Những bước đường tư tưởng của tôi
Phần I
tiểu luận và phê bình văn học
Ba em bé
Trong cuộc đấu tranh thống nhất và tiến dần lên chủ nghĩa xã
hội, nó mang những khó khăn rất lớn và bao gồm cả những vấp váp sai lầm, những
người văn nghệ và trí thức chúng ta có những lúc tâm trí như chùn lại. Những
chuyện “tiền kiếp” trong mỗi con người chúng ta thỉnh thoảng lại khuấy bùn vẩn
lên, gieo rắc hoang mang trong những dây sâu kín nhất của tâm trí. Những lúc có
thể mất địa bàn như vậy, riêng tôi, tôi thường “ôn cố tri tân”; tôi lần nhẩm lại
những bước đường mà tư tưởng tôi đã trải qua, từ lúc biết nghĩ cho đến giờ; tôi
nhận định đích xác xem từ chỗ sa lầy nào mà tôi đã vươn lên, do quá trình tư tưởng
nào mà tôi đã đến với chủ nghĩa cộng sản. Tôi thọc sâu vào bóng của quá khứ để
so sánh nổi bật cái ánh sáng của hiện tại và tương lai. Và tôi lại thấy sao Bắc
đẩu chói lọi.
Như một người làm mẹ đã thấy mình mang cái mầm sống từ ở
trong dạ, tôi thấy đoá hoa sen của tư tưởng, tốt thay! đã đè được những lớp bùn
mà nở trong tâm trí mình. Nó đã nở rồi, không gì có thể dìm nó được nữa.
Vâng, chính những chuyện “tiền kiếp” của chế độ cũ, mỗi khi
nhớ đến, lại giúp đỡ tôi chiến thắng cho được những chông gai mới trên con đường
dài của sự nghĩ suy; phải phá cho được, san cho được con đường đi tới trước vô
biên của cuộc đời, chứ không thể ngựa quen đường cũ, quay lộn trở lại cái trầm
luân xưa đã quá ư đau khổ!
Con một ông tú tài nho nghèo, dạy học, từ nông thôn chuyển dần
ra thành phố, khá giả dần lên tới mức tiểu tư sản lớp giữa, tôi sinh và lớn lên
ở miền Nam Trung bộ, không bao giờ giàu, nhưng chưa bao giờ phải chịu cái đói,
cái rét vào thân. Tuy nhiên, tôi cũng đủ thương đau để mà đứng lên tố khổ không
tiếc lời cái xã hội cũ. Chuyện đời trước dài lắm. Không phải trường hợp kể ở
đây. Để làm chứng cho cái đời chẳng ra đời trước kia, tôi chỉ kể lại ba em bé:
Cuối năm 1940, từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, tôi đến thăm nhà một
anh bạn cùng làm tham tá nhà Đoan [1] như tôi; bắt đầu Nhật thuộc rồi, làm công
chức cuối mùa cho Pháp cỡ “viên ngoại” như thế, căn nhà thuê của anh xuềnh
xoàng, bàn ghế qua loa. Lúc ấy vào khoảng ba, bốn giờ chiều ngày chủ nhật, tôi
thấy bà vú già đang dỗ đứa cháu đầu lên ba tuổi, mới biết nói. Cháu khóc nho nhỏ,
kéo dài, không giận hờn, không vòi vĩnh; vú già hỏi cháu: − “Cháu đau ở chỗ
nào, nói với bà”. Mẹ cháu dỗ cháu: − “Mẹ mua bánh cho con nhé”. Cháu lắc đầu,
và tiếp tục khóc. Người ta nựng nịu, vuốt ve em, người ta hỏi em: − “Tại sao em
khóc?” Em bé chỉ trả lời bằng giọng Nghệ An có một tiếng: − “Buồn!”. Chị bạn lo
lắng phân trần với tôi, ngơ ngác như không hiểu gì: − “Cháu thỉnh thoảng về chiều
lại khóc như thế; cháu chẳng đòi gì cả, khám bác sĩ cũng không thấy cháu có bệnh
gì; cháu chỉ kêu là “Buồn” và khóc. Tôi, thì tôi muốn nói với chị: − “Hỡi người
mẹ đáng quý và đáng thương! con của chị cũng như tôi, nó đau “bệnh thời đại” đấy!
Nó là cái biểu đo nóng lạnh của cuộc đời này; tâm hồn non yếu của nó cảm rất nhạy
cái điều bàng bạc ở trong không khí, ở ngoài phố, ở quanh chúng ta: buổi chiều
buồn quá, đời sống buồn quá!”. Từ khi đó, trở về, tôi không sao quên được vấn đề
ghê rợn mà em bé đặt ra. Trời đất ơi, một em bé mới ra đời, chưa biết nói thành
câu mà đã phải khóc vì buồn, thì cuộc đời này còn sống thế nào nữa!
Năm 1942, tôi đi xe lửa từ Sài Gòn ra Hà Nội, đến vào khoảng
Đồng Hà, Tân Ấp thì đường đứt vì vài tuần trước mưa, bão, phải “sang tàu”. Vùng
này đang bị đói to, đến khoai sắn cũng thiếu. Trong một nhà tranh lụp xụp, một
người đàn bà khoảng hai mươi nhăm tuổi đang đút cho con ăn lưng bát cơm vơi. Em
bé ba tuổi không ăn, nó khóc, máu dồn lên đỏ cả đầu; nó giậm chân xuống đất, nhất
quyết bắt đền người mẹ: - “Trả đây! Trả đây!”. Người mẹ dỗ nó: - “Thôi con ăn
đi, con nhé, mẹ thương”. Nó không chịu, càng khóc: - “Nhả ra! Nhả ra! Trả đây!”
Thì ra người mẹ cũng đói quá, trong khi đút cơm cho con, cầm lòng không đậu, đã
ăn mất của con mấy thìa. Con đói quá, quá tham ăn, đòi lại mấy thìa cơm như một
ám ảnh. Con cứ bắt đền, mẹ cứ cố gắng dỗ. Người đàn bà trẻ và nghèo ứa nước mắt,
thẹn thùng vì đã để cho cái đói làm tổn thương cái tự trọng của một người làm mẹ.
Em bé thì như bị một cơn khủng hoảng não cân, cứ ngoáy mãi vào chỗ đau thương.
Người mẹ vô kế khả thi. Đứa con tiếng đã khản rồi, vẫn giậm chân xuống đất. Mười
lăm phút ấy đối với tôi dài dằng dặc; cho đến khi tầu đã xịch bánh chạy, mà vẫn
còn nghe em bé: “Trả đây! Nhả ra!”.
Năm 1945, nạn đói khủng khiếp ở miền Bắc. Người chết như rạ ở
gầm Cầu sông Cái, ở các lề đường Hà Nội. Cái xã hội cũ nó tàn ác đến thế là
cùng. Người nào đi ăn yến cứ ăn, gặm chưa hết một miếng thịt đã bỏ vào đĩa
xương để gắp miếng khác; người nào chết đói cứ chết, lăn ra như chuột. Bữa ăn,
chúng tôi phải đóng cửa lại. Ăn như ăn vụng! Ăn như là mình giành mất cơm của
người chết đói. Chúng tôi thuê trọ trên một căn gác phố Hàng Bông, quen thân
hai ông bà dưới nhà cũng ở thuê, có cửa hàng bán mũ bậc trung, vợ chồng hiền
lành, biết phải. Một buổi sáng, tôi trên gác xuống, nghe ở nhà dưới đang la om.
Tôi nhìn ra trước cửa, thấy một em nhỏ con trai độ mười tuổi đang dán mình vào
phía ngoài một bên khung cửa kính bày hàng. Em trần truồng như một con nhộng,
không có một tý thịt nào nữa, chết hết cả người rồi, chỉ còn hai con mắt. Không
hiểu em từ góc phố nào đến, mà nhất định đi vào trong nhà này, để xin một ít
cháo chăng. Có lẽ em không còn thấy đây là cửa kính, em cứ đi vào, bị cửa kính
chặn lại đứng sững; nhưng em vẫn bị hút bởi cái sống ở bên trong, cứ dấn mình
vào gương. Người ta la mắng đuổi em đi, quát nạt thật to và lâu để cố thủng vào
tai em, người ta kiêng, người ta ghê sợ, coi em như quỷ nhập tràng; em, em của
tôi, mặt em cũng thông minh và xinh đẹp, nếu em no. Mười ba năm từ ấy đến nay,
tôi vẫn còn nghe tiếng la thét đuổi em bé. Em như một con ruồi mắc vào kính tủ,
ruồi mắc từ trong ra, em thì mắc từ ngoài vào; không có lòng thương xót nào có
thể cứu em, vì người ta bó tay ngao ngán trước cái chết đói kinh khủng, mênh
mông. Giữa đời sống hàng ngày, có những bức tường thuỷ tinh dày ngăn cách; những
người hay “thương vay” như tôi, thi sĩ, đành giương đôi mắt ếch nhìn đồng bào
mình chết qua tường kính, mà không nhắc chân động tay cứu giúp gì được!
Đấy, cái xã hội cũ có ba em bé kia nó tốt đẹp như thế đấy!
Tôi còn muốn thêm một em bé thứ tư. Lúc tôi lên chín tuổi, do nghịch cảnh gia
đình phong kiến tôi phải sống xa má tôi, mà ở với thầy tôi. Bên ngoại cách bên
nội độ vài cây số; lâu lâu tôi trốn về thăm má cho đỡ nhớ thương. Một buổi chiều,
tôi trốn về thăm má; má đang bận vội đi chợ, má cho tôi bốn đồng tiền ăn
ba [2], rồi để tôi đi. Tôi ra khỏi nhà má, lê từng bước
một, đi dọc ngược theo con sông Gò Bồi mà trở về nhà thầy. Buồn quá. Tôi thấy
buồn mang mang mà không hiểu được. Tôi đứng lại bên bờ sông, nhìn con đường,
nhìn các rặng tre, nhìn dòng nước, nhìn trên mặt sông Gò Bồi nắng xiên khoai
vàng úa; tôi thấy như cái gì cũng không biết để làm gì cả; và đứa trẻ con chín
tuổi bèn cầm bốn đồng tiền trị giá mười hai đồng kẽm, ném xuống mặt sông, mặc dầu
“mười hai đồng” lúc đó có thể mua những mười trái ổi.
Tiếng đoạn trường của văn học
Lớn lên đi học đến thành chung, rồi đến “tú tài”, tôi yêu thơ
vô hạn, rất mê thích văn học. Những điều kiện của gia đình và xã hội đã làm tôi
buồn sẵn, lại học vào một nền văn học nặng buồn bã, than thở, bi quan. Ở lớp nhất [3], thơ Tản Đà đã ru tôi, nhưng cũng để lại cho
tâm hồn tôi một vị đắng: Gió hiu, trăng lạnh, tiếng ve sầu. – Ếch kêu đầy
phố, tiếng xe hơi. – Vèo trông lá rụng đầy sân… tất cả mọi sự chẳng qua
cũng vèo! Tôi thuộc nhuyễn bài thơ Đoàn Như Khuê: Biển thảm mênh mông sóng
lụt trời. Em thiếu niên mới chớp mi mắt nhìn ra cuộc đời, đã thấy một rèm
giọt lệ! Vào năm đầu bậc thành chung [4], tôi nhìn miệng ông giáo quốc văn đọc, say mê
uống từng lời du dương êm ái: “Giả sử ngay khi trước, Liêu Dương cách trở,
duyên chàng Kim đừng dở việc ma chay…” [5]. Sao mà văn thơ cứ tiếc nuối một cái gì;
có một cái gì bình rơi gương vỡ, rụng cải rơi kim ở trong văn học!
Đồng thời, Tuyết hồng lệ sử dịch của Từ Trẩm Á mê lịm
tôi trong những điệu ca từ thật là réo rắt, tất cả quyển sách là một cuộc nhặt
hoa rơi, chôn hoa rụng, khóc hoa tàn! Lớn thêm vài tuổi, văn học nước Pháp bắt
đầu huyễn diệu tôi với Cái Hồ của La-mac-tin:
Ừ rồi cứ trôi đi mãi mãi
Trong đêm trường trở lại được nào!
Tôi đã bắt đầu có ý thức lừng khừng đứng lại không chịu đi,
trong lúc ngoại vật và thời gian thì cứ đẩy cho con người mất hút vào vĩnh viễn.
Bấy giờ trong tôi có hai lực lượng: một mặt, tuổi thanh niên đưa đến cho tôi những
luồng máu nóng rực, say mê, hăng hái; một mặt xã hội phong kiến, đế quốc cùng với
hệ thống tư tưởng và văn hoá cũ chụp lên tâm trí tôi một lớp buồn sầu ảm đạm,
càng học lên nhiều, càng bi quan, bế tắc. Tôi thấy trong tôi ào lên một nguồn
thơ sôi nổi, mới mẻ: nhưng tôi vừa tập tễnh đến ngưỡng cửa của làng văn, thì La
Bờ-ruy-e (La Bruyère) [6] đã lắc đầu niêm yết một câu bất lực: “Tất
cả đều đã nói cả rồi, và người ta đến quá muộn, từ bốn ngàn năm nay mà đã có những
con người, và họ suy nghĩ”. Phương ngôn Âu Tây cũng nói: “Không có cái gì mới ở
dưới mặt trời”. Trước tôi một trăm năm, thi sĩ Muýt-xê (Musset) đã kêu lên: “Ta
sinh ra muộn quá trong một thế giới già quá chăng?”. Trước tôi năm mươi năm,
thi sĩ Véc-len (Verlaine) cũng lại kêu lên: “Ta sinh ra quá sớm hay là quá muộn?
Ta đến trong đời này để làm gì?”. Mộng Hà, nhân vật chính của Tuyết Hồng lệ
sử và Ngọc lê hồn, hay sầu, say, và thổ huyết, đã tự tóm tắt tâm hồn
bằng ba bước: uống rượu xong thì “ngà ngà mà say, ngây ngây mà sầu, rồi lại rầu
rầu mà khóc”. Rơ-nê (René) [7] , ông tổ của Mộng Hà ở Pháp, thì đi giữa
mây, sương, gió, bị ám bởi con quỷ của trái tim “nó là một con rắn tự nhai
mình”; Véc-te (Werther), [8] ông tổ xa hơn của Mộng Hà ở Đức, thì dùng
súng lục tự tử vì không lấy được một người đàn bà đã hứa hôn với người khác trước
khi gặp anh. Thật đúng với câu thơ Nguyễn Du:
Ma dắt lối, quỷ đưa đường,
Lại tìm những lối đoạn trường mà đi!
Từ 1934 về sau, những sách tôi đọc nói sự cùng đường một cách
tinh vi, sâu sắc hơn; nó cũng không còn là sự lãng mạn ít hay nhiều thơ mộng nữa,
mà là một sự bi quan có triết lý. Những điều tôi thu hoạch được, góp chắp cổ với
kim, đông với tây, chứng minh trước trí tuệ một bài toán dẫn đến số không.
Bô-đơ-le (Baudelaire) kêu thét lên như đang bị cháy nhà, hay lửa cháy vào người:
Ôi đau đớn! Ôi đau đớn! thời gian ăn cuộc sống!
Một cụ dạy chữ Hán ở trường “tú tài” giảng cho tôi nghe một
bài Sám dâm văn (răn hối cái dâm) và nói: Lúc xưa có một người mê sắc
quá, đã tự chữa cho mình bằng cách: hễ nhìn thấy một người đàn bà đẹp, thì tưởng
tượng trước mắt người đàn bà ấy khi chết, dòi ăn bọ đục, và chỉ còn là một bộ
xương, một toạ cô lâu (cô lâu mộng), tức khắc “bệnh Tề Tuyên hết nổi
lên đùng đùng”! Có cái “nhân văn” gì mà tàn nhẫn như thế? Hăng-ri đờ Rê-nhi-ê
(Henri de Régnier) [9] chưa đến nỗi nghĩ như anh nọ, nhưng nhẫn
tâm có kém gì! Trong bài thơ “Kinh nghiệm”, đại khái nhà thơ nói: Tôi đi trên bờ
gành biển; phía trước tôi có đôi trai gái đang tự tình, họ đi xa dần, đắm đuối
trong mê ly, thề hẹn muôn điều tốt đẹp… Nhưng tôi, tôi biết “cái chữ kết thúc của
giấc quái mộng tầm phào”! Có thể, trong xã hội tư bản, ông đã từng phụ nhiều
người và bị nhiều người phụ lại, có thể ông không thấy vợ ông là đáng yêu nữa,
nhưng sao ông lại tổng kết vội vàng và ác ý như vậy? Sao lại lấy con mắt của
người già tuổi, già lòng mà nhìn những bạn trẻ đang yêu mến, tin tưởng vô cùng?
Nếu nhà văn có tinh thần trách nhiệm hơn, thì đời nào lại đi dạy cái chán chường
như thế?
Vận mệnh con người không biết tới đâu; đến vũ trụ cũng không
biết tới đâu. Một nhà triết lý chết trẻ, đầy lòng thương yêu con người như Guyô
(Guyau) [10], nhưng không cất mình ra khỏi được hệ thống
tư tưởng của những giai cấp suy tàn, cũng đã làm cho tôi tái tê cả cõi lòng,
khi ông tả cái đẹp, cái mạnh của biển lớn mênh mông, buồn rằng tất cả cái năng
lượng vô vàn kia cũng chỉ còn một ít bọt sóng cho gió bay tung, và hạ một câu:
“Trái tim của quả đất đập, không hy vọng”.
Đường về thu trước xa lăm lắm…
Dưới những ảnh hưởng gia đình, xã hội và văn hoá như vậy, những
bước đường tư tưởng của tôi trước Cách mạng là những bước sờ soạng, lưu lạc,
thương đau. Tôi chưa hội ý với các bạn thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Huy Thông, Chế
Lan Viên, Nguyễn Bính, v.v… nhưng có lẽ, ở đây, tôi cũng nói, bằng những khía cạnh
của tôi, cái tình trạng chung đau khổ tinh thần của các anh, khi lạc đường quần
chúng, khi chưa tìm thấy ánh sáng của Đảng.
Văn hoá cũ với phương pháp tư tưởng “siêu hình”
(métaphysique) của nó, dắt tâm trí tôi, từ khi nhỏ đến lúc lớn, vào một con đường
rút vào trôn ốc thật là tắc tị! Tự nghĩ mình là một kẻ tài tình, một “tài nhân”
biết yêu cái đẹp, quý cái hay, trọng cái phải, và lại còn tạo ra cái hay, cái đẹp
là đằng khác, tôi và hàng vạn học sinh, nghệ sĩ, trí thức khác tự đặt cái tôi như
một thực tại bất di bất dịch, tự đề cao cái bản ngã, coi nó là một
tuyệt đối.
Tôi là tôi, là khác với người khác, là mục đích, là cứu cánh.
Vì vậy nên hai người yêu nhau, mà
Em là em, Anh vẫn cứ là anh
Có thế nào qua Vạn lý Trường thành…
Đã dựng cái tôi lên sừng sững như một Hi Mã Lạp
Sơn, thì tự khắc cô lập mình, không hoà nổi mình vào với tạo vật, thiên nhiên,
vào với nhân quần, xã hội: cái hình bản ngã mang cái nghiệp của nó, là cái
bóng cô đơn. Gió, trăng, hoa, cỏ,
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp [11]
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay [12],
trong phố chật, giữa chợ đông, ở đâu cũng thấy được mình là lẻ
chiếc một mình. Luôn luôn thấy rợn ở trong hồn một luồng gió heo may lạnh toát.
Muốn đóng cái tôi như một cái cọc cố định, vĩnh viễn
ở trong đời sống, cho nên khi thấy ngoại cảnh thay đổi, thì cuống cuồng lên.
Nhà triết học tư sản Pháp Béc-xông (Bergson) phân tích rất tinh vi, tế nhị rằng
cuộc sống là chuyển động, là đổi thay, nhưng lại không muốn thấy quá trình biện
chứng và lịch sử, nghĩa là tiến bộ của sự vật; học mót của Béc-xông, tôi ngoáy
sâu vào nỗi thay đổi: Cái bay không đợi cái trôi, Từ tôi phút trước sang
tôi phút này, nhưng mù mịt không thấy được sự thay đổi biện chứng và tiến
bộ, chỉ thấy đổi thay là nổi nênh, trôi chảy, xiêu đổ, tan tác, từ ly! Rồi đâm
ra “vội vàng”, “giục giã”, sảng sốt. Trong khi đó, thì những bài hát chiếu
bóng, những đĩa hát tiếng Pháp đưa sang, rót vào tai óc tôi những ý niệm đại loại
như:
Tôi mơ một bông hoa
Không bao giờ chết cả…
… Nhưng nó khờ dại quá
Giấc mộng của tôi mơ.
Cứ mỗi lần hát bài này, thì lại như ai nghiến trong lòng, ứa
nước mắt.
Chỉ thấy cuối đường là già, là chết, nên lần chần không muốn
bước; phía trước đã cụt đường vậy, không đi tới được nữa, bèn thoái lui, ngoảnh
lại đi về phía sau. Tâm hồn cứ phóng ra cho thật xa, cho thật vu vơ, cho thật
viễn vọng… Xa, và Xưa! Nhiều thi sĩ mơ mộng thuở những ông nghè vinh quy cưỡi
ngựa, Quân hầu reo chuyển đất, Tung cán lọng vừa quay [13] ; chúng tôi cứ đi ngược thời gian, bới
tìm những gì bụi bặm đâu đâu trong ngày tháng cũ. Chế Lan Viên, nhà thơ 16 tuổi,
đã diễn tả rất tài tình cái tâm trạng đó:
Đường về thu trước xa lăm lắm,
Mà kẻ đi về chỉ một tôi…
Nếu yêu một người, thì cứ muốn chiếm lấy tất cả người ta, bắt
người yêu phải phụ thuộc vào cái tôi của mình, truy lĩnh một cách đau
ốm cả tuổi nhỏ của người ta, cho nên rất động lòng khi tìm thấy cái trường xưa,
người yêu học từ lúc còn bé xíu! Ôi! con đường trôn ốc, càng đi càng rút mãi
vào chỗ thuỷ tận sơn cùng!
Ở chỗ tận cùng cheo veo đó, Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề;
cái tôi thu lại chỉ bằng đầu một mũi kim, và qua vạn trùng đại dương,
lên tiếng gọi kêu cứu tuyệt vọng:
Giơ tay ta vẫy ngoài vô tận,
Chẳng biết xa lòng có những ai! [14]
Đối với cái xã hội trái ngược, tàn nhẫn quanh mình, tôi chỉ
biết lấy một lòng thương mênh mang, đau đớn; luôn luôn nghĩ đến vấn đề đau khổ
của con người, tôi không có cách gì giải quyết được, đành rải đi những Phấn
thông vàng, mong xoa dịu những nỗi khổ một phần nào!... Tôi đã diễn tả đúng cái
hoang mang trước xã hội bằng hình ảnh:
Thuyền tôi không lái cũng không neo,
Trên biển đau thương dạo cánh bèo;
Trên biển đau thương đi lặng lẽ,
Thuyền tôi không lái cũng không chèo…
Đối với nghệ thuật, tôi say mê, quý trọng, nhưng tại sao tôi
thấy ngoài xã hội coi thường, coi khinh. Ngay từ bé, đứng nghe một người mù dắt
em con gái nhỏ, gẩy chiếc đàn bầu, hát những bài ca Huế rất mực là hay và xin từng
đồng xu, tôi đã chạnh lòng nghĩ đến thân tôi: “Nghệ thuật nghèo hèn, hay là Người
mù hát dạo”. Một người thi sĩ, trong xã hội Pháp thuộc, ai quý trọng? Có tài
như Tản Đà, cũng đến nỗi phải bói số Hà lạc để sinh nhai. An-phông-xơ Đô-đê
(Alphonse Daudet) [15] vẽ một người có óc vàng, phải nạo óc ra
mà bán; tôi nghĩ truyện một “Người lệ ngọc”, khóc nước mắt ra thành ngọc để độ
nhật, đến lúc lệ cạn, phải châm gai vào mắt cho lệ ngọc cố rơi ra! Bởi thấy những
người tài tình ở trong đời bị thiểu số và bị khinh thường, tôi nghĩ một bài văn
để “Chiêu tài tử”, gọi nhau từ xưa đến nay lại, đặng tri âm với nhau, thương lấy
nhau. Khi nghệ thuật không có lý luận cách mạng soi đường, không có quần chúng
nuôi dưỡng, nó cầu bơ cầu bất như thế đấy!
Đến khi ách Nhật thuộc quàng thêm vào cổ, tư tưởng tôi càng
ngày càng bi. Tôi cố bám lấy lập trường tiểu tư sản đứng giữa của tôi: một mặt
không hề chịu đi thi tri huyện làm quan, ghét sự buôn bán, sự “làm giàu”, lánh
xa bọn ăn trên ngồi trốc của xã hội; phản đối những người làm thơ truỵ lạc, viết
văn ca tụng thuốc phiện; đòi hỏi sự lành mạnh, sự sáng sủa trong văn học; một mặt
không biết, không dám đi với quần chúng cần lao, nghèo khổ; tôi đứng giữa, giữ
một thứ “trong sạch” tiêu cực, của những kẻ “tài tình là luỵ muôn đời”. Từ trước,
chỉ biết buồn đau, chứ chưa hề viết một câu khinh bạc đối với cuộc đời, nhưng đến
năm 1942- 43, tôi đã cười mỉa tạo vật cứ lặp đi lặp lại mãi, người con gái lấy
chồng, đẻ con, lại lặp lại cái sự yêu con… Năm 1943- 44, ở trên cái gác Hàng
Bông, tôi chạy buôn chợ đen thì không buôn được, viết văn thì cứ nói mãi cái buồn
cũng hết chuyện, tôi ngồi giở quần áo cũ ra vá giữa một bóng chiều thu đông lạnh
và héo xám như hoa khô. Đấy, thưa những ai hiện nay còn cao đạo và còn tự cho
cái tôi của mình là ông trời, cái tôi cũ nó vinh quang như
thế đấy!
Ôm mãi cái tôi mà lặn ngụp trầm luân mãi với nó,
tôi đi đến chiêm ngưỡng nụ cười của đức Phật, sờ soạng một cách giải quyết nào
đó trong “sắc sắc, không không”. Tại vì, mới bước vào tuổi thanh niên, tôi đã đọc
nhà thơ lớn Ba Tư Ô-ma Kha-y-am (Omar Khayam): - Cái bình thon thon kia, xưa là
một người đàn bà có lưng ong rất đẹp; hoặc: Ta đừng dẫm hòn đất nhỏ nọ, xưa đó
là con mắt của một người… Những hình ảnh nghệ thuật quá hay đó lặn sâu vào thâm
tâm tôi, bây giờ lại nổi lên. Tại vì, trước tôi, một người rất tài hoa, rất
thông minh, mà tôi rất phục, như Thánh Thán, viết văn phê bình Tây Sương
ký có khí có thế như vậy, mà cuối tập Mái Tây, lại lấy kinh nhà Phật
để chú các câu thơ; tôi đọc chương Kinh mộng cuối cùng, chỗ Quân Thuỵ
đi ra kinh để thi, nằm mơ thấy Oanh Oanh chạy dõi theo mình, mà Thánh Thán bình
luận, nói cái giác ngộ về sự “chiêm bao”, bỗng nhiên tôi lạnh rùng cả linh hồn:
thì ra cả cái tình yêu kia đã làm mình mê mệt từ đầu sách đến giờ, vốn chỉ là mộng
mị, mộng mị!...
Không có con đường để giải quyết thoả đáng cái tôi, tôi
bèn từ chỗ mài nhọn sắc cái tôi như nữ thi sĩ An-na đờ Nô-ay (Anna de
Noälles) [16] muốn tự tạo mình thành “sinh vật độc nhất
vô song, không gì thay thế được”, từ chỗ quá khích này, tôi sang chỗ quá khích
khác, hai thứ đều duy tâm cả, là tôi rất cảm ơn nhà tôn giáo Ấn Độ
Cơ-rit-na-muýc-ti (Khrisnamurti) [17] trỏ cho tôi con đường huỷ diệt cái tôi.
“Một đêm sao” [18] nằm nhìn lên trời, tôi diễn tả cái cảm
giác cô đơn cùng cực: “… Tuồng như tôi đã trôi giạt trong không rộng, và hai mắt
tôi đã rời ra xa cách tôi; và chính hai mắt cũng rẽ nhau không song song nữa,
lưu ly thất lạc mỗi chiếc một đường”. Cuối bài, tôi kết thúc: “Ta nguyện thành
một đợt sóng ở giữa đại dương, một hạt bụi trong bãi cát, một bánh xe khi trời
chuyển pháp luân. Khi gió dấy lên, khi nước cuộn, ta lăn quay trong tay của
chúa đời. Làm gì có cái “ta”! Đó là ảo ảnh của tuổi trẻ; đó là nhầm lẫn của chúng
sinh ham sống…” Thế là tư tưởng của tôi, cuối một con đường dài mười lăm năm đi
tìm chân lý, đã đến câu ca vọng cổ rẻ tiền: - “Thà rằng thành chim hoá đá, vẩn
vơ nơi núi Sở sông Tần…”
Trong khi quần chúng càng ở dưới ách Pháp Nhật càng cùng khổ
và đã bắt đầu chết đói, thì người trí thức, người nghệ sĩ ở tôi sa lầy trầm trọng
vào cả một hệ thống tư tưởng cũ như vậy, nó là một tạp-pí-lù tư tưởng
của phong kiến, tư sản và tiểu tư sản; tôi cứ ngồi vá áo và phát ra những tiếng
kêu đau đớn xé ruột xé gan. Tôi càng nghĩ suy, càng va đầu vào mâu thuẫn. Tâm hồn,
trí tuệ tôi là một con chim lồng mà không tự biết, thấy mình có động cánh, thì
tưởng mình bay; cứ lấy trái tim đập vào cửa “vĩnh viễn”, của “vô cùng”, kêu
khóc: “Mở ra! mở ra cho tôi”, nhưng nó không mở ra bao giờ, vì làm gì có thứ cửa
cố định, siêu hình ấy mà mở!
Trong khi âm cực, dương hồi…
Đến hiện nay mà còn có những người tự gọi là suy nghĩ, lại dựa
vào cớ này cớ nọ để dè bỉu Liên Xô, dè bỉu Cách mạng do giai cấp vô sản dẫn đường,
tôi là một người đã nhiều đau khổ bản thân, tôi thấy những kẻ ấy không biết điều
thái quá! Nếu không có Cách mạng tháng Tám đến lôi bật tôi ra khỏi cái vũng lầy
quằn quại, thì sau 1945, chắc tôi không còn có thể tiếp tục ngồi xỏ kim vá áo một
cách “trong sạch” như thế mãi; mà một nữa là tôi đi vào truỵ lạc, bán văn buôn
chữ, sa đoạ thành bồi bút chính trị; hai nữa là tôi hoá điên; chứ thế tất sự lửng
lơ không thể kéo dài quá một mức nào đó được.
Những thiên tài văn học cũ, dù sự nghiệp trước tác rõ ràng
làm giàu tâm hồn tôi vô hạn, và dạy cho tôi nhiều vô cùng về con người và cuộc
sống, nhưng tất cả những trang rất mực tài tình đó đều không đập phá gì hộ tôi
được cái nhà tù tư tưởng siêu hình, vì chính họ cũng không tự phá nổi cho họ.
Cụ Võ Liêm Sơn, tác giả thiên tiểu thuyết đầy ý tốt nhưng bi
quan Cô lâu mộng [19], đã xua tay rất đúng, “lạy cả nón” cái
xã hội cũ:
Thôi thánh hiền,
Thôi tiên phật,
Thôi hào kiệt,
Thôi anh hùng!
Nhưng bài ca cảm khái của cụ thiếu hẳn một nửa. Vâng, âm cực
thì dương hồi, tất cả những vị trên đây không cứu gì cho tư tưởng tôi được; duy
ngày 19 tháng 8 năm 1945, có quần chúng, có Đảng Cộng sản, có chủ nghĩa
Mác-Lênin áp dụng vào hoàn cảnh một nước nông nghiệp thuộc địa, có Cách mạng
tháng Tám, em của Cách mạng tháng Mười, đã cứu tôi và cứu tư tưởng của tôi. Rõ
ràng là từ trước, tôi mắc kẹt nửa người vào một cánh cửa mở đóng lừng khừng, cửa
cứ nghiến, tôi cứ kêu vô ích và thất thanh, cầu cứu khắp các thứ sách vở trên đời
ngoài sách vở Mác-Lênin, nên không đi đến đâu cả. Quần chúng lao khổ, rách rưới,
chết đói đã đứng lên theo Đảng của giai cấp vô sản, lôi cuốn cả toàn dân tộc, đạp
tung cánh cửa lừng khừng của lịch sử, tự cứu mình và cứu hàng vạn những nghệ
sĩ, trí thức chết kẹt như tôi. Như vậy mà bảo tôi quên ơn, thì quên làm sao được?
Những vấn đề mâu thuẫn tích luỹ hàng trăm, ngàn năm, quần
chúng vượt bậc giải quyết, Đảng của giai cấp vô sản giải quyết. Trước hết chưa
giải quyết những đau ngứa phiền toái của tôi, mà hãy kéo tôi đứng lên, gọi tên
thật của tôi là một Con Người, xoá trên trán tôi cái vết sắt nung của thời nô lệ,
trả cho tôi một Tổ quốc, một dân tộc, cho tôi một ý nghĩa của cuộc đời. Từ trước,
học tập một nền văn học Âu châu vào hàng rực rỡ là văn học Pháp, tôi đã nhận thấy
đại khái trong đó, trên nét lớn, thời kỳ cổ điển thì tìm chuộng lẽ phải (la
raison) thời kỳ lãng mạn thì tìm chuộng tình cảm (le sentiment), đến
thời kỳ sa đoạ tiếp theo, nhiều trường phái văn học lại tìm chuộng cái phần thấp
của con người, là cảm giác (la sensation). Cuối thế kỷ mười chín, và
nhất là sang thế kỷ hai mươi, những “nhà văn” tư sản Pháp đủ các cỡ đi xục vào
cái mũi ngửi, cái lưỡi nếm, cái mắt nhìn đường nét sắc màu, coi người ta là một
cái túi để đựng các thứ sướng vui, đập vào những phần sơ đẳng nhất, con vật nhất
của thằng người; và họ đầu tư nhiều nhất là vào những xúc cảm sinh dục! Cuối thời
kỳ thứ ba này, văn học tư sản Pháp không có thời kỳ thứ tư nào để mà đi nữa.
Cái bí đường của nó nhập cảng sang Việt Nam, “nhà văn” không còn thể thống gì sốt,
lăn vào bàn đèn làm một con thiêu thân chán chường và ác khẩu; văn học không
còn có tư tưởng, một số “nhà văn” ba hoa bán trời không văn tự, nhưng thực chất
là muốn ăn ngon, chơi sướng mà lại rất nhác lười! Những người còn biết tự trọng
và tiếp tục tìm chân lý của cuộc đời, thì loay hoay mãi cũng không thể nào giải
quyết bằng “tinh thần” được.
Cách mạng đến! Cách mạng Việt Nam mang tới cái mà văn học tư
sản Pháp không có nổi, là sự hành động (l’action). Không phải cái thứ
“hành động để mà hành động” (acte gratuit) của Ăng-đơ-rê Gít (André
Gide), mà hành động cách mạng, hành động cùng với quần chúng, hành động có mục
đích và có hiệu quả. Những ngày Cách mạng tháng Tám, tôi cùng bao nghệ sĩ, tri
thức khác say sưa mỗi người một việc, ngày đêm công tác. Hoạt động, công tác
cách mạng đã giải quyết sự hoang mang vô bổ của trí tuệ tôi, nhúng trí tuệ tôi
trở lại trong cái ý nghĩa cơ bản của sự lao động. Thực dân Pháp đánh Nam Bộ, rồi
toàn quốc Kháng chiến, Đảng trao nhiệm vụ giết giặc cứu nước cho ngòi bút tôi.
Tôi rộng mở bước vào Kháng chiến trường kỳ, và tư tưởng của tôi còn gặp gỡ, trải
vượt nhiều chặng đường xuống lên không phải là đơn giản…
Càng sâu nghĩa bể, càng dài tình sông
Muốn tự công bằng với mình, tôi phải tự nhận cái ưu điểm có hệ
thống của tôi, là ngay từ nhỏ, do là con một ông đồ nho nghèo mấy đời, lại là
con của má tôi là một người vợ bé, do sớm bị áp bức trong gia đình và sớm được
biết cái nghèo túng, và do cố gắng suy nghĩ bản thân, tôi có một lòng thương
người yêu người tràn ngập, mặc dầu có đượm một màu sắc không tưởng. Khổ buồn từ
bé, tôi luôn luôn nghĩ đến vấn đề đau khổ của con người; tôi dám cả gan viết những
câu như:
Cho tôi đau mà bớt khổ loài người,
Tôi nguyện sẽ chết trên cây thánh giá… (1938)
Những khi tối đen bế tắc, cô đơn đến ghê lạnh, tôi vẫn thấy một
điều mà tôi không thể từ chối được, là chung quanh tôi, vẫn còn có những con
người: “Tôi như chiếc lá lo chuyện lìa rừng, buồn đời bé nhẹ; nghĩ đến muôn
nghìn ức triệu lá bạn, mà lại phe phất với đời…” [20]. Cái tôi của tôi huênh hoang tự đại
như một thằng bé con, nhưng nó vẫn còn ở trong hồn một điểm sống, một điểm sáng
không tắt: “Về đêm, ta trèo ngồi trên đầu Trái Đất; thuyền ta nhịp, bơi qua các
sao. Biển trời xanh đen, không thấy đầu đuôi, trên dưới. Ta buồn quá, muốn
khóc; ta sầu cái sầu của vũ trụ, ta hận cái hận không gian… Trong cái đại dương
vô liêu này, thôi chỉ là hư vô, là sức mạnh to lớn, gồ ghề, vô tri; bọn tinh đẩu
làm gì mà xoay như thế? Tôi quay đầu lại nhìn các bạn vô số của tôi; chán nghĩ chuyện
trời, tôi nghĩ chuyện người, và tự nhiên lòng tôi thấm thía yêu mến” (1939).
Luôn luôn trong tôi có một sự dằng co như vậy; một mặt tư tưởng tôi học phải một
nền văn hoá siêu hình, bị nó lôi theo xuống dốc và vào hũ nút; nhưng mặt khác,
tôi vẫn đầy lòng thương yêu, và cãi lại: không thể chết hết, không thể mất hết
được! đời vẫn cứ còn đây kia mà! Cuối Nhật thuộc, hai triệu nhân dân chết đói,
tôi đã bị ngập đến tận cổ, nhưng nhất định tôi không chìm, tôi vẫn thở, tôi cố
bơi, và tôi đã bơi đến với Cách mạng. Khi quần chúng cầm cờ đỏ sao vàng đi cướp
lấy chính quyền vào trong tay, tôi thấy đó là điều tôi vẫn chờ đợi, thấy cuộc
Cách mạng này là của tôi, không thể khác, không thể khác được!
Tuy nhiên, cũng như trong ái tình, yêu nhau rồi, nhưng không
phải nhất đán đã hiểu nhau tất cả; càng yêu càng hiểu, càng hiểu càng yêu, bao
gồm cả những lúc hờn giận không hiểu nhau, thậm chí có lúc “bằng mặt chẳng bằng
lòng”, tệ hơn nữa, có lúc tưởng như ly dị nhau được! Một số người yêu Cách mạng,
đến với Cách mạng, nhiều khi cũng thế.
Tôi hăng hái vào Cách mạng, vui sống với công tác, nhưng thực
ra, đã ở với nhau, mà tôi mới khám phá ra Cách mạng dần dần… Vào làm Văn hoá
Kháng chiến ở Thanh, đầu năm 1947, tôi bỗng mở quyển Lịch sử kỳ diệu của
loài người [21] ra đọc. Quyển sách chưa phải đã là không
có khuyết điểm, nhưng tôi đọc nó như người được bác sĩ mổ lấy cái màng che nơi
hai con mắt. Tôi sướng quá! Tôi đẻ ra đã làm một tên nô lệ nhỏ, suốt đời sống
trong gông cùm, dưới chà đạp, thấy toàn chuyện xấu xa tàn ngược, nên chi tôi đã
cho đó là tất cả lịch sử của loài người. Nhưng không, loài người bơi qua biển
máu, trèo qua núi xương, bị các giai cấp thống trị kế tục nhau coi là cái rác,
cực nhục quá lắm, nhưng mỗi thế kỷ đều có tiến thêm trên đường giải phóng, đều
có sáng thêm mãi ra, đều có nổi dậy quật cho bọn áp bức bóc lột ngã chỏng gọng,
rơi xuống ăn bùn, và lấy máu trả đền nợ máu! Té ra nghìn triệu người nghèo khổ
bị chết bao nhiêu lâu nay không phải là cỏ cây mục nát vô ích, mà là động lực
căn bản của cuộc vươn lên vĩ đại. Ừ, dầu cho chế độ tư bản, khi nó rẫy chết,
khi nó thành chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa phát xít, nó tàn ác bằng mấy những
ngày cuối cùng của chế độ phong kiến, Hít-le đốt hàng vạn người Âu châu trong
lò, Mỹ thả bom nguyên tử giết dân Nhật, nhưng nó nhất định cáo chung, đó là thắng
lợi ghê gớm của loài người. Ở cuối quyển sách dày, có cái chương lớn về chủ
nghĩa xã hội. Cái chương kỳ diệu nhất, đơm hoa kết quả của lịch sử kỳ diệu loài
người! Thì ra từ nhỏ đến bây giờ, tôi bi quan tắc tị là vì vô minh, là vì dốt,
vì không được hiểu, và cả không muốn hiểu! Chứ Mác, Lê-nin, Cách mạng tháng Mười
và Liên bang Xô viết vẫn rờ rỡ chói lọi trước tôi; nhưng cái nghề đời là như vậy,
phải có Hồng quân Liên Xô đánh tan đội binh Quan Đông của Nhật ở Mãn Châu, Cách
mạng tháng Tám vũ bão lay cả người tôi, thì mới chọc thủng được con đường cho
chân lý đến với tôi được!
Kỳ diệu thật! Tôi như vỡ lẽ ra hiểu tất cả! Từ trước tới nay,
các tác giả lớn bé kêu khóc đời buồn, cuộc sống vô nghĩa, thế giới suy tàn… Pôn
Mô-răng (Paul Morand) xách va-ly dán đủ các thứ giấy nhà ga đi chơi lắm nước về,
thở hắt hơi ra, kêu: Chỉ trơ có trái đất! [22] Nhà văn Pi-e Lô-ti (Pierre Loti) [23] đồng thời là sĩ quan thuỷ quân Pháp, cưỡi
tầu đi chu du hầu khắp thế giới, mà văn của ông cứ như một buổi hoàng hôn xám
dài dặc, buồn thấm thía nhức xương; một con bò ở trên tầu của ông chờ ngày đem
ra làm thịt, tiếng kêu thảm đạm; ông thương xót nó, trở nên đay nghiến: Thôi
mà, những kẻ sẽ ăn ngươi, rồi họ cũng sẽ chết đấy mà! Sau chiến tranh 1914-18,
Pôn Va-lê-ri (Paul Valéry) [24] nói một câu trứ danh: “Chúng tôi đây, những
nền văn minh, chúng tôi biết rằng chúng tôi có thể chết”.
Các nhà văn tư sản Pháp trước chiến tranh 1914-18 và từ chiến
tranh đó đến cuộc đại chiến 1939-45, kéo dài ở trong thơ văn họ một thứ buồn tận
thế như vậy. Họ diễn tả rất đúng cái mốc meo cũ rích của thế giới tư bản và đế
quốc chủ nghĩa; cái thế giới đó thì còn cái gì mới đem đến cho loài người nữa?
nó chỉ tô hô ra một cái chán chường to lớn. Nhưng họ cũng diễn tả rất sai,− tôi
chắc phần lớn họ là những đồ đệ vô tâm của chủ nghĩa “thành thật”, cứ có gì viết
nấy theo cảm tính, chứ không phải họ bán mình cho bọn cá mập tài chính, − họ diễn
tả rất sai khi họ vơ đũa cả nắm, cho rằng thế giới tư bản là tất cả thế gian,
khi họ lấy cái buồn tận thế của tư bản chủ nghĩa điêu tàn mà phóng rộng bao
trùm lên cả trái đất và vũ trụ. Có tận thế thật, nhưng chỉ là thế giới cũ tận
thế; chứ còn thế giới mới đã xuất hiện lồ lộ ở Liên bang Xô Viết rồi! Chỉ nhầm
lẫn − với một số người, thì là gian lận − có một chút xíu đó thôi: từ ngày 25
tháng 10 năm 1917, có đến hai hệ thống xã hội ở trên thế gian, nhưng văn hoá tư
sản cứ làm như là vĩnh viễn duy nhất chỉ có một.
Thế mà khóc lóc rên kêu thảm thiết, làm cho số nhà văn Việt
Nam, sinh trong nước thuộc địa của đế quốc Pháp, cũng nhầm, khóc theo. Tản Đà
nói: Bác đã về thôi, đời đáng chán. Thế Lữ nói: Nhưng đến nay cô
ấy đã phong trần, Vì trông thấy cuộc đời thô rõ quá. Huy Cận nói: Đời
nghèo thế, chẳng dành tôi chút lạ. Tôi cũng nói: Cuộc đời cũng đìu hiu như
dặm khách, v.v… Khi than “đời buồn, đời là bể khổ”, chúng tôi chỉ muốn vạch
cái cuộc đời mà chúng tôi đang sống, nghĩa là cuộc đời tư bản chủ nghĩa mà
thôi; nhưng chúng tôi vô minh, dốt, nên đem tất cả cuộc đời ra mà chửi một thể.
Chỉ nhầm có một chút xíu đó, chỉ quên hai dấu ngoặc đơn, đáng lẽ phải chú
thích: (đời đây chỉ là đời tư bản chủ nghĩa) mà hàng trăm nhà văn Việt Nam ăn sầu
nuốt hận, phao phí rất nhiều tâm huyết của mình. Chứ nếu sớm biết chủ nghĩa Mác
Lê-nin, thì xã hội tư bản chết đi, chúng tôi chỉ có vỗ tay mừng, chớ làm sao lại
đi khóc đống mối!
Sức mạnh của một quyển sách như Lịch sử kỳ diệu loài người đối
với tôi như vậy. Cuối năm 1947, làm ở Tiếng nói Việt Nam, tại ngoại ô
thị xã Bắc Cạn, tôi lại được hiểu Cách mạng thêm một bước dài nữa, và căn bản.
Tôi được đọc Những nguyên lý cơ bản về triết học của Pô-lit-de
(Politzer) [25]. Từ Cách mạng tháng Tám trở đi, dần dần quan
sát những sự việc quanh tôi, tôi cảm thấy một thế giới mới, một tư tưởng mới, một
hành động mới, nhưng lộn xộn, chắp vá. Quyển Pô-lit-de đã cho trí tuệ tôi một
cái xương sống. Nó vạch cho tôi thấy cái “tội tổ tông” của tư tưởng tôi trước
đây, là phương pháp siêu hình, chủ quan, duy tâm; lấy mình làm trung tâm của
cuộc sống và vũ trụ, coi cái tôi là một tuyệt đối bất di dịch, thì đồng
thời cũng quan niệm sự vật và cuộc đời là từ xưa đến nay vẫn như thế, con người
xưa nay vẫn thế, vũ trụ tuần hoàn lại chu kỳ quay về chỗ cũ…; quan niệm mọi vật
cách biệt ra, không liên quan gì đến nhau, khoa học là khoa học, triết học là
triết học; quan niệm đã chia ra thì chia ra vĩnh viễn và không thông với nhau
được. Thuyền không giao nối đây qua đó, Vạn thuở chờ mong một cánh buồm [26] ; quan niệm sống là sống, chết là chết,
hai điều trái ngược không bao giờ lại ở chung, Pô-lit-de kể rằng nhà tiểu thuyết
Anh Hớc-bơ U-oen (Herbert Wells) sang Liên Xô, có đến thăm Ma-xim Goóc-ki và đề
nghị với Goóc-ki lập ra một câu lạc bộ văn chương, trong đó người ta không làm
chính trị. Dường như, nghe nói thế, Goóc-ki và các bạn ông bật cười, và U-oen lấy
làm phật ý. Là vì U-oen hiểu và quan niệm nhà văn như sống ngoài xã hội,
mà Goóc-ki và các bạn ông thì biết rằng trong đời, không phải như thế!
Quyển Pô-lit-de đã cho tôi một phương pháp tư tưởng khác hẳn.
Tóm tắt lại, thì cũng có mấy chữ thôi: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử – ấy
thế mà nó cách mạng cả thế giới. Khi nó đến với tôi một cách có lớp lang, hệ thống,
lại như một người bạn chậm rãi phân trần sai, đúng, thì nó đích là “chiếc thuyền
bát nhã” chân chính đưa trí tuệ tôi vượt biển vô minh đến bờ giác ngộ.
Như thế là trí tuệ tôi đã được phát động. Nguy hiểm nhất
cho chủ nghĩa tư bản, là hạt giống tư tưởng Mác vào trong óc người và nẩy mầm
trong đó. Trong ba bốn năm sau, tư tưởng tôi, theo quy luật của sự nẩy nở, tự
nó một ngày một xé toang ra. Tôi hiểu Cách mạng, hiểu Đảng nhiều thêm. Một ngày
một thấy mở rộng.
Lúc mới hơn hai mươi tuổi, mà tôi đã “Giã từ tuổi nhỏ” rất
lâm ly; đến trước Cách mạng tháng Tám, tôi đã tự cho mình già, ngồi chằm vá áo.
Nhưng từ khi biết chủ nghĩa Mác, tôi thấy mình được vào một lịch trình mới xuất
phát, còn rất trẻ, tiến bộ đến vô cùng.
Lại tìm những lối đoạn trường…
Tuy vậy, dù sao, tôi cũng mới giác ngộ trên lý thuyết. Có lẽ
cái vui sướng lớn của tôi là tự nhấc ra được khỏi một hệ thống chết, mà vào một
hệ thống sống, nghĩa là tự cứu được mình. Mà đến với chủ nghĩa xã hội vì mình,
thì chóng chầy những đau ngứa phiền toái cũ lại phát ra.
Những năm 1951, 52, 53, sau thắng lợi chiến dịch Biên giới,
cuộc kháng chiến của ta trên đà trưởng thành mạnh, phải vượt những khó khăn rất
to lớn. Bấy giờ, chỉ phơi phới đứng trên lập trường dân tộc chung chung mà
thôi, không đủ nữa. Kinh tế của ta còn rất ì ạch, thuế nông nghiệp chưa có,
Chính phủ phải tạm vay, có những lúc đói to, những vùng thiếu muối; bấy giờ phải
có cái dạ sắt gan đồng của anh công nhân, anh bần cố nông, và có cả cái chí phấn
đấu của họ, nghĩa là phải có cái giai cấp tính của những người mất thì chỉ mất
cái xiềng, được thì được cả thế giới, mới chịu đựng được gian khổ. Mà đó là nhược
điểm sâu sắc của tôi. Các thị trấn “tươi” lâm thời xẹp kém đi, các cơ quan cứ
rút sâu thêm vào rừng; tôi ngại quá!
Sớm nay ra khỏi u tì quốc,
Một chiếc xe nhanh đạp giữa đường…
Mặt khác, xã hội mới càng ngày càng rõ qui luật tư tưởng, qui
luật tổ chức của nó; nó đấu tranh mạnh với xã hội cũ để cho bản chất mới của nó
trưởng thành; nó chống chủ nghĩa cá nhân tư sản, chống cái tản mạn tiểu tư sản,
chống tinh thần vô chính phủ; nó đòi hỏi ý thức kỷ luật cao với tập thể, tinh
thần trách nhiệm đủ với công tác; nghĩa là nó tiến hành đấu tranh tư tưởng. Mà
đó cũng là nhược điểm sâu sắc của tôi.
Và xã hội mới đòi đẻ ra thực sự rồi; nó không chịu “dân tộc
chung chung” nữa. Nó cấp bách yêu cầu làm cái việc mà cách mạng tư sản Pháp đã
làm từ năm 1789; nó đòi hỏi dân cày phải có ruộng. Đồng thời, Mỹ can thiệp ngày
càng rõ mặt vào Đông Dương; những trận ném bom, những trận càn khốc hại; lưới
gián điệp tung ra. Cuộc kháng chiến gay go đòi giữa ta và địch phải rạch ròi.
Cuộc đấu tranh giai cấp dần dần phải quyết liệt. Mà đây càng là nhược điểm sâu
sắc của tôi. Từ xưa, tôi cứ “thương người chung chung”. Tôi vẫn mơ ước một xã hội
mà mọi người sung sướng; nhưng muốn đến đó, phải biết thương những con người cụ
thể, phải có thương ai? ghét ai? phải qua con đường đấu tranh giai cấp để xoá
giai cấp. Con đường có rất nhiều đau đớn, nhưng không qua nó, thì không đi được
tới đâu. Sợ đi qua con đường đó, tức là tôi vẫn ôm cái xã hội chủ nghĩa không
tưởng, cái xã hội chủ nghĩa làm sẵn từ trên trời rơi xuống.
Và một mặt khác nữa, càng đi sâu vào Cách mạng, sự sáng tác
càng gian nan. Từ trước, tôi viết cho những người “có học”, tức là, trên nét lớn,
những người từ tiểu tư sản trở lên trong xã hội cũ. Bây giờ, những con người
“vô học” cũ, nhờ cách mạng, họ đã có học, họ đã đọc sách và họ biết cả phê bình
nữa; họ yêu cầu phải nói đến họ, công nông binh; không có lý gì họ nai lưng ra
đổ mồ hôi, đổ máu nhiều nhất, mà trên sân khấu của các tác phẩm, lại chỉ có những
người khác. Những người “có học” lớp trước kia, bây giờ cũng đã thay đổi cả yêu
thích cũ, chính họ lại cũng đòi hỏi nói về công nông binh. Mà đó cũng lại càng
là cái nhược điểm rất sâu sắc của tôi.
Những nhược điểm rất sâu sắc chủ quan của tôi không đáp được
những đòi hỏi gay gắt khách quan của kháng chiến, trong hai, ba năm trời, trong
tôi có một cái gì cứ chùn dần, cứ cuốn lại. Ngoài mặt thì như không có gì xảy
ra, nhưng ở chỗ tinh vi, kín nhẹm nhất, có một sự rút trốn. Cái chất hưởng thụ,
cầu an tích luỹ trong thể xác và tâm trí tôi hàng mấy chục năm, nay làm thành một
sức ỳ khó lay chuyển. Gian khổ, khó khăn không chỉ ở đằng xa, nơi quần chúng vẫn
chịu và gánh mà đã đến đụng chạm ngay bản thân tôi; tôi không thể “kháng chiến
vui vẻ, cách mạng vui vẻ” nữa. Tự tôi mình theo tinh thần của giai cấp vô sản,
gay lắm! Tôi đâm ra hờn, tủi, dỗi với những người đấu tranh với tôi; tôi tự ái
giai cấp, bám lấy các thứ chức tước, danh hiệu cũ. Sáng tác cái mới thường thường
bị thất bại, tôi quay về dựa lưng vào các thứ “của chìm”: tác phẩm ngày trước của
mình. Kỳ tình, tôi vẫn biết đứng chỗ cũ không thể được nữa; tuy nhiên, lại ngại
sang đứng chỗ mới; tâm trạng tôi như người bị chẹt, tinh thần bất ổn, vẫn gần với
quá khứ, vẫn xa vợi với tương lai. Cứ chạy sang bên này rồi chạy sang bên kia,
thật là đau đớn.
Tôi không bi quan như xưa kia cho cuộc đời, tôi biết chắc là
xã hội đang tiến mạnh; nhưng tôi tự bi quan. Khi người ta cảm thấy mình không
tiến được nữa, người ta dễ oán hận, người ta ngậm ngùi. Tôi đâm rơi vào cô độc;
có khi nằm ngủ, tôi thấy tôi vào thành Hà Nội mua đủ các thứ đồ hàng, nhưng độp
một cái, địch đã biết được tôi, nó đuổi rượt và tôi chạy hộc tốc toát mồ hôi; mở
mắt ra, mừng rằng mình vẫn nằm yên giữa cuộc kháng chiến, chẳng địch nào bắt
mình được cả!
Ai giật mình rùng rợn khi nghĩ đến một vài cái lệch lạc, gò
ép, “chụp mũ” phạm phải trong những lớp học tập chính trị thời Kháng chiến;
nhưng tôi, tôi rất cảm ơn Chỉnh huấn, cảm ơn những đồng chí đã giúp tôi làm một
cuộc vệ sinh lớn cho tư tưởng. Có thể họ đã cọ xát hộ tôi mạnh quá, đôi chỗ bị
rách da chảy máu chăng − và tôi cũng có thể phạm như thế đối với họ − chúng ta
dù có quá hăng, đôi khi dùng thuốc hơi mạnh, nhưng thuốc đắng vẫn cứ dã tật được
như thường! Ở lớp Chỉnh huấn bốn tháng năm 1953 ra, tôi có thể tự hào rằng tôi
đã phá được vòng vây luẩn quẩn của sự lừng khừng, và đã có trời cao biển rộng.
Bước đầu tuy chửa là bao,
Nhưng nghe đã rộng, đã cao vô ngần!
Tôi không tự ti nữa, mà tự tin mình, bởi tôi tin ở quần
chúng, tin ở Đảng. Tôi thấy rằng Đảng, tức là chân lý. Chủ nghĩa Mác Lê-nin
cũng như khí trời trong tốt; phổi ai hít thở được nhiều bao nhiêu, càng khoẻ mạnh
bấy nhiêu; Đảng là ở mình. Ta không thể dối được mình, thì cũng không thể ở giả
với Đảng; Đảng là hoàn toàn tự nguyện, tự giác. Các nhà văn rất thích sự chân
thành, thì Đảng là sự chân thành.
Hai đợt đi làm đội viên phát động quần chúng giảm tô ở làng
Còng (Thanh Hoá) và xã Cát Văn (Nghệ An) tiếp tục tái tạo tôi trong quần chúng
nông dân. Từ thương người chung chung trước Cách mạng, tôi đã yêu thương những
con người lao khổ nhất, xương máu nhất, chung chiếu rách với họ, chia mắm cà với
họ, đứng trên lập trường của họ cùng họ đấu tranh: tôi đã bắt rễ vào đất của quần
chúng.
Từ phen đá biết tuổi vàng, Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn
ngơ
Tôi không dám nói đã biết được tuổi vàng, vì chủ nghĩa Mác
Lê-nin có một con đường phát triển vô cùng tận. Tôi chỉ muốn nói càng ngày tôi
càng yêu, hiểu Cách mạng tháng Tám, Cách mạng tháng Mười hơn. Mười ba năm sống
trong chế độ mới của chúng ta, không thấm thía sao được. Từ một người nô lệ, từ
một kẻ tù tư tưởng của văn hoá cũ, tôi đã thành một người tự do. Tôi không muốn
cái xã hội đã bắt những em bé phải khóc vì buồn, những em bé đòi mẹ nhả cơm ra,
những em bé chết đói bám vào cửa kính như ruồi, tôi không muốn nó còn quay trở
lại. Ngòi bút của tôi nhọn, có thể góp sức cản đường nó. Khi nó lồng lộn đòi trở
lại ở nước anh em Hung-ga-ri, tôi ở xa, vẫn biết mặt biết tên của nó. Tôi không
thể phút nào quên được rằng nó còn ở trong miền Nam nước Việt thân yêu của ta!
Những em bé của chế độ ta đã no hơn, ấm hơn, chúng nó hát ca
luôn miệng; và chúng nó thông minh, cái thông minh dũng cảm. Tôi coi chuyện em
Ngọc như một trong trăm ngàn điển hình của các em đi kháng chiến. Ngọc làm liên
lạc ở mặt trận, lúc đầu kháng chiến, bị thương. Bác sĩ phải mổ. Chị y tá thương
em quá, ôm lấy đầu em, che mắt em lại. Em Ngọc nói, tỉnh táo: “Chị không cần phải
che, hãy để cho em nhìn thấy vết thương của em.”
Ngọc muốn nhìn sự thật căm thù, không muốn trốn. Nhưng khi mẹ
Ngọc hay tin, tìm đến thăm, thì Ngọc vẫn hãy còn nhỏ lắm, Ngọc thích làm nũng mẹ,
đòi quà.
Chủ nghĩa nhân văn của chúng ta như thế đó. Một em liên lạc
khác, không hơn mười ba tuổi, trong khi một toán quân ta, những năm đầu kháng
chiến, rút lui lộn xộn, đã ở lại sau trên chiến địa, mò mẫm các bờ bụi, thấy một
anh bộ đội bị thương nặng, nằm như người chết. Dốc hết toàn lực, bằng mọi cách,
em cố cướp thời gian, cõng đưa anh về căn cứ, và đơn vị đã chữa được anh sống lại.
Toàn đơn vị tuyên dương em, hỏi em vì sao đã cứu sống được một người, em trả lời:
“Em sờ ngực anh thấy hãy còn nóng, em tiếc…”
“Em tiếc”, đó là chủ nghĩa nhân văn của chủ nghĩa Mác Lê-nin
chúng ta!
Chúng ta không bao giờ coi một người còn sống là một “cô lâu
mộng”, mà trái lại, chúng ta cố cứu sống lại những cái gì ngỡ là đã chết. Ví dụ
như tư tưởng. Chúng ta rất muốn sống lâu năm, đem kinh tế, khoa học, y học để
làm dài đời sống con người; nhưng chúng ta không chỉ thấy đời sống là một số lượng
ngày khoái lạc cố đếm được càng nhiều càng hay. Chúng ta không quan niệm cái
vĩnh viễn theo kiểu sợ già, sợ chết đó. Chúng ta là những người duy vật, nhưng
đầy lý tưởng; chúng ta biết cái tinh diệu của đời sống là ở bên trong.
Cái tôi của tôi, không cần và không nên huỷ diệt nó như vài nhà tôn
giáo Ấn Độ quan niệm. Tôi vui sướng mang cái riêng, nhưng không tôn nó làm bạo
chúa, mà hoà nó với cái chung; cái tôi kiểu mới này giàu và mạnh, sinh sôi nảy
nở mãi đến hơi thở cuối cùng. Từ lúc hoà nó được với muôn người, tắm nó vào
hành động cách mạng, thì nó thành bất diệt.
Vũ trụ của ta cũng vậy; nó không điêu tàn chút nào hết. Nó
không quay luẩn quẩn, mà có một lịch sử, một đường tiến. Đầu tiên của loài người,
vệ tinh xô-viết đã đem tin vui của Cách mạng tháng Mười vào trong vũ trụ. Con
người, mà chủ nghĩa Mác Lê-nin hoàn toàn tin tưởng, đã bắt đầu ra mắt trên sân
khấu của vũ trụ rồi!
Cái lạc quan không cùng của chủ nghĩa Mác Lê-nin đã rọi ánh
thấu đáo vào tư tưởng tôi. Tôi rất biết rằng tâm trí tôi không phải chỉ có vui,
mà luôn luôn có những mâu thuẫn mới, nảy ra trong đó, bắt tôi phải giải quyết.
Khi chưa giải quyết được, thì ít hay nhiều, tôi còn buồn. Nhưng buồn chưa phải
là bi quan. Mà nếu tôi có bi quan riêng tôi, thì mặc kệ! đời vẫn cứ có hướng lạc
quan để tiến. Nhưng mà mình đã nhận định được rằng đời lạc quan tiến, thì mình
cũng không có thể bi quan lâu về mình.
Cái vấn đề tư tưởng chính trong văn học là nhà văn có được một
niềm lạc quan cách mạng về quốc gia dân tộc, về xã hội, về nhân loại hay không?
Cái lạc quan này có đầy đủ lý luận khoa học, chứ không phải cuồng tín; nó dựa
chắc chắn vào quần chúng và Đảng; nó không sợ đấu tranh. Do vậy, thực chất của
vấn đề bôi đen, tô hồng, theo ý tôi, là vấn đề thái độ đối với Đảng của giai cấp
vô sản. Hòn đá thử vàng của một người, trước hết vẫn là thái độ của người đó đối
với địch, đối với ta, với những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Trên một con đường gồ ghề, có những người cùng đẩy một chiếc
xe bò. Do bản thân chiếc xe bò sức chưa được mạnh − nó chưa phải là một chiếc ô
tô − lại do khuyết điểm xếp đặt, lau chùi kém, nó còn đi cà rịch cà tang, và
kêu cọc cạch cút kít nhiều quá! Có người nóng tính vừa đẩy xe bò vừa chửi; có
những người ráng đẩy cho mạnh hơn, những người này thì thường ít hay kêu om mà
gắng nghĩ cách chữa xe; có người buông xuôi tay ra mà đứng bên đường; có người
lấy cớ xe sai, nhẩy phóc lên xe ngồi để người khác đẩy mình. Lại có đứa vốn
không yêu xe, xúi người ta đến đánh anh cầm càng đằng trước. Ai có lý và ai có
lực?
Nhà văn dù có tài mấy, mà như Ho-vơ Phát (Howard Fast) bỏ mặt
trận của Đảng trong lúc gay go và địch đang lợi dụng khuyết điểm của ta để tập
trung đánh ta, chỉ là một kẻ đào ngũ. Dù là Picátxô (Picasso), hoạ sĩ lừng danh
thế giới, đồng chí Picátxô ngày 20 tháng 11 năm 1956, khi cùng chín đảng viên
trí thức khác, nằm trong các chi bộ, Đảng bộ khác nhau mà đã gửi thư tập thể thẳng
cho các Uỷ viên Trung ương đang họp Ban chấp hành, đòi triệu tập Đại hội Đảng bất
thường nhân vì có việc Hung-ga-ri, và ngay hôm sau, thư và tên người đã thấy
đăng trên báo tư sản; đồng chí Pi-cát-xô cùng chín đồng chí ấy đã được Trung
ương Đảng Pháp công bố bản trả lời chính thức, đồng thời công khai phê bình trước
Đảng và toàn dân về việc hành động một cách bè phái và vi phạm nguyên tắc tập
trung dân chủ. Một thiên tài lỗi lạc đến đâu cũng không thể coi hơn giai cấp
công nhân và Đảng của nó, hơn quần chúng nhân dân, hơn dân tộc. Trong những
ngày Đảng Pháp bị bọn phản động tấn công điên cuồng, đồng chí Giô-li-ô Quy-ri
(Joliot Curie) phát biểu: Chưa bao giờ tôi thấy tôi thực sự tự do như bây giờ.
Lẽ phải ở với những người dù nóng tính hay đằm tính, tích cực
đẩy, chữa, lái chiếc xe bò. Lẽ phải, và cả sức mạnh, ở với những người lao động,
xây dựng, chiến đấu.
Chúng ta từ một xã hội cũ và xấu thoát thai ra, nên chúng ta
hiện nay vẫn đang còn hai bậc thang đánh giá: những người hưởng thụ nhiều thì
ít hy sinh, những người hy sinh nhiều thì hưởng thụ chưa được mấy; chúng ta sẽ
làm cho chỉ còn có một bậc thang công minh trong một xã hội không có giai cấp.
Trong khi còn chưa đến đó, thì nhiều người vẫn còn lấy sự giành giật tối đa hưởng
thụ làm lẽ sống của họ. Nhưng trên tinh thần, lúc nào cũng chỉ có một bậc thang
cao cả: là hy sinh.
Sung sướng thay, vinh quang thay những đồng chí đã đến với Đảng
từ lúc tối lửa tắt đèn xưa kia, những đồng chí khổ trước thiên hạ, sướng sau
thiên hạ! Đáng kính yêu thay, quần chúng trung bình và vĩ đại, bao giờ cũng chịu
thương chịu khó như một bà mẹ, có khi trồng cây mà bị bọn láu cá hái quả ăn trước!
Cách mạng tháng Mười đã 40 năm. Cách mạng tháng Tám đã 13
năm. Tôi có thể nói với Đảng của giai cấp vô sản và của dân tộc:
Lên non em cũng theo lên,
Xuống biển em cũng ngồi bên mạn chèo.
Không những ngồi bên mạn chèo, mà trong tay dù chỉ có một cái
que cũng thọc xuống nước mà bơi, bơi đến Thống nhất Tổ quốc, Hoà bình thế giới;
bơi đến chủ nghĩa Xã hội, bơi đến chân trời Cộng sản.
10-1937
Chú thích
[1]Douanes: Thương chính, thuế quan
(nguyên chú)
[2]Thời phong kiến, ở Trung Kỳ có những
trự tiền đồng ăn ba, ăn sáu, ăn mười trự tiền kẽm. Một xu đổi được 15 đồng tiền
ăn ba. (nguyên chú)
[3]Tương đương cuối cấp Một (nguyên chú)
[4]Tương đương cấp Hai (nguyên chú)
[5]Tựa Truyện Kiều của Chu Mạnh Trinh,
Đoản Quỳ dịch (nguyên chú)
[6]Nhà văn Pháp thế kỷ 17 (nguyên chú)
[7]“Anh hùng lãng mạn” của Chateaubriand
(1749-1848) tạo ra. (nguyên chú)
[8]“Anh hùng lãng mạn” của Goethe
(1749-1832) tạo ra. (nguyên chú)
[9]Thi sĩ tượng trưng Pháp (1864-1936)
(nguyên chú)
[10]Nhà triết học Pháp (1854 – 1888)
(nguyên chú)
[11]Thơ Huy Cận (nguyên chú)
[12]Thơ Hàn Mặc Tử (nguyên chú)
[13]Thơ Nguyễn Nhược Pháp (nguyên chú)
[14]Thơ Phạm Hầu (nguyên chú)
[15]Nhà văn Pháp (1840- 1897) (nguyên
chú)
[16]Nữ thi sĩ Pháp nổi tiếng (1876-1933)
muốn “créer le plus irremplacable des êtres” (nguyên chú)
[17]Khrisnamurti, Ramakhrisna,
Vivekananda: những nhà tôn giáo Ấn Độ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 (nguyên
chú)
[18]Đăng tạp chí Thanh nghị 1944 (nguyên
chú)
[19]Võ Liêm Sơn (1888-1949) viết Cô lâu mộng
năm 1928, xuất bản năm 1934. (nguyên chú)
[20]Rút ở bài "An ủi giữa loài người"
(1939) (nguyên chú)
[21]L’Histoire prodigieuse de l’Humanité
của André Ribard (nguyên chú)
[22]Rien que la terre, tên một quyển sách
của Paul Morand
[23]Nhà văn Pháp (1850 = 1923)
[24]Thi sĩ Pháp, nặng về hình thức câu
thơ
[25]Một nhà triết học trẻ tuổi Pháp, đảng
viên Cộng sản, bị Đức Hít-le giết (nguyên chú)
[26]Thơ Huy Cận
Phần II
thế nào là cái mới?
Không say sưa vì danh từ
Trong nghệ thuật cũng như trong cuộc đời, chúng ta quý yêu
cái mới chân chính, đón chào, mong đợi, cổ võ cái mới chân chính, và cả phấn đấu
nữa để cho cái mới chân chính ra đời; chúng ta đứng về phe nó, khi nó đấu tranh
với cái cũ. Cái mới chân chính là ánh sáng của trí tuệ chúng ta. Duy có một điều,
là nó phải thực chân chính là cái mới.
Thật vậy. Chúng ta càng yêu cái Mới bao nhiêu, chúng ta càng
muốn nó “thật vàng chẳng phải thau đâu”. Chúng ta không chịu làm những trẻ con
bị nhầm vì những cái nước mạ loè loẹt. Chúng ta đã từng biết rằng những danh từ
quý báu nhất, như chữ tự do (hãy nhớ đến cái “thế giới tự do” của Mỹ),
như chữ cách mạng (Pê-tanh bán nước Pháp, mà tự cho là làm “cách mạng
quốc gia”), cũng bị lộn sòng. Trong nghệ thuật, ai cũng muốn giật cái chữ “Mới”
về phía mình, và ẩy cái tiếng “Cũ” về phía những người không đồng ý. Vậy cho
nên, chúng ta muốn lột trần trụi ra để xem thực chất các quan điểm nghệ thuật,
chứ chẳng tin ở cái nhãn hiệu, cái chiêu bài.
Thường, sinh ra trước trong thời gian thì gọi là cũ ;
sinh sau trong thời gian thì gọi là mới. Như vậy, cái giá trị há chỉ vì ra
trước với ra sau hay sao? Có những thanh niên cá biệt, tuổi tuy trẻ, nhưng tư
tưởng rất lạc hậu; trái lại, có những người đứng hay nhiều tuổi mà tự rèn luyện
theo cách mạng, tư tưởng rất tiền tiến. Trong nghệ thuật, theo ý tôi, nên nặng
về phân biệt cái đúng với cái sai, cái hay với
cái dở, nhiều hơn là tung ra những hình dung từ mới và cũ rất
dễ mập mờ đánh lộn. Có cái cũ mà rất hay như những điệu dân ca mà chế độ phong
kiến và đế quốc để rẻ rúng, mai một, nhưng ta nay “phủi cũ thấy mới”. Có những
điệu nhạc giật gân và gọi dậy thú tính, của văn hoá tư bản Mỹ, mới toanh không
giống nhạc của chúng ta một chút nào hết, mà thật là dở và xấu xa. Nghệ thuật
chân chính không chịu kiếm ăn trong tính hiếu kỳ. Chúng ta lại còn chủ trương
những tác phẩm mới của ta vẫn nối tiếp không đứt quãng với những truyền thống
cũ, đã được quần chúng, đã được dân tộc lọc lựa và thử thách lâu đời. Không phải
cái gì cũ cũng là già nua, tồi tàn, đáng vứt đi. Không phải cái gì mới cũng là
đáng hai tay rước lấy.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn rất cần thảo luận cho sáng rõ vấn đề
mới, cũ. Vì đi tìm cái Mới là một nhu cầu sinh tử của nghệ thuật, đấu tranh cho
cái Mới là một nhiệm vụ thiêng liêng của nghệ thuật. Tất cả vấn đề là ở chỗ:
cái Mới là cái gì?
Xã hội cũ có cái gì là mới?
Mỹ học của giai cấp vô sản cũng đi tìm cái mới, mà mỹ học của
giai cấp tư sản cũng đi tìm cái mới. Chính vì hai bên cũng đều có cái sự việc
“đi tìm cái mới”, nên một số người nhầm lẫn lộn phèo, không phân biệt được mới
với mới, tìm với tìm. Sự thực, cái mới mà chúng ta tìm, cũng như cách tìm cái mới
của chúng ta khác hẳn với của mỹ học tư sản.
Xã hội phong kiến và đế quốc là một xã hội cũ rích, mệt mỏi đến
tận xương tuỷ. Trong nước Việt Nam nô lệ trước Cách mạng tháng Tám, dù những
thanh niên “như trăng mới lên, như hoa mới nở”, huyết khí hăng hái, cũng cảm thấy
cái cuộc đời ao tù như nước đọng. Một không khí phai tàn, tha ma, nghĩa địa phủ
trùm lên mọi vật; dù, theo luật tự nhiên, cây vẫn ra hoa, người vẫn đẻ con, mùa
xuân vẫn đến, nhưng mà sao những tâm hồn trẻ nhất cũng cảm thấy buồn, chán, và
chết trong các tế bào của mình. Một thi sĩ mười sáu tuổi như Chế Lan Viên thuở
đó, đã thốt ra rất sâu sắc:
Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết
Những sắc màu hình ảnh của Trần Gian.
Một thi sĩ như Huy Cận, thuở đó vào khoảng mười tám tuổi, đã
phải vạch vôi vào trán xã hội:
Quanh quẩn mãi giữa vài ba giáng điệu,
Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người…
Tìm chân lý, tìm hạnh phúc trong cái xã hội đó, nhà thơ Lưu
Trọng Lư phải than:
Tìm đâu cho thấy bóng chim hồng,
Chỉ thấy lưng trời một mảnh lông…
Nhắc lại như vậy, để thấy cái cũ rích của xã hội cũ. Tìm
cái mới gì trong xã hội phong kiến, đế quốc đó? Lớp nhà văn, nhà thơ
chúng tôi khi đó chưa giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lê-nin, chưa biết nhìn thấy cái mới,
cái tương lai đang nằm trong quần chúng. Chúng tôi lặn chìm, bơi ngụp trong thế
giới trị vì của cái cũ. Vì những lý do này hay những lý do khác, một số tác phẩm
trước Cách mạng có đóng góp một phần mới đáng kể trong văn học Việt Nam, vấn đề
này ta sẽ nghiên cứu sau. Nhưng căn bản vẫn là tìm một số “cách nói mới” để diễn
tả cái cũ. Chúng tôi có “thành lập cá tính”, “phát huy độc đáo” trong một phạm
vi nào đó thật. Để làm gì? Để nói cái cũ nó rúc xương chúng tôi, nó muốn đè chết
chúng tôi! Riêng tôi còn quan niệm nhà thi sĩ, nhà nghệ sĩ là một người
khách mới đến thăm một cái nhà cũ. Mang tâm hồn hồn nhiên, tươi rói như đứa
trẻ con thấy cái gì cũng mới lạ, say mê, người thi sĩ vào cuộc đời (cũ) như một
kẻ lần đầu đến thăm nhà lạ. Hai ông chủ, bà chủ thì đã quen nhẵn từ cái phòng,
cái ghế, từ những cây trong vườn nhà mình; nhưng người khách mới đến, vì nhìn lần
đầu, và vì tâm hồn quá phong phú, nên cái gì cũng trằm trồ ngạc nhiên: “Ồ nhà
thích quá nhỉ! Ồ vườn đẹp quá nhỉ!”. Và hai ông bà chủ cũ rích nọ, lây ông
khách, cũng thấy vườn và nhà cũ rích kia là hay, là thích… Nhưng than ôi! trong
một hệ thống đời tan rã, chán chường, có thể nào người thi sĩ kia lấy tâm hồn của
mình ra mà bù mãi cho, mà đắp điếm thêm mãi cho cái khô cạn, cái tầm thường của
xã hội không? Anh ta có thể cứ rót rượu “mới” của tâm hồn mình ra, để rồi lại tự
uống lấy, mua một cái say sưa vờ mãi mãi không? Nghệ sĩ không thể tự huyễn diệu
lâu dài được; chẳng bao lâu, chính cái tâm hồn “mới” của anh cũng bị cái xã hội
áp bức bóc lột rút hết sinh khí như một cái xác ve sầu!
Ở phạm vi to lớn hơn nước Việt Nam thuộc địa, cả cái hệ thống
thế giới tư bản cụt đường tiến. Như một câu thơ cụ Võ Liêm Sơn đã nói, nó “tiến
hoá vòng quanh về vực tối”; chất độc của nó tiêm vào tâm hồn rất nhiều nhà văn;
họ thấy mọi sự đều não nuột. Từ năm 1859, nhà thi hào Pháp Baudelaire đã làm
bài thơ “Du lịch”, nói tâm trạng những kẻ đi để mà đi, thế giới dù nơi nào thì
cũng là “một khóm dừa ghê rợn trong một sa mạc chán chường” và kết thúc bằng
kêu gọi:
Hỡi thần Chết, bác lái già, đến giờ rồi, hãy nhổ neo!
Xứ sở này làm ta chán, hỡi thần Chết! Sắp buồm chèo!
… Lặn xuống đáy vực sâu, địa ngục hay thiên đường, cũng tới!
Xuống dưới đây Vô Tri để đi tìm cái mới!
Tìm cái mới! Đau đớn biết chừng nào! Tuyệt vọng như kẻ
húc đầu vào để chọc thủng một bức tường. Muốn ra sao thì ra, miễn là mới,
miễn là khác cái thường nghe, thường thấy! Không từ cả ngưỡng cửa của
thần chết, Baudelaire đi tìm cái mới như vậy là một hình thức phản kháng, chối
từ tiêu cực và cao độ cái thế giới (tư bản) mà ông sống. Nhưng nhiều nghệ sĩ
khác vẫn cứ còn le lói hy vọng, mong tìm thấy thuốc tiên cải lão hoàn đồng
trong hệ thống tinh thần của thế giới tư bản, ở những sự sắp xếp vần chữ, màu sắc
hay âm thanh, mong rằng từ những cuộc xổ số hình thức này, may ra trúng cái số
độc đắc của thiên tài!
Mỹ học của giai cấp tư sản tìm một con đường thoát
trong mới chủ nghĩa, trong “chủ nghĩa tân thời”. Hệ thống tinh thần và tư
tưởng của giai cấp tư sản không thể có một nội dung gì mới nữa; còn có cái nội
dung tinh thần nào mới trong sự bóc lột lợi nhuận tối đa? trong sự bần cùng hoá
quần chúng nhân dân? trong sự chuẩn bị chiến tranh ăn cướp? Nếu trong những nước
tư bản, một nền nghệ thuật nào còn sống và nảy nở, sinh được những tác phẩm lớn,
thì nền nghệ thuật đó đã hướng về nhân dân và tiến bộ. Mặt khác, chúng ta cũng
phân biệt những nghệ sĩ không có dụng ý xấu, nhưng bị lôi cuốn vì cái thế của
chung quanh, bị chi phối rất đau đớn vì cái luật của đồng tiền. Còn thì nghệ
thuật tư sản, hắn tìm cách tự cứu điên cuồng bằng sự loè công chúng. Nó căng hết
sức lực và tung nhiều tiền bạc vào sự tìm tòi cái mới hình thức, đập mạnh vào
tính hiếu kỳ của công chúng, luôn luôn tìm đào kép mới, lấy sự rực rỡ của quần
áo, phông cảnh, đùi non luôn luôn thay đổi để đắp điếm cho nội dung nghèo thảm
hại. Không có đồ ăn tinh thần để nuôi tư tưởng và tình cảm, nó kích thích vào cảm
xúc, cảm giác, vào tình dục, vào thú tính; tìm và tìm những cái mới, mới mãi, đủ
các thứ “nguyên tử” trên đời! “Hãy sáng chế cái điệu của ngày mai, hay hơn nữa,
cái điệu của ngày kia… Hãy sáng chế cái điệu tối cao nguyên tử hay “cái điệu của
sao Hoả tinh”, và chớ quên rằng đừng cho ai hiểu được nhạc của anh, và anh hiểu
nó ít hơn ai hết” [1]. Chẳng lẽ mỹ học tư sản nói rằng cần kính yêu con người, cần
làm cho ai cũng thưởng thức được nghệ thuật; chẳng lẽ nó nói rằng cá nhân tự thổi
phồng mình xa lìa tập thể sẽ vỡ như một bong bóng; chẳng lẽ nó chửi chiến
tranh! Căn bản nó không có cái gì mới để nói, nên nó đi tìm cái mới trong cái lạ.
Chúng ta đừng nhầm cái mới với cái lạ. Trên
thân mình tan rữa của chủ nghĩa tư bản, nảy ra rất nhiều cái lạ. Trên quá
trình tan rữa của nó, ngày hôm sau lại nảy ra một cái tan rữa “mới” hơn ngày
hôm trước. Trước còn lấy sự làm người khác đau là một thú vui (bệnh sadisme),
sau nảy ra một cái “mới” hơn nhiều: là băm vằm kẻ cùng hành lạc với mình thì mới
thích (bệnh masochisme). Trước còn là những tác phẩm quái trạng của những
người “trừu tượng chủ nghĩa”, sau thì quay một cái bánh xe có buộc những đồ hộp
tô đủ sắc, đồng thời quay tròn một cái hình tam giác với những mẩu giấy màu, để
cho phát ra những tiếng động xè xè và các tờ giấy bay vù chung quanh các cái hộp [2], và gọi đó là “tác phẩm” vô cùng mới, kết hợp được màu sắc và
âm điệu. Hay là bày ra những trò chơi tâm lý “mới”, hay là tạo ra những cá tính
ngổ ngáo “mới”… Tất cả những cái đó “lạ” thật, đế quốc Mỹ hứa hẹn còn đẻ ra lắm
“cái lạ cuối cùng” nữa; nhưng những thứ tìm lối ấy, thực ra, có “mới” không? Nó
rất lạ, nhưng rất cũ; nó là những nảy nở trong thời gian của một hệ thống xã hội,
tinh thần, nghệ thuật cũ rích, tan rã; nó không mới một chút nào.
Trong xã hội của ta, những thứ tìm tòi chuyên chú vào hình thức,
vào kỹ thuật, thần thánh hoá cá tính của nghệ sĩ, đặt nghệ sĩ trên quần chúng
nhân dân, những thứ tìm tòi lệch lạc đó cũng là “nước trong một giếng múc ra” với
mỹ học tư sản.
Cái mới trước tiên ở trong thực tại khách quan cách mạng
Theo ý tôi, những người nghệ sĩ trong chế độ chúng ta, trong
nhiệm vụ đẹp đẽ của mình đi tìm cái Mới chân chính, cần phải thấy trước tiên rằng:
tuy ở trong nghệ thuật, vai trò của nhân tài rất quan trọng, và vai trò của
thiên tài lại càng quan trọng đến cao độ, nhưng cái Mới căn bản, cái Mới có trước
cần phải tìm để đưa vào tác phẩm, chính là cái Mới của thực tại khách quan cách
mạng. Quần chúng cách mạng làm nên cái mới trong xã hội chúng ta, làm nên cái
chất mới trong cuộc đời này; đi tìm cái mới cho nghệ thuật, trước tiên là đi
nghiên cứu sức sáng tạo của quần chúng. Muốn có cái mới ở trong tâm hồn để làm
nên một nghệ thuật mới, để “chủ động thành lập nên sự thẩm mỹ mới”, [3] thì phải xé toang cho kỳ hết cái lưới sương mù tự huyễn
diệu của sự kiêu căng cá nhân, phải giác ngộ vào tận xương tuỷ tất cả cái mới ở
trên miền Bắc nước ta và ở các nước phe xã hội chủ nghĩa chúng ta… Không phải
chỉ tự phụ rằng mình đã hiểu chủ nghĩa Mác–Lê-nin lắm rồi, và thốt ra: “Biết rồi,
khổ lắm! nói mãi!”, mà phải thành tâm thành ý cảm vào đến tận máu rằng cái
chính quyền dân chủ nhân dân, hay cái chính quyền xô viết này mãi đến thế kỷ 20
mới nảy ra được. Phải cảm nghe như nhân loại ở trong bản thân mình, và chính
mình đã bị đánh, bị chém trong vạn đời, bây giờ tay mình mới nắm được cái chính
quyền của mình. Cái chính quyền kiểu mới này, nó là đứa con mới nhất
của giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Và Đảng kiểu mới của chúng
ta, bản chất cũng thật mới, không giống những kiểu đảng cũ nào trong lịch sử.
Chỉ sợ mắt của ta còn mơ hồ nửa tỉnh nửa mê, chứ đừng sợ cuộc đời này thiếu cái
mới cho ta nhìn. Ta hãy nhìn đi, ngắm đi sự sinh sôi nảy nở của con người
kiểu mới. Ta hãy chực rình mà bắt gặp con người ấy cho được.
Thiếu cơm, thiếu súng mà anh dũng như quân đội nhân dân của
ta, đó là một cái mới lớn lao. Trên nền của sự anh dũng đó, năm 1950 ở trận
Đông Khê, lại đột xuất cái anh dũng mới của La Văn Cầu chặt cánh tay phá lô-cốt
địch; năm 1954, ở Điện Biên Phủ, lại xuất hiện một điển hình anh dũng mới khác:
Phan Đình Giót lấy mình lấp lỗ châu mai. Từ những người nô lệ kéo cày, những
người thợ đứng hầu cái máy, đã chuyển sang cái lao động mới “mình làm mình hưởng”
thay đổi cả bộ mặt cuộc đời. Nhưng nhân loại còn phải phấn đấu lâu và khó lắm mới
thiết lập được cái lao động kiểu mới vô cùng mới mẻ, không đòi một sự
trả công nào, một thứ lao động do cảm giác cần làm việc vì lợi ích của tập thể,
và đáp ứng với nhu cầu của cơ thể lành mạnh, cái lao động cộng sản chủ nghĩa mà
Lê-nin đã đề ra.
Thật là đẹp đẽ, nếu đúng như lời bạn Văn Cao, các nhà nghệ sĩ
tập trung được “tất cả giấc mơ và khát vọng của con người làm thành một mũi nhọn
kéo lê đi phía sau cả cái thực tế chậm chạp” [4]. Nhưng cho đến nay, thì ngay cả ở Liên Xô, nghệ thuật đã sinh
ra bao nhiêu tác phẩm rất lớn chiếu toả được trên văn nghệ thế giới, mà nhìn
chung vẫn còn bị cuộc đời xô viết bỏ ở sau; còn ở nước ta, thì nghệ sĩ tuy có
nhiều thành tựu rất đáng quý, vẫn chưa nói được trong muôn một cái mới, cái hay
của thời đại. Nghệ sĩ muốn tiến lên được phía trước thời đại, thì trước nhất phải
ý thức rằng mình đang bị thời đại bỏ xa, phải lo mà chạy cho kịp, để rồi mà vượt
thời đại. Cũng theo cái biện chứng ấy, các nhà văn, nhà thơ muốn viết cho người
đời sau, thì phương pháp bảo đảm thành công nhất là hãy thoả mãn được cái mức của
người thời bây giờ đã. Cái mức đòi hỏi bây giờ đó không phải thấp đâu. Chúng ta
để ý mà xem, từng ba tháng một, từng sáu tháng một, cái mức thẩm mỹ của công
chúng Việt Nam ta hiện nay cứ lên vòn vọt. Chúng ta không nên buồn vì da gấu
không bán được, trước khi săn được gấu. Những Bá Nha cứ sáng tác đi, lo gì quần
chúng thiếu Chung Tử Kỳ.
Thật vậy, chỉ sợ nghệ sĩ bịt tai bưng mắt mình lại thôi, chỉ
sợ nghệ sĩ thiếu tài và thiếu tình, chứ mỗi một ngày, xã hội ta đổ ra biết bao
là vất vả gian lao và sinh ra bao nhiêu cái hay, cái đẹp, cái mới (mặc dầu có
những sai lầm, khuyết điểm). Riêng tôi, tôi đã cất giữ khá nhiều tờ báo hàng
ngày, bởi vì những tin tức trong đó mang nhiều sáng tạo quá. Biết bao cái mới nằm
trong một bài báo – chẳng hạn, như bài “Sức người và tiếng máy” [5] ; mỗi dòng tin xứng đáng một bài thơ mà tôi không có tài
để làm nổi: “- Từ Hà Nội đã có tiếng còi xe lửa toả đi bốn phương miền Bắc –
Hai nhà máy thuỷ điện nghiêng bóng bên dòng sông Nguyên Bình – Nước máy đã thay
cho nước sông ở thị xã Hải Dương, Thanh Hoá, Nam Định - Đào sâu xuống hơn 25
thước, tia nước giấu kín trong lòng hòn đảo Cát Bà vút lên trắng xoá, mến yêu
như dòng sữa mẹ hiền. Nước dâng lên, anh em đổ bê tông chung quanh giếng, làm một
nhà bơm nước bắt vòi nước về nhà máy và công trường. Người dân Cát Bà đời này
sang đời khác mới được thấy giếng nước ngọt và nhà máy lần đầu tiên – Tàu của
ta cũng lần đầu tiên vượt biển đến Quảng Châu nhiều lần. Thuyền trưởng, thuyền
phó và thuỷ thủ của ta điều khiển hoàn toàn tàu chạy biển. Họ bỏ bộ quần áo
nâu, áo xanh kháng chiến, mặc vào bộ áo quần thuỷ thủ màu trắng. Lần đầu tiên
vượt khơi Hải Nam, sóng dữ gió to, họ vật lộn với thiên nhiên, thắng những luồng
nước hung hãn…”. Tha hồ cho nhà văn tìm cái mới! Toàn là những “lần đầu tiên”.
Quần chúng đòi hỏi văn nghệ của ta trước tiên phải diễn đạt
những cái mới kia, trong muôn ngàn cái mới khác. (Cố nhiên phải diễn đạt cho
hay). Không! chúng ta thiếu tài diễn đạt, diễn đạt xoàng, đó là một việc khác;
chứ chúng ta không thể trước tiên đi tìm cái mới trong bản thân mình, mà chối
cãi cái mới là trước tiên ở trong thực tại cách mạng khách quan. Chúng ta đừng
có gạt bỏ cái mới của chế độ ta như con gà đứng trên một đống thóc, vừa mổ thóc
ăn, vừa hai chân cứ bươi quào làm như là không phải đứng trên đống thóc. Chúng
ta hoan nghênh những người bạn chê chúng ta phạm sơ lược, công thức, để đến nỗi
những cái mới do nhân dân ta sáng tạo xỉn lại dưới ngòi bút chúng ta. Nhưng
chúng ta phản đối và đập lại những kẻ chê tất cả cuộc đời chúng ta là sơ lược,
là công thức, đoàn kết phấn đấu là công thức, bảo vệ Đảng là công thức, yêu
Liên Xô là công thức…; những người nói như vậy vô tình đã lặp theo luận điệu của
bọn thù hằn chúng ta, với bọn đó thì ta chỉ có một con đường để chữa công thức,
là phải thay cả tư tưởng và chế độ!
Quý biết bao, nhà thi sĩ nào khám phá ra một cách mới mẻ nhìn
trời xanh của muôn đời. Nhưng cao quý hơn nhiều, là nhà thi sĩ nào như Hăng-ri
Hai-nơ (Heinrich Heine), [6] biết nắm ngay lấy cái mới toanh của lịch sử vừa nẩy mầm
trong thời đại mình, và đưa vào những vần thơ tuyệt diệu. Cuộc nổi loạn của những
người thợ dệt miền Xi-lê-di (Đức), theo Mác phân tích, không giống tất cả những
cuộc nổi loạn về trước của thợ thuyền ở Pháp, ở Anh; đây là lần đầu tiên trong
lịch sử, thợ thuyền nổi loạn không đơn thuần đòi áo cơm, mà nổi loạn với ý thức
của giai cấp vô sản. Thi sĩ Hăng-ri Hai-nơ nhìn thấy được cái mới đó, và làm
bài thơ bất hủ “Những người thợ dệt”, đăng báo năm 1844; nhiều thi sĩ đồng thời
với Heine cũng làm đề tài đó, nhưng không một ai biết nhìn thấy như Heine cái tầm
quan trọng xã hội của cuộc nổi loạn, biết như Heine cổ võ giai cấp thợ là kẻ
đào huyệt chôn chế độ hiện hành. Đó là một điển hình đi tìm cái mới của văn nghệ
sĩ.
Xé được cái màn tự cao tự đại cá nhân, nó cản trở sự cảm
thông giữa nghệ sĩ và nhân quần, người sáng tác sẽ thấy tất cả những cái mới
sáng loá trước mắt; anh sẽ không đối lập cái mới của tâm hồn anh với cái mới của
thế giới, của xã hội và giành lấy phần hơn. Anh sẽ khiêm tốn nói như nhạc sĩ
Gơ-lin-ca (Glinka): “Chính quần chúng nhân dân sáng tạo âm nhạc, và chúng ta những
nghệ sĩ làm công việc sắp xếp”. Mặc dầu Glinka nói vậy, có ai cất công sáng tạo
của Glinka đâu. Nhưng chính nhờ Glinka có một ý thức cao về quần chúng như vậy,
Glinka mới thành đại nhạc sĩ.
Cái mới trong tác phẩm cũng do tài năng, do tìm tòi, nghiên cứu
và diễn tả của nghệ sĩ, dựa trên cái mới khách quan
Phải đi tìm cái mới cho nghệ thuật trước tiên trong thực tại
cách mạng, trong quần chúng, chân lý đó có thể khẳng định. Nhưng chúng ta cũng
không được lệch, mà không thấy vai trò rất quan trọng của cá nhân nghệ sĩ.
Muốn có tác phẩm, thì phải có tác giả. Phải có tác giả có
tài, có nghiên cứu đúng đắn thực tế và nắm vững kỹ thuật diễn đạt. Những câu
chuyện sinh động nhất của Kháng chiến cũng trở thành tầm thường dưới tay một
người viết dở. Muôn ngàn màu sắc rõ ràng của thời đại cũng bay đi mất, nếu hoạ
sĩ không biết bắt lấy vào tranh. Không phải hễ bản chất sự việc là mới, là hay,
thì tác phẩm nói đến nó thế tất là hay, là mới. Dụng ý tốt không đủ để tác phẩm
khỏi làm độc giả chán phèo.
Tâm hồn người nghệ sĩ phải quyện, phải xe vào thực tại; tự chỗ
quyện xe của tâm hồn và thực tại, mà nảy ra tác phẩm. Không có dâu thì tằm chết,
không có tằm thì cũng chẳng ra tơ. Chúng ta không thể coi nhẹ con tằm, là nhà
nghệ sĩ. Những nghệ sĩ có tài đem điệu cảm xúc của mình hoà kết vào chất liệu của
vấn đề, đẻ ra những tác phẩm cụ thể hoá và cá thể hoá, có mang tên người làm,
không trộn lẫn được. Có năng khiếu rồi (nếu không có năng khiếu thì không nên
làm việc sáng tạo nghệ thuật, sẽ mất công vô ích), nghệ sĩ còn phải lao động cật
lực, nghiên cứu để hiểu rất sâu cuộc sống. Anh phải tìm ra những khía cạnh mà
chưa ai thấy được. Anh phải tìm ra những cách rất mới để diễn tả những cái
thông thường mà mọi người đã thấy. Nghệ sĩ phải diễn đạt thực tại cách thế nào
để cho chân tướng của nó lồ lộ, trẻ mãi. Những thiên tài văn nghệ tạo ra được đến
cao độ, cái chất “tự phóng xạ” ấy của tác phẩm; hàng trăm, hàng nghìn năm sau,
một bài thơ hay vẫn cứ phát ra những tia hấp dẫn, đem khoan khoái đến cho người
đọc. (Những tác phẩm “tự phóng xạ” như thế, nhất định chủ nghĩa hình thức không
thể nào tạo ra được, mà phải là tư tưởng và tình cảm của thi hào tha thiết với
đời sống con người, diễn đạt bằng những chữ, những lời không thể mục nát).
Chính tài năng và những sự tìm tòi của tác giả, chính tâm hồn
tác giả đóng được một con dấu riêng vào những sự vật chung. Nhưng trong tác phẩm,
công chúng yêu thích cả vừa cuộc sống, và cả vừa tác giả. Người ta không thể
yêu tác giả mà không có cuộc sống. Con dấu riêng rất quý báu kia không thể đóng
trên không khí. Con tằm không thể tự một mình nhả ra nước bọt, mà phải ăn dâu của
thực tại để nhả ra tơ. Cái tài năng không thể là một cái khung trống rỗng, mà
phải diễn đạt một cái gì, một nội dung. Thần thánh hoá tài năng của nghệ sĩ, là
đưa nghệ thuật vào chỗ siêu hình, duy tâm, vào chỗ tắc tỵ, vào đường chết.
Dù là tâm hồn của một thiên tài đi nữa, tâm hồn đó cũng chỉ
có được là vì có thực tại khách quan. Một nhà thơ được mến yêu, vì anh có một
điệu tâm hồn khi diễn đạt cuộc sống, vì anh nói tâm hồn của anh trong đó có tâm
hồn muôn người. Nhưng dù anh là nhà thơ trữ tình, nếu anh chỉ nói tâm hồn cá
nhân chủ nghĩa của anh, trong đó chỉ có anh ngổ ngáo huênh hoang, hoặc cùng lắm
là có thêm một nhúm người như anh ba hoa nói phét, thì không có một vạn người
nào thích hết. Ngồi nạo tâm hồn ra, thì trong đó chỉ có cái tự phụ mà thôi. Lịch
sử văn học hiện đại của ta đã chứng minh rằng: khi một số thi sĩ, trước Cách mạng
tháng Tám (và hiện nay ở miền Nam) cứ đi mãi trên con đường “lấy mình làm đề
tài”, thì cuối cùng hết chuyện khôn dồn sang chuyện dại, thi sĩ bắt thiên hạ
xem ghẻ lở của mình, ca tụng thuốc phiện và sa đoạ; thậm chí có trường hợp tác
giả ở miền Nam hiện nay ca ngợi nguỵ binh của Diệm là những anh hùng “dẹp loạn”!
Hiện nay ở miền Bắc nước ta, thực tại khách quan cách mạng mới
vô cùng. Nghệ sĩ dù có tài, mà bị bệnh phù thũng của cái “tôi”, rúc đầu vào
cánh như chim đà điểu, thì cũng không tìm ra được cái gì mới.
Tìm tòi cần đúng hướng
Không tìm tòi, thì làm sao có được tác phẩm nghệ thuật? Những
tác giả lớn là những người lao động nghệ thuật không biết mệt, những người khám
phá, mở đường, và mở đường đúng.
Vậy, như thế nào là tìm tòi đúng, tìm tòi theo mỹ học của
giai cấp vô sản? Chúng ta trước hết tìm tòi nội dung, tìm tòi trong quần chúng,
đã đành. Chúng ta còn phải tìm tòi rất nhiều về hình thức, về kỹ thuật nữa.
Không có hình thức, thì cũng không có nghệ thuật. Phải có một hình thức đẹp đẽ,
tương xứng với nội dung mới, làm công chúng yêu mến, say sưa. Rất sai lầm là
người nào khinh kỹ thuật.
Tuy nhiên, hình thức, kỹ thuật của ta cũng xây dựng trên cơ sở
quần chúng. Bạn Văn Cao có đề ra việc “thành lập nên sự thẩm mỹ mới”. Theo ý
tôi, “thẩm mỹ mới”, tức là thẩm mỹ trên cơ sở quần chúng. Một số người đang tìm
tòi, đốt đuốc tìm cả giữa ban ngày, thì tưởng rằng người khác cầu an, lười,
không biết tìm tòi như mình. Có người tìm tòi cho kỳ khu, cho khúc mắc, khó
khăn; càng tìm tòi, họ càng đi xa vào trong rừng cô đơn, lập dị; họ tìm cách
làm cho khó hiểu, lấy đó là một thứ độc đáo, cao siêu; cái gì dễ hiểu đối với họ
là tầm thường, là cũ như đồ cũ. Lại có người tìm tòi cho câu thơ của mình thật
đơn giản, như La Phông-ten (La Fontaine) [7] nói: “Tôi vất vả lắm mới làm được những câu thơ dễ
dàng”. Nguyễn Du mà không đổ máu mắt để làm cho Truyện Kiều dễ nhớ, dễ
thuộc, dễ truyền cảm à? Những người tìm tòi loại sau này, khi có một nội dung
nào, thì gắng hết sức diễn đạt nó cho hàng vạn người thích được; như vậy cũng
chưa đủ, họ lại tìm tòi nữa để cho hàng triệu người có thể thích được. Dĩ nhiên
chúng ta không máy móc đòi tất cả các tác phẩm đều phải được mọi người hiểu
ngay; còn phải nhìn thấy trình độ của quần chúng cụ thể; lại có những tác phẩm
nặng về nâng cao. Nhưng đứng về hai phương hướng tìm tòi, thì hướng nào hơn?
Ngay thầy Mạnh Tử xưa đã đặt câu hỏi: “Cùng ít người vui nhạc, với lại cùng quần
chúng vui nhạc, cái nào vui hơn?” Câu trả lời quá rõ.
Có vài người lấy nê rằng: “Cuộc sống bây giờ mới quá, không
thể diễn đạt theo lối thông thường [8] được”. Họ bèn tìm tòi những cách rất khó khăn để diễn đạt
cái mới. Lý luận thật là mỉa mai! Cái mới của thời đại này, chính quần chúng
làm ra, chứ không phải anh với tôi; thế mà lại diễn đạt cái mới một cách thế
nào để cho quần chúng không hiểu được!
Có vài người lại nói: “Thời đại này là thời đại nguyên tử, mọi
việc đều phải mới theo”. Muốn nói đúng hơn, phải nói: thời đại này là thời đại
của quần chúng nhân dân; còn sức nguyên tử là một năng lượng vĩ đại mà quần
chúng nhân dân sẽ nắm lấy để dùng. Phải làm theo quần chúng, chứ không phải làm
theo nguyên tử. Thời đại nguyên tử, nhưng trái tim không nguyên tử! Văn nghệ
nguyên tử là thứ văn nghệ gì?
Thẩm mỹ mới của chúng ta là thế đó, thẩm mỹ cho hàng vạn,
hàng triệu người lao động, họ là tinh hoa của đất nước, chứ không phải thẩm mỹ
cho một số nhỏ người béo phị vì ngồi ăn bám [9], hay cho một nhúm người coi nghệ thuật là vương quốc riêng của
mình. Bởi vậy cho nên thẩm mỹ mới, là nâng cao trên cơ sở phổ cập.
Ý nghĩa của văn nghệ mới
Tìm những cách nhìn trời xanh, tìm những cách diễn đạt màu trời
xanh; tìm những cách nói cái mênh mông của hạt bụi và của hằn bánh xe; chúng ta
quý yêu vô cùng cái nghệ thuật dạy cho ta biết ngắm nhìn và suy nghĩ về cái
mênh mông của trời đất, của sự sống. Xưa có một ông vua Trung Quốc ao ước và bắt
thợ làm đồ sứ của y pha chế cho ra một thứ men xanh như trời trong sáng sau cơn
mưa (vũ hậu thiên quang). Nhưng thợ làm đồ sứ không tài nào pha chế nổi (họ
có bị chặt đầu hay không, thì không thấy nói). Một nhà thơ Trung Quốc xưa kể lại
chuyện đó và khen người yêu: “Em Yến Hoa, đôi mắt em chiều nay đúng là giấc mơ
của thiên tử, như trời trong sáng sau cơn mưa”. Thật là tinh vi!
Chúng ta còn viết cả về cách uống rượu cho ngon, cách pha trà
cho thanh khiết, và theo đà giầu có của kinh tế, ta còn ca ngợi nước hoa thật
ngát, và làm thơ yêu cầu chế thật nhiều son phấn hảo hạng cho mọi thiếu nữ sẽ
thành những nàng tiên. Chúng ta cũng rất quý yêu cái nghệ thuật dạy cho ta biết
hưởng thụ cuộc đời.
Đó là những việc mà văn nghệ muôn đời đã làm, văn nghệ của ta
cũng nối tiếp cái gia tài tìm tòi kia, dần dần làm cho trái đất này thành một
thiên đường. Trong chế độ ta, những nghệ sĩ làm những công việc “muôn đời” như
thế, ta hoan nghênh.
Nhưng do vì trên đời này còn có rất nhiều người chết đói, nhiều
nước phải nô lệ, do vì trên nước ta, một nửa còn chưa giải phóng, do vì nhân loại
còn phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt lâu lắm nữa, mới làm cho mọi người có được
bánh ăn và hoa hồng, do vì thế nên ta muốn rằng văn nghệ của ta không những ngắm
nhìn, tìm hiểu và hưởng thụ cuộc sống, mà văn nghệ còn xắn tay áo lăn vào trực
tiếp đẩy bánh xe lịch sử với quần chúng, văn nghệ phải thành vũ khí trực tiếp đấu
tranh, văn nghệ phải cải tạo thế giới. Cái mới vô cùng, không văn nghệ cũ
nào, không văn nghệ tư sản nào bì nổi, của văn nghệ hiện thực xã hội chủ nghĩa
chúng ta, là đấu tranh cho Đảng kiểu mới, chính quyền kiểu mới, con người kiểu
mới, và lao động kiểu mới.
Cái then chốt của nhân văn cộng sản là vô cùng yêu mến con
người lao động (chứ không phải con người chung chung bao gồm cả con người áp bức
bóc lột đang ở địa vị áp bức bóc lột), điều mà chủ nghĩa nhân văn trước đây
không thể quan niệm đầy đủ và triệt để. Bởi vậy cho nên, với chúng ta, nghệ thuật
rất quý, nhưng nghệ thuật không thể quý hơn con người. Không thể nói như bạn
Văn Cao: “Khốn nỗi những người đọc của chúng ta lại cứ muốn tìm trong cái đám
đông người một bộ mặt có thể ưa thích được”. Đám đông nào? Có Tây đế quốc và địa
chủ ác bá trong đó không? Sao lại không nhận thấy trong quần chúng ấy, mỗi bộ mặt
có một vẻ đáng mến riêng, mỗi bộ mặt đều thông minh và rất phân biệt người này
với người khác, mỗi bộ mặt đều có thể dạy cho ta rất nhiều về cuộc đời, có những
bộ mặt đẹp nữa; tại mắt nghệ sĩ không nhìn thấy nổi, chứ không phải lại “bá
tánh” này là khu đen! Cũng không thể nói: “Tấm bia trên mồ một người đã khuất
có lẽ còn ở lâu trên mặt đất hơn một cuộc đời”. Mỹ học của chúng ta không bắt
hàng vạn người chết để xây Kim tự tháp, không bóc da người đem thuộc đi để bọc
bìa sách, không đặt sọ người làm đồ chơi trên bàn; một người chỉ sống trong khoảng
trăm năm, còn tác phẩm nghệ thuật đẹp thì được con người bảo quản mãi, hai việc
đó sao lại đem so sánh nhau? Sao lại nói đá đẹp thì quý hơn người?
Khi Văn Cao nói: “Yêu những người biết thất bại mà dám mở đường”,
tôi hiểu ý bạn muốn nói rằng đường đã đúng thì cứ táo bạo mà đi, đừng lo sợ thất
bại, ta thất bại đã có kẻ khác tiếp tục tìm. Như vậy thì tôi rất đồng ý. Những
người mở đường trong nghệ thuật mà vì lý do gì đó thất bại, ta vẫn mến, vì ta
khuyến khích những thí nghiệm thành tâm. Nhưng người biết là thất bại (vì sai
hướng) mà cứ mở đường liều, là anh hùng chủ nghĩa rẻ tiền mà ta không dung thứ.
Mở đường trong nghệ thuật để phục vụ nhân dân, chứ không phải mở đường để mà mở
đường.
°
Không say sưa vì danh từ. Không dùng những chữ “cũ” để ném đá
nhau, không đeo những chữ “mới” như chiêu bài trước ngực. Nghệ thuật là một cuộc
tranh đấu không ngừng; cái mớ bòng bong “mới cũ” rất dễ lộn, dễ nhầm, chúng ta
tinh tường, sáng suốt mà phân biệt cho ra.
Những người sáng tạo văn nghệ trong chế độ yêu quý của chúng
ta! Hãy táo tạo và vững chãi, hãy tân kỳ và đúng đắn tìm cái mới đi! Đừng có để
cái mới mẻ của thời đại cười chê cái tẻ nhạt trong nghệ thuật! Mở to đôi cánh của
trí tưởng tượng! Vào trong thực tế mà tung thâm! Rèn luyện nghề của mình đi!
Đưa cho được vào tác phẩm cái mới chân chính mà nhân dân đòi hỏi!
8-1957
Chú thích
[1]Lời nhạc sĩ người Áo Ernst Toch, định cư tại Mỹ, chế giễu chủ
nghĩa tân thời trong âm nhạc (nguyên chú)
[2]Xem bài diễn văn của Sê-pi-lốp đọc ở Đại hội các nhà mỹ thuật
Liên xô lần I (nguyên chú)
[3]Xem bài “Một vài ý nghĩ về thơ” của Văn Cao (Văn nghệ số 3)
(nguyên chú)
[4]Xem bài “Một vài ý nghĩ về thơ” của Văn Cao (Văn nghệ số 3)
(nguyên chú)
[5]Của Trần Việt, báo Nhân dân ngày 1-1-1957 (nguyên chú)
[6]Hăng-ri-Hai-nơ (1797-1856), nhà thơ lớn nhất nước Đức sau
Goethe (nguyên chú)
[7]Nhà thơ ở thế kỷ 17, làm những ngụ ngôn rất hay (nguyên chú)
[8]Xin chú ý: thông thường không phải là tầm thường. Thông thường
vẫn có thể rất mới, rất hay. (nguyên chú)
[9]Viết thoát theo ý của Lê-nin (nguyên chú)
Phần III
Cái Mới trong văn học của chúng ta
Chúng ta không ngừng làm một cuộc đấu tranh tư tưởng để bênh
vực, cổ vũ nền văn học mới của chúng ta. Như vậy, không phải chúng ta huyên
truyền, lấy không làm có, nói lấy được; cũng không phải chúng ta chỉ đem một
lòng tin, một cách chủ quan, tự huyễn diệu mình là đủ. Mà chúng ta thấy rất
chính xác rằng cái xã hội tiến dần lên chủ nghĩa xã hội tốt đẹp của ta thế tất
cần và phải xây dựng được một nền văn hoá, một nền văn học mới mẻ từ trong bản
chất. Nhưng cố nhiên, con đường xây dựng đó không phải là chóng vánh, dễ dàng.
Nhưng vấn đề không nên nhầm lẫn
Một nỗi thắc mắc khá phổ biến hiện nay là: − Tại sao văn học
cách mạng chưa có tác phẩm lớn?
Người ta hỏi như vậy và tìm cách giải đáp. Nhưng cũng có một
số nhỏ người hỏi như vậy rồi đâm ra hoang mang, dao động về đường hướng của nền
văn học mới; dần dần như hình thành một khuynh hướng “xét lại” những nguyên lý
của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về xây dựng văn học.
Ta cần phải, trước hết, nói thật với công chúng rằng: − Trong
kinh tế, ta đã thấy là rất sai cái ảo tưởng của những năm đầu hoà bình, rằng
khi Cách mạng đã thắng lợi, đuổi được đế quốc, đánh đổ được giai cấp địa chủ rồi,
thì đời sống có nhiều thịt, sữa, hoa, gối cưới, và pô-pơ-lin [1] ngay;
những thứ sung sướng này, thực ra, chỉ có thể có được dần dần, và có theo tốc độ
tăng của năng suất lao động tự giác. Trong văn học cũng vậy, không phải là dễ
làm cho những sự nghiệp oai hùng, cao cả của quần chúng cách mạng thể hiện được
ngay vào trong những tác phẩm vĩ đại tương xứng. Cần phải cần cù lao động nghệ
thuật, cần phải nghiên cứu cuộc sống mới, cần phải học tập những tinh hoa, ưu
tú của văn học cổ kim, cần phải kiên nhẫn nuôi dưỡng nhân tài. Chúng ta có rất
nhiều nỗi khó khăn của một nền văn học hãy còn trẻ tuổi. Nhưng không vì những
khó khăn đó mà nhầm lẫn vấn đề, mà sốt ruột bỏ cái đường lối đúng mà ta đang
đi, để đâm quáng đâm quàng, bổ ngả bổ nghiêng vào hố, vào vực.
Tại sao văn học cách mạng chưa có những tác phẩm đạt tới mức
độ nghệ thuật nhuần nhuyễn như một số tác phẩm [2] trước
Cách mạng? Có nhiều lý do; nhưng lý do mấu chốt ở đây, theo ý tôi, vẫn là: “vấn
đề cán bộ quyết định tất cả”, tức là vấn đề phải có một loạt nhà văn của thời đại.
Thời đại mới của chúng ta cần phải có những nhà văn của nó; mà việc “đào tạo
cán bộ” ấy đòi hỏi một thời gian. Thời đại cũ, dưới Pháp thuộc và phong kiến, nếu
ta chỉ kể có từ 1900 trở đi, cũng đã phải mất trên dưới ba mươi năm để đào tạo
ra cái loạt nhà văn, nhà thơ của phong trào văn học khá rầm rộ khoảng 1930 -
45. Lấy thơ làm ví dụ, thì lớp thi sĩ của phong trào “thơ mới” (1932-45) là đẻ
ra đã hít thở cái buồn của chiến tranh 1914-18; họ lớn lên, và trong tuổi biết
khôn, tuổi dậy thì của họ, là tuổi nhiều xúc cảm nhất, tuổi nẩy nở các mầm tài
năng, thì xã hội đã bày sẵn ra trước mắt họ một cảnh bế tắc nghiêm trọng rồi.
Vào tuổi trẻ, họ thốt ra thơ, thì thơ họ đã làm một với tiếng kêu thương của thời
đại. Một mặt khác, lớp thi sĩ đó, vô hình trung hay có ý thức, được đào tạo qua
cả một quá trình vài chục năm thành công hay thất bại của nhiều thi sĩ trước họ,
như Hải Nam Đoàn Như Khuê, Á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Mạnh Bổng, v.v… và bao
nhiêu người khác đăng thơ trên các mục “Văn uyển” hồi bấy giờ. Cái buồn lãng mạn
cá nhân chủ nghĩa của họ vốn đã được giáo đầu từ trước trong những Giọt lệ
thu của bà Tương Phố, trong những nỗi lòng của Tố Tâm, Đạm Thuỷ,
và nhất là, trước họ, thi sĩ Tản Đà (1888-1938) đã gặt, bó một mùa hoa buồn đời:
“Sầu không có mối, cắt sao cho đứt; sầu không có khối, đập sao cho tan…”. Có thể
nói: cái hắt hiu của thời đại cũ đã lọc qua mấy lớp thi nhân và chảy vào đến
tâm thần thế hệ thi sĩ 1932-45, thì đã đến lúc cô đọng, tập trung, như trở
thành một thứ “tinh tuý” vậy. Quá trình “đào tạo cán bộ” của văn học trước Cách
mạng thật khá dài. Trong hệ thống xã hội trước kia, văn học cũ là một sự gặt
mùa, trong hệ thống xã hội của ta hiện giờ, văn học mới, trên đại cục, là hãy
còn tiếp tục gieo hạt. Như vậy, chúng ta có thể cắt nghĩa dễ dàng cái nhuần
nhuyễn của một số tác phẩm trước Cách mạng. Thời đại cũ không những đã sản sinh
một lớp nhà văn ra tự trong lòng nó; nó lại còn đứng dừng lại, với các điển
hình nhân vật chín mõm mòm, cho nhà văn cũ tha hồ quan sát; hơn thế nữa, nhà
văn cũ, vì đã nhập tâm xã hội cũ, lại còn có thể lấy cái hắt hiu đã quánh lại
trong tâm trí mình mà tăng thêm cái điệu hắt hiu cho đời sống bên ngoài!
Cuộc sống mới của chúng ta, trái lại, không đứng dừng lại một
phút nào, nó rất trẻ, rất hăng, nó luôn sáng tạo, nó bồi dưỡng luôn những điển
hình mới; nó thì cuộn sùng sục lên như thế, mà việc đào tạo cán bộ của nền văn
học mới thì hãy đang còn tiến hành, hiện nay chưa phải là đã đạt. Cái chống chếnh,
cái chưa ổn của tình hình văn học ta hiện nay, theo ý tôi, mấu chốt là do sự
giáp hạt các tài năng; các nhà văn thời đại của ta chưa chín, và vì thế, các
tác phẩm của ta chưa chín. Rồi do vì ta chưa có những tác phẩm thật là trứ tác,
mang đầy máu huyết của thời đại ta, để chứng minh bằng kết quả hai năm rõ mười
cho bản chất ưu việt của nền văn học cách mạng, nên những tư tưởng nghi ngờ,
dao động, thậm chí những kẻ xấu bụng, có đất để đòi “xét lại” đường lối. Thật
là một sự nhầm lẫn vấn đề.
Không thể sốt ruột
Nhưng trong khi chúng ta cải tiến sự lãnh đạo văn học cho mềm
dẻo hơn, chiếu cố đầy đủ đặc trưng của việc sáng tác văn học, ngõ hầu rút được
càng ngắn càng hay cái thời gian đào tạo một lớp nhà văn mới, thì chúng ta vẫn
cứ phải nhìn thấy thực tế rằng: việc đào tạo đó không thể sốt ruột được đâu.
Ở Liên Xô, từ khi giai cấp vô sản cướp được chính quyền, đến
15 năm sau, mới thành lập được Hội duy nhất của các nhà văn Xô Viết (1932). Nhà
văn hào Trung Quốc Lỗ Tấn, năm 1927, cũng có nói [3]:
- “Khi đã đến thời cách mạng lớn, không có văn học nữa, không có tiếng tăm nữa,
bởi vì mọi người đều bị sóng cách mạng dồi dập, mọi người đều từ kêu gào mà
xoay qua hành động, bận rộn về cách mạng, không có nhàn rỗi để mà nói chuyện
văn học. Lại còn, lúc đó đời sống vất vả, cố tìm cho ra miếng bánh mì mà ăn còn
không được, còn lòng dạ nào nói đến văn học nữa?...”. “Đợi đến sau khi cách mạng
lớn thành công, trạng thái xã hội đã hoà hoãn, sự sống của mọi người đã dồi
dào, lúc bấy giờ văn học lại sản sinh ra…”. Tôi dẫn mấy câu này, không phải để
ta dựa vào đó đặng mà trì trệ; nhưng để chúng ta thông cảm rằng: từ Tổng khởi
nghĩa 1945 đến Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954 tức là thời kỳ Cách mạng lớn của Việt
Nam ta đó. Thế mà trong mười năm đại cách mạng ấy, chúng ta vẫn có được những
bước đầu của nền văn học mới, và có một số tác phẩm thành tựu đầu tiên; ta nên
nhận rõ như thế mà phấn khởi, chứ đừng quá sốt ruột.
Thời đại ta là thời đại giải phóng các dân tộc và cách mạng
xã hội chủ nghĩa, là thời đại tiến lên dưới sự lãnh đạo của các Đảng của giai cấp
vô sản, với động lực chính là quần chúng công nông giác ngộ. Những nhà văn của
thời đại, tức là những nhà văn chính yếu nói được cái điều trên đây, chứ chính
yếu không phải điều nào khác. Những nhà văn của thời đại hiểu đúng nghĩa như vậy,
ở nước ta, từ đâu mà có?
Một là từ những nhà văn cũ trước Cách mạng tháng Tám cải tạo
đi, theo tinh thần và lập trường của giai cấp công nhân. Việc thay da đổi óc
này không phải là dễ dàng và mau chóng. Chỉ một cái tập quán nông nghiệp lạc hậu,
là đi làm và đi họp không đúng giờ, mà hơn ba năm hoà bình rồi, ta vẫn chưa chữa
được. Huống chi việc thay đổi cả hệ thống tư tưởng, cách nhìn và lối cảm đã
thâm căn cố để từ lâu. Trong hoàn cảnh ở thành thị yên bình hiện nay, đã có cá
biệt những nhà văn cũ truy lĩnh trở lại những điều không đúng mà trong Kháng
chiến họ đã từ bỏ. Nhưng đại bộ phận vẫn kiên trì tiếp tục tự cải tạo mình, và
họ dần dần trở thành những nhà văn mới; mới hay cũ không ở tuổi tác, mà ở cái
tính cách quần chúng trong nhà văn, ở đảng tính của nhà văn. Theo tôi nghĩ, cái
khả năng diễn đạt thời đại chỉ nâng lên được trong nhà văn cùng với cái chất quần
chúng, cùng với Đảng tính được tăng cường. Thực tế văn học Liên Xô đã chứng
minh rằng những nhà văn cũ trước Cách mạng tháng Mười, bền chí đi với Đảng và
quần chúng, đã thành những nhà văn mới thật ưu tú. Ở nước ta, để cho các nhà
văn của thời đại hơn lên một mức nữa, cũng cần phải thêm một thời gian gắng
công, rèn luyện.
Cái nguồn thứ hai để luyện dưỡng thành những nhà văn thời đại
của ta, là lớp nhà văn trẻ bắt đầu viết từ sau Cách mạng trở đi. Phần lớn họ là
những người đã được đi học, họ vào Cách mạng với một gánh quá khứ nhẹ nhàng, họ
hấp thụ cái mới của thời đại ta chóng hơn. Họ cần mở rộng kiến thức thêm nhiều,
cần học tập nhiều về nghề nghiệp. Nhưng không phải hễ cứ tuổi trẻ là đảm bảo tư
tưởng không sai lệch. Cùng với lớp nhà văn trước, họ vẫn phải học tập quần
chúng nhiều hơn, sâu hơn nữa. Để cho tài năng của họ chín – tôi hiểu tài năng
là bao gồm cả tư tưởng – cũng cần phải có một thời gian.
Cái nguồn thứ ba là hướng nhìn về tương lai xa hơn. Nền văn học
mới do Đảng lãnh đạo, cái nền văn học của một xã hội sẽ tiến mạnh lên xã hội chủ
nghĩa mai sau gồm toàn những người lao động, cần phải có những nhà văn xuất
thân từ nhà máy, từ nông thôn hợp tác hoá. Cái công chúng hoàn toàn mới, gồm bằng
công nhân, nông dân lao động, hiện giờ đang hoàn thành thoát nạn mù chữ, hoặc học
bổ túc bình dân, và rồi sẽ học cao hơn nữa, sau đây họ sẽ cầm đọc các tác phẩm
văn học. Họ, những người mà bản chất dễ thông cảm nhất với các vấn đề và nhân vật
của xã hội mới, họ lại thuộc những giai cấp từ xưa chưa bao giờ được rèn luyện
để viết văn. Đó là điều bất công mà Đảng ta sẽ sửa chữa. Đặt nhiều ước vọng vào
loạt nhà văn ấy của thời đại, không công nông chủ nghĩa chút nào hết; trái lại,
chỉ nhìn quanh quất có làng văn hiện nay, là không thấy xa hơn mũi mình. Cố
nhiên, đào tạo loạt nhà văn này đòi hỏi nhiều thời gian.
“Vấn đề cán bộ” của văn học chúng ta đặt ra là như vậy.
Đó đúng là vấn đề mấu chốt. Thời đại ta có đầy đủ chiến công,
sự nghiệp, nhưng còn thiếu cái chín của các nhà văn. Khi các nhà văn đã chín rồi,
họ có thể sẽ quay trở lại viết về những ngày Cách mạng tháng Tám, viết về Kháng
chiến mà viết rất hay, rất đúng, dù có trường hợp họ phải dựa vào tài liệu lịch
sử chứ chưa được mắt thấy tai nghe. Trái lại, khi họ chưa chín, thì đang sống
giữa kháng chiến nhãn tiền, họ vẫn chưa viết được đúng, hay về kháng chiến. –
Nói điều này, tức là nhấn mạnh: nhà văn cần phải cấp bách nhập tâm lấy thời đại;
mà muốn được như vậy, cần phải lăn lộn vào thực tại cách mạng hơn nữa, hoà mình
vào quần chúng cách mạng hơn nữa, chứ không phải thấy mình đi vào thực tế mà
chưa có kết quả, thì đã nản lòng, rút lui.
Những nhà văn trong ba loại trên đây thi đua với nhau ráo riết
và lâu dài, không kể tuổi, không kể thành phần xã hội xuất thân, mà kể về tư tưởng,
tài năng, để trở thành những nhà văn chân chính của thời đại. Văn học trước
Cách mạng phải mất ba mươi năm và hơn nữa để có được một cuộc nở hoa về nhân
tài; văn học mới cần phải rút thời gian này ngắn hơn nhiều nữa. Chúng ta phân
tích sự “giáp hạt tài năng”, không kiếm cớ cho sự chậm chạp, mà để ta cứ tiến
bước vững vàng.
Câu chuyện thiên tài
Trong cuộc tranh luận về tập Việt Bắc năm 1955, có
người đã lấy thơ Nguyễn Du, thơ Hồ Xuân Hương để đập thơ Tố Hữu. Nhiều người
khác chân thành thắc mắc: Thời đại của ta vĩ đại như thế, tại sao chưa có một
Nguyễn Du? Và cũng có nhiều người nữa nhìn sang Liên Xô, thật thà đặt câu hỏi:
Chế độ xã hội chủ nghĩa vĩ đại và ưu tú, nhưng tại sao văn học xô viết chưa có
một Tôn-stôi, chưa có một Púc-kin?
Đây cũng lại là một sự lẫn lộn vấn đề. Vấn đề Nguyễn Du,
Tôn-stôi, Púc-kin là vấn đề thiên tài. Trong bước đi lên của lịch sử nhân loại,
đã sản sinh ra những thiên tài văn nghệ kỳ diệu như thế; thi sĩ Pháp Bô-đơ-le
đã gọi đó là những hải đăng chói lọi, chiếu sáng trong khoảng rộng và trong khoảng
lâu. Theo tôi hiểu, hiện nay con người ta chưa tìm ra được cái quy luật để tạo
nên các thiên tài. Mác và Ăng-ghen đã có nói: vấn đề không phải là “mỗi người đều
phải thay thế cho Ra-pha-en [4],
mà là một người nào mang Ra-pha-en ở trong mình, đều phải được phát triển tự
do”. Chế độ xã hội chủ nghĩa không nói rằng sẽ đẻ ra rất nhiều Sét-spia [5] và
Gớt-tơ [6],
nhưng đảm bảo cho những ai có mầm mống trở thành Sét-spia và Gớt-tơ đều không bị
chết non vì đói rét, bị thui chột vì thất học, bị bán văn non để nuôi miệng và
vợ con, như Goóc-ki đã từng than rằng dưới những chế độ bạo lực cũ, có lẽ đã chết
phí hàng chục thiên tài, hàng trăm vĩ nhân. Trái lại, những chế độ của chúng ta
tạo điều kiện tối đa cho nhân tài nẩy nở.
Người ta không thể đem những thiên tài của quá khứ để chứng
minh rằng nền văn học đi theo sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân hiện
nay là kém, là xoàng. Chuyện thiên tài là chuyện bất thường, xuất sáo. Người
nào có tà ý mới đem Nguyễn Du để đập các tác giả đang nảy nở hiện nay. Và Nguyễn
Du đã sinh ra trong thời đại cuối vua Lê chúa Trịnh, đầu Nguyễn, việc đó không
nói rằng chế độ phong kiến đang tan rã là chế độ tốt.
Một mặt khác, những thiên tài kỳ diệu thật, nhưng cũng không
phải là “người trời” cử xuống; thiên tài có hai điều kiện: sinh lý và xã hội,
nhưng chủ yếu là xã hội; trên cơ sở một bẩm sinh xuất chúng, họ phải học để
thông kim bác cổ, họ phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân và thời đại; “thiên tài
là một sự gắng sức lâu dài”, “thiên tài là sự vượt bực của một quần chúng”, hai
yếu tố này đều đúng [7].
Thiên tài mà dựa được trên một thế giới quan tiền tiến thì tránh được những sai
lầm tai hại, và, như nữ văn sĩ Ni-cô-lai-ê-va [8] nói,
còn lớn mạnh hơn gấp trăm lần.
Vào dịp kỷ niệm bốn mươi năm Cách mạng tháng Mười, I-li-a
Ê-răng-bua có viết bài “Cuộc đời chúng tôi chỉ mới là bắt đầu”, trong đó ông
nói: từ năm nghìn năm xưa trở lại, đã từng có những nền văn minh rực rỡ, nhưng
những nền văn minh đó là của một thiểu số làm và để cho một thiểu số hưởng, cho
nên, khi gặp tai nạn, thì các nền văn minh đó đổ sụp như lầu dựng bằng lá bài,
vì những người nô lệ không chịu bảo vệ nó. Với chính quyền Xô viết, “Lần đầu
tiên, con người ta mới bắt đầu sáng tạo một nền văn minh nó không phải là công
làm, cũng không phải là của hưởng của một nhúm người: nó do mọi người sáng tạo
và nó là của chung mọi người. Với một nền văn minh như thế, không có một sự đụng
phá nào hại nổi”… “Bốn mươi năm, là một khoảng thời gian ngắn, và khi những kẻ
hoài nghi ở phương Tây bảo tôi: “Tôn-stôi của các anh đâu nào?”, tôi không trỏ
với họ các nhà văn của chúng tôi, mà trỏ những độc giả của chúng tôi. Những người
độc giả như thế này, Tôn-stôi chưa được biết đâu; và những Tôn-stôi của chúng
tôi thì hiện giờ có lẽ chỉ mới đang học A, B, C, hoặc đang vọc cát trong các vườn
hoa công cộng”. Văn học Xô Viết chưa có Tôn-stôi, chưa có Púc-kin, nhưng văn học
Xô Viết sống trong lòng mỗi làng xóm, trong mỗi lòng người.
Văn học mới của Việt Nam đang bắt rễ sâu trong quần chúng, nhựa
đang chạy lên cây, lên lá, hoa và trái chỉ mới chớm thôi, nhưng ta không thể
thay bằng một cây hoa trái giấy nào khác.
Chủ nghĩa hiện thực phê bình không đủ nữa
Ngồi chiêm ngưỡng dưới bóng cổ thụ sum sê của các tác phẩm cổ
điển kỳ thú, ngúng nguẩy với việc đi trồng những cây mới của thời đại ta nay,
đó lại là một khía cạnh nữa của sự lẫn lộn vấn đề. Không ai quý trọng, đề cao
cái gia tài văn học ưu tú của dân tộc và của nhân loại bằng các Đảng Mác –
Lê-nin. Nhưng chúng ta không thể lấy đó làm món ăn tinh thần duy nhất hay chính
yếu cho những người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Chúng ta còn đòi hỏi một
nền văn học mới khác nữa, con đẻ rứt ruột của thời đại chúng ta.
Một số nhà văn có thể nhầm lẫn về vấn đề này, chứ công chúng
không nhầm lẫn. Vì số nhà văn đó quá mơ đến cái pho tượng của bản thân mình,
nghĩ rằng những văn hào xưa nói đến cái buồn rầu, cái xam xám hắt hiu và được hậu
thế tạc tượng, thì mình bây giờ cũng có thể viết như thế, và cũng để lại sự
nghiệp được như thường. Quần chúng thì đọc Nguyễn Du, Ban-dắc, Sê-khốp… rất say
sưa xong rồi, quần chúng vẫn cứ hỏi: Còn cái Điện Biên Phủ của chúng tôi, sao
chưa thấy một tác phẩm nào diễn đạt cho xứng đáng?
Chúng ta nay, học tập những kinh nghiệm nghiên cứu của một
nhà văn như Pha-đê-ép [9] cũng
thấy rằng có những nhà văn cổ điển không những chỉ làm hiện thực phê bình, mà
còn trông thấy, tạo ra những nhân vật tích cực của thời đại họ. Mặt khác, chúng
ta cũng thấy rằng đó không phải là trường hợp chung của tất cả các nhà văn cổ
điển. Nếu ta đứng về phương diện cần phải cải tạo cuộc sống, chứ không những
tìm hiểu nó, nếu ta đứng về phía những người hiện nay vẫn đang còn bị mất nước
và bị áp chế, bóc lột, họ đang cần một thứ văn học trực tiếp giúp họ phá cũi chặt
xiềng, thì ta rất thông cảm với lời Lỗ Tấn [10]:
“Trước cách mạng lớn, tất cả văn học đại khái là đối với mọi trạng thái xã hội
thấy là bất bình, thấy là thống khổ, bèn kêu khổ, gào bất bình, trong văn học
thế giới chẳng ít gì thứ văn học thuộc về loại ấy. Có điều thứ văn học kêu khổ
gào bất bình ấy đối với cách mạng chẳng có ảnh hưởng gì, vì kêu khổ, gào bất
bình mà không có lực lượng gì, thì kẻ áp bức mình vẫn không thèm đếm xỉa; con
chuột tuy chít chít kêu, mặc dầu kêu ra được thứ văn học xuất sắc, mà con mèo vẫn
cứ mạn phép ăn nó đi…”. Lỗ Tấn lại còn nói thêm rằng thứ văn học kêu khổ, gào bất
bình kia chẳng khác nào người sắp thua kiện phát tờ kêu oan, kẻ áp bức đối với
văn học đó lại thấy yên lòng là khác!
Khi chúng ta khâm phục các thiên tài cổ điển, không phải là
chúng ta xoá nhoà hết tất cả ranh giới giữa hiện thực phê bình và hiện thực xã
hội chủ nghĩa. Cùng với Goóc-ki, chúng ta vẫn cứ thấy chủ nghĩa hiện thực phê
bình rất bị giới hạn, rất không đầy đủ. Ví dụ như đọc Sê-khốp, ta gọi ông là
Sê-khốp kỳ diệu”, viết hay đến nỗi ta phải giơ trang giấy lên soi xem có cái gì
lạ ở trong ấy không… Nhưng không phải vì phục thiên tài Sê-khốp mà ta hoàn toàn
tán thành cái thế giới quan của Sê-khốp.
Trong bài nói đầu tập truyện dịch Sê-khốp [11],
bạn Nguyễn Tuân không đồng ý với lời của tôi cho rằng “Tchékov nói tất cả
cái đau xót dưới chế độ Nga hoàng, nói rất thiên tài, nhưng rồi dẫm chân một chỗ,
không biết làm sao thoát ra được” [12] ;
và để chứng minh rằng Sê-khốp không “giẫm chân tại chỗ”, Nguyễn Tuân trích dẫn
những lời của một số nhân vật của Sê-khốp, như: “… mỗi ngày tôi lại nhủ tôi rằng
chúng ta đang đi gần lại sự chiến thắng huy hoàng có thể được, và tôi muốn sống
tới lúc đó để góp phần mình vào”, hoặc: “… tất thảy rồi sẽ đột biến như trong
phép thần thông. Và rồi như thế đó, nơi đây sẽ mọc lên những lâu đài đồ sộ, những
hoa viên kỳ diệu, những tia nước vòi rồng phi thường…”; hay là: “… Này đây là hạnh
phúc, hạnh phúc đang cất bước…”. Và tác giả Sê-khốp cũng có nói: “Cuộc sống ấy,
tôi không được thấy đâu, nhưng tôi biết rằng nó sẽ khác hẳn…”. Nếu với những lời
mơ ước và tin tưởng kiểu như thế, mà Nguyễn Tuân đã thoả mãn, thì Khổng Phu Tử
cũng đã từng lạc quan trước đó mấy nghìn năm rồi! (Đạo lớn mà làm được thì trẻ
con có chỗ nuôi, người già có nơi dưỡng v.v…) Rất nhiều người đã mơ được như vậy
dưới thời Nga hoàng và trong thời Pháp thuộc ở Việt Nam. Nguyễn Tuân cho như vậy
là “những bước chuyển, những bước đi lên” của nhân vật, nhưng Elsa Triolet, người
dịch và trình bày sách Sê-khốp cũng nói trong mào đầu kịch Ba chị em: “Những
nhân vật họ cứ nói là đi, là chủ trương việc này việc nọ, và, cũng như trong một
ca kịch mà người ta hát “Chạy lên, ta chạy lên nào…”, họ cứ dẫm chân tại chỗ”.
Thực ra, thì ngay đến lúc Cách mạng tháng Mười 1917 đã thành công, cũng chưa có
được cái “tất cả rồi sẽ đột biến như trong phép thần thông”, cái “hạnh phúc
đang cất bước”, cái “những tia nước vòi rồng phi thường” mà Sê-khốp cho nhân vật
nói đâu, mà trước mắt lại có quân đế quốc và bạch quân, có máu và nước mắt, đói
và rét, có cơn thử lửa ghê gớm.
Nguyễn Tuân viết: “Nếu chúng ta đừng khó tính đòi Sê-khốp phải
tiến bộ bất chấp cả điều kiện lịch sử của Sê-khốp, thì chúng ta sẽ công bằng
hơn…”; với Nguyễn Du, sinh năm 1765, trước cả Cách mạng tư sản Pháp 1789, thì
chúng ta trách tại sao bắt Từ Hải chết đứng, là trách sai; nhưng với Sê-khốp,
thì chúng ta rất có thể đòi hỏi ít nhiều. Vì Sê-khốp cũng sống trong những điều
kiện lịch sử như Goóc-ki. Thế mà khoảng thời gian trước sau Cách mạng Nga 1905,
Sê-khốp thì viết kịch Ba chị em (diễn năm 1901), Trại anh đào (diễn
năm 1904), còn Goóc-ki thì viết truyện Người Mẹ (1906), là truyện có
một hiệu lực phi thường, được hàng trăm ngàn người vô sản hưởng ứng, được
Lê-nin khen ngợi nồng nhiệt, bởi nó đã biểu hiện bản chất cách mạng của cái lực
lượng xã hội sẽ nắm chắc được tương lai, sẽ xây dựng được xã hội mới. Goóc-ki
trước sau vẫn tôn kính Sê-khốp vào bậc thầy, nhưng Goóc-ki không thể dừng lại ở
cách nhìn của Sê-khốp. Goóc-ki viết trong một bức thư gửi cho Sê-khốp (1900):
“Sau ông, không có một người nào có thể tiến bộ hơn trên con đường đó, không có
người nào có thể mô tả những sự việc thật thà một cách chân thực như ông. Thời
đại cần sự mô tả những anh hùng đã đến. Mỗi người đều đòi hỏi những cái rực rỡ
có tính cách kích thích, những cái đó có thể không giống đời sống thực tế,
nhưng ưu việt hơn, tốt hơn, đẹp đẽ hơn đời sống. Văn học hiện tại cần phải kiên
quyết bắt đầu thấm vào đời sống. Có làm như vậy, bản thân đời sống mới có màu sắc,
nghĩa là con người có thể sống một cách phóng khoáng hơn, rực rỡ hơn…”
Thiên tài Sêkhốp thật là kỳ diệu, nhưng tôi không thể quên được
rằng, năm 1944, ở Hà Nội, dưới ách Pháp-Nhật thuộc, tâm trí tôi bí đường đến
cùng cực, tôi đã đọc truyện Ba năm của Sê-khốp, và đọc xong, cái
không khí hắt hiu trong đó chỉ càng củng cố thêm cái buồn của tôi. Và nói
chung, sách của nhiều thiên tài xưa đã không giúp gì được tôi phá cái nhà tù tư
tưởng siêu hình, chứ đừng nói gì phá cái nhà tù đế quốc! Tôi thiết nghĩ, nếu
lúc đó tôi được đọc một quyển như Người Mẹ, thì chắc chắn sẽ đưa mầm sống
lại cho tư tưởng tôi! Nhưng những sách cứu đời như vậy, thì đế quốc cấm tiệt.
Lê-nin nói: Nhận giữ một cái gia tài và tự bằng lòng với cái gia tài đó, là hai
việc khác nhau. Tôi rất đồng ý với nữ tác giả Mùa gặt, nói đến “những
cố gắng vô ích của Sê-khốp để tìm một con đường đúng đưa đến “bầu trời kim
cương”. Và tôi nghĩ rằng một truyện rất hay như Phòng số 6, nói cái xã hội
dưới thời Nga hoàng là cả một cái nhà thương điên, nên in vào sách hơn là đăng
thành “Phòng 6 số” trên sáu số báo Văn, vì một tuần báo của ta nay
nên ưu tiên dành chỗ cho những truyện ngắn, phóng sự về chống hạn, sửa sai, hay
xây dựng nhà máy.
Có một thực tế, là khác với Goóc-ki, Sê-khốp đã đạt tới mức
cao nhất của hiện thực phê bình và không tiếp tục tiến lên được nữa. Còn Sê-khốp
có dẫm chân tại chỗ hay không, thì không cần cãi nhau về danh từ.
Tôi lại thấy rằng chúng ta nay không nên dựa vào uy tín của một
Sê-khốp để lại chủ trương nguyên xi như Sê-khốp: “… Về những vấn đề chuyên môn,
chúng ta có những vị chuyên gia; công tác của những người này là phán xét về tập
đoàn, về số phận tư bản, về độc hại của rượu, về hia ủng, về bệnh lý phụ nữ…” [13] Tôi
rất đồng ý là người nghệ sĩ không nên (và cũng không thể) giải quyết những vấn
đề đặt ra có tính cách chuyên môn quá, ví dụ như rượu, hia ủng, bệnh lý phụ nữ
mà Sê-khốp nói; nhưng còn cái số phận của những tập đoàn tư bản, của chế độ tư
bản, mà nhà văn của thời đại ta không quan tâm, thì quan tâm cái gì? Tôi lại
nghĩ rằng nhà văn của thời đại ta gọi ra được bệnh và đề ra được cách chữa, ít
nhất là hướng chữa, thì mới là đầy đủ nhiệm vụ, vì “kỹ sư tâm hồn” thì cũng phải
bằng kỹ sư thường: nghĩa là tháo được máy ra, thì có thể lắp được máy lại, chứ
tháo cho lung tung, be bét, thì chỉ là người phá hoại máy thôi, và một nhà văn
xấu chỉ là một sâu mọt của tâm hồn. Tuy nhiên, tôi cũng nghĩ rằng: ở thời đại
ta, cũng có thể có những trường hợp nhà văn chỉ mới đặt ra được câu hỏi, chứ
chưa giải quyết được. Nhưng phải làm đúng như Sê-khốp nói, là “những câu hỏi
đã được đặt ra xác đáng”. Mà đặt câu hỏi được xác đáng, thì phương ngôn Âu Tây
bảo rằng: “biết đặt vấn đề, là đã giải quyết vấn đề”. Nhà văn ta có thể đặt vấn
đề có tệ quan liêu, chứ không thể đặt vấn đề chính quyền dân chủ nhân dân là một
bộ máy quan liêu, có thể hỏi là: Đảng làm thế nào lãnh đạo văn nghệ cho tốt?,
chứ không thể hỏi là: Đảng có thể lãnh đạo văn nghệ được không? Nghĩa là nhà
văn có thể đặt những vấn đề ra để cho nhân dân càng tăng cường cảnh giác, càng
tự nghiêm khắc với những tệ lậu còn lại, càng thấy làm cách mạng không phải là
đi ngao du, v.v… chứ không phải là buông thõng ra rất nhiều câu hỏi đặt rất sai
để gieo rắc hoang mang vào quần chúng!
Đến như Nguyễn Tuân dựa vào Sê-khốp rồi nghĩ rằng chữa bệnh
là “cái việc chuyên trị của người khác làm có kết quả hơn, trong một cái xã hội
tiến bộ đã có sự phân công rành rọt”, thì là bạn đã nhầm lẫn quá! Ở đây ta đang
nói bệnh của xã hội, bệnh của tâm hồn, chứ không phải bệnh lao hay bệnh đau mắt
hột; và ở đây ta đang ở cái xã hội tiến bộ của Việt Nam dân chủ cộng hoà, chứ
không phải cái xã hội tiến bộ thời Nga hoàng. Sự “phân công rành rọt” mà bạn
nói đó, là phân công của xã hội kỹ nghệ tư bản, trong đó nhà văn chỉ được
chuyên trị “tìm cái đẹp, cái tinh vi”, trong đó nhà văn không thèm chữa cái bệnh
nào cả, mà bản thân mình lại là một con bệnh nặng hơn quần chúng. Chứ còn ở
trong xã hội của ta, công tác có phân công rành rọt thật đấy, người thì lo viết
văn, người thì lo lãnh đạo, nhưng trách nhiệm với toàn xã hội thì không phân,
trách nhiệm thì là chung. Các bác sĩ đồng thời cũng là kỹ sư tâm hồn của bệnh
nhân, để chữa chóng khỏi hơn, các cán bộ đi phát động tư tưởng quần chúng, các
nhà giáo dục, v.v… đều là kỹ sư tâm hồn; đồng thời các nhà văn cũng lãnh đạo tư
tưởng quần chúng tiến lên xã hội chủ nghĩa bằng phương tiện của mình là văn học.
Chúng ta ở nước ta năm 1957, sao lại chép nguyên xi của Sê-khốp? Goóc-ki sống đồng
thời với Sê-khốp, Goóc-ki vạch cho chúng ta con đường văn học cách mạng, con đường
hiện thực xã hội chủ nghĩa, nó vừa phê bình, vừa xây dựng, nó nặng về mở đường
xây dựng, mà bao gồm cả phê bình.
Cái mới của văn học chúng ta
Những nỗi khó khăn có thật của một nền văn học trẻ không thể
làm lu mờ cái tính chất chân lý của văn học cách mạng Việt Nam. Chúng ta phải
xây dựng văn học ta nay với cái chất của cuộc đời mới này, với cái chất đã làm
nên Điện Biên Phủ và giải phóng nửa nước Việt Nam, với cái chất đang dần dần
thiết lập một xã hội không còn người bóc lột người trên miền Bắc này, chứ không
với cái chất nào khác. Đó là cái chất quý báu, chắt chiu nảy ra từ xương máu của
nhân dân quần chúng, cái chất người mới nhất của lịch sử, là con người sáng suốt
dùng vũ khí đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc để giải phóng mình, nước
mình, và toàn thể loài người. Đúng như vậy, không thể có hai tầng cách nhau, một
tầng quần chúng nhân dân tạo ra cái chất lao động và đấu tranh, còn một tầng
các nhà văn dùng một chất khác để tạo văn học.
Tôi thấy các nhà văn về trước nhấn mạnh quá nhiều vào cái điểm:
tôi viết văn vì tôi thích, tôi viết văn cho tôi. Như vậy, họ xuất phát từ bản
thân mình để làm nghệ thuật. Từ khi các Đảng Mác – Lê-nin lãnh đạo văn học, các
nhà văn chân chính vẫn viết văn vì mình thích, vì cần thấy viết, không viết
không sống được; nhưng với cái nhu cầu chủ quan sâu sắc ấy, họ hiểu rằng sáng
tác văn học trước tiên là một sự việc của xã hội; tôi dám chắc người văn sĩ nào
thích cô đơn nhất, (chẳng hạn như Sa-tô-bơ-ri-ăng [14] đến
lúc chết vẫn còn thích cheo veo một mình một nấm mộ trên tảng đá của bờ biển
Thánh Ma-lô) cũng sẽ không viết văn làm gì, nếu anh ta sống một mình, vĩnh viễn
không có ai đọc văn anh. Con người là sản phẩm của sự lao động và của đời sống
xã hội, thì văn học cũng là sản phẩm của xã hội, do những nhà văn làm. Sáng tác
văn học là một nhiệm vụ xã hội giao cho nhà văn, một cuộc đặt hàng của xã hội.
Nhấn mạnh vào điều ấy, đặt điều ấy lên trước nhất, là cái mới của văn học chúng
ta.
Trong thời Pháp-Nhật thuộc ở nước ta, tôi đã phải ghê sợ trước
cái tinh thần vô trách nhiệm của một số người viết văn, làm thơ, giữa cái xã hội
đã sa đoạ đến cùng, lại còn lấy văn học kích thích cho nó sa đoạ hơn nữa; tôi
đã phải thốt lên trong một bài báo: “… Có thời đại nào trong văn học ta mà trơ
trẽn loã lồ đến như thế hay không?... Cái thơ thuốc phiện, cái thơ ê chề, chán
chường, không tin tưởng, cái thơ lạnh như thịt người chết, sẽ theo cái thời đại
truỵ lạc mà đi mất trong thời gian…” [15] Nhìn
sang văn học tư sản của một nước như nước Pháp, từ trước 1945 và cho đến hiện
bây giờ, tôi càng kinh hãi gấp nghìn lần. Có thể nói đó là một cảnh “tất cả dồn
ra cống” (tout à l’égout): những người viết văn tha hồ tuôn vào văn học tất
cả những sự giết người, ăn cướp, tự tiêm thuốc độc vào mình, băm vằm người yêu,
bán dâm, truỵ lạc, điên loạn, thi nhau tả những thứ đó rất là tinh vi, thích
thú; văn học thành ra một thứ cống rãnh để đón lấy hàng trăm, hàng ngàn nước bẩn,
chất độc từ bút nhà văn “lấy của xã hội lại trả về cô đặc hơn cho xã hội”.
Chúng ta không có thứ “tự do sáng tác vô hạn độ” ấy! Các bạn nhà văn thân mến của
văn học mới chúng ta! Nếu rất nhiều khi chúng ta thấy đặt bút xuống khó khăn,
chính là vì xã hội ta đặt nhiệm vụ nhà văn rất cao; chúng ta lo nghĩ đến tác dụng
xã hội của cái mình viết; chúng ta tự nguyện chiếu cố đến khía cạnh này, lại
khía cạnh khác; không phải ta chỉ viết cho đẹp, mà phải viết cho đúng, cho tốt,
cho có lợi, và cho đẹp.
°
Ở đây, tôi chưa kiểm điểm những thành tựu của văn học mới
chúng ta. Tôi hãy xét bản chất. Có cái gì mới đã nảy ra không?
Ta hãy xét về mặt thơ. Không phải bỗng chốc mười ba năm mà ta
đã có được những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Thị Điểm, Xuân Hương của thời nay; những
tài lớn lao kia là kết tinh của năm, sáu trăm năm văn học cổ điển. Nhưng những
thiên diễm tuyệt của các bậc đó, trên đại cục, có phải là “lựa chi những khúc
tiêu tao” quá chăng? Có phải là “người buồn văn có vui đâu bao giờ” chăng? Đến
nụ cười của Xuân Hương cũng là đắng cay nước mắt! Rồi tiếp theo, thơ Việt Nam
trong thời mất nước thuộc Pháp, có phải cái buồn càng nặng nề, u uất, càng đi đến
thuỷ tận sơn cùng của tâm trí, buồn đến chết, đến điên chăng? Nếu Cách mạng và
quần chúng không đem đến cái vui của cần cù lao động, của gian khổ đấu tranh, nếu
Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng Lao động Việt Nam không đem đến cái vui của tư
tưởng, thì thơ Việt Nam còn khóc đến bao giờ? Trừ một số nhỏ thơ lạc loài từ
lúc hoà bình (trong Kháng chiến, những trường hợp này rất hiếm) thì ta có thể
nói: mặc dầu nghệ thuật chưa cô đúc, mặc dầu còn sơ lược hay gì gì nữa, ta có
thể vốc lên trong toàn bộ thơ mới Việt Nam một niềm vui, một nguồn lạc quan dào
dạt.
Trước kia, câu thơ cứ lửng lơ, cứ mềm, cứ đuối (Một cánh
chim thu lạc cuối ngàn – Trăng vàng đã xế non tây ngậm buồn – Ấp úng không ra
được nửa lời v.v…) bây giờ, những câu thơ trung bình cũng (thơ bộ đội):
Trung đội anh đóng bên bờ suối trong
Gió núi vang vang rạo rực lòng…
Ví dụ điển hình nhất có lẽ là hai câu ca dao sau đây:
Xưa:
Núi cao chi lắm núi ơi
Núi che mặt trời, không thấy người thương!
Con người trong chế độ cũ khiếp phục trước thiên nhiên, núi
chắn trước mặt, núi chắn cả cuộc đời, cả số mệnh. Bây giờ:
Đèo cao thì mặc đèo cao
Trèo lên đến đỉnh, ta cao hơn đèo!
Bộ đội, dân công coi cái đèo, cái núi cùng lắm cũng chỉ như một
con voi, có thể trèo lên cưỡi cổ được! Đồng ý, vài người có thể bảo câu trên
nhiều nghệ thuật tính hơn, “hay” hơn, vì đứt ruột đứt gan hơn! Nhưng muốn làm
cho được câu dưới, phải có cả một cuộc cách mạng! Câu dưới sảng khoái hơn, làm
vui sướng lòng người hơn, tại sao nó lại không hay?
Trước kia, thơ nói con người bị động trước số mạng, (Bắt
phong trần phải phong trần [16] ,
trước cảnh vật (Mỗi bận thu sang em lại vò lòng than khóc [17] ,
trước tâm hồn mình (Cứ lặng chuồi theo giòng cảm xúc [18] ,
bị động trước tất cả (Thuyền ơi thuyền theo sóng hãy lênh đênh [19] ;
nay, những người công nhân kháng chiến chuyển một cái máy nặng hàng chục tấn,
dưới trời mưa, và nhất quyết dành lấy chủ động, con người nhất định không lùi,
không đuối, nhất định cải tạo thế giới:
Tay có trơn, ta xoa cát mà lôi,
Chân có trợt, bấm sâu thêm chút nữa…
Mưa bao giờ rụng hết lá rừng cây:
Chặt vài cành che thay nón đêm nay,
Và đường trơn dẫu có bằng đổ mỡ,
Cành cây đây ta làm thêm chân nữa.
Tôi thấy cùng với những câu thơ trèo đèo chuyển mây ấy, đã nảy
ra một chất thơ mới lạ mà trước đây, thắp đuốc lên cũng không tìm thấy trong lịch
sử thơ Việt Nam!
Trước đây, trong thơ chính thống của các thi sĩ, hình ảnh của
quần chúng như thế nào? Tiếp theo những nàng con gái ông Viên ngoại họ Vương,
là những tiểu thư nhà giàu hay những cô bán hàng cho mẹ, buồn tàn thu ngồi đan
áo len. Bây giờ, những mẹ đĩ thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng được là cô
“gái Bắc Giang” vào trong thơ rất là đường hoàng, cái cuốc phá đường của cô
bóng trăng dọi vào rất là kính mến! Những “con mụ già nhà quê” trước kia, bây
giờ đã thành Bầm ơi được đặt ngang hàng cùng với tổ quốc, yêu bầm
yêu nước cả đôi mẹ hiền. Giật lấy một chỗ ngồi đẹp đẽ trong thơ cho quần chúng
như vậy, những ai coi thường điều đó? Những ai cứ nhất định nhắm mắt lại không
nhìn thấy cái mới trong thơ ta?
Xin lấy một ví dụ cá nhân. Bạn Tế Hanh [20] nhân
mấy câu thơ trong bài Gió của tôi:
Hồn ta cánh rộng mở
Đôi bên gió thổi vào
Nghĩ những điều hớn hở
Như trời cao, cao, cao.
mà đặt vấn đề: “Không lẽ chỉ giai cấp bóc lột mới ngắm
trăng? Nhưng thử hỏi những câu thơ ấy thuộc về tư tưởng giai cấp gì? Tư sản ư?
Vô sản ư?...”. Tôi xin cả quyết rằng đó là tư tưởng của giai cấp vô sản; nhất định
tư tưởng tư sản hiện nay không thể nhìn trăng, nhìn gió, không thể có cái vũ trụ
quan như vậy. Bản thân tôi, trước Cách mạng, đã từng nghĩ rằng đời cứ đi đến chỗ
suy, chết là quy luật cuối cùng của vũ trụ (1934):
Hoa nở để mà tàn
Trăng tròn để mà khuyết.
Đứng trước vũ trụ, tôi rụt cổ lại (1939):
Em sợ lắm. Giá băng tràn mọi nẻo.
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xương da.
Nhìn vũ trụ bao la rồi cụp đầu xuống thấy mình chỉ là một hạt
bụi, thấy vô cùng cũng là một với hư vô, đó là “tôi” trước Cách mạng. Và hệ thống
tư tưởng tư sản sa đoạ hiện nay, nó co cúm lại sợ cái chết của giai cấp nó, nó
“suy bụng ta ra bụng của vũ trụ”, nó buồn tận thế, nó làm sao có thể lạc quan!
Chính vũ trụ quan mác-xít đã cho tôi được thấy “Trời tròn như buồm căng, Tất
cả lên đường mới”, thấy vũ trụ (cũng như thế giới) tái tạo mãi, tiến bộ mãi, và
trong bài Gió, tôi có ý thức bắt tư tưởng tôi phải tiến theo. Chỉ có
đi với Cách mạng, tôi mới có cái nhìn như vậy được.
°
Trên đây, tôi có nói văn học trước cách mạng có một số tác phẩm
nhuần nhuyễn. Nhưng đó không phải là trường hợp phổ biến. Cũng như không thể
nhìn những tác phẩm của ta nay đều là sơ lược. Chúng ta cần đề phòng cái tâm lý
cứ quay về thi vị hoá những ngày xưa, nhất là những ngày đó gắn liền với thời
còn đi học, với tuổi trẻ phơi phới của mình. Tôi có anh bạn cứ nhắc mãi “thuở Phong
hoá, Ngày nay”, nhưng khi những tác phẩm cũ được in lại, thì trừ một số anh vẫn
thấy có giá trị, còn nhiều quyển thì anh đến tìm tôi, kêu rằng bây giờ anh đọc
lại thấy tầm thường, “sơ lược”, không ngờ trước kia mình dễ tính thế. Quả có
như vậy, một số người còn quá quen miệng với những món ăn cũ, quá lạ miệng với
những món ăn mới. Các tác giả ngày nay phải nấu nướng cho tốt lành hơn nhiều nữa,
thơm ngon hơn nhiều nữa, nhưng mặt khác, nhiều độc giả cũng phải cải tạo cái lưỡi
của mình. Nếu họ cứ chỉ thích cho thật béo, thật chua, thật cay, thật nhiều dầu
dấm, thật giật gân cái lưỡi, thì văn học ta e cũng khó chiều được họ. Văn học
chúng ta quan niệm con người trước tiên là một sinh vật lao động, một sinh vật
biết nghĩ đến quyền lợi của tập thể, một sinh vật làm cách mạng, nó rất biết hưởng
những sinh thú của ăn uống, yêu đương, nhưng nó không phải sống để chuyên môn
tìm khoái cảm. Có người đã từng nói rằng Cholokhov [21] cũng
tầm thường thôi, là Boris Polévoi [22] không
phải nhà văn. Họ không hiểu rằng Liên Xô là nước văn minh nhất, vì văn minh là
chăm sóc cho con người; họ không hiểu rằng văn học Liên Xô, đứng về mặt tính chất,
nội dung, và tác dụng xã hội mà nói, là nền văn học tiền tiến nhất, giầu tư tưởng
tính nhất trên thế giới, diễn đạt những con người mới nhất trong lịch sử. Nếu
chúng ta nhìn bằng con mắt của quần chúng Việt Nam, yêu cầu rằng các nhân vật
trong tiểu thuyết, trên sân khấu không những là Thuý Kiều, Kim Trọng, hay Loan,
Dũng [23],
mà chính yếu phải là những Nguyễn Thị Chiên, những Ngô Gia Khảm, những Trần
Bình Lục, v.v…, nếu chúng ta đòi hỏi một nền văn học phản ánh thời đại, thì ta
quý mến, cổ võ mỗi thành tựu của nền văn học mới. Có những chương, những trang
của Vùng mỏ, Đất nước đứng lên, Truyện Tây Bắc, Xung kích, Truyện anh Lục,
Đôi mắt, Con đường sống, Con trâu, Làng, v.v… mặc dầu tôi cho rằng các tác
phẩm hiện nay chưa nhuần nhuyễn, tôi đọc rất ưa thích, và tự hỏi: Sao lại cứ phải
nói là thua văn trước Cách mạng? Trái lại, có những ưu điểm mà văn trước Cách mạng
không thể nào có nổi!
Nhìn tới đằng trước
Cái xã hội có giai cấp có đến hàng vạn tuổi; cái xã hội không
giai cấp chỉ mới có bốn mươi tuổi ở Liên Xô (đó là chưa trừ những năm nội chiến,
và thời kỳ chưa xoá hết giai cấp). Trong những nghìn năm tích luỹ văn hoá về
trước, nhân loại đã sinh ra được những thiên tài văn học cổ điển mà chúng ta
nay vô cùng tôn trọng và tha thiết học tập. Mặt khác, những xã hội xã hội chủ
nghĩa nay và mai, trong thời gian lồng lộng trước mặt, ai dám bảo là sẽ không
sinh ra nhiều thiên tài? Chúng ta tưởng tượng khi những xã hội không giai cấp
này chỉ được một trăm tuổi thôi, sự nảy nở của nền văn học mới sẽ không biết đến
thế nào mà nói.
Và ngay hiện giờ, trong những nhà văn cộng sản và những nhà
văn đi theo ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, chúng ta có thể thấy
những văn tài lớn lao như Gorki, Maiakovski, Alexis Tolstoi, Cholokhov (Liên
Xô), Henri Barbusse, Romain Rolland, Aragon (Pháp), Bertolt Brecht (Đức),
Andersen Nexo (Đan Mạch), Nazim Hikmet (Thổ-nhĩ-kỳ), Pablo Neruda (Si-li),
Jorge Amado (Bờ-rê-din), Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược (Trung Quốc) và bao nhiêu văn
tài ưu tú khác!
Con đường đúng, thì ta theo, dù có deo neo, vất vả. Cái cây tốt,
thì ta trồng, ta tưới, đừng có nóng ruột nhổ rễ lên xem; dù hoa trái còn lưa
thưa, nhưng vun gốc to, sẽ được nhiều trái lớn. Văn học nước ta phải cắm rễ vào
quần chúng, phải phục vụ công nông binh là đa số, phải gắn chặt với đấu tranh
thống nhất và đấu tranh tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, văn học phải có tư tưởng
tính cao và nghệ thuật tính đẹp, đó là cái mới khẳng định của văn học chúng ta.
1-1958
Chú thích:
[1]Pô-pơ-lin:
tên một loại vải được ưa chuộng ở miền Bắc hồi những năm 1950-80 (talawas ghi
chú)
[2]Khi
viết điểm này, tôi nghĩ đến một số tập thơ trước Cách mạng. (nguyên chú)
[3]Trong
bài “Văn học của thời đại cách mạng”, giảng tại trường Hoàng Phố ngày 8/4/1927
(nguyên chú)
[4]Raphaẽl
(1485-1520) hoạ sĩ lớn ở nước Ý (nguyên chú)
[5]Shakespeare
(1564-1616) kịch sĩ lớn nhất nước Anh (nguyên chú)
[6]Goethe
(1749-1832) nhà văn, nhà thơ trứ danh nhất nước Đức (nguyên chú)
[7]Còn
nhiều khía cạnh phong phú của vấn đề thiên tài, mà phạm vi bài này không bàn đến.
(nguyên chú)
[8]Galina
Nicolaieva, tác giả tiểu thuyết Mùa gặt (Liên Xô) (nguyên chú)
[9]Fadéev
(Liên Xô): Tác giả các truyện nổi tiếng Bại trận, Đội Cận vệ Thanh niên (nguyên
chú)
[10]Cũng
trong bài giảng ngày 8-4-1927 trên đây (nguyên chú)
[11]Nhà
xuất bản Hội Nhà văn - Đăng lại trong Văn nghệ số 5 có tước chút ít. (nguyên
chú)
[12]Trong
bài “Viết sự thật” đăng Nhân dân số 1140 (nguyên chú)
[13]Tôi
không được xem cả bài của Sêkhốp, nên chỉ phát biểu trên những đoạn Nguyễn Tuân
trích. (nguyên chú)
[14]Chateaubriand
(1768-1848): Nhà văn tiên phong cho phong trào lãng mạn Pháp (nguyên chú)
[15]Báo
Thanh niên (Sài Gòn) 8/1/1944 (nguyên chú)
[16]Trong
Truyện Kiều (nguyên chú)
[17]Trong
“Giọt lệ thu” (nguyên chú)
[18]Trong
“Thơ Thơ” (nguyên chú)
[19]Thơ
Vũ Hoàng Chương (nguyên chú)
[20]Tuần
báo Văn số 26 (1/11/1957), trong bài Cùng đặt một số vấn đề.(nguyên chú)
[21]Tác
giả Trên sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang (nguyên chú)
[22]Tác
giả Những người Xô viết chúng tôi, Truyện một con người chân chính, Vàng
(nguyên chú)
[23]Nhân
vật truyện Đoạn tuyệt của Nhất Linh (nguyên chú)
Phần IV
vài ý kiến về bệnh sơ lược
Bệnh sơ lược và tác hại của nó
Một nhà văn mắc bệnh sơ lược, khi diễn tả sự việc một cách
nông cạn như vẽ một cái sơ đồ đại khái, khi trình bày cuộc sống cách mạng như một
việc dễ dàng trót lọt, khi có khuynh hướng giật dây các nhân vật, mớm cho họ
nói theo ý muốn chủ quan của tác giả, chứ không để họ ăn làm đúng theo quy luật
trong cuộc đời, khi thiên về tuyên truyền khẩu hiệu, nhẹ về nghiên cứu thực tại
trăm hình nghìn vẻ. Nhà văn mắc bệnh sơ lược nhiều khi có ý tốt, muốn ca ngợi
cuộc cách mạng thiêng liêng và đời sống mới phấn khởi, nhưng quên rằng: cách ca
ngợi vẻ vang nhất, là nói cách mạng chiến thắng qua nhiều vấp váp, trồi sụt,
gay go.
Những tác phẩm mắc bệnh sơ lược gây tác hại là làm cho người
ta hiểu sai thực tế, tưởng cách mạng là toàn hồng, gây bệnh chủ quan và lý tưởng
hoá. Do thiếu sống và xa đời thực, những tác phẩm sơ lược thường tẻ nhạt, làm
cho người đọc dễ chán; gây một sự hờ hững nào đó của công chúng đối với nền văn
học mới, làm cho nền văn học mới kém tác dụng đi nhiều.
Do đâu có bệnh sơ lược
Sự lãnh đạo có một phần trách nhiệm trong bệnh sơ lược. Do
quan niệm hẹp hòi, phiến diện về nhiệm vụ của văn học, trong một giai đoạn khá
lâu của Kháng chiến, lãnh đạo đã để kéo dài việc minh hoạ chính sách, kéo dài
việc diễn ca; những việc này cố nhiên cũng có ích lợi trong một phạm vi nào đó,
nhưng thực chất không phải là món ăn tình cảm của quần chúng. Điển hình là việc
cho ra hai quyển Đóng góp và Chính phủ tạm vay, hai quyển này chứng
tỏ một cách cảm động thái độ phục vụ không điều kiện của hai nhà văn Nam Cao và
Tô Hoài, nhưng thật là hết sức sơ lược. Lãnh đạo cũng không uốn nắn sự phê bình
của thời đó, một sự phê bình gò bó, máy móc, không hiểu được đặc trưng của văn
nghệ, coi một thiên truyện ngắn bằng như một bài xã luận, bắt một tác phẩm nào
cũng phải có đủ các yếu tố chính trị, đủ công nông liên minh, đủ vai trò của Đảng,
đồng thời đủ vai trò của Mặt trận, lại đủ bảo vệ hoà bình thế giới, v.v… chất
lên trên lưng con ngựa tác phẩm nhiều thứ quá, đến nỗi nó cất bước không được nữa.
Những người phê bình lại thường non gan, không dám để cho những vai phản diện
phát biểu, sợ nó phản tuyên truyền, hoặc mới thấy tác giả nói ít nhiều khuyết
điểm của cán bộ hay của nông dân, đã vội lo là bôi nhọ… Những quan niệm hẹp hòi
trên đây gò bó các tác giả, làm cho họ ít dám phát huy sáng tạo, dễ khiến họ cầu
an, đi theo con đường vô sự nhất, không dám sai âm binh dậy, sợ không điều khiển
nổi thì rắc rối to.
Tuy nhiên, phê bình cái khuyết điểm này của lãnh đạo, chúng
ta cũng phải thấy rằng: trong những năm đầu của cuộc Kháng chiến, việc giáo dục
tư tưởng ưu tiên nhất, nền tảng nhất vẫn phải là giáo dục lập trường kháng chiến,
giáo dục phân rõ địch, ta, giáo dục lập trường giai cấp, chứ không thể san bằng
chống bệnh sơ lược, một bệnh ấu trĩ của văn học mới, cũng như là chống đế quốc
và phong kiến.
Một mặt khác, theo ý tôi, nguyên do chính của bệnh sơ lược
không phải ở sự lãnh đạo, mà chính ở hoàn cảnh khách quan của việc sáng tác sau
Cách mạng. Nhà văn trước Cách mạng tháng Tám có thể nói là tương đối thuộc lòng
cuộc sống cũ, nhưng nhà văn sau Cách mạng chưa thuộc được cuộc sống mới. Cuộc đời
cũ là một cuộc đời đứng lại, đọng lại. Cuộc đời thực dân hàng trăm năm, phong
kiến hàng nghìn năm thuộc vào một hệ thống cuộc đời hàng vạn năm người bóc lột
người, người áp chế người. Các nhân vật điển hình cũ rõ nét từ lâu lắm. Những
ông quan, thầy lý, chú lính lệ, những ông sứ, ông cẩm, thầy phán, những cô đầu,
anh nghiện, những thầy giáo hồ lơ v.v… nhà văn cũ biết họ rất kỹ, lột tả được họ.
Vả lại nhiều thế hệ nhà văn, lớp này tiếp lớp khác, để lại cho nhau những tìm
tòi nghiên cứu về cái khổ truyền kiếp của con người. Ở các nước phương Tây, mỗi
nét hiện thực phê bình có sức ủng hộ của bao nhiêu nhà văn cổ điển; ở nước ta,
mỗi câu, mỗi chữ nói cái buồn, cái đau, cái hận, có sức ủng hộ của Nguyễn Du,
Thị Điểm, Xuân Hương…, của ca dao. Những chữ buồn đau ấy có một sức vang ngân
vô hạn trong tâm hồn của con người. Ví dụ trong thơ, chỉ vài chữ như: Gió
chiều hiu hắt, mưa thu, đêm thu, mây thu, một buổi chiều thu…
cũng gợi lên bao nhiêu tình cảm xưa man mác. Chỉ nói một chữ ly biệt cũng
đã thấy “lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm”.
Trái lại, cuộc sống mới sau Cách mạng tháng Tám của chúng ta
là một cuộc đổi thay căn bản; chúng ta không những dành độc lập dân tộc mà còn
tiến lên xoá bỏ cái xã hội có giai cấp hàng vạn năm người bóc lột người. Những
tình cảm mới của chúng ta chỉ có mươi mười hai năm, nếu kể cả nhân loại, thì chỉ
mới có từ Cách mạng tháng Mười Nga. Cuộc sống mới ở nước ta đổi tiến vùn vụt,
mà nhà văn Việt Nam ta thì chưa nắm vững chủ nghĩa Mác – Lê-nin để phân tích
cho đúng và có con mắt mới, lại lăn lộn vào thực tế, vào quần chúng chưa sâu sắc,
và nếu xét nghiêm khắc, thì cái vốn học vấn của chúng ta cũng lại còn nông cạn;
cho nên, dọn bữa ăn tinh thần cho nhân dân, nhà văn chúng ta nấu cơm chưa chín!
Theo ý tôi, cái nguyên do chính của bệnh sơ lược là như vậy! Bởi thế cho nên,
trong cuộc đời cũ, phóng sự là một thể văn điều tra, tường thuật, mà có người
viết phóng sự dài về đời sống xã hội, về “làm tiền” chẳng hạn, thảng hoặc có một
vài kỳ ngồi nhà “sáng tạo” ra, mà người đọc vẫn cứ thấy đúng, thấy lột như thường.
Trái lại, với lối văn tiểu thuyết là lối văn không quá trói buộc vào tài liệu,
thế mà những bạn văn chúng ta lăn đi lộn lại quan sát một người nông dân hiện
nay, đến lúc viết vẫn còn sai bét! Là vì người nông dân Việt Nam hiện nay vĩnh
viễn không phải là bố cu ngày trước nữa rồi, những đổi mới trong tâm trí anh, từ
xưa đến nay chưa từng có.
Theo tôi nghĩ, vấn đề có tác phẩm hay, là một vấn đề đào tạo
cán bộ. Xã hội cần đào tạo các nhà văn, các nhà văn cần tự đào tạo mình chóng
lên đến mức trưởng thành; khi các nhà văn đã có một khối óc, một tài năng trưởng
thành theo tinh thần của thời đại rồi, nhiều khi họ quay trở lại tìm tài liệu về
những giai đoạn lịch sử đã qua, và sáng tác rất sát, đúng. Và khi mà họ chưa đủ
vũ khí về tư tưởng, về thực tế và về nghề nghiệp, thì dù đang nằm giữa thời đại,
vẫn cứ chòng chành, chuệch choạc, mắc bệnh sơ lược. Việc sáng tác gian khổ như
vậy. Mà chính vì nó gian khổ như vậy, nên nó mới có vinh quang.
Bệnh sơ lược không ở trong bản chất nền văn học mới chúng ta
Chúng ta chống bệnh sơ lược là đúng, là cần thiết. Nhiệm vụ
nhà văn đòi hỏi chúng ta điều đó. Quần chúng cấp bách đòi hỏi chúng ta điều đó.
Nhưng có một số nhỏ người cho rằng bệnh sơ lược là do ở bản chất nền văn học mới
của chúng ta, cũng như có người nói tệ sùng bái cá nhân là ở bản chất của chế độ
Xô viết. Gián tiếp họ muốn nói rằng: tại vì Đảng lãnh đạo nhúng tay vào văn học,
nên văn học mới bị sơ lược, công thức như thế này; nếu cứ để văn nghệ sĩ hoàn
toàn tự do, thì văn nghệ đã vô cùng phong phú… Theo tôi thấy, chúng ta không độc
quyền về bệnh sơ lược. Văn dở thì cổ kim, đông tây, đời nào và ở đâu cũng có.
Những nền văn học trước Cách mạng vô sản có biết bao nhiêu quyển sách tiên
thiên bất túc, bị công chúng ruồng bỏ ngay lúc mới đẻ ra. Văn học phong kiến
cũng đã có những tác phẩm sơ lược của mình, với những câu chuyện rẻ tiền của những
tráng sĩ mờ nhạt, những trận đấu kiếm vô nghĩa lý, những “nữ hiệp”, những “quái
hiệp”, những phi thân, những bửu bối tung ra không đúng chỗ, những loạn trong
cung mà dân chúng không muốn nghe… Văn học tư sản khi đã mắc bệnh sơ lược thì lại
càng xuống giá “ba xu”, với những chuyện tình tiền, chuyện mọc sừng quanh quẩn,
chuyện trinh thám nhạt thếch, chuyện tâm lý chán như một cái ngáp dài, chuyện
khiêu dâm hạng bét… Ở Việt Nam ta, những thơ văn sơ lược trước Cách mạng tháng
Tám vẫn là số nhiều. Biết bao nhiêu bài thơ anh anh em em đã làm chán tai độc
giả! Có những người đã viết những truyện thơ mộng về nông thôn, ca tụng đời sống
hiền hoà của nông dân giữa đồng lúa xanh rờn, dưới trời xanh quang đãng. Bệnh
sơ lược phải đâu là chỉ ở trong bản chất của nền văn học mới chúng ta nay! − Ở
đây, tôi xin mở một dấu ngoặc: số người quy bệnh sơ lược cho Đảng và cho chế độ
cũng thường trách Đảng và chế độ sinh ra bệnh công thức. Họ nói đến những con
người máy, những con người rập khuôn do chế độ ta sinh ra. Theo tôi nhớ, thì luận
điệu này, bọn tư bản và đế quốc đưa ra đã lâu lắm rồi; chúng nó luôn luôn rêu
rao: Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô tạo nên những con người máy. Nhưng sự thật là
chính chủ nghĩa tư bản coi con người như cái máy. Chúng ta hãy nhớ lại
phim Thời mớI (Les temps modernes) của Charlie Chaplin; chính chủ
nghĩa thực dân buôn bán con người: trên báo Phê bình mới (Nouvelle
critique) đã có chụp ảnh một cái hoá đơn của một hãng buôn Pháp tại Phi
châu bán một số đàn ông và đàn bà da đen như bán bò, lợn. Còn chúng ta? Những
con người máy đã phá kho bom Tân Sơn Nhất chăng? Bế Văn Đàn đã hy sinh rập
khuôn với Phan Đình Giót chăng? Hay là trong phe xã hội chủ nghĩa, liệt sĩ Việt
Nam Phan Đình Giót đã rập khuôn với anh hùng Liên Xô Matrosov, cũng lấy mình lấp
lỗ châu mai một cách “công thức” chăng? Vâng, chúng ta rất giống nhau, chúng ta
người nào cũng được Đảng giáo dục yêu nước, yêu dân, cũng được Đảng dặn dò: khi
cần thiết thì hy sinh quyền lợi cá nhân cho quyền lợi dân tộc, cũng được Đảng
khuyên vứt bỏ cái tự do vô chính phủ rất xấu, mà tự nguyện đứng vào hàng ngũ,
vào tổ chức và kỷ luật rất đẹp! Vâng! nếu có một cái khuôn nào, thì đó là cái
khuôn cao cả, vĩ đại, phong phú, cái khuôn con người mới biết tự cường, chiến đấu,
hy sinh!
Chúng ta không ưa chút nào cái sáo mới trong những tác phẩm
sau Cách mạng, như những anh bí thư chi bộ hoàn toàn gương mẫu, giải quyết được
mọi vấn đề, như những truyện phát động quần chúng lúc nào cũng có đủ ba giai đoạn:
nông dân có khổ, nông dân vùng lên, và nông dân thắng lợi. Nhưng văn học trước
Cách mạng há chẳng đầy rẫy những cái sáo cũ như: chàng bên sông gò ngựa, nàng
ngồi đan áo len bên cửa sổ, đan đi rồi lại tháo ra đan lại, như giang hồ vặt,
như tự tử vì tình, v.v… Chúng ta ghét cay ghét đắng bệnh sơ lược, công thức
trong văn học mới chúng ta, nhưng chúng ta không muốn có người định dùng hai thứ
đó như vũ khí để đánh vào những nguyên lý đúng đắn về văn học của chủ nghĩa Mác
– Lê-nin. Bệnh công thức của ta rất đáng ghét, tuy nhiên động cơ của nó là muốn
nói cái mới, cái hay, chỉ vì thiếu nghiên cứu, thiếu sáng tạo mà rơi vào chỗ
sáo, ít nhất là nó có hảo ý, chứ còn cái công thức của tư sản phản động, của
văn hoá Mỹ thì ác ý và ghê tởm vô cùng; nó cố tâm ném cát vào mắt con người, đổ
mực đen trên lương tâm con người; làm cho con người ngu đi, hoang mang đi, để dễ
xỏ mũi! Cái công thức Mỹ rất là rối lắm, ly kỳ, nhưng nghèo nàn một cách thảm hại;
nó trộn những đùi, những vú lẫn với những cao bồi, súng lục, rừng cây, ngựa,
giây thừng, cảnh thì xẩy ra ở miền Tây Hoa Kỳ, ở cái xứ Farwest [1] lắm
vàng, và dù nhiều khi có thay việc bắn người da đỏ bằng việc giết người da đen,
nhưng muốn trộn đi trộn lại thế nào, cũng cứ phải quay về đùi, vú, súng lục.
Văn hoá phản động Mỹ quả là nhiều óc sáng tạo, cho nên chỉ có một việc giết người,
mà bày ra được bao nhiêu là món, là cuốn phim mà chỉ đọc đến tên cũng đủ ngấy
lên tận cổ và rợn tóc gáy. Hôm nay chiếu: Khẩu súng lục – Dưới nòng súng lục
– Người cầm súng lục – Thôi Any, hãy rút khẩu súng lục ra em – Vài chuyện về vấn
đề súng lục – Bản hoà âm của sáu khẩu súng lục… hoặc Hôm nay phim mới: Sinh
ra đời để giết – Kẻ giết người – Tên giết người được tự do – Những kẻ giết người
ở thung lũng chết – Tôi đã giết Dét-sơ-jam – Tôi đã giết Giê-rô-si-mô – Tôi đã
giết Kít Bi-ly – Giết hay là bị giết – Bắn để giết, v.v… Cái thứ sơ lược
và công thức thoái hoá, phản động này tràn lan trong phe tư bản và đế quốc, và
hiện nay nó tác hại ở miền Nam của chúng ta. Chúng ta chống và chữa những bệnh ấu
trĩ của nền văn nghệ non trẻ của chúng ta, nhưng chúng ta cũng khẳng định rằng:
không có chân trời mới nào hết ngoài cái văn nghệ xã hội chủ nghĩa của phe ta
và cái văn nghệ tiến bộ của thế giới; chúng ta không đi tìm hang sâu vực thẳm
nào khác!
Nhưng sở dĩ người ta nói nhiều về bệnh sơ lược trong văn học
xã hội chủ nghĩa, là vì, nó đúng là bệnh ấu trĩ trong khi lớn lên: nó rất dễ
trông thấy, bởi thực tế xã hội chủ nghĩa tiến nhanh quá, thế giới xã hội chủ
nghĩa cải tạo mau quá, văn học cứ bị chậm bước đuổi theo sau; với lại dĩ nhiên
người ta chú ý đến bệnh trong trưởng thành của một nền văn học sống, nhiều hơn
chú ý đến bệnh già nua của một nền văn học chết.
Muốn chữa bệnh sơ lược
Có hai cách chữa bệnh sơ lược: một cách giả tạo và một cách
chân chính.
Cách chữa giả tạo là dựa vào hình thức, vào kỹ thuật, tránh sự
tẻ nhạt bằng cách bịa những “trò chơi” quái ác, bằng cách bẻ quặt quẹo thực tế
khách quan cách mạng theo thích thú cá nhân của mình, không biết rằng giản đơn
có khi là công thức, mà rắc rối cũng lại là công thức. Chữa giả tạo bằng cách
quá đề cao cá tính siêu nhân của người văn nghệ; bằng cách đem “tiếng sáo tiền
kiếp” ra thổi giữa những bản đàn của thời đại mà mình cho là chán. Bằng cách phục
hồi nguyên xi những ý tình cũ kỹ đã bị cách mạng thải ra. Chữa giả tạo trên
hình thức bằng cách làm thơ leo thang hay xuống dốc, cắt nát câu thơ ra và xuống
giòng nhiều quá sự cần thiết. Những cách chữa đó rơi vào một sự lập dị nặng nề,
và công chúng là người biết chọn đá thử vàng giỏi nhất, công chúng không lầm
vàng thực với vàng mạ!
Muốn chữa bệnh sơ lược có hiệu quả, theo ý tôi, cách chân
chính vẫn là nghiên cứu sâu thực tế cách mạng. Quần chúng sáng tạo ra lịch sử,
sáng tạo ra cuộc sống, tức là đồng thời cũng sáng tạo ra cái chất của văn học.
Nếu không nghiên cứu đời sống thực tại, mà lại nặng về tìm tòi kỹ thuật ở trong
căn buồng, thì tác phẩm sẽ không có chất, sẽ nông cạn, giả tạo. Cái mới căn bản
nằm trong đời sống cách mạng; những ý thức tập thể, ý thức chủ nhân ông, ý thức
dành quyền chủ động, những tình cảm yêu con người đến mức tuyệt cao là xoá tất
cả áp bức bóc lột, những cái ấy chưa từng có trước đây trong lịch sử; ta phải
nói được cái mới căn bản đó, chứ không phải rơi vào một thứ “Mới chủ nghĩa”, đi
tìm những cá tính lập dị nào. Chúng ta cũng không cần quá câu nệ, đừng cho rằng
sự lặp lại nào cũng là rập khuôn, chớ thấy quần chúng muôn người như một hay
nói đến đoàn kết, đến phấn khởi chẳng hạn, mà cho là họ nói
như vẹt. Chúng ta phải cảm nghe trong đó tất cả cái mới mẻ, cái hân hoan, cái
tin tưởng của những giai cấp trẻ trung mới bước lên vũ đài của lịch sử, họ nói
đến những chữ mà có người cho là rập khuôn đó, cũng như người thanh niên nói đến
tình yêu; chế diễu những chữ “anh yêu em”, những câu thề ước hẹn hò là thái độ
của những kẻ già nua và hằn học.
Ví dụ như ở một đám cưới đời sống mới, mặc dầu có cái vỏ công
thức nào đó như “tuyên bố lý do”, “hai họ phát biểu”, kể cả cái khẩu hiệu “Vui
gia đình không quên nhiệm vụ” nữa, − những cái đó người nào đi dự nhiều đám cưới
rồi thì dễ chán, − nhưng chúng ta cần có con mắt xanh, con mắt yêu thương giai
cấp thật sâu sắc để thấy cái ý tốt đẹp của những người tổ chức nên, thấy cái đạo
đức mới đang thành hình, để cảm thông với lòng phơi phới mới toanh của cô dâu
chú rể; và những chú thiếu nhi, thiếu niên chen chúc đứng nhìn kia, họ không thấy
“rập khuôn” gì cả, mà lại thấy đám cưới đời sống mới thật ý nghĩa, thiêng
liêng! Thấu hiểu được cái ruột tươi thắm của sự việc rồi, nếu anh góp được cho
nhiều sáng kiến, sáng tạo để làm cho các đám cưới đời sống mới sinh động hơn,
hình thức không giống nhau, thì hay biết mấy! Cũng như anh đừng nên bực mình vì
quần chúng cứ hát mãi một bài cũ “Kết đoàn”, mà nên bực mình vì nhạc sĩ chưa
sáng tác được những bài đồng ca mới vừa hay vừa dễ hát cho quần chúng. Dưới cái
vỏ công thức, phải biết nhìn cái bản chất không công thức một chút nào, và có vậy
mới xé được cái vỏ công thức một cách đúng đắn, hiệu quả!
Người ta tặng cho nhà văn là “kỹ sư tâm hồn”, nhưng trước khi
là kỹ sư, phải là thợ học việc. Trước khi dạy quần chúng, thì chúng ta phải học
quần chúng cái đã. Chúng ta phải biết yêu, ghét với quần chúng. Nếu ta chưa thiết
tha yêu quần chúng, thì làm sao quần chúng yêu tha thiết được tác phẩm của ta?
Tôi không nói đến việc hiểu biết về nghề nghiệp, về chuyên môn, vì cái đó lẽ dĩ
nhiên là phải biết, mà phải biết thấu đáo. Và cũng dĩ nhiên cần phải có năng
khiếu văn nghệ nữa, vì một người dốt thì học phải thông, chứ người không có cổ
họng tốt thì hát mãi cũng không thể nào hay được. Nhưng cái mà người ta gọi là
độc đáo, theo tôi nghĩ, không phải tự đâu ở ngoài đến; khi đã có con mắt nhìn
đúng đắn, sâu sắc, khi nhiệt tình cách mạng nung cháy tâm hồn, thì tự nhiên
sinh ra cái độc đáo. Vì những cái gì toát ra tự toàn tâm toàn ý của ta, tất phải
có bản sắc, sắc thái riêng của ta. (Nếu vẫn cứ không có bản sắc riêng, thì có lẽ
đã chọn nhầm nghề, và đã thành ra một vấn đề khác).
Sống trong một cuộc đời ào ào như thác, giữa những con người
mới vùn vụt tiến lên, những người có tài, có năng khiếu nhất cũng không thể chỉ
cậy ở tài mà không lăn vào thực tế. Tôi tưởng tượng rằng: nếu bà Thị Điểm mà sống
lại, và viết một bản Chinh phụ ngâm mới về phong trào hoà bình thế giới
hiện nay, thì Hồng Hà nữ sĩ cũng phải nghiên cứu đời sống quần chúng khổ đau
gây ra bởi chiến tranh đế quốc. Nếu Nguyễn Du còn sống và muốn viết về cuộc đấu
tranh và lao động hiện tại của nhân dân ta, Nguyễn Du cũng tự nguyện đặt mình
dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, và cũng phải thâm nhập vào quần
chúng hiện tại!
Khi đã nghiên cứu kỹ thực tế của quần chúng, thì ta sẽ thấy rằng
tô hồng là sơ lược, mà bôi đen cũng là sơ lược, hồng hay đen chẳng qua cũng như
màu dùng dưới tay hoạ sĩ, hoạ sĩ có thể dùng nhiều màu hồng hay dùng nhiều màu
đen, nhưng xong cả bức tranh, thế tất phải là một bức tranh tích cực, lạc quan,
chứng tỏ rằng cuộc đấu tranh giữa cái tốt và cái xấu trong chế độ ta, cái tốt
phải thắng và càng ngày càng thắng.
°
Nhiệm vụ của chúng ta chống bệnh sơ lược là cấp bách. Sự
chênh lệch giữa nhu cầu văn nghệ của quần chúng với chất lượng tác phẩm của
chúng ta là một điều đáng lo nghĩ. Chúng ta cần giúp nhau chống bệnh sơ lược,
chống nông cạn, chống bôi bác, chống nghèo nàn, và cùng nhau xây dựng những tác
phẩm sâu sắc, dào dạt, sinh động như đời sống cách mạng của chúng ta, xây dựng
những tác phẩm phong phú trên cơ sở quần chúng.
2-1957
Viết sự thật
Chúng ta là những nhà văn, tức là những người yêu sự thật,
thiết tha tìm chân lý. Chúng ta không những muốn nghiên cứu, tìm hiểu thế giới
thực tại, mà còn muốn dùng văn học để cải tạo thế giới thực tại, đưa nó tiến
lên hướng mà chúng ta muốn: hướng xã hội chủ nghĩa.
Vì vậy, chúng ta không thể bị động trước những sự có thật
(hay là thực tại), mà phải biết nhìn, biết chọn những sự có thật để đưa vào tác
phẩm. Nhất định tác phẩm của ta phải là một đóng góp tích cực vào cuộc đời, dù
khi nói đến hàng trăm sai lầm khuyết điểm đi nữa, cũng không được gieo rắc
hoang mang, trái lại, vẫn cứ, hay vẫn càng đầy rẫy tinh thần lạc quan cách mạng.
Chúng ta nói những sự thật là có một mục đích, mục đích làm công tác tư tưởng bằng
văn học, nên ta không phải là một người cầm cái máy ảnh tốt rồi bạ gì cũng chụp
ảnh, cũng in ra.
Chúng ta không hoàn toàn đi theo cái chủ nghĩa thành thật,
vì chủ nghĩa đó chỉ đúng có một nửa. Nhất định những thơ văn nào chúng ta viết
ra đều là máu, là huyết của ta, đều là thiết tha, thành thật, mà có thiết tha,
thành thật thì mới hay được. Nhưng không phải tất cả những tình cảm nào thiết
tha, thành thật đều nên đưa vào thơ văn. Ví dụ: Ngay hiện giờ đi nữa, có những
lúc, những chặng ngày ta buồn rầu, tan rã cả người, cái “tiếng sáo tiền kiếp” [2] đó
thỉnh thoảng hãy còn thổi trong ống xương sống của ta! Nhưng không phải vì thế
mà ta đem nó ra làm thơ, để lây những phút giây tan rã đó ra cho người khác.
Trong những chế độ bóc lột cũ, người thi sĩ nói cái tan rã tiêu cực của mình,
cũng là, dưới một khía cạnh nào đó, tố cáo cái chế độ cũ làm khổ con người.
Nhưng, trong chế độ ta hiện nay, theo ý tôi, ta chỉ có thể viết những tan rã đó
ra khi mà đồng thời ta cũng vạch được ít nhất là một phương hướng để chữa cái
tan rã đó. Nhà văn giỏi phải là một kỹ sư tâm hồn, tôi còn nghĩ cao hơn: nhà
văn giỏi còn phải là một bác sĩ tâm hồn nữa; vì nếu chỉ là một kỹ sư phân tích
tâm hồn rất tinh tế, mà không chữa được cho tâm hồn khi tâm hồn đau ốm, thì
cũng chưa thực là một kỹ sư tài tình và đầy đủ trách nhiệm.
Nhà văn đối với tâm hồn như vậy, nhà văn đối với xã hội cũng
vậy. Không phải cứ thành thật mà đủ, không phải chỉ có dụng ý tốt mà đủ (huống
chi là dụng ý xấu!). Nhà văn trong chế độ cũ có thể phân tích bệnh hoạn trầm trọng
của xã hội bóc lột, rồi bỏ đấy mà đi. Nhưng những nhà văn kiểu mới, sống
trong chế độ này, tài năng có thể chưa bằng một phần nghìn của thiên tài Sê-khốp
(Tchékov), nhưng không thể chỉ làm như Sê-khốp nói tất cả cái xót đau dưới chế
độ Nga hoàng, nói rất thiên tài, nhưng rồi dẫm chân một chỗ, không biết làm sao
thoát ra được. Nhà văn hiện nay nên phát hiện nhiều vấn đề mới; nhưng nêu vấn đề
ra, nếu chưa giải quyết dứt khoát được, thì ít nhất cũng bao hàm một hướng giải
quyết, một thái độ giải quyết. Nếu chỉ nêu vấn đề ra rồi vứt giữa xã hội, thì
chỉ tổ gây hoang mang. Vào trong xã hội, mà chỉ tin ở sự thành thật theo cảm
tính của mình, thậm chí cố tình không mang theo những thứ mà mình cho là tầm
thường, như lập trường, như đảng tính v.v…, thì càng tưởng
rằng viết theo sự thật, lại càng sai lạc.
Bởi vì có những sự thật bao quát, như nhìn chung mà nói, miền
Bắc ta phấn khởi tiến lên, có những sự thật cục bộ, như ở nông thôn có nhiều hậu
quả của sai lầm trong cải cách ruộng đất. Làm thế nào nói được sự thật nhỏ và
lâm thời mà không chống đối với sự thật lớn và lâu dài. Làm thế nào không vì sự
thật hiện tượng mà xoá mờ sự thật bản chất. Ta tán thành, và yêu cầu nữa, nhà
văn nói khuyết điểm của Đảng, nhưng phải tả những rác rưởi che cuộc đời
như “gấu ăn mặt giăng”, [3] theo
như câu thơ của Lê Đạt tuyên bố, chứ không thể tả mặt giăng là một con gấu… Đảng
như tấm gương, bị bùn lấm, nhưng phải tả bản chất Đảng của giai cấp vô sản vẫn
là tấm gương trong.
Dưới chế độ của ta, có những sự việc chạy theo quy luật mới,
cũng còn nhiều sự việc chạy theo quy luật cũ. Trong tâm hồn ta, những tình cảm
tốt là có thật, mà những tình cảm xấu cũng là có thật. Có những khi ta phải tự
nguyện, tự giác mà cắt xén những tình cảm ngang trái, lạc lõng của ta, mà như vậy
không phải là “đem bục công an máy móc đặt giữa tim người”. Nhà văn phải tả cuộc
đấu tranh đau xót đó, và phải đứng về phía đúng đắn, phía chân lý. Trong đời,
những cuộc thí nghiệm như trong Một trò chơi nguy hiểm [4] của
Nguyễn Thành Long là có thật, và có thể chơi nguy hiểm hơn thế nữa; nhà văn muốn
viết những sự thật đó ra, thì phải bao hàm một thái độ giáo dục, sửa chữa, chứ
không thể mách nước cho những người nào chưa biết chơi nguy hiểm như thế, thì
hãy thử chơi xem.
Theo ý tôi, các tác phẩm văn học của ta nay phải thống nhất
được ba nhiệm vụ:
Phải có giá trị thẩm mỹ, nghĩa là phải cho người ta những
khoái cảm, những lạc thú về cái đẹp đẽ, cái diễm lệ, cho người ta những tình cảm
cao độ, tập trung, rung động cả tâm thần, v.v… Không có giá trị thẩm mỹ, thì bất
thành tác phẩm nghệ thuật.
Nhưng muốn diễm lệ gì, muốn ly kỳ, muốn xúc cảm, muốn mê ly
gì, cũng phải bao hàm ý nghĩa giáo dục. Dù chỉ tả hoa nở chim kêu, cũng là
giáo dục về cái đẹp đẽ, cái du dương cho con người. Văn học cũ giáo dục cho ta
tinh thần nhân văn, ý thức đề kháng, chống đối với áp bức bóc lột, v.v… Văn học
mới, văn học cách mạng giáo dục và nhấn mạnh vào tinh thần lạc quan, chủ động,
chiến đấu. Hiện nay một tác phẩm diễm lệ mà giáo dục không tốt chút nào, thì
cũng không thể là giá trị được. Cố nhiên ta phải hiểu nghĩa sự giáo dục đó một
cách không hẹp hòi, và tính cách giáo dục đó phải toát ra tự nhiên, càng kín
đáo càng hay, không thô sơ, lộ liễu.
Và cũng còn phải có tác dụng tuyên truyền nữa. Mà về
tuyên truyền, thì phải chiếu cố đến hoàn cảnh xã hội, chính trị từng thời kỳ.
Theo tôi nghĩ, những tác phẩm viết về sai lầm trong cải cách ruộng đất chẳng hạn,
nếu viết với một quan điểm đúng, với một nghệ thuật cao, rất có tác dụng giáo dục.
Nhưng không phải những tác phẩm viết về đề tài và khía cạnh ấy đều đạt tới mức
độ thật đúng đắn, tài tình. Những tác phẩm nói khuyết điểm mà chưa thành công,
lại in ra ngay giữa lúc nhân tâm đang còn hoang mang, chưa bình tĩnh lại, thì
là một cái nguy hại. Khi mà không khí còn đầy hơi ét-xăng, chỉ một que diêm
đánh lên cũng có thể gây đám cháy lớn. Kinh nghiệm ở Hung-ga-ri cho ta thấy: có
những nhà văn Hung-ga-ri, trong lúc tâm thần quần chúng đang kích thích cao độ,
lửa đã đỏ lại đổ thêm dầu, không nói đến thành tích mà chỉ toàn nói đến sai lầm,
đã đưa đến kết quả là làm lợi cho bọn phản cách mạng. Các ngành hoạt động nào
cũng phải chú ý đến hoàn cảnh chính trị cụ thể; văn nghệ dù có đặc trưng gì đi
nữa, cũng không thể đứng trên những yêu cầu chính trị của thực tại được. Vả lại,
khi chính quyền của nhân dân đã vững mạnh, thì vạch khuyết điểm một cách khác,
khi chính quyền của nhân dân còn non mới, phải vạch khuyết điểm một cách khác.
Như trong Kháng chiến, một tác phẩm viết về thua trận phải đưa ra với muôn
nghìn thận trọng. Có thể có một tác phẩm chưa nên in trong một giai đoạn này,
mà in ở giai đoạn sau.
Ba nhiệm vụ: thẩm mỹ, giáo dục và tuyên truyền trên đây không
có gì là chống đối nhau cả.
Việc sáng tác văn học có nhiều trách nhiệm như vậy. Nhưng đó
chính là vinh quang của những nhà văn trong chế độ chúng ta, những nhà văn có
thể có nhiều tài hay ít tài, nhưng nhất định là những nhà văn kiểu mới.
4-1957
Tuyển tập Thơ Việt Nam [5] đối
với phong trào thơ
Làm một tuyên tập Thơ Việt Nam bao quát từ Cách mạng
tháng Tám đến nay, ai cũng biết là một việc khó. Mười ba năm thơ là một phạm vi
rất phong phú, ngổn ngang. Khó mà vừa lòng mọi người, các tác giả cũng như bạn
đọc. Tuy nhiên, theo ý tôi, ở giữa khối thơ bề bộn đó, nếu ta chủ động có một
lý luận chắc chắn, có một phương hướng rõ rệt, thì ta vẫn làm nổi được những đường
nét căn bản; còn những thiếu sót chi tiết, thì ai mà tránh khỏi. Nhà làm tuyển
tập không những nhằm “Tiêu chuẩn để chọn các bài thơ là giá trị nghệ thuật”, mà
phải là một nhà phê bình, một nhà văn học sử nắm đúng được những đặc tính căn bản
của phong trào, đánh giá những ưu khuyết, phân tích từng chặng diễn tiến. Tìm
chọn ngọc trai mới chỉ là một phần công việc; phải có một sợi giây xâu những ngọc
đó thành chuỗi, thì mỗi viên ngọc mới khỏi rời rạc lăn lông lốc.
Dù muốn dù không, tuyển tập lớn này vẫn là một công trình tổng
kết, dù là tổng kết sơ bộ. Không thể cho rằng việc nhận định lại phong trào thơ
từ Cách mạng đến nay “là việc của Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ hai và của
tổ chức các nhà văn Việt Nam sau này”. Không nhận định những đặc điểm chính của
phong trào thơ, thì lấy đường hướng nào để làm tuyển tập? Hoài Thanh đã có tinh
thần phụ trách và đã tự mình hợp lẽ với công việc mình làm, khi đặt trước tuyển
tập Thi nhân Việt Nam (1932-1941) của ông một bài nghiên cứu, nhận
định. Người đọc yêu cầu trước tuyển tập Thơ Việt Nam (1945-1956) cũng
phải có một bài nhận định như thế, dù chỉ mới trên nét lớn.
Vì thiếu một lý luận nền tảng, một đường lối rõ rệt, nên tuyển
tập Thơ Việt Nam thiếu một xương sống, đến cả việc tự đặt tên cho
mình cũng mơ hồ. Hoài Thanh trước đây tuyển thơ của một số thi sĩ trong thời kỳ
1932-41, trình bày họ trước công chúng, và đặt tên rất đúng cho sách là Thi
nhân Việt Nam, mặc dầu có một số ít người được chọn cũng chưa thật đúng tiêu
chuẩn. Nay tuyển tập 1945-1956 này rõ rệt là một tuyển tập các tác giả, mà sao
lại đặt cái tên rộng lớn là Thơ Việt Nam?
Trong tương quan của thơ trước Cách mạng, sự sáng tác của quần
chúng chưa có được một vai trò trên báo, sách, thì một tập Thi nhân Việt
Nam cũng có thể gọi được là một tập “Thơ Việt Nam”. Nhưng sau
Cách mạng tháng Tám, chưa có thể lẫn lộn như vậy. Vì thơ Việt Nam từ sau Cách mạng
vượt quá tầm nhỏ hẹp của một số tác giả. Thơ của quần chúng công nông binh đã
đường hoàng xuất hiện, rộng lớn như chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Và những
hạn “chưa thành tác giả” cũng đóng góp một phần quan trọng không thể nào bỏ qua
được.
Vậy thì nên có một tuyển tập Thơ hay một tuyển tập Thi nhân?
Theo tôi nghĩ, hiện nay, vì nhiệm vụ đối với phong trào, cần có một tuyển tập
Thơ. Ban làm tuyển tập đề ra một tuyển tập Thơ Việt Nam 1945-56 là
đúng, chỉ tiếc là cái ruột chưa đúng.
Đặc điểm của mười hai năm thơ sau Cách mạng tháng Tám là gì?
Theo ý tôi, cái rất mới lạ, cái tự hào của chúng ta là một phong trào thơ lớn rộng
chưa từng có, với sự tham gia của hàng chục vạn người, mang tính cách hiện
thực, tính cách chiến đấu, và tính cách quần chúng rất rõ rệt.
Phong trào đó kết tụ lại trong một số tác giả, trong những bài thơ tốt của những
người “chưa phải tác giả” hoặc đang trên đường trở thành tác giả, và trong những
bài ca dao, hò, vè tốt của công nông binh. Ba thành phần, ba “khu vực” đó gắn
liền, giao nối với nhau, từ công nông binh đến các tác giả không thể có một sự
chia cắt nào. Và cái ngọn tác giả luôn luôn phải nhìn về cái gốc quần chúng. Điểm
cách mạng nhất của thơ mười hai năm qua, là quần chúng ào ạt, mãnh liệt vào
trong thơ; các tác giả đi vào quần chúng tìm thơ, biểu hiện quần chúng trong
thơ, và quần chúng tự mình làm thơ. Nội dung của thơ đổi thay về căn bản và mở
rộng vô cùng. Chưa bao giờ có một sự rào rào vươn lên của hàng vạn người muốn
nói những ý tình thật tốt đẹp, cao cả. Nhưng con đường đi tới những tác phẩm
nghệ thuật là lâu dài, gian khổ. Thơ của ta như ngọn suối “mới sa nửa vời”, cuồn
cuộn sức sống mới, nhưng nước hãy còn đục, chưa in lắng được một cách trong
sáng và kết đọng cảnh vật hai bên bờ. Thơ của ta là một cái gì đang đi, đang
gieo, đang nảy; chưa phải là một mùa chín rộ gặt hái. Phải vững chắc và khẩn
trương trên đường đi, nhưng không thể nóng ruột. Chưa nên vội vàng quá chú trọng
vào các “tác giả”. Số “tác giả” hãy còn ít, và cũng chưa thật là kết tinh cho
quần chúng. Mà phải chú trọng vào tính cách hợp tấu của một nền thơ
cách mạng đang rất trẻ. Hãy nặng về chọn lọc tất cả những bài thơ hay, thơ tốt
bất cứ là của công nông binh “vô danh”, của “tác giả” hay “chưa tác giả”, miễn
là thành tựu. Nghệ thuật đòi hỏi một phong trào văn học phải kết tinh vào những
tác phẩm hẳn hoi, vào những thi sĩ thật sự, hơn một mức nữa, vào những thi gia
ưu tú. Đó là quy luật tất yếu. Nhưng không thể thi hành ngay quy luật đó một
cách máy móc đối với tình hình thơ của ta. Ban làm tuyển tập cố nhấn mạnh vào
các tài đơn ca, trong khi đơn ca chưa nổi bật, mà cái hay, cái đặc điểm của
phong trào thì lại là một cuộc hoà tấu phong phú hơn nhiều. Tuyển tập “Thơ Việt
Nam” là một cái gương chưa thật đúng và bẻ một nửa của phong trào thơ.
Một việc chúng ta làm là phải theo nhu cầu và nhiệm vụ mà
làm; không thể lấy một lời nói đầu xin lỗi mà gạt nhiệm vụ đi được. Nhiệm vụ của
một tuyển tập thơ 1945-56 là phải chọn lọc thơ của công nông binh. Dù có gặp
khó khăn, cũng phải gắng vượt. Để dịp khác là lúc nào? Mười một năm đã qua rồi,
đợi tuyển tập khác, là bao giờ nữa? Đứng về giá trị nghệ thuật (nội dung lẫn
hình thức), ví dụ nói về tàn ác của giặc, một bài như Về thăm làng vùng bị
chiếm của Phạm Phú Thuần tuy có cái gân guốc của một bài hành [6] cổ
thể và những nét hiện thực, nhưng tôi đọc nhiều lần mà cứ thấy khúc khắc, lạo xạo,
rất khó khăn, tôi thấy không hơn đoạn kể tội ác giặc trong bài “Vè Quảng Giang”
của nông dân Bình Trị Thiên kháng chiến:
Người chọc huyết như hình gà vịt,
Người đem ra xẻo thịt như trâu,
Người thì lấy búa bửa đầu,
Nấu nước sôi nó đổ, nấu dầu nó chưng.
… Bàn tay lấy dây đồng xâu lỗ,
Nặn máu hồng nó mổ lấy gan.
Cực hình chi lắm dã man!
Máu me Hồng Lạc kêu than không thấu trời!
Những bài bi thiết, hiện thực, mà giản đơn, có giá trị nghệ
thuật như vậy của quần chúng, tại sao chưa đưa vào tuyển tập một lần nào, trong
khi bài của Phạm Phú Thuần được đưa vào đến hai tuyển tập? (Lần trước
trong Tập văn Cách mạng và Kháng chiến, 1950).
Những bài thơ như bài “Chuyển máy” của công nhân, tả đến tột
cùng cao độ cái lao động của con người kháng chiến, mang một thái độ chủ động
quyết liệt, tư tưởng tính cao, nghệ thuật tính vững:
… Dạng chân trèo, xoạng cẳng kéo hồ lô,
Vai tỳ, tay đẩy, gối thúc, lưng gò,
Bụng nổi cục cuộn lên từng đám ruột.
Bao hơi sức đều đem dồn ra tuốt,
Miệng há tròn giật cục thở từng hơi.
Tay có trơn, ta xoa cát mà lôi,
Chân có trượt, bấm sâu thêm chút nữa.
Sức có mệt, tiếp thêm người kéo cố
Chiếc hồ lô to như con voi cộ
Và nặng hơn chục tấn có vừa đâu…
… Mưa bao giờ rụng hết lá rừng cây,
Chặt vài cành che thay nón đêm nay,
Và đường trơn dẫu có bằng đổ mỡ,
Cành cây đây ta làm thêm chân nữa…
Một bài thơ khí thế mạnh như vậy, tại sao không được vào
trong những tuyển tập?
Những bài thơ đạt của bộ đội không phải là ít. Một đoạn thơ
ngắn như của Hữu Tâm, chỉ trong tám chữ mà nói cả một ngày của đồng bào mong chờ
bộ đội trong chiến dịch sông Thao 1949:
Nhà em phố xá buôn nghèo
Nấu thùng nước vối đặt theo bên đường.
Chờ anh tự sáng mờ sương,
Bát khô, nước nguội soi gương mặt người.
Một tiểu đội nghĩ đến “thằng Liên, thằng Khình”, khi nào cùng
nhau đóng ở núi Phia Khinh, nay đã tử trận:
Liên! Khình!
Trên Phia Khinh!
Hay chăng có nhớ chút tình chúng tao?
Cùng cầm súng, cùng cầm dao,
Cùng ăn cơm nắm, cùng vào đồn Tây;
Cớ sao hôm nay vắng mặt chúng mày
Để súng ai vác, để dây ai chuyền?
Chúng tao lắm lúc cũng quên,
Nhưng khi nhớ đến lại thương Liên, Khình.
Chúng tao đã biểu đồng tình;
Phia Khinh xoá bỏ, Liên Khình là tên.
(Họ ước hẹn riêng với nhau: lấy tên Liên Khình đặt tên cho
núi). Một bài thơ nói cái chết của đồng chí Phan Phú ở trận Bản Trại:
Trên mặt trận đưa về,
Đôi chân anh gãy nát.
Áo quần đẫm máu mê,
Nụ cười đọng trên đôi môi nhợt nhạt.
Anh nằm yên anh ơi,
Em đưa anh về bản,
Anh nói gì trong mê sảng,
Cho lòng em ngậm ngùi.
Anh vẫn nằm yên không nói,
Đường dài mưa lất phất rơi.
Quay đầu em lo lắng gọi,
Thôi anh không thưa nữa rồi.
Anh chết trên vai em!
Máu thấm vào tà áo,
Đêm trăng mờ ảo não,
Sắc thắm lẫn màu chám,
Anh đã chết!
Không! Không bao giờ cả,
Đêm nay dù gục ngã,
Muôn ngày mai thanh bình,
Dâng anh còn sống mãi
Trong lòng người áo xanh.
Phạm Lượng
Những bài thơ như thế này phần nhiều quên ghi tên người làm,
bởi nó chóng thành của chung của quần chúng. Vâng, nhiều bài của công nông binh
không phải chỉ là những câu “nôm na”, “đơn giản”, “hò vè” mà thôi đâu. Nó là những
bài thơ hẳn hoi, mỗi lần tôi đọc trước hàng trăm, hàng ngàn người, công chúng
và chính tôi lại thấy sao mà cảm xúc, đậm đà hơn thơ của một số “tác giả”. Những
bài thơ thành tựu đó đòi quyền vào trong các tuyển tập: đây không phải là chiếu
cố, mà cân sắc cân tài, nó không thua kém ai đâu! Thế thì vì lý do gì mà hoãn
mãi, gạt mãi những sáng tác đó? Có phải chỉ vì họ là vô danh, là chưa phải tác
giả chăng?
°
Tuyển tập Thơ khác tuyển tập Văn. Văn do những người chuyên
nghiệp hay nửa chuyên nghiệp làm; còn thơ thì lại có vai trò sáng tác của quần
chúng. Quan niệm của tôi là: nên làm một tuyển tập những bài thơ hay,
tốt trong mười một năm qua. Những bài của công nông binh mở đầu; tiếp theo là
thơ của những người có tên; cứ lấy những bài đạt, không phân biệt “tác giả” hay
“không tác giả”. Tên ký dưới bài cũng được, chưa cần treo cao lên đầu trang
sách. Giữa những người có thơ được chọn, ai là tác giả, tác gia, tự giấy trắng
mực đen sẽ nổi bật lên.
Vướng vì cái quan niệm “tác giả”, Ban làm tuyển tập bỏ một số
bài đạt rất đáng chú ý. Với cái mức độ của một số bài đã được chọn, thì một
Chính Hữu chẳng hạn, tác giả những bài: “Ngày về”, “Đêm sầu Hà Nội”, nhất là
bài “Đồng chí”:
Quê hương anh nước mặn đồng chua,
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá,
Tôi với anh đôi người xa lạ,
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau,
Súng bên súng, đầu nấp bên đầu,
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ…
Chính Hữu rất xứng đáng vào tuyển tập. Những bài thơ như
“Gang ra” của Xuân Cang, đáng được ghi nhớ:
… Bóng lò cao cao, thang cuốn mấy tầng
Bừng sáng rực, trong muôn làn khói toả;
Ánh điện mờ đi, mắt người chói loá
Vì một dòng suối lửa chảy băng băng
Như từ núi cao đổ xuống đồng bằng
Suối lửa huy hoàng, tràn lan, rực rỡ…
Những bài như “Bức tranh sinh hoạt” của Minh Tiệp, “Tôi
khiêng anh bạn” của Quản Tập, “Gặp chị” (đều đã đăng Văn nghệ), thành thực
mà nói, nếu chọn bài, thì tôi thấy tài sắc hơn nhiều bài trong tuyển tập, nhưng
Ban làm tuyển tập lại cho họ chưa phải là tác giả. Đối với các nhân sĩ lão
thành, thì đã chọn thơ cụ Phạm Phú Thuần, nên chọn thơ kháng chiến của cụ Võ
Liêm Sơn.
Ta cần nắm chắc đường hướng văn nghệ công nông binh. Ta để ý
đến nhiều giòng, ta rộng mở với mọi rung cảm làm phong phú tâm hồn con người,
ta thấu hiểu những yêu đương, những mơ mộng nữa; ta không bạ nơi nào cũng chụp
cho thiên hạ một cái mũ “tiểu tư sản”, “lãng mạn” một cách không căn cứ. Nhưng
đồng thời ta luôn luôn nhớ thơ ta phải tìm mọi cách gần gũi công nông binh, diễn
tả công nông binh, trân trọng sáng tác của công nông binh, công bằng với những
cây bút xuất thân từ công nông binh. Vì xét cho cùng, văn học cách mạng tân kỳ
chính là ở nội dung quần chúng và hiện thực. Tôi không yêu cầu chiếu cố đến Hồ
Khải Đại, tôi đòi chỗ trong tuyển tập cho người bộ đội làm thơ đó. Một bài như
“Lớn lên” của Hồ Khải Đại nói được tâm ý của hàng vạn bộ đội:
Yêu hạnh phúc tuổi xanh
Thương cha mẹ, gia đình
Yêu con trâu luống đất
Chưa về trong tay mình.
Nhớ khi vào vệ quốc,
Người mới cao đủ thước,
Sức nặng không đủ cân,
Ôm hòn đá dấu quần,
Hồi hộp lo ngay ngáy,
May! Trúng vệ quốc quân!...
Một điểm chính nữa tôi muốn nói, là tư tưởng bình quân trong
tuyển tập. Ban làm tuyển tập nói “Văn hay chẳng lựa là dài”. Nhưng một thi sĩ
có nhiều bài thơ hay với những thi sĩ có ít bài thơ hay, có thể san bằng cứ lấy
mỗi người ba bài không? Như thế có phản ánh đúng cái tương quan tài năng, tác
phẩm, và vị trí của các thi sĩ ở trong làng thơ không? Từ mười năm trước Tổng
khởi nghĩa và mười một năm sau, Tố Hữu là người mở đường trong thơ cách mạng.
Những người hiểu biết đều xác nhận vị trí đặc biệt của Tố Hữu; cho đến nay,
trong luồng thơ cách mạng, Tố Hữu có nhiều bài đạt hơn cả, được công chúng rộng
rãi ưa thích hơn cả. Thực trạng đó đòi hỏi phải trích nhiều thơ của Tố Hữu hơn.
Đến việc sắp xếp các người thơ, tưởng không nên xếp theo a,
b, c, mời họ ngồi bàn tròn như thế. Làm như vậy cầu an, tắc trách. Mà phải cố gắng
xếp các bài thơ và tác giả theo khuynh hướng, theo thời kỳ, theo nội dung… Điểm
cuối cùng, là ta phải liệu làm tuyển tập như thế nào để khỏi cái tình trạng một
nhà thơ trào phúng như Tú Mỡ đã hai lần bị gạt ra khỏi hai tuyển tập lớn (lần đầu
là Thi nhân Việt Nam). Chả lẽ đợi chỉ khi nào có tuyển tập thơ trào phúng,
thì Tú Mỡ mới được vào!
°
Năm mươi nhăm người có thơ trong tập. Những bài thơ, nói
chung, chứng tỏ sự chuyển mình mạnh mẽ của thơ Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám
trở đi. Có thể nói trên nét lớn rằng: nhược điểm (ở đây chưa nói ưu điểm) của
thơ trước 1945 là tìm cách thoát ly cái sự thực xấu xa, đau khổ, trốn tránh sự
đấu tranh trong tình yêu mơ mộng, trong tiên cảnh, trong giang hồ, trong điên
loạn, ma quỉ, trong tôn giáo, trong siêu lý v.v… Hầu như các nhà thơ thời ấy
không biết đến quần chúng là gì, không biết đến cái thực tại cụ thể mà quần
chúng sống. Đó không phải là thơ hành động. Đi theo cách mạng, được cách mạng
đưa đường, thơ bắt nguồn vào quần chúng vĩ đại, vào hiện thực vĩ đại, từ thái độ
bi quan, tiêu cực, vươn lên đến một thái độ chủ động, lạc quan; thơ không chỉ
thở than như trước kia, mà đã thành vũ khí, thành công cụ cải tạo xã hội và thế
giới. Đó là một cuộc đổi thay về bản chất. Đó là ưu điểm to lớn, đó là khí thế
vững chắc của thơ mười hai năm qua, cho đầu việc kết đọng thành những tác phẩm
nghệ thuật hẳn hoi còn gặp nhiều khó khăn, vướng nhiều chậm chạp.
Nhiều nhà thơ trong Thi nhân Việt Nam trước, nay có
mặt trong tuyển tập này với một tư tưởng đổi mới, và thơ mang ít hay nhiều một
tính cách quần chúng: Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn
Bính, Tế Hanh, Anh Thơ, Yến Lan, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân. Nhiều nhà thơ khác
trước Cách mạng: Nguyễn Xuân Sanh, Hoàng Cầm, Huyền Kiêu, Lê Đại Thanh, Hoàng Lộc,
Lưu Quang Thuận, Khương Hữu Dụng, v.v… Một nhà thơ đã cách mạng trước khi Cách
mạng bùng nổ: Tố Hữu, và về sau đã tiếp tục nâng cao, mở rộng hồn thơ mình.
Cách mạng lại đã phát hiện, đào tạo hẳn một lớp nhà thơ mới mẻ: Trần Mai Ninh,
Thôi Hữu, Nguyễn Đình Thi, Trần Hữu Thung, Hoàng Trung Thông, Xuân Miễn, Hồng
Chương, Vĩnh Mai, v.v… Tiếp theo đợt đầu này, một đợt mới lại đến hoà vào bản hợp
tấu: Hồng Nguyên, Lương An, Quang Dũng, Xuân Hoàng, Minh Huệ, Kinh Kha, Lưu
Trùng Dương, Phạm Hổ, Trinh Đường, v.v… Những nhà thơ miền Núi chỉ trong Cách mạng
mới nẩy nở: Nông Quốc Chấn, Bài Tài Đoàn, Nông Văn Bút… Tôi không kể lại đây số
bài thơ đã được khá phổ biến. Một số bài khác được công chúng chú ý. Tôi lại
còn ghi nhớ những vần thơ mà đây tôi dẫn ra ít nhiều:
Ai về bến Trấm thì lên,
Về cho sớm sớm, mưa đêm khó chèo
Lương An
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu?
Hoàng Cầm
Hôm nay Cao Bắc Lạng cười vang,
Dọn lán, rời rừng người xuống làng,
Người nói cỏ lay trong ruộng rậm…
Nông Quốc Chấn
Tiếng hát lừng vang trong gió núi
Ngày vàng ngân giọng trẻ ê a
Ở đây bản vắng rừng u tối
Bộ đội mang gieo ánh chói loà…
… Ở đây những mặt buồn như đất,
Bộ đội cười lên tươi như hoa
Thôi Hữu
Mưa nắng phải đành cam chịu vậy
Mẹ con không có đến hai quần
Con đi làm lụng, quần con mặc,
Đắp chiếu tùm hum, mẹ ở trần
Xuân Miễn
Xóm làng đi hết đàn ông
Đàn bà heo hút sống trong thẳm rừng
Anh Thơ
Cam ba lần có trái
Bưởi ba lần ra hoa
Anh bước chân đi ra
Từ ngày đầu cầm cự
Trần Hữu Thung
Có những đoạn thơ nặng chắc hoặc cô đúc:
Những cánh đồng thơm mát
Những ngả đường bát ngát
Những dòng sông đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm nghe tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
Nguyễn Đình Thi
Một tiếng chim kêu sáng cả rừng
Lên đường, chân lại nối bên chân.
Đêm qua đầu chụm run bên đá,
Nay đã cùng mây sưởi nắng hừng.
Khương Hữu Dụng
Trong những bài, những đoạn, những vần thơ đạt, thơ mới của
chúng ta rất hiện thực và nặng suy nghĩ, đầy sức chiến đấu, có một lòng yêu tổ
quốc, yêu nhân dân thắm thiết vô cùng. Tuy nhiên, số bài chưa đạt khá nhiều.
Thành thật mà nói, nhiều tác giả chưa điển hình, chưa rõ nét, sắc thái riêng
chưa rõ rệt. Ban làm tuyển tập không khiêm tốn hẵng chọn những bài thơ cái đã,
mà vội “lên khung” các tác giả, nên người đọc thấy gắng gượng, ọp ẹp, chưa đứng
vững. Đó là vì không nắm được đặc điểm của phong trào thơ.
Lấy những bài hay, bài tốt, bài khá trong tuyển tập này, thêm
những bài như vậy còn ở ngoài tập, thêm những bài hay, tốt của công nông binh,
ta sẽ có được một tuyển tập, chưa dám nói là tuyệt mỹ gì, nhưng đánh dấu được một
bước tiến của thơ Việt Nam mà ta đáng tự hào.
Và còn phải lao động nhiều, nhiều nữa để đi đến những tác phẩm
nghệ thuật kết tinh được thời đại. Sáng tác của ta hiện giờ đang dẫm chân một
chỗ đấy, phải chẩn mạch cho đúng bệnh đang nằm ở đâu, cương quyết mà chữa,
không bao che, không nhân nhượng. Nhưng có gì mà bực bội, hoang mang! Có một đường
hướng đúng, một quyết tâm, bao giờ những nhà văn cách mạng cũng gìn giữ được ngọn
lửa phấn khởi.
5-1957
Mùa đông 1919 – Mùa hè 1957
Tôi rất tiếc không đọc được tiếng Nga, để thấu nghe cho được
cái chân tướng của những câu thơ Mai-a-kốp-ski, để được nhìn tận mắt, bắt tận
tay nhà thơ vĩ đại nhất mở đầu cho thơ xã hội chủ nghĩa. Một thi sĩ Tiệp Khắc [7] biết
tiếng Nga và tiếng Pháp, có nói với tôi: “Ngay đến bản dịch của En-xa Tờ-ri-ô-lê
(Elsa Triolet) ra tiếng Pháp cũng để mất rất nhiều cái hay của thơ Mai-a-kốp-ski”
(Mà Elsa Triolet, như ta biết, là một người Nga và là một nữ văn hào của nước
Pháp). Tôi nghĩ: Như thế này, thì những bài thơ Mai-a mà từ trước đến nay ta dịch
qua tiếng Pháp và tiếng Trung Quốc, trải hai lần truyền đạt, rơi mất dọc đường
biết là bao nhiêu! Nhưng trong khi ta chưa dịch được thơ Pút-kin hay thơ Mai-a
thẳng từ tiếng Nga sang, ta không thể cầu toàn, ngồi đợi; ta tạm thời phải qua
hai lần cầu vậy.
Tôi thú thật ở đây một sở đoản của tôi: trong tình trạng thơ
của nhà đại thi hào Xô Viết dịch ra tiếng Việt hiện nay, tôi rất khó thông cảm về
bài thơ với Mai-a-kốp-ski. “Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”; mà nhiều
người khác cũng than phiền với tôi như thế. Như vậy, mà có một số bạn cứ bắt
chước bài thơ của Mai-a-kốp-ski. Đó là quyền tự do của các bạn. Nhưng
chúng tôi (tôi và bạn đọc) nghĩ: Giá các bạn đó học tập nhiều hơn nữa, sâu hơn
nữa nội dung thơ Mai-a! Còn bắt chước hình thức thơ Mai-a, thì có lẽ chưa cần
thiết lắm. Vì trong khi các bạn tưởng rằng bắt chước cái điệu đứng, điệu đi, điệu
ăn, điệu nói của Mai-a, sự thực các bạn chỉ bắt chước bóng hình của Mai-a qua
hai lần kính đã xoa mờ! Các bạn có biết cái nhạc điệu thực sự của thơ Mai-a
đâu, cái nhạc điệu bằng tiếng Nga mà người Xô Viết rất yêu thích. Nếu các bạn học
được trực tiếp những câu thơ Nga của thi sĩ và đem cái hay của nó dân tộc
hoá sang tiếng Việt, thì các bạn sẽ làm giầu cho những bài thơ Việt
Nam. Còn với tình trạng hiện nay, các bạn chỉ mới bắt chước cái “vó câu khấp khểnh,
bánh xe gập ghềnh” rất khổ cho lỗ tai Việt Nam! Và các bạn chỉ bắt chước cái
hình thức bên ngoài là của Mai-a: thơ leo thang, mà chính Mai-a không phải
người làm đầu tiên đâu; theo tôi biết, trước kia, nhà thơ Pháp Man-lác-mê
(Mallarmé) (cuối thế kỷ 19) cũng đã sáng kiến ra cái lối xuống giòng nhiều như
thế.
Vâng, không nên học tập Mai-a-kốp-ski một cách giáo điều! Mà
trước tiên, phải học tập cái hồn thơ, cái lòng yêu nước, cái lập trường cách mạng
không gì lay chuyển nổi của Mai-a-kốp-ski. Nhà văn Xi-mô-nốp đã từng khuyên
chúng ta học truyền thống Mai-a-kốp-ski là lòng tin sắt đá của Mai-a vào thắng
lợi của xã hội chủ nghĩa, là tuyệt đối không dung nạp mảy may thái độ quỳ gối
trước giai cấp tư sản, là nhà thơ xắn tay áo, không ngại một công tác gì để làm
nhiệm vụ Đảng giao cho: “Truyền thống của Mai-a-kốp-ski không phải ở chỗ bài
thơ Lê-nin hoặc bài thơ Được! viết bằng lối “leo thang” hay
không “leo thang”, mà là ở chỗ Mai-a-kốp-ski đã viết bài thơ về Lê-nin, về Đảng
và Tổ quốc”.
°
Tôi rất dốt về thơ Mai-a-kốp-ski, nên chưa dám đi sâu hơn nữa,
mà mào đầu đoạn trên này là để nói cái cảm kích của tôi khi đọc những bài thơ của
Mai-a nói về thuở hàn vi, cám cảnh của Liên bang Xô Viết tức mới còn trứng nước
ở trên thế giới này. Vâng, cái giọng “oang oang” của Mai-a lúc này càng kiên cường,
dũng khí. Dũng khí chính ngay trong tình cảm, lập trường, thái độ, trong xương
tuỷ mạnh mẽ của bài thơ chứ không phải ở lời thơ mà có người học nhầm thành ra
một thứ huênh hoang.
Tôi nghĩ nhiều đến Mai-a-kốp-ski giữa mùa hè 1957 này. Những
khó khăn về kinh tế của ta hiện nay, trong khi chế độ ta vật vã vươn mình, là
miếng đất tốt cho nhiều thứ hoang mang, nghiêng ngả. Hàn thử biểu của giá cả cứ
lên mà chưa có triệu chứng xuống; cơm trong bữa ăn tha hồ đơm, nhưng bệnh dịch
vật chết gà lợn, cá bể không được mùa, cá nuôi chậm lớn, thức ăn trên bàn co hẹp
lại quá quắt; những nông trường ngốn tiền ngân sách; người thoát ly sản xuất
làm phình bộ máy nhà nước, kỷ luật lao động chưa kích được lên; bệnh cúm lan
trên cả Đông Nam Á, vào Việt Nam làm chật chỗ tất cả các nhà thương, một quả
chanh to có lúc lên đến chín trăm đồng, thuốc tây bị bọn đầu cơ thu dấu; chúng
ta vừa mới chẹn tay bọn tích trữ về vải, nhưng lòng tham không đáy của chúng
còn đang tìm cách quờ tay lên trăm thứ hàng… Có những ngày kim chỉ nam trên địa
bàn tư tưởng của một số người quờ quạng lắc lay… Trong tất cả chúng ta nữa, những
khó khăn trong trưởng thành và một số sai lầm khuyết điểm của ta làm chúng ta nặng
nề sầm mặt lại… Những lúc đó, thơ Mai-a-kốp-ski là một viện trợ tinh thần quý
báu, đúng cái tiếng oang oang sang sảng của Mai-a đây rồi!
Mùa đông 1919 [8]
Tôi đi đến nhà người yêu tôi
như một khách mời,
Tay xách nơi đuôi xanh
hai củ cà rốt nhỏ;
Kẹo bánh tôi từng cho,
tiệc tùng tôi từng mở;
Nhưng hơn cả mọi món quà đắt đỏ,
Tôi nhớ
hai củ cải quý vô ngần
Và một nửa thanh
củi gỗ bu-lô.
……………………………………….
Phía sau một khung kính
tuyết đi,
Bước của tuyết như bông mềm mại.
Tảng đá kinh kỳ
trắng phơ, trần trụi,
Dính trên tảng đá
là bộ xương rừng;
Và kia, sau rừng,
trời tựa mảnh khăn,
Một ít mặt trời leo lên trên ấy.
Sớm tháng chạp mệt mề và chậm chạp
Mọc trên Mascơva
như cơn sốt dịch lây.
Những đám mây
Bỏ đi tới những nước nào no đủ.
Sau mây đó nằm trườn nước Mỹ,
Mỹ nằm trườn, Mỹ ngốn Mỹ ăn
Cà phê, ca cao.
Đứng trên đất nước lột trần,
Tôi ném
Vào đầu
tròn hơn những đĩa bàn khách sạn
Của bọn mỡ mầu kiêu xa đần lợn
Tiếng kêu này:
− Ta yêu đất nước ta.
Người ta có thể quên
nơi nào, lúc nào bụng béo ra
Và cằm xệ xuống thành ba ngấn;
Nhưng đất nước với người ta lận đận,
Biết cùng nhau cái đói là gì,
Không bao giờ người ta có thể quên đi.
……………………………………………..
Nhưng đất nước người ta giành từng miếng,
Người ta ôm khi đất hầu chết điếng,
Nơi đạn dựng anh dậy
Nơi súng bắt anh nằm
Nơi người ta chảy vào quần chúng
như một giọt nước hoà chan,
Với đất ấy, sống thì cùng sống,
Làm cùng làm
chơi cùng chơi
chết cùng chết!
Mai-a-kốp-ski
Dù có khó khăn, Việt Nam mười hai năm sau Cách mạng tháng Tám
còn mấy lần tươi hơn Liên Xô hai năm sau Cách mạng tháng Mười. Lúc gay go nhất
của ta là giữa Kháng chiến khoảng 49-50, bốn năm anh em văn nghệ chia xẻ cho
nhau một cái đầu cá trong rừng Việt Bắc, nhường nhau một hạt nước mắm kem, đi
đâu xa về biếu nhau một mảnh đường phèn. Bây giờ chúng ta được ăn cơm tràn,
không phải độn dạ dày bằng sắn; áo vá bây giờ ít ai phải mặc; và thực sự ra bữa
cơm của nông dân hiện nay không phải co lại, mà lại nở ra. Chúng ta còn mấy lần
tươi hơn Mai-a-kốp-ski mùa đông 1919. Mà dĩ nhiên phải như thế.
Nhưng cái không như thế, là tấm lòng ta chưa thắm bằng tấm
lòng thi sĩ Mai-a. Chúng ta chưa có cái giọng sang sảng của Mai-a khi Mai-a thiếu
thốn. Chúng ta chưa ném vào đầu đế quốc Mỹ “tròn như những đĩa bàn khách sạn”
những tiếng nói kiên cường nhất phát ra từ giữa lúc kinh tế còn khó khăn. Chúng
ta học tập Mai-a ở chỗ nào? Sao không học trước tiên cái con mắt quắc của Mai-a
vứt tờ hộ chiếu Xô Viết vào mặt bọn tư bản: Chúng bay nhìn xem đi!
Sao không học cái gật gù của Mai-a năm 1927, khi mười tuổi
Cách mạng tháng Mười. Lúc đó, Mai-a chắc cũng thấy cách mạng hẳn đang còn nhiều
khuyết điểm, nhược điểm, mới mười tuổi thì lão thành thế nào được! Mặc dầu vậy,
nhìn chặng đường qua, đồng thời với phê bình, Mai-a khen: Được! như thế là
tốt lắm! Phố này là của tôi. Những nhà này là của tôi…
Tôi ca ngợi Tổ quốc tôi như hiện giờ trông thấy,
Gấp ba lần tôi ca ngợi Tổ quốc ngày mai
Phê bình hay ca ngợi cũng chỉ là một lòng sáng như nhật nguyệt,
cứng rắn như kim cương, trung thành với Cách mạng. Trong khi học giáo điều cái
bề ngoài thơ “leo thang” của Mai-a, hay cố học nhầm dáng điệu của Mai-a thành
ra một thứ huênh hoang, khệnh khạng, thì những người làm thơ Nhân văn –
Giai phẩm bỏ mất hay làm trái ngược cái hồn thơ cao cả của Mai-a. Nếu
Mai-a sống ở đất nước Việt Nam khi hoà bình vừa lập lại, khi khu vực ba trăm
ngày quân Pháp chưa rút hết, còn đóng sát nách tại Hải Phòng, tôi quả quyết rằng,
giả sử như Mai-a có trong hoàn cảnh chưa tìm được việc cho vợ làm, cũng không
bao giờ Mai-a nỡ như Trần Dần hạ những câu:
Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà,
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ…
Những câu thơ như vậy học tập Mai-a-kốp-ski ở chỗ nào?
Chúng ta đọc thơ Mai-a-kốp-ski như thế chưa đủ đâu. Còn phải
đọc nhiều hơn nữa, dịch sát đúng hơn nữa, nghiên cứu sâu xa và thành thực hơn nữa;
nếu thảng hoặc dịch chưa hay lắm, thì hãy cứ học lấy cái nội dung.
Tôi không so sánh mùa hè 1957 Hà Nội với mùa đông 1919
Mat-scơ-va. Sự thực là khác nhau nhiều lắm. Cái chính tôi so sánh là lòng thơ của
chúng ta giữa khó khăn với lòng thơ của Mai-a. Hãy nêu cao những tấm lòng! Quả
chanh to tôi nói ban nãy chín trăm đồng, phút này đã nhường chỗ cho những quả
chanh cốm bằng đầu ngón tay cái, một trăm bốn quả.
2-6-1957
Chú thích
[1]Pha-ru-ét:
miền Tây Huê Kỳ (nguyên chú)
[2]“Tiếng
sáo tiền kiếp” là một câu chuyện tưởng tượng của Trần Duy, đăng trong Giai phẩm,
viết theo tinh thần ma quái và bi quan. (nguyên chú)
[3]Trong
bài thơ “Nhân câu chuyện mấy người tự tử” của Lê Đạt (báo Nhân văn) (nguyên
chú)
[4]Đăng
trong tập sách Xuân 1956 (Nhà xuất bản Văn nghệ) (nguyên chú)
[5]Nhà
xuất bản Văn nghệ
[6]Hành:
một điệu thơ cổ điển của Trung Hoa đã được Việt hoá, bằng thơ 5 hay 7 chữ, theo
luật Đường hoặc theo cố thể, thường dài quá 16 câu, bắt một hoặc nhiều vần (Tỷ
bà hành, Trường cạn hành…) (nguyên chú)
[7]Fleichman,
sang thăm Việt Nam đầu 1957. (nguyên chú)
[8]Khi
dịch bài thơ này, tôi mạn phép tác giả lược bớt những lần xuống giòng, để người
độc giả trung bình Việt Nam dễ đọc hơn.(nguyên chú)
Phần V
Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong thơ
Những người làm báo Nhân văn đã rất khéo dùng cái
chiến thuật “chặn họng”: họ trình bày những cuộc đấu tranh tư tưởng của chúng
ta chống họ, như là những sự hiềm khích cá nhân, tranh giành ảnh hưởng. Đó là
vũ khí của kẻ yếu, chúng ta không sợ cái lối chặn họng ấy! chúng ta đường hoàng
vạch rõ thủ đoạn xuyên tạc vu khống hệt như lối “tác động tinh thần”, và nhất
là tính chất phi chính nghĩa, tính chất chống Đảng, chống chế độ của báo Nhân
văn và các tập sách Giai phẩm.
Với mấy ý kiến về đấu tranh tư tưởng trong thơ này, tôi chưa
tranh luận đến vấn đề kỹ thuật. Tôi cũng rất chống cái hẹp hòi của chủ nghĩa
giáo điều; tôi rất hiểu rằng thơ không phải lúc nào cũng phải vui; cái buồn mà
không bi quan, cái buồn đó nhiều khi cũng bổ ích; tôi rất yêu những câu thơ của
Na-dim Hít-mét như:
Đừng nhìn vào mắt tôi anh em hỡi,
Một tiếng nấc đang quằn quại trong cổ họng tôi;
Tôi vô cùng quý những nỗi Tan nát lòng (Le crève-coeur),
những nỗi Lại tan nát lòng (Le nouveau crève-coeur) của A-ra-gông kết
tinh vào một tập thơ đầy đau khổ mà rất lạc quan và nhiều tính chiến đấu như tập Quyển
truyện dở dang (Le roman inachevé). Không, chúng ta không chặt cánh của thơ
đâu, mà chúng ta lại muốn thơ xã hội chủ nghĩa của ta mở đôi cánh lớn của tư tưởng
vô sản bay lên cùng với vệ tinh xô viết.
Chúng ta trông chờ, khuyến khích và phấn đấu cho trăm thứ hoa
thơ xã hội chủ nghĩa đua nở, khoe tươi. Nhưng ở đây, dù áng sương mơ mộng có
thường bao phủ lấy thơ, chúng ta cũng nhất định dọi ánh sáng vào mà truy kích
những con quỷ, con ma ẩn núp vào sương đó.
Một luồng thơ chống Đảng, chống chế độ
Những người viết báo Nhân văn và các tập Giai
phẩm xây dựng và tung ra cái lý luận là: phải để cho các trường phái, các
khuynh hướng văn nghệ tha hồ nẩy nở. Ngày 14/11/1957, đồng chí Khơ-rút-sốp đã
trả lời một phóng viên Mỹ rằng (đây tôi tóm tắt ý): trường phái, khuynh hướng
văn nghệ là phản ánh những quyền lợi của một số tầng lớp nào đó trong xã hội.
Liên Xô không còn có giai cấp của những người tư bản nữa, ở Liên Xô không có những
giai cấp và tầng lớp nhân dân đối lập nhau nữa, mà chỉ có những người lao động. “Bởi
thế, − đây là lời đồng chí Khơrútsốp, − những công dân Liên Xô, những nhà
công tác văn học nghệ thuật của chúng tôi không cần phải tạo ra những khuynh hướng
đối địch nhau”. Vâng, chúng ta không cần phải bắt chước ở Mỹ, ở Anh, ở Pháp, cố
nặn ra những khuynh hướng văn nghệ đối địch nhau. Ở nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà chúng ta, tuy hãy còn có những giai cấp đối lập, nhưng dưới sự lãnh đạo của
Đảng, chúng ta đang tiến lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta muốn có hàng trăm, hàng
ngàn bút pháp, hàng vạn, hàng vạn sáng tạo, nhưng văn nghệ ta chỉ có một khuynh
hướng tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cái lý luận về khuynh hướng văn nghệ của
nhóm Nhân văn – Giai phẩm hoàn toàn sai lầm.
Lớn tiếng kêu gào lập ra nhiều trường phái, nhóm Nhân
văn – Giai phẩm chỉ có một đường hướng, là chống lại sự lãnh đạo của Đảng
ta, chống lại chế độ ta. Trần Dần nói: Chút tài mọn tôi làm thơ chính trị.
Đúng! Họ làm thơ chính trị, nhưng đó lại là thứ chính trị chống Đảng, chống chế
độ, chống chủ nghĩa xã hội. Trong báo Nhân văn, trong các tập Giai phẩm,
trong mấy tập thơ khác, trong những thơ họ chép hoặc đánh máy chuyền tay, họ
tung ra một thứ thơ mà họ cho là “làm lớn con người”.
Con quạ đen đầu đàn là bài "Nhất định thắng" của Trần
Dần. Trong khi quân đội viễn chinh Pháp còn đóng sát nách ta, tại Hải Phòng, và
giữa không khí nhân dân đang vui mừng ngày mới giải phóng, họ không tiếc lời mô
tả xã hội miền Bắc ta rất đen tối, đến một con chó cũng không sống được:
Con chó mực nghe mưa là rú…
… Nó thiếu ăn – Hay là giết đi ư?
Nó đỡ khổ – cả em đỡ khổ.
Họ khinh những người chung quanh là “không tim không óc”. Cái
hình ảnh xuyên tạc về “con người không tim, không óc” đó, sau này, họ sẽ còn
đem ra bêu riếu trên báo Nhân văn, Trần Duy còn lấy hình ảnh đó kể chuyện
ngụ ngôn để mạt sát những người cộng sản.
Những “thi sĩ” của báo Nhân văn, “Nhân câu chuyện mấy
người tự tử”, chộp lấy ngay rất kịp thời để quy trách nhiệm giết người ấy là tại
chế độ ta đem bục công an máy móc đặt giữa tim người. Lê Đạt làm bài thơ
đó, mấy lần đay đi, nghiến lại: “Sao họ lại đưa nhau đi tự tử. – Có
phải vì họ không bằng lòng chế độ, – bất mãn với cuộc đời?”, “Chế độ
ta không cấm họ yêu nhau. – Mà sao họ chết?”. Lê Đạt luôn luôn đặt vấn
đề con người: “Cho con người được làm người”, “Ngang nhiên xúc phạm con người”;
cùng với nhóm Nhân văn, Lê Đạt lại hát cái điệp khúc:
Nhưng còn tim
còn óc con người?
Nhưng họ quan niệm con người theo kiểu của họ chứ không phải
theo kiểu của ta. Trong bài “Mới”, Lê Đạt thấy chúng ta, những người đặt quyền
lợi riêng dưới quyền lợi chung, những người cố gắng, cần cù, biết trọng từng việc
vô danh hàng ngày, là “công thức xỏ giây vào mũi – Những kiếp người sống lâu
trăm tuổi - Ỳ như một chiếc bình vôi – Càng sống càng tồi – Càng sống càng bé lại”.
Được sự giáo dục của Đảng, những con người cũ trong chúng ta càng ngày càng bé
lại thật, cố gắng thu hẹp cái cá nhân chủ nghĩa của mình càng nhỏ càng tốt, để
cho con người mới, con người tập thể càng lớn mạnh lên: đó là điều đáng vui mừng
của chúng ta! nhưng những người làm thơ trong nhóm Nhân văn – Giai phẩm thì
lại cho là: “Tôi đã sống rất nhiều ngày thảm hại – Khôn ngoan không dám làm người”.
Hoàng Cầm cũng luôn luôn nói đến nhân phẩm, như trong bài “In dấu chân” (Văn số
15):
Dù sợi tóc còn cứa vào nhân phẩm
Tôi còn thét to, dù khản tiếng, tàn hơi.
Nhưng người “đảng viên cộng sản”, tù vượt ngục Sơn La, do
Hoàng Cầm dựng lên tháng 8/1957, thực chất không phải là đảng viên cộng sản, mà
chỉ là hiện thân tư tưởng của Hoàng Cầm: anh ta là “sứ giả của tự do vô hạn”,
anh ta “sẽ phá hết” các thứ “tù”: “tù Sơn La, tù Côn Lôn, Lao Bảo”, anh ta phá
đã đành, chứ tại sao bất cứ “phố hẹp”, bất cứ “dòng sông nước cạn” nào anh cũng
cho là tù, mà phá? Chúng ta chỉ phá “phố hẹp” khi nào có lợi cho giao thông,
phá “dòng sông nước cạn” khi nào vấn đề thuỷ lợi đòi hỏi, phá hay không là do từng
hoàn cảnh cụ thể, chứ chúng ta không hề phá để mà phá, cho sướng tay; người “cộng
sản” của Hoàng Cầm cũng không quên đả đụng tới “tim óc” theo kiểu nói của Nhân
văn:
Tù trong sách, chữ đen ngòm vênh váo
Cũng như tù óc lụi, trái tim mòn.
Nếu bài thơ này làm trong thời thuộc Pháp, người ta có thể
tha thứ cho những sai lầm tư tưởng của nó; nhưng nó lại làm tháng 8/1957, trong
chế độ của ta; nó bộc lộ cái luồng “tự do vô hạn” yêng hùng, phá phách, vô
chính phủ. Với một loạt “thơ tình” bảy bài, làm từ 1950 đến 1956 (Giai phẩm),
Hoàng Cầm một mặt bi quan, hoang mang, một mặt khác, dưới cái trá hình chống
giáo điều, đã hằn học nhìn tất cả những sự phân tích, giải thích, giáo dục của
ta như là một sự giả dối tàn ác: “Tình yêu là cái chi – Mà lắm thầy mổ xẻ – Dao
cắt đôi lòng người – Ruột thầy không sứt mẻ”, “Thầy ban bố đạo đức – Như bóng cậu
về già”, “Diễn văn cót két chân giường mới – Gặm hết tình yêu, hết ước mơ”. Còn
trá hình một cách tinh tế hơn, Hoàng Cầm rất khéo léo nói bóng gió để cho người
ta đoán hiểu:
Thôi anh đừng viết thư
Mỗi dòng một thêm tội
Thầy mẹ em mất rồi
Em có thầy mẹ mới…
Đêm nay sao lặn góc trời
Bao giờ em được mồ côi.
Hoàng Cầm bất bình với những thứ “giáo điều” đến mức nào, mà
phải liên hệ đến những cha mẹ phong kiến? Mà phải mong cho chết cha, chết mẹ?
Dùng chiến thuật “nói ngọt lọt đến xương”, thơ của Hoàng Cầm không có thiện cảm
gì với ta, trái lại, nhìn xã hội ta qua một chủ quan oát ghét.
Cái In đầu chân “cộng sản” kiểu Hoàng Cầm, đến Trần
Dần lại được phóng đại lên thành “Hãy đi mãi” to tát (Văn số 28). Mục đích
của Trần Dần và những người làm thơ của nhóm Nhân văn – Giai phẩm là
sống “táo bạo”, táo bạo để mà táo bạo. Họ “có thể mặc thây ngàn tiếng chửi tục
tằn”, họ không coi tiếng chửi chống Đảng, chống chế độ là ô nhục, họ chỉ sợ có:
Trừ tiếng chửi
– sống không sáng tạo!
Đó là cái tôi siêu nhân bạo chúa, cái tôi hôn quân vô đạo. Họ
“mới” để mà “mới”, nổ “tan xác pháo mọi cái gì cũ rích”, coi cái gia đình cụ thể
của mình là “hàm răng chuột nhắt”, coi mọi người cần cù, kỷ luật của ta là “mọi
thứ rũa đã quen rũa người tròn trặn quá hòn bi”. Trần Dần đi, “khi bàn tay chết
cứng vẫn ôm cờ”; Trần Dần thề: “Tôi yêu chủ nghĩa này – cờ đỏ cãi cho tôi”.
Nhưng chính cái cờ đỏ này đã bị anh ta nhắm mắt không thèm nhìn trong bài “Nhất
định thắng”:
Tôi bước đi
không thấy phố
không thấy nhà}
Chỉ thấy mưa sa
trên màu cờ đỏ!}
Họ huênh hoang khoác loác như vậy, nhưng ta không thấy họ đi
với ai cả, họ không đi với Đảng, họ không đi với phe xã hội chủ nghĩa do Liên
Xô lãnh đạo, họ chỉ có đi một mình cho gió sương đầu độc, cho nắng thiêu đốt; họ
đi như vậy, để tìm khoái cảm, để phiêu lưu tột độ, để tự phong mình là anh
hùng, đi mãi kiểu như thế thì rồi sẽ đi đâu? đến “thế giới tự do” nào? Chúng
ta, những người xây dựng cuộc đời mới, vâng, chúng ta cũng đi mãi, đi đến chủ
nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Nhưng chúng ta đi rất cụ thể chứ không đi
trừu tượng; vâng, chúng ta mới, mới mãi, nhưng từ cày bừa cá thể xưa cũ đi sang
cái mới của tổ đổi công, rồi đi sang cái mới của hợp tác xã, lại đi sang cái mới
nữa của nông trường tập thể, mà trong khi đó, ta luôn luôn siết chặt quanh Đảng
lao động Việt Nam cụ thể, do đồng chí Hồ Chí Minh vĩ đại lãnh đạo. Vâng, chúng
ta đi mãi như thế, đi với vệ tinh Liên Xô vào vũ trụ, chứ không đi trong những
đám mây làm bằng nước bọt của bọn vô chính phủ!
Những kẻ viết Nhân văn – Giai phẩm rất khoái trá
khi họ ném được hoả mù vào mắt của toà soạn báo Văn, khi báo Văn đăng
những In dấu chân, Hãy đi mãi, đăng những Lời mẹ dặn của họ. Lời
mẹ dặn của Phùng Quán vờ ngây thơ như một chú bé, “Yêu ai cứ bảo là yêu –
Ghét ai cứ bảo là ghét”, cái chân thật kiểu Phùng Quán là một thứ “ngây thơ cụ”,
một thứ “chân thật” bới móc, ám chỉ xỏ xiên vào chế độ ta. Phùng Quán tại sao lại
phải đặt một vấn đề không có, là:
Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi…
than phiền như vậy, và “yêng hùng” như vậy, nhưng chẳng cần đến
sét nổ đâu, chỉ cần một cái vỏ chuối của bọn muốn phá hoại chế độ ta vứt ra
cũng đủ làm cho Phùng Quán trượt ngã thảm hại!
Phùng Quán cũng nói tới Đảng, có “Bài thơ làm theo yêu cầu của
Đảng”, kêu gọi “Trung ương Đảng ơi!... Có tôi!...”, chúng ta cũng hoan nghênh
Phùng Quán chống tham ô lãng phí, vì đó là việc Đảng ta luôn luôn làm;
nhưng Phùng Quán có thật yêu Đảng hay không, ta hãy nghe cái thái độ của Phùng
Quán khi nói những tên quan liêu (Giai phẩm):
Khắp mặt đất
Như ruồi nhặng,
Ở đâu cũng có!
Đảng muốn phê bình tất cả
Phải một nghìn số báo Nhân dân!
Nhìn thấy tất cả nhà nước dân chủ nhân dân đầy những ruồi nhặng,
đó là một sự ác cảm không thường, đến như đối với cơ quan Trung ương của Đảng
mà xách mé như vậy, đó có phải là phê bình xây dựng không? hay muốn ngậm mực
phun đen lên cả tờ báo Đảng?
Đừng có nhầm chế độ
Tôi muốn nói đến bài thơ “Cửa hàng Lê Đạt” mà Lê Đạt đã tìm
cách đưa in, công bố ra, để làm một đòn hằn vào chế độ ta. Lần đầu khi xem xong
“Cửa hàng Lê Đạt”, tôi nói: − Bài thơ này mà làm ra ở miền Nam hiện nay thì rất
đúng, rất tốt. Là vì cả bài thơ toát ta một tiếng S.O.S: Cứu tôi với! Tôi bị đè
đến nghẹt thở, người ta không cho tôi sống, không cho tôi suy nghĩ! Đó là thực
trạng phát xít ở miền Nam hiện nay.
Lê Đạt “đẻ sau đến muộn”, muốn mở một cửa hàng thơ, nhưng bị
chèn ép, Lê Đạt ghen với:
Bao nhiêu chỗ ngon
người ta cắm trước…
… Anh em tôi đành ra góc phố
Đăng ký mở hàng
Chưa có tiếng tăm
rồi sẽ có tiếng tăm
Lê Đạt mở cửa hàng, theo anh nói thì sẽ có bạn bè xúm lại
giúp đỡ. Cửa hàng Lê Đạt sẽ có sao, có trăng, có gan ruồi, phổi muỗi, có công,
có phượng, có cả bú dù, “có những thứ đời quên bỏ – Những rế cùn – dẻ rách, - mảnh
sắt – mảnh chai”…
Từng đoạn, từng đoạn, Lê Đạt lại điệp khúc gào than: nào những
ông phê bình
Nhai chữ mòn răng – không hiểu cuộc đời
Mấy chữ i tờ – lòng người chưa biết
Ngắt ngọn bao nhiêu suy nghĩ – tìm tòi.
Nào
Có những ngày – tôi chỉ còn muốn chết
Nào những cảnh đau đớn:
Còn anh
con sát
vợ chửa
Sòn sòn hai năm đôi
Quanh quẩn tã con thuốc vợ.
………………………………
Còn anh
mơ ước trong đầu nhức mủ
Bao nhiêu dự định quay cuồng
Bực bội tay chân
đói thèm cửa sổ.
vân vân…
Sau những lời gào than đó, Lê Đạt lại tập trung dồn vào liền
nhau bao nhiêu là u uất, là rên siết; cả bài thơ Lê Đạt toát ra một cảnh tối
đen, ngột ngạt:
… Nước mắt vẫn còn rơi
Vẫn còn những đầu xanh sớm bạc
Những thành kiến – nghi ngờ – dốt nát
Vẫn còn hạ thấp con người.
Sao ta chưa biến được cung trăng
thành chỗ ở.
vân vân…
“Cửa hàng Lê Đạt” dọn theo kiểu ấy là một sự bày biện hoàn
toàn lệch lạc, một cửa hàng buôn lậu về tinh thần ở giữa miền Bắc chúng ta. Xem
bài thơ, tôi có cảm tưởng như Lê Đạt khóc thật. Nhưng Lê Đạt nhầm mất rồi! Trước
đây, Vũ Hoàng Chương nói:
Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh;
chứ bây giờ Lê Đạt và những kẻ viết Nhân văn – Giai phẩm:
Lũ các ngươi đầu thai nhầm chế độ!
Nhầm cái gì chứ nhầm chế độ thì nguy hiểm lắm! Lê Đạt đem những
tiếng khóc để buộc tội chế độ áp bức bóc lột cũ mà buộc tội cho chế độ đang nhằm
xoá người áp bức bóc lột người. Cho nên càng khóc lóc “thành thật” bao nhiêu,
thì chỉ càng chống lại chế độ mới một cách sâu cay, độc địa, và rẫy rụa bấy
nhiêu! Những tiếng rên siết sai lầm đó chỉ có kẻ địch lắng tai nghe để hòng lợi
dụng, chứ chúng ta thì biết ngay cái thực chất của nó. Những kẻ viết Nhân
văn – Giai phẩm không hiểu rằng: đấu tranh tư tưởng là đấu tranh quyết liệt,
không nhân nhượng. Tư tưởng chuộng lao động, yêu tập thể và trọng kỷ luật đúng
đắn và tốt đẹp của giai cấp vô sản, nhất định đè nát không cho những tư tưởng
vô chính phủ, tự do vô hạn độ, anh hùng siêu nhân, đi mãi phiêu lưu…ngóc dậy,
không cho nó thở, không cho nó sống. Nhất định tư tưởng tư sản phải đầu hàng
ta. Đối với những tư tưởng lạc hậu, chúng ta giúp đỡ, chăm nom, cải tạo, nhưng
đối với những tư tưởng chống Đảng, chống chế độ, chúng ta không thoả hiệp, bắt
phải quy hàng.
Nói rộng ra, ở trong văn học, sự nhầm lẫn chế độ nhất định dắt
đến chỗ chết của tư tưởng. Trước kia, trong những chế độ áp bức bóc lột cũ, anh
say rượu, anh hút thuốc phiện, thì chế độ áp bức bóc lột chịu trách nhiệm; anh
vô chính phủ trong chế độ đó, thì cũng phần nào là có giá trị chống đối. Nay
trong chế độ ta, anh say rượu, anh bê tha với giai cấp tư sản, anh cá nhân chủ
nghĩa, anh vô tổ chức, thì chế độ không chịu trách nhiệm thay cho anh đâu, mà
những cái ấy là tại anh. Đem những cái nhược điểm về tư tưởng của Nguyễn Du, của
Ban-dắc (Balzac), mà khoác vào mình rồi tưởng mình làm Nguyễn Du, làm Ban-dắc
là ngây ngô; cóp nguyên xi những lệch lạc của Véc-len, của Bô-đơ-le mang vào
trong chế độ của ta, là tự đưa mình vào ngõ cụt.
Nếu Mai-a-kốp-ski mà sống lại
Chúng ta rất tức giận khi thấy báo Nhân văn và các
tập Giai phẩm đăng thơ Mai-a-cốp-ski, khi thấy Trần Dần, Lê Đạt,
Hoàng Cầm khen thơ Mai-a-cốp-ski theo lối của họ, khi thấy cả bọn họ phất ngọn
cờ Mai-a-cốp-ski, để làm hoàn toàn trái ngược với Mai-a. Mai-a là nhà thi sĩ
yêu mến, ngợi ca, trung thành với chế độ Xô Viết, với Đảng cộng sản Liên Xô,
Mai-a không thoả hiệp chút nào hết với chủ nghĩa đế quốc, văng vào mặt chúng tất
cả cái kiêu hãnh chiến thắng của những người không đội trời chung với giai cấp
tư sản; bên cạnh đó, Mai-a cũng có một số bài thơ vạch những phía tiêu cực còn
lại trong chế độ Xô Viết, vạch với một nhiệt tình xây dựng rõ rệt. Đồng thời,
theo sự hiểu riêng của tôi, Mai-a thoát ra từ chủ nghĩa vị lai, vẫn còn mang ít
nhiều ảnh hưởng của trường phái văn học đó trong cách diễn tả. Những người làm
thơ mong nhóm Nhân văn – Giai phẩm đi học trước tiên là thơ leo thang
của Mai-a, mà không học cái yêu chế độ của Mai-a, họ mài rất nhọn cái cá nhân
chủ nghĩa của họ mà họ cho là cá tính theo kiểu Mai-a. Mùa đông năm 1919, Mai-a
đi đến nhà người yêu, phải cầm hai củ cà rốt và một thanh củi đến biếu, nghèo
khổ như vậy, Mai-a lại càng yêu miếng đất mà trên đó người ta đã trải qua cái
đói. Còn Trần Dần, năm 1955, mới gặp một ít khó khăn khi chưa xin được việc cho
vợ, mà đã mờ mắt đi, “chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ”, làm thơ đâm sau lưng chế
độ ta trong khi địch còn đóng tại Hải Phòng, Trần Dần học Mai-a ở chỗ nào?
Mai-a thì “nói lớn”, còn họ thì đại ngôn, Lê Đạt đề tựa cho tập thơ dịch Mai-a,
làm như là mình là một Mai-a đang bị oan uổng, bất công, vùi dập. Hoàng Cầm giới
thiệu tập thơ dịch đó, cho rằng chúng ta chưa hiểu nổi Mai-a vì Mai-a là biển.
Không, nếu chúng ta chưa hoàn toàn thưởng thức được cái cách diễn tả của Mai-a,
là do một sự khác nhau nào đó giữa hai tính cách dân tộc, do dịch chưa được nhiều
nhạc điệu như trong nguyên văn, do chưa quen hơi bén tiếng lắm, chứ không phải
do vì chúng ta thấp bé, tồi; vì Mai-a là biển, mà Nguyễn Du cũng là biển, một
dân tộc yêu được biển của Nguyễn Du thì cũng yêu được biển của Mai-a, một quần
chúng nhân dân làm nên biển lớn Điện Biên Phủ, tất nhiên có đầy cái tinh thần
ưu tú mà Mai-a đã đại diện. Những kẻ viết Nhân văn – Giai phẩm cho rằng
thơ của họ quá cao, quá làm lớn con người, nên bọn họ bị chúng ta không hiểu nổi
họ. Nhưng nếu Mai-a mà sống lại, thì Mai-a sẽ cốp vào đầu họ, mà bảo: – các
ngươi đừng có nấp vào ta mà phản lại tinh thần của ta!
Nhấn mạnh và nâng cao tính chất quần chúng trong thơ
Nền văn học theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin là một nền
văn học nhân đạo nhất, vì nó là nền văn học lần đầu tiên trong lịch sử loài người
đề ra việc phục vụ cho quần chúng nhân dân, cho đa số, cho công nông binh.
Chúng ta học tập chỉ thị của Lê-nin, kế thừa tất cả những gì tinh hoa và tiến bộ
do loài người đã sáng tạo ra trải qua các chế độ; đồng thời chúng ta cũng hiểu
rằng trong các chế độ trước, căn bản là quần chúng chưa có những nhà văn của
giai cấp họ, phục vụ trực tiếp cho giai cấp họ. Dưới chế độ của ta, quần chúng
sáng tạo ra lịch sử càng mạnh mẽ và huy hoàng hơn bao giờ hết, nhưng trừ một
vài trường hợp thì quần chúng hiện nay còn chưa có những nhà văn từ trong lòng
họ xuất thân ra. Chủ nghĩa xã hội cần có những chuyên gia đỏ, đỏ hẳn, chứ không
phải hồng hồng. Chúng ta cũng cần có những nhà văn đỏ, đỏ hẳn, chứ không phải hồng
hồng; trong khi chúng ta tự cải tạo mình để thật sự thành những nhà văn của quần
chúng, ta phải thông hiểu điều đó, rằng chúng ta còn xa, còn xa nhiều cái mức cần
thiết, cái mức là những nhà văn cộng sản, những nhà văn toàn tâm toàn
ý cộng sản, chứ không chỉ những nhà văn có thẻ đảng viên.
Tình hình thơ của ta trong vài năm nay, có những triệu chứng
tách rời quần chúng rất là không tốt. Mà quần chúng đã cảnh cáo rồi đấy: nhiều
tập thơ đã bị ế, bị quần chúng chán rồi. Những biên tập viên của Nhà xuất bản Hội
Nhà Văn cho đó là vì thiếu tuyên truyền quảng cáo; thật là một sự phân tách rất
ngây ngô. Quần chúng Việt Nam ta hiện nay vẫn yêu thơ như trong Kháng chiến,
như bao giờ, nhưng quần chúng không yêu một thứ thơ nào đó hiện nay cố lan
tràn, thứ thơ xa quần chúng về nội dung và xa quần chúng về hình thức.
Vấn đề nâng cao trên cơ sở phổ cập là vấn đề còn cần bàn cãi
khi áp dụng cụ thể, ở đây ta chưa đi sâu vào các khía cạnh. Nhưng, tôi nghĩ, rồi
từ ý thức sẽ thấm vào ngòi bút. Cái thứ thơ Nhân văn – Giai phẩm, nội dung
nó xa quần chúng hàng vạn dặm, vì nó chống chủ nghĩa xã hội, chống tập thể, nó
đi vào chủ nghĩa cá nhân, siêu nhân, “anh hùng táo bạo”. Về hình thức, nó càng
xa quần chúng, nó nhảy lò khò một chân, lai căng, ném sỏi vào tai bạn đọc, nó lập
dị đến điên khùng.
Nội dung thơ phải có tính chất quần chúng
Theo tôi hiểu, trước hết, các đề tài phải mang tính chất quần
chúng, phải là những vấn đề quần chúng có thể thông cảm được. Quần chúng không
cần cái thứ Hãy đi mãi, một mình chết thiêu giữa sa mạc của Trần Dần, quần
chúng cũng không muốn Trung ương Đảng điều động Lê Đạt vào “Bộ tâm hồn quần
chúng”, hay Lê Đạt bày cửa hàng buôn lậu bán “gan ruồi, phổi muỗi”, quần chúng
không muốn nhìn những giọt nước mắt cá sấu của Lê Đạt, khóc lóc vì chế độ ta
không cho họ tự do bừa bãi, độc lập siêu nhân. Quần chúng cũng không dung nạp
cái thơ quanh co và bạc ác của Hoàng Cầm, ao ước được chết cha, chết mẹ để được
làm kẻ mồ côi.
Nội dung của thơ cần phải phong phú trên cơ sở giản đơn. Trên
cơ sở những tình cảm của hàng triệu con người, trên nét lớn đó, chúng ta đi sâu
tìm các chi tiết thật sâu sắc. Phong phú mà không có cơ sở, thì sẽ thành rắc rối,
phức tạp theo kiểu Một trò chơi nguy hiểm; nếu nội dung mà cô đơn, ốc
chui sâu vào vỏ, thì dù hình thức diễn tả có giản đơn chăng nữa, cũng không ai
hiểu được.
Nội dung có tính chất quần chúng, tức là dành ưu tiên cho những
đề tài chính, những tình cảm lớn, những vấn đề nước sôi lửa bỏng của thời đại.
Ngay từ thế kỷ 19, Bi-ê-lin-ski (Biélinsky) đã nói: “Không một nhà thơ nào có
thể tự mình nói đến những đau khổ, những sung sướng riêng của mình mà thôi, mà
trở thành một nhà thơ lớn được…Chỉ có nhà thơ bé mới khổ riêng cho mình, và tự
mình làm lấy khổ”. Béc-tôn Bờ-rết (Berthol Brecht) cũng nói: Đừng có làm như một
anh hoạ sĩ đứng trên một chiếc tàu sắp chìm, đã lật ngược trở vỏ lên rồi, mà vẽ
tranh tĩnh vật trên mu tàu.
Nhà văn, nhà thơ là kỹ sư tâm hồn, tức là kỹ sư tâm hồn của
quần chúng, thông qua tâm hồn nhà thơ. Các nhà thơ, nhà văn thường quá tự phụ
là tâm hồn mình “tinh vi” phong phú. Nhưng theo tôi nghĩ, một nhà văn trong một
thời kỳ cách mạng mà quần chúng là vai chính của lịch sử, có lẽ cần phải trải
qua một quá trình ba điểm: điểm đầu tiên là bỏ cái vốn nhà giàu cũ, bỏ cái kho
đầy những sợi tóc của mình chẻ ra làm tư, đầy những móng tay của mình cắt ra
tích luỹ, đầy những “phong lưu mỹ tật” rất xa rời quần chúng; điểm thứ hai là học
tập cái giản đơn, rắn chắc của quần chúng; điểm thứ ba là trên cơ sở đó, lại
xây dựng những cái giàu mới, hợp với quần chúng, những cái tinh vi của lao động
và đấu tranh; ba điểm này cũng chỉ là một. Phải thấy rằng mình trước kia là dốt,
cần phải học lại quyển sách đời viết theo lối của quần chúng. Có như vậy, tâm hồn
mình mới trở thành tâm hồn quần chúng, để có được một nội dung thơ của quần
chúng.
Không thể san bằng các đề tài được, không thể xoá nhoà dòng
chính và dòng phụ. Lấy một ví dụ khá điển hình trong văn xuôi: Việt Nam dân chủ
cộng hoà chúng ta có giận hờn gì với phở, rất yêu phở, nhưng sở dĩ công chúng
kêu bài Phở của Nguyễn Tuân, là vì phở đã từ giòng phụ bị đưa lên
giòng chính, phơi bày la liệt trên hai kỳ báo Văn, trong khi giòng
chính là sản xuất, là phấn đấu thì lại dìm xuống là giòng phụ hay rất phụ.
Hình thức thơ cũng phải có tính chất quần chúng
Không những nội dung có tính chất quần chúng mà hình thức
cũng phải có tính chất quần chúng. Nguyễn Du làm Truyện Kiều bằng thơ
lục bát, và câu thơ lục bát của Kiều lại là nâng cao trên cơ sở phổ cập,
gần gũi đại chúng, nên quần chúng rất thuộc, rất yêu. Còn câu thơ lục bát của Hoa
Tiên thì còn sang trọng quá, khúc mắc quá, mặc dù là lục bát, quần chúng vẫn
khó gần, và khó yêu, khó thuộc. Chúng ta nay không đóng khung chỉ hiểu hình thức
quần chúng tức là lục bát; ta không hẹp hòi như vậy. Vả lại ở đây ta chưa bàn
sâu vào khía cạnh các thể thơ và vần điệu, mà chỉ nói đến cái tư tưởng của vấn
đề, trong khi lấy thơ cổ làm ví dụ.
Những người làm thơ của nhóm Nhân văn – Giai phẩm ý
chừng tự cho mình là kế thừa Mai-a-cốp-ski, đã học hình thức thơ Mai-a một cách
rất giáo điều. Họ bất chấp cả công chúng Việt Nam, họ tìm một thứ mới lập dị
lai căng nào đó.
Cố nhiên, tính chất quần chúng và tính chất dân tộc không đứng
bất di bất dịch. Sta-lin nói: “Tính cách dân tộc không phải một cái gì làm sẵn
một lần; nó chuyển biến dần với các điều kiện sinh sống thay đổi; nhưng nó mà tồn
tại trong một lúc nào đó, thì nó để một dấu vết trên cục diện của dân tộc”.
Theo nhà phê bình cách mạng Ý Gờ-ram-xi (Gramsci, 1891-1937), muốn giữ được
tính chất dân tộc của một nền văn học, thì “ngữ ngôn” diễn tả của văn học phải
“gắn chặt mật thiết với đời sống của quần chúng trong nước, phải phát triển chầm
chậm và chỉ từng ít một”. Như vậy, tôi hiểu rằng: về hình thức, cần phải đưa những
cái xa lạ vào dần dần, từng ít một, để dần dần hợp tạng của công chúng, để
tránh đấm vào tai công chúng một cách vô ích và trắng trợn, tránh ngang phè phè
đè lên ngực người đọc.
Ta phải đi trước quần chúng, nhưng nên nhớ lời Lê-nin, đi trước
một bước, để có thể lôi kéo quần chúng theo. Nếu ta cho là Lê-nin nói vậy quá
khắt khe, thì ở trong thơ, các thi sĩ hãy đi trước mười bước, hai mươi bước
cũng được, nhưng thỉnh thoảng phải nhớ ngoái đầu lại xem quần chúng có còn ở
sau lưng mình không, chứ đừng đi tuốt mất hút vào trống rỗng.
Chúng ta không đòi hỏi bất cứ một bài thơ nào làm ra cũng phải
đọc được cho đại chúng công nông binh hiểu ngay. Trong khi Đảng làm cuộc cách mạng
văn hoá nâng cao trình độ văn hoá của đại chúng lên, và trong khi ta vươn lên đến
cái gương nâng cao trên cơ sở phổ cập của thi hào dân tộc Nguyễn Du, ngõ hầu ai
cũng thích được thơ của ta, thì ít nhất hiện nay, thơ ta cũng phải làm cho những
cán bộ công đoàn, những cán bộ trung đội, đại đội, những huyện uỷ viên, những
con cái nông dân học lớp bảy, lớp tám, những sinh viên, những viên chức yêu và
hiểu; những người đó có thể coi như, theo lời Mai-a-cốp-ski nói, những trạm
chuyền điện, nguồn điện vào trạm, rồi từ trạm tia về các nơi. Nếu những người ấy
mà cũng không tiếp nhận được thơ của ta, thì rất nguy! Thì chỉ còn có “tiểu
chúng” các nhà văn nào đó hiểu với nhau, thậm chí chỉ có những kẻ viết Nhân
văn – Giai phẩm bù khú công kênh thán phục lấy nhau, thì thật là nguy hiểm!
Chúng ta cần phải nhớ rằng thời đại ta có nhiều cái to lớn lắm,
chứ không phải cái thời thuộc Pháp, các cô đan áo len hay học sinh ngồi bên cửa
sổ, nhàn vô sự, dễ xuýt xoa về những bài thơ; chúng ta phải nhớ rằng nhân dân
ta bận rất nhiều việc lo nghĩ và làm lụng to lớn. Cho nên thơ phải tìm hết mọi
cách bám vào trí nhớ của công chúng, ấy thế mà còn sợ bị rơi, bị bật ra thay!
Huống chi thơ lại như lối thơ Nhân văn – Giai phẩm tìm hết mọi cách để
ẩy trí nhớ của quần chúng ra, thì còn ai yêu, ai thuộc được?
Có một sự việc không thể để cho kéo dài, là gần đây, do bộ
máy Xuất bản của Hội nhà văn và tuần báo Văn bị tư tưởng của
nhóm Nhân văn – Giai phẩm lũng đoạn nên bất chấp dư luận, cứ đi theo
hằn bánh xe của Nhân văn và Giai phẩm, vẫn khuyến khích, đề cao
cái thứ thơ đó! Một nhà xuất bản như Nhà xuất bản Hội Nhà Văn cứ in thơ theo kiểu Nhân
văn – Giai phẩm, nếu có ế, thì cứ xếp đống vào kho, đã có Đảng, Chính phủ và
nhân dân nai lưng ra mà chịu!
Vấn đề cá tính
Thơ cũng theo quy luật chung của sáng tác văn nghệ, cần phải
cụ thể hoá và cá thể hoá. Cần phải thông qua tâm hồn của một thi sĩ để nói cái
chung thì mới sâu sắc được. Cái chung phải đầu thai qua cái
riêng; nhưng cái riêng đó lại phải tiêu biểu cho cái chung; cần phải có cái
riêng, cần phải có cá tính, có bút pháp riêng, cần phải độc đáo.
Nhưng cá tính của nhà thơ hay nhà văn là để tôn
tình cảm của đa số lên, xuyên qua những khía cạnh đặc biệt; cá tính không
phải là mục đích cuối cùng mà chỉ là môi giới để phản ánh cuộc sống. Chứ không
phải mới bước vào ngưỡng cửa của bài thơ, đã thấy lù lù cái cá tính phát phì của
đức ông thi sĩ, đã thấy đức ông thi sĩ bắt mọi người cúi quỳ, khuất phục trước
đức ông. Bạn tôi là chiến sĩ thi đua ưu tú, đồng thời cá tính hay hút thuốc
lào, hơi nóng nảy, và cũng hay tán gái; tôi yêu bạn tôi, mặc dù những nhược điểm
đó; nhưng hút nhiều thuốc lào, nóng tính và hay tán gái là những cá tính vặt;
mà tôi rất hiểu rằng chính sự lao động cần cù và nhiều sáng kiến lại là cá tính
sâu sắc nhất của bạn tôi. Không phải là nhà thơ cứ vặn vẹo câu thơ, ngổ ngáo
trong thơ là mới có cá tính. Nhà thơ cứ lăn vào quần chúng, yêu mến quần chúng
hết lòng hết dạ đi, trút cả tâm hồn mình ra phục vụ quần chúng rồi làm thơ, cái
độc đáo nhất định là gắn liền với nhiệt tình của thi sĩ, chứ không đi tìm ở đâu
xa cả.
Nhà thi sĩ có tài cũng như người đàn bà có duyên, cứ làm việc
đi, cứ ca hát đi, duyên sẽ toát ra ngoài, chứ chẳng cần phải ưỡn ẹo đi trên sợi
giây thép, chẳng cần phải soi gương cố nặn ra cho mình một dáng điệu người
hùng, chẳng cần phải cố tình táo bạo bằng những hình ảnh làm xiếc như thơ Lê Đạt:
Kinh tế không thể vác ba lô đi bộ
hoặc những con đường
Vạch cỏ vạch lau đứng dậy
Giơ tay chào những công trường
hoặc
Trái đất
không chúng ta
Ngơ ngác mù loà
Chống gậy bước đi loạng choạng.
Kinh tế vác ba lô, con đường giơ tay chào, và trái
đất chống gậy bước, đó, cái thứ cá tính cố làm lấy được ấy thật chỉ là một cái
bong bóng thổi phồng.
Nói chung, chúng ta vẫn đi tìm chất thơ của thời đại. Cố
nhiên, mỗi thi sĩ tìm mỗi khác, nhưng theo tôi nghĩ, chất thơ của thời đại ta
phải có một cái gì trong sáng, lạc quan, giản đơn và phong phú, mê say mà lại tỉnh
táo, táo bạo mà không điên loạn, một chất thơ có tính chất quần chúng, để cho
hàng triệu người yêu, thuộc, có thể bồi dưỡng cho tâm hồn người như một chất
phù sa thần diệu; chứ không phải là cố nặn ra một chất thơ ác, đập vào giác
quan bằng mọi cách, cố giật gân người đọc như Trần Dần, huênh hoang như Lê Đạt,
trá hình nhiều cách lập lờ, giả trá như Hoàng Cầm.
Người thi sĩ của chế độ ta luôn luôn phải có một thắc mắc:
tìm tòi làm thế nào mà hàng vạn quần chúng yêu thích thơ ta được. Nếu ta chưa
làm được như thế, thì ít nhất cũng phải thấy có làm được như vậy thì mới đúng
chân lý; mà chưa làm được như vậy, thì phải thấy là mình hãy còn bất lực, hãy
còn nợ lớn với quần chúng. Chứ có ai lại cố tự phụ mình là “biển”, tự phụ rằng
ba trăm năm sau mới có người hiểu ta. Khoác lời của Nguyễn Du vào mình như vậy,
cho khéo kẻo mà đầu thai nhầm chế độ đấy. Nhà thơ muốn tác động được vào lịch sử,
thì phải tác động thông qua quần chúng, muốn lấy thơ đấu tranh cho thống nhất,
thì phải đem thơ mình thúc đẩy quần chúng đấu tranh cho thống nhất, chứ cứ tự
phụ mai sau mới có người hiểu ta, thì là đợi đến lúc thống nhất đã thực hiện được
rồi, lúc đó thơ thống nhất của mình mới có người hiểu hay sao?
°
Thơ của ta phải có nội dung quần chúng, có hình thức quần
chúng; thơ của ta phải có tính đảng, phải trung thành không lay chuyển với sự
nghiệp của Đảng, của nhân dân. Bởi vậy các nhà thơ của chế độ ta phải quyết liệt
đập cho tan cái thứ thơ Nhân văn – Giai phẩm là nơi bộc lộ rõ nhất những
tư tưởng liên tục chống chế độ ta, chống chủ nghĩa xã hội, là thứ thơ mà quần
chúng không thể nào yêu được. Chúng ta rất rộng rãi với những mầm non văn học
phục vụ công nông binh, với những tìm tòi thiện chí, với tất cả các bút pháp
đúng đường hướng, nhưng không thể rộng rãi chút nào hết với thứ thơ ngược giòng
xã hội chủ nghĩa. Thật đúng như vậy rồi, đấu tranh cho thơ cũng là đấu tranh
cho tư tưởng, cho Đảng.
3-1958
Những suy nghĩ chung quanh vấn đề chỉnh huấn
Gần đây, trong khi hình thành một luồng tư tưởng “xét lại”,
có những người nhân một số trường hợp “chụp mũ”, quy kết mắc phải ở những kỳ chỉnh
huấn trước kia, đã phủ nhận cái tác dụng tích cực lớn lao của chỉnh huấn.
Nhân một việc biện luận chung quanh Sê-khốp, bạn Nguyễn Tuân
cũng có viết: “… Nghe mà muốn giật mình nghĩ đến chỉnh huấn văn nghệ năm nào,
có những phần tử hăng máu vịt bốc đồng lên rồi quy cái lầm, cái yếu của người
khác lên theo với cái hứng chủ quan của mình…” [1] Giật
mình nghĩ đến chỉnh huấn văn nghệ… Học tập chỉnh huấn nào có phải đâu là bị bỏng
nước sôi? Nhưng theo ý tôi, không ai vì một lần bị áp-xe nào đó mà
cho là việc tiêm thuốc trị bệnh là không nên; một số trường hợp dùng phương
pháp chưa chắc tay đâu có xoá mờ được cái nhiệm mầu của chỉnh huấn! Bạn thân, đồng
chí ta trong khi trị bệnh cứu người, có một vài cái chệch, ta không nên nói về
họ một cách ác cảm; họ cũng chính là ta thôi.
Đấu tranh là quy luật
Thường tình, không ai muốn “mệt” làm gì. Những người tiểu tư
sản càng thích mọi việc đều êm đẹp, hoà hảo, yên vui. Nhưng làm gì có một cái bối
cảnh xã hội như thế để dựa lưng cho lâu dài! Cái thuở trước Cách mạng tháng Tám
nào có yên bình gì đâu! Nếu có những người thuở ấy có thể ngồi ngậm kẹo mạch
nha bọc ngoài đá cuội ướp hương hoa lan, đó là nhờ họ rúc đầu vào cánh như chim
đà điểu. Những người tiểu tư sản cứ muốn “tôi là kẻ giữa, tôi chữa đôi bên”.
Nhưng rồi Cách mạng cũng đến, lôi bật dậy những người cầu an hoặc hưởng lạc.
Nói chung, trong một thời kỳ cách mạng của lịch sử, quần chúng nhân dân chuyển
động mãnh liệt, ai muốn “yên thân” cũng không yên thân được: trong cuộc sắp xếp
lực lượng, thế tất anh phải có một chỗ đứng, một hàng ngũ. Có người thấy
báo Nhân dân một số chủ nhật đăng bài về giới văn nghệ Trung Quốc vạch
tập đoàn chống Đảng Đinh Linh−Trần Xí Hà, đã nói cay chua: Ngày chủ nhật để cho
người ta nghỉ, lại ném quả bom ra! Nhưng máy bay của đế quốc Mỹ hàng ngày điên
loạn mang những quả bom khinh khí mà bay trên không của nhiều nước; bom thật,
nghĩa đen, của Mỹ doạ dẫm trên đầu người ta đấy, chứ không phải bom nghĩa bóng
đâu! Có giai cấp, thì tất yếu có đấu tranh giai cấp. Có những luồng tư tưởng chống
đối nhau, thì tất yếu có đấu tranh tư tưởng. Đó là thực tại khách quan, chứ
chúng ta nào muốn bày việc ra làm gì! Dưới chế độ cũ, nhiều người đã cố tình mũ
ni che tai, nhắm mắt vờ ngủ, ngày tháng dài rong chơi cho hết, họ hầu như không
biết đấu tranh là gì. Nhưng chung quanh họ, đời vẫn theo quy luật đấu tranh gắt
gao; không có cái gì đứng yên cả! đến hòn đá nọ, trong mình nó các điện tử cũng
quay không ngừng; mà thật ra, nếu những người đó tự thú nhận với mình, thì lòng
họ có êm đẹp, hoà hảo gì đâu, nó luôn luôn bất ổn, nơm nớp lo lo một cái gì, nó
buồn muốn chết được!
Sợ đấu tranh mà không tránh được đấu tranh, chi bằng mình
nhìn thẳng vào cái tất yếu, tích cực đấu tranh theo hướng cần thiết của cuộc sống.
“Đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn”
Hỡi người bạn rất dễ cảm xúc của tôi ơi! Bạn là người rất
thanh tao trong đời, một tí đậm loãng của nước trà đã làm lưỡi bạn săn lại hay
dãn ra, bạn không bao giờ nỡ đánh ai, hoặc phụ nữ hay đàn ông, dù là với một
cành hoa hồng; bạn bất nhẫn trước một lời nói nặng; bạn rất quân tử và “nhân đạo”,
bạn không muốn một người nào hết phải khổ đau… Một mặt bạn muốn có thiên đường
trên mặt đất và có ngay! một mặt bạn nghe nói đấu tranh, bạn nghe nói chuyên
chính, là cái tâm hồn bằng tơ và bằng bóng trăng của bạn đã rợn gió e sương, sè
ra che chở cho tất cả mọi người.
Nhưng chính giai cấp vô sản và Đảng của nó muốn dần dần thiết
lập một thiên đường thật sự trên mặt đất, muốn thực hiện giấc mơ muôn đời của
loài người và cả của bạn đấy! Còn gì khổ đau bằng cái xã hội có giai cấp trong
mấy nghìn năm nay! Nhưng mấy nghìn năm nay, nhân loại không có con đường lịch sử
nào khác để đi, nên phải đi qua máu và nước mắt của các xã hội có giai cấp. Đến
thời đại này, thì cái nguồn đau khổ là các xã hội có giai cấp đã có thể diệt được,
và diệt được hàng loạt rồi. Cái “tội tổ tông” ấy đã có thể xoá được rồi, những
người Việt Nam chúng ta ở miền Bắc nước ta, cũng đã lên đường xoá cái nguồn đau
khổ căn nguyên ghê gớm ấy! Tôi nghĩ rằng Đức Phật xưa kia mang một lòng thương
vô lượng đối với những đói rét, ốm đau, giặc giã, chết chóc của nhân loại, và
trong phạm vi của hơn hai nghìn năm trăm năm về trước, chỉ hòng giải quyết bằng
phương pháp duy tâm, thì đến nay, chính các Đảng của giai cấp vô sản, thực hiện
chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đã thực sự giải quyết được về căn bản, bằng cách thiết
lập cái xã hội không giai cấp, và đó là “đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn”!
Bóc lột là nguồn gốc đau khổ, áp bức là nguồn gốc đau khổ, chạy
theo lợi nhuận tối đa, tích luỹ để mà tích luỹ là nguồn gốc đau khổ. Chuyên
chính vô sản là nhằm chặn những quy luật ấy của tư bản chủ nghĩa, không cho nó
tác oai tác quái, chặt nó từ gốc, nhổ bật rễ nó, thay nó bằng quy luật “vì lợi
ích của nhân dân, của xã hội mà phục vụ”. Còn chính nghĩa nào hơn, còn nhân đạo
nào bằng! – Hỡi người bạn rất dễ cảm xúc của tôi ơi! bạn vẫn thấy những việc
“chặn”, “chặt”, “nhổ bật” là mạnh quá, là không hiền lành, nhưng làm thế nào
khác được? Đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản là đỡ đẻ cho cái xã hội
không giai cấp công bằng, bác ái ngày mai ra đời. Bạn vẫn không muốn có đấu
tranh giai cấp mà được như vậy, thì khác nào chuyện những trẻ con tưởng mình nảy
ra ở ngoài bụi, mẹ nhặt đem về, chứ không phải do mẹ rứt ruột, xé thịt đẻ mình
ra!
Chúng ta đang sống trong thời kỳ tổng khủng hoảng tư bản chủ
nghĩa, thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Nước ta, ở miền Bắc,
các giai cấp bị áp bức bóc lột xưa kia đã nắm lấy chính quyền, làm chủ tất cả.
Chúng ta thay trời đổi đất của đế quốc, của phong kiến, của tư bản thành trời đất
của ta; mà việc thay đổi này không gì có thể ngăn cưỡng được. Tư tưởng của ta bắt
buộc phải theo cho đúng, theo cho hợp, cho kịp sự cải tạo cách mạng của xã hội
khách quan; muốn vậy, nó phải là tư tưởng của giai cấp vô sản. Nếu tư tưởng của
ta cứ muốn tự nhiên nhi nhiên, cứ muốn mình không phải là tư tưởng của giai cấp
vô sản, thì tất là nó phải đối kháng với cuộc tiến lên cách mạng. Lúc đó sẽ có
một cuộc đấu tranh quyết liệt, một cuộc trừ khử nhau không thương tiếc giữa ta
và thực tại cách mạng khách quan. Lúc đó sẽ diễn ra một cảnh châu chấu đá xe của
lịch sử. Quần chúng cách mạng sẽ đập hộ tư tưởng lạc hậu hay phản động của anh
cho vỡ lẽ, cho toé lửa ra! Xe lịch sử chắc chắn là không lùi, mà con châu chấu
không tránh được tan nát.
Chỉnh huấn tức là cưu mang, giúp đỡ bạn chọn lấy con đường tư
tưởng đúng, tránh cho bạn cái thảm hại gãy đổ, mở cho bạn con đường sống vinh
hiển. Trong cái vô minh không phân biệt được phải trái của tư tưởng bạn, Chỉnh
huấn dọi ánh sáng vào; cái bể khổ ngàn đời của xã hội có giai cấp đã phản ánh
trong tâm người thành cái bể khổ của tư tưởng; nếu không giành được quyền chủ động
giữa sự hỗn độn ấy, thì bạn sẽ còn trầm luân lặn ngụp không thôi; mà tôi biết rằng
cái đau khổ về tư tưởng là “mười hai cửa điện tùng xẻo của Diêm Vương”; Chỉnh
huấn chính là “đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn”! Đã nhiều lần tôi tự mình nghiệm
nghĩ rằng: đấu tranh tư tưởng là việc đã tất yếu rồi; nhưng còn cái trí tuệ cao
cả đã tạo ra phương pháp chỉnh huấn thật là vô cùng kỳ diệu! Thời cổ Hy Lạp,
nhà hiền triết Xô-cơ-rát [2] có
nói đến việc đỡ đẻ cho những tâm hồn; phương pháp chỉnh huấn của ta là thực sự
đỡ đẻ cho những tâm hồn mới; đáng lẽ để cho bão táp của cuộc đấu tranh xã hội
trong thời kỳ cách mạng đập anh xơ xác và thay đổi óc cho anh. Chỉnh huấn là một
lồng ấp diệu kỳ làm cho tâm hồn mới của anh được tự nở… Chủ nghĩa Mác – Lê-nin,
trong Chỉnh huấn, giúp cho ta nắm được quy luật của tư tưởng đặng mà, từ cái bị
động đã ngàn kiếp, giành lấy cái chủ động từ rày về sau. Tôi tưởng như phương
pháp chỉnh huấn bày ra các loại, các kiểu tâm hồn để cho ta nhận xét, so sánh
và tự nguyện chọn lấy loại tâm hồn nào tốt đẹp nhất, vui sướng nhất… Đây là tư
tưởng địa chủ với cái nghiệp của nó − “nghiệp” tức là quy luật − là hút máu hút
mủ của nông dân, làm sao chiếm được nhiều ruộng, cướp được nhiều thóc nhất; nó
khát làm chúa đất, một cái măng tre mọc, nó cũng gọi là “lông tơ của đất bà”, mặt
trời dọi, nó bảo là “nắng của ông”; nó ăn bẩn đến cái lũng quần của bố cu mẹ
đĩ. Đây là tư tưởng tư sản với cái nghiệp của nó là bệnh khát vàng; nó muốn uống
vàng cho đầy miệng; nó bòn từng bát cơm manh áo, rút sức lực của công nhân để
đúc lại thành vàng mà uống; nó nặn hết máu tuỷ của khách mua hàng, của người
tiêu thụ, cũng lại để mà được uống vàng; càng nuốt vàng càng đòi uống thêm; nó
không nề một thứ bần tiện nào hết, tiền đối với nó không có mùi; dưới đáy mỗi tế
bào của nó, có một đồng xu nằm trong đó. Đây là tư tưởng tiểu tư sản với cái
nghiệp của nó là nổi nênh như cánh bèo mặt nước, là ở bầu thì tròn, ở ống thì
dài, là lúc cách mạng lên, thì nó hăng hái như diều được gió, lúc cách mạng gặp
trở ngại, thì nó bổ nhào như diều đứt giây… Còn nhiều thứ tư tưởng nữa của xã hội
cũ; nhiều khi tất cả pha trộn, chế biến với nhau như giây leo chằng chịt trong
rừng. Trong cái xã hội cũ đầy đen tối, xấu xa, có tư tưởng của giai cấp vô sản
“gương trong chẳng chút bụi trần”, nó không khát ruộng đất, nó không khát vàng,
nó không bấp bênh; nó chí công vô tư, nó cách mạng triệt để. Quy luật của tư tưởng
vô sản là như vậy, như người trèo vươn lên đỉnh núi, tuy gian khổ, nhưng luôn
luôn thấy phấn chấn, sảng khoái! Chỉnh huấn giúp ta phân tách, chiêm nghiệm tất
cả những điều trên đây, rồi tự do chọn lấy con đường ít tốn nước mắt nhất, con
đường tốt đẹp, vinh quang nhất: lấy tư tưởng của giai cấp vô sản làm tư tưởng của
mình. Một việc bản chất nhân đức như vậy, tưới cây chết thành cây sống, sao
nghĩ đến lại giật mình? Đó mới là “đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn”.
Chữ “giác”
Chỉnh huấn thật là trả lại cái tự do cho tư tưởng con người,
giải phóng tư tưởng con người khỏi những cái nghiệp xấu xa. Những cái nghiệp
đó, ôm lấy trong các xã hội áp bức bóc lột, một khi “đã mang lấy nghiệp vào
thân”, thì nó bắt anh làm tù binh; đêm nằm anh cũng không ngủ được mà cứ thấy
mình đi thu thóc tô; anh buôn bán, tráo trở trong cả chiêm bao của anh, anh
tương tư đồng tiền, anh uống thuốc độc để cho đỡ khát. Ruộng, thóc, đồng tiền
hay lạc thú dính liền vào anh đã thành bản chất của anh. Nay anh phải gỡ những
cái ấy ra khỏi anh. Chỉnh huấn một mặt đòi hỏi đấu tranh tư tưởng gắt gao,
không thương tiếc, không nhân nhượng, đầy sát khí đối với những tư tưởng sai xấu,
một mặt rất nâng niu, ấp ủ, tạo một lồng ấp mầu nhiệm cho tư tưởng mới nở ra.
Khi những cánh đầu tiên của tư tưởng mới đập đập ở trong bạn, bạn cảm thấy một
thứ vui sướng lạ lùng. Đó là chữ giác; đó đúng là cái giác ngộ tự ở trong
lòng, từ thâm tâm, người ngoài không thể tả cho bạn nghe, mà chính bạn phải tự
kinh nghiệm lấy. Khi tư tưởng của bạn bắt đầu thay đổi quy luật, có thể nói
cũng ví như một hành tinh bấy lâu vẫn quay trong một hệ mà trung tâm là một
ngôi sao đen tối, bây giờ hành tinh rời bỏ cái hệ cũ mà quay trong hệ mới,
trung tâm là mặt trời của tư tưởng vô sản, chịu sức hấp dẫn, nhận ánh sáng của
mặt trời đó, theo những quy luật của hệ thống mới. Cái nhích, cái chuyển, cái
thay đổi hệ thống ấy là một sự đẻ lại nó chi phối cả tâm hồn bạn, hồi xuân cho
trí tuệ bạn. Từ giờ trở đi, bạn nhất quyết giữ cho đừng bật ra khỏi cái bầu trời
mới; trái lại, tư tưởng của bạn luôn luôn tiến tới, nhích gần sức nóng, sức
sáng của mặt trời; và khi đó, bạn sẽ cảm thấy bạn dồi dào sức sống và khả năng,
bạn cũng mang một phần vạn năng của tư tưởng vô sản!
Sống trong thời đại cách mạng xã hội chủ nghĩa, bạn phải làm
thế nào được mang thai cái chữ giác đó, nếu không, bạn sẽ không có vốn
để sống cuộc đời mới. Những người đứng giữa ngậm đá cuội bọc kẹo mạch nha trong
thời cũ, thực ra họ có trung lập đâu; gián tiếp họ cũng ủng hộ những tầng lớp
bên trên. Nếu hiện nay anh không có được, hay không muốn có cái chữ giác ấy
trong lòng, thì thế tất tư tưởng của anh quay theo những quy luật khác hẳn, chống
đối. Tư tưởng của ta như con cá, nó không ăn muối của tư tưởng giai cấp vô sản,
thì nó sẽ ươn. Việc các bạn thân, các đồng chí giúp ta trong học tập chỉnh huấn
làm tôi nhớ đến câu chuyện tôi được đọc ngày nhỏ: có một ông vua ở rất bẩn,
không bao giờ chịu tắm giặt, gọi là Ma lem hoàng đế; đình thần, lính tráng lôi
ông ra tắm gội, kỳ cọ; ban đầu ông ta thấy nước lã thì sợ xanh mặt, nhưng xong,
thay quần áo mới, thì ông lại được lấy Xà phòng nữ hoàng rất đẹp đẽ, thơm tho.
− Đúng như vậy, Chỉnh huấn cũng như Xà phòng nữ hoàng; tư tưởng của ta đừng run
sợ như Ma lem hoàng đế.
Những tư tưởng xấu của các giai cấp phi vô sản, trong suốt cuộc
Kháng chiến vĩ đại, phần bị đánh bại, phá tan, phần bị bao vây, dồn ép. Trong
hoà bình, thừa cơ sự giáo dục của Đảng có lúc bị lơi lỏng, nó vùng dậy trở lại,
xông ra múa may ăn nói huyên thiên, nó hằn học tư tưởng vô sản với cả một tự ái
giai cấp, nó không công nhận học tập chỉnh huấn về trước và muốn tự tồn theo bản
chất cũ. Nhưng cách mạng của ta lại tiến lên một bước nữa, làm cách mạng xã hội
chủ nghĩa; nhất định tư tưởng vô sản không nghỉ tấn công các thứ bóng tối và
sương mù đó.
Nước ta là một nước nông nghiệp lạc hậu; số lượng giai cấp
công nhân của ta không đông; có thể nói rằng chính nhờ Chỉnh huấn, chính nhờ
giáo dục tư tưởng mà làm cho bản chất giai cấp vô sản của Đảng vững mạnh không
ngừng; trong Kháng chiến, có thể nói rằng mỗi đợt học tập chỉnh huấn lại đem tới
mỗi đợt thắng trận lớn lao. Đảng luôn luôn cần mở Chỉnh huấn, để đưa cách mạng
tiến lên; coi thường, thậm chí phản ứng Chỉnh huấn là làm yếu tư tưởng của Đảng.
Chỉnh huấn Văn nghệ 1953 đã vũ trang tốt đẹp cho giới văn nghệ
để đi vào thực tế và quần chúng, đã làm cho các tác phẩm xây dựng sau đó có một
xương sống tư tưởng. Nếu có một số chệch choạc nào trong khi dùng phương pháp,
đó là điều ta cần rút kinh nghiệm để tránh về sau. Theo ý tôi, cái điều có lẫn
lộn, tức là khi viết những bài tự phê bình trên tạp chí Văn nghệ tháng
7/1953, một số văn nghệ sĩ đã hoàn toàn phủ nhận giá trị các tác phẩm mình trước
Cách mạng. Những tác phẩm trước Cách mạng là làm trong hoàn cảnh Pháp thuộc,
khi người sáng tác chưa có chủ nghĩa Mác – Lê-nin soi đường; bên cạnh những sai
lầm về tư tưởng cần phải phê bình, một số tác phẩm đã đạt tới một mức nghệ thuật
nào và đã có một khuynh hướng tiến bộ so với hoàn cảnh thời đó, thì vẫn
còn lại một giá trị văn học nghệ thuật. Hoàn toàn vứt cả, coi nó là “dưới
Zê-rô”, là không có quan điểm lịch sử trong phê bình. Nhưng mặt khác, từ chỗ đó
lại đi tới chỗ coi Chỉnh huấn trước đây là sai cả, rồi “sửa sai” bằng cách phục
hồi nguyên xi các tác phẩm cũ không phân biệt, không phê phán, đó là điều xoá
nhoà rất nguy hại. Chỉnh huấn Văn nghệ 1953 căn bản là rất bổ ích, quý báu cho
tâm trí giới văn nghệ; hiện trạng có chủ nghĩa “xét lại” trong văn nghệ hiện
nay, chứng minh rằng Chỉnh huấn Văn nghệ 1953 là đúng, là học tập như thế còn
chưa đủ.
Cái giác ngộ về tư tưởng vô sản, chúng ta cần giữ mãi và đào
sâu, làm cho nó lớn mạnh không ngừng.
Cảm ơn tư tưởng vô sản
Đời là một cuộc đấu tranh không ngừng: ai cho câu này là sáo
và không muốn nghe, tôi thì thấy cái chân lý giản đơn đó, nghiệm mãi mà vẫn
chưa thuộc, vẫn cứ mới. Buông rời chân lý đó ra một hôm, là đã mất vũ khí trong
hôm ấy rồi. Không có tư tưởng của giai cấp vô sản, lấy gì mà xây dựng cho tâm
trí? Những ngày lao động bình thường, tư tưởng vô sản là cái chất men cách mạng
nó đưa thắm thiết đến cho mỗi việc dù nhỏ đến đâu; tư tưởng vô sản là máu nóng
của mọi công tác cách mạng. Những khi tối lửa tắt đèn, tư tưởng vô sản nhen ánh
sáng lên trở lại. Chơi vơi giữa dòng, có tư tưởng vô sản là có chèo lái đưa ta
tới bờ.
Không thể tưởng tượng được rằng dưới thời Pháp Nhật thuộc, một
đêm đi xem chiếu bóng về, tôi bị ám ảnh bởi hai con mắt của cái thằng ma quái
trong phim: tên “khách kỳ dị” này có cái bệnh là thích giết vợ, nó đã lấy nhiều
người đàn bà về, để giết liên tiếp. Đêm khuya, nằm trên giường, tôi không dám
ngủ nữa, bị đôi mắt của thằng nọ chi phối; tôi phải gọi, cầu cứu với bạn tôi, để
giúp tôi chống lại. Con người trong xã hội cũ bị nhu nhược, hãi hùng đến ngần
nào! Con người bây giờ có tư tưởng vô sản, có chân lý của chủ nghĩa Mác rồi, sẽ
nhổ vào những thứ phim ấy mà không xem, hoặc có xem thì tức giận mà phê bình,
chứ nhất định không chịu kinh sợ!
Song le, cái nọc độc của xã hội cũ, là xã hội phá hoại con
người, không ngờ lại có thể thấm quá sâu xa! Có đôi khi, giữa canh khuya, tôi
chiêm bao những cái mộng mị gớm ghê, vô lý, quái dị, những cái tiền kiếp u uất ở
đâu xưa mình không kiểm soát được, lộn về trong giấc mơ; thức giấc, nửa thực nửa
hư, ngàn vạn sương mù bao phủ dày đặc. Trong khoảnh khắc, tôi lấy cái “chiếu
yêu kính” [3] của
tư tưởng vô sản, dọi vào đánh tan được cái hỗn mang, ổn định lại tâm trí, lấy lại
được cho mình cái thế sáng sủa. Nếu không có tư tưởng vô sản, những trường hợp
đứng trên mép vực của tâm hồn như vậy, tôi lấy gì để trừ tà khí?
Và nhiều lần cuộc đời quả thật là không đơn giản, con người
cũ trong tôi, nặng mang mấy chục thế kỷ buồn phiền, bi quan, chán nản, bỗng trở
dậy đòi quyền tồn tại. Có những đôi ngày như vậy, bộ máy tâm hồn bỗng như hỏng
bánh xe, đứt giây cót, lầu tâm hồn bỗng như sụp xuống, đổ vụn. Giữa đám gạch
ngói ngổn ngang, giữa cái hư vô lâm thời ấy, tôi còn có tư tưởng vô sản; tư tưởng
vô sản lại là cái đòn bẩy giúp tôi kích mọi cái lên, xây dựng trở lại phơi phới
vững vàng hơn. Tư tưởng vô sản nói với tôi rằng: “Đời vẫn đẹp tươi, cách mạng
ngày càng thắng, những triển vọng lớn lao nhất đang mở ra cho nhân loại…”; và
tôi không thể nào không là một người lính chiến đấu của cuộc đời.
°
Cảm ơn tư tưởng vô sản! Quý biết bao, cái chất tư tưởng tiến
bộ nhất, hoàn mỹ nhất, mạnh mẽ nhất, tinh hoa của lịch sử tư tưởng loài người!
Cảm ơn Chỉnh huấn đem đặt tư tưởng vô sản vào giữa tâm trí con người, tức là đặt
cái mầm, cái nhân sinh ra sức sống ở giữa cái hạt. Cảm ơn Đảng, có sức giáo dục
cải tạo mầu nhiệm, có lòng nhân đạo vô biên!
3-1958
Chú thích
[1]Trong
bài tựa Tuyển tập truyện ngắn của Sê-khốp (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) (nguyên
chú)
[2]Socrate:
nhà triết học Hi-lạp trước Công nguyên (468-400) (nguyên chú)
[3]Trong
các truyện thần kỳ xưa, là một cái gương để soi dọi vào ma quỷ, làm cho chúng
tan tác hoặc trở lại nguyên hình. (nguyên chú).
Xuân Diệu
Theo http://vnthuquan.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét