật đã cho cái sự tò mò của một đứa như mình.
Mình tìm đọc “Con đường hồi giáo” sau khi đọc xong Ngàn mặt trời rực rỡ và Người đua diều của tác giả Khaled Hosseini. Những chi tiết tàn khốc của chiến tranh, của nạn phân biệt chủng tộc và trọng nam khinh nữ khiến cho mình cảm thấy mình cảm thấy có nhiều thứ muốn biết quá. Hóa ra trên thế giới này vẫn có một nơi mà phụ nữ đi ra đường phải có đàn ông đi kèm; hóa ra trong khi mình đi học đi làm coi như bình thường thì có những người đến quyền cơ bản đó cũng không.
Hành trình đi qua 13 nước, mỗi nước đều khiến mình hết ồ lại à vì đã quá, là vì một lúc biết được bao nhiêu chuyện hay ho, vì hóa ra có những thứ về vùng đất này trước đây đều là lầm tưởng.
Và đó là một Saudi kiêu kỳ với thánh địa Mecca, thánh địa cho những tín đồ Hồi giáo hành hương về tỏ lòng thành kính; một Saudi không dễ dàng để với tới.
Là Dubai xa hoa giàu có bậc nhất với những “chiếc máy rút vàng tự động” – một đất nước với 95% dân số là người ngoại quốc dẫn đến những người bản địa bối rối vội vã tìm đến chiếc để định hình danh tính cho quốc gia của mình.
Là Oman – quốc gia cả đời mình chưa nghe tên – đất nước đẹp như bước ra từ “truyện cổ tích của Andersen”, nơi “đàn ông có nhiệm vụ đi chợ” với những con người hiếu khách và hào phóng vô cùng.
Một Yemen đất nước đáng thương bao đời vẫn chống chọi với nghèo đói, với những tranh chấp chính trị, nơi trẻ con có thể dễ dàng chôm “khẩu AK của bố để thỏa mãn trí tò mò.”.
Đó là một Li Băng nơi cho ra đời bộ chữ cái nguyên thủy đầu tiên, với bề dày văn hóa Trung Đông nhưng người dân chưa khi nào được thảnh thơi bởi những người đứng đầu đến rồi lại đi, hy vọng rồi thất vọng. Để mà những người dân nơi đây “né tránh cả quá khứ lẫn tương lai”, đôi khi chỉ biết “quên đi để mà sống.”
Mình đã thực sự xúc động khi đọc đến chương về Syria, đất nước vẫn còn đang chìm trong khói lửa chiến tranh. Tuy nhiên giữa cái khói lửa ấy, những người Syria vẫn lạc quan, họ vẫn sống cuộc sống của mình. Vẫn có những “phiên tòa nhân dân” công bằng mà vẫn giữ được tình người. Lời của người cha nơi mà chị Phương Mai ở nhờ ngày hôm đó vẫn khiến tim mình thắt lại: “Cô có thể bảo lãnh cho gia đình tôi sang Hà Lan được không?” Hỏi một người xa lạ câu hỏi này, hẳn ông cũng đã tuyệt vọng lắm với cuộc chiến dai dẳng này.
Và còn nhiều những câu chuyện nữa!
Thông tin được đưa ra trong sách, theo mình là vừa đủ. Vừa đủ để mình lại tiếp tục tò mò, vừa đủ để truyền cảm hứng cho mình để tiếp tục tìm hiểu thêm nữa. Vừa đủ cho một người không có một ý niệm gì về Trung Đông, về Hồi giáo như mình được trải nghiệm. Mình thích cái cách chị tiếp xúc với từng người, từng gia đình địa phương một để trải nghiệm một cách thực tế nhất cuộc sống. Mình cũng thích cách chị đan xen giữa cuộc hành trình của mình những phần chuyên sâu hơn một chút về tôn giáo, chính trị, lịch sử. Không tránh khỏi việc phải tra cứu thêm các thuật ngữ chị đưa vào, nhưng điều này không ảnh hưởng đến trải nghiệm đọc của mình, mà trái lại, càng khiến cho mình có được cảm nhận sâu sắc hơn.
“Trong cuốn sách này tôi xin được nhận là con chim. Hót váng lên một chặp. Có khi chối tai, chẳng giải quyết được việc gì. Nhưng ít nhất nó cũng có cố gắng hoàn thành sứ mệnh của mình. Đã là chim thì phải hót.”
Cảm ơn chị Phương Mai vì đã “hót váng lên”, vì điều đó đã truyền cảm hứng cho em thật nhiều. Sách thì đã gấp lại, nhưng tâm hồn thật sự đã được mở mang lên nhiều phần.
Lời giới thiệu
Bạn đọc thân mến!
Trung Đông và Hồi giáo là những vùng đất và khái niệm không xa lạ gì với người Việt Nam. Tuy nhiên, để thẩm thấu được những diễn biến lịch sử-văn hóa-chính trị phức tạp của nó thì cả thế giới, bao gồm cả giới học thuật, không ai dám đánh cược 100% vào sự hiểu biết của chính mình. Sự mâu thuẫn nội hàm xuất hiện từ trước khi Hồi giáo hình thành, bùng cháy, hoặc âm ỉ qua nhiều thăng trầm lịch sử, và đột ngột trở nên dữ dội từ sau sự kiện Tháp Đôi bị khủng bố Al-Qaeda tấn công năm 2001. Cũng như nhiều đồng nghiệp khác tại châu Âu, tôi bị cuốn vào một trào lưu học thuật sôi động với mục đích tìm kiếm các chân rễ sâu xa của một trong những cuộc xung đột văn minh và tôn giáo được coi là lớn nhất thế kỷ 21: Islam đối chọi với Islamism.
Vậy Islam là gì và Islamism là gì?
Trong quá trình biên tập lại cuốn sách này từ một loạt bài đã đăng trên tạp chí Đẹp và Tia Sáng, vô số lần tôi phải băn khoăn dừng tay gõ máy. Bệnh nghề nghiệp khiến tôi luôn có xu hướng đào sâu lăn xả vào những ngõ ngách tiểu tiết, giải thích cho ra ngọn ra ngành, tỉ dụ như hai thuật ngữ tôi vừa nêu. Tuy nhiên, nhiều lần đã gõ hàng trăm chữ rồi tôi lại hậm hực nhấn nút xóa, đơn giản vì cuốn sách được viết với tư cách một kẻ lăn lê trên đường chứ không phải một cô ả đeo kính nhăm nhăm chỉ chực cắm mũi nhảy vào đống tư liệu. Nhưng rồi những câu chữ xuê xoa lại khiến tôi bực bõ vì vấn đề không được nhìn thấu đáo. Và thế là tôi cứ bị ném qua ném lại như một quả lắc đồng hồ bất đắc dĩ.
Bị ném qua ném lại trầy trụa một hồi thì sách cũng viết xong. Tôi chọn cách làm dâu trăm họ, tức là viết xả dàn, và tranh thủ chèn nén một vài thông tin tham khảo sâu để làm hài lòng những bà mẹ chồng khó tính . Tôi hy vọng thế hệ bạn đọc khá ngoại ngữ liên tục để mở công cụ tìm kiếm google khi đọc sách, bởi sau mỗi thuật ngữ, mỗi lời bình có vẻ bâng quơ, mỗi chi tiết dễ trôi tuột đi là cả một thế giới phức tạp nhưng sống động và biến chuyển hàng giờ, bởi Trung Đông là một thực thể khổng lồ luôn cựa mình quẫy đạp, bởi lịch sử nhiều năm độc tài khiến thông tin không đồng bộ và bị bưng bít, bởi những xung đột và bất đồng chính kiến đã trở thành một phần của các nền văn hóa nơi đây. Bản thân tôi tự biết cuốn sách có thể nhiều sai sót. Hy vọng sẽ chỉnh sửa kịp thời trong những lần tái bản.
Để thuận tiện, tôi cũng xin liệt kê trong phần này một vài quy tắc dùng từ, tên riêng, và thuật ngữ. Nếu bạn là cô em chồng dễ tính, chỉ đơn giản là muốn đọc một cái gì đấy cho khuây khỏa trong lúc chờ làm móng chân, thì xin cứ việc “Bỏ qua!”.
Abaya: Áo choàng rộng, dài tới gót chân trùm ra bên ngoài, hầu hết bằng lụa đen, để lộ khuôn mặt, thường được một số phụ nữ Hồi giáo khoác bên ngoài khi đi ra đường.
Allah: Tiếng Ả Rập chỉ Thượng Đế – Đấng Tối Cao duy nhất trong hệ thống các đạo độc thần (Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Hồi giáo…). Với một số đạo đa thần, Allah cũng chỉ là một vị thần trong vô số các vị thần được thờ phụng. Ví dụ như ở Việt Nam, Allah có thể hiểu là ông Trời.
Bedouin: Nhóm dân Ả Rập sống cuộc đời du mục trên sa mạc.
Burqa: Bộ đồ trùm kín hoàn toàn cơ thể từ gót chân lên đỉnh đầu của một số phụ nữ Hồi giáo, riêng mắt có tấm che bằng vải thưa, thường được mặc ở Afghanistan.
Caliph: Người kế vị thiên sứ Muhammad.
Fatwa: Ý kiến chính thức từ một lãnh đạo tôn giáo có danh tiếng (mufti), thường có sức nặng tương đương luật pháp. Đây được coi như quyền lực tôn giáo thứ tư, sau Kinh Quran, hadith của Muhammad, và sự đồng thuận đã có từ trước. Vì fatwa dựa trên sự hiểu biết của cá nhân nên cùng một vấn đề mỗi mufti lại có những fatwa khác nhau, từ những vấn đề phức tạp và nghiêm trọng như lời kêu gọi giết tác giả “Những vần thơ của quỷ satan” từ giáo chủ Iran Khomeini, hay những chuyện tưởng chừng rất đơn giản như fatwa khẳng định Coca Cola và Pepsi không có chất kích thích và tín đồ Ai Cập hoàn toàn có thể uống mà không sợ phạm luật Hồi giáo.
Hadith: Những câu chuyện, lời nói, lối cư xử của Muhammad, được truyền tai từ người này sang người khác và chỉ được ghi lại sau khi Muhammad đã chết được chừng hai thế kỷ. Tuy nhiên, đây lại được coi là kim chỉ nam cho Hồi giáo, quyền lực vô cùng mạnh mẽ chỉ đứng sau Kinh Quran. Các học giả Hồi giáo đều cho rằng có quá nhiều hadith giả mạo, được hình thành để củng cố địa vị của giai cấp thống trị, hoặc để phục vụ cho các mục đích cá nhân giả danh tôn giáo. Ví dụ hadith “Muhammad cho rằng ăn bánh quy bột sẽ làm đàn ông khỏe hơn” được phát tán từ một ông chủ làm bánh quy bột. Tác giả của tuyển tập hadith nổi tiếng nhất Al-Bukhari chọn ra được xấp xỉ 7000 hadith từ hơn 300.000 hadith được lưu truyền, tức là xác suất sai cũng khá lớn và không ai có thể dám chắc những hadith mà Al-Bukhari chọn là những hadith thực sự. Mỗi tuyển tập hadith lại có một số lượng khác nhau. Mỗi hadith lại được đánh giá với ba chỉ số tin cậy cao thấp: “nguyên bản” (sahih); “tốt” (hasan); hay “kém” (daif). Mỗi trường phái Hồi giáo lại có những cách đánh giá hadith ở mức độ tin cậy khác nhau, với những quan điểm khác nhau, chấp nhận những hadith khác nhau với nội dung thậm chí trái ngược nhau. Chính vì vậy, nhiều học giả Hồi giáo ủng hộ quan điểm chỉ dựa vào Kinh Quran và loại bỏ hoàn toàn hoặc một phần quyền lực của hadith (Quranism).
Hijab: Khăn choàng chỉ che mái tóc, thường có nhiều màu sắc sặc sỡ, được dùng bởi đa số các phụ nữ Hồi giáo.
Imam: Người hướng dẫn cầu nguyện, cũng thường đóng vai trò là người hướng đạo, hoặc là người lãnh đạo tôn giáo, nhất là dòng Hồi Shia.
Islam: Nghĩa là “Người vâng mệnh”, là tôn giáo độc thần dòng Abrahamic, cùng nguồn gốc với Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo. Người Trung Quốc khi nhìn thấy những người Hồi Hột theo tôn giáo “lạ” nên dùng tên của dân Hồi Hột để chỉ Islam. Người Việt tiếp nhận phiên âm tiếng Trung nên gọi là Hồi giáo.
Islamism: Chủ nghĩa Hồi giáo, chủ trương dùng Islam làm kim chỉ nam cho toàn bộ đời sống văn hóa và chính trị của xã hội. Thuật ngữ này hiện nay thường được dùng theo nghĩa khá tiêu cực, chỉ các tổ chức và phong trào chính trị Hồi giáo cực đoan để đối lập với các phong trào trung dung (moderate). Tuy nhiên, phần lớn tín đồ Hồi giáo không phân biệt được sự khác nhau giữa Islam và Islamism. Từ kinh nghiệm cá nhân, xin hết sức lưu ý khi dùng thuật ngữ này để tranh luận với các tín đồ Hồi vì sự nhạy cảm tôn giáo và bản năng tự vệ tôn giáo.
Islamist: Người theo chủ nghĩa Hồi giáo.
Jihad: “Chiến đấu” vì Thượng Đế. Từ này có hai nghĩa, cuộc chiến trong tâm khảm và cuộc chiến vũ lực, hiện nay thường được dùng với nghĩa cuộc chiến vũ lực. Các “chiến binh của Thượng Đế” gọi là jihadist.
Kaaba: Nghĩa là “khối vuông”, trước khi Hồi giáo ra đời, bán đảo Ả Rập có rất nhiều kaaba là nơi thờ cúng các thánh thần. Sau khi Hồi giáo thành hình, các tượng thánh thần bị dẹp bỏ, đa thần giáo biến thành độc thần giáo, thờ một Thượng Đế. Chỉ một kaaba duy nhất được giữ lại tại Mecca, và tín đồ Hồi coi đây là trung tâm của thế giới.
Muslim: Tín đồ Hồi giáo, có thể là Islamist hoặc không.
Niqab: Bộ đồ trùm kín cơ thể chỉ để hở hai mắt, thường màu đen, xuất xứ từ bán đảo Ả Rập, một số học giả cho là một sản phẩm của Hồi giáo cận đại.
Quran: Tập hợp những mặc khải rải rác mà Thượng Đế gửi đến loài người thông qua thiên sứ Muhammad trong khoảng thời gian hai mươi ba năm.
Salafi: Các tín đồ Hồi giáo bảo thủ ở thế kỷ 20-21 nhưng rập khuôn theo cách sống của thiên sứ Muhammad và tổ tiên ba đời đầu của Islam ở thế kỷ thứ 7 vì họ cho rằng chỉ có Hồi giáo ở thời kỳ này là còn tinh khiết. Một số tín đồ salafi không những rập khuôn về tư tưởng mà còn về cách sinh hoạt với nhiều cấp độ, từ việc để râu, xỉa răng, mặc quần áo, đi chân nào vào nhà vệ sinh trước, đến việc nhai bằng hàm bên phải, không ăn dưa hấu (!)…
Shariah: Luật Hồi giáo được con người xây dựng dựa trên nguồn pháp lý tối cao là Kinh Quran và bên cạnh đó là các lời dạy cũng như cách sống của thiên sứ Muhammad (Hadith). Ngoài những điểm đặc biệt tiến bộ và nổi trội so với các bộ luật và tôn giáo cùng thời điểm lịch sử (ví dụ như quyền phụ nữ), Shariah cần được hiểu là một bộ luật được xây dựng trên bối cảnh xã hội bộ lạc Ả Rập từ hơn 1000 năm trước với những quy tắc ứng xử và khung hình phạt khắc nghiệt, khá tiêu biểu cho thời kỳ này (ví dụ như ăn trộm sẽ bị chặt tay). Ngoài ra, Shariah còn có những chế tài chỉ dựa vào hadith (không đáng tin cậy 100%) mà không hề có cơ sở trong Kinh Quran (ví dụ như tội thông dâm sẽ bị ném đá đến chết). Chính vì thế phong trào Hồi giáo cực đoan và Islamism với tư tưởng hồi phục và thực thi Shariah gây phẫn nộ cho châu Âu và nhiều nước trên thế giới khi một bộ luật từ hơn 1000 năm trước được áp dụng cho thế kỷ 21. Để dễ liên tưởng, bạn có thể tưởng tượng hình phạt “gọt đầu bôi vôi, thả bè trôi sông” cho tội gian dâm ở Việt Nam thời xưa được áp dụng vào xã hội hiện nay.
Shia: Một nhánh chính của Islam chỉ những tín đồ Hồi giáo ủng hộ Ali – con rể và con nuôi của thiên sứ Muhammad. Một số tài liệu tiếng Anh dùng Shiites.
Sunnah: Lối sống và cách suy nghĩ của thiên sứ Muhammad.
Sunni: Một nhánh chính của Islam noi gương theo lối sống (sunnah) của Muhammad, hiện nay gồm đại đa số người Hồi trên toàn thế giới, xấp xỉ 90%.
Thiên Chúa giáo: Là hệ thống đạo độc thần tin vào một đấng Thượng Đế tối cao duy nhất (Do Thái, Ki-tô, Hồi giáo…). Tuy nhiên, để thuận theo cách dùng của số đông người Việt, trong sách này “Thiên Chúa giáo” mang nghĩa là Ki-tô giáo (phiên âm tiếng Hy Lạp) hay còn gọi là Cơ Đốc giáo (phiên âm tiếng Hán).
Thiên sứ: Các sứ giả của Thượng Đế, được Thượng Đế mặc khải và có nghĩa vụ chuyển mặc khải đó đến cho loài người. Tùy theo trường phái tôn giáo mà số lượng các thiên sứ từ vị đầu tiên là ông tổ Adam thay đổi, thậm chí một vài trường phái độc thần tin rằng đức Phật, hay Khổng Tử cũng là thiên sứ. Người Hồi tin rằng Muhammad là vị thiên sứ cuối cùng. Người Thiên Chúa giáo tin Jesus là con của Thượng Đế trong khi người Hồi cho rằng Jesus cũng chỉ là một vị thiên sứ người trần mắt thịt đến trước Muhammad mà thôi.
Umma/Ummah: Nghĩa nguyên bản là “cộng đồng đa tôn giáo”, nghĩa thường được hiểu hiện nay gói gọn trong “cộng đồng các tín đồ Hồi giáo trên toàn thế giới”.
Wahhabi/Wahhabism: Một nhánh tư tưởng bảo thủ và cực đoan trong việc diễn giải Islam dựa trên các học thuyết của người sáng lập Muhammad Abd-al-Wahhab đến từ một bộ lạc trên bán đảo Ả Rập.
Zakat: Một phần tài sản các tín đồ Hồi giáo có nghĩa vụ đem làm từ thiện. Đây là một trong năm điều răn chính của Islam.
Hầu hết các thuật ngữ được dùng phiên âm gốc từ tiếng Ả Rập. Tuy nhiên, một số tên riêng đã quen thuộc sẽ được giữ nguyên phiên âm từ tiếng Anh, ví dụ Mecca chứ không phải Makkah, Cairo chứ không phải Qahirah.
Tên của một số nhân vật trong sách đã được thay đổi. Nguyên nhân chủ yếu là do một số phụ nữ Hồi giáo không cảm thấy thoải mái khi cuộc sống riêng với bạn bè và gia đình bị đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng. Vài bạn gái của tôi sau khi chụp ảnh chung yêu đã cầu tôi xóa hoặc hứa sẽ không đưa lên facebook và internet.
Lược đồ tôn giáo
Các tôn giáo trên thế giới theo ba nhóm chính: Đa thần giáo (thờ nhiều thần), Nhân thánh giáo (thờ người trần mắt thịt), và Độc thần giáo (thờ một Thượng Đế duy nhất). Ba vòng tròn trùm lên nhau vì có nhiều tôn giáo vượt biên giới nhóm, tỉ dụ như Cao Đài giáo (Việt Nam) vừa là độc thần vừa là nhân thánh giáo. Hindu giáo (Ấn Độ) thậm chí có thể thuộc về cả ba nhóm phân loại.
Chương 1 - Khởi đầu gian nan
– Trung Đông?
– Ờ…vâng! Trung Đông!
Rảnh rỗi sinh nông nổi
Sếp tôi là một anh trung niên hói đầu. Những gã tóc vàng hói đầu thường rất khó che giấu cảm xúc. Thứ nhất là lông mày không có tóc mái che đậy nên vui buồn gì cũng để lồ lộ ra. Mấy ông cảnh sát không phải vô căn cứ mà được đì-zai toàn kiểu mũ che sụp trùm kín lông mày để tạo cảm giác công tư phân minh của các nhà chức trách. Thứ hai là làn da đầu mong manh dễ tổn thương của mấy gã tóc vàng cứ hễ cảm xúc động đậy là lập tức đổi màu. Như bây giờ đây, sếp giương lông mày nhìn tôi, mấy sợi tóc tơ trên chỏm da hồng lựng dựng đứng lên như một khóm ăng ten.
Rồi sếp băn khoăn nguệch bút vào giấy xin nghỉ không lương của tôi, nghỉ hẳn gần một năm. Lúc tiễn tôi ra cửa, không kìm được, sếp phọt ra một câu: “Tôi vừa ghen tị vừa lo lắng cho cô. Come back in one piece please!” (Trở về nguyên xi một mảnh, đừng có sứt mẻ gì nhé!)
Cái mẩu nhắn nhủ cuối cùng của sếp tôi đã phải nghe đi nghe lại suốt gần tám tháng qua, kể từ cái buổi sáng thứ hai hồi đầu năm 2011 khi tôi bất thần tỉnh dậy và nảy ra ý định nghỉ việc lần thứ hai để đi bụi. Lục bản đồ dù thấy ôi là mênh mang Đông Âu và Trung Đông chưa đặt chân đến, nhưng chỉ có miền đất nối hai cực Á Âu tức khắc hấp dẫn tôi như một cục nam châm. Tôi lập tức tưởng tượng ngay đến một chuyến hành trình đi xuyên qua lịch sử đạo Hồi. Trùm chăn kín đầu, tôi hí hửng với cái ý tưởng mới đẻ của mình, trí óc mơ màng nghĩ đến một dự án mới toanh, tạm gọi là Con đường Hồi giáo. Con đường ấy xuất phát ở thánh địa Mecca 1400 năm trước, sau đó tỏa ra hai hướng, hướng Tây vượt qua Bắc Phi tràn đến châu Âu, hướng Đông thọc sâu xuyên qua Ấn Độ đến tận Indonesia. Các chiến binh Hồi giáo chiếm được thành phố nào thì tôi sẽ đến đúng thành phố ấy. Chưa ai từng đi con đường này. Tôi là người đầu tiên. Tôi là người khai phá. Cái ý nghĩ ấy khiến tôi hào hứng và phấn khích tột độ. Vào cái buổi sáng thứ Hai đầu tháng Ba ấy, tôi đến giảng đường với cái miệng ngoác ra đến tận mang tai. Bọn sinh viên ngửi thấy mùi dễ dãi của cô giáo thi nhau tận dụng cơ hội xin gia hạn nộp bài. Cuối buổi học, một cậu sinh viên người Iraq tình nguyện làm gia sư tiếng Ả Rập cho tôi. Nếu không vì cái vụ công tư phải phân minh thì tôi đã gật đầu cái rụp.
Cuộc sống của tôi những tháng sau đó bận rộn hơn bội phần. Chuyến đi bụi lần trước cả năm chỉ mất có vài tuần chuẩn bị, chuyến này đổ bao nhiêu công sức vẫn thấy không đầy. Trong số gần 500 email tôi gửi đi đến các đại sứ quán, trường đại học, các nhân vật có ảnh hưởng, các cơ quan báo chí, các quan chức, các nhà văn, các nhà hoạt động nhân quyền hay các nhà lãnh đạo tôn giáo, phần lớn không ai trả lời. Tôi phát hiện ra hầu hết các cơ quan chức năng chẳng mấy khi check email. Tôi thường phải gửi thư theo đường bưu điện, phải tìm mọi cách quen vòng quen vèo mới có được vài dòng trả lời. Niềm hào hứng của tôi lên xuống với biên độ cao, hoặc là được ủng hộ nhiệt thành, hết lời ca ngợi đến chạm trần, hoặc là bị đì cho bẹp gí xuống tận nền nhà. Rất nhiều người nghĩ tôi điên rồ. Có ai thời buổi này con gái một mình lại đi lang thang ở cái xứ mà nếu cứ nghe theo đài báo loan tin thì tiếng súng nhiều hơn tiếng cười đùa, cái xứ mà trên ti vi hễ có tin thì chỉ là tin khủng bố, cái xứ mà đàn bà nghe đâu phải đi năm bước sau đàn ông và trùm khăn kín mặt, cái xứ mà hình như một giọt rượu bia cũng đủ để bỏ tù một con người và cách đây không bao lâu nghe nói đến âm nhạc cũng bị cấm. Một người quen khuyên tôi nên viết di chúc sớm. Một ông giáo sư người Anh thậm chí còn nửa đùa nửa thật khuyên tôi nên ở nhà đọc sách và làm đúng phận sự của một giảng viên đại học hơn là lang thang tự biến mình thành sinh viên trường đời.
Ai từng học báo chí hoặc ngành giao tiếp hẳn biết những hình thức truyền thông cổ điển nhất ra đời để đáp ứng một nhu cầu rất bản năng của con người: nhu cầu muốn được cập nhật thông tin càng sớm càng tốt, nhất là tin dữ, để đề phòng và bảo vệ cho gia đình và bản thân. Trong bộ óc của con người có một bộ phận tên là amygdala dùng để sàng lọc hàng ti tỉ các thông tin hằng ngày và chỉ giữ lại các thông tin nguy hiểm. Trải qua hàng bao nhiêu kỷ tiến hóa, bộ phận này trở nên nhạy cảm khủng khiếp, nghe thấy tiếng lá cây xào xạc thì bộ óc sẽ dịch là “có thú dữ” chứ không phải “gió mát ghê, nghỉ lưng tí đã”. Tất nhiên là 99 trên 100 trường hợp amygdala báo tín hiệu sai, nhưng chỉ cần một trường hợp đúng là đã quá đủ vì sinh mạng của chúng ta đã được cứu thoát. Thế cho nên thà giật mình thon thót cả ngày rốt cuộc vẫn là giải pháp an toàn nhất.

Ngoài những cuốn sách mượn được từ hệ thống thư viện, tôi thường được bạn bè gửi cho nhiều tài liệu thẳng từ Trung Đông. Bản báo cáo tôn giáo của đạo Bahai (được coi là tà giáo ở Iran) chụp ba bức ảnh, phía dưới là lăng mộ của thiên sứ sáng lập đạo Baha-ulla, phía trên là hình ảnh lăng mộ được báo chí của Iran minh họa với lửa địa ngục và bên cạnh là tín đồ đạo Bahai trong hình hài quỷ Satăng. Đây là một trong muôn vàn ví dụ khiến tôi phải chuẩn bị tinh thần để hiểu rằng Trung Đông là trận địa của các chiến dịch tuyên truyền và tẩy não.
Tương tự trong thời đại của chúng ta hiện nay, một vụ cướp ở đâu đó sẽ nhanh chóng có khả năng được hiểu là “dân tình ở đó bạo lực ghê, thôi không đi nghỉ hè ở đó nữa, sợ lắm”. Chính vì cái bộ phận amygdala này mà 90% nội dung báo chí toàn là tin không vui, vì trớ trêu thay đó mới là điều mà cơ thể và bản năng sinh tồn của chúng ta thực sự quan tâm. Tin bài người tốt việc tốt sẽ ít được bạn đọc để ý hơn tin bài về người xấu việc xấu. Cả thế gian có vô số cô nàng hát hay, cái đó chưa chắc chúng ta đã muốn biết, nhưng khi cô ấy hở một tí da thịt hoặc phát ngôn một câu chướng tai thì lập tức cái amygdala nó sẽ nảy tưng tưng lên, gào thét kêu gọi chúng ta đề phòng, hoặc mạnh mẽ hơn nữa là sẵn sàng đứng lên làm chiến sĩ bảo vệ hệ thống đạo đức xã hội để cho con cháu chúng ta có thể thoát khỏi vòng hư hỏng.
Trong một buổi party ngay trước khi tôi lên đường, một cô bạn băn khoăn hỏi tại sao tôi lại muốn dành gần hai năm cuộc đời vất vưởng ở một nơi mà bản tin về cuộc sống ở đó nghe giống một bản tin chiến sự hơn bản tin thời sự. Tôi chỉ sang phía bên kia đường nơi hè phố sáng lòe ánh đèn đỏ và những cô gái bán hoa mặc đồ chíp uốn éo sau cửa kính: “Tội ác trong khu Red Light District ngày nào cũng có. Nếu một người chẳng biết gì về Hà Lan, chưa bao giờ đặt chân đến Hà Lan, đọc báo chỉ thấy các câu chuyện thương tâm ở quận Đèn Đỏ Amsterdam thì chắc chắn họ sẽ nghĩ Hà Lan chỉ đơn giản là một ổ gái điếm và nghiện chích. Chấm hết. Quận Đèn Đỏ tệ nạn. Điều đó có thể đúng. Vấn đề là cách đó không đầy mười bước chân chúng ta đang có một party gồm toàn những trí thức trung lưu của Amsterdam. Trung Đông cũng vậy. Chúng ta chỉ biết về quận Đèn Đỏ ở Trung Đông mà không biết về các party của Trung Đông. Một nhà báo bất thần buổi sáng thức dậy thấy mình ở Trung Đông sẽ hỏi: Đêm qua có nổi dậy không? Có đánh bom cảm tử không? Có ai lật đổ chính quyền không? Có ai bị ném đá hay treo cổ không? Không có à? CHÁN NHỈ!” Báo chí ở đâu cũng bị lên án quá nhiều sến sốc sex là vì sao? Vì chúng ta muốn thế!
Trước hôm lên đường hai tuần, Shree, một đồng nghiệp gửi tặng tôi một bộ áo choàng đen và khăn đen trùm đầu niqab. Tôi mặc thử, soi vào gương và hết hồn khi nhìn thấy bản thân. Bọn bạn trên skype hú lên kinh hoàng khi tôi tiếp chuyện chúng nó chỉ lộ hai con mắt. Nhân dịp sang thăm Ngọc, con bạn nối khố ở Thụy Sĩ để chào nó trước khi biệt tăm cả năm, tôi vận nguyên xi bộ đồ niqab tiến thẳng vào trung tâm mua bán Luzern, tim đập thùm thụp cầu trời cho cảnh sát không tóm cổ vì niqab che kín mặt đã bị cấm hoàn toàn. Chưa bao giờ cuộc sống quanh tôi thay đổi khủng khiếp đến thế. Những ánh mắt nghi kỵ, những cái nhíu mày giận dữ, những cái ngoái cổ kinh hoàng. Một nhóm phụ nữ luống tuổi cố tình đi đâm sầm vào tôi từ phía sau. Một người đàn ông dắt chó quát vào mặt tôi cáu kỉnh. Một bà mẹ kéo xệch con gái mình tránh xa khỏi tôi như một con bệnh hủi. Lang thang gần hai tiếng quanh Luzern, khi tôi đã quên phéng mình đang trùm khăn kín mặt thì những ánh mắt kỳ thị luôn làm tôi phải nhớ rằng mình là kẻ dị dạng.
Ánh mắt kinh ngạc của một cô gái qua đường khi tôi mặc niqab trên đường phố Luzern, Thụy Sĩ.
Tôi viết thư cho Shree, kể cho anh nghe về món quà anh tặng. Shree người Ấn Độ, thuộc tầng lớp Bà la môn cao quý nhất trong bốn bậc thang địa vị xã hội của người Hindu. Anh nói chiếc niqab này anh mua cỡ XL là để tự bản thân mặc và trải nghiệm cảm giác của một người phụ nữ đạo Hồi cách biệt hoàn toàn với xã hội bên ngoài. Biết tôi chuẩn bị cho dự án Con đường Hồi giáo và đất nước đầu tiên tôi phải đặt chân đến là Ả Rập Saudi, anh tặng nó cho tôi. Khi mở ra, chiếc áo còn thơm mùi hương trầm Ấn Độ.
Vạn sự khởi đầu nan
Vấn đề là cái đất nước đầu tiên trong cuộc hành trình này, cho đến giờ tôi vẫn hoàn toàn chưa xin được visa. Tôi không thể đổi thay lịch sử. Hồi giáo khởi phát từ thánh địa Mecca thuộc địa phận Saudi, và con đường Hồi giáo của tôi phải được bắt đầu từ Saudi.
Tám tháng trước khi lên đường, công cuộc xin visa Saudi của tôi bắt đầu. Saudi không xuất thị thực cho khách du lịch. Đất nước đóng cửa hoàn toàn. Chỉ có hai nhóm người chủ yếu có thể nhập cảnh Saudi: công việc và tín đồ hành hương. Toàn bộ hai thành phố Mecca và Medina thậm chí chỉ dành cho người Hồi giáo. Trên đường cao tốc tới địa phận hai thành phố này có đặt những tấm biển báo lớn “Muslims only”. Một người bạn của tôi bông đùa bảo cách duy nhất để tôi có thể vào Mecca là kết bạn với một trong những công chúa hoàng tử của vua Saudi và trốn trong cốp xe Mercedes của họ.
Hàng chục email gửi đến Đại sứ quán Saudi không tăm hơi, hàng chục cú điện thoại không người trả lời, quay trở về Hà Lan sau kỳ nghỉ hè, tôi gõ cửa đại sứ quán. Tiếp đón tôi rất vui vẻ là một nhân viên của Đại sứ. Ông yêu cầu tôi về chuẩn bị một bản tường trình rõ ràng mục đích của việc xin visa. Tôi hoàn thành trong một ngày, hớn hở vì nhận được một cuộc hẹn với thư ký thứ nhất của Đại sứ quán. Cuộc gặp rất vui vẻ trơn tru và tôi được yêu cầu viết thêm nhiều bản tường trình khác. Tập hồ sơ tôi gửi đến đại sứ dày gần năm chục trang với đầy đủ tên họ, địa chỉ, nơi chốn của những người tôi muốn gặp, những nơi tôi muốn đến thăm. Ông thư ký tiếp nhận hồ sơ rất lịch sự, bảo rằng, cô cứ chờ khoảng hai tháng nữa, có-khi-may-ra-thì-được.
Và trong khi chờ thì tôi gặp George.
George là người Đức, tóc vàng mắt xanh, nhưng cải đạo sang Hồi giáo từ khi anh mới hơn 20 tuổi và sang Saudi làm việc. Tôi ghét George từ cái nhìn đầu tiên. Anh phá lên cười sằng sặc khi biết về dự án của tôi. Rồi anh bảo: “Cô em ơi! Làm sao mà cô lại mơ đặt được chân vào Saudi? Cô vẫn còn ở tuổi sinh đẻ mà!”
Tôi đờ người vì ngạc nhiên. Gì? George hí hửng tiếp: “Phụ nữ ở Saudi không được phép lái xe, đi khám bệnh phải được đàn ông trong nhà cho phép, ra ngoài đường phải có đàn ông đi cùng. Cô em đặt chân đến sân bay mà không có người ra đón thì có visa cũng đừng hòng được nhập cảnh. Với lại, nói thêm cho cô em biết, người châu Á ở Saudi rất bị coi thường vì toàn là dân lao động làm thuê. Đàn bà châu Á thì bị coi như là con điếm cả lượt mà thôi! Hỏi tò mò chút, cô em thừa tiền hay sao mà lại đi vác tù và hàng tổng thế này?”
Tôi chưa bao giờ ghét ai lâu như George. Ghét hẳn mấy tiếng liền cho đến tận lúc chào ra về sau cả một buổi tối cố sức khiến cho một kẻ thiển cận như George hiểu rằng trên đời có những chuyến đi hoàn toàn không vụ lợi cá nhân. Một thương nhân tầm thường như George không thể tiêu thụ được cái sự thật là một cô gái Việt Nam (rất không liên quan!) đã lao động cực nhọc suốt gần một năm qua, không mua một xu quần áo mới, trở thành một kẻ bủn xỉn vắt cổ chày ra nước để dành tiền cho một chuyến đi nhiều hiểm nguy hơn vui thú, một chuyến đi không hề liên quan gì đến niềm tin tôn giáo của cá nhân cô ấy, cũng không phải do sự đồng thuận văn hóa, hoặc thậm chí cũng chẳng phải là đòi hỏi công việc. Một chuyến đi chỉ đơn thuần với một mục đích để hiểu biết, và nếu gặp kẻ cùng kênh thì chia sẻ sự hiểu biết ấy đến mọi người. Đơn giản bởi cô ấy tin rằng Trung Đông không chỉ có thuốc súng mà còn có phấn hoa, không chỉ có chiến trận mà còn có dạ vũ hoan ca.
Hợp đồng thuê nhà ở Amsterdam của tôi hết hạn trước khi tôi kịp nhận thêm bất kể thông tin gì từ Đại sứ quán Saudi. Tôi quyết định rời Hà Lan, và trong khi chờ đợi thì lang thang ở Ấn Độ nơi cuộc sống tôn giáo và tâm linh có lẽ đậm đặc nhất trong tất cả những vùng đất tôi từng đặt chân qua. Vả lại, cuộc sống rẻ mạt ở những ngôi làng nhỏ quanh Mumbai tiết kiệm cho tôi khá nhiều tiền thay vì phải trả khoản thuê nhà cắt cổ ở Amsterdam. Thêm nữa là Mumbai cách Jeddah chỉ một chuyến bay thẳng.
Có hôm vào facebook, tôi thấy George check-in một shop đồ hiệu nổi tiếng của Amsterdam. Tôi biết anh ta đang lùng mua một bộ khuy cài cổ tay áo trị giá gần bằng cả năm tôi làm việc. Chỉ một cái cúc trong bộ khuy ấy thôi là đủ để hất đi gánh nặng tiền nong trên vai tôi cho ngân sách cả một nửa dự án vẫn còn trống hoác và một vài đồ tác nghiệp chưa tìm được người tài trợ. Nhưng tôi không ghét George nữa, chỉ thấy thương hại cho một thương gia tầm thường với tiểu xảo cải đạo nhỏ mọn để được chấp nhận và có thể chiếm dụng lòng tin dễ dàng trong xã hội Trung Đông nơi niềm tin tôn giáo còn thiêng liêng hơn cả tình máu mủ.
Bởi tôi biết còn có rất nhiều điều thiêng liêng hơn niềm tin tôn giáo, ấy là niềm tin vào sự ràng buộc cội rễ của giống loài; vào sự giống nhau giữa người với người hơn là sự khác biệt về đức tin; vào lòng tốt; vào sự đồng cảm và hướng thiện.
Tôi tin là một khi đặt chân đến Trung Đông, với trái tim này mở toang không che giấu, những người Hồi rồi cũng sẽ mở lòng với tôi – một cô gái Việt Nam vô thần.
Chương 2 - Saudi: Trung Đông cấm cung
Vào năm 570 sau Công Nguyên, ở miền tây bán đảo Ả Rập (Saudi ngày nay), một cậu bé tên là Muhammad chào đời. Cậu không may mồ côi cha mẹ từ nhỏ và được một ông bác nuôi nấng. Năm 25 tuổi, Muhammad và bà chủ giàu có của chàng phải lòng nhau. Bà chủ động cầu hôn. Họ nên duyên và sống hạnh phúc trong suốt hai mươi nhăm năm cho đến khi Khadijah qua đời ở tuổi 65. Làm thử một phép tính nhẩm, bạn sẽ thấy Muhammad 25 xuân xanh cưới Khadijah khi bà đã 40 tuổi, góa chồng với ba cô con gái từ cuộc hôn nhân trước.
Từ đa thần thành độc thần
Ngày ấy, bán đảo Ả Rập nằm kẹp giữa hai vùng lãnh thổ lớn mạnh và luôn kình địch nhau là đế chế La Mã theo Thiên Chúa giáo ở bên trái và đế chế Ba Tư theo giáo phái Zoroastrianism (Bái hỏa giáo) ở bên phải. Cả hai giáo phái này đều là dòng tôn giáo độc thần, thờ một đấng Thượng Đế tối cao duy nhất, tiếng Latin gọi là Deus, tiếng Avestan thời cổ Ba Tư gọi là Ahura Mazda.
Lọt thỏm giữa hai người hùng của thế giới là nơi sinh sống của hàng trăm bộ lạc Ả Rập lớn nhỏ. Một chút tương tự như cuộc sống tôn giáo ở Việt Nam và châu Á, họ đi theo nhiều tín ngưỡng khác nhau (paganism), thờ nhiều linh tượng và thần thánh khác nhau (idolatry), trong đó có một vị thần tôn quý, tiếng Ả Rập phát âm là Allah, cùng nguồn gốc với tiếng Hebrew của Do Thái giáo chỉ Thượng Đế (Elohim), hay tiếng Sankrit của Hindu giáo Ấn Độ (Allah/ Hubal – Thần Mặt Trăng). Như một viên xúc xắc với nhiều mặt khác nhau, Thượng Đế với những tên gọi khác nhau được tôn thờ song song bên cạnh những thần thánh khác. Nơi thờ cúng thường là những khối đá vuông to lớn (kaaba) với hàng trăm bức linh tượng lớn nhỏ của nhiều bộ lạc xếp san sát kề vai thích cánh. Khắp vùng bán đảo Ả Rập có rất nhiều kaaba như vậy cho người dân của tất cả các đạo cùng thờ cúng. Thành Mecca cũng có một kaaba, với 360 linh tượng, mỗi năm thu hút cơ man là người hành hương từ vô số các bộ lạc xung quanh. Bất kể tôn giáo nào, khi đến một kaaba, các tín đồ đều đi vòng quanh khối đá thiêng này bảy vòng. Họ đặt đồ thờ cúng, cầu nguyện và nghỉ lại Mecca, biến nơi đây trở thành một trong những trung tâm tôn giáo lớn và người Mecca kiếm bộn tiền từ túi khách hành hương tứ xứ.
Hẳn nhiên, là một người ngoan đạo, Muhammad chắc chắn cũng từng thờ cúng Thượng Đế cạnh những linh tượng như thế trong suốt hơn ba chục năm đầu của cuộc đời mình, cho đến một hôm, khi đang cầu nguyện và ngồi thiền tại một cái hang đá nhỏ tên là Hiraa, chàng Muhammad trẻ tuổi bỗng bị một vòng hào quang rực rỡ quấn thắt lấy người. Thiên thần Gabriel của đạo Thiên Chúa hiện ra, ra lệnh cho chàng chép lại lời truyền của Người. Và thế là một Muhammad không biết chữ nhưng dưới quyền năng của Đấng Tối Cao, những dòng đầu tiên của kinh thánh được viết ra. “Iqra” tiếng Ả Rập có nghĩa là chép lại, theo biến đổi của luật phát âm mà từ đó mà kinh thánh của đạo Hồi có tên là Quran.
Khadijah không những là người phụ nữ Hồi giáo đầu tiên trên thế giới mà còn là người đầu tiên dang tay che chở cho một Muhammad run rẩy trở về từ hang đá Hiraa, quá sợ hãi vì quyền năng và yêu cầu lớn lao của Thượng Đế đến mức chàng trai trẻ muốn nhảy xuống lũng sâu mà tự tử. Bà an ủi, động viên. Bà dịu dàng và mạnh mẽ, nói rằng hẳn nhiên là Thượng Đế thực sự đã ban cho người chồng yêu thương của mình một sứ mệnh thiêng liêng. Sứ mệnh ấy là lắng nghe và ghi lại lời của Người bằng một ngôn ngữ mới không tì vết.
Từ bao nhiêu ngàn năm nay, những truyền dạy của Thượng Đế đã được các thiên sứ (messenger) khác nhau như Moses, David và Jesus đưa xuống cho loài người qua Kinh Cựu Ước và Tân Ước của Do Thái giáo và Thiên Chúa giáo, nhưng do chuyển dịch ngôn ngữ, do con người còn nhiều sân si, những lời răn ấy đã bị đổi thay không còn trong sạch như nguyên bản. Lần này là lần cuối cùng Thượng Đế dạy dỗ chúng sinh, và cũng là lần cuối cùng một thiên sứ được phép đem lời Người đến cho muôn dân. Sau Muhammad sẽ không còn một thiên sứ nào tái xuất nữa. Kinh Quran sẽ là cuốn kinh thánh cuối cùng đầy đủ nhất, nguyên vẹn nhất. Nó cũng sẽ chỉ có ý nghĩa và quyền năng khi được đọc hiểu theo một thứ tiếng duy nhất: tiếng Ả Rập. Chính vì thế, các tín đồ Hồi giáo dù bất kể quốc tịch nào, khi cầu nguyện cũng đều dùng tiếng Ả Rập.
Khadijah có lẽ là người vợ yêu quý nhất, được tôn vinh và trân trọng nhất trong cuộc đời của Muhammad. Tiếc rằng bà đã không thể sống lâu để thể thấy chồng mình làm nên một điều kỳ diệu, thống nhất các bộ lạc vùng bán đảo Ả Rập dưới một tôn giáo mới tên là Islam (người tuân lệnh). Tôn giáo ấy nhanh chóng tràn ngập vùng Trung Đông, cải đạo cả đế chế Ba Tư hùng mạnh và đẩy lui siêu đế chế La Mã về phía châu Âu. Trong vòng sáu thế kỷ, Hồi giáo tỏa ra khắp ba châu lục, đạt đến đỉnh điểm của văn minh và kỹ nghệ vào thế kỷ 13 trong khi châu Âu còn vùi trong mông muội của đêm trường Trung Cổ. Ngày nay, Hồi giáo có số tín đồ lớn thứ hai thế giới (21%), chỉ sau Thiên Chúa giáo (33%).
Trái tim tôn giáo bị đánh cắp
Mecca giờ thuộc địa phận Saudi. Như vậy đương nhiên đây là nơi tôi phải bắt đầu con đường Hồi Giáo của mình. Giữa lúc cuộc trường chinh săn đuổi visa của tôi ngày càng tuyệt vọng thì một cô bạn người Hồi với dụng ý tốt đẹp đã hướng dẫn tôi tìm hiểu về Mecca qua internet. Nguyên văn lời cô ấy như sau: “Đây thưởng ngoạn đi! Rồi để xem Mai có còn muốn cố sống cố chết mò đến Mecca nữa hay không?”
Tôi sửng sốt đến không nói nên lời.
Mecca của thế kỷ 21 ngoài hình ảnh huyền thoại của hàng trăm ngàn tín đồ xoay vòng quanh kaaba mỗi mùa hành hương cũng là nơi thánh đường cổ mang tên bà Fatimah – con gái của Muhammad bị tàn phá, là nơi mộ mẹ đẻ của Muhammad bị xe ủi xóa không còn dấu vết, là nơi ngôi nhà hạnh phúc của Muhammad và Khadijah được tìm ra, lấp đi, rồi xây ở ngay bên cạnh là một hàng… nhà xí công cộng, là nơi đến bản thân phần mộ của Muhammad cũng từng bị đe dọa san phẳng, hay hang đá Hiraa nơi Muhammad nhận lời truyền của Thượng Đế đang bị treo một cái án lửng lơ không biết ngày nào sẽ bị nổ tung thành tro bụi. Mấy năm trước, một thánh đường cổ mang tên cháu ngoại của Muhammad bị đặt bom phá cho tan tành. Những tấm ảnh chụp vụ đặt bom này được bí mật truyền ra ngoài, rõ cả mặt các thầy tu và cảnh sát tôn giáo của Saudi vừa hả hê nhìn gạch ngói bay tung trời, vừa reo hò hoan hỉ chia vui.
Gượm đã! Ai đang hoan hỉ reo hò? Các thầy tu? Các cảnh sát tôn giáo? Thế tức là thế nào? Tại sao giữa vùng đất là trái tim của thế giới Hồi giáo mà vị thiên sứ của nó và gia quyến của ông lại bị các tín đồ nổi tiếng sùng đạo của mình đối xử bạc bẽo đến nhường kia?
Năm 630, sau một thời gian dài phải lánh nạn ở Medina và nhiều trận giao tranh giữa đạo quân của hai thành phố, phe của Muhammad giành thế áp đảo và cuối cùng ông cũng có thể hiên ngang tiến vào quê hương Mecca với tư cách của người chiến thắng. Điều đầu tiên Muhammad thực hiện là đập phá toàn bộ 360 linh tượng trong kaaba, tuyên bố khối đá vuông linh thiêng giờ đã trở thành nơi thờ đức Thượng Đế cao cả chỉ một và duy nhất. Ngoài Thượng Đế, tín đồ Hồi giáo Muslim không được phép cúng bái bất kỳ một ai, người thường, linh tượng cũng như thánh thần.
Gần 1400 năm sau, những tín đồ cuồng tín nhất của Muhhamad đã thể hiện sự trung thành tuyệt đối với giáo lý độc thần tới mức liệt kê cả ngôi mộ của chính ông vào danh sách những linh tượng cần phá bỏ. Việc những người Hồi hành hương đến viếng thăm phần di hài của ông hay hang đá nơi ông từng cầu nguyện được coi là một biến thể của hành động cúng bái linh tượng. Và vì chỉ có Thượng Đế là đấng linh thiêng duy nhất đáng để con người phụng thờ, tất cả di sản như đền đài, thành quách, miếu thờ, mồ mả … có tiềm năng khiến tín đồ nảy ra niềm thành kính đều đáng bị triệt hạ, kể cả việc phải biến nó thành một cái nhà vệ sinh công cộng (!).
Trên thế giới chỉ có vài quốc gia được đặt tên theo dòng họ của gia đình cầm quyền, một trong số đó là Saudi Arabia hay còn gọi là Ả Rập Xê Út. Nhà Saud – khởi đầu chỉ là chủ một bộ lạc nhỏ ở vùng sa mạc Nadj – đến đầu thế kỷ thứ 19 đã bắt tay với một nhánh Hồi giáo khá cực đoan là Wahhabi dần dần đánh chiếm và làm chủ gần như toàn bộ vùng bán đảo Ả Rập, bao gồm cả địa phận Mecca và Medina. Cam kết của nhà Saud và Wahhabi có thể được coi là một trong những cuộc hôn nhân thực dụng nhất giữa quyền lực chính trị và tôn giáo mà theo đó nhà Saud sẽ mang danh lãnh đạo còn giáo lý Hồi dòng Wahhabism sẽ là kim chỉ nam của vương quốc.
Vấn đề nằm ở chỗ cái giáo lý này vốn đã khe khắt lại ngày càng trở nên cực đoan. Dưới con mắt của các thầy tu dòng Wahhabi, Kinh Quran được hiểu theo những ý nghĩa khắc nghiệt nhất. Bước chân vào thế kỷ 21, đường phố Saudi chỉ có hai màu đen trắng: màu trắng của những vạt áo chùng đàn ông và màu đen của những phụ nữ trùm niqab kín bưng chỉ hở hai con mắt, kể cả những phụ nữ ngoại quốc cũng bị luật pháp bắt buộc mặc áo choàng abaya và trùm khăn kín đầu. Ở trường học Saudi, trẻ em được dạy về sự khác biệt giữa tín đồ dòng Wahhabi – những người chắc chắn sẽ được lên thiên đàng, và phần còn lại của thế giới gồm các tôn giáo khác, kể cả những tín đồ Hồi giáo không thuần khiết – kẻ phạm những tội lỗi dù không tày đình nhưng vẫn không thể tha thứ được – chẳng hạn như việc tưởng nhớ đến Muhhamad nhân ngày sinh nhật ông (!). Chỉ có Thượng Đế mới xứng đáng được tôn vinh.
Và bởi vì chỉ có Thượng Đế mới đáng tôn vinh nên kể cả Liên Hợp Quốc có muốn công nhận và cứu các di sản văn minh cổ ở Saudi cũng là điều không tưởng. Trong danh sách ba di sản mà Saudi cho phép Liên Hợp Quốc tiến hành đánh giá chẳng có nơi nào liên quan đến Hồi giáo. Hơn hai mươi năm qua, 95% trong tổng số hơn một nghìn khu kiến trúc cổ của Saudi đã bị tàn phá. Những nhà khoa học đang lo sợ rằng thậm chí cả những cây cột thời đế chế Hồi giáo cận đại Ottoman còn sót lại trong thánh đường trung tâm cũng sẽ bị chặt đổ vì “can tội” dám ghi khắc tên của nhóm người đi theo Muhammad thuở hàn vi. Những tàn tích cuối cùng của một nền văn minh đa sắc màu cũng như những bằng chứng cuối cùng của một nền văn hóa Hồi giáo cổ gần như cố tình bị triệt tiêu và xóa sổ, đặt vào tay những thầy tu Wahhabi quyền năng tối thượng trong việc viết lại lịch sử tôn giáo và diễn giải triết lý Hồi giáo theo lý lẽ của riêng mình.
Hẳn nhiên Muhammad không thể ngờ rằng việc ông đập 360 bức linh tượng trong kaaba khiến nếu ông có sống dậy cũng khó có thể thanh minh cho việc Wahhabism trở thành niềm cảm hứng cho vô số các tổ chức Hồi giáo cực đoan như Al-Qaeda và Taliban. Chưa hết, việc 360 bức linh tượng tan thành tro bụi từ gần 1400 năm trước được coi là câu trả lời cho việc bức tượng Phật huyền thoại Bamiwam ở Afghanistan cao hơn 50m tồn tại từ trước khi Hồi giáo ra đời bị Taliban đục lỗ vào đầu để nhồi thuốc pháo cho nổ tan tành. Những di sản cuối cùng của một trung tâm Phật giáo cực thịnh từ thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên nằm trên Con đường tơ lụa chỉ trong tích tắc tan thành mây khói.
Chủ nhân mới của một tôn giáo mới
Hẳn nhiên là tôi giận dữ. Cùng với nỗi tức tối đó là một dấu hỏi to tướng đặt ra cho những người bạn Hồi giáo của chính mình: “Tại sao mày không điên lên? Tại sao mày không phát khùng giống như tao? Mày yêu kính Muhammad thậm chí còn hơn cả ông cụ thân sinh của chính bản thân, mày có phát rồ lên không khi nấm mồ của ông ấy bị san phẳng?”
Đám bạn người Hồi của tôi ở châu Âu là một lũ khá hổ lốn về nguồn gốc chủng tộc, nhưng phần lớn là dân trí thức, rất nhiều phóng viên và một vài anh nhà thơ nữa. Có lẽ chính vì cái phông văn hóa này mà cách chúng nó nhìn nhận về tôn giáo của mình khá là thông thoáng. Trả lời câu hỏi của tôi, anh nhà thơ đặt tay lên trái tim, mắt mơ màng: “Mecca là đây chứ đâu!”, còn cô ả phóng viên thì đơn giản hơn, ả ta buông ra đúng một từ: “Hajj”.
Một trong năm điều răn cơ bản của Hồi giáo mà mỗi tín đồ có điều kiện kinh tế và sức khỏe đều phải thực thi một lần trong đời đó là Hajj – hành hương đến Mecca. Mỗi năm có tới mười hai triệu tín đồ đặt chân tới đây và con số này chỉ là một phần nhỏ của tổng cộng hơn một tỉ người Hồi khắp thế giới. Hành hương về thánh địa là lệnh của Thượng Đế. Ngài bảo đi là đi, nhưng đi được hay không thì lại là Saudi quyết định. Mặc dù Quran không quy định nữ tín đồ phải có người nam trong gia đình giám hộ (mahram) nhưng Saudi lại đề ra một đạo luật theo kiểu Wahhabi của mình: “Không có mahram thì không có Hajj”. Mỗi năm, các quốc gia Hồi giáo được phân chỉ tiêu không quá một nghìn tín đồ hành hương trên một triệu dân, vậy nên ai cũng nơm nớp lo việc mình sẽ trở thành một muslim kém phần chân chính nếu như Saudi nổi hứng thắt chặt vòng kiểm soát đạo đức, đuổi cổ tín đồ về nhà hoặc tống họ vào trại giam lỏng vì những nghi ngờ đại loại như: “Tại sao họ của chồng cô và cô lại không giống nhau?” hay “Tại sao cô và người bảo lãnh của cô lại ngồi trên hai chuyến bay khác nhau?”. Năm 2012, ba chiếc máy bay chở muslim hành hương từ Nigeria bị buộc quay đầu về nước. Nói túm lại, nếu bạn kính sợ Thượng Đế, tốt nhất là hãy biết kính sợ quyền lực của nhà Saud trước nhất.
Và thế là trên danh nghĩa kẻ chiếm đóng và sau đó trị vì Mecca và Medina, Saudi nghiễm nhiên trở thành thủ lĩnh tôn giáo của hơn một tỉ tín đồ sùng đạo, có toàn quyền quyết định và rao giảng thế nào là triết lý Hồi theo ý nghĩa thuần khiết nhất, trong sạch nhất, cao quý nhất. Sự khiếp nhược trước quyền năng lớn lao này khiến cho rất nhiều người Hồi trở nên dao động, bối rối, thậm chí đánh rơi cả khả năng tự phán xét theo lý lẽ thường tình mà nghiêng theo cách chỉ dạy của Saudi, bất luận điều đó có ngang tai trái mắt cỡ nào. Thế nên mới xảy ra những chuyện trái khoáy như khi một họa sĩ Đan Mạch vẽ tranh châm biếm Muhammad, hay một gã trời ơi đất hỡi làm một bộ phim hạng bét về cuộc đời ông thì hàng triệu tín đồ nổi cơn cuồng nộ, nhưng việc phần mộ của ông bị dọa san phẳng hay căn nhà của ông bị biến thành nhà xí công cộng thì hầu như chẳng ai buồn hoặc dám đoái hoài.
Nếu bạn kiếm tìm những hình ảnh về Mecca trên internet, tôi chắc chắn ai trong số chúng ta cũng đều phải trầm trồ trước sự uy nghiêm thần bí của khối kaaba đen tuyền giữa rực rỡ tráng lệ của hàng trăm nghìn ánh đèn lung linh tỏa ra từ vô số các… khách sạn và khu thương mại sang trọng xung quanh. Trên danh nghĩa chịu trách nhiệm đón tiếp các tín đồ hành hương, Saudi dường như có thêm một cái lý do rất chính đáng để tiếp tục san phẳng các di tích Hồi giáo cổ và thay thế bằng các công trình kiến trúc ngày càng to hơn, cao hơn, đắt tiền hơn, trong đó có cả dự án tòa tháp cao nhất thế giới và việc mở rộng hành lang cầu nguyện xung quanh kaaba để đạt được sức chứa hai nhăm triệu người. Tiền tuôn chảy về Saudi từ túi những kẻ hành hương giàu sụ muốn ngả lưng trong những căn phòng giá 500 trăm đô la một đêm với cửa sổ nhìn xuống kaaba. Và để đạt được điều đó thì việc san phẳng căn nhà của Abu Bakr – vị lãnh tụ tôn giáo kế nhiệm Muhammad (caliph) để thay bằng một cái khách sạn siêu sang Hilton là điều hợp lý. Rốt cuộc là, ai cho phép tín đồ Hồi giáo tôn thờ một cái nhà?
Nhưng rõ ràng là hình như ai đó đang ngấm ngầm cho phép Saudi tôn thờ đồng tiền. Có lẽ Saudi đang âm thầm chuẩn bị cho tương lai của vương quốc khi mà nguồn dầu lửa đem lại 86% ngân sách quốc gia sẽ bắt đầu hạ sản lượng từ sau năm 2030. Dầu nhiều đến đâu rồi cũng đến ngày sẽ hết, chỉ có Hajj là không bao giờ ngưng nghỉ. Đó chính là nguồn dầu mới cho Saudi, nguồn tiền mới cho Saudi, nguồn năng lượng không bao giờ cạn cho Saudi.
Dường như sau 1400 năm, kịch bản Mecca thời paganism đã chính thức quay trở lại. Đó là khi Muhammad vẫn còn là một chàng trẻ tuổi không tiền, không mẹ cha, không địa vị.
Xét cho cùng, Muhammad là một hình mẫu khá đặc trưng để có thể phần nào so sánh, dù là khá khập khiễng, với những thần tượng của người nghèo thời lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa sơ khởi. Sinh ra trong một gia đình khốn khó, là trẻ mồ côi và mù chữ, Muhammad thấm hơn ai hết cuộc sống bần hàn của một đứa trẻ thiếu nơi nương tựa. Lớn lên tại Mecca, địa vị của một đứa trẻ không cha không mẹ phải sống nhờ vào sự chở che của họ hàng và sự chăm sóc của một phụ nữ nô lệ da đen khiến chàng trai trẻ Muhammad sớm có một trái tim đồng cảm vô hạn với người nghèo, tầng lớp nô bộc, trẻ em mồ côi, người tàn tật và đặc biệt là phụ nữ. Trên tất cả, trước mắt Muhammad là hố phân cách giàu nghèo khủng khiếp giữa những gia tộc nắm giữ nguồn thu nhập khổng lồ từ khách hành hương và những gia tộc không chen chân được vào dòng chảy cuồn cuộn của xã hội thương mại hóa tôn giáo. Đối với Muhammad, sự suy đồi đạo đức bởi sức mạnh của đồng tiền chỉ có thể được cứu rỗi bằng một lý tưởng trong sạch và thuần khiết, nơi trí óc, niềm tin và sức lực của con người phải được phục vụ cho một mục đích cao cả không dính bụi trần: Islam – thờ phụng đức Thượng Đế chỉ một và duy nhất. Trong mắt của Thượng Đế loài người thảy đều là con cháu của Adam và Eva, đều có quyền được tôn trọng, quyền bình đẳng, quyền học hành, quyền ăn no mặc ấm, và quyền được mưu cầu hạnh phúc.
Cả cuộc đời mình, đặc biệt là từ khi chiếm được Mecca, Muhammad đã làm hết sức có thể để biến mơ ước đó thành hiện thực. Đối với Muhammad, việc đập tan 360 bức linh tượng trong kaaba có thể được coi như việc triệt bỏ tận gốc một xã hội thương mại hóa tôn giáo nơi đồng tiền là kẻ thống trị và đạo đức chỉ biết quỵ gối cúi đầu. Là lãnh tụ tôn giáo nhưng ông sống một cuộc đời giản đơn, mộc mạc. Những chế tài luật pháp cơ bản nhất của Hồi giáo được ông gây dựng dựa trên nền tảng về quyền bình đẳng, điển hình là zakat – một trong năm điều răn cơ bản của Islam: mỗi tín đồ đều có trách nhiệm trích một phần tài sản của mình để chia cho người nghèo. Caliph kế nhiệm ông – Abu Bakr – nâng điều răn này lên thành luật pháp để đảm bảo cho mỗi công dân, bất kể đàn ông, đàn bà, phụ nữ, trẻ em đều có thu nhập tối thiểu là 20 dirham. Ngày nay, chỉ tính riêng ở Anh, người Hồi trung bình mỗi năm đóng góp vào quỹ phúc lợi 567 đô la, nhiều hơn người Do Thái (412 đô la), người Thiên Chúa Tin Lành (308 đô la), người Thiên Chúa Công giáo (272 đô la) và người vô thần (177 đô la).
Tôi luôn tự hỏi liệu Muhammad ở dưới tấc đất sâu kia nghĩ gì nếu ông biết được rằng Mecca của 1400 năm sau đang dần dần trở thành Mecca của hơn 1400 năm trước, khi tôn giáo gián tiếp được coi là cỗ máy in tiền? Trả 500 đô la cho một ngày trong khách sạn siêu sang để đêm nằm qua cửa sổ nhìn được xuống kaaba – nơi được coi là trung tâm của vũ trụ, nơi giàu nghèo sang hèn không phân biệt, mới thấy được sự hão huyền của những giấc mơ. Gần 1400 năm trước, Muhammad đã đập tan cuộc hôn nhân giữa sức mạnh của đồng tiền và tự do tín ngưỡng. Mỹ mãn và đầy quyền năng, trên danh Thượng Đế tối cao và thiên sứ cuối cùng của Người, gần 1400 năm sau, Mecca là hiện thân của một cuộc hôn nhân vô tiền khoáng hậu giữa hai kẻ phối ngẫu hầu như không ai có thể ngờ tới: chủ nghĩa tư bản và Hồi giáo cực đoan.
Khách đến nhà là tiễn!
Công cuộc chinh chiến visa Saudi của tôi càng lúc càng lâm vào bế tắc. Nhiều công ty chặc lưỡi nhắn nhủ rằng giá như tôi là đàn ông thì họ sẽ ngay lập tức mời tôi sang Saudi không một giây chần chừ. Trường đại học duy nhất nơi nam sinh và nữ sinh được học chung không có môn tôi giảng dạy và cũng không thèm trả lời thư. Tôi tìm hiểu thì được biết phần lớn trong tổng số gần hai triệu phụ nữ châu Á sang Saudi lao động thường là người giúp việc. Cương quyết không để cho bất kỳ một ý tưởng điên rồ nào của tôi kịp thành hình, một anh bạn lập tức kéo tôi đi thăm cuộc triển lãm ảnh Nô lệ thời hiện đại ở bán đảo Ả Rập, và thế là suốt cả tuần sau đó ngày nào tôi cũng gặp ác mộng. Cuộc sống tình dục tù túng cả đời chỉ nhìn thấy một vài khuôn mặt phụ nữ trong gia đình khiến chỉ cần gõ vào google hai từ “Saudi” và “maid” là sẽ có cảm giác đàn ông Saudi chẳng khác gì một lũ yêu râu xanh: xâm phạm tình dục, cưỡng hiếp tập thể, bắt làm việc quá sức, quịt tiền lương, đánh đập, chuyển đổi, cho mượn, qua tay nhiều người. Câu chuyện của một cô gái Philippines bị ông chủ hãm hại ngay cả khi xe cảnh sát đang đậu ở ngoài để tìm cách cứu cô thoát hiểm khiến tôi bàng hoàng suốt mấy ngày trời. Tình trạng lạm dụng xảy ra thường xuyên đến mức Ấn Độ phải ra quyết định cấm phụ nữ dưới 40 tuổi xuất khẩu qua Saudi. Tháng 7 năm 2013, báo Phụ Nữ đăng tin không ít cô gái Việt Nam trong số hơn 700 người sang đây làm ôsin bị quỵt lương dù mức trả vô cùng ít ỏi chỉ có sáu hoặc bảy triệu đồng tiền Việt. Có người chỉ được ăn bánh mì, ăn bí ăn khoai, hoặc bị ép phải lau dọn nhà cửa cho nhiều chủ cùng một lúc. Một phụ nữ khác bằng tuổi tôi thậm chí đã mất tích không còn dấu vết. Tôi đọc tin mà lặng hết cả người, tự dưng hiểu ngay tại sao một vài gã Saudi mang danh bạn bè trên mạng lại săn đón mình thái quá như thế. Chừng hơn tháng sau, tôi thậm chí còn nhận được một email rất thẳng thắn: “Chào em! Giấy tờ visa của em đã gần xong rồi! Xin em gửi cho tôi một cái ảnh để tôi còn đón em ở sân bay và make sex together!”.
Nếu Muhammad sống lại, tôi chắc hẳn ông sẽ vô cùng bàng hoàng trước sự méo mó của di sản mà ông đã đổ tâm dốc sức gây dựng. Vào thời kỳ ông còn sống, chính nhờ Hồi giáo và các chế tài luật Shariah mà lần đầu tiên trong lịch sử tôn giáo độc thần phụ nữ được chính thức đứng ngang hàng với nam giới về quyền con người. Lần đầu tiên có một tôn giáo quy định đàn ông bị giới hạn số vợ họ có thể lấy (bốn vợ), không phải vì họ siêu việt hơn đàn bà mà do quyền lợi của những phụ nữ có chồng chết trận phải được chăm sóc. Shariah cũng quy định đàn ông chỉ được quyền lấy thêm vợ khi họ có thể đảm bảo việc đối xử công bằng và khả năng lo toan tài chính cho đại gia đình. Lần đầu tiên tôn giáo quy định phụ nữ có quyền thừa kế, quyền sở hữu tài sản, quyền ly hôn, thậm chí quyền yêu cầu chồng phải có trách nhiệm không lơ là cuộc sống tình dục với mình. Lần đầu tiên trẻ em gái được chính thức bảo vệ bằng tuyên ngôn tôn giáo. Lần đầu tiên các bậc cha mẹ được yêu cầu phải bảo vệ trẻ gái, cho trẻ gái được học hành thì mới được lên thiên đàng. Lần đầu tiên người mẹ được tôn vinh ở vị trí đỉnh cao. Muhammad từng nhấn mạnh “chúng ta phải yêu thương mẹ mình nhất, nhì cũng là mẹ, ba cũng là mẹ, sau đó mới đến người cha”. Bằng tất cả những gì ông làm được vào cái thời mà phụ nữ còn bị coi như của cải trong nhà, đàn ông lấy vợ đuổi vợ vô tội vạ, và những hài nhi nữ bị vùi vào cát sa mạc, thì Muhammad xứng đáng là nhà cải cách xã hội kiệt xuất và là người tiên phong trong phong trào giải phóng phụ nữ.
Nhưng tiếc thay Saudi bây giờ đã khác với bán đảo Ả Rập ngày xưa. 1400 năm trước nơi đây con người phá biên giới nối liền các bộ lạc, Saudi bây giờ đóng cửa biên giới không cho cả khách du lịch vào thăm. Ngôi nhà Saudi không có cửa cho khách đến nhà. 1400 năm trước xứ này chỉ có cát với cát, Saudi bây giờ ngụp trong vũng dầu, nhiều tiền đến mức có thể xây một bức tường thành toàn bằng vàng cao một mét quanh quốc gia làm đường biên. 1400 năm trước ở Mecca phụ nữ làm sếp, góa bụa vẫn lấy trai tân, lại còn chủ động đòi cưới. Saudi bây giờ bất kể phụ nữ nào cũng phải có đàn ông giám hộ, mấy năm trước họ còn chỉ là một cái tên trên chứng minh thư của đàn ông. Họ cần giấy phép của đàn ông để đi học, đi làm, đi bệnh viện, mở tài khoản, đi du lịch, thậm chí đi ra ngoài đường là phải có đàn ông trong gia đình đi theo. Saudi là quốc gia cuối cùng phụ nữ vẫn chưa có quyền đi bầu cử vì các thầy tu cho rằng trách nhiệm của phụ nữ là chăm lo gia đình, không được lái xe vì vô số lý do, trong đó lý do mới nhất là khoa học đã chứng minh ngồi sau tay lái có hại cho… e hèm… tử cung (!). Hầu hết giới thầy tu Wahhabi cho rằng việc lái xe yêu cầu phụ nữ phải bỏ khăn bịt mặt, cho phép phụ nữ dễ giao du với nam giới không quen biết, và là một hành động phá vỡ truyền thống văn hóa. Phụ nữ ở Saudi, kể cả người nước ngoài, đều phải thuê lái xe riêng. Hẳn nhiên việc này trái với Shariah khi không cho phép phụ nữ giao du với người nam không phải là họ hàng. Từ đây mà bao nhiêu chuyện như hài kịch xảy ra. Thậm chí năm 2010, một fatwa (ý kiến tôn giáo) từ phía giới thầy tu Wahhabi khuyên phụ nữ nên cho các tài xế taxi của mình… bú tí, vì như thế theo nguyên tắc “rada” (tình máu mủ được nuôi dưỡng bằng sữa) tài xế sẽ trở thành người trong gia đình và được phép ở bên phụ nữ mà không cần người giám hộ. Chuyện thật mà như đùa. Không biết chính xác bao nhiêu người thực thi, nhưng điều đó chỉ làm rõ thêm sự phi lý của việc khăng khăng bắt cuộc sống hiện đại phải bó khuôn theo luật lệ truyền thống.
Đương nhiên, luật là một chuyện mà thực tế cuộc sống lại là chuyện khác. Không phải gia đình nào cũng có chồng, cha, anh rảnh việc đưa đón, hoặc có tài xế riêng (có bú tí cũng như không bú tí). Phụ nữ Saudi nhiều khi bị dồn vào thế bắt buộc phải dùng các lái xe quen biết từ các công ty taxi có uy tín, hoặc đặt chỗ trước các taxi công cộng vì họ thậm chí còn vừa mới bị tước mất quyền vẫy taxi trên đường. Nếu có biến cố như lạm dụng tình dục xảy ra thì phụ nữ luôn là người cùng chịu tội vì đã dám ngồi cùng xe với người nam không quen biết. Năm 2009, một phụ nữ 23 tuổi đã bị hãm hiếp tập thể và có thai. Cô bị phạt một năm tù và chịu đánh 100 roi sau khi sinh con. Những vụ việc động trời như thế từ Saudi cứ thỉnh thoảng lại làm thế giới giật mình thon thót. Khủng khiếp nhất là mấy năm trước, một vụ cháy nổ xảy ra nhưng các cô gái trong nhà bị một số thầy tu ngăn không cho chạy ra ngoài vì không kịp… lấy khăn trùm đầu. Kết quả là 15 nữ sinh chết thảm thương.
Oái ăm thay, một trong những lý do khiến vị trí xã hội của phụ nữ Saudi ở mức độ bét cùng thế giới như vậy (130/134) lại xuất phát từ sự may mắn vô song mà người Saudi tin rằng Thượng Đế đã hào phóng ban tặng cho những tín đồ xứng đáng nhất của mình: dầu mỏ. Saudi nắm trong tay 1/5 trữ lượng dầu của thế giới. Nhưng nền công nghiệp dầu mỏ đặc biệt hướng về lao động nam, cộng với các khoản trợ cấp gia đình dồi dào khiến cho việc 60% sinh viên đại học là nữ giới nhưng phụ nữ Saudi chỉ chiếm có 17% lực lượng lao động của cả vương quốc.
Nói đi cũng phải nói lại, vì phụ nữ Saudi có cái nhìn về bình đẳng nam nữ khác hẳn với phần còn lại của thế giới. Một bộ phận lớn phụ nữ cho rằng họ “có quyền” được có người nam giám hộ, “có quyền” được bảo vệ bản thân bằng cách che mặt, và bình đẳng giới phải đi liền với chức năng giới, nghĩa là đàn bà có việc của đàn bà và đàn ông có việc của đàn ông. Tuy nhiên, một thực tế vẫn không thể phủ nhận được là phụ nữ Saudi so với chị em trên thế giới còn khá nhiều uẩn ức. Nói ví von một cách cay đắng, vị thế của họ còn kém cả vị thế của một phụ nữ Mecca 1400 năm trước.
Ba giờ trên thánh địa
Tôi mất gần một năm xin visa đi Saudi không được, rốt cuộc đành tính kế chót, bay đi Dubai với hai vé máy bay và nối chuyến ở sân bay Jeddah. Không vào Saudi được thì thôi đặt chân đến cái sân bay cũng là chạm chân vào đất thánh rồi. Vẫn chiếc ba lô 11 cân như chuyến bỏ nhà bỏ việc đi bụi hai năm trước, nhật ký hành trình của tôi vào cái ngày 20 tháng 1 năm 2012 đại để là như sau:
9 giờ sáng
Sau ba lần kiểm tra an ninh tại sân bay Mumbai, đi vào bên trong cửa hành lang nối máy bay rồi, tôi thở hắt ra khi nhìn thấy một cái bàn kê sát ngay lối lên máy bay. Ông nhân viên an ninh không thèm soát túi của tôi mà chỉ lo lắng: “Cô có cái áo nào trùm kín người không? Ở sân bay Jeddah (Saudi), người ta sẽ không cho cô vào sân bay hở hang như thế này đâu”. Tôi trỏ cái khăn lụa to tướng, nghĩ bụng áo hở có hai cánh tay thôi, che tí là được.
Chuyến bay cất cánh với một bài kinh cầu Thượng Đế phù hộ cho hành khách và phi hành đoàn đi đến nơi về đến chốn.
9 giờ 45 phút
Tôi mở hàng loạt kênh ti vi. Bên cạnh 80% phim Hollywood là các chương trình Hồi giáo. Ask Huda chẳng hạn, nhận điện thoại từ các tín đồ khắp nơi trên thế giới và trả lời đủ các câu hỏi thập cẩm. Một chương trình khác toàn các cậu chíp hôi hỏi về tình yêu, kiểu “Bố mẹ chọn vợ cho con, xin hỏi con có thể cưới cô ấy và mong tình yêu rồi sẽ đến?” Chương trình cuối cùng tôi xem trước khi ngó ra ngoài cửa sổ nhìn sa mạc trải dài dưới cánh máy bay và lăn quay ra ngủ là một diễn đàn về mối tương quan giữa Kinh Quran và khoa học.
1 giờ 30 phút chiều
Máy bay hạ cánh xuống Jeddha. Như lời dặn, tôi lập tức đến trình báo ở bàn đón tiếp gần nhất. Cầm chiếc vé máy bay của tôi gí mũi vào xem đến mười phút, người đàn ông to béo phía sau máy tính mới hiểu ra là tôi cần nối chuyến tới một cửa sân bay khác vì tôi mua hai vé máy bay riêng biệt chứ không phải hành khách nối chuyến tự động với một vé như thường lệ. Và thế là tình huống này cấu thành một sự kiện, vì ai dám để một phụ nữ lang thang một mình từ cửa sân bay này tới sân bay khác không người giám hộ. Ông ta lập tức kêu tôi đưa hộ chiếu và quay lại với hai nhân viên sân bay. Họ bàn cãi, gọi điện, hỏi ý kiến hết ban này đến phòng nọ. Một anh an ninh chạy đi chạy lại như đèn cù, mỗi lần trở về lại chỉ trỏ sang tôi mặt nhăn như phải bả. Rõ ràng là họ không biết nên làm gì để xử lý cái con bé tôi đang ngồi vắt chân chữ ngũ, mặt không giấu nổi vẻ tò mò (cố nén mà không được!). Có một giọng nói đắc thắng vọng ra từ trong cái đầu tinh quái của tôi: “Ờ! Đấy! Chị Hai này bay được đến đây rồi đấy! Có giỏi thì nhét chị đây quay lại Mumbai đi! Để xem mấy người xử trí vụ này thế nào. Đã đến được đây rồi kiểu gì thì chị cũng cóc sợ!”
2 giờ chiều
Quyết định đầu tiên được đưa ra. Tôi được dẫn giải đến một cái xe buýt to tướng, trỗng hoác, đầu xe đề “Đặc biệt khẩn cấp”. Anh an ninh khoát tay kêu tôi lên xe rồi táo tợn ngồi xuống cạnh tôi. Anh hỏi han tí đỉnh, rồi… chạm vào tay tôi tí đỉnh. Tôi miệng cười như nghé nhưng bụng hoang mang không biết xe còn đi bao lâu, nếu cái gã chết tiệt này nổi cơn dê cụ lên thì mình nên đạp cửa kêu cứu hay đá cho một phát vào cái chân giữa. Có lẽ nên kêu cứu thì an toàn hơn, lỡ gây thương vong gì thì toi. Tôi đã đọc đủ nhiều về Saudi để biết rằng cái xứ này phạt nhau toàn quật roi mấy trăm cái rồi cho ngồi tù dưỡng thương.
2 giờ 15 phút
Xe dừng lại trước cổng sân bay số 2. Anh dê cụ còn cố vớt vát một cái chạm tay nữa trước khi giao tôi cho anh an ninh tiếp theo. Anh này mặt đằng đằng sát khí, kêu tôi ngồi chờ hẳn hai mươi phút để chạy đi lo giấy tờ và thông báo đến các phòng ban. Khi anh quay lại, một bóng đen to tướng đi cùng anh, kín mít từ đầu đến chân. Tôi được khoát tay mời vào một cái cabin kín cửa. Cái bóng đen đi sát đằng sau. Khi cửa được khóa trái, cái bóng bỏ tấm khăn phủ kín đầu, để lộ một khuôn mặt phụ nữ cực kỳ xinh đẹp, da trắng mịn, mắt xanh sẫm, mũi dọc dừa, môi mọng ướt. Cái cô tiên ấy tươi cười sờ nắn góc tay góc chân tôi, một thủ tục an ninh rất bình thường trong sân bay. Trước khi cô tiên kịp che đầu biến thành bóng đen, tôi vọt miệng hỏi: “Không ai được nhìn thấy chị à?” – Cô tiên cười toét miệng: “Tất nhiên là chỉ có bố, anh em trai và chồng tôi thôi. Ai ngu gì mà cho mấy ông không quen biết xem mặt!”
3 giờ kém 15
Qua cửa an ninh, tôi được đưa đến khu cổng lên máy bay và chờ ở một quán café sang trọng ngay sát phòng an ninh. Lần này không ai còn nhăm nhăm đứng cạnh tôi canh chừng nữa. Tuy nhiên tôi cũng không dám chạy quanh vì hộ chiếu và giấy tờ vẫn bị giữ, chắc có lẽ cho đến tận lúc lên máy bay. Tôi nhìn quanh, ngắm nghía cái phần bé nhỏ của cuộc sống Saudi trong khu chờ sân bay. Khung cảnh xung quanh tôi như một cuốn phim quay bởi một đạo diễn mù màu. Những người đàn ông chậm rãi trong áo dài trắng và khăn trắng. Những người phụ nữ tóc búi cao trùm khăn kiêu hãnh bước bên cạnh trong áo choàng đen. Phần lớn họ che kín mặt, nhưng cũng rất nhiều người chỉ che phần tóc, để lộ những khuôn mặt đẹp bí ẩn. Mọi thứ xung quanh tôi đều sáng loáng, sạch bong, sang trọng và quý phái, hệt như một căn phòng triển lãm nội thất hiện đại theo trường phái tối giản minimalism.
3 giờ rưỡi chiều
Đúng mười lăm phút trước khi cổng máy bay mở, tôi được trao trả hộ chiếu. Tôi chuyển đến ngồi trên những băng ghế chờ, nhận thấy rõ ràng những ánh mắt tò mò chạy dọc trên cơ thể mình. Chiếc khăn lụa hồng của tôi bay theo từng bước chân. Có lẽ tôi là đốm màu sắc duy nhất di chuyển trong cái thế giới đen trắng nửa thực nửa mơ này.
4 giờ kém 20
Trên đường ra xếp hàng, tôi dừng lại ở một hiệu sách nhỏ. Một cậu bé nhân viên còn rất trẻ chủ động hỏi tôi có cần trợ giúp. Tôi kể cho cậu nghe về việc mình bị quấy rối trên xe buýt. Cậu bé tái mặt, rối rít xin lỗi. Cậu chắp tay khổ sở xin tôi đừng nghĩ ai ở Saudi cũng tệ hại như vậy. Thoắt cái cậu đã biến đi và quay lại với một cuốn sách nhỏ trên tay: “Đây là món quà tôi tặng chị! Mong chị nhận giúp!” Tôi liếc xuống tựa đề: “Clear your doubts about Islam”[Xóa bỏ những nghi ngờ của bạn về Hồi giáo], ngẩng lên và mỉm cười: “Shukran!”[Cảm ơn]
Bí mật “khủng khiếp” của ba tôi
Hồi tôi còn bé tí, ba tôi – một đại tá cả đời xa nhà với các cuộc chinh phạt – từng giữ trong phòng một ngăn tủ khóa kín. Tôi luôn băn khoăn tự hỏi ba giấu cái gì trong đó mà lúc nào cửa tủ cũng phải đóng chặt: Súng? Thuốc độc? Hay là một con quái vật cũng nên. Tưởng tượng nào cũng xấu xí, vì tất nhiên là nếu nó đẹp đẽ thì chắc chắn ba đã dành nó cho con gái cưng. Nhiều năm sau, ba tôi mắc bệnh ung thư. Vào một ngày rất gần khi ông qua đời, ba tôi gọi tôi đến và đưa cho tôi bí mật ông cất giữ từ bao năm qua.
Đó là một cuốn kinh thánh. Một cuốn kinh thánh nhỏ xíu có bìa da thuộc màu đỏ thẫm.
Tôi không bao giờ hỏi tại sao ba tôi lại giữ một cuốn kinh thánh nhỏ xíu bao nhiêu năm trong tủ như thế, nhưng tôi đoán đó là một kỷ vật buồn trong đời chinh chiến của ông, góc sách nham nhở vết sém cháy và cái bìa da có chỗ đã thẫm đen lại bởi mồ hôi và cát bụi. Giờ đây, mỗi lần nhớ lại tuổi thơ với những phút ngồi khoanh chân chống cằm chăm chăm nhìn vào cái tủ khóa chặt và để trí tưởng tượng mặc sức tung hoành, tôi không khỏi bật cười. Chẳng có hình dung nào có thể xa rời sự thật hơn là con quái vật trong khi thực tế lại là một cuốn thánh kinh.
Và vì thế, cho đến giờ tôi vẫn băn khoăn tự hỏi liệu những hiểu biết và ấn tượng về Saudi của mình sẽ có thể xa rời thực tế đến chừng nào? Thực lòng mà nói, tôi cầu mong sao mình sẽ sai toàn tập. Saudi đóng cửa đã bao năm và thế giới này đã có quá đủ thời gian để trí tưởng tượng tung hoành về những gì đang diễn ra trong lòng vương quốc. Tôi thường nghĩ về cậu bé nhân viên trẻ tuổi ở sân bay Jeddha và thầm gửi đến em lời nhắn nhủ: “Abdullah à! Đã đến lúc cánh cửa tủ phải mở ra rồi!”
Chương 3 - Dubai: Bước đi trên hai sợi dây
Tôi đặt chân đến Dubai trong trạng thái tê liệt cảm giác sau gần bốn mươi giờ không ngủ với vài lần chuyển máy bay. Ngồi cùng chuyến xe đêm về trung tâm là Chris – một anh chàng người Ý. Tôi thật ra không hề biết anh ta người Ý cho đến khi đang thiu thiu ngủ thì choàng thức dậy bởi nghe cái giọng Ý nói tiếng Anh nặng nghìn tấn bất thần hét váng lên: “Ui đẹp quá! Chỗ này là chỗ nào thế này?”
Dubai vàng son
Gí mũi vào cửa kính, tôi còn kịp nhìn thấy một mớ những làn đường cao tốc xoắn xuýt đan quấn vào nhau như một đám DNA khổng lồ sáng rực dưới kính hiển vi. Ông lái xe nhăn trán hồi lâu rồi gào lên một từ gì đó. Chris hí hoáy lôi bút ra ghi lại. Tôi căng tai lắng nghe. Cả tôi và Chris đều không ngờ rằng chỉ mười phút sau khi xe đi vào trung tâm Dubai, cái tên mà ông tài tận tình vắt óc ra nhớ hộ đã nhanh chóng bị quẳng veo vào dĩ vãng.
Bởi chỉ mười phút sau đó, Dubai hiện ra lộng lẫy và kiêu ngạo như bà chúa kim sa, khinh khỉnh nhìn xuống chúng tôi từ trên những tháp ánh sáng chói lòa như được dát bằng hàng triệu viên kim cương ngũ sắc. Xe đưa chúng tôi lướt đi giữa tầng tầng lớp lớp váy áo lấp lánh, mỗi khúc quanh tối đặc bởi ánh đêm lại bất thần mở ra một miền dải lụa dát sáng. Ở hàng ghế bên, Chris soài người khổ sở chĩa ống kính lên trời. Tôi phì cười vì tiếng cậu ta máy bấm choách choách chẳng khác gì tiếng đạp máy khâu.
Vào cái buổi sáng đầu tiên ở Dubai, việc tôi làm khi vừa mở mắt ra là chọn một tua trực thăng để được chiêm ngưỡng thành phố từ trên cao. Giá cho mười lăm phút bay đắt cóng tay nhưng đó là cách tốt nhất để thu vào tầm mắt một Dubai nổi tiếng điên rồ với những công trình kiến trúc ngạo mạn. Dubai nhiều cái nhất. Cả vùng Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (United Arab Emirates – UAE) có tới hơn một trăm kỷ lục thế giới, riêng Dubai kể sơ sơ thì có tháp Khalifa cao nhất thế giới, trung tâm mua bán (theme shopping mall) lớn nhất thế giới, hay khu trượt tuyết trong nhà duy nhất trên thế giới tồn tại quanh năm khi nhiệt độ ngoài trời lên đến 55°C. Guinness thậm chí đã quyết định mở hẳn một văn phòng đại diện tại Dubai vào năm nay để đáp ứng nhu cầu đánh bại các kỷ lục thế giới của người Các Tiểu Vương quốc. Nhưng có lẽ cái nhất ngang ngược số một mà chỉ có cái kiểu ngạo mạn của Dubai mới có thể nghĩ ra là dự án The World, Palm Jumeirah và hai quần thể đảo khác. Trong suốt bốn năm, gần một tỉ mét khối đá và cát được đào lên từ đáy biển và phun vòi rồng trùm lên trên vùng san hô ngoài khơi Dubai, tạo thành bốn quần thể đảo nhân tạo, lấn biển hàng trăm nghìn mét vuông. Lượn vòng trên bầu trời Dubai, tôi tận mắt nhìn thấy một thành phố siêu hiện đại mọc lên từ sa mạc cằn cỗi chỉ trong vòng vài thập kỷ. Mà thực ra từ “mọc lên” hoàn toàn không chính xác, bởi cái sự “mọc” có vẻ chậm rãi và thông thường quá. Với tốc độ phát triển kinh hoàng, nhiều người ví sự xuất hiện của Dubai trên đời giống như thể một mô hình siêu đô thị được người ngoài trái đất bất thần thả xuống trên bát ngát cát trắng, qua một đêm bất thần lững lững chiếm ngự vùng Vịnh heo hút với những công trình ngạo ngược lấn biển, chọc thủng mây, ngang nhiên thách thức cả Tạo hóa.
Tình cảm của tôi dành cho Dubai khá phức tạp, vừa yêu vừa ghét vừa nể phục. Thứ nhất, tôi không thể phủ nhận tầm nhìn xa trông rộng của những ông hoàng Dubai, khởi đầu từ việc sau khi thực dân Anh rút lui đã mải miết kiên trì thuyết phục các tiểu vương lân cận hợp sức thành lập một mô hình hợp chủng quốc để cùng tồn tại. Vào những năm 40 ngay giữa thời huy hoàng của ngọc trai, Dubai đã sớm đi trước một bước, nhìn thấy con đường cụt của nền công nghiệp này và mạnh dạn đầu tư vào thương mại. Vào những năm 60 khi Trung Đông bất ngờ trở nên giàu có tột đỉnh bởi dầu lửa, Dubai đã sớm nhìn thấy con đường cụt của những giếng dầu và đầu tư mạnh vào du lịch. Không có kỳ quan thiên nhiên cũng như kỳ quan văn hóa, Dubai tự tạo nên kỳ quan từ bàn tay con người và biến du lịch thành nguồn thu chính của vương quốc trong khi dầu lửa chỉ chiếm 5% thu nhập quốc gia còn kém cả Việt Nam. Dubai tua băng chạy vùn vụt từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 21 chỉ trong vòng hai thế hệ, biến một vùng chài lưới nghèo khó ven biển nơi chỉ có cát, xương rồng và cướp biển trở thành một trung tâm tiền tệ và thương mại của cả thế giới. Khi những ngón tay của bà mẹ Dubai vẫn còn đầy chai cứng vì những tháng ngày phải nhọc nhằn kéo gầu đội nước từ xa về nhà, con trai của chính những người mẹ ấy đang đặt tay lên vô lăng của những chiếc xe hiện đại đắt tiền nhất thế giới. Ai cũng biết ở Trung Đông việc yêu kính những ông bà hoàng gần như là một nghĩa vụ, nhưng chỉ cần ở Dubai một thời gian, thật dễ dàng nhận thấy tình cảm của người Dubai dành cho tiểu vương Zayed xuất phát từ sự tôn kính và yêu quý thực lòng.
Vậy vì sao tôi ghét Dubai?

Thứ nhất vì chính cái tên của tiểu vương quốc vàng son này: Do – Buy, hay đơn giản là: Mua đi! Sắm đi! Tiêu tiền cho thật nhiều vào! Có lẽ chỉ ở Dubai mới tồn tại những máy rút… vàng tự động (!) bên cạnh các máy rút tiền thông thường. Tôi ở Dubai đúng vào thời điểm diễn ra Tuần lễ mua sắm, cũng không phải ngẫu nhiên mà được tổ chức trùng với tuần nghỉ lễ của người láng giềng giàu có Ả Rập Saudi. Ngồi hút shisha[14] với bạn bè trên cảng Marina, tôi có thể dễ dàng nhận ra những cô gái Saudi nhìn thoáng qua ai cũng màu đen giống hệt nhau nhưng để ý kỹ sẽ thấy họ quàng khăn trùm đầu hiệu Louis Vuiton, áo choàng và khăn trùm đầu hijab đen gắn đá quý lấp lánh quét đất để lộ thấp thoáng những đôi xăng đan Jimmy Choo cao ngất ngưởng hàng chục phân. Dubai dường như quá sức tự hào bởi cái danh tính của một xứ sở ăn chơi hào nhoáng của mình đến mức đã từng lấy hình ảnh khách sạn bảy sao Burj al-Arab làm biểu trưng cho đất nước và rập nguyên xi hình ảnh này lên tất cả các biển số xe hơi. Chẳng bao lâu sau, mọi người hết hồn khi nhận thấy hình ảnh của Burj al-Arab nhìn từ phía biển giống hệt như cái… thập giá của đạo Thiên Chúa. Thậm chí có người cho rằng kiến trúc sư người Ý đã thực hiện thành công âm mưu của Tòa thánh Vatican, và những biển số xe này lập tức bị loại bỏ.
Ở Dubai có vài ngày mà tôi hết hồn phát hiện ra mình ăn mặc khác hẳn, mấy cái váy lòe loẹt đính kim sa nhựa mua ở Ấn Độ len lén chui tọt vào tận đáy va li. Phải mất một chầu ổn định tư tưởng tôi mới quyết định là nhất nhất không để Dubai tha hóa, buổi tối hôm ấy vào Caramel sang trọng gặp gỡ bạn bè, tôi và Abdullah là hai kẻ duy nhất đi dép xỏ ngón.
Lý do thứ hai để tôi ghét Dubai là sự hào nhoáng được tạo dựng bởi bàn tay của các công nhân từ các quốc gia thế giới thứ ba nghèo đói, và khối óc của các doanh nghiệp trí thức châu Âu. Dân bản xứ Dubai không hẳn đã ưa những người ngoại quốc đến đây sống và làm việc. Nhưng họ lại cần những kẻ lấm lem và ngoại lai này để tồn tại, hệt như một vị chủ nhà không thể sống nổi nếu thiếu đám khách khứa đông đúc, xa lạ và hạ đẳng đến trú ngụ trong nhà.
Bạn không đọc nhầm đâu! Đúng là tôi vừa dùng từ “hạ đẳng” đấy. Cái sự kiêu kỳ của người vùng Các Tiểu Vương quốc có lẽ chỉ dưới chiếu vị láng giềng Saudi. Thậm chí lương bổng ở Dubai như một luật bất thành văn được trả theo quốc tịch: Mỹ và Tây Âu ở bậc trên, mấy nước châu Á phát triển nối đuôi cùng với Đông Âu, gần chót là người Philippines làm việc trong ngành dịch vụ, và đáy cùng là những lao động chân tay người Ấn Độ và Pakistan. Họ oằn lưng hơn mười tiếng một ngày trên sa mạc nóng giãy trên 50 độ, đến mức cả tuần có thể không hề đi tiểu. Rất nhiều công nhân phải sống trong những khu nhà tồi tệ, đôi khi hàng trăm con người chia sẻ một cái hố vệ sinh chung không cống thoát. Trong vòng một hai năm đầu tiên, phần lớn công nhân đều phải tập trung toàn bộ lương để trả nợ vài nghìn đô la đóng phí cho các công ty môi giới xuất khẩu lao động. Dù công việc hoàn toàn không hề giống như hứa hẹn, họ cũng chỉ biết than trời. Hệ thống quản lý kafala cho phép chủ thuê giữ hộ chiếu của công nhân, đặt vào tay họ quyền sinh sát với toàn bộ đời sống của người làm thuê. Không tiền, không hộ chiếu, cộng thêm một gánh nợ trên vai, có bị ném vào địa ngục cũng đố ai dám bỏ trốn. Mà nếu có bỏ trốn thì cũng là sự trốn chạy thương tâm nhất: cái chết. Rất nhiều người ốm đau và tự vẫn. Thậm chí có người quá quẫn bách đến mức đã đâm đầu vào xe ô tô để chết, hy vọng đổi mạng sống của mình để kiếm tiền máu diya đền bù nhằm trả nợ cho gia đình. Chỉ trong năm 2005 đã có 971 công nhân Ấn Độ lìa đời. Khi con số này được công bố thì Đại sứ quán Ấn Độ nhận trát yêu cầu im miệng và thôi đừng có đếm nữa. Mặt trái của Dubai vàng son khiến tôi quặn lòng khi nghĩ không biết bao nhiêu trong số 15.000 lao động Việt Nam cùng chịu chung số phận. Ba mẹ dạy tôi đói cho sạch rách cho thơm. Nhưng rách ở cái ao nhà thì còn hy vọng chứ rách rưới ở xứ người thì thật lắm đắng cay.
Mở toang vừa đóng kín
Đi giữa Dubai sáng choang, lọt thỏm trong lòng sa mạc mà dường như không dính một hạt bụi, cả thành phố sạch sẽ gần như vô trùng, nhiều lúc tôi không kìm được cảm giác mình đang ở một phòng thí nghiệm xa lạ. Tầng lớp lãnh đạo Dubai khiến tôi nể phục bởi chiến lược kinh tế bao nhiêu thì làm tôi thất vọng bởi chiến lược con người bấy nhiêu. Người vùng Các Tiểu Vương quốc sinh ra đã được chăm bẵm mọi bề, hưởng một cuộc sống giàu sang đến mức thui chột cả tham vọng và hoài bão. Cố gắng học hành lên cao làm gì khi một cái bằng vớ vẩn hoặc một công việc tầm thường cũng có thể lấp đầy tài khoản chục nghìn đô mỗi tháng? Với 95% dân số Dubai là người ngoại quốc, thật không ngoa khi nói rằng mỗi người dân của tiểu vương quốc này đang bị xé ra làm hai: một nửa đầy tự hào và kiêu ngạo về một Dubai sáng choang giữa lòng sa mạc, nửa kia ngậm ngùi quặn thắt vì chính họ cũng hiểu rằng mình đã mua một Dubai hào nhoáng chứ không phải đã xây một tiểu vương quốc rực rỡ bằng công sức và tài trí của chính mình, hệt như một ông chủ không biết dùng email, phải trả tiền thuê người quản lý cái công ty công nghệ hiện đại to bự xây trên đất đai của chính mình. Giữa cộng đồng người nước ngoài làm kinh doanh ở Dubai có một cụm từ được dùng khá là xách mé: “Thuê một ông tiểu vương” (Rent a Sheikh) ám chỉ những chiêu bài quan hệ công chúng cần cái mặt của một tiểu vương hạng trung để phục vụ cho các sự kiện quảng cáo. Người Dubai hiểu rằng, tầm vóc của họ trong xã hội có lẽ cũng không có gì hơn là cái mẽ bên ngoài.
Khoảng mười lăm năm trước, tôi được đi dự một trại nghệ thuật quốc tế ở Philippines và nhớ như in lời phán quyết cuối cùng mang tinh thần của hàng trăm người trẻ tuổi đến từ mọi miền châu Á: “Chúng ta kiên quyết bảo vệ văn hóa dân tộc trước hiểm họa xâm lăng của quá trình toàn cầu hóa”. Mười lăm năm sau, tôi và rất nhiều người đã kịp nhận ra rằng toàn cầu hóa chẳng đến mức là con ngáo ộp hở ra cái là nuốt chửng cả một nền văn hóa “đánh ực một phát” như vẫn thường bị dọa nạt. Sự thực là càng có xung đột thì người ta lại càng trở nên trung thành đến mức cực đoan với cội gốc văn hóa của chính mình. Điển hình là Dubai.
Một người bạn trên facebook tâm sự với tôi: “Mai có nhận thấy là Dubai càng phát triển thì càng có nhiều người Các Tiểu Vương quốc ăn mặc đồ truyền thống không? Nhiều lúc tôi có cảm giác việc ăn mặc như vậy, rồi đi đến các thánh đường, hay cách sống tách biệt với xã hội bên ngoài chính là cách để khẳng định sự tồn tại của nhóm người bản địa nhỏ nhoi tại Dubai”. Bạn tôi nói đúng. Chỉ chiếm có 5% dân số trong một tiểu vương quốc được xây dựng và quản lý chủ yếu bởi người nước ngoài, dân Dubai đang cố tình nhấn mạnh rằng họ khác với đám khách khứa hạng sang sặc mùi Âu Mỹ và đám lao động cùng đinh từ châu Á bằng cách bám chặt lấy từng mẩu văn hóa dù nhỏ nhất của mình. Dubai là ví dụ đặc trưng nhất của hiện tượng “càng mở cửa thì càng truyền thống”, đến mức thành cố chấp khi hàng loạt dân tình bất chấp lý do an toàn kêu gào lên án các trung tâm thể thao là “phân biệt chủng tộc” khi họ không được phép mặc nguyên xi bộ kandura và abaya truyền thống lướt tha lướt thướt quét đất hoặc lùng thà lùng thùng như cái dù để tham gia các môn thể thao cảm giác mạnh và mạo hiểm như trượt tuyết, ném bowling, nhảy dù và lặn biển.
Hầm hè ra về, thà hy sinh niềm vui cá nhân còn hơn là phải trút bỏ bộ đồ truyền thống, mỗi ông bà khách khó tính của các trung tâm thể thao thực ra là đại diện cho cuộc khủng hoảng danh tính đang ngấm ngầm cắn rứt và xâu xé sự tự tin của nền văn hóa non trẻ Dubai.
Chưa ở đâu tôi được chứng kiến một sự đối chọi khủng khiếp như thế giữa các giá trị đối lập của cái mới và cái cũ, cái được và không được, cái hợp pháp và phi pháp. Là một nền kinh tế dựa vào du lịch, Dubai buộc phải chấp nhận những thái cực Đông Tây khác biệt. Trên đường phố Dubai, những người đàn ông trong bộ kandura trắng muốt bước đi bên cạnh những cô gái cổ áo hở hang khiêu khích, mỗi bước đi ngoáy mông lại để lộ ra cái “đuôi cá voi” của quần lọt khe phía bên trên thắt lưng cạp trễ. Đám trẻ tuổi teen đội mũ lưỡi trai bẻ ngược, khuyên mũi khuyên lưỡi chi chít trượt ván veo veo trước mặt những cô gái trùm niqab đen kín mặt chỉ hở hai con mắt.
Du lịch gắn liền với sex. Đêm nào Dubai cũng rùng rùng chuyển động với vô số quán nhạc và câu lạc bộ đồng tính, với những cô gái điếm hạng sang bước chân vào vũ trường như những bà quý tộc và cả những ả bán hoa bình dân lấp ló đâu đó khuất nẻo dưới đường phố tối bưng. Nhưng sự cởi mở trong ngành công nghiệp phấn hương và xã hội đồng tính không có nghĩa là bạn có thể hồn nhiên mở một trang sex trên internet. Nói một cách ngắn gọn, bạn có thể mua sex, nhưng xem sex hoặc làm sex thì rất dễ bị ăn đòn. Cách đây không lâu, một đôi nam nữ chưa kết hôn bị bắt quả tang trao đổi tin nhắn sex với nhau trên điện thoại đã phải kết thúc câu chuyện tình tang của họ trong nhà tù, hay một cặp anh ả hôn nhau mùi mẫn trong nhà hàng thoắt cái thấy mình bị án giam một tháng. Tương tự, Dubai cởi mở với nền công nghiệp hương phấn bao nhiêu thì lại hà khắc đến cứng nhắc với các loại thuốc kích thích và cần sa bấy nhiêu. Một danh sách dài các loại thuốc giảm đau và thuốc chống trầm cảm bị coi là chất kích thích và kết quả là những án tù vài năm, nạn nhân bao gồm cả đạo diễn người Đức gốc Việt Cat Le-Huy. Cảnh sát chặn anh ở sân bay vì một lọ thuốc an thần, rồi lại bắt anh thử nước tiểu, thấy không có vấn đề gì vẫn cố kiết nạo vét tí bụi bặm trong va li để được 0,03 gram một mẩu bé đến mức mắt thường không dễ nhìn thấy mà họ cương quyết khẳng định là cần sa. Cat Le-Huy chỉ thoát án bốn năm tù sau khi cộng đồng mạng làm ầm ĩ với hơn 5000 chữ ký gửi đến Dubai.
Dubai vừa mở toang vừa đóng kín, gần như trong vấn đề gì cũng nhìn thấy hai thái cực rõ ràng, hai hướng đi đối chọi hẳn nhau. Nếu bảo Dubai hiện đại cũng sai mà cổ hủ cũng sai nốt. Kết quả là những người dân Dubai và cả những kẻ thập phương đến đây cũng bị căng ra, cuốn theo những dòng chảy chéo ngược về hai phía.
Bối rối một danh tính quốc gia
Một trong những bộ phim tôi yêu thích nhất về đề tài Trung Đông có tên là Lawrence of Arabia. Bộ phim kinh điển gắn liền với câu chuyện về một huyền thoại có thật: Sĩ quan người Anh Thomas Edward Lawrence. Đó là thời kỳ đế chế Hồi giáo khổng lồ Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) đang mất dần quyền bá chủ trên lãnh thổ rộng lớn kéo dài khắp ba lục địa của mình vào tay người Anh và Pháp. Lawrence được cử đến bán đảo Ả Rập để hối thúc các bộ lạc nơi đây nổi lên chống lại nhà cầm quyền người Thổ, đưa cuộc chiến vào thế có lợi cho quân Anh. Khi chàng sĩ quan trẻ khơi gợi ý chí phải thoát ra sự đô hộ của người Thổ, một thủ lĩnh bộ lạc đã trả lời mỉa mai: “Người Thổ à? Người Thổ là bộ lạc nào vậy?”
Cho đến bây giờ, trong những tranh chấp xung đột ở Trung Đông, câu hỏi này vẫn là một trong những thông tin quan trọng nhất: “Lãnh tụ mới à? Ông ấy là người bộ lạc nào vậy?” – “Ứng cử viên tổng thống à? Tôi chỉ bỏ phiếu cho ứng cử viên từ bộ lạc của tôi thôi!” Văn hóa của Trung Đông và toàn bộ bán đảo Ả Rập là văn hóa bộ lạc. Người Ả Rập biết đến một khái niệm mới có tên là “quốc gia” chỉ sau khi đế chế Ottoman sụp đổ và các nước lớn Anh, Pháp bắt tay vào chia sẻ chiến lợi phẩm là đất đai và các vùng đô hộ, vạch ra các đường biên giới để dễ bề cai quản. Tuy nhiên, hàng nghìn năm gắn rễ với cấu trúc văn hóa bộ lạc khiến đất nước được thành lập nhưng lòng người vẫn bị chia năm xẻ bảy, trung thành với bộ lạc và gia tộc của chính mình. Bốn mươi năm đã trôi qua từ ngày đất nước được thành lập nhưng quyền lực chính trị, các giao kèo kinh tế, các món hời thương mại và dự án quốc gia vẫn loanh quanh trong tay của các ông bà chủ cùng dòng tộc. Thật khó để người vùng Các Tiểu Vương quốc nhìn nhận về bản thân mình như công dân cùng một quốc gia. Đừng quên rằng chưa đầy một trăm năm trước, kẻ này sẵn sàng bắn chết kẻ kia chỉ vì trong cơn khát giữa sa mạc, gã lữ hành xấu số dám cả gan uống một ngụm nước từ chiếc giếng không nằm trong vùng lãnh thổ của bộ lạc mình.
Thiếu vắng một độ dày văn hóa gốc rễ và gần như bị đô hộ về mặt trí tuệ (intellectually colonized), tôi nhận thấy Dubai thực ra đang bám vào Hồi giáo như một phương tiện để xác nhận và tạo lập danh tính văn hóa bản địa của chính mình. Tôi tự khẳng định điều này khi có dịp gặp Ines, Tefridj và Layla – ba trong số vài người bản địa hiếm hoi ở Dubai. Cả hai cô gái Ines và Tefridj đều trẻ trung, mới vừa chạm sinh nhật tuổi 20 nhưng đã tốt nghiệp đại học. Sếp của hai cô, Layla, là một phụ nữ sắc sảo và mạnh mẽ với ánh mắt xuyên thấu tâm can và cái bắt tay như bẻ hết cả xương cốt của người đối diện. Khoảnh khắc Layla bước vào sảnh khách sạn với chiếc abaya đen tuyền viền chỉ vàng đắt tiền và hijab trùm đầu đen cuốn quanh khuôn mặt trang điểm cầu kỳ là khoảnh khắc tất cả mọi người đều phải ngoái nhìn. Mỗi bước đi mạnh mẽ của cô thổi tung cánh áo abaya như một cánh buồm. Mỗi tiếng gót giày của cô nện trên sàn đá hoa cương vang lên như một lời nhắc nhở về quyền lực. Tôi chưa bao giờ thấy một phụ nữ nào tự tin đến đáng sợ mà không cần thốt ra một lời nào như thế.
Ở bên cạnh Layla, Ines và Tefridj là một phiên bản trẻ trung hơn nhưng không kém phần ấn tượng. Hai cô gái diện những bộ cánh chỉ nhìn qua đã biết là thứ hàng sang trọng đắt tiền: quần bó kẹp nếp, áo sơ mi lụa mềm viền chỉ vàng kín đáo và khăn hijab trùm đầu hiệu Chanel điệp màu với giày cao gót Christian Louboutin. Khi tôi buột miệng khen phong cách ăn mặc của họ, cả ba người phụ nữ lập tức phá lên cười. Ines mở điện thoại cho tôi xem hàng chục bức ảnh của một Ines cách đây chưa đầy hai tháng: tóc nhuộm vàng rực xõa tung gợi cảm và quần áo không khác gì một ca sĩ chuẩn bị lên sàn diễn.
“Điều gì đã xảy ra thế này hả trời?” – Tôi không tin vào mắt mình, vừa cười vừa khoát tay chỉ vào tấm khăn trùm đầu của các cô gái.
Lý do để Ines và Tefridj quyết định thay đổi diện mạo của mình là vì họ được nhận vào làm ở một công ty truyền thông danh tiếng trong một dự án nhằm thúc đẩy nữ quyền và bình đẳng giới. Cái khó không phải là làm thế nào để bản thân họ nổi bật với tư cách là những phụ nữ tham vọng, mà là làm thế nào để họ được biết đến như những phụ nữ Emirati tham vọng. Quá trình đi tìm kiếm một danh tính quốc gia đưa những cô gái trẻ đậu lại trên một cột trụ vững chãi có tên là Hồi giáo. Thế là cả tủ quần áo thời trang bị tống vào xó nhà, tất cả mọi tấm ảnh trước kia quẳng lên facebook đều phải gỡ bỏ. Những cô gái trẻ quyết tâm chứng minh cho thế giới thấy rằng một phụ nữ Hồi giáo hoàn toàn có thể xông pha trên tuyến đầu, năng động, tự tin, quyết đoán mà vẫn đầy chuẩn mực. Những người bạn gái của Ines và Tefridj thậm chí còn mạnh mẽ hơn. Ban nhạc rock Random Stars gồm ba nữ sinh viên của Đại học Công nghệ Al Ain làm nổ tung khán phòng với những ca khúc kinh điển của Deep Purple. Trên sân khấu, ba cô gái trẻ đều mặc bộ đồ abaya đen trùm kín mít khắp người, và cũng chính họ là tác giả của những dùi trống khua lên cuồng loạn và những tay vuốt ghi ta điện đầy điêu luyện.
Nhưng tôi vẫn muốn hỏi Ines và Tefridj lại một câu cho chắc: “Vậy thì đây là danh tính quốc gia hay danh tính tôn giáo vậy?”
“Cả hai!” – Các cô gái trả lời không cần suy nghĩ.
Vậy là đã rõ.
Từ bao đời nay, vùng đất sa mạc cằn khô này chưa bao giờ có một sắc màu văn hóa ổn định. Thiên nhiên khắc nghiệt khiến cả đến những kẻ du hành cũng hết sức né tránh. Lịch sử của xứ sở này mờ nhạt như chính những dải cát thấm muối sabkha sau mỗi mùa mưa biến cả vùng thành hoang mạc nhớt nhát không thể bước chân qua. Khi những bộ lạc rời rạc tụ lại thành một quốc gia vào năm 1971, tôn giáo trở thành điểm chung duy nhất và cũng là chất kết dính duy nhất cho một đất nước non trẻ thiếu bề dày văn hóa. Đạo Hồi không những thay thế lịch sử của Các Tiểu Vương quốc mà còn có sức mạnh định nghĩa văn hóa nền cho cả một dân tộc vừa mới bỡ ngỡ chào đời. Và sự phát triển kinh tế nhanh đến chóng mặt cộng với sự áp đảo của hơn 90% dân số là người ngoại quốc, cả một thế hệ trẻ bỗng dưng ngơ ngác với câu hỏi mình là ai. Hẳn nhiên khi chẳng còn chỗ bám víu nào khác hơn là một tôn giáo chung để xác lập một bản sắc riêng, những Layla, Ines và Tefridj bỗng thấy chiếc khăn hijab trở thành câu tuyên thệ cho sự khác biệt của chính mình. Danh tính tôn giáo đã chính thức thay thế văn hóa quốc gia. Xét cho cùng, họ cũng chẳng còn sự lựa chọn nào khác.
Một Hồi giáo “xấu xí”
Tuy nhiên, sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu bạn cho rằng Hồi giáo – một khi đã đóng vai trò thay thế văn hóa quốc gia và tạo hình cho lịch sử dân tộc – thì sẽ luôn luôn được trọng vọng.
Trải qua gần 1400 năm thăng trầm, Hồi giáo nguyên thủy và truyền thống, cũng như tất cả các tôn giáo khác, chia năm xẻ bảy thành vô số những nhánh, những chi, những tổ hợp khác nhau với mục đích tôn giáo và cách thức khai sáng hoàn toàn khác nhau. Tại Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất, cái phiên bản Hồi giáo của nhà cầm quyền và phiên bản Hồi giáo của kẻ quấy rối kỵ nhau còn hơn nước với lửa. Tổ chức Al-Islah, một nhánh của Huynh Đệ Hồi giáo bắt rễ từ Ai Cập, đại diện cho làn sóng phục hưng Hồi giáo với hai mũi dùi chọc thẳng vào mặt và lưng chính quyền. Al-Islah phản đối mạnh mẽ cuộc sống Âu hóa tột cùng của Các Tiểu Vương quốc, đặc biệt Dubai có thể bị coi như nỗi nhục nhã của văn hóa và tôn giáo truyền thống, là cái nhà xí của thế giới hiện đại và văn hóa phương Tây. Tôi nhớ khi mình trót dại mở miệng nói về một buổi sinh nhật rất vui ở Barasti, chưa kịp kết thúc câu khen ngợi thì đã bị nói như tát nước vào mặt: “Đủ rồi! Cái xứ này mục ruỗng đạo đức vì có cả những người như cô đến đây xả tiền mua vui một cách đáng xấu hổ như vậy!”
Tôi im re.
Tôi nhớ buổi tối hôm ấy mình đã ngạc nhiên thế nào khi bước chân vào Barasti. Cả một dải bờ biển lớn được sắp xếp thành một quán bar khổng lồ với hàng trăm con người nhảy múa tung trời quanh các màn hình lớn, nhâm nhi rượu bia trên cả trăm tấm đệm nằm la liệt trên cát, hay ôm hôn nhau mùi mẫn trong bóng tối chập chờn. Ngay bên cạnh tôi, một vài cô gái Saudi mặc áo cổ trễ hở bộ ngực căng phồng, miệng phì phèo thuốc lá, chân nhún nhảy trên cát lạnh theo tiếng nhạc phát ra từ hàng chục giàn loa lớn. Tuần lễ mua sắm thu hút gần một triệu khách du lịch Saudi đổ bộ đến Dubai, tràn ngập các khu mua sắm khổng lồ, càn quét các cửa hàng đắt tiền, và đêm xuống xả hơi trong những quán bar phừng phực lửa. Kết thúc tuần mua sắm, chính những cô gái đó sẽ lại lặng lẽ lên máy bay, trùm lên người bộ áo chùng đen kín mít, theo chân người nam giám hộ trở về cuộc sống ở Saudi, nơi đến cả rạp chiếu phim cũng không được phép tồn tại.
Hẳn nhiên, đối với Al-Islah, Barasti là đại diện cho sự thối nát và mục ruỗng đạo đức của cuộc sống hiện đại. Tuy nhiên, đó chưa phải là điều duy nhất khiến chính quyền Các Tiểu Vương quốc cảm thấy khó chịu với Al-Islah. Mặc dù đã mở rộng vòng tay che chở cho những kẻ lánh nạn này khi họ chạy khỏi Ai Cập từ tổ chức Huynh Đệ Hồi giáo trong thời gian bị tổng thống Nasser truy nã, cái nhánh con con mang tên mới Al-Islah dần dần không còn được coi là “huynh đệ” nữa khi các thành viên bắt đầu có biểu hiện đấu tranh dân chủ, đòi cải tổ hệ thống độc tài, đòi người dân phải có quyền bỏ phiếu, đòi xây dựng một thể chế chính trị dựa trên giáo lý Hồi. Đến đây thì các Tiểu vương hết chịu nổi. Cái phiên bản Hồi giáo này nguy hiểm quá, nhất là lại có mùi dân chủ vào nên rất dễ dụ khị tầng lớp thanh niên trí thức đang hoang mang, bế tắc và quẫy đạp. Tức là phải diệt!
Khi tôi đang viết những dòng này, hơn một trăm thành viên của Al-Islah đã bị bắt và đang chờ ngày ra tòa. Họ bị kết tội phản quốc do bí mật thề trung thành với tổ chức mẹ Huynh Đệ Hồi giáo ở Ai Cập. Năm 2012, cùng với hoàng gia Saudi và các thầy tu Wahhabi, các Tiểu vương Ả Rập thấy tim mình đập thùm thụp khi thủ lĩnh Huynh Đệ Hồi giáo là ông Mursi lên nhậm chức tổng thống. Họ lo sợ tầng lớp có học thức trong nước bỗng nhiên phát hiện ra rằng Hồi giáo hoàn toàn có thể kết hợp với các thể chế bầu cử dân chủ và sẽ nổi lên chống lại nhà nước độc tài. Khi Mursi bị nhà binh đảo chính, cả Saudi và các Tiểu vương Ả Rập như trút được gánh nặng ngàn cân, hào hứng móc túi trích ra tận tám tỉ đô la để giúp đỡ chính quyền mới. Cái ghế quyền lực được đóng thêm một cái đinh, đã vững chãi giờ lại càng khó đổ.
Đêm cuối cùng ở Dubai, tôi được rủ tới một quán bar sang trọng cùng với một nhóm bạn mới quen. Trên màn hình ti vi khổng lồ, với bộ đồ hai mảnh bó sát, Beyoncé đang làm cho khán giả phát cuồng với vũ điệu nóng bỏng của “Put a ring on it”. Ngay dưới chân màn hình, những dòng tin thời sự nhỏ chạy liên tục, thông báo về diễn biến vụ xử án những thành viên của Al-Islah. Anh bạn người bản xứ ngồi bên vừa dụi tàn thuốc vừa kể cho tôi nghe rằng con trai của một trong số những người bị xử án sẽ bị tống giam mười tháng vì dám cả gan lên mạng Twitter phê phán phiên tòa.
“Chế độ hà khắc này hệt như cái nồi áp suất. Đến một ngày chúng tôi sẽ nổ tung ra mất!” – Anh thở dài.
“Này cô em!” – Tôi giật mình quay sang anh bạn bên tay trái – “Sao mặt mũi lại phụng phịu thế kia?” Anh ta cười sảng khoái, liến thoắng một hồi rồi ấn vào tay tôi một ly cocktail mới pha, nói đầy vẻ trịnh trọng: “Khi người ta trẻ, người ta phải sống ở Dubai!”
Chà chà! Hai câu nói này có lẽ tổng kết một cách hoàn hảo danh tính của Dubai – một tiểu vương quốc được sinh ra với số phận của kẻ đi trên hai sợi dây, tay nắm cây gậy thăng bằng giữa hai thế giới của giàu và nghèo, của bình đẳng và bất công, của nỗi lo sợ và niềm tự hào, của truyền thống và hiện đại, của những phiên bản tôn giáo cùng nguồn gốc nhưng có lẽ sẽ không bao giờ nắm tay nhau chung bước.
Chương 4 - Oman: Truyện cổ tích không có hồi kết
Ai dám bảo là xứ sở thần tiên không có thật? Những ngày đầu đặt chân đến Oman tôi toàn phải tự bấu vào tay để kéo bản thân trở về thực tại. Câu chuyện cổ tích của tôi ở Oman bắt đầu như thể một nhân vật phụ bỗng dưng được tác giả dân gian chăm sóc quá đà.
Khi đời như là mơ
– Hai rial! – Cô bán hàng trong siêu thị Lulu vừa chỉnh lại chiếc khăn đen trùm đầu vừa nhìn tôi tò mò.
Tôi cuống lên, không hẳn vì đằng sau mình còn có khoảng hơn chục các ông các anh người Oman tay xách nách mang (ở Oman đàn ông có nhiệm vụ đi chợ), mà là do tôi không tìm thấy ví tiền đâu cả. Chưa kịp cất lời xin lỗi thì đích thị sếp trực của siêu thị tiến đến, thẳng tay nhét đống đồ tôi chọn vào túi. Tưởng ông ấy sẽ quẳng nó trở lại giá hàng thì ngờ đâu, ông đã… rút ví ra trả tiền hộ tôi và chúc tôi một kỳ nghỉ vui vẻ ở Oman.
Hơ! Thật hay mơ thế này?
Chưa hết, lý do của việc tôi quên ví tiền là vì tôi hầu như không bao giờ có cơ hội được trả tiền. Bạn bè không những cho ở nhờ mà còn tự nguyện phục dịch nấu nướng mua sắm, đi trên đường muốn nhờ xe chỉ việc nai vàng ngơ ngác hoặc giở bản đồ ra là lập tức có người dừng bánh. Có chủ taxi còn kiên quyết không nhận tiền vì quãng đường quá ngắn. Tạm biệt bạn để đi thành phố khác thì còn được nhét thêm tiền vào túi. Thế bảo tại sao tôi quên béng mất là mình còn có ví tiền.
Sau gần một tháng ở Dubai mà chạm mặt với chỉ vài người bản xứ (95% dân số Dubai là người nước ngoài), tôi sung sướng thở phào nhẹ nhõm khi thấy mình được trở lại địa vị làm du khách, nghĩa là lại được nhìn ngó, được chào hê lô, được mời ăn chà là và bị tra hỏi tại sao đến giờ vẫn chưa lấy chồng (!). Tôi bất chợt nhận ra điều cốt lõi làm nên một nền văn hóa không phải là những đền đài thành quách hay công trình kỳ vĩ hoặc thiên nhiên tạo hóa đặc sắc. Cảm nhận của du khách về một đất nước đến từ chính những hành động thái độ nhỏ nhặt hàng ngày của người dân bản xứ. (Viết đến đây nghĩ đến cảnh dân tình ở mình chặt chém khách du lịch mới hiểu tại sao 85% trong số họ không quay lại Việt Nam lần thứ hai). Đứng cạnh một Dubai vàng son nhưng xa lạ như một thành phố nhân tạo, Oman thân ái đón khách vào nhà, vỗ về an ủi những kẻ du hành đường xa với tấm lòng hiếu khách chân thành và cái chân chất nông dân của một vị chủ nhà giàu có.
Oman là một vương quốc cực kỳ đặc biệt so với các nước vùng Vịnh. Dưới quyền cai trị của Sultan Qaboos, Oman chuyển dịch từ một thời kỳ hà khắc đến nỗi muốn đeo kính cũng phải có giấy phép (!) để bước chân hòa mình vào dòng chảy của thế giới. Chính sách đối ngoại của Oman phải nói là có một không hai trong cộng đồng các quốc gia Hồi giáo. Trong khi các nước Ả Rập động tí là cắt đứt quan hệ, Oman chủ trương đường lối ôn hòa, làm bạn thậm chí với cả Iran là một nước theo dòng Hồi giáo Shia chứ không phải Sunni như phần lớn các nước ở Trung Đông. Táo bạo hơn, khi quốc gia Do Thái Israel bị coi là “kẻ thù của dân Hồi giáo” thì Oman lại nhiệt thành bắt tay hợp tác. Tại Việt Nam, số vốn Oman đầu tư sẽ lên đến một tỉ đô la.
Tuy nhiên, điều khiến Oman khác hẳn các quốc gia lềnh bềnh trong biển dầu là chính sách có tên gọi “Oman hóa nền kinh tế” (Omanization). Trong khi láng giềng Dubai và Saudi dựa dẫm phần lớn vào chất xám ngoại nhập, Oman dù bơi trong vũng dầu vẫn đầu tư mạnh vào giáo dục, quyết tâm không làm hư con dân. Vào năm 2000, số người nước ngoài ở Oman chiếm tới gần 85% lực lượng lao động trong các ban ngành. Không chậm trễ như các đế chế dầu mỏ khác, Sultan Qaboos lập tức đề ra một loạt các tiêu chuẩn bắt buộc các công ty và ban bệ phải Oman hóa, dần dần từ 10%, nơi nào càng Oman hóa nhanh và tốt thì càng được hưởng nhiều lợi tức của chính phủ. Quá trình này đẩy mạnh bình đẳng giới ở tốc độ quỷ khốc thần sầu. Oman từ một quốc gia phụ nữ chỉ ngồi nhà, sau hơn chục năm phụ nữ chiếm hơn 30% lực lượng kiếm tiền, trong ngành kế toán ngân hàng thậm chí phụ nữ còn lấn át cả đàn ông. Vào một ngày đẹp trời, trong bữa trưa thân mật với viện trưởng Viện Khoa học Trung Đông Abdullah Al Sabahy, ông giáo sư đáng kính vừa sửa lại cái khăn đội đầu, nhìn trước ngó sau, rồi thì thầm với tôi, giọng vừa hài hước, vừa rất tủi thân: “Đàn ông Oman toàn bị bắt nạt thôi, trước chỉ có ở nhà mới cần gọi dạ bảo vâng, bây giờ ra đường cũng phải rón rén”. Tôi bật cười, nhớ tới Laila, cô bạn mới quen hiện là sếp hạng trung ở một công ty dầu mỏ. Đưa tôi về nhà chơi, bước qua bậu cửa là cô cởi phắt khăn trùm đầu và áo chùng đen, một bộ ngực phì nhiêu đập vào mắt tôi, căng mọng sau làn áo thun mỏng dính với hàng chữ gào lên đanh thép: “No man! No cry!”[Không có đàn ông thì cũng chẳng có nước mắt].
Hiếm có thành phố hiện đại nào ở Trung Đông khiến tôi mềm lòng như Muscat. Hàng chục địa danh trên thế giới được cả người bản xứ lẫn du khách đặt cho biệt hiệu “Thành phố trắng”, kể sơ sơ thì có Belgrade (Beograd), Ostuni (Italy), Arequipa (Peru), Lisbon (Bồ Đào Nha), hay Popayan (Colombia). Muscat – thủ phủ của Oman chưa bao giờ tự nhận là thành phố trắng nhưng có lẽ đây lại là thành phố duy nhất trên thế giới xứng đáng với tên gọi này. Chính quyền Oman rất quan tâm đến việc phát triển đất nước trong thế hòa hợp với thiên nhiên, quan tâm đến mức gần như quân phiệt, ra cả đạo luật chỉ cho phép người dân sơn nhà màu (be) trắng. Cách đây không lâu, tất cả các cửa sổ còn bị buộc phải có một cái mái vòm theo kiểu Oman truyền thống. Các tòa nhà chỉ được phép cao dưới chín tầng. Những thành phố của Oman nép vào lòng núi, trắng phau phau, xinh xắn thơm tho giữa bạt ngàn hoa lá như những ngôi nhà trong truyện cổ tích. Thành phố vùng Vịnh nóng như thiêu như đốt tới 55 độ trong bóng râm nhưng hoa nở tràn tung vỉa hè. Bọn trẻ con từ lúc bé tí đã hằng tuần được tổ chức đi dọn rác bãi biển. Cơ sở vật chất hiện đại hơn hẳn châu Âu nhưng người dân chất phác như nông dân, hầu như ai cũng mặc đồ truyền thống, khen cái gì đẹp là… cho luôn không tiếc. Đường sá của Oman mượt mà như dải lụa xuyên núi cắt sông. Đọc Wikipedia thấy bảo tỉ lệ chết do tai nạn giao thông ở Oman đứng thứ nhì thế giới, tôi hết hồn tưởng các bác tài ở đây lạng lách giống Việt Nam. Tìm hiểu kỹ mới biết phần lớn tai nạn gây ra do tài xế… ngủ quên trên tay lái vì đường thênh thang quá (!). Đi vào quán ăn thấy dân Hồi giáo áo dài quấn khăn gọi bia rượu cụng ly uống vô tư. Đi vào quán bar thấy các anh Hồi giáo cũng dài áo quấn khăn vừa cầm chai cồn vừa nhún nhảy theo Bon Jovi một cách nhiệt tình. Cái kiểu đi thăng bằng giữa truyền thống (thật ra là cực kỳ truyền thống) và hiện đại (cũng vô cùng hiện đại), mà vẫn chân chất hồn nhiên, cộng với cái túi rủng rỉnh tiền của nhà giàu khiến Oman như một câu chuyện cổ tích sau bao nhiêu thăng trầm chiến trận đã đến hồi kết thúc có hậu. Mụ phụ thủy gian ác đã phải đền tội còn các công chúa hoàng tử thì đang sống bên nhau đời đời hạnh phúc.
Nhà vua đức độ muôn năm
Ngày đầu tiên nghỉ lại thủ phủ Muscat, anh bạn mới quen Hilal quyết định cho tôi làm quen ngay với thần tượng số một của người dân Oman. Ảnh của ông có ở khắp mọi nơi. Ông cười rạng rỡ trên tường nhà, cửa sổ và kính chắn gió. Đi vào bất kỳ một văn phòng, khách sạn hoặc nhà hàng nào, nhìn quanh bạn cũng sẽ thấy hình ảnh ông hoặc là hoành tráng long lanh ở chính giữa đại sảnh, hoặc đôi khi chỉ là một bức ảnh nhỏ bằng bàn tay dán vội lên tường nhà bằng một miếng băng dính. Ông là vị Sultan quyền lực tối thượng của vương quốc: Sultan Qaboos. Sự yêu kính vô bờ bến của con dân đối với ông có lẽ còn hơn cả người Thái yêu vua Bhumibol Adulyadej, đơn giản vì vua Thái chỉ lãnh đạo về tinh thần còn Sultan Qaboos thì dám cả gan truất ngôi vua cha, cải cách đất nước. Vào năm 1970, Oman chỉ có ba trường học, một nghìn học sinh, hai bệnh viện và mười ki lô mét đường quốc lộ. Bốn mươi năm sau, Oman có hơn một nghìn trường học, xếp thứ tám trên thế giới về chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Sự trân trọng đối với Sultan lây lan nhiệt tình sang cả cộng đồng người nước ngoài. Tôi chưa thấy bất kỳ một ai nói gì xấu về Sultan, thậm chí những quán ăn ngoại quốc cũng tự nguyện treo hình ông. Bữa tối của tôi và anh bạn Hilal diễn ra tại một nhà hàng mà ông chủ đã thành kính biến toàn bộ sảnh ăn chính thành viện bảo tàng với gần năm trăm bức ảnh của Sultan Qaboos. Trong lúc chúng tôi hí húi ăn uống, một đoàn các bô lão ở quê ra thăm thành phố lọm khọm chống gậy ghé sát vào từng tấm ảnh, mắt rưng rưng sùng kính. Khi tôi hỏi tại sao không phải dân Oman mà cũng sùng bái Qaboos vậy, vị chủ nhà không nói gì, chỉ đặt tay lên ngực. Đúng là sến, nhưng mà cũng thật ơi là thật!
Năm 2012 khi mùa xuân Ả Rập lên đến cao trào, một nhóm biểu tình đã khuấy động Oman nhưng không mảy may động chạm đến vị Sultan cha già dân tộc. Ít lâu sau đó, một bức thư dài của những người ủng hộ Sultan được đăng trên Thời báo New York giãi bày cho cả thế giới biết rằng họ ở Oman hối hận lắm, họ đã phụ lòng thương mến của Sultan để mấy đứa láo lếu kia cả gan xúc phạm Người, rằng ở đâu Mùa xuân Ả Rập muốn đánh đổ độc tài chứ ở Oman họ chỉ muốn “nhà độc tài” của mình sống lâu đời đời. Nếu mà không tận mắt nhìn thấy cuộc sống ở Oman và tình cảm người dân dành cho ông thì hẳn tôi đã phì cười. Nhưng mà đó là sự thật, một người bạn tôi thậm chí hưng phấn về điều này đến mức đang lái xe đưa tôi đi chơi mà anh bỏ cả vô lăng, hai tay chém không khí phần phật: “Chúng tôi không cần dân chủ! Chúng tôi chỉ cần một nhà độc tài tốt bụng!”
Sự thực là những cuộc biểu tình đòi dân chủ ở Oman luôn đi kèm các khẩu hiệu đại loại: “Sultan! Chúng tôi nguyện hy sinh máu, thể xác và linh hồn để phục vụ Người”. Trong cả một dải Trung Đông bị làm cho be bét bởi các nhà độc tài, chỉ có hai quốc gia người dân tuyệt đối trung thành với nhà vua nhưng vẫn yêu cầu một thể chế dân chủ hơn, đó là Oman và Jordan. Ở thủ phủ Amman của Jordan, tôi đã chứng kiến cuộc tuần hành dân chủ đòi cải cách nhà nước với cả ngàn người được dẫn đầu bởi một lá cờ mỗi chiều hơn mười mét in hình ảnh nhà vua. Thông điệp của cuộc biểu tình rất rõ ràng: “Chúng tôi yêu quý nhà vua, nhưng chính quyền thì phải được cải cách”. Trong những cuộc nói chuyện với bạn bè khắp Trung Đông của tôi có một vài người cho rằng người dân ở đây sống theo thói quen bộ lạc nên luôn cần người dẫn dắt. Vả lại, bao nhiêu chục năm qua họ đã quá quen với chế độ độc tài, hoàn toàn chưa có khả năng thực hiện quyền và nghĩa vụ dân chủ. Đọc tới chương tôi viết về Libya, bạn sẽ thấy câu hỏi “Gaddafi chết rồi chắc đất nước sẽ có hy vọng hơn?” được trả lời khá thẳng thắn: “Thật ra tôi đang chờ một nhà độc tài mới có tâm với đất nước hơn!”
Trở lại chuyện của Sultan, tôi đã kể với các bạn chi tiết ông hoàng Qaboos bị đồn là đồng tính chưa nhỉ?
Vào những năm đầu tiên tại vị, chàng trai trẻ tuổi Qaboos chia sẻ quyền điều hành một đất nước vẫn còn khá hỗn loạn sau những năm tháng chiến tranh với ông bác ruột tên là Tariq Ibn Taymur. Tuy nhiên, sự cộng tác không được dài lâu vì Taymur ngày càng nắm nhiều quyền lực. Không lâu sau, hai người dàn hòa, và theo đúng truyền thống bộ lạc của thế giới Ả Rập, sự dàn hòa này được xác lập bằng một đám cưới, cụ thể là vị Sultan ba mươi sáu tuổi chính thức lấy con gái của Taymur, em họ của mình, khi đó vẫn còn là cô bé Kamila mười bốn tuổi về làm hoàng hậu. Cuộc hôn nhân kéo dài được vài năm thì hai người chia tay. Và vị Sultan giàu có, đẹp trai, tài năng đã sống hơn ba mươi năm qua đơn độc một mình.
Đấy là phiên bản chính thức, còn phiên bản lê la của quán xá thì Qaboos có một đội ngũ cảnh vệ gồm bảy trăm thanh niên đẹp trai lung linh. Trong harem[từ để chỉ một quần thể gia đình đa thê, tương tự như cấm cung nơi các vua chúa sống cùng vợ và các cung nữ] của ông có cả phụ nữ, nhưng dân tình đồn rằng những cô gái này chỉ được thuê để che mắt thiên hạ. Bản thân vị Sultan lúc nào trông cũng nhân từ và đẹp trai ngời ngời dù đã gần bảy mươi cái xuân xanh. Hàm râu quai nón trắng như tuyết, nhưng tôi “bắt quả tang” lông mày của ông trăm bức ảnh như một đều được nhuộm xanh rì. Bạn bè người nước ngoài ở Oman thì bán tín bán nghi, nhưng lũ bạn người bản xứ khi được hỏi thì một mực cho rằng Qaboos không thể nào là gay được, ông ấy tốt thế cơ mà, giỏi thế cơ mà, đáng phục thế cơ mà (!). Kết luận: Sultan rất có thể đang chọc ngoáy đám trai đẹp tí chút, nhưng điều đó được coi như một thú vui cá nhân hơn là sự “lệch lạc” về giới tính.
Hilal tất nhiên là không mặn mà lắm với câu hỏi tế nhị của tôi về cái việc ai ở Oman cũng băn khoăn lo lắng nhưng không ai dám nói ra, giống như có một con voi trong phòng khách, to lớn khổng lồ nhưng ai cũng giả vờ không nhìn thấy. Sultan thì già rồi, hoàng hậu thì ly dị lâu rồi, con cái thì không có, ai sẽ là người kế nghiệp đây? Cái sự thành công nhanh chóng, rực rỡ mà vẫn rất bình hòa của Oman đều do một tay Sultan sắp đặt. Nhiều người lo Oman sẽ loạn to khi ông về chầu giời, Hilal thì đặt tay lên ngực nói đơn giản: “Chúng tôi yêu và tin Sultan. Chúng tôi tin rằng ông sẽ sắp đặt mọi việc đâu vào đấy. Việc Sultan là gay hay không thì nói thực là tôi chẳng quan tâm”.
Không quan tâm mà được à?
Tôi cười xòa khi Hilal nói là anh ấy “không quan tâm”. Vấn đề là bản thân tôi thì lại rất quan tâm. Tại sao? Bởi câu hỏi ai là người kế vị luôn là đầu mối của phần lớn các cuộc binh đao, và một trong những cuộc binh đao lớn nhất, tàn khốc nhất, lâu đời nhất thế giới, cho đến tận bây giờ vẫn tiếp tục đổ cả biển máu bắt nguồn từ chính câu hỏi không có lời giải đáp này.
Trở lại gần 1400 năm trước, từ sau khi người vợ yêu Khadijah hơn ông tới mười lăm tuổi qua đời, thiên sứ Muhammad đã cưới thêm hơn một chục bà vợ khác, hầu như tất cả đều là quả phụ hoặc ly dị chồng, ngoại trừ một người vợ còn rất trẻ, được gia đình đính hôn từ khi mới lên sáu tuổi tên là Aisha, được Muhammad đặc biệt yêu quý. Thời xa xưa, những cuộc hôn nhân diễn ra không chỉ vì những tiếng gọi ngắn dài từ trái tim, mà phần lớn còn bởi các lý do chính trị, đoàn kết bộ lạc. Công chúa Huyền Trân của Việt Nam được cha gả cho vua Chàm Chế Mân là một ví dụ. Muhammad với sứ mạng thống nhất các bộ lạc Ả Rập dưới ngôi tôn giáo mới thậm chí còn tự cho mình quyền được phá luật, không giới hạn số vợ bản thân mình được cưới. Tuy nhiên, không một ai trong số hơn chục bà vợ này, kể cả Aisha từ lúc chính thức dậy thì và về ở cùng với Muhammad, đẻ cho ông thêm một đứa con nào. Fatimah trở thành cô con gái duy nhất mang dòng máu của vị thiên sứ với người vợ đầu tiên đã khuất Khadijah.
Năm 62 tuổi, thiên sứ của Hồi giáo Muhammad cuối cùng cũng nhắm mắt xuôi tay, để lại một di sản khổng lồ gồm cả vùng bán đảo Ả Rập thần phục dưới một tôn giáo có tên là Islam. Truyền thuyết kể rằng trong phút cuối đời, ông yêu cầu đem giấy bút đến bên giường bệnh để viết di chúc, nhưng các bà vợ và kẻ thân cận bị cuốn theo những ý đồ quyền lực ngấm ngầm đã không làm như lời yêu cầu. Muhammad trút hơi thở cuối cùng mà không hoàn toàn nói rõ ai sẽ là người kế vị.
Nếu Muhammad có một cậu con trai, hẳn là bộ mặt thế giới của chúng ta bây giờ đã rất khác.
Người đàn ông có quan hệ dòng tộc gần gũi nhất với Muhammad là một cậu bé tên Ali, cháu bên đằng họ nội và cũng là con nuôi của Muhammad. Ali là một chiến binh nổi tiếng oai dũng và là một nhà thơ tài năng. Anh đại diện cho mẫu đàn ông Ả Rập toàn tài với trí óc sáng trong, trái tim nhân văn và bàn tay sắt thép. Khi anh kết hôn với Fatimah, trở thành con rể của Muhammad và đem lại cho ông tới năm đứa cháu ngoại thì ai cũng cho rằng chính anh sẽ là người kế vị. Tuy nhiên, khi thiên sứ qua đời, trong khi Ali còn đang than khóc và chuẩn bị lễ mai táng thì những cận thần thân tín của Muhammad họp nhau lại và chỉ định người kế vị là Abu Bakr, chính là bố đẻ của cô vợ trẻ Aisha. Vị caliph này trước khi băng hà lại tự chỉ định Umar kế ngôi – cũng là một trong rất nhiều bố vợ của Muhammad. Khi Umar bị ám sát, vị caliph thứ ba được chọn vẫn không phải là Ali mà là Uthman. Bị liên tục đẩy ra ngoài, không những một lần mà đến tận ba lần liên tiếp, trong suốt hai mươi tư năm sau ngày Muhammad qua đời, Ali ngậm đắng nuốt cay, kiên quyết không bạo loạn vì sự bình yên và thống nhất của đế chế. Chỉ đến khi Uthman bị quân nổi dậy xông vào tận hoàng cung giết chết vì sự xa hoa và nhu nhược thì Ali mới được tôn vinh lên làm người lãnh đạo của Islam.
Tuy nhiên, Ali lên cầm quyền thừa hưởng một thế giới Hồi giáo chia cắt với những kẻ lãnh đạo đầy mưu mô và phản phúc. Một trong số đó là thống đốc vùng Syria tên là Muawiyah, kẻ nhất định không công nhận ngôi caliph của Ali nhưng cũng là kẻ hèn nhát khi không dám nhận lời thách đấu trực tiếp của Ali nhằm tránh tổn thương cho quân lính. Tại trận Siffin, khi đã ở bên bờ vực của đại bại, quân lính Muawiyah được lệnh không đầu hàng mà giắt lên đầu ngọn giáo những cuốn Kinh Quran và kêu gọi hãy để cho Thượng Đế nói lời phán quyết. Lần đầu tiên trong lịch sử, cuốn thánh kinh tôn giáo đóng vai trò quyền năng chính trị.
Dù đã nhìn thấu mưu chước của Muawiyah nhưng dưới sức ép của chính quân đội mình, đặc biệt là nhóm lính từ bộ lạc Qurra, Ali buộc phải chấp nhận cử đại diện vào hội đồng phân xử, và sau đó bị phe của chính mình phản bội. Những người Qurra thấy Ali bị yếu thế, không còn có thể che chở cho bộ lạc mình được nữa thì trở mặt, cho rằng Ali hèn nhát, rằng việc Ali chấp nhận kết quả phân xử là sự phản bội lại Islam mặc dù chính họ là những người thoạt đầu đã ép Ali chấp nhận hội đồng phân xử. Với nhận định cho rằng tôn giáo đã trở nên vấy bẩn bởi ý chí của con người, khoảng hơn 10.000 quân lính tách khỏi cộng đồng, lập nên tổ chức Hồi giáo cực đoan đầu tiên trên thế giới có tên là Khawarij.
Sự tàn khốc và khát máu của Khawarij khiến cả vùng bán đảo Ả Rập phải ghê sợ. Bất kỳ ai trên sa mạc cũng đều có thể bị chặn đường và buộc phải trả lời một câu hỏi bất kỳ về Islam và lòng trung thành. Chỉ cần một câu ủng hộ Ali, hay một lời đáp sai giáo án là kẻ du hành xấu số bị tuyên bố là kafir[kẻ vô đạo, phản đạo] và bị giết không thương tiếc. Nổi tiếng nhất là câu chuyện về gia đình Khabbab: vợ ông bị giết, kể cả bào thai nằm trong bụng cũng bị lôi ra ngoài thọc một nhát gươm cho chết. Sau khi đã bắt Khabbab quỳ gối và phải tận mắt chứng kiến cảnh vợ con mình lìa đời, bản thân ông cũng nhận được một nhát chém rơi đầu. Chẳng bao lâu sau, đến chính cả caliph Ali cũng bị Khawarij ám sát.

Sau cái chết của Ali, không phải những kẻ cực đoan Khawarij mà lại là những người cầm quyền chính thống của Hồi giáo – những kẻ nối ngôi Muawiyah – đẩy gia đình ông phải chịu nhiều cảnh vô cùng thảm thương. Chỉ chưa đầy năm mươi năm sau khi Muhammad băng hà, cháu ngoại của vị thiên sứ người thì bị đồn là đầu độc mà chết, người thì bị chặt đầu cắm vào ngọn giáo bêu riếu trong kinh thành, những cháu gái của ông chân đeo gông xiềng lê lết trên cát bỏng sa mạc bước theo sau ngọn giáo xuyên qua đầu cha còn rỏ máu, chịu nhục hình trước mặt những caliph mới. Trên danh nghĩa Hồi giáo thiêng liêng, trớ trêu thay, gia đình máu mủ của chính người khai sinh ra Hồi giáo lại bị tàn sát vô cùng man rợ.
Nếu không có sự tàn khốc này, hẳn Hồi giáo đã không bị chia cắt đến gần như đứt lìa suốt gần 1400 năm qua. Những giọt máu này đánh dấu cho một lịch sử đẫm máu kế tiếp của Islam. Nhóm người Hồi ủng hộ Ali và cho rằng lãnh đạo tôn giáo phải là những người thuộc dòng tộc của thiên sứ Muhammad dần dần hình thành nên nhánh Shia, tiếng Ả Rập có nghĩa là những người đi theo Ali. Nhóm còn lại cho rằng dòng tộc máu mủ không quan trọng mà cách sống và phẩm chất đạo đức mới quyết định ai là người lãnh đạo. Họ hình thành nên nhánh Hồi giáo Sunni, tiếng Ả Rập có nghĩa là những người tuân theo lời dạy và lối sống (sunnah) của thiên sứ Muhammad.
Suốt gần 1400 năm qua họ đánh giết nhau. Và họ vẫn đánh giết nhau cho đến tận bây giờ.
Thế còn những kẻ đã ám hại Ali, những tín đồ Hồi giáo cực đoan đầu tiên nhân danh thánh kinh Quran sẵn sàng hạ sát bất kỳ ai không cùng chính kiến?
Họ dạt xuống Oman.
Hồi sinh
Khó có thể tin rằng những hậu duệ cuối cùng của Khawarij lại chính là vị Sultan nhìn hiền như ông Bụt, là một vương quốc Hồi giáo đầy khoan dung với những ông chồng lúc nào cũng tay bồng tay bế trẻ con để cho vợ đi tay không, là những quán bar rượu cồn xả phanh, và các cậu choai choai mặc áo chùng thêu, tay cầm chai bia miệng cười bẽn lẽn. Ngày cuối cùng trước khi rời Oman, tôi gặp Khalid, người đầu tiên cắm cờ Oman trên đỉnh Everest, hiện là cố vấn cao cấp của Bộ Giáo dục Oman. Khi tôi ngỏ ý ca ngợi sự khác nhau một trời một vực giữa Hồi giáo của tổ tiên Khawarij và Hồi giáo dòng Ibadi hiện tại ở Oman, Khalid liếc xéo tôi một cái rồi nhướng mày hỏi: “Thật ư?”
Khi ấy, chúng tôi đang lái xe xuyên qua khuôn viên thênh thang như một thành phố của Sultan Qaboos University – trường đại học đầu tiên của Oman mới hơn hai mươi năm tuổi. Khalid dừng xe, bảo tôi nhìn về ngã tư phía trước nơi hàng trăm nữ sinh đang túa ra khỏi giảng đường, xôn xao đen kịt cả một vùng. Anh chùng giọng hỏi tôi: “Mai đã đến Nizwa, Shalalah và rất nhiều nơi khác của Oman, Mai có chú ý đến những trang phục của phụ nữ nơi đó không?”
Tôi chợt hiểu ý của Khalid. Quả thật những phụ nữ Oman miền quê có cách ăn bận vô cùng độc đáo. Và không chỉ có phụ nữ Oman, mỗi bộ lạc của Trung Đông đều có một kho báu về vô số chủng loại phục trang, quần áo đầy màu sắc và cá tính. Tuy nhiên, chỉ cần vươn ra đến gần thành phố là mắt người đi đường tối sầm lại vì những bộ áo chùng đen abaya và niqab chỉ hở hai con mắt mà ở đâu cũng gần hệt như nhau: Dubai, Oman, Ai Cập, Jordan, Yemen… Khắp cả Trung Đông phụ nữ trút bỏ dần xiêm y lộng lẫy của thời ông bà cha mẹ và khoác lên vai “tấm vải liệm” (từ của Khalid) đen sì vô danh tính, một sản phẩm của Hồi giáo cận đại. Không hẹn mà cùng nhịp, cả tôi và Khalid thốt nhiên lẩm bẩm trong miệng: “Wahhabi”.
Sự thật đã quá rõ ràng. Mặc dù hậu duệ sinh học của Khawarij tồn tại ở Oman, nhưng kẻ nối ngôi “xứng đáng” nhất của tinh thần Khawarij lại chính là dòng Hồi giáo Wahhabi ở Saudi. Sự cực đoan của Wahhabism được phát tán ra khắp Trung Đông và thế giới phương Tây, viền bằng hào quang và uy lực thần bí của một thứ Hồi giáo cực đoan, nhưng lại nhân danh sự chân chính của tín ngưỡng và tính chính thống của vùng đất khai sáng. Những người phụ nữ Saudi dưới ảnh hưởng của Wahhabism từ bỏ quần áo truyền thống và quấn quanh mình chiếc áo chùng đen che kín mặt, hình ảnh đen thui rũ bỏ sạch sành sanh mọi dấu vết văn hóa truyền thống ấy được tôn sùng lên thành sự tinh khiết đến tận cùng của tôn giáo. Vượt qua biên giới, chiếc áo đen với sức mạnh của đồng đô la dầu mỏ từng bước Wahhabi-hóa những thánh đường Hồi giáo cổ truyền, xóa bỏ dần dần từng lớp văn hóa quốc gia, biến mỗi phụ nữ thành một câu khẩu hiệu tôn giáo chói tai khi cô ấy cùng hàng triệu, chục triệu phụ nữ khác tự nguyện khoác lên mình bộ đồng phục đen như một dấu hiệu thần phục sức mạnh tôn giáo của nhà Saud.
“Mặc áo đen thì suy nghĩ cũng sẽ có màu u ám tiêu cực” – Khalid thở dài thườn thượt. Anh kể cho tôi nghe về cô vợ yêu của mình, năn nỉ cách nào cũng vẫn chui vào cái “khăn liệm” màu tang tóc. Cứ như một cơn dịch tràn lan không thuốc chữa. Những dải áo kim sa lộng lẫy truyền thống của Oman chỉ còn là ký ức trong các lễ hội xa xôi.
Chợ bán hương liệu ở Nizwa. Từ khi lạc đà được thuần hóa, hương liệu đã được buôn bán từ đông sang tây. Oman nằm trên con đường trầm hương hơn 2000 năm tuổi, nổi danh với chất liệu và mùi hương quyến rũ.
Rồi dường như muốn để tôi chạm sàn thực tế thêm một chút nữa, Khalid nhắc tôi nhớ cho rằng Oman từng là một quốc gia giàu có bậc nhất thế giới, và là tiên phong trong nghề hàng hải. Có một thời điểm trong quá khứ, Oman đã vượt biển đô hộ và thống trị hơn 10% diện tích châu Phi. Cách Muscat không xa là Sohar, quê hương của chàng thủy thủ Sinbad lừng danh trong Nghìn lẻ một đêm với những cuộc phiên lưu mạo hiểm khắp chân trời góc bể. Vậy mà bây giờ với đống tiền dầu lửa, đám trẻ ai cũng chỉ mong kiếm được việc làm trong cơ quan nhà nước.
“Chán!” – Khalid buông một câu.
“Chán!” – Tôi cũng thầm nghĩ trong đầu, liên tưởng đến một vài người quen biết ở nhà. Tôi từng tủi thân nghĩ đất nước dài rộng quấn quanh biển Đông mà sao lịch sử Việt Nam không thấy có trang sử hàng hải huy hoàng. Mỗi lần về nhà bảo bạn bè tao tiêu hết tiền vào đi du lịch thì bị chê là khùng. Tục ngữ có câu “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” nhưng mấy nghìn năm người Việt chẳng đi qua nổi mấy lũy tre làng. Hay là tại chiến trận liên miên? Hay là tại tâm tính dân tộc không khát khao thách thức, ưa việc làm nông quanh con trâu cái cày hơn là đóng thuyền vượt trùng khơi, bất chấp thế đất thế nước thiên thời địa lợi, bất chấp thiên nhiên mời gọi giục giã?
“Thôi mà!” – Khalid phì cười an ủi – “Đến một đất nước tiên phong về hàng hải với huyền thoại Sinbad còn như thế này nữa là… Cái gì cũng phải từ từ. Mình cứ phải làm tốt những gì mình được dạy thôi. Cô là người cầm bút thì sao không viết lấy một bài. Biết đâu mấy bạn trẻ ở Việt Nam sẽ rút kinh nghiệm được điều gì đó từ đất nước chúng tôi?”
Tôi vẫn nghĩ về Oman như một Trung Đông thần tiên, nhưng là kiểu thần tiên cổ tích của Andersen: đẹp, khắc khoải, và hình như không bao giờ kết thúc. Tôi cũng không còn thích cái kết đời đời hạnh phúc nữa. Phải có một tí phù thủy bạn ạ. Phải có một tí phù thủy để chân tay còn biết động đậy, trí óc còn biết đấu tranh, trái tim còn biết phân biệt tốt xấu.
Và chương này tôi viết theo yêu cầu của Khalid, người đang mải miết chinh phục những đỉnh núi mới.
Chương 5 - Yemen: Bước qua đêm dài
Anh chàng nhân viên hải quan ở sân bay gí mũi vào cuốn hộ chiếu, rồi ngẩng đầu nhìn tôi chằm chằm hỏi: “Cô bay đi Yemen thật à?” – “Vâng!” – Tôi trả lời. Ngay lập tức, anh ta nhổm dậy, khoát tay thông báo cho các cabin hải quan khác: “Có khách quốc tế đi Yemen!” Trong giây lát, hơn chục cái đầu trồi lên xung quanh. Tôi cười gượng gạo rồi nhanh chóng lủi đi khỏi những ánh nhìn không rõ thán phục hay thương cảm. Có ai điên mà đi Yemen vào đúng hai tư giờ trước cuộc bầu cử được cả thế giới dự báo là sẽ gắn liền với bạo động và đổ máu?
24 giờ trước bình minh
Sân bay Sanaa dày đặc an ninh. Mặc dù bạn tôi Fatma đã trực tiếp gọi điện, hải quan nhất định không cho phép tôi tự bắt taxi về nhà, cũng không cho tôi đi nhờ xe một phóng viên BBC. Họ bắt tôi chờ gần hai tiếng để điều động một lái xe riêng của sân bay chở tôi về tận cổng. Từ đây, nhất cử nhất động của tôi đều không thể thoát khỏi sự theo dõi của mật vụ và an ninh.
Tôi đem điều băn khoăn này ra thổ lộ với Fatma. Nó cười xòa rồi bảo tôi đừng lo vớ vẩn. Chẳng cần sự có mặt của tôi thì khu nhà của Fatma đã ở trong khu vực bị theo dõi rồi. Đừng quên Fatma là một trong những nhà chống đối và hoạt động chính trị nổi tiếng của Yemen. Tôi há hốc mồm nhìn Fatma, vọt ra ngó ngoài cửa sổ. Phía bên kia đường, một trạm gác sơ sài nép dưới lùm cây với hai chú lính hờ hững gác chân lên báng súng. Fatma cười rũ: “Không sao đâu! Chỉ hơn nửa ngày nữa là Yemen có một chính phủ mới. Với lại ai dám động đến tôi? Nhà tôi có người làm tới bộ trưởng…”
Con bệnh có tên Yemen
Hai tiếng Ye-men không gợi lên nhiều điều sáng sủa. Ba mươi ba năm sau đêm dài độc tài và một cuộc cách mạng thay máu, đất nước một thời huy hoàng này nằm vật ra như con bệnh vừa vượt qua trận đại phẫu. Từng thớ thịt của Yemen run rẩy trong một nhịp điệu vừa hồi hộp, vừa đớn đau, vừa hy vọng. Mùi chiến thắng vẫn râm ran trong không trung nhưng thực tế cuộc sống khiến ngay cả những trái tim lạc quan nhất cũng phải nhói lên nhức nhối.
Kẻ thù thường trực của Yemen là đói nghèo. Đã xưa lắm rồi cái thời Yemen giàu có đến độ đế chế La Mã phải gọi vùng đất phồn vinh của hương liệu này là Arabia Felix, nghĩa là “xứ Ả Rập hạnh phúc”. Bước vào thế kỷ 21, nửa dân số Yemen sống dưới mức đói nghèo 2 đôla/ngày. Mỗi lần nghĩ về những gia đình Yemen truyền thống, tôi lại nhớ đến câu giải thích hài hước lưu truyền trong dân gian: Nghèo thì phải ăn khoai. Ăn khoai thì đêm nóng ruột. Đêm nóng ruột thì không ngủ được. Không ngủ được thì đẻ nhiều con. Mà nhiều con thì lại… ăn khoai!
Với tỉ lệ sinh cao chót vót ở mức độ 6,2 trẻ một gia đình, Yemen không ăn khoai nhưng phân nửa dân số thiếu ăn. Trẻ em gái bị gia đình gả bán từ nhỏ và có đến 70% mù chữ. Khi tôi đang viết những dòng này (3 giờ chiều ngày 23-10-2013), tay gõ bàn phím bỗng run bắn lên khi một người bạn từ Yemen vừa post lên facebook tin về cô gái mười lăm tuổi bị bố đẻ thiêu sống vì cả gan lén gặp vị hôn phu trước khi đám cưới diễn ra. Xã hội bộ lạc cổ hủ cộng với sự hiểu biết về Hồi giáo theo hướng cực đoan khiến năm 2012 Diễn đàn Kinh tế Thế giới quyết định xếp Yemen đội sổ về bình đẳng giới. Vị trí bét dít mang tên “nền kinh tế tồi tệ nhất thế giới” là nhát búa cuối cùng bồi thêm cho một Yemen với 70% thanh niên thất nghiệp, mấy cái mỏ dầu giữ Yemen cầm hơi sẽ cạn vào năm 2017, cộng thêm thủ phủ Sanaa sẽ là thành phố đầu tiên trên thế giới cạn kiệt nguồn nước ngọt. Yemen giống như một con bệnh vừa đại phẫu xong thì phá sản, không còn đủ tiền để mua thức ăn mà sống sót.
Bạn nghĩ tình cảnh như thế đã là khốn cùng?
Chưa đâu! Đường phố Sanaa những ngày giữa năm 2013 bắt đầu xuất hiện bóng dáng những phụ nữ Syria. Rất dễ nhận ra họ giữa những bóng áo chùng đen che kín mít của người bản xứ Yemen bởi khuôn mặt xinh đẹp không che mạng và quần áo hiện đại. Họ lê la khắp nơi xin đồ ăn nước uống. Cuộc chiến thảm khốc ở Syria đẩy hàng triệu người dân chạy nạn. Nhưng những kẻ dạt xuống Yemen thì tình cảnh của họ thảm thương chẳng khác gì nhảy từ trong chảo nướng ra ngoài và rơi thẳng vào… lò lửa. Và trong cái lò lửa ấy cũng đã sẵn có khoảng hai triệu dân tị nạn quằn quại, chủ yếu từ Somalia và Ethiopia. Con bệnh Yemen không những có nguy cơ chết đói mà còn phải sẻ chia phần cơm hẩm của mình cho những kẻ đói ăn khác.
Con mồi có tên Yemen
Và lượn vòng vòng trên đầu Yemen là những con chim chờ ăn xác thối.
Tôi không thích sự so sánh này lắm, bởi vì thực ra lũ chim này chẳng cần chờ Yemen chết mới bắt đầu rỉa róc. Con kền kền to nhất, háu đói nhất, chầu chực lâu nhất, từ tận hơn bảy mươi năm trước chẳng phải ai xa lạ mà chính là một người quen của chúng ta – Saudi.
Vào một buổi chiều năm 1953, trên giường hấp hối, vua Saudi Aziz vẫn còn thu sức tàn để dặn dò các con trai của mình: “Làm gì cũng được, nhưng phải giữ cho Yemen lúc nào cũng bấp bênh”. Yemen mà giàu mạnh thì họ sẽ lập tức đòi lại phần đất đai có tiềm năng dầu mỏ đã bị nhà độc tài Saleh bí mật bán đứt cho Saudi để đổ vào túi riêng. Khi Yemen có biến, Saudi sẽ khoắng thêm cho đục ngầu, điển hình là sự phá bĩnh Hiệp ước Bắc Nam sum họp năm 1990. Khi Yemen thống nhất, Saudi sẽ lén lút cho tiền các bộ lạc để họ nổi loạn. Saudi dùng cái ngân sách không đáy của mình để tiêm chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan Wahhabism vào các thánh đường của Yemen. Nếu Yemen dám ngọ nguậy kháng cự, chỉ cần một cú trục xuất vài ngàn lao động Yemen đang ngày đêm cày cuốc ở Saudi là nền kinh tế èo uột của Yemen lãnh đủ.
Theo quy tắc ngón tay cái, ở đâu có người Hồi giáo dòng Shia, ở đó có Iran. Con chim ăn xác thối thứ hai này đương nhiên đối đầu không khoan nhượng với một Saudi của Hồi giáo dòng Sunni. Trên khắp Trung Đông, tất cả những đất nước khác như Li Băng, Bahrain, Iraq, Syria nơi cả hai cộng đồng Shia và Sunni cùng tồn tại đều đã trở thành chiến trường của hai kẻ kình địch. Và vì dân số Yemen một nửa Shia một nửa Sunni, cả hai con chim này đều có cớ để nhảy vào xâu xé tranh giành ảnh hưởng. Khi các bộ lạc Shia ở miền bắc Yemen nổi dậy năm 2004, Iran thì tích cực cung cấp vũ khí, còn Saudi lại đánh bom cho tơi bời. Hai năm qua, Iran thậm chí còn bắt tay với cả nhóm Sunni ở miền nam để ủng hộ phong trào tách nước thành lập chính quyền miền Nam độc lập. Với một đồng minh ở cửa ngõ vận chuyển dầu ra Biển Đỏ và kênh đào Suez, Iran có thể nắm nút cổ chai của nền kinh tế thế giới, hẳn nhiên là một đền bù không tồi trong trường hợp đồng minh Syria hoàn toàn sụp đổ.
Những con kền kền chờ rỉa róc khác có tên là Qatar và Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu Saudi tìm cách triệt hạ tổ chức Huynh Đệ Hồi giáo thì Qatar lại bơm tiền cho Huynh Đệ tràn ngập Yemen, thậm chí gã khổng lồ truyền thông Al-Jazira của Qatar có cái nhìn thiên lệch đến mức bị coi là người phát ngôn cho Huynh Đệ trên mạng lưới media toàn thế giới. Thổ Nhĩ Kỳ thì ý tứ hơn, chỉ lộ ra tí đỉnh là có ủng hộ các bộ lạc Sunni nhưng ai cũng thừa biết Thổ đang mưu toan khôi phục lại sự ảnh hưởng của đế chế Ottoman hùng mạnh một thời dưới cái tên neo-Ottomanism.
Xếp hàng cuối cùng trong danh sách là một con chim đầy nọc độc, không ai khác chính là tổ chức Hồi giáo khủng bố Al-Qaeda. Đây cũng là con chim đã mang tiếng xấu một cách chính thức, không cần thiết phải chơi trò hai mặt như các quốc gia khác. Từ sau khi Liên Xô chiếm đóng Afghanistan, Yemen trở thành “thiên đường” để xây dựng căn cứ khủng bố bởi những điều kiện thiên thời địa lợi nhân hòa không đâu bằng: đất nước nghèo dễ mua chuộc, cấu hình văn hóa bộ lạc dễ bị chia rẽ, chính quyền trung tâm yếu ớt không đủ sức phản kháng, thị trường vũ khí tự do không ai quản lý, và hơn tất cả, đây là vị trí thiết yếu trên con đường vận chuyển dầu cho nền kinh tế toàn cầu. Trùm khủng bố Osama Bin Laden thậm chí còn cưới một cô vợ người Yemen để thắt chặt “mối bang giao”. Lãnh đạo Yemen nhìn thấy được thảm họa nhưng cũng chỉ có thể kháng cự yếu ớt vì các quan chức nghèo chỉ cần nhét tiền vào miệng là trách nhiệm nặng nề đến mấy cũng có thể tạm quên. Các căn cứ quân sự của Al-Qaeda giăng mắc trong địa thế hiểm trở của Yemen, buộc Mỹ phải dùng máy bay không người lái (drone) tấn công. Tuy nhiên, các drone không chỉ giết quân khủng bố mà còn sai sót giết luôn cả dân thường, cụ thể là 13 người vô tội trong một đám cưới cuối năm 2013. Người Yemen hẳn nhiên muốn tống cổ Al-Qaeda ra khỏi lãnh thổ nước mình, nhưng cái sự ghét Mỹ thì còn khủng khiếp hơn. Chính vì thế đài báo mới đầy rẫy tin dân Trung Đông phản đối biểu tình chống drone của Mỹ và chửi bới quân đế quốc vô đạo.
Vừa là con bệnh, vừa là con mồi, sau cách mạng lật đổ chính quyền độc tài, Yemen vật lộn chống chọi với đói nghèo, tị nạn, nổi loạn Shia ở miền bắc, Sunni đòi tách nước và Al- Qeada ở miền nam, cùng cả một đàn kền kền lăm le đòi cắm ngập mỏ vào miếng bánh dầu lửa ít ỏi còn lại. Vậy nhưng những trải nghiệm của tôi khi đặt chân đến Yemen hầu như trật khớp với mọi hình dung, dù là những hình dung tưởng chừng như logic và giản đơn nhất.
Cách mạng kiểu Yemen
Khi Mùa xuân Ả Rập đang ở cao trào, rất nhiều người mạnh mẽ phát ngôn rằng thành công đạt được là nhờ cách mạng xã hội. Sai bét. Bằng chứng là Yemen nơi internet chỉ có độ phủ sóng 2%, thậm chí mỗi ngày điện cũng chỉ được cấp có vài giờ. Tôi vẫn thường bật cười khi nhớ lại cảnh mình ngồi lọt thỏm trong khu biệt thự quý phái của một trùm báo chí Sanaa, chủ nhân của mấy tờ báo và một kênh truyền hình. Bên cạnh tôi, ông trùm tay giữ khư khư cái điện thoại tôi vừa cho mượn, ồ à trầm trồ trước lời hướng dẫn của tôi về cách sử dụng Twitter (!).
Đường phố Sanaa những ngày này phập phồng một hơi thở mới. Khắp nơi căng đầy những tấm áp phích chụp ảnh các cô gái che mạng kín mặt giơ ngón tay cái đã được lăn mực điểm chỉ (dấu hiệu đã đi bỏ phiếu) nhằm thúc giục mọi người đi bầu cử. Cuộc bầu cử ở Yemen cũng lạ lùng chưa từng thấy vì chỉ có duy nhất một ứng cử viên và một lựa chọn trả lời duy nhất: Tôi đồng ý! Dân chủ mới chỉ lưng chừng. Cả đất nước dường như vừa lo lắng, vừa háo hức, rón rén khe khẽ chạm tay vào một điều mới mẻ. Trong một bối cảnh bị bủa vây và sức tàn lực kiệt, Yemen đã quyết định rằng dân chủ là một quá trình. Ở giờ phút này, người dân trước hết cần phải học để tự in vào tâm thức của mình rằng thay vì đặt ngón tay lên cò súng, phân chia quyền lực sẽ được quyết định bằng việc lăn điểm chỉ chính ngón tay ấy trên lá phiếu bầu cử.
Cô gái trong ảnh khi thấy tôi và hướng dẫn viên du lịch (nam) đi qua thì đứng vụt dậy, chạy ra đón đường, hào hứng nói chuyện bằng cả chân lẫn tay, sau đó thì một mực đuổi ông hướng dẫn đi để được đưa tôi về nhà chơi. Ông hướng dẫn sau này bẽn lẽn tâm sự là đã phát hoảng muốn biến, nhưng vì tôi mà phải ở lại. Cùng với cuộc cách mạng chính trị ở Yemen, phụ nữ hình như đã bạo dạn hẳn lên. Và nữa, dưới tấm áo choàng đen này rất có thể là quần bò thủng lỗ và áo hip-hop.
Chẳng nhà độc tài nào của Mùa xuân Ả Rập may mắn như Saleh. Đám “bạn bè” của ông ta ai cũng có một cái kết thảm hại: độc tài Ben Ali của Tunisia chạy như vịt và phải sống biệt xứ ở Saudi, độc tài Mubarrak của Ai Cập dở sống dở chết trên giường bệnh và sau song sắt, độc tài Gaddafi của Libya bị cả thế giới chứng kiến cảnh mình chịu giẫm đạp đánh đập bê bết máu và kết thúc cuộc đời trong áo quần rách nát lấm lem bùn đất. Thế còn Saleh? Để tạo điều kiện tối đa cho một cuộc chuyển giao quyền lực không đổ máu, ông ta được miễn mọi tội lỗi, thậm chí được lập cả một cái viện bảo tàng đặt tại một khu của thánh đường Hồi giáo mang tên… Saleh(!), ghi lại lịch sử ba mươi ba năm cầm quyền với hàng chữ trân trọng: “Người lãnh đạo tôn kính”! Cũng là kẻ ra lệnh bắn vào đoàn người biểu tình, nhưng kết cục của Saleh so với những “bạn bè” của ông ta quả là khác nhau một trời một vực. Kỳ lạ chưa, ở Yemen, cách mạng xong kẻ thù vẫn có thể được tôn vinh.
Văn hóa súng ống kiểu Yemen
Vào chừng tầm cuối buổi chiều của ngày bầu cử, Tariq – ông trùm truyền thông của Yemen đưa tôi đi một vòng quanh các điểm bỏ phiếu. Được bật đèn xanh, tôi thoải mái quay phim những phụ nữ trùm khăn đen niqab kín bưng mà bình thường tôi chỉ dám chụp trộm. Tariq là một người thân cận với cựu độc tài Saleh, bản thân anh cũng bị trọng thương khi đứng gần Saleh trong cuộc ám sát hụt nhà độc tài năm 2011. Khi anh vạch áo cho xem vết sẹo, tôi suýt đứng tim khi thấy một khẩu súng ngắn giắt gọn gàng sau thắt lưng. Tariq bắt gặp ánh nhìn của tôi thì cười lớn và chỉ về phía đằng sau nơi một chiếc Land Cruiser vẫn lặng lẽ bám theo chúng tôi từ lúc nào. Chút xíu sau, xe dừng trước một nhà hàng Nhật, tôi cảm thấy hệt như đang trong một bộ phim gangster khi vừa bước chân ra khỏi xe đã thấy những vệ sĩ của Tariq tỏa ra khắp nơi, mỗi người chiếm cứ một vị trí chiến lược, ai cũng được trang bị vũ khí đến tận răng. Sau bữa tối đãi người từ xa đến đúng theo truyền thống hiếu khách của Ả Rập, chúng tôi trở về nhà riêng của Tariq cùng bạn bè chờ tin bầu cử. Từ phía sau quầy bar nối với phòng khách, Tariq xuất hiện, một tay cầm ly cocktail một tay cầm khẩu AK47 của Nga. Khi tôi giơ tay đón ly cocktail thì anh lại gí vào tay tôi khẩu súng nặng trịch, nói nửa đùa nửa thật: “Mai có biết sử dụng cái đồ chơi này không? Tôi bị ám sát hụt nhiều lần rồi nên cứ cẩn thận là hơn”(!).
Ấn tượng đầu tiên của du khách khi đặt chân đến Yemen có lẽ là số lượng vũ khí khổng lồ những người đàn ông ở đây sở hữu. Không chỉ đàn ông, trẻ con ở Yemen có thể hỉ mũi vào đống súng nhựa made in China vì chúng có thể dễ dàng chôm vài khẩu AK của bố để thỏa mãn trí tò mò. Tôi từng hết hồn khi thấy hai cậu bé chừng 12 tuổi lia hàng chục phát đạn lên trời. Nhìn thấy tôi, chúng toét miệng cười và giơ hai ngón tay hình chữ V: “Victory and Peace”.
Chừng ba mươi cây số theo phía đông nam của Sanaa là Jihana, chợ bán vũ khí nổi tiếng nhất của Yemen nơi vô số loại súng ống đạn dược được bày bán như hoa quả ngoài đường, kể cả súng chống tăng và những khẩu “Libyan” đen mà chỉ có quân đội của chế độ Gaddafi cũ mới được trang bị. Với dân số hai mươi nhăm triệu người, nếu không tính phụ nữ và trẻ con, mỗi người đàn ông Yemen trữ trong nhà hoặc giắt quanh bụng cả thảy mười khẩu súng các loại. Đấy là chưa kể những con dao quắm (janbiyah) luôn đeo trước ngực là một phần không thể tách rời của trang phục truyền thống Yemen. Ahmed al-Kibsi – một nhà nghiên cứu chính trị làm một so sánh như sau để tôi dễ hiểu: “Thì cũng như cái cà vạt mà thôi. Đàn ông nước cô đeo cà vạt thì đàn ông Yemen đeo súng và janbiyah”. Súng và dao quắm là biểu hiện của vị trí xã hội và danh tiếng. Một cậu bé phải đeo con dao nhựa made in China giá 4 đô la để bộ quần áo truyền thống của mình được trọn vẹn. Nhiều ông bố nghe tin vợ đẻ con trai là hộc tốc chạy ra chợ mua một… khẩu súng (xịn) làm quà cho baby mới chào đời.
Nền văn hóa súng ống này là hậu quả của một lịch sử nơi Yemen bao năm qua là bãi chiến trường cho các ông lớn choảng nhau. Khi Yemen còn thuộc về đế chế Hồi giáo khổng lồ Ottoman (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), quân Anh chuyển vào đây một số lượng vũ khí lớn để đánh bật Ottoman khỏi bán đảo Ả Rập. Quân Anh rút đi thì chính quyền miền nam Yemen để trái tim mình xao xuyến trước lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, và điều đó cũng có nghĩa là Liên Xô nhảy tới thế chân, bơm thêm cơ man nào là vũ khí để đánh nhau với chính quyền miền bắc lúc đó tất nhiên là được Mỹ và Saudi chống lưng với một lượng súng ống không hề thua kém.
Đọc đến đây chắc tóc gáy nhiều người dựng lên vì sợ. Dân Yemen thì ngược lại, cảm thấy rất an tâm khi trong nhà cả đàn bà lẫn trẻ con cũng có thể kéo cò. Chính quyền độc tài thì độc tài, nhưng chả ai dám tự dưng đêm tối đến đập cửa bắt người như ở Ai Cập và Libya. Năm 2013, báo cáo của tổ chức Yemen Polling Center khiến ai cũng có thể ngã ngửa người ra vì tổng kết 48% dân Yemen tự nhận là cuộc sống của mình luôn luôn an toàn, 28% nhận định “hầu như là rất an toàn”. Ở vùng Saada nơi bộ lạc Huthi nổi dậy chống chính quyền, 80% dân địa phương cho rằng tình hình an ninh khá tốt trong khi 100% người được hỏi khẳng định rằng chẳng có một cái đồn cảnh sát nào hoạt động ở Saada.
Phải chăng là người Yemen đã quá quen với cuộc sống bấp bênh nên “chẳng có an ninh thì cũng chẳng thành vấn đề”? Không hề! Sự sai lầm của phần lớn chúng ta là nhận xét về Yemen qua lăng kính văn hóa của chính mình. Luật pháp của Yemen là các nguyên tắc ứng xử (qabyala) được gìn giữ từ ngàn đời này trong cuộc sống bộ lạc. Dù chiến tranh bên ngoài có tàn khốc đến đâu và chính quyền có suy đồi đến cỡ nào, nhưng nếu trong nội bộ những quy định văn hóa này không bị tổn thương thì người Yemen đương nhiên vẫn có thể được coi là sống trong một cộng đồng có luật pháp bảo vệ. Lấy ví dụ như các vụ bắt cóc khiến chúng ta nghe là đã hình dung ra cảnh tượng man rợ. Nhưng nhà báo Adam Baron trong một bài viết của mình đã miêu tả việc bắt cóc như một cách để giải quyết mâu thuẫn bộ lạc rất bình thường của Yemen nơi con tin được đối đãi trọng vọng để không làm tổn thương đến danh tiếng của… kẻ đi bắt cóc. Trong khi con tin được cho ăn cho uống và nghỉ ngơi, các tù trưởng bộ lạc (shaykh) thường tổ chức liên tiếp nhiều buổi thương thảo, tại đây người của hai phe tranh chấp ngồi quanh các bàn hút shisha, nhai lá qat[25] phồng cả má, giữa các vấn đề cần bàn luận lại xôn xao chêm vào các câu chuyện chính trị cũng như nhà nông. Một liên tưởng hơi bấp bênh nhưng khá gần gũi là kiểu “phép vua thua lệ làng” ở Việt Nam nơi cuộc sống làng xã được gìn giữ và bảo tồn với hệ thống luật pháp không chính danh nhưng mạnh mẽ và quyền năng hơn cả chế tài của nhà nước. Tuy nhiên, chính vì sự gắn kết bộ lạc này mà cộng đồng người Việt Nam ở Yemen gặp rất nhiều khó khăn khi hầu như không thể hòa nhập với hệ huyết thống nối dây chằng chéo của người bản địa. Sau năm 1975, khoảng năm mươi gia đình Hồi giáo miền Nam Việt Nam được đưa sang Yemen tị nạn. Nay đã phát triển tới xấp xỉ 1700 người, nhưng cộng đồng pha trộn hai dòng máu này vẫn thường co cụm, tránh né xã hội bên ngoài, hoặc đúng hơn là không được xã hội Yemen hoàn toàn chấp nhận vì dòng máu ngoại lai. Họ kiếm kế sinh nhai chủ yếu bằng việc mở các quán ăn có đồ Việt Nam. Rất dễ nhận ra những khuôn mặt phụ nữ Việt không che mạng nổi bật lên giữa bạt ngàn bóng đen niqab.
Một ngày sau cuộc bầu cử ở Yemen, may mắn từ trên trời rơi xuống khiến tôi có dịp được gặp Jamal bin Omar – đại diện tối cao của Liên Hợp Quốc, người điều hành toàn bộ quá trình đàm phán và chuyển giao quyền lực tại Yemen (không có nhà báo nào có cơ hội được phỏng vấn Omar trong suốt quá trình bầu cử). Người hùng của Yemen nhìn mệt mỏi nhưng hạnh phúc. Theo lời thư ký của ông, Cathy, quá trình đàm phán liên tục rơi vào thế vô vọng. Từng có lúc một thánh đường Hồi giáo liên tục gọi tên ông suốt đêm với lời cầu nguyện để ông có thể giúp cho một Yemen hòa bình. Cathy cho rằng với một nền văn hóa súng ống dao găm như Yemen, không ai có thể hiểu nổi tại sao Mùa xuân Ả Rập lại có thể thành công với tối thiểu thương vong. Có sáu mươi triệu đơn vị vũ khí trong tay, nhưng những người Yemen lại buộc một dải lụa màu hồng lên đầu để xuống đường biểu tình. Có một điều gì đó rất đặc biệt trong tính cách người Yemen, một sự dịu thuần mà du khách phải ở lại lâu mới có thể nhận ra, mới có thể hiểu rằng đối với người Yemen, vũ khí không nhất thiết đi liền với bạo lực.
Chưa hết, mảnh đất tưởng như không còn gì để hy vọng này sau Mùa xuân Ả Rập lại sản sinh ra một phụ nữ kiệt xuất với giải Nobel Hòa Bình danh giá: Người Ả Rập đầu tiên và là người nhận giải Hòa Bình trẻ nhất trong lịch sử: Tawakkul Karman.
Cuộc sống ngầm sục sôi
“Này cậu! Kiếm cái gì sexy một chút để mặc nhé! Bọn mình đi party…” – Tôi vừa kịp đặt chiếc ba lô nặng trịch xuống giường đã thấy Fatma ngó đầu vào phòng tuyên bố. Năm phút sau, đám bạn của nó tíu tít xuất hiện, bọn con gái đứa nào đứa nấy trông như ninja đen sì từ đầu đến chân. Tôi thấy mình như “truổng cời” với áo hai dây và quần tất bó legging thít thìn thịt. Fatma phủ lên người tôi một chiếc khăn to như cái chăn rồi cả lũ mở cổng chui tọt vào xe. Tiếng nhạc ầm ầm. Bọn ninja lắc lư những cái đầu kín khăn. Bỗng nhiên Moe kêu lên: “Check point!”. Trạm kiểm soát hiện ra giữa đường. Nhạc tắt phụt. Đèn bật sáng. Cả lũ ngồi im mặt nghiêm trang. Tiếng báng súng trường va vào xe lách cách. Một vài khuôn mặt hình sự ló vào dò xét. Một cái phẩy tay cho qua. Fatma ngồi cạnh khe khẽ bĩu môi. Ở ghế trước, Moe nhè nhẹ nhấn ga lướt vào đêm Sanaa yên ắng.
Ở cái thành phố không có một quán bar chứ đừng nói đến sàn khiêu vũ này, những party hiếm hoi chỉ diễn ra trong khuôn viên các đại sứ quán hoặc trong nhà những người bạn có quốc tịch nước ngoài. Khi cánh cửa khép lại, tôi há hốc mồm chứng kiến những bóng ma trùm khăn đen sì cởi phắt khăn áo choàng kín mặt niqab, hiện nguyên hình là những cô gái cực kỳ xinh đẹp với bộ cánh hip-hop đến mức có thể khiến cho đám choai choai Tây Âu tím mặt vì ganh tị. Một cô gái trong số đó có tới vài hình xăm sặc sỡ và một chiếc khuyên rốn bằng kim cương lấp lánh. Tất cả cùng hút shisha có trộn cần sa mua từ Afghanistan, phả khói vào một không gian rộn ràng tiếng nhạc. Đám bạn mới quen của tôi thuộc lòng các bài hit mới nhất trên MTV, chửi thề như một rapper, lắc mông không thua gì Beyoncé, và khi ngồi xuống thì bàn luận cực kỳ nghiêm túc về những vấn đề rất nhạy cảm như “cách mạng”, “đồng tính”, hay “ăn cơm trước kẻng”. Có nằm mơ tôi cũng không thể tưởng tượng được chỉ vài giờ sau khi đặt chân tới Yemen, tôi lại có thể ngồi tranh cãi về chủ nghĩa hoan lạc trong mờ ảo khói đốt cần sa, trong tiếng chân giẫm sàn si mê theo nhịp điệu của “Moves like Jagger”, và trong tiếng hát rống lên hòa điệu với cái cần cổ cao chót vót của chàng ca sĩ xăm trổ đầy mình trong ban nhạc Mỹ Maroon 5. Khi giờ giới nghiêm điểm, đám con gái ngừng tranh luận và nhảy nhót, nhanh chóng chui vào bộ cánh tối om, và như những bóng đen phi danh tính, họ lên xe trở về nhà, tiếp tục cuộc vui trên facebook.
Tôi từng nghĩ chẳng cô gái trẻ trung xinh đẹp nào lại tự động muốn khoác lên người chiếc áo chùng tối đen xấu xí và che đi khuôn mặt thanh xuân của mình. Những ngày ở Yemen khiến tôi ngã ngửa bởi rất nhiều trong số những ninja này cực kỳ có ý thức về chiếc khăn trùm đầu hijab và mạng che mặt. Phụ nữ cho rằng đó là cách hữu hiệu để bảo vệ bản thân. Đàn ông coi đó là dấu hiệu để thể hiện sự tôn trọng. Gia đình coi con gái trong nhà như viên ngọc trai đẹp đẽ cần được bảo vệ khỏi những bàn tay tham lam. Thật khó tưởng tượng một cô gái mạnh mẽ, hiện đại, tự tin bên dưới bộ niqab đen sì chỉ hở hai con mắt. Nhưng bước đi trên đường phố Sanaa giữa hàng trăm bóng đen giống hệt nhau, tôi buộc phải đánh vật với cái hình dung tưởng như logic “phụ nữ che mặt là phụ nữ bị đàn áp” để đối mặt với thực tế: “phụ nữ che mặt chưa chắc đã là phụ nữ bị đàn áp”. Hãy chờ cho đến khi bạn trở thành một người thân quen, chiếc mạng kia rơi xuống, khi đó mới biết mèo nào cắn mỉu nào.
Nói vậy nhưng tôi thấy vô cùng thương cảm với những người đàn ông ở Yemen. Hãy tưởng tượng cả cuộc đời dài đằng đẵng hơn sáu mươi năm của mình bạn chỉ được thấy mặt cả thảy chưa đến hai chục người phụ nữ. Desmond bạn tôi ở Yemen sáu tháng học tiếng Ả Rập mà người phụ nữ duy nhất anh ta được nhìn mặt là cô giáo dạy tiếng của mình. Để cho bạn thấy rõ bức tranh cuộc sống thê thảm của đàn ông và cuộc sống ngầm sục sôi của những người phụ nữ, tôi sẽ kể cho bạn nghe về một đám cưới ở Sanaa.
Thiên đàng bị đánh cắp
Layla tốn gần bốn tiếng để trang điểm chuẩn bị đi dự đám cưới. Khi cô bước xuống nhà toàn thân phủ kín mít bởi chiếc abaya lụa đen có đính thêm chút kim sa lấp lánh, tôi không nén nổi thất vọng. Mẹ Layla phì cười, bảo con gái hé cánh áo chút cho tôi chiêm ngưỡng. Layla bật cúc. Và tôi suýt chết sặc. Layla mặc một chiếc váy da báo siêu ngắn bó sát, hở gần như toàn bộ ngực. Làn da trắng mịn của cô dát đầy kim tuyến và đôi giày ngất nghểu của cô dễ chừng tới hai chục phân. Mẹ Layla vỗ tay khen con gái có gu thẩm mỹ.
Ở cổng chào của đám cưới, chúng tôi phải gửi toàn bộ điện thoại cho nhà tổ chức. Thiếp mời ghi rõ tuyệt đối cấm chụp ảnh. Mỗi người được phát một… hộp đồ ăn với bánh mì kẹp và nước ngọt. Tay xách nách mang, tôi theo chân Layla bước vào sảnh đường lớn. Và ôi trời ôi! Tôi suýt chết trân vì kinh ngạc. Trước mặt tôi là một tổ hợp những gì đẹp nhất của Tây Lương nữ quốc, Lễ trao giải Oscar, và cung cấm của một vị sultan giàu có trong Nghìn lẻ một đêm. Hàng trăm nữ hoàng sắc đẹp lướt qua trong những bộ váy áo lộng lẫy. Những khuôn mặt trang điểm trau chuốt mỉm cười chào tôi. Những bộ tóc bới chải cầu kỳ nghiêng nghiêng. Những làn da, những vai thon, những núi đôi, những chân dài quấn quýt. Trong tiếng nhạc tưng bừng, họ nhún nhảy theo những bài hit mới nhất của ca sĩ da đen Rihanna. Trên một bục cao dát vàng son lộng lẫy, cô dâu ngồi nhận lời chúc mừng của bạn bè. Hầu hết trong số họ dù học và làm việc với nhau cả chục năm trời, nhưng vì hầu như ai cũng đeo mạng nên đây là lần đầu tiên họ biết mặt nhau và biết mặt cô dâu. Layla thì thầm vào tai tôi: “Cô dâu xinh hơn tớ tưởng Mai ạ!”
“Chú rể đến!” – Tiếng loa đột ngột thông báo.
Tôi chưa bao giờ từng chứng kiến một sự đổi thay nào khủng khiếp hơn thế. Chỉ trong vòng ba mươi giây, hàng trăm cô hoa hậu biến mất, cả sảnh đường tối sầm lại trong biển áo đen và khăn bịt mặt. Trên bục cao, cô dâu bất ngờ tỏa sáng chói lọi. Cô đứng lên, hào quang lấp lánh bao trùm. Xung quanh nơi cô đứng, đám bạn nhấp nhô hàng trăm cái đầu phủ khăn. Cảnh tượng trước mắt tôi như trong một bộ phim viễn tưởng khi nữ hoàng của thế giới bên kia dùng ánh sáng quyền năng của mình để trị vì đám thần dân sinh ra từ bạt ngàn đêm tối.
Và tất nhiên, khi chú rể bước vào, người phụ nữ duy nhất trông giống một phụ nữ là cô dâu. Cầu cho họ sống bên nhau đời đời hạnh phúc.
Yemen có lẽ là đất nước khiến tôi phải dừng lại lâu nhất để nhìn nhận lại những thành kiến của mình về thế giới Hồi giáo. Hầu như mọi suy đoán của tôi về Yemen đều sai, hoặc trở nên vô cùng phức tạp bởi rất nhiều tầng ý nghĩa so với sự quan sát hời hợt bên ngoài. Chia tay hôm lên đường, tiến sĩ Karim mỉm cười khi nghe lời thú nhận rất thành thực của tôi: “Cô Mai có biết thiên sứ Muhammad từng nói gì về dân tộc này không?”
Tôi lắng nghe.
“Trí khôn thuộc về người Yemen!”
Kể cả nếu ai còn nghi ngờ liệu trí khôn có thuộc về người Yemen hay không thì cũng phải thừa nhận một điều rằng, với giải Nobel Hòa Bình và sắp tới rất có thể là một giải Oscar, những vầng hào quang đáng tự hào nhất của Trung Đông thời hậu Mùa xuân Ả Rập dường như đang thuộc về người Yemen – một dân tộc vẫn đang ở đáy cùng của khốn khó.
Không lâu sau khi rời Yemen, tôi được tag vào một cái post trên facebook của Fatma: “Yemen nghìn năm tuổi mà bây giờ mới dậy thì, bước chân qua đêm dài của chế độ độc tài, đêm dài của chiến tranh liên miên, đêm dài của khăn đen trùm đầu, đêm dài của cuộc sống hai mặt nơm nớp lo toan. Đất nước qua đêm dài nhưng ngơ ngác không biết làm gì với ánh sáng tự do. Sự đổi thay bất ngờ khiến ngay cả bản thân tôi cũng thấy mình lẫm chẫm vì chói mắt…”.
Tôi nhấn nút “like”, chéo hai ngón tay cầu nguyện cho Yemen. Bước qua đêm dài, dù sao thì một ngày mới cũng sẽ bắt đầu.
Chương 6 - Li Băng: Trận chiến của những mảng màu mosaic
Nếu ai đó không biết tí gì về Li Băng, rồi tự dưng một buổi sáng tỉnh giấc giữa trung tâm thủ đô Beirut, hẳn sẽ rất khó để thuyết phục họ rằng đây không phải là châu Âu mà là một quốc gia nằm ngay chính giữa trái tim Trung Đông. Đất nước đắt đỏ, hào nhoáng, không có sa mạc nóng bỏng mà có núi cao, không có nắng chói rát người mà có tuyết phủ trắng đầu. Những chàng trai cô gái Beirut bước ra đường ai cũng như đang quảng cáo quần áo hàng hiệu. Đêm xuống, thành phố ngập tràn trong tiếng nhạc. Quán bar Sky giá hàng trăm đô la một bàn mà số khách đặt trước cả năm chưa lúc nào giảm. Bước chân vào tiệm ăn Menza nổi tiếng nhất Beirut, tôi và bạn bè như bị tấn công bởi những núi đồi đồ ăn liên tiếp được bưng ra, rượu chưa nhấp môi đã được đổ đầy, đến món tráng miệng cũng được bưng đến trên những mâm to chất ngất gần trăm miếng hoa quả. Nhịp sống ở Beirut gấp gáp, sục sôi, đổ vàng mười đổi lấy một trận cười. Từ lúc đặt chân đến nơi đây, tôi luôn cảm thấy có cái gì đó rất bất an trong cách sống hưởng thụ của người Beirut, như thể những cuộc vui thâu đêm kia đang che giấu những lo toan bộn bề không dễ dàng bày tỏ.
Mario
Mario là người Thiên Chúa giáo dòng Maronite. Anh sống cùng mẹ trong một căn hộ trang hoàng kiểu Paris, thậm chí theo như bạn bè anh nhận xét, thì còn đậm chất Paris hơn cả một ngôi nhà ở Paris. Li Băng trải qua vài chục năm thuộc địa Pháp, khi rút đi để lại một nền văn hóa đậm đặc ngấm sâu vào máu thịt của cộng đồng Thiên Chúa giáo. Trong bữa ăn ở nhà Mario, tôi khổ sở chuyển từ cách nhúm thức ăn bằng tay của người Ả Rập và vắt óc lục lại những kiến thức về cách xử sự trên bàn tiệc theo phong cách châu Âu cổ điển, từ cách dùng dao, nếm rượu, đến cách để khuỷu tay. Cái kiểu sống Pháp hơn cả Pháp xịn thế này, hay nói theo kiểu văn vẻ là “sùng tín hơn cả đức Giáo hoàng” thế này, chắc chắn là để cố tình nhấn mạnh rằng…
“… Rằng tôi không phải là người Hồi giáo!” – Mario trả lời thẳng thắn – “Tôi thậm chí không muốn nói tiếng Ả Rập, bởi đó là ngôn ngữ của kẻ thua cuộc. Những người Hồi ở Li Băng chỉ có mỗi một việc là sinh sôi nảy nở. Hơn chục năm trước dân số hai phe còn bằng nhau, giờ thì đến 70% quốc gia là người Hồi. Họ muốn nuốt chửng chúng tôi thì có!”
Nhưng Mario thực ra đã hơi tụt hậu. Rất nhiều người Thiên Chúa Maronite ở Li Băng bây giờ đã thấy xấu hổ, không còn muốn đánh đồng danh tính với một nước từng là chủ thuộc địa của mình nữa. Họ cất công lộn ngược lại quá khứ, tìm về một nguồn gốc xịn hơn và huy hoàng hơn cả văn hóa Pháp: Nền văn minh Phoenicia.
Thế là tôi lóc cóc bắt xe đi Byblos.
Tôi yêu Byblos từ cái nhìn đầu tiên. Trái tim tôi tan chảy khi khe khẽ bước chân lên những lối đi nhỏ phủ bóng cây mát rượi, rụt rè ghé nhìn vào những quầy hàng bé xíu thập thò sau vòm cổng đá. Sự dịu dàng, mong manh đến dễ vỡ của Byblos khiến tôi có cảm giác như thể mình vừa mở ra chiếc hộp thần kỳ đã bị rêu phong ngàn năm lãng quên trong góc khu rừng cổ. Và khi nắp hộp được nhấc lên, không phải kim cương châu báu, mà là một thiên thần có cánh bé xíu chấp chới bay ra. Dựa lưng vào bức tường chăng mắc đầy hoa dại, bất kể một tâm hồn dù khô khan đến mấy cũng phải mềm lòng, bất kể một trí óc thực tế đến mấy cũng phải băn khoăn: điều gì khiến Byblos giữ mãi được vẻ ngây thơ, điều gì khiến cho thiên thần có cánh chẳng bao giờ già, dù gần mười ngàn năm đã trôi qua và bao điều lớn lao hơn đã nhiều lần vỡ vụn?
Thật khó có thể tưởng tượng được thị trấn nhỏ xíu như một ngôi làng trong mơ này đã liên tục xôn xao tiếng người tiếng chợ suốt gần cả chục ngàn năm qua, chưa một lần bị ngắt quãng, chưa một lần bị tan thành tro bụi. Những thương nhân của nền văn hóa Phoenicia không những thống trị các dòng hải lý lớn trong nghề buôn bán hàng hải mà còn hiến tặng cho thế giới bộ chữ cái đầu tiên của loài người. Từ bộ chữ nguyên thủy này, các dân tộc trên thế giới từ người Hy Lạp, Ả Rập, Do Thái… cho đến người Việt ta đã vay mượn và biến tấu thành những chữ viết riêng của dân tộc mình, tức là gồm cả những dòng chữ bạn đang đọc ngay lúc này đây. Tiếng tăm của nền văn minh Phoenicia và Byblos với ngôi vị của “thành phố lâu đời nhất còn tồn tại” khiến những người Thiên Chúa giáo ở Li Băng dần dần cảm thấy một niềm tự hào không thể cưỡng nổi, một nỗi khao khát muốn được đứng cùng một thuyền và mang cùng một cái tên. Và thế là mặc dù tổ tiên vốn là dân Syria vì chạy trốn cường quyền mà dạt đến đây, nhưng để khẳng định sự khác biệt của mình với số dân Hồi giáo Ả Rập tràn lên sống ở vùng này mới chỉ được hơn ngàn năm, cộng đồng Thiên Chúa dòng Maronite ở Li Băng vẫn ngấm ngầm quyết định gắn cho mình một danh tính mới với lịch sử hẳn mười ngàn năm: họ chính là con cháu người Phoenicia.
Gus
Gus là người Thiên Chúa giáo dòng Hy Lạp Chính Thống (Othodox). Khi gặp tôi, anh đang lèn chặt đồ đạc vào hai chiếc vali to tướng. “Biến thôi!” – Gus kết luận – “Li Băng bé như cái kẹo, gió đụng chiều nào là đổ chiều ấy. Trung Đông đang loạn, tốt nhất là chuồn”.
Li Băng có hơn bốn triệu dân nhưng có lẽ đây là quốc gia duy nhất có số người sống ở nước ngoài nhiều hơn trong lãnh thổ. Mười bốn triệu dân Li Băng trú ngụ rải rác khắp năm châu. Họ nổi tiếng là những nhà kinh doanh thành đạt. Các hiệu ăn Li Băng hễ mở là đông khách, không đơn giản chỉ là do các món ăn của Li Băng ngon hơn hẳn và phong phú hơn hẳn các nước khác ở Trung Đông. Người Li Băng, có lẽ do lịch sử luôn khiến họ phải sống chung với kẻ thù, rất khéo léo trong xã giao, chẳng bao giờ làm mất lòng khách. Khi biết chuỗi quán bán đồ ăn của Li Băng đầu tiên mở năm 2013 ở mấy thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn, tôi luôn tự hỏi liệu nó có thể làm mềm lòng người Việt với những món mezze như đã từng làm tôi lịm lưỡi ở Beirut.
Đất nước mà Gus chuẩn bị dọn đến là Saudi. Hỏi anh sẽ làm công việc gì, Gus nhìn tôi dò xét một hồi rồi thì thào: “Buôn bán vũ khí”.
Tôi không giấu được vẻ ganh tị. Cho đến khi anh ta khoe rằng mình và vợ thậm chí không cần visa cũng vào được Saudi thì tôi thấy đau quặn hết cả ruột gan. Bà xã Gus là tư vấn thiết kế riêng cho một cô công chúa trong gia đình hoàng tộc khổng lồ gần bảy nghìn vương tôn công tử của vương quốc dầu mỏ. Tháng trước, cô công chúa này có việc gấp nên gọi cho vợ Gus. Chỉ một cú điện thoại và thế là “Hấp!”, vợ Gus đã vù đi Mecca. Còn tôi suốt hai năm qua cả bộ hồ sơ mấy chục trang nộp vào sứ quán Saudi vẫn biệt vô âm tín.
Cộng đồng người Thiên Chúa Orthodox chỉ khoảng 8% dân số Li Băng nhưng phần lớn đều thuộc tầng lớp trung lưu với một danh sách dài các thương nhân thành đạt. Họ đóng góp nhiệt thành vào việc làm nên một điều kỳ diệu chỉ có ở Li Băng. Tuy tan tác và tơi tả bởi bao cuộc chiến tranh nhưng quốc gia bé nhỏ này vẫn là một trung tâm kinh tế, văn hóa và nghệ thuật lớn của Trung Đông với nền báo chí được coi là cởi mở nhất trong khu vực. Những người như Gus là động cơ của cỗ máy Li Băng. Họ không tốn nhiều thời gian than trách, thậm chí không nhất thiết phải lựa chọn đúng sai. Điều quan trọng nhất là đứng dậy và tiếp tục bò lên phía trước. Như bây giờ đây, Gus đóng sập cái va li rồi gãi đầu kết luận: “Thật ra thì cũng áy náy lắm. Tôi không cho phép con trai mình chơi súng nhựa và nhận các món đồ chơi kiểu vũ khí, thế mà bây giờ lại dính vào cái công việc này. Nhưng mà tiền thì vẫn cứ là tiền thôi!”
Baraa
Baraa là người Hồi giáo dòng Sunni. Anh đang học năm cuối tại Đại học America. Tôi chưa từng thấy khuôn viên một trường đại học nào đẹp và nên thơ như ngôi trường thuộc loại danh giá nhất và lâu đời nhất Trung Đông này. Đại học America được tạo dựng bởi những nhà truyền giáo Thiên Chúa gần một trăm năm mươi năm trước. Như một Đà Lạt thu nhỏ, Đại học America trải dài những khuôn viên và giảng đường cổ kính trên ngọn đồi nhìn ra Địa Trung Hải xanh mướt. Cách đây không bao lâu, trường cung cấp cho Liên Hợp Quốc nhiều tài năng hơn cả Đại học Harvard của Mỹ. Với hàng ngàn sinh viên tỏa ra khắp những con đường đồi phủ bóng cây rợp trời, cả ngày lẫn đêm, nhưng những người chủ thực sự nơi đây lại là những… con mèo.
“Có đến hàng trăm con ấy” – Baraa khổ sở giấu giếm lôi từ trong túi ra miếng bánh mì ăn trưa – “Mai mà không cẩn thận chúng nó nhảy lên giật miếng ăn của cậu còn tài hơn cả lũ khỉ nữa”.
Một mắt coi chừng lũ mèo, một mắt lướt trên điện thoại, Baraa cố hết sức để tìm thông tin nhằm giải thích thật ngắn gọn cho tôi về sự việc một thủ lĩnh Hồi giáo Sunni mới bị giết tại Akka. Tôi rất muốn Baraa ngừng tay, bởi tôi đã biết câu trả lời. Ở Trung Đông, nếu có một câu hỏi về nguyên nhân của những cuộc chiến, chắc chắn hơn một nửa lời giải đáp nằm ở mối xung đột gần 1400 năm giữa Sunni và Shia. Hai cộng đồng Hồi giáo này chiếm tới 60% dân số Li Băng và dễ dàng hắt hơi xổ mũi theo diễn biến thời tiết ở bên ngoài lãnh thổ. Như bây giờ đây, nội chiến ở Syria đang diễn ra giữa quân của chính phủ theo dòng Shia và quân nổi dậy theo dòng Sunni. Thế là lập tức hai cộng đồng Shia-Sunni ở Li Băng cũng nhảy vào biến đất nước mình trở thành một chiến trường thứ hai. Ngày hôm qua, một thủ lĩnh Sunni của Li Băng bị quân Shia giết nhưng trong đám tang, quan tài của ông lại phấp phới lá cờ… Syria của quân nổi dậy Sunni bên nước láng giềng (!). Chỉ cần nhìn vào cái đám tang này thôi, một kẻ chẳng đến nỗi quá ngơ ngác như tôi cũng trở nên hoang mang: Rốt cuộc đây có còn là đất nước của họ không khi giữa Li Băng và Sunni, họ đã chọn vế thứ hai, khi niềm tin vào sự chia cắt tôn giáo còn mạnh hơn cả lòng trung thành với quê hương đất mẹ?
Amin
Vừa nhìn thấy tôi Amin đã phá lên cười.
Những tháng ngày ở Trung Đông đã dạy tôi một bài học đơn giản mà hữu dụng. Ấy là đôi khi phải quẳng hết cái mớ kiến thức về văn hóa tập tục ở chỗ này chỗ nọ chỗ kia ra vỉa hè. Cuộc sống ở Trung Đông vô vàn sắc thái khác nhau cộng với cấu hình xã hội đậm tính bộ lạc khiến điều vốn được coi là lịch sự ở chỗ này chỉ mấy chục ki lô mét xa hơn đã trở thành một hành động thiếu văn minh, hay trên cùng một mảnh đất với nhóm dân tộc này thì không hề hấn chi nhưng với nhóm dân tộc khác đã thành dấu hiệu phỉ báng. Thế cho nên tôi tự chế cho mình một lý thuyết giao tiếp đơn giản hơn gọi là “phương pháp cái gương”. Tức là thấy người bản xứ làm gì thì làm y như thế. Y bài, khi thấy Amin cười thì tôi cũng toét miệng cười xòe một cái. Cười “giao hữu” xong, tôi hỏi: “Thế cậu cười cái quái gì thế?” Amin chỉ vào cái quần đũng rộng thùng thình của tôi và đắc chí: “Nhìn cậu giống hệt… ông bô nhà tớ”.
Tôi đoán ngay Amin là người Druze. Đàn ông Druze giờ không mấy ai còn mặc kiểu quần truyền thống hạ đũng rộng như cái lưới bắt cá rồi túm lại ở bắp chân như thế này nữa, chỉ có mấy ông già trong làng may ra. Tôi liền hỏi liệu Amin có thể đưa tôi về thăm gia đình được không. Cậu nhăn trán hỏi lại: “Gia đình ở đâu? Nhà bố mẹ tớ ở Li Băng thì đi trong ngày được, nhà bác tớ thì ở Israel, còn cả họ hàng thì ở Syria cơ”.
Tôi luôn tò mò về người Druze. Druze cùng với Alawite là những tín ngưỡng bí mật nhất của Hồi giáo cổ điển, tách ra từ gốc của Hồi giáo Shia khoảng hơn một ngàn năm trước. Sau khi Pháp và Anh đánh thắng đế chế Hồi giáo Ottoman rồi vẽ biên giới chia vùng này lại thành năm đất nước riêng biệt để cai trị, chừng hơn một triệu tín đồ Druze bỗng dưng thấy họ hàng bộ tộc của mình bị chia cắt thành ba mảnh rải rác ở khắp ba quốc gia. Tệ hơn, ba quốc gia này lại liên tục oánh nhau kịch liệt, không chỉ trong vùng tam giác ba bên mà còn với vô số các nước khác. Trong cơn binh đao, người Druze dần dần phát triển kiểu sống có một không hai, chia trái tim mình thành hai ngăn. Tức là sống ở đâu thờ vương ở đó, nhưng họ cũng rất trung thành với người cùng tín ngưỡng, nếu bắt buộc phải đối đầu nhau trên chiến trường thì cố… né. Ở hai bên đường biên giới, người Druze cùng một dòng họ có thể mặc áo lính cho Li Băng, và chĩa súng vào người Druze mặc áo lính của Israel cũng đang lăm lăm lựu đạn. Không ai có thể phủ nhận sự gan dạ và tinh thần mãnh hổ của những chiến binh người Druze. Sự trung thành của họ với chính quyền, sự dạn dày trận mạc nhưng lại có phong cách sống không quá phát cuồng vì quyền lực khiến người Druze tuy không đông về mặt dân số nhưng luôn là một nét kỳ bí, vừa đáng trọng vừa đáng gờm trong mắt cộng đồng Hồi giáo chính thống Sunni và Shia. Hẳn nhiên, họ cho rằng người Druze không phải tín đồ Hồi giáo chân chính mà là một sự lai căng pha trộn của các tôn giáo “tạp nham”, nhất là việc cho rằng Thượng Đế có thể đầu thai vào người thường thì có khác quái gì Thiên Chúa giáo với “triết lý xằng bậy” Jessus là hiện thân bằng máu thịt của Đấng Tối Cao? Nhưng chính niềm tin mãnh liệt vào đầu thai và hóa thân là một phần lý do tại sao người Druze có trái tim thép không mảy may run sợ trước cái chết. Dân Li Băng thường kể lại câu chuyện về một thương nhân Druze bị bắt cóc và đứng úp mặt vào tường. Đằng sau anh, kẻ tống tiền chậm rãi rút súng, lên đạn… nhưng không bóp cò. Vì chính hắn mới là người phải ngã quỵ trong cuộc đọ dây thần kinh không cân sức. Khi được hỏi tại sao có thể bình thản được như vậy, người thương nhân trả lời: “Thú thực, lúc đó tôi chỉ bận tưởng tượng ra cảnh bà mẹ trong cuộc đời tiếp theo của mình trông sẽ ra sao!”
Vậy là bữa trưa hôm ấy, ngoài hơn chục con mèo trấn giữ vòng ngoài, chẳng hẹn mà gặp, chúng tôi hể hả chia sẻ với nhau rằng cuộc túm tụm ăn chung này hội tụ đại diện của những nhánh tôn giáo lớn ở Li Băng. Họ từng đánh giết nhau, rồi dù ghét nhau chết thôi vẫn luôn phải cố gắng giữ hòa khí với nhau. Tại sao?
“Vì cái lũ mèo hóa cọp này này!” – Baraa cười ngất – “Nếu mà không cố sống chung với nhau thì sẽ bị nó xơi tái ngay. Li Băng nằm cạnh ba nước lớn, Thổ Nhĩ Kỳ ở trên đầu, Syria lúc nào cũng o ép ở sườn phải, sườn trái chạm biển, còn đằng sau lưng là Israel viện đủ cớ nhăm nhăm nhảy vào. Khắp Beirut thánh đường Hồi giáo và Nhà thờ Thiên Chúa san sát cạnh nhau, nhưng cậu biết không, sóng ngầm khủng khiếp lắm. Cộng thêm mấy cái nước lớn ghét nhau ở xung quanh, Li Băng như cái quả bom nổ chậm ấy. Nhiều lúc cứ phải quên đi mà sống thôi!”
Trúng phóc! Cái mớ bòng bong ở Li Băng khiến bất kể ai có ham muốn được hít thở bình thường đều phải có một cái công tắc trong đầu để có thể tắt phụt đi trước khi bộ óc của chính mình phải xì khói vì quá tải. Đi giữa thủ đô Beirut, thật khó nhận biết ngôn ngữ nào là ngôn ngữ chính thống của quốc gia. Người Thiên Chúa nói tiếng Pháp, người Hồi nửa nói tiếng Anh nửa còn lại thậm chí tiếng Ả Rập cũng bập bõm. Trong một nỗ lực cuối cùng để tránh nội chiến, hệ thống chính trị quốc gia chia chác theo thành phần tôn giáo: Tổng thống nhất định phải là người Thiên Chúa dòng Maronite, người Hồi dòng Sunni xí phần Thủ tướng, Phó Thủ tướng không thể ai khác ngoài người Thiên Chúa dòng Hy Lạp Chính Thống giáo, người phát ngôn của chính phủ chỉ có thể là người Hồi dòng Shia, và cuối cùng quân đội phải nằm trong tay người Hồi dòng Druze.
“Nhiều lúc cứ phải quên đi mà sống thôi!”
Pity the nation that is full of beliefs and empty of religion. Pity the nation that welcomes its new ruler with trumpetings, and farewells him with hootings, only to welcome another with trumpetings again.
Pity the nation whose sages are dumb with years and whose strong men are yet in the cradle.
Pity the nation divided into fragments, each fragment deeming itself a nation.
Tôi đặt cuốn The Prophet (Nhà tiên tri) xuống và ngoảnh sang bên giường của Francesca. Cô phóng viên tự do người Ý ngụp lặn trong đống sách cao chất ngất, đánh vật với cái báo cáo phân tích ba mươi ngàn chữ về tổ chức Hezbollah. Vừa gõ máy tính choách choách, cô vừa xuýt xoa thán phục tài năng và óc tổ chức tuyệt vời của người cầm đầu Hassan Nasrallah. Nhìn một nữ thạc sĩ tóc vàng cổ đeo thánh giá mà cũng phải xao lòng trước Nasrallah, tôi lập tức tin ngay những gì mình từng nghe nói về con người này là sự thật. Năm 2006, cả thế giới Ả Rập phát cuồng lên vì sướng khi tổ chức Hezbollah đánh bật Israel khỏi Li Băng, trả thù cho sự ấm ức và sỉ nhục mà quân đội của bao quốc gia Hồi giáo hợp vào cũng không làm được. Lần đầu tiên một nhà lãnh đạo người Hồi dòng Shia được tất cả các sắc dân Hồi giáo hò reo xưng tụng, được coi như Che Guevara của Ả Rập, như vị thánh linh thiêng giáng thế, cộng với sự duyên dáng và hài hước bẩm sinh, bao nhiêu cô gái đã trào nước mắt nguyện sẽ yêu vị trung niên râu ria rậm rịt này đến cuối đời.
Tất nhiên, phiên bản của Nasrallah ở phương Tây thì chẳng khác gì một cơn ác mộng. Cùng một nhánh Hồi giáo Shia, Hezbollah ở Li Băng thậm chí được chính thức coi là một tổ chức khủng bố do Shia Iran bảo trợ với mục đích triệt tiêu hoàn toàn nhà nước Israel và chủ nghĩa bành trướng phương Tây. Tổ chức Hezbollah không những thiện chiến, quy củ, dựa vào chiến tranh nhân dân, mà còn mạnh hơn cả quân đội chính quy của Li Băng. Từ một nhóm du kích bạo động, Hezbollah trở thành niềm hy vọng cho một Ả Rập khao khát tìm lại những tháng ngày huy hoàng.
Đùng một cái, Nasrallah tuyên bố sẽ đưa quân Hezbollah tham chiến ở Syria.
Tôi nhớ Baraa đã khóc sướt mướt trên facebook như thế nào khi thần tượng của mình sụp đổ. Là một tín đồ Sunni nhưng anh vẫn tôn thờ một Shia Nasrallah vì ông không ngần ngại đưa cậu con trai mười tám tuổi của mình ra trận chiến. Khi Hadi chết, Nasrallah thậm chí từ chối thỏa thuận với phía Israel để chuộc lại xác con mình. Bạn tôi đã ngỡ rằng Nasrallah là biểu trưng của khối đại đoàn kết Hồi giáo chống lại kẻ thù chung Israel cho đến khi ông ta hiện nguyên hình không hơn gì những thầy tu tôn giáo đói khát cường quyền và bị cuốn vào vòng xoáy của xung đột Shia-Sunni. Gửi quân đến Syria để ủng hộ chính quyền nhà độc tài dòng Shia chống lại quân nổi dậy Sunni, Nasrallah đang đặt dấu chấm hết cho một niềm tự hào mong manh trong trái tim của rất nhiều người dân Ả Rập.
Ở Trung Đông, đất nước nào cũng tự cho mình là đặc biệt, là yếu tố sống còn của thế giới Hồi giáo, là nguyên nhân của âm mưu thâm độc này hay kế hoạch đen tối nọ, hay là cầu nối Á Âu, là con đường kết liên văn hóa. Bản thân mình, tôi dành vị trí này cho một quốc gia duy nhất: Li Băng. Lịch sử Li Băng là lịch sử của một mảnh đất nhỏ gần như chưa bao giờ có chủ quyền lãnh thổ, từ sau thời đại Phoenicia, người dân nơi đây lần lượt nằm dưới quyền cai trị của đế chế Babylon, đế chế Ba Tư, đế chế Hy Lạp, đế chế La Mã, rồi người Ả Rập tràn lên thống trị, rơi vào tay Hồi giáo Thổ Ottoman, thành thuộc địa của Pháp, và suốt từ khi độc lập vào năm 1943 cho đến nay chỉ có chưa đến hai mươi năm hòa bình với sự can thiệp của đủ hạng quyền lực: Syria, Israel, Palestine, Iran. Người Li Băng sống chung với lũ, quen với lũ đến mức đôi khi không còn xem lũ bão là kẻ thù nữa mà như những cơn sóng lớn đến rồi đi. Kẻ thù nào khi đến cũng được tung hoa chào đón vì được coi là bạn. Người bạn nào cũng hứa chỉ ở lại đến khi trong ngoài ổn định rồi sẽ đi. Lời hứa nào cũng bị bội ước. Lời bội ước nào cũng biến bạn thành thù. Kẻ thù nào kết cục cũng phải rút lui trong ê chề tủi nhục. Trận rút lui nào cũng lại được tiếp nối bằng một người bạn mới và một lời hứa mới…
Những cơn bể dâu ở Trung Đông khiến người Thiên Chúa dần dần bỏ đi khỏi quê hương tôn giáo của mình, nhường chỗ cho người Hồi giờ đã chiếm đa số chỉ trong vòng hơn một thập kỷ.
Những phiên chợ ở Sidon. Thành phố được đặt tên theo chắt của Noah. Theo các kinh thánh của đạo độc thần Abraham (Do Thái, Thiên Chúa, Hồi giáo), Noah được Thượng đế ra lệnh đóng thuyền để cứu dân trong trận hồng thủy.
Li Băng không những là chiến trường cho các cuộc chinh phạt lớn mà còn là nơi duy nhất còn sót lại để chúng ta có thể nhìn thấy Trung Đông đã bị Ả Rập hóa như thế nào suốt gần 1400 năm qua, từ khi đa số dân là Thiên Chúa cho đến khi cộng đồng này trở thành thiểu số và ngày càng mỏng manh dần đi với hàng chục ngàn tín đồ rời bỏ vùng đất hằng là cái nôi của tôn giáo để dạt sang các quốc gia châu Âu. Ở thời điểm hiện tại, người Thiên Chúa ở Li Băng chỉ còn 40%, giảm một nửa so với năm 1926 (81%). Trong năm qua, hầu hết những người bạn Thiên Chúa của tôi đã rời quê hương, nhập vào hàng ngũ mười bốn triệu dân Li Băng tình nguyện lưu đày viễn xứ. Mario đã mua nhà ở Bỉ, Gus đã dứt mảnh đất của gia đình. Những kẻ ở lại cùng với non bốn triệu dân của mười bảy nhánh tôn giáo khác nhau tiếp tục cuộc nắm tay trong một trò chơi không rõ trắng đen, một trò chơi mà ai cũng có thể là bạn và ai cũng có thể là thù.
Vì thế, thật dễ hiểu vì sao người Li Băng né tránh cả quá khứ lẫn tương lai. Với họ, hiện tại là thời kỳ vàng son. Hiện tại là nơi để rượu tràn ly, nhạc ù tai, đồ ngon ngập bàn ăn và lăn trên đường tới những party trong những chiếc xe đắt tiền. Nghìn vàng đổi một trận cười. Có lẽ chẳng ai giỏi làm điều đó hơn người Li Băng.
Đoạn thơ tôi trích ở đầu là nỗi niềm của Khalil Gibran:
Tôi thương đất nước tôi, đầy tín ngưỡng mà chẳng có niềm tin,
Chào đón cả kẻ thù, chán chê mải mê, để rồi lại tung hô một bầy xâm lấn khác.
Vị cứu tinh vẫn còn trong nôi, mà những kẻ cầm đầu thì rặt một bầy phụ bạc,
Đất nước tả tơi, mỗi mảnh vụn hả hê tự xưng vương ở một góc trời.
Chương 7 - Syria: Máu đổ trong mê cung
Khi tôi đang viết những dòng này, cuộc chiến ở Syria đã kéo dài hơn hai năm với trên một trăm nghìn người thiệt mạng. Sự đau thương diễn ra hằng ngày hằng giờ, mấy trăm người chết ở đây, mấy trăm người chết ở kia, tất cả biến thành những con số vô hồn, đều đặn đến mức không còn là điều gì mới mẻ nữa. Những bản tin thời sự đều tràn ngập những con số thương vong từ Syria. You Tube lèn chặt những clip đầu rơi máu chảy. Facebook bung ra hàng trăm bức ảnh chết chóc. Chiều hôm qua, tôi nhận được tin nhắn của một người bạn cầu xin sự giúp đỡ để được tị nạn ở châu Âu. Tự giam mình trong phòng, tôi lặng lẽ xem lại toàn bộ những bức ảnh và phim tự tay mình bấm máy ở Syria hơn một tháng trước. Có cái gì đó không thật, có cái gì đó giống như là một cơn mơ. Bởi Syria trong trí nhớ của tôi và trong những gì tôi ghi lại bằng ống kính đẹp đến quặn lòng.
Bước chân đi cấm kỳ trở lại
Tôi đã dừng chân ở Li Băng khá lâu trước khi quyết định vượt biên giới qua Syria. Bạn bè dùng đủ mọi phương pháp để phá bĩnh, kể cả việc miêu tả chi tiết viễn cảnh thê lương của một đám tang không xác chết (chết mất xác rồi còn đâu). Trên bản đồ, thủ phủ Damascus của Syria cách biên giới Li Băng chỉ có hai tiếng đồng hồ. Ngay sát biên giới phía bên lãnh thổ của Li Băng là Anjar – một di tích thành cổ Hồi giáo nổi tiếng. Sau nhiều ngày trằn trọc, tôi quyết định lên đường nhằm Anjar thẳng tiến, bụng bảo dạ cứ mang theo hộ chiếu đến gần biên giới dò xét tình hình xem oánh nhau to đến thế nào rồi từ từ mà tính.
Sáng hôm ấy, tôi hí hửng bắt xe đi Anjar, không quên dặn Francesca – cô phóng viên chiến trường người Ý từng xuất bản nhiều sách về cuộc chiến ở Israel và Palestine tôi đã nhắc đến trong chương trước, rút hộ quần áo phơi ngoài hiên nếu chiều nay tôi về muộn. Cũng như bao phóng viên nước ngoài khác, cô trụ lại Li Băng để tìm cách vượt biên (bất hợp pháp) sang Syria, chủ yếu là trả tiền cho một vài người thuộc phe chống đối và thâm nhập Syria qua đường núi phía Bắc. Tôi từng chết mê chết mệt với kế hoạch này, chỉ rụt hết cả vòi lại khi biết được số tiền khổng lồ phải trả cho người dẫn đường để được có 70% cơ hội… chết tanh bành thành trăm mảnh. Cay đắng khẳng định mình là một kẻ nhát gan, đến phút chót, tôi muối mặt bảo với Francesca là mình bỏ ngang. Con bé tỉnh queo: “Còn biết sợ là máy còn chạy tốt! Tao thì đã mất hết cả cảm giác rồi!”
Mải mê chụp ảnh và lang thang ở Anjar, tôi hết hồn khi ngó đồng hồ thấy đã năm giờ chiều. Anjar cách biên giới với Syria có chưa đầy cây số nên tôi bắt taxi cùng hai cô gái Syria sang Li Băng thăm bạn cùng đường về. Họ tò mò hỏi han đủ chuyện, nhưng chẳng ai rõ thủ tục nhập cảnh cần những giấy tờ gì. Ai cũng bảo cứ tới cửa khẩu rồi tha hồ mà hỏi.
Nghe tôi trình bày, anh giai an ninh sau chấn song sắt cười tươi như nghé. Sau một hồi google cẩn thận, rồi gọi điện cho trung tâm để kiểm tra chắc chắn tôi không phải là phóng viên (tôi đã kịp xóa toàn bộ thông tin về quá khứ làm báo của mình trên internet), anh ta quay lại, nhìn tôi với nụ cười tươi rói: “Cô chỉ việc trả tiền rồi được cấp visa thôi, không cần giấy tờ hay chờ đợi gì sất!”
Hơ!
Tôi nhìn qua vai mình: một cái túi bé tí đựng máy ảnh và 400 đô la. Tôi nhìn xuống chân mình: một đôi dép xỏ ngón sắp đứt quai. Tôi nhìn qua hai cô gái Syria: họ hí hửng vỗ tay ra hiệu mời tôi tối nay ngủ lại nhà. Tôi nhắm mắt thở hắt ra một phát, nhớ ra rằng mình đang đeo kính áp tròng mà không hề mang theo nước và khay rửa. Tiếng anh bạn Mario văng vẳng: “Syria đi là đứt! Đứt phựt! Đừng có điên!”
Assad OK!
Dải đường cao tốc nối biên giới Li Băng và thủ phủ Damascus đẹp mịn màng, chả giống gì với hình dung của tôi và Francesca tẹo nào khi đọc bản tin thấy bảo mìn được rải đầy vùng biên cương. Hai chị em Dana giới thiệu tôi cho cả đại gia đình đang quây quần bên một cái lò sưởi lớn theo dõi màn hình ti vi kín đặc khói bom. Mặt ai nấy vừa vui vừa buồn. Vui vì có khách bất ngờ đến chơi (khách là món quà của Thượng Đế). Buồn vì thành phố Homs tan tành trong chiến trận. Ai cũng sợ rồi sẽ đến phiên Damascus. 3000 năm lịch sử của một trong những thành phố cổ xưa nhất thế giới bỗng chốc trở nên mong manh như số phận một đô thị không tên. Bố của Dana rút từ trong ngăn kéo ra cuốn hộ chiếu với chi chít các visa nhập cảnh vào châu Âu. Ông là kỹ sư, thời trẻ từng nhiều lần qua đó làm việc. Giờ đến lúc cần phải đi nhất thì lại không thể. Miết ngón tay lên những con dấu chồng chéo lên nhau, bất chợt, ông quay sang hỏi tôi:
“Cô có thể bảo lãnh cho gia đình tôi sang Hà Lan được không?”
Tôi nghẹn hết cả họng.
Đêm ấy tôi ngậm kính áp tròng dưới đầu lưỡi đi ngủ. Mẹo này được Francesca bày cho nhưng chưa thử bao giờ. Ngoài phố xa vọng lại vài tiếng súng. Chị em Dana nằm ở đệm kế bên nắm tay bảo chỉ là tiếng súng bắn vu vơ, không rõ nói thật hay chỉ định vỗ về một kẻ nhát gan khó ngủ.
Ngày hôm sau, tôi tỉnh dậy ê ẩm khắp người, mắt nhắm mắt mở lò dò bước vào phòng khách. Ở Trung Đông, gian chính trong nhà thường được trải thảm với hàng chục chiếc gối to và mềm xếp dọc theo các chân tường để mọi người và khách khứa nằm ngồi, dựa lưng. Khi tôi vừa kịp rúc đầu vào một góc ấm áp thì bỗng giật nảy hết cả mình vì nghe thấy mọi người nhắc đến chữ sifara (đại sứ quán) và nhắc đến… tên mình. Tôi cố tập trung lắng nghe nhưng chịu chết. Không nén được tò mò, tôi len lén giả vờ mở điện thoại nghe nhạc và bấm nút thu âm. Chỉ vài giây sau, tôi cảm nhận thấy một tia nhìn lạnh buốt xuyên qua gáy. Ngẩng lên, thằng em trai chín tuổi của Dana đang khoanh tay xoáy thẳng vào người tôi với đôi mắt tóe lửa. Nó bặm môi, rồi bất thần rít lên the thé: “Cô ta là gián điệp! Cô ta là gián điệp!”
Tôi cứng hết cả người vì sợ hãi. Mẹ Dana đập vào lưng thằng Abdul bắt nó câm miệng rồi quay sang tôi. Cố giấu các ngón tay đang run bần bật, tôi chìa cho bà xem một phần mềm nhạc đang chạy trên màn hình điện thoại. Bà quay sang thằng Abdul, nói với nó vài câu và mỉm cười nhìn tôi lắc đầu vẻ xin lỗi. Thằng Abdul ngồi xuống cạnh mẹ, mắt gườm gườm, môi mím chặt. Tôi chắc chắn đến một sợi tóc trên cái đầu bù xù của nó cũng không tin là tôi nói thật. Dana và lũ em thấy vậy liền kéo tôi sang phòng riêng. Vừa mân mê cái tay áo sơ mi của tôi, Dana vừa nói, giọng không biết thanh minh hay chỉ để cố che giấu nỗi lo sợ: “Chúng tôi ủng hộ Assad! Assad ok!”

Đằng sau lưng tôi, anh trai của Dana ném thịch người xuống chồng đệm cao ngất, miệng lầu bầu: “Không đúng! Ok thế nào được mà ok?”
Lòng người rối ren, gia đình rối ren, và cả một đất nước rối ren vì chính bản thân họ cũng bị chia cắt trong cuộc nội chiến xoay quanh chế độ độc tài của nhà Assad.
Nhảy múa giữa bầy sói
Vào những ngày tháng 4 năm 2012, cả thế giới đặt cược cho một niềm tin chắc chắn rằng Assad là quỷ dữ hiện hình. Nhà độc tài và đạo quân trung thành của mình bị hàng triệu người nguyền rủa. Hầu như toàn bộ các đoạn phim cảnh bị chôn sống, tra tấn, xử bắn đều được mọi người nhất quán cho là do quân đội thực hiện để trừng phạt những người biểu tình trong Mùa xuân Ả Rập.
Chỉ sau vài tiếng đặt chân đến Syria, tôi hết hồn nhận ra đó mới chỉ là một phần rất nhỏ của bức tranh sự thật. Khắp trung tâm Damascus, hàng trăm cửa hàng treo ảnh của Assad, khuôn mặt nghiêm trang với đôi mắt xanh biếc của ông ta căng đầy các ban công, cửa sổ, lấp lánh trên các huy hiệu cài áo. Nhiều nhà hàng bị phe đối lập và quân nổi dậy hăm dọa tẩy chay, nhưng họ thà chịu mất khách chứ nhất định không che giấu sự ủng hộ tuyệt đối với nhà độc tài. Trong thời gian tôi ở lại đây, hàng chục cuộc biểu tình diễn ra với cả ngàn người hò reo tên ông, cảm ơn Nga và Trung Quốc đã bỏ phiếu chống phương Tây can thiệp quân sự. Bạn tôi nói rằng tỉ lệ ủng hộ Assad phải chiếm tới một nửa trong dân chúng. Đa số họ là người các tôn giáo thiểu số, tầng lớp thương nhân, và rất nhiều phụ nữ có học vấn. Sự ủng hộ này ngày càng rõ khi phong trào dân chủ bị chết yểu và biến thành thánh chiến.
Layla bạn tôi là người Thiên Chúa giáo. Cô thuộc về 10% dân số, tức là hai triệu rưỡi tín đồ hầu như không có lựa chọn nào khác là ngấm ngầm ủng hộ nhà độc tài Assad đơn giản vì chính sách tôn giáo của ông ta đảm bảo cho họ một cuộc sống tương đối an toàn trong một đất nước mà 75% dân số là người Hồi giáo dòng Sunni. Vì quân nổi dậy cũng bao gồm một bộ phận lớn là những tín đồ Sunni cực đoan, Layla và gia đình cô đã ngừng đi lễ nhà thờ. Mẹ cô hằng ngày đọc cho gia đình nghe các bản tin lan truyền trong cộng đồng con tin về việc tín đồ Thiên Chúa giáo bị giết, nhà thờ bị phá bỏ và các cha cố bị bắn chết. Một ngày sau khi tổ chức Huynh Đệ Hồi giáo thắng cử ở Ai Cập, Hồng y Christoph Schönborn (Áo) đã phải lên tiếng kêu gọi các nhà lãnh đạo tối cao hành động để ngăn chặn sự tuyệt diệt của Thiên Chúa giáo tại chính mảnh đất đã sản sinh ra nó: Trung Đông.
Layla thường kể cho tôi nghe cơn ác mộng về tương lai của cộng đồng Thiên Chúa ở Syria rồi cũng sẽ bị thảm sát giống như những gì đã xảy ra ở Iraq khi Saddam Hussein bị lật đổ: “Suốt bao nhiêu năm nay, những tôn giáo thiểu số như chúng tôi sống trong một đất nước mà dù bị cai quản bởi một nhà độc tài, nhưng được coi là tự do và cởi mở nhất Trung Đông”. Khi một người bạn của Layla quát vào mặt cô: “Tại sao mày lại có thể ủng hộ một kẻ chuyên chế như Assad?”
“Chỉ là bản năng sinh tồn!” – Layla trả lời.
Tai bay vạ gió
Trong suốt thời gian ngụ lại Syria, tôi chưa từng gặp ai trong tình trạng bi đát và quẫn bách như Hani. Anh là người Hồi giáo dòng Alawite, một nhánh nhỏ của Hồi giáo Shia, cũng chiếm khoảng 10% dân số. Việc Tổng thống Assad và phần lớn quân đội của ông cũng là người thiểu số Alawite khiến cho những thường dân như Hani trở thành mục tiêu của quân nổi dậy Sunni.
Khi Hani đến đón tôi ở sân bay, tôi suýt nữa không nhận ra anh vì ngoài đời anh khác trên ảnh quá. Một chàng trai thành đạt, cơ bắp vạm vỡ, quản lý cấp cao của chuỗi nhà hàng biên giới chỉ sau có hơn một năm nội chiến đã trở thành một kẻ thất nghiệp, lúc nào cũng lo sợ nhìn trước ngoái sau và tệ hơn nữa là cái bụng phệ mà tôi thường đùa là đóng vai trò ngăn cản, không cho tay trái thò sang làm phiền tay phải.
Tôi đã cười hỉ hả với hình ảnh so sánh đầy sáng tạo một cách đột biến của mình suốt cho đến khi Hani mời cơm và tôi phát hiện ra anh toàn mua đồ ăn sẵn vì không dám đi siêu thị, hay chính xác hơn là ngại xuất hiện ở chỗ đông người. “Vì sao à?” – anh cười khẩy – “vì tôi là người Alawite. Quân nổi dậy tuyên bố thẳng tưng không vòng vo rằng mỗi người Alawite bị giết chết là mỗi người bị giết chết vì Assad. Nếu Mai ở lại đây vài ngày thể nào cũng được chứng kiến vài cuộc biểu tình của quân Hồi giáo Sunni cực đoan vừa đi vừa hô ‘Tự do – Tự do! Cho đến ngày bọn Alawite bị đốt thành tro’. Nghe rất vần đúng không?”
Chị gái của Hani sống ở Homs và đang mang bầu sinh đôi. Mỗi lần Hani gọi điện cho gia đình, tôi lại nghe thấy tiếng cười đùa vang lên ầm ĩ ở đằng sau. Khó có thể tưởng tượng là cũng ngay lúc đó màn hình ti vi chỉ toàn là khói bom và Homs đang đùng đùng bốc cháy. Anh rể của Hani là một sĩ quan quân đội cao lớn tới gần hai mét. Gã khổng lồ này tuần trước vừa tâm sự với Hani và nước mắt ròng rã thú nhận rằng đêm nào cũng… tè ra quần ướt hết chăn chiếu vì những cơn ác mộng. Chỉ cần nhắm mắt vào chưa cần ngủ anh cũng có thể thấy cảnh vợ và con gái bị quân nổi dậy Sunni cưỡng hiếp. Khi Hani hỏi thế anh muốn đặt tên cho hai thằng con trai sinh đôi sắp ra đời là gì, đầu dây bên kia vang lên tiếng cười đắng ngăn ngắt: “Khó chi! Chỉ cần lấy tên của bất kỳ hai đồng đội tôi chết đúng ngày vợ sinh mà thôi!”
Tôi gần như tê liệt trước sự khốn cùng của gia đình Hani. Nhất là vào thời điểm đó, báo chí trên thế giới gần như chưa hề có một cái nhìn bao quát về cuộc chiến mà vẫn ngây thơ cho rằng đây là một Mùa xuân Ả Rập tiếp theo ở Trung Đông nơi tầng lớp dân chủ cánh tả không phân biệt tôn giáo đang vùng lên đòi thay đổi chế độ. Hầu như chưa có một phóng viên nào lọt được vào Syria lúc bấy giờ nên thế giới vẫn hoang mang, không biết rằng phong trào dân chủ đã bị chết yểu và biến thành cuộc nội chiến nhuốm màu thánh chiến giữa Hồi giáo Sunni cực đoan và Hồi giáo Shia dòng Alawite.
Không ai tin khi tôi nói với bạn bè rằng quân nổi dậy chính là khủng bố Al-Qaeda, kể cả khi một bài viết của tôi được đăng trên Jerusalem Post. Họ cho rằng tôi đã bị quân chính phủ tẩy não. Câu chuyện về anh rể của Hani tất nhiên được coi là kiểu nói quá của một con bé dễ xúc động, bởi đã là lính của độc tài Assad thì đương nhiên là phải giống như trên You Tube chứ, tức là chôn sống người biểu tình rồi ngửa mặt cười lên trời ha hả, sao lại sợ đái cả ra quần được.
Tôi ở lại chơi với Hani được vài ngày thì xảy ra chuyện.
Chiều hôm ấy khi đưa tôi đi thăm trung tâm thành phố trở về, người hàng xóm chủ quán bán tạp phẩm nơi Hani thường ghé vào mua thuốc lá bất ngờ hỏi liệu anh có phải là tín đồ Alawite hay không. Hani không còn cách nào khác là gật đầu. Bắt đầu từ ngày hôm đó, một bản án tử hình treo lủng lẳng trước mặt Hani. Một viên đạn bất kỳ lúc nào cũng có thể găm thẳng vào sọ. Căn hộ của anh ở Aleppo trở thành một nhà tù, mọi cửa sổ đều đóng kín, chèn kỹ và dập đinh. Một lần khi chúng tôi đang ngồi uống trà thì bất thần có tiếng gõ cửa. Hani tái mặt ra hiệu cho tôi im lặng. Tim tôi đập thình thình vì lo sợ. Chúng tôi ngồi yên không động đậy cho đến khi nghe tiếng bước chân mất hẳn phía dưới chân cầu thang.
Chia để trị
“Thế nhưng cậu có ủng hộ Assad không?” – Tôi hỏi Hani khi mình đã hoàn hồn và anh đã hoàn thành chu trình rón-rén- bước-ra-nhìn-qua-ổ-khóa, rồi quay trở lại phòng khách.
“Thế này Mai ạ. Ở Trung Đông làm quái gì có những nhà lãnh đạo tốt (tôi nghĩ ngay đến Sultan Qaboos nhưng kìm lại được), chỉ có những nhà lãnh đạo xấu ít, xấu vừa, và xấu hết cỡ mà thôi! Giữa mấy cái xấu đó thì đương nhiên là tôi chọn cái xấu nhẹ cân nhất. Hỏi Mai nhé, giữa Assad độc tài và quân Sunni cực đoan muốn xơi tái cái thủ cấp của tôi, Mai chọn ai?”
Sự thực đúng là nhiều sắc dân thiểu số ở Trung Đông một lòng ủng hộ các nhà độc tài đơn giản vì họ được bảo vệ. Luật ngầm được hiểu như sau: “Miễn các người không dính vào chính trị thì ai cũng sẽ được hưởng một cuộc sống tốt đẹp!” Cái hiệp ước không chính thức này được thỏa thuận khá suôn sẻ không những ở Syria mà còn giữa Saddam và cộng đồng Thiên Chúa giáo tại Iraq nơi người Thiên Chúa từng sinh sống từ 2000 năm nay, trước cả khi Hồi giáo xuất hiện. Bản thân Saddam thuộc dòng Hồi giáo Sunni, cũng là thiểu số trong một quốc gia chủ yếu là Hồi giáo Shia. Người Thiên Chúa cảm thấy an toàn hơn khi nhà độc tài cũng thuộc về một tôn giáo thiểu số. Khi Saddam bị lật đổ và chính quyền của đa số Shia lên ngôi, người Thiên Chúa chạy trốn vợi đi gần một nửa và các thiểu số tôn giáo khác bị kìm kẹp đến mức hàng loạt phải bỏ nước mà đi.
Hiệp ước tương tự cũng được thiết lập tại Ai Cập. Nhà độc tài Mubarak nhận được sự ủng hộ của 10% dân số (hơn tám triệu dân) theo Thiên Chúa giáo dòng Coptic, đổi lại Giáo hoàng Coptic có tiếng nói khá ảnh hưởng đến một số điều luật liên quan đến cộng đồng tôn giáo. Mubarak bị truất quyền là hàng loạt các thánh đường Thiên Chúa bị tấn công, người Thiên Chúa mất tấm khiên che chắn lại rúm ró trở về với thân phận của một thiểu số tôn giáo bị chèn ép.
Tuy nhiên, nếu nhìn kỹ vào vấn đề, hiếm có nhà lãnh đạo nào chỉ có cho mà không nhận, huống chi đây lại là độc tài, toàn quyền sinh sát. Những Saddam, Mubarak hay Assad chỉ đơn giản là áp dụng kế sách truyền thống “chia để trị”. Một mặt họ bảo vệ những sắc dân thiểu số, mặt khác họ lợi dụng chính sự yếu thế này để đổi lấy lòng trung thành. Dưới cái cánh gà mái che chở là lời răn đanh thép: “Các người làm quái gì có sự lựa chọn nào khác? Không trung thành với ta thì chỉ có chết!” Thỉnh thoảng, khi mấy chục phần trăm đám dân thiểu số ấy có vẻ hơi hạnh phúc quá đà thì nhà độc tài của chúng ta lại tạo cớ gây sự một tí, để cho tổn thương đau đớn một tí là ngay lập tức đám dân đen này hồi phục trí nhớ. Cái hố ngăn cách và sự thù hằn giữa các cộng đồng phải được giữ ở thế chỉ sôi lăn tăn, chứ ấm áp dễ chịu quá hay nóng bỏng cả tay thì hỏng bét. Một xã hội bị chia rẽ, bị phân hóa, chỉ có nghi ngờ nhau, hằn thù nhau nhưng chưa đến mức xông vào giết nhau là một xã hội dễ cai trị nhất.
Ngay sau khi ba lãnh đạo tối cao của Syria bị giết, hai người bạn khá thân của tôi ở Damascus đã xóa tên tôi trên facebook. Họ gửi rất nhiều tin nhắn giải thích rằng do tôi có một vài bài viết trên báo nên vì vấn đề an toàn cho bản thân, họ xin phép không để tên tôi trong danh sách bạn bè. Cả hai người bạn này đều thuộc về các tôn giáo thiểu số ở Syria.
Còn Hani, khi tôi rời Aleppo, anh vẫn tự giam mình trong nhà và ước mơ về một ngày mình có thể được chết ở trang trại của cha mẹ, “… trên cánh đồng xanh với đàn bò gặm cỏ ở gần bên”.
From Syria, with love[Từ Syria, gửi đi với tất cả tình yêu thương]
Vào tháng 11 năm 2013, con số thương vong ở Syria đã lên tới hơn một trăm nghìn người, một phần sáu trong số đó là phụ nữ và trẻ em. Khắp Syria có gần hai triệu người phải chạy tị nạn. Cuộc chiến đã kéo dài gần ba năm với vũ khí hóa học, tên lửa Scud, máy bay chiến đấu, các tín đồ tử vì đạo từ đủ mọi quốc gia đổ về và hàng triệu triệu đô la viện trợ từ những quốc gia khác không muốn trực tiếp tham chiến bằng máu. Syria trở thành chiến trường cho cuộc tranh giành ảnh hưởng giữa những kẻ có máu mặt nhất trên diễn đàn quyền lực thế giới, như một dạng thế chiến thứ ba đối chọi nhau không những về tôn giáo mà còn là những kình địch chính trị và kinh tế. Lịch sử Trung Đông từ sau thời kỳ cận đại đang chứng kiến những thảm kịch bi thương nhất. Nhìn các diễn đàn thương lượng đổ bể hết đợt này đến đợt khác, một cô gái bạn tôi đã cay cú thốt lên: “Thượng Đế nhất định phải là đàn ông, chứ không người phụ nữ nào có thể làm thế giới trở nên be bét như thế này”.
Ấy vậy nhưng từ những phút đầu tiên đặt chân vào Syria, với tư cách là một khách lạ và người dưng, tôi đã được chị em Dana đón về nhà chăm sóc, cho ăn cho uống, cho chăn ấm nệm êm. Ngày thứ hai ở Syria, thông qua một người bạn giới thiệu, tôi chuyển đến ở nhà Noura, cũng là một cô gái tôi chưa bao giờ gặp mặt. Khi chị em Dana đưa tôi ra chỗ hẹn, thoáng thấy bóng Noura tôi cứ ngỡ mình nhìn nhầm vì trông cô chẳng khác gì một cô gái Bắc Âu chính hiệu với mái tóc vàng rực rỡ để tung trong gió, làn da trắng trong suốt và đôi mắt xanh biếc. Khi hai đứa chụp ảnh post lên facebook, bạn tôi có người kêu lên sao Noura giống con gái Nga thế. Quả thật phụ nữ Syria nổi tiếng xinh đẹp trong thế giới Ả Rập. Có một ai đó nổi tiếng thậm chí đã nói rằng gã đàn ông nào mà không cưới được một cô vợ Syria thì tốt nhất là nên ở vậy đến già.
Tôi vô tư dọn về nhà Noura mà hoàn toàn không biết rằng gia đình cô vừa chạy thoát từ Homs chưa đầy một tuần trước. Họ phải mất bao nhiêu công và rất nhiều tiền mới tìm được một lái xe nhận chở ba mẹ con chạy thoát khỏi thành phố đang bị đánh bom. Chiếc xe khởi hành lúc còn nguyên vẹn, lăn bánh tới Damascus thì đã lỗ chỗ vết đạn. Họ thuê một căn hộ nhỏ hai phòng ngủ, một cho Noura, một cho bà mẹ và cậu em trai đã 15 tuổi nhưng vẫn thích ngủ rúc vào nách mẹ (!). Cả nhà dọn về được vài ngày thì thêm tôi vào ngủ cùng phòng với Noura. Khắp Syria, gần sáu triệu người phải chạy loạn như vậy.
Mẹ Noura là một phụ nữ đơn thân, một nách hai con đêm nào cũng khóc. Tôi thường đi ngủ khi cả ba mẹ con vẫn ôm nhau trên ghế sofa xem các vở opera xà phòng[32] tới tận sáu, bảy giờ sáng, một thói quen họ không thể dễ dàng thay đổi từ những ngày gia đình còn làm chủ một quán café internet ở Homs, đêm nào cũng phải đợi cho đến khi người khách cuối cùng ra về. Vậy mà mỗi sáng tôi thức dậy, trên bàn luôn luôn có bữa sáng dọn sẵn. Tôi vừa cảm động vừa xấu hổ nhận ra mình đang được cưu mang bởi một gia đình đang chạy tị nạn.
Tôi thậm chí còn không biết mình đang được chăm nom bằng những đồng tiền cuối cùng của ba mẹ con cho đến một buổi sáng thức dậy, tôi thấy Noura đang bò lồm cồm trên sàn nhà cùng em trai tìm một tờ tiền đánh rơi. “Jamal có buổi phỏng vấn học bổng du học ở Mỹ hôm nay! Tiền này để trả taxi mà không hiểu sao em đánh rơi mất!” – Noura vừa ngó xuống gầm ghế vừa than phiền.
Tôi cũng thụp xuống chổng mông tìm. Cuối cùng thì cũng thấy, nhưng mà với ngần này tiền thì sao mà đủ? Còn đồ ăn? Còn tiền xe lúc quay về? Còn bữa tối? Còn ngày mai?
“Đừng lo! Bố em đã hứa gửi tiền chiều nay rồi!” – Noura nói khe khẽ, vừa nói vừa liếc vội về phía phòng ngủ của mẹ. Qua cánh cửa khép hờ, tôi có thể nghe thấy tiếng Samah vừa cởi khăn trùm đầu vừa ngồi xuống nức nở trên giường. Xuất thân từ một gia đình Hồi giáo Sunni giàu có và quyền quý, hẳn là bà thấy nhục nhã lắm khi phải chìa tay xin tiền của chồng cũ.
Tôi móc ví đưa cho Noura phần còn lại của số tiền 400 đô la tôi mang theo từ Li Băng. Cô gái 18 tuổi kiên quyết không nhận, chỉ dám lấy một tờ lẻ để Jamal nhét túi quần trả tiền taxi về nhà.
“Sao em không cầm? Em không cầm chị giận đấy!” – Tôi nài nỉ.
“Không là không!” – Noura cương quyết.
Hai ngày sau, Samah trả lại tôi số tiền Noura vay. Bà có vẻ xấu hổ, cứ liên tục xin lỗi vì đã không làm tròn bổn phận của gia chủ. Khách là món quà của Thượng Đế mà, phải chăm lo chu đáo đưa cho thêm tiền chứ ai lại để khách phải rủ lòng thương hại và rút hầu bao?
Phiên tòa nhân dân
Khi biết tin tôi đang ở Syria, một người bạn khuyên tôi nên ở trong khu phố cổ và tránh các phố lớn quanh trụ sở chính quyền vì dễ có xe nổ bom. Phố cổ thì đương nhiên là cấm xe. Tôi tin sái cổ, và thế là xảy ra chuyện.
Nói luôn là không có bom beo gì hết. Muốn thách ai… chết vì bom đạn ở Syria hay bất cứ nơi nào ở Trung Đông là hơi bị chơi khó nhau đấy, vì trên ti vi thì khói bom đùng đùng nhưng đặt chân được vào cái vùng có khói bom ấy đã là điệp vụ gần như bất khả thi rồi. Tôi nhớ trên chuyến xe đi Palmyra (trên đường đi Homs) phải dừng lại trước mấy trạm kiểm soát và hầu như tất cả các cửa ngõ đều có xe tăng chặn đường. Cái chuyện xảy ra với tôi khốn thay lại là vì chính cái sự phởn phơ thái quá của bản thân, do thấy mình đang ở đất nước có chiến tranh mà sao bản thân lại không cảm thấy xíu xiu lo lắng gì hết thế này (!).
Thế là đùng một phát, hạn độp xuống đầu!
Hôm ấy tôi hớn hở leo từ trên núi xuống sau khi đã thăm thú cái hang đá được tương truyền là nơi có dấu bàn tay của thiên thần Gabriel. Và vì là khách du lịch duy nhất ở cái đất nước đang tan tác chiến trận này, tôi được đặc cách đặt lọt thỏm bàn tay mình vào cái dấu tay trên vòm hang đá. Hai người bản xứ tình cờ có mặt giải thích cho tôi rằng núi Qassioun nơi chúng tôi đang đứng là nơi hai con trai của Adam và Eva giết nhau vì tranh giành được làm chồng cô em gái xinh đẹp. (Một tiếng nói từ trong đầu tôi vọng ra: “E hèm! Theo niềm tin của người Do Thái, Thiên Chúa và Hồi giáo, Adam và Eva là phụ mẫu của loài người, vậy thì đương nhiên là anh em sẽ lấy nhau ở mấy đời F1, F2 rồi, thắc mắc cái gì?”) Sau khi người này giết người kia, ngọn núi rung chuyển bảy ngày liền, cái hang mở ra như vòm miệng của một lời than khóc. Thiên thần Gabriel phải dùng tay đỡ lấy để cứu các sinh linh cây cỏ khác xung quanh. Khi được hỏi thế có biết thiên thần Gabriel là ai không, tôi trả lời lưu loát như học sinh thuộc bài: “Dạ, là thiên thần đem lời của Thượng Đế đến cho các vị thiên sứ trong kinh thánh của người Do Thái và Thiên Chúa, trong đó có cả Muhammad. Các tín đồ sau này chép lại trong cuốn Quran vì Muhammad hoàn toàn không biết chữ”.
Thế là chúng tôi làm quen với nhau và cùng đi bộ xuống núi trở về trung tâm thành phố. Tame và Zaid là người Li Băng tới đây làm việc đã hai năm và khá là thông thạo các chốn hang cùng ngõ hẻm của khu phố cổ. Đi ngang qua một ngôi nhà bỏ hoang có mái vòm rất đẹp, tôi dừng lại chụp ảnh. Tame gợi ý giúp và tôi hào hứng trèo qua đống gạch đá chắn trước cổng để đến gần dưới mái vòm. Chỉ trong tích tắc, lúc quay lại tôi đã thấy hai kẻ mới quen vút mất dạng, cùng với máy ảnh, cùng với cái túi tôi để lại dưới chân, cùng với điện thoại, và khốn nạn nhất là cùng với cả hộ chiếu vì tôi phải cắp theo trình cho trạm kiểm soát khi ra khỏi thành phố.
Đớ ra mất một giây thì tôi tỉnh lại và đuổi theo. Tôi lấy hết sức bình sinh gào lên: “Help! Help”. Bao nhiêu vốn tiếng Ả Rập bay đi hết. Hai kẻ cướp chạy vòng vèo, tôi chỉ cố không để mất dấu Tame. Cổ họng như muốn xé toang ra còn mắt thì hoa lên. May thay, Tame chạy vào một ngõ nhỏ và không ngờ ngõ này đâm thẳng ra khu buôn bán của Cửa Đông (Bab Sharqi). Một, rồi nhiều người túa ra, chặn đường Tame và quật hắn ngã xuống mặt đường. Chỉ cần thấy cảnh Tame bị dúi vào tường là tôi cũng xỉu đi không còn biết trời trăng là gì nữa.
Tôi tỉnh dậy sau đó mấy phút và thấy cả một đám đông vây xung quanh. Một cô gái đang cầm cốc nước chanh lo lắng đặt vào miệng tôi. Mọi người xôn xao. Một người đàn ông đưa cho tôi cái ví của Tame và hỏi có phải là tôi bị cướp ví không? Tôi vẫn không nói được gì, chỉ đón lấy cái ví, rút thẻ căn cước của Tame ra và nhét vào… sau lần áo ngực, là nơi tôi luôn để tiền. Hai tay xụi lơ và run bần bật, tôi nhấp từng ngụm nước chanh được bón cho và dần dần lý giải cho mọi người hiểu là Zaid đã tẩu thoát với toàn bộ tư trang của tôi. Đúng là toàn bộ tư trang thật vì tôi đặt chân đến Syria trần sì một bộ quần áo, mấy ngày qua toàn phải mượn đồ của Noura.
Khi tôi đã đứng lên đi được, mọi người quyết định giải Tame vào một ngôi nhà gần đó. Bước qua vòm cổng là một mảnh sân rợp bóng cây với bồn phun nước và ghế đệm chồng chất, rất đặc trưng cho những căn nhà ở Trung Đông cần sự riêng tư và tươi mát, cân bằng của phong thủy. Tôi ngồi cạnh một đám hai chục ông đàn ông, vây quanh ở giữa là bị cáo Tame bị đặt trên ghế. Trà được pha, rót hết tuần này đến tuần khác. Nhiều người đàn ông khác đến, đi, rồi lại những người mới đến. Dường như cả khu phố lần lượt thay nhau vào đây. Cuộc tra khảo liên tu bất tận khiến Tame quằn quại như con cá mắc lưới. Hắn bị bắt phải quỳ xuống xin lỗi tôi, phải hôn chân tôi. Một người bỗng bất thần hét lên: “Này, nó để tóc dài chắc là dân đồng tính rồi!” Tôi rúm người lại. Tame bị xốc nách kéo ra một góc tối để khám xét. Tôi thấy da gà da ốc nổi hết lên. Khi quay trở lại ghế, một chiếc kéo được mang đến và những người đàn ông đòi tôi cho phép họ cắt phăng cái đuôi ngựa của Tame. Tôi rùng hết cả mình, cuống quýt xua tay xin họ đừng hạ nhục Tame quá mức.
Cuối cùng thì Zaid cũng bị bắt và toàn bộ gia sản được trả về tay tôi. Đám đàn ông rút điện thoại chụp ảnh Tame và tuyên bố họ sẽ in ra để treo khắp hang cùng ngõ hẻm. Tuy nhiên, khi tôi đề nghị được đưa Tame tới báo cảnh sát thì mọi người lại khuyên không nên, đơn giản vì cảnh sát rất tham nhũng và có thể sẽ làm phiền tôi nếu họ muốn kiểm tra đống ảnh trong máy. Tôi chợt nhớ là đã bị hai mật vụ theo dõi mấy hôm trước khi đang lang thang chụp ảnh ở cửa Toma. Hai nhân viên mặc thường phục đã theo chân tôi cả một đoạn dài và khi tôi đến một chỗ vắng thì yêu cầu cho kiểm tra máy ảnh.
“Vả lại nó cũng đã bị trừng phạt cho sợ đến vãi cả ra quần rồi. Nó không phải kẻ cướp chuyên nghiệp đâu, chỉ là lòng tham nổi lên thôi!” – Một người đàn ông thêm vào – “Nếu đưa nó ra cảnh sát thì nó sẽ bị tù vài năm, vào tù có khi lại hư thêm ra, thế còn gì là tương lai?”
Tôi ngẩng đầu nhìn lên những khuôn mặt xôn xao xung quanh, và thấy xấu hổ, thấy cảm phục, thậm chí thấy mình nhỏ mọn. Tôi nhớ Yemen và những cuộc bắt cóc. Tôi hiểu mình vừa chứng kiến tận mắt một phiên tòa nhân dân, xử theo luật của nhân dân. Dù chính quyền có thối tha đến cỡ nào, chiến tranh có tang tóc đến cỡ nào, xã hội có loạn lạc đến cỡ nào, nếu những luật lệ văn hóa được gìn giữ thì lòng người cũng khó loạn.
Damascus bên lề cuộc chiến
Để nói rằng, bất chấp tất cả, cuộc sống vẫn cuộn chảy. Nhiều lần đi chơi về muộn, Noura và tôi vẫn có thể chui vào quán internet gần nhà mở 24/7. Điện thoại của tôi lúc nào cũng có thể kết nối mạng, Skype và Twitter không hề vướng víu. Damascus và những thành phố nơi tôi đặt chân qua vẫn tấp nập đông vui. Những quán café vẫn mịt mù khói thuốc shisha và những đôi lứa yêu nhau vẫn tổ chức đám cưới linh đình mỗi chiều thứ Năm trước ngày nghỉ cuối tuần, trống đánh rung trời đến tận đêm khuya. Khu chợ chính Al- Hamidyah kìn kịt khách hàng hệt như chợ Bến Thành hay chợ Đồng Xuân những ngày buôn may bán đắt. Tôi và đám con gái vẫn ríu rít tạt vào hàng quần áo chíp nơi hàng chục cô ma nơ canh ăn bận những bộ quần áo khiêu dâm gấp nhiều lần tất cả các sexshop ở châu Âu, đứng dàn hàng ngang trước cả ngàn người lại qua. Bọn con gái chẳng hề xấu hổ, cứ liên tục sờ mó vân vê đám lụa là ren rua mỏng dính ấy, kỳ kèo mặc cả, dúi qua dúi lại vào tay anh chàng bán hàng mặt cũng tỉnh queo như đang bán một cục pin chứ không phải một bộ quần áo khiêu dâm phụ nữ có gắn chip, chỉ cần vỗ tay là có tiếng… chim hót phát ra từ đũng quần! Lần đầu tiên nhìn thấy cảnh này ở Yemen, tôi suýt rơi cả máy ảnh vì ngạc nhiên bởi những phụ nữ đang mặc cả mua bán ấy phủ kín bưng chỉ có mỗi đôi mắt, kể cả bàn tay cũng đeo găng đen. Thú thật, tôi mà phải mặc cả một cái quần chíp ren hồng diêm dúa trong suốt như ni lông thế kia với một gã trai râu ria xồm xoàm liên tục xoắn vặn sản phẩm của cửa hàng mình, miệng kêu “Thấy chưa? Dai lắm! Mềm lắm! Bền lắm!” thì tôi cũng muốn che quách cái mặt mình đi cho đỡ xấu hổ.
Bất chấp khói bom, cuộc sống ở Damascus những không tiếng súng vẫn bình thản trôi.

Khi Syria ngùn ngụt bốc cháy thì đêm thứ Sáu nào các sàn nhảy của Damascus cũng lèn chặt những bộ mặt tươi vui nhảy múa tung trời. Một buổi tối, Noura và tôi được mời dự sinh nhật của hội Couch Surfing tại quán bar Marmal lúc hơn hai giờ sáng. Tụi con trai trả 1000 lira (15 đô) với cuống phiếu cho bốn đồ uống. Tụi con gái chỉ phải trả một nửa. Tất cả chúng tôi gọi shot whisky, ngửa cổ dốc thẳng vào họng cùng một lượt rồi ôm nhau hát váng trời. DJ phù phép một kiểu tiết tấu dồn dập trên nền réo rắt của nhạc Ả Rập. Rồi một vài đứa nhảy cả lên bàn bar, theo sau là chàng bartender [người pha chế rượu] mở nút chai dốc thẳng xuống đám thanh niên đang vừa nhảy múa, vừa hò reo, vừa há ngoác mồm phía dưới.
Khi Syria bốc cháy ngùn ngụt trên các màn hình ti vi thì những người trẻ vẫn tìm thấy những khoảnh khắc vui trong cuộc sống. Trong ảnh, tôi và những người bạn trong một party ở Damascus.
Trong cái bối cảnh chỉ có khoái cảm và hưởng thụ ấy, một anh chàng trong đám nhận được tin nhắn từ facebook. Đó là một đoạn phim You Tube có cảnh một người đàn ông bị gí súng vào đầu và bắt quỳ xuống trước khi hành hình. Chàng ta kêu lên: “Fuck Assad! Fuck Assad”[Tiên sư Assad] rồi nhấn nút “share”. Chỉ trong tích tắc, 637 người trong danh sách bạn bè đã được cập nhật đoạn phim rùng rợn. Nhét điện thoại vào túi quần, chàng ta ngẩng lên nhìn tôi và hồ hởi nháy mắt: “Làm ly nữa nhé!”
Mỗi lần check mail hay vào facebook, tôi vẫn thường phải hết hơi giải thích với bạn bè là Syria thực ra khá an toàn(!). Những gì được miêu tả trên ti vi là sự thật, nhưng đồng thời cũng chỉ là một phần rất nhỏ của bức tranh sự thật rộng lớn. Khói lửa mịt mù ở Homs không có nghĩa là cả Syria rộng lớn bốc cháy. Hàng trăm người thiệt mạng ở Homs không có nghĩa ở khắp Syria rộng lớn cứ đi ra đường là ăn đạn vào đầu. Nói một cách hình tượng, nếu bạn chĩa ống kính zoom vào cái lòng đen của đôi mắt chẳng hạn, điều đó không có nghĩa là cả cơ thể bạn đều chỉ một màu đen.
Tôi đặt chân vào Syria như một bước đi tình cờ ham vui với một cái xắc tay và vài trăm đô la giắt túi, tôi rời Syria với một va li lỉnh kỉnh đủ thứ quà cáp như một lão nông ra thành phố thăm bà con. Tôi đến Syria tưởng sẽ phải đối mặt với địa ngục của nội chiến, nhưng lại khám phá ra một thiên đường của tình người. Khi còn sống, thiên sứ Muhammad từng từ chối đặt chân vào thành phố vì ngài “chỉ muốn đến thiên đường một lần duy nhất trong đời”. Tôi là kẻ tham lam, thiên đường của Syria đối với tôi một lần chắc chắn không bao giờ đủ.
Thông tin cuối cùng về những người bạn của tôi: Noura, mẹ và em trai đã sang Mỹ. Khi nhận được học bổng và visa, Noura sung sướng gửi tin nhắn trên facebook cho tôi: “Em muốn hôn ông Obama một cái!”
Tôi không có thêm thông tin gì về Dana và gia đình cô. Khu phố nơi cô sinh sống hiện trong tầm kiểm soát của quân đội chính phủ.
Anh chàng tổ chức đêm sinh nhật cho hay: Các buổi tiệc tùng vẫn diễn ra nhưng ít hơn trước. Damascus bị chia thành nhiều khu vực, nhưng trung tâm thành phố là nơi tập trung thành phần ủng hộ Assad và ảnh của ông vẫn rợp trời.
Hani đã thoát ra được khỏi Allepo mà không bị quân nổi dậy chặn lại kiểm tra. Anh hiện đang sống cùng bố mẹ và vô cùng trầm cảm. “Người đái ra quần vì sợ” – anh rể của Hani và là bố của hai đứa trẻ sinh đôi đã hy sinh trước khi kịp nhìn thấy mặt con trai.
Và tôi đang vật lộn với ý nghĩ sẽ cưới Hani làm chồng giả để bảo lãnh anh qua châu Âu.
Nguyễn Phương Mai
Theo https://thuvienonline.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét