Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam 2 000000000000000

Mấy vấn đề văn học sử Việt Nam 2

Chương BA
Văn học cổ điển
Trong lịch sử văn học Việt Nam, có giai đoạn văn học cổ điển không? Những tác gia và tác phẩm nào được liệt vào hạng văn học cổ điển? Giai đoạn văn học cổ điển bắt đầu từ năm nào? kết liễu năm nào? Lấy tiêu chuẩn nào để quyết định tính cách cổ điển của giai đoạn ấy? của những tác giả và tác phẩm được liệt vào hạng ấy? Văn học cổ điển Việt-nam có những đặc điểm gì khác với văn học cổ điển khác nước trên thế giới hay không? Có những điểm nào giống? Thí dụ, ở Pháp, văn học lãng mạn đến sau và đối kháng với văn học cổ điển. Ở ta, có tình trạng ấy không? Tại sao những Chinh phụ ngâm, Đoạn trường tân thanh, thơ Hồ Xuân Hương có lãng mạn tính phong phú lại vẫn được liệt vào văn học cổ điển? Chúng ta ngày nay có thể thống nhất nhận định về văn học cổ điển Việt-nam trên cơ sở nào?
Đó là những vấn đề mà các nhà văn học sử Việt-nam hiện nay không thể không đặt ra để giải quyết. Nếu những vấn đề ấy chưa được giải quyết đúng đắn và dứt khoát thì công việc biên tập cũng như công việc giảng dạy văn học sử Việt-nam ở các trường Trung học và Đại học sẽ còn vấp phải những bối rối không thanh toán được.
I. HIỆN TRẠNG VẤN ĐỀ
Điểm lại một số sách Văn học sử Việt-nam đã xuất bản, ta thấy:
1) VIỆT-NAM VĂN HỌC SỬ YẾU CỦA DƯƠNG QUẢNG HÀM
Trong bộ VIỆT-NAM VĂN HỌC SỬ YẾU CỦA DƯƠNG QUẢNG HÀM 58 không có giai đoạn nào, tác giả nào, tác phẩm nào được mệnh danh là cổ điển cả. Tác giả chia lịch sử văn học theo triều đại, theo hình thức văn tự (chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ) tuyệt nhiên không căn cứ vào một lý luận nào cả. Sách soạn không có hệ thống, không có phương pháp, hoàn toàn theo trật tự phi lý của chương trình văn học sử Việt-nam dạy ở ban Trung học Đông Pháp hồi Pháp thuộc và dựa vào « huấn lệnh của quan Đông Pháp học chánh giám đốc về việc dạy các tiếng Viễn đông đăng trong Học chánh phổ thông tập san số tháng hai tây năm 1938, phần phổ thông trang 175-179» như đã in ở trang đầu bộ Việt-nam văn học sử yếu. Danh từ «văn chương cổ điển» chỉ được dùng đến có một lần để tiêu đề chương thứ nhất của thiên thứ hai (trang 22): đó là những sách Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, v.v… tức là «các sách giáo khoa cũ để học chữnho».
2) VIỆT-NAM VĂN HỌC SỬ TRÍCH YẾU
Trong bộ VIỆT-NAM VĂN HỌC SỬ TRÍCH YẾU của Nghiêm Toản 59 một bản dọn lại của bộ Dương quảng Hàm, cũng tuyệt nhiên không nói đến văn học cổ điển Việt-nam. Tác giả chia lịch sử văn học của dân tộc theo chữ viết và triều đại y hệt Dương quảng Hàm; sáng kiến của tác giả là gọi văn học chữ Nôm và chữ quốc ngữ là «văn học vừa bình dân vừa bác học», và nêu ra ở bài tựa một lập trường:
«Văn học là phản ánh của xã hội, do tự dân chúng phát sinh và phải luôn luôn quay về dân chúng mới đủ năng lực trưởng thành; văn học Việt-nam theo hai động lực phát triển nhịp nhàng: tranh đấu và dân chúng hóa».
Tác giả tuyên bố là soạn bộ Việt-nam văn học sử trích yếu theo lập trường ấy; nhưng trong thực tiễn biên tập, tác giả đã quên mất lập trường.
3) VĂN HỌC SỬ VIỆT-NAM THẾ KÝ XIX
Trong bộ VĂN HỌC SỬ VIỆT-NAM THẾ KÝ XIX 60 của hai ông Nguyễn tường Phượng và Bùi hữu Sủng, biên soạn tương đối có hệ thống hơn các bộ kia, ở mục khái quát tập Tiền bán thế kỷ thứ XIX, có viết:
« Năm 1862, nước Pháp chiếm cứ Nam kỳ rồi đô hộ nước ta; biến cố lớn lao ấy không những chấm dứt thời kỳ tự chủ của dân tộc ta (939-1862) mà còn làm rung động hệ thống tư tưởng và văn chương cổ điển Việt-nam» .
Ở mục khái quát tập Hậu bán thế kỷ XIX, lại thấy viết:
«Từ năm 1862 trở đi, dân tộc ta mất chủ quyền, giai cấp nho sĩ từ địa vị thống trị trụt xuống địa vị bị trị rồi dần dần lùi bước… Từ năm 1862 trở đi tư tưởng cổ điển (tư tưởng Nho đượm mầu tư tưởng Lão Phật) bị sụp đổ trước sức tấn công của tư tưởng tây phương…»
Rồi hai tác giả mệnh danh thời kỳ 1862-1910 là «thời kỳ tan rã của văn chương cổ điển, tức là hậu bán thế kỷ thứ XIX». Ở phần Tổng kết tập Hậu bán thế kỷ thứ XIX, hai ông viết «Nền đô hộ Pháp thiết lập vững, giai cấp sĩ phu bị gạt ra ngoài sân khấu xã hội Việt-nam; theo gót các ông, văn chương cổ điển cáo chung và lui về quá khứ» .
Theo những lời dẫn ra đó thì hai ông Nguyễn tường Phượng và Bùi hữu Sủng cho rằng:
- Văn học cổ điển Việt-nam từ 1862 trở đi bị tan rã.
- Văn học cổ điển Việt-nam có liên hệ mật thiết với ưu thế chính trị và xã hội của «giai cấp sĩ phu», của «tư tưởng Nho đượm mầu tư tưởng Lão, Phật».
- Đến lúc giai cấp sĩ phu bị gạt ra ngoài sân khấu xã hội và tư tưởng Nho đượm mầu Lão phật sụp đổ trước sức tấn công của tư tưởng Tây Phương thì «văn chương cổ điển… cáo chung và lui về quá khứ».
Điều mà hai ông không nói rõ là văn học cổ điển Việt-nam (theo sự hiểu của hai ông) bắt đầu từ bao giờ (phải chăng là từ đầu thế kỷ XIX?) để rồi bị tan rã sau 1862? Hay là toàn bộ văn học do giai cấp sĩ phu làm ra bằng tư tưởng cổ điển (Nho đượm Lão Phật) trước 1862 đều là văn học cổ điển Việt-nam? Xem vậy, khái niệm «văn học cổ điển», trong tư tưởng hai ông Nguyễn tường Phượng và Bùi hữu Sủng, vẫn còn mơ hồ chưa được xác định.
4 ) LƯỢC THẢO LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT-NAM
Gần đây, trong bộ LƯỢC THẢO LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT-NAM của nhóm Lê Quí Đôn, các tác giả đã cho thời kỳ từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX là thời kỳ văn học cổ điển của Việt-nam:
« Thời kỳ từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX, nhất là giai đoạn sau từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, là thời kỳ phát triển nhất của văn chương cổ điển Việt-nam… Nền văn học đó, về nội dung, có giá trị hiện thực và nhân đạo; về hình thức có tính chất dân tộc và tính chất nhân dân ». (Tập II, trang 9)
Các tác giả bộ Lược thảo xếp số lớn các truyện Nôm khuyết danh, như: Nhị độ mai, Phan Trần, Bích câu kỳ ngộ, Quan âm Thị Kính, Phạm Công – Cúc hoa, Tống Trân, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Phương Hoa, Nữ tú tài, Bần nữ thán, Lục súc tranh công… vào hạng văn học cổ điển. Theo ý kiến của tác giả đó thì những tác phẩm khuyết danh này lại còn giá trị hơn cả những Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Truyện Kiều của Nguyễn Du (xem mục Chương mở đầu và Phần thứ tư, tập II, trang 180-188). Sự sắp xếp của nhóm Lê Quí Đôn đã gây nhiều thắc mắc. Theo tiêu chuẩn của nhóm ấy đưa ra «văn học cổ điển… về nội dung, có giá trị hiện thực và nhân đạo, về hình thức có tính chất dân tộc và tính chất nhân dân ») nhiều người sẽ ngạc nhiên thấy một tác phẩm như Trê Cóc không được coi là cổ điển mà Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hãng lại được liệt vào văn học cổ điển, hoặc Đại Nam quốc sử diễn ca được coi là một áng văn cổ điển (hiện thực tính? nhân đạo tính? nhân dân tính?) mà Trinh thử hay Thơ Lê Thánh Tông lại không là cổ điển, v.v…
Đó là hiện trạng của vấn đề. Theo ý chúng tôi, sở dĩ các nhà văn học sử nói trên hoặc không quan niệm có văn học cổ điển Việt-nam (Dương quảng Hàm, Nghiêm Toản) hoặc thừa nhận có nhưng nhận định và biên tập còn luộm thuộm, mơ hồ, là bởi chưa giới thuyết đúng khái niệm «Văn học cổ điển».
II. XUẤT XỨ VÀ NỘI DUNG LỊCH SỬ CỦA KHÁI NIỆM VĂN HỌC CỔ ĐIỂN CHỦ NGHĨA
Muốn định nghĩa văn học cổ điển một cách chính xác, phải tìm hiểu những đặc tính cốt yếu của giá trị cổ điển và của chủ nghĩa cổ điển trong lịch sử văn học thế giới ở những nước tiêu biểu nhất. Đó là một công việc vượt quá tầm chương sách này. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu ra một số điểm cần thiết cho sự giới thuyết căn bản khái niệm văn học cổ điển.
1 ) Riêng ở Âu châu, khái niệm cổ điển nẩy ra trong trào lưu nhân văn chủ nghĩa mà khởi điểm là khoa học nhân văn (khoa nghiên cứu những cổ văn Hy-lạp). Trào lưu này xuất hiện khoảng cuối thế kỷ XIV và toàn thịnh ở hai thế kỷ XV, XVI, bắt đầu từ nước Ý rồi tràn sang các nước Pháp, Đức, Hà-lan, Anh, v.v… Nguyên là suốt thời Trung cổ ở châu Âu, dưới quyền thống trị độc đoán của Nhà Thờ, tư tưởng bị chìm đắm trong thế giới thần học và kinh viện học. Khoảng thế kỷ XIV, người ta mới phát hiện được những cổ văn La mã trong các tu viện – đặc biệt là tác phẩm của Tacite và Cicéron. Khi thành Constantinople thất thủ (1453), các học giả Hy-lạp phải lánh nạn sang Ý. Họ đem theo những cổ văn Hy-lạp, làm nghề sao chép những cổ văn đó để sinh nhai, mở những lớp dạy tiếng Hy-lạp. Nhờ thế, giới trí thức Ý lúc đó mới được đọc các tác phẩm Hy-lạp viết bằng nguyên văn Hy-lạp. Trong những trường Đại học Padoue (Venise) Học viện Platon (Florence), các nhà tư tưởng Ý say sưa nghiên cứu văn học, triết học cổ Hy-Lạp và đem hết nhiệt tình ra giảng dạy, truyền bá những quan niệm về thế giới, về nhân sinh, về chính trị, về nghệ thuật mà họ mới thu hoạch được. Phong trào nghiên cứu cổ văn Hy-Lạp lan ra khắp châu Âu một cách nhanh chóng. Các học giả ở bốn phương trời kéo đến nước Ý để tìm đọc những nguyên văn Hy-Lạp và khi trở về nước mình lập tức dùng lời nói, ngòi bút, phổ biến rộng rãi «cái nhụy thơm ngát» của những áng văn quý giá ấy. Ở Pháp, ở Đức, ở Hà-lan, ở Anh, v.v… chỗ nào diễn đàn Đại học cũng là nơi truyền bá tư tưởng và nghệ thuật cổ Hy-Lạp. Dưới sự ảnh hưởng mạnh mẽ này, cổ văn Hy-Lạp trở thành môn học cơ bản của rất nhiều trường Đại và Trung học ở nhiều nước châu Âu. Những tác phẩm cổ Hy-Lạp được tôn sùng là những sách dạy con người cách sống chân chính hợp với danh vị người . Những tác phẩm ấy là những tác phẩm cổ điển (classicques). Vì thời đó, môn học chuyên khảo về cổ văn Hy-Lạp gọi là humanités , những người chuyên khảo cổ văn Hy-Lạp gọi là humaniste (ta dịch là nhà nhân văn chủ nghĩa), cho nên cổ điển học cũng là đồng nghĩa với nhân văn học . Cuộc vận động nhân văn chủ nghĩa ở châu Âu trong những thế kỷ XIV, XV, XVI là một cuộc vận động lấy cổ điển học làm đòn bẩy để « trả lại cho đời người tất cả cái thú vị của sự sống về tất cả các phương diện » (F.Engels). Mục đích tối hậu của nó là: đào luyện con người , một con người toàn diện. Lý tưởng về con người ấy, phải tìm trong những áng văn cổ điển Hy-Lạp. Do đó, khái niệm cổ điển bao hàm hai ý nghĩa chính: nhân văn chủ nghĩa, mẫu mực lý tưởng . Văn học cổ điển Hy-Lạp được đề cao là khuôn vàng thước ngọc trong công cuộc sáng tạo con người lý tưởng, phổ biến.
Sự khám phá ra văn học, nghệ thuật, triết học cổ điển Hy-Lạp đã đẻ ra thời đại văn hóa phục hưng ở châu Âu, «một cuộc biến động tiến bộ vĩ đại nhất mà từ trước đến giờ nhân loại chưa từng thấy» (Engels). Văn hóa cổ Hy-Lạp chứa đựng một nội dung như thế nào mà lại có một tác dụng cách mạng lớn lao đến thế? Tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa ở châu Âu hồi thế kỷ XIV, XV như thế nào mà lại cho phép con người khai thác nội dung ấy có kết quả phi thường như vậy?
Chúng ta đều biết xã hội cổ Hy-lạp và cổ La mã là một xã hội nô lệ chế. Thời ấy, chế độ nô lệ còn là một hình thái xã hội tiến bộ làm phát triển sức sản xuất.
« Phải có những khả năng của chế độ nô lệ mới xây dựng được một quy mô phân công lao động lớn lao hơn trong nông nghiệp và công nghiệp, mới xây d ự ng được sự phú túc của nước Hy lạp cổ. Nếu không có chế độ nô lệ thì cũng không có quốc gia Hy-lạp, không có khoa học nghệ thuật Hy lạp. Nếu không có chế độ nô lệ thì cũng sẽ không có nước La mã ». (Engels: Anti-Duhring)
Đặc điểm của xã hội Hy lạp là nhờ những điều kiện riêng biệt, công thương nghiệp phát triển khá cao và tập trung ở một số thành thị đông đúc. Bởi vậy, bên cạnh những cuộc đấu tranh gay gắt, phức tạp, giữa giai cấp chủ nô quý tộc và giai cấp nô lệ, giữa tầng lớp phú hào và các tầng lớp dân nghèo tự do, dân cầy, dân thủ công, ngay trong hàng ngũ thống trị lại xuất hiện sự mâu thuẫn giữa bọn chủ nô quý tộc và bọn chủ nô không phải quý tộc gồm các loại buôn lớn, tiểu thương, hạng cho vay lãi (bọn này càng ngày càng chiếm ưu thế trong nền kinh tế). Thời thịnh vượng nhất của cổ Hy lạp là thời bọn chủ nô không phải quý tộc thắng bọn chủ nô quý tộc, xây dựng một quốc gia dân chủ thay thế cho quốc gia quý tộc. Quá trình lớn lên của tầng lớp chủ nô tân tiến, dân chủ, quá trình đấu tranh của nó chống đối và thắng bọn chủ nô quý tộc, quá trình kiến thiết quốc gia dân chủ do tầng lớp ấy chấp hành – tất cả dựa trên cơ sở đấu tranh giai cấp của đông đảo quần chúng nô lệ và dân tự do – cũng là quá trình hình thành của khoa học, triết học, nghệ thuật, văn học cổ điển của Hy-lạp, món ăn tinh thần của châu Âu cận đại sau này. Triết học duy vật và biện chứng, tinh thần nghiên cứu khoa học tự nhiên vượt khỏi gông cùm thần bí chủ nghĩa, tư tưởng duy lý, sự tôn trọng nhịp điệu hài hòa trong việc đào luyện con người toàn diện (đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục) – «kiến tạo những hình thức của cá thể tính đẹp» (Hégel) – ý niệm và thực tiễn dân chủ trong việc quản trị quốc gia, sự sùng thượng cái Đẹp muôn vẻ, sự chú trọng đặc biệt đến mỹ tính hoàn toàn của hình thức nghệ thuật, ý thức cá nhân chủ nghĩa (con người hành động theo xét đoán của lương tâm mình, không để sức áp chế nào bên ngoài khuất phục), quan niệm người công dân (cả về nhiệm vụ lẫn quyền lợi), luân lý; sống theo tự nhiên (không kiềm chế một năng khiếu nào trong con người) và tận dụng nghị lực cá nhân – bấy nhiêu yếu tố đã cấu thành cái nội dung cơ bản của nền văn hóa cổ điển Hy lạp mà sau này La mã kế tục thể hiện với tinh thần chuộng trật tự, chuộng pháp lý, chuộng thực tế của nó. Bấy nhiêu yếu tố đã được phục hưng lại ở Âu-châu trong những thế kỷ XV, XVI và đã tạo ra «sự biến động tiến bộ vĩ đại của nhân loại» mà Engels đã nói.
Ý nghĩa lịch sử của phong trào Văn hóa phục hưng đã được Engels nhận định đầy đủ và sâu sắc trong bài tựa cuốn Biện chứng pháp của tự nhiên như sau :
«Vương triều dựa vào thị dân đã phá tan thế lực của quý tộc phong kiến và sáng lập những quốc gia quân chủ lớn hoàn toàn lấy dân tộc làm cơ sở; trong khuôn khổ những quốc gia này, những dân tộc cận đại Âu châu phát triển đồng thời với xã hội tư sản cận đại; trong lúc thị dân và quý tộc xung đột nhau như vậy, chiến tranh nông dân ở Đức báo hiệu những cuộc đấu tranh giai cấp tương lai; trên sân khấu chính trị không những nông dân tham gia đấu tranh – điều này không có gì lạ – mà đằng sau nông dân, đã hiện ra những tiền bối của giai cấp vô sản sau này, tay gi ơ cao lá cờ đỏ và miệng gào thét đòi công cộng hóa tài sản.
« Trong những bản thảo còn giữ lại được sau khi Byzance thất thủ, trong những tượng cổ phát hiện ra ở các di tích của La mã, một thế giới mới hiện ra trước con mắt ngạc nhiên của Tây phương: thế giới cổ Hy-lạp; những hình thức rực rỡ của nó phá tan những bóng ma trung cổ. Nước Ý sản sinh ra một sự thịnh vượng nghệ thuật không ai ngờ được, tưởng như l à ánh hồi chiếu của văn hóa cổ điển, sự thịnh vượng mà về sau không nước nào đạt tới được. Ở Ý, Pháp, Đức, xuất hiện một nền văn học mới, nền văn học cận đại đầu tiên trong lịch sử. Anh, Tây ban nha, sau đó ít lâu, cũng sáng tạo ra được một thời văn học cổ điển…
« Lần đầu tiên con người thực sự khám phá ra trái đất; đó là cơ sở của mậu dịch thế giới sau này; thủ công nghiệp chuyển sang công trường thủ công làm điểm xuất phát cho đại công nghiệp cận đại. Sự chuyên chế tinh thần của Nhà thờ bị phá vỡ; đa số các dân tộc Nhật nhĩ mãn li khai hẳn với Nhà thờ và theo Cải lương giáo; còn những dân tộc R omans, chịu ảnh hưởng của văn hóa Ả rập và cổ Hy lạp, càng ngày càng bồi dưỡng tinh thần tự do tư tưởng thêm sâu sắc, chuẩn bị mở đường cho triết học duy vật thế kỷ XVIII.
« Đó là một cuộc biến động tiến bộ lớn lao nhất của loài người từ trước đến giờ, một thời đại cần đến những thiên tài khổng lồ ở các lãnh vực, tư tưởng, dục v ọ ng, tính khí, khổng lồ vì khả năng nhiều mặt và trí thức của họ… Óc phiêu lưu của thời đại tác động ít hoặc nhiều đến họ. Thời ấy, ít thấy có một nhà văn hóa nổi tiếng nào mà lại không từng du lịch nhiều, biết bốn năm sinh ngữ, thành tựu ở nhiều chuyên môn. Léonard de Vinci không những chỉ là một họa sĩ mà còn là nhà số học, nhà cơ khí học, nhà kỹ sư xuất chúng đã cống hiến khá nhiều công trình khám phá cho nhiều ngành của vật lý học. Albert Durer là họa sĩ, điêu khắc, thợ chạm khắc, kiến trúc sư và lại sáng chế ra một hệ thống thuật xây thành lũy có nhiều ý kiến về sau được Montalembert phát triển và đem áp dụng vào những công trình xây thành lũy cận đại của nước Đức. Machiavel là nhà chính trị, sử gia, thi sĩ và đồng thời là nhà văn quân sự đầu tiên xứng với danh hiệu ấy của thời cận đại. Luther không những chỉ quét sạch những cái bẩn thỉu của Nhà thờ mà còn đem trật tự đến cho ngôn ngữ Đức, sáng tạo ra tản văn Đức, sáng tác cả lời lẫn nhạc bài ca Thượng đế của chúng ta là một thành trì kiên cố đã trở thành bài Marseillaise của thế kỷ XVI.
« Những anh hùng của thời đại này chưa bị lệ thuộc vào sự phân công lao động hạn chế hoạt động của con người trong một phạm vi nhất định như các nhà văn hóa kế tiếp họ. Những cái đặc tính chủ yếu của họ là hầu hết đã lăn mình vào dòng thời đại, thường xuyên tham gia đấu tranh thực tiễn, đứng về phe này hay phe khác, và lãnh đạo cuộc đấu tranh, kẻ này bằng lời nói và ngòi bút, kẻ kia bằng gươm giáo, thường thường bằng cả hai loại khí giới ấy. Nhờ thế mà con người họ tràn đầy sinh lực, có khí phách lớn, khiến họ thành những con người trọn vẹn » . 61
Ta có thể rút ở ý kiến của Engels ra mấy nhận xét và diễn dịch sau đây:
a) Miếng đất tiếp thu và dinh dưỡng văn hóa cổ điển Hy-Lạp, ở châu Âu hồi văn hóa phục hưng, là một trạng thái xã hội trong đó sự sản xuất kinh tế đã bước vào thời kỳ đầu của phương thức tư bản chủ nghĩa ; giai cấp tư sản, động lực tích cực của sự tiến bộ ấy, đã thành hình và đang gặp điều kiện tốt để kiến lập một thị trường dân tộc.
b) Sự khám phá ra cổ đại Hy-Lạp xuất hiện đúng lúc các dân tộc tư sản châu Âu đủ điều kiện để thành hình và đang đi tìm những lý thuyết chủ đạo cho công cuộc kiến thiết quốc gia nhằm mở đường cho sức sản xuất kinh tế tư bản chủ nghĩa tiến lên. Những tư tưởng văn học, nghệ thuật, hình thức, quản trị nhà nước của cổ Hy lạp – La mã rất thích hợp với yêu cầu phát triển của xã hội ở nhiều nước châu Âu – chủ yếu là yêu cầu phát triển của giai cấp tư sản đang lớn.
c) Cái mà Engels gọi là văn học cổ điển , ở châu Âu hồi văn hóa phục hưng, là một văn học cận đại , của những dân tộc cận đại, chủ yếu và căn bản do giai cấp tư sản xây dựng , để chống phong kiến và tự thể hiện, bằng cách mô phỏng văn học cổ đại Hy-Lạp được coi là mẫu mực hoàn toàn. Nội dung và hình thức của nền văn học dân tộc ấy là hồi quang của văn học cổ đại Hy-Lạp. Tác dụng của nó là phá đổ những cái gì cản đường tiến thủ của giai cấp tư sản và của xã hội đang chuyển sang hình thái tư bản chủ nghĩa ở bước đầu, bồi dưỡng tư tưởng và tình cảm cho con người tư sản theo hướng: tự do cá nhân chủ nghĩa, dân chủ, duy lý chủ nghĩa, dũng cảm truy cầu chân lý bằng trí tuệ cá nhân, phát triển con người trọn vẹn.
d) Lúc giai cấp tư sản và giai cấp quý tộc đang cấu kết hoặc đang mâu thuẫn với nhau (mặc dầu nhất thời giai cấp tư sản liên minh với vương triều để xây dựng quốc gia quân chủ và thị trường dân tộc) cũng là lúc cả hai giai cấp bóc lột ấy đã đứng trước sự đe dọa của nông dân và vô sản-những giai cấp này đã bắt đầu chiến đấu cho lý tưởng bản thân của mình. Trong điều kiện lịch sử ấy, giai cấp tư sản sẽ vì vận mệnh riêng của nó mà chủ trương chỉ đồng hóa những nhân tố nào trong văn hóa cổ Hy-Lạp có lợi cho chính mình nó, trong chừng mực lợi chung cho sự phát triển lịch sử của xã hội đang tiến lên tư bản chủ nghĩa. Khái niệm văn học cổ điển (một giá trị) dần dần sai biệt với khái niệm chủ nghĩa cổ điển (một chủ trương văn học) của giai cấp tư sản châu Âu.
2) Tính chất và diện mạo chủ nghĩa cổ điển trong các văn học cận đại châu Âu bị hoàn toàn lệ thuộc vào trình độ phát triển của giai cấp tư sản ở từng nước, vào tương quan lực lượng giữa giai cấp tư sản và các giai cấp khác trong xã hội lúc nó xây dựng văn học cổ điển dân tộc.
Tuy cùng hút tính chất ở cổ văn Hy-Lạp, mỗi dân tộc châu Âu vẫn tạo ra một văn học cổ điển riêng của mình, có nhiều điểm không giống văn học cổ điển các dân tộc khác. Nguyên nhân của hiện tượng này là trình độ phát triển không đều của xã hội cận đại và của giai cấp tư sản ở các nước, châu Âu.
Thế nào là giai đoạn cổ điển của một quốc trình văn học? Bàn về giai đoạn này, hai nhà văn học sử E.Legouis và L.Cazamian đã viết:
«Giai đoạn cổ điển [trong nguyên văn, hai tác giả gọi là «khoảnh khắc cổ điển» T.T.], mặc dầu không thuần nhất theo chúng ta nhìn, mặc dầu nội bộ chứa nhiều cái xung khắc nhau, vẫn là một giai đoạn tương đối thống nhất và có tổ chức. Ở giai đoạn này, những biểu hiện nghệ thuật nhất luật hơn là những cảm hứng. Trong chừng mực mà những trạng thái tâm hồn khác nhau có xu hướng tuân theo một số quy luật biểu hiện đồng nhất hoặc tương tự thì sự nhất trí tinh thần hoàn toàn tương đối của giai đoạn ấy càng s iết chặt lại trong một nhất trí nghệ thuật rõ nét hơn. Đó là đặc điểm của nh ữ ng thời đại mà nghệ thuật tự đi vào con đường kỷ luật và vươn đến sự cố định một quân bình.

« Nghiên cứu những phương tiện, những lý do của khuynh hướng s iết chặt ấy tức là nghiên cứu sự hình thành và ảnh hư ở ng của lý tưởng thật sự cổ điển chủ nghĩa trong văn học. Nghiên cứu rộng ra nữa đến các nhân tố xuyên qua đẩy sự nhất trí kia tựu thành, những nhân tố thuận theo hướng nhất trí cũng như những nhân tố từ chối hướng đó, tức là nghiên cứu bản thân giai đoạn cổ điển». 62
Nhận định này cũng giúp ta hiểu được một vài nét chính của giai đoạn cổ điển. Nhưng đó mới chỉ là xét giai đoạn cổ điển về phương diện hình thức. Vấn đề phải đặt ra là: động lực nào đã tạo ra và thúc đẩy khuynh hướng nhất trí hóa những biểu hiện nghệ thuật? Khuynh hướng nhất trí hóa này có tác dụng xã hội lợi cho giai cấp nào? Hại cho giai cấp nào? Tại sao lại có những nhân tố kháng cự lại khuynh hướng nhất trí hóa? Tại sao có sức kháng cự ấy mà khuynh hướng nhất trí hóa vẫn cứ thắng để làm ra giai đoạn cổ điển? Đó là những câu hỏi thuộc về thực chất xã hội và ý nghĩa lịch sử của chủ nghĩa cổ điển văn học.
Trước hết, văn học cổ điển chủ nghĩa chỉ có thể xuất hiện được trên cơ sở thành hình của một dân tộc. Nó biểu hiện và kết tinh tính chất ưu việt của dân tộc ở một khoảnh khắc trưởng thành ổn định đặc biệt, trong đó dân tộc tính gặp điều kiện tốt nhất để thành tựu một cách quyết định và phong phú.
Goethe đã viết:
«Ở đâu và khi nào thì có thể nẩy ra một nhà văn cổ điển dân tộc? Khi nhà văn ấy, lúc xuất hiện, gặp được, trong lịch sử dân tộc mình, những biến cố lớn và phản hưởng của những biến cố này kết hợp thành một tổng thể thuần nhất và ý nghĩa; khi hắn thấy ở đồng bào tính vĩ đại trong tư tưởng, tính thâm thúy trong tình cảm, tính mãnh liệt và thủy chung như nhất trong hành động; khi chính bản thân hắn tràn đầy tinh thần dân tộc, tự cảm thấy có khả năng, vì có thiên tài, thông cảm với quá khứ cũng như với hiện tại; khi hắn gặp lúc dân tộc đã đạt tới một trình độ văn hóa cao khiến hắn dễ dàng hấp thụ được văn hóa ấy để bồi dưỡng cho trí thức mình. Con người, dù là thiên tài trác việt đến đâu, cũng bị thời đại hạn chế ở một số điểm và cũng khai thác thời đại ở một số điểm khác; và chỉ có dân tộc mới đẻ ra được một đại văn hào dân tộc».
Bởi lẽ ấy: « T a không thể nghiên cứu một nghệ sĩ hay một lưu phái nghệ thuật cắt lìa ra khỏi xứ sở, công chúng nghệ thuật và thời đại của nó. Ta chỉ có thể hiểu và thực sự cảm được văn học một dân tộc khi ta hình dung nổi toàn bộ quá trình sinh hoạt và lịch sử của dân tộc ấy» . (Goethe) 63
Theo Goethe, sự trưởng thành của một dân tộc đến trình độ đẻ ra được nhà văn cổ điển dân tộc biểu hiện ra ở ba nét chính:
- Đã đạt tới một trình độ văn hóa cao.
- Có một tâm lý cộng đồng, một hòa cảm nhất trí về quá khứ và hiện tại.
- Toàn dân có tư tưởng vĩ đại, tình cảm sâu sắc, hành động mãnh liệt và thủy chung như nhất, khi gặp một biến cố lớn quyết định vận mệnh dân tộc.
Đạt tới một trình độ văn hóa cao, ở đây, nghĩa là đã tiến đến mức có khả năng nhận thức, suy nghĩ, hành động một cách duy lý và đã có một ngôn ngữ văn học thành thục đủ sức diễn đạt những tư tưởng vĩ đại, những tình cảm sâu sắc, những phản hưởng của biến cố lịch sử dân tộc trong tâm hồn toàn dân. Riêng về văn học, một ngôn ngữ dân tộc thành thục là điều kiện căn bản để làm xuất hiện một văn hào cổ điển dân tộc. Nếu ngôn ngữ văn học dân tộc còn non nớt thì dù có tư tưởng lớn, tình cảm mạnh, dù trải qua những biến cố quan trọng gây ra những phản hưởng sâu sắc trong tâm lý, một dân tộc cũng chưa đủ điều kiện để sản sinh một thiên tài văn học cổ điển. Như hồi văn hóa phục hưng, sở dĩ cổ văn Hy-Lạp tác dụng ít và chậm đến văn học Anh (hơn là đến văn học Pháp) bởi vì lúc đó ở Anh:
« N gôn ngữ dân tộc chưa thành thục. Văn x uôi thiếu hẳn một truyền thống kiên cố và thiếu những tác phẩm tiền bối kiệt xuất. Những nhà nhân văn chủ nghĩa tài giỏi nhất vẫn phải trước tác bằng tiếng L a tinh. Hai tác phẩm trứ danh của nước Anh thời ấy lừng tiếng khắp châu Âu, là cuốn Utopie của Thomas More và cuốn Instauration magna của F. Bacon, đều viết bằng tiếng L a tinh: đó là một điều rất có ý nghĩa ».
Nước Anh phải kinh qua cả một quá trình đấu tranh Cải lương tôn giáo – muốn được nhân dân ủng hộ, các nhà Cải lương giáo phải viết những ý kiến của mình bằng tiếng Anh cho dễ phổ cập (đầu tiên là dịch Kinh thánh), do đó, mới tạo được những điều kiện văn học làm cơ sở cho giai đoạn cổ điển sau này (giai đoạn này (1702-1740) đến chậm hơn ở Pháp nửa thế kỷ).
Ở châu Âu, động lực xã hội chủ yếu thúc đẩy sự thành hình của dân tộc là giai cấp tư sản. Cho nên, nói: quan hệ giữa văn học cổ điển và sự thành hình dân tộc cũng tức là nói quan hệ giữa văn học cổ điển và sự thành hình của giai cấp tư sản (mặc dầu còn những nhân tố khác tham dự vào sự nghiệp trưởng thành dân tộc). Chính vì thế mà lúc một văn học dân tộc trưởng thành đến trình độ thai nghén ra cổ điển chủ nghĩa bắt gặp giai cấp tư sản của dân tộc ấy đang ở tình trạng tương quan lực lượng như thế nào giữa nó và các giai cấp khác thì tính chất và diện mạo của chủ nghĩa cổ điển văn học sẽ biểu thị giai cấp tư sản ở tình trạng đó. Tùy theo yêu cầu riêng của mình trong những điều kiện lịch sử nhất định, giai cấp tư sản mỗi nước sẽ rút ra, ở những giá trị cổ điển Hy-Lạp, những nhân tố thích hợp với nó, để kiến thiết chủ nghĩa cổ điển văn học lợi cho nó. Nếu cần, nó sẽ còn thay đổi ít nhiều, thêm bớt ít nhiều cái di sản cổ điển Hy-Lạp kia để khỏi xâm phạm đến quyền lợi giai cấp của nó trong một thời gian lịch sử nhất định. Hiện tượng thay đổi, thêm bớt cổ nhân là hiện tượng phổ biến trong lịch sử. Đó là một sự tất yếu chứ không phải là sự hiểu nhầm cổ nhân. Trong bức thư phê bình một cuốn tiểu luận về pháp lý La-mã của Ferdinand Lassalle (xuất bản năm 1861) Marx viết:
«Anh chứng minh rằng hiện giờ người ta làm luật… theo nguyên bản di thư La-mã như thế là hiểu nhầm di thư ấy. Nhưng không phải vì thế mà nói được rằng di thư La-mã, ở hình thức cận đại của nó, là một bản làm ra do sự hiểu nhầm di thư đó. Trong lúc lý hội di thư La-mã để lập ra bản luật hiện nay, dù các nhà pháp lý học cận đại có nhầm lẫn đến thế nào đi nữa, ta cũng không thể nói như vậy được. Nếu không thì người ta sẽ có thể bảo rằng tất cả di sản của một thời đại trước, khi bị thời đại kế tiếp đồng hóa, đều là cái cũ bị hiểu nhầm. Thí dụ: chắc chắn rằng luật tam duy nhất, hiểu theo quan niệm của các nhà soạn kịch Pháp thời Louis XIV, là sự hiểu nhầm kịch Hy-lạp (nhất là hiểu nhầm Aristote, người đã quy thức hóa luật ấy). Nhưng, mặt khác, cũng lại chắc chắn rằng các nhà soạn kịch cổ điển Pháp đã hiểu kịch Hy-Lạp theo một cách hoàn toàn phù hợp với nhu cầu nghệ thuật của bản thân họ. Vì thế cho nên sau khi Dacier và nhiều người khác đã viết sách giải thích đúng đắn Aristote rồi, họ vẫn cứ bám chặt mãi lấy lề lối soạn kịch gọi là «cổ điển» của họ … 64 Hình thức bị hiểu nhầm chính là hình thức phổ biến nhất, và tới một trình độ phát triển nào đó của xã hội, thì điều ấy trở thành thông lệ». (Thư gửi Lassalle ngày 22-7-1861)
Theo quy luật «hiểu nhầm cổ nhân có dụng ý», giai cấp tư sản ở mỗi nước châu Âu đã chiếm hữu những giá trị cổ điển Hy-Lạp một cách có lợi cho nó. Đấy là nguyên nhân của sự khác nhau giữa các chủ nghĩa văn học cổ điển Pháp, Anh, Đức chẳng hạn.
III. VĂN HỌC CỔ ĐIỂN TÂY PHƯƠNG
1 ) Ở PHÁP
Lúc sự tiến hóa văn học của dân tộc Pháp đạt tới mức đòi hỏi giai cấp tư sản Pháp phải sáng tạo ra chủ nghĩa cổ điển văn học (giữa thế kỷ XVII) là lúc giai cấp này đang ở thế cấu kết chặt chẽ với quân chủ chuyên chính. Nó đang cần dựa vào quân chủ là một chính quyền tập trung mạnh mẽ, để phát triển về kinh tế. Nó cần đến một quốc gia thống nhất, thái bình, một chính sách khuyến khích công thương, bảo hộ mậu dịch, kiến thiết thị trường dân tộc, chiếm rộng thị trường tiêu thụ ở các nước ngoài. Nó cần một chính quyền mở to cánh cửa cho con em nó xông vào giữ những cương vị quan yếu trong bộ máy quản trị quốc gia để ủng hộ nó phát triển kinh dinh và uy thế chính trị. Vương triều Louis XIII, XIV đã thỏa mãn những điều kiện ấy. Giai cấp tư sản vì tự biết chưa đủ sức tiêu diệt chế độ phong kiến nên đã lợi dụng chế độ này qua hình thức quân chủ chuyên chính là công cụ tốt nhất lúc ấy, để nó bồi dưỡng lực lượng và tự khẳng định dần dần. Điều kiện này đã bắt buộc nó phải kết hợp mật thiết với quân chủ. Kết hợp, ở đây, có ý nghĩa là thuận theo một cách tự nguyện một số điểm của ý thức hệ phong kiến, của sinh hoạt phong kiến. Trên cơ sở lịch sử và xã hội ấy, giai cấp tư sản Pháp cấu tạo ra chủ nghĩa cổ điển văn học Pháp.
Nội dung của chủ nghĩa cổ điển Pháp là: độc tôn Lý trí, kiềm chế tình cảm và tưởng tượng; chuộng trật tự, tôn ti, hài hòa, tiết độ; sùng bái và mô phỏng các mẫu mực văn học cổ Hy-Lạp, sáng tác theo quy chế đã ấn định (phân ranh giới giữa các thể văn, luật tam duy nhất…) chọn chủ đề cao quý, ngôn ngữ trang nhã trừu tượng; đặc biệt chú trọng miêu tả tâm lý con người có phổ biến tính hơn là đề cập đến những cuộc đấu tranh xã hội; đề cao nguyên lý uy quyền; lấy sự hoàn mỹ về hình thức làm giá trị chính của tác phẩm văn học; khinh thị dân bách tính cho là không đáng làm đề tài sáng tác. Đó là một chủ nghĩa văn học có mục đích duy trì trật tự trong tình cảm, tư tưởng và hành động bảo vệ chế độ quân chủ tuyệt đối, củng cố và làm thẳng lý tưởng «chính nhân» (honnête homme) trong sinh hoạt xã hội, tiêu diệt mọi hình thức phản kháng, nổi loạn, phá hoại, ở ngay trong ý thức con người. Rõ ràng là chủ nghĩa ấy đặc biệt có lợi cho sự tiến thủ của giai cấp tư sản Pháp thế kỷ XVII. Sở dĩ nó có giá trị tiến bộ là bởi nó đáp ứng đúng yêu cầu của sự phát triển xã hội nói chung lúc bấy giờ và biểu thị được một cách tập trung và sâu sắc dân tộc tính Pháp (tinh thần duy lý) bằng những hình thức nghệ thuật hoàn bị biểu hiện được dân tộc tính ấy ở một mức kết tinh cao độ, trên con đường phát triển của dân tộc Pháp. 65 Bởi thể hiện khuynh hướng phát triển tiến bộ của một xã hội đang chuyển tới một hình thái lịch sử cao hơn (hình thái tư bản chủ nghĩa), bởi được dinh dưỡng bằng duy lý chủ nghĩa của một giai cấp đang đóng vai trò tiến bộ, cho nên, mặc dầu còn vướng mắc ít nhiều trong giới hạn của ý thức hệ quân chủ phong kiến, văn học cổ điển chủ nghĩa Pháp vẫn là một giá trị văn hóa tiến bộ và phổ biến của nhân loại.
2) Ở ANH
Ở Anh chủ nghĩa cổ điển văn học xuất hiện chậm hơn ở Pháp nửa thế kỷ và có tính chất riêng của nó, vì tình hình phát triển của xã hội Anh và của giai cấp đấu tranh ở Anh khác ở Pháp. Chính lúc các nhà văn cổ điển Pháp phục tùng và ca ngợi quyền «thiên tử» của Louis XIV thì giai cấp tư bản thương mại và tài chính Anh đang tấn công kịch liệt vào hàng ngũ phong kiến quý tộc đã biến thành tư bản điền địa. Kết quả cuộc tấn công này là nước Anh thành một nước thực hành chế độ Nghị viện: quyền nhà vua bị hạn chế và kiểm tra; những tự do tư tưởng, tự do chính trị và tôn giáo được bảo đảm. Nhưng, chung cục, không phải giai cấp tư bản thương nghiệp và tài chính thủ tiêu giai cấp đại quý tộc (tư bản điền địa), hay ngược lại. Các nhà tài chính, thương nhân, công nghệ, dần dần kết hợp với các nhà đại quý tộc, chia nhau nắm chính quyền bằng cách sử dụng Nghị viện và Nhà vua một cách có lợi cho họ.
«Nghị viện, với chế độ hai viện, thực sự tiêu biểu cho nước Anh tư bản chủ nghĩa, dù là tư bản điền địa hay tư bản động sản» . 66
Triết học đại diện cho khuynh hướng tư bản chủ nghĩa Anh đầu thế kỷ XVIII là triết học kinh nghiệm luận của Locke. Chủ trương rằng: mọi trí thức đều do cảm giác và kinh nghiệm thực tiễn cấu tạo nên; về tín ngưỡng tôn giáo, mỗi cá nhân đều có quyền tự do lựa chọn; về chính trị, đề cao dân quyền và quyền khởi nghĩa của dân khi nhà vua làm hại dân hại nước: triết học Locke hoàn toàn phù hợp với tâm lý và nguyện vọng của giai cấp tư sản đang cấu kết với đại quý tộc nắm chính quyền ở Anh sau cách mạng 1688.
Mặt khác, giai cấp tư sản tài chính và công thương, vì thỏa hiệp với giai cấp đại quý tộc để chung sức nhau làm cho dân tộc Anh phú cường, nên đã trở thành bảo thủ. Trong sinh hoạt chính trị, xã hội, văn hóa, nó yêu cầu thiết lập một trật tự tôn ti vững vàng, một thế quân bình ổn định cần thiết cho sự phát triển của nó. Yêu cầu này hướng tư tưởng, tình cảm của những con người tư sản vào một khuôn khổ, một tầm thước có tiết độ. Về đời sống luân lý, yêu cầu ấy bồi dưỡng khuynh hướng «thuần phong mỹ tục» của phái Thanh giáo (puritains), kiềm chế chặt chẽ những xúc cảm và tưởng tượng mãnh liệt, phóng túng của cá nhân, tạo thành lý tưởng «con người lịch sự» (gentleman) lấy chừng mực và tôn trọng trật tự xã hội làm tiêu chuẩn của hành động. Nhưng vì, nói chung, giai cấp tư sản Anh đầu thế kỷ XVIII đã phát triển hơn giai cấp tư sản Pháp khoản 1660, nên tầng lớp trung lưu cũng bành trướng được ảnh hưởng tới nhiều lãnh vực sinh hoạt chính trị, vănhóa.
«Những thương nhân đã trở nên giầu có, những nhà tài chính, vốn xuất thân ở hàng ngũ Thanh giáo, vẫn giữ được cách sống cố hữu. Họ mỗi ngày một văn minh hơn, tế nhị hơn, chịu ảnh hưởng hoặc thừa nhận phong cách sinh hoạt của giai cấp trên và tính theo thời đấy họ nhập vào giai cấp ấy, nếu có thể. Nhưng về tư tưởng và tình cảm, họ không đồng điệu với giai cấp trên. Sự có mặt của họ ở cả những nơi hội họp thần thế nhất đã tỏa ra một nhân diện khác thấm vào toàn thể xã hội, khuyến khích tính ưa chuộng sự kính t í n (piété), sự giản dị, luân lý tình cảm…» (E. Legouis và L. Cazamian: Văn học sử Anh)
Truyền thống văn học và ngôn ngữ văn học Anh đúng lúc tiến tới trình độ yêu cầu xuất hiện chủ nghĩa cổ điển thì vừa gặp những điều kiện xã hội nói trên làm cơ sở. Về căn bản thì chủ nghĩa cổ điển văn học nói chung rất phù hợp với nhu cầu trật tự tôn ti, quân bình xã hội của giai cấp tư sản. Về điểm này, chủ nghĩa cổ điển văn học Anh giống chủ nghĩa cổ điển văn học Pháp. Nhưng giai cấp tư sản Anh đã «đem theo vào khí hậu tâm lý và văn học của giai đoạn cổ điển… những nhân tố dị biệt mầm mống của một quá trình phân hóa sẽ phát triển sau này» (E. Legouis) Đó là: óc phê phán xã hội khá kịch liệt, tinh thần tự do tư tưởng, nhãn quan hiện thực chủ nghĩa, yêu cầu về tình cảm cá nhân. Những tác phẩm lớn của các nhà văn đại diện cho giai đoạn cổ điển chủ nghĩa Anh như Pope, Swift, De Foe, Addison, Steele, Johnson chứng minh điều ấy. Văn học cổ điển chủ nghĩa Anh là tiếng nói của một giai cấp tư sản đã khỏe, đã làm hai cuộc cách mạng chống phong kiến và đã có ý thức sâu sắc về lực lượng và vai trò lịch sử của mình.
3) Ở ĐỨC
Ở Đức thì tình hình lại khác hẳn. Giai cấp tư sản Đức thế kỷ XVII còn non nớt. Đến tận thế kỷ XVIII, nước Đức vẫn bị phân chia thành hơn ba trăm quốc gia phong kiến nhỏ. Kinh tế lạc hậu và chính quyền phản tiến bộ của giai cấp quý tộc đã kìm hãm sức phát triển của văn hóa. Về tư tưởng, trong lúc giai cấp tư sản Pháp, Anh đã giương cao lá cờ duy lý chủ nghĩa và kinh nghiệm chủ nghĩa thắng lợi, thì ở Đức đang chìm đắm trong vũng lầy của kính ngưỡng chủ nghĩa (piétisme) do Philippe-Jacques Spener tuyên truyền, tổ chức (đầu thế kỷ XVIII). Đó là một cuộc vận động tôn giáo bài xích lý tính, đề xướng đời sống nội tâm, lấy tình cảm làm chủ, tôn trọng cái linh thiêng của tôn giáo. Về văn học, thì sau Luther, không có nhà văn lớn nào cho đến lúc Lessing ra đời. Theo lời nhận xét của Marx thì trước Lessing, văn học Đức ở trong «một tình trạng khốn nạn»:
« Những bác học đại gia nhà nghề, có môn bài, được hưởng các đặc quyền đặc lợi, những giáo trưởng và học giả đủ các loại, những nhà văn không có cá tính xuất thân ở các trường Đại học, trong hai thế kỷ XVII và XVIII, với những bờm tóc giả rậm cứng, với tính khoa trương cao nhã, với những lối không đàm khoát luận chẻ sợi tóc ra làm bốn, đã ngăn cách nhân dân với tư tưởng, ngăn cách khoa học với cuộc sống, ngăn cách con người với tự do. Chính những nhà văn bất lực ấy đã tạo ra văn học của chúngta…»
Vì trình độ phát triển của giai cấp tư sản Đức thấp kém hơn ở Pháp và Anh như vậy, cho nên lúc văn học Đức có điều kiện bước vào giai đoạn cổ điển chủ nghĩa (1750-1810) thì các nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa này, như Lessing, Herder, Goethe, Shiller vận dụng nó như một khí giới đấu tranh giải phóng của giai cấp tư sản, nhằm ba mục tiêu chính: làm cho dân tộc được thống nhất và cường thịnh, thực hiện liên lạc mật thiết với quần chúng nhân dân, khôi phục tính toàn diện cho sự sống của con người bị chia năm xẻ bẩy. Văn học cổ điển chủ nghĩa Đức không chỉ bắt nguồn ở nhân văn cổ điển Hy-lạp mà còn tự dinh dưỡng bằng văn học Anh thời Elizabeth (đặc biệt là Shakespeare) và bằng văn học dân gian (đặc biệt là ca dao, bài hát). Do đó, văn học cổ điển chủ nghĩa Đức – thể hiện ra ở những lý thuyết mỹ học cũng như ở các sáng tác phẩm – phong phú hơn văn học cổ điển chủ nghĩa Pháp, Anh về tinh thần dân tộc, về nhân dân tính, về dân chủ tính, về nhân tính toàn diện. 67
Theo nhận định của nhà nghiên cứu văn học Pháp André Gisselbrecht:
« T hẩm mỹ học và «mộng ước nghệ thuật» của các nhà văn cổ điển Đức – Herder, Goethe, Shiller, H ö lderlin, Hégel – mang hình thức một sự tưởng nhớ (không hy vọng, vậy là có suy nghĩ) Hy lạp chủ nghĩa. Người ta nhận thấy ngay cái «mộng ước nghệ thuật» ấy thực ra chính là một mộng ước về chế độ dân chủ… Chủ nghĩa cổ điển Đức hơn chủ nghĩa cổ điển Pháp là ở chỗ đó. Như th ế không có nghĩa là nó thích Hy-lạp hơn La-mã; sở dĩ như thế chỉ là bởi nó phản ánh sự thiếu «đạo đức cộng hòa» ở Đức, nghĩa là thiếu một giai cấp tư sản cách mạng… Herder, Goethe, Shiller và H ö lderlin học tập ở nghệ thuật Hy lạp không phải cái hình thức mà học tập cái thực chất của nghệ thuật ấy: tinh thần dân chủ. Tất cả đều đồng thanh chứng minh rằng chủ nghĩa cổ điển Hy-lạp giữ được một tầm quan trọng thế giới và một giá trị gương mẫu vĩnh cửu là bởi nó là biểu hiện trực tiếp của đời sống nhân dân, của sự tham gia trực tiếp của nhân dân vào công việc quản trị quốc gia… Cái điều làm cho văn học cổ điển Đức thành gương mẫu là chỗ nó biết nối chặt tính chất dân tộc vào tính chất nhân dân của văn học» . 68
Những luận cảo: «Tiếng nói của các dân tộc trong những bài hát dân gian của họ» (Herder), «Thơ mộc mạc và thơ tình cảm» (Shiller), «Thơ và chân lý» (Goethe); những tiểu thuyết và kịch làm bằng tình cảm lãng mạn, trí tưởng tượng, tình yêu nước, khát vọng về tự do, ý chí chống cường quyền, như Werther, Goetz de Berlichingèn, Iphigénie (Goethe), Emilia, Galotti, Nathan le Sage (Lessing), Guillaume Tell (Shiller)… là những sản phẩm của giai đoạn văn học cổ điển Đức không thể có được trong văn học cổ điển Pháp, Anh.
IV. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA VĂN HỌC CỔ ĐIỂN
Xét qua lý thuyết và thực tiễn văn học cổ điển chủ nghĩa ở ba nước Tây phương: Pháp, Anh, Đức, chúng ta đã có thể nhận thấy rằng:
1) Văn học cổ điển chủ nghĩa Tây phương là một văn học cận đại , xuất hiện trên cơ sở một trình độ phát triển xã hội đã có giai cấp tư sản, do giai cấp tư sản sáng tạo ra để phục vụ quyền lợi bản thân nó lúc ấy đang thống nhất trong căn bản với quyền lợi chung của dân tộc. Cổ điển tính, xét đến gốc, chỉ là tư sản tính ở một thời kỳ lịch sử nhất định trong quá trình đang tiến lên của tư bản chủ nghĩa.
2) Văn học cổ điển chủ nghĩa Tây phương nẩy nở ra trong giai đoạn thành hình của dân tộc tư sản và biểu thị sự thành hình ấy về mặt nghệ thuật ngữ ngôn . Nếu ngữ ngôn của một dân tộc chưa tiến hóa đến mức đủ khả năng thể hiện sâu sắc và trung thực mọi trạng thái tinh thần của dân tộc đã được sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa cận đại hóa đến một độ cao thì văn học cổ điển chủ nghĩa của dân tộc ấy cũng chưa xuất hiện được.
3) Văn học cổ điển Tây phương, dưới danh nghĩa bắt chước văn học cổ HY-LẠP, thực tế chỉ đồng hóa và biểu dương những nhân tố tinh thần hợp với yêu cầu khách quan của sơ kỳ tư bản chủ nghĩa và lợi cho giai cấp tư sản đang trưởng thành: óc duy lý, sự tôn trọng khoa học thực nghiệm, tinh thần tự do phê phán, triết lý hưởng lạc cá nhân, trật tự, hài hòa, cái đẹp quân bình, tư tưởng dân chủ, sự truy cầu phát triển cá tính con người… Những nhân tố ý thức hệ này là những vũ khí tư tưởng để giai cấp tư sản tự khẳng định đối lập với chế độ phong kiến, mặc dầu nó vẫn phải dựa vào vương triều để phát triển vì chưa đủ lực lượng tiêu diệt phong kiến toàn bộ.
4) Văn học cổ điển Tây phương, vì là vũ khí đấu tranh của một giai cấp (tư sản) tuy đang lên nhưng vẫn phải cấu kết với vương triều để làm vững một trật tự xã hội và làm thắng một đường lối chính trị có lợi cho sự phát triển của nó, cho nên đã đề xướng và phục tùng những quy tắc nghệ thuật, rút ra ở nền văn hóa cổ Hy-Lạp, do đó hạn chế sức sáng tạo vùng vẫy của tình cảm cá nhân, của trí tưởng tượng, của cá tính nhà văn – để đảm bảo trật tự trong văn học và xã hội. Bởi vậy nó mang ít nhiều tính cách quý tộc và bảo thủ. Chính vì thế mà ở các nước Tây phương tiêu biểu cho trào lưu cổ điển văn học (Pháp, Anh) khái niệm lãng mạn chủ nghĩa đối nghịch với khái niệm cổ điển chủ nghĩa (tuy sự đối nghịch này không phải là tuyệt đối).
5) Văn học cổ điển Tây phương ở mỗi nước có một sắc thái riêng, nhưng nói chung, có những điểm nhất trí sau đây:
- Trong tác phẩm văn học, hình thức nghệ thuật dân tộc thống nhất với nội dung tư tưởng tiến bộ trên một mức độ cao.
- Kết hợp ngữ ngôn bác học với ngữ ngôn dân gian làm cho ngữ ngôn văn học có quan niệm tính, dân tộc tính, phổ biến tính.
- Thiết tha đến những vấn đề có liên quan mật thiết với sự giải phóng con người, với vận mạng của dân tộc; và hướng sự sáng tác vào chỗ giải quyết những vấn đề ấy theo một lập trường tiến bộ (tư sản).
- Tập trung khả năng vào công việc khám phá con người, biểu hiện con người; coi con người sống trong xã hội là đối tượng chủ yếu của văn học; cố gắng vượt qua giới hạn của giai cấp, của thời đại, của sự sống cá biệt, để đạt tới con người phổ biến, con người vĩnh cửu .
6) Văn học cổ điển Tây phương, với những đặc tính nói trên, không chỉ còn là một chủ nghĩa văn học , một thời kỳ văn học mà đã trở thành một giá trị văn học , một thành quả lớn của lịch sử văn học nhân loại. Đó là một giá trị nhân đạo chủ nghĩa, một giá trị nghệ thuật tính, một giá trị chiến đấu tính, làm vẻ vang cho trí tuệ con người, góp một phần quang vinh vào truyền thống văn học tiến bộ của tất cả loàingười.
Chương BỐN
văn học cổ điển (tiếp theo)
NHẬN định về văn học cổ điển Việt-Nam không thể áp dụng máy móc khái niệm «chủ nghĩa cổ điển» Tây phương vì hoàn cảnh lịch sử và xã hội của văn học cổ điển Việt-Nam hoàn toàn khác hoàn cảnh lịch sử và xã hội của văn học cổ điển Tây phương. Tuy nhiên, không phải vì thế mà văn học cổ điển Việt-nam không có những nét chung với văn học cổ điển Tây phương. Tìm ra được những điểm giống nhau và những điểm khác nhau giữa văn học cổ điển Việt-nam và văn học cổ điển Tây phương là tìm ra được cái tiêu chuẩn chính xác để khẳng định thời gian của giai đoạn văn học cổ điển Việt-nam.
Khác hẳn ở Tây phương, văn học cổ điển ở Việt-nam thành hình trong điều kiện xã hội phong kiến chưa có giai cấp tư sản. Những người sáng tạo ra văn học cổ điển, ở Việt-nam, không phải là những nhà trí thức đại diện cho giai cấp tư sản đang lớn lên mà lại là những tầng lớp nho sĩ quan liêu và nho sĩ bình dân tiến bộ. Bởi vậy, nội dung tư tưởng của văn học cổ điển Việt-nam căn bản không phải là ý thức hệ tư sản mà là những giá trị tương đối chân chính của ý thức hệ phong kiến kết hợp với những giá trị ý th ứ c hệ bình dân trong một hoàn cảnh xã hội kinh tế hàng hóa đã bắt đầu có tính chất tư bản chủ nghĩa.
Như chúng ta đã biết, tính chất cơ bản của một văn học cổ điển là tính chất dân tộc. Sở dĩ văn học cổ điển có được một giá trị lớn lao, phổ biến, nhân loại là vì nó mang trong bản thân một dân tộc tính sâu sắc và độc đáo. Cổ điển tính bao hàm ý nghĩa phổ biến tính, nhân loại tính. Thực tiễn văn học sử thế giới đã chứng minh rằng một thiên tài văn học càng biểu hiện tính độc đáo của dân tộc mình đậm nét chừng nào thì càng gần nhân loại chừng nấy. Vì thế, cổ điển tính cũng là biểu thị của dân tộc tính. Trên con đường phát triển lịch sử của một dân tộc, có những thời quan trọng tạo điều kiện cho đặc tính của dân tộc ấy tự khẳng định một cách tập trung; và lại có một thời ưu thế nhất trong đó đặc tính dân tộc kết tinh ở một trình độ cao nhất, ở một hình thái trọn vẹn nhất. Lúc đó, bao nhiêu yếu tố tinh thần, hình thành qua một lịch trình lâu dài, gặp điều kiện tốt nhất để cô đọng lại thành một tính thuần nhất, đặc thù, quyết định. Ở dân tộc tính ấy, mỗi người trong dân tộc nhận thấy cách cảm nghĩ, cách nhìn cách hiểu, cách sống tinh thần của riêng mình. Và qua đặc tính ấy, những người không cùng thế hệ, không cùng nghề nghiệp, không cùng địa vị xã hội, không cùng thân phận, không phân biệt nam, nữ, đều cảm thấy cùng thuộc một cộng đồng thể là dân tộc .
Tâm lý cộng đồng ấy, sinh hoạt tinh thần cộng đồng ấy tuy manh nha từ lúc một tập thể nhân quần còn là một bộ tộc và hình thành rõ nét dần cùng với quá trình bộ tộc chuyển thành dân tộc, nhưng phải đợi đến thời kỳ trưởng thành của dân tộc mới có tính cách dân tộc triệt để được. Một dân tộc chỉ có thể đạt tới mức trưởng thành khi nó đã xây dựng được vững vàng một quốc gia thống nhất, một chính quyền tập trung mạnh, trên một lãnh thổ thống nhất. Muốn thế, nó phải có một kinh tế cộng đồng, chủ yếu là thị trường dân tộc. Đứng về mặt lịch sử mà xét, sự cộng đồng về lãnh thổ cũng như quốc gia trung ương tập quyền có thể xuất hiện trước khi có một sinh hoạt kinh tế cộng đồng. Nhưng nếu quốc gia trung ương tập quyền chưa đủ khả năng kiến thiết ngay một kinh tế cộng đồng làm cơ sở bền chắc cho nó, thì sự tập quyền ấy sẽ một là tan vỡ, hai là chỉ có hình thức chứ không có thực chất; và sự cộng đồng lãnh thổ cũng sẽ bị phá hủy. Sự cộng đồng của ngôn ngữ chỉ thành tựu được trong quá trình cộng đồng hóa kinh tế, lãnh thổ và tâm lý dân tộc.

Riêng văn học muốn đạt tới tính cách dân tộc trọn vẹn lại còn lệ thuộc vào nhiều nhân tố khác nữa nằm trong phạm trù loại biệt tính của văn học. Một khối người cộng đồng ổn định, thành lập trong quá trình lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng về ngôn ngữ, về lãnh thổ, về sinh hoạt kinh tế, về cấu tạo tâm lý biểu hiện trong cộng đồng văn hóa, là một dân tộc; nhưng không phải chỉ có thế mà đã tất yếu sản sinh ra ngay được một văn học thực sự dân tộc. Dân tộc Nga la tư bắt đầu thành hình từ thế kỷ XVII mà đến giữa thế kỷ XVIII, văn học dân tộc Nga mới được Lomonosov đặt viên đá thứ nhất; và trải qua cả nửa sau thế kỷ XVIII sang thế kỷ XIX, với sự đóng góp thiên tài của những Derjavine, Pouchkine, Krylov, Griboiédov… nó mới thành hình thực sự, nghĩa là, theo nhận định của nhà phê bình văn học Nga Biélinski, mới thoát khỏi được những ảnh hưởng nước ngoài để biểu hiện sâu sắc tính độc đáo của dân tộc.
Một nền văn học muốn đạt được tính dân tộc cao độ phải trải qua một quá trình xây dựng một truyền thống văn học dân tộc gọt gi ũa . Truyền thống này gồm bốn nhân tố chính: chất liệu văn học dân tộc, hình tượng văn học dân tộc, hình thức văn học dân tộc, ngôn ngữ văn học dân tộc – tất cả đều phải đã tập trung trong những tác phẩm văn học gọt giũa tới một mức tương đối cao. Có truyền thống ấy, lại gặp được những điều kiện lịch sử thích hợp, văn học của một dân tộc mới có thể trở thành một văn học thực sự dân tộc được. Theo kinh nghiệm lịch sử văn học các nước thì chất liệu, hình tượng, hình thức văn học, ngôn ngữ văn học chỉ có được tính chất dân tộc cao độ khi nào những nhân tố ấy bắt rễ được chặt chẽ vào đời sống của đông đảo quần chúng nhân dân. Nhân dân tính không bao quát toàn diện dân tộc tính, nhưng nó là nguồn sinh lực chủ yếu vô cùng tận của dân tộc tính. Một dân tộc tính được nhân dân tính dinh dưỡng nhiều chừng nào, sâu sắc chừng nào thì càng kết tinh cao độ chừng nấy. Điều kiện lịch sử thích hợp nói trên chỉ là biến cố lịch sử nào giúp cho dân tộc tính thống nhất được với nhân dân tính. Như ở Nga, điều kiện lịch sử đó là cuộc khởi nghĩa Poutgachev và chiến tranh ái quốc 1812. Ở Anh, đó là cuộc Cải cách tôn giáo, cuộc cách mạng 1648, cuộc cách mạng 1688. Vì phải tranh thủ quần chúng để làm hậu thuẫn cho mình, các nhà cải cách tôn giáo phải viết sách bằng tiếng Anh phổ thông, do đó, nâng dần ngôn ngữ dân gian lên tới trình độ văn học gọt giũa. Một dẫn chứng điển hình cho hiện tượng này là bản dịch Kinh thánh ra tiếng Anh của Tyndale, nhà cải cách tôn giáo dũng cảm dám chống lại Giáo hoàng giữa lúc chính phủ đang ủng hộ Giáo hoàng chế (Tyndale bị xử năm 1536).
« Các nhà cải cách tôn giáo cần phải nói với nhân dân; điều này có lợi rất nhiều cho sự xây dựng một nền tản văn Anh cứng cỏi, minh bạch và lanh lẹ… [Bản dịch của Tyndale được Coverdale bổ chính năm 1535] đã tạo ra một thứ tản văn có ảnh hưởng rất lớn, mọi tầng lớp xã hội đều hiểu được, thấm vào đầu óc mọi người cùng với tình cảm tôn giáo, làm cho ngôn ngữ của những kẻ dốt nát nhất, cục cằn nhất cũng nhờ thế mà đượm một vẻ đẹp nào đó…» (Ernest Legouis: Văn học sử Anh)
Nếu ta biết rằng cuộc vận động cải lương tôn giáo ở Anh (cũng như ở Tây Âu nói chung) là một hình thức đấu tranh của giai cấp tư sản (nhằm đánh bại những lực lượng phong kiến bảo thủ nhất: bọn quý tộc lãnh chúa và bọn tăng lữ cựu giáo) đồng thời lại là biểu thị của một tinh thần dân tộc chủ nghĩa đã khỏe khoắn:
« Đối với đa số, sự thắng thế của Tân giáo chỉ là sự giải phóng dân tộc thoát khỏi một uy quyền ngoại quốc. Nói gọn một câu, đó là sự phá bỏ uy quyền Giáo hoàng, sự chặt đứt cái d ây vẫn nối chặt nước Anh vào lục địa và hãm nước A nh vào thế bị lệ thuộc vào La mã hàng bao nhiêu thế kỷ nay». (E.Legouis: sách đã dẫn )
Ta sẽ nhận thấy những cuộc đấu tranh tôn giáo và cách mạng của giai cấp tư sản và toàn thể các tầng lớp bình dân khác, ở Anh trong hai thế kỷ XVI, XVII, đã dinh dưỡng tinh thần dân tộc Anh bằng sinh lực của quảng đại nhân dân, và dựa vào sự kết hợp này để thúc đẩy xã hội Anh tiến mạnh trên con đường tư bản chủ nghĩa. Chính sự kết hợp hữu cơ ấy đã giúp ngôn ngữ Anh chiếm đoạt được một tính chất dân tộc phong phú làm cơ sở cho cuộc xây dựng văn học thực sự dân tộc của nước Anh (với những Shakespeare, Milton, Dryden, Pope, Swift…) Ngôn ngữ Anh trở thành một ngôn ngữ văn học dân tộc là nhờ những điều kiện lịch sử đã cho phép nó bắt rễ vào nhân dân. Về chất liệu văn học, hình thức văn học, quá trình dân tộc hóa cũng theo quy luật ấy.
Nói: tính chất cơ bản của một văn học cổ điển là tính chất dân tộc cũng tức là nói: tính chất cơ bản của một văn học cổ điển là tính chất nhân dân – không phải tính chất dân tộc hay tính chất nhân dân nói chung, trừu tượng, phi lịch sử mà là một tính chất tập trung cao độ ở một giai đoạn cụ thể và nhất định, giai đoạn trong đó toàn thể các lực lượng tiến bộ của dân tộc chung sức lại thực hiện những nhiệm vụ lịch sử có tác dụng đẩy dân tộc lên tới mức độ thành hình thuần thục. Văn học cổ điển vừa là công cụ vừa là biểu thị của giai đoạn thành hình dân tộc thuần thục ấy. Nó cũng chỉ xuất hiện được trong giai đoạn lịch sử ấy của dân tộc. Bởi vậy, nói chung, văn học cổ điển dân tộc bao giờ cũng là một văn học tiến bộ, chiến đấu.
Ở Tây phương, công việc sáng tạo văn học cổ điển, ở mỗi nước, căn bản do giai cấp tư sản chấp hành trong điều kiện dân tộc đã thành hình và điều kiện thời kỳ đang lên của chủ nghĩa tư bản . Ở Việt-nam, sự tình không giống như vậy. Điều này quyết định đặc tính của văn học cổ điển Việt-nam. Vấn đề «xác định giai đoạn văn học cổ điển Việt-nam bắt đầu từ lúc nào» có quan hệ mật thiết với vấn đề hình thành dân tộc Việt-nam. Chưa giải quyết được vấn đề sau thì cũng không giải quyết đúng đắn được vấn đề trước. Hiện nay, vấn đề hình thành dân tộc Việt-nam còn đang ở thời kỳ tranh luận chưa kết thúc. Nhiều quan điểm đưa ra hoàn toàn trái ngược nhau 69 . Trong chương này, chúng tôi không dám có tham vọng tổng kết vấn đề. Chúng tôi chỉ nêu ra một vài nhận xét có tương quan với vấn đề hình thành văn học cổ điển Việt-nam.
*
Quá trình xây dựng một truyền thống văn học dân gian gọt gi ũa , ở nước ta, kéo dài trong một thời gian ngót năm thế kỷ, từ nửa sau thế kỷ XIII (với Hàn Thuyên) đến đầu thế kỷ XVIII. Toàn bộ quá trình xây dựng ấy phục tùng một quy luật khách quan rõ rệt. Quy luật này có thể trình bày đại lược như sau:
Xã hội phong kiến Việt-nam càng phát triển đến những trình độ đẻ ra các yếu tố có tác dụng giải thể nó; những lực lượng tiến bộ trong lòng xã hội phong kiến càng bị đẩy đến chỗ phải thực hành những nhiệm vụ lịch sử thúc đẩy mạnh mẽ quá trình giải thể ấy – chủ yếu là những nhiệm vụ: phát triển và củng cố quyền tư hữu cá nhân về ruộng đất; phát triển công thương nghiệp và kiến lập thị trường dân tộc; bảo vệ và tăng cường độc lập quốc gia, thống nhất lãnh thổ, trung ương tập quyền; phát huy ý thức cá nhân chủ nghĩa thị dân và ý thức dân quyền chủ nghĩa – thì văn học của dân tộc càng tiến gần đến cổ điển tính, nghĩa là tiến đến một dân tộc tính, một nhân dân tính (chủ yếu là thị dân tính) thuần thục về mọi phương diện: chất liệu văn học, hình tượng văn học, hình thức văn học (thể văn) ngôn ngữ văn học.
Lịch sử văn học Việt-nam thời phong kiến chứng minh quy luật ấy:
1) Chính tinh thần dân tộc quật cường của giai cấp quý tộc và toàn thể bình dân Việt-nam thời kháng Nguyên (1282-1288) đã đẻ ra Hàn Thuyên, người thợ đầu tiên của văn học Nôm, Hiện tượng Hàn Thuyên xuất hiện cùng một lúc với những Hội nghị Bình-than (1282), Hội nghị Diên-hồng (1284), Hội quân Vạn-kiếp (1285), những Hịch tướng sĩ, Vạn kiếp tông bí truyền thư của Trần Hưng Đạo, Đại Việt sử ký toàn thư của Lê Văn Hưu, những chiến thắng Tây-kết, Vân-đồn, Chương-dương, Hàm-tử, Bạch-đằng, những «Tao thà làm ma nước Nam, không thèm làm vương đất Bắc» của Trần Bình Trọng, «Xin Bệ hạ chặt đầu thần trước rồi hãy nói đến chuyện hàng giặc» của Trần Quốc Tuấn, «Phá cường tặc, báo hoàng ân» của Trần quốc Toản: đó là một giác ngộ tinh thần dân tộc triệt để nhất của nhân dân Việt-nam từ ngày lập nước. Sức giác ngộ dân tộc ấy đã thôi thúc tầng lớp trí thức quý tộc (lúc đó còn đóng một vai trò lịch sử tiến bộ) tìm cách giải phóng những năng lực sáng tạo văn học dân tộc khỏi ách đô hộ của văn tự ngôn ngữ phong kiến Trung-quốc. Vì đáp ứng đúng nhu cầu văn học của toàn dân nên sáng kiến của Hàn Thuyên vừa nẩy ra đã gây được một phong trào rộng rãi trong nước. Sử chép rằng: «Hàn Thuyên có tài làm thơ phú quốc ngữ: đời ấy nhiều người bắt chước…» Sách An-nam chí lược của Lê Tắc còn chép rằng: thời đó, ngoài những khúc hát soạn bằng Hán văn, lại có «những thơ, phú, bản nhạc làm bằng tiếng Việt để tiện việc ca ngâm». Một mặt khác, do tham gia kháng chiến đông đảo, nhân dân cũng đã bắt đầu có ý thức về quyền lợi văn hóa của mình trong chừng mực mà văn hóa trực tiếp phục vụ cuộc đấu tranh cứu nước. Sách Đại Việt sử ký có ghi rằng: mỗi khi tuyên độc lời chiếu chỉ của nhà vua, nhân viên trong ti Hành khiển phải giảng cả âm lẫn nghĩa cho dân thường dễ hiểu. Sự cần thiết làm cho toàn dân hiểu và thấm nhuần những công việc mà triều đình dự định đem thi hành chứng tỏ rằng giai cấp phong kiến, muốn kháng Nguyên thắng lợi, không thể không dựa hẳn vào sức mạnh của toàn dân. Tình trạng phải giảng cả âm lẫn nghĩa những chiếu chỉ không khỏi làm nẩy ra trong đầu óc mọi người ý nghĩ: sao không viết bằng chữ Nôm để tránh sự phiền hà ấy? Đó là cơ sở tâm lý của sáng kiến Hàn Thuyên và nhất là của sự hoan nghênh nhiệt liệt đối với sáng kiến ấy ở đương thời. Phong trào Hàn Thuyên phát triển rộng rãi đến năm 1306, khi vua Trần Anh Tôn gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm, thì «ở triều và ở quê nhiều văn nhân mượn chuyện Hán gả Chiêu quân cho Hung nô, làm thơ và bài hát để chế nhạo». Tuy sử không chép rõ những thơ và bài hát ấy có phải làm bằng chữ Nôm không, nhưng ta có thể suy diễn mà thấy rằng: một phong trào sáng tác văn học quy mô rộng lớn nhằm mục đích phê bình một chính sách của nhà vua (mà các nhà văn cho là xúc phạm đến lòng tự tôn dân tộc) phổ cập đến cả những thôn xã (nghĩa là tiêu biểu phần lớn cho dư luận của bình dân), nẩy ra trong cái đà « nhiều người bắt chước Hàn Thuyên làm thi phú quốc âm» và trên cái truyền thống «lấy tiếng Việt làm thơ, phú, bản nhạc để tiện việc ca ngâm» – một phong trào như thế không thể có ý nghĩa lịch sử nào khác ngoài ý nghĩa kế tục phát triển phong trào Hàn Thuyên. Vả lại, một trong những người kế tục sáng kiến Hàn Thuyên là Nguyễn Sĩ Cố, làm Thiên chương học sĩ đời vua Trần Anh Tôn (1293-1313), « có tài làm thơ phú quốc âm và khéo khôi hài, người đương thời ví ông với Đông Phương Sóc» (Cương mục) – Đông Phương Sóc là một vị quan triều Hán Vũ đế thường đem tài trào phúng chữa lỗi cho vua – một người như thế, có mặt trong phong trào chế nhạo việc gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm lan khắp «trong triều ngoài nội», không lẽ nào lại không là một trong những nhà dùng văn Nôm phụ họa (nếu không phải là khởi xướng) phong trào «chế nhạo» ấy. Đứng về phương diện lịch sử văn học mà xét thì phong trào vịnh Chiêu quân cống hồ khoảng 1306-1307 và những năm sau đấy là sự kế tục phát triển phong trào văn học Hàn Thuyên trên một quy mô rộng lớn hơn, với một tinh thần tự tôn dân tộc sâu sắc hơn, với một nhân dân tính cao độ hơn. Đó là sản phẩm văn học của sự phát triển dân tộc tính sau cuộc kháng Nguyên anh dũng thắng lợi.
Tuy vậy, công cuộc xây nền đắp móng cho văn học chữ viết dân tộc vẫn bị điều kiện lịch sử giới hạn rất nhiều. Giai cấp phong kiến vẫn không dùng chữ Nôm làm học thừa. Các giấy tờ Nhà nước vẫn làm bằng Hán văn. Các nhà trí thức yêu nước, kể ngay từ Hàn Thuyên, cũng chỉ mới mạnh bạo lấy chữ Nôm làm công cụ sáng tác, còn thể thức văn chương vẫn hoàn toàn mô phỏng Trung-Quốc (thơ, phú Hàn luật chỉ là thơ phú Nôm theo Đường luật). Những điển cố, những biểu tượng văn học của phong kiến Trung-quốc vẫn giữ địa vị thống trị trong công trình sáng tác văn học Nôm. Sở dĩ có sự tình này là bởi phong trào xây dựng bước đầu nền văn học chữ viết dân tộc nẩy nở ra trong lúc dân tộc Việt-nam chưa gặp đủ những điều kiện để thành hình. Một trong những yếu tố cơ sở của sự thành hình ấy – chế độ trung ương tập quyền – cũng mới phôi thai. Đúng như ông Trần đức Thảo nhận định:
«Đời nhà Trần, vương hầu vẫn có quân đội riêng, đồng thời lại giữ đặc quyền được bổ vào những trọng chức trong triều đình và được đi trấn những địa phương quan trọng. Tức là: chế độ căn bản vẫn giữ tính chất phân quyền; giai cấp thống trị vẫn là giai cấp lãnh chủ quý tộc… Chế độ nhà Trần chưa phải là tập quyền, nó còn là một hình thức quân chủ phong kiến phân quyền sắp chuyển sang tập quyền… Chế độ phong kiến còn ở trong thời thời kỳ thịnh, và bọn lãnh chủ còn đủ sức để thống nhất những mâu thuẫn trong xã hội và lãnh đạo công trình xây dựng lực lượng dân tộc và chiến đấu chống ngoạixâm». 70
Vai trò lịch sử của các tầng lớp bình dân, ở thế kỷ XIII, XIV, không phải chỉ là bảo vệ nền độc lập dân tộc mà còn là phát triển công thương nghiệp tư nhân, đòi hỏi một chính quyền quốc gia tập trung bảo đảm tự do trao đổi hàng hoá trong toàn quốc và an ninh xã hội nói chung, phá vỡ kinh tế lãnh chủ phân tán trong các thái ấp. Đối với các tầng lớp ấy, bảo vệ độc lập dân tộc là bảo vệ cái điều kiện căn bản để thúc đẩy xã hội phong kiến Việt-nam tiến từ phân quyền sang tập quyền làm cơ sở chính trị cho sự phát triển của kinh tế hàng hoá cuối thế kỷ XIII. Vì lực lượng bình dân tuy đã mạnh nhưng chưa đạt tới mức đối kháng quyết liệt với chế độ thái ấp và chế độ này vẫn còn có tác dụng thúc đẩy sức sản xuất kinh tế, cho nên giai cấp lãnh chủ vẫn lãnh đạo được toàn dân cứu nước có kết quả. Nhưng giai cấp lãnh chủ quý tộc đã cảm thấy vận mệnh nó nghịch với xu hướng quân chủ tập quyền của khối bình dân. Bởi vậy sau khi chiến thắng quân Nguyên, nó đã tìm đủ cách để duy trì và mở rộng chế độ thái ấp, củng cố chính sách bóc lột nông nô và gia nô, kìm hãm đà tiến của kinh tế hàng hoá. Tính chất bảo thủ này của giai cấp quý tộc lãnh chủ cộng với trình độ phát triển còn non yếu của các lực lượng bình dân (nông dân tự do, thương nhân, thủ công) đã được phản ánh trong tính nửa chừng của công cuộc xây dựng văn học Nôm. Giai cấp quý tộc lãnh chủ thì phủ nhận nó (vẫn giữ địa vị độc quyền cho Hán văn, Hán tự). Tầng lớp trí thức quý tộc yêu nước thì rụt rè và lúng túng (vẫn nô lệ cho những luật lệ văn chương phong kiến Trung-quốc), bình dân thì chưa đủ sức gánh vác nó một mình. Đó cũng là lẽ tất nhiên, không có gì lạ: một dân tộc chưa thành hình thì chưa thể sản sinh ra một văn học thực sự dân tộc được. Lòng yêu nước đơn thuần, dù cao độ đến đâu, cũng không thể độc lực sáng tạo được một văn học dân tộc . Trong điều kiện lịch sử thế kỷ XIII, đầu XIV của xã hội Việt-nam, lòng yêu nước ấy chỉ có thể kích thích ý chí xây dựng một văn học chữ viết dân tộc. Công trình xây dựng này thành công nhiều hay ít còn phải tuỳ thuộc nhiều điều kiện khác.
2) Những điều kiện cần thiết cho sự tiến hành mạnh mẽ công trình xây dựng văn học dân tộc còn ở trạng thái phôi thai ở thời Hàn Thuyên – Sĩ Cố, đã tựu thành khá đầy đủ trong khoảng lịch sử Việt-nam từ 1345 đến 1428. Đây là một thời đại biến động sâu sắc và kịch liệt nhất của cấu tạo xã hội phong kiến Việt-nam. Trong vòng tám mươi nhăm năm, xã hội phong kiến Việt-nam bị đảo lộn không ngừng. Những cuộc khởi nghĩa liên tục của nô tỳ và bần dân từ 1343 đến 1370, cuộc cải cách xã hội lớn lao của Hồ Quý Ly thực hiện có hệ thống từ 1371 đến 1405 giữa lúc quân đội Chế Bồng Nga uy hiếp ở phía Nam và phong kiến nhà Minh đe doạ ở phía Bắc; cuộc kháng chiến anh dũng nhưng thất bại của vua tôi nhà Hậu Trần từ 1407 đến 1414; cuộc bình định và đô hộ của quân Minh vô cùng tàn bạo nhằm đồng hoá dân tộc Việt-nam, từ 1407 đến 1418; cuộc cách mạng giải phóng dân tộc kéo dài mười năm trời (1418-1428) và cuối cùng hoàn toàn thắng lợi: tất cả những biến cố cực kỳ quan trọng ấy xẩy ra liên tiếp trong 85 năm, với bao nhiêu đầu rơi máu chảy, cửa nát nhà tan, bao nhiêu uy quyền sớm nở chiều tàn, bao nhiêu cảnh «nhất điền thiên vạn chủ», bao nhiêu biến đổi quằn quại trong tâm lý từ một sĩ phu yêu nước đến một nông dân đói rách, từ một viên quan thất thế đến một nhà buôn phá sản, từ một anh thợ thủ công mất nghiệp đến một chị nô tì vừa thoát khỏi thân phận của mình… tất cả cơn lốc lịch sử vĩ đại ấy, chung cục, đã phá vỡ kinh tế thái ấp đại quý tộc, tiêu diệt cơ sở xã hội của tầng lớp lãnh chủ phong kiến, bẻ gẫy uy quyền bọn tăng lữ, thanh toán chế độ nông nô, quét sạch giặc ngoại xâm phương Bắc và phương Nam, bảo toàn được độc lập dân tộc, thống nhất được quốc gia, tập trung được chính quyền, giải phóng sức sản xuất nông, công, tạo điều kiện tương đối đầy đủ cho dân tộc sơ bộ thành hình. Con đường xương máu mà xã hội phong kiến Việt-nam đã trải qua, từ tiếng hô khởi nghĩa của lãnh tụ nông dân Ngô Bệ (1344) đến tiếng ca khải hoàn của Bình Ngô đại cáo (1428), cũng là con đường dẫn đến bước đầu sự thành hình của dân tộc Việt-nam ở nửa sau thế kỷ XV (thời Hồng đức). Từ 1428 đến 1460, các vua đầu tiên của nhà Lê chỉ phát triển tiếp tục những thắng lợi thâu hoạch được trong thời gian 1343-1428. Có thể nói: dưới triều Lê Thánh Tôn, dân tộc Việt-nam đã sơ bộ thành hình trên cơ sở những thắng lợi ấy.
Con đường dẫn đến sự thành hình của dân tộc Việt-nam, phản ánh vào sự nghiệp xây dựng văn học, là quá trình nỗ lực liên tục dân tộc hoá văn học Nôm của các nhà trước tác, trên năm bình diện: về ngôn ngữ , Việt hoá những điển cố văn học Trung-quốc và học tập từ ngữ, cách nói bình dân; về chủ đề , thiên trọng những vấn đề liên quan đến vận mạng dân tộc; về hình tượng , sáng tạo những nhân vật Việt-nam; về thể văn , khai thác vốn bình dân; về tư liệu sáng tác , chủ tâm chiếm hữu những cảnh vật, việc trong sinh hoạt bình dân (thơ nôm của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tôn, các truyện lục bát Trinh thử, Trê cóc, Thạch sanh… tập Gia huấn ca chứng minh sự nỗ lực ấy). Con đường dẫn đến sự thành hình dân tộc, đứng ở góc giai cấp thống trị mà xét, là sự quyết tâm của Hồ Quý Ly dịch ra chữ Nôm Kinh Thi, và thiên Vô dật trong kinh Thư, bài xích Tống nho, phê phán kinh điển (trong cuốn Minh đạo), làm thơ quốc ngữ tạ ơn vua Nghệ tôn ban kiếm, rắp dùng chữ Nôm làm công cụ học, thi; là sự Nguyễn Trãi gắng gỏi vận dụng ngôn ngữ dân tộc để ký thác tâm hồn tế nhị của mình trong Quốc âm thi tập, là sự Lê Thánh Tôn lập ra hội Tao đàn nhị thập bát tú, vua tôi cùng nhau xướng hoạ bằng ngôn ngữ văn tự dân tộc, để lại cho đời sau mấy trăm bài thơ nôm trong Hồng đức quốc âm thi tập.
Về nội dung tư tưởng của văn học Nôm khoảng thế kỷ XIV, XV, ta cũng nhận thấy nhiều nhân tố phức tạp hơn ở thời đại trước. Bên cạnh những tư tưởng thân dân , yêu nước của Lê Thánh Tôn, tư tưởng quân thân của Nguyễn Trãi – khác xa với tư tưởng chủ tớ của Trần Quốc Tuấn và tư tưởng báo đáp hoàng ân của Trần quốc Toản – đã hiện ra khá rõ nét nhiều nhân tố thị dân: óc phê phán tự do và óc thực dụng của Hồ Quý Ly, tư tưởng cá nhân hưởng lạc của chuột đực (trong Trinh thử); triết lý tự nhiên chủ nghĩa (sự tồn tại và biến hoá có quy luật của tự nhiên là một chân lý khách quan thắng được mọi ý định chủ quan của con người trái với nó) trong Trê Cóc; quan niệm «thư trung có gái tuyệt vời» của tác giả Gia huấn ca (khuyết danh); tư tưởng tự do kết hôn của nàng công chúa trong Truyện Thạch Sanh (bất chấp cả lệnh vua, ý kiến cha mẹ, nghĩa đệ huynh giữa Lý Thông và Thạch Sanh)… Như vậy đủ chứng tỏ rằng kinh tế hàng hoá và tầng lớp thị dân đã phát triển tới một mức tương đối cao. Ý thức hệ thị dân đã thấm vào khí hậu tâm lý của thời đại. Nó đã thành một luồng tư tưởng khá quan trọng trong cảm hứng văn học và đã đột nhập cả vào nội tạng ý thức hệ phong kiến gây ra một biến động đáng chú ý (trong bộ luật Hồng đức, những điều khoản đề cao nữ quyền và bảo vệ tư hữu tài sản là biểu hiện của sự đột nhập ấy).
Điều đó không làm ta ngạc nhiên. Chính sự phát triển của kinh tế hàng hoá và tầng lớp thị dân ở thế kỷ XV đã làm cơ sở vật chất cho sự thành hình sơ bộ của dân tộc Việt-nam và của bước đầu văn học dân tộc. Tuy rằng tầng lớp thị dân Việt-nam nửa sau thế kỷ XV chưa tiến được tới trình độ phát triển của tầng lớp thị dân ở các nước. Tây Âu hồi thế kỷ XIV, XV, nhưng nó cũng đã đủ khả năng tối thiểu để tạo thành một cộng đồng kinh tế làm cơ sở cho sự cộng đồng lãnh thổ (năm 1469 và năm 1471, Lê Thánh Tôn định bản đồ cả nước từ biên giới Việt Hoa đến đèo Cù mông chia làm 13 xứ, thống hạt các phủ châu huyện xã tổ chức hành chính thống nhất), cho sự cộng đồng tâm lý và văn hoá, sự tập quyền quân chủ (tầng lớp quý tộc lãnh chúa có thái ấp riêng, quân đội riêng không còn bóng dáng trong sinh hoạt kinh tế và chính trị nữa).
Đời Hồng Đức, không kể Thăng long là nơi các nhà công thương đã chia nhau thành phường ở các phố riêng:
«Ở thôn quê sự chuyên môn hoá của công và thương nghiệp (có những làng chuyên môn từng nghề) đã phát triển nhiều… Dân công thương ở thôn quê cũng tổ chức thành phường hay hộ… đã biết đoàn kết để bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp và địa vị xã hội của mình… Nhà nước thì có những cục bách công (sử cũ gọi là bách tác chi cục) dùng thợ chuyên môn để sản xuất những phẩm vật cần dùng cho Nhà nước… Nghề khai mỏ thì về các mỏ đồng, mỏ kẽm, mỏ vàng, mỏ bạc ở miền thượng du Tuyên quang, Thái Nguyên, Cao Bằng, triều đình giao cho các tù trưởng dân thiểu số đốc xuất dân phu khai quật rồi chiếu lệ nộp một số lượng nhất định làm tuế cống. Về các mỏ ở miền Thượng du (rất ít) thì triều đình để cho các hộ tự do khai quật mà nộp thuế bằng sản vật… Tư Thành cho chế tạo các thứ cân, thước, thăng, đấu theo thể thức nhất định ban ra làm mẫu dùng trong khắp dân gian. Nhà nước lại còn định tiền công của người làm thuê là 30 đồng tiền mỗi ngày… Kinh tế tiền tệ đã thịnh. Nhà nước cũng như các nhà quý tộc địa chủ cần tiền để tiêu dùng cho nên thuế nộp cho Nhà nước cũng như tô nộp cho địa chủ một phần phải nộp bằng tiền… Dân buôn ở Vân đồn mua hoàng hoá ngoại quốc muốn đem về kinh đô hay nơi khác phải có giấy vi bằng của An phủ ty và giấy kiểm điểm của Đề bạc ty…» (Đào Duy Anh: Lịch sử Việt-nam )
Những nét chung của nền kinh tế nước ta cuối thế kỷ XV, như đã được chép trong bộ sử của ông Đào Duy Anh, chứng minh rằng: thời Hồng Đức là thời kinh tế hàng hoá đang tiến lên bước đầu tư bản chủ nghĩa , trong lòng xã hội phong kiến tập quyền. Phương thức sản xuất trong các mỏ, dù còn bị nhiều hình thức phong kiến che phủ, tất yếu phải là hình vẽ phác của phương thức tư bản chủ nghĩa. Không thể khai thác mỏ nếu không có sự phân công lao động tương đối phức tạp. Nói một cách khác, có thể coi mỗi mỏ là một công trường thủ công thô sơ, tập trung thợ và phu đông đảo, có phân công rõ rệt do bản thân công việc lao động khai mỏ quyết định. Trong các cục bách công nhà nước, mặc dầu thân phận người thợ vẫn là một thân phận không tự do, cũng phải có phân công lao động và tập trung thợ thủ công mới tiến hành sản xuất được. Mỗi cục như thế cũng là một công trường thủ công thô sơ. 71
Mặt khác: « T ô tiền chỉ xuất hiện được khi nào thương nghiệp, công nghiệp thành thị, sức sản xuất hàng hoá nói chung và sự lưu thông tiền tệ đã phát triển khá mạnh… Sau nữa, sự biến đổi từ tô hiện vật ra tô tiền tất yếu sinh ra trước hoặc sau khi đã thành hình một tầng lớp lao động công nhật hoàn toàn tay không phải bán sức lao động lấy đồng lương để sống ». (Marx: Tư bản luận)
Đã có tầng lớp lao động công nhật tức là đã thành hình một tầng lớp phú nông thuê người làm (nghĩa là bóc lột theo thể thức tư bản chủ nghĩa). Thôn quê đã phân hoá. Mà:
«sự phân hoá của nông dân đẻ ra một thị trường nội địa cho tư bản chủ nghĩa… So với người trung nông thì người vô sản nông thôn tiêu thụ ít hơn nhưng lại mua ở thị trường nhiều hơn» (Lénine: Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga ).
Engels cũng đã nói rằng quá trình sáng tạo thị trường nội địa là do sự phân hoá của nông dân quyết định.
Một khi Nhà nước đã phải quy định lương công nhật (30 đồng tiền) của người làm thuê thì tất nhiên biện pháp ấy phải đáp ứng một nhu cầu xã hội quan trọng (hoặc để bênh vực người thuê nhân công, hoặc bênh vực người làm thuê: tức là đã có một mâu thuẫn xã hội phải giải quyết). Như vậy là đời Hồng Đức, nông thôn Việt-nam đã phân hoá; tầng lớp phú nông (tư sản thôn quê) và tầng lớp vô sản nông thôn đã thành hình, tạo ra thị trường tiêu thụ rộng rãi cho công thương nghiệp phát triển.
Thêm vào những nhân tố ấy, sự có mặt của tầng lớp thương nhân đem hàng hóa ở tỉnh này đến tỉnh khác, mua hàng ngoại quốc ở Vân-đồn đem đi bán các nơi (và lẽ dĩ nhiên phải mua sản phẩm hoặc hàng hóa ở các nơi đem bán cho ngoại quốc) cũng là một tầng lớp kinh dinh có tính chất tư bản (dù còn ấu trĩ).
Năm 1432, phó Đô ngự sử là Quách đình Bảo tâu với Lê Thánh Tôn:
«Kinh sư là đầu mối bốn phương, cần phải cho tài hóa lưu thông, buôn bán được đầy đủ. Nay nếu đuổi những người tạp cư về nguyên quán, sợ rằng việc buôn bán ở kinh sư sẽ phải thưa thớt không được phồn thịnh như trước.
« Như thế, không những các nhà buôn chạy, buôn ngồi nhiều người sẽ thất nghiệp mà hàng chợ sẽ tiêu điều, thuế khóa cũng sẽ hao hụt, thực là một việc không tiện.
« Vậy trừ những hạng tạp cư vô lại thì đuổi ra ngoài, còn những người vẫn có cửa hàng ở chợ, ở phố thì cho phép ở lại buôn bán sinh nhai và phải ghi tên vào phường mình ở để nộp thuế theo thể lệ» . (Phạm công Trứ: Đại Việt sử ký thực lục, bản ký ).
Chính tầng lớp «buôn chạy, buôn ngồi» này, trong khi làm cho «tài hóa lưu thông» bằng cách chuyển vận hàng hóa ở các tỉnh đến kinh sư, đã tạo ra những liên lạc kinh tế giữa các địa phương trong xứ , cơ sở vật chất của sự thống nhất dântộc.
Trong một tập sách bút chiến với những phần tử tự xưng là «bạn dân», nhân bàn đến sự hình thành của dân tộc Nga, Lénine có viết:
«…Chỉ đến thời cận đại của lịch sử Nga (vào khoảng thế kỷ XVII), các địa phương mới thực sự kết hợp thành một khối. Sự hợp nhất này có được là nhờ có sự trao đổi hàng hóa mỗi ngày một phồn thịnh giữa các địa phương và sự tập trung các thị trường nhỏ địa phương thành một thị trường chung cho cả nước Nga. Những người chỉ đạo và làm chủ quá trình ấy là những nhà đại phú thương tư bản chủ nghĩa; cho nên sự cấu tạo ra những liên lạc dân tộc không là gì khác sự cấu tạo ra những liên lạc tư sản». 72
Thế kỷ XVII, mặc dầu chính quyền vẫn ở trong tay giai cấp phong kiến, Lénine không hề cho rằng giai cấp ấy lãnh đạo quá trình thống nhất dân tộc Nga. Tầng lớp thực sự lãnh đạo quá trình ấy là tầng lớp thương nhân tư bản chủ nghĩa. Ở Việt-nam cuối thế kỷ XV, những người cấu tạo ra sự liên lạc dân tộc cũng là những thương nhân đem hàng hóa ở bốn phương đến kinh sư tiêu thụ. Đó là sự liên lạc kinh tế tư sản. Không thể vì thời đó giai cấp địa chủ bình dân cầm quyền mà gán cho nó vai trò chỉ đạo quá trình thống nhất dân tộc được.
Nói tóm lại sự cộng đồng lãnh thổ, sự phân công lao động xã hội rộng rãi thành nhiều nghề chuyên môn hóa, sự xuất hiện mầm mống của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự thành hình các tầng lớp phú nông và vô sản nông thôn, sự kinh dinh của các nhà buôn lớn, sự lưu thông tiền tệ, sự thống nhất phép đo lường ở các chợ, sự cấu tạo thị trường dân tộc, sự cộng đồng về ngôn ngữ và tâm lý dân tộc: ngần ấy nhân tố đã có mặt trong xã hội phong kiến Việt-nam cuối thế kỷ XV – mặc dù những nhân tố ấy còn non yếu. Chính đó là những điều kiện cơ bản của sự thành hình sơ bộ của dân tộc Việt-nam. Theo ý tôi, đây không phải là một dân tộc tiền tư bản chủ nghĩa. Đây là một dân tộc thuộc phạm trù dân tộc tư sản (nhưng còn ở một trình độ thấp kém).
Trong bài «Thử bàn về sự thành hình của dân tộc Hán» ông Trương chính Minh, khi nói đến mối quan hệ giữa sự phát triển của kinh tế hàng hóa và tính chất văn học cuối triều Minh, có viết:
« Sự cần thiết làm cho hàng hóa được lưu thông không bị gì trở ngại, và sự trở mình của giai cấp thị dân không những thúc đẩy sự thành hình của tiếng nói chung mà lại còn yêu cầu văn chương phải đi sát lời nói cửa miệng, văn học phải đi sát quần chúng thị dân ». 73
Tình hình văn học Việt-nam thế kỷ XV chứng minh ý kiến đúng ấy. Không những các nhà văn thuộc loại nho sĩ bình dân đã sáng tác những tiểu thuyết «đi sát lời nói cửa miệng» (Trinh thử, Trê cóc, Thạch sanh) và phản ánh tư tưởng thị dân mà ngay đến vua Lê Thánh Tôn cũng bị áp lực của thời đại thiên về hướng ấy. Sự trìu mến thiết tha của nhà vua đối với cảnh buôn bán trên bến dưới thuyền của làng Tam Chế và ý nghĩ «vì dân khoan giản bên tô thuế», sự thương xót của nhà vua đối với vợ chàng Trương bị chồng nghi oan và hành hạ đến phải tự tử ở Hoàng giang đề ra một thắc mắc về chế thiết nam quyền trong xã hội phong kiến… là những bằng chứng của sự thiên hướng ấy.
Tuy nhiên, vì kỹ thuật canh tác nông nghiệp biến đổi chậm chạp làm cho sức sản xuất nông nghiệp không phát triển được mạnh và sức mua của nông dân bị hạn chế, vì không có điều kiện bắt được vào luồng trao đổi hàng hóa thế giới một cách rộng rãi, lại bị chính trị của giai cấp phong kiến kìm hãm, cho nên các tầng lớp công thương thị dân Việt-nam nửa sau thế kỷ XV không thể tiến lên thành một giai cấp tư sản như ở Tây Âu được. Do đó, văn học chữ viết dân tộc, thế kỷ XV, biểu hiện một tính chất dân tộc còn pha nhiều yếu tố phong kiến Trung-quốc chưa thanh toán được (xem thể văn và lời văn của thi tập Quốc âm Nguyễn Trãi, Hồng đức quốc âm thi tập, Tiêu tương bát cảnh của Nguyễn Xung Ý). Sau Hồ Quý Ly, mặc dầu đã coi trọng văn Nôm, nhà Lê vẫn độc dụng Hán văn làm công cụ học, thi, thảo giấy tờ công; các nho sĩ vẫn sáng tác và trước thuật bằng Hán văn. Tư tưởng phong kiến vẫn còn chủ đạo nhiều công trình sáng tác văn học (ca tụng tiết trinh, bênh vực chế độ đa thê, phân biệt tôn ti nam nữ, mạt sát luân lý con buôn của Lý Thông trong Thạch Sanh…) Bởi vậy, về nội dung cũng như về hình thức, trình độ gọt giũa của văn học Nôm thế kỷ XV còn chưa được nâng cao đến mức biểu thị một dân tộc tính hoàn chỉnh – chưa có cổ điển tính .
Chương NĂM
văn học cổ điển việt-nam (tiếp theo và hết)
1) Đến đầu thế kỷ XVI, kinh tế hàng hóa đứng sững ở mức đầu quá trình tư bản chủ nghĩa không gặp điều kiện để tiến lên nữa, đã làm cho sự thống nhất chính trị và sự thống nhất lãnh thổ của dân tộc bị phá vỡ. Điều này càng chứng minh rằng:
Một dân tộc dù có nhất thời thành hình sơ bộ trên cơ sở của những lực lượng kinh tế hàng hóa đã bắt đầu tư bản chủ nghĩa hóa mà nếu không mở được lối tiến triển cho những lực lượng ấy thì thể nào cũng lại lùi về hình thái phân tán, phân quyền .
Sau những cuộc khởi nghĩa của nông dân bùng nổ liên tiếp trong ngót mười năm (1511-1517), sau những vụ tàn sát tương tranh trong triều đình (1517-1527), Mạc Đăng Dung, một viên đô lực sĩ xuất thân từ nghề đánh cá vùng Hải-dương, cướp ngôi nhà Lê lập ra nhà Mạc. Từ đấy, nội chiến không lúc nào dứt trong 70 năm. Dưới danh hiệu phù Lê, hết Lê Công Uyên đến Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng nối nhau đánh Mạc. Giang sơn bị chia cắt: từ Thanh-hóa trở vào thuộc Lê, từ Sơn-nam trở ra thuộc Mạc, gây thành cái thế Nam triều Bắc triều trong suốt thế kỷ XVI. Bước sang thế kỷ XVII, tình trạng Nam Bắc phân tranh (giữa Trịnh và Nguyễn) lại càng quyết liệt.
Nhưng, trên đường phát triển của dân tộc, từ đó, lại nẩy ra hai nhân tố mới đặc biệt quan trọng mà nhà văn học sử Việt-nam không thể không thấy liên quan chặt chẽ với sự thành hình của văn học cổ điển Việt-nam. Đó là: sự mở rộng bờ cõi Việt-nam đến mũi Cà-mau và sự giao thiệp buôn bán với Tây phương tư bản chủ nghĩa. Hai biến cố lịch sử này tạo ra nhiều đặc điểm của quá trình hình thành dân tộc Việt-nam kỳ thứ hai.
Đặc điểm thứ nhất : Sau khi đã đủ điều kiện để sơ bộ thành hình trong phạm vi một lãnh thổ thống nhất (từ biên giới Hoa Việt đến đèo Cù-mông) khoảng nửa sau thế kỷ XV, thì sự thống nhất lãnh thổ ấy lại bị phá vỡ. Trong 150 năm bọn chúa Nguyễn kế tục nhau xâm lược và thôn tính hết Chiêm-thành đến Chân lạp, tiêu diệt hoặc đồng hóa những dân bị chinh phục, di dân Việt-nam tới để vĩnh viễn chiếm đoạt các vùng đã cướp được. Đến năm 1758, chúa Nguyễn đã lấn chiếm cả phần nửa nước Chân lạp, tương đương với đất Nam bộ ngày nay và đã hoàn thành công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt-nam. Có thể nói: đến tận năm 1758, dân tộc Việt-nam mới tự đăng ký vào bản đồ thế giới, ở một hình thái trọn vẹn và cố định về mặt lãnh thổ. Vì có hiện tượng «lãnh thổ chưa trọn vẹn và cố định» ở nửa sau thế kỷ XV, cho nên thời đó dân tộc Việt-nam mới chỉ thành hình sơ bộ, thành hình một cách phác họa. Do đấy, nó chưa thể nào có đủ khả năng sáng tạo được một cơ sở kinh tế vững chắc để tự duy trì lâu dài.
Đặc điểm thứ hai : Sự hoàn thành hình thái trọn vẹn và cố định của lãnh thổ quốc gia nói trên diễn ra trong tình trạng Trịnh Nguyễn phân tranh, Bắc Nam chia cắt suốt hai trăm năm. Hai miền như hai nước đối lập nhau (lãnh thổ riêng, kinh tế riêng, chính quyền riêng) mà toàn thể nhân dân cũng như các phe phái cầm quyền ở cả hai miền thì lại tự thấy cùng một nguồn gốc lịch sử, cùng một tâm lý dân tộc, cùng một thể cách sinh hoạt, cùng một ý chí thống nhất (chúa Nguyễn vẫn tự coi mình là thần hạ của nhà Lê). Mãi đến năm 1749, Nguyễn Phúc Khoát xưng vương hiệu mới tỏ lộ tất cả dã tâm của hắn và phe lũ muốn vĩnh viễn chia cắt đất nước Việt-nam, tách hẳn miền Nam ra khỏi miền Bắc. Hắn bắt dân đổi y phục, đổi phong tục cho khác người Bắc hà, đặt các thứ chế độ, định triều phục cho các quan, tỏ ra rằng mình làm vua một nước tự chủ.
Đặc điểm thứ ba : Nhưng bọn Nguyễn Phúc Khoát đặt bài tính mà quên mất một số liệu hiện ra ở ngoài ý chí chủ quan của chúng; đó là sự phát triển kinh tế của Việt-nam theo hướng tư bản chủ nghĩa, ở cả Đường trong lẫn đường ngoài. Chính yếu tố khách quan này sẽ quyết định số phận của cả Trịnh lẫn Nguyễn.
Tình hình Trịnh và Nguyễn phân ra Nam và Bắc ở thể thù địch chỉ lăm le nuốt chửng nhau đã đẩy cả hai phe quân phiệt vào công cuộc chuẩn bị chiến tranh thường xuyên. Bao nhiêu chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa của họ đều có mục đích phục vụ sự chuẩn bị ấy. Giữa trạng huống đó, tàu buôn của tư bản ngoại quốc tới tấp đến ven bờ bể Việt-nam. Tầu Nhật, tầu Trung-quốc, tầu Bồ đào nha, tầu Hà lan, tầu Anh, tầu Pháp đua nhau tìm đến bán đảo Ấn độ Chi na xin thông thương với Đường trong cũng như với Đường ngoài. Trịnh và Nguyễn đều nắm lấy cơ hội để bồi đắp tài chính và tăng cường binh lực. Trịnh sợ nếu từ chối người Tây dương không cho thông thương thì họ sẽ giúp Nguyễn; Nguyễn sợ nếu từ chối thì họ sẽ giúp Trịnh – đặc biệt là bán súng, đạn, đồ đồng, diêm sinh. Do đây mà cả Trịnh lẫn Nguyễn đều cố tranh thủ tầu buôn ngoại quốc, mỗi phe đều yêu cầu họ chỉ giúp riêng mình; và gặp trường hợp Đường trong làm khó dễ, những thương nhân Tây dương lại ra buôn bán với Đường ngoài; gặp khó dễ ở Đường ngoài, họ lại vào Đường trong. Cứ thế, suốt thế kỷ XVII sang đầu thế kỷ XVIII, tầu buôn Tây phương ven bờ Nam hải hết cặp bến Hội an lại đổ lên Phố hiến, bán hàng, mua hàng, gây thành một luồng mậu dịch rộng rãi giữa Việt-nam với thế giới.
Kết quả của luồng mậu dịch này, đối với Việt-nam, là:
1) Dân Việt-nam học tập được một số kỹ thuật sản xuất cận đại: kỹ thuật đúc súng, đóng chiến thuyền, nấu pha lê, chế tạo đồng hồ… Đặc biệt là sự du nhập kỹ thuật chế tạo khí giới cận đại đã làm biến đổi tổ chức binh bị và phương pháp chiến đấu của quân đội (nhờ sự huấn luyện, hướng dẫn của các nhà chuyên môn ngoại quốc).
2) Phương thức buôn bán tư bản chủ nghĩa dần dần chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế. Các thương nhân nhiều của xuất vốn đặt hàng cho thợ thủ công gia đình, rồi mua toàn bộ sản xuất phẩm đem bán cho tầu ngoại quốc. Hoặc các nhà mãi biện nhận tiền của thương nhân ngoại quốc đem về các làng đặt hàng trước cho thủ công nhân.
3) Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã phổ biến: trong các lò đúc, hầm mỏ, xưởng đóng thuyền, xưởng chế tạo súng đại bác, sự sản xuất yêu cầu tập trung thợ, phân công hợp tác; chế độ làm thuê lĩnh công, bóc lột thặng dư giá trị của lao động; sự tồn tại của một tầng lớp công nhân sống bằng lương.
«Trong công nghiệp khai mỏ, đã nảy nở rõ ràng yếu tố tư bản chủ nghĩa» . (Đào Duy Anh)
4) Nông dân tư hữu và thủ công nhân đã sản xuất hàng hóa để bán ra thị trường rộng rãi qua tay các thương nhân, chứ không phải để tự cung tự cấp hay trao đổi ở các chợ lân cận. Sức sản xuất nói chung được phát triển khá mạnh theo đà mở rộng của mậu dịch. Lúa gạo Gia định chở bằng thuyền biển ra bán ở Thuận hóa. Tơ, đồng Đường ngoài đem vào bán ở nội địa chúa Nguyễn.
5) Tiền tệ lưu thông rộng rãi. Nạn đầu cơ tiền, đúc trộm tiền luôn luôn xảy ra. Tiền đã thành một nhân tố gần như căn bản của quan hệ kinh tế xã hội:
«Chúa Nguyễn mua kẽm trắng của người Tây để đúc tiền cho có lợi. Sau lại trộn thêm kẽm đen, tiền đúc ra mỏng, gi òn và dễ hư, cho nên vật giá cao vọt lên, nhất là giá gạo, gây thành một cuộc tiền hoang và một cuộc nguy cơ kinh tế dẫn đến cuộc khởi nghĩa Tây sơn» . (Đào Duy Anh)
6) Nhiều trung tâm kinh tế mọc ra. Nông dân đổ xô ra thành thị làm nghề buôn bán:
«…kẻ hào phú và dân nhỏ tranh đua đi buôn bán mạt nghệ thì nhiều mà chuyên chú vào nghề nông càng ít; lại có kẻ âm mưu kết bè gian phi vận chuyển những vật cấm…» (Dụ của Trịnh Minh Vương, năm 1745)
Tầng lớp phú thương, trung thương, tiểu thương trở nên đông đảo.
7) Tầng lớp quan lại phong kiến biến chất: nhiều kẻ vừa làm quan vừa kiêm cả buôn bán, thầu mỏ, đầu cơ, buôn lậu… Có nhiều tiền thành một ước vọng phổ biến. Giá trị của tiền bạc lấn áp giá trị của ruộng đất. Quan lại, hào phú, gian thương, con buôn, mại bản… đua nhau kiếm tiền bằng đủ các thủ đoạn 74 . Hiện tượng này có ý nghĩa là bước đầu của quá trình tích lũy nguyên thủy tư bản chủnghĩa.
Đây là cuộc biến động sâu sắc thứ hai trong cơ cấu xã hội phong kiến Việt-nam sau cuộc biến động ở thế kỷ XIV. Sự phôi thai của kinh tế tư bản chủ nghĩa làm nảy ra nhiều mâu thuẫn gay gắt trong lòng xã hội phong kiến. Đến cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, xuất hiện những mâu thuẫn nghiêm trọng sau đây:

a) Công thương nghiệp đang yêu cầu tự do phát triển ở cả hai miền mâu thuẫn với tình trạng đất nước chia cắt làm hai, với chính sách thuế khóa (đặc biệt là thuế tuần ti, thuế đò chợ, thuế sản vật), với chính sách gây khó khăn cho tầu ngoại quốc (nhất là tầu buôn Tây phương buôn bán với Việt-nam), với chính sách cấm thông thương giữa Đường trong với Đường ngoài (trước 1637, chúa Trịnh vẫn để nhà buôn Bắc hà vào nội địa chúa Nguyễn bán tơ, mua vàng đem trở ra), với nạn quan tham lại nhũng công khai và phổ biến.
b) Xu hướng phát triển của chế độ tiểu tư hữu nông nghiệp (cơ sở của đà phát triển công thương) mâu thuẫn với nạn quan lại cường hào cướp ruộng đất của nông dân, với chính sách thuế má sưu dịch, với nạn trộm cướp hoành hành. Năm 1711, Trịnh Cương phải ra lệnh cấm:
« C ác nhà quyền quý thế gia, các nha viên cùng các nhà hào phú không được thừa lúc các xã dân nghèo khổ phiêu lưu mà thác cớ mua ruộng đất để chiếm làm của riêng tùy tiện lập thành trang trại…»
Hai mâu thuẫn sâu sắc ấy đã biểu hiện ra ở những cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra suốt một nửa sau thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XVIII. Đặc điểm đáng chú ý, ở thời kỳ lịch sử bão táp này, là các tầng lớp công thương mở đầu những cuộc đấu tranh chống sự áp bức và bóc lột của giai cấp phong kiến. Từ 1658 đến 1761, nhất là từ năm 1658 đến 1732, các nhà công thương đấu tranh với chính quyền chúa Trịnh rất bền bỉ, về thuế tuần ti, thuế đò chợ, thuế sản vật. Họ dùng đủ các phương tiện để đạt kết quả mong ước: buôn lậu, vận tải bí mật hàng cấm, đúc trộm tiền, đầu cơ tiền tệ vàng bạc, kháng nghị về sự nhũng nhiễu của bọn hoạt lại thu thuế, phản đối việc đặt nhiều sở tuần ti, không đóng thuế sản vật. Kịch liệt nhất là cuộc đấu tranh chống thuế sản vật kéo dài từ 1724 đến 1732:
«Vì thuế sơn mà tự chặt cây đi; vì thuế vải mà hủy bỏ giường cửi. Thu gỗ củi mà dân bỏ rìu búa, bồ cá tôm mà dân x é chài lưới, đòi mật ngọt mà dân không giồng mía; đánh thuế bông chè mà vườn tược bỏ hoang. Làng xóm náo động, chán nản tích lũy lâu năm, quốc khố cũng nhân đ ấ y thành thiếu thốn» . (Lịch triều hiến chương)
Kết quả: chúa Trịnh phải bỏ thuế sản vật (1732); cũng như bọn chúng đã phải nhiều lần bỏ hàng loạt sở tuần ti, xá thuế đò, giảm thuế chợ, để « khỏi tổn hại cho việc buôn bán» [(lời của Trịnh Minh Vương nói với các quan năm 1743, lúc đem thi hành biện pháp « bỏ hết tuần ti các xứ, mọi bến đò ngang đò dọc nhất thiết đều miễn thuế hết» (Lịch triều hiến chương)].
Nhưng đến hết phần tư đầu thế kỷ XVIII, khi chính sách bế quan tỏa cảng và chính sách khủng bố đạo Gia tô, ở Nam cũng như ở Bắc, càng bị chúa Trịnh và chúa Nguyễn thi hành triệt để hơn thì nền công thương trong xứ bị cắt đứt hẳn với luồng mậu dịch thế giới. Trong lúc đó, sự bóc lột nông dân và sự cướp ruộng đất ở thôn quê, cộng với các tai ương: mất mùa, lụt, sâu keo, hạn hán, ôn dịch, làm cho sức mua hàng của toàn xứ sụt hẳn xuống một cách kinh khủng. Mất liên hệ với thương mại ngoại quốc, mất cơ sở tiêu thụ ở trong nước, lại bị phong kiến chèn ép mạnh, tầng lớp công thương mất dần sinh lực. Chưa đủ lông cánh để bay cao, nó không đủ năng lực vượt ra ngoài những điều kiện lịch sử kiềm chế nó. Cho nên lúc giai cấp nông dân vùng dậy tấn công phe lũ phong kiến quân phiệt (1737) và liên tiếp khởi nghĩa không ngớt suốt thời gian từ đấy cho tới ngày Nguyễn Huệ hoàn thành một phong trào lịch sử vĩ đại, các tầng lớp công thương chỉ phụ họa theo phần nào chứ không đóng được vai trò lãnh đạo.
Tuy nhiên, trong một thế kỷ rưỡi, kinh tế hàng hóa tiến triển đều đều đến hình thái sơ thủy của tư bản chủ nghĩa cũng đã tạo ra được những cơ sở vật chất cho dân tộc tiến tới sự thành hình ở một trình độ cao hơn hồi cuối thế kỷ XV. Sự phát triển kinh tế ấy đề ra những yêu cầu rõ rệt: thống nhất Nam Bắc, tập trung chính quyền, tiêu diệt chế độ chính trị quân phiệt, tự do kinh doanh công thương nghiệp, xây dựng thị trường dân tộc trên cơ sở một thống nhất lãnh thổ mới do cuộc Nam tiến cấu thành, mở rộng ngoại thương, bảo vệ và phát triển chế độ tiểu tư hữu nông nghiệp, chấm dứt nội chiến, chấn chỉnh bộ máy quản trị quốc gia phong kiến, giảm sưu nhẹ thuế. Đó là những yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội ở hai thế kỷ XVII và XVIII. Đó cũng là những yêu cầu của quá trình trưởng thành của những «liên lạc tư sản» đẩy dân tộc tiến đến một trạng thái thành hình mới. Sự thành hình này, mặc dầu do phong trào Tây sơn thực hiện bằng sức mạnh nông dân, vẫn là kết quả của đà phát triển tư bản chủ nghĩa của nền kinh tế Việt-nam ở thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII. Dưới lá cờ chiến thắng của Tây sơn, dân tộc Việt-nam thành hình kỳ thứ hai, ở một trình độ cao hơn cuối thế kỷ XV.
Nhưng dưới triều Tây sơn, các tầng lớp công thương chưa đủ sức làm chỗ dựa vững cho một chính trị lợi cho tư sản. Nền quân chủ phong kiến được dựng lại. Với chính sách Quang Trung, kinh tế hàng hóa bắt đầu được cơ hội tốt để hàn gắn sự vỡ lở xảy ra trong thời kỳ bạo động nông dân. Nhưng các thế lực phong kiến thoái bộ cũng còn nhiều điều kiện để khôi phục lại địa vị. Quang Trung vừa mất đi, đà khôi phục của thế lực phong kiến mạnh và nhanh hơn đà phát triển của thế lực kinh tế hàng hóa chưa lại sức. Tình trạng này đã dẫn đến sự thắng lợi của Gia long(1802).
Suốt thời kỳ thống trị của tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn cho đến lúc thực dân Pháp xâm lược là thời kỳ vật lộn không đều sức giữa Nhà nước phản động và các lực lượng đã giảm sút của nông dân, công thương nhân, trí thức bình dân. Những chính sách phản tiến bộ của triều Nguyễn kìm hãm đà phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, phá hoại sinh lực của nông thôn, đè nén trí sáng tạo văn hóa của dân tộc. Tập đoàn phong kiến Nhà Nguyễn đã lần lần làm suy yếu những cơ sở kinh tế và xã hội của trung ương tập quyền, của thống nhất lãnh thổ quốc gia. Tiếng súng thực dân Pháp bắn ở Đà nẵng (1858) báo hiệu ngày sụp đổ rất ngắn của chế độ trung ương tập quyền Nhà Nguyễn. Năm 1862, chế độ ấy vỡ một mảng lớn. Năm 1884, nó gục xuống để không bao giờ ngóc đầu lên nữa. Sự thống nhất lãnh thổ quốc gia cũng theo vận mạng của chế độ ấy mà vỡ nát. Sự độc lập dân tộc cũng theo đó mà mất dần (1862) và mất hẳn (1884). Triều đình và bọn địa chủ phong kiến đầu hàng. Công thương nhân chưa thành một giai cấp. Nông dân kiệt lực từ lâu. Lòng yêu nước của một số sĩ phu, chí bất khuất của một số quan lại tự trọng, tinh thần quật khởi của nông dân ở những vùng lẻ tẻ không đủ khả năng cứu vớt được tình thế.
Từ 1884 đến cuối khóa toàn quyền của tên thực dân Paul Doumer (1897-1902) ở Việt-nam, bắt đầu một quá trình trung ương tập quyền mới, một quá trình thống nhất lãnh thổ quốc gia mới, một quá trình thành hình dân tộc mới trên cơ sở một cuộc biến động căn bản về cấu tạo kinh tế xã hội, dưới bàn tay chỉ đạo đẫm máu của thực dân Pháp và theo hình thái thuộc địa bán phong kiến.
*
Quá trình dân tộc thành hình kỳ thứ hai (thế kỷ XVIII) ở trình độ cao hơn kỳ thứ nhất (thế kỷ XV) rồi bị tập đoàn Nhà Nguyễn phá hủy cơ sở, và cuối cùng bị thực dân Pháp can thiệp vào, quá trình ấy đã được phản ánh trong sự nghiệp phát triển văn học dân tộc như thế nào? Có thể chia ra làm 4 thời kỳ lớn:
- Thời kỳ thứ nhất từ đầu thế kỷ XVI đến năm xuất hiện Chinh phụ ngâm (1745)
- Thời kỳ thứ hai từ năm có Chinh phụ ngâm đến năm xuất hiện Truyện Kiều (1815)
- Thời kỳ thứ ba từ Truyện Kiều đến năm xuất hiện Tự tình khúc của Cao bá Nhạ (1864)
- Thời kỳ thứ tư từ 1864 đến năm xuất hiện Đề tỉnh quốc dân ca (khoảng 1902-1905).
I. THỜI KỲ THỨ NHẤT
Sau một thời gian phát triển chậm chạp của văn học dân tộc (thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XVII) – sự cố gắng Việt hóa những thể văn Trung-quốc (thơ phú Đường luật vẫn tiếp tục chậm chạp với Nguyễn bỉnh Khiêm, Nguyễn Hãng, Đào duy Từ) nhưng các nhà trước tác đã xa lìa truyền thống biểu hiện văn học dân tộc (thể lục bát, loại truyện dài) của thời kỳ trước – từ giữa thế kỷ XVII trở đi, nhờ sự kích thích của ngoại thương và của nhân dân đấu tranh kịch liệt chống chế độ quân phiệt của chúa Trịnh, công cuộc phát triển văn học dân tộc lại tiến mạnh. Hiện nay, ta chưa biết được đích xác những tác phẩm văn học của thời kỳ này, vì tài liệu quá ít ỏi và chưa được giám định nghiêm túc. Ta chỉ có thể căn cứ vào một vài sử liệu chắc chắn để khẳng định rằng thời ấy có một luồng văn học Nôm, chủ yếu là truyện, có tính chất chiến đấu phản kháng chế độ chúa Trịnh.
Năm 1663, phủ chúa Trịnh ban ra 47 điều giáo hóa, trong đó có một điều rằng:
« Những sách cần cho sự giáo hóa trong đời thì có thể in ra mà truyền bá. Nhưng gần đây có kẻ hiếu sự đặt ra những truyện quốc âm mà không phân biệt sự gì đáng làm với không đáng làm, rồi đem khắc in mà bán, việc đó cần phải cấm. Vậy từ nay, ai có trong nhà những bản in hay là những sách ấy phải nộp cho quan xem xét và hủy đi».
Năm 1781 lại có một đạo sắc chỉ cấm sách y như thế (chép ở cuốn Lịch triều tạp chí của Cao lạng). Giữa khoảng 1663-1718, lại xẩy ra những việc Trịnh Tạc ra lệnh đuổi hết các giáo sĩ ngoại quốc, cấm người Việt không được theo đạo Thiên chúa, đốt các nhà thờ, đốt sách đạo (1669). Chính năm 1663 cũng là năm khởi đầu cuộc khủng bố này. Và năm 1718 cũng lại là năm chính sách khủng bố ấy quyết liệt nhất: Trịnh Cương bắt những người theo đạo Thiên chúa phải cạo trán và khắc vào mặt 4 chữ «Học Hoa lang đạo». Năm 1723 và năm 1737, một số giáo sĩ dòng Dominicain bị xử tử. Không cần nói, ta cũng biết rằng những sách đạo bị đốt là những sách in bằng chữ quốc ngữ.
Mấy sự kiện vừa kể chứng thực rằng:
a) Khoảng giữa thế kỷ XVII, và suốt thời gian từ đó đến những năm sau sắc chỉ 1718, có một phong trào viết, in và bán những truyện Nôm phổ cập trong nhân dân. Như vậy tức là: nghề in, nghề xuất bản đã thịnh; tác phẩm văn học Nôm đã thành một hàng hóa tiêu thụ khá rộng rãi ở thị trường và đã sinh lợi; số nhà văn Nôm đã đông đảo và có thể đã sinh sống bằng sáng tác; công chúng độc giả biết chữ Nôm và mua sách Nôm đã thành một khối khá lớn làm khách hàng của các nhà xuất bản; trình độ văn hóa của các tầng lớp bình dân đã tương đối cao.
b) Phong trào truyện Nôm ấy tất nhiên phải đe dọa, tố cáo, phản đối quyền độc tài của chúa Trịnh và uy hiếp ngôi thống trị của chúng, nên chúng mới phải dùng đến những biện pháp khủng bố để tự vệ. Tâm lý phản kháng không phải là phổ biến trong các lớp bình dân cho nên thứ văn học chống Trịnh kia mới được hoan nghênh, ủng hộ rộng rãi như thế, khiến bọn chúa Trịnh hoảng hốt phải thẳng tay đàn áp.
c) Năm 1663 cấm sách; năm 1669 đốt sách; đến 1718 lại phải cấm sách tỏ ra rằng chính sách khủng bố của bọn chúa Trịnh chẳng những đã không dập tắt được phong trào văn học chống Trịnh mà lại còn thúc đẩy nó phát triển mạnh thêm. Phong trào văn học Nôm đã thực sự thành một vũ khí đấu tranh chính trị của quần chúng nên không thể nào dùng cường quyền mà dập tắt được dễ dàng. Nó có một cơ sở xã hội vững chắc, và sự xuất hiện và tồn tại của nó đáp ứng một yêu cầu khách quan của thời đại. Chúng ta đều biết rằng thời gian 1663-1718 là thời gian các tầng lớp công thương đang đấu tranh với chúa Trịnh để giành giật những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển những mầm mống tư bản chủ nghĩa. Đó cũng là thời gian nông dân đang bị bóc lột nặng nề nhất và đã lẻ tẻ nổi lên chuẩn bị cho những trận chiến đấu vũ bão sau 1737. Phong trào văn học Nôm, căn bản, thể theo nhu cầu của những tầng lớp ấy mà nẩy ra và phát triển. Tất yếu, nội dung tư tưởng của nó phải bao gồm những nhân tố thị dân kết hợp với những nhân tố ý thức chân chính của nông dân.
d) Không phải ngẫu nhiên mà sự cấm sách Nôm lại xảy ra cùng một lúc với sự phá nhà thờ Thiên Chúa, đốt sách đạo, giết người theo đạo, đuổi giáo sĩ ngoại quốc. Cần nhắc lại rằng đạo Thiên Chúa sang Việt-nam bằng những chiếc tầu buôn tư bản Tây phương, và nó cũng là một công cụ của bọn tư bản Tây phương trong việc buôn bán. Bởi vậy đất gieo hạt đầu tiên của đạo Thiên Chúa là các tầng lớp công thương ở miền ven bể – vì các tầng lớp này có lợi nhất trong việc thông thương với tư bản Tây phương. Khi chúa Trịnh hay chúa Nguyễn khủng bố đạo Thiên Chúa, các giáo sĩ ngoại quốc thường trốn ẩn trong các gia đình công thương ngoan đạo để hoạt động bí mật. Một mặt khác, đạo Thiên Chúa có khả năng thu hút các tầng lớp dân nghèo ở nông thôn bằng những giáo lý huyễn hoặc của nó. Tác dụng của sự truyền giáo Thiên Chúa là phủ nhận uy quyền của vua chúa. Cứ đọc một câu này trong sách Phép giảng tám ngày của Alexandre Rhodes (in năm 1651) viết bằng quốc ngữ: « Có kẻ đi hầu hạ chầu chực bua (vua) mà được làm quan. Đến khi linh hồn hắn ra khỏi xác, những sự ếy (ấy) thì phải bỏ đem về chẳng được đi gì sốt» cũng đủ thấy chúa Trịnh chúa Nguyễn đốt sách đạo không phải là vô cớ. Sách đạo xúc phạm nghiêm trọng đến quyền thế và sự phú quý của chúng.
Trên cơ sở ấy – trình độ văn hóa tương đối cao của các tầng lớp bình dân, quá trình đấu tranh gay gắt của các nhà công thương lớn và nhỏ đòi tự do kinh dinh, tâm lý phẫn uất của nông dân bị bóc lột đang lăm le khởi nghĩa, tình trạng đàn áp khủng bố các nhà trí thức quan liêu không chịu làm nô lệ cho chúa Trịnh, biện pháp cấm Thiên chúa giáo, phá nhà thờ, đốt sách đạo, giết giáo sĩ và giáo dân – văn học dân tộc đã bắt rễ được vào quảng đại quần chúng và thúc đẩy sự giải quyết những vấn đề cốt yếu của dân tộc: phát triển kinh tế hàng hóa theo hướng tư bản chủ nghĩa, tiêu diệt chính quyền cát cứ và độc tài để thống nhất quốc gia, chống cường quyền áp bức tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng, bảo vệ nhân phẩm và hạnh phúc cá nhân, duy trì và củng cố lòng tự tôn dân tộc bị xâm phạm (lúc đó, nhà Thanh lấn mất của ta 15 động thuộc tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn mà bọn vua chúa đành phải chịu khoanh tay). Loại truyện là hình thức văn học sở thích của bình dân, thể lục bát là thể thơ dân tộc phổ cập đến mọi tầng lớp xã hội được sử dụng phong phú. Dân tộc tính và nhân dân tính được thống nhất trong nội dung và nghệ thuật văn học. Phong trào dùng loại văn và thể thơ dân tộc và bình dân đã khiến chúa Trịnh Căn, muốn chống lại nó, phải giao cho một sử quan soạn cuốn Thiên Nam ngữ lục bằng lục bát theo lối thuật chuyện, chép sử nước ta từ Hồng bàng đến cuối đời thuộc Minh có thêm đoạn kết luận tán tụng Trịnh Tộ là có công lớn với nền Trung hưng của nhà Lê. 75
Chúng tôi ức đoán rằng một số lớn những tác phẩm Nôm khuyết danh: như Lý Công, Phạm Công – Cúc Hoa, Phạm Tải – Ngọc Hoa, Tống Trân, Phật bà Quan âm, Thị Kính, Nhị độ mai, Hoàng Trừu… đều ra đời khoảng 1660-1745. Đó là những tác phẩm còn sót lại qua những cuộc phá hủy truyện Nôm của bọn Trịnh Tạc, Trịnh Cương. Những tác phẩm ấy đều biểu thị một vài yếu tố tinh thần chung: lòng tin cuồng nhiệt có tính chất tôn giáo của những con người tuẫn đạo, lòng trung thành tuyệt đối với chính nghĩa tuyệt đối hóa, sự hy sinh không điều kiện để bảo vệ chính nghĩa. Những tác phẩm ấy đều tố cáo và lên án những hành động dã man của bọn thống trị: khoét mắt, chặt tay, chặt chân, đốt chùa, giết người, đầu độc, bức tử. Những tác phẩm ấy đều đề cao người thiện, gây cho độc giả lòng sùng mộ đối với những người tốt bị đày ải chết chóc vì công lý, vì nhân đạo, vì tín ngưỡng chân chính. Những tác phẩm ấy đều truyền cho người đời một tinh thần lạc quan sắt đá: kẻ làm ác sẽ bị trừng trị xứng đáng mặc dầu nhất thời thắng thế; người làm thiện cuối cùng sẽ được hưởng phúc mặc dầu nhất thời bị đau khổ thất bại. Bối cảnh xã hội cũng những tác phẩm ấy rõ ràng là một thời khủng bố quân phiệt của bạo chúa, thời mà sức chống đối của những phần tử xã hội bị chính sách khủng bố tàn bại còn yếu. 76
Tuy nhiên, sự chống đối này không phải là không có tác dụng:
« Trước kia, phàm người bị tội lưu lại phải chịu thêm tội chặt tay. Đến đời Dụ tôn (1705 - 1720) Trịnh Cương bỏ tội chặt tay và sửa lại rằng tội chặt hai tay và lưu đi viễn châu thì cải làm tội đồ chung thân; tội chặt một tay và lưu đi ngoại châu thì cải làm tội đồ 12 năm; tội chặt hai ngón tay trỏ và lưu cận châu thì cải làm tội đồ 6 năm ». (Đào Duy Anh: Việt-nam lịch sử giáo trình, trang 43)
Theo chúng tôi nghĩ, sự cải cách hình luật của Trịnh Cương là kết quả của cuộc phản kháng (bằng văn học) của nhân dân đối với các tội chặt tay có tính cách trung cổ lưu hành trước đời Dụ tôn. Bọn bạo chúa đã phải nhượng bộ quần chúng một vài điểm trong khi khủng bố các lực lượng chống lại chúng. Ra lệnh cấm các quan lại cường hào không được cướp ruộng đất của nông dân năm 1711, bỏ tội chặt tay năm 1720, bỏ thuế sản vật năm 1732: những hành động ấy của Trịnh Cương quyết không phải là do lòng tốt của hắn mà chính là do áp lực mạnh mẽ của quần chúng đấu tranh bằng đủ các phương tiện, trong đó sáng tác truyện Nôm là một. Các tầng lớp bình dân nhiệt liệt hoan nghênh, ủng hộ, tiêu thụ các sáng tác phẩm Nôm khoảng 1658-1745 bị chúa Trịnh cấm và đốt là bởi văn học chiến đấu ấy đã đáp ứng đúng nhu cầu chính trị của họ.
Cuộc đấu tranh chống Trịnh của các tầng lớp bình dân khoảng 1658-1745 – chủ yếu là công thương gia và nho sĩ bất mãn – đã thúc đẩy văn học dân tộc tiến một bước khá dài. Loại truyện, loại vè, thể thơ lực bát được sử dụng rộng rãi, rất phù hợp với sở thích văn học của quảng đại nhân dân. Ngôn ngữ bình dân đã chiếm địa vị ưu thế, lấn hẳn những sáo ngữ Trung-quốc. Phần lớn các chủ đề và nguyên liệu sáng tác đã lấy ở đời sống Việt-nam, hơn nữa, ở đời sống bình dân. Tư tưởng và tình cảm con người, mặc dầu còn khoác hình thái phong kiến, đã có thị dân tính khá đậm đà. Những đức tính cao quý của dân tộc, như: tính lao động cần kiệm, tính can đảm khắc phục gian khổ, tính bất khuất trước kẻ thù, tính hy sinh vì chính nghĩa, tính kiên nhẫn lạc quan, đã được biểu hiện vào những nhân vật tương đối sinh động và có cá thể tương đối tập trung.
Tuy vật, nhiều tác phẩm ở thời kỳ này còn mắc vào tính sơ lược. Những điển hình văn học còn nghèo về chất sống tâm lý và chưa tập trung được mọi quan hệ xã hội phản ánh vào vận mạng con người. Bố cục các tác phẩm còn lỏng lẻo, luộm thuộm chưa đạt được tính hài hòa, cân bằng, hệ thống. Ngôn ngữ chưa được gọt giũa đúng mức; câu thơ chưa đạt được tính hoàn chỉnh. Tác phẩm có thể coi như kết tinh được mức độ tiến triển cao nhất của văn học dân tộc ở thời kỳ này là Nhị độ mai, tuy đã vượt xa các tác phẩm khác đồng thời về nhiều phương diện, cũng vẫn chưa thoát khỏi được ít nhiều nhược điểm nói trên. Nhưng với Nhị độ Mai , văn học dân tộc đã tiến sát đến ngưỡng cửa thời kỳ cổ điển chủ nghĩa.
II. THỜI KỲ THỨ HAI
Thời kỳ này là thời kỳ toàn thịnh của văn học cổ điển Việt-nam. Như đã trình bầy ở Chương bốn, xã hội phong kiến Việt-nam càng phát triển đến những trình độ đẻ ra các yếu tố có tác dụng giải thể nó; những lực lượng tiến bộ trong lòng xã hội phong kiến càng bị đẩy đến chỗ phải thực hành những nhiệm vụ lịch sử thúc đẩy mạnh mẽ quá trình giải thể ấy – chủ yếu là những nhiệm vụ:
« Phát triển và bảo vệ quyền tư hữu nông dân về ruộng đất; phát triển công thương nghiệp và kiến lập thị trường dân tộc; bảo vệ độc lập quốc gia, thống nhất lãnh thể, trung ương tập quyền; tăng cường ý thức cá nhân chủ nghĩa thị dân và ý thức dân quyền chủ nghĩa – thì văn học dân tộc càng tiến đến cổ đi ể n tính, nghĩa là tiến đến một dân tộc tính, một nhân dân tính, một thị dân tính già dặn về mọi phương diện: chất liệu văn học, hình tượng văn học, hình thức văn học, ngôn ngữ văn học » .
Đó là quy luật của quá trình xây dựng truyền thống văn học gọt giũa Việt-nam trong thời đại phong kiến.
Những điều kiện cần thiết cho sự thành hình văn học cổ điển Việt-nam, nêu ra trong định thức trên đây, đều hiện diện đầy đủ trong thời kỳ lịch sử 1740-1820. Đây là một thời kỳ khủng hoảng gay gắt nhất của xã hội phong kiến Việt-nam. Bao nhiêu mâu thuẫn căn bản đều đạt tới trình độ đòi hỏi một giải quyết kịch liệt. Tất cả đều biểu hiện ra ở những cuộc đấu tranh giai cấp liên tiếp, đổ máu, rộng rãi, sâu sắc, suốt thời gian 1740-1820 không lúc nào ngớt. Điều đáng chú ý là: lúc nào mà xã hội phong kiến Việt-nam bắt đầu bị những cuộc khởi nghĩa nông dân tấn công quyết liệt (mở màn cho non một thế kỷ bạo động nhân dân) chính là lúc mà bọn quân phiệt Trịnh và Nguyễn cương quyết cắt đứt kinh tế trong xứ với luồng mậu dịch Tây phương khá phồn thịnh trong thế kỷ XVII. Có thể nói rằng chính sách bế quan tỏa cảng của bọn Trịnh và Nguyễn đã là nguyên nhân sâu xa nhất của những cuộc khởi nghĩa nông dân thế kỷ XVIII.
Sự buôn bán với các tầu tư bản Tây phương thúc đẩy đà tiến triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa trong lòng xã hội phong kiến Việt-nam. Nó có thể làm cho các tầng lớp tư sản thương nghiệp càng ngày càng lớn mạnh hơn. Nó kích thích sự sản xuất kinh tế nói chung, lôi cuốn nông thôn vào con đường nông nghiệp thương mại, mở rộng cơ sở kinh dinh của các thủ công nghiệp, của các thủ công trường, đem quan hệ tiền bạc thay thế cho những quan hệ phong kiến giữa người với người. Yêu cầu cấp bách của sự phát triển kinh tế theo hướng đó là: thống nhất quốc gia, tập trung chính quyền, xây dựng thị trường dân tộc, an ninh xã hội.
Đứng về phía bọn chúa Trịnh, Nguyễn mà xét thì cắt đứt kinh tế trong xứ với nguồn mậu dịch thế giới là cắt đứt tận gốc ý chí thống nhất quốc gia, tập trung chính quyền; là duy trì vĩnh viễn tình trạng Bắc Nam chia cắt; là củng cố địa vị thống trị ích kỷ của chúng. Đứng về mặt lịch sử mà xét thì chính sách đó của bọn chúa Trịnh, Nguyễn là một chính sách ngăn chặn xã hội Việt-nam tiến lên tư bản chủ nghĩa, đi ngược lại yêu cầu phát triển khách quan của các lực lượng sản xuất xã hội, phá hoại khả năng thành hình của dân tộc. Vì thế mà chúng phải thất bại không tránh được.
Kết quả tất yếu của chính sách kinh tế phản động ấy là: ở Bắc cũng như ở Nam, sức sản xuất xã hội giảm sút một cách nhanh chóng. Thủ công nghiệp bị đình đốn, nông nghiệp bị khốn quẫn, thương nghiệp bị phá sản. Các tầng lớp nông công thương bị dồn đến tình trạng bần cùng hóa. Thiếu một nguồn lợi khá quan trọng để bồi dưỡng tài lực quốc gia (tức là thuế thu được khi còn có sự buôn bán với nước ngoài), bọn Trịnh, Nguyễn phải bóc lột nông dân và công thương nhân nặng hơn lên để lấy tiền chi phí. Sự chiếm ruộng đất nông dân trở nên một hành động phổ biến của quan lại cường hào. Nạn hối lộ, nạn trộm cướp cộng thêm những tai họa mất mùa, lụt, hạn hán, sâu keo, làm cho toàn thể bình dân lâm vào cảnh sống dở chết dở – nhất là nông dân.
Tiêu diệt bọn chúa Trịnh, chúa Nguyễn; thống nhất Bắc Nam; tập trung chính quyền vào một Nhà nước mạnh, mở rộng ngoại thương; bảo vệ công thương nghiệp; bảo vệ tư hữu cho nông dân; giảm sưu nhẹ thuế; bảo đảm an ninh trật tự xã hội; đó là những điều mà toàn dân phải thực hiện kỳ được nếu không muốn kéo dài một cuộc sống ngắc ngoải. Đó là con đường sống của nhân dân, con đường tiến của sức sản xuất kinh tế, và cũng là con đường thành hình của dân tộc – con đường chính nghĩa.
Toàn thể các tầng lớp bình dân – chủ yếu là nông dân – đã nhất tề đứng dậy dùng giáo mác, cầy bừa, ồ ạt tấn công vào chế độ thống trị của Trịnh, Nguyễn, của quan tham lại nhũng, của cường hào địa chủ, suốt từ Nam đến Bắc, liên tiếp già nửa thế kỷ, cho đến thắng lợi cuối cùng là sự thành công rực rỡ của Tây Sơn. Theo lá cờ giải phóng của anh hùng Nguyễn Huệ, toàn dân đã quét sạch chúa Trịnh, chúa nguyễn, vua Lê, phá tan mọi cuộc xâm lược của các lực lượng ngoại tộc (Xiêm-la, Trung-quốc) do bọn vua chúa phản nước phản dân ấy cầu viện, bảo vệ sự độc lập quốc gia, thống nhất Bắc Nam, lập lại an ninh trật tự.
Trên cơ sở những thành quả ấy, dân tộc Việt-nam thành hình kỳ thứ hai, trọn vẹn hơn kỳ thứ nhất (thế kỷ XV). Sự thắng lợi lịch sử của Tây Sơn, căn bản, là sự thắng lợi của xu hướng phát triển tư bản chủ nghĩa của xã hội Việt-nam nửa sau thế kỷ XVIII. Lần này, mà cũng là lần đầu tiên, toàn thể nhân dân trực tiếp xây dựng, bằng bàn tay khối óc của mình, sự thành hình của dân tộc đồng thời với đà phát triển của kinh tế xã hội theo hướng tư bản chủ nghĩa-trong đó, đời sống vật chất và tinh thần của con người (bình dân) được nâng cao hơn ở các thời kỳ lịch sử trước. Chính sách trị nước của vua Quang Trung đã phản ánh trung thành những nguyện vọng nhân dân ấy. Cương quyết giữ vững độc lập dân tộc, và làm cho các nước láng giềng phải kiêng nể; thực hành chính sách phú quốc cường binh (phát triển nông nghiệp trên cơ sở tiểu tư hữu nông dân, mở rộng ngoại thương, chiếu cố các tầng lớp công thương, xây dựng quân đội hùng mạnh để bảo vệ tổ quốc), xóa bỏ ranh giới các thân phận xã hội để đề cao người bình dân; phổ biến giáo dục đến tận thôn xã; chủ trương lấy chữ Nôm làm văn tự dân tộc dùng cho sự học, sự thi cử và sự thảo các giấy tờ nhà nước, tôn trọng tự do tư tưởng và tự do tín ngưỡng: chính trị Quang Trung là một chính trị dân tộc, bình dân, tiến bộ, mở đưởng cho xu hướng tư bản chủ nghĩa trong kinh tế.
Hồ Quý Ly (cuối thế kỷ XIV), Lê Thánh Tôn (cuối thế kỷ XV), Quang Trung (cuối thế kỷ XVIII): đó là ba cái mốc tiêu biểu của một quá trình lịch sử – quá trình trưởng thành của dân tộc; quá trình phát triển của yếu tố tư bản chủ nghĩa trong kinh tế; quá trình xây dựng một văn hóa dân tộc độc lập. Triều đại Quang Trung là điểm cao nhất của quá trình ấy.
Nhưng vì, trong suốt chặng đường thứ ba của quá trình này (1940-1802), các tầng lớp tư sản công thương chưa đủ khả năng để thành một giai cấp và do đó chưa lãnh đạo được nông dân chống chế độ phong kiến, cho nên những thành quả xã hội của các cuộc đấu tranh diệt bọn vua chúa (Lê, Trịnh, Nguyễn) bị hạn chế rất nhiều. Thiếu một giai cấp tư sản đông đảo làm cơ sở dựng nước, chính trị Quang Trung bị sa lầy trong bộ máy quan liêu phong kiến nằm trong tay những phần tử đại diện của giai cấp địa chủ. Sau khi Quang Trung mất, bộ máy ấy thủ tiêu ngay những cải cách của Quang Trung chưa kịp đem thực hiện. Giai cấp địa chủ trỗi dậy nắm lấy chính quyền và dọn đường cho Gia-long lên ngôi hoàng đế với sự giúp đỡ của quân đội tư bản Pháp. Thành tựu trên cơ sở chống lại cuộc cách mạng của nông dân, triều Nguyễn, trong những năm đầu, tập trung lực lượng để tiêu diệt những thành quả của cuộc cách mạng ấy. Thành tích tiêu biểu nhất của nó trong khoảng thời gian này là bộ Hoàng triều luật lệ (1815) được biên soạn giữa những tiếng thét uất hận của những trận đánh hậu vệ của nông dân. Đến 1920, tình hình xã hội mới tương đối yên ổn. Minh Mạng bắt tay vào việc củng cố nền đế chế độc tài và phản động…
Trong những điều kiện lịch sử ấy, trên cơ sở một trình độ tiến hóa khá cao của ngôn ngữ văn học dân tộc được xây dựng trong bốn thế kỷ liên tiếp, văn học cổ điển Việt-nam thành hình. So sánh với các nước Tây phương, văn học cổ điển Việt-nam có những điểm dị biệt sau đây:
- Ở Tây phương, văn học cổ điển xuất hiện sau phong trào Văn hóa phục hưng, hút nhựa sống ở cổ văn Hy lạp La mã, mô hình mỹ học Hy-Lạp, sùng bái mọi quy thức sáng tác văn học của các nhà văn cổ Hy-Lạp. Ở Việt-nam, không có phong trào văn hóa phục hưng, không có sự dập khuôn một nền cổ văn nào mới khám phá được; văn học cổ điển bắt rễ thẳng vào đời sống và văn học của các tầng lớp bình dân đang chiến đấu thúc đẩy dân tộc thành hình.
- Ở Tây phương, văn học cổ điển xuất hiện trong hoàn cảnh tương đối quân bình, trật tự của xã hội, và chính nó thể hiện sự quân bình, sự trật tự ấy. Ở Việt-nam, văn học cổ điển nẩy nở trong điều kiện một xã hội mất quân bình, mất trật tự, đầy rẫy những mâu thuẫn gay gắt, những đấu tranh đổ máu, những đổ vỡ bi đát. Bởi vậy, văn học cổ điển Việt-nam đã thể hiện tình trạng xung đột tàn bạo và ước vọng của con người kháng cự lại tình trạng ấy.
- Ở Tây phương, văn học cổ điển bước theo ngón tay chỉ đạo của triết học duy lý (Descartes), triết học kinh nghiệm (Locke) pha với triết học épicurien của Gassendi (ở Pháp) hoặc với triết học duy vật của Hobbes (ở Anh). Nó lấy lý tính làm thần thánh. Ở Việt-nam, văn học cổ điển tiến triển đối lập với triết học duy lý hình thức chủ nghĩa của nho giáo. Nó lấy sự mưu cầu giải phóng tình cảm con người làm nguồn cảm hứng chủ yếu. Nó chống lại những ràng buộc phong kiến cản trở sự giải phóng đó. Vì thế, văn học cổ điển Việt-nam, căn bản, là một văn học trữ tình và trào phúng xã hội.
- Ở Tây phương, văn học cổ điển là sự nghiệp của giai cấp tư sản đang lớn lên. Mặc dầu thỏa hiệp với quân chủ (Pháp) hay cấu kết với lực lượng quý tộc (Anh), giai cấp tư sản vẫn tiến tới những mục đích của bản thân nó. Những nhà văn cổ điển phần lớn là ỏ giai cấp tư sản. Ở Việt-nam, văn học cổ điển ra đời lúc tầng lớp công thường thị dân chưa thành một giai cấp rõ rệt. Những nhà văn cổ điển Việt-nam phần lớn là các nho sĩ quan liêu hoặc nho sĩ bình dân bất mãn với thời cuộc. Do đó, nội dung ý thức hệ của văn học cổ điển Việt-nam đã kết hợp ba yếu tố khác nhau: những giá trị phong kiến chân chính, tâm lý và nguyện vọng của bình dân nói chung, triết lý sống thị dân. Nhưng cũng do đó mà nó còn vướng vào ít nhiều ý thức hệ phong kiến lạc hậu.
Ngoài những đặc điểm ấy, văn học cổ điển Việt-nam giống với văn học cổ điển Tây phương ở chỗ nó xuất hiện trong giai đoạn thành hình của dân tộc, nó kết tinh một trình độ tiến hóa cao của ngôn ngữ văn học dân tộc, biểu thị tính thống nhất cao độ của nội dung và hình thức, lòng thiết tha của nhà văn đối với vận mạng con người và những vấn đề xã hội. Nó có dân tộc tính, nhân đạo tính, chiến đấu tính, hiện thực tính. Đỉnh cao nhất của nó là Truyện Kiều của NguyễnDu.
III. THỜI KỲ THỨ BA
Từ sau 1820, xã hội phong kiến Việt-nam, bề ngoài có vẻ phồn thịnh, vững vàng, nhưng trong nội tạng chứa chất những mâu thuẫn làm suy nhược nó. Cái mâu thuẫn căn bản đó là: tập đoàn nhà Nguyễn thừa hưởng được sự thống nhất quốc gia do Tây-sơn tạo ra, cương quyết củng cố và tăng cường tính thống nhất ấy đồng thời với chế độ trung ương tập quyền, nhưng trong thực tế lại thi hành một đường lối chính trị phá hoại cơ sở của sự thống nhất và của chế độ trung ương tập quyền. Cơ sở này chỉ có thể là một cấu tạo kinh tế tư bản chủ nghĩa nối các địa phương vào nhau một cách chặt chẽ bằng những liên lạc trao đổi hàng hóa (thị trường dân tộc) giữa vùng này với vùng khác trong một sinh hoạt kinh tế cộng đồng.
Chính trị nhà Nguyễn đã phá vỡ cơ sở ấy. Bế quan tỏa cảng để cắt đứt quan hệ trao đổi hàng hóa với các nước Tây phương, chèn ép công thương không cho phát triển, bần cùng hóa nông dân; nô dịch hóa các phần tử trí thức, độc tôn Tống nho, độc tôn Hán tự và dùng khoa cử để chẹn lối phát triển của văn hóa dân tộc, bòn vét của cải nhân dân để xâm lược các nước nhỏ láng giềng, dùng luật lệ phản động để đàn áp khủng bố mọi ý định phản kháng, mọi hoài bão cải cách xã hội; tập đoàn Nhà Nguyễn, đặc biệt là Minh mạng, đã làm nghẽn tắc phần lớn sinh lực vật chất và tinh thần của dân tộc, ở một thời kỳ lịch sử mà sinh lực ấy có thể gặp được những điều kiện tốt nhất để phát triển.
Tình trạng ấy đã dẫn đến những cuộc bạo động của nông dân và của những tầng lớp bình dân khác, những cuộc khởi nghĩa của các dân tộc thiểu số bị áp bức, của nhân dân Miên, Lào bị đô hộ, suốt từ 1820 đến khi thực dân Pháp đánh chiếm nước ta, làm cho xã hội phong kiến Việt-nam tiến sâu mãi vào một khủng hoảng phù tạng rất trầm trọng mà tập đoàn thống trị không thể nào giải quyết được. Phan Bá Vành, Vũ Đức Cát, Nguyễn Hạnh, Lê Duy Lương, Lê Văn Khôi, Nùng Văn Vân, Xa Văn Châu, Xạ Cán, Tăng Kế, Cao Bá Quát, Cai Tổng Vàng… đã làm đảo điên triều Nguyễn nhiều phen – nhất là Lê Văn Khôi, trong một thời gian đã chiếm giữ toàn bộ Nam kỳ – Khiến cho cái bề ngoài thống nhất quốc gia và trung ương tập quyền nửa đầu thế kỷ XIX cũng chỉ là một hư danh.
Tất cả sự khủng hoảng đó đã được phản ánh vào văn học. Từ Nguyễn Công Trứ đến Cao bá Nhạ, văn học đã biểu hiện một tình huống chung là: sự mâu thuẫn giữa lòng khát sống mãnh liệt, tự do, và sức đè nén của thực tại xã hội cay nghiệt – cụ thể là sức áp chế của triều đình Nguyễn. Được kích thích bởi trình độ trưởng thành của dân tộc và khả năng phát triển của tự thân những lực lượng kinh tế tư bản chủ nghĩa đã phôi thai, con người bước vào đời với một hào hứng sống và phục vụ (tiêu biểu nhất là quan niệm «chí nam nhi» của Nguyễn Công Trứ) nhưng bị chính trị phản động triều nguyễn hãm vào cảnh bế tắc, quằn quại (tiêu biểu nhất là nhãn quan «tài tử đa cùng» của Cao Bá Quát), không có lối thoát. Hoặc quyết tâm «làm cho rõ mặt trượng phu kềnh» như Nguyễn Công Trứ để rồi sau chửi rủa: «Đ… mẹ nhân tình đã biết rồi, nhạt như nước ốc bạc như vôi!…» ; hoặc thu mình trong một cô đơn thảm hại «một mảnh tình riêng ta với ta» như nữ sĩ Thanh quan; hoặc ủ ê trong cảnh «lều nho nhỏ, kéo t ấ m gianh lướt thướt… đèn cỏn con co chiếc chiếu lôi thôi…» rồi vùng dậy «gánh vác giang san, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú» như Cao Bá Quát; hoặc gắng gỏi «đan tâm còn chút gọi là, giữ gìn băng ngọc đừng pha bụi trần» như Cao Bá Nhạ mà kết cục cũng bị hãm vào cảnh «thân sao như gánh hàng hoa, sớm qua chợ sớm chiều qua chợ chiều» : tất cả những tâm trạng ấy đều nói lên sự thất vọng chua cay về những mộng ước ban đầu của một con người ham sống mà không được sống, thèm vẫy vùng mà bị trói buộc, thích tự do mà bị giam cầm. Tất cả toát ra một tiếng phản kháng bi đát của trái tim và khối óc do bị cùm kẹp. Tiếng phản kháng này là phản ánh văn học của những cuộc đấu tranh quần chúng ngoài xã hội chống lại triều đình nhà Nguyễn. Sự truy cầu tự do của các tâm hồn nhà văn phản ánh sự truy cầu giải phóng của các lực lượng sản xuất xã hội đang bị kìm hãm.

Bởi lẽ ấy, văn học Việt-nam 1820-1862 vẫn là sự tiếp tục của văn học Việt-nam 1745-1820. Cả hai đều làm chung một nhiệm vụ: chống lại những lực lượng phản động kìm hãm sự phát triển tư bản chủ nghĩa của xã hội Việt-nam; chống lại những đường lối chính trị cản trở sự trưởng thành của dân tộc về mọi phương diện; chống lại những ràng buộc thống trị chẹn bước sự giải phóng cá nhân con người ra khỏi một hoàn cảnh sống tiêu diệt nhân tính. Nhưng ở mỗi thời kỳ, mầu sắc và cường độ chống đối một khác. Thời kỳ 1740-1820 là cao trào đấu tranh của quần chúng; thời kỳ 1820-1862 là thoái trào. Cho nên văn học 1745-1820 nhiều chiến đấu tính, hiện thực tính, nhân dân tính hơn văn học 1820-1863. Kia, là tiếng gầm thét, đây là tiếng rên siết. Nội dung ý thức của văn học 1820-1862 cũng quyết định cả hình thức văn học. Thời kỳ trước, thịnh hành các thể văn học dân tộc: truyện lục bát, ngâm khúc song thất, vè, nói lối. Thời kỳ này, quay về các thể văn thơ có ít nhiều tính cách ngoại lai: ca trù, đường thi, tuồng hát, phú; một truyện lục bát như Lục vân Tiên, một khúc ngâm song thất như Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ chỉ là ngoại lệ.
Do đó, ta có thể nói rằng: văn học 1745-1820 là văn học cổ điển Việt-nam ở thời kỳ toàn thịnh; văn học 1820-1862 là văn học cổ điển Việt-nam ở thời kỳ suy nhược. Tuy vẫn duy trì được tính thống nhất cao độ giữa nội dung và hình thức, tuy ngôn ngữ văn học căn bản vẫn là ngôn ngữ bác học phối hợp với ngôn ngữ bình dân, tuy nội dung vẫn là sự chiến đấu vì những mục đích tiến bộ xã hội và nhân văn chủ nghĩa, văn học 1820-1862, so với văn học 1745-1820, thiếu sự thiết tha trực tiếp đến những vấn đề xã hội, thiếu chất sống phong phú, thiếu tính bình dân sâu sắc và tính dân tộc thuần thục. Đem so sánh Chinh phụ ngâm với thơ văn Nguyễn Công Trứ, Hồ Xuân Hương với Thanh quan, Nguyễn Du với Cao Bá Quát, ta sẽ thấy rõ rệt sự hơn kém ấy.
IV. THỜI KỲ THỨ TƯ
Đây là thời kỳ tan rã của xã hội phong kiến Việt-nam (1862-1902). Trước sự tấn công xâm lược của thực dân Pháp, tập đoàn thống trị nhà Nguyễn đầu hàng nhục nhã. Những hiệp ước bán nước: 1862, 1874, 1883, 1884 lần lượt được ký kết; sau 1884, Việt-nam đã thành một thuộc địa của đế quốc Pháp. Không chịu làm nô lệ cho kẻ thù xâm lược, nhân dân Việt-nam đã nổi lên đánh thực dân Pháp ngay từ khi chúng đặt chân lên ba tỉnh miền Đông Nam bộ. Lá cờ Trương Định ở Gò công, với tám chữ viết bằng sự phẫn nộ của nhân dân: Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khí dân, phất lên trước mũi súng quân xâm lược, mở đầu Cuộc kháng chiến kéo dài suốt Nam, Trung, Bắc từ 1862 đến 1897, nêu cao tinh thần bất khuất của dân tộc. Nhưng quá trình tranh đấu anh dũng ấy cũng là quá trình thất bại liên tiếp. Cuối cùng, dân tộc Việt-nam vẫn không thoát khỏi gông cùm đô hộ của thực dân Pháp.
Tại sao cuộc kháng Pháp của Việt-nam cuối thế kỷ XIX bị thất bại? Đây không phải chỗ bàn về những nguyên nhân làm cho Việt-nam mất quyền độc lập. Chúng tôi chỉ nêu lên một vài điểm chính của vấn đề để giải thích đặc tính của văn học Việt-nam thời kỳ 1862-1902. Điều chắc chắn nhất, là: Việt-nam mất nước không phải vì sự thua kém thực dân Pháp về binh lực, cũng không phải vì thực dân Pháp tiêu biểu cho một trình độ tiến hóa cao hơn về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, mà chính vì cuộc kháng chiến Việt-nam bị những mâu thuẫn sâu sắc nội bộ làm cho tan vỡ. Trong hoàn cảnh xã hội Việt-nam nửa sau thế kỷ XIX, trước ngày bọn xâm lược nổ tiếng súng đầu tiên ở Đà nẵng, toàn thể các tầng lớp bình dân: nông, công, thương, trí thức tiến bộ đã mâu thuẫn cao độ với tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn. Những cuộc bạo động xảy ra từ 1820 đến 1862 nhằm lật đổ triều đình đủ chứng thực điều ấy. Ý nghĩa khách quan của những cuộc bạo động này là yêu cầu cải cách các chế độ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đương thời, mở đường cho dân tộc trưởng thành, cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, cho trí tuệ dân tộc tiến theo hướng phát triển kinh tế ấy. Đối với toàn thể nhân dân, triều đình nhà Nguyễn đã thành một chướng ngại vật cản trở sức tiến bộ của mọi khả năng dân tộc. Về câu đối của một viên quan lớn đại biểu tập đoàn phong kiến thống trị ra cho cậu nho sinh Cao Bá Quát trong một cuộc chạm trán bất kỳ – Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới – và vế đối lại của con người sau này phất cờ khởi nghĩa chống triều đình – Đ á xanh xây cổng, hòn dưới n ố ng hòn trên – đã tượng trưng được rất tài tình trạng thái đối kháng căn bản giữa bọn cầm quyền và toàn thể nhân dân bị áp bức trong lòng xã hội Việt-nam trước giờ phút đọ sức với súng đạn thực dân.
Trước những điều kiện ấy, tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn sợ những lực lượng khởi nghĩa của nhân dân – chủ yếu là nông dân – hơn là kẻ thù dân tộc. Đúng như lời nhận xét sâu sắc của ông Jean Chesneaux:
« Sự tái phát của nông dân khởi nghĩa ở Bắc-bộ gắn liền với cơ sở của nền quân chủ cổ Việt-nam, đã làm cho Tự Đức vội vàng ký hiệp ước ( 1862 ) » . 77
Lúc đó, muốn kháng chiến thắng lợi, phải có một lực lượng xã hội đủ sáng suốt và khả năng tiến hành một cuộc chiến tranh cách mạng, bên trong tiêu diệt chế độ nhà Nguyễn, thực hiện những cải cách căn bản hợp với nguyện vọng tha thiết của nông dân, thủ công nhân, thương nhân, trí thức tiến bộ, bên ngoài, quyết tâm đuổi giặc với tất cả sức mạnh đại đoàn kết anh dũng của dân tộc. Lực lượng lãnh đạo ấy chỉ có thể là một giai cấp tư sản cách mạng đã trưởng thành. Lực lượng tối cần ấy lại thiếu trong xã hội Việt-nam nửa sau thế kỷ XIX (chỗ này, mới thấy rõ tội ác lịch sử của triều Nguyễn).
Vì thiếu lực lượng ấy, các sĩ phu yêu nước phải đứng ra lãnh đạo cuộc kháng chiến. Các nhà này, phần lớn xuất thân ở tầng lớp tiểu địa chủ hoặc nông dân giầu, lại bị đào luyện bằng sách vở thánh hiền phong kiến, thiếu trí sáng suốt để quan niệm được một chương trình cải cách xã hội cần thiết làm cơ sở và triển vọng cho cuộc chống xâm lược. Có thể nói: họ nổi lên đánh thực dân Pháp chỉ vì triều đình bị nhục, nước bị mất, chứ không hề nghĩ đến sự vạch ra một chương trình duy tân để cải cách xã hội. Trong lúc nhà vua và triều thần đầu hàng kẻ thủ, trong lúc chế độ Triều Nguyễn bị toàn dân căm ghét thì các nhà nho yêu nước kia lại kêu gọi nhân dân đánh Pháp để bảo vệ ngôi vua ấy, triều đình ấy, chế độ ấy. Họ đứng dậy chống đỡ cho một uy quyền mà những kẻ đại diện lại gọi họ là quân phản nghịch và đem binh đi tiêu trừ họ. Tình trạng mâu thuẫn này đã làm tan rã hàng ngũ kháng chiến. Những nông dân theo họ vùng lên chống giặc không thấy sự hy sinh của mình đưa đến một tương lai gì tốt hơn hiện tại.
Lòng yêu nước thuần túy có thể nhất thời huy động nông dân xông ra chiến trường giết quân xâm lược; nhưng với lòng yêu nước đơn thuần, cuộc kháng chiến không có cơ sở thực tế để kéo dài đến thắng lợi cuối cùng.
Một mặt khác, những tầng lớp công thương – và cả một bộ phận lớn phú nông tư hữu đã từng sản xuất để bán hàng hóa ra thị trường – thâm thù với chế độ nhà Nguyễn kìm kẹp họ và cũng không thấy mình sẽ được gì nếu cuộc kháng Pháp thành công 78 . Nguyện vọng của họ, được phản ánh trong chương trình duy tân xã hội của Nguyễn Trường Tộ, sẽ bị tiêu diệt, nếu sự đuổi được giặc chỉ lập lại và củng cố thêm chế độ nhà Nguyễn. Họ đã chẳng thấy khi Nguyễn Trường Tộ được gọi vào Kinh để trình bầy đề nghị cải cách của mình, bọn quan lại sĩ phu ở Kinh nhao nhao lên phản đối, đến nỗi Tự Đức sợ xảy ra việc không lành phải sai người hộ tống Nguyễn Trường Tộ về tận quê đó sao? Vì thế, nếu các tầng lớp công thương, ở tỉnh cũng như ở nông thôn, không nhiệt tình với cuộc kháng chiến do các sĩ phu quan lại yêu nước lãnh đạo. Hơn nữa, thực dân Pháp vừa chiếm được Nam-bộ đã bắt tay ngay vào việc khai thác thuộc địa theo phương thức tư bản đế quốc chủ nghĩa. Công trình khai thác, một ngày một mở rộng với sự bình định thắng lợi, làm đảo lộn cơ cấu kinh tế của xã hội Việt-nam. Kẻ có lợi trong quá trình bày là các tầng lớp công thương thị dân. Do thế mà, qua miệng Nguyễn Trường Tộ, họ đã đề nghị «chủ hòa» với đế quốc Pháp, định lợi dụng tư bản ngoại quốc để hy vọng cường binh phú quốc. Vì đề nghị này bị các lực lượng phong kiến yêu nước bác bỏ, nên các tầng lớp công thương đã bị dồn vào cái thế phải xa rời phong trào dân tộc, hợp tác với thực dân Pháp để phát triển («thà mất lòng anh, được bụng chồng»!) Cuộc phân hóa giai cấp trong khối bình dân trở nên sâu sắc.
Triều đình và bè lũ quý tộc địa chủ thì sẵn sàng đầu hàng; các nhà nho yêu nước thì lạc hậu về mặt tư tưởng và chính trị; nông dân thì quyết chiến nhưng không thấy một triển vọng cải cách xã hội nào nuôi bền chí phấn đấu; công thương thì thỏa hiệp với tư bản thực dân vì căm thù chế độ nhà Nguyễn: những mâu thuẫn ấy đã phá vỡ cuộc kháng chiến Việt-nam nửa sau thế kỷ XIX. Trách nhiệm chủ yếu của sự mất nước là triều đình nhà Nguyễn và bọn quan lại sĩ phu phong kiến tay sai của triều đình ấy. Lòng yêu nước vô bờ bến của một số trí thức nho sĩ, tuy đáng kính phục, nhưng không thể cứu vớt được tình thế. Cách này hay cách khác, ở cuối thế kỷ XIX, Việt-nam cũng phải bị hút vào hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới: đó là xu hướng lịch sử của thời đại. Sự mù quáng và ích kỷ của tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn đã quyết định hình thức của Việt-nam tuân theo xu hướng khách quan ấy: hình thức mất nước, hình thức làm thuộc địa của đế quốc Pháp.
Tất cả tình hình trên đây đã khắc dấu sâu sắc vào văn học Việt-nam thời kỳ 1862-1905. Xét về mọi phương diện, thời kỳ này rõ rệt là một thời kỳ quá độ. Nhưng xét về căn bản (nội dung tư tưởng thể hiện trong văn học, loại văn, ngôn ngữ) thì nó vẫn nằm trong phạm trù văn học cổ điển thời phong kiến.
Đó là một thời kỳ quá độ, vì bên cạnh tư tưởng phong kiến, đã xuất hiện một hệ thống tư tưởng tư sản. Cuốn Đại Nam quốc sử diễn ca được dâng lên vua Tự Đức đồng thời với những tập Điều trần của Nguyễn Trường Tộ đệ trình vào Kinh đô. Bài Hà thành thất thủ ca, tập Hạnh thục ca ra đời cùng một lúc với những tác phẩm quốc ngữ của Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của. Bài hát nói Mệ Mốc của Nguyễn Khuyến đứng cạnh thiên du ký Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất hợi (1881) của Trương Vĩnh Ký. Bài phú hỏng thi của Tú Xương lưu hành bên cạnh cuốn Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của. Lúc Chu Mạnh Trinh gọt giũa từng chữ Thanh tâm tài nhân thi tập cũng là lúc tờ báo quốc ngữ Nông cổ mín đàm ra mắt đồng bào Nam-bộ.
Tuy vậy, bộ phận văn học chủ yếu của thời kỳ này, có tác dụng sâu sắc đến nhân dân, vẫn là những Văn tế điếu Trương định, Văn tế vong hồn quân mộ nghĩa, Văn tế lục tỉnh Nam-kỳ sĩ dân của Nguyễn Đình Chiểu, những thơ mắng Tôn Thọ Tường của Phan Văn Trị, những Hà thành thất thủ ca, Chính khí ca, những thơ, ca trù, phú trào phúng của Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, những Hạnh thục ca, Đại nam quốc sử diễn ca, những bài ca dao, vè, hát dặm kháng Pháp của dân gian Trung Nam Bắc. Văn học quốc ngữ chỉ mới ở tình trạng phôi thai. Dòng văn học chủ yếu vẫn là dòng văn học yêu nước kháng Pháp. Dòng văn học này, so với văn học cổ điển ở hai thời kỳ trước, có một điểm sai biệt nổi bật hẳn lên, là: nó ly khai với ý thức hệ thị dân, co mình trong ý thức hệ nông dân phong kiến. Dưới quyền thống trị của thực dân Pháp, các tầng lớp thị dân, ở con mắt các nhà văn nho sĩ yêu nước, đã trở thành một phần tử xã hội hiệp tác với kẻ thù dân tộc để trục lợi.
Trong thực tế thì đời sống thị thành hồi đó có mang dấu vết xấu ấy. Những sự có lọng, mán ngồi xe, váy lĩnh quét sạch hè, thầy ký, cậu bồi, gái lấy Tây, Thông phán sáng sữa bò, tối sâm banh; những thứ thương nhân kiểu Bà Hai «chiều khách quá hơn nhà thổ ế, đắt hàng như thể mớ tôm tươi» ; những cụ Sứ, ông Cò, ông Cẩm (đêm hôm phải sợ phép quan cò) hống hách bắt nạt nhân dân… tất cả cái đời sống thành thị lố lăng ấy của buổi giao thời đã bị các nhà văn nho sĩ yêu nước gộp cả vào một bị với những vua quan bù nhìn (tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi) giữ dưa cho chủ mới (đêm ngày coi sóc cho ai đó, non nước đầy vơi có biết không?), với những bọn nho sĩ phản bội quỳ mọp dưới chân thực dân Pháp kiểu Tôn thọ Tường, kiểu Hà-nam Tổng đốc Trần (chỉ cốt túi mình cho thật chặt, trăm năm mặc kệ tiếng chê khen), kiểu viên Đốc học Hưng-yên (bổng lộc như ông không mấy nhỉ, ăn tiêu nhờ được chiếc lương Tây) kiểu bọn Cử Tú lỡ thời vội học quốc ngữ để đi thi ký lục (ví dù nhà nước cho ông đỗ, thì phỏng lương ông đáng mấy đồng?)
Chán ghét và khinh bỉ cả bọn quan lại nho sĩ xu thời lẫn bọn thầu khoán, phú thương trâng tráo, các nhà văn nho sĩ yêu nước, hoặc tham gia kháng chiến (như Nguyễn Đình Chiểu) hoặc ủng hộ kháng chiến (như tác giả bài Hà thành thất thủ ca) hoặc lui về ở ẩn (như Nguyễn Khuyến) hoặc bất mãn cực độ trong cảnh bần cùng hóa (như Tú Xương)… đều quay về sống với nông dân. Do đó, họ đã nói lên được tâm lý và ý nguyện của quần chúng nông dân yêu nước, bất khuất, ghét bọn phản bội, khinh lũ giầu sang, căm thù giặc xâm lược. Tâm trạng này được biểu hiện thành một ý chí bảo vệ tư cách trong sạch (không hợp tác với giặc) bảo vệ khí phách làm người khi thất thế (không xu phụ kẻ phi nghĩa đắc thắng), và một quyết tâm phỉ nhổ vào những cái giầu sang quyền thế của kiếp ngựa trâu làm tôi tớ cho thực dân Pháp. Ý chí và quyết tâm ấy đã là nguồn cảm hứng chính của văn học Việt-nam thời kỳ 1862-1902. Nó đẻ ra dòng văn học yêu nước và dòng văn học trào phúng xã hội. Tiêu biểu cho dòng thứ nhất là Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, tác giả Hà thành thất thủ ca. Tiêu biểu cho dòng thứ hai là Nguyễn Khuyến và Tú Xương. Nhưng, cũng vì nhìn sự biến động xã hội bằng cặp mắt nông dân nên các nhà văn nho sĩ yêu nước và trào phúng cuối thế kỷ XIX không thấy được thực chất lịch sử của quá trình biến động ấy. Họ không nhận rõ được tác dụng tích cực của đời sống thành thị, của kinh tế tư bản chủ nghĩa đối với sự phát triển nói chung của dân tộc – mặc dầu những nhân tố ấy nằm trong tay nhào nặn của kẻ thù dân tộc. Tư tưởng yêu nước của họ vì thế mà đối lập với ý thực hệ thị dân của thành phần tư sản đang gặp điều kiện để lớn lên. Bởi vậy, ở chặng thời gian đầu của cuộc kháng Pháp (1862-1897), họ dùng tư tưởng phong kiến để chống kẻ thù dân tộc; ở chặng sau, khi những cuộc võ trang khởi nghĩa bị tan vỡ cả (1897-1902) họ dùng tư tưởng nông dân để chống thực dân, chống phong kiến quý tộc hủ bại, đồng thời chống những hình thức sinh hoạt tư sản mới nẩy nở trong xã hội – nhất là ở các thành thị. Vì thế, nội dung tư tưởng của văn học Việt-nam 1862-1902, mặc dầu căn bản là chân chính (yêu nước, giữ vững chí bất khuất, phủ nhận uy quyền của kẻ thù dân tộc, bảo vệ tư cách cao thượng, thù ghét những kẻ phản bội tổ quốc, căm tức tập đoàn phong kiến đầu hàng) vẫn là một tư tưởng bảo thủ, tiêu cực.
Tính chất dân tộc chủ nghĩa của nó bị cắt lìa khỏi tính chất tiến bộ xã hội khách quan của đời sống dân tộc. Tính chất nhân dân của nó thiếu hẳn yếu tố thị dân mà chỉ còn là tính chất nông dân.
Ngay đến những hình thức văn học cũng tố cáo tính bảo thủ ấy. Bên cạnh một số ít văn lục bát, song thất… những thể thơ tứ tuyệt, bát cú, phú, câu đối gọt giũa trở thành những phương tiện sáng tác thông dụng. Dân tộc tính của ngôn ngữ văn học, nói chung, không còn là sự phối hợp tài tình của ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân như ở giai đoạn văn học cổ điển toàn thịnh mà chỉ còn là sự tận dụng cái khéo léo của ngôn ngữ nhà nho. Tính thống thất giữa nội dung và hình thức của sáng tác phẩm, nói chung, cũng sút kém so với văn học cổ điển. Tuy nhiên, tính cổ điển vẫn được thể hiện trong một số tác phẩm của một vài nhà thơ tài năng như Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, nhất là Nguyễn Khuyến và Tú Xương. Bốn nhà thơ này, trong thời kỳ quá độ 1862-1905, có thể coi là bốn nhà thơ cổ điển cuối cùng của văn học Việt Nam thời phong kiến.

Tóm lại, xét theo bản thân quá trình văn học Việt-nam thời phong kiến thì từ Hàn Thuyên đến cuối thế kỷ XIV là thời kỳ phôi thai của văn học chữ viết dân tộc; từ Nguyễn Trãi (đầu thế kỷ XV) đến giữa thế kỷ XVII là thời kỳ xây nền đắp móng cho văn học chữ viết dân tộc; từ giữa thế kỷ XVII đến 1745 là thời kỳ văn học dân tộc phát triển mạnh mẽ làm cơ sở cho văn học cổ điển xuất hiện.

Chúng tôi đề nghị: từ đầu thế kỷ XV đến 1745 có thể gọi chung là thời đại văn học tiền cổ điển . Bản thân thời đại văn học cổ điển có thể chia làm ba giai đoạn: 1745-1820 là giai đoạn toàn thịnh của văn học cổ điển; 1820-1862 là giai đoạn suy nhược của văn học cổ điển; 1862-1905 là giai đoạn quá độ giữa văn học cổ điển và văn học cận đại, nhưng căn bản vẫn nằm trong phạm trù văn học cổ điển dân tộc; có thể gọi nó là giai đoạn văn học hậu cổ điển.

Chương SÁU

văn học cận đại
Gần đây, phân chia các thời kỳ văn học sử Việt-nam, người ta thường chorằng:
- Từ 1858 đến 1930 là thời văn học cận đại.
- Từ 1930 đến ngày nay là thời văn học hiện đại.
Cách phân chia này, theo ý chúng tôi chưa được hợp lý. Quan điểm của chúng tôi là:
- Từ 1905 đến 1945 là thời văn học cận đại.
- Từ 1945 (Cách mạng tháng 8) đến ngày nay là thời văn học hiện đại.
Căn cứ vào đâu, chúng tôi đã chủ trương như vậy? Chương sách này sẽ trả lời câu hỏi ấy.
I. CƠ SỞ LỊCH SỬ VÀ NỘI DUNG CỦA KHÁI NIỆM «CẬN ĐẠI TÍNH»
Trong lịch sử tiến hóa chung của nhân loại, một xã hội có cận đại tính rõ rệt, trước hết, xuất hiện ở các nước Tây phương từ sau khi thành Constantinoples thất thủ (1453). Thời điểm này, theo các sử gia, chấm hết thời đại Trung cổ ở châu Âu và mở đầu thời kỳ Cận đại. Muốn hình dung được những đặc tính của xã hội cận đại, cần chú ý đến những sự kiện sau đây:
1) KHÁM PHÁ RA CON ĐƯỜNG CHÂU Á VÀ TÂN THẾ GIỚI MỚI (CHÂU MỸ)
Trước thế kỷ XV, dân Âu châu không biết đến Hải dương châu, đại bộ phận Phi châu, Mỹ châu và Thái bình dương. Nhưng, thời thường, họ vẫn thấy ở các miền xa xăm ấy chuyên chở đến châu Âu bằng đường thủy những đồ gia vị (hồ tiêu, nhục đậu khấu, đinh hương, gừng, quế) và nghe nói có nhiều mỏ vàng bạc tại các vùng bí mật đó. Những thương nhân có đầu óc phiêu lưu và thích làm giầu liền nghĩ đến cách đi tìm gia vị và vàng ở tận những xứ sản sinh ra nó. Họ đóng tầu, mộ thủy thủ, tổ chức những cuộc thám hiểm và nhổ neo ra khơi. Người Bồ đào nha, người Tây ban nha, người Ý đại lợi… đua nhau vượt sóng gió đi khám phá trái đất. Christophe Colomb tìm ra Châu Mỹ; Vasco de Gama tìm ra con đường đi Ấn-độ; Magellan đi vòng quanh địa cầu và phát hiện ra Thái-Bình-Dương. Nhờ có những sự khám phá hàng hải này, thương nghiệp ở châu Âu phát triển một cách kỳ diệu. Và sức sản xuất công nghiệp cũng tăng cường mau lẹ. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thành tựu. Giai cấp tư sản lớn lên, khang kiện. Sự giầu tiền bạc lấn át sự giầu ruộng đất. Giai cấp quý tộc địa chủ mất dần ưu thế xã hội. Các nhà tư sản công thương, tụ họp đông đảo trong các đô thị trù phú, dần dần trở thành phần tử chủ yếu của nền kinh tế dân tộc. Các vương triều phải ỷ cậy vào vàng bạc của tư sản để sắm vũ khí theo đuổi các cuộc chiến tranh luôn luôn xảy ra giữa nước này với nước khác. Giai cấp tư sản mỗi ngày một tăng thêm uy thế chính trị. Với cái đà ấy, nó tiến mạnh trên con đường tư bản chủ nghĩa. Tính chất cận đại của các xã hội Tây phương, căn bản, phát xuất ở sự chuyển mạnh sang tư bản chủ nghĩa của nền kinh tế, ở sự trưởng thành của giai cấp tư sản công thương nghiệp, do những khám phá hàng hải gây ra.
2) PHONG TRÀO VĂN HÓA PHỤC HƯNG
Đúng lúc giai cấp tư sản châu Âu lớn mạnh cần vũ trang tư tưởng để tự khẳng định đối lập với chế độ phong kiến về mọi phương diện thì các nhà học giả đại diện của nó phát hiện ra được nền văn hóa cổ Hy-lạp – La-mã. Họ khám phá ra, ở nền văn hóa cổ này, tinh thần duy lý chủ nghĩa (tôn trọng lý trí của con người), tư tưởng duy vật, tư tưởng dân chủ, óc tự do phê phán, óc khoa học, nhân sinh quan trần tục (đối lập với luân lý Gia tô giáo) và cá nhân chủ nghĩa. Họ đã phát triển những yếu tố ấy để tấn công những lực lượng phong kiến cản đường tiến lên của giai cấp tư sản. Họ chống uy quyền của Nhà Thờ, của Aristote và kinh viện học, của quân chủ độc tài, của các loại thần thánh áp chế con người. Họ là: Erasme, Pétrarque, Boccace, Budé, Rabelais, Montaigne, Descartes, Luther, Calvin, Locke, Bruno, Copernic, Galliéni, Thomas More, Newton, Bacon, Gassendi, Léonard de Vinci, Spinoza, Rembrandt, v.v… Họ tạo ra khoa học cận đại, tư tưởng cận đại, văn nghệ cận đại, chính trị cận đại, luân lý cận đại. Họ đề cao con người, đề cao lý trí, đề cao quyền công dân, đề cao thú sống khoái lạc, đề cao cá nhân. Họ thay đổi vũ trụ quan, nhân sinh quan, chính trị quan của người đương thời. Họ xây dựng một cách sống mới – cách sống cận đại. Họ khai sinh ra một con người mới – con người cận đại. Con người ngày, với những vũ khí tư tưởng ấy, đã làm ra phong trào Cải lương tôn giáo, làm cách mạng 1648, làm cách mạng 1688, làm cách mạng 1789, xây dựng và làm thắng chế độ tư bản chủ nghĩa.
Quá trình xuất hiện và trưởng thành của xã hội cận đại đẻ ra nội dung lịch sử và ý nghĩa cơ bản của khái niệm cận đại tính. Nói đến cận đại tính là nói đến sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa, sự lớn mạnh của giai cấp tư sản. Nói đến cận đại tính là nói đến tư tưởng duy lý, duy vật, tư tưởng dân chủ, luân lý cá nhân chủ nghĩa, khoa học thực nghiệm. Nói đến cận đại tính là nói đến sự nẩy nở đa dạng của một nền văn nghệ có chất «người» phong phú và phức tạp, cho phép phát huy cao độ mọi cá tính thiên tài, mọi khả năng sáng tạo, để thám hiểm vũ trụ, thám hiểm con người, thám hiểm xã hội.
II. XÃ HỘI VIỆT-NAM BẮT ĐẦU CÓ TÍNH CHẤT CẬN ĐẠI TỪ 1905
Xã hội cận đại là một phạm trù lịch sử có những đặc tính nhất định như đã trình bầy sơ lược ở trên. Xã hội Việt-nam khoảng 1858-1905 chưa có những đặc tính ấy. Cái mầm non của kinh tế tư bản chủ nghĩa và của giai cấp tư sản trong lòng xã hội phong kiến Việt-nam ba lần chớm nở (cuối thế kỷ XV, cuối thế kỷ XVII, cuối thế kỷ XVIII) thì ba lần đều bị chẹn lại vì những chính sách ức thương của các tập đoàn phong kiến thống trị, vì sự phá phách của ngoại xâm hay của nội chiến. Tuy rằng từ chặng nọ đến chặng kia, nó vẫn tiếp tục phát triển, nhưng nói chung, thì sự phát triển rất chậm chạp, ì ạch. Đặc biệt là ở chặng thứ ba, nó chưa đủ thời gian để lấy lại sức sau một thế kỷ nông dân khởi nghĩa và nội chiến thì lại bị ngay tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn kiềm chế chặt chẽ.
Từ bắt đầu nửa sau thế kỷ XIV, vì lo lắng về sự uy hiếp của thực dân Pháp, bọn vua quan nhà Nguyễn không thể săn sóc đến nông nghiệp như trước nữa. Đã thế còn sưu thuế mỗi ngày một nặng, nạn cường hào địa chủ cướp ruộng đất của nông dân mỗi ngày một phổ biến. Thêm vào đó, những sự mất mùa, ôn dịch, trộm cướp thường xuyên, quan lại ăn hối lộ, làm cho đời sống nông dân kiệt quệ. Sức tiêu thụ hàng hóa của nông thôn sút hẳn xuống, đà phát triển công thương nghiệp bị phá hoại tận gốc. Một mặt khác, chính sách bế quan tỏa cảng đã cắt đứt liên hệ của công thương trong nước với luồng mậu dịch quốc tế, hãm nền kinh tế hàng hóa nội địa vào tình trạng bế tắc. Ngoài ra, lại còn chế độ trưng tập công tượng khắc nghiệt khiến nhiều thợ khéo phải bỏ nghề; chế độ trưng dụng thuyền tư nhân để chở tiền, gạo, thuế của nhà Nước ở các tỉnh về kinh đô bắt buộc nhiều chủ thuyền phải đục thuyền để tránh phục dịch. Vì thế, công thương nghiệp bị đình đốn cả.
Khi thực dân Pháp chiếm Nam-bộ (1862) thì các tầng lớp công thương Việt-nam chỉ còn là một bộ phận còm cõi trong đời sống kinh tế dân tộc. Sự khai thác của tư bản thực dân Pháp về các nguồn lợi trong các vùng nhượng địa bị những cuộc kháng chiến của nhân dân Việt-nam làm cản trở rất nhiều. Các nhà công thương Việt-nam tuy hưởng lợi một phần nhỏ trong quá trình khai thác ấy nhưng vẫn là một lực lượng xã hội yếu ớt, chưa đủ điều kiện để hợp thành một giai cấp tự tại. Phải đợi đến lúc quân đội thực dân dẹp xong các cuộc khởi nghĩa văn thân, và toàn bộ nước Việt-nam thành hẳn thuộc địa của đế quốc Pháp, tác dụng của sự khai thác kinh tế và biến cải chính trị theo hướng tư bản chủ nghĩa (thuộc địa hóa) mới thay đổi sâu sắc cơ cấu xã hội Việt-nam. Tác dụng này trở nên quyết định dưới bàn tay sắt của viên Toàn quyền Paul Doumer.
«Năm năm làm Toàn quyền Đông dương (1897-1902)… Doumer đã tác động vào xứ này mạnh đến mức chúng ta có thể coi thời kỳ toàn quyền của ông ta mở đầu một giai đoạn mới của lịch sử dân tộc Việt-nam. Chính ông đã nâng chế độ thuộc địa từ trình độ kinh nghiệm «thủ công nghiệp» lên trình độ tổ chức có hệ thống. Chính ông đã xây dựng được cả một bộ máy kiên cố để bóc lột về tài chính và thống trị về chính trị; bộ máy này, trong thực tế, tồn tại nguyên vẹn đến tận 1945… Chế độ thuộc địa mà ông đã kiến thiết được sẽ biến cải triệt để sự hoạt động kinh tế và cấu tạo xã hội của Việt-nam». (Jean Chesneaux sách đã dẫn , trang 151,158).
Sau Doumer, hình thái xã hội của Việt-nam là hình thái thuộc địa nửa phong kiến. Quan hệ tư bản chủ nghĩa chiếm địa vị ưu thế trong nền sản xuất kinh tế nhưng mang nặng tính chất thuộc địa. Tuy ở thôn quê, thực dân Pháp vẫn hay duy trì những hình thức bóc lột phong kiến, nhưng thực tế đời sống của nông thôn đã bị lọt vào phạm vi ảnh hưởng của tư bản tài phiệt Pháp (Nhà Băng Đông-dương); thành thị, hầm mỏ, xí nghiệp tư bản chủ nghĩa thu hút nông dân mỗi ngày một nhiều. Chương trình cầu đường của Paul Doumer thực hiện đã làm cho sự giao thông giữa các tỉnh được dễ dàng tiện lợi. Toàn cõi Việt-nam biến thành một thị trường duy nhất. Bằng tầu thủy, xe lửa, ô tô, xe điện, người và hàng hóa lưu chuyển từ địa phương này đến địa phương khác, nhanh chóng, gây nên một sinh hoạt kinh tế cộng đồng cận đại.
Sự biến đổi trong cơ cấu kinh tế đã làm nẩy ra một tập hợp mới về giai cấp. Một tầng lớp đại điền chủ mới, một tầng lớp quan liêu tư sản tôi tớ trực tiếp của chính phủ thực dân, một tầng lớp tiểu tư sản thành thị (chủ yếu là những nhà thủ công nghệ, buôn bán trung lưu và những viên chức bậc dưới), mầm mống của giai cấp công nhân, hình phôi thai của giai cấp tư sản dân tộc, dân nghèo thành thị: đó là những nhân tố mới xuất hiện trong lòng xã hội Việt-nam sau 1905 bên cạnh những thành phần cũ như: nông dân, địa chủ, cường hào, quan lại phong kiến, thủ công nghiệp gia đình nông thôn, tiểu thương nghèo – tất cả đều thuộc quyền thống trị của thực dân Pháp.
Chế độ chính trị ở Việt-nam, sau 1905, cũng khoác những hình thức mới, cận đại. Chủ quyền thực sự nằm trong tay bọn Toàn quyền, Thống đốc, Khâm sứ, Thống sứ, Công sứ và các công chức thực dân cao cấp. Để phục vụ quyền lợi của tư bản tài phiệt Pháp, cả một bộ máy cai trị chuyên môn đàn áp, khủng bố, được dựng lên có hệ thống tính chặt chẽ. Những hội đồng tư vấn, hội đồng hàng tỉnh, tuy thực chất vẫn chỉ là những công cụ thống trị của thực dân Pháp, cũng khiến nhân dân Việt-nam bước đầu biết đến những hình thức dân chủ tư sản tối thiểu của sự quản trị quốc gia, và gieo mầm ý thức về quyền công dân (quyền bầu cử, quyền đại biểu nhân dân, quyền góp ý kiến về việc nước…) Những quan hệ chính trị cũ: vua-tôi, vua-dân, quan-dân nhòa hẳn đi, nhường chỗ cho một quan hệ mới bao trùm toàn bộ đời sống chính trị: quan hệ giữa nhân dân Việt-nam bị đô hộ với thực dân Pháp đô hộ và bè lũ tay sai. Ở con mắt dân Việt-nam, vua quan chỉ còn là những đầy tớ ăn lương của chính phủ thực dân.
Về văn hóa, giáo dục, từ sau 1905, cũng có những sự thay đổi quyết định. Năm 1906, toàn quyền Beau đặt Hội đông cải cách Học vụ (Bắc bộ); năm 1908, ở Trung bộ, cũng có sự cải cách về việc học tương tự. Tuy vẫn giữ lại chữ Hán trong các bậc học, nhưng chữ quốc ngữ và chữ Pháp đã chiếm ưu thế trong chương trình từ tiểu học trở lên. Theo cuộc cải cách đó, hương thí, hội thí, đình thí có cả những đề thi chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Beau lại lập ra cả một trường Đại học Đông dương ở Hà-nội, dạy một ít kiến thức căn bản về khoa học, văn học cho thanh niên Việt-nam. Nội dung của sự học không còn là những Tứ thư Ngũ kinh như trước, mà là những số học, kỷ hà học, địa lý, cách tri, lịch sử và văn học Pháp. Hiện tượng: «ông Nhè ông cử cũng nằm co» và «vứt bút lông đi giắt bút chì» (Tú Xương) đánh dấu sự sụp đổ của nền giáo dục cũ. Thanh niên cắp sách đến trường bắt đầu làm quen với một thế giới trí thức cận đại nối họ vào trào lưu tiến bộ của các nước tiên tiến. Đầu óc họ dần dần đổi mới theo hướng ly dị với hệ thống tư tưởng phong kiến cố hữu. Tâm hồn họ bắt đầu cận đại hóa.
Tất cả những biến đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục nói trên đã khắc sâu vào xã hội và con người Việt-nam, từ 1905 trở đi, một cận đại tính khá rõ rệt. Cận đại tính này biểu lộ rõ nhất ở cách thức đấu tranh mới của dân tộc chống đế quốc Pháp, khác hẳn với thời kỳ trước 1905. Có người cho rằng những cuộc vận động, cách mạng của Duy Tân hội, vận động Đông du, vận động «hóa dân cường quốc» của Đông kinh nghĩa thục, vận động lập hội buôn khắp ba kỳ, khoảng 1905-1908, là do ảnh hưởng của sự du nhập tư tưởng Khang Lương, của sự thắng trận của Nhật trong chiến tranh Nga Nhật. Điều này có thực, nhưng không phải là động lực cơ bản làm nẩy ra những phong trào tranh đấu kia. Sở dĩ những biến cố ở nước ngoài ảnh hưởng được tới nước ta là bởi bản thân xã hội Việt-nam đã sản sinh ra những điều kiện để tiếp thu và vận dụng ảnh hưởng ấy. Những điều kiện đó là: sự chuyển biến của nền kinh tế Việt-nam từ phương thức phong kiến sang phương thức tư bản chủ nghĩa (mặc dầu mang nặng tính chất thuộc địa), sự thành hình phôi thai của giai cấp tư sản dân tộc Việt-nam, sự chèn ép của tư bản thực dân đối với đà phát triển của công thương nghiệp bản xứ được nền kinh tế mới kích thích mạnh, sự truy cầu giải phóng của toàn dân Việt-nam không chịu làm nô lệ cho đế quốc Pháp, sự khổ cực của các tầng lớp lao động bị bóc lột thậm tệ bằng sưu cao thuế nặng của chính sách Doumer, sự khao khát học tập của tri thức Việt-nam bị bọn thống trị kìm hãm chặt chẽ – tóm lại, sự cận đại hóa của xã hội Việt-nam.
Ý thức hệ nền tảng của tất cả những phong trào Duy Tân, Đông du, Đông kinh nghĩa thục, Quốc dân hiệp thương xã là ý thức hệ tư sản. Không kể đến Phan Chu Trinh, Đông kinh nghĩa thục, phong trào lập hội buôn, rõ rệt là biểu hiện chính trị và xã hội của ý thức hệ tư sản dân chủ, ngay cả Phan Bội Châu mà nhiều người cho là có đầu óc tôn quân cũng đã tuyên truyền tư tưởng tư sản ngay sau khi ra ngoại quốc để mưu cầu viện trợ binh khí cho Duy Tân hội. Trong Hải ngoại huyết thư của cụ từ Nhật gửi về nước (1907) đã có những câu:
« Nghìn muôn ức triệu người chung góp
Gây dựng nên sự nghiệp nước nhà
Người dân ta, của dân ta
Dân là dân nước, nước là nước dân » .
Đó là một ý tưởng hoàn toàn trái nghịch với hệ thống tư tưởng phong kiến. Nhưng vì cụ theo đuổi con đường bạo động để đánh đuổi thực dân Pháp, do đó phải dựa trên sự đoàn kết của tất cả các hạng người trong xã hội, phải tập hợp thành đảng những chiến sĩ cần vương cũ có kinh nghiệm khởi nghĩa vũ trang, và phải trông cậy vào Nhật bản là một nước quân chủ lập hiến, cho nên cụ phải thể theo tình hình tư tưởng của các tầng lớp trên (quan lại, con em nhà quyền quý) của các đồng chí (cần vương cũ) và của nước bạn (Nhật) mà đề ra quân chủ lập hiến trong cương lĩnh của Duy tân hội. Chính cương lĩnh này đã làm cụ vướng chân từ 1907 đến 1911 trên con đường tiến tới tư tưởng dân chủ tư sản. Trong tập Tự phê phán, cụ đã nói rõ sự vướng mắc ấy:
«Tuy bị kế hoạch cũ ngăn trở lời lẽ chưa nói mạnh được, nhưng trong bụng đã chứa sẵn một động cơ thay đổi bắt đầu từ đó» .
Ít năm sau, lúc lập ra Việt-nam quang phục hội (1912), cụ là người đề xướng, bênh vực và làm thẳng tư tưởng dân chủ trong cuộc hội nghị sáng lập tại từ đường nhà Lưu vĩnh Phúc. Sự diễn biến tư tưởng của Phan Bội Châu và của đa số các đồng chí từ 1904 qua 1907 đến 1911 phản ánh trung thực sự phát triển của yếu tố tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế Việt-nam, sự lớn lên của giai cấp tư sản dân tộc và của các tầng lớp tiểu sản xuất.
Lénine có nói đến : « N hững biến đổi khách quan độc lập đối với ý chí không những của một số đ ả ng phái và nhóm người mà của cả một số giai cấp nữa» là như vậy.
«Chính những biến đổi khách quan ấy đã quyết định bề rộng và bề sâu của mỗi tình thế cách mạng cũng như quyết định cách đối phó của mọi giai cấp trước tình thế ấy». 79
Trong hoàn cảnh nước ta từ sau ngày 1905, ý chí độc lập là ý chí của toàn dân. Nhưng sự mong muốn độc lập này lại kết hợp một cách hữu cơ với sự mong muốn thiết lập chế độ dân chủ cộng hòa, với sự chiếm đoạt khoa học kỹ thuật và phương pháp kinh doanh Tây phương, với sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa, với sự giải phóng con người khỏi những ràng buộc phong kiến. Bởi vậy, ý chí độc lập dân tộc trong thời gian này thống nhất với đường lối tiến lên của giai cấp tư sản dân tộc và của những tầng lớp tiểu sản xuất ở quê cũng như ở tỉnh. Không thực hiện vận động giải phóng dân tộc trên cơ sở hiện tượng lịch sử ấy tất yếu sẽ thất bại. Sở dĩ những phong trào duy tân từ 1905 đến 1908 có được ít nhiều kết quả tích cực (mặc dầu bị đế quốc khủng bố) là vì đã tiến hành kết hợp với yêu cầu phát triển tư bản chủ nghĩa của kinh tế và xã hội Việt-nam, kết hợp với nguyện vọng của tư sản và tiểu tư sản Việt-nam đang nẩy nở. Cận đại tính của những phong trào đó biểu thị cận đại tính của xã hội Việt-nam sau 1905. Tính chất này, trước 1905, mới chỉ là một cái mầm rất nhỏ
III. VĂN HỌC CẬN ĐẠI VIỆT-NAM CŨNG CHỈ BẮT ĐẦU TỪ 1905
Ý thức hệ tư sản (tuy còn pha chất phong kiến) qua những tập Điều trần của Nguyễn Trường Tộ, đã có mặt trong khí hậu tư tưởng Việt-nam từ 1862. Tại sao suốt thời gian đó đến 1905 nó không có tác dụng gì đối với sự biến động tư tưởng và đổi mới văn học dân tộc? Tại sao dòng văn học chủ yếu của thời kỳ 1862-1905, về nội dung tư tưởng và tình cảm, vẫn nằm trong bốn bức tường của ý thức hệ phong kiến? Tại sao đến 1905 trở đi sự tác dụng ấy mới quyết định và rõ rệt? Có ba nguyên nhân chính:
1) XÃ HỘI VIỆT-NAM TỪ 1862 ĐẾN 1905 ĐANG CHUYỂN BIẾN CHẬM CHẠP SANG HÌNH THÁI TƯ BẢN CHỦ NGHĨA THUỘC ĐỊA
Cơ cấu kinh tế, đại bộ phận (Bắc bộ và Trung bộ) vẫn có tính chất phong kiến. Ngay ở Nam-bộ là đất đã nhượng cho Pháp, những cuộc đấu tranh kháng Pháp của nhân dân kéo dài mãi đến 1879 bắt buộc thực dân phải tập trung lực lượng vào công việc đánh dẹp, chưa được yên ổn mà khai thác các nguồn lợi chiếm được. Cuộc kháng chiến ở Trung và Bắc bộ từ 1873 đến 1897 cũng chặn bàn tay khai thác và bóc lột kinh tế của thực dân khá nhiều. Những quan hệ tư bản chủ nghĩa lấn bước những quan hệ phong kiến rất chậm chạp, và thường gặp sức kháng cự, vì quan hệ tư bản chủ nghĩa thống nhất với quan hệ bóc lột thuộc địa. Đến tận 1895, dân Pháp mới sơ bộ hoàn thành được công cuộc thám sát các xứ Đông-dương và xây dựng được một số đường giao thông bằng xe lửa, ô tô, tạo điều kiện cho sự lưu chuyển hàng hóa rộng rãi trong toàn xứ. Phải đợi đến Paul Doumer (1897-1902) với chính sách thuế khóa, chính sách trung ương tập quyền, chính sách kiến thiết bộ máy quan liêu mới, chính sách cầu đường, chính sách cướp ruộng của nông dân cho bọn Tây thuộc địa, chính sách vay lãi «mẫu quốc» làm giầu cho bọn tài phiệt cá mập Pháp, xã hội Việt-nam mới đổi hẳn cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa. Trên cơ sở này, ý thức hệ tư sản mới sinh hoa kết quả được sau 1905.
2) GIAI CẤP TƯ SẢN VIỆT-NAM ĐÃ THÀNH HÌNH TRONG QUÁ TRÌNH HỢP TÁC VỚI THỰC DÂN
Như đã nói ở chương trên, sau 1862, khối bình dân bị phân hóa. Các tầng lớp công thương nghiệp thị dân đề nghị cải cách chế độ và chủ hòa với Pháp không được các lực lượng phong kiến chủ chiến tán thành liền tách riêng ra khỏi cuộc kháng chiến cần vương. Họ hợp tác với chính phủ thực dân và dần dần phát triển. Các phần tử trí thức (nho sĩ) yêu nước và quảng đại quần chúng nông dân nhìn họ băng cặp mắt khinh ghét và căm thù. Mối liên lạc tinh thần giữa họ và đa số nhân dân bị cắt đứt. Ý thức hệ tư sản cũng bị các nhà nho miệt thị vì, xét theo hình thức, nó là của Tây phương (nghĩa là của thực dân xâm lược) và của những tầng lớp công thương thỏa hiệp với kẻ thù dân tộc. Năm 1876, trong kỳ thi đình ở Huế, giải đáp câu hỏi nêu ra làm đề thi: « Công cuộc duy tân có lợi cho Nhật bản không?» hầu hết sĩ tử đều cho rằng công cuộc duy tân không có lợi gì cho Nhật bản cả. Tư tưởng lạc hậu bảo thủ và óc quốc gia hẹp hòi của các nho sĩ lỗi thời đã bưng mắt họ không cho nhận thức được xu thế tiến hóa lịch sử của thời đại. Vì trong giai đoạn lịch sử 1862-1902 những người có khả năng sáng tác văn học (nho sĩ) thì quay lưng lại ý thức hệ tư sản mà những tầng lớp thấm nhuần ít nhiều ý thức hệ tư sản (công, thương) thì lại chưa thể sản sinh ra văn sĩ trong hàng ngũ họ, cho nên, nói chung, văn học 1862-1902 vẫn là tiếng nói của nông dân và của các nhà nho phong kiến yêu nước.
3) ĐẾN 1905, Ý THỨC HỆ TƯ SẢN MỚI LẠI GẶP ĐIỀU KIỆN ĐỂ KẾT HỢP VỚI Ý THỨC DÂN TỘC
Sau khi phong trào cần vương bị thất bại và cuối cùng tan rã, sau một thời gian công cuộc khai thác thuộc địa của đế quốc Pháp đã biến đổi căn bản cơ cấu xã hội Việt-nam, đến khoảng 1902-1905, xuất hiện hai sự trạng quan trọng:
- Toàn thể nhân dân, đặc biệt là các nhà trí thức, tiến đến ý thức hệ tư sản: mọi người đều nhận thấy muốn độc lập, hạnh phúc, phải duy tân chính trị và xã hội theo hướng cận đại hóa, không thể khư khư ôm mãi lấy chế độ phong kiến như cũ được.
- Giai cấp tư sản trở về với tinh thần dân tộc: các nhà công thương Việt-nam đều nhận thấy muốn duy tân chính trị, duy tân xã hội, đến mức độ thuận lợi cho sự phát triển tự do của bản thân họ, phải đuổi thực dân Pháp ra khỏi nước, giành lấy độc lập dân tộc.
Các nhà nho tiến bộ và yêu nước dinh dưỡng ý chí phản đế và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc bằng những chủ trương lập hội buôn, mở trường học, kêu gọi thanh niên xuất dương để học tập thuật phú quốc cường binh tư sản; các nhà công thương lập hội buôn nhưng sẵn sàng ủng hộ bằng tiền bạc cuộc vận động đấu tranh phản đế của Duy tân hội và gửi con em sang Nhật-bản theo tiếng hiệu triệu của Phan Bội Châu (tiêu biểu nhất là hội Minh Tâm công nghệ ở Nam-bộ của Gilbert Chiếu); nông dân Trung bộ biểu tình chống sưu thuế của thực dân (theo lời cổ vũ của Phan Bội Châu) đồng thời cầm kéo cắt tóc những người đi biểu tình để hưởng ứng chủ trương duy tân của Phan Chu Trinh và Đông kinh nghĩa thục (vụ chống thuế này vì thế mà còn gọi là «vụ đầu bào») 80 : các hiện tượng xã hội này chứng minh rằng toàn thể nhân dân Việt-nam, khoảng 1905-1908, đã nhẩy một bước vọt lịch sử về mặt giác ngộ chính trị, đã có ý thức về hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt-nam cận đại là phản phong và phản đế, đã bước vào những phương thức đấu tranh cận đại. Đó là miếng đất nuôi nấng trí sáng tạo văn học mới của dân tộc: trí sáng tạo cận đại.
IV. NỘI DUNG TƯ TƯỞNG VÀ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CỦA VĂN HỌC CẬN ĐẠI
Nội dung ý thức hệ của văn học cận đại Việt-nam, căn bản, là ý thức hệ tư sản. Ý thức hệ này chứa đựng nhiều nhân tố tiến bộ, như: tư tưởng dân chủ, dân tộc độc lập, tự do cá nhân chủ nghĩa, tinh thần duy lý khoa học, bình đẳng xã hội, quyền tư hữu tài sản, chế độ pháp trị. Nhưng đặc tính lịch sử của ý thức hệ tư sản Việt-nam từ ngày 1905 đến Cách mạng tháng Tám là: nó bao hàm cả tính chất cách mạng phản phong phản đế của giai cấp tư sản (vì nước ta là một nước thuộc địa nửa phong kiến) lẫn tính chất lạc hậu, suy đồi của giai cấp tư sản (vì tư sản Việt-nam luôn luôn sẵn sàng thỏa hiệp với đế quốc, phong kiến, và vì tư sản Việt-nam phát triển trong thời kỳ mạt vận của tư bản chủ nghĩa thế giới đã bị Cách mạng tháng mười Nga phá vỡ một mảng). Hai tính chất ấy song song tồn tại trong đời sống ý thức của giai cấp tư sản Việt-nam, nhất là từ sau đại chiến thế giới 1914-1918, và đã được phản ánh trong văn học cận đại.

Tập « Ẩm băng thất » của Lương khải Siêu được phổ biến cùng một lúc với « Dân ước luận » của Rousseau; bản dịch « Phương pháp luận » của Descartes đứng bên cạnh những bản dịch « Đại học, Trung dung, Luận ngữ » ; lúc một tờ nhật báo dịch đăng hàng ngày « Vạn pháp tỉnh lý » của Montesquieu cũng là lúc một thi sĩ dịch « Hồ tình » (Le lac) của Lamartine, « Bể khổ » (Océano nox) của V.Hugo; thanh niên trí thức buổi sáng đọc « Lỗ bỉnh sơn phiêu lưu ký » (bản dịch Robinson Cruõsé) buổi chiều bắt chước một nhân vật của « Tuyết hồng lệ sử » (Từ trẩm Á) khóc sướt mướt chôn những cánh hoa rơi ngoài vườn vắng; nam nữ học sinh hôm trước vừa say sưa với « Chiêu hồn nước » của Phạm Tất Đắc hôm sau đã ngậm ngùi với « Giọt lệ thu » của Tương phố hay « Linh phượng ký » của Đông Hồ; sách « Nho giáo » của Trần Trọng Kim lưu hành cạnh những bài « Luận lý học của Phan Khôi; nhà chính trị tư sản Nguyễn Phan Long sớm mai mở cửa sổ ngồi viết bài cho La Tribune indigène, tối khép cửa sổ ngồi gật gù tán thưởng thơ bói tiên của tín đồ đạo Cao đài. Văn thơ sặc mùi tư tưởng André gide, Bergson xuất bản cùng năm tháng với những tác phẩm văn chương đậm đà ảnh hưởng của E.Zola, Ma-xime Gorki. Khán giả trầm trồ khen ngợi « Lệ chi Viên » , « Kim tiền » của Vi Huyền Đắc cũng là khán giả vỗ tay ca tụng « Ghen » , « Mơ hoa » của Đoàn phú Tứ; Shakespeare, V. Hugo, Eugène Sue, Pearl Buck, Nietzche, Valéry, Bergson, Renan, Trang tử, Vương Dương minh… hòa điệu với nhau trên các bài nghị luận (báo chí) trong các sáng tác phẩm (thơ, tiểu thuyết, kịch, tùy bút), trong các sách nghiên cứu: tất cả tình trạng tư tưởng và tình cảm đầy mâu thuẫn ấy của văn học Việt-nam cận đại chỉ là ánh hồi quang của những mâu thuẫn nằm trong bản thân giai cấp tư sản do vị trí và thế lực của giai cấp này trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến quy định nghiệt ngã.
Trong chu vi của ý thức hệ tư sản ấy, sự hoạt động của những thế hệ nhà văn đại diện cho các tầng lớp trung lưu thành thị đã làm phát triển sâu sắc thêm nhiều khía cạnh đặc biệt của tự do cá nhân chủ nghĩa, tạo thành một nhân tố tâm lý tiểu tư sản trong nội dung văn học Việt-nam cận đại. Nhân tố này biểu hiện ra ở hai mặt: một mặt là sự khao khát sống một cuộc đời thực sự tự do, độc lập, bình đẳng, dân chủ, hợp lý, để phát triển tận độ cá tính con người trong khuôn khổ tiến hóa chung của xã hội (phản ánh nguyện vọng tha thiết nhất của các tầng lớp tiểu sản xuất muốn được hoàn toàn tự do phát triển trong công việc kinh dinh của họ); một mặt khác, là sự thất vọng, sự uất ức, sự chiến đấu bất lực, sự bại trận của con người cá nhân chủ nghĩa triệt để bị hoàn cảnh xã hội phũ phàng chà đạp, đè nén, giày vò, đẩy đến con đường tắc hậu, làm cho mỗi ngày một mòn mỏi tiêu hao chí khí và hạnh phúc (phản ánh tình trạng thực của các tầng lớp tiểu sản xuất trong chế độ thuộc địa nửa phong kiến, bị các thế lực kinh tế và chính trị của tư bản thực dân dồn vào thế bần cùng hóa dần dần, vô sản hóa dần dần, không đủ sức cưỡng lại được). Đó là cơ sở xã hội và tâm lý của những triết lý: đời là giấc mộng, đời là canh bạc, đời là bể khổ, và của những thái độ sống:
T ự diệt bằng trụy lạc, đạp lên đồng loại để sung sướng một mình, ái tình là cao quý nhất, làm trái ngược lại mọi người, xê dịch thường xuyên để đổi món ăn cho ngũ quan, phá phách vô mục đích, hành động phiêu lưu liều lĩnh…
Bao trùm tất cả những triết lý và thái độ tiêu cực ấy, là một mối buồn sâu thẳm, mênh mông, lạnh giá không có gì an ủi được. Đây không phải là cái buồn chinh phụ có đạo đức gia đình nâng đỡ (Đoàn Thị Điểm); không phải là cái buồn Nguyễn Du «đau đớn lòng» vì «những điều trông thấy» nhưng được cái «tâm» của Thiền tông phái làm cho dịu nhẹ một phần nào; không phải cái buồn Xuân Hương «trơ cái hồng nhan với nước non» hay «khối tình cọ mãi với non sông» nhưng vẫn tin tưởng «thân này đâu đã chịu già tom!»; không phải cái buồn Nguyễn Công Trứ «kiếp sau xin chớ làm người» mà vẫn đinh ninh «cơ thường đông hết hẳn sang xuân»; không phải cái buồn Thanh quan khắc khoải nhưng không quằn quại; không phải cái buồn Cao Bá Quát «một thầy, một cô, một chó cái» mà không rời ý chí «xoay bạch ốc lại lâu đài» ; không phải cái buồn Yên đổ sót sa nhưng trang nhã, cái buồn Tú Xương não ruột nhưng còn bật được ra tiếng cười hả giận. Đấy là một cái buồn trăm phần trăm cận đại, thuộc vào hệ thống những cái buồn Byron, Musset, Beaudelaire, Verlaine, cái buồn của những kiếp người mang sẵn trên trán dấu ấn của sự thất vọng tiền định, cái buồn của những kẻ chỉ còn biết lấy cô đơn, đau khổ và chết chóc làm sự thắng trận của cá nhân mình đứng trước cuộc đời tàn ác – cái buồn của các tầng lớp tiểu tư sản chết nghẹt trong xã hội tư bản, trong chế độ thuộc địa nửa phong kiến, thấy sự nghiệp và hạnh phúc của mình mỗi phút vỡ ra một mảnh không sao cứu vớt được, mà lại chưa được ánh sáng cách mạng của giai cấp công nhân soi đường chỉ lối.
«Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!»… « Gió hỡi gió! phong trần ta đã chán, cánh chim bằng chín vạn những chờ mong!»… từ buổi thi sĩ Tản Đà ngước mắt lên đỉnh núi Ba Vì ngao ngán cho kiếp mình lẹt đẹt, cất tiếng hát não nùng ai oán và uất kết trong những thơ văn Khối tình, Giấc mộng (1915-1917), cho đến đêm trước Cách mạng tháng Tám 1945 thi sĩ Vũ Hoàng Chương vò nát linh hồn mình trong cái hận sầu «túy hậu cuồng ngâm» và «đời tàn ngõ hẹp», qua những tâm trạng khi ủ ê, khi bàng hoàng, khi thê lương, khi khổ cực, khi hậm hực, khi cô đơn của những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Chế lan Viên, Hàn mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Lan Khai, Nguyễn Tuân, Xuân thu nhã tập, cái buồn tiểu tư sản cận đại Việt-nam đã đi hết một đường vòng lịch sử trọn vẹn. Cái buồn này, cũng như cái ý chí phá hoại vô chính phủ của các nhà văn tiêu biểu cho các tầng lớp tiểu tư sản, mặc dầu là một sức phản ứng tiêu cực đối với sức áp bách của xã hội thuộc địa nửa phong kiến, vẫn chỉ là một yếu tố của ý thức hệ tư sản Việt-nam khoảng 1905-1945. Tư tưởng tiểu tư sản, bất cứ ở hình thái nào, cũng không thoát được nanh vuốt của ý thức hệ tư sản nếu nó chưa nhập vào và tự phủ định một cách biện chứng trong ý thức hệ của giai cấp công nhân. Đại đa số các nhà văn tiểu tư sản Việt-nam khoảng 1905-1945 ở vào tình trạng không may mắn ấy – kể cả những nhà văn hiện thực chủ nghĩa. Do đó, tính chất tiến bộ của dòng văn học tiểu tư sản cận đại bị giới hạn khá nhiều.
Văn học của giai cấp tư sản và của các tầng lớp tiểu tư sản là đại bộ phận của văn học cận đại Việt-nam. Những tư tưởng ưu thế ngự trị trong đời sống văn học cận đại Việt-nam và chủ đạo các sáng tác phẩm văn học được hoan nghênh, từ 1905 đến 1945, đều thuộc phạm trù ý thức hệ tư sản, với tất cả những biến thái trăm hình nghìn vẻ của nó do chế độ thuộc địa nửa phong kiến đẻ ra. Đó là một phạm trù ý thức hệ cận đại, căn bản đối lập với ý thức hệ phong kiến.
Xét về hình thức nghệ thuật, văn học Việt-nam thời kỳ 1905-1945 cũng mang một cận đại tính rõ rệt khác hẳn những thời kỳ trước 1905. Trước hết, cơ cấu của đời sống văn học bị biến đổi triệt để. Những phương tiện vật chất mới để phổ biến văn học bắt đầu xuất hiện (nhà in, hiệu sách, nhà xuất bản, báo chí, diễn đàn, rạp hát…) Nhà văn chuyên nghiệp hoặc tự biến thành một nhà tiểu sản xuất độc lập (kiểu Tản Đà) hoặc thành một người bán lao động phẩm của mình cho nhà tư bản để sinh sống (trong trường hợp của đại đa số nhà văn). Công chúng văn học là những thị dân công thương, học sinh, viên chức, nghề nghiệp tự do (tư sản và tiểu tư sản) có xu hướng âu hóa về thẩm mỹ. Sự biến đổi đa diện này làm nẩy ra nhu cầu áp dụng những hình thức nghệ thuật văn học Tây phương vào công trình sáng tác. Chữ Hán, chữ Nôm nhường bước cho chữ quốc ngữ. Văn xuôi xuất hiện và chiếm địa vị chủ yếu trong văn học. Các loại văn mới (tiểu thuyết, phóng sự, kịch nói, phê bình, sử ký, phỏng vấn, bút chiến, tường thuật, thời đàm, nụ cười…) được vận dụng hoàn toàn theo quy thức tây phương và mỗi ngày một phát triển phức tạp. Cách bố cục, cách phô diễn, cách dùng chữ, cách hành văn thiên về tính phân tích, khúc chiết, gọn ghẽ, sáng sủa, tự nhiên. Đề liệu sáng tác phần lớn là những người, việc, cảnh ngộ, sự vật lấy trong đời sống hàng ngày của dân thành thị. Ngôn ngữ văn học nói chung mang nặng tính thành thị (tư sản).
Có thể nói: từ 1905 đến 1930, giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản thành thị đã xây dựng được một nền văn học mới, cận đại, theo khuôn mẫu văn học tư sản tây phương, về cả nội dung lẫn hình thức; từ 1930 đến 1945, họ đã phát triển đến cao độ nền văn học mới ấy và đạt được những thành tích quyết định. Quá trình cận đại hóa loại văn tự sự trên báo chí từ Đăng cổ tùng báo (1907) qua Thực nghiệp dân báo (1921), Đông tây (1930) Tin tức (1936) đến Tin mới (1945); quá trình cận đại hóa kịch từ sự phiên dịch Molière (1915) qua Vũ Đình Long (1921) Nguyễn Đình Nghị (1924), Vi Huyền Đắc, Nam Sương (1931) đến Đoàn phú Tứ (1938-1943); quá trình cận đại hóa tiểu thuyết từ Tản Đà (1917) qua Phạm Duy Tốn (1919), Hoàng Ngọc Phách (1925) Nguyễn Công Hoan (1930) Nhất Linh và Khải Hưng (1933) Vũ Trọng Phụng (1936-1939) đến Nguyễn Tuân (1940) Nam Cao (1945); quá trình cận đại hóa thi ca từ Khối tình con (1916) qua Trần Tuấn Khải (1921), Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Hàn mặc tử, Huy Cận đến Vũ Hoàng Chương, Tố Hữu; quá trình cận đại hóa loại phê bình nghiên cứu văn học từ Phan kế Bích, Phạm Quỳnh (1917, 1918) qua Thái Phi, Phan Khôi, Thiếu Sơn, Trần Thanh Mại đến Hoài Thanh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Bách Khoa (1940-1945) – tất cả đều liên tục tiến triển không ngừng và càng ngày càng hoàn chỉnh, làm cho nền văn học 1905-1945 thành một khối văn học khác hẳn với trước 1905 và cũng khác hẳn với sau 1945 – khối văn học cận đại, tư sản và tiểu tư sản.
Chủ trương để văn học cận đại Việt-nam bắt đầu từ 1858 và cắt ngang lưng nó lấy 1930 làm năm khởi thủy của văn học hiện đại là xúc phạm vào tính duy nhất hữu cơ của khối văn học 1905-1945, là ép buộc lịch sử văn học phụ thuộc máy móc vào lịch sử chính trị.
Chương BẨY
văn học hiện đại
I. VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT-NAM BẮT ĐẦU TỪ BAO GIỜ?
Có thuyết cho rằng văn học hiện đại Việt-nam bắt đầu từ 1930 là năm xuất hiện Đảng cộng sản Đông dương. Theo ý chúng tôi, thuyết này mắc vào khuyết điểm căn bản là không tính kể đến sự phát triển bản thân của văn học khi phân chia thời đại văn học sử. Đành rằng lịch sử văn học bị tính lịch sử chung của xã hội quy định, xét đến cùng; nhưng nó vẫn có một độc lập tính tương đối không thể phủ nhận được. Một biến động lớn trong cơ cấu kinh tế, chính trị của xã hội phải thông qua nhiều nhân tố môi giới phức tạp mới tác động được đến bản thân quá trình văn học. Không những nó phải qua một thời gian cần thiết mới đẻ ra được những tư tưởng phù hợp với nó làm yếu tố ý thức hệ chủ đạo cho sự sáng tác văn học khác với yếu tố ý thức hệ của thời trước; nó lại còn phải qua một thời gian lâu hơn nữa mới tạo ra được một lý tưởng thẩm mỹ, một nhu cầu nghệ thuật phù hợp với yếu tố ý thức hệ kia. Có biến đổi được nhu cầu nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ mới biến đổi được tính chất của văn học.
Một thời đại văn học này phân biệt được với một thời đại văn học trước hoặc sau nó là ở chỗ khác nhau của lý tưởng thẩm mỹ và của nhu cầu nghệ thuật. Lý tưởng và nhu cầu này, xét đến cùng, vẫn chỉ là phản ảnh tinh thần của một trạng thái kinh tế, chính trị, xã hội nhất định; nhưng nó là cái vòng cuối cùng của dây chuyền ảnh hưởng từ trạng thái kinh tế đến sáng tác và thưởng thức văn học; nó là môi giới tối hậu đem cái tác dụng quyết định của trạng thái kinh tế vào lĩnh vực văn học. Vả lại, trong lúc chịu sự quy định của trạng thái kinh tế mới, nó cũng vẫn duy trì một độc lập tính tương đối; nó còn kế thừa một truyền thống thẩm mỹ có trước nó, không dễ dàng và mau chóng vượt qua được. Trong các yếu tố tinh thần của con người (bất luận ở giai cấp nào) khiếu thẩm mỹ biến đổi chậm hơn cả. Phải đợi khi nào sự biến đổi kinh tế, chính trị làm biến đổi được, trong căn bản, phong tục và tâm lý một xã hội, một giai cấp, lúc đó khiếu thẩm mỹ của xã hội ấy, giai cấp ấy mới thật sự biến đổi. Bàn về bước đầu của văn học vô sản ở Liên-xô, nhà đại văn hào Ilya Ehrenbourg đã nhận xét rất đúng:
« Giai cấp vô sản chưa tự khẳng định thành một thế giới riêng có phong tục và tâm lý riêng của nó. Lao động và chiến đấu, giai cấp vô sản đã tỏ ra là anh dũng; nhưng khi giải trí trong những giờ nhàn rỗi, nó vẫn luẩn quẩn thích thú những kịch truyền kỳ và những khúc tình ca nhu cảm. Nó chưa có đủ thời giờ để sản sinh ra những nhà văn của nó khả dĩ có thể địch được với các nhà văn của Đệ tam đẳng cấp… Kinh nghiệm của chúng tôi chứng minh rằng sự sáng tạo ra một nền văn học của giai cấp mới là một công việc phức tạp, lâu dài. Không phải chỉ có tài năng và lòng hăm hở của nhà văn mà đủ; sự sáng tạo ấy còn do quá trình hình thành của xã hội mới quyết định nữa» . 81
Một giai cấp đã thế, một thời đại cũng vậy. Không phải một biến động kinh tế đơn thuần, một sự kiện chính trị đơn thuần (mặc dầu quan trọng đến mức nào) có thể tức khắc biến đổi được phong tục và tâm lý một thời đại, một xã hội. Mà chưa có sự biến đổi sâu sắc này thì văn học thuộc quyền chỉ đạo của lý tưởng thẩm mỹ cũ nghĩa là vẫn chưa mang tính chất của thời đại mới.
Từ thời cận đại chuyển sang thời hiện đại, xã hội mang một tính chất mới hẳn, ở mọi lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần. Đứng về mặt lịch sử tiến hóa nói chung thì thời hiện đại bắt đầu từ Cách mạng tháng mười Nga, 1917. Có thể nói gọn một câu: thời hiện đại là thời của cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới bắt đầu thắng lợi và càng ngày càng thắng lợi trong điều kiện đế quốc chủ nghĩa – giai đoạn chót của chế độ tư bản – bắt đầu tan rã và càng ngày càng tan rã. Sự có mặt và tồn tại của chế độ Xô viết ở một phần sáu trái đất đã quyết định toàn bộ phương hướng và cách thức hoạt động (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội) của đế quốc chủ nghĩa, đồng thời quyết định phương hướng và cách thức tiến hành đấu tranh chống đế quốc chủ nghĩa của toàn bộ phong trào vô sản thế giới liên minh với phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa. Chủ tịch Mao Trạch Đông đã viết:
«Có hai loại cách mạng thế giới. Loại thứ nhất là cách mạng thế giới thuộc phạm trù của tư bản chủ nghĩa và giai cấp tư sản. Thời đại của loại cách mạng thế giới này… cáo chung vào lúc chiến tranh đế quốc chủ nghĩa bùng nổ năm 1914 và nhất là với thời cách mạng Tháng Mười Nga 1917. Từ đó về sau, đã mở đầu cho loại cách mạng thế giới thứ hai, tức là cách mạng thế giới xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản… Bất cứ giai cấp nào ở trong dân tộc bị áp bức, bất cứ đảng phái hoặc cá nhân nào mà tham gia các mạng, và bất cứ họ có ý thức hay không, chủ quan họ có thấu hiểu hay không, quý hồ là họ phản đối đế quốc chủ nghĩa, thì cuộc cách mạng của họ đã biến thành một bộ phận cách mạng thế giới xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản. Họ đã trở thành quân đồng minh trong cách mạng thế giới xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản ». (Luận về chủ nghĩa Tân dân chủ)
Dựa theo nhận định này, các nhà văn học sử Trung-quốc đã lấy Ngũ tứ vận động (1919) làm năm mở đầu của thời hiện đại trong lịch sử văn học Trung-quốc, mặc dầu lúc đó chưa xuất hiện Đảng cộng sản.
«Phong trào Ngũ tứ phát sinh dưới sự hiệu triệu của cách mạng thế giới trong thời đó, dưới sự hiệu triệu của cách mạng Nga, dưới sự hiệu triệu của Lê-nin» (Mao Trạch Đông: sách đã dẫn)
Các nhà văn học sử Trung-quốc đã mặc nhiên thừa nhận rằng:
« T ính chất hiện đại không gì khác hơn là tính chất cách mạng xã hội chủ nghĩa, biểu hiện ra ở tính chất ưu việt của chủ nghĩa Marx-Lénine do giai cấp vô sản thực hiện thắng lợi thông qua Đảng tiền phong của nó, trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa » .
Tuy nhiên, cũng cần phân biệt mặt khách quan và mặt chủ quan của phong trào cách mạng ở từng nước một. Không phải vì thuộc vào phạm trù cách mạng thế giới xã hội chủ nghĩa xét theo khách quan mà một phong trào cách mạng, ở một nước, đã chủ quan có tính chất cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nói khác đi, nằm trong thời hiện đại (hiểu theo nghĩa: thời của cách mạng thế giới xã hội chủ nghĩa) một phong trào cách mạng không hẳn là đã có hiện đại tính (hiểu theo nghĩa: tính chất cách mạng xã hội chủ nghĩa). Một phong trào có hiện đại tính là một phong trào trong đó bộ phận lãnh đạo (Đảng), giai cấp vô sản cũng như quảng đại quần chúng cách mạng đã có ý thức cách mạng xã hội chủ nghĩa và tiến hành đấu tranh dưới ngọn cờ Marx-Lénine để thực hiện những nhiệm vụ xã hội chủ nghĩa. Một xã hội có hiện đại tính là một xã hội trong đó tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các lực lượng các mạng xã hội chủ nghĩa đã đạt tới địa vị ưu thế (nếu chưa thắng lợi) khả dĩ bắt buộc các sức mạnh phản tiến bộ phải liên tục đối phó từng giờ từng phút một cách toàn diện và phải nhượng bộ ở một số điểm quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa. Một văn học có hiện đại tính là một văn học trong đó tư tưởng mỹ học xã hội chủ nghĩa và các lực lượng sáng tạo xã hội chủ nghĩa đã đủ sức tấn công các tư tưởng và lực lượng phản tiến bộ, đã có thể đẻ ra những tác phẩm giá trị được quần chúng cách mạng hoan nghênh, ủng hộ, đã chiếm được một vị trí ưu thế tương đối (nếu chưa phải là bá chủ) và càng ngày càng lớn mạnh.
Thực ra, cái gọi là hiện đại tính (của mọi mặt sinh hoạt xã hội) chỉ có thể đạt được một phẩm chất và một diện mạo hoàn chỉnh ở một nước trong đó giai cấp vô sản đã nắm chính quyền và liên minh với giai cấp nông dân để xây dựng những quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa – như ở Nga sau Cách mạng tháng Mười. Căn cứ vào mức độ này để nhận xét thì ở Trung-quốc chẳng hạn, văn học hiện đại cũng chỉ mới thành hình từ sau khi đảng Cộng sản nắm chính quyền lập ra chế độ dân chủ nhân dân (1949). Điều này Lỗ Tấn đã nêu rõ trong một bài nói chuyện ở trường học quân quan Hoàng phố ngày 8-4-1927:
« …Ở Trung-quốc không có cả hai thứ văn học ấy – hát đưa linh đối với chế độ cũ, hát mừng đối với chế độ mới. Bởi vì Trung-quốc cách mạng còn chưa thành công 82 đang là thời kỳ giáp hạt, thiếu thốn bận rộn vì cách mạng. Thế nhưng thư văn học cũ vẫn còn nhiều; văn chương trên báo hầu hết là lối cũ. Tôi tưởng điều đó đủ thấy rằng cách mạng Trung-quốc đối với xã hội chưa có sự cải biến lớn… Xã hội Trung-quốc không có thay đổi, cho nên không có bài ai ca nhớ cũ cũng không có khúc tiến hành mới toanh. Chỉ có ở Nga xô đã sản sinh ra hai thứ văn học ấy. Những nhà văn học cũ của họ chạy trốn ra ngoại quốc, văn học của họ làm ra phần nhiều là lời ai ca viếng xưa khóc chết; còn văn học mới thì đang ra sức bươn tới, tác phẩm vĩ đại tuy chưa có chứ tác phẩm mới thì không ít chi; họ đã lìa khỏi thời kỳ gầm thét mà sang qua thời kỳ hát mừng. Ca tụng sự kiến thiết: ấy là ảnh hưởng sau khi cách mạng đã tiến hành; tình hình mai sau ra sao bây giờ chưa biết; nhưng cứ nghĩ mà xem, thấy chừng như là văn học bình dân thì phải, bởi vì cái thế giới của bình dân là kết quả của cách mạng.
« Hiện nay, Trung-quốc không có văn học bình dân mà trên thế giới cũng không có văn học bình dân… Các nhà văn học hiện nay đều là người đọc sách; nếu công nhân, nông dân không được giải phóng thì tư tưởng công nhân, nông dân vẫn là tư tưởng của người đọc sách; phải đợi đến khi công nhân, nông dân được giải phóng chân chính thì mới có văn học bình dân chân chính. Có những người nói: «Trung-quốc đã có văn học bình dân»; thực ra, nói thế không đúng… » 83
Thứ văn học mà Lỗ Tấn kêu bằng văn học bình dân chính là văn học xã hội chủ nghĩa của công nhân, nông dân và do những nhà văn xã hội chủ nghĩa sáng tác để phục vụ sự nghiệp cách mạng của công nông. Đó mới thực sự là văn học có hiện đại tính trọn vẹn, sản phẩm của cách mạng vô sản thắng lợi trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa suy sụp – giai đoạn hiện đại của lịch sử nhân loại.
Tuy vậy, trong thời kỳ «giáp hạt» của cách mạng vô sản, không phải là văn học hoàn toàn chưa thể có hiện đại tính. Văn học Trung-quốc từ Ngũ tứ vận động đến 1949 đã là một văn học có hiện đại tính. Vì hai lẽ sau đây:
a) Từ 1919, tư tưởng triết học và nghệ thuật của giai cấp công nhân quốc tế, thông qua ảnh hưởng của Cách mạng tháng mười Nga, đã xuất hiện trong giới văn nghệ Trung-quốc, đã tuyên chiến với những tư tưởng triết học, nghệ thuật phong kiến và đế quốc chủ nghĩa; sau 1919, cùng với thời gian, tư tưởng tiên tiến đó mỗi ngày một thâm nhập vào nghị luận, phê bình, sáng tác văn học. Được Đảng Cộng sản, quần chúng vô sản, các phần tử thanh niên trí thức tiến bộ nhiệt liệt ủng hộ và phổ biến sâu rộng, từ 1921 trở đi, tư tưởng và văn học tả phái dần dần trở nên ưu thế.

Các nhóm nhà văn tiến bộ: Tân thanh niên, Văn học nghiên cứu hội, Sáng tạo xã, với những báo chí bạch thoại chứa chan nhiệt tình và dũng khí đấu tranh như: Tân thanh niên, Sáng tạo quý san, Sáng tạo chu báo, Sáng tạo nguyệt san, Tiểu thuyết nguyệt báo, Trung-quốc Thanh niên (tạp chí này ra đời 1923 và do Đảng Cộng dản trực tiếp lãnh đạo), Ngữ ti… trong khoảng thời gian ngắn từ 1919 đến 1927, đã làm thắng một cuộc cách mạng văn học quyết định và đánh lui mọi lực lượng văn học lạc hậu, bảo thủ tập hợp trong các cơ quan ngôn luận thoái hóa như Học hành, Giáp dần tạp chí, Nỗ lực chu báo, Độc thư tạp chí, Quốc học quý san, Hiện đại bình luận, Thân báo…
Các nhà văn trung kiên của sự nghiệp cách mạng văn học ra công giới thiệu rộng rãi rất nhiều tác phẩm trứ danh của các nhà văn Nga, như Gorki, Lunatcharsky, Plékhanov, Ostrowski, Sérafimovick, Fadéev, Cholokov, Gogol, Tourguénev, Pouchkine, Dostoievsky, Léon Tolstoi, Tchékov. Lý luận mỹ học Mác-xít được vận dụng có sáng tạo trong những cuộc chiến đấu tư tưởng với phe bảo thủ, thoái hóa, và đã thu được nhiều thắng lợi căn bản. Kết quả lớn lao của quá trình đấu tranh văn học gay go này là sự thành lập T ả d ực tác gia liên minh năm 1930 dưới quyền chỉ đạo của Lỗ Tấn.


Từ sau 1930, văn học cách mạng xã hội chủ nghĩa, mặc dầu bị chính phủ phản động Quốc dân đảng khủng bố trắng trợn, càng ngày càng lớn mạnh không sức gì cản trở được. Năm 1931, trong một bài đăng ở báo Tân quần chúng (Mỹ), nhan đề: Hiện trạng giới văn nghệ của Trung-quốc tối tăm, Lỗ Tấn vị tướng chỉ huy mặt trận văn học cách mạng vô sản Trung-quốc đã có thể viết:
«Hiện nay ở Trung-quốc, vận động văn nghệ của cách mạng vô sản giai cấp thực ra là vận động văn nghệ có một. Vì đó là cái chồi mầm trong đồng hoang, ngoài đó ra, Trung-quốc không còn có văn nghệ nào khác nữa; gọi là «nhà văn nghệ» thuộc về giai cấp thống trị thì đã mục nát đến nỗi cả đến thứ tác phẩm kêu bằng «nghệ thuật vị nghệ thuật» cho đến «đổi phế» cũng không sản sinh ra được; hiện tại cái để mà chống lại văn nghệ tả dực, chỉ có đặt điều nói xấu, đè nén, bỏ tù và giết chóc; người để mà đối lập với tác giả tả dực cũng chỉ có lưu manh, mật thám, chó săn và đao phủ thủ… Văn nghệ tả dực có đại chúng độc giả cách mạng nâng chỗi, cái «tương lai» chính ở một phương diện ấy. Như thế, văn nghệ tả dực vẫn đang cứ lớn lên… Bọn tác gia tả dực đang cùng với vô sản bị đè nén, bị giết chóc, chịu chung một số mạng với nhau. Chỉ có văn nghệ tả dực cùng chung chịu nạn với đám vô sản ở hiện tại thì tương lai chắc chắn cùng chung nổi dậy với đám vô sản…»
Năm 1934, trong bài: Ma mãnh trên văn đàn Trung-quốc (in trong tập Thả giới đình tạp văn) Lỗ Tấn lại viết:
«…Máu của thanh niên cách mạng lại tưới cho cái mầm văn học cách mạng, về phương diện văn học, trở tăng thêm cách mạng tính hơn trước kia… Văn học cách mạng không hề l ay động, vẫn cứ phát đạt hơn lên… Sẽ có một đám chiến đấu tanh máu tiếp theo đây mà nổi lên».
Năm 1936, bốn tháng trước khi mất, Lỗ Tấn xác định một lần chót tính chất, nhiệm vụ và hiện trạng của văn học vô sản:
«Cái mà Tả dực tác gia liên minh lãnh đạo và chiến đấu năm sáu năm nay là cuộc vận động văn học cách mạng giai cấp vô sản. Thứ văn học và cuộc vận động ấy cứ phát triển mãi, đến bây giờ càng phát triển một cách cụ thể hơn, thực tế đấu tranh hơn, đến chỗ văn học đại chúng về chiến tranh cách mạng dân tộc. Văn học đại chúng về chiến tranh cách mạng dân tộc là một phát triển của văn học cách mạng vô sản giai cấp, là cái nội dung chân thật và quảng đại của văn học cách mạng ở thời giờ hiện tại. Thứ văn học ấy hiện nay đã cứ tồn tại rồi, lại còn sắp sẽ ở trên cơ sở ấy chịu thêm sự bồi dưỡng của sinh hoạt chiến đấu thực tế mà trổ ra những bông hoa rực rỡ…» (Bài: Nói về cuộc vận động văn học của chúng ta hiện nay)
Sau khi Lỗ Tấn chết, lời tiên tri đầy lạc quan cách mạng nay đã thành sự thật. Cùng với nhân dân Trung-quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, văn học đại chúng về chiến tranh cách mạng dân tộc đã thắng mọi lực lượng phản động cản đường nó, góp phần vào sự thành công vĩ đại của cách mạng Trung-quốc năm 1949, đưa đội quân tiền phong của giai cấp vô sản lên địa vị nắm chính quyền văn học Trung-quốc từ năm 1949 về sau chỉ là sự kế tục phát triển trực tiếp của văn học 1919-1949 trên một cơ sở thuận lợi hơn.
b) Từ 1919 trở về sau, tính chất, nhiệm vụ, diện mạo của văn học Trung-quốc biến đổi trong căn bản và bước vào một kỷ nguyên hoàn toàn mới: kỷ nguyên hiện đại. Văn học Trung-quốc, trong quá trình tiến triển của nó, đến 1919 nhẩy một bước vọt quyết đinh. Từ chủ trương «xô đổ nền văn học quý tộc, cổ điển cổ hủ, sơn lâm tối tăm, để xây dựng một nền văn học quốc dân, tả thực, xã hội» của Trần Độc Tú phát biểu trong bài Bàn về cách mạng văn học (tạp chí tân thanh niên, tháng 2-1917) qua bước tiến vượt bực của Quách Mạt Nhược, năm 1926 «…dòng trào lưu chính của văn nghệ phải đi vào bộ đội, vào nông dân, vào công xưởng…; nền văn học mà chúng ta đang yêu cầu là văn học tả thực theo tinh thần xã hội chủ nghĩa, nền văn học biểu đồng tình với giai cấp vô sản…» (bài Cách mạng và văn học) đến lập trường «văn học cách mạng về chiến tranh cách mạng dân tộc… là cái nội dung chân thật và quảng đại của văn học cách mạng vô sản giai cấp ở thời giờ hiện tại» của Lỗ Tấn (1936), nội dung của văn học Trung-quốc sau Ngũ tứ vận động mỗi ngày một tiến sâu vào ý thức hệ cách mạng xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung-quốc. Chống văn ngôn và đề xướng văn bạch thoại, chống lối thơ cổ và sáng tác thơ mới, chống các khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật, văn học không dính đến chính trị, văn học nhàn thích… và thẳng thắn tuyên truyền văn học cách mạng vô sản: các nhà văn tả phái, từ 1919 về sau, thắng hết trận này đến trận khác và đã tỏ ra một tinh thần chiến đấu quyết liệt, dũng cảm và không biết mỏi. Nhờ thế mà luồng tư tưởng cách mạng xã hội chủ nghĩa đã chiếm được địa vị ưu thế trong nền văn học Trung-quốc 1919-1949 lấn át và đè bẹp mọi thứ tư tưởng phong kiến, đế quốc chủ nghĩa, tư sản mại bản, cá nhân chủ nghĩa tiểu tư sản. Với những đợt đấu tranh liên tục của nó đối với các loại tư tưởng phản động và lạc hậu, với những thành tích rực rỡ nó đã thâu hoạch được trong các loại văn, thơ, tiểu thuyết, kịch, tạp văn, phê bình, sử ký, phiên dịch, với sự liên hệ mật thiết giữa nó và phong trào đấu tranh phản phong đế của giai cấp vô sản và của quảng đại nhân dân, với mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng lao động, giải phóng con người mà nó nhằm thực hiện, nền văn học Trung-quốc 1919-1949 xứng đáng là một nền văn học của thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa – một nền văn học hiện đại.
Ở Việt-nam, tình hình văn học từ 1930 đến 1945 không giống văn học Trung-quốc 1919-1949. Năm 1930 không có tính chất, ý nghĩa và tác dụng đối với văn học Việt-nam như năm 1919 đối với văn học Trung-quốc. Trái lại: văn học Việt-nam 1930-1945 chỉ kế tục phát triển trực tiếp văn học 1905-1930. Về nội dung và hình thức, văn học 1905-1930 và văn 1930-1945 cùng thuộc vào một phạm trù, một hệ thống – tư sản và tiểu tư sản. Có điều khác là trong văn học 1930-1945, tính chất tư sản và tiểu tư sản của tư tưởng , của chủ đề sáng tác, của tình cảm, của nhân vật hư cấu, của nghệ thuật biểu hiện, của ngữ ngôn và phép hành văn, rõ nét hơn, sâu sắc hơn , khẳng định hơn ở giai đoạn 1905-1930 (trong giai đoạn 1905-1930 tính chất ấy còn ở trạng thái đang hình thành). Nhưng đó chỉ là sự khác nhau của hai giai đoạn trong cùng một thời đại văn học chứ không phải sự khác nhau của hai thời đại văn học.
Về thi ca: những Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Hoàng Chương không phủ định Tản Đà, Trần Tuấn Khải; về tiểu thuyết: Khái hưng, Nhất Linh chỉ là sự phát triển của Song An, Hoàng Ngọc Phách; Mai trong Nửa chừng Xuân, Loan trong Đoạn tuyệt chỉ là Tố Tâm tư sản hóa hơn mà thôi; những tác phẩm hiện thực chủ nghĩa của những Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố… chỉ tiếp con đường của Phạm Duy Tồn, Kinh anh lệ sử; người hùng của Lê Văn Trương tiếp tục thể hiện triết lý khỏe sống yếu chết của Hậu Đình Hoa; về kịch: Vi Huyền Đắc tiếp tục Vũ Đình Long; về ngữ ngôn và cách phô diễn, các nhà văn 1930-1945 chỉ cải tiến thêm, cận đại hóa thêm một công cụ (quốc văn) đã được Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Khắc Hiếu, Phan Kế Bính, Phan Khôi, Phạm Duy Tốn, Vũ Đình Long, Trần Trọng Kim… rèn giũa thành hình rồi.
Tư tưởng, tình cảm, chủ đề, nhân vật, ngữ ngôn, bút pháp, không một nhân tố nào của văn học 1930-1945 mà không có tính chất tư sản, tiểu tư sản. Đại bộ phận văn học 1930-1945 là văn học tư sản và tiểu tư sản. Những tác phẩm văn học có giá trị nhất được hoan nghênh nhất trong giai đoạn 1930-1945 đều là những tác phẩm thuộc phạm trù tư tưởng và nghệ thuật tư sản, tiểu tư sản. Những cuộc đấu tranh văn học quan hệ mật thiết và trực tiếp đến sự sáng tác là: đấu tranh giữa phái thơ mới (tiểu tư sản) với phái thơ cũ (phong kiến); đấu tranh giữa lãng mạn chủ nghĩa (tư sản) và hiện thực chủ nghĩa (tiểu tư sản), đấu tranh giữa xu hướng hành văn Hoàng tích Chu (tư sản) với xu hướng hành văn Hoàng Tăng Bị (phong kiến), đấu tranh giữa phái hiện thực phê phán (tiểu tư sản) với phái đạo đức giả (phong kiến và đế quốc chủ nghĩa). Trong những cuộc đấu tranh này, một thiểu số nhà bình luận duy vật (khoảng 1935-1940) chỉ mới góp ý kiến trợ lực cho khuynh hướng hiện thực phê phán và nhân cơ hội đó đưa ra chủ trương nghệ thuật vị nhân sinh để lôi cuốn cánh tả của tiểu tư sản vào con đường sáng tác phục vụ quảng đại quần chúng. Nhưng chủ trương đó cũng chưa có tác dụng gì mạnh mẽ đối với đường lối sáng tác văn học . Các nhà văn tiến bộ nhất lúc bấy giờ, như là Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố… cũng vẫn chưa có ý thức cách mạng xã hội chủ nghĩa. Sự sáng tác nói chung vẫn diễn ra trong bốn bức tường của ý thức hệ tư sản và tiểu tư sản tiến bộ.
Một trong những nguyên nhân của tình hình văn học trên đây là nhịp lên xuống qu á nhanh của phong trào cách mạng Việt-nam , đặc biệt từ 1930 đến 1945. Cao trào: 1930-1931, thoái trào 1932-1935; cao trào 1936-1939; thoái trào: 1940-1941; cao trào 1942-1945. Cao trào, thoái trào, cao trào, thoái trào kế tiếp nhau theo một nhịp điệu gấp gáp. Không lần nào, Đảng Cộng sản Đông-dương có được thời gian cần thiết để tiến hành một cuộc vận động văn nghệ cách mạng xã hội chủ nghĩa lâu dài. Không lần nào, Đảng đủ điều kiện khách quan để trực tiếp chủ trương lâu dài một cơ quan nghị luận và phê bình văn học tuyên truyền sâu rộng ý thức hệ vô sản giai cấp trong lãnh vực mỹ học. Trong một hoàn cảnh như vậy, Đảng và cả một số nhà văn có thiện chí cách mạng không đủ cả thì giờ để phiên dịch, phổ biến những tác phẩm văn học xã hội chủ nghĩa Nga như các nhà văn tiến bộ Trung-quốc đã làm sau 1919. Do đó, các nhà văn cánh tả của tầng lớp tiểu tư sản, như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, được phong trào quần chúng đấu tranh hun đúc chí phấn đấu, cũng chỉ tăng thêm được dũng khí tố cáo xã hội, mài sắc thêm được nhãn quan hiện thực phê phán chứ không sao đạt tới được một giác ngộ cách mạng xã hội chủ nghĩa để dựa vào đấy mà sáng tác.
Đó chính là điểm khác nhau giữa hoàn cảnh Trung-quốc 1919-1949 và hoàn cảnh Việt-nam 1930-1945, quan hệ với công cuộc xây nền đắp móng cho một văn học cách mạng vô sản. Bởi vậy, văn học Trung-quốc, bắt đầu từ Ngũ tứ vận động (1919) đã bước vào thời hiện đại và mang tính chất hiện đại, mà văn học Việt-nam thì đến tận đêm trước Cách mạng tháng Tám 1945, căn bản, vẫn là một văn học cận đại, tiếng nói của tư sản và tiểu tư sản. Phải đợi đến Cách mạng tháng Tám thành công, văn học Việt-nam mới gặp đủ điều kiện lịch sử để xuất hiện. Ngày chủ tịch Hồ chí Minh tuyên bố nền độc lập của nước Việt-nam dân chủ cộng hòa (2-9-1945) cũng là ngày khai sinh của văn học Việt-nam hiện đại.
II. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA VĂN HỌC HIỆN ĐẠI VIỆT - NAM
Mặc dầu tư tưởng và phương pháp duy vật đã được áp dụng vào một vài công trình nghiên cứu và lý luận văn học từ 1940-1945 (Kinh Thi Việt-nam của Trương Tửu, Văn học khái luận của Đặng Thai Mai, Nguyễn Du và Truyện Kiều, Nguyễn Công Trứ của Nguyễn Bách Khoa…); mặc dầu trong báo chí bí mật, Đảng Cộng sản Đông-dương đã đưa ra một Đề cương văn hóa, dân tộc, khoa học, đại chúng từ 1943; mặc dầu thi sĩ Tố Hữu, nhà tiểu thuyết Nguyên Hồng đã sáng tác được ít nhiều thơ, truyện ngắn, ca dao cổ động cách mạng theo hướng văn học vô sản giai cấp (nhất là từ sau 1943 đến Tổng khởi nghĩa); mặc dầu đã có mầm mống ấy trong giai đoạn tiền khởi nghĩa, văn học hiện đại Việt-nam cũng phải đợi đến sau tháng Tám 1945 mới gặp điều kiện để hình thành. Ngày nay, nhìn lại mười năm văn học kháng chiến (1945-1954) ta đã có thể nhận thấy rõ ràng:
Cách mạng tháng Tám mở đầu một thời đại hoàn toàn mới trong lịch sử văn học dân tộc. Về mọi phương diện: đời sống văn học, lý tưởng nghệ thuật, khiếu thẩm mỹ, sáng tác và phê bình, chủ đề, nhân vật, ngữ ngôn, cách hành văn… văn học 1945-1954 đã chứa đựng những nhân tố hiện đại mà trước tháng Tám 1945 nó chưa thể có được.
Những nhân tố đó là:
1) LẬP TRƯỜNG VĂN HỌC CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Ngay từ ngày đầu thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, đường lối văn học: dân tộc, khoa học, đại chúng đã được phổ biến rộng rãi trong toàn thế giới văn học và nghệ thuật. Có thể nói: đại đa số nhà văn nhiệt liệt hoan nghênh đường lối ấy. Vì rằng lập trường văn học tiểu tư sản, từ 1940 đến 1945, đã đưa sự sáng tác vào con đường bế tắc quằn quại không có lối thoát. Quay trở về dĩ vãng (như Nguyễn Công Hoan: tiểu thuyết Thanh đạm), luôn luôn đổi thực đơn cho giác quan bằng cách xê dịch thường xuyên (như Nguyễn Tuân), cầu khẩn thượng đế ban Lửa thiêng để sống có ý nghĩa (như Huy Cận), giãy giụa rên la đến hấp hối trong Mây, Say để mong được hủy diệt (như Vũ Hoàng Chương), co quắp trốn lui vào tháp ngà Đạo, Nhạc, Thơ của Xuân thu nhã tập (như Đoàn phú Tứ, Phạm Văn Hạnh…) đau khổ và điên cuồng chạy tìm sự sống trong cái chết (như kịch Ngã ba của Đoàn Phu Tứ), cố gắng nuôi nấng tinh thần bằng những nghĩa cử anh hùng ảo tưởng (như Vi Huyền Đắc trong Kinh Kha, Lệ chi Viên…) đốt hương ngồi lặng để hưởng thụ cái đẹp của Đoạn trường tân-thanh (như Hoài Thanh)… tất cả những thái độ nghệ thuật yếu đuối ấy, sản phẩm của một lập trường văn học cá nhân chủ nghĩa tiểu tư sản, cuối cùng, xô tất cả các nhà văn nói trên vào một lối tắc hậu. Ở đó chỉ có trụy lạc, đau khổ, chết mòn và mọi bi kịch thê thảm của tâm hồn.
Cách mạng tháng Tám đã kéo tất cả ra khỏi khu vực thẳm tối mù đó. Nương theo ngọn cờ đỏ sao vàng tung bay trong đám hào quang dân chủ cộng hòa, các nhà văn quằn quại kia, sau một cơn loạng choạng bỡ ngỡ nghẹn ngào, đã hưởng ứng lời hiệu triệu của Đảng marxiste léniniste trở về với dân tộc, với khoa học, với đại chúng, để khôi phục lẽ sống chính đáng của cho con người mình, cho nghệ thuật. Liền đó, những vấn đề mới, căn bản, của sáng tạo văn học, được các nhà văn nêu ra, thảo luận sôi nổi: viết để làm gì? viết cho ai? viết cái gì? viết thế nào? Chung quanh những vấn đề này, dần dần, các nhà văn nhận thức được tất cả cái sai lầm, thiếu sót của lý tưởng mỹ học tư sản và tiểu tư sản. Nếu như vì quy luật tâm lý «ngựa quen đường cũ» mà một số anh chị em nhà văn đôi khi còn lưu luyến những hình ảnh dịu dàng của thời văn học tiền cách mạng thì cuộc Kháng chiến toàn quốc anh dũng và khốc liệt đã kéo mạnh họ trở lại nhiệm vụ thần thánh hiện tại. Được thực tế đấu tranh hun đúc, được Đảng tiền phong dìu dắt, được quảng đại nhân dân công nông binh thôi thúc, các nhà văn đi kháng chiến đã cùng với thời gian mỗi ngày một tiến sâu vào ý thức hệ vô sản. Đến 1949, toàn thể nhà văn, trong một Hội nghị tranh luận ở Việt-bắc, đã nhất trí tán thành lấy hiện thực xã hội chủ nghĩa làm chủ trương căn bản trong sự sáng tác văn nghệ. Giới nhà văn đã thẳng thắn nối chặt vận mạng nghệ thuật vào vận mạng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Quá trình biến diễn tư tưởng trong bản thân họ, do cách mạng tháng Tám và Kháng chiến kích thích, đã gây ra trong tâm hồn họ một chuyển hướng quyết định – từ lập trường văn học tiểu tư sản chuyển sang lập trường của giai cấp công nhân, từ lập trường cá nhân chủ nghĩa chuyển sang lập trường xã hội chủ nghĩa Marx – Lénine. Từ sau 1949, giới nhà văn càng nỗ lực học tập lý luận Marx – Lénine, thâm nhập công nông binh, thực sự công tác và sáng tác để phục vụ cuộc kháng chiến vĩ đại của toàn dân dưới quyền lãnh đạo của Đảng tiền phong. Chủ quan ý thức của giới nhà văn đã tiến mỗi ngày một gần đến chỗ thống nhất với tính chất khách quan – cách mạng xã hội chủ nghĩa – của hướng tiến lịch sử trong thời hiện đại.
2) NHÀ VĂN THÂM NHẬP QUẦN CHÚNG, PHỤC VỤ CHÍNH TRỊ CÁCH MẠNG, THAM GIA CẢI TẠO XÃ HỘI
Cách mạng tháng Tám, và nhất là cuộc Kháng chiến trường kỳ đã thúc đẩy các nhà văn sống hòa hợp với nhân dân, chủ yếu là công, nông, binh. Với ý thức: sáng tác về công nông binh cho công nông binh thưởng thức để bồi dưỡng ý chí yêu nước thù giặc của công nông binh, họ hăm hở đi vào nông thôn, công xưởng, bộ đội để tìm hiểu đời sống, tâm lí, ngôn ngữ của những con người sản xuất và chiến đấu mà trước 1945 họ chưa bao giờ gần gũi. Đi vào nhân dân, đối với họ, không phải là «cưỡi ngựa xem hoa» một cách bàng quan hời hợt mà là thực sự công tác trong những cơ quan và tập thể công nông binh. Họ làm ca dao địch vận, làm kịch diệt dốt, làm truyện hô hào tăng gia sản xuất, ngay ở trong những cơ quan địch vận, bình dân học vụ, thôn xã. Họ đi chiến dịch với bộ đội, làm và ngâm thơ ngay trong các chiến hào để động viên tinh thần chiến đấu, viết và diễn chèo, kịch trên đường phục vụ của ngàn vạn dân công, sáng tác và huấn luyện nghệ thuật cho các mầm non văn nghệ trong các xưởng máy ẩn kín trong rừng sâu. Họ lấy công tác bồi dưỡng sáng tác và lấy sáng tác làm công tác phục vụ quần chúng. Họ hiểu rằng muốn nắm được thực tế để biểu hiện trong thơ, truyện, kịch, v.v… không gì tốt hơn là tham gia biến cải thực tế. Mà muốn tham gia biến cải thực tế thì phải chung sức với quần chúng công nông binh trong những hành động tập thể có tổ chức, có lãnh đạo, có kỷ luật.
Trong điều kiện của cuộc kháng chiến, hành động của quần chúng không bao giờ tách khỏi nhiệm vụ chính trị trước mắt, thiết thực. Cho nên các nhà văn muốn kết hợp với quần chúng để đấu tranh thế tất phải lấy nhiệm vụ chính trị trước mắt làm chủ đề sáng tác, lấy công việc thực hiện nhiệm vụ ấy làm cảm hứng văn học. Khẩu hiệu: phục vụ kịp thời, đối với nhà văn kháng chiến, là một yêu cầu khách quan của thực tế đấu tranh. Nó biểu thị sự đòi hỏi cấp bách của quần chúng đối với văn học. Các nhà văn kháng chiến đã đáp ứng sự đòi hỏi ấy một cách khẩn trương, dũng cảm. Nhà văn hào Trung-quốc Quách Mạt Nhược đã từng viết:
« …Khi quần chúng đông đảo chưa thể phát triển được cá tính của họ, chưa được sống tự do thì số ít giác ngộ trước thà hy sinh cá tính của mình, hy sinh tự do của mình để giành lại tự do và cá tính cho đại chúng còn hơn » .
Trong khói lửa kháng chiến, trước mũi súng tàn bạo của thực dân Pháp, các nhà văn Việt-nam cũng nghĩ như Quách Mạt Nhược và đã sống theo ý nghĩ ấy. Không những hy sinh cá tính và tự do, họ đã nghĩ có thể hy sinh cả tính mệnh cá nhân cho tiền đồ dân tộc. Trong thực tế, đã có anh chị em văn nghệ bị giặc tra tấn, tù đầy, bắn giết trong khi chấp hành nhiệm vụ trên các ngả đường kháng chiến. Trong tám năm gian lao chiến đấu với quần chúng dân tộc, nhà văn Việt-nam đã xứng đáng với Tổ quốc anh hùng.
«Lũ chúng ta lạc loài dăm bẩy đứa; bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh»: cái tâm trạng u ám đó của thi sĩ Vũ Hoàng Chương 1943 (và của một số khá đông văn sĩ, thi sĩ khác, trước Cách mạng tháng Tám) đã bị thiêu hủy trong ngọn lửa kháng chiến. Nhà văn, nhà thơ đã cố gắng trở thành những chiến sĩ sát cánh với toàn thể dân tộc xông lên hàng đầu bảo vệ quê hương, cố gắng trở thành những người bạn đồng chí thân yêu của quảng đại quần chúng, đồng cam cộng khổ với công nông binh. Cái thành quả quý giá nhất mà họ đã thu hoạch được trong cuộc sống mới này là đã tự chế ngự được những tập quán cá nhân chủ nghĩa cố hữu để phục tùng tổ chức, phục tùng lãnh đạo, phục tùng đa số. Trước kia, họ chỉ tuân theo kỷ luật của cá nhân họ. Nay, họ đã tuân theo kỷ luật của sự chiến đấu có lãnh đạo. Họ đã cố gắng phối hợp hai chữ kỷ luật của sự chiến đấu có lãnh đạo. Họ đã cố gắng phối hợp hai thứ kỷ luật ấy để phục vụ kháng chiến. Điều này chứng tỏ rằng họ đã quyết tâm ly khai với nhân sinh quan tư sản và tiểu tư sản. Đó là tiền đề cần thiết của sự giác ngộ xã hội chủ nghĩa.
3) BIỂU HIỆN CON NGƯỜI TÍCH CỰC ĐÃ THÀNH HÌNH TRONG KHÁNG CHIẾN
Lập trường tư tưởng đã biến đổi, đời sống đã biến đổi thì cách nhìn và bình giá thực tại cũng biến đổi theo. Quả vậy, xã hội, con người và cả đến thiên nhiên, trong văn học kháng chiến, đã hiện ra khác hẳn thời trước Cách mạng tháng Tám. Khung cảnh của sinh hoạt không còn là những khuê phòng, khách thính, ấp trại, hoa viên tư sản «kiểu Tự lực văn đoàn» hoặc những tiệm hút, lầu hồng, lữ điếm, chuyến tầu vô định tiểu tư sản «kiểu Thiếu quê hương». Nhân vật hư cấu không còn là những chàng Dũng, chàng Nguyễn, nàng Hiền, nàng Tuyết, cũng không còn là những Bà Phó Đoan, Xuân tóc đỏ, Typn, Joseph Thiết, v.v… Cảnh thiên nhiên không còn là ánh trăng ngọt ngào bao phủ hai mái tóc thơm nức nước hoa đắt tiền chụp vào nhau trên đê Cổ ngư phất phới những tà áo Lemur xanh vàng đỏ tím; không còn là trời mây bát ngát đầy thơ mộng của những hồ tình bể ái thấp thoáng bóng giang hồ lãng tử kỹ nữ cầm ca; không còn là những bình minh vàng khè ấn tượng của một đêm Chùa Đàn hay những hoàng hôn sám ngoét mầu thất vọng của một tình duyên Hiền-Vọi… Tất cả cái thế giới u uất, hắc ám, ảo tưởng ấy đã thành những đồ cổ trong viện bảo tàng văn học. Các nhà văn học kháng chiến, đứng vững hai chân trên mặt đất, nhìn thẳng vào cuộc đời sản xuất, học tập, đấu tranh của những con người gân guốc và giản dị đang làm ra lịch sử từng phút từng giờ trên đồng ruộng, trong xuởng máy, giữa bãi chiến trường, trong các trại giam của thực dân khát máu… Đó là những con người lấy cầy bừa giáo mác chống với súng bom máy bay xe tăng, lấy hai bàn tay chống với lụt, bão, hạn hán, lấy lòng yêu nước và chí căm thù chống với mọi gian lao, cám dỗ, nguy hiểm, sa ngã, lấy khí phách làm người chống với tiếng gọi quyến rũ của kiếp sống cầu an nô lệ, và lấy ý thức cách mạng chống thường xuyên với ngay những tàn tích thói hư tật xấu còn ẩn núp trong bản thân mình. Đó là những anh hùng mới của thời đại mới-những anh hùng hiện đại chỉ có thể xuất hiện trong cuộc kháng chiến thần thánh của một dân tộc quyết tâm phá vỡ mọi xiềng xích để giành độc lập, tự do, dân chủ và hạnh phúc.
Những con người mới ấy đã là đề liệu sáng tác chủ yếu của các nhà văn kháng chiến Việt-nam. Bà mẹ Việt-bắc chất phác, giầu tình thương và can đảm; em bé miền Nam châm lửa đốt mình để phá kho đạn của quân thù; anh chiến sĩ dũng cảm lấy thân mình lấp lỗ châu mai cho đồng đội hoàn thành nhiệm vụ; anh dân công cởi áo che cho súng đạn khỏi bị mưa rừng làm ẩm ướt; chị phụ nữ tả ngạn chịu cho giặc cắt tiết để bảo vệ cán bộ ẩn trốn dưới hầm bí mật trong nhà mình, chú thiếu nhi thông tin lao mình trong mưa đạn để đem chiến lệnh của ban chỉ huy cho các cánh quân đang tấn công đồn địch; ông lão lái đò Khu V tự ý đánh đắm con thuyền chở giặc qua sông để cứu thoát bộ đội cụ Hồ khỏi bị đánh úp; người lính chiến bị thương lấy kiếm tự chặt tay để đỡ vướng rồi xông vào bốt giặc làm tròn nghĩa vụ; người trí thức bị giặc bắt và tra tấn nhổ vào mặt chúng không chịu đầu hàng; người đảng viên Cộng sản dẫn đầu anh em vượt qua vòng lửa trùng trùng để chiếm kỳ được ngọn đồi chiến thuật; và còn ngàn vạn con người khác, anh hùng vô danh, âm thầm hy sinh cho cho chính nghĩa, coi Tổ quốc nặng như Thái sơn, coi thân mình nhẹ như lông hồng: bao nhiêu hình ảnh quang vinh ấy đã là đề tài của thơ, ca, vè, chèo, kịch nói, tuồng, vở cải lương, truyện ngắn, tiểu thuyết dài, phóng sự, tùy bút kháng chiến. Có thể nói: người anh hùng hiện đại đã là cốt tủy của toàn bộ công trình hư cấu văn học 1945-1954.
Cùng với những nhân vật tích cực ấy, hoàn cảnh xã hội và thiên nhiên đã lọt vào thế giới văn học kháng chiến với một tính chất và một hình dáng hoàn toàn mới. Những túp lều gianh nghèo nàn của bần cố nông, những hầm bí mật của cán bộ hoạt động trong lòng địch; những căn rừng thiếu ánh sáng rì rầm tiếng máy in, tiếng bễ lửa, tiếng giũa, tiếng tiện; những đường đồi núi hiểm trở ngoằn nghoèo, tiếng các đoàn ô tô chuyên chở vũ khí ra mặt trận; những lán dân công đột ngột mọc lên dưới các lùm cây rậm rạp; những sườn non tuyết phủ nhẹ in vết chân các đoàn quân lặng lẽ được lệnh đánh bất ngờ sau lưng địch đóng trên tầng đỉnh cao chót vót; những trụ sở của ủy ban xã, huyện; những cơ quan chuyên môn ; những lớp học bình dân lưu động; những hào lũy trận địa dây thép gai bao bọc; những quán trọ bên đường chật ních những người đeo lủng lẳng ba lô sắc cốt; những đấu trường hừng hực căm thù của bần cố nông đối với địa chủ cường hào gian ác; những vòng đai trắng chập chờn bóng du kích, dân công gánh thóc trong đêm tối; những chuyến đò , những dòng sông còn hằn dấu vết hành quân lúc mặt trời chưa thức giấc – và cả cái bầu không khí chung của đồng ruộng, của nhà máy, của trại binh, của đường thiên lý, của căm hờn và thống khoái của chết chóc và yêu đương, của thất bại và hy vọng… tất cả đã hiện lên trong văn học kháng chiến, khi đậm khi nhạt, khi trung thực khi chuệch choạc, tùy từng cảm hứng và tài năng sáng tác. Dù thành công hay chưa thành công, trong 10 năm kháng chiến, các nhà văn cũng đã nỗ lực chiếm hữu thực tại kháng chiến bằng sáng tạo nghệ thuật, ở những nét cốt yếu nhất, đẹp nhất.
4) SÁNG TÁC CHO QUẦN CHÚNG ĐỘC GIẢ CÁCH MẠNG
Trong công cuộc đổi mới văn học nói trên, phần đóng góp của quần chúng độc giả không phải là nhỏ. Cách mạng tháng Tám và kháng chiến đã tạo điều kiện cho quảng đại quần chúng xô đổ bức tường vàng son từ trước vẫn ngăn cản họ không cho đột nhập vào lâu đài văn học. Họ đã ùa vào và đem theo vào đó những phong vị mới, những khao khát mới, những yêu cầu mới và cả những sinh lực mới nữa. Từ đó, quảng đại quần chúng cách mạng trở thành độc giả chính yếu, khán giả chính yếu mà các nhà sáng tác phải thỏa mãn nếu không muốn văn chương của mình vô dụng. Một vở kịch diễn trên một bãi cỏ làng trước mắt hàng ngàn nông dân già, trẻ, trai, gái, thành công hay thất bại là hoàn toàn do quần chúng khán giả này quyết định. Họ sẽ không phê bình bằng lý luận văn học, không phê bình bằng cách viết thư góp ý kiến với kịch sĩ và diễn viên, họ sẽ phê bình bằng hai chân họ: nếu vở kịch không đáp ứng đúng sự ước ao của họ, họ sẽ bỏ ra về ồn ào. Kịch sĩ và diễn viên sẽ phải suy nghĩ nhiều về sự bỏ ra về ấy. Một bài thơ đem ngâm trong một buổi liên hoan bộ đội sẽ được đánh giá ngay tại chỗ một cách giản dị: những nét mặt chăm chú hay bàng quan, những cặp mắt say mê hay lạnh nhạt, những tràng vỗ tay nồng nhiệt hay xã giao… của quần chúng nghe thơ là những điều mà thi sĩ không thể không lưu ý đến. Một tập tiểu thuyết đem đọc cho anh chị em công nhân nghe trong câu lạc bộ sẽ được phê bình bằng mọi cách rất thô sơ nhưng rất chân thật: hoặc những cái ngáp ngắn ngáp dài, hoặc những tiếng xuýt xoa thích thú; hoặc thái độ ngẩn ngơ của người nghe thấy truyện đã hết mà lòng xúc động chưa hết; hoặc thái độ uể oải mong kẻ đọc truyện mau mau giở đến trang cuối cùng cho chóng xong để được «sang trò văn nghệ khác».

Ở một mức cao hơn, các bài bích báo, các thư góp ý, các lời nhận xét thẳng thắn gửi trực tiếp đến nhà sáng tác, các bài phê bình đề ra thắc mắc và nghi vấn… đã làm thành một áp lực của quần chúng cách mạng đối với quá trình sáng tác của anh chị em nhà văn kháng chiến. Trong lịch sử văn học nước nhà, chưa bao giờ công chúng độc giả lại ảnh hưởng quyết định đến nhà văn bằng thời kỳ kháng chiến vừa qua. Đây là một nhân tố mới của một thời đại mới, thời đại của quần chúng lao động đang sáng tạo ra lịch sử một cách có ý thức dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đội tham mưu sáng suốt của giai cấp công nhân xã hội chủ nghĩa. Trong thời đại mới này, người tết những vành hoa quang vinh trên đầu các nhà văn không còn là bọn vua chúa phong kiến hay đám độc giả tư sản cá nhân chủ nghĩa mà là quần chúng cần lao đang có nhiệm vụ chấm dứt thời tiền sử của nhân loại, đưa con người bước vào lịch sử chân chính của mình. Văn học kháng chiến Việt-nam đã được sáng tạo ra với sự góp sức quyết định của lực lượng xã hội cách mạng ấy.
Bốn nhân tố nói trên đây đã làm ra tất cả những đặc thù của văn học Việt-nam sau Cách mạng tháng Tám, và đã phân biệt hẳn nền văn học này với nền văn học trước 1945.
Văn học Việt-nam sau 1945, căn bản, thuộc vào một phạm trù tư tưởng nghệ thuật hoàn toàn đối lập với phạm trù tư sản, tiểu tư sản Văn học Việt-nam sau 1945 thuộc vào phạm trù ý thức hệ xã hội chủ nghĩa của giai cấp vô sản. Năm 1945 mở đầu thời hiện đại của lịch sử văn học Việt-nam.
Từ 1945 về sau, lịch sử văn học Việt-nam sẽ và chỉ phản ánh trung thành lịch sử thắng lợi từng bước của Cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo theo ngọn cờ chủ nghĩa Marx-Lénine .
TÓM TẮT PHẦN THỨ HAI
Trong các chương sách của Phần thứ hai này, chúng tôi đã phát biểu những ý kiến sau đây:
1) Vì những điều kiện đặc biệt của lịch sử dân tộc Việt-nam, suốt khoảng thời gian xây dựng nền tự chủ quốc gia và bước đầu của Nhà nước phong kiến tập quyền (thế kỷ XI – thế kỷ XIII) các nhà văn học chỉ vận dụng có Hán văn và Hán tự để trước tác; bộ phận văn học chữ Hán do người Việt soạn trong giai đoạn lịch sử này – ta thường kêu bằng văn học Hán Việt – mặc dầu không được trước tác bằng ngôn ngữ và văn tự dân tộc, vẫn là một thành phần của di sản văn học Việt-nam. Nó đã có tác dụng lớn đối với sự rèn luyện ý thức dân tộc. Nội dung tư tưởng tình cảm của nó, cũng như phần lớn các hình tượng văn học mà nó đã hư cấu, có một tính chất dân tộc rõ rệt. Tuy nhiên vì không vận dụng ngôn ngữ dân tộc, nó đã bị giới hạn rất nhiều về phương diện dân tộc tính. Bởi vậy nó chưa thực sự là một văn học dân tộc. Nhưng nó vẫn là một bộ phận khăng khít của văn học sử Việt-nam. Có thể nói thời kỳ 939-1284 là thời kỳ ưu thế tuyệt đối của văn học HánViệt.
2) Văn học dân gian là một văn học vô danh, do quần chúng sáng tác một cách tập thể và phổ biến bằng cách truyền khẩu. Đó là văn học ở hình thái tự nhiên «tuy thô sơ nhưng lại linh động nhất, phong phú nhất, căn bản nhất… nguồn gốc duy nhất vô cùng vô tận của văn học ở hình thái quan niệm» (Mao Trạch Đông).
Đại bộ phận văn học dân gian không có thời điểm tính minh bạch. Do đó, trong bộ lịch sử văn học Việt-nam, nên xếp văn học dân gian vào từng hình thái lịch sử xã hội của dân tộc. Tuy vậy, ở mỗi giai đoạn văn học sử, nếu có những tục ngữ ca dao, chuyện cổ… nào mang dấu vết cụ thể của lịch sử tính thì ta sẽ dùng những tài liệu hãn hữu ấy để soi sáng nền văn học gọt giũa đồng thời.
Không nên lẫn văn học dân gian với văn học bình dân. Khái niệm «văn học bình dân» nên hiểu theo nghĩa một tính chất – tính chất bình dân đối lập với tính chất quý tộc. Nó là tính chất nhân dân trong thời đại phong kiến. Có thể có một bài ca dao, một chuyện cổ tích ít bình dân tính hơn một tác phẩm cổ điển hữu danh hay khuyết danh. Có thể một áng văn do một tác giả ở giai cấp quý tộc làm ra mà lại thiếu bình dân tính – nhân dân tính – hơn một áng văn do một tác giả xuất thân ở một tầng lớp bình dân sáng tác ra.
3) Văn học cổ điển Việt-nam, khác với văn học cổ điển ở Tây phương, hình thành trong điều kiện xã hội phong kiến chưa có giai cấp tư sản. Những nhà văn cổ điển Việt-nam không phải là những nhà tri thức đại diện cho giai cấp tư sản mà lại xuất thân ở những tầng lớp nho sĩ quan liêu và nho sĩ bình dân. Nội dung tư tưởng của văn học cổ điển Việt-nam căn bản là sự kết hợp của những giá trị phong kiến tương đối chân chính với những giá trị bình dân chân chính (chủ yếu là thị dân tính) trên cơ sở một trạng thái phát triển tương đối cao của kinh tế hàng hóa đã bắt đầu có tính chất tư bản chủ nghĩa. Ngoài đặc điểm ấy, văn học cổ điển Việt-nam giống với văn học cổ điển Tây phương ở chỗ nó xuất hiện trong giai đoạn thành hình của dân tộc, và góp sức vào sự thành hình ấy. Nó biểu hiện tính thuần thục cao độ của ngôn ngữ văn học dân tộc, tính thống nhất cao độ của nội dung và hình thức, tính nhân đạo chủ nghĩa chống phong kiến, tính hiện thực và chiến đấu. Cũng như ở Tây phương, văn học cổ điển Việt-nam là kết tinh của cả một quá trình xây dựng và phát triển của văn học dân tộc song song với quá trình hình thành dân tộc.
Ở Việt-nam quá trình ấy diễn ra từ đầu thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII. Thời kỳ văn học này có thể gọi là thời văn học tiền cổ điển . Năm xuất hiện Chinh phụ ngâm (1745) mở đầu thời cổ điển của văn học Việt-nam. Thời này chia làm ba giai đoạn: một giai đoạn toàn thịnh của văn học cổ điển, từ 1745 đến 1820 (truyện Thúy Kiều kết thúc giai đoạn này); một giai đoạn suy nhược của văn học cổ điển, từ 1820 đến 1862 (Tự tình khúc của Cao Bá Nhạ kết thúc giai đoạn này); một giai đoạn văn học hậu cổ điển từ 1862 đến 1905.
4) Văn học cận đại Việt-nam xuất hiện với sự thành hình của xã hội Việt-nam cận đại, năm 1905. Đứng về mặt tính chất lịch sử mà xét thì xã hội Việt-nam cận đại chỉ là xã hội thuộc địa bán phong kiến. Quá trình biến hóa chung của xã hội Việt-nam từ 1905 đến 1945, căn bản, là quá trình biến hóa trong chu vi của chế độ thuộc địa bán phong kiến và do chế độ này quyết định. Cách mạng tháng Tám chấm dứt chế độ và quá trình ấy, mở ra một thời đại mới của lịch sử xã hội Việt-nam.
Ý thức hệ chủ yếu của văn học cận đại Việt-nam là ý thức hệ tư sản, tiểu tư sản. Lý tưởng thẩm mỹ, chủ đề sáng tác, nhân vật văn học, loại văn, ngữ ngôn, bút pháp cũng như các điều kiện hoạt động của nhà văn, thành phần các độc giả, đều mang tính chất tư sản và tiểu tư sản. Văn học cận đại Việt-nam, căn bản là tiếng nói của tư sản và tiểu tư sản trong chế độ thuộc địa bán phong kiến. Nó gồm hai giai đoạn lớn: từ 1905 đến 1930 là giai đoạn xây dựng nền móng của văn học tư sản và tiểu tư sản; từ 1930 đến 1945 là giai đoạn thịnh vượng và dần dần bế tắc của văn học tư sản, tiểu tư sản.
Trong thời văn học cận đại này, sự hoạt động cách mạng của Đảng Cộng sản Đông-dương và sự đấu tranh của quần chúng lao động (từ 1930 về sau) có tác dụng tăng cường tính phê phán tố cáo của khuynh hướng văn học hiện thực chủ nghĩa và tính chiến đấu dũng cảm chống chế độ thuộc địa bán phong kiến của các nhà văn tiểu tư sản tiến bộ. Vì không gặp điều kiện khách quan thuận lợi nên Đảng chưa thể tiến hành lâu dài và làm thắng được một cuộc vận động cách mạng văn học trên cơ sở ý thức hệ vô sản giai cấp. Văn học Việt-nam 1905-1945, tựu chung, vẫn là một văn học thuộc vào phạm trù tư tưởng và nghệ thuật tư sản và tiểu tư sản – một phạm trù cận đại.
5) Văn học hiện đại Việt-nam là một văn học xuất hiện trên cơ sở của chế độ dân chủ nhân dân thiết lập từ sau Cách mạng tháng Tám và được củng cố trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc (1945-1954). Đồng thời với quá trình biến đổi của xã hội Việt-nam, văn học kinh qua một biến đổi triệt để, quyết định. Cả hai (xã hội và văn học) đã nhập hẳn vào hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Những nhân tố mới phân biệt dứt khoát văn học sau Cách mạng tháng Tám với nền văn học trước Cách mạng tháng Tám là: ưu thế gần như tuyệt đối của lập trường tư tưởng văn nghệ vô sản giai cấp trong văn học; nhà văn thâm nhập quần chúng, phục vụ chính trị và tham gia cải tạo xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng tiền phong; sự biểu hiện những anh hùng hiện đại của dân tộc và cuộc sống mới của xã hội do quần chúng nhân dân sáng tạo ra; sự nẩy nở một quần chúng độc giả cách mạng ảnh hưởng càng ngày càng quyết định đến hướng phát triển của văn học. Đó là bốn nhân tố mà trước Cách mạng tháng Tám văn học Việt-nam chưa thể có được. Với bốn nhân tố ấy, văn học Việt-nam tự gắn chặt mình vào cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới của giai cấp vô sản, nội dung lịch sử cơ bản của thời hiệnđại.
Hà-nội, tháng Mười 1957
Notes
[1]- M. KAMMARI, Bài « Mấy vấn đề lý luận về hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc », Tạp chí Cộng sản, số 10 tháng 7-1956, Bản dịch quốc văn của Y.T (Tập san Đại học văn khoa, số 8, tháng 5-1957, Hà-nội).
[2]- Mar và Engels, « Ý thức hệ Đức », Jean Freville trích dịch trong cuốn «Marx-Engels: Sur la littérature et l’art» Editions Sociales, Paris, 1954.
[3]- Marx, Tựa cuốn « Góp phần phê phán kinh tế chính trị học ».
[4]- Plékhanov, « Les questions fondamentales du marxisme » .
[5]- Bài « Những vấn đề của văn học sử xô viết », Tạp chí Cộng sản số 12-1956 (Moscou), trích đăng trong tạp chí Nouvelle critique, số tháng 12-1956 (Paris).
[6]- Đoạn văn này trích trong mục « Lời bình » sau « Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông trào » ; chuyện này là một trong 20 chuyện của cuốn TRUYỀN KỲ MẠN LỤC, tác giả là Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI), bản dịch của Trúc Khê, Nhà xuất bản Tân Việt, 1952 (Sài-gòn).
[7]- Jean Fréville, Phần mở đầu tập Marx, Engels, « S ur la littérature et l’art », Editions sociales, Paris, 1954.
[8]- Trích trong cuốn Karx Marx, F.Engels: « S ur la littérature et l’art », Jean Fréville sưu tập và giới thiệu, Editions Sociales, Paris, 1954.
[9]- Phạm Đình Hổ, « Vũ trang tùy bút », Bản dịch của Đông Châu, đăng trong Tạp chí Nam phong, số tháng 10-1927.
[10]- Phạm Đình Hổ, « Vũ trang tùy bút », Bản dịch của Đông Châu, đăng trong Tạp chí Nam phong, số tháng 10-1927.
[11]- Phạm Đình Hổ, « Vũ trang tùy bút », Bản dịch của Đông Châu, đăng trong Tạp chí Nam phong, số tháng 10-1927.
[12]- Charles Navarre, « Les grands écrivains étrangers », Chương « Shakespeare » , trang 268-269, H. Didier xuất bản, Paris 1947.
[13]- Tạp chí « La nouvelle critique », số 42 (tháng giêng 1953).
[14]- Xem « L’Évolution humaine de l’ origines à nos jours » , tập IV, mục « La diffusion des idées » của Georges Renard và M. LaHy-Hollebecque, trang 539-560, Quillet xuất bản Paris, 1934.
[15]- Stefan Zweig, « Trois maitres », Grasset xuất bản, Paris 1949. Trang 41-43.
[16]- Lỗ Tấn, « Tuyển tập Tạp văn », Phan Khôi dịch, Văn nghệ xuất bản, Hà-nội, 1956.
[17]- K. Marx, « Le 18 Brumaire de Louis Bonaparte » (E.S).
[18]- Hội nghị mở rộng của Ban biên tập văn học sử Trung-quốc, tháng 11-1956, đề ra phương châm biên soạn văn học sử Trung-quốc, có một điểm quan trọng: « Phải nắm được những mâu thuẫn và theo sát những trào lưu đấu tranh trong quá trình phát triển văn học Trung-quốc ». (Xem tập san Văn sử địa, số 26, mục: Hoạt động văn sử địa quốc tế, Hà-nội (1957)).
[19]- Plékhanov, « L’art et la vie sociale » .
[20]- Plékhanov, « L’art et la vie sociale » .
[21]- Plékhanov, « L’art et la vie sociale » .
[22]- Quan điểm này của Georg Lukacz được trình bầy rải rác trong các cuốn sách: « Goethe et son é poque, Balzac et le r é alisme fran ç ais, Le réalisme russe et la littérat ur e mondiale du XIX siècle » . (Xem bài giới thiệu về Georg Lukacz của Joẽl Lefebre trong tạp chí La Pensée, số Mar-Avril 1954).
[23]- Trương Chính: Phần mở đầu tập 1 « Lược thảo lịch sử văn học Việt-nam, nhóm Lê Quí Đôn » hội biên, Xây dựng xuất bản, 1957.
[24]- Henri Lefebvre, « Contribution à l’esth é tique ». Editions Sociales, Paris, 1952.
[25]- Saint Beuve, « Profils et jugements litt é raires », Tập III, Tủ sách Larousse, 1927.
[26]- Xem những bài nói về tình hình văn học sử xô viết của:
- A. Ninov trong Littératournaïa Gazeia. Moscou tháng 8-1956.
- Vladimir Jdanov trong Littérature soviétique, Moscou 8-1956.
- Metchenco, Dementiev và Lomidze (Tạp chí Cộng sản số 12-1956, Mosscou), v.v…
[27]- Dẫn trong cuốn Goethe , «S a vie, son œuvre » của Witkop, nhà xuất bản F. Paillart, 1932.
[28]- Dẫn trong cuốn Goethe , «S a vie, son œuvre » của Witkop, nhà xuất bản F. Paillart, 1932.
[29]- Tạp chí Cộng sản, Bài: « Về vấn đề điển hình trong văn học và nghệ thuật », Bản dịch ra quốc văn của Cao xuân Huy, Tập san Đại học (Văn khoa) số 6-7-1956, Hà-nội.
[30]- Báo cáo « Những vấn đề hiện thời của văn học Đức » , đọc tại Đại Hội các nhà văn nước Cộng hòa dân chủ Đức ngày 10-1-1956, Joël Lefebvre dịch ra Pháp văn trong đặc san Nouvelle critique «Nước Cộng hòa dân chủ Đức», số tháng 3 – Tháng 4-1956.
[31]- Dẫn trong cuốn « Goethe » của Witkop.
[32]- Dẫn trong cuốn « Goethe » của Witkop.
[33]- Stefan Zweig, « Trois maitres: Dostoïevski, Balzac, Dickens » , Trang 239-240. Grasset, Paris, 1949.
[34]- «… Trong lãnh vực tâm lý người điên, Dostoïevski đã đi sâu hơn tất cả các nhà y học, luật học, hình pháp học, tâm bệnh học. Sau này, nhờ bao nhiêu thí nghiệm, mổ xẻ rất vất vả, khoa học mới khám phá ra được những hiện tượng thần giao cách cảm, thần kinh rối loạn, ảo giác, khủng hoảng tà dục; thì những hiện tượng ấy, nhờ có khiếu đồng cảm và thần nhỡn của kẻ đồng lõa, Dostoïevski đã miêu tả trước cả rồi. Những hiện tượng tinh thần, ông đã dõi theo nó đến tận biên giới của bệnh điên… đến tận bờ tội ác, và như vậy ông đã đi suốt qua những khu vực tâm hồn vô cùng và chưa ai biết đến… » (Stéfan Zweiz: sách đã dẫn )
[35]- I.Daniline, Maupassant, « Recherches soviétiques » số 6 (11-1956): «Littérature soviétiques», La Nouvelle critique xuất bản, Paris, 1956.
[36]- Biélinski, « Textes philosophiques choisis » , Moscou, 1951, trang 71.
[37]- Léon Robel dẫn trong bài « Analyse de Tolstoï » , La nouvelle critique, số Tháng bẩy – tháng tám 1957.
[38]- Stéfan Zweig: sách đã dẫn.
[39]- Sự tương hợp giữa lời nói và hình dáng, tâm trạng, ý nghĩa của vận mệnh nhân vật, trong lãnh vực mỹ thuật, là sự tương hợp giữa cảnh sống thực và nét, mầu, sắc, khối. Trong cuốn Lịch sử mỹ thuật (Nhà xuất bản G. Grès, Paris, 1921), đoạn bàn về Rembrandt, tác giả là ông Elie Faure có viết:
«Khi Rembrandt đã theo d õi cái giây tinh thần nối liền những hình thức vào nhau khi ông đã ngắm kỹ một bà mẹ khi cho con bú thì ẵm đứa bé như thế nào, bà mẹ ấy mặc áo cho con như thế nào, đứa nhỏ chập chững tập đi như thế nào, hai mái đầu nghiêng nghiêng vào nhau như thế nào khi chuyện trò tâm sự riêng hay khi thú tội, và tất cả những dáng điệu cốt yếu mà không ai chú ý nhìn, thì Rembrandt đã có thể đi từ nội tâm ra đến ngoại hình để tái tạo lại những hài hòa hình thức lớn mà chính ông có vẻ như là cũng không tự biết… Ông đã quan sát hàng trăm lần những con người đang cặm cụi làm một công việc, những thính giả đứng chung quanh một vị thầy, những người đứng xem và những trợ tá của một nhà giải phẫu; những người đàn bà quây lấy một sản phụ. Ông đã nhận thấy rằng khi người nào ở đúng chỗ mà việc của người ấy ấn định thì những khối tự nó an bài ra thành tổ chức theo một thế quân bình hoàn bị, thì ánh sáng chiếu đúng vào chỗ cần sáng và không chiếu vào chỗ không cần sáng, bởi vì cái chỗ cần sáng đó là chỗ có ích cho công việc đang tiến hành còn chỗ khác có thể tối mà không hại gì đến công việc… Bí quyết thực sự của cuộc sống là: Một dáng điệu chỉ đẹp khi nó đúng; và đối với một chân lý chức vụ sâu sắc, bao giờ cũng có một liên tục sâu sắc của vận động và khối đáp ứng lại».
[40]- Dẫn trong sách « Esth ét ique » của F. Challaye, Nhà xuất bản Fermand Nathau, Paris, 1929.
[41]- Jean Richard Bloch, « Naissance d’une culture », Rieder xuất bản, Paris, 1936.
[42]- Jean Richard Bloch: tài liệu đã dẫn.
[43]- Nguyễn Du « nhời quê góp nhặt dông dài » không phải là để một mình mình đọc mà là để một số người nào đó « mua vui cũng được một vài trống canh » . Sự khao khát mối thông cảm đồng tình của người người khác, ở Nguyễn Du lúc viết Đoạn trường tân thanh, đã được diễn ra vô cùng thống thiết trong hai câu thơ gần như tuyệt vọng của thi sĩ:
« Bất tri tam bách dư ni ê n hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố như? »
[44]- Từ đây trở xuống, chúng tôi gọi thứ văn học chữ Hán do người Việt-nam viết là văn học Hán Việt để cho đỡ dài dòng.
[45]- Tập san Văn Sử Địa số 5.
[46]- Lược thảo lịch sử văn học Việt-nam. Tập I. Xây dựng xuất bản, Hà-nội 1957.
[47]- Lê Tùng Sơn: Góp ý kiến vào vấn đề « Những bài văn chữ Hán do người Việt-nam viết có được kể vào văn học sử Việt-nam không ?» (Văn Sử Địa số 14).
[48]- Tạp chí « La Pens é e » . Số Janvier – Février 1954.
[49]- « …Trải qua cuộc Bắc thuộc thứ hai, do ảnh hưởng của văn hoá Trung-hoa, văn hoá cũ của người Việt đã dần dần biến đổi sâu xa và dung hoà rất nhiều với văn hoá của người Hán tộc. Từ các chính sách đồng hoá của các thái thú Tích Quang và Nhâm Diên, những tục lệ của xã hội thị tộc đã dần dần nhường chỗ cho chế độ gia tộc phụ quyền với hôn lễ. Trong phương thức sinh hoạt hàng ngày, do sự hỗn cư của hai giống người Việt và Hán, những phong tục tập quán, từ cách ăn, cách ở, cách mặc, cho đến ngôn ngữ của người Việt đã dần dần mang chứa nhiều ảnh hưởng của Hán tộc. Người Việt vốn không có văn tự. Văn tự của người Trung-hoa đã du nhập vào Giao châu mà dần dần thành thông dụng trong giới quý tộc bản quốc. Vì nó du nhập ở thời thuộc Hán cho nên người ta gọi là chữ Hán. Từ đầu thời Hán, nhất là từ Tích Quang và Nhâm Diên, ở Giao chỉ và Cửu chân đã có những học hiệu để dạy chữ Hán cho con em bọn quan lại và lớp quý tộc bản quốc. Sang thời Đông Hán đã có Trương Trọng, Lý Tiến và Lý Cầm học chữ Hán giỏi và được bổ làm quan như người Trung-hoa… » (Đào Duy Anh: Lịch sử Việt-nam , quyển thượng, trang 51-52, Xây dựng phát hành, Hà-nội, 1955).
[50]- Tạp chí Văn Sử Địa, số 5: Bài đã dẫn .
[51]- Lược thảo lịch sử văn học Việt-nam, tập I, trang 19.
[52]- Lược thảo lịch sử văn học Việt-nam, tập I, Trang 23.
[53]- Lược thảo lịch sử văn học Việt-nam, tập I, Trang 19.
[54]- Trang 25, Những câu in chữ nghiêng là do chúng tôi gạch dưới (T.T).
[55]- Xem Lược thảo lịch sử văn học Việt-nam, tập I, trang 111.
[56]- Xem Lược thao lịch sử văn học Việt-nam, tập II, trang 5 và 9.
[57]- Lược thảo lịch sử của văn học Việt-nam, tập II, trang 180, 181, 183.
[58]- Nha học chính Đông Pháp xuất bản Hà-nội, 1943.
[59]- Nhà sách Vĩnh bảo xuất bản, Sài-gòn, 1949
[60]- Trường Nguyễn Khuyến phát hành, Hà-nội, 1952.
[61]- Engels, « Dialectique de l a nature» Introduction, Editions sociales, Paris, 1955, trang 29-30-31.
[62]- « Histoire de la littérature anglaise » , trang 699. Hachette xuất bản, Paris, 1924.
[63]- Dẫn trong bài « Le classisme allemand » của André Gis, selbrecht, Tạp chí La Nouvelle critique số 86 (6-1957). Paris.
[64]- Dacier là một nhà bác ngữ học Pháp. Ông có soạn một cuốn sách nói về « Thi luật Aristote » (1692), trong đó ông giải thích rằng Aristote chỉ đề ra có sự duy nhất về thời gian và sự duy nhất về hành động mà thôi, chứ không đề ra tam duy nhất.
[65]- Văn học cổ điển chủ nghĩa Pháp biểu hiện đặc tính của dân tộc Pháp ở một giai đoạn trưởng thành nhất định (thế kỷ XVII) chứ không phải biểu hiện mức phát triển cao nhất của đặc tính Pháp. Theo Engels thì: « N ền văn học duy vật Pháp ở thế kỷ XVIII mới thật sự biểu hiện mức cao tột độ của đặc tính dân tộc Pháp trong dĩ vãng, ở cả nội dung lẫn hình thức» (Engels: Chương trình của những người Bờ-lăng-kít chiến sĩ Công xã trốn ra nước ngoài).
[66]- Philippe Sagnac, « Louis XVI » , quyển X trong bộ « Thông sử các dân tộc và các nền văn minh », Presses universitaires de France, Paris, 1949.
[67]- Nghiên cứu các bài hát dân gian, Herder sáng lập ra được một tâm lý học mới. Theo lý thuyết Herder thì khi sáng tạo văn học, con người phải vận dụng toàn thể những năng khiếu của bản thân: lý tính, giác quan, trí tưởng tượng – chứ không phải chỉ dùng có khối óc, có lý trí. Sự sáng tạo văn học đòi hỏi sự tham gia của con người toàn diện. Vì thế nên văn học cổ điển Đức bao hàm cả tính lãng mạng cách mạng. Lý thuyết này khác với chủ trương duy lý chủ nghĩa của các nhà văn cổ điển Pháp và Anh.
[68]- André Gisselbrecht, « Le classisisme allemand », La Nouvelle critique số 86 (6-1957).
[69]- Bạn nào muốn biết rõ hiện trạng cuộc tranh luận này xin tìm đọc cuốn « Vấn đề hình thành dân tộc Việt-nam » của nhà sử học Đào Duy Anh (Xây dựng xuất bản, 1957).
[70]- Trần đức Thảo, « Bài Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo… » Tạp chí Văn Sử Địa, số 5 (2-1955).
[71]- Theo ông Hoàng Xuân Hãn thì: « làng Tam-chế ở tây ngạn sông Lam… có chợ xưa rất lớn và có xưởng đóng thuyền. Xưa là một địa điểm đô hội bậc nhất trên đường bộ và thuỷ đi vào Nam ». (Thi Văn Việt-nam, trang 67, Sông Nhị xuất bản, Hà-nội, 1951). Phương thức sản xuất ở xưởng đóng thuyền này tất yếu phải đã vượt ra ngoài phạm vi sản xuất cá thể và biệt lập trong một tiểu gia đình.
[72]- « Lénine tuyển tập » tập I, phần thứ nhất, trang 115, Moscou, 1954.
[73]- Văn Sử Địa, số 16, tháng 4-1956, Nguyễn khắc Đạm dịch.
[74]- « Sách Phủ biên tạp lục chép rằng có người thổ dân ở nguồn Thu-bồn xứ Quảng nam đút lót cho người tay chân của Trương Phúc Loan mà được chiếm cả một quả núi để đào và ng , mỗi năm đem vàng đến bán cho thương khách ở Hội an hàng trên nghìn hốt (nén) » (Đào Duy Anh: Vấn đề hình thành của dân tộc Việt-nam, trang 142, Xây dựng xuất bản, Hà-nội 1957).
[75]- Xem bài Dẫn tập « Đại-nam quốc sử diễn ca », Hoàng Xuân Hãn, Sông Nhị xuất bản, Hà-nội, 1952.
[76]- Tính non yếu này biểu lộ trình độ tiến hóa tương đối thấp của lực lượng công thương và của nông dân nói chung. Trong văn học, nó hiện ra ở thế giới quan thần bí và ở thái độ đấu tranh bị động của các nhân vật chính nghĩa. Ảnh hưởng của Gia tô giáo trong dòng văn học này khá lớn: thái độ tuẫn đạo, hình tượng địa ngục, những hiện tượng tái sinh huyền diệu, sự đề cao những người cùng khổ nhất (ăn mày, đầy tớ…) đối lập với những kẻ quyền thế nhất (hôn quân, bạo chúa, gian thần, ác bá) sự chán ghét giầu sang (hành động vị quan đem ruộng, trâu, tiền chia cho dân làng). Sở dĩ có ảnh hưởng ấy là bởi những yếu tố Gia tô giáo kể trên, lúc đó, hợp với thế yếu của các tầng lớp bình dân phản kháng. Các nhà văn bình dân đã vận dụng nó làm vũ khí đấu tranh để gây tin tưởng cho quần chúng chống Trịnh. Những chính vì phải vận dụng yếu tố thần bí và lòng cuồng tín mà các tác phẩm ở thời kỳ này đã bị hạn chế nhiều về mặt hiện thực tính.
[77]- J. Chesneaux, « Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne », Ed. Sociales, Paris, 1955, trang 111.
[78]- Giai cấp tư sản Việt-nam xa rời phong trào dân tộc cho đến tận lúc sự phát triển của nó trở nên đối kháng với đế quốc Pháp (sau chiến tranh 1914-1918) nó mới trở lại con đường cách mạng giải phóng dân tộc (1925-1930). Nhưng vì đã mất liên hệ với quảng đại quần chúng nông dân từ lâu, lại mâu thuẫn quyền lợi với công nhân, nó không thể tập hợp được đa số nhân dân dưới lá cờ của nó: sự thất bại của nó là tất yếu.

[79]- N.Zastenker, « Phê phán những văn thư của Hội nghị Bách chu niên cách mạng 1848 – Nguyên văn chữ Nga đăng trong tập san Những vấn đề lịch sử số 2 Moscou 1951 », Tạp chí Nouvelle critique dịch ra ra Pháp văn và xuất bản thành tập, 1952.
[80]- Trong Hải ngoại huyết thư của Phan Bội Châu, có đoạn:
« Cốt trong nước người ta một bụng
Ngàn muôn người cùng giống một người
Phòng khi sưu thuế đến nơi
Bảo nhau không đóng, nó đòi được chăng? »
Trong tài liệu tuyên truyền của Đông kinh nghĩa thục, có bài Cắt tóc đi tu:
« Phen này cắt tóc đi tu
Tạng kinh độc lập, ở chùa Duy tân… »
Vụ đầu bào (cắt tóc) và chống thuế của nông dân Trung bộ năm 1908 đã kết hợp những lời cổ vũ ấy trong một hành động quần chúng có tổ chức làm cho thực dân Pháp hốt hoảng điên cuồng. Cùng với vụ biểu tình nông dân đầu tiên này, vụ bãi công của 200 công nhân viên chức hãng L.U.C.I ở Hà-nội năm 1909, mở đầu những phương thức đấu tranh quần chúng hoàn toàn cận đại trong phong trào Cách mạng Việt-nam.
[81]- Ilya Ehrenbourg, «Vus par un écrivain d’URSS», NRF xuất bản, Paris, 1934.
[82]- Cách mạng Lỗ Tấn nói đến ở đây là cách mạng vô sản; vì ở Trung-quốc đã có cách mạng Tân hợi do giai cấp tư sản chấp hành (1911). Lỗ Tấn cho cách mạng tư sản là cách mạng nhỏ, cách mạng vô sản mới là cách mạng lớn. Tiên sinh còn nói: «Cách mạng lớn thì mới đổi được mầu sắc văn học, còn cách mạng nhỏ thì vì không kể được là cách mạng cho nên không đổi được mầu sắc văn học».
[83]- Phan Khôi dịch, «Tuyển tập Tạp văn Lỗ Tấn», Văn nghệ xuất bản, Hà-nội, 1956.
Trương Tửu
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Ái tình tiểu thuyết

Ái tình tiểu thuyết Sợ các ngài tẩy chay tôi, hôm nay tôi xin hiến các ngài một thiên ái tình tiểu thuyết. Nhưng ái tình tiểu thuyết tôi v...