Trong truyện Kiều, luôn luôn Nguyễn Du nhắc nhở đến: TÌNH YÊU, LÒNG THƯƠNG, CHÍ ANH HÙNG với tất cả những biến thái của ba sự trạng ấy. Lấy tình yêu sắt đá chống với sức tàn phá của xã hội, lấy lòng thương mênh mông chống với sự độc ác của cuộc đời, lấy chí anh hùng vũ bão chống với cường quyền, bất công và luồn cúi: đó là sự quan tâm chủ yếu của thi hào Nguyễn Du, sự ám ảnh của tâm hồn Nguyễn Du mà chỉ có sáng tác văn học mới giải phóng được – giải phóng bằng cách thể hiện nó ra thành hình tượng và ngôn ngữ. (Truyện Kiều)
Nhà văn Jean Richard Bloch đã viết:
« Nếu không được phục vụ bằng một hình thức chính xác và chặt chẽ, ý tưởng sẽ không là gì hết, ý tưởng sẽ không có… Một tư tưởng có lực lượng không được thể hiện bằng một cách phô diễn tương đương sẽ chỉ còn là một khả năng đang ngủ… Nghệ sĩ chỉ thể hiện được mình khi hắn đồng thời là một người thợ, một người thợ khỏe và biết điều» . 41
Công cụ lao động của người thợ này chủ yếu là ngôn ngữ. Mục đích của hắn là chế biến những vật liệu đã có sẵn ở thế giới khách quan – tức là ngôn ngữ của xã hội – tạo ra một hình thái mới của vật liệu (ngôn ngữ văn học) dùng để biểu hiện một thực tại theo chủ ý riêng của người nghệ sĩ.
Chính tâm hồn và nhãn quan về thế giới của Nguyễn Du đã đẻ ra bút pháp Nguyễn Du.
«… Tố N hư tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy… » (Tiên phong, Mộng liên đường chủ nhân: Tựa cuốn Đoạn trường tân thanh).
«… Đem bút mực tả lên trên tờ giấy nào những câu vừa lâm ly, vừa ủy mị, vừa đốn tỏa, vừa giải thư, vẽ hệt ra một người tài mệnh trong mười mấy năm trời, cũng là vì cái cảnh lịch duyệt của người ấy có lâm ly, ủy mĩ, đốn tỏa, giải thư thì mới có cái văn tả hệt ra như thế vậy » (Phong tuyết chủ nhân Thập thanh thị: Tựa cuốn Đoạn trường tân thanh).
Nhà văn cổ điển Pháp, La Bruyère, có câu: «Văn tức là người». Karl Marx cũng đã nói:
«Cái sở hữu của tôi là hình thức. Hình thức này làm ra tính cá thể tinh thần của tôi. Văn tức là người. Ở một nhà văn, từ ngữ và bút pháp là do tâm hồn quyết định, chứ không phải chỉ là một câu chuyện kỹ thuật » .
Một mặt khác, bút pháp của nhà văn còn bị những sức mạnh ở ngoài nhà văn quyết định nữa. J.R. Bloch đã viết:
«Nghệ thuật viết văn là một độc thoại. Nhưng hãy gập trang giấy lại, quay lật cái huy chương đi, ta sẽ thấy đó là một đối thoại. Đối thoại giữa ai với ai? Giữa nhà văn và độc giả. Sự rõi tìm một lời nói chính xác là sự mong mỏi một thông cảm. Anh có thể nói… như Valéry: «Dù mất đi bao nhiêu độc giả, tôi cũng sẽ không tiếc, nếu cần», hay như thi sĩ Gustave Kahn «Tôi viết cho năm người bạn xem». Muốn nói thế nào tùy ý: chỉ biết rằng những độc giả ấy, dù là 5.000, 500 hay 50 người, có mặt trong lúc anh sáng tác, họ ở trong anh khi anh cấu tạo tác phẩm; sự trợ lực yên lặng của họ giúp anh có can đảm lớn để sáng tác. Kết quả của công việc anh làm là để đệ trình lên cái tòa án gồm những bóng người ấy, những cái bóng thực như con người thực của anh vậy. Anh có dám tưởng rằng cái đám thính giả bí mật ấy không tác động gì đến anh không? Trong một chừng mực nào, họ lại không ra lệnh cho tư tưởng anh đi lối này, lời nói của anh cấu kết với nhau cách nọ ư? Cái ngoại giới ấy, cái xã hội ấy mà anh đã dùng mọi cách đề phòng để gạt xa ra khi anh âm thầm sáng tác một mình, luôn luôn tấn công anh mọi mặt, và, cũng âm thầm lặng lẽ như anh, đã xô cửa phòng anh ùa vào, anh không ẩn trốn đâu thoát được. Thế là một phương trình có hai ẩn số đã biến thành một phương trình có ba ẩn số. Cái tập thể câm mà ta vừa nói đến ở trên đã tạo ra khí hậu của sự sáng tác văn học». 42
Ngoài tâm hồn của nhà văn và sự mong muốn thỏa mãn độc giả 43 , còn một nhân tố nữa quyết định từ ngữ và bút pháp của nhà văn cũng không kém phần nghiệt ngã: đó là thực tại xã hội và tâm lý mà nhà văn biểu hiện, phản ánh. Một nhà văn chân chính bao giờ cũng cố gắng trung thành với thực tại trong khi cấu tạo những hình tượng nghệ thuật để ký thác tâm hồn mình, tìm sự đồng tình của người khác và bình giá cuộc sống ở chung quanh. Vì muốn trung thành với thực tại nên nhà văn phải gắng tìm những chữ, những lời, những cách nói đủ lực lượng biểu hiện đúng thực tại. Khi Nguyễn Du muốn cực tả tình hình hèn mạt bỉ ổi của tên buôn người Mã giám Sinh, muốn bộc lộ tất cả sự khinh bỉ của mình đối với hắn và làm cho mọi người đều phải phỉ nhổ vào mặt hắn, thi sĩ đã cho hắn nghĩ thành lời nói: « Mụ già hoặc có điều gì ; liều công mất một buổi quỳ mà thôi». Ý nghĩ «vợ bắt quỳ, ta sẽ liều công quỳ một buổi» diễn ra ở hai câu thơ quả đã là bản án chém tên buôn người Mã giám sinh trước khi hắn bị rụng đầu dưới lưỡi đao của quân đội Từ Hải sau này. Khi Hồ Xuân Hương muốn lột cái mặt nạ đạo đức của những kẻ tự mệnh là «quân tử», bắt chúng hiện nguyên hình «con lợn ti tiện và bẩn thỉu», thi sĩ đã tìm được một hình ảnh và những lời thơ đủ sức đẩy lũ giả dối ấy trần truồng ra sân khấu trước con mắt khinh bỉ của mọi người: « Quân tử có thương thì bóc yếm, xin đừng ngó ngoáy lỗ tr ôn tôi!» Màn đã kéo lên, công chúng đã thấy rõ và đã cười rộ. Bao nhiêu Tứ thư, Ngũ kinh, bao nhiêu nghi vệ của ông Trình, ông Chu ngồi giảng đạo, bao nhiêu bằng cấp Thám hoa, Bảng nhỡn của triều đình phong kiến cũng không đủ sức dựng lại được uy tín cho người «quân tử» đã bị Xuân Hương hóa. Khi Tú Xương muốn vạch mặt bọn quan lại đương thời tanh ngắt những hơi đồng, hôi nặc những mùi nịnh hót chạy chọt luồn cúi và đang làm tay chân cho lũ thực dân cướp nước, ông hạ bút viết: « Phen này ông quyết đi buôn lọng, vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng!» Lời thơ, chữ dùng, cách nói đã như chậu nước lạnh buốt hắt vào trúng mặt bọn «phụ mẫu chi dân» hại nước hại nòi, làm trôi tuột những phấn son chúng trát dầy cộm trên môi trên má, để lộ trơ ra một bộ mặt ô uế, tội lỗi và thảm hại. Bọn quan đã bị Tú Xương hóa không còn đánh lừa được ai nữa.
Sức mạnh của ngòi bút, trong tay những Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, quả thật là phi thường. Sở dĩ các nhà văn thiên tài này có được sức mạnh ấy là bởi họ đã nắm được và quyết tâm biểu hiện trung thành những nét cốt yếu của thực tại. Những tên buôn người vô liêm sỉ quỳ dưới mắt cú vọ mụ Tú Bà (của Nguyễn Du), những hạng quân tử ngó ngoáy lỗ trôn ốc (của Hồ Xuân Hương), những bọn quan lại bâu vào nghe chửi để mua lọng (của Tú Xương): đó là sự thực. Nhân dân muốn phỉ nhổ vào mặt lũ buôn người ấy, lột mặt nạ hạng quân tử ấy, đạp lên võng lọng của lũ quan lại ấy: đó là sự thực. Vì Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương nhìn bằng con mắt hợp với mắt nhân dân, nghĩ bằng khối óc hợp với óc nhân dân, cảm bằng trái tim hợp với tim nhân dân – nhìn đúng sự thực, nghĩ đúng sự thực, cảm đúng sự thực – nên họ đã tìm được một ngôn ngữ, một bút pháp có lực lượng to tát, có nhân dân tính cao độ.
«Khi nghệ sĩ, chủ quan hay khách quan, đứng ở một vị trí gần gũi với những nguyện vọng và quyền lợi của quần chúng cần lao bị bóc lột, gần gũi với những quan niệm luân lý và thẩm mỹ của những người sản xuất của cải vật chất, gần gũi với kho truyền thống văn học dân gian thì đó chính là cái làm cho nghệ sĩ có một sức mạnh tiềm tàng và mãnh liệt nó trợ lực rất nhiều sự tìm tòi của nghệ sĩ» . (Ivachtchenko: Bàn về nhân dân tính của văn học)
Nhà văn học sử muốn khám phá tâm hồn một nhà văn, muốn tìm ra cái tâm lý xã hội của những người đọc (hoan nghênh hoặc phản đối nhà văn ấy), muốn hình dung lại cái thực trạng cuộc sống đã lọt vào thế giới hư cấu của nhà văn, tất yếu phải đi từ sự phân tích ngôn ngữ và bút pháp đặc biệt của nhà văn ấy và thông qua những hình tượng nghệ thuật dò ngược lên đến cái nguồn phát sinh ra nó. Rồi lại phải đi từ sự phân tích cái nguồn này (thực tại xã hội, tâm lý thời đại, tâm hồn nhà văn) xuôi xuống để tìm lý do của hình tượng, ngôn ngữ và bút pháp đặc biệt kia. Ngôn ngữ độc đáo, bút pháp có cá tính, hình tượng nghệ thuật đặc thù, tâm hồn nhà văn, tâm lý thời đại, thực trạng xã hội, tất cả kết thành một khối duy nhất là tác phẩm văn học.
Mỗi tác phẩm văn học biểu thị một nhãn quan độc đáo về thế giới, một cách điển hình hóa độc đáo, một bút pháp độc đáo. Không đặc biệt chú ý đến tính loại biệt của những hoạt động sáng tạo này, nhà văn học sử sẽ không thoát được ra ngoài những câu tổng luận không đúng chỗ, sẽ rơi vào khuyết điểm « chỉ bình giá những ý định của nhà nghệ thuật, chứ không bình giá cái mà nhà nghệ thuật đã sáng tạo ra», và như vậy sẽ không còn là nhà văn học sử nữa.
Hiểu thấu được tính loại biệt của sáng tác văn học, nhà văn học sử sẽ không lẫn những ý kiến của nhà văn phát biểu trực tiếp trong tác phẩm với ý nghĩa khách quan của hình tượng văn học mà nhà văn ấy đã hư cấu ra.
«Ai cũng biết rằng tư tưởng chính trị của một tác giả thường không biểu hiện một cách trực tiếp ở trong sáng tạo nghệ thuật như ở trong triết học hay những khoa học xã hội khác. Hơn nữa, lại còn có những tác phẩm mà giá trị khách quan mâu thuẫn với tư tưởng và cảm tình chính trị của tác giả. Như Engels đã nhận thấy, những tác phẩm của Balzac rất có cái đặc tính này. Cái hiện tượng ấy cũng còn xuất hiện trong nhiều tác phẩm vĩ đại của quá khứ». (Tạp chí Cộng sản: Vấn đề điển hình trong văn học và nghệ thuật)
Thực chất của tâm hồn một nhà văn không ở cách «hiểu» và «giảng» thế giới qua khái niệm và suy luận mà ở cách «nhìn» và «tái tạo» thế giới qua hình tượng sinh động.
Hiểu thấu được tính loại biệt của văn học, nhà văn học sử sẽ không lẫn những ý nghĩ, lời nói, hành động của nhân vật này hay nhân vật khác của tác phẩm với toàn bộ ý nghĩa cách kết cấu vận mệnh các nhân vật ấy. Cách kết cấu này mới biểu hiện đúng thực chất ý thức của tác giả Nguyễn Du cho Kiều khuyên Từ Hải quy phục triều đình và cho Từ Hải «thế công đổi ra thế hàng» không có nghĩa là Nguyễn Du đề cao sự đầu hàng của những người chống triều đình (vì thi sĩ chưa thoát được tư tưởng tôn quân, như người ta thường giải thích). Thực chất tư tưởng của Nguyễn Du là ở chỗ thi sĩ cảm thông với Từ Hải bị lừa và chết đứng giữa trận tiền, cảm thông với Thúy Kiều bị Hồ tôn Hiến làm nhục và cuối cùng đâm đầu xuống sông Tiền đường – vì họ đầu hàng triều đình. Dìu dắt vận mệnh của hai nhân vật ấy đến chỗ bất đắc kỳ tử, Nguyễn Du đã phủ nhận ý nghĩa của sự đầu hàng một cách dứt khoát: đấy mới là thâm ý của thi nhân. Nguyễn Du đã bình giá sự đầu hàng ấy bằng hình tượng nghệ thuật.
Hơn nữa, còn phải tóm bắt được thật đúng cái thần thái đặc biệt của mỗi nhà văn khi họ sáng tác – nhất là trong những hoàn cảnh đầy rẫy những búa rìu thống trị, những cấm đoán ác nghiệt, những chông gai mà bè lũ cầm quyền tung rắc khắp nơi nơi như thiên la địa võng.
« Không nệ vào lời văn của một tác phẩm, khám phá cái ẩn ý của tác giả bị một xã hội bao vây bằng những cấm đoán, là một khoa học lớn lao và bổ ích. Hãy nhớ lại, trong cuộc chiến đấu hiện giờ, những ẩn ý rất nhỏ của câu văn nặng những ý nghĩa như thế nào, chúng ta đã khám phá ra Pégny, Maupassant, Hugo… như thế nào… Biết đọc. Điều này không phải là ai cũng làm được như người ta tưởng» . (Aragon La lumière de Stendhal, Ed.sociales, 1954)
Đừng thấy tác giả Trinh thử cho chuột bạch thủ tiết bằng những lý sự kinh điển mà tưởng rằng tác phẩm để cao và bênh vực Nho giáo phong kiến. Đừng thấy Đặng trần Côn và Đoàn Thị Điểm cho chinh phụ mơ ước ngày khải hoàn vinh quang của chồng mà tưởng họ ca tụng chiến tranh quý tộc. Đừng thấy Nguyễn Du cho Kiều khuyên Từ Hải ra hàng mà tưởng thi sĩ đề cao «thánh trạch» cũng như đừng thấy Nguyễn Du viết: «Một nhà phúc lộc gồm hai» mà tưởng thi sĩ ca tụng cuộc đời tái hợp của Kim Trọng – Thúy Kiều. Đừng thấy Hồ Xuân Hương hay nhắc đến «hiền nhân quân tử» mà tưởng bà ao ước leo lên thang thống trị. Đừng thấy Tú Xương nói đến «tối rượu sâm banh sáng sữa bò» mà tưởng ông thèm thuồng hạnh phúc vật chất của bọn hãnh tiến đương thời, v.v… Tính loại biệt của sáng tác văn học nói chung, cá tính của mỗi nhà văn nói riêng, yêu cầu nhà văn học sử phải chú ý đặc biệt vào nếp quan sát, cảm xúc, tưởng tượng, phô diễn đặc thù của từng nhà văn trong từng loại văn, và thông qua thế giới hư cấu của từng người, tìm đến toàn diện cách thức mỗi người khách quan hóa bằng hình tượng cái chủ quan chân thực của mình. Có như vậy mới tránh được sự ngộ nhận và sự bình giá bất công đối với các nhà văn, đối tượng của công trình nghiên cứu.
Tóm lại, hiểu thấu được tính loại biệt của văn học, nhà văn học sử, trong khi tìm hiểu thế giới hư cấu và chân tướng ý thức của một nhà văn, sẽ vượt lên khỏi cái phụ thuộc để nắm lấy cái chính yếu, sẽ không vướng vào cục bộ mà nhìn được toàn diện, sẽ bước qua được hình thức chủ nghĩa để tiến sâu vào bản chất sự kiện văn học, phản ánh của thực tại.
TÓM TẮT PHẦN THỨ NHẤT
Mấy chương sách trên giắt chúng ta đến những kết luận dưới đây:
1) Văn học là một hình thái ý thức xã hội thuộc vào thượng tầng kiến trúc. Nó bị cơ cấu kinh tế của xã hội chi phối chặt chẽ, xét đến cùng. Trong các xã hội có giai cấp, sự chi phối này phải thông qua đấu tranh giai cấp, tâm lý giai cấp và nhiều nhân tố môi giới khác biểu thị giai cấp đấu tranh và tâm lý giai cấp.
«Kinh tế không tự động đẻ ra thượng tầng kiến trúc, vì thượng tầng kiến trúc là do sự hoạt động của người ta, do đấu tranh giai cấp cấu tạo ra trên cơ sở những quan hệ kinh tế nhất định. Kinh tế chỉ quy định phương hướng phát triển có quy luật của thượng tầng kiến trúc chính trị và pháp lý cùng các hình thái ý thức xã hội trong một thời đại». (Kammari)
2) Tuy bị hạ tầng cơ sở của xã hội quy định, văn học vẫn có một sinh tồn và một lịch sử tương đối độc lập. Trong những điều kiện nhất định, từng yếu tố của nó có thể mâu thuẫn với hạ tầng cơ sở. Nhiều yếu tố của nó có khả năng sống lâu dài hơn cơ sở kinh tế đã sản sinh ra nó.
« Trong lãnh vực nghệ thuật, nhiều thời kỳ phồn thịnh nhất định không có quan hệ gì với tình hình phát triển chung của xã hội, do đó, với cơ sở vật chất là cái bộ cốt của xã hội… Nghệ thuật Hy lạp cổ và loại sử thi Hy lạp… hiện nay vẫn thỏa mãn được mỹ cảm của chúng ta và, ở một phương diện nào, vẫn được coi là tiêu chuẩn kiểu mẫu chưa ai bắt chước được». (K.Marx)
(…) pháp có một thần thái riêng biểu lộ cốt cách cảm nghĩ độc đáo của nhà văn ấy. Những trường hợp «ý tại ngôn ngoại», «có tức là không, không tức là có», khen mà là chê, chê mà là khen, được nghĩa là thua, thua nghĩa là được, v.v… biến hóa khôn lường… càng chứng tỏ ngôn ngữ văn học có một cách biểu hiện cuộc sống thật là loại biệt không giống với bất kỳ hoạt động tinh thần nào của con người. Cho nên, phê bình văn học không thể dùng óc kỷ hà mà phải dùng óc tinh diệu là vì thế.
7) Hoạt động văn học chủ yếu là sáng tạo tác phẩm văn học. Nhưng sáng tạo các tác phẩm văn học không phải là tất cả hoạt động văn học. Công trình sáng tạo thể hiện được là nhờ nhiều nhân tố khác và bị lệ thuộc vào những nhân tố này. Những cơ sở và phương tiện vật chất để thể hiện tác phẩm, những điều kiện sinh hoạt và làm việc của nhà văn, khí hậu tâm lý của thời đại, ảnh hưởng của chính sách thống trị, sức ủng hộ hay phản đối của độc giả, những cuộc đấu tranh tư tưởng giữa các văn phái mâu thuẫn nhau, tình hình phát triển của các loại văn, trình độ của ngôn ngữ dân tộc: tất cả những nhân tố ấy cùng với thiên tài văn học (nhà văn) tác động hỗ tương với nhau, quy định nhau, thúc đẩy nhau, phá hủy nhau một cách biện chứng – tất cả còn chịu áp lực của các yếu tố thượng tầng kiến trúc khác và của hạ tầng cơ sở – tổng hợp lại thành một quá trình văn học sinh động có tính hệ thống, có lô gíc nội tại, có hướng và quy luật phát triển, mệnh danh là đời sống văn học. Khảo sát lịch sử văn học tức là khảo sát đời sống văn học qua thời gian với tất cả tính phức tạp của nó.
Những quan điểm lý giải văn học và văn học sử trình bầy trên đây quyết định phương pháp nghiên cứu và biên soạn lịch sử văn học, đồng thời đề ra những tiêu chuẩn để tìm hiểu và đánh giá đúng các sự kiện văn học sử (tác giả, tác phẩm, trào lưu văn học, văn phái…)
Với những quan điểm ấy, chúng ta sẽ tránh được phương pháp xã hội học dung tục trong khi tìm hiểu mối quan hệ mật thiết nhưng không trực tiếp giữa văn học và quá trình diễn biến của cơ cấu kinh tế xã hội. Chúng ta sẽ tự ngừa được cái xu hướng phân chia các thời kỳ văn học sử rập theo đúng các thời kỳ chính trị sử, kinh tế sử của xã hội; chúng ta sẽ chú trọng đúng mức đến quá trình phát triển của bản thân đời sống văn học tương đối độc lập đối với quá trình phát triển xã hội nói chung. Chúng ta sẽ chú ý đến tính kế thừa của sự phát triển văn học, đến tác dụng của truyền thống văn học (về tư tưởng, về chủ đề, về kỹ thuật, về ngôn ngữ) đối với từng thế hệ nhà văn, từng tác gia văn học. Chúng ta sẽ đi sâu vào thực trạng đối kháng nội tại của đời sống văn học ở mỗi giai đoạn lịch sử, nhận rõ được bộ phận nào bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị và hạ tầng cơ sở, bộ phận nào chống đối lại giai cấp thống trị và phá hủy hạ tầng cơ sở; chúng ta sẽ lưu tâm nghiên cứu kỹ khí hậu văn học của từng thời kỳ – đặc biệt là những cuộc đấu tranh tư tưởng – và do đó đặt đúng tác gia, tác phẩm vào môi trường lịch sử của nó. Chúng ta sẽ cắt nghĩa sự xuất hiện, sự biến hóa, sự suy vong của từng loại văn, từng lưu phái văn học, từng phong trào văn học, đồng thời xác định vai trò lịch sử của các sự kiện ấy. Chúng ta sẽ đặc biệt chú ý đến tính loại biệt của sáng tác văn học (phương pháp sáng tạo hình tượng nghệ thuật, cách vận dụng ngôn ngữ) khi nghiên cứu chân tướng và giá trị một nhà văn, phân tích tác phẩm một cách cụ thể, tránh được lối phê phán nông cạn, sốc nổi hàm hồ của những người quen thói «chỉ bình giá những ý định của nhà nghệ thuật chứ không bình giá cái mà nhà nghệ thuật đã sáng tạo ra», hoặc nói như một nhà bình luận Trung-quốc hiện đại, «nhặt được da lông, bỏ mất gân cốt».
Chúng ta sẽ phải khám phá cái đặc tính có một không hai của từng tài năng văn học, từng tác phẩm văn học với tất cả những mâu thuẫn phức tạp cấu thành tài năng ấy, tác phẩm ấy. Chúng ta sẽ tìm đến giai cấp tính, dân tộc tính, thời đại tính, nhân loại tính của nó và phần đóng góp của nó đối với lịch sử văn học, đối với sự tiến bộ chung của xã hội.
Có như vậy, công việc nghiên cứu và biên tập văn học sử mới trở thành được một bộ môn khoa học. Có như vậy, phương pháp văn học sử mới đạt được yêu cầu tối đa của nó, là qua những hiện tượng và biến cố văn học chủ yếu, khôi phục lại có hệ thống toàn diện quá trình xuất hiện, hình thành và phát triển của đời sống văn học, do đó làm nổi bật được những quy luật khách quan chi phối quá trình ấy.
PHẦN THỨ HAI
những thành phần cấu tạo của văn học sử Việt Nam
Muốn biên soạn một bộ sử văn học Việt Nam thật khoa học, sau khi xác định quan niệm đúng đắn về văn học và lịch sử văn học nói chung (xem Phần thứ nhất), cần phải tìm hiểu giới thuyết, hình dung minh bạch những thành phần cấu tạo của văn học sử Việt-nam ; điều này sẽ làm cơ sở vững vàng cho sự quan niệm các thời kỳ văn học sử ở nước ta.
Hiện nay, chúng ta cần giải quyết những vấn đề sau đây:
Văn học chữ Hán do người Việt-nam viết 44 có phải là văn học dân tộc không? Văn học truyền khẩu nên xếp vào hệ thống văn học sử như thế nào? Thế nào là văn học cổ điển Việt-nam và thời kỳ văn học cổ điển Việt-nam là thời kỳ nào? Văn học cận đại bắt đầu từ bao giờ? Văn học hiện đại khởi điểm từ năm nào? Chưa giải quyết được những vấn đề ấy thì sự biên tập bộ văn học sử Việt-nam sẽ còn luộm thuộm, hồ đồ, không tài nào tránh được.
Chương THỨ NHẤT
Văn học Hán Việt có phải là văn học dân tộc không?
Vấn đề này đã nhiều nhà bình luận văn học bàn đến (trong tập san Văn, Sử, Địa những số 5, 6, 7, 10, 11, 14, 15, 16, 17, 19, 20, 23). Người đầu tiên đặt vấn đề là ông Trần đức Thảo. Ông viết:
«Một bài viết bằng Hán văn có thuộc về văn học Việt-nam hay không, đó là một vấn đề phức tạp; muốn giải đáp, phải đi sâu vào định nghĩa và quan niệm văn học nói chung: vì một mặt thì ngôn ngữ là yếu tố căn bản để định nghĩa một nền văn học dân tộc, nhưng một mặt khác, đấy không phải là một yếu tố độc nhất; và xét đến nội dung thì nếu không nhận bài Hịch của Trần Hưng Đạo vào văn học Việt-nam thì cũng khó lòng mà đưa nó vào văn học Trung-hoa… Dù có được kể vào văn học Việt-nam hay không, bài ấy cũng đánh dấu một bước quyết định trong công cuộc xây dựng tinh thần dân tộc phản ánh một thời đại vinh quang trong lịch sử Việt-nam. Vậy chúng ta hãy nhận đấy là một tác phẩm thiên tài của văn hóa dân tộc …» 45
Trong bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt-nam của nhóm Lê Quí Đôn mới xuất bản gần đây, ở phần mở đầu, một trong những biên tập viên là ông Trương Chính, đã khẳng định dứt khoát:
«Chúng tôi không coi các thơ văn viết bằng chữ Hán của ta là những tác phẩm văn học thuần túy dân tộc, bởi vì theo ý chúng tôi chỉ có tác phẩm viết bằng ngôn ngữ dân tộc mới hoàn toàn là những tác phẩm dân tộc.
« Tuy nhiên, không ai có thể phủ nhận một sự thực lịch sử là có một thời gian rất lâu, cha ông chúng ta dùng chữ Hán để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của mình. Trong những thời kỳ đó của lịch sử, chữ Hán được xem như là văn tự chính thống của dân tộc và những tác phẩm chữ Hán là những tác phẩm chúng ta viết để cho chúng ta xem và đã có tác động đến đời sống tinh thần của nhân dân , đến cuộc đấu tranh của dân tộc. Những tác phẩm đó cũng soi sáng cho chúng ta thấy đời sống tình cảm, vật chất và tinh thần của dân tộc, của các tầng lớ p nhân dân, qua các thời đại. Vì vậy cho nên chúng tôi cũng sẽ giới thiệu sơ lược những tác phẩm ấy trong những bài khái luận về văn học chữ Hán mà chúng tôi sẽ đặt vào phần phụ ở cuối mỗi thời kỳ. Chúng tôi sẽ chú trọng về nội dung tư tưởng mà không đi sâu vào hình thức nghệ thuật». 46
Lại có một quan điểm hoàn toàn ngược lại với quan điểm của nhóm Lê Quí Đôn; đó là quan điểm của ông Lê Tùng Sơn cho rằng:
« V ăn học chữ Hán cũng là tiếng nói Việt-nam vì do người Việt-nam viết với sự suy nghĩ Việt-nam để diễn đạt sự việc Việt-nam. Tiếng nói là vật vô hình, vì hồi đó Việt-nam chưa có văn tự nên tác giả phải mượn công cụ tiếng nói Trung-quốc để ghi lấy thì sao lại không thể nói cái đã ghi đó không phải tiếng nói Việt-nam? Ví dụ người thợ Việt-nam thiếu công cụ phải mượn cái đục cái tràng của người Trung-quốc chạm trổ thành con giống con má i Việt-nam thì nhất định vật đó là của người Việt-nam. Văn học chữ Hán do người Việt viết cũng là một trong những quan niệm hình thái do hạ tầng cơ sở xã hội phong kiến Việt-nam quyết định. Trên lịch sử xã hội Việt-nam đã có xã hội phong kiến, đã có văn học chữ Hán thì văn học chữ Hán ấy phải được thừa nhận là văn học Việt-nam. Đứng trên quan điểm dân tộc đại chúng của văn học ngày nay, phê phán văn học chữ Hán do người Việt viết không dân tộc , không đại chúng tức là chúng ta đã không dân tộc, không đại chúng…» 47
Đó là ba quan điểm giải quyết vấn đề hiện nay vẫn tồn tại. Theo ý chúng tôi, muốn giải quyết vấn đề, cần chú ý đến những điểm sau đây:
I. VĂN HỌC HÁN VIỆT LÀ MỘT BỘ PHẬN QUAN TRỌNG CỦA ĐỜI SỐNG VĂN HỌC VIỆT-NAM THỜI PHONG KIẾN
Đặc biệt trong một thời kỳ lịch sử dài ba thế kỷ (XI, XII, XIII), nó là tiếng nói văn học độc nhất của giai cấp phong kiến; mà thời kỳ này giai cấp phong kiến lại đang đóng một vai trò tiến bộ, quyền lợi của nó đang phù hợp với quyền lợi dân tộc. Phá Tống, bình Chiêm, kháng Nguyên, đuổi Minh, xây dựng Nhà nước phong kiến dân tộc, làm phát triển sức sản xuất nông nghiệp: công cuộc bảo vệ độc lập và kiến thiết quốc gia của giai cấp phong kiến được toàn thể nhân dân ủng hộ, tham gia. Văn học Hán Việt đã có tác dụng đào luyện tinh thần dân tộc, nung nấu ý chí tự cường cho các tầng lớp nhân dân; đồng thời, nó đã phản ánh những giai đoạn vinh quang trong lịch sử Việt-nam, ghi lại những nét sinh hoạt vật chất, tình cảm, tư tưởng của nhân dân cần lao và anh dũng. Nó là « văn học gọt gi ũa » – «văn học ở hình thái quan niệm» như Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói – « đầu tiên của dân tộc Việt-nam » . Nó cũng là cơ sở xuất phát của truyền thống văn học gọt giũa dân tộc sau này. Không kể cái nội dung giá trị của nó đã thành một di sản tinh thần bất diệt của nhân dân Việt-nam, ngay cả đến những hình thức văn học (các loại thơ bát cú, ngũ ngôn, tứ tuyệt; phú, hịch, v.v…) mà nó vận dụng để diễn đạt tư tưởng và tình cảm, sau này, cũng được chuyển hóa vào sự sáng tác văn học Nôm và nghiễm nhiên thành những hình thức văn học hoàn toàn dân tộc. Hơn nữa, nó lại còn chở vào đời sống trí tuệ của dân tộc những hình tượng, khái niệm, lối nói… dùng để tư tưởng và cảm xúc, làm giầu khả năng nghĩ, hiểu, nói Việt-nam không phải ít. Khi ta thấy người bình dân Việt-nam, trong ca dao, dùng đến và coi như của chính mình những khái niệm «má hồng bạc mệnh», «duyện nợ ba sinh»… những hình tượng «ông Tơ bà Nguyệt», «chim sa cá lặn», «gỡ mối tơ hồng», «trúc nhớ mai đi tìm», «sớm đào tối mận»… – những khái niệm và hình tượng này rất nhiều – ta không thể nào quên biết ơn những thế hệ nhà văn «khai sơn phá thạch» của dân tộc ở những thế kỷ XI, XII, XIII đã có công đem vào đời sống trí thức Việt-nam những công cụ tinh thần ấy để bồi dưỡng khả năng suy luận, nhận thức và cảm xúc của dân tộc.
Sở dĩ có được sự tác dụng to tát ấy là bởi, do những điều kiện lịch sử đặc biệt, hai dân tộc Hán và Việt, trong một thời gian nhất định, đã quan hệ vô cùng mật thiết với nhau về mặt văn hóa.
Thứ nhất: khi nước ta bị Hán đô hộ thì trình độ kinh tế, chính trị, văn hóa của ta kém hẳn trình độ Trung-quốc; vì vậy, nhân dân Việt-nam hấp thụ văn hóa Trung-quốc rất nhanh chóng và sâu xa. Ngay những tiếng dùng hàng ngày của ta cũng phải mượn của tiếng Trung-quốc, tính ra đến già phần nửa. Thông qua từ ngữ, những cách cảm nghĩ và phô diễn Trung-quốc xâm nhập vào đời sống trí thức Việt-nam và in vào đó những dấu vết quyết định. Sự ảnh hưởng này mạnh đến nỗi, mãi mãi về sau, từ ngữ Trung-quốc vào ngôn ngữ Việt-nam với quy luật riêng của nó (tiếng dùng để bổ nghĩa đặt trước tiếng được bổ nghĩa) mà người Việt-nam cũng không thấy cần phải Việt hóa đi theo quy luật ngôn ngữ của mình. Đến tận thời cận đại, chúng ta cũng vẫn nói: hỏa xa, thế giới sử, Quốc dân đảng, Đông dương đại hội, duy vật luận, vô sản chuyên chính, Đồng minh hội, nhân sinh quan, luyến ái quan, cảm tử quân, văn học khái luận, v.v… và cho như thế là tự nhiên không có gì vướng mắc cả.
Thứ hai: Suốt thời kỳ đầu của cuộc bảo hộ (đặc biệt, những thế kỷ I, II, III, IV, V) dân tộc Việt-nam, chưa thành hình; tinh thần dân tộc mới ở trạng thái manh nha (mặc dầu bộ máy cai trị của thực dân tạo ra một thống nhất bề ngoài, thực chất của xã hội Việt-nam vẫn là phân tán triệt để về kinh tế). Do đó, sự vay mượn văn hóa Hán tộc, đối với người Việt-nam ở các thế kỷ đầu Bắc thuộc, không gặp sức cản trở trong bản thân ý thức người Việt-nam. Chỉ khi nào tinh thần dân tộc đã thành hình và đã mạnh mẽ cứng cỏi thì sự xâm nhập của văn hóa ngoại lai mới bị chọn lọc, chế biến và giới hạn. Trong một bài luận về ngôn ngữ Anh, ông Paul Meier có nhận xét về sự ảnh hưởng của tiếng Norman (tiếng của ngoại tộc đô hộ) đối với tiếng Saxon (tiếng của dân bị đô hộ) như sau:
« Ở các bực thang xã hội, giữa kẻ thắng trận và kẻ bại trận không có gì ngăn cách cả; họ sống hòa hợp với nhau; …không có gì kháng cự lại sự làm giầu ngôn ngữ Anh bằng cách vay mượn từ ngữ của kẻ xâm lược… Trong nước Anh thế kỷ XI, không có tinh thần dân tộc, không có thống nhất dân tộc khả dĩ tạo nên sự ngăn cách giữa hai nhân dân ( N orman và S axon)… Có biết rõ những điều kiện ấy mới hiểu được tại sao ngôn ngữ của dân bị đô hộ lại thu hút từ ngữ của dân thắng trận nhiều đến thế, biết những điều kiện ấy thì thấy sự thu hút ấy hoàn toàn là dễ hiểu và bình thường… Sự kiện nào đã duy trì và tăng cường được tính chất S axon của từ vị cơ bản Anh, khiến cho tính chất này thường xuyên giữ được ưu thế, mặc dầu từ ngữ N orman xâm lược nó một cách ào ạt như vậy? Sự kiện căn bản đó là sự xuất hiện của tinh thần dân tộc nảy nở trên cơ sở phát triển sớm sủa của giai cấp tư sản Anh t ừ thế kỷ XIV… » 48
Nhận xét của Paul Meier giúp chúng ta hiểu được tại sao thời xưa người Việt-nam lại có thể gọi chữ Hán là chữ ta, dùng từ ngữ Hán một cách thoải mái như ngôn ngữ của chính mình. Có thể nói: trong thời kỳ lịch sử mà tinh thần dân tộc Việt-nam còn đang là mầm mống, quan hệ Việt-Hán, về văn hóa , không phải là quan hệ thù địch mà là quan hệ thân tộc 49 . Riêng về ngôn ngữ thì quan hệ thân tộc ấy càng rõ rệt. Vả lại, nói chung thì cách đặt câu của Trung-quốc cũng theo một trật tự luận lý như cách đặt câu của Việt-nam. Cho nên, một khi từ ngữ Hán đã quen thuộc với người Việt-nam, những khái niệm và hình tượng dùng để nhận thức thế giới, người Việt-nam đã tiếp thu của dân tộc Hán và coi như của mình, những tiếng Hán đã bị đọc theo giọng Việt-nam thì văn học Hán Việt đối với người Việt-nam, không còn là một văn học ngoại lai nữa; nó đã thành văn học của người Việt-nam ở hình thái quan niệm trong một thời gian lịch sử nhất định.
Thứ ba: Sau khi đã phá được ách đô hộ của phong kiến Trung-hoa, suốt thời gian độc lập dân tộc ngót mười thế kỷ, giai cấp phong kiến Việt-nam luôn luôn duy trì và củng cố địa vị chính thống của Hán tự và Hán văn trong sự học, sự thi, sự thảo các giấy tờ nhà nước . Vì có hiện tượng văn hóa này, Hán tự và Hán văn dần dần, cùng với sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa của xã hội phong kiến, lan rộng đến các tầng lớp trên của bình dân và biến thành công cụ sinh hoạt hàng ngày của mọi người (làm văn tự, làm đơn từ kiện cáo, làm chúc thư, làm văn tế, làm câu đối, hoành phi treo hoặc dán trong nhà những ngày Tết, Cưới, Khao, Ma chay, v.v…) Trường học càng mở rộng (tối thiểu, mỗi làng cũng đón một thầy đồ về dạy học), số người biết chữ càng nhiều; số người dùng Hán văn càng đông thì những hình thức văn học Hán càng phổ biến. Một bài thơ, một bài phú, một vở tuồng diễn ở đình làng, một câu đối dán ở văn chỉ hay ở nhà thờ họ, đối với bất kỳ người Việt-nam nào, cũng không còn là những tác phẩm ngoại lai và cũng không còn xa lạ nữa. Đó là những tác phẩm Việt-nam, được trân trọng vì có tính cách bác học; và bất kỳ người Việt-nam nào cũng mong ước đạt tới được trình độ học vấn đủ để làm ra những tác phẩm tương tự. Tinh thông Hán học, sáng tác được thi, phú, kinh nghĩa, văn sách bằng Hán văn, lều chõng đi thi, đỗ ra làm quan: đó là lý tưởng cao nhất và duy nhất của mỗi người Việt-nam ở thời phong kiến. Đây không phải chỗ đánh giá lý tưởng ấy và phê phán chính sách văn hóa của giai cấp phong kiến Việt-nam; chúng ta chỉ ghi lại một sự trạng, là lý tưởng ấy đã in sâu vào đầu óc người Việt-nam một tín niệm tập truyền: văn học Hán Việt là văn bác học của dân Việt-nam.
Đó là những lý do lịch sử khiến cho văn học Hán Việt được nhân dân Việt-nam thời phong kiến coi là văn bác học của dân tộc, truyền thống văn học gọt giũa của dân tộc. Không ai có thể phủ nhận được sự thực lịch sử này.
II. VĂN HỌC HÁN VIỆT ĐÃ LÀ MỘT CÔNG CỤ XÂY DỰNG TINH THẦN DÂN TỘC VIỆT-NAM
Một bài thơ của Lý Thường Kiệt: Nam quốc sơn hà nam đế cư … đã kích động ý chí sắt đá bảo vệ độc lập dân tộc của tướng sĩ, bồi dưỡng ý thức yêu nước và cứu nước của ba quân, trong một tình thế hiểm nghèo có thể đưa đến cảnh «quốc phá gia vong». Nhờ tinh thần «vì nước quên mình» của quân, dân Đại Việt mà hơn mười vạn quân Tống ào ào kéo xuống đồng bằng tưởng nuốt chửng ngay thủ đô Thăng long một sớm một chiều đã bị chặn lại trên bờ sông Như nguyệt. Tướng Tống là Quách Quỳ thấy « lương ăn của chín đạo quân đã cạn; lúc ra đi quân có 10 vạn, phu có 20 vạn; vì nóng nực và lam chướng quân phu đã chết quá nửa rồi, còn non nửa cũng đều ốm» , bắt buộc phải nhận lời sứ ta mà lui quân. Sách Việt điện u linh tập chép: « Đang đêm nghe tiếng vang trong đền (Trương Hát) đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ táng đởm, không đánh đã tan » – chứng tỏ sức mạnh phi thường của vần điệu chính nghĩa trong việc cổ vũ lòngngười.
Một bài Hịch của Trần Hưng Đạo làm bốc cháy rừng rực căm thù của tướng sĩ đối với giặc Nguyên: quân đội hạ quyết tâm cứu nước bằng cách khắc vào cánh tay hai chữ Sát Thát in hằn trên da thịt; một bài phú Bạch Đằng giang của Trương Hán Siêu đánh thức dậy tinh thần quật cường của dân tộc đã bị chính sự đổ nát của lũ hôn quân ám chúa nhất thời làm mờ nhạt; một bài sớ Thất trảm của Chu An treo gương dũng cảm bảo vệ đạo đức «vì dân vì nước» cho kẻ sĩ; một bài Vạn ngôn thư của Lê cảnh Tuân nhắc nhở Bùi bá Kỳ đừng vì công danh mà quên nhiệm vụ đối với non sông đang bị quân Minh giày xéo – nhà sử học Lê Tung, trong cuốn Việt giám thông khảo tổng luận, đã có câu: «Thất trảm chi sớ nghĩa động càn khôn, Vạn ngôn chi thư trung quán nhật nguyệt» ; một bài Thuật hoài của Đặng Dung đề cao chí khí «vai khiêng trái đất mong phò chúa» và lo ngại «quốc thù vị phục đầu tiên bạch» (nợ nước chưa trả xong đầu đã bạc), biểu lộ một tâm hồn yêu nước nồng nàn, đanh thép; những tập Thơ «lời nhanh ý mạnh, không quên quân thân» của Nguyễn Trãi chan chứa tinh thần «bạch phát chỉ nhân thiên hạ lự» (mái đầu đã bạc mà chỉ để lòng lo việc thiên hạ) – «di tập của tiên sinh không nên để một mảnh giấy một nét chữ nào phải mai một ở trong khói tha n gai góc». (Nguyễn năng Tĩnh, Tựa Ức trai thi văn tập); những thi tứ ca ngợi cảnh trí hùng vĩ và kỳ diễm của núi sông trong văn chương Lê Thánh Tôn; những vần thơ phản đối chiến tranh cốt nhục tương tàn của Nguyễn bỉnh Khiêm: «xuyên huyết sơn hài tùy xứ hữu, uyên ngư tùng tước vị thùy khu» (núi xương, sông máu thảm đầy nơi; cả vực, chim rừng ai khiến đuổi?)… và bao nhiêu văn thơ Hán Việt khác nữa cũng súc tích những tình yêu nước, chí tự cường, đã biểu thị được sáng ngời tâm hồn Việt-nam trong các thế kỷ quá khứ, một tâm hồn yêu chuộng hòa bình, nhân đạo, yêu tổ quốc, một tâm hồn anh dũng và thi vị, có đủ sức mạnh «xả thân vị nghĩa» , quyết chiến, quyết thắng mà cũng có dư khả năng cần cù kiến thiết quốc gia trong những điều kiện khó khăn, gian khổ.
Xưa nay, văn học Hán Việt được trân trọng lưu truyền và gây được tác dụng tốt qua thời gian, căn bản là nhờ vào cái nội dung chân chính dân tộc ấy. Nhà nho học Bùi Tồn Am, trong sách Lữ trung tạp thuyết, nói về giá trị của các nhà văn Hán Việt tiền bối, có câu:
«…Trương Hán Siêu, Lê Quát viết văn cốt ở bài xích dị đoan, chấn khởi đồi tục. Trần Đình Thám, Lê Công Trãi có tiếng hay thơ, người thì biết giữ liêm sỉ không nhục mệnh vua, người thì có sự nghiệp kinh bang tế thế. Mạc Đĩnh Chi có tiếng giỏi phú cũng có khí tiết trong trẻo; Nguyễn Trực Thiện giỏi văn tứ lục mà vững vàng trong khi gặp biến và giữ mình một cách khiêm cung. Cái lối vui đạo của người quân tử đại khái như thế. Đến như những thứ văn phù hoa vô vị cũng là chỉ có văn mà không có hạnh thì không sao nổi tiếng được».
Ý kiến của Bùi Tồn Am có thể đại biểu cho ý kiến của giới trí thức thời phong kiến khi đánh giá các áng văn tiền bối, lấy nội dung tư tưởng và tình cảm làm tiêu chuẩn quyết định. Lời Ngô Thế Vinh khen Nguyễn Trãi: «…Vốn không để tâm ở văn chương mà phát ra lời thì sáng đẹp rắn rỏi. Sự trước tác theo lối văn về đời Ngu Hạ. Bình sinh ngâm vịnh, lúc cùng lại càng kiên, lúc già lại càng dẻo. Câu khen của tiền bối: «không quên quân thân» rất có thể dễ dàng tìm thấy ở trong tập thơ» cũng chỉ là phát triển quan điểm của Bùi Tồn Am và của các tiên nho chân chính khác.
Trong một tập luận nhan đề: THƠ VÀ CHÂN LÝ, nhà đại thi hào Goethe đã viết:
«Cái phần quan trọng nhất, căn bản, cái làm xúc động người ta sâu sắc nhất, tác dụng đến tinh thần người ta có hiệu quả nhất, trong một tác phẩm thi ca, là cái gì còn lại của thi sĩ trong một bản phiên dịch ra tản văn; vì rằng chỉ có cái đó mới thực là chân giá trị của lời thơ ở trạng thái tinh túy, hoàn chỉnh. Một vẻ trang sức rực rỡ nhiều khi làm ta tưởng tập thơ có cái chân giá trị ấy mà thực tế tập thơ không có và nhiều khi lại che lấp mất chân giá trị ấy khi tập thơ thực tế chứa đựng nó. Ta thường thấy trẻ con có tính biến tất cả mọi thứ thành trò chơi: như vậy, sự kêu vang của từ ngữ, sự nhịp nhàng của câu thơ dễ làm thỏa thích chúng; và khi chúng đem bài thơ đọc lên cốt làm nổi bật những cái đó thì cái lý thú của một tác phẩm đẹp nhất cũng sẽ bị tiêu tán đi…»
«Cái gì còn lại của thi sĩ trong một bản phiên dịch ra tản văn» là nội dung tư tưởng và hình tượng nghệ thuật. Văn học Hán Việt đã chứa đựng một nội dung tư tưởng dân tộc phong phú. Đặc biệt trong những thế kỷ đầu của thời đại dân tộc độc lập (thế kỷ XI – thế kỷ XIV) – Hán tự là văn tự chính thống của dân tộc, Hán văn là văn học gọt giũa duy nhất của dân tộc – văn học Hán việt, với nội dung tư tưởng và tình cảm nói trên, đã tích cực đóng góp vào công cuộc cứu nước, dựng nước, đã dự phần vào sự sáng tạo và củng cố tinh thần dân tộc Việt-nam, dân tộc tính Việt-nam, đã một thời làm rạng rỡ uy danh của Tổ quốc Việt-nam – mặc dầu về mặt khác nó vẫn là lợi khí thống trị của giai cấp phong kiến. Về bài Hịch của Trần Hưng Đạo, ông Trần đức Thảo viết:
«Đứng về mặt giá trị tư tưởng, nó tỏ lòng ái quốc, tinh thần hy sinh và quyết chí tiêu diệt xâm lăng. Nhưng xét đến nội dung thiết thực và động cơ tư tưởng thì chúng ta lại thấy biểu lộ một cách có thể nói là «trắng trợn» những ý nghĩ của một giai cấp chuyên môn bóc lột… Mối lo lắng của Trần Hưng Đạo kêu gọi tướng sĩ, quy lại, chỉ là sợ mất địa vị bóc lột nhân dân: «Đến lúc bấy giờ, thầy trò ta bị bắt, đau đớn lắm thay! Chẳng những thái ấp của ta bị tước mà bổng lộc của các người cũng về tay kẻ khác…» Đây thật là tư tưởng phong kiến thuần tuý. Tuy nhiên, chúng ta vẫn thông cảm với những lời cương quyết của vị anh hùng đại diện cho tinh thần bất khuất của dân tộc. Đọc bài Hịch của Trần Hưng Đạo, chúng ta lại nhớ lại cuộc kháng chiến anh dũng của toàn dân chống giặc Nguyên. Và hình ảnh chiến thắng vĩ đại của dân tộc trong lịch sử lại là một nguồn cảm xúc chân chính củng cố lập trường dân tộc bây giờ. Sở dĩ như thế, căn bản là vì trong một thời gian, quyền lợi của giai cấp phong kiến còn phù hợp với quyền lợi của nhân dân, nhà nước phong kiến đã lãnh đạo một cách xứng đáng cuộc chiến đấu bảo vệ tổquốc» . 50
Và ông đã khẳng định: «…xét đến nội dung thì nếu không nhận bài Hịch của Trần Hưng Đạo vào văn học Việt-nam thì cũng khó lòng mà đưa nó vào văn học Trung-hoa» .
Trường hợp bài Hịch cũng là trường hợp của tất cả các áng văn thơ Hán Việt có giá trị tiến bộ trong lịch sử đời sống văn học Việt-nam. Vấn đề ở đây không phải là ngày nay ta nhận hay không nhận các bài văn Hán Việt vào văn học sử Việt-nam. Vấn đề là xét xem văn học Hán Việt, về nội dung, có là một văn học dân tộc hay không. Về vấn đề này, tôi tưởng không ai dám phủ nhận tinh thần dân tộc chân chính của văn học Hán Việt. Nhóm Lê Quí Đôn cũng đã viết:
«…Không ai có thể phủ nhận một sự thực lịch sử là có một thời gian rất lâu, cha ông chúng ta dùng chữ Hán để diễn đạt tư tưởng, tình cảm của mình. Trong những thời kỳ đó của lịch sử… những tác phẩm chữ Hán là những tác phẩm chúng ta viết để cho chúng ta xem và đã có tác động đến đời sống tinh thần của nhân dân, đến cuộc đấu tranh của dân tộc…»
Tức là nhóm Lê Quí Đôn cũng thừa nhận nội dung dân tộc của văn học Hán Việt.
Theo ý chúng tôi, một văn học có nội dung tư tưởng dân tộc, phản ánh những cuộc đấu tranh anh dũng của dân tộc, ảnh hưởng to tát đến đời sống tinh thần của nhân dân, có tác dụng tốt đến vận mệnh lịch sử của nhân dân, lại được viết bằng một thứ chữ mà nhân dân nhìn nhận là «chữ ta» (chữ của mình) mặc dầu nó ở ngoài du nhập vào, một văn học như thế tất nhiên là một thành phần cấu tạo của văn học sử dân tộc.
III. VĂN HỌC HÁN VIỆT LÀ MỘT KHO HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT DÂN TỘC
Cái lý do chính khiến nhiều người ngại ngùng không thoải mái liệt văn học Hán Việt vào văn học sử dân tộc là: văn học ấy dùng Hán văn và Hán tự là ngôn ngữ và chữ viết của ngoại tộc. Tác giả những dòng này, trước đây, cũng ngại ngùng như vậy. Điểm này cần xét lại. Trong bài luận đã dẫn, ông Trần đức Thảo có nêu ra một vấn đề lý thuyết quan trọng :
«… M ột mặt, ngôn ngữ là yếu tố căn bản để định nghĩa một nền văn học dân tộc; nhưng một mặt khác đấy không phải là một yếu tố độc nhất».
Vậy ngoài ngôn ngữ ra (yếu tố căn bản) còn những yếu tố nào khác cũng định nghĩa được một nền văn học dân tộc? «Muốn giải đáp, phải đi sâu vào định nghĩa và quan niệm văn học nói chung». Tôi hoàn toàn đồng ý với ông Trần đức Thảo về cách đặt vấn đề và nêu ra hướng giải quyết vấn đề như vậy.
Như tất cả chúng ta đều biết, một tác phẩm văn học hoàn chỉnh bao gồm năm nhân tố cấu thành: là đề tài (nguyên liệu sáng tác), tư tưởng nhà sáng tác, những hình tượng văn học, ngôn ngữ và bút pháp, văn tự. Một tác phẩm văn học dân tộc hoàn chỉnh là một tác phẩm sáng tác bằng những nguyên liệu lấy trong đời sống dân tộc, chứa đựng một nội dung tư tưởng dân tộc được biểu hiện bằng những hình tượng thích nghi với tâm lý và khiếu thẩm mỹ dân tộc (do đó tác động trực tiếp và sâu sắc đến đời sống tinh thần của dân tộc), phô diễn ra bằng ngôn ngữ dân tộc và được ghi lại bằng chữ viết dân tộc.
Đề tài và tư tưởng nhà văn thuộc về nội dung. Hình tượng, ngôn ngữ và bút pháp thuộc về hình thức nghệ thuật. Còn văn tự chỉ là một ký hiệu để ghi tiếng nói. Trong hình thức nghệ thuật thì hình tượng có nhiệm vụ biểu hiện nội dung; ngôn ngữ có nhiệm vụ, thông qua hình tượng, phô diễn nội dung thành lời văn . Khi dịch thật sát đúng một tác phẩm văn học ra tiếng ngoại quốc thì, qua thứ ngôn ngữ khác này, nội dung tư tưởng và nội dung hình tượng của tác phẩm vẫn tồn tại. Thí dụ: nếu ta dịch tiếng Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, thơ Tú Xương ra tiếng ngoại quốc thì những hình tượng của các tác phẩm ấy, cùng với cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm của các thi sĩ ấy, cùng với bản thân tư tưởng đựng trong hình ảnh, hình tượng, cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm đó, nhất định sẽ không vì chuyển qua một ngôn ngữ ngoại quốc mà biến tướng đi được. Qua bản dịch, người nước ngoài vẫn có thể gặp được Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương. Đọc bản dịch của những câu thơ:
« …Một nhà hoảng hốt ngẩn ngơ
Tiếng oan d ậ y đất, án ngờ loà mây
Hạ từ van vỉ suốt ngày
Điếc tai lân tuất, phũ tay tồi tàn
Giường cao rút ngược dây oan
Dẫu là đá cũng nát gan, lọ người… »
(Nguyễn Du: Truyện Thuý Kiều )
H oặc:
« Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bẩy nổi ba chìm với nước non.
Tròn méo mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son » .
(Hồ Xuân Hương: Vịnh bánh trôi )
H oặc:
« …Sát quỷ, ông dùng thanh kiếm gỗ,
Ra oai, bà giắt cái khăn hồng.
Cô dương tay ấn, tan tành núi,
Cậu chỉ ngọn cờ, cạn khúc sông.
Đồng giỏi sao đồng không giúp nước,
Hay là đồng sợ súng thần công?… »
(Tú Xương: Vịnh lên đồng )
Người ngoại quốc vẫn thể hiện được phần nào trong trí tưởng tượng của mình những hình tượng văn học trong các đoạn thơ ấy và nhờ đó hiểu được tư tưởng của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương. Hơn nữa, họ vẫn lý hội được một cách cụ thể tính cách Việt-nam của những nếp cảm nghĩ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Tú Xương mặc dầu ba nhà thơ này có cá tính khác nhau; cũng như qua bản dịch ra tiếng Việt chúng ta vẫn cảm được tính cách Pháp của kịch Molière, của văn Anatole France, tính cách Nga của tiểu thuyết L. Tolstoi, của thơ Maiakovski, tính cách Đức của văn thơ Goethe, Shiller, H. Heine, v.v… Ngôn ngữ không phải là một yếu tố độc nhất để định nghĩa dân tộc tính của một văn học. Dân tộc tính của một tác phẩm văn học còn hiện ra ở nội dung tư tưởng, ở thể cách cảm nghĩ, ở thể cách hình tượng hoá tư tưởng và thực tại. Nói đến giá trị nghệ thuật của một tác phẩm chính là nói đến cách hình tượng hoá ấy . Một tác phẩm văn học làm xúc động người ta mau nhất, tác dụng đến tâm hồn người ta có hiệu lực nhất, một mặt là do nội dung tư tưởng chân chính của nó, nhưng một mặt khác là nhờ thể cách hình tượng hoá nội dung đó.
Những văn thơ Hán Việt của chúng ta, ngoài cái nội dung tư tưởng dân tộc của nó, còn có tính dân tộc ở cách hình tượng hoá của nó nữa. Đem những văn thơ ấy dịch ra tiếng Việt, giá trị và tác dụng của những hình tượng trong đó không hề bị suy suyển. Cái hình ảnh « sứ nguỵ qua lại tới tấp trên đường uốn tấc lưỡi cú vọ làm nhục Triều đình, đem tấm thân chó dê khinh nhờn tổ phụ », cái hình tượng nước mất nhà tan «… khi bấy giờ chẳng những là thái ấp của ta không còn mà bổng lộc của các ngươi cũng vào tay kẻ khác, chẳng những là gia quyến ta bị đuổi mà vợ con của các ngươi cũng bị giặc bắt sống… » trong bài Hịch tướng sĩ ; cái hình ảnh « vai khiêng trái đất mong phò chúa… gươm mài bóng nguyệt biết baorày» trong bài Thuật hoài của Đặng Dung; cái hình tượng chiến đấu trên sông Bạch Đằng hồi kháng Nguyên: « …muôn đội thuyền bay, hai quân giáo chỉ; gươm tuốt sáng loè, cờ bay đỏ khé. Tướng Bắc quân Nam, hai bên đồi luỹ. Đã nổi gió bay mây lại kinh thiên động địa… Trời giúp quân ta, mây tan trận nó, khác nào như quân Tào Tháo bị vỡ ở sông Xích bích khi xưa, giặc Bồ Kiền bị tan ở bến Hợp phì thuở nọ…» trong bài phú Bạch Đằng giang của Trương Hán Siêu; cái hình tượng ngoại tộc bóc lột nhân dân: « Hơ lũ đầu đen trên lửa nóng, đẩy phường con đỏ xuống hang sâu… Thuế má vét cho đầy, núi khe sạch nhẵn như chùi; kẻ bị đem vào núi đào vàng, ma thiêng nước độc, người bị ép xuống khơi mò ngọc cá nuốt sóng vùi; …máu mỡ dân chúng sớm vét tối bòn,nhà cửa công tư nay xây mai dựng; chốn châu lý nặng nề sưu dịch, trong xóm làng quạnh vắng cửi canh…» hoặc hình tượng thắng trận của quân ta: «… Đô đốc Thôi Tụ quỳ gối xin thương, Thượng thư Hoàng Phúc cúi đầu chịu trói… Lãnh câu máu chẩy đầy sông, nước vang tiếng rú. Đan xá thây chồng khắp nội, cỏ rậm máu hoen… » trong bài Bình Ngô đại cáo – và bao nhiêu hình tượng khác trong các văn thơ Hán Việt khác, chuyển vào bản dịch tiếng Việt, vẫn kích thích và bồi dưỡng lòng yêu nước của chúng ta ngày nay, như đã kích thích và bồi dưỡng lòng yêu nước của cha ông chúng ta trong dĩ vãng. Những hình tượng quen thuộc ấy, cấu tạo nên bằng những nguyên liệu lấy trong đời sống thường của nhân dân, đã thuộc hẳn vào kho di sản văn học của dân tộc và sẽ cùng với nhân dân Việt-nam tồn tại bất diệt. Sự bị phô diễn bằng ngôn ngữ Hán, ghi lại bằng văn tự Hán không thể làm cho những hình tượng ấy mất tính cách dân tộc được. Chúng ta có thể khẳng định rằng: xét theo cách biểu hiện nghệ thuật (hình tượng hoá), văn học Hán Việt của các thế kỷ quá khứ là một bộ phận của văn học sử dân tộc, một bộ phận khăng khít của truyền thống văn học dân tộc.
IV. NGÔN NGỮ VẪN LÀ YẾU TỐ CĂN BẢN ĐỂ ĐỊNH NGHĨA MỘT NỀN VĂN HỌC DÂN TỘC
Văn học Hán Việt phải vận dụng một ngôn ngữ ngoại tộc để diễn đạt một nội dung dân tộc và thể hiện những hình tượng có dân tộc tính: đó là cái mâu thuẫn nội tại đã hạn chế khá nhiều trình độ dân tộc tính của nó .
Ông Lê Tùng Sơn viết: « Văn học chữ Hán cũng là tiếng nói Việt-nam vì do người Việt-nam viết với sự suy nghĩ Việt-nam để diễn đạt sự việc Việt-nam». Ý kiến này cần bàn lại. Ngôn ngữ không lìa khỏi được tư tưởng. Cách nói cũng chính là cách nghĩ và cảm. Ngôn ngữ Hán biểu thị cách cảm nghĩ của dân tộc Hán. Một mặt khác, mỗi từ ngữ Hán đựng một ý nghĩa nhất định do điều kiện sinh hoạt của dân tộc Hán cấu tạo nên; bất kỳ ai dùng từ ngữ ấy cũng chỉ có thể hiểu nó theo ý nghĩa nhất định ấy. Bởi vậy, trong khi dùng ngôn ngữ Hán, cha ông chúng ta đã bắt buộc sự suy nghĩ Việt-nam phải Hán hóa khá nhiều; và sự việc Việt - nam diễn đạt qua ngôn ngữ Hán cũng bị hạn chế chặt chẽ trong ý nghĩa Hán của từ ngữ. Nói khác đi, trong trường hợp này, tư tưởng Việt-nam và sự việc Việt-nam đã bị giảm bớt tính dân tộc. Có nhiều lối nghĩ, lối nói Việt-nam mà ngôn ngữ Hán (hay bất cứ ngôn ngữ ngoại quốc nào) không có khả năng diễn đạt được. Có nhiều sự việc Việt-nam mà ngôn ngữ Hán (hay bất cứ ngôn ngữ ngoại quốc nào) không có tiếng nào để chỉ thị đúng được (vì trong hoàn cảnh sinh hoạt không phải là Việt-nam, không có sự việc ấy). Cho nên, ngoài những khái niệm phổ biến, có nhiều ý nghĩ, tình tự, sự việc, phong tục trong một áng văn dân tộc đem dịch ra tiếng nước ngoài chỉ có thể đạt được tính ước chừng chứ không thể hoàn toàn đúng với nguyên văn được. Ông cha chúng ta, bởi chỉ dùng ngôn ngữ văn tự Hán để sáng tác, nên đã phải gạt đi hoặc không thể vận dụng được nhiều yếu tố quan trọng của sự cảm nghĩ dân tộc, vì những yếu tố này chỉ có ngôn ngữ dân tộc mới thể hiện được. Đặc biệt là yếu tố châm biếm Việt-nam chẳng hạn thì hầu như vắng mặt hẳn trong văn học Hán Việt. Cái cười, lúc nào thì cười; ở trường hợp nào thì cười cách nào, cười cách nào thì có tác dụng nào… là biểu thị sâu sắc nhất của một dân tộc tính. Và mọi dạng thái của cái cười, ở một dân tộc, lại chỉ có những dạng thái ngôn ngữ riêng của dân tộc ấy mới diễn tả được. Thí dụ: cái cười Hồ Xuân Hương rất gần với tiếu lâm trong bài thơ Sư bị làng đuổi:
« Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo
Thuyền từ cũng muốn về Tây trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo» .
Cái cười đả kích ngỗ ngược, hóm hỉnh, khúc khích, lý thú, cái cười rất Xuân Hương mà cũng rất Việt-nam ấy chỉ có lối nói ấy (nói lái), những tiếng đặc biệt ấy mới tận tả được. Bài thơ này đem dịch ra ngoại ngữ – mặc dầu vẫn giữ được nội dung tư tưởng và hình tượng – sẽ mất gần hết ý vị tiếu lâm của nó, nếu không muốn nói là không thể nào dịch được ý vị này.
Ngôn ngữ Hán đã chặn ngang cha ông ta thời xưa không cho đi vào cái cười ấy, lối nghĩ ấy, cách nói ấy. Đó là một sự mất mát lớn và đau xót. Chính vì thế mà tới một mức phát triển nào đó, tư tưởng dân tộc yêu cầu được nẩy nở toàn diện đã thôi thúc các nhà văn Việt-nam thời quá khứ phải sáng tạo ra chữ Nôm và dùng chữ Nôm để diễn đạt mọi khía cạnh của tâm hồn dân tộc. Chỉ có ngôn ngữ dân tộc mới thể hiện được, sâu sắc và toàn diện, dân tộc tính của tư tưởng và tình cảm.
Có những ý tưởng, nếu phô diễn bằng Hán văn, sẽ bị đóng khung trong một nghĩa hạn định, cứng rắn, hoàn chỉnh. Thí dụ: tài mệnh tương đố , hoặc tạo vật đố hồng nhan , hoặc hồng nhan bạc mệnh . Tính gọn ghẽ thái quá của Hán văn – mà người viết Hán văn phải tuân theo – khiến cho những ý tưởng ấy cô đọng lại trong những lời văn giống như những định thức có tính cách điện tín. Ưu điểm của nó là giản khiết; nhưng vì giản khiết quá mà nó đã hạn chế một phần nào sự bộc lộ cá tính nhà văn Hán Việt trong khi phát biểu những ý tưởng kia. Ta thử so sánh: « T ài mệnh tương đố» với «chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau» (Nguyễn Du). « T ạo vật đố hồng nhan» với «Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen!» (Nguyễn Du). Ta sẽ thấy cũng một ý tưởng mà diễn ra bằng ngôn ngữ dân tộc, thi sĩ đã có thể nói lên được cả thái độ riêng của mình đối với cái sự tình mà ý tưởng ấy biểu thị. Những tiếng khéo là, quen thói đặt vào giữa tài và mệnh, trời xanh và má hồng đã cho ta cảm thấy rằng Nguyễn Du kín đáo châm biếm cái định luật: tài ghét mệnh, trời ghét má hồng – bằng một thái độ phúng thích nhẹ nhàng.
Lại có những khái niệm Việt-nam mà từ ngữ Hán không thể diễn được đầy đủ nội dung phức tạp, nội dung này biến hóa tùy từng trường hợp sinh hoạt; những khái niệm ấy chỉ có tiếng Việt-nam mới có thể hình dung được sâu sắc. Thí dụ: khái niệm ăn ở . Có trường hợp khái niệm ấy biểu thị trọn vẹn sự sống chung của đôi lứa vợ chồng: «khi ăn ở, lúc ra vào, càng vui duyên mới càng dào tình xưa» ; có trường hợp, nó chỉ biểu thị một yếu tố của sự sống chung vợ chồng (giao hợp): «phải tuồng ăn xổi ở thì, tiết trăm năm cũng bỏ đi một ngày» ; lại có trường hợp nó chỉ biểu thị thái độ xử thế nói chung: «ở ăn thì nết cũng hay, nói điều ràng buộc thì tay cũng già». Những trạng thái tế nhị, khía cạnh của khái niệm ấy diễn đạt được bằng tiếng ăn ở có ý nghĩa linh động thích nghi với từng trường hợp sống, ngôn ngữ Hán không thể có tiếng nào diễn đạt được tương đương như vậy. Dùng Hán văn để phản ánh thực tại Việt-nam, vật giới cũng như tâm giới, tất nhiên phải hy sinh mất nhiều khía cạnh, nhiều sắc thái, nhiều tình tiết lý thú. Văn học Hán Việt, vì thế, mà chỉ phản ánh được một phần nào của thực tại Việt-nam, của tâm hồn Việt-nam; đó là sự hạn chế của ngôn ngữ Hán tộc đối với các nhà sáng tác văn học Hán Việt. Dân tộc tính của văn học Hán Việt, do đấy, bị tỉnh lược một phần quan trọng, cốt yếu.
« Văn học chữ Hán cũng là tiếng nói Việt-nam » nếu xét về nội dung tư tưởng, và hình tượng nghệ thuật; nhưng đó là một tiếng nói pha, không thuần túy, thiếu sót, vì nó phải xuyên qua một ngôn ngữ ngoại lai, mặc dầu ngôn ngữ này, một thời, đã được coi như ngôn ngữ bác học duy nhất của dân tộc.
Tóm lại, về vấn đề : «Văn học chữ Hán do người Việt-nam viết có nằm trong văn học dân tộc không?» , quan điểm của chúng tôi như sau:
1) Vì những điều kiện lịch sử đặc biệt của quá trình phát triển xã hội Việt-nam, văn học Hán Việt đã có một thời khá dài (từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV) là văn học gọt giũa duy nhất của dân tộc và sau đó, suốt thời đại phong kiến (đến cuối thế kỷ XIX), vẫn tiếp tục tồn tại ở cương vị chính thống. Nó là một bộ phận khá lớn, một khoảng lịch sử khá dài của đời sống văn học Việt-nam. Nó dự phần quan trọng vào sự cấu tạo truyền thống văn học dân tộc. Nó là một thành phần cấu tạo của văn học sử Việt-nam.
2) Xét về nội dung, văn học Hán Việt đã phản ánh được phần nào đời sống dân tộc – chủ yếu là những cuộc chiến đấu cứu nước anh dũng của toàn dân ở những thế kỷ XI, XIII, XIV, XV – ghi lại được tinh thần dân tộc của các tầng lớp nhân dân, thể hiện bằng hình thức nghệ thuật những đức tính tốt của dân tộc, biểu dương một nhân sinh quan chính nghĩa khang kiện thích hợp với tâm lý dân tộc chuộng lao động, chuộng nhân đạo, chuộng hòa bình và khảng khái chống đối mọi cường quyền áp chế con người. Nó là một yếu tố giá trị của di sản tinh thần Việt-nam.
3) Xét về cách biểu hiện nghệ thuật, văn học Hán Việt đã sáng tạo được những hình tượng nghệ thuật có dân tộc tính, đủ khả năng thỏa mãn được cách nhìn, cách hiểu, cách cảm xúc, cách tư tưởng của người Việt-nam, do đó, đã chuyển được vào tâm hồn Việt-nam, thông qua trí tưởng tượng và khiếu thẩm mỹ dân tộc, những cảm xúc và ý tưởng chân chính có lợi cho cuộc chiến đấu sinh tồn của dân tộc trong lịch sử. Nó là một bộ phận di sản hình thức đẹp của dân tộc.
4) Nhưng vì nội dung hiện thực, nội dung tư tưởng, hình tượng nghệ thuật của văn học Hán Việt phải diễn đạt qua ngôn ngữ Hán tộc, nên dân tộc tính của nó bị hạn chế, bị giảm sút, bị Hán hóa một phần nào. Nhiều yếu tố cơ bản và đặc thù của dân tộc tính Việt-nam mà chỉ có ngôn ngữ Việt-nam mới thế hiện nổi đã bị gạt bỏ ra ngoài phạm vi sáng tác của các nhà văn Hán Việt. Cũng vì diễn đạt bằng ngôn ngữ Hán cho nên văn học Hán Việt đã không thể phổ cập rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân. Do đấy, nó vẫn có tính cách quý tộc và phạm vi tác dụng xã hội của nó bị thu hẹp. Đó là một bộ phân của đời sống văn học dân tộc, nhưng chưa phải là một văn học dân tộc thực sự. Khái niệm văn học dân tộc có một nội dung phức tạp hơn nhiều (sẽ bàn đến ở các chương III, IV, V).
5) Nghiên cứu và biên tập văn học sử Việt-nam, không thể chỉ «giới thiệu sơ lược những tác phẩm Hán Việt trong các bài khái luận về văn học chữ Hán… đặt vào phần phụ ở cuối mỗi thời kỳ» – như nhóm Lê Quí Đôn đã thực hành trong bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt-nam. Trái lại, phải coi nó là một thành phần cấu tạo của đời sống văn học dân tộc. Phải xác định đúng phần đóng góp của nó vào sự tạo thành truyền thống văn học dân tộc, cả về tư tưởng lẫn nghệ thuật. Tôi tin rằng nếu chúng ta dịch ra quốc âm toàn bộ các áng văn học Hán Việt tiến bộ từ thế kỷ XI đến cuối thế kỷ XIX – mà tất nhiên chúng ta phải làm công việc này – thì cái thành phần văn học Hán Việt, trong di sản văn học Việt-nam, không phải là nhỏ, phụ, ít giá trị tư tưởng và nghệ thuật. Mặc dầu bị ngôn ngữ Hán hạn chế tính dân tộc, văn học Hán Việt vẫn là một kho văn học quý của dân tộc Việt Nam.
Chương HAI
Nội dung đời sống văn học
LỊCH sử văn học của một xã hội không phải đơn thuần là lịch sử các tác giả và tác phẩm văn học. Tác giả và tác phẩm không độc lực làm nên được đời sống văn học của một xã hội; mà ngược lại, đời sống văn học mới là miếng đất làm nẩy ra tác giả và tác phẩm. Ở mỗi thời kỳ lịch sử, ở mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, đời sống văn học lại có một tính chất riêng, một diện mạo riêng, một nhịp điệu riêng, phản ánh tính chất, diện mạo và nhịp điệu của toàn bộ sinh hoạt xã hội trong thời kỳ ấy, giai đoạn ấy.
Nói chung thì đời sống văn học được cấu thành bằng bốn yếu tố sau đây:
- Những điều kiện vật chất của sự sáng tác và phổ biến văn học.
- Khí hậu văn học.
- Các loại văn.
- Tác giả và tác phẩm văn học.
Bốn yếu tố này hỗ tương tác động đến nhau, tạo ra một phạm trù sinh hoạt đặc biệt của xã hội gọi là đời sống văn học . Lịch sử văn học là lịch sử sinh thành và phát triển có quy luật của đời sống ấy. Biên tập một bộ phận văn học sử mà không khôi phục lại được đường hướng và thể cách phát triển của bốn yếu tố kia quan hệ với đường hướng và thể cách phát triển của toàn bộ xã hội là chưa đạt được mục đích của khoa văn học sử. Cho nên, nhà văn học sử nhất thiết phải lý hội được chính xác nội dung của khái niệm đời sống văn học, trước khi tiến hành công trình nghiên cứu.
I. NHỮNG ĐIỀU KIỆN VẬT CHẤT CỦA SÁNG TÁC VÀ PHỔ BIẾN VĂN HỌC
Những điều kiện này gồm có:
- Những cơ sở và phương tiện để thể hiện và phổ biến tác phẩm.
- Điều kiện sống và sáng tác của nhà văn.
Đây là một trong những sợi dây nối chặt đời sống văn học vào tình trạng kinh tế, kỹ thuật, chính trị, văn hóa chung của xã hội. Tình trạng này quy định văn học thông qua giây nối ấy.
1) NHỮNG CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG TIỆN ĐỂ THỂ HIỆN VÀ PHỔ BIẾN TÁC PHẨM
Một công trình sáng tạo văn học xây dựng trong đầu một nhà văn phải gặp những cơ sở và phương tiện vật chất thích nghi mới biến thành được vật cụ thể và mới đạt tới được người thưởng thức (công chúng văn học). Những cơ sở và phương tiện đó là: giấy, nhà in, hiệu sách, rạp hát, gánh kịch, diễn đàn, nhà ả đào, khách thính, câu lạc bộ, nghị viện, tòa án, nhà xuất bản, báo chí, trường học, máy truyền thanh, v.v… Mỗi thời đại văn học có những cơ sở, những phương tiện thể hiện và phổ biến văn học phù hợp với trình độ phát triển của xã hội ở thời đại ấy. Sự sáng tác và thưởng thức văn học tùy thuộc vào sự phát triển của những cơ sở và phương tiện vật chất ấy. Khi nghiên cứu sự khác nhau của văn học ở các thời kỳ lịch sử, trước hết phải nghiên cứu sự khác nhau của các phương tiện và cơ sở đó.
Thí dụ: nghiên cứu quá trình diễn biến của sân khấu nước ta, chẳng hạn. Tác phẩm kịch làm ra là để diễn. Chỗ diễn, cơ hội để diễn, tổ chức phường kịch, quyết định sự sáng tác kịch bản:
«Triều nhà Trần, khi có quốc táng, lúc sắp rước tử cung đến sơn lăng để an táng, dân sự phố phường xúm quanh lại xem vòng trong vòng ngoài chật ních cả chốn điện đình, không thể rước tử cung đi được. Người dẹp đám mới bắt chước lối vãn ca đời cổ, đặt ra khúc song ngâm hiệp vào âm luật sai quân lính đi hát riễu chung quanh đường, nhân dân lại đổ s ô xúm xít theo đi xem, vì thế mới rước tử cung xuống thuyền được. Đời sau, mới bắt chước làm lối hát vãn, mỗi năm cứ đến rằm tháng bẩy, những nhà tang gia cho gọi phường hát đến hát để giúp lễ tế ngu, tiếng hát bi ai nghe rất cảm động, tục gọi là phường chèo bội ». 9
Đó là một thời.
« Khoảng năm Cảnh hưng (1740-1786), những phường hát bội mới pha thêm lối tuồng, cũng đóng vai trò vẽ mặt ra múa hát, riễu cợt, không khác gì cuộc hí trường. Các nhà tang gia hay đua nhau mượn phường chèo đóng đường để khoe khoang, các quan chính phủ ghét là hung lễ lại tạp dung cát lễ bèn sức nghiêm cấm… » 10
Đó lại là một thời.
«Đến năm canh tuất (1790) dân gian lại thấy bầy trò hát bội ấy, các con nhà lương gia tử đệ có người bỏ cả chức nghiệp đi theo học hát, khăn áo dáng bộ như đàn bà, thường khi ở nhà cũng nghêu ngao tập hát chèo, đối khách cũng không thèn thò gì cả, tập tục đến thế chẳng khá than lắm ru! » 11
Đó lại là một thời nữa.
Kịp đến khi xã hội Việt-nam có những thành phố và thị trấn cận đại (hồi Pháp thuộc), những gánh tuồng, chèo kịch nhà nghề thành lập và hoạt động thường xuyên, biểu diễn trong những rạp hát nhất định, quy mô, có đèn điện, có trang trí mới, để thỏa mãn một công chúng thị dân mới, thì lúc đó sự sáng tác kịch bản lại bước vào một thời hoàn toàn khác thời phong kiến.
Rồi đến giai đoạn kháng chiến dân tộc (1946-1954), những tổ chức biểu diễn là những ban kịch lưu động, hoặc công tác ở thôn xóm, hoặc công tác ở đơn vị bộ đội, hoặc công tác trên đường của dân công. Chỗ diễn là sân đình, bãi cỏ giữa trời; sân khấu là tre nứa ghép lại vội vàng, ánh sáng là đèn dầu lạc; lúc diễn viên đóng trò, gió lộng bốn bề, già ho trẻ khóc phía trước mặt, tiếng gọi lấy dầu lấy nến ồn ào phía sau lưng; hóa trang thì dùng đủ các thứ có thể có được (thuốc quinacrine, thuốc mercurocrome, phấn viết bảng, than củi lấy trong bếp, v.v…); bối cảnh sân khấu thì chăn dạ, vải dù, khăn bàn, v.v…; y phục thì mượn nhà này cái áo the, mượn nhà kia cái váy sồi, v.v… Đó lại là một thời đặc biệt đã ảnh hưởng lớn đến hướng và cách sáng tác kịch bản.
Lại thí dụ: nghiên cứu cách sáng tạo kịch thời Shakespeare. Ta không thể không chú ý đến tổ chức sân khấu, tổ chức phường kịch, tính chất khán giả, khả năng kỹ thuật hóa trang và trang trí ở thời Shakespeare. Tất cả những điều kiện vật chất này quyết định không ít cách hư cấu kịch truyện của Shakespeare. Hồi đó, ở Londres là nơi biểu diễn phần lớn kịch Shakespeare, tình trạng sân khấu như thế nào?
Rạp hát thường là hình chữ O bằng gỗ – theo danh từ mà chính Shakespeare đã dùng trong bài Tự ngôn của vở Henri V – theo kiểu các rạp xiếc có biểu diễn những cuộc giao chiến của gấu, của bò mộng hay có đấu kiếm là những môn mà dân gian rất thích. Từng gác thứ nhất giành riêng cho khán giả quý phái có che mái giá một chỗ ngồi là một écu. Từng dưới lộ thiên chứa những khán giả đông đảo: thợ học nghề thủ công nhân, lính thủy – người đương thời gọi họ là hạng nhớp nhúa – vừa xem kịch vừa ăn, uống, la hét, bỏ ra hai xu lấy vé để đem gái và chó cùng vào rạp; đó là một công chúng ồn ào và mê say, nhưng khi họ bị vở kịch lôi cuốn thì thật là một công chúng kỳ diệu vỗ tay hoan hô đến rung chuyển cả rạp. Ngay trên sân khấu giải một tấm thảm đầy những lau sậy, hạng lãnh chúa và những nhà thượng lưu trí thức ngồi xem chật chội, hút thuốc, văng tục và đánh bài lá… Trên sân khấu, tuyệt nhiên không có cảnh trang trí gì cả; cuối sân khấu, phía trên chỗ diễn viên sửa soạn ra trò, có một ban-công thì dùng là cửa sổ của Juliette lúc trò truyện tình tự với Roméo, cũng nó; dùng làm căn buồng trong đó Macbeth giết vua Duncan, cũng nó; dùng làm bức tường thành của thành phố Angers bị Jean sans Terre vây hãm, cũng nó. Khi diễn đến cảnh nào thì có những tấm biển treo lên để thay thế một trang trí. Khán giả biết chữ sẽ đọc được tên cảnh ấy và cũng lấy làm vừa ý; trên biển đề: vườn hoa, núi đá, hang đá, chiến trường; thế là người xem tưởng tượng như có thực những cảnh ấy. Kẻ nào mù chữ thì nhờ người khác chỉ vẽ cho, và trước khi diễn thì lại có một diễn viên mặc quần áo đen ra «khai từ» nói rõ là vở sắp diễn đến cảnh nào, cảnh nào.
Nhà học giả nhân văn Sidney đã chế riễu sự quái dị của những ước lệ ấy nhưsau:
« Bên này sân khấu là Á châu và bên kia sân khấu là Phi châu; sân khấu hết là xứ này lại là xứ khác, tùy theo diễn viên lúc ra trò nói lên mình đang ở xứ nào… Một lúc sau, thấy ba vị phu nhân đi đi lại lại hái hoa, thế là khán giả phải tưởng tượng ngay rằng sân khấu lúc đó là cái vườn. Rồi liền đó, ngay chỗ ấy, có diễn viên nói là có tầu đắm; và nếu ta nghe thấy thế mà lại không tưởng tượng ra sân khấu đang là một khúc sông có đá nổi thì đó là lỗi tại ta. Ngay khi ấy, một quái vật xấu xí nhẩy xổ ra, hà ở miệng ra những lửa và khói, thế là những khán giả đáng thương kia lại phải coi sân khấu đang là một hang động. Rồi, lại thấy xuất hiện hai đội quân được hình dung bằng bốn thanh kiếm và bốn cái mộc; ấy thế là không còn có khán giả nào lại nhẫn tâm đến nỗi không cho rằng đó là một trận chiến đấu .
« Nhưng Sidney cũng khó tính quá đấy thôi, chứ những khán giả thường dễ dãi hơn ông nhiều; họ không vì thế mà rỗi với sở thích của họ; họ có trí tưởng tượng; họ có lòng tin và họ có cặp mắt của lòng tin: một diễn viên chất thạch cao đầy người đứng đó, là một bức tượng; diễn viên ấy chìa những ngón tay ra, là một kẽ nứt. Một người, tay cầm cây đèn lồng, bên cạnh một con chó và một bụi cây: đó là một cảnh sáng trăng… Công chúng không phải bị tác giả đánh lừa đâu; công chúng đồng lõa và hợp tác với kịch sĩ thực tình thực sự ». 12
Với những điều kiện: tổ chức rạp hát, trình độ trang trí, thành phần khán giả như vậy, kịch bản của Shakespeare tất yếu phải dồn dập những hành động mãnh liệt, những cảnh ngộ cực kỳ bi đát hoặc hoạt kê, những sự việc mâu thuẫn sắc bén, những nhân vật có cá tính hết sức trọn vẹn, những tình tiết thật éo le bất ngờ… thì mới có thể thành công được.
Những điều kiện vật chất và xã hội của sự hoạt động văn học còn quy định cả sự xuất hiện và sự phát triển của các loại sáng tác nữa. Đời sống xã hội chưa có Nghị viện thì chưa thể có loại hùng biện nghị viện; không có nghề luật sư thì không thể có loại hùng biện tòa án; không có cuộc kháng Nguyên thì không thể có bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn; không có cách mạng 1789-1793 thì không có loại hùng biện cách mạng của những Marat, Robespierre, Saint-Just. Không có sự xuất hiện của máy in, của các thư điếm thì làm sao loại tiểu thuyết phát triển mạnh được trong thời cận đại như ta đã biết? Không có nhiều báo chí thì sao sinh sôi nẩy nở được những loại văn đặc biệt như: phóng sự, chuyện hàng ngày, thời đàm, phỏng vấn, điều tra? Không có Cách mạng tháng 10 và máy truyền thanh thì sao có thơ Maiakovski ở cái hình thức độc đáo như ta đã thấy? Chính Maia cũng có ý thức về sự quan trọng của điều kiện ấy nên đã viết:
«Máy truyền thanh, đó là con đường (một trong những con đường) của từ ngữ, của khẩu hiệu thi ca. Thơ không còn là cái mà người ta đọc bằng mắt nữa. Cách mạng đã đẻ ra loại thơ mà người ta nghe. Trước kia chỉ có một thiểu số được may mắn nghe thơ Pouchkine thì ngày nay toàn thể thế giới đã có cái may mắn ấy».
Nhà bình luận văn học Jacques Gaucheron, trong bài nói về nghệ thuật của Maia, cũng làm nổi bật lên được sự liên quan của thơ Maia với vai trò của thi sĩ trong cách mạng:
«Không phải hễ cứ có nội dung mới là đổi mới được hình thức đâu. Hình thức ấy còn phải thích ứng với vai trò mới của nhà thơ giữa nhân quần xã hội, một nhà thơ hòa mình với quần chúng, cần lôi cuốn, chất vấn, tố cáo, giữ người ta lại. Công việc của Maia ở cơ quan Quảng cáo đã làm giầu và làm đổi mới cung điệu những phương tiện thi ca của ông. Trong một trình hạn rộng rãi, chính những phương tiện của nhà báo đã làm biến chuyển những phương thức thi ca của Ma i a. Như Elsa Triolet đã nói : «tất cả các công việc ấy lệ thuộc vào sự vận dụng vần điệu, vận dụng những lối nói thường của nhân dân, vận dụng cách trào lộng dân tộc… » 13
Ở xứ ta, trong kháng chiến, chính vì thơ không in được rộng rãi, phải đem ngâm ở lán dân công, các hầm chiến sự, các cuộc họp nhân dân và cán bộ, nên thi sĩ đã phải thay đổi cách dùng vần điệu, từ ngữ để cho thích hợp với yêu cầu của sự ngâm thơ ở một nơi trống trải trước một đám đông đang sống bằng chiến đấuồạt.
Mấy dẫn chứng trên đây cho ta thấy rõ sự cần thiết khảo cứu những cơ sở và phương tiện dùng để thể hiện và phổ biến những công trình sáng tác văn học, và tìm ra mối quan mật thiết giữa hai nhân tố ấy.
2) ĐIỀU KIỆN SỐNG VÀ SÁNG TÁC CỦA NHÀ VĂN
Vai trò chủ yếu trong đời sống văn học là nhà sáng tác. Điều kiện sống và làm việc của nhà sáng tác văn học tạo ra, trong một trình hạn nhất định, đặc tính và diện mạo đời sống văn học của một xã hội ở từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử.
Đã có một thời các nhà sáng tác những anh hùng ca, những chuyện cổ tích… không ai biết mặt biết tên, tung ra đời công trình văn học của mình bằng đường lối truyền khẩu, rồi những người đem phổ biến các tác phẩm ấy bằng miệng, đồng thời sáng tác thêm vào, suốt đời lang thang xứ này xứ khác sống bằng nghề kể truyện rong với tất cả sự say sưa của kiếp giang hồ lưu đãng 14 . Những người ấy – vừa thuật lại, vừa sửa chữa thêm thắt – hoặc là người rhapsode Hy-lạp kể anh hùng ca Homère trong các bữa tiệc vua chúa hoặc là người file vừa gẩy đàn vừa kể chuyện những anh hùng Conchobar, Cûchulainn trong hội mùa xuân ở Usnech, hoặc là người runo ĩ a ở xứ Phần-lan đời thượng cổ làm mê mẩn thính giả trong những cuộc đấu thơ, hoặc là người troubadour Pháp hòa mình vào những đám đông tín đồ đi trẩy hội đến những đất thánh và cất tiếng hát thuật lại những chuyện kỳ diệu gốc của anh hùng ca Pháp đời trung cổ, hoặc là người cheik Al-Monabbi trong tập Một nghìn một đêm lẻ làm náo động cả đô thị Damas vì tài kể chuyện như diễn kịch của mình, hoặc là người sẩm chợ xứ ta với chiếc đàn bầu hay chiếc nhị và lời hát thần diệu, đã làm ngây ngất bao nhiêu thanh niên nam nữ thời xưa vì những chuyện diễm tình Chử đồng tử – Tiên dung, Trọng thủy – Mỵ châu: tất cả những người làm văn học ấy đã đánh dấu lại trong lịch sử văn học một diện mạo nên thơ của đời sống văn học, ở một thời mà tiếng nói hòa với âm nhạc đã là phương tiện chủ yếu của sự phổ biến tác phẩm trong xã hội.
Đã có một thời, các nhà sáng tác văn học chưa đủ điều kiện để hoạt động tự lập, phần lớn phải ẩn mình dưới bóng một quyền uy thống trị. Đó là thời mà Lý Bạch bị Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi đang yến tiệc ở Trầm hương đình cho người gọi đến bắt làm ngay khúc Thanh bình điệu để vũ nữ múa hát làm vui bữa rượu; thời mà Nguyễn Trãi sống dưới quyền vua Lê thái Tôn; Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát ăn lộc của các Hoàng đế Minh Mệnh, Tự Đức; thời mà vua Louis XIV trợ cấp hàng năm 2000 livres cho Corneille, 1500 cho Racine, 1000 cho Molière và triều đình Versailles quyết định số mệnh nhất thời các vở kịch của các nhà sáng tác cổ điển thiên tài ấy; thời mà La Fontaine phải sống dưới sự che chở của viên Tổng giám tài chính Fouquet, Le Tasse dưới sự che chở của công chúa Lucrère, Shakespeare dưới sự che chở của bá tước Southampton… Nhưng đó cũng là thời mà Lý Bạch bị xua đuổi khỏi Trường An sống lưu đãng ở các sông hồ, đình núi; Corneille, Racine, Molière bị vua Louis XIV ghét bỏ và dày đạp; le Tasse bị giam vào nhà thương điên Santa-Anna liền bảy năm; Cervantès bị tù đầy nhiều lần và cuối cùng chết cơ cực nghèo túng nợ nần ở Madrid; Defoe bị tù ở New-gate, rồi sau lang thang chết gục trong một lữ điếm vô danh ở Moorfields; Nguyễn Trãi bị hất về Côn-sơn nằm trong gian lều ẩn cư nhìn trăng đợi gió và sau bị xử tử vì một vụ án bịa đặt; Nguyễn Công Trứ bị giáng chức nhiều lần, bị đẩy làm lính thú, rốt cuộc từ quan về quê cưỡi bò đi ngao du sơn dã; Cao Bá Quát bị đẩy lên Sơn Tây làm một viên giáo thụ tháng ngày dạy ê a chữ nghĩa thánh hiền cho « học trò dăm bẩy đứa nửa người nửa ngợm nửa đười ươi» để sau bị rụng đầu dưới lưỡi gươm của triều đình nhà Nguyễn…
Đó là thời mà sự định đoạt danh vọng và vận mệnh các nhà sáng tác văn học hầu như hoàn toàn thuộc quyền bọn vua quan thống trị. Tùy theo chỗ các nhà văn làm vừa ý hay phản đối chúng, họ sẽ được yêu chiều hay bị dập vùi. Điều kiện này đã đẻ ra tính cách đặc biệt của đời sống văn học trong xã hội phong kiến, đã thử thách và hun đúc cái dũng khí lớn lao của các nhà văn cổ điển: trọng sự thực hơn phú quý, trọng chân lý hơn tính mệnh, trọng nghệ thuật hơn danh vọng nhất thời.
Xã hội càng tiến hóa, điều kiện sống và sáng tác của nhà văn càng mỗi ngày một đổi khác, làm ra tính đa diện của lịch sử văn học. Thời của những Diderot, Voltaire, Rousseau, Beaumarchais, Goethe… không còn giống thời của Molière, Shakespeare. Thời của những Gorki, Lỗ Tấn lại khác hẳn thời của Diderot, Goethe. Giai cấp bóc lột càng ngày càng bị tước dần mất độc quyền định đoạt tiếng tăm của nhà văn chân chính. Dần dần, quần chúng cần lao giành lấy quyền tết những vành hoa cho các tác phẩm văn học chiến đấu nhân đạo chủ nghĩa. Dần dần, sự ủng hộ của quần chúng gián tiếp tạo cho nhà văn những điều kiện sống và sáng tác vượt khỏi vòng vây của giai cấp bóc lột.
Thông qua những điều kiện sống và sáng tác của nhà văn, những biến động của cơ sở kinh tế, của tổ chức chính quyền, của phong tục sinh hoạt cũng như sự diễn triển của đấu tranh giai cấp in vào đời sống văn học những dấu vết sâu sắc có lịch sử tính cụ thể không ai phủ nhận được. Nhà văn học sử muốn tìm hiểu quá khứ văn học không thể bỏ sót được dấu vết ấy.
II. KHÍ HẬU VĂN HỌC
Khí hậu văn học là môi trường hoạt động của các nhà sáng tác. Mỗi thời có một khí hậu văn học riêng góp phần vào sự sinh sản ra đặc tính của thời ấy. Bốn nhân tố chính cấu tạo nên một khí hậu văn học là:
- Tâm lý thời đại.
- Chính sách Nhà nước đối với văn học.
- Những cuộc đấu tranh văn học.
- Công chúng văn học.
Bốn nhân tố này làm môi giới cho đấu tranh giai cấp trực tiếp ảnh hưởng vào đời sống văn học.
1) TÂM LÝ THỜI ĐẠI
Trong tập « Những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Marx », Plékhanov viết:
«Nếu chúng ta muốn trình bày tóm tắt quan niệm của Marx và Engels về mối quan hệ giữa hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc, chúng ta sẽ đi đến trình tự sau đây:
« - Tình trạng lực lượng sản xuất.
« - Quan hệ kinh tế do lực lượng ấy quy định
« - Chế độ xã hội , chính trị xây dựng trên một cơ sở kinh tế có sẵn.
« - Tâm lý con người xã hội bị quy định một phần do cơ sở kinh tế và một phần do tất cả chế độ xã hội chính trị dựa trên cơ sở ấy.
« - Các ý thức hệ phản ánh tâm lý đó».
Ở đoạn khác, Plékhanov lại viết:
« Cuộc đấu tranh giai cấp càng quyết liệt, trong một xứ nhất định, ở một giai đoạn lịch sử nhất định, càng ảnh hưởng mạnh đến tâm lý các giai cấp tham gia đấu tranh. Người nào muốn nghiên cứu lịch sử các ý thức hệ trong một xã hội có giai cấp phải hết sức chú ý đến ảnh hưởng ấy ».
Và: « Ai đã lưu tâm chút ít đến các sự kiện xẩy ra cũng dễ dàng nhận thấy rằng tất cả mọi ý thức hệ đều có một gốc rễ chung là tâm lý của thời đại; điều này không có gì là khó hiểu cả. Thí dụ, có thể lấy chủ nghĩa lãng mạn Pháp làm dẫn chứng. Victor Hugo, Eugène Delacroix và Berlioz hoạt động trong ba địa hạt nghệ thuật khác nhau. Cả ba người tính tình tư tưởng đều xa nhau… Victor Hugo không thích âm nhạc, mà Delacroix thì lại khinh các nhạc sĩ lãng mạn. Ấy thế mà, đương thời người ta đã mệnh danh đúng ba nghệ sĩ biệt tài ấy là Bộ ba lãng mạn chủ nghĩa. Tác phẩm của họ đều phản ánh một tâm lý chung. Có thể nói rằng bức họa Dante và Virgile của Delacroix biểu hiện một trạng thái tâm hồn y như trạng thái đã thôi thúc Hugo viết kịch Hernani, Berlioz soạn khúc nhạc Symphonie fantastique. Điều này, các người đương thời cảm thấy rõ lắm… Không còn nghi ngờ gì cả, tâm lý của chủ nghĩa lãng mạn chỉ có thể hiểu được khi ta nhìn nhận nó là tâm lý của một giai cấp nhất định trong những điều kiện xã hội và lịch sử nhấtđịnh… »
Trong lãnh vực ý thức hệ, tâm lý thời đại thường thường kết tinh vào một luồng tư tưởng triết lý và luân lý ưu thế chi phối cảm nghĩ và hành động của con người. Luồng tư tưởng này có khi là một hệ thống triết học rõ rệt, có khi là một khuynh hướng triết học còn bàng bạc, có khi là một nhân sinh quan, một thẩm mỹ quan, có khi là thực chất một vận động cải tạo xã hội. Đặc tính của nó là thích hợp với một trạng thái tâm lý chung của thời đại có lịch sử tính nhất định . Mỗi giai đoạn lịch sử của xã hội đề ra một tâm lý riêng, một luồng tư tưởng ưu thế riêng , không giống những giai đoạn khác.
Trong lịch sử văn học nước ta thời cận đại, chẳng hạn, có lúc ưu thế thuộc về tư tưởng Khang – Lương, có lúc thuộc về chủ nghĩa dân quyền của Rousseau, có lúc thuộc về chủ nghĩa Tam dân của Tôn Văn, có lúc thuộc về triết lý «vui vẻ trẻ trung» (khoái lạc chủ nghĩa tư sản), có lúc thuộc về tư tưởng «người hùng» mầu sắc Nitzchéen (sống nguy hiểm và tàn nhẫn; mạnh sống yếu chết), có lúc thuộc về nhân sinh quan Gidien, v.v… mỗi tư tưởng ưu thế ấy có một cơ sở tâm lý xã hội nhất định dinh dưỡng nó. Tâm lý ấy hoặc là mối lo diệt chủng, mối nhục mất nước, ý chí «giữa trời thét một tiếng vang, thân này tan với giang san cũng là» (Phan Bội Châu); hoặc là sự hoang mang kinh khủng buổi thoái trào cách mạng, sự khao khát những ảo mộng an ủi, sự đổ xô vào con đường thoát ly thực tế, sự cô đơn ai oán của những kẻ lạc loài «rũ áo phong sương trên gác trọ, lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang…» (Thế Lữ); hoặc là cảm giác say sưa và bi đát của những hành động phá hoại không có mục tiêu, ý chí tự hủy hoại một cách hư vô chủ nghĩa để cầu thể hiện cá nhân tính bị kìm kẹp, sự quằn quại nỗ lực vượt lên trên «nỗi lèm nhèm, lẹt đẹt, lờ mờ, luộm thuộm và bằng lòng của tất cả chung quanh » (Nguyễn Tuân), sự khổ nhục của những «cuộc đời đầy bất mãn và uất kết» , v.v… Những tâm lý và tư tưởng ưu thế ấy đã lần lượt tạo ra những khí hậu khác nhau của đời sống văn học Việt-nam cận đại ở từng giai đoạn một. Nghiên cứu đời sống này, nhất thiết phải khôi phục lại cái chất và cái vị của những khí hậu văn học vô hìnhđó.
2) CHÍNH SÁCH NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VĂN HỌC
Đây cũng là một nhân tố quan trọng tạo nên khí hậu văn học của từng thời đại, từng giai đoạn lịch sử xã hội. Trong những chế độ bóc lột, bất cứ ở thời nào, xứ sở nào, giai cấp thống trị và Nhà nước của nó cũng có chính sách đối với sự hoạt động văn học, vì nó biết văn học là một vũ khí đấu tranh chính trị vô cùng sắc bén và có lực lượng. Hoặc nó dùng thứ văn học phục vụ nó, hoặc nó khuyến khích thứ văn học có lợi gián tiếp cho nó; hoặc nó trấn áp thứ văn học chống lại nó; hoặc nó phải tạm thời nhượng bộ phong trào quần chúng cho lưu hành những tác phẩm tiến bộ rồi tìm cách đàn áp dần dần; hoặc nó diệt từ gốc thứ văn học có thể hại đến nó: bao giờ Nhà nước của giai cấp thống trị cũng can thiệp vào sự hoạt động văn học, gây ra một không khí riêng biệt của đời sống văn học ở từng thời kỳ và giai đoạn lịch sử nhất định. Người viết sách, người phổ biến sách, người đọc sách đều có một tâm lý do không khí ấy tạo cho. Tâm lý này ảnh hưởng nhiều đến tính cách và diện mạo của sinh hoạt văn học.
Nói chung thì trong các xã hội có giai cấp đối kháng, khí hậu văn học là khí hậu chống lại chính sách của phe lũ cầm quyền nhằm nô dịch, đàn áp và khủng bố văn học. Đây là điểm gặp nhau của văn học và đấu tranh chính trị. Nhiều trường hợp hoạt động văn học biến thành đấu tranh chính trị.
Năm 1663, tập đoàn quân phiệt chúa Trịnh ra lệnh:
«… G ần đây, có kẻ hiếu sự đặt ra những truyện quốc âm mà không phân biệt sự gì đáng làm với không đáng làm, rồi đem khắc in mà bán. Việc đó cần phải cấm. Vậy từ nay, ai có trong nhà những bản in hay là những sách ấy phải giao cho quan xem xét và hủy đi» .
Nhưng nhân dân đã phản ứng lại chính sách khủng bố đó bằng cách không thi hành lệnh của chúa Trịnh; và truyện Nôm lại càng ra nhiều hơn. Cho nên đến 1718, Trịnh Cương lại phải có một đạo sắc chỉ cấm sách y hệt như 1663. Đáp lại sắc chỉ ấy là truyện Nôm chống Trịnh vẫn lưu hành trong dân gian (tôi ngờ rằng những truyện Nôm khuyết danh của ta có nội dung chống kịch liệt hôn quân ám chúa, quan tham lại nhũng, như Nhị độ Mai, Phạm Tái Ngọc Hoa, v.v… xuất hiện trong khoảng giữa hai lệnh cấm sách của chúa Trịnh: 1663-1718, hoặc sau 1718 để trả lời biện pháp khủng bố văn học của Trịnh Cương).
Năm 1927, thực dân Pháp cầm tập thơ « Chiêu H ồn N ước » và bắt giam tác giả là Phạm Tất Đắc lúc ấy đang học trường Bưởi; tức thời nổ ra những cuộc bãi khóa và biểu tình của đông đảo học sinh các trường Trung và Tiểu học ở Hà-nội để phản kháng lại. Còn Chiêu hồn nước thì vẫn được phổ biến rộng rãi trong giới học sinh bằng cách chép tay truyền cho nhau. Và liền đó, hàng loạt sách của Nam đồng thư xã xuất hiện cổ vũ lòng yêu nước và tuyên truyền cách mạng giải phóng dân tộc. Năm 1937, nhân có phong trào Mặt trận dân chủ vận động Đông dương đại hội, các nhà văn nhà báo Bắc bộ đã tổ chức một cuộc đấu tranh chống chính sách đàn áp ngôn luận của thực dân dưới hình thức Hội Nghị báo giới đòi tự do báo chí, làm cho khí hậu văn học náo động. Cuối cùng, thực dân phải thừa nhận tự do báo chí, bỏ kiểm duyệt, bỏ lệnh bắt xin phép ra báo…
Trong lịch sử xã hội quá khứ, những cuộc đấu tranh văn học có tính chất chính trị như thế, ở xứ nào, thời nào, cũng thấy xuất hiện, cách này hay cách khác.
Đây là một khí hậu văn học nhiễm phong vị đặc biệt của những ngày tiền cách mạng ở Nga, cuối thế kỷ XIX:
«Ngày kỷ niệm đệ bách chu niên sinh nhật Pouchkine, tất cả những đại văn hào Nga đều được mời đến đọc diễn văn để tỏ tình thương tiếc nhà thơ quá cố. Tourguenew nói đầu tiên; mọi người hoan nghênh một cách lịch sự nhưng nhạt nhẽo. Hôm sau, đến lượt Dostoïeski. Trong một cơn say sưa ma quái, Dos sử dụng lời nói như một tiếng sét. Với một nhiệt tình cảm thán cực độ, bằng một giọng trầm trầm, khàn khàn, ông báo hiệu sứ mệnh đoàn kết toàn dân Nga; bàng hoàng, quần chúng như ngã phục xuống chân ông; gian phòng kỷ niệm rung lên vì hân hoan, phụ nữ hôn tay ông, một sinh viên ngất đi dưới chân ông. Các diễn giả khác chối từ không đọc văn kỷ niệm nữa. Sự hào hứng không còn bờ bến nào nữa: một vòng hào quang chói lọi tết đai quanh đầu con người khổ hạnh ấy… Dos mất ngày 10-2-1881. Một luồng rung động lay chuyển toàn thể nước Nga; mọi người lịm đi vì đau đớn; rồi thì, cùng một lúc, không ai hẹn ai, từ các tỉnh xa xôi, phái đoàn này, phái đoàn khác tới tấp ào về để đưa đám ông… Phố Thợ rèn là nơi quàn quan tài của ông đông nghịt những người; rùng mình, lặng lẽ, quần chúng leo những bực thềm nhà người công nhân và vây quanh quan tài; chỉ trong vài tiếng đồng hồ, bao nhiêu hoa dùng để lót thi hài ông đã biến hết: mỗi người lấy một bông hoa để làm kỷ niệm.
« …Viên cảnh sát trưởng muốn cấm cuộc tổ chức đám ma có quần chúng đông đảo tham gia vì nghe nói sinh viên định đeo xiềng tù nhân ở tay đi sau linh cữu, nhưng hắn không dám cấm; vì nếu cấm quần chúng rất có thể dùng đến vũ khí để tổ chức đám ma. Trong một giờ, cái mơ ước thần thánh của Dos được thực hiện: toàn thể dân Nga đoàn kết… Dưới một rừng cờ và biểu ngữ phiêu động trước gió, những vị hoàng tử trẻ tuổi, những nhà tu mặc lễ phục, thợ thuyền, sinh viên, sĩ quan, những đầy tớ và hành khất sụt sùi thương khóc nhà văn thân yêu của mình không còn nữa…
« …Ba tuần sau, Nga hoàng bị ám sát; tiếng sấm bạo động rầm rộ khắp nơi. Những tia lửa trả thù x iên dọc x iên ngang toàn xứ. Như Beethoven, nhà văn hào Dostoïeski chết giữa cơn bão táp, giữa trận cuồng động của muôn vật». 15
Còn dưới đây lại là một khí hậu khác, ở Trung-quốc, những năm thoái trào cách mạng 1930-1931 do ngòi bút Lỗ Tấn ghi lại được:
«…Bọn quan liêu của giai cấp thống trị thì cảm giác chậm hơn học giả một chút, nhưng năm ngoái đây cũng đã mỗi ngày một áp bách thêm. Cấm báo chí, cấm sách vở, chẳng những cấm những thứ mà nội dung hơi có cách mạng tính mà cả đến bìa sách in chữ đỏ, tác giả là người Nga, như A. Sérafimovitch. V. Ivanov và N. Ognev chẳng nói làm chi, cả đến một vài thứ tiểu thuyết của A. Chékhov và L. Andreev cũng đều ở trong số bị cấm. Thế rồi cửa hàng sách buộc phải chỉ in ra những sách dạy toán và đồng thoại như Mr. Cat và Miss. Rose nhàn đàm, ca tụng mùa xuân đáng yêu như thế nào, v.v…
« …Chỉ cấm mà thôi còn chưa phải là cách trừng trị tận gốc. Thế rồi năm nay có 5 tác giả tả dực mất tích, người nhà đi hỏi thăm biết là ở tại bộ Tư lệnh cảnh bị, nhưng không thấy nhau được; sau nửa tháng đi hỏi nữa thì lại nói đã được giải phóng rồi «giải phóng» đây là cách nói mỉa mai thay cho «tử hình»… T iếp đó là đóng cửa các hàng sách đã từng in sách mới hoặc bán sách mới, khi nhiều lắm là một ngày năm nhà…
« …Nhưng mà đối với văn nghệ, giai cấp thống trị cũng không phải là không kiến thiết tích cực. Một mặt, họ đuổi những chủ tiệm và người làm nguyên có trong mấy hàng sách, ngấm ngầm đưa vào đó một tụi người từng cúi đầu chịu họ sai khiến. Nhưng làm như thế đã thấy thất bại ngay. Vì trong đó, toàn là chó săn, cửa hàng sách ấy bèn giống như một quan nha uy nghiêm lộng lẫy, mà quan nha của Trung-quốc là chỗ nhân dân rất sợ và rất chán, tự nhiên không có người vào. Những kẻ ưa tới lui tại đó vẫn là mấy con chó săn chạy rông. Như vậy, làm thế nào cho cửa hàng tấp nập được? Song le, còn có một mặt khác là viết bài, in tạp chí để thay thế những sách báo của tả dực bị cấm, kể đến hôm nay đã gần được mười thứ rồi. Nhưng như thế cũng đã thất bại…
« …Cửa hàng sách của quan không có ai đến, sách báo không có ai xem, cái phương pháp cứu chữa là bắt ép những người từng có danh tiếng mà không hẳn tả khuynh đến viết cho họ, hầu giúp cho sách báo được chạy. Kết quả chỉ có một vài kẻ gà mờ mắc mưu, số đông thì cho đến nay chưa hề viết, có một người bị ngăm dọa đến phải trốn tránh chẳng biết đi đằng nào…
« …Phần nhiều thanh niên cách mạng thì lại không luận thế nào, họ vẫn cứ yêu cầu, ủng hộ, phát triển văn nghệ tả dực một cách nhiệt liệt khác thường. Bởi vậy, ngoài những sách báo do quan làm ra và do chó săn của quan làm ra, những báo chí của các cửa hàng sách khác vẫn phải kiếm cách này cách khác thêm vào một vài tác phẩm cấp tiến… Văn nghệ tả dực có đại chúng độc giả cách mạng nâng ch ỏ i, cái «tương lai» chính ở một phương diện ấy». 16
Mấy dẫn chứng trên đây đủ làm nổi bật lên sự cần thiết khôi phục lại quá trình chiến đấu giữa Nhà nước thống trị và các lực lượng văn học trong lịch sử văn học ở các xã hội bóc lột. Quá trình này đã tạo ra khí hậu văn học của một xã hội ở từng giai đoạn lịch sử.
3) NHỮNG CUỘC ĐẤU TRANH VĂN HỌC
Đây là hiện thân của đấu tranh giai cấp trong bản thân lĩnh vực văn học. Ý thức hay vô ý thức, mỗi trào lưu, mỗi tập đoàn, mỗi cơ quan văn học, trong các xã hội có đối kháng giai cấp, là tiếng nói của một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội nhất định. Về điểm này, muốn nhận chân được bản chất các hiện tượng thuộc về phạm trù giai cấp tính của văn học, phải diệt bỏ những quan điểm xã hội học thô thiển. Marx đã viết:
«Đừng tưởng rằng những người tiêu biểu cho phái dân chủ đều là chủ nhân các cửa hiệu tạp hóa hay là thiết tha gì đến quyền lợi của hạng này. Bằng vào học thức và vị trí xã hội riêng từng người, họ có thể cách xa các chủ hiệu tạp hóa kia một trời một vực. Cái điều làm cho họ là đại biểu của từng lớp tiểu tư sản là: đầu óc họ không vượt quá nổi những giới hạn mà người tiểu tư sản không thể vượt quá được trong đời sống; do đó, trong phạm vi lý thuyết, họ bị đẩy đến chỗ đặt ra những vấn đề và bầy ra những cách giải quyết giống hệt những vấn đề và cách giải quyết của tầng lớp tiểu tư sản bị quyền lợi vật chất và địa vị xã hội đẩy tới đó trong thực tiễn sinh hoạt. Đại cương thì mối quan hệ giữa một giai cấp và các nhà chính trị, các nhà văn học tiêu biểu nó là như vậy». 17
Đó là một nhận định hết sức quan trọng có thể dùng làm tiêu chuẩn để khám phá giai cấp tính của một trào lưu văn học, một văn phái, một tác giả văn học. Cũng nhờ nhận định này, ta có thể nhìn thấy rõ sự phản ánh của đấu tranh giai cấp trong những cuộc đấu tranh văn học giữa phái này với phái khác, giữa dòng sáng tác này với dòng khác.
Nghiên cứu bản thân đời sống văn học của một xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định, trước hết, là nghiên cứu những cuộc đấu tranh tư tưởng của các lưu phái văn học trong giai đoạn đó. Bao nhiêu nhà văn, tác phẩm, hoạt động văn học đều bị hút vào cuộc đấu tranh ấy. 18
Cuộc đấu tranh trong lĩnh vực văn học thường thường diễn ra ở: ba mặt đấu tranh về quan niệm nghệ thuật, đấu tranh về phương pháp sáng tác, đấu tranh về lý luận phê bình văn học. Đây là một cuộc đấu tranh thực sự, vật chất, chứ không phải chỉ ở địa hạt thuần lý; một cuộc đấu tranh có quân, có tướng, có trận địa, có giao chiến cụ thể – và có cả nạn nhân nữa. Ta hãy nhớ lại sự kiện được mệnh danh là trận Hernani hồi đầu thế kỷ XIX, trong lịch sử văn học Pháp. Trước khi diễn vở kịch ấy của Victor Hugo, hai phái cổ điển và lãng mạn đều có chuẩn bị chu đáo về mọi phương diện: kế hoạch đấu tranh, lề lối đấu tranh. Và cuộc xung đột nổ ngay ra từ giờ phút đầu, ồn ào, kịch liệt. Trong lúc diễn viên trên sân khấu ngâm lên những câu thơ mới không theo quy pháp cổ điển – Victor Hugo gọi đó là «gây một cơn bão trong bình mực» – thì các khán giả thuộc phái cổ điển, phần lớn đã nhiều tuổi và hói trán, ngồi ở phòng dưới đối diện sân khấu la ó phản đối để phá buổi diễn. Tức thời, đám đông thanh niên thuộc phái lãng mạn, tụ tập trên các từng gác, trả lời lại bằng cách ném những quả cà chua chín tới tấp xuống những cái đầu cổ điển đang vươn lên phía sân khấu để hò hét. Thế là trận đánh bắt đầu… Bài Tựa vở kịch Cromwel của Hugo – bản tuyên ngôn của lưu phái văn học lãng mạn – đã biến thành những cánh tay, những quả đấm. Những cánh tay và quả đấm này, cùng với những bài tựa, bài bút chiến, tập thơ, vở kịch, cuốn truyện, đã liên tục đập vào đầu hàng ngũ những bọn trưởng giả:
«… C hỉ biết tôn thờ có đồng bạc một trăm xu, chỉ có một lý tưởng là yên thân, về thơ thì chỉ thích có bài tình ca du dương, về mỹ thuật thì chỉ thích có loại họa thạch bản in mầu» .
Như lời riễu cợt của thi sĩ lãng mạn Théodore de Bainville:
«Không những chỉ tỏ ý khinh ghét lối sống tư sản mực thước và công thức ở trong tác phẩm, các nhà văn lãng mạn còn biểu hiện sự khinh ghét ấy ở cả cử chỉ và d áng điệu nữa. Lúc đó, như Théophile de Gauthier đã viết trong cuốn «Lịch sử chủ nghĩa lãng mạn» có cái mốt trong phái lãng mạn là da mặt phải xanh xao, nhợt nhạt, tai tái, gần giống sắc diện một thây ma nếu có thể được. Như thế mới có vẻ bạc mệnh, byronien, tà giáo phái, bị dục vọng và hối hận dầy vò. Như thế, phụ nữ sẽ cho là có bản lĩnh… Nghệ thuật mới… đối với họ, là một nơi ẩn náu để đi trốn cái đê tiện, cái chán ngán và cái thô tục đương thời» . 19
Với tâm lý ấy, nhà thơ lãng mạn Théophile de Gauthier đã đi đến một quan niệm nghệ thuật «thoát ly» cực đoan:
« Không, hỡi lũ người ngu dại đần độn lẩm cẩm kia, một cuốn tiểu thuyết không làm ra được một đĩa xúp có váng keo, một cuốn tiểu thuyết không phải là một đôi giầy da nhẵn bóng… Tôi, tôi thuộc vào hạng người chỉ cần đến những cái vô ích – và người nào, vật gì càng không giúp ích cho tôi nhiều chừng nào, tôi càng quý chừng nấy… Tôi rất vui lòng khước từ cái quyền lợi làm người Pháp và làm công dân của tôi để được ngắm một bức họa chính cống của Raphaël hay một phụ nữ khỏa thân…» (Tựa tiểu thuyết Mademoiselle de Maupin) 20
Và cuối cùng, lưu phái văn học lãng mạn đã thắng vì nó biểu hiện một nhu cầu thiết yếu của giai cấp tư sản Pháp đầu thế kỷ XIX – mặc dầu nó có vẻ chống tư sản. Đúng như lời nhận định của Plékhanov:
« Khi giai cấp tư sản đã chiếm được địa vị ưu thế trong xã hội và khi lửa đấu tranh giải phóng không còn đốt nóng được nó nữa thì nghệ thuật của nó chỉ còn nhiệm vụ lý tưởng hóa sự phủ định của đời sống tư sản. Nghệ thuật lãng mạn chủ nghĩa là sự lý tưởng hóa ấy». 21
Trong lịch sử văn học nước ta thời cận kim, khí hậu văn học đã một thời sôi nổi vì những cuộc đấu tranh giữa các lưu phái lãng mạn và hiện thực chung quanh những vấn đề: quan niệm nghệ thuật (nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh) phương pháp biểu hiện thực tại (Vũ Trọng Phụng bút chiến với nhóm Ngày nay), vì những trận bút chiến và khẩu chiến giữa phái thơ mới và phái thơ cổ điển , vì sự xung đột giữa phương pháp phê bình và nghiên cứu văn hoặc duy vật hoặc duy tâm… Tìm hiểu và đánh giá các tác giả, tác phẩm văn học khoảng 1930-1945, không thể không nghiên cứu những sự kiện ấy quan hệ với tình hình đấu tranh tư tưởng nói trên. Ta không thể giải thích đúng đắn được một tập thơ, một vở kịch, một bài diễn thuyết, một cuốn tiểu thuyết xuất hiện trong thời gian ấy nếu không đặt nó vào khí hậu đấu tranh ấy.
4) CÔNG CHÚNG VĂN HỌC
Công chúng văn học cũng là một nhân tố gây nên đặc tính của một khí hậu văn học. Trong cuộc chiến đấu của các nhà văn phản kháng lại một chính sách văn học thống trị có tính cách đàn áp (ở các xã hội mà chính quyền nằm trong tay các giai cấp bóc lột) trong những cuộc xung đột giữa các trào lưu văn học, công chúng đóng một vai trò gần như quyết định. Đó là chưa kể, bằng sự yêu cầu chủ quan của mình, công chúng còn quyết định phần lớn cả hướng sáng tác văn học nữa. Nhà đại văn hào Anatole France, trong tập Đời sống văn học, bàn về tình hình sáng tác tiểu thuyết cuối thế kỷ XIX ở Pháp, có viết:
« Độc giả của tiểu thuyết càng ngày càng có tâm lý sốt ruột, phù phiếm, chóng quên. Bởi vì họ là phụ nữ. Nếu ta trừ Emile Zola ra không kể thì các tiểu thuyết gia đang được ưa thích hiện nay đều có nữ độc giả số lượng gấp bội nam đ ộ c giả. Và chính áp lực của nữ độc giả đã đẻ ra tinh thần và cách điệu của tiểu thuyết hiện kim, vì có thể nói được rằng một tác phẩm văn học là tác phẩm vừa của độc giả vừa của tác giả. Chỉ có những kẻ điên mới nói để một mình mình nghe, và tôi cho rằng những kẻ nào viết sách chỉ để một mình mình đọc không có hy vọng tác động đến tâm hồn người khác phải là những kẻ mắc chứng cuồng thiên chấp. Theo lẽ đó, các nhà tiểu thuyết của chúng ta đều cố tìm ra, có khi không muốn và không tự biết, cái gì có thể làm cho phụ nữ ưa thích: điều này chỉ là tự nhiên mà thôi».
Vấn đề này, các nhà lý luận văn học mác xít đặt ra một cách cụ thể hơn, nghĩa là đặc biệt chú trọng đến giai cấp tính của độc giả gắn liền với nhiệm vụ cách mạng trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Đó là vấn đề: viết cho ai? viết để phục vụ ai?
« Đó là vấn đề: văn nghệ làm ra cho ai xem? Người xem (độc giả) là đối tượng… Vấn đề văn nghệ mưu lợi ích cho ai là một vấn đề căn bản, vấn đề nguyên tắc». (Mao Trạch Đông: Bàn về văn học và nghệ thuật)
Ý thức mưu lợi ích cho ai quyết định toàn bộ sáng tác văn học: nghiên cứu đề tài, chọn chủ đề, xây dựng bố cục, điển hình hóa nhân vật, vận dụng ngôn ngữ, v.v… Định viết cho ai thì tất nhiên phải viết cái gì, viết cách nào cho đối tượng của mình hiểu và thích, đồng thời có lợi cho họ. Và như vậy, tất nhiên độc giả sẽ hoan nghênh tác giả, nhà văn của họ. Họ sẽ ủng hộ nhiệt liệt, khuyến khích mạnh mẽ, kính mến chân thành. Trong mọi trường hợp đấu tranh với những lực lượng đối địch, họ sẽ là hậu thuẫn vững chắc cho nhà văn của họ. Sự tham gia đấu tranh của các công chúng văn học đối kháng nhau phản ánh tương quan lực lượng giữa các giai cấp đối kháng đấu tranh với nhau ở các địa hạt kinh tế, chính trị, xã hội. Cho nên biết được tác giả nào được công chúng nào ủng hộ là biết được tác giả ấy làm lợi cho giai cấp nào trong cuộc đấu tranh xã hội. Đông đảo học sinh tiểu tư sản bãi khóa để bênh vực tác giả Chiêu hồn nước (1927) bị thực dân Pháp bắt giam, đa số thanh niên tư sản và tiểu tư sản hăng hái ủng hộ phong trào thơ mới (1932-1936), quần chúng tiểu tư sản nghèo nhiệt liệt ca tụng Vũ Trọng Phụng (1930-1939), công nông và dân nghèo kiên quyết bảo vệ những sách báo tả phái hồi Mặt trận dân chủ (1936-1939): đó là những hiện tượng văn học mà nhà nghiên cứu phải lưu tâm đến khi tìm giai cấp tính của những trào lưu, tác giả, tác phẩm văn học ở xứ ta khoảng 1918-1940.
Thông qua tác dụng của công chúng văn học, đấu tranh xã hội trực tiếp khuôn hình tính chất và dạng thái một khí hậu văn học, trong những điều kiện nhất định. Lịch sử văn học, một phần nào, cũng là lịch sử công chúng văn học.
III. CÁC LOẠI VĂN
1) NGUỒN GỐC XÃ HỘI VÀ LỊCH SỬ CỦA LOẠI VĂN
Có thể nói: những điều kiện vật chất và xã hội nhất định của sự hoạt động văn học, trong một khí hậu văn học nhất định tạo ra những loại văn và tác phẩm nhất định phù hợp với nó. Bởi lẽ những điều kiện ấy và khí hậu ấy biểu thị một trình độ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa nhất định của một xã hội, cho nên cũng có thể khẳng định rằng loại văn và tác phẩm, xét đến gốc rễ, là sản phẩm tất yếu của một trạng thái xã hội khách quan, chứ không phải đơn thuần do nhà sáng tác văn học tự ý làm ra.
Nhà triết học kiêm phê bình văn học mác xít Hung-ga-ri, ông Georg Lukacz, trong một số công trình nghiên cứu rất có giá trị về văn học hiện thực chủ nghĩa ở Pháp, Đức, Nga… đã làm sáng tỏ nhận định trên đây bằng những chứng minh cụ thể và đanh thép. Theo lập luận của ông, thì loại tiểu thuyết hiện thực là biểu thị văn hóa đặc biệt của thời đại tư bản chủ nghĩa; đó là sử thi của thời đại tư sản. Ông viết:
« Tiểu thuyết là hình thức văn học của các thủ đô tư sản Âu Tây». Ông thuyết minh rằng:
« Những tiểu thuyết ở các thời trước là những mớ hành động phiêu lưu kết cấu với nhau lỏng lẻo ít hay nhiều, hoặc là những chuỗi sự việc có tính cách đoản thiên, tất cả dính vào nhau nhờ tính nhất trí của nhân vật chính và của vấn đề trung tâm. Chỉ khi nào những quy luật của sự sinh tồn xã hội lộ ra hiển nhiên đến nỗi hàng ngày trong mọi chi tiết của đời sống mỗi người đều va đụng phải những quy luật ấy, khi đó mới xuất hiện được sự phản ánh thi vị mà biểu thị văn học là tính chất tập trung chặt chẽ, tính chất kết cấu keo sơn của mọi sự việc, trong loại tiểu thuyết. Vì kinh nghiệm sâu sắc thấy xã hội phát triển có quy luật nghiệt ngã và tất yếu, cho nên Balzac đã tiến đến chỗ phải vận dụng hình thức chu kỳ tiểu thuyết, lối truyện hoành tráng trong đó toàn bộ những quy luật có thể thâm nhập vào tận những vận mệnh cá nhân vô cùng phức tạp ». (Sách: Những nhà văn hiện thực Đức)
Vận mệnh lịch sử của loại tiểu thuyết hiện thực , theo Georg Lukacz, cũng bị lệ thuộc vào quá trình diễn triển của chế độ tư bản chủ nghĩa. Ông chia lịch sử của tiểu thuyết hiện thực Âu tây làm ba giai đoạn:
Đó là thời mà các nhà tiểu thuyết thiên tài, trong sơ kỳ của tư bản chủ nghĩa, có điều kiện sống phong phú đời sống của xã hội , và nhờ thế, nên đã có thể tóm bắt được thực tại ở các dạng thái phức tạp, có thể phát hiện được đời xã hội của con người ở hình thái trọn vẹn nhất, có thể tìm đến được nguồn gốc xã hội của những xung đột tâm lý: và cuối cùng, xuyên qua mọi hiện tượng tác động lẫn đến nhau một cách biện chứng, đã khám phá được bản chất của thực tại . Điều kiện khách quan ấy, kết hợp với tinh thần trung thực tuyệt đối của nhà tiểu thuyết – đây là điều kiện chủ quan – đã khiến các nhà sáng tác làm nổi bật được sự hiện diện của các giai cấp qua các nhân vật điển hình trong tác phẩm. Chính sự tồn tại của điển hình đã giới thuyết chủ nghĩa hiện thực tư sản ở thời cực thịnh của nó. Đó là thời của Balzac, Stendhal.
Dần dần, sự phát triển của chế độ tư bản càng ngày càng lôi cuốn toàn bộ đời sống vào nanh vuốt của quy luật tư bản chủ nghĩa; nhà văn mất dần địa vị ưu thế đã có ở giai đoạn trước , cái ưu thế nó cho phép nhà văn phát hiện được chân tướng xã hội nấp sau những bức màn giả dối. Đến đây, vấn đề căn bản của mỹ học hiện thực chủ nghĩa là xem nhà văn có can đảm bơi ngược dòng hay để dòng tiến hóa ấy kéo đi. Stendhal tiếc nhớ thời oanh liệt của giai cấp tư sản – ý thức hệ của thế kỷ ánh sáng, chiến tranh cách mạng, chiến tranh Napoléon – Balzac, tuy đã «nhìn» được tính cách tất yếu của quá trình phát triển xã hội mà vẫn cố bíu lấy ý thức hệ phong kiến. Đà tiến triển của chế độ tư bản dấn bước thêm chừng nào thì sự cách biệt giữa thực tại và không tưởng càng sâu thêm chừng nấy, trong tâm hồn nhà văn. Đó là lúc chủ đề của các tiểu thuyết là sự nhẫn nhục, sự khước từ cái ý chí thể hiện tài năng cá nhân một cách toàn diện. Balzac viết Les Illusions perdues; Flaubert viết L’éducation sentimentale; Gottfried Keller viết Henri le vert đều xoay quanh chủ đề ấy.
Sau thất bại cách mạng 1848, hiện thực chủ nghĩa bắt đầu suy đồi. Nhà tiểu thuyết biến thành một nhà văn ở ẩn trong phòng giấy của mình. Bị cắt đứt với đời sống, các nhà sáng tác tiểu thuyết không còn nhìn thấy được những gốc rễ xã hội của sinh tồn cá nhân. Không tham dự vào đời sống xã hội nữa, họ tiến dần đến chỗ lấy sự bàng quan làm điều kiện tồn tại của nghệ thuật, như Flaubert đã chủ trương. Hiện thực chủ nghĩa rơi xuống tự nhiên chủ nghĩa. Những hình thái mới của sinh hoạt đẻ ra một phong cách sáng tác tiểu thuyết mới. Nhà tiểu thuyết rời bỏ những vấn đề lớn của xã hội, chỉ còn biết tập trung quan sát vào những cá nhân riêng lẻ tách rời khỏi toàn bộ cuộc sinh hoạt; hơn nữa, nhân vật chính chỉ còn là một tư nhân trung bình suốt đời săn sóc đến vận mệnh riêng của bản thân mình. Hoàn cảnh xã hội của nhân vật chỉ còn là một trang trí phẩm:
« Người ta đặc biệt miêu tả sự nghèo nàn của cuộc sống… người ta thay thế những quan hệ xã hội thực bằng những tượng trưng khô khẳng, cứng nhắc và bao bọc nó bằng một không khí lãng mạn được thổi phồng lên» . (Georg Lukacz: Hiện thực chủ nghĩa Nga)
Đó là thời của tiểu thuyết tự nhiên chủ nghĩa ở Âu Tây. Nói một cách tổng quát thì sự bất lực trong việc sáng tạo điển hình đánh dấu sự cáo chung của hiện thực chủnghĩa.
Cũng do quan điểm: tiểu thuyết là sử thi của thời đại tư sản . Georg Lukacz đã cắt nghĩa được vì sao loại văn ấy vắng mặt trong văn học Đức nửa đầu thế kỷ XIX, mặc dầu lúc ấy có nhiều thiên tài văn học. Ông viết:
« Đầu thế kỷ XIX, nước Đức không có thủ đô thực sự, không có giai cấp tư sản thực sự thành hình. Các nhà văn mò mẫm đi tìm một phong cách hiện thực chủ nghĩa. Phong cách «hoành tráng» (những vở kịch của Goethe và Shiller), đoản thiên quái đản của Hoffmann đều là những thí nghiệm hướng về sự tìm tòi ấy. Kết luận của giai đoạn này (Heine ấn định thời điểm tận cùng của nó vào lúc Goethe từ trần) là: không thể sáng tạo tiểu thuyết ở Đức được… Biểu hiện cao độ của giai cấp tư sản Đức lúc đó không phải là tiểu thuyết mà là triết học ».
Ông lại viết: « Đời sống Đức, thời đó, không cung cấp được nguyên liệu cho một tiểu thuyết lớn có sử thi tính » – vì giai cấp tư sản Đức đầu thế kỷ XIX chưa thực sự là một lực lượng kinh tế và xã hội.
Về mặt lý thuyết, quan điểm của Georg Lukacz dẫn tới kết luận:
«Mỗi loại văn, mỗi phong cách văn học, mỗi hình thức biểu hiện – kịch, tiểu thuyết hay đoản thiên – là sự đáp ứng cho những vấn đề mới do nguyên liệu (tức là đề tài sáng tác) đặt ra. Nhà tiểu thuyết sử dụng những phương tiện biểu hiện và cấu tạo tác phẩm của mình không phải là do một thứ ý chí tự do thuần túy nào hay do những ảnh hưởng huyền bí nào mà chính là để đáp lại sự yêu cầu của đề tài sáng tác. Do đó, không làm gì có lịch sử độc lập của các hình thức văn học » . 22
Theo quan điểm Georg Lukacz, đời sống văn học, thông qua một thành phần cấu tạo quan trọng của nó là loại văn, bị trình độ phát triển của xã hội quy định rất chặt chẽ. Georg Lukacz có thể giúp cho nhà văn học sử Việt-nam phương hướng giải thích quá trình xuất hiện và diễn triển của các loại văn cũng như tiêu chuẩn để xác định hệ số xã hội của một thiên tài văn học. Áp dụng quan điểm Georg Lukacz vào văn học cận đại nước ta, nhà văn học sử sẽ hiểu, chẳng hạn, vì sao từ 1900 đến 1920, mọi thí nghiệm sáng tạo tiểu thuyết đều thất bại, tại sao khoảng 1930-1940 loại tiểu thuyết hiện thực lại đạt được trình độ Vũ Trọng Phụng, và tại sao từ 1940 đến 1945 các nhà tiểu thuyết lại chỉ sáng tạo những chủ đề Nhạt tình, Sống mòn, Dế mèn phiêu lưu ký, Chí Phèo, Quán nải…
2) PHÂN ĐỊNH CÁC LOẠI VĂN
Vấn đề đặt ra ở đây là: Những loại văn nào thuộc vào phạm vi của đời sống văn học, đối tượng nghiên cứu của nhà văn học sử? Có người chủ trương rằng:
«…Cần phải căn cứ vào tính chất hình ảnh và tính chất điển hình mà phân biệt một tác phẩm văn học và một tác phẩm thuộc các bộ môn khác. Trong một số sách viết về văn học sử Việt-nam xuất bản trước đây, người ta đã bao quát tất cả những tác phẩm bằng văn vần và văn xuôi kể cả các tác phẩm thuần túy về lịch sử, triết học, chính trị, tôn giáo. Như thế là vượt ra ngoài phạm vi của văn học. Thật ra, cũng có một số tác phẩm không phải là văn học nhưng người sáng tác cũng sử dụng được một thứ ngôn ngữ rất là cụ thể sinh động và cũng dùng một số hình ảnh rất gợi cảm để diễn đạt tư tưởng của mình. Thí dụ như những tác phẩm viết về chính trị của các vị lãnh tụ. Nhưng chúng ta cần phải chú ý: tính chất hình ảnh trong các tác phẩm đó không được thống nhất toàn vẹn. Mục đích của người viết cũng không nhằm sáng tác một số hình ảnh văn học to lớn. Mục đích của họ là dùng một số hình ảnh lẻ tẻ để trình bầy một vấn đề, một tư tưởng. Hình ảnh trong những tác phẩm đó chỉ chiếm một địa vị thứ yếu thuộc về chi tiết, chứ không phải như trong những tác phẩm văn học, hình ảnh bản thân nó là biểu hiện trực tiếp, cụ thể, chính yếu của nội dung tư tưởng, là phương thức nhà nghệ sĩ dùng để phản ánh đời sống. Một tác phẩm văn học cũng là một tác phẩm nghệ thuật, và khái niệm hình ảnh trong một tác phẩm văn học, về nhiều phương diện, cũng gần giống khái niệm về hình ảnh trong các tác phẩm nghệ thuật khác không phải là văn học. Cũng vì vậy cho nên các tác phẩm của các vị lãnh tụ vĩ đại như Lénin, Stalin, Mao Trạch Đông, mặc dù viết bằng một lời văn rất nhiều hình ảnh, người ta vẫn không gọi là những tác phẩm văn học». 23
Với chủ trương ấy, nhà văn học sử sẽ phải gạt ra ngoài địa hạt nghiên cứu của mình những loại văn: hùng biện, phê bình văn học, nghị luận văn học, bút chiến, đàm thoại, sử ký, thi luận, tùy bút, nghiên cứu văn học, tạp văn, thơ giáo huấn, phỏng vấn, báo cáo văn học… Văn học sử Trung-quốc sẽ không có Tư mã Thiên, Kim Thánh Thán, bộ phận tạp văn của Lỗ Tấn, bản diễn văn về Văn học nghệ thuật của Mao Trạch Đông ở buổi tọa đàm Diên-an…; văn học sử Nga sẽ gạt bỏ những tác phẩm của Biélinski, văn phê bình và nghị luận mỹ học của những Dobrolioubov Tchernychevski, Plékhanov, tập phê phán Léon Tostoi của Lénine, các bài bút chiến, bình luận của Gorki, v.v… Văn học sử Pháp sẽ gạt bỏ Pascal, Montaigne, Rousseau, Michelet, Sainte Beuve, văn hùng biện của Robespierre, Marat, Danton, Jaurès, Henri Barbusse, những tiểu luận của Anatole France, Romain Rolland, những công trình nghiên cứu và phê bình văn học của Lafargue, Gustave Lanson, v.v… Văn học sử Việt-nam sẽ gạt bỏ Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, văn chương cổ động yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Đông-kinh nghĩa thục, Nam đồng thư xã, Cường học thư xã, Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính, Việt-nam sử lược của Trần Trọng Kim, văn phê bình, bút chiến của Phan Khôi, những bài Hịch của Việt-minh, hiệu triệu kháng chiến của Hồ Chủ tịch, v.v…
Tôi tưởng không cần kéo dài thêm nữa những dẫn chứng cũng đủ thấy quan điểm nhóm Lê Quí Đôn sai trái hẳn với thực tiễn văn học sử. Nó xuất phát từ một nhận định thiếu sót về tính loại biệt của văn học. Phản ánh thực tại bằng điển hình sinh động là trình độ cao nhất của sáng tạo văn học chứ không phải là yêu cầu duy nhất của sáng tạo văn học . Đó là tinh túy của tính loại biệt văn học chứ không phải là tất cả tính loại biệt văn học . Bằng điển hình, nhà sáng tạo có thể biểu hiện được, trọn vẹn nhất, tập trung nhất, sự thực về con người toàn diện. Sự thực này, được diễn đạt bằng điển hình sinh động, sẽ có nhiều khả năng nhất để kích động người đọc một cách toàn diện (sinh lý, cảm giác, tình cảm, tưởng tượng, trí tuệ, ý chí, v.v…) và giúp họ trực cảm được chân lý cuộc sống như trực cảm một sự hiện diện cụ thể. Đó là yêu cầu tột mức của sáng tạo văn học. Nhưng sáng tạo văn học không phải chỉ là thế. Và cũng không phải cứ đạt được yêu cầu ấy một cách viên mãn mới là văn học.
Văn học sở dĩ là một nghệ thuật, khác với khoa học, là bởi nó dùng ngôn ngữ cụ tượng biểu hiện thực tại ( vật giới, tâm giới ) thông qua những hình ảnh cảm tính và thông qua một tính khí cá nhân đặc thù . Trong khi nhận thức và phản ánh thực tại khách quan, yêu cầu tột độ của khoa học là khu trục hẳn sự tham gia của tính khí cá nhân người phản ánh; trí tuệ cá nhân chỉ còn là một công cụ triệt để vô ngã dùng để lý hội và diễn thật đúng, bằng những định luật, những phương trình thức, những khái niệm – tất cả đã bị tước hết tính cụ thể, cá thể – chân tướng đã được trừu tượng hóa của quá trình thực tại khách quan.
Nhà văn , trái lại, phản ánh và bình giá thực tại xuyên qua tính khí cá nhân độc đáo của mình. Sự phản ánh trung thực thế giới càng độc đáo chừng nào càng có giá trị chừng nấy. Cá tính của nhà văn biểu lộ ra ở quan điểm phản ánh, ở cách phản ánh, ở bút pháp và ngôn ngữ. Thêm nữa, nhà văn biểu hiện thực tại bằng những hình ảnh cụ tượng, sinh động, cảm tính và xuyên qua những dạng thái cá thể, nhất thời, chỉ xuất hiện một lần của hiện tượng.
«Nghệ sĩ chân chính là một con người cảm thấy mình có khiếu và có nhu cầu căn bản phát triển và thể hiện bản ngã của mình vào một vật cụ thể (và, ở điểm này, nghệ sĩ khác nhà khoa học, nhà triết học)… Nhận thức khoa học và sáng tạo nghệ thuật tuy không lìa nhau nhưng khác hẳn nhau… Sáng tạo và cảm xúc nghệ thuật không phải là suy tưởng và lý luận (mặc dầu những ý nghĩ, tư tưởng có can thiệp vào). Nghệ thuật và nghệ sĩ, xét về mặt này, không cần đến khái niệm hoặc đi qua khái niệm mà không dừng lại đó…; tác phẩm nghệ thuật tác động thẳng đến một năng khiếu khác với trí tuệ hay lý tính; nó tác động thẳng đến cảm xúc (mặc dầu không có hố xa cách nào giữa lý tính và cảm xúc). Trí tuệ và lý tính vận dụng phép phân tích, tự vận động bằng những môi giới như: suy luận, diễn dịch, khái niệm. Nghệ sĩ thì lại dùng đến cảm giác, cảm xúc hay hình ảnh. Tác phẩm nghệ thuật, trước hết, là rnột sự hiện diện, nghĩa là một năng lực xúc động trực tiếp » . 24
Do đó, tác phẩm văn học kích động người đọc bằng cảm giác, cảm xúc, tưởng tượng, ý chí nhiều hơn bằng trí tuệ thuần lý. Hình thái và trình độ thành tựu lý tưởng của sáng tạo văn học là điển hình văn học . Tuy nhiên, dù không đạt tới trình độ ấy, không hiện ra trọn vẹn ở hình thái ấy, tác phẩm văn học vẫn có một giá trị nghệ thuật tương đối và một đặc tính riêng khiến nó khác với những tác phẩm không phải là văn học. Ở đây, tiêu chuẩn căn bản là cá tính của nhà sáng tác, nhu cầu vận dụng hình ảnh cụ tượng để biểu hiện vật giới và tâm giới, ngôn ngữ có mầu sắc độc đáo. Đúng như Tchernychevski nói, một tác phẩm nghệ thuật khác một tác phẩm không nghệ thuật ở chỗ:
« Nó cố hết sức vươn tới một cá tính sinh động ở trong hình ảnh của nó …»; và « trình độ nó tiến gần tới cá tính sinh động kia quyết định sự thành công của hình ảnh …»
Bởi lẽ đó, ngoài thứ văn học tưởng tượng (thơ, kịch, tiểu thuyết) người ta vẫn coi là tác phẩm văn học những Essais của:
- Montaigne, Pensées và Lettres provinciales của Pascal
- Sermons của Bossuet
- Discours sur l’inégalité của Rousseau
- Dictionnaire philosophique của Voltaire
- Discours của Ropespierre
- Histoire de France của Michelet
- Rêveries littéraires của Biélinski
- Ainsi parla Zarathoustra của Nietzche
- Nourritures ternestres của A. Gide
- Les Héros của Carlyle
- v.v…
Một mặt khác, văn học còn bao gồm cả những loại tác phẩm nghiên cứu, phê bình, nghị Iuận về văn học. Những tác phẩm này là một bộ phận quan trọng của đời sống văn học. Đó là sự thể hiện của những cuộc đấu tranh tư tưởng, của những lưu phái và khuynh hướng văn học có ảnh hưởng gần như quyết định đối với sự sáng tác văn học. Nội dung một bộ văn học sử mà thiếu những tác phẩm đó là một điều không ai có thể quan niệm được. Thực tiễn văn học sử, ở Liên xô cũng như ở Trung-quốc, chứng tỏ rằng muốn tìm hiểu một tác gia hay một tác phẩm văn học, trong một giai đoạn văn học, nhất thiết phải đặt nó quan hệ với cuộc đấu tranh tư tưởng văn học đương thời; bỏ sót nhân tố này là không thành văn học sử.
Căn cứ vào những lý lẽ kể trên, hiện giờ ta có thể đại khái định loại những tác phẩm văn học như sau:
- Loại văn hư cấu (thường gọi là loại văn thuần tưởng tượng): thi ca, kịch, tiểu thuyết.
- Loại văn ký sự: phóng sự, du ký, nhật ký, hồi ký, bút ký, tường thuật, phỏng vấn, chân dung.
- Loại văn hùng biện: hùng biện cách mạng, hùng biện quân sự, hùng biện tòa án, hùng biện nghị trường, hùng biện giảng đường.
- Loại tùy bút, tạp văn.
- Loại báo cáo văn học.
- Loại văn sử (gồm cả văn học sử).
- Loại khảo cứu và bình luận: phê bình văn học, nghị luận, bút chiến, tiểu luận văn học. nghiên cứu văn học, biên khảo văn học, đàm thoại văn học.
Và, sau cùng, có thể thêm vào loại dịch thuật . Về nội dung thì bản dịch của loại văn nào thuộc về loại văn ấy. Về hình thức thì giá trị của bản dịch là ở chỗ lột được tinh thần nguyên văn bằng một ngôn ngữ thích nghi; công trình dịch văn cũng đòi hỏi một sáng tạo tính loại biệt. Trong quá trình phát triển của một đời sống văn học, loại văn dịch đóng một vai trò không phải nhỏ. Luther dịch Kinh thánh, Amyot dịch Plutarque, Lỗ Tấn dịch tiểu thuyết của Fadéev, Sérafimovich, Gorki… đều là những người có công lớn đối với sự tiến hóa văn học của xứ sở họ. Công tác dịch văn thể biện sự giao lưu văn học và tư tưởng giữa các dân tộc và đóng góp khá quan trọng vào sự tiến triển của các dân tộc về mặt văn học.
IV. NHỮNG TÁC GIA VÀ TÁC PHẨM VĂN HỌC
Những nhà văn tài năng là nhân tố trụ cột của một đời sống văn học. Nói đến văn học một xứ, người ta nghĩ ngay đến tên những nhà văn lớn, những kiệt tác văn học của xứ ấy. Điều này cũng không có gì lạ vì mỗi nhà văn thiên tài, bằng kiệt tác của mình tiêu biểu cho tinh thần, của dân tộc, toàn diện nhất, cao độ nhất, và thay mặt dân tộc đóng góp một phần đặc sắc vào kho tàng văn hóa của loài người. Khuất Nguyên, Đỗ Phủ, Lỗ Tấn của Trung-quốc; Omar Khayam của Ba-tư; Cervantès của Tây-ban-nha; Shakespeare, Byron, Ruskin của Anh; Goethe. Henri Heine của Đức; Dante, Le Tasse, D’annunzio của Ý; Pouckhine, Gogol, L. Tolstoï, Gorki của Nga, Mickiewich của Ba-lan; Waht Witman, Edgar Poẽ, Howart Fast của Mỹ; Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương của Việt-nam; Tagore của Ấn-độ, v.v… là sự vinh quang của nhân loại. Mỗi vị, đại diện cho dân tộc mình, góp phần vào sự làm vẻ vang trí tuệ con người.
Nhưng từ thực tế hiển nhiên ấy đi thẳng đến kết luận: «lịch sử nhân loại là lịch sử các vĩ nhân » (Thomas Carlyle) thì cũng sai nhầm như quan niệm ngược lại cho rằng thiên tài cá nhân và tác phẩm văn học chỉ là sản vật máy móc của hoàn cảnh xã hội.
Thực ra, không hoàn cảnh nào có thể đẻ ra thiên tài; nhưng cũng không có thiên tài nào hình thành và phát triển mà không chịu ảnh hưởng của một hoàn cảnh. Xã hội cộng sản không tạo ra được Raphaël nhưng tạo ra những điều kiện để người nào có một khả năng Raphaël trong bản thân có thể phát triển tự do. Thiên tài tự thân của Raphaël không phải là sản vật của một hoàn cảnh xã hội. Nhưng:
« nếu ta so sánh Raphaël với Léonard de Vinci và Titien, ta sẽ thấy rõ những tác phẩm nghệ thuật của Raphaël bị quy định chặt chẽ tới mức nào bởi trạng thái phồn vinh của Rome nhờ ảnh hưởng của Florence, tác phẩm của Léonard de Vinci bị quy định bởi tình trạng xã hội của Florence, và sau này, tác phẩm của Titien, bị quy định bởi trình độ phát triển của Venise hoàn toàn khác với Florence và Rome. Raphaël, cũng như bất kỳ nghệ sĩ nào, bị quy định bởi những tiến bộ kỹ thuật của nghệ thuật đã có trước mình, bởi tổ chức xã hội và tình trạng phân công của xứ sở mình và cuối cùng bởi tình trạng phân công của tất cả những xứ có liên lạc với xứ sở mình… » (Marx và Engels: Ý thức hệ Đức)
Nhà nghiên cứu văn học sử không có nhiệm vụ giải thích bản chất của tự thân thiên tài mà chỉ có nhiệm vụ nhận định đúng chân tướng của các thiên tài văn học, khám phá cái hệ số xã hội của sự cấu tạo thiên tài văn học, mối quan hệ tương hỗ giữa nó và hoàn cảnh lịch sử, vận mệnh xã hội của nó, ảnh hưởng của nó đối với quá trình tiến hóa của xã hội trong ấy nó hoạt động – những nhân tố này, ở mỗi giai đoạn văn học sử, mang những đặc tính tô điểm sắc diện riêng cho đời sống văn học của giai đoạn ấy.
Nhà phê bình văn học Sainte Beuve đã viết:
«Cho tới ngày nay… khoa học vẫn chưa cắt nghĩa được thiên tài. Nhưng không phải vì thế mà khoa học chịu hạ khí giới và bỏ công cuộc khám phá can đảm của nó. Tất cả chúng ta, những người chủ trương phương pháp phê bình khoa học trong địa hạt văn học và mỗi người áp dụng phương pháp ấy theo khả năng riêng, ở những trình độ khác nhau; chúng ta, những người thợ xây dựng và phục vụ một khoa học mà chúng ta cố gắng làm cho càng ngày càng chính xác, chúng ta luôn luôn vượt khỏi những khái niệm mơ hồ và những danh từ tr ống rỗng, tiếp tục quan sát không ngừng, nghiên cứu và đi sâu vào những điều kiện của các tác phẩm xuất sắc khác nhau, đi sâu vào sự đa dạng vô cùng của các hình thái thiên tài; chúng ta bắt nó phải cung khai ra thế nào và vì sao nó Iại hiện ra ở phong cách này với tính chất này chứ không hiện ra ở phong cách khác, tính chất khác » . 25
Sainte Beuve đã động viên các nhà phê bình văn học đương thời đặc biệt chú ý quan sát, nghiên cứu, thâm nhập sự đa dạng vô cùng của các hình thái thiên tài và khám phá những điều kiện của tác phẩm xuất sắc khác nhau . Ngày nay, công việc mà Sainte Beuve đề ra vẫn là nhiệm vụ quan trọng của nhà văn học sử.
« Quả vậy, biết bao độc đáo tính trong văn học và trong nghệ thuật của các thời đại khác nhau, biết bao đặc tính cụ thể trong cách biểu hiện những phạm trù thẩm mỹ trong các loại văn khác nhau! Tất cả những cái đó còn chờ đợi những nhà sưu tầm có sáng kiến, có sức lật đổ các giáo điều và các đồ biểu khô khan. Đó sẽ là cái lực lượng thúc đẩy văn học và nghệ thuật tiến lên, sẽ mở những chân trời mới, sẽ dẫn đến những thắng lợi mới …» (Vấn đề điển hình trong văn học và nghệ thuật)
Gần đây, giới phê bình văn học Liên xô, Trung-quốc đả phá kịch liệt cái lối biên soạn văn học sử đánh đổ đồng những tài năng văn học khác nhau bằng những nhận định chung chung 26 . Đọc một bộ văn học sử viết theo lối ấy, ta có cảm tưởng đời sống văn học nghèo nàn chất sống trăm mầu nghìn vẻ. Thực tế, thì mỗi tài năng, mỗi kiệt tác là một thế giới sinh động có tính đặc thù trọn vẹn. Tất cả những tính độc đáo ấy kết hợp lại mới làm ra được tính chất và diện mạo lịch sử của đời sống văn học.
Trong bài Vấn đề hiện thực chủ nghĩa trong văn học cổ điển Trung-quốc đăng ở báo Văn nghệ số 16 (1956), nhà nghiên cứu văn học Trung-quốc Lưu đại Kiệt cũng đả phá quan điểm của một số sử gia văn học Trung-quốc cho rằng lịch sử văn học chỉ là lịch sử của chủ nghĩa hiện thực đấu tranh với cái gọi là phản chủ nghĩa hiện thực. Ông viết:
«Mấy năm gần đây, trong lĩnh vực nghiên cứu văn học cổ điển, đã lưu hành một loại kiến giải rất phổ biến: một bộ văn học sử Trung-quốc tức là một bộ sử đấu tranh của chủ nghĩa hiện thực và phản chủ nghĩa hiện thực. Mọi người nói như thế, mọi người viết như thế, biến nó thành một công thức vô cùng hiệu lực và do đó lại là vô cùng giản đơn. Đem công thức này áp dụng vào văn học sử phong phú nhiều mầu sông dài suối thẳm của nước ta, thì tất phải gặp nhiều nỗi khó khăn mà kết quả là không thể thuyết minh vấn đề được tốt, không thể phân tích chân thực được nội dung cụ thể của văn học sử và những tính cách khác nhau của các nhà văn, những đặc điểm nghệ thuật không giống nhau trong các tác phẩm của họ».
Ông dẫn ra một bằng chứng khá phổ biến trong các sách báo nghiên cứu văn học sử: liệt Lý Bạch và Đỗ Phủ vào chung một phạm trù thi sĩ hiện thực chủ nghĩa. Và ông phê phán:
«Nhiều người một giọng đều nói Lý Bạch là nhà văn hiện thực chủ nghĩa. Quả vậy, trong tác phẩm của ông, rõ ràng có những câu thơ (tuy không nhiều) đã phản ánh sự loạn lạc và biểu thị phản kháng đối với hiện thực đen tối đương thời. Nhưng phương pháp sáng tác của ông như thế nào?… Đại biểu tác phẩm của ông là Viễn biệt ly, Thục đạo nan, Tương tiến tửu, Nhập xuất nhập hành, Tương dương ca, Mộng du Thiên mụ ngâm lưu biệt, Lưu sơn dao, Giang thượng ngâm, Chiến thành nam, Quan sơn nguyệt và ít chút tuyệt cú ưu tú khác nữa (đây có tính chất kể ra mấy kiểu mẫu chứ không phải bảo là đại biểu của tác phẩm ông chỉ có bấy nhiêu bài)… Chỉ có ở trong chút ít tác phẩm này mới thật có thể lý hội được cái khí khái bạt núi hơn đời kinh tâm động phách của ông, cái tinh thần tung hoành biến ảo, hùng kỳ phiêu dật, ngựa bay trên không, phảng phất khó lường của ông. Ở trong chút ít tác phẩm ấy, có đầy rẫy những cuồng nhiệt và khoa trương không gì so sánh được, những tưởng tượng phong phú , những khí phách hào mại, những nhiệt tình cao độ mong cầu giải phóng cá tính và tâm hồn tự do làm cho trong khúc lòng của mỗi độc giả phát sinh chấn động và cùng họa theo. Ông hô hào, cười riễu, truy cầu, phản kháng. Lời nói trong thi ca biến hóa khôn lường mà l ạ i thanh tân, tuấn dật, âm luật mau lẹ biến động, hình thức dài ngắn không đều, cho chúng ta thấy được mỹ cảm «ở nơi không chỉnh tề tìm thấy chỉnh tề, ở nơi không hòa hài tìm thấy hòa hài». Nghệ thuật thi ca của Lý Bạch là khái quát hết thẩy đặc trưng của phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa, phản ánh được nội dung tư tưởng của ông. Ông phản quyền quý, phản chiến tranh, bất mãn với sinh hoạt hiện thực, nhiệt ái đối với non sông tổ quốc, cảm tình đối với nhân dân lao động… đều là thông qua phương pháp sáng tác lãng mạn chủ nghĩa mà biểu hiện được ra. Tinh thần lãng mạn chủ nghĩa là động lực chủ yếu toàn bộ nhân sinh, toàn bộ nghệ thuật của Lý Bạch.
« …Đỗ Phủ mới là nhà thơ hiện thực chủ nghĩa. Ông có cơ sở tư tưởng ái quốc và nhân đạo sâu sắc và nồng hậu , có thể nghiệm phong phú về sinh hoạt của ông; trong cuộc sống nghèo nàn đói khát lưu vong, ông đã thực sự hấp thụ được giáo dục chính trị và xã hội. Tư tưởng và cảm tình của ông dần dần đã hòa hợp với tư tưởng và cảm tình của nhân dân mà thành một khối. Cơ sở đó đã làm phong phú nội dung thi ca của ông, điêu luyện kỹ xảo thi ca của ông. Phương pháp sáng tác của ông đã vượt hẳn những bậc tiền bối mà tiến tới một giai đoạn mới trong những thiên thơ vô cùng ưu tú như Bình xa hành, Phó phụng tiên vịnh hoài, Khương thôn, Bắc chinh, Tam lại, Tam biệt, Tráng du , v.v…; ông đã thu được thắng lợi lớn cho chủ nghĩa hiện thực mà thành ra một tấm gương soi của cuộc sinh hoạt xã hội đời Đường khoảng trước và sau cuộc biến loạn An sử. Người xưa gọi thơ Đỗ phủ là «thi sử» , tôi tưởng cần lý giải theo một ý nghĩa về chủ nghĩa hiện thực này .
« …Đem cả Lý, Đỗ quy vào hàng ngũ chủ nghĩa hiện thực có là chân thực được chăng? »
Trong một số tác phẩm phê bình, nghiên cứu văn học ở xứ ta ít lâu nay cũng thấy xuất hiện lối nhận định chung chung các tài năng văn học khác nhau. Hầu như các nhà văn cổ điển của ta người nào cũng: nhân dân tính, dân tộc tính, nhân đạo chủ nghĩa, hiện thực tính, phản phong tính, v.v… Điều cần thiết không phải là nói: Truyện Kiều có dân tộc tính. Điều cần thiết là phải làm nổi bật lên dân tộc tính của Truyện Kiều khác dân tộc tính của Chinh phụ ngâm như thế nào. Nói đến tinh thần ái quốc của bài Hịch tướng sĩ chưa đủ. Phải xét xem tinh thần ấy có gì khác hẳn với tinh thần ái quốc của Bình Ngô đại cáo, của Bạch đằng giang phú, của Ức trai thi tập, Đại nam quốc sử diễn ca của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, v.v… Đời sống văn học như một cái vườn lớn trong đó trăm hoa đua nở, mỗi đóa một mầu một hương mà đóa khác không có được. Không chú trọng đến sự đa hình đa dạng của các tài năng văn học, không phân biệt được rõ ràng cá tính của từng tác phẩm xuất sắc, là rơi vào phương pháp xã hội học dung tục và quan điểm «san bằng» mà tất cả các nhà mỹ học mác xít đã bác bỏ dứt khoát. Và, như vậy, sẽ không thể xác định được phần cống hiến chân chính và độc đáo của mỗi tài năng văn học, mỗi kiệt tác văn học đối với sự phát triển của lịch sử văn học dân tộc.
Tóm tắt lại, khái niệm đời sống văn học mang một nội dung rất phức tạp, rất xúc tích. Nội dung này gồm có:
- Những cơ sở vật chất và xã hội của sự thể hiện văn học
- Điều kiện sống và sáng tác của nhà văn
- Tâm lý và tư tưởng ưu thế của thời đại
- Chính sách nhà nước đối với văn học
- Những cuộc đấu tranh văn học
- Công chúng văn học
- Các loại văn
- Những tác gia (và tác phẩm) văn học
Tám yếu tố đỏ làm nhân làm quả cho nhau, hỗ tương tác động đến nhau, làm ra sự diễn biến của nhau, tạo thành một quá trình sinh hoạt văn học có tính hệ thống và ở mỗi giai đoạn lịch sử lại mang một tính chất và một mầu sắc riêng biệt. Lịch sử văn học là lịch sử của quá trình sinh hoạt văn học ấy. Nghiên cứu lịch sử văn học là nghiên cứu tám nhân tố kia hỗn hợp với nhau trong một quá trình phát triển liên tục có hướng tất yếu và có quy luật. Bỏ sót một nhân tố, khảo sát các nhân tố mà không tổng hợp lại thành một quá trình sống, không tìm đến hướng và quy luật phát triển của quá trình ấy, là những điều mà sử gia văn học phải tránh nếu không muốn rơi vào phương pháp ghi chép vụn vặt thiếu khoa học tính.
Trương Tửu
Theo http://vnthuquan.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét