Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Khi chiếc yếm rơi xuống

Khi chiếc yếm rơi xuống

Trích dẫn:
Truyện này là truyện gì?
Truyện xã hội mua một kẻ nô lệ.
Mua của ai? Của nghèo đói…
Người ta bảo chế độ nô lệ mất rồi.
Nhầm.
Nó vẫn còn, và tên là MÃI DÂM.
Nó đè chĩu trên số kiếp người đàn bà, nghĩa là đè chĩu trên duyên thắm, trên nhan – sắc, trên tình mẫu tử.
Victor HUGO
(Những kẻ khốn nạn)
Ông Lê Ta tức Nguyễn Thứ Lễ tức Thế Lữ, thi sĩ đáng kính của phong trào thơ Mới, vào những năm 1938, 1939 đã đăng trên báo Ngày nay – cơ quan của Tự Lực văn đoàn mà ông là thành viên, vài mẩu tin “văn…vắn” rất thú vị. Bằng cái giọng tưng tửng, châm biếm nhẹ nhàng, Lê Ta nêu đích danh một số hiện tượng phổ biến trong làng văn chương sách vở thời đó mà ông đặt câu hỏi là “dấu hiệu của thời đại đó chăng?” Hiện tượng đầu tiên là việc các nhà văn thi nhau đặt tên sách “phải thực kêu” nhằm hút mắt độc giả. Lê Ta dẫn ra một vài ví dụ: – Người đàn bà trần truồng – Bão táp trong chiếc quần đùi – Mốt áo pardessus – Sự thổn thức của quả tim non – Đùa với ái tình – Khi chiếc yếm rơi xuống
Nhìn qua thì thấy, thời đó, xu hướng đặt tên sách cũng đánh mạnh vào thói háo sexy lắm thay! Xã hội An Nam hẳn đang trải qua cơn bão Âu hóa, thời trang và tình ái là những thiết chế bị/được cái mới nâng lên thành sản phẩm thời thượng, phù hợp với tâm thế của “con nhà tân thời” vui vẻ trẻ trung đang trên đà thắng lợi. Sức hấp dẫn của văn chương, vì vậy, không thể tránh khỏi chuyện yêu đương, áo quần, thể thao… và đặc biệt là cái nhìn mới/khác về cơ thể người nữ.
Không phải ngẫu nhiên mà các tác phẩm văn chương thời đó, kể cả xu hướng “tả chân tiểu thuyết” hay “ái tình tiểu thuyết”, đều hướng đến việc xây dựng câu chuyện liên quan đến người nữ với các mã số quen thuộc: vẻ đẹp cơ thể, tình yêu, tình dục, cuộc đấu tranh giữa đức hạnh nề nếp cũ và tinh thần giải phóng tự do… Nếu Lê Ta công bằng hơn thì cũng có thể nêu ra một vài cái tên như Đời mưa gió, Hồn bướm mơ tiên, Gánh hàng hoa của TLVĐ… “kêu” chẳng kém gì Kĩ nghệ lấy Tây hay Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng mà ông khéo léo nhắc tới.
Chương I
Tôi ở rạp chiếu bóng bước ra, tâm thần còn xúc động. Phim Naples an baiser de feu vừa gieo vào trí não tôi một ý tưởng buồn thảm. Tôi đã quên hình ảnh và giọng hát của anh chàng phiêu đãng Tino. Trước mắt tôi chỉ còn phảng phất bóng dáng trơ trẽn của người gái đĩ trong tích truyện. Rồi tôi liên tưởng đến nghề đĩ ở xứ này…
Cách đây ba năm, tôi đã có dịp ở thuê một căn gác giữa phố Khâm Thiên. Bên phải tôi, nhà cô đầu; bên trái, nhà cô đầu; trước mặt, nhà cô đầu. Ngay đến từng dưới nhà tôi – một hiệu tạp hóa nhỏ – cũng là chỗ lui tới hàng ngày của cô đầu.
Nhờ vậy, tôi thường lân la trò truyện với các người đàn bà trụy lạc ấy. Trong những phút thân mật, họ đã kể cho tôi nghe, không sượng sùng, không ngần ngại, tất cả những cực khổ âm thầm của nghề ca kỹ. Thỉnh thoảng, giữa những lời tâm sự, họ đã vô tình bộc lộ nhiều tính tình lạ lùng đáng cho nhà tâm lý học nghiên cứu kỹ càng.
Dần dần, sự quen thuộc đã giúp tôi nom rõ đời sống thực của hạng đàn bà đau khổ ấy. Tôi đã xem họ quây quần ở ngoài sân, tô son điểm phấn để lát nữa phụng sự những nhu cầu phức tạp của kẻ mua vui.
Tôi đã đứng nhìn họ súm sụm ngồi ăn cơm, uể oải như những kẻ nô lệ chán cái đời tẻ ngắt của mình.
Tôi đã thấy họ cười đùa, nghịch ngợm với nhau trong những giờ nhàn rỗi. Và tôi cũng đã nghe vẳng từ góc buồng xó bếp đưa ra những tiếng khóc sụt sùi của hạng người hình như vô tư lự ấy.
Không phải họ khóc với quan viên trên chiếc đệm để làm tiền. Những lúc khóc thút thít với một tình lang trong buồng vắng, có thể họ hoàn toàn giả dối.
Nhưng khi thấy họ đứng thổn thức nghẹn ngào một mình bên khe cửa hay cạnh một vại nước thì ta phải nhận rằng đó là nước mắt của những người đang đau khổ ê chề.
Dù không muốn tiểu thuyết hóa một cuộc đời tự nó đã lâm ly, ai oán trăm nghìn lần hơn những pho tiểu thuyết bi thống nhất, ta cũng phải tin rằng số kiếp người đàn bà trụy lạc là hình thức đau buồn nhất của sự trầm luân.
Những lúc tiếp xúc với đời sống của các người đàn bà sầu khổ ấy, cũng như hôm nay bồi hồi sau khi xem phim Naples au baiser de feu , tôi thấy nổi bật lên trong mớ cảm tưởng hỗn độn của tôi một vài dấu hỏi hoài nghi.
Tại sao những người đàn bà cùng khốn kia không thoát ly đời sống đọa lạc của họ?
Có bao giờ họ ao ước rời bỏ cảnh ngộ đau thương của họ không?
Và, nếu mạnh bạo thoát ly, họ có thể trở lại cái đời lương thiện của những người đàn bà khác được không?
Tôi cũng biết đã có một số đàn bà trụy lạc liều thí nghiệm sự thoát ly ấy. Thì kết quả của thí nghiệm này ra sao?
Tôi vừa thủng thỉnh bước trên vỉa hè phố Chợ Hòm, vừa băn khoăn tìm kiếm câu trả lời cho những dấu hỏi ấy…
Trời rét như cắt. Sương mù xuống ướt cả mặt đường. Kéo cổ áo ba-đờ-xuy che kín gáy, tôi tra hai tay vào túi, lặng lẽ bước trong đêm khuya. Phố xá vắng tanh vắng ngắt. Một vài chiếc xe kéo rải rác giữa đường, chờ khách.
Tôi đánh diêm châm píp hút. Khói nóng làm lồng ngực tôi khoan khoái. Lúc này tôi tưởng đã tìm được một bạn tri kỷ ở rúm thuốc lá âm ỉ cháy trong lòng píp.
Một tiếng ho khan và gắt ở phía trước làm tôi ngửng đầu, để ý đến một bóng người đàn bà. Thiếu phụ đi cách trước tôi chừng hai mươi thước, tay giắt một đứa trẻ độ bảy tám tuổi. Hình như hai mẹ con cũng vừa ở rạp chiếu bóng ra, mà vì vô ý tôi không trông thấy.
Thiếu phụ người gầy, tầm thước, thu hình trong một cái áo măng-tô, không rõ là mầu gì. Cô quấn một chiếc khăn châle.
Đứa trẻ mặc bộ quần áo rét kiểu lính thủy.
Có vài tên phu xe mời thiếu phụ nhưng đều bị từ chối.
Tôi rảo bước.
Tôi tò mò muốn nhìn rõ mặt người đàn bà thích đi trong sương gió ấy.
Nhưng khi gần đi tới thiếu phụ, tôi tự nhiên muốn chậm bước. Nàng có một dáng điệu đài các làm tôi hết nghi ngờ về địa vị xã hội của nàng.
Giữa lúc ấy, thiếu phụ giắt đứa trẻ đi rẽ sang hè bên phải và bước vào một hiệu cao làu khách. Ánh sáng đèn điện thẳng chiếu vào mặt nàng mà tôi chỉ trông thoảng thấy hình nghiêng.
Tôi giật mình.
Người đàn bà ấy, tôi trông quen quen. Hình như tôi đã gặp nàng rất nhiều lần.
Tôi liền rẽ sang hè, vào hiệu cao làu khách. Nàng đã ngồi ở bàn tận cùng gian phòng, quay lưng ra. Đứa trẻ ngồi trên ghế đối diện nàng, tay đang mân mó chiếc bánh ngọt trong đĩa.
Không muốn sỗ sàng, tôi trọn một chỗ ngồi ở mé bên ngoài. Tôi ngồi, quay mặt vào, ở ngay dìa lối đi. Lát nữa, thiếu phụ trở ra, thể nào cũng nhìn thấy tôi.
Hiệu cao làu cũng vắng lắm. Mấy tên hầu sáng ngồi uể oải ở các xó tường, buồn thiu. Ngoài công-toa, một cô gái khách đọc truyện kiếm hiệp.
Thỉnh thoảng, tôi lại nghe thấy tiếng ho khan của thiếu phụ. Nàng uống một cốc sữa xúc-cu-la, có vẻ mệt nhọc. Còn đứa nhỏ thì và ngốn một bát mì thập cẩm.
Tôi điềm tĩnh ngồi uống cà phê, hút thuốc lá. Đồng hồ của hiệu cao-làu điểm một giờ. Hai vai thiếu phụ động nhè nhẹ. Nàng rút mùi xoa lau miệng và tay cho đứa trẻ, dục nó đứng dậy về.
- Me mua bánh để về con ăn đi.
Thiếu phụ gắt:
- Thôi! Đêm rồi còn ăn gì bánh ngọt lại đau bụng.
Đứa trẻ ngoan ngoãn đứng dậy, không nói gì. Thiếu phụ gọi hầu sáng tính tiền rồi giắt con, đi trở ra.
Tôi không nhầm.
Người đàn bà này, tôi quen biết.
Nàng vừa đi đến bàn tôi ngồi thì thốt ra một tiếng khẽ:
- Anh!
Tôi cũng buột miệng:
- Kìa! Chị Hậu!
Thiếu phụ quay bảo đứa trẻ:
- Hảo, chào bác đi.
Đứa trẻ nhanh nhẩu chắp tay, cúi đầu:
- Lạy bác ạ.
Tôi xoa đầu nó và ôm nó vào lòng.
- Sao tôi nghe nói chị đi Saigon đã lâu?
- Em cũng mới về.
Tôi tính tiền, trả nhà hàng rồi cùng thiếu phụ và Hảo ra phố.
- Chị đi đâu mà về khuya thế?
- Em đưa cháu đi coi chiếu bóng.
- Chị cũng ở gần đây?
- Vâng. Mời anh lại chơi. Chỉ có mình em với cháu thôi. Anh đi đâu mà lâu lắm bây giờ em mới gặp?
- Tôi vẫn ở nhà quê, thỉnh thoảng mới ra Hanoi.
- Anh lại chơi đằng em đi. Anh còn định về tận đâu nữa?
- Vâng, cũng được.
Tôi nhận lời lại chơi nhà thiếu phụ là vì tính tò mò muốn hiểu đời sống hiện thời của nàng.
Hậu đã là vợ một người bạn tôi.
Sao hiện giờ nàng lại chỉ ở có một mình với đứa con?
Hay nàng đã bỏ chồng để trở lại cuộc đời phiêu đãng?
Chương II
Bốn năm về trước, Hậu còn là một đào hát ở tỉnh Thanh. Tôi được biết nàng cũng chỉ do một tối đi chơi để giết cái buồn của người lữ thứ nơi tỉnh xép.
Dạo hè năm ấy, anh Thuyết và tôi ra Sầm Sơn tắm biển. Thuyết là một thanh niên đàng điếm lấy sự ăn hàng ngủ quán làm lạc thú của đời sống.
Trước khi ra Sầm Sơn, chúng tôi ở lại Thanh Hóa hai ngày, để đi thăm các bạn hữu. Thết khách Hanoi còn gì hơn mời đi hát?
Thế là, đêm ấy, chúng tôi và hai anh bạn nữa nghiễm nhiên làm khách hàng của nhà bà Phủ Hiếu. Đây là dinh cơ nguy nga của một người đàn bà giang hồ trở về già. Bà Phủ, gặp may lúc tàn xuân lại nương tựa được vào nơi quyền quý. Rồi được hưởng cái gia tài phong kiến của chồng yểu mệnh. Nhớ đến nghề xưa và cũng muốn kiếm chút lời, bà liền mở nhà hát ngay ở dinh thự của mình. Bà khéo chiêu nạp được dưới quyền là một số ca nữ có tài, có sắc, có duyên và lịch thiệp. Nên nhà bà Phủ từ lâu đã nổi tiếng là nơi hành lạc cao sang nhất tỉnh Thanh.
Chúng tôi vào hát, bà và các con em niềm nở đón tiếp vui như hội.
Đùa, cười, pha trò chán, chúng tôi quây cả vào bàn đèn thuốc phiện. Chỉ còn mình anh Thuyết ngồi đập trống. Đào hát là một thiếu nữ xinh đẹp. Mặt trái xoan; da trắng mịn màng. Mắt một mí và lóng lánh. Cặp môi son tươi thắm thỉnh thoảng hé nụ để lộ một hàm răng đen nhánh. Nàng ngồi hát trên sập, hình vóc yểu điệu và lả lướt như một tầu liễu. Toàn thân nàng toát ra một sầu cảm âm thầm nó đánh dấu một dĩ vãng đầy đau khổ.
Nàng hát hay lắm. Giọng trong như lọc, khi trầm khi bổng, giót vào tâm hồn khách đa tình những mộng ước vẩn vơ về yêu đương lãng mạn. Lại nhờ được cung đàn dịp phách phụ họa vào, giọng nàng càng thấm thía, gợi khêu một cách thình lình những cảm giác sôi nổi của người phiêu đãng.
Người phiêu đãng mê mẩn ở đây là Thuyết. Trông nét mặt thẫn thờ và đôi mắt bâng khuâng của anh, tôi đã đoán ngay được anh đang suy tính, ao ước cái gì. Anh ngồi đập trống liền ngay cạnh đào hát mà hình như xa vắng, không dự gì vào cuộc vui chung của nhà bà Phủ. Tâm thần anh đang đắm đuối vào một tình cảm bồi hồi.
Thuyết yêu người đào hát. Giữa hai chầu trống, anh đã thủ thỉ cùng tôi cái tình đột ngột của anh đối với nàng. Và anh kết luận:
- Hình như nàng cũng cảm moa lắm.
Tôi không nói câu nào chỉ mỉm cười biểu đồng tình với Thuyết. Tôi hiểu Thuyết lắm. Tôi đã bầu bạn với anh ngót mười năm. Thuyết là một người liều lĩnh và bướng bỉnh. Anh đã có một ý định thì anh đem thực hiện nó liền. Và không một sức cản trở nào có thể ngăn anh được. Sau việc có hỏng, anh chỉ tặc lưỡi, không bao giờ phàn nàn, ân hận. Anh chỉ biết sống có phút hiện tại. Rồi muốn ra sao thì ra.
Đêm đã hơi khuya. Mỗi người chúng tôi đã có một bạn tri kỷ để tình tự. Tiếng cười đã thấy kín đáo. Giọng nói cũng ra chiều uể oải.
Tôi ngồi ngoài vườn hoa ngắm trăng, nói chuyện gẫu với một ca nữ.
Trên sập vẫn chỉ còn Thuyết ngồi đập trống, bên cạnh người đào hát.
Bỗng tiếng trống và tiếng hát im bặt. Tịch mịch chiếm dần dinh thự bà Phủ Hiếu.
Một giọng ngầm ồ ồ và buồn thảm từ trong nhà vẳng đưa ra:
Gặp nhau đêm ấy rồi ly biệt
Hoa lại bay theo trận gió ngàn
Tôi nhận ngay ra giọng ngâm của Thuyết. Tôi cảm thấm thía thấy tất cả cái não nùng của câu thơ anh vừa ngâm bên cạnh người đàn bà một đêm . Tôi đang bâng khuâng buồn hộ cho người bạn đa tình thì một tiếng ngâm khẽ và thanh đáp lời hai câu thơ:
Biết đâu trọn đá thử vàng?
Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?
Cái éo le của tình yêu cắc cớ này tăng thêm một bực. Bằng hai câu thơ mượn ở truyện Kiều, người đào hát đã tỏ tình gắn bó. Thuyết sẽ xử trí ra sao? Tôi lo thay cho bạn! Anh vẫn là người của các việc điên cuồng chốc lát.
Trong nhà bà Phủ, ngọn đèn dầu đã thế chân ánh đèn điện. Chúng tôi đã sửa soạn đi nghỉ.
Trên sập gụ, vẫn chỉ còn có Thuyết ngồi bên người đào hát.
Đồng hồ gõ hai tiếng.
Giữa cái im lặng âm u của gian phòng lại nổi lên giọng ngâm khàn khàn của bạn tôi:
Uổng cho sắc nghiêng nước
Sinh phải con nhà nghèo
Một sáng bụng thấy đói
Trăm năm thân phải liều
Lăn lóc trong bụi trần
Mòn mỏi bông hoa xuân
Một cánh lại một cánh
Đời hoa tan tác dần
Có tiếng thở dài của người đào hát. Rồi câu chuyện tâm sự của hai người nhỏ dần trong đêm khuya…
Sớm mai, tôi thấy Thuyết mặt mũi bơ phờ như người phiền muộn. Tôi biết chắc anh đã hứa một điều gì với người đào hát. Mà điều hứa ấy đang bắt anh suy tính.
Cũng mùa thu năm ấy, một buổi tối kia,Thuyết lại chơi tôi. Mặt anh hớn hở. Uống xong chén nước trà, anh châm thuốc hút rồi bảo tôi, giữa những hơi khói thơm phức:
- Tôi báo cho anh biết một tin mừng. Tôi vừa lấy vợ.
- Thật hay đùa?
- Ai lại đùa. Chiều mai mời anh lại ăn cơm với chúng tôi.
- Lấy người ở đâu?
Thuyết cười:
- Sao anh ngây thơ thế?
Rồi không kịp để tôi hỏi tiếp chuyện cưới vợ của anh, Thuyết bắt tay tôi, từ dã và dặn với:
- Nhớ chiều mai nhé.
Tôi ngây thơ thật.
Người vợ mới cưới của bạn tôi phải đâu xa lạ! Đó là người đào hát ở tỉnh Thanh.
Tên nàng là Hậu.
Chương III

Tôi theo Hậu rẽ vào một con đường ở sát chùa Hòa Mã. Căn gác nàng ở có cổng sau đi lên, nên tôi vào, nhà dưới không ai biết cả.
Lên đến gác, Hậu cởi bỏ áo măng-tô treo lên mắc và xin lỗi tôi đi thu xếp giường cho đứa con nàng ngủ.
Sự bầy biện trong nhà Hậu đủ chứng tỏ rằng nàng không được phong lưu lắm. Một cái giường tây đã cũ kê ở một góc phòng. Một cái tủ đứng. Và một bộ sa-lông đã nhạt màu. Cạnh giường, kê một cái đi-văng có đệm bông.
Hậu mời tôi ngồi rồi ra tủ lấy một chiếc đèn cồn.
- Anh để em pha trè tầu cho anh uống nhé.
- Thôi, chị vẽ vời ra làm gì cho mệt.
- Không sao. Có uống nước thì câu chuyện mới đậm giọng được chứ.
Trông nàng vẫn đẹp như ngày xưa. Nét mặt hơi già đi một chút càng tăng vẻ buồn của nàng. Ngồi nhìn nàng loáy hoáy pha nước, tôi có cảm tưởng đứng trước một người đàn bà trưởng giả. Dáng điệu nàng óng chuốt và thần sắc nàng nghiêm trang như một bậc phu nhân sinh trưởng nơi quyền quý.
Tôi chưa dám đường đột hỏi nàng về Thuyết, về hiện tình sinh hoạt của nàng.
Tuy vậy, có một điều chắc chắn là nàng đã bỏ Thuyết và lại trở về cảnh giang hồ, nhưng ở một từng có lẽ cao hơn những từng trụy lạc nàng đã đi qua.
Giót nước mời tôi uống, nàng nhìn tôi và hỏi:
- Hình như anh đang ngơ ngác không hiểu đời sống hiện thời của em có phải không?
Tôi trả lời bằng một nụ cười. Nàng nói tiếp:
- Anh ngơ ngác là phải. Em không còn là vợ của Thuyết nữa. Em không còn là vợ của ai nữa. Em sống bây giờ chỉ để nuôi đứa con thơ.
- Thuyết hiện nay…
- Đã hơn năm nay, em không gặp Thuyết đâu và em cũng không có tin tức gì của Thuyết cả.
- Thuyết… bỏ chị?
- Không. Em bỏ Thuyết. Mà em không oán hờn gì Thuyết cả. Thuyết chỉ là một người đàn ông như trăm ngàn người đàn ông khác.
Tôi mỉm cười:
- Nghĩa là?
- Xin lỗi anh nếu em có những ý kiến đối với đàn ông khang khác người thường một chút. Em cho rằng bắt buộc một người đàn ông thủy chung với một người đàn bà là một việc điên rồ. Sự thủy chung trên sức người đàn ông.
Trong lời nói của Hậu, ẩn một bi quan đau xót. Đời giang hồ đã reo vào óc nàng những ý kiến ấy.
- Chị ở với Thuyết được…
- Một năm bảy tháng. Trong ngần ấy ngày, sự yêu đương chưa chiếm được hai tháng trọn. Còn thì toàn là phụ bạc, cãi cọ, hờn giỗi. Rồi phân ly. Sự lấy Thuyết là cái thí nghiệm cuối cùng của đời em. Nhờ ở gần Thuyết mà em hiểu thêm đàn ông nhiều lắm. Bây giờ thì em sợ.
Tôi đã từng nghe nhiều gái giang hồ than phiền về sự phụ tình của phái đàn ông. Nhưng tôi chưa nghe ai nói đến đàn ông một cách chua cay và khinh bạc như Hậu. Tôi cũng hiểu thái độ ấy chỉ là kết quả của nhiều kinh nghiệm nàng đã nếm trải trong khi luân lạc. Nhưng tôi muốn rõ là những kinh nghiệm gì.
Tôi muốn biết lịch sử của đời Hậu. Tôi liền nói:
- Nghe chị bình phẩm đàn ông chúng tôi thì hình như tâm hồn chị đã khô héo lắm. Nhưng theo chỗ tôi thấy thì tôi tin rằng chị có một tâm hồn đa cảm vẫn còn tha thiết yêu đương. Vì tha thiết yêu đương mà không gặp người đồng điệu nên mới hờn oán yêu đương. Tôi đã nghiệm ra rằng người đàn bà nào nguyền rủa đàn ông hằn học nhất là người đàn bà nhiều tình cảm nhất.
Nàng liếc nhìn tôi, mỉm cười. Tôi lại thấy hiện ra hoàn toàn người đào hát bốn năm về trước. Tôi tiếp theo:
- Tôi xin thành thực khuyên chị không bao giờ nên nuôi sự hờn oán trong lòng. Sự hờn oán làm người ta chóng già và nhiều khi độc ác. Ở đời quý nhất có yêu đương. Ta có thể oán rủa một trăm người tình nhân. Ta không có quyền oán rủa tình yêu. Nói ngay đến cảnh ngộ chị. Nếu quả như bây giờ chị trách móc Thuyết phụ bạc thì ít nhất tình yêu của Thuyết và của chị cũng đã để lại trong đời chị một kỷ niệm rất êm vui là cái đêm hè ở tỉnh Thanh, trong nhà bà Phủ.
Câu nói của tôi hình như khêu gợi đống tro dĩ vãng trong trái tim Hậu. Nàng chống cằm vào lòng bàn tay, mơ mộng. Rồi tự nhiên, ở mắt nàng hai giòng lệ ứa ra.
Tôi biết nàng đang thổn thức với một u hoài ấm áp. Nàng nhớ những phút sung sướng không còn nữa.
Im lặng giây lâu rồi nàng nhìn tôi, trả lời:
- Anh nói đúng. Em đã nhầm tưởng rằng tình yêu chỉ là một con ma quái dữ nó đến phá hoại đời em. Bây giờ em mới nhận ra rằng đời em chỉ còn hứng thú ở những phút hồi tưởng lại các ngày yêu đương em đã hưởng. Đời buồn lắm anh ạ. Nhất là cái đời của đàn bà.
Tôi bạo dạn hỏi:
- Chị bắt đầu luân lạc tự hồi nào?
Nàng bâng khuâng trả lời:
- Đã lâu rồi, anh ạ.
- Chị có thể cho tôi biết cái bước thứ nhất của sự luân lạc ấy…
- Nó cũng như bước thứ nhất của trăm nghìn sự luân lạc khác thôi anh ạ. Nhưng có lẽ cái đời em chua xót hơn đời các chị ấy nhiều.
Vừa nói nàng vừa chớp luôn hồi để nước mắt khỏi ứa ra.
Câu chuyện tâm tình bắt đầu.
Chương III
Tôi theo Hậu rẽ vào một con đường ở sát chùa Hòa Mã. Căn gác nàng ở có cổng sau đi lên, nên tôi vào, nhà dưới không ai biết cả.
Lên đến gác, Hậu cởi bỏ áo măng-tô treo lên mắc và xin lỗi tôi đi thu xếp giường cho đứa con nàng ngủ.
Sự bầy biện trong nhà Hậu đủ chứng tỏ rằng nàng không được phong lưu lắm. Một cái giường tây đã cũ kê ở một góc phòng. Một cái tủ đứng. Và một bộ sa-lông đã nhạt màu. Cạnh giường, kê một cái đi-văng có đệm bông.
Hậu mời tôi ngồi rồi ra tủ lấy một chiếc đèn cồn.
- Anh để em pha trè tầu cho anh uống nhé.
- Thôi, chị vẽ vời ra làm gì cho mệt.
- Không sao. Có uống nước thì câu chuyện mới đậm giọng được chứ.
Trông nàng vẫn đẹp như ngày xưa. Nét mặt hơi già đi một chút càng tăng vẻ buồn của nàng. Ngồi nhìn nàng loáy hoáy pha nước, tôi có cảm tưởng đứng trước một người đàn bà trưởng giả. Dáng điệu nàng óng chuốt và thần sắc nàng nghiêm trang như một bậc phu nhân sinh trưởng nơi quyền quý.
Tôi chưa dám đường đột hỏi nàng về Thuyết, về hiện tình sinh hoạt của nàng.
Tuy vậy, có một điều chắc chắn là nàng đã bỏ Thuyết và lại trở về cảnh giang hồ, nhưng ở một từng có lẽ cao hơn những từng trụy lạc nàng đã đi qua.
Giót nước mời tôi uống, nàng nhìn tôi và hỏi:
- Hình như anh đang ngơ ngác không hiểu đời sống hiện thời của em có phải không?
Tôi trả lời bằng một nụ cười. Nàng nói tiếp:
- Anh ngơ ngác là phải. Em không còn là vợ của Thuyết nữa. Em không còn là vợ của ai nữa. Em sống bây giờ chỉ để nuôi đứa con thơ.
- Thuyết hiện nay…
- Đã hơn năm nay, em không gặp Thuyết đâu và em cũng không có tin tức gì của Thuyết cả.
- Thuyết… bỏ chị?
- Không. Em bỏ Thuyết. Mà em không oán hờn gì Thuyết cả. Thuyết chỉ là một người đàn ông như trăm ngàn người đàn ông khác.
Tôi mỉm cười:
- Nghĩa là?
- Xin lỗi anh nếu em có những ý kiến đối với đàn ông khang khác người thường một chút. Em cho rằng bắt buộc một người đàn ông thủy chung với một người đàn bà là một việc điên rồ. Sự thủy chung trên sức người đàn ông.
Trong lời nói của Hậu, ẩn một bi quan đau xót. Đời giang hồ đã reo vào óc nàng những ý kiến ấy.
- Chị ở với Thuyết được…
- Một năm bảy tháng. Trong ngần ấy ngày, sự yêu đương chưa chiếm được hai tháng trọn. Còn thì toàn là phụ bạc, cãi cọ, hờn giỗi. Rồi phân ly. Sự lấy Thuyết là cái thí nghiệm cuối cùng của đời em. Nhờ ở gần Thuyết mà em hiểu thêm đàn ông nhiều lắm. Bây giờ thì em sợ.
Tôi đã từng nghe nhiều gái giang hồ than phiền về sự phụ tình của phái đàn ông. Nhưng tôi chưa nghe ai nói đến đàn ông một cách chua cay và khinh bạc như Hậu. Tôi cũng hiểu thái độ ấy chỉ là kết quả của nhiều kinh nghiệm nàng đã nếm trải trong khi luân lạc. Nhưng tôi muốn rõ là những kinh nghiệm gì.
Tôi muốn biết lịch sử của đời Hậu. Tôi liền nói:
- Nghe chị bình phẩm đàn ông chúng tôi thì hình như tâm hồn chị đã khô héo lắm. Nhưng theo chỗ tôi thấy thì tôi tin rằng chị có một tâm hồn đa cảm vẫn còn tha thiết yêu đương. Vì tha thiết yêu đương mà không gặp người đồng điệu nên mới hờn oán yêu đương. Tôi đã nghiệm ra rằng người đàn bà nào nguyền rủa đàn ông hằn học nhất là người đàn bà nhiều tình cảm nhất.
Nàng liếc nhìn tôi, mỉm cười. Tôi lại thấy hiện ra hoàn toàn người đào hát bốn năm về trước. Tôi tiếp theo:
- Tôi xin thành thực khuyên chị không bao giờ nên nuôi sự hờn oán trong lòng. Sự hờn oán làm người ta chóng già và nhiều khi độc ác. Ở đời quý nhất có yêu đương. Ta có thể oán rủa một trăm người tình nhân. Ta không có quyền oán rủa tình yêu. Nói ngay đến cảnh ngộ chị. Nếu quả như bây giờ chị trách móc Thuyết phụ bạc thì ít nhất tình yêu của Thuyết và của chị cũng đã để lại trong đời chị một kỷ niệm rất êm vui là cái đêm hè ở tỉnh Thanh, trong nhà bà Phủ.
Câu nói của tôi hình như khêu gợi đống tro dĩ vãng trong trái tim Hậu. Nàng chống cằm vào lòng bàn tay, mơ mộng. Rồi tự nhiên, ở mắt nàng hai giòng lệ ứa ra.

Tôi biết nàng đang thổn thức với một u hoài ấm áp. Nàng nhớ những phút sung sướng không còn nữa.
Im lặng giây lâu rồi nàng nhìn tôi, trả lời:
- Anh nói đúng. Em đã nhầm tưởng rằng tình yêu chỉ là một con ma quái dữ nó đến phá hoại đời em. Bây giờ em mới nhận ra rằng đời em chỉ còn hứng thú ở những phút hồi tưởng lại các ngày yêu đương em đã hưởng. Đời buồn lắm anh ạ. Nhất là cái đời của đàn bà.
Tôi bạo dạn hỏi:
- Chị bắt đầu luân lạc tự hồi nào?
Nàng bâng khuâng trả lời:
- Đã lâu rồi, anh ạ.
- Chị có thể cho tôi biết cái bước thứ nhất của sự luân lạc ấy…
- Nó cũng như bước thứ nhất của trăm nghìn sự luân lạc khác thôi anh ạ. Nhưng có lẽ cái đời em chua xót hơn đời các chị ấy nhiều.
Vừa nói nàng vừa chớp luôn hồi để nước mắt khỏi ứa ra.
Câu chuyện tâm tình bắt đầu.
Chương IV
Uống cạn chén trà, Hậu tự thuật:
- Em thú thật với anh rằng từ ngày em bước chân vào cuộc đời luân lạc đến nay là chín năm, em chưa hề có đem câu chuyện của đời kể lể với một người khách chơi nào. Em cho rằng có kể ra cũng chẳng ai tin và cũng chẳng ai thương. Thôi thì chuyện của mình chỉ nên để một mình mình biết còn hơn, nói ra chẳng bõ người đời bĩu môi mai mỉa. Nhưng đối với anh lại khác. Tuy em ít học thức, em cũng có thể biết được người, được của. Anh đối với em, ngay từ buổi đầu gặp mặt ở tỉnh Thanh, đã sẵn một niềm tử tế khoan dung. Tự nhiên em thấy em tin cậy anh như tin cậy người mẹ thân yêu của em nay không còn nữa. Rồi từ bấy đến giờ, em ít được gặp anh. Mà hôm nay gặp anh, em cũng vẫn thấy lòng tin cậy xưa không thay đổi. Trong các người đàn ông em đã tiếp bao nhiêu lâu nay, em chỉ thấy có anh là người đối với hạng đàn bà giang hồ như chúng em không có một chút khinh bỉ nào. Anh là người thứ nhất mà em thấy đến chơi các nhà cô đầu không có một chút tình ý gì gọi là vụ lợi riêng cho mình. Còn toàn thể họ đi chơi chỉ muốn đã mua mâm thì đâm cho kỳ thủng.
Tôi mỉm cười nghiêng mình để từ chối những lời phê bình ngợi khen ấy. Nhưng, hiểu ý, nàng đã nói tiếp:
- Không phải em nói sáo để làm vui lòng anh đâu. Sự vui lòng của anh, đâu có phải những người như chúng em gây nên được. Chẳng qua là em nghĩ thế nào thì nói ra như thế, có chỗ nào phạm lỗi với anh, xin anh thứ đi cho.
- Tôi tưởng hôm nay cái lỗi phải về phần tôi, vì tôi đã làm chị thức khuya vô ích…
Nàng phác một cử động rồi cắt đứt lời tôi:
- Anh bảo thế nào là vô ích? Thức khuya để được ngồi nói chuyện với anh, em tưởng như thế là hân hạnh cho em lắm lắm. Trong đời em, nếu có những đêm đáng kỷ niệm thì cái đêm nay, được kể lể tâm sự với anh, là cái kỷ niệm êm đềm nhất.
Thấy đêm đã khuya và sợ câu chuyện ra ngoài ý định của tôi, tôi liền vào đề:
- Chị nói chị luân lạc đã chín năm nay…
- Vâng, em sống cái đời giang hồ này đã chín năm rồi, nghĩa là từ năm em mười bảy tuổi. Năm ấy…
Nói đến đây, Hậu ngồi yên, hai mắt xa vắng như đi tìm trong thời gian dĩ vãng một cái mốc vô hình cho cuộc đời chìm nổi.
Sau vài giây mơ mộng, nàng giật mình nhẹ nhàng, trở lại thực tế và nói tiếp:
- Muốn để anh hiểu rõ đời em thì em phải kể cả lai lịch gia đình em cho anh nghe. Em là giòng giõi một nhà quan cách. Ông nội em đã trọng nhậm chức tri huyện ở Tiên Du vùng Bắc Ninh, kể có trên mười năm. Mà em cũng đẻ ở huyện đó, cạnh Cầu Lim, Nội Duệ. Thủa nhỏ, em sướng lắm, chỉ suốt ngày đến các làng gần huyện xem dệt cửi và nghe hát quan họ. Bây giờ hồi tưởng đến thủa nhỏ em vẫn nhớ tiếc. Năm em mười hai tuổi thì ông em mất, nhà em phải dọn về quê ở Hưng Yên. Được ít lâu thì thầy em làm lý trưởng ở làng. Mẹ em và em trông nom ruộng nương. Sự sống tuy không còn đàng hoàng như ở huyện, nhưng cũng vẫn sung túc. Giá thầy em đừng ra tranh chánh tổng thì có lẽ cuộc đời em không như ngày nay. Sự tranh chánh tổng của thầy em làm gia đình em khánh kiệt. Cái trò ở thôn quê con gà tức nhau tiếng gáy, đã đâm lao thì phải nhắm mắt theo lao. Đến lúc thầy em được chức chánh tổng thì gia sản nhà em gần hết. Tưởng rằng rồi làm việc quan thì bổng lộc chẳng bao lâu sẽ kiếm lại được số tiền bỏ ra. Chẳng ngờ, bên thua họ kiếm cách làm khó dễ để trả thù, nên thầy em làm chánh tổng được hơn một năm thì bị kiện. Giá mình còn nhiều tiền thì theo kiện thế nào cũng được. Nhưng chết một cái lúc bị kiện thì trong nhà em, tiền không có. Vì thế nên thua kiện và thầy em bị huyền chức. Vừa tức vừa xấu hồ, thầy em tính bán hết cửa nhà không ở làng nữa. Thế là gia đình em rời bỏ quê hương về Hanoi. Cảnh nhà lúc đó hết sức là túng quẫn. Mẹ em cố sức buôn bán lần hồi, lại có em giúp việc cũng chẳng đủ ăn. Năm ấy em mười bốn tuổi. Công việc buôn bán thứ nhất của đời em là cắp mẹt quít đi dong các phố Hanoi. Không thể nói hết được những sự bỡ ngỡ thẹn thuồng của em hồi ấy. Mà cũng không thể nói hết được sự nghèo khổ của gia đình em. Sau thầy em tìm được một chân làm ở Hongay, do một người anh em họ giới thiệu. Nhà em liền rời ra ngoài mỏ. Và cũng ở đấy, em đi sàng than để lấy thêm tiền giúp gia đình. Như vậy được hai năm. Rồi một hôm, thầy em xuống mỏ làm. Chiều tối, không thấy về. Mẹ em và em lo sợ đi hỏi thì mới biết kíp người làm mỏ hôm ấy bị đè chết tất cả ở dưới hầm. Mẹ em chết điếng người, ngất đi ở nhà ông cai, em phải vực về nhà…
Thuật đến đoạn này, Hậu nấc lên một tiếng và òa khóc. Tôi ngồi yên nhìn sự đau khổ của người đàn bà trụy lạc ấy. Những giọt nước mắt làm khô ráo những buồn não của nàng. Nàng lấy khăn lau mắt và nhìn tôi. Tôi an ủi:
- Chị tính, ở đời, gặp những cảnh biến bất thường như thế có gì lạ đâu. Lạ, là những việc xảy ra sau những cảnh biến ấy. Rồi về sau, bà cụ ra sao?
- Khổ nhất là lúc ấy mẹ em lại mới có mang. Biết rằng sự sống ở ngoài mỏ không thể được nữa, em bàn với mẹ em về Hải Phòng kiếm kế sinh nhai. Về Phòng, em đến tìm một bà mẹ bán la-ghim ở chợ Sắt và xin bà cho ở nhờ tạm để em đủ thì giờ soay-sỏa công việc làm ăn.
Chẳng may cho em lại gặp một bà mợ hết sức khó chịu. Nay tiếng bấc, mai tiếng chì, thật là khổ tâm cho mẹ em. Nhưng may gặp được chồng bà ta tử tế. Ông tìm được cho em một chân phu đẩy gòong ở sở Si-măng, lương tháng được sáu đồng. Em liền thuê một gian nhà lá ở phố Bàng rồi cùng mẹ em sang đấy ở để tránh nhìn bà mợ cau có kia. Anh tính với sáu đồng bạc, hai mẹ con sống làm sao được? Vì thế nên mẹ em tuy ốm yếu cũng phải buôn ít sắn ít khoai ngồi bán ngoài chợ Bàng để kiếm tiền thêm cho đủ chi dùng.
Mẹ con sống tạm, sống bợ cũng đủ bữa cơm bữa cháo. Em ở phố Bàng đã được hơn sáu tháng. Thì mẹ em vừa đến ngày sinh nở. Lúc mẹ em giở dạ, trong túi em không có lấy một xu nhỏ. Không biết làm thế nào, Em liền đến vay ông Cai coi kíp em làm. Ông ta cũng ở phố Bàng. Ông liền cho em vay hai đồng. Em đưa mẹ em vào nhà thương đẻ. Cái thời kỳ mẹ em nằm nhà thương đẻ là thời kỳ em vất vả và khổ nhất. Tiền đã thiếu, con mụ chủ nhà thương đẻ nó lại cứ thúc dục luôn. Và thấy em không có, nó dằn vặt mẹ em đủ tình đủ tội. Anh tính ở đời này khi mình không có tiền thì ai mà thương mình đâu! Lúc ấy, em mới thấy có tiền là sự cần dùng ở đời, nếu mình muốn sống cho yên thân.
Mẹ em nằm nhà thương được mười ngày thì về nhà. Mẹ em đẻ con trai. Nhưng phần vì lao lực ngay từ lúc có thai, phần vì trải qua bao nhiêu sự đau buồn liên tiếp trong mấy năm và lại mới uất ức vì những sự dằn vặt trong nhà thương đẻ, về nhà được chín ngày thì mẹ em mất. Trời ơi! anh không thể tưởng tượng được sự bối rối, sự lo lắng của em lúc mẹ em nhắm mắt. Một xu không có, lấy tiền đâu mà ma chay? Lấy tiền đâu mà nuôi đứa em thơ? Hôm mẹ em mất lại đúng ngày hăm ba tháng chạp. Trong lúc người ta ăn tết tiễn ông Công lên chầu giời, em ngồi ôm thây mẹ khóc một mình, bên cạnh một đứa hài nhi. Những người hàng xóm cũng lo dùm cho em, nhưng không ai giúp đỡ em được một đồng chinh, em lo quá mà chỉ biết khóc, không còn biết xoay sỏa cách nào. Em còn nhớ hôm ấy, lúc chín giờ đêm, em đang ngồi khóc lóc bên thây mẹ em thì có tiếng người khẽ gọi tên em ngoài phên cửa. Em bàng hoàng quấn lại tóc, trong bụng cầu mong có một vị cứu tinh nào đến lúc này để giúp em. Và em mở phên cửa. Em sửng sốt. Người gọi tên em là ông cai kíp đã cho em vay hai đồng bạc. Mới thoạt nhìn thấy ông, em ngờ là ông lại đòi tiền. Nhưng ông để ngón tay lên mối xuỵt một cái khẽ rồi cầm tay em lôi ra ngoài. Trời tháng chạp tối như mực. Mà ở phố Bàng thì lại càng tối lắm. Ông ta ghé vào tai thì thầm. Em rùng mình. Em đoán rằng ông chưa biết cái tin mẹ em chết vì ông nói ở bên phố từ chiều bảy giờ mới về. Mà mẹ em mất lúc bẩy giờ. Anh có thể đoán được ông ta thì thầm với em cái gì không? Thật là kinh khủng! Ông ta bảo em… theo ông ta đi. Ông ta năn nỉ mời em đi… đến ông xếp. Em nhớ mãi lời ông ta nói: “Cô sẽ có nhiều tiền. Cô sẽ được lương nhiều hơn. Cô có thể có ngay một số tiền, sáng ngày mai. Cô thiệt cái gì mà còn ngần ngừ?” Thật là chó má? Em vẫn thường được nghe chị em thuật lại chị này, chị kia vì không bằng lòng nên bị đuổi... Em nghĩ ngay đến cảnh ngộ em. Nhưng làm như thế thì sao cho tiện?
Hậu phải ngừng lại, thở dài như để hắt ra cái uất ức mà sự thuật chuyện cũ vừa đè nặng trên ngực nàng. Rồi nàng nói tiếp:
- Em ngần ngừ mãi không đi. Ông cai nằn nì mãi không được liền dọa đuổi em. Anh tính thế có đau đớn không? Sau em liền bảo ông Cai rằng mẹ em mới mất chưa chôn cất… Tưởng nhờ thế mà ông ta thương, ai ngờ ông ta lại nhân đó mà bắt chẹt. Ông ta bảo em: “Thế cô lấy tiền ở đâu mà chôn cất bà cụ bây giờ? Cô phải hy sinh một tý vậy chứ. Ông xếp thích cô lắm cơ. Thôi, nên đi đi, cô.” Thật là dã man hết chỗ nói! Em không bao giờ có thể ngờ được sự chó đểu của người đời có thể đến thế được. Về sau này, lăn lóc trong cảnh giang hồ, em mới nhận thấy rằng sự chó đểu của người đời có thể tồi tệ gấp trăm gấp nghìn như thế. Lắm lúc nghĩ mà ghê tởm anh ạ, ghê tởm cho cái tâm địa của con người… Tình cảnh em lúc ấy thật là khó nghĩ quá. Cả cái tâm hồn em phản đối lời mời mọc của lão Cai mà cả cái cảnh ngộ của em lúc ấy thì ưng thuận. Trong một chớp nhoáng, em tưởng đã tìm được con đường có nhiều tiền bắt đầu từ đêm hôm ấy. Bị ông Cai thúc dữ quá, em liền bảo ông chờ em mấy phút để em vào nhà thu xếp. Mà thu xếp cái gì? Em phải nói thác ra như vậy để trở vào trong nhà tiện chỗ mà khóc cho cái số kiếp của em. Bước vào nhìn thây mẹ em nằm cứng đờ trên phản, em rùng mình. Em ôm lấy mẹ em, khóc không ra tiếng. Không có tiền khâm liệm, ngày mai thây mẹ em sẽ chương ra… Bao nhiêu sự lo lắng rồn đến làm em không biết nghĩ thế nào nữa. Đứa em nhỏ bỗng hét lên một tiếng. Có lẽ nó lạnh, phần vì thiếu chăn quấn, phần vì nằm trong một gian nhà ẩm thấp lại có tử khí. Em đến ôm nó vào lòng… Thì ở ngoài phên cửa, ông Cai cũng vừa đằng hắng có vẻ sốt ruột. Tâm thần em bàng hoàng. Nước mắt em cứ ứa ra rào rạt. Rồi không biết bấy giờ em nghĩ ra làm sao mà em lại lấy tã cuộn tròn đứa nhỏ lại, lấy gối đè lên cho nó được ấm. Xong em len lén lách cửa phên bước ra như tên ăn trộm. Lúc ấy em như người mê ngủ và tưởng mình đang đi lạc vào một chỗ không biết lối nào ra. Thế là em theo lão Cai đi… Đời em từ đêm ấy bắt đầu bước vào một cảnh mới, cái cảnh đau buồn em sống dằng dặc đến nay vừa vặn chín năm… Bây giờ lúc nào em nghĩ lại đến cái đêm hôm rùng rợn ấy là em ứa nước mắt.
- Về sau đứa em nhỏ ra sao?
- Được năm hôm sau khi chôn cất mẹ em, thì nó cũng chết theo.
- Tội nghiệp!
- Kể thì cũng tội nghiệp thật. Nhưng nếu nó sống thì cái đời nó còn tội nghiệp hơn nhiều!
Rứt lời, Hậu thở dài.

Tôi cũng thở dài. Tôi buồn cho cảnh ngộ đau đớn của người đàn bà khốn khổ… Rồi tôi bâng khuâng nghĩ đến sự trụy lạc của bao nhiêu người đàn bà khác. Chín mươi nhăm phần trăm các người gái đĩ điếm, hiện nay sống bên dìa xã hội, đều bắt đầu cuộc đời lấm láp ở những trường hợp na ná như của Hậu. Họ đói. Họ bị hãm vào cảnh túng quẫn quá độ. Giữa lúc ấy, có người – mà hạng người này bao giờ chẳng có? – đưa tay dắt họ cho họ cơm ăn, áo mặc và giải quyết cho họ cái bối rối đang rầy vò họ. Thì sao mà họ không theo người ấy – dù là bước xuống một đống bùn? Đột nhiên tôi nhớ đến câu nói của nhà văn Bernard Shaw mà tôi đã đọc được trong cuốn Guide de la femme intelligente . Câu ấy thế này: “Bắt buộc người đàn bà giữ gìn trinh tiết là một điều rất dễ. Nhưng bắt buộc như thế không còn hợp lý nữa, khi trinh tiết chỉ đưa đến sự chết đói và phần thưởng của tội lỗi lại là một giúp đỡ thiết cận về cơm áo” .
Và tôi khinh bỉ tất cả những người nào thường khinh bỉ các đàn bà đĩ điếm. Đói, người ta chỉ biết theo cái luân lý của kẻ đói. Không thể vin vào cái luân lý của kẻ no mà kết tội người ta được.
Hậu giót nước mời tôi uống. Bên ngoài, gió thổi vù vù. Tôi lấy gói thuốc mời nàng. Nàng từ chối:
- Trước kia, em vẫn hút. Nhưng từ khi em thấy ngực em yếu thì em thôi ngay.
- Hình như giờ chị ho có phải không?
- Vâng, em ho. Mà chỉ ho khan thôi. Hôm nọ em nhờ một người bác sĩ xem hộ thì hắn bảo em đau phổi. Em lo lắm. Mà anh tính sống cái đời chìm nổi đọa đầy như của chúng em thì tất nhiên phải thế, làm sao mà tránh được! Cũng như trăm nghìn chị khác, đời em sẽ kết liễu trong một số nhà thương thí, với bệnh lao. Em cũng liều!
- Sao chị không nghĩ thoát ly cuộc đời mưa gió của chị; quay về cái sống lương thiện có hơn không?
- Thoát ly! Em cũng muốn thoát ly lắm. Mà em có thể nói quả quyết với anh rằng tất cả những người như em đều mong mỏi thoát ly cuộc đời trụy lạc. Nhưng điều cần biết là có thể thoát ly được hay không. Anh tưởng quay về cái sống lương thiện dễ dàng lắm hay sao? Em đã thí nghiệm hai lần rồi. Mà cả hai lần đều hỏng cả.
Mấy tiếng ho làm Hậu phải ngừng nói. Tợp một hớp nước cho ướt giọng, nàng kể:
– Lần thứ nhất, em lấy chồng ở Hải phòng, sau hai năm hát xướng…
Chương V
Đứa nhỏ cựa mình ở trên giường, khóc. Hậu phải đứng lên, lại du nó, và kéo chăn đắp kín người nó. Rồi nàng quay về chỗ ngồi cũ, nhân có đứa nhỏ nói luôn:
- Đấy, cái kết quả của sự lấy chồng ấy là thằng bé này. Năm nay nó bẩy tuổi. Nó giống bố nó như đúc. Sau khi em đẻ nó được sáu tháng thì em bỏ nhà chồng ra đi. Nói rằng em bỏ thì không được đúng. Chính thực, em bị hất ra ngoài gia đình chồng em. Cả cái gia đình ấy không muốn chứa ở trong nhà một nàng dâu đã làm đĩ. Chồng em là một người rất tốt, nhưng phải cái tính nhu nhược. Em gặp hắn một đêm tháng một ở trong xóm Cánh gà, cũng như bốn năm sau, em gặp Thuyết ở tỉnh Thanh. Hắn là con nhà giầu và làm thư ký ở sở Thương chính. Tình cờ mà hắn đi chơi, chứ không phải là người chơi bời. Hắn cũng thú thực với em rằng đêm ấy là đêm đầu tiên đi hát, các bạn kéo đi. Mà xem cách cử chỉ ngượng nghịu của hắn thì em cũng đoán ra ngay. Đối với một người con trai ngây thơ như thế, em không thi hành cái mộng thoát ly của em, thì còn cơ hội nào nữa? Em liền gắn bó. Và hắn cũng đem hết tim dạ để yêu em. Từ đấy đêm nào hắn cũng đến hát. Rồi sau ba tháng hẹn hò, hắn chuộc em ra khỏi cảnh đào hát. Hắn thuê riêng một căn nhà ở phố Belgique cho em ở và dấu kín cả nhà không cho ai biết. Dần dần gia đình hắn cũng biết. Người chị hắn đến yêu cầu em buông tha hắn và hứa sẽ đền bù một số tiền. Nhưng em nhất định không nghe, vì em đã có mang. Biết không thể lìa bỏ em được mà lại sợ em làm vỡ lở câu chuyện mang tai mang tiếng, gia đình chồng em phải bằng lòng, xếp đặt công chuyện cho thành hôn lễ. Một người đứng nhận em làm con nuôi. Rồi công việc cưới xin thành lễ. Em về làm dâu, rất mực chiều chuộng mẹ chồng, em chồng cùng các người họ hàng thân thuộc với gia đình chồng em. Họ thấy em ngoan ngoãn thế, đã không nhận sự tử tế của em thì thôi lại còn cho em là vờ vịt giả dối như thế để bòn khoét cho dễ. Rồi tiếng nặng tiếng nhẹ, họ đay nghiến em, trách móc chồng em. Họ không bao giờ quên nhắc cho chồng em biết rằng bọn cô đầu lấy người nào thì người ấy sẽ bị bùa mê bả dột đến khánh kiệt gia tài. Họ không bao giờ quên nhắc cho em biết rằng họ đã đề phòng tất cả những sự làm hại của em đối với chồng em. Mới đầu em hết sức nhẫn nhục, thế nào cũng bấm bụng cam chịu. Tưởng em nhu nhược, họ lại lấn già. Họ cố ý đuổi hết đầy tớ trong nhà đi để em phải làm những công việc của chúng. Và họ cũng để cho em ăn uống hẩm hiu như một đứa đầy tớ. Em than phiền với chồng em thì hắn chỉ thở dài và khuyên nên nhẫn nhục. Nhưng đã đến nước ấy thì anh bảo nhẫn nhục sao được nữa? Em thấy bao nhiêu sự tử tế của em đều là thừa. Mà càng tử tế thì họ lại càng làm quá. Hình như họ không nhìn nhận em là một người nữa. Đối với họ thì em là yêu tinh ma quỷ hay rắn rết hùm lang, lúc nào cũng chực ăn thịt các người trong nhà. Anh xem thế có lạ không? Sau cùng, họ hành hạ bạc đãi em quá lắm, em không nhịn nữa. Thế là từ đấy, trong gia đình chồng em, không ngày nào là không xảy ra những chuyện cãi cọ lôi thôi. Họ làm già. Em làm già hơn. Họ đánh, em đánh lại. Em đập phá đồ đạc và em dọa đi trình bóp. Họ thấy em làm dữ, họ sợ không dám đụng đến em nữa. Nhưng anh bảo sống trong một gia đình như thế thì sống làm gì? Đêm đêm em nguyền rủa chồng em. Khổ tâm quá, hắn liền nói khuyên em nên bỏ nhà ra đi, hắn sẽ chu cấp. Em không nghe. Sau rốt hắn phải mua lén một bát họ trăm hai, mua non để đưa cho em…
Nhưng em cũng chưa đi. Em còn ở lại, sinh đẻ xong được ít lâu rồi mới ra khỏi nhà. Em đã toan để đứa con lại cho họ nuôi, nhưng em nghĩ muốn trả thù họ bằng cách đem đứa con đi. Mà lại là đứa con giai! Họ nhất định giữ. Em dọa nếu không cho em mang đi thì em bóp chết đứa bé. Lúc ấy họ mới buông. Em đã trù tính rồi món tiền trăm bạc, em sẽ nuôi con và buôn bán làm ăn lương thiện.
Không ngờ, sự buôn bán chỉ toàn đem lại cho em những việc thất bại… Ấy cũng chỉ vì em muốn làm người lương thiện. Hình như những người ở chung quanh em chỉ muốn cho em bát cơm tấm áo khi em hư nết. Còn nếu mà giữ trinh giữ tiết thì họ cướp cơm áo của em đi. Không thể sống được trong một gia đình mà người ta gọi là lương thiện, không thể sống được yên thân nếu không đem nhan sắc của mình ra chiều chuộng người đời thì anh bảo em còn cách nào, nếu không lại quay về đời đào hát? Chẳng thà cứ sống đàng hoàng cái đời giang hồ em còn thấy sướng hơn, sống cái đời đĩ điếm nửa chừng hay cái đời tôi mọi trong một gia đình lương thiện. Anh xem đấy, trở về cuộc đời lương thiện có dễ dàng như người ta tưởng đâu.
– Thế đứa con chị gửi vào đâu? Vì hình như sau hồi đó thì chị vào Thanh mà dạo ấy tôi không thấy chị có cháu.
- Phải, sau dạo đó thì em vào Thanh, sống cái đời đào hát. Còn cháu, em cũng đem theo vào trong, nhưng gửi một người quen, thuê vú bõ nuôi nấng. Tự nhiên em thấy rằng đời em chỉ còn có đứa con ấy là hạnh phúc, nên em cứ cố sức nuôi nấng nó. Bao nhiêu tiền em có, em đem bù trì cả cho nó.
- Đến lúc gặp Thuyết…
- Vâng, đến lúc gặp Thuyết thì em đang là một người mẹ. Thuyết gặp em, yêu em và tha thiết ngỏ tình yêu với em. Thấy Thuyết tha thiết quá, em cảm động. Nhưng em vẫn chưa quên sự lấy chồng vừa qua đã làm em khổ sở thế nào. Em đem câu chuyện kể hết cho Thuyết nghe. Thì Thuyết bảo với em rằng những sự lôi thôi ấy không thể có được. Vì Thuyết không có gia đình, chỉ sống có một mình mà lại kiếm đủ tiêu. Em nghĩ rằng với cảnh ngộ ấy có thể sống với Thuyết lâu bền được. Em cũng đành liều một phen nữa xem sao. Ấy thế là em lấy Thuyết và đem con về nuôi. Thuyết cũng khoan dung, cho phép em nuôi đứa con của người chồng trước. Chúng em ăn ở với nhau rất là đằm thắm. Em đã mừng thầm. Trong những ngày đầu, cái sung sướng của em thật là tuyệt. Em giống như người đi đường xa gặp rét, thình lình gặp ở giữa đường một nhà quen, được ngủ nhờ một đêm trên chăn dưới đệm. Huống hồ em còn hơn người lữ khách ấy là em không ngủ nhờ. Em ngủ ở nhà em. Em trù tính công việc làm ăn để cùng Thuyết gây dựng một tương lai chắc chắn. Thuyết cũng đồng ý với em. Nếu bây giờ em ngoảnh lại cuộc đời từ trước đến nay, em cũng chỉ còn nhớ tiếc cái thời êm ái ấy. Quả như lời Thuyết nói, em không gặp một sự lôi thôi gì ở phần gia đình. Em tự do hưởng cái hạnh phúc của đời em với một người chồng. Chúng em sống như vậy được hơn một tháng… Hy vọng của em chung quy chỉ là giấc mộng. Anh lấy làm lạ ư? Em tưởng không có gì lạ cả. Bởi lúc em quá tin ở hạnh phúc, em không nhận thấy rằng sự chung thủy là một điều trên sức người đàn ông – xin lỗi anh – nên em mới dám hy vọng đặt cả cuộc đời tương lai vào tình yêu của Thuyết. Tình yêu ấy nhạt dần. Tính nết đàng điếm hoang toàng của Thuyết, em tưởng em đã làm mất đi được thì ra nó vẫn còn. Thuyết lại đi chơi suốt đêm này qua đêm khác. Em hết sức can ngăn, nhưng vô công hiệu. Em thừa biết rằng nếu Thuyết lại đi hát thì rồi sẽ lại gặp một người cô đầu khác và sẽ bỏ em. Thành ra từ đấy em phải phòng thêm. Quả nhiên, em đoán không sai. Sau khi sống một ít ngày lẻ loi hiu quạnh, em thấy một hôm Thuyết phũ phàng chửi đánh em vì một chuyện chẳng có nghĩa lý gì. Em biết ngay là Thuyết đã có nhân tình mới. Em liền bảo Thuyết: “Anh không phải tàn nhẫn. Nếu bây giờ anh yêu người khác không yêu tôi nữa thì chúng ta xa nhau ra, chỉ có thế thôi!” Thuyết cũng bằng lòng như thế. Với một số tiền nhỏ em để dành dụm được, tay ẵm đứa con thơ, một lần nữa, em lìa bỏ cuộc đời gia đình để trở lại sống cuộc đời mưa gió. Từ bấy đến nay, em cũng không làm đào hát nữa. Em sống bằng nghề khiêu vũ. Em thấy rằng sống thế này, dù khổ đến thế nào đi nữa, cũng còn khổ ít hơn cái đời tôi mọi của người đàn bà trụy lạc muốn quay về sống lương thiện.
Nàng đã ra chiều mệt mỏi. Thỉnh thoảng một cơn ho đã cắt đứt câu chuyện. Nghỉ giây lâu, nàng kết luận:
- Đấy, anh xem đời em có cực nhục không? Hai lần em muốn thoát ly đời trụy lạc, hai lần em cũng thất bại. Thất bại không phải lỗi ở em. Mà lỗi ở gia đình cổ lỗ, lỗi ở người đàn ông. Em chắc rằng các chị khác muốn thoát ly đời trụy lạc cũng đã thường gặp những cảnh ngộ như em. Chứ đời nào chúng em lại không ao ước sự thoát ly, như lời anh nói lúc nãy. Lấy người đứng đắn thì gia đình người ấy phá, lấy người chơi bời thì chính người ấy phá, riêng chúng em chẳng có quyền gì. Anh có thấy cảnh ngộ nào ở đời, thương tâm hơn cảnh ngộ của chúng em không?
Rồi nàng lầm bầm như để trả lời cho một sự khinh bỉ:
– Làm đĩ! Làm đĩ! Tuồng như ngoài chúng em ra, trong xã hội này đàn bà không ai làm đĩ nữa!
Tôi ngồi im lặng hút thuốc lá, suy nghĩ về cuộc đời của người đàn bà đau khổ vừa than thở với tôi. Bên ngoài gió vẫn rú rít trên cành cây khô. Và đêm đông vẫn tịch mịch như một sự chết.
Tôi nhìn Hậu. Nàng đang mơ mộng. Nàng đang hồi tưởng…
Có lẽ nàng đang hồi tưởng đến cái đêm rùng rợn ở phố Bàng. Cái đêm đầu tiên mà giải yếm nàng rơi thõng xuống một chiếc đệm bông…
Chương VI
Khi mảnh yếm rơi xuống…
Thì người đàn bà phải thay nó bằng cái coóc xê.
Mảnh yếm là của thời đại cũ. Cái coóc-xê là của thời đại mới.
Ở cuộc đời của một người đàn bà như nạn nhân trong chuyện này, từ thời đại cũ đến thời đại mới, có cả một thảm sử.
Có sự nghèo đói.
Có sự túng quẫn.
Và có cái lòng dục thú vật của người đàn ông.
Cái lòng dục thú vật ấy, trong xã hội hiện thời, không bị một sức gì hạn chế. Nó như viên tướng thắng trận cưỡi ngựa trên một bãi chiến, xông xáo nghênh ngang.
Con ngựa ấy là tiền bạc.
Khi mảnh yếm rơi xuống…
Thì người đàn bà không mặc được nó lên ngực nữa. Một bàn tay đã in dấu vết vào da thịt thì những bàn tay đàn ông khác xô nhau đến.
Trên cái dấu vết nhơ nhuốc ấy, xã hội khắc một giòng chữ: “Mày đã làm đĩ, thì phải làm đĩ suốt đời”.
Người đàn bà trụy lạc đọc đến dòng chữ này phải khạc nhổ.
Trương Tửu
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Ái tình tiểu thuyết

Ái tình tiểu thuyết Sợ các ngài tẩy chay tôi, hôm nay tôi xin hiến các ngài một thiên ái tình tiểu thuyết. Nhưng ái tình tiểu thuyết tôi v...