Ma-ri truyền cho các em lòng yêu thích khoa học và tinh thần cố gắng. Và cũng dạy cho các em phương pháp làm việc. Rất tài tính nhẩm, bà muốn cho các học trò mình được rèn luyện về môn này. Bà khẳng định:
– Phải đi đến chỗ không bao giờ nhầm, cái bí quyết là không hấp tấp.
Nếu một trong các cô học trò trong khi làm pin điện, bày bừa bãi thì Ma-ri đỏ mặt lên:
– Cháu đừng nói là “sẽ” rửa sau. Không được làm bẩn bàn ngay trong khi lắp máy hoặc làm một thí nghiệm.
Người phụ nữ được giải Nô-ben ấy, thỉnh thoảng lại dạy cho mấy đứa trẻ cầu kỳ những bài học thông thường về óc phán đoán. Một hôm bà hỏi các em:
– Ta phải làm thế nào để giữ cho chất lỏng đựng trong cái bình này được nóng lâu?
Lập tức Phăng-xít Pe-ranh, Giăng Lăng-giơ-vanh, I-da-ben Sa-van, I-ren Qui-ri – những ngôi sao khoa học ở lớp – đề ra một loạt giải pháp tài tình: bọc bình bằng vải len, cách ly bằng những phương pháp tinh vi… nhưng không thực hiện được.
Ma-ri mỉm cười và bảo:
– Tôi thì tôi bắt đầu tìm một cái nắp đậy.
Sau những lời nói rất nội trợ ấy, buổi học hôm thứ năm đó chấm dứt. Cửa đã mở, một chị giúp việc mang lên một khay đồ sộ bánh sừng bò, thỏi Sô-cô-la và cam.
Vừa nhai vừa bàn tán, mấy đứa trẻ tản ra sân trường. Các báo hàng ngày từ trước đến nay vẫn rình đón từng cử chỉ của bà Qui-ri, bắt đầu chế giễu một cách dí dỏm, nhẹ nhàng sự đột nhập của con em các nhà bác học vào các phòng thí nghiệm – tuy việc đột nhập ấy rất kín đáo và có sự trông nom chu đáo.
Một mẩu chuyện hàng ngày viết:
“Mấy cô bé, cậu bé tí hon đó đọc chưa thông, viết chưa thạo, mà đã được tùy tiện làm các thí nghiệm, chế ra dụng cụ và thử các phản ứng hóa học…
Trường Xoóc-bon và ngôi nhà ở phố Qui-vi-ê chưa nổ tung nhưng nguy cơ ấy cũng chưa hết đâu!”
Sau hai năm, kiểu giáo dục trên đây chấm dứt. Các cha mẹ bận quá không còn thì giờ để tiếp tục. Vả lại, các em phải chuẩn bị thi tú tài, cần học kỹ những chương trình chính thức. Ma-ri cho con gái vào trường tư thục Xê-vi-nhê, ở đây số giờ học có bớt đi khá nhiều. Chính ở trường này I-ren học xong cấp trung học và E-vơ về sau cũng học ở đó.
Những cố gắng cảm động của Ma-ri, quyết tâm của bà muốn bảo vệ cá tính và phẩm cách con gái từ thuở còn thơ như thế có hiệu quả không? Nhờ cách “giáo dục tập thể” trên, I-ren, tuy không có một vốn văn học đầy đủ, nhưng đã tiếp thu được một cơ sở khoa học bậc nhất, mà nếu chỉ học ở bất cứ trường trung học nào, cũng không thể có được. Còn về đức dục? Nếu nó thay đổi được sâu sắc bản chất con người thì thật là vượt quá ước mơ. Nhưng có nhiều điểm khắc sâu vào lòng chúng tôi một cách lâu dài là lòng ham thích làm việc, nhất là ở I-ren, một phần nào dửng dưng đối với tiền bạc là một bản năng tự lập làm cho hai chúng tôi tin chắc rằng gặp bất cứ tình huống nào, chúng tôi cũng biết xử sự. Còn việc khắc phục tính ưu tư phiền muộn thì có tác dụng đối với I-ren, nhưng ít kết quả trong trường hợp E-vơ. Mặc dầu mẹ chúng tôi cố gắng rất nhiều, những năm thơ ấu của tôi không được sung sướng. Riêng về một điểm, Ma-ri đã thành công hoàn toàn: hai con gái có thể lực tốt, lanh lẹ và ưa thích thể dục thể thao, đó là thành tích tốt đẹp nhất của một người đàn bà thông minh tuyệt vời và giầu độ lượng.
Chẳng phải không e dè mà tôi cố nêu lên ở đây những nguyên tắc chỉ đạo của mẹ tôi trong những bước đầu giáo dục chúng tôi. Nó có thể làm cho ta nghĩ đến một con người có phương pháp hơi cứng đờ vì định kiến. Sự thật thì khác. Người mẹ muốn cho chúng tôi cứng cỏi, vững vàng trước những đau thương, chính lại quá dịu dàng, quá tế nhị, quá nhậy cảm với đau khổ, Ma-ri thường luyện cho chúng tôi không có những tình cảm vuốt ve mềm yếu, thế nhưng bản thân bà có lẽ lại muốn hai con gái tỏ ra âu yếm, trìu mến mẹ nhiều hơn. Ma-ri chỉ không thấy điều đó mà thôi. Sau hết, người mẹ cứ muốn chúng tôi dày dạn hơn về tình cảm thường lại buồn rầu nét mặt trước mỗi dấu hiệu thờ ơ lạnh nhạt.
Không bao giờ bà muốn thử thách cái tính “dày dạn về tình cảm” của chúng tôi. Từ cái cốc đầu không tội vạ đến bắt “đứng xó” hoặc cắt món tráng miệng, những hình phạt thông thường đó chúng tôi đều không biết. Và cả những câu quát mắng, những lúc dằn vặt. Dù vui hay buồn, mẹ chúng tôi không khi nào cho phép được sẵng giọng. Một hôm I-ren tỏ vẻ hỗn, mẹ tôi muốn phạt để làm gương, nên quyết định không nói chuyện với I-ren trong hai ngày. Những ngày giờ ấy, đối với I-ren và mẹ tôi là những thử thách căng thẳng, nhưng người bị trừng phạt lại chính là Ma-ri. Tâm tư bối rối, bà đi đi, lại lại thiểu não, thảm hại trong gian nhà lặng ngắt, bà đau khổ hơn con gái.
Dạo ấy hai chị em tôi như nhiều đứa trẻ khác chỉ biết có mình và ít để tâm đến những biểu hiện tế nhị của tình cảm. Nhưng chúng tôi đều nhận thấy sức quyến rũ, lòng âu yếm thầm lặng và cái duyên dáng kín đáo ở con người mà ngay từ dòng đầu những bức thư vấy mực của chúng tôi, những bức thư ngây ngô mà mẹ chúng tôi buộc bằng dây lụa của hộp kẹo cũ, và giữ cho đến lúc chết, chúng tôi thường gọi mẹ là “Mẹ thân mến”, “Mẹ yêu quý” hoặc “Mẹ dịu hiền”.
Không bao giờ Ma-ri Qui-ri tìm cách làm cho chúng tôi tự hào về nghề nghiệp của bà, về vinh quang của bà. Làm sao bà có thể nghĩ ra điều đó, trong khi bản thân bà lúc nào cũng rụt rè, nhẫn nhục, khép nép trước sự nghiệp kỳ diệu của mình?
Ma-ri viết cho cháu gái Ha-na, ngày 6 tháng giêng 1913:
“Cháu viết thư cho dì nói rằng cháu ước sao được sống trước đây một thế kỷ, I-ren thì nhất nhất nói rằng muốn sống về sau này trong những thế kỷ sắp tới. Dì nghĩ rằng, thời nào ta cũng có thể sống một cuộc sống có ý nghĩa và bổ ích. Cái cần là không nên làm hỏng đời mình và có thể tự nói rằng: “Tôi đã làm việc hết sức mình”. Không ai có thể đòi hỏi hơn ở chúng ta, và đó cũng là điều duy nhất có thể mang lại cho ta một chút hạnh phúc.
Xuân năm ngoái, các em cháu có nuôi tằm. Dì bây giờ còn rất ốm yếu, và trong hàng tuần lễ buộc lòng phải nghỉ ngơi, dì xem rất lâu cách tằm kéo kén. Thật vô cùng hấp dẫn. Những con sâu rất hoạt bát, cần mẫn ấy làm việc rất chăm chỉ, kiên trì đã làm cho dì cảm kích thật sự. Nhìn ngắm chúng sao mà cảm thấy mình cùng loại với chúng như vậy. Tuy rằng có lẽ không được tổ chức khéo bằng chúng để lao động. Dì cũng vậy, lúc nào cũng hướng tới một mục đích duy nhất. Dì làm như thế mà không hề dám quả quyết rằng đó là chân lý và biết rằng cuộc đời ngắn ngủi và mỏng manh, trôi qua không để lại cái gì, và sẽ được lớp người đến sau quan niệm hoàn toàn khác. Dì làm thế nào có lẽ do một cái gì đó thúc đẩy cũng như con tằm phải làm cái kén. Con sâu đáng thương này phải khởi đầu kết kén dù cho không thể nào xong, nó vẫn làm việc chăm chú như thế. Và nếu không xong công việc đến cùng thì nó chết chẳng được biến dạng”.
Chương 20
Thành công - Thử thách
Cứ mỗi buổi sáng, ở phố Qui-vi-ê, có một phụ nữ trông còn trẻ bước vào phòng nghiên cứu lấy ở mắc chiếc áo choàng vải thô mặc ra ngoài áo dài đen của mình và bắt đầu làm việc. Đó là một nhà vật lý nước da xanh lướt, người rất mảnh dẻ, mặt hơi sạm, mái tóc hung ngả màu tro.
Chính cái thời kỳ buồn tẻ này của đời mình, vẻ đẹp của bà mới đạt đến mức tuyệt mỹ. Người ta thường nói rằng, càng thêm tuổi đời, con người càng đạt tới khuôn mặt đúng nhất của mình. Đối với Ma-ri Qui-ri quả không sai chút nào. Nếu cô bé Ma-ri chỉ mới là “xinh xắn”, nếu cô nữ sinh và người vợ trẻ rất duyên dáng đậm đà, thì nhà nữ bác học chín chắn, trầm lặng sầu cảm, có một vẻ đẹp lạ kỳ. Đời sống tinh thần làm khuôn mặt Xla-vơ trông càng rạng rỡ. Ma-ri không cần tô điểm bề ngoài như vẻ tươi tắn, trẻ trung. Những trang sức cao quý của con người đã ngoài bốn mươi tuổi đó là vẻ cương nghị, man mác buồn và thân hình ngày càng mảnh dẻ. Ma-ri Qui-ri sẽ giữ trong nhiều năm trước mắt Irène và Ève hình dáng lý tưởng đó.
Là giáo sư, là nhà nghiên cứu và phụ trách một phòng thí nghiệm, Ma-ri vẫn làm việc với một cường độ phi thường. Bà vẫn dạy học ở Xe-vrơ. Ở Xoóc-bon bà được bổ nhiệm “giáo sư thực thụ” từ 1908 – dạy lớp đầu tiên, lúc này là lớp duy nhất về phóng xạ trên thế giới – phải cố gắng như thế nào. Bà muốn vượt lên bằng những bậc thầy mà xưa kia hồi còn là sinh viên Ma-ri hết sức khâm phục.
Năm 1910 Ma-ri cho xuất bản một pho sách về sự phóng xạ gồm các bài giảng của mình. Chín trăm bảy mươi mốt trang sách chỉ đủ để tóm tắt những hiểu biết đã đạt trong lĩnh vực này kể từ khi mới ngày nào Pi-e và Ma-ri Qui-ri báo tin đã khám phá ra chất Ra-đi.
Ảnh của tác giả không để ở đầu sách. Đối diện với đầu đề Ma-ri để ảnh của chồng. Hai năm trước đây, năm 1908, cũng cái ảnh đó đã in trong một quyển sáu trăm trang “Những công trình nghiên cứu của Pi-e Qui-ri” do Ma-ri biên soạn và giới thiệu.
Học trò của bà Qui-ri tăng lên rất đông. Họ nhập vào đội ngũ những phụ tá của trường Đại học cùng với một vài người tự nguyện đến giúp việc không lương. Mô-rít Qui-ri, con của Giắc Qui-ri cũng bắt đầu sự nghiệp khoa học của anh ở đây. Ma-ri tự hào về năng khiếu và thành tích của đứa cháu mà bà yêu quý như con đẻ.
Lúc này Ma-ri đang tiến hành tốt đẹp một chương trình nghiên cứu mới, tuy sức khỏe cứ sút kém dần.
Tinh khiết nhiều đề-xi-gam Ra-đi clo-rua và xác định một lần thứ hai trọng lượng nguyên tử của Ra-đi. Rồi tìm cách tách riêng kim loại này. Trước đây mỗi lần chế biến ra Ra-đi gọi là “nguyên chất” thì đó mới là những muối Ra-đi (clo-rua hoặc brô-mua), dạng ổn định duy nhất của nó. Nay Ma-ri Qui-ri và Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ có thể cô lập ngay thứ kim loại này, không để những yếu tố khí quyển làm nó biến chất. Đó là một công việc tinh vi bậc nhất trong khoa học.
Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, một cộng sự lâu năm và cũng là một nhà bác học ưu tú giúp bà Qui-ri nghiên cứu sự phát quang của Pô-lô-ni. Ma-ri lại còn tìm ra một phương pháp định lượng Ra-đi bằng cách đo khí tỏa của nó.
Khoa chữa bệnh theo phương pháp Qui-ri phát triển, nhiều nơi trên thế giới đòi hỏi có thể phân chia chất quý báu này ra những lượng rất nhỏ và đo lường thật chính xác. Đến một phần nghìn mi-li-gam, cái cân không còn tác dụng nữa. Ma-ri nghĩ ra cách “cân” những chất phóng xạ bằng những tia do chúng tỏa ra. Bà đã hoàn chỉnh kỹ thuật khó khăn này và thành lập ngay trong phòng thí nghiệm “một bộ phận đo lường” để các nhà bác học, thầy thuốc, và cả người thường, có thể đến kiểm tra các chất có hoạt tính và xác định tỷ lệ Ra-đi của chúng.
Cùng với “Bảng phân loại các chất phóng xạ” và “Bảng hằng số phóng xạ”, mẫu chuẩn quốc tế đầu tiên về Ra-đi được quy định. Cái ống nghiệm nhỏ bằng thủy tinh, mà Ma-ri cảm động tự tay hàn kín, chứa đựng 21 mi-li-gam Ra-đi clo-rua nguyên chất sẽ dùng để làm mẫu cho các ống chuẩn sau này rải rác khắp năm châu và được trịnh trọng đặt trong gương trong phòng Đo lường ở Xe-vrơ gần Pa-ri.
Sau vinh quang của chung Pi-e và Ma-ri Qui-ri, bây giờ đến lượt danh tiếng riêng của bà Qui-ri nổi lên và lan rộng.
Bằng tiến sĩ danh dự, bằng thông tín viên các viện Hàn lâm ở các nước, để chật các ngăn kéo trong nhà. Ma-ri cũng chẳng nghĩ đến trưng bày lên, hoặc lập danh sách nữa.
Nước Pháp chỉ có hai cách suy tôn các bậc vĩ nhân của mình hồi còn sinh thời, là tặng Bắc đẩu bội tinh và đưa vào Viện Hàn lâm. Năm 1910, tặng Bắc đẩu bội tinh cho bà Qui-ri, nhớ lại thái độ của Pi-e trước kia, Ma-ri không nhận.
Tiếc rằng sau đó vài tháng, khi các đồng nghiệp quá nhiệt tình, cứ khuyên bà ứng cử vào Viện Hàn lâm khoa học, bà chẳng biết từ chối như thế nào. Ma-ri quên rồi hay sao lần bỏ phiếu tủi nhục mà Pi-e trước đây đã phải chịu? Hay là không biết cái màng lưới ghen tị đang chăng quanh mình?
Đúng thế Ma-ri không biết. Hơn nữa, vốn chất phác, người phụ nữ Ba Lan đó sợ tỏ ra hiếu kỳ, bạc bẽo, nếu từ chối vinh dự khoa học cao quý mà theo như bà nghĩ, quê hương thứ hai tặng cho mình.
Ra tranh cử với Ma-ri Qui-ri là Ê-đu-a Brăng-li[46], một nhà vật lý học lỗi lạc và một người theo đạo Thiên chúa có tên tuổi. Giữa hai phe Qui-ri và Brăng-li, phe tự do tư tưởng và phe đạo giáo, giữa những người theo và chồng cái ý nghĩ mới mẻ, kỳ quặc là nhận phụ nữ vào Viện Hàn lâm, cuộc chiến đấu nổ ra trên khắp các mặt.
Kinh hoảng, bất lực, Ma-ri chứng kiến những cuộc bút chiến mà mình không lường trước. Những nhà bác học nổi tiếng nhất như Hăng-ri Poang-ca-rô, bác sĩ Ru, E-min Pi-ca, các giáo sư Líp-man, Bu-ri và Đác-bu đứng ra vận động cho bà nhưng phe bên kia chống trả rất mạnh.
“Đàn bà không được vào Viện Hàn lâm”. A-ma-ga, cách đây tám năm đã may mắn thắng phiếu Pi-e Qui-ri, nay lại lên giọng đạo mạo. Có những kẻ rỗi hơi khăng khăng với phe đạo giáo rằng Ma-ri là người Do Thái, hoặc quả quyết với phe tự do tư tưởng là bà theo đạo Thiên chúa. Đến ngày bỏ phiếu 23 tháng giêng 1911 khai mạc buổi họp, chủ tịch gọi bảo các thừa phái:
– Cho tất cả mọi người vào, trừ đàn bà!
Một cụ Hàn lâm mắt kém, gần như không nhìn thấy gì, đứng về phe bà Qui-ri, than phiền suýt nữa bầu trái với ý mình vì người ta nhét vào tay cụ một phiếu giả.
Bốn giờ chiều, các phóng viên nhà báo tinh thần căng thẳng cực độ vội chạy đi thảo những tin tức “thắng” hay “bại”.
Ma-ri Qui-ri thiếu một phiếu nên thua cuộc.
Ở phố Qui-vi-ê, anh em phụ tá và anh lao công, còn sốt ruột ngóng kết quả bỏ phiếu hơn cả người ứng cử. Họ đinh ninh rằng Ma-ri sẽ thắng, nên từ sáng đã mua một bó hoa to để sẵn dưới gầm chiếc bàn cân đo. Được tin bà Qui-ri không trúng cử, họ thất vọng thờ thẫn. Anh thợ máy Lu-i Na-gô, hậm hực, cất biến ngay bó hoa đã thành vô dụng. Ai nấy im lặng, chuẩn bị những lời an ủi. Nhưng rồi họ nào có dịp nói ra, Ma-ri, từ trong phòng nhỏ vẫn làm việc, bước ra. Bà không nói một lời nào về cái thất bại không hề làm cho bà ngao ngán.
Trong lịch sử của gia đình Qui-ri, hình như nước ngoài luôn luôn sửa chữa những đối xử của nước Pháp. Tháng chạp năm 1911 ấy, Hàn lâm viện khoa học Xtốc-khôm (muốn biểu dương những công trình chói lọi do bà Qui-ri làm được từ khi chồng chết) lại tặng bà giải thưởng Nô-ben về hóa học. Đây là trường hợp duy nhất một người hai lần được giải Nô-ben như thế.
Cùng sang Thụy Điển với Ma-ri, có Brô-ni-a và cả I-ren. Cô bé được dự buổi trao giải thưởng long trọng. Hai mươi bốn năm sau, cũng trong phòng này sẽ đến lượt I-ren nhận giải Nô-ben về hóa học. (Đó là năm 1935, một năm sau khi Ma-ri Qui-ri mất – ND)
Ngoài những cuộc đón tiếp thường lệ và bữa tiệc ở Hoàng cung, nhân dân Thụy Điển còn tổ chức hội mừng nhà nữ bác học vừa được giải. Ma-ri sẽ giữ mãi kỷ niệm rất đẹp và thú vị về một tối vui ở thôn quê; hàng trăm cô gái quần áo sặc sỡ, đội trên đầu những vòng nến đang cháy, ánh nến lung linh theo điệu múa nhịp nhàng.
Nói chuyện trước công chúng Thụy Điển, Ma-ri tặng lại cho Pi-e sự ngưỡng mộ mà người ta dành cho bà:
“Tôi xin nhắc lại rằng sự khám phá ra Ra-đi và Pô-lô-ni đều có đóng góp của Pi-e. Trong lĩnh vực phóng xạ, Pi-e Qui-ri còn có những công trình nghiên cứu căn bản, hoặc làm riêng, hoặc cùng làm với tôi, hoặc làm chung với học trò của ông.
Việc tách riêng chất Ra-đi dưới dạng muối tinh khiết và khẳng định được chất ấy là một chất mới đặc biệt do tôi làm, nhưng cũng gắn liền với sự nghiệp chung. Vinh dự cao quý mà tôi được nhận hôm nay, bắt nguồn từ sự nghiệp chung đó và có thể coi như một sự tôn kính đối với hương hồn người đã khuất”.
Với một khám phá lừng danh khắp năm châu và hai giải Nô-ben, Ma-ri được rất nhiều người khâm phục nhưng cũng bị lắm kẻ ghen ghét.
Một chiến dịch lăng mạ điên đảo nổ ra giữa Pa-ri như muốn vùi dập người quả phụ 44 tuổi đã yếu đuối kiệt sức vì một công việc quá nặng nề.
Nghiên cứu khoa học thời đó còn là công việc của đàn ông. Đương nhiên những người bạn thân nhất của Ma-ri, những người mà bà có thể trao đổi suy nghĩ, thổ lộ tâm sự phần lớn là nam giới. Và trong quan hệ bạn bè và đồng nghiệp này, bà thường có một ảnh hưởng sâu sắc, nhất là đối với một nhà bác học lớn đương thời. Thế là đủ cho thiên hạ gièm pha, dị nghị. Một nữ bác học suốt đời chỉ biết làm việc, một tấm lòng đoan trang, nghiêm túc, và mấy năm lại đây, còn rất đáng thương lại bị vu khống là làm tan nát nhiều gia đình và bôi nhọ một thanh danh quá chói lọi.
Thời gian đã trả lời và phê phán những người đã khởi xướng ra cuộc công kích này. Nhưng hồi đó bao lần Ma-ri phải chống đỡ tuyệt vọng và vụng về bi thảm. Về những bài báo đương thời có tính chất lăng mạ, những bức thư nặc danh, đe dọa hành hung và có nguy cơ đến tính mạng.
Ma-ri bị xô đẩy đến chỗ suýt thì hóa điên, hóa dại, và thế lực như suy kiệt, cuối cùng, bà đã bị một bệnh hiểm nghèo đánh gục.
Chỉ cần nhắc lại ở đây, một việc ít tai hại nhất nhưng cũng đê tiện nhất, luôn luôn đả kích vào bà Qui-ri trên suốt con đường bà đi. Cứ mỗi khi có cơ hội hạ thấp con người duy nhất ấy – như trong những ngày đau khổ 1911 – hoặc khước từ không cho bà một chức vị, một phần thưởng hay một danh vọng, thí dụ vào Viện Hàn lâm, thì người ta lại lôi cái nguồn gốc của bà ra gièm pha hèn mạt. Hết vu khống là người Nga, người Đức lại bị chê trách là người Do Thái, người Ba Lan, và tóm lại là “một mụ nước ngoài” đến Pa-ri để chiếm đoạt, giành giật địa vị lạm quyền. Nhưng mỗi khi có tài năng của Ma-ri Qui-ri, khoa học được đưa lên đài danh vọng, mỗi khi các nước khác ca ngợi biểu dương, tặng bà những danh vị, suy tôn chưa hề thấy từ trước, thì bỗng nhiên mấy tờ báo ấy, ngòi bút ấy lại không ngớt lời tâng bốc “nữ sứ giả của nước Pháp, đại diện tiêu biểu nhất cho tinh hoa của chủng tộc ta và vinh quang của đất nước”. Và lúc đó người ta cố tình quên nguồn gốc Ba Lan mà bà rất tự hào cùng với một sự bất công như trước đó, nó bị đả kích.
Xưa nay vẫn thế, các vĩ nhân vẫn bị bao kẻ bới lông tìm vết, chúng hằn học chỉ muốn khám phá được dưới cốt cách của thiên tài những dấu hiệu không hoàn mỹ. Giá không có danh vọng, không bị cái nam châm đáng sợ đó thu hút về mình nhiều người yêu những cũng lắm kẻ ghét, thì có lẽ Ma-ri Qui-ri đã chẳng bao giờ bị đặt điều vu khống. Giờ đây, bà lại thêm một lý do nữa để thù ghét vinh quang.
Trong hoạn nạn ta mới thấy rõ bạn của mình. Hàng trăm lá thư của những người có danh tiếng hoặc không tên tuổi gửi đến Ma-ri Qui-ri tỏ lòng xúc động và công phẫn trước những thử thách mà bà phải chịu đựng. Bạn bè như Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, và những trợ lý, sinh viên của Ma-ri, đều lên tiếng bênh vực bà.
Nhiều giáo sư đại học, chỉ hơi quen biết Ma-ri cũng giúp đỡ động viên bà. Hai vợ chồng nhà toán học E-min Bô-ren rất ân cần, săn sóc, muốn khôi phục lại sức khỏe cho Ma-ri đã mời bà sang nước Ý để tĩnh dưỡng.
Cùng với anh ruột là Dô-dếp, hai chị là Brô-ni-a và Hê-la từ Ba Lan sang Pháp, thời gian này Ma-ri còn có một người bênh vực kiên trì là Giắc Qui-ri, anh của Pi-e.
Tình đùm bọc yêu thương đó là một nguồn an ủi lớn về tinh thần. Nhưng sự suy nhược về thể lực vẫn ngày càng nghiêm trọng. Thấy mình không còn đủ sức để hàng ngày từ Xô đến trường, Ma-ri thuê một gian nhà bến Bê-tuyn số 36 định sang Giêng 1912 sẽ dọn. Nhưng rồi cũng không kịp chờ đến ngày đó, hôm 29 tháng Chạp 1911, Ma-ri ốm nặng tưởng chết, phải cáng đến một nhà an dưỡng. Sau hai tháng trời đánh vật với bệnh hoạn, bà đã thắng, nhưng thận bị tổn thương nặng cần phải mổ. Lúc này Ma-ri chỉ còn là một cái xác xanh nhợt, không còn một hạt máu và là nơi tập trung tất cả mọi đau đớn. Phải hoãn việc giải phẫu đến tháng ba, vì cuối tháng hai, bà còn muốn đi dự một hội nghị vật lý.
Một nhà giải phẫu nổi tiếng thời đó đã mổ và săn sóc cho Ma-ri một cách tuyệt diệu. Tuy nhiên, thể lực của người bệnh cũng bị ảnh hưởng lâu dài. Ma-ri gầy rạc đi và không đủ sức đứng vững nữa. Những cơn sốt và những cơn đau thận mà Ma-ri chịu đựng không một tiếng rên la, giá ở bất cứ người đàn bà nào khác thì chỉ còn sống một đời tàn phế vô dụng.
Giờ đây, Ma-ri bị những đau đớn về thể xác, và sự tồi tệ của những kẻ độc địa săn đuổi như một con thú dồn vào bước đường cùng. Brô-ni-a phải thuê cho em gái ốm yếu một căn nhà gần Pa-ri, đứng tên mình để Ma-ri đến tĩnh dưỡng ít lâu, rồi lại đến ở Tô-nông, tiếp tục điều trị trong nhiều tuần lễ buồn tẻ. Hè đến, bà bạn Ay-tơn lại mời Ma-ri và hai con gái đến một biệt thự tĩnh mịch ở bờ biển nước Anh. Ở đây Ma-ri đã được chăm sóc tận tình chu đáo.
Giữa những ngày buồn nản đó một đề nghị làm Ma-ri vô cùng cảm động.
Sau cuộc cách mạng 1905, chế độ Sa hoàng bị lung lay tận gốc, đã phải có một vài nhượng bộ đối với tự do tư tưởng ở Nga. Ở Vác-xô-vi, cuộc sống cũng bớt khắc nghiệt. Từ năm 1911 đã có một hội khoa học hoạt động khá tích cực và tương đối độc lập, hội này đã bầu Ma-ri là “hội viên danh dự”. Mấy tháng sau giới trí thức Ba Lan quyết định xây dựng một Viện thí nghiệm phóng xạ ở Vác-xô-vi, mời Ma-ri về phụ trách đồng thời đón hẳn về quê hương mình nhà nữ bác học đầu tiên trên thế giới.
Tháng năm 1912, một phái đoàn gồm các giáo sư Ba Lan đến thăm Ma-ri. Nhà văn Hen-rích Xi-en-ki-e-vích[47] (Henryk Sienkiewicz-NS), người nổi tiếng và được nhân dân ưa thích nhất ở Ba Lan, đã kêu gọi nhà nữ bác học với những lời lẽ vừa thống thiết vừa trân trọng:
“Rất mong bà đoái hoài, chuyển hoạt động khoa học rạng rỡ của bà về Tổ quốc và thủ đô ta. Hẳn bà cũng biết vì đâu trong thời gian vừa qua nền văn hóa và khoa học của nước Ba Lan chúng ta bị suy đổi. Chúng ta đang mất lòng tin vào những khả năng trí tuệ của mình. Chúng ta bị kẻ thù coi khinh và không còn hy vọng gì vào tương lai nữa.
… Cả đất nước khâm phục bà, nhưng cũng mong bà trở về làm việc ở thành phố quê hương. Đó là lòng tha thiết của cả dân tộc. Nếu có bà ở Vác-xô-vi, anh em chúng tôi sẽ thấy có thêm sức mạnh, sẽ có thể ngẩng đầu, trước đây phải cúi đầu dưới gánh nặng của bao gian truân khổ cực”.
Đây quả là một dịp để rời bỏ nước Pháp một cách vẻ vang và khỏi phải chịu những lời vu khống tàn ác. Nhưng Ma-ri không hề nghe theo sự hằn học. Bà thẳng thắn suy nghĩ về nhiệm vụ của mình. Ý nghĩ trở về Tổ quốc vừa quyến rũ vừa làm bà lo ngại. Giờ đây đã có quyết định xây dựng cái phòng thí nghiệm mà ông bà Qui-ri hằng mong muốn bấy lâu. Rời bỏ Pa-ri lúc này có nghĩa là làm tiêu tan cái hy vọng, hủy diệt một ước mơ to lớn. Ma-ri bị xâu xé giữa hai sứ mệnh không thể dung hòa. Bà đã đau khổ biết chừng nào khi phải viết một bức thư chối từ gửi về Vác-xô-vi! Tuy nhiên, Ma-ri cũng nhận điều khiển từ phương xa, phòng thí nghiệm mới thành lập mà bà đặt dưới sự trông nom thực tế của hai người giúp việc khá nhất của mình là hai nhà bác học Ba Lan.
Năm 1913, mặc dầu còn đang ốm yếu, Ma-ri đến Vác-xô-vi dự lễ khánh thành phòng nghiên cứu phóng xạ. Cả nước Ba Lan sôi nổi đón tiếp người con ưu tú của mình. Lần đầu tiên trong đời Ma-ri đã làm một cuộc thuyết trình khoa học bằng tiếng mẹ đẻ trong một gian phòng đông nghịt. Bà viết cho một đồng nghiệp:
“Tôi muốn trước khi đi cố gắng cống hiến nhiều nhất. Thứ ba vừa qua, tôi đã có một buổi thuyết trình trước công chúng. Tôi cũng dự và sẽ còn dự nhiều buổi họp. Đâu đâu tôi cũng gặp rất nhiều tài năng cần phát huy. Đất nước đau thương này bị tàn phá vì một sự thống trị man rợ và vô lý quá đã cố gắng nhiều để bảo vệ đời sống tâm hồn và trí tuệ của mình. Sự áp bức rồi đây sẽ bị đẩy lùi và phải kiên trì đến lúc đó”.
Có một cuộc đón tiếp tổ chức ở Bảo tàng Công-Nông nghiệp ở chính ngôi nhà mà hai mươi năm trước đây Ma-ri đã làm những thí nghiệm đầu tiên về vật lý. Ngày hôm sau, phụ nữ Ba Lan chiêu đãi. Trong hàng ngũ khách dự tiệc, có bà cụ rất già, tóc bạc phơ, cứ chăm chăm nhìn Ma-ri một cách say sưa. Đó là bà cụ Xi-coóc-xca, giám đốc ký túc xá mà xưa kia cô gái Ma-ri nhỏ bé với bộ tóc hung vẫn lui tới. Nhìn thấy cụ, Ma-ri lách mình giữa những bàn đầy hoa, đến ôm hôn cụ thắm thiết, làm cụ cảm động nước mắt cứ ròng ròng.
Sức khỏe của Ma-ri đã khá. Hè 1913, có một cuộc đi chơi ngắm cảnh lý thú. Vai đeo ba lô, Ma-ri đã đi bộ thăm vùng Ang-ga-din cùng với hai con gái, bà gia sư, và nhà bác học An-be Anh-xtan[48] (Albert Eistein-NS) và con trai ông.
Một tình bạn đẹp đẽ đã nẩy nở giữa Ma-ri Qui-ri và nhà bác học Đức. Giữa “hai thiên tài”, từ mấy năm nay, thẳng thắn và chân thành, họ mến phục nhau, họ thích bàn luận về vật lý lý thuyết, lúc thì nói tiếng Pháp, lúc thì nói tiếng Đức, kéo dài mãi không dứt.
Mấy đứa trẻ nô đùa, nhảy nhót ở phía trước. Ở đằng sau Anh-xtan thao thao bất tuyệt, say sưa trình bày những lý thuyết ông hằng ấp ủ, mà chỉ có Ma-ri với kiến thức đặc biệt về toán mới hiểu nổi.
I-ren và E-vơ thỉnh thoảng nghe lõm bõm vài câu có vẻ lạ lùng đối với chúng. Nhà vật lý người Đức đang đăm chiêu đi dọc theo những vực đá, trèo lên những mỏm cao dựng đứng. Bỗng ông dừng lại, nắm cánh tay Ma-ri và nói:
– Bà hiểu không, điều mà tôi muốn biết là cái gì sẽ xảy ra với những người đi thang máy, khi cái thang này rơi trong khoảng không.
Một sự quan tâm cảm động như vậy làm cho lũ trẻ bật cười. Chúng nào có ngờ đâu cái thang máy rơi tưởng tượng ấy đặt ra những vấn đề siêu lý về thuyết “tương đối”!
Sau những ngày hè ngắn ngủi ấy, Ma-ri sang Anh rồi sang Bỉ, dự những buổi họp trọng thể về khoa học. Ở thành phố Bớc-minh-gam ở Anh, bà lại được tặng tiến sĩ danh dự. Lần này Ma-ri đã vui vẻ chịu đựng cuộc thử thách và kể lại cho I-ren nghe với nhiều hình ảnh bay bướm:
– Người ta đã cho mẹ mặc một cái áo đỏ viền xanh rất đẹp, với những người bạn cùng thuyền, nghĩa là những nhà bác học cũng nhận được học vị tiến sĩ. Mỗi người nghe một lời giới thiệu ngắn ca ngợi công cán của mình. Sau đó ông hiệu trưởng trường Đại học khoa học tuyên bố tặng học vị cho từng người. Rồi tất cả đứng lên bục, sau đó đi diễu với tất cả giáo sư và tiến sĩ ở trường Đại học này, ăn mặc cũng gần như mẹ. Kể cũng vui. Mẹ phải trịnh trọng hứa tôn trọng luật lệ và thủ tục của trường Đại học Bớc-minh-gam đấy!...
Cuộc đời của Ma-ri Qui-ri đến đây đã đạt tới đỉnh cao của danh vọng, cơn bão táp đã qua từ hai năm nay, viện Ra-đi-om ở phố Pi-e Qui-ri đã khởi công xây dựng.
Không phải ngẫu nhiên mà được như thế. Ngay sau khi Pi-e Qui-ri mất, chính phủ Pháp có đề nghị với Ma-ri mở một cuộc lạc quyên toàn quốc để xây dựng phòng thí nghiệm. Bà đã từ chối không muốn cho ai làm tiền trên cái chết của Pi-e. Các nhà chức trách lại đâm ì ra. Nhưng đến năm 1909, bác sĩ Ru là giám đốc Viện Pát-xtơ có ý kiến xây dựng một phòng thí nghiệm cho bà Qui-ri. Như thế bà sẽ rời bỏ trường Xoóc-bon để trở thành một ngôi sao của viện Pát-xtơ.
Những người đứng đầu trường Đại học khoa học bỗng giật mình. Để bà Qui-ri đi nơi khác ư? Không thể được! Thể nào cũng phải giữ nhà bác học xuất chúng này.
Cuộc tranh chấp chỉ chấm dứt sau khi bác sĩ Ru và phó chủ nhiệm Li-a thay mặt cho Viện Pát-xtơ và trường Đại học khoa học thỏa thuận mỗi bên sẽ chi 400.000 phơ-răng vàng để cùng xây dựng Viện Ra-đi-om. Viện này gồm có hai phần: một phòng thí nghiệm phóng xạ, đặt dưới sự điều khiển của Ma-ri Qui-ri, một phòng thí nghiệm nghiên cứu sinh vật học và chữa bệnh bằng Ra-đi do giáo sư Clốt Rơ-gô (Claude Regaud-NS), một nhà bác học và thầy thuốc lỗi lạc phụ trách để tổ chức việc nghiên cứu về ung thư. Hai cơ cấu đó làm việc song song và phối hợp với nhau để phát triển khoa học về Ra-di.
Thế là, Ma-ri lại tất tả từ phố Qui-vi-ê đến công trường kiến trúc, hết vẽ bản đồ lại bàn bạc với kiến trúc sư. Người phụ nữ tóc đã hoa râm ấy có những ý kiến rất mới, rất “hiện đại”. Bà muốn xây dựng một phòng thí nghiệm có thể vẫn dùng được trong 30 năm, 50 năm, khi bà không còn nữa. Ma-ri khăng khăng yêu cầu các phòng nghiên cứu phải rộng rãi, sáng sủa, cửa sổ thật to cho ánh sáng lùa vào. Và dù tốn kém, dù có cho những kỹ sư chịu trách nhiệm xây dựng công phản đi nữa thì cũng cần phải có cả thang máy…
Vốn tâm hồn nông dân, Ma-ri chú ý hơn cả đến khu vườn mà bà say sưa thiết kế bất chấp lý lẽ xác đáng của những người muốn “tiết kiệm chỗ”, bà gay gắt giành giật từng thước đất cách quãng các tòa nhà. Bà sành sỏi chọn từng cây ươm, chính mắt trông coi việc trồng trọt mà bà cho tiến hành ngay trước khi xây các móng nhà. Ma-ri tâm sự với những người cộng tác:
“Trồng mấy cây này ngay từ bây giờ là lợi được hai năm. Khi phòng thí nghiệm dựng xong, cây cũng đã mọc cao, nở hoa tươi tốt. Nhưng phải kín đấy nhé! Ta chưa nói gì cho lão Nê-nô biết đâu!” (Nê-nô là kiến trúc sư phụ trách xây dựng- ND).
Và một ánh lửa trẻ trung, hóm hỉnh thoáng nhóm trên khóe mắt màu tro.
Ma-ri tự tay trồng những khóm tầm xuân, đắp đất vào gốc cây ngay bên những tường đang làm dở. Mỗi ngày Ma-ri tưới cho cây. Và mỗi khi bà đứng dậy ngắm nghía, người ta tưởng bà đang rình đón những tường gạch vô tri thi nhau mọc lên với mấy khóm cây xanh tốt.
Thời gian đó, bà vẫn không ngừng làm việc ở phố Qui-vi-ê. Một buổi bác Pơ-ti, trước là lao công ở phòng thí nghiệm, đến gặp bà ở đây, không nén được xúc động: ngay ở trường Vật lý, cũng đang xây dựng thêm phòng làm việc và cả giảng đường. Và cái lán mục nát tang thương của Pi-e và Ma-ri, giờ đây sắp sụp đổ dưới cuốc của thợ phá dỡ.
Cùng người giúp việc âm thầm của mình trong những ngày đầu gian truân, sáng hôm đó, Ma-ri đến phố Lô-mông, thăm lại nơi làm việc xưa kia. Cái nhà xe vẫn còn đó, cái bảng đen mang bút tích của Pi-e được giữ nguyên. Hình như cửa sắp mở đây, và bóng dáng một người cao lớn quen thuộc sắp bước vào.
Phố Lô-mông. Phố Qui-vi-ê. Phố Pi-ê Qui-ri. Ba địa chỉ, ba chặng đường. Hôm ấy, Ma-ri đã vô tình đi ngược lại đường đời đẹp đẽ và tàn ác của mình. Trước mặt bà tương lai đang vẽ ra sáng lạn. Ở phòng thí nghiệm sinh vật học vừa mới xây dựng xong, các trợ lý của bác sĩ Rơ-gô bắt đầu làm việc và buổi chiều ở các cửa sổ tòa nhà mới đã có ánh đèn. Vài tháng nữa, Ma-ri cũng sẽ rời bỏ lớp Lý-Hóa-Sinh và chuyển các dụng cụ thí nghiệm của mình sang phố Pi-e Qui-ri.
Thắng lợi đó đến với nhà nữ bác học khi bà không còn trẻ trung sung sức, và nhất là không còn hạnh phúc nữa. Nhưng điều đó có can chi, vì một lớp trẻ đang đứng quanh bà, có những người nghiên cứu đầy nhiệt tình, sẵn sàng chiến đấu bên cạnh Ma-ri cho sự nghiệp khoa học. Không! Chưa phải là đã quá muộn!
Tiếng hát và huýt sáo của anh em thợ lắp kính vang lên rộn ràng từ trên các tầng gạch ngôi nhà trắng tinh. Trên cổng vào đã hiện lên, khắc trên đá mấy chữ:
VIỆN RA-ĐI-OM
Khu Qui-ri
Trước những bức tường dày vững chắc, trước dòng chữ khắc làm phấn chấn lòng người, Ma-ri gợi lại những lời nói của Pát-xtơ[49]:
“Nếu trái tim bạn rung động trước những sự chinh phục có ích cho loài người, nếu bạn phải sửng sốt cho những tác dụng kinh ngạc của những phát minh như vô tuyến điện, chụp ảnh trên màn bạc, gây mê trong phẫu thuật, cùng bao phát minh khác rất đáng khâm phục; nếu bạn tha thiết nâng niu phần đóng góp của đất nước mình vào bao kỳ công đó, – thì tôi khẩn khoản xin bạn quan tâm đến những ngôi nhà thiêng liêng mà người ta gọi bằng cái tên rất ý nghĩa là phòng thí nghiệm. Phải có thêm nhiều phòng thí nghiệm, và phải trang hoàng các phòng đó. Đây là những ngôi nhà sung túc. Ở đây, nhân loại sẽ học cách đọc tác phẩm của tạo hóa, tác phẩm của tiến bộ và của sự hòa hợp vũ trụ trong khi sản phẩm của mình phần nhiều chỉ có tính tàn bạo, cuồng tín và phá hoại”.
Tháng bảy rạng rỡ ấy, “ngôi đền của tương lai” ở phố Pierre Curie đã hoàn thành. Chỉ còn đợi những người làm việc và bà giám đốc.
Nhưng đó là tháng bảy năm 1914. Cuộc chiến tranh thế giới sắp bùng nổ.
Chú thích:
[46] Edouard Branly (1844-1940) nhà vật lý và hóa học Pháp chế ra máy tiếp sóng (cohereur) làm cho khoa điện báo đi vào thực hành.
[47] Henryk Sienkiewicz(1846 -1916) tác giả tác phẩm nổi tiếng Quo Vadis (Giải No-ben 1905)
[48] Albert Eistein (1879 -1955) nhà bác học vật lý người Đức, đề ra thuyết tương đối về thời gian và không gian.
Chương 21
Chiến tranh
Hè năm ấy, Ma-ri thuê một nhà nghỉ mát ở xứ Brơ-ta-nhơ (Brittany-NS) cho hai con gái đến đây trước với một bà giáo và một chị nấu bếp. Mẹ chúng hứa sẽ đến sau vào ngày mồng ba tháng tám. Vì là cuối năm học, việc bận, nên Ma-ri phải ở lại Pa-ri. Bà đã quen sống một mình như thế; giữa những ngày hè nóng nực nhất, không có người giúp việc để đỡ đần đêm hôm. Cả ngày ở phòng thí nghiệm, tối mịt mới về, toàn khu nhà bà ở chỉ có một bà gác cổng trông coi có phần sơ sài.
Ma-ri viết thư cho các con gái ngày 1 tháng Tám 1914.
“Irène và Eve yêu dấu, tình hình có vẻ xấu đi, sắp có lệnh động viên, chả biết mẹ có đi được không. Hai con đừng lo sợ, phải bình tĩnh và can đảm. Nếu chiến tranh không bùng nổ, mẹ sẽ về thứ hai này. Bằng không mẹ sẽ ở lại đây và cho người về đón các con ngay khi nào có thể được, I-ren sẽ cùng mẹ tìm cách giúp ích nhé”.
Mồng 2 tháng Tám:
“Hai con gái yêu dấu của mẹ, lệnh động viên đã ban hành. Quân Đức đã đột nhập vào nước Pháp không hề tuyên chiến. Trong một thời gian, việc đi lại sẽ không dễ dàng.
Paris vẫn bình tĩnh và gây ấn tượng tốt, mặc dầu cảnh chia ly buồn bã”.
Mồng 6 tháng Tám:
“I-ren yêu quý, mẹ cũng rất muốn đón các con về đây, nhưng lúc này chưa thể được. Các con hãy kiên nhẫn. Bọn Đức tràn qua nước Bỉ có tác chiến. Nước Bỉ nhỏ nhưng anh dũng không chịu để chúng vào mà không chống lại. Tất cả những người Pháp đều lạc quan và cho rằng cuộc chiến đấu tuy gay go nhưng sẽ xoay chiều tốt.
Đất nước Ba Lan bị quân Đức chiếm đóng. Nơi nào chúng đã đi qua thì còn gì nữa! Mẹ cũng không được tin gì về bên nhà cả”.
Chung quanh Ma-ri người đi gần hết. Từ những giáo sư đồng nghiệp đến các nhân viên phòng thí nghiệm, ai nấy đều đã nhập ngũ, ở lại chỉ còn anh thợ máy Lu-i Ra-gô, vì yếu tim nên không trúng tuyển, và một người đàn bà giúp việc nhỏ bé, thấp lè tè. Lúc này Ma-ri không hề nghĩ rằng nước Pháp chỉ là quê hương thứ hai của mình. Và tuy là một người mẹ, bà cũng không có tư tưởng muốn về gần các con. Con người ốm yếu, mảnh khảnh ấy coi thường bệnh hoạn của mình. Và nhà nữ bác học tự nguyện gác công việc nghiên cứu riêng lại sau này, khi có điều kiện sẽ tiếp tục. Ma-ri chỉ còn một tha thiết phục vụ Tổ quốc thứ hai của mình. Trong cuộc thử thách mới, một lần nữa, bà đã tỏ ra sáng suốt nhạy cảm và luôn luôn chủ động.
Đóng của phòng thí nghiệm để trở thành một nữ cứu thương với chiếc voan trắng như nhiều phụ nữ Pháp dũng cảm, giải đáp dễ dàng đó, không tồn tại lâu trong ý nghĩ của Ma-ri. Sau khi tìm hiểu tổ chức của những cơ quan y tế, Ma-ri phát hiện ra một thiếu sót hình như không được ai quan tâm, nhưng lại rất đáng lo ngại: các bệnh viện ở hậu phương cũng như ở tiền tuyến hầu như thiếu hẳn trang bị về điện quang. Chúng ta biết rằng nhờ có quang tuyến X do Rơn-ghen[50] phát minh từ 1895, có thể không cần đến phẫu thuật vẫn thám thính được nội tạng con người, nhìn và chụp ảnh các xương cốt.
Năm 1914, ở Pháp chỉ có rất ít máy Rơn-ghen dùng trong y tế. Sau khi chiến tranh nổ ra, ngành quân y dự định thiết lập khoa này ở một vài thành phố lớn, được xét là xứng đáng với sự xa xỉ đó. Chỉ có thế. Một thiết bị mầu nhiệm cho phép phát hiện và xác định vị trí của viên đạn, mảnh bom nấp dưới vết thương, chẳng lẽ lại là một thứ xa xỉ hay sao?.
Một trăm năm mươi nữ y tá về điện quang do Ma-ri đào tạo từ 1916 đến 1918 được tuyển từ đủ các thành phố. Có những người khi lấy vào văn hóa rất kém. Lúc đầu uy tín của Ma-ri Qui-ri làm họ rất rụt rè. Nhưng Ma-ri vốn có tài làm cho khoa học dễ hiểu đối với những người bình thường nhất. Ma-ri lại thích làm gì cũng phải chu đáo. Và khi một chị học viên thực tập xưa kia đi ở, lần đầu tiên rửa được hoàn hảo một cái kính chiếu điện thì nhà nữ bác học mừng rỡ như là một thành tích của chính mình.
Nhiều nước lần lượt nhờ đến kiến thức về chuyên môn của bà Qui-ri. Từ năm 1914, Ma-ri nhiều lần đến thăm các bệnh viện Bỉ. Năm 1918, bà đã đi Bắc Ý để nghiên cứu tài nguyên của nước này về chất phóng xạ. Ít lâu sau, bà lại tiếp nhận ở phòng thí nghiệm của mình hơn hai chục nhân viên quân sự Mỹ đến học về điện quang.
Môn điện quang làm cho Ma-ri tiếp xúc với nhiều người rất khác nhau. Nhiều bác sĩ giải phẫu, hiểu rõ ích lợi của tia X, nên coi bà như một cộng sự rất quý. Một số người khác, ít am hiểu hơn, nhìn ngắm những máy móc dụng cụ của Ma-ri với cặp mắt nghi ngờ mô phạm. Sau vài lần chiếu điện có kết quả mỹ mãn họ mới ngạc nhiên và chịu rằng “làm như thế thì được đây” và họ không thể tin ở mắt mình khi ở đúng chỗ do Ma-ri xác định, lưỡi dao mổ của họ đã khêu được mảnh đạn trước đã tìm mãi không thấy trong vết thương nhức nhối. Được thuyết phục, họ không ngớt lời ca ngợi việc này như một phép mầu nhiệm. Thấy Ma-ri ăn mặc xuềnh xoàng, lại không xưng tên, có những bà sang trọng, nhận đỡ đầu cho các bệnh viện, thường tỏ ra khinh khỉnh, và đôi khi coi như một kẻ dưới. Những sự hiểu lầm đó, chỉ làm cho nhà nữ bác học thích thú.
Con người vốn lạnh lùng và đăm chiêu đó, đối với thương binh lại niềm nở tuyệt vời. Nhiều thương binh trước đây là nông dân, là công nhân trông thấy máy Rơn-ghen thì sợ mà ngại đau. Bà làm họ yên tâm:
– Rồi các bạn xem, chỉ như là chụp ảnh thôi.
Đối với những người lính đó, Ma-ri đúng là hình ảnh của sự dịu dàng, một giọng êm ái, đôi bàn tay nhẹ nhàng, hết sức kiên nhẫn và rất đỗi trân trọng sinh mệnh con người. Thật thế, để cứu một mạng người, để tránh cho một thương binh đau đớn, khỏi bị cưa cụt, tàn phế, Ma-ri sẵn sàng nhận sự cố gắng nặng nhọc nhất và chỉ bỏ cuộc khi đã tìm hết cách cứu chữa.
Không bao giờ Ma-ri nói đến những nỗi vất vả không lời nào tả nổi, những nguy cơ hiểm nghèo, hoặc tác hại tàn nhẫn của tia X và của chất Ra-đi trên cơ thể của mình. Trái lại vẻ mặt bà lúc nào cũng bình thản vô tư, đôi khi lại còn vui nữa, chưa bao giờ Ma-ri tươi tỉnh như lúc này. Chiến tranh đã dạy cho Ma-ri, tính vui vẻ là biểu hiện đẹp nhất của lòng dũng cảm.
Lòng Ma-ri có vui gì cho cam! Bao lo âu thầm kín không lúc nào buông tha bà, sự nghiệp dở dang, rồi họ hàng ở Ba-lan bấy lâu vắng tin. Lại thêm vào đó lòng ghê tởm sự cuồng loạn đang xâu xé thế giới. Hình ảnh hàng nghìn thân hình tả tơi, rên la, quằn quại được chính mắt thấy, tai nghe, sẽ còn ám ảnh cuộc đời của Ma-ri mãi về sau này.
Tiếng súng đại bác báo hiệu đình chiến đến với Ma-ri khi bà đang ở phòng thí nghiệm. Bà muốn treo cờ lên viện Ra-đi-om, và cùng với người cộng tác của mình là cô Mác-ta Clanh đi khắp các cửa hiệu, không đâu còn cờ Pháp. Sau đành phải mua vải vụn ba màu đưa bà phụ việc khâu vội, và treo lên các cửa sổ. Ma-ri run lên vì xúc động, bà cùng cô Clanh nhảy lên chiếc xe chiếu điện cũ kỹ, ọp ẹp, xây xát sau bốn năm lăn lộn. Một anh lao công của phòng Lý-hóa-sinh ngồi vào cầm lái, đảo qua các phố, giữa những làn sóng người sung sướng và nghiêm nghị. Đến quảng trường Công Coóc, người đông quá ô-tô không tiến được. Nhiều người trèo lên hai bên thành xe và leo cả lên mui xe. Và khi chiếc xe của bà Qui-ri tiếp tục đi, nó đã biến thành một xe khách, có đến hơn chục người ngồi thêm trên mui như một tầng thượng, suốt buối sáng hôm đó.
Đối với Ma-ri, có hai cuộc thắng. Nước Ba-lan, sống lại từ đám tro tàn, và sau một thế kỷ rưỡi bị đô hộ, khôi phục được độc lập.
Thời thơ ấu tủi nhục, và tuổi trẻ đấu tranh bỗng hiện lại trong tâm trí Ma-ri. Không phải vô ích mà xưa kia, cô Xkhua-đốp-xka đã phải giấu giếm mưu mẹo đối với những nhân viên của Sa-hoàng, lén lút tìm đến với các bạn học ở trường Đại học di động, trong những gian phòng lụp xụp ở Vác-xô-vi, hoặc dạy cho các em bé ở nông thôn Schuc-ky biết chữ.
Ma-ri viết thư cho anh Dô-dếp tháng Chạp 1920:
“Thế là chúng ta xưa “sinh ra trong cảnh nô lệ, bị gông cùm ngay khi còn trong nôi”[51], ngày nay chúng ta đã được thấy đất nước đứng dậy như lòng hằng ước mơ. Chúng ta đều hy vọng được sống những giờ phút này, những tưởng phải đến đời con, đời cháu có lẽ mới được trông thấy. Thế mà ngày nay, giờ phút đó đã đến! Đúng là nước ta đã phải trả giá đắt cái hạnh phúc ấy và sẽ còn phải trả nữa. Song những đám mây còn phủ lên tình trạng hiện tại làm sao có thể so sánh với nỗi đắng cay và sự thất vọng sẽ vò xé tâm hồn ta nếu như sau chiến tranh, nước Ba Lan còn bị xiềng xích và chia cắt? Cũng như anh, em tin tưởng ở tương lai”.
Hy vọng đó, ước mơ đó, không làm khuây khỏa những lo âu riêng tư của Ma-ri. Chiến tranh đã làm hao mòn sức khỏe của bà. Chiến tranh đã làm bà phá sản. Tiền gửi chính phủ Pháp đã tan như tuyết dưới nắng. Và khi nhìn lại tình hình tài chính của mình, Ma-ri không khỏi lo ngại. Hơn năm mươi tuổi rồi, bà vẫn còn nghèo. Để sống với con cái, chỉ còn trông vào lương giáo sư: Mười hai nghìn phơ-răng một năm. Liệu sức khỏe có còn cho phép bà tiếp tục dạy học và đảm đang công việc giám đốc phòng thí nghiệm, cho đến tuổi về hưu không?
Trong khi vẫn duy trì công việc thời chiến của mình (những học sinh thực tập về điện quang vẫn còn tiếp tục đến nghe giảng ở viện Ra-đi-om trong hai năm nữa) Ma-ri lại trở lại với sự ham mê của đời mình là ngành vật lý. Bà viết một quyển sách về “Điện quang và chiến tranh”, ca ngợi lợi ích của những phát minh khoa học và giá trị nhân đạo của chúng, và rút từ trong kinh nghiệm đau đớn vừa qua, thêm nhiều lý lẽ mới để thiết tha yêu quý khoa học.
“Lịch sử ngành điện quang thời chiến là một thí dụ rất sắc bén về phạm vi áp dụng rộng rãi không ai ngờ đến được của các phát minh khoa học thuần túy trong một vài điều kiện nào đó”. Trước chiến tranh tia X chỉ được sử dụng hạn chế. Cái thảm họa lớn đã xâu xé nhân loại, với một số nạn nhân tăng lên khủng khiếp, đồng thời đã làm nẩy sinh như một phản ứng, lòng ham muốn cứu vãn tất cả cái gì đó có thể cứu được, và tìm mọi cách giành giật và che chở sinh mạng con người.
Điều mà lúc đầu tưởng là khó đã trở thành dễ và có ngay giải pháp.
Dụng cụ và người sử dụng được nhân lên, ngày càng nhiều. Người chưa biết thì học. Kẻ thờ ơ trở nên tích cực. Như có phép lạ, phát minh khoa học đã chinh phục xong lĩnh vực hoạt động tự nhiên của nó. Khoa học chữa bệnh bằng Ra-đi, áp dụng những tia phát ra bởi các chất Ra-đi vào y học, cũng sẽ tiến triển như vậy”
Nên kết luận thế nào đây về sự việc không ngờ đó đã đến với những quang tuyến mà khoa học mới phát minh ra cuối thế kỷ 19? Rõ ràng là nó làm ta thêm tin tưởng sâu sắc vào sự tìm tòi vô tư, càng thêm trân trọng và khâm phục sự tìm tòi đó”.
Khó mà nhận ra đâu là những sáng kiến của Ma-ri Qui-ri và tầm quan trọng của nó trong quyển sách kỹ thuật khô khan trên. Toàn một cách nói không xưng tên, một niềm khăng khăng tự xóa mình, giấu mình trong bóng tối! Đối với Ma-ri, cái “tôi” không chỉ đáng ghét, cái “tôi” không có. Công trình của bà hình như tạo ra do những thế lực bí ẩn, lúc thì bà gọi là “tổ chức y tế”, lúc thì là “người ta” hay quá đi nữa là “chúng tôi”. Sự khám phá ra chất Ra-đi cũng lẩn trong câu “những quang tuyến mà khoa học mới phát minh vào cuối thế kỷ thứ 19”. Và nếu buộc lòng phải nói đến mình, thì người viết cố hòa lẫn trong quần chúng vô danh:
“Cũng muốn phục vụ như rất nhiều người khác, việc quốc phòng trong những năm vừa qua, tôi đã hướng ngay về ngày điện quang”.
Chú thích:
[51] Trích trong quyển “Pan Tadeusz” của nhà thơ Ba Lan A-dam Mich-ki-e-vich (Adam Mickienrica) (1798-1855)
Chương 22
Hòa bình
Quan hệ được nối lại giữa những nhà bác học của các nước thắng trận và các nước bại trận. Bà Qui-ri tỏ ra thành thật muốn quên cuộc xô xát vừa qua. Tuy nhiên bà cũng dè dặt không có những biểu hiện vồn vã, như một số đồng nghiệp. Vì nước Đức là nước đã gây hấn, nên trước khi tiếp một nhà bác học người Đức, Ma-ri không quên hỏi: “Ông ta có ký Tuyên ngôn của 93 nhà trí thức không?” (tán thành những biện pháp khủng bố đối với nhân dân Pháp- ND). Nếu có, thì bà Qui-ri chỉ tỏ ra lịch sự. Còn không, thì bà thân ái hơn, và nói chuyện cởi mở hơn về khoa học.
Điều đó nói lên nhận thức rất cao của Ma-ri về trách nhiệm của người trí thức trong thời chiến. Bà không nghĩ rằng những nhà tư tưởng lớn có thể đứng “trên cuộc chiến đấu”: trong bốn năm chiến tranh, Ma-ri đã một lòng phục vụ nước Pháp. Và đã cứu sống bao nhiêu người. Nhưng có những việc mà bà cho rằng người trí thức không thể thỏa hiệp. Bà không đồng tình với những nhà văn và nhà bác học bên kia sông Ranh đã ký vào bản Tuyên ngôn. Đối với Ma-ri, người trí thức sẽ phản lại sứ mệnh của mình nếu không kiên trì bảo vệ cho văn minh và tự do tư tưởng.
Sau khi tham gia vào cuộc chiến đấu của nước Pháp, Ma-ri đã không trở thành hiếu chiến, hoặc bè phái. Năm 1919 chúng ta gặp lại một nhà bác học chân chính đứng đầu phòng thí nghiệm của mình.
Bà đã từng khao khát cái ngày mà những phòng thí nghiệm mới xây dựng ở phố Pi-e Qui-ri sẽ sôi nổi hoạt động. Ý nghĩ đầu tiên của Ma-ri là không để gián đoạn công việc đặc sắc đã làm được trong thời chiến. Việc sử dụng khí tỏa của Ra-đi và phân phối những ống thủy tinh có “hoạt tính” đến các bệnh viện được tiếp tục dưới sự điều khiển của bác sĩ Rơ-gô sau khi phục viên, đã trở về phụ trách khu Sinh vật học. Còn ở khu Vật lý, bà Qui-ri và những người cộng tác lại tiếp tục chương trình bỏ dở từ 1914, và bắt đầu những thí nghiệm mới.
Cuộc sống đều đặn hơn. Đã đến lúc nghĩ đến tương lai của hai con gái, giờ đây là hai thiếu nữ khỏe mạnh, lớn bằng mẹ. I-ren một nữ sinh viên hai mươi mốt tuổi, trầm lặng, thăng bằng, không hề do dự một chút về chí hướng của mình. I-ren muốn trở thành một nhà vật lý đi sâu nghiên cứu về Ra-đi. Cô noi theo con đường Pi-e và Ma-ri đã đi một cách giản đơn, tự nhiên, đáng khâm phục. Cô không hề băn khoăn là mình sẽ có thành tích đạt rực rỡ như mẹ mình hay không và cũng không hề để tư tưởng mình bị ảnh hưởng bởi một tên tuổi quá lừng lẫy. I-ren thực sự yêu khoa học, lại rất có khiếu và tham vọng duy nhất của cô là sẽ được làm việc mãi trong phòng thí nghiệm mà chính mắt cô thấy xây dựng lên. Từ năm 1918, I-ren chính thức được cử làm nhân viên pha chế.
Trường hợp tốt đẹp của I-ren làm cho Ma-ri quá dễ dàng nghĩ rằng thế hệ trẻ tìm hướng đi không khó gì trong bàn cờ ngoắt ngoéo của cuộc đời. Những nỗi băn khoăn và những sự thay đổi chiều hướng của E-vơ làm cho bà thất vọng. Do quá tôn trọng tự do tư tưởng của các con, đánh giá quá cao sự khôn ngoan của chúng, Ma-ri không hề lấy quyền làm mẹ buộc E-vơ phải nghe. Ma-ri vẫn muốn E-vơ sau này trở thành thầy thuốc và đi sâu nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của Ra-đi. Nhưng bà không hề ép con phải đi theo con đường đó. Với một sự nhẫn nại rất kiên trì, bà luôn luôn chiều ý và còn hưởng ứng những thay đổi bất thường của con gái. E-vơ muốn học nhạc, Ma-ri cũng mừng thấy con có ý thích đó, để E-vơ tự chọn thầy dạy, tự chọn cách học. Đối với một đứa con gái đầy do dự, đáng ra cần được dìu dắt một cách cương quyết, Ma-ri lại quá thả lỏng. Làm sao Ma-ri có thể thấy được sai lầm đó của mình trong khi cuộc đời của bản thân luôn luôn được linh tính và bản năng không thể lầm lẫn của thiên tài dắt dẫn đến hoàn thành sứ mệnh mặc cho bao trở ngại lớn lao?
Bà theo dõi, cho đến phút cuối cùng của sự phát triển của hai con gái, tính tình khác hẳn nhau, không hề tỏ ra yêu con nào hơn. I-ren và E-vơ luôn luôn thấy ở Ma-ri một người bạn nồng nhiệt, một bàn tay che chở trong mọi trường hợp khó khăn. Sau này, khi I-ren có con, Ma-ri lại trông nom săn sóc hai thế hệ.
Ma-ri viết cho I-ren và con rể là Phrê-đê-rích Giô-li-ô Qui-ri(Frédéric Joliot Curie) (2-12-1928):
“Các con yêu dấu,
Mẹ gởi tới các con những lời chúc mừng năm mới với một năm đầy sức khỏe vui vẻ, làm việc hăng say, một năm mà ngày nào các con cũng cảm thấy vui sướng, không phải đợi ngày qua đi rồi mới thấy hứng thú, mà không phải chỉ mong chờ hứng thú ở những ngày sẽ tới. Càng về già, người ta càng thấy rằng biết hướng cái hiện tại là một đức tính quý báu.
Mẹ đang nghĩ tới bé Hê-len (Hélène), và mẹ chúc cho hạnh phúc của cháu. Cảm động biết mấy khi nhìn con người nhỏ bé đó nảy nở và đợi chờ tất cả ở các con với một niềm tin cậy vô bờ bến, tưởng như các con có thể mãi mãi che chở và chống mọi đau đớn, bệnh hoạn.
Một ngày kia, cháu sẽ hiểu rằng khả năng bố mẹ nó không nhiều được như thế – tuy nhiên người ta ai cũng ước mơ làm được tất cả cho con cái mình. Ít ra ta cũng phải cố gắng để cho con trẻ có một sức khỏe tốt, một tuổi thơ êm đềm và trong sáng trong tình thương yêu làm cho lòng tin của chúng có thể kéo dài mãi mãi”.
Ma-ri viết thư cho các con gái 3-9-1919:
“Mẹ không lúc nào không nghĩ đến bao công việc mà mẹ cùng các con sẽ phải làm trong những năm tới, mẹ nghĩ đến mỗi con, đến những phút êm đềm, và cả những phút lo âu mà các con đã cho mẹ. Đối với mẹ, các con là nguồn của cải to lớn nhất, và mẹ mong rằng cuộc đời sẽ còn dành cho mẹ nhiều năm chung sống tốt lành với các con”.
Phải chăng sức khỏe của Ma-ri đã khá hơn sau những năm chiến tranh căng thẳng? Phải chăng tuổi già đã làm cho tâm hồn Ma-ri thư thái dần? Tang tóc và tật bệnh giờ đây không còn như một gọng kìm siết chặt vào cuộc đời bà như xưa nữa, thời gian đã làm nhạt dần mọi phiền muộn.
Thư cho chị Brô-ni-a, 1 tháng 8 năm 1921:
“… Đời em đã từng đau khổ đến nỗi không còn biết đau khổ hơn được nữa. Bây giờ chỉ một tai họa thực sự mới có thể làm cho em thấm thía. Em đã học tính chịu đựng và cố tìm ra những niềm vui nhỏ trong bức tranh xám xịt của cuộc sống hàng ngày.
Chị hãy tự nhủ rằng mình có thể làm nhà, trồng cây, tưới hoa, nhìn cây, nhìn hoa nở và không nghĩ đến gì nữa. Chúng ta chẳng còn sống được mấy tí, việc gì cứ phải làm khổ mình mãi?”
I-ren rất hăng say thể thao, thường khuyến khích mẹ theo mình, đi bộ cùng mẹ rất lâu, rủ mẹ đi trượt băng, cưỡi ngựa và cả trượt tuyết nữa.
Mùa hè đến, Ma-ri đã trở về với các con ở Brơ-ta-nhơ (Bretagne). Ở Lác-cu-ét, một vùng rất đẹp, không đông đúc, ồn ào. Ba mẹ con như ba chị em đã sống những ngày hè thần tiên.
Dân xóm này ở ngay bờ biển Măng-sơ, gần tỉnh Panh-pôn, toàn làm nghề đi biển, làm ruộng … và làm giáo sư ở Xoóc-bon.
Việc nhà sử học Xô-nhê-bôt và nhà sinh vật học Luy-La-pích tìm ra được thôn Lác-cu-ét này năm 1895, dưới con mắt giới giáo sư đại học cũng quan trọng như Crit-xtôp Cô-lôm tìm ra châu Mỹ. nó cũng trở thành một cái trại của những nhà bác học mà một nhà báo hóm hỉnh gọi là “Pháo đài khoa học”. Ma-ri đến sau, trước còn ở nhà dân, sau thuê và cuối cùng mua hẳn một cái nhà nhỏ ở đây. Bà đã chọn một nơi khuất nẻo nhất, một nơi hóng gió nhất nhìn ra một khoảng biển êm lặng có rất nhiều hòn đảo lớn nhỏ ngăn không cho sóng ngoài khơi vỗ tới bờ.
Ma-ri xưa nay vốn thích loại nhà “đầu sóng ngọn gió”. Những nơi nghỉ hè mà bà thường thuê hoặc sau này bà cho xây dựng thường đều chung một điểm: giữa một khoảnh đất rộng, một ngôi nhà nhỏ bé. Buồng ở có thể tiều tụy, với ít đồ đạc sơ sài, nhưng quang cảnh thì tuyệt đẹp.
Người qua lại thưa thớt mà Ma-ri thường gặp mỗi buổi sáng – bà lão lưng khom, bác nông dân cục mịch và trẻ con, cười để lộ mấy cái răng sún, đều niềm nở chào Ma-ri với giọng địa phương kéo dài từng tiếng chậm rãi: “chào bà Qui-ri”. Ma-ri cũng chào lại theo cách nói của vùng này: “chào cụ, chào ông”. Không phải ngẫu nhiên, và cũng không vì phát minh ra chất Ra-đi mà dân ở đây quý mến Ma-ri. Đó là vì họ đã nhận thấy về tính tình, nếp sống, bà không khác gì một chị em nông dân vậy.
Vùng nghỉ mát của Ma-ri và các bạn đồng nghiệp của bà gồm mười một nóc nhà.
Nơi tập họp, là một túp lều thấp lè tè; tầm xuân, lạc tiên và nho dại leo phủ kín cả nóc. Một cái vườn thoai thoải trồng hoa đủ màu sắc. Giáo sư đại học đến ở đây, là cụ Xê-nhô-bôt một ông già bảy mươi tuổi người bé nhỏ, rất nhanh nhẹn, hơi gù, lúc nào cũng khoác bộ com-lê trắng có vạch đen, vá nhiều chỗ và đã ngã màu vàng. Dân vùng này gọi là cụ “Xê-nhô”, còn bạn bè cùng đến đây nghỉ mát thì gọi đùa là “quan ba”. Suốt đời sống độc thân cụ được tất cả những người xung quanh quý mến.
Từ nhà Ma-ri đến nơi tập hợp phải xuống một cái dốc quanh co, ngoằn ngoèo. Mươi mười lăm người đã có mặt ở đây và đang đi lại đợi xuống thuyền chèo ra các cù lao. Trông họ chẳng khác gì một đoàn người di cư hoặc một đội nghệ sĩ dân gian sống lang thang, nay đây mai đó. Và Ma-ri như vào một môi trường hòa hợp, không làm ai ngạc nhiên gì cả.
Ma-ri đội cái mũ vải đã bạc màu, mặc một cái váy cũ, một cái áo choàng, kiểu rất xưa, đưa thợ may trong làng chữa lại, không ra áo nữ cũng chẳng thành áo nam, chân không tất chỉ đi đôi dép nhẹ. Bên cạnh một cái túi vải đựng áo tắm và áo may-ô, như mười lăm cái túi khác vất rải rác trên bãi bể.
Nếu là một nhà báo tình cờ đến đây bạn sẽ thích thú như thế nào! Cẩn thận đấy, để khỏi xéo lên một Viện sĩ hàn lâm – đúng như vậy, đang nằm kéo dài trên cỏ – hoặc va phải một giải Nô-ben đấy! Người ta ở đây không thiếu. Bạn muốn nói vật lý ư? Đã có Giăng Pe-ranh, Ma-ri Qui-ri, Ang-đrê Đờ-biếc-nơ, Vích-to O-giê. Toán cao cấp, toán vi phân ư? Mời bạn gặp E-min Bô-ren, cái người khoác áo tắm trông như vua La-mã trong bộ áo trào! Vật lý vũ trụ? Lu-y La-pic, Sác-lơ Mô-ranh, sẽ tiếp bạn, còn nhà sử học Xê-nhô-bôt trẻ em ở đây vẫn kháo nhau rằng đó quả là một ông thánh, thuộc sử như cháo.
Nhưng cái lạ là, tất cả các nhà đại học ấy không hề nói đến vật lý sinh vật, sử hay toán. Ở đây, không có tôn ti, trật tự và ngay đến những thường thức xã giao cũng không. Ở đây, xã hội không chia thành lão làng và môn đệ, đàn anh và đàn em, mà chỉ bốn hạng người: kẻ “ngoại đạo” chưa quen biết tập tục của bộ lạc này nếu lạc rong vào đây cần phải tống đi cho nhanh; những “con voi” gồm mấy bạn không có khiếu lắm về môn bơi lội: họ được thu nhận, nhưng thành cái bung xung cho mọi người chế giễu. Sau đến “thủy thủ” xứng đáng là dân Lác-cu-ét. Cuối cùng là những thủy thủ ưu tú, những chuyên gia về các luồng nước ở bãi biển này, những nghệ sĩ bơi sải và chèo thuyền, được mọi người tặng danh hiệu “cá sấu”. Ma-ri không hề bị coi là kẻ “ngoại đạo”, nhưng cũng không thể có tham vọng làm “cá sấu”, chỉ sau một thời gian ngắn làm “voi” coi như để tập sự đã trở thành một “thủy thủ”.
Hình ảnh Ma-ri bơi ở Rôc-Vrét, giữa dòng nước mát lạnh, trong vắt và sâu, là một trong những kỷ niệm sâu sắc nhất mà tôi còn giữ được ở mẹ tôi. Được I-ren và tôi hướng dẫn theo đúng phương pháp, mẹ tôi bơi một kiểu “bướm” rất đẹp. Lúc này, người ta không còn nghĩ đến bộ tóc hoa râm lẩn trong chiếc mũ bơi, và những nét nhăn trên mặt, mà chỉ ngắm thân hình mảnh dẻ và mềm mại, đôi tay trắng muốt, cử chỉ thoăn thoắt và duyên dáng như con gái. Ma-ri tự hào về sự nhanh nhẹn, về tài bơi lội của mình. Giữa mấy vị giáo sư ở Xoóc-bon vẫn có ganh đua thể thao thầm lặng. Ma-ri đo thật chi ly các khoảng cách mà các đối thủ của mình bơi được và tuy không thách thức bơi thi công khai, bà vẫn ra sức để phá kỷ lục bơi nhanh và bơi xa của các giáo sư trường đại học. Hai con gái bà vừa là huấn luyện viên vừa là người tâm sự:
– Có lẽ mẹ còn bơi giỏi hơn bác Bô-ren, nhỉ?
– Cố nhiên rồi! Mẹ hơn xa, so sánh thế nào được!
– Bác Pe-ranh hôm nay bơi được xa đấy. Nhưng hôm qua, mẹ còn bơi xa hơn nữa, con còn nhớ không?
– Có, con trông thấy, mẹ bơi rất hay. So với năm ngoái thì mẹ đã tiến rất nhiều.
Ma-ri rất thích những lời khen đó mà bà biết là chân thật, ở lớp người cùng tuổi, bà quả là một trong những tay bơi giỏi nhất.
Tắm xong, bà ngồi phơi nắng, ăn một mẩu bánh mì khô đợi xuồng về, thỉnh thoảng lại thốt lên: “Thích thật!”
Khách du thuyền ai về nhà nấy nghỉ ngơi để ăn trưa. Đến khoảng hai giờ, họ lại tụ tập trước nhà ông xóm trưởng để đợi đi chiếc thuyền buồm trắng E-glăng-tin. Bà Qui-ri lần này không đi. Bà ngồi nhà sửa một vài bài viết về khoa học, hoặc cầm cái mai, cái kéo xén cây, ra vườn. Nhiều khi chân tay trầy da chảy máu. Thế còn khá. Có khi I-ren và E-vơ đi chơi về, thấy mẹ ngồi ôm chân vì bị sai khớp, hoặc ngón tay tím bầm do búa lỡ nện phải.
Gạch quyên được ngày càng nhiều… Và đến năm 1925, Ma-ri lại đến Vác-xô-vi đặt nền móng cho viện Ra-đi-om. Một cuộc về thăm thắng lợi: hồi tưởng lại quá khứ, hứa hẹn về tương lai… Cả dân tộc thắm thiết đón người phụ nữ mà báo chí gọi là “Vị phu nhân thứ nhất của nước Cộng hòa Ba Lan”. Các trường đại học, các viện Hàn lâm, các thành phố Ba Lan đều tặng Ma-ri những danh hiệu cao quý nhất.
Một buổi sáng nắng ráo, tổng thống nước cộng hòa Ba Lan đặt viên gạch đầu tiên, xây Viện Ra-đi-om, bà Qui-ri đặt viên thứ hai, và chủ tịch thành phố đặt viên thứ ba…
Không một chút gì nghi thức cứng rắn trong những buổi lễ đó! Chẳng phải vì lịch thiệp hay xã giao mà tổng thống Xta-ni-xoap Vôi-trê-khốp-xki (Stanislav Wojciechowski-NS) khen Ma-ri nói tiếng mẹ đẻ rất sõi sau bấy nhiêu năm xa đất nước. Vì chính ông cũng đã từng ở Pa-ri, và là bạn của cô sinh viên Xkhua-đốp-xca. Bạn cũ gặp nhau, bao nhiêu kỷ niệm xưa được nhắc lại. Xta-ni-xoáp hỏi:
– Bà còn nhớ cái gối du lịch nhỏ mà bà cho tôi mượn, cách đây ba mươi năm, khi tôi trở về Ba Lan với một sứ mệnh chính trị bí mật? Nó đã giúp ích cho tôi rất nhiều!
– Nhớ lắm chứ – Ma-ri vừa cười vừa đáp lại – Tôi còn nhớ là ông còn chưa trả lại cái gối ấy cho tôi!
Năm tháng trôi qua, gạch ngày nay đã được xây thành tường. Nhưng nào Ma-ri và Brô-ni-a đã hết long đong, vất vả. Tuy hai chị em đã đem một phần lớn vốn liếng dành dụm của mình vào sự nghiệp này, tiền vẫn chưa đủ để mua số lượng Ra-đi cần thiết cho công cuộc điều trị bệnh ung thư.
Viện Ra-đi-om Vác-xô-vi được khánh thành ngày 29 tháng 5 năm 1932 đánh dấu thành công mỹ mãn về sự nghiệp chung của Ma-ri, Brô-ni-a và nhà nước Ba Lan. Từ mấy tháng trước, viện đã nhận bệnh nhân đến điều trị theo phương pháp Qui-ri.
Đó là lần cuối cùng Ma-ri về Ba Lan, thăm lại những phố cũ của thành phố quê hương, dòng sông Vít-xtuyn mà mỗi lần Ma-ri đều ngắm với lòng dạt dào nhớ nhung, hầu như hối hận.
Những lá thư gửi cho E-vơ, đã tả lại dòng nước ấy, mặt đất ấy, những mảnh đá ấy, với một tình cảm quyến luyến mãnh liệt.
“Sáng hôm sau, mẹ đi chơi một mình trên bờ Vít-xtuyn. Dòng sông lững lờ, uốn khúc trong lòng sông rộng. Ở gần, nước màu xanh lá cây; xa xa, có ánh mặt trời, nước màu xanh da trời. Những cồn cát đáng yêu lấp lánh dưới ánh nắng, thường nổi lên nhấp nhô, khiến cho nước chảy ngoằn ngoèo. Mẹ cảm thấy một nhu cầu không thể cưỡng nổi cần ra chơi trên những bãi cát chan hòa ánh nắng tuyệt vời ấy.
Một bài hát vùng Cra-cô-vi ngợi ca sông Vít-xtuyn như sau: dòng sông Ba Lan có một vẻ đẹp quyến rũ đến nỗi ai đã đem lòng say mê đều sẽ yêu đến trọn đời. Cái đó rất đúng với mẹ”.
Năm 1920, một viện Qui-ri được thành lập ở Pháp để thu thập những tặng vật, những trợ cấp và nâng đỡ công tác khoa học và y học của viện Ra-đi-om.
Năm 1922, ba mươi nhăm viện sĩ Viện Hàn lâm Y học gửi kiến nghị cho các bạn đồng nghiệp đề nghị mời bà Qui-ri vào Viện Hàn lâm Y học, làm viện sĩ tự do vì sự đóng góp của bà vào việc phát minh ra chất Ra-đi và một phương pháp chữa bệnh mới. Không những sáu mươi tư viện sĩ y học đã bầu một phụ nữ, mà lại bầu một người không ứng cử. Thật là một bài học cho Viện Hàn lâm Khoa học Pháp.
Ngày 7 tháng 2 1922, sau cuộc bỏ phiếu thắng lợi rực rỡ, chủ tịch Viện Hàn lâm Y học nói:
– Chúng tôi chào bà, một nữ bác học lớn, suốt đời tận tụy với công tác khoa học, đầy hy sinh gian khổ, một người yêu nước, luôn luôn làm hơn cả nhiệm vụ của mình, trong thời chiến cũng như trong thời bình. Sự có mặt của bà đem lại cho chúng tôi ảnh hưởng tốt đẹp của tấm gương sáng và vinh dự của một danh tiếng lừng lẫy, làm chúng tôi rất đỗi tự hào. Bà là người phụ nữ đầu tiên ở Pháp được bầu vào viện Hàn lâm mà không phụ nữ nào xứng đáng hơn.
Năm 1923, Viện Qui-ri quyết định kỷ niệm trọng thể hai mươi nhăm năm phát minh ra Ra-đi – Chính phủ Pháp tặng bà Qui-ri một khoản trợ cấp hàng năm là bốn mươi nghìn phơ-răng, sau này khi bà chết sẽ chuyển cho hai con gái hưởng.
Ma-ri trong buổi chiều tà của đời mình, được nhân dân ngưỡng mộ trên khắp năm châu, đến đâu cũng là khách quý của các chủ tịch nước, các đại sứ, các vua chúa.
Một hình ảnh luôn luôn nổi lên giữa kỷ niệm mỗi buổi lễ tân, mỗi buổi đón tiếp ấy là khuôn mặt nhợt nhạt, không sắc thái, hầu như thờ ơ, của mẹ tôi.
Xưa kia mẹ tôi thường nói:
– Trong khoa học ta nên chú ý đến sự việc mà không nên chú ý đến con người.
Cuộc đời đã cho Ma-ri thấy rằng các dân tộc và các chính phủ đều chú ý đến sự việc qua con người. Dù muốn hay không, bà đã chịu để cho các câu chuyện truyền thuyết về đời mình tôn thêm giá trị của khoa học và giúp cho các viện khoa học thêm phong phú. Bà đã trở thành người tuyên truyền cổ vũ cho một sự nghiệp mà lòng mình vẫn hằng tha thiết.
Còn bản thân nhà nữ bác học, không có gì thay đổi: vẫn cái tính sợ sệt trước công chúng, vẫn tính nhút nhát, làm đôi tay lạnh toát, cổ họng rất khô. Cố gắng đến thế nào, Ma-ri Qui-ri vẫn không thể thỏa hiệp với danh vọng và không bao giờ tán thành điều mà bà gọi là những dấu hiệu của sự sùng bái mê tín.
Chương 25
Đảo xanh Lu-I
(Ile Saint-louis)
Mỗi lần Ma-ri trở về sau một hành trình đầy thắng lợi, E-vơ thường ra đón mẹ và ngóng trông một bà Qui-ri ăn mặc xoàng xĩnh, suốt đời đầu tắt mặt tối, hiện ra cửa sổ một toa tàu đặc biệt. Nhà bác học khệ nệ mang theo một túi xách tay màu hạt dẻ của một hội phụ nữ Ba Lan tặng. Cái túi phồng lên nào giấy tờ, nào ví, nào bao kính. Tay còn cắp thêm một bó hoa, như mọi bó hoa được tặng ở dọc đường, chỉ thêm vướng nhưng không dám bỏ.
Đặt hành lý xuống, Ma-ri lên ba tầng gác tại nhà bà tại đảo Xanh Lu-i. Trong khi Ma-ri xem qua thư từ báo chí thì E-vơ quỳ xuống đất trước những va-ly mở, bỏ từng thứ đồ đạc ra.
Xen lẫn những quần áo quen thuộc, có những áo lễ phục bằng nhung hay bằng lụa được trao tặng cùng với những bằng tiến sĩ danh dự, những hộp huân chương, những mảnh bằng – và quý hơn hết – những tờ thực đơn của các bữa tiệc mà Ma-ri sẽ cất giữ cẩn thận. Còn gì tiện bằng dùng mặt sau mấy mẩu bìa dày và cứng ấy để viết bút chì những bài tính về toán vật lý!
Sau hết là quà của I-ren và E-vơ bọc trong giấy lụa và những kỷ niệm Ma-ri thích mua vì vừa đơn giản, vừa lạ mắt. Mấy miếng gỗ dán ở bang Tếch-dát dùng để chặn giấy. Mấy lưỡi dao rất mỏng có chạm chỉ vàng của vùng Tô-lét (Tây Ban Nha) dùng để đánh dấu trang giữa những quyển sách khoa học. Mấy tấm thảm bằng len thô dệt ở miền núi nước Ba Lan dùng để trải trên những chiếc bàn xoay.
Ma-ri thường đeo ở cổ vài thứ trang sức nhỏ, mang từ vùng Cô-lô-ra-đô ở Mỹ về, đó là những miếng bạc thô mà người da đỏ thường khắc những tia chớp ngoằn ngoèo; ngoài ra còn có một dây chuyền vàng, và một trâm cài bằng ngọc tím kiểu đã cũ, rất đẹp, đó là tất cả trang sức của mẹ tôi, giá đem bán đi không được ba trăm phơ-răng.
Cái nhà ở bên Bê-tuyn thật đến lạ, rất rộng nhưng không tiện tí nào, toàn hành lang với thang gác bên trong, bà Qui-ri sống hai mươi năm trời ở đó. Những gian phòng rộng lớn, của một ngôi nhà thế kỷ XVIII, chờ đợi mãi chẳng được những ghế bành, những trường kỷ, cân xứng với quy mô và kiểu cách của nó. Trong cái phòng khách rộng thênh thang, bộ bàn ghế bằng gỗ đào hoa tâm do cụ Qui-ri để lại được xếp đặt một cách tùy tiện. Phòng khách có thể ngồi được năm mươi người mà nhà chỉ có bốn người. Sàn đánh si bóng loáng, bước giày đi kêu ken két. Không có rèm cửa, Ma-ri chỉ thích đánh sàn bóng, thích cửa kính để trần, không che lấp một tia nắng nào. Và cũng không ngăn tầm mắt trông thấy tất cả cảnh đẹp của sông Xen và bến sông tấp nập.
Khi E-vơ còn bé và I-ren làm phụ tá cho bà Qui-ri, còn ở cùng và làm việc bên cạnh mẹ, câu chuyện quanh bàn tròn ở buồng ăn thường biến thành một cuộc hội thoại khoa học giữa nhà bác học và con gái lớn. Những công thức chuyên môn luôn luôn đập vào tai E-vơ và em thường suy diễn những câu chuyện cao xa đó theo tầm hiểu biết của mình. Thí dụ, em rất vui thích khi nghe mẹ và chị dùng những từ đại số bê-bê phẩy (Bb’) hay bê-bê bình phương (Bb2). Những bé xa lạ mà Ma-ri và I-ren nhắc đến luôn ắt hẳn là xinh lắm, E-vơ nghĩ thế. Tại sao lại có những “bé bình phương”? Và những “bé phẩy” được ưu tiên gì?
Một buổi sáng, năm 1926, I-ren vốn tính điềm đạm báo tin cho gia đình biết là cô đã hứa hôn với Phrê-đê-rích Giô-li-ô (Frédéric Joliot-NS), người cộng tác xuất sắc và sôi nổi nhất của Viện Ra-đi-om. Nếp sống của gia đình đảo lộn hẳn. Một thanh niên trai trẻ, xuất hiện trong một ngôi nhà, mà ngoài một vài bạn bè thân thuộc, Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, Mô-rít Qui-ri, Pe-ranh, Bê-ren, Mô-ranh, không người nào khác lui tới. Đôi vợ chồng son, trước còn ở bến Bê-tuyn sau ra ở riêng, Ma-ri mừng cho con gái đã gặp hạnh phúc, nhưng không khỏi bâng khuâng vì không còn được sống từng ngày, từng giờ bên I-ren giờ đây đã thành một người cộng sự.
Nhưng rồi cuộc sống thân mật thường ngày làm cho Ma-ri hiểu thêm Phrê-đê-rích Giô-li-ô vừa là học trò, vừa là con rể, và đánh giá được những đức tính đặc biệt của con người hoạt bát đầy sức sống ấy, thì thấy rằng mọi việc đều tốt đẹp. Trước chỉ có một phụ tá thì nay có hai để cùng chia sẻ với bà mọi điều băn khoăn, cùng trao đổi về các vấn đề đang nghiên cứu, nhận những lời khuyên bảo, và rồi đây còn những gợi ý, mang lại cho bà nhiều suy nghĩ mới mẻ. Vợ chồng I-ren thường đến ăn ở nhà Ma-ri một tuần bốn bữa. Và quanh chiếc bàn tròn ở buồng ăn lại rộn lên những câu chuyện về mấy “bé bình phương” và “bé phẩy”.
– Mẹ không ra phòng thí nghiệm à?
Đôi mắt màu tro độ này đã đã đeo kính khung to gọng đồi mồi, nhìn E-vơ dịu dàng và trìu mến:
– Có, lát nữa mẹ đi. Nhưng trước đó, mẹ còn ra Viện Hàn lâm Y học. Ba giờ chiều mời họp, có lẽ đủ thì giờ. Phải, mẹ sẽ qua chợ hàng hoa… và có thể cũng ra công viên một lát.
Ba tiếng còi xe Pho gọi ở dưới nhà. Mấy phút sau, Ma-ri đã tha thẩn giữa những chậu hoa, chọn mua cây về trồng trong vườn phòng thí nghiệm bọc trong giấy báo, nhẹ nhàng đặt xuống sàn xe.
Những người làm vườn, trồng hoa rất quen biết Ma-ri, nhưng hầu như không bao giờ Ma-ri vào một cửa hàng bán hoa. Có lẽ do bản năng hay vì quen tằn tiện, bà tránh không dám mua loại hoa quý đắt tiền. Và mỗi lần bạn bè mang đến tặng những bó cẩm chướng to bông, những bó hồng rất đẹp, bà ngắm nghía, ngạc nhiên và hơi rụt rè, như đứng trước những trang sức quý giá.
Hai giờ rưỡi, chiếc xe Pho đỗ sát hàng rào sắt công viên Lúc-xăm-bua, và Ma-ri hối hả đi đến chỗ hẹn “cạnh con sư tử đá bên trái”. Hàng trăm em bé đang chơi ở vườn. Một bé gái, chạy lại ôm lấy bà. Đó là Hê-len Giô-li-ô, con gái I-ren. Ma-ri bề ngoài là một bà ngoại nghiêm nghị ít bộc lộ tình cảm. Nhưng bà không ngại mất thì giờ, đi quành thêm nhiều vòng rất xa, chỉ cần để được nói chuyện vài phút với cháu bé mặc áo đỏ cứ hỏi gặng:
– Bà đi đâu đấy? Sao bà không ở đây với cháu?
Ba giờ kém mười. Đã đến lúc rời Hê-len và trò chơi bằng cát của em. Trong phòng họp nghiêm trang phố Bô-na-pác, Ma-ri đến chỗ ngồi quen thuộc, cạnh ông bạn già, bác sĩ Ru. Và một mình là nữ giữa sáu mươi đồng nghiệp nam, bà tham gia bàn bạc về công việc của Hàn lâm viện Y học.
“Sao mà mệt thế!”. Hầu như chiều thứ bảy nào cũng vậy, Ma-ri Qui-ri, mặt tái nhợt do sự mệt mỏi đẽo gọt làm cho già thêm, thốt ra câu đó. Công việc đã giữ bà ở phòng thí nghiệm đến bảy giờ rưỡi, có khi đến tám giờ.
Đáp xe về nhà, bà cảm thấy lên ba tầng gác mệt nhọc hơn ngày thường. Khoác lên vai một áo vải đen, chân đi giầy vải, bà đi đi lại lại trong nhà, chiều hôm vắng lặng, đợi chị giúp việc đến báo bữa cơm tối.
Con gái nói cũng chẳng được:
– Mẹ làm việc quá độ. Có ai sáu mươi nhăm tuổi rồi còn làm việc như vậy, mười hai đến mười bốn giờ một ngày!
Nhưng E-vơ biết rất rõ là mẹ mình không thể nào làm việc ít đi được. Đối với bà Qui-ri, làm việc ít đi là một dấu hiệu của già nua, kiệt sức… E-vơ chỉ còn một mong ước là mẹ mình còn lâu vẫn cứ đủ sức khỏe làm việc mười bốn giờ một ngày.
Từ khi I-ren ra ở riêng, bữa cơm chỉ còn hai mẹ con ngồi đối diện nói chuyện. Các chi tiết nhỏ nhặt trong một ngày dài làm việc mệt nhọc thường được Ma-ri đem ra bình luận với con gái. Dần dà những mẩu chuyện không đầu không đuôi tô thành một bức tranh bí ẩn, biến hóa về hoạt động rạo rực của phòng thí nghiệm mà Ma-ri đã gắn bó cả tâm hồn lẫn thể xác. Những máy móc và dụng cụ mà E-vơ không bao giờ trông thấy cũng trở nên quen thuộc, cũng như tất cả những người cộng tác ở phòng thí nghiệm. Bà Qui-ri nói đến họ với một giọng đầy nhiệt tình, trìu mến dường như là con cháu vậy:
– Mẹ rất bằng lòng với cái thằng Grê-goa “của mẹ”. Ngay từ đầu mẹ đã thấy là nó rất có khiếu!...(ngừng một lúc, ăn xong món xúp). Con biết không, hôm nay mẹ đã gặp cái anh chàng Trung Quốc “của mẹ” trong phòng vật lý. Hai bác cháu đã nói chuyện bằng tiếng Anh tràng giang đại hải: ở Trung Quốc, hễ nói ngược lại là vô phép. Và khi mẹ đề ra một giả thuyết mà anh ta vừa chứng minh được là không đúng, anh ta vẫn cứ gật gù một cách lịch sự. Thế là mình cứ phải đoán xem anh chàng có ý kiến gì khác không. Trước mặt các sinh viên Á Đông, mẹ thấy rất ngượng về kiểu cách của mình. Họ văn minh hơn chúng ta nhiều!...(ăn đến món mứt). À, E-vơ ạ, hôm nào ta phải mời anh sinh viên Ba Lan “của mẹ” đến ăn tối mới được. Mẹ lo anh ấy bị bơ vơ ở giữa Pa-ri mất.
Trong cái Viện Ra-đi-om như cái tháp Ba-ben[53] ấy nhiều thực tập sinh ở các nước lần lượt đến học. Bao giờ trong đám họ cũng có một sinh viên Ba Lan. Mỗi khi không thể cấp học bổng cho một đồng hương vì còn nhiều thí sinh khác giỏi hơn, bà Qui-ri thường bỏ tiền riêng ra để đảm bảo cho một sinh viên trẻ từ Vác-xô-vi đến đây học. Và anh ta không bao giờ biết cái cử chỉ hào phóng ấy.
...Đương mải mê với những câu chuyện của mình, Ma-ri chợt dừng lại, cúi xuống con gái và hỏi với một giọng khác:
– Thế nào, con gái yêu của mẹ… Kể chuyện cho mẹ nghe nào. Cho mẹ biết tin tức khắp nơi chứ!
Có thể kể bất cứ chuyện gì, cả những chuyện trẻ con. Nghe E-vơ thích thú bình luận về tốc độ lái xe của cô trung bình 70 cây số một giờ, Ma-ri tỏ vẻ chăm chú, hiểu biết. Bản thân bà, lái xe thận trọng, cũng say mê môn thể thao này, nên thường hồi hộp theo dõi những kỷ lục đạt được với chiếc xe Pho của mình. Những chuyện về cháu gái Hê-len, một lời con trẻ làm cho bà cười đến chảy nước mắt, một nụ cười bất ngờ, trẻ trung.
Ma-ri không có nhiều thì giờ để giáo dục con cái, nhưng mỗi ngày I-ren và E-vơ tiếp thu ở bà một ảnh hưởng vô cùng tốt đẹp, được sống bên cạnh một con người rất đặc biệt, không những có tài năng, mà còn có tâm hồn cao đẹp, vốn rất ghét mọi cái tầm thường nhỏ mọn. Bà Qui-ri tránh không bao giờ mang mình ra làm mẫu mực cho chị em phụ nữ khác. Với những người quá ngưỡng mộ, Ma-ri thường nói:
“Không nhất thiết cứ phải sống một cuộc đời khác thường như tôi. Sở dĩ tôi dành được nhiều thì giờ cho khoa học là vì tôi yêu công việc nghiên cứu. Điều mà tôi mong ước cho chị em chúng ta là một gia đình bình đẳng và một việc làm mà mình ham thích.”
Vào những bữa cơm tối êm đềm đó, đôi khi Ma-ri và E-vơ cũng nói đến tình yêu. Người phụ nữ đã từng thiệt thòi đau khổ về tình cảm ấy, tỏ ra không thích thú gì tình cảm say mê. Có lẽ bà sẽ rất tán thưởng câu nói của một nhà văn Pháp “tình yêu không phải là một tình cảm chính đáng”.
Ma-ri viết cho E-vơ:
“Mẹ nghĩ rằng chúng ta cần phải tìm sức mạnh tinh thần trong một lý tưởng cao, nâng những nguyện vọng, ước mơ ta lên mà không tự kiêu tự mãn. Và mẹ cũng nghĩ rằng nếu đặt tất cả ý nghĩa cuộc đời vào những tình cảm đầy giông tố bão táp như tình yêu thì thật đáng tiếc.”
Ma-ri biết lắng nghe những lời tâm sự và hoàn toàn biết giữ kín những điều được thổ lộ đến nỗi hình như bà chưa bao giờ được nghe thấy. Ma-ri sẵn sàng giúp đỡ ai gặp khó khăn hoạn nạn. Nhưng hễ nói đến tình yêu thì câu chuyện với Ma-ri không còn là một cuộc trao đổi tâm tình nữa. Những nhận xét và triết lý của bà về tình yêu đều chỉ là chung chung và chưa một lần nào Ma-ri nhắc lại dĩ vãng đau thương của mình để rút ra những bài học hoặc những kỷ niệm. Đối với bà đó là một lĩnh vực thầm kín mà không ai được bén mảng tới, dù là người thân thiết nhất.
Ma-ri chỉ để cho con gái đoán biết nỗi buồn phải sống xa hai chị và người anh ruột thân thiết. Cuộc sống xa quê hương và cảnh góa bụa đã làm cho Ma-ri hai lần bị thiệt thòi về tình cảm gia đình đầm ấm đáng ra sẽ làm cho cuộc đời bà thêm êm dịu. Bà viết những bức thư rất buồn cho những người thân giờ đây cũng không còn được gặp luôn như trước, cho Giắc Qui-ri hiện ở Mông-pê-li-ê, cho Dô-dếp và Hê-la, và cho Brô-ni-a mà cuộc đời cũng gặp đau thương: mất hai con và đến 1930 thì chồng chết.
Ma-ri viết cho Brô-ni-a, 12 tháng Tư năm 1932:
“Chị Brô-ni-a, em cũng rất buồn vì chị em ta phải sống xa nhau. Chị tuy cảm thấy cô đơn nhưng vẫn còn được an ủi là có ba anh em cùng ở Vác-xô-vi, thỉnh thoảng còn đi lại thăm hỏi, đỡ đần nhau được. Đúng thế, tình thương yêu đùm bọc ruột thịt là rất quý. Em thiếu nó, nên càng thấm thía điều đó. Chị hãy lấy đó làm an ủi và đừng quên đứa em gái ở Pa-ri. Chúng ta hãy đi thăm nhau nhiều hơn”.
Sau bữa tối, nếu E-vơ cần đi nghe hòa nhạc, bà Qui-ri nằm ngả ra chiếc đi-văng ngắm con gái sửa soạn. Về trang phục và thẩm mỹ hai mẹ con khác hẳn nhau. Nhưng từ lâu, Ma-ri không ép con gái phải theo ý kiến của mình. Trái lại, giờ đây E-vơ thường khăng khăng bắt mẹ phải may áo mới trước khi áo sờn cổ, rách tay. Vì vậy những cuộc tranh luận của hai mẹ con thường chỉ đóng khung trong phạm vi lý thuyết. Và nếu không đồng tình với cách ăn mặc của con gái, Ma-ri chỉ im lặng, vui vẻ, đôi khi còn pha trò:
– Trời đất ơi! Gót giày gì mà gớm ghiếc như vậy! Không, không khi nào con làm cho mẹ tin được rằng đàn bà con gái cứ phải đi cà kheo như vậy mới được. Lại còn cái mốt gì để hở lưng áo dài như thế? Đằng trước thì còn thương được chứ đời thuở đâu lại để hở lưng hàng cây số như vậy! Một là lố bịch, hai là dễ sưng phổi, ba là xấu! Ít nhất, lẽ thứ ba phải làm cho con chú ý, nếu con bất chấp hai lẽ đầu. Nói vậy thôi, chứ áo của con đẹp đấy. Nhưng lúc nào con cũng mặc đồ đen. Màu đen đâu có hợp với tuổi của con!
Những phút nặng nề nhất là lúc trang điểm. Đợi cho E-vơ tô son trát phấn một hồi lâu, và đắc ý về công việc đó Ma-ri mới nói:
– Con quay lại đây, mẹ ngắm tí nào!
Bà nhìn ngắm rất thận trọng rồi sửng sốt:
– Con xem, mẹ không phản đối về nguyên tắc cái kiểu bôi lọ lem này. Mẹ biết rằng xưa nay người ta vẫn làm như thế. Thời Ai-cập cổ đại, người ta còn bày vẽ ra hơn thế nữa kia. Mẹ chỉ có thể nói điều là mẹ chẳng thấy đẹp gì cả. Tại sao cứ làm tình làm tội cái cặp lông mày, vẽ sơn lên đôi môi như vậy chứ!
– Con quả quyết với mẹ rằng như thế này là hơn ạ!
– Hơn! Nhưng thôi, để được an ủi, sáng mai mẹ sẽ vào giường ngủ hôn con trước khi con có thì giờ bôi những cái lăng nhăng này lên mặt. Thôi, bây giờ con đi chơi nhé. À, có quyển sách gì cho mẹ đọc không?
– Có, mẹ muốn đọc quyển gì ạ?
– Quyển gì đừng nặng nề quá. Phải là tuổi trẻ như tụi bay thì mới ngốn được những tiểu thuyết căng thẳng buồn thảm.
Bà không hề đọc những tiểu thuyết Nga mà khi xưa bà hằng ưa thích. Mặc dầu có những khuynh hướng văn học khác nhau, Ma-ri và E-vơ cũng hay đọc những tác giả như Kíp-linh[54], Cô-lét[55]. Bà mới tìm thấy ở những tác phẩm như “Quyển sách rừng thẳm”, “Trời hửng sáng” những hình ảnh chân thật và rực rỡ của tự nhiên, mà xưa nay vẫn là nguồn an ủi, chỗ sở trường của bà. Ma-ri còn thuộc hàng nghìn câu thơ Pháp, Anh, Đức, Nga, Ba Lan…
Ma-ri nằm ngả ra chiếc ghế dài lót nhung đỏ, đầu dựa vào gối mềm nhồi lông, giở một vài trang trong quyển sách E-vơ đưa. Nhưng chỉ nửa giờ sau bà đã bỏ sách ra, nhỏm dậy, vớ lấy cái bút chì, quyển vở, tập sách khoa học. Theo thói quen, bà lại ghi chép, làm việc đến hai, ba giờ sáng.
Đi chơi về, E-vơ nhòm qua khung cửa kính tròng nhỏ ở hành lang vẫn thấy còn sáng ở phòng mẹ. Cô đẩy cửa vào. Và tối nào cũng thế vẫn một hình ảnh bà Qui-ri đang ngồi dưới sàn, xung quanh nào giấy tờ, nào thước tính, nào sách. Ma-ri không hề quen ngồi trước bàn giấy, trên một ghế bành theo truyền thống những nhà “tư tưởng”. Bà cần một chỗ thật rộng để trải những tài liệu, những giấy vẽ sơ đồ.
Mải chăm chú vào một bài rắc rối và tuy biết con gái về, bà không ngẩng đầu lên. Đôi lông mày cau lại, vẻ mặt đăm chiêu.
Một quyển vở đặt trên đầu gối, Ma-ri đương viết những dấu hiệu, những công thức bằng bút chì, miệng lẩm nhẩm.
Và cũng như sáu mươi năm về trước, trong lớp học tính ở trường tư thục Xi-óoc-ca, bà giáo sư đại học Xoóc-bon ấy, giữa trung tâm Pa-ri, cách Vác-sa-va ngót 2.000 km, vẫn đếm bằng tiếng Ba Lan, tiếng mẹ đẻ.
Chú thích:
[52] Don Quichotte, một nhân vật trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Tây Ban Nha Cervantes, tượng trưng cho lòng hào hiệp vì nghĩa quên mình.
[53] Tháp ở trong Thánh Kinh có nhiều người ở các nước khác nhau đến ở nên ngôn ngữ bất đồng.
[54] Nhà viết tiểu thuyết Anh (Rudyard Kipling 1865 -1936)
[55] Nữ văn sĩ Pháp (Gabiele Colette 1873 – 1954)
Chương 26
Phòng thí nghiệm
– Bà Qui-ri có ở đây không?
– Tôi tìm bà Qui-ri, bà đã đến chưa?
– Anh có trông thấy bà Qui-ri không?
Những nhân viên phòng thí nghiệm – cả nam lẫn nữ – mặc áo blu trắng, hỏi thăm nhau trong gian phòng mà nữ bác học phải đi qua khi vào viện Ra-đi-om. Sáng nào cũng vậy, thường có từ năm đến mười người đứng trực sẵn ở đó. Ai cũng muốn hỏi một câu, xin một lời chỉ bảo mà không “làm phiền” đến Ma-ri, bà thường gọi đùa đó là ban “Xô-viết” của Viện. Đúng chín giờ, chiếc xe hơi cũ lướt sau hàng rào phía đường Pi-e Qui-ri; quay vào trong sân. Tiếng cửa xe đóng sập. Bà Qui-ri xuất hiện giữa khung cửa của Viện mở ra vườn. Mọi người vui vẻ vây chung quanh Ma-ri. Với những giọng kính cẩn rụt rè người thì báo rằng đã “đo” xong hoặc cho biết tin về dung dịch “pô-lô-ni”, người thì gợi ý mời Ma-ri đến xem máy Uyn-xơn, sẽ thấy kết quả khả quan.
Ma-ri rất thích những câu hỏi dồn dập đầy nghị lực và lòng hăng say như thế mở đầu cho một ngày làm việc. Chưa kịp đi cất áo mũ, bà cứ đứng giữa những người đồng sự. Mỗi nét mặt đăm chiêu lại nhắc nhở cho Ma-ri một thí nghiệm mà trong những lúc yên tĩnh bà đã để tâm suy nghĩ.
– Anh Phuốc-ni-ê, tôi đã nghĩ đến việc anh nói với tôi. Ý hay đấy, nhưng phương pháp đề ra không dùng được. Tôi đã tìm ra cách làm khác để có thể dẫn đến kết quả. Ta sẽ bàn thêm. Thế nào chị Cốt-ten? Chị tìm ra số mấy? Chị chắc tính đúng chứ? Tối hôm qua, tôi làm lại bài tính và đáp số hơi khác. Thôi để rồi xem.
Trong những nhận xét ấy, không hề có chỗ nào nhầm lẫn hoặc đại khái. Những phút mà Ma-ri dành cho ai, hoàn toàn được dồn vào vấn đề mà người ấy đang tìm tòi suy nghĩ, vấn đề mà bà biết rõ từng chi tiết một. Ngay sau đấy, bà lại chuyển sang vấn đề khác với một người học trò khác. Bộ óc Ma-ri thích hợp một cách kỳ lạ với môn thể thao đặc biệt đó. Ở phòng thí nghiệm, nơi tập trung biết bao trí tuệ miệt mài, bà cũng ví như những kiện tướng đánh cờ, không nhìn bàn cờ, vẫn theo dõi được cùng một lúc ba, bốn ván cờ khác nhau.
Nhiều người đi qua, chào và dừng lại. Cuộc họp không hẹn mà đông. Ma-ri ngồi ngay xuống bậc cầu thang và tiếp tục cuộc giải đáp không chút nghi thức này. Ngồi thấp phải ngẩng đầu lên những người làm việc đứng ngay bên cạnh hay dựa vào tường, trông bà không có tư thế cổ điển của một thủ trưởng. Thế nhưng!...
Những sinh viên thực tập ở phòng thí nghiệm đều do Ma-ri chọn sau khi đã sát hạch cặn kẽ. Và công việc của họ cũng do Ma-ri chỉ định. Gặp khó khăn gì họ đến hỏi Ma-ri và tin tưởng là bà sẽ tìm ra sai lầm trong thí nghiệm đã làm cho họ lạc hướng.
Sau bốn mươi năm trời làm công tác khoa học, nhà nữ bác học tóc bạc ấy đã tích lũy được một vốn hiểu biết rộng lớn đã trở thành kho sách sống của Viện Ra-đi-om. Bà đã đọc tất cả các bài báo có dính líu đến những thí nghiệm ở Viện, bằng năm thứ tiếng bà nắm rất vững.
Bà khám phá ra những phát triển mới của các hiện tượng, và phát minh ra những kỹ thuật mới. Và sau cùng, Ma-ri có một đức tính vô cùng quý báu để gỡ rối cho mớ bòng bong giữa kiến thức và giả thuyết, đó là “đầu óc thực tế”. Những thuyết lung bung, những giả định hấp dẫn của một vài thực tập sinh đều bị bà Qui-ri vận dụng lý lẽ sắc bén bác bỏ. Làm việc với một người thầy như thế, vừa mạnh dạn, vừa thận trọng thật an toàn biết bao!
Nhóm tụ tập ở đầu cầu thang lại tan dần. Ai may mắn được Ma-ri gợi ý phấn khởi trở về nơi làm việc. Bà Qui-ri đi với một người trong bọn họ đến “phòng vật lý” hay “phòng hóa học” và tiếp tục bàn luận trước các dụng cụ thí nghiệm. Sau đó, bà mới được giải phóng để về phòng riêng, mặc áo blu đen, và chăm chú vào các thí nghiệm của mình. Nào bà có tập trung tư tưởng được lâu!
Lại có tiếng gõ cửa. Một nghiên cứu sinh trẻ xuất hiện, tay cầm một tập bản thảo. Sau anh còn một người nữa đợi. Cứ ngày thứ hai Hàn lâm khoa học họp để thông báo. Các tác giả có công trình được báo cáo ở hội nghị ngay chiều hôm ấy, thường đến xin bà Qui-ri ý kiến trước.
Ma-ri sang một phòng thật sáng để đọc các bản báo cáo đó. Một bàn làm việc to bằng gỗ sồi, một ngăn tra cứu sách, nhiều tủ sách, một máy chữ đã cũ, một ghế bành bọc da làm cho phòng có một vẻ nhã nhặn, kín đáo. Trên bàn, một lọ mực bằng đá hoa, nhiều chồng sách, một cốc vại đựng một lô bút máy và bút chì vót nhọn, một “mỹ nghệ phẩm” do một hội sinh viên tặng; một cái bình nhỏ khảo cổ đào được ở It-si-a, màu nâu rất xinh.
Những bàn tay đến nộp những báo cáo sắp trình bày ở Viện hàn lâm, run lên vì cảm động. Các tác giả biết rằng công trình của họ sẽ được đọc rất cẩn thận. Dưới con mắt nghiêm khắc của Ma-ri, bao giờ câu văn cũng chưa thật sáng, đoạn viết vẫn chưa thật gọn. Bà không chỉ tìm ra những sai lầm về nội dung kỹ thuật, mà còn thảo lại từng câu, chữa lại từng lỗi văn phạm.
– Tôi nghĩ thế này mới gọi là tạm được.
Rồi bà đưa lại bản thảo – mà anh đã phải trầy trật lắm mới hoàn thành – cho nhà nghiên cứu trẻ đang toát mồ hôi vì lo lắng.
Gặp một công trình làm cho mình hài lòng, Ma-ri tươi cười khen:
– Được lắm! Rất tốt!
Người làm báo cáo như được chắp cánh mà bay đến tận phòng thí nghiệm của gíáo sư Pe-ranh, có nhiệm vụ trình bày trước Viện Hàn lâm khoa học những thông báo của Viện Ra-đi-om.
Giáo sư không ngớt lời khen:
– Bà Qui-ri chẳng những là một nhà vật lý học lừng danh, mà còn là vị giám đốc phòng thí nghiệm giỏi nhất mà tôi biết.
Bí quyết của tài năng ấy ở đâu? Trước hết là do tinh thần trách nhiệm hiếm có của Ma-ri. Bà là người đầy tớ trung thành, người bảo vệ nhiệt tình uy tín và lợi ích của Viện Ra-đi-om.
Ma-ri Qui-ri kiên trì thu thập dự trữ chất phóng xạ cần cho những công trình nghiên cứu quy mô. Thư từ trao đổi giữa Ma-ri và các giám đốc nhà máy Ra-đi-om Bỉ và Hội liên hiệp các mỏ ở Ca-tăng-ga luôn luôn kết thúc như sau: Hội Liên hiệp mỏ gửi biếu bà Qui-ri mấy tấn phế liệu. Và Ma-ri hăng hái bắt tay ngay vào việc khai thác chất phóng xạ đang thiếu...
Năm này qua năm khác, phương tiện của phòng thí nghiệm giàu thêm. Người ta thường thấy bà cùng giáo sư Pe-ranh đến các bộ xin thêm trợ cấp và học bổng. Vì là “bà Qui-ri” nên ai cũng đều lắng nghe. Năm 1930, bà giành được một ngân sách đặc biệt là năm trăm nghìn quan cho việc nghiên cứu.
Cũng có lúc mệt nhọc và hơi bực vì cứ phải chạy chọt, bà kể lại cho E-vơ những buổi chầu chực ở phòng đợi, những nỗi lo âu bực bội và nói đùa:
– Không biết chừng đến lúc họ đuổi mình ra khỏi cửa như những kẻ ăn mày.
Được một tay lái vững vàng như vậy, phòng thí nghiệm Qui-ri dần dần đi vào khám phá tất cả các lĩnh vực của khoa phóng xạ còn bí ẩn.
Từ 1919 đến 1934, những nhà hóa học và vật lý ở Viện Ra-đi-om cho đăng bốn trăm tám mươi ba báo cáo khoa học, gồm ba mươi luận án. Trong số bốn trăm tám mươi ba thông báo đó, ba mươi mốt bài là của bà Qui-ri.
Con số dù cao vẫn được chú thích thêm – về cuối đời mình, bà Qui-ri chuẩn bị cho tương lai với một tinh thần hy sinh cao cả, và dành phần lớn thời giờ vào nhiệm vụ lãnh đạo và giảng dạy. Nếu bà cũng có thể để mỗi phút của mình vào công việc nghiên cứu của mình như những anh em trẻ cùng làm việc, thử hỏi sự nghiệp sáng tạo của bà còn tiến triển đến đâu? Và ai có thể nói được phần đóng góp của Ma-ri vào bao công trình nghiên cứu mà bà đã gợi ý, dìu dắt từng bước?
Ma-ri không hề đặt cho mình hai câu hỏi đó. Bà lấy làm mừng về những thắng lợi đạt được do tập thể những nhà bác học mà bà gọi với một giọng tự hào kín đáo là “Phòng thí nghiệm”.
Những khiếu về tâm lý và lòng nhân đạo đã giúp nhà nữ bác học vốn cô độc, trở thành một người có tài cổ vũ. Bình thường rất ít thân mật, bà Qui-ri đã giành được lòng quý mến tận tụy của người cùng làm việc mà sau bao nhiêu năm cộng tác hằng ngày, bà vẫn trân trọng gọi là “cô” hay “ông”.
Nếu Ma-ri mải bàn về một vấn đề khoa học mà ngồi ngoài trời quá lâu trên cái ghế dài ngoài vườn thì lập tức giọng lo âu của một chị phụ tá nhắc nhở:
– Mời bà vào ngay cho kẻo bị lạnh!
Và nếu Ma-ri mải làm việc quên cả ăn, cũng có những bàn tay kín đáo đặt một ít bánh mì, hoa quả ngay bên cạnh bà.
Anh em “lao công” ở phòng thí nghiệm và những công nhân cảm thấy quý bà vô hạn. Khi Ma-ri mượn một lái xe riêng, thì người ta thấy anh Gioóc Boa-tơ từ trước vẫn kiêm lao công, thợ máy, lái xe, làm vườn, rưng rưng nước mắt vì từ nay sẽ không được đưa bà Qui-ri từ phố Pi-e Qui-ri đến bến Bê-tuyn.
Một lòng thương yêu vô hạn, tuy không bộc lộ ra, gắn bó Ma-ri với những người cùng đấu tranh và giúp bà thấy được trong gia đình lớn này những tâm hồn nồng nhiệt cao quý nhất. Chưa lần nào mẹ tôi buồn như hồi tháng chín năm 1932 khi được tin một trong những học trò giỏi của bà bị chết đột ngột.
Bà viết cho tôi:
“Đến Pa-ri mẹ bị một nỗi buồn lớn. Nhà hóa học trẻ Ray-mông mà mẹ rất mến chết đuối ở một sông nhỏ vùng Ác-đéc sơ. Mẹ đã xúc động đến bàng hoàng. Bà mẹ anh viết thư nói rằng những năm trời làm việc ở phòng thí nghiệm là những năm quý nhất trong đời anh. Nhưng có ích gì nếu cuộc đời kết thúc như thế. Một tuổi trẻ đầy hứa hẹn, một thanh niên khôi ngô, tuấn tú đáng yêu, những năng khiếu đặc sắc – tất cả đều mất đi chỉ vì một cuộc tắm sông tai hại”.
Cặp mắt sáng suốt của Ma-ri phân biệt cái kém và cái giỏi, nghiêm khắc nhìn ra chỗ mắc mớ thường làm cho người nghiên cứu không vươn lên thành nhà bác học được. Bà sợ nhất những ai vụng về. Còn sợ hơn cả kẻ hay khoe khoang. Một bàn tay lóng ngóng làm đổ vỡ cả một công trình lắp máy trong phòng thí nghiệm làm bà phát bực. Một hôm, bà thân mật nói về một người làm thí nghiệm không có tài:
– Nếu ai cũng như anh ta, thì môn vật lý khó mà tiến được.
Mỗi lần một đồng sự trình bày xong một luận án, một đề tài tốt nghiệp hoặc được một giải thưởng thì cả phòng thí nghiệm thường tổ chức ăn mừng. Mùa hạ, làm ở ngoài trời, dưới bóng những cây trà ở ngoài vườn. Mùa đông, tiếng bát đĩa loảng xoảng bỗng làm rối loạn sự yên tĩnh của thư viện, gian phòng rộng rãi nhất của Viện Ra-đi-om. Bát đĩa thật kỳ dị! Cốc kết tủa được dùng làm chén nước trà và ly rư ợu sâm banh, đũa khuấy bằng thủy tinh thay cho thìa.
Chị em sinh viên bưng bánh mời các bạn, các thầy và các công nhân viên. Đến dự có Ăng-đrê Đờ-biếc-nơ, giáo sư phụ trách các buổi thuyết trình của Viện; Phéc-năng Hô-nếch, trưởng phòng thí nghiệm và một bà Qui-ri hoạt bát, vui tươi, tay cứ phải giữ cốc nước trà cho khỏi bị đám đông va chạm.
Bỗng ai nấy im lặng. Bà Qui-ri sắp chúc mừng người trúng tuyển. Vài lời nói ấm áp, khen ngợi công trình độc đáo, và nêu bật khó khăn đã vượt qua. Cả phòng hoan hô nhiệt liệt khi bà chúc mừng cha mẹ nhân vật chính của bữa tiệc, hay nếu là một người nước ngoài thì thăm hỏi tổ quốc xa xôi của anh: “Trở về đất nước tươi đẹp của anh, đất nước mà tôi biết rất rõ, và đã được đồng bào của anh đón tiếp ân cần, mong anh sẽ giữ mãi một kỷ niệm tốt đẹp ở Viện Ra-đi-om. Anh sẽ thấy rằng chúng ta làm việc rất nhiều, làm hết sức mình”.
Có một vài bữa tiệc trà đã làm Ma-ri cảm động đặc biệt. Đó là hai lần ăn mừng luận án tiến sĩ khoa học của con gái và con rể.
Ma-ri thấy rõ sự phát triển thiên tư của hai nhà bác học trẻ tuổi ấy, dưới sự chỉ đạo của mình. Năm 1934, hai vợ chồng I-ren đạt được một thành công rực rỡ: Sau nhiều năm nghiên cứu về sự biến chất nguyên tử, I-ren và Phrê-đê-rích Giô-li-ô đã tìm ra được “phóng xạ nhân tạo”: đem bắn phá hạt nhân của một vài chất như nhôm (Al), họ đã có thể biến chất này thành những chất phóng xạ mới, chưa có trong thiên nhiên, từ nay sẽ là những nguồn phóng xạ. Có thể dễ dàng đoán được tác dụng của sự cấu tạo nguyên thủy lạ lùng đó trong các lĩnh vực hóa học, sinh lý học, y học. Rồi đây người ta sẽ chế tạo trong công nghiệp hàng loạt các chất có tính phóng xạ giống như Ra-đi để đáp ứng nhu cầu trị bệnh bằng phóng xạ.
Trong một buổi họp ở Hội vật lý mà con gái và con rể trình bày công trình của họ, Ma-ri chăm chú tự hào, ngồi lẫn với thính giả. Gặp An-be La-boóc, khi xưa là phụ tá của mình và của Pi-e Qui-ri, bà niềm nở khác thường.
– Thế nào? Chúng nói tốt đấy chứ? Tôi nhớ lại cái thời oanh liệt của chúng mình ở phòng thí nghiệm cũ.
Bà xúc động quá, say sưa quá, ngồi mãi trong buổi liên hoan. Lúc về, đi bộ dọc bến tàu cùng với nhiều bạn đồng nghiệp, câu chuyện vẫn xoay quanh thành công của đôi trẻ.
Bên kia vườn của Viện ở phố Pi-e Qui-ri, nhóm cộng tác của giáo sư Rơ-gô mà Ma-ri thường thân mật gọi là “những người đàng trước mặt” đang lao vào tìm tòi cách trị bệnh ung thư. Từ 1919 đến 1935, tám nghìn ba trăm mười chín bệnh nhân được chữa ở Viện Ra-đi-om.
Clốt Rơ-gô, một nòng cốt của phòng thí nghiệm, cũng ra sức tập trung phương tiện cần thiết cho sự nghiệp của mình: chất Ra-đi, máy móc điều trị, các phòng làm việc, một bệnh viện. Trước con số rất lớn những ca khỏi bệnh và do nhu cầu khẩn cấp, ông phải đi vay Ra-đi – Hội liên hiệp mỏ ở Ca-tăng-ga Thượng cho mượn đến mười gam Ra-đi – và vận động nhà nước và tư nhân trợ cấp. Có một nhà hảo tâm biếu hội Qui-ri ba triệu bốn trăm nghìn Phơ-răng mà tế nhị giữ kín, không cho biết tên.
Trung tâm chữa bệnh theo phương pháp Qui-ri nổi tiếng nhất nước Pháp thành hình. Uy tín của nó rất lớn. Rồi đây, hơn hai trăm thầy thuốc ở năm châu sẽ đến xin thực tập để học cách chữa bệnh ung thư.
Tuy không tham dự vào công việc sinh lý học và y học, bà Qui-ri rất chăm chú theo dõi bước tiến của hai ngành này. Bà rất tâm đồng ý hợp với giáo sư Rơ-gô, người đồng sự có một ý thức phục vụ cao cả và một tinh thần vô tư tuyệt đối. Cũng như Ma-ri, ông luôn luôn gạt bỏ những lợi nhuận vật chất. Giá đi vào khám bệnh tư, ông có thể giàu to, nhưng riêng ý nghĩ đó cũng không hề nẩy ra trong tâm trí ông.
Bà Qui-ri và ông Rơ-gô rất đỗi kinh ngạc về sự hiệu nghiệm của cách chữa bệnh theo phương pháp Qui-ri, khi có bàn tay chuyên môn giỏi, nhưng cũng chung một lo lắng. Họ vô cùng lo ngại, và bất lực trước tệ lạm dụng chất Ra-đi thiếu lương tâm, đang lan tràn trên thế giới. Chỗ này, những thầy thuốc vì chưa hiểu, cứ dùng bừa chất phóng xạ đối với người bệnh, mà không hề nghĩ đến nguy cơ của lối “điều trị” đó. Nơi kia bán thuốc men hoặc mỹ phẩm “có chất Ra-đi” đôi khi còn lấy cả tên Qui-ri để làm quảng cáo...
Nhưng mẹ tôi, gia đình Qui-ri, giáo sư Rơ-gô và Viện Ra-đi-om tuyệt đối xa lạ với những việc làm đó.
– Bác xem hộ có gì quan trọng không? – Ma-ri bận rộn chỉ cho bà Ra-đê thư ký riêng tập thư từ báo chí đến hôm trước.
Những phong bì thường chỉ ghi vắn tắt “Bà Qui-ri Pa-ri” hay “Bà Qui-ri, nữ bác học Pháp”. Một nửa là thư xin chữ ký.
Với loại này đã có một phiếu in sẵn câu trả lời: Vì không muốn cho chữ ký, hoặc ký vào ảnh, bà Qui-ri xin lỗi... Đối với hạng cuồng nhiệt, viết tám hay mười trang, bằng nhiều thứ mực, điên rồ, dớ dẩn, thì chỉ có một cách trả lời là im lặng.
Các trường hợp khác, bà Qui-ri cặn kẽ đọc cho thư ký từng bức điện gửi đồng nghiệp ở nước ngoài, từng lá thư trả lời bao tiếng cầu cứu tuyệt vọng của những người cứ nghĩ rằng đã là Ma-ri Qui-ri là có thể cứu chữa được mọi bệnh hoạn, làm nhẹ mọi đau đớn; lại còn thư của mấy nhà chế tạo máy móc, rồi bản giá cả, hóa đơn, phúc đáp công văn, tất cả thành bốn mươi bảy hồ sơ. Nào như thế đã đủ đối với quan hệ rộng lớn của nhà nữ bác học. Khắp nơi gửi đến thư xin gặp. Cứ sáng thứ ba và thứ sáu, Ma-ri mặc cái áo đen lịch sự nhất của mình mà nói:
– Hôm nay là ngày giao thiệp. Ta phải chỉnh tề chứ.
Từ sớm, hành lang phòng thí nghiệm đã đông người ngồi đợi, có cả nhà báo mà một lời dặn trước của bà thư ký Ra-đê làm họ cụt hứng:
– Bà Qui-ri chỉ tiếp những vị nào hỏi về vấn đề kỹ thuật. Xin miễn phỏng vấn riêng.
Ma-ri vốn rất nhã nhặn, nhưng trong gian phòng chật hẹp, nghiêm nghị, với mấy chiếc ghế không đệm, sơ sài, trước sự sốt ruột không giấu nổi của Ma-ri lúc lúc lại đưa mắt lên nhìn đồng hồ, khách đến nói chuyện không tài nào ngồi lâu được.
Cứ đến thứ hai và thứ tư, mới sáng ra Ma-ri đã đứng ngồi không yên. Vì đúng năm giờ chiều phải lên lớp. Sau bữa ăn sáng, bà vào phòng riêng ở bến Bê-tuyn soạn bài giảng. Bà biên sẵn ra một tờ giấy đầu đề từng chương. Khoảng bốn giờ rưỡi, bà đến nơi làm việc và lại ngồi ở một phòng nhỏ để chuẩn bị thêm. Lúc này ai muốn gặp cũng không được.
Hai mươi nhăm năm dạy học, thế nhưng mỗi khi bước lên bục giảng đường nhỏ, trước mặt ba mươi bảy, bốn mươi học trò, bà vẫn không khỏi xúc động.
Một nếp hoạt động căng thẳng đáng sợ. Ma-ri còn viết báo, soạn sách khoa học. Một quyển nói về “Sự đồng vị và chất đồng vị”, một tiểu sử Pi-e Qui-ri xúc tích và cảm động, một quyển sách thu gọn toàn bộ bài giảng của Ma-ri Qui-ri với một hình thức hoàn hảo.
Những năm trời trong sáng và phong phú đó cũng là những năm chiến đấu dũng cảm! Ma-ri có nguy cơ bị hỏng cả hai mắt.
Kể từ năm 1920, thầy thuốc đã báo động là cả hai mắt có triệu chứng thành màng, và sẽ hoàn toàn không nhìn thấy gì. Ma-ri không để cho ai đoán biết nỗi thất vọng của mình. Bà nói thẳng với hai con cái tai họa ấy và bàn ngay đến cách chữa; độ hai, ba năm nữa sẽ mổ mắt. Từ nay nhãn mắt mờ dần, như đặt một đám sương mù vĩnh viễn giữa bà và thế giới bên ngoài, với công việc nghiên cứu.
Ma-ri viết cho Brô-ni-a, 10 tháng 11 năm 1920:
“Em bị rầy rà nhất về hai mắt và hai tai. Mắt kém lắm rồi, và có điều trị chắc cũng chẳng ăn thua gì. Tai cứ ù suốt ngày, có khi đến nhức óc. Em rất lo, công việc có thể bị trở ngại, thậm chí gián đoạn hẳn. Mấy triệu chứng trên có lẽ do chất Ra-đi gây ra, nhưng không khẳng định hẳn đư ợc.
Đó là những nỗi buồn của em. Chị đừng nói với ai, để cho khỏi lan ra ngoài. Thôi, ta bàn chuyện khác”.
“Đừng nói với ai”, với I-ren và E-vơ, Ma-ri cũng dặn như thế, với các anh chị, với anh ruột là những người tâm sự duy nhất của mình. Ma-ri chỉ có một lo ngại là, nếu không giữ kín, để tin này lan ra, và một ngày kia, báo sẽ đăng “Bà Qui-ri bị tàn phế”.
Hai bác sĩ điều trị cho bà Qui-ri, cũng lo như vậy. Người bệnh lấy một tên khác. Đó là bà Ca-rê nào đó bị mắt có màng. Và mỗi lần E-vơ vào hiệu thuốc hỏi mua kính, cũng là mua cho bà Ca-rê đó thôi.
Ma-ri viết cho E-vơ ngày 13 tháng 7 1923:
“Mẹ định đi mổ mắt vào ngày 18, sáng thứ tư. Con chỉ cần về từ tối hôm trước. Với cái nóng khủng khiếp này e rằng con mệt. Con nói hộ với bạn bè ở Lác-cu-ét rằng mẹ đang bận về một cuốn sách mà hai mẹ con ta cùng làm, do đó mẹ cần đến con vì người ta giục gấp.
Mẹ hôn con
Nói càng ít càng hay con nhé!”
Những ngày nóng nực nằm bệnh viện, E-vơ phải bón súp bằng thìa cho bà Ca-rê im lặng, đầu quấn toàn băng. Mối lo ngại bệnh có thể trở chứng gây xuất huyết, hàng tuần lễ làm tiêu tan hy vọng khỏi bệnh.
Hai lần mổ mắt nữa vào tháng ba 1924. Một lần thứ tư vào năm 1930. Vừa mới được tháo băng, Ma-ri đã tập dùng đôi mắt không bình thường, đã mất nhân, không còn điều tiết được nữa.
Ma-ri viết cho E-vơ, từ nơi điều dưỡng ở Ca-va-le vài tháng sau lần mổ thứ nhất:
“Mẹ cố tập đi lại không dùng kính có tiến bộ. Đã hai lần đi chơi núi, đường hiểm, sỏi đá gập ghềnh, thế mà vẫn bước nhanh, không có chuyện gì. Cái khó khăn hiện nay là cứ nhìn một hóa hai, thành thử không nhận ra được ai đến gần. Mỗi ngày mẹ tập đọc và tập viết. Đến nay việc đó còn khó hơn tập đi. Có lẽ con sẽ phải giúp mẹ biên soạn bài cho Bách khoa Toàn thư Anh quốc”.
Dần dần Ma-ri đã thắng số mệnh. Nhờ đeo thêm kính to bà đã có thể nhìn gần như bình thường, đi ra phố một mình, lái xe lấy và ở phòng thí nghiệm lại làm được việc cân đo tỉ mỉ. Một sự kỳ diệu của bà! Ma-ri lại thoát khỏi bóng tối, lại có đủ ánh sáng để làm việc, làm việc cho đến hết đời.
Một bức thư nhỏ, Ma-ri viết cho Brô-ni-a, từ tháng chín 1927, cho bà biết bí quyết của thắng lợi này:
“Nhiều lúc em không còn đủ can đảm nữa và tự nhủ rằng có lẽ đến phải nghỉ hẳn, về sống ở thôn quê vui với vườn tược. Nhưng trăm nghìn dây ràng buộc, biết bao giờ mới thu xếp được như thế. Em cũng chẳng rõ, mà dù chỉ viết sách khoa học, chả chắc mình đã có thể rời được và thí nghiệm”.
“Chả chắc mình có thể rời được phòng thí nghiệm...”
Muốn hiểu được lời thốt từ đáy lòng ấy, phải thấy Ma-ri trước những dụng cụ thí nghiệm của mình mỗi khi xong sự vụ hàng ngày là bà lại có thể say sưa nghiên cứu. Không cứ phải một thí nghiệm quan trọng, khuôn mặt gày gò mới tỏ ra đăm chiêu ngây ngất. Chỉ việc thổi thủy tinh được Ma-ri làm với một bàn tay nghệ sĩ, hoặc cân đo chính xác cũng làm cho bà sung sướng hân hoan. Sau này, một cô phụ tá chăm chú và nhậy cảm tên là Sa-mi-ê sẽ nhớ lại miêu tả bà Qui-ri hằng ngày, tiếc rằng không có một bức ảnh nào ghi lại vẻ say sưa ngây ngất ấy:
“Bà ngồi trước máy, làm cái việc đo lường trong ánh sáng mập mờ của một phòng không sưởi ấm, để tránh những thay đổi nhiệt độ. Mọi thao tác như mở máy bấm đồng hồ đo, nhấc quả cân v.v... đều được Ma-ri làm với một kỷ luật và một sự nhịp nhàng đáng phục. Một nhạc sĩ đánh dương cầm cũng không sử dụng đôi tay nhịp nhàng đến vậy. Đó là một kỹ xảo tuyệt trần, xuống mức thấp nhất hệ số sai lầm của bản thân”.
Sau khi tính toán rất nhanh để so sánh kết quả, bà tỏ ra vui sướng thật sự vì sai số còn thấp hơn giới hạn cho phép rất nhiều, đảm bảo rằng đo lường đã chính xác.
Ma-ri thường làm việc rất say sưa. Có lần, vào năm 1927, I-ren ốm nặng, làm bà lo lắng mất ăn mất ngủ, nhưng khi đã đứng trước máy trong phòng thí nghiệm, thì bà như quên tất cả, người quen đến hỏi tin về I-ren chỉ được trả lời vắn tắt, lạnh lùng và sau đó Ma- ri còn tỏ ra bực dọc là “không được yên mà làm việc”.
Ta hãy ngắm Ma-ri đang làm một thí nghiệm cơ bản chế tạo ra Ac-ti-ni X để lấy quang phổ của những tia an-pha, công trình cuối cùng của nhà nữ bác học.
– Phải lấy Ac-ti-ni X nguyên chất ở một trạng thái hóa học làm cho nó không thể tỏa khí được.
Cả một ngày làm việc vẫn chưa thể tách riêng được chất đó, Ma-ri Qui-ri ở lại và thí nghiệm, bỏ bữa ăn chiều. Nhưng chất đó đâu chịu tách ra nhanh, phải làm việc cả đêm cho cái nguồn phóng xạ đang được điều chế không kịp giảm đi nhiều.
Đến hai giờ sáng, vẫn còn một thao tác cuối cùng: phải ly tâm dung dịch trong một giờ, trên một cái giá đặc biệt. Tiếng máy ly tâm chạy nghe rất mệt. Nhưng Ma-ri cứ đứng cạnh nó, không chịu rời căn phòng. Mắt bà gắn với cái máy, tưởng chừng như lòng tha thiết mong cho thí nghiệm có kết quả có thể bất chấp Ac-ti-ni X kết tủa.
Lúc này, đối với bà Qui-ri, ngoài máy ly tâm ra, không còn gì trên đời nữa; cả cuộc sống ngày mai, cả cái mệt cơ thể. Thật là một sự tập trung cao độ vào việc đang làm…
Khi thí nghiệm không đạt kết quả mong muốn, trông Ma-ri thật thiểu não. Ngồi trên ghế, hai tay khoanh lại, lưng khom, mắt nhìn trống rỗng, Ma-ri giống như một bà cụ thôn quê, rất già, mặt buồn rầu trước một cái tang lớn. Ai nấy tưởng như một tai họa gì xảy ra. Hỏi thì được câu trả lời thống thiết:
– Thế là không lấy được chất Ac-ti-ni!
Hoặc bà đổ lỗi:
– Chất Pô-lô-ni nó thù tôi!
Nhưng nếu có kết quả thì lòng nhẹ nhõm, vui vẻ ríu rít, Ma-ri ra dạo vườn hoa, như muốn thổ lộ với những khóm hồng, mấy gốc trà, với mặt trời tất cả niềm vui sướng của mình. Ma-ri lại làm lành với khoa học rồi, lại cười nói vui vẻ.
Nếu một người nghiên cứu, nhân lúc đó, ngỏ ý muốn để bà xem một thí nghiệm đang làm, lập tức bà cùng đi đến tận cái máy đang đếm nguyên tử để ngắm quặng uy-lê-mít đang phát quang, do ảnh hưởng của Ra-đi.
Trước những sự kỳ diệu quen thuộc đó, đôi mắt màu tro sáng lên vì sung sướng, dường như Ma-ri đang ngắm một bức họa của Bô-ti-xê-li[56] hoặc của Véc-me[57] vậy.
Chú thích:
[56] Botticelli, họa sĩ Ý thời trước Phục Hưng
[57] Vermeer Van Delft, họa sĩ Hà Lan (1622-1675)
Chương 27
Nhiệm vụ đã xong
Nhiều lúc Ma-ri nói đến cái chết của mình. Bà bàn luận về hiện tượng không tránh được này một cách bình thản, và nói đến những hậu quả thiết thực của nó không chút xao xuyến:
– Cố nhiên là tôi không thể sống được nhiều năm nữa.
Hoặc:
– Tôi lo ngại số phận của Viện Ra-đi-om sau khi tôi chết.
Thực ra trong lòng Ma-ri không hề bình thản cam chịu số mệnh. Với tất cả bản năng của mình, Ma-ri đẩy xa cái ý nghĩ kết thúc. Những người khâm phục Ma-ri thường nghĩ rằng bà đã có một cuộc sống không gì sánh tày. Nhưng đối với Ma-ri, cuộc sống đó nào có đáng kể chi so với sự nghiệp đang tiến hành.
Ba mươi năm trước đây, như linh cảm trước cái chết do ngẫu nhiên đưa lại, Pi-e Qui-ri cũng đã lao vào công việc với một nhiệt tình bi thảm. Nay lại đến lượt Ma-ri thách thức với thần chết. Như để chống lại cuộc tấn công mà bà thấy trước, Ma-ri nôn nóng dựng lên một bức tường kế hoạch và nhiệm vụ, bất chấp sự mệt nhọc ngày một tăng, bất chấp các bệnh mãn tính đang đày đọa mình: mắt kém, tai ù, thấp khớp bả vai.
Những cái đó có nghĩa lý gì? Còn nhiều việc khác quan trọng hơn. Ma-ri mới cho xây một nhà máy khai thác Ra-đi từ các quặng phóng xạ. Bà đã từng ao ước nó từ lâu và giờ đây đang làm ở đó những thí nghiệm đầu tiên đầy hào hứng. Bà còn bận về quyển sách mà sau khi bà chết đi, sẽ không ai làm được. Rồi công việc về nhóm Ac-ti-ni chưa tiến được bao nhiêu, sau đó lại còn phải nghiên cứu cấu trúc tinh vi của tia an-pha. Sáng dậy sớm, tất bật đến phòng thí nghiệm, tối ăn xong lại quay về phòng thí nghiệm…
Bà làm việc một cách vội vã khác thường – và với một sự thiếu thận trọng đối với bản thân đã thành nếp, bà vẫn xem thường những điều chú ý mà bà nghiêm khắc buộc học trò phải theo, như cầm các ống nghiệm đựng chất phóng xạ bằng kẹp, dùng những “mộc” chì để bảo vệ mình chống những tia độc. Có chăng bà chịu đi thử máu theo điều lệ của Viện Ra-đi-om.
Công thức máu của Ma-ri không bình thường. Chao! Ba mươi lăm năm trời tiếp xúc với chất Ra-đi, thở khí tỏa của Ra-đi, bốn năm chiến tranh phải chịu đựng những tia Rơn-ghen nguy hiểm hơn nữa mà chỉ bị một sự thay đổi nhỏ về máu, một vài chỗ bỏng ở hai bàn tay, tuy có đau và khó chịu, lúc thì khô lúc lại làm mủ, xét đến cùng, chẳng phải là những hình phạt nặng nề gì!
Tháng chạp năm 1933, một trận ốm ngắn làm cho Ma-ri lo ngại hơn. Chiếu điện thấy túi mật sỏi khá to. Cũng căn bệnh đã gây cái chết của ông Xkhua-đốp-xki! Không muốn mổ, bà phải theo chế độ kiêng khem, và giữ sức hơn.
Bà cảm thấy mệt, nhưng để có thể tự chủ là mình còn khỏe, bà đi trượt băng ở Véc-xây và đến với I-ren trên những bãi trượt tuyết ở Thụy Sĩ. Bà sung sướng thấy đôi chân còn dẻo dai, nhanh nhẹn. Ngày lễ Phục Sinh, nhân dịp Brô-ni-a sang Pa-ri chơi, Ma-ri lái xe dẫn chị đi thăm miền Nam nước Pháp.
Chuyến đi thật là tai hại. Ma-ri muốn qua nhiều nơi để Brô-ni-a có dịp ngắm cảnh đẹp. Sau nhiều chặng, khi tới biệt thự của mình ở Ca-va-lê, Ma-ri bị nhiễm lạnh kiệt sức. Đến nơi, nhà lạnh như băng, và lò sưởi đốt vội lên không kịp làm Ma-ri ấm lại. Ma-ri run bắn lên, òa khóc trong lòng Brô-ni-a như một đứa trẻ. Bị ám ảnh về quyển sách đang viết, bà chỉ lo bị sưng cuống phổi, không còn sức hoàn thành. Được Brô-ni-a săn sóc an ủi, ngày hôm sau, Ma-ri tự trấn tĩnh hơn.
Một vài ngày nắng làm cho Ma-ri phấn khởi hẳn lên. Trở về Pa-ri, Ma-ri thấy khá hơn. Một thầy thuốc nói là cúm và cũng như tất cả thầy thuốc đã từng nói từ bốn mươi năm nay – do quá lao lực. Cơn sốt cứ âm ỉ, nhưng Ma-ri cho là không có gì đáng quan tâm. Brô-ni-a trở về Ba Lan mà lòng không yên. Trước con tàu đi Vác-xô-vi, trên sân ga quen thuộc, hai chị em ôm hôn nhau một lần cuối cùng.
Ma-ri cứ nửa ốm nửa khỏe, những ngày cảm thấy khá hơn, thì đến phòng thí nghiệm. Khi thấy hơi choáng váng và mệt, bà ở nhà viết sách...
Song kẻ thù nham hiểm đã nhanh hơn. Sốt vẫn dai dẳng với những cơn rét ác liệt hơn. E-vơ phải nói khéo lắm mẹ mới cho mời thầy thuốc. Từ trước đến nay Ma-ri chưa khi nào chịu có một thầy thuốc theo dõi sức khỏe của mình, lấy cớ là “phiền toái” và “không có cách nào thanh toán với họ được” – vì không có bác sĩ nào ở Pháp chịu lấy tiền sau khi khám bệnh cho bà Qui-ri.
Nhà bác học ấy, người bạn của tiến bộ ấy, cũng ghét khám và chữa bệnh như chị em nông dân vậy.
Giáo sư Rơ-gô đến thăm sức khỏe của Ma-ri, gợi ý là nên đến hỏi giáo sư Ra-vô, ông này lại giới thiệu đến giáo sư Bu-lanh, bác sĩ phụ trách bệnh viện Pa-ri. Thấy vẻ mặt tái nhợt của Ma-ri, ông nói ngay:
– Phải nằm điều trị, phải nghỉ.
Bà Qui-ri đã nghe những câu ấy không biết bao nhiêu lần rồi nên chẳng để ý tới nữa. Bà vẫn cứ lên xuống những cầu thang ở bến Bê-tuyn và gần như ngày nào cũng đến làm việc ở Viện Ra-đi-om.
Một buổi trưa nắng chói tháng 5-1934, Ma-ri ở mãi đến ba rưỡi ở phòng Vật lý, xếp đặt một cách mệt nhọc những bát sứ, dụng cụ đo lường – những người bạn trung thành. Bà trao đổi vài lời với những người đồng sự rồi nói:
– Tôi bị sốt. Tôi về đây.
Ma-ri còn đi một vòng quanh vườn, nay đã rực rỡ những khóm hoa mới trồng. Bỗng nhiên bà dừng lại trước một cây hồng khẳng khiu, và gọi anh thợ máy lại:
– Gioóc, anh hãy nhìn cây hồng này, phải chăm sóc nó ngay mới được.
Một nữ sinh bước lại gần khẩn khoản đề nghị bà không nên ở lâu ngoài vườn và nên về nhà ngay. Tuy làm theo ý cô, trước khi lên xe, bà còn nghoảnh lại:
– Gioóc – đừng quên đấy – cây hồng...
Con mắt lo ngại nhìn khóm hồng héo rũ là cái nhìn vĩnh biệt của bà Qui-ri với phòng thí nghiệm.
ù
Bà không rời giường bệnh nữa. Một cuộc chiến đấu rất nản chống lại một căn bệnh không biết rõ, lúc thì gọi là cúm, lúc thì nghi là sưng cuống phổi buộc Ma-ri phải chịu đựng những sự chăm sóc chỉ làm cho người ốm thêm mệt nhọc.
Bà bằng lòng cho đưa đến một bệnh viện để khám toàn bộ. Hai lần chiếu điện, năm sáu lần xét nghiệm, các nhà chuyên môn vẫn phân vân. Nội tạng bình thường, không có một bệnh nào rõ rệt. Nhưng vì chiếu phổi thấy hơi mờ nên các bác sĩ quyết định phải chườm và giác cho bà, trở về bến Bê-tuyn, Ma-ri chẳng thấy khá hơn mà cũng chẳng yếu thêm, người ta đã xì xào đến tiếng “an dưỡng đường”.
E-vơ rụt rè nói ra chuyện đó, Ma-ri cũng chấp nhận, bằng lòng đi. Bà đặt hy vọng vào một khí trời trong sạch hơn, cho rằng bụi và tiếng động trong thành phố làm cho bệnh không khỏi. Mọi người bàn tính. E-vơ sẽ cùng đi với mẹ và sẽ ở lại an dưỡng đường vài tuần rồi ông anh và các bà chị Ma-ri ở Ba Lan sẽ sang tiếp, sau đó I-ren sẽ ở với mẹ cả tháng tám và đến mùa thu bệnh sẽ khỏi.
Trong buồng bệnh, vợ chồng I-ren nói chuyện với bà Qui-ri về công việc phòng thí nghiệm, về ngôi nhà ở Xô, về việc sửa bản thảo cuốn sách mà Ma-ri vừa làm xong. Một người cộng sự trẻ của giáo sư Rơ-gô, hàng ngày đến thăm Ma-ri, ca ngợi cuộc sống dễ chịu và tác dụng của an dưỡng đường.
Tuy các bác sĩ không có vẻ bi quan, trong nhà không có ai tỏ vẻ lo lắng, E-vơ vẫn có cảm giác chắc chắn là có sự chẳng lành.
Những ngày quang đãng rạng rỡ mùa xuân năm ấy, E-vơ sống gần gũi thân mật với mẹ, giờ đây phải nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng. Lúc này cô mới thấy hết tâm hồn trong trắng và trái tim rộng lớn của Ma-ri, và tính dịu dàng không bờ bến của bà. Ma-ri là người mẹ dịu hiền năm xưa, và trước hết là cô gái cách đây bốn mươi sáu năm đã viết:
“...những người đa cảm như tôi mà không thể thay đổi bản chất đó, ít ra cũng nên giữ càng kín càng tốt...”
Đó là bí quyết một tâm hồn e lệ, đa cảm, kín đáo. Suốt cuộc đời vẻ vang của mình Ma-ri luôn luôn giữ không để có những biểu hiện yếu đuối, không thốt nên lời kêu gọi giúp đỡ.
Giờ đây cũng vậy, bà Qui-ri không thổ lộ, không phàn nàn hoặc rất tế nhị kín đáo. Bà chỉ nói đến tương lai... Tương lai phòng thí nghiệm, tương lai Viện Ra-đi-om Vác-xô-vi, tương lai con cái... Bà hy vọng và biết rằng I-ren và Phrê-đê-rích Giô-li-ô sắp nhận được giải Nô-ben.
Ma-ri yếu dần. Trước khi đưa mẹ đi an dưỡng, E-vơ đã cố mời bốn bác sĩ giỏi nhất ở Pháp đến hội chẩn. Tiếc thay căn bệnh quá bí ẩn, không tài nào xác định được. Các lương y chỉ còn kết luận là do những chấn thương về bệnh lao tái phát, và cho rằng đi lên vùng núi một thời gian sẽ khỏi hẳn sốt. Họ đã nhầm.
Chuẩn bị quá vội vàng, tai hại. Để giữ sức cho Ma-ri, phải hạn chế chỉ để bà tiếp xúc với vài người thân. Tuy vậy bà cũng lén cho gọi người cộng sự của mình là Cốt-len đến và căn dặn:
– Phải cất kỹ chất Ac-ti-ni, đợi đến khi tôi về. Tôi trông cậy ở chị thu xếp mọi việc. Sau hè, chúng ta sẽ làm tiếp việc này.
Tuy bệnh tình bỗng trầm trọng, các thầy thuốc vẫn khuyên đi ngay. Chuyến đi vất vả đau thương khôn tả. Trên xe lửa, khi đến Xanh Giéc-ve, Ma-ri mệt quá, ngất đi trong tay E-vơ và người nữ y tá. Cuối cùng, khi bà được đặt nằm trong gian phòng đẹp nhất của an dưỡng đường Xăng Xe-lơ-mô-dơ, lại chiếu điện và xét nghiệm: phổi vẫn không có gì. Chuyến đi đã vô ích!
Sốt quá bốn mươi độ. Không thể giấu Ma-ri việc đó vì tự bà soát lại mức thủy ngân với sự cẩn thận của nhà bác học. Bà không nói một lời, nhưng đôi mắt biến sắc tỏ ra rất lo ngại. Giáo sư Rốc ở Thụy Điển được mời gấp đến, so sánh những bảng thử máu mới nhất thấy con số hồng cầu và bạch cầu rút rất nhanh. Ông chẩn đoán là một bệnh thiếu máu biến chứng hiểm nghèo. Ông an ủi Ma-ri cứ bị ám ảnh về sỏi thận và quả quyết với Ma-ri rằng sẽ không mổ và sẽ cố chữa. Nhưng cuộc sống đã rời dần cái cơ thể quá ốm yếu này.
Bây giờ bắt đầu một cuộc chiến khốc liệt mà người ta gọi là “một cái chết nhẹ nhàng” khi thân thể không muốn chết còn chống lại kịch liệt. Ở bên cạnh mẹ, E-vơ lại phải tiến hành một cuộc chiến đấu khác: trong bộ óc của Ma-ri còn rất sáng suốt, ý nghĩ về cái chết chưa lọt vào được. Cần phải duy trì sự kỳ diệu đó, tránh cho Ma-ri một nỗi buồn quá lớn, mà không có sự cam phận nào có thể làm dịu được. Nhất là phải làm bớt đau khổ về thể xác trong khi giữ cho tâm hồn được thư thái. Giờ đây chăm sóc chỉ làm cho người bệnh thêm mệt. Truyền máu lúc này vô ích mà chỉ ảnh hưởng đến thần kinh. Và không cần tập hợp xung quanh người sắp chết, vì thấy người thân đến đông đủ, người bệnh sẽ chỉ thấy sự thật khốc hại và chỉ thêm đau khổ.
Cuộc sống của an dưỡng đường như dừng lại, khi nghe tin xé ruột gan:
Ma-ri Qui-ri sắp chết! Tòa nhà chỉ còn thấy sự kính trọng, tha thiết, im lặng. Hai thầy thuốc thay nhau túc trực trong buồng Ma-ri, nâng đỡ bà, an ủi bà. Và cũng chăm sóc luôn cả E-vơ, giúp E-vơ chiến đấu, bày cho cách chiến đấu và hứa sẽ tiêm thuốc làm dịu những cơn đau cuối cùng của mẹ cô.
Ngày mồng 3 tháng 7, buổi sáng bàn tay run rẩy của Ma-ri còn cầm được hàn thử biểu, đọc được mức thủy ngân một lần cuối cùng, và thấy được sự hạ nhiệt độ đột ngột thường vẫn đi trước sự kết thúc. Bà mỉm cười vui sướng khi nghe E-vơ khẳng định rằng đó là dấu hiệu khỏi bệnh, và bây giờ bà sẽ khỏi. Bà nhìn ra cửa sổ mở, về phía mặt trời, và phía núi non im lặng, lòng tràn đầy ước vọng, tha thiết muốn sống. Bà nói:
– Chẳng phải thuốc đã làm mẹ dễ chịu đâu, mà là khí trời miền núi.
Trong lúc hấp hối, khi thì rên rỉ vì đau, khi thì phàn nàn, mơ màng, ngạc nhiên:
– Tôi không nói được nữa... tôi như mất hồn...
Bà không gọi tên một người nào. Không gọi tên con gái lớn vừa mới đến Xăng Xe-lơ-môi-dơ cùng chồng, không gọi E-vơ, không gọi họ hàng thân thiết. Những mối lo nghĩ lớn hay nhỏ về công việc nghiên cứu lại trở về tràn ngập bộ óc kỳ diệu thành những câu đứt quãng:
– Đầu mục chương sách phải sắp xếp như nhau. Tôi đã nghĩ đến việc xuất bản.
Và nhìn chằm chặp vào cái chén rồi cố khuấy cái thìa – không, đâu phải nhìn cái thìa, mà là cái bay – một dụng cụ mỏng manh của phòng thí nghiệm:
– Họ làm cái này bằng Ra-đi hay bằng Mê-đô-tô-ri đấy nhỉ.
Ma-ri đã xa rời những con người để đến với những đồ vật đáng yêu mà bà hiến cả cuộc đời.
Miệng bà chỉ lắp bắp không ra lời, và bỗng nhiên, khi thấy thuốc đến tiêm, bà khẽ thốt lên mệt nhọc:
– Thôi! để cho tôi yên.
Những phút cuối cùng tỏa ra sức chống đỡ mãnh liệt của một người mà vẻ mảnh dẻ chỉ là bề ngoài, một trái tim rất khỏe lồng vào trong thớ thịt đang lạnh dần, nhưng vẫn cứ đập day dứt, không mệt mỏi. Mười sáu giờ liền, bác sĩ Pi-e Lu-ít và E-vơ mỗi người cầm một bàn tay lạnh ngắt của một cơ thể mà cái sống và cái chết đều không muốn nhận. Mãi đến sáng hôm sau khi măt trời điểm hồng rặng núi và bắt đầu cuộc hành trình của nó trong một bầu trời trong suốt, khi ánh nắng một buổi sáng rạng rỡ ùa vào trong phòng, tràn đến tận giường, chiếu vào đôi má gầy guộc, và đôi mắt vô tri vô giác màu tro mà cái chết đã hóa như thủy tinh, thì quả tim mới ngừng đập.
Trước thi hài, khoa học còn nhiệm vụ phải lên tiếng. Những triệu chứng không bình thường, các cuộc xét nghiệm máu khác với các bệnh nhân thiếu máu đã được biết, cuối cùng đã tố ra thủ phạm: đó là chất Ra-đi.
Bác sĩ Rơ-gô viết:
“Bà Qui-ri có thể coi là một trong những nạn nhân dài hạn của chất phóng xạ mà chồng bà và bản thân bà đã tìm ra”.
Bác sĩ Tô-bê cũng viết:
“Bà Pi-e Qui-ri chết ngày 4 tháng 7 năm 1934 ở Xăng Xê-lơ-môi-dơ. Căn bệnh là sự thiếu máu hiểm nghèo, diễn biến rất nhanh, có sốt, tủy xương mất khả năng phản ứng, có lẽ vì bị hư hại do nhiễm phóng xạ quá nhiều”.
Tin buồn từ an dưỡng đường lan ra thế giới, chạm vào những điểm đau nhói: ở Vác-xô-vi có Hê-la; ở Béc-lanh, trên một chuyến xe lửa chạy gấp về nước Pháp, có Dô-dếp và Brô-ni-a; ở Mông-pê-li-ê, có Giắc Qui-ri, ở Lơn-đơn có bà Mê-lô-nây; ở Pa-ri, những người bạn chân thành.
Trước những dụng cụ không còn sức sống ở Viện Ra-đi-om, các nhà bác học trẻ nức nở.
Giờ đây, bà Qui-ri an nghỉ, xa hẳn những nỗi đau thương đó, xa hẳn mọi sự huyên náo, trên giường bệnh, trong một an dưỡng đường trước những nhà khoa học đã tận tụy cứu chữa đến phút cuối cùng. Bà nằm đó, mặc toàn đồ trắng, mái tóc bạc để lộ một vầng trán mênh mông, khuôn mặt bình thản nghiêm nghị và dũng cảm như một tráng sĩ; trong giờ phút này, tượng trưng cho cái gì đẹp đẽ, cao cả.
Đôi tay xương xương, khô ráp đã thành chai, có những vết sẹo rất sâu vì Ra-đi làm bỏng. Đôi tay đã duỗi thẳng và cứng lại, không còn cái tật quen thuộc, luôn động đậy các ngón nữa.
Đôi bàn tay ấy đã làm việc nhiều biết chừng nào!
Ngày thứ 6, 6 tháng 7 năm 1934, buổi trưa, không điếu văn, không quân nhạc, không một chính khách tiễn đưa, Ma-ri Qui-ri âm thầm đi đến nơi an nghỉ cuối cùng. Bà được an táng ở nghĩ địa Xô, trước mặt người thân, bạn hữu và những người cộng sự. Cái quan tài mới được đặt trên quan tài Pi-e Qui-ri. Dô-dếp và Brô-ni-a ném xuống huyệt một nắm đất đem từ Ba Lan sang! Mộ chí khắc thêm một tên mới: Ma-ri Xkhua-đốp-xka 1867- 1934. Một năm sau, cuốn sách mà Ma-ri viết xong trước khi mất, mang lại cho những người “yêu vật lý” một tài liệu cuối cùng của nhà nữ bác học.
Trên bìa xám có in tên tác giả: “Bà Pi-e Qui-ri, Giáo sư trường Đại học Xoóc-bon. Giải thưởng Nô-ben Vật lý. Giải thưởng Nô-ben Hóa học”.
Và tên sách chỉ có mỗi hai chữ, nghiêm nghị và rạng rỡ:
“PHÓNG XẠ”
PHỤ LỤC
Những sự kiện khoa học lớn đương thời Marie Curie
NĂM SỰ KIỆN
1857 Louis Pasteur (1822 – 1895) nhà bác học Pháp khai sinh ra ngành Vi Sinh học (bacteriologie)
1863 Alred Nobel (1833 – 1896) nhà bác học Thụỵ Điển, phát minh ra chất nổ
1867 Karl Marx (1818 – 1883) nhà bác học Đức xuất bản tập 1 cuốn tư bản luận
1869 Charles Darwin (1809 – 1882) nhà khoa học tự nhiên Anh xuất bản tác phẩm “Sự hình thành các loài do luật tự nhiên đào thải” một bước ngoặc trong lịch sử sinh vật học
1869 Mendelejew (1834 – 1907) bác học Nga đưa ra bảng Phân loại chu kỳ các nguyên tố hoá học
1882-83 Robert Koch (1843 – 1910) tìm ra vi trùng lai (1882) và dịch tả (1883)
1882 Fernand Forest (1851 – 1914) kỹ sư Pháp phát minh máy nổ 4 pha
1886 Henri Moissan (1852 -1907) nhà hoá học Pháp tìm ra chất fluor
1893 Rudolf Diesel (1858 – 1913) kỹ sư Đức phát minh ra máy nổ Di-êden
1895 Sáng lập giải Nôben do Alfred Nobel di chúc trước khi chết. Giải Noben về vật lý, hoá học, y học, văn học và giải hoà bình Noben, mỗi giải phát hàng năm trị giá 160.000 cu-ron (tiền Thuỵ Điển) trích ở lãi Ngân hàng gia tài của ông Nobel (khoảng 32triệu tiền Thuỵ Điển)
1895 Conrad Rontgen (1845 – 1923) nhà vật lý Đức – (giải Noben) khám phá ra quang tuyến X
1895 Hai anh em bác học Pháp Auguste Lumiere (1862 – 1954) v à Louis Lumiere (1864 – 1948) phát minh máy chiếu bóng
1896 Henri Becquerel (1852 – 1908) nhà vật lý Pháp (giải Noben) tìm ra hiện tượng phóng xạ
1896-98 Pierre Curie (1859 – 1906) và Marie Curie (1867 – 1934) khám phá ra hiện tượng phóng xạ tự nhiên
1903 Pierre Curie và Marie Curie tìm ra chất Ra-di (giải Noben)
1903 Anh em kỹ sư Mỹ Orcille Wright (1871 – 1948) và Wilbur Wright (1867 – 1912) lần đầu tiên thực hiện chuyến bay máy bay hai cánh
1905 Albert Einstein (1879 – 1955) nhà vật lý Đức (giải Noben) đề xướng thuyết tương đối
1911 Niels Bohr (1885 – 1962) nhà vật lý Đan Mạch (giải Noben) đề xướng “mẫu hành tinh” của nguyên t ử
1913 Frederik Soddy (1377 -1956) nhà hoá học Anh (giải Noben) phát hiện ra hiện tượng isotop trong chất phóng xạ
1919 F.W. Aston (1877 – 1945) Nhà vật lý Anh phát hiện ra isotop trong chất hoá học ổn định
1919 Ernest Rutheford (1871 – 1937) nhà vật lý Anh (giải Noben) thực hiện phản ứng hạt nhân nhân tạo đầu tiên
1932 Ernest Orlando Lawrence (1901 – 1958) nhà vật lý Mỹ (giải Noben) phát minh ra máy gia tốc (Zyklotro)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét