Nữ Bác Học Marie Curie
Lời giới thiệu
Nguyên tác: Madame Curie
do nhà xuất bản ga-lima - 1933
Trong những nhà bác học lớn của thế kỷ 20, thế kỷ của vật lý
học, có một hình ảnh sáng ngời rất đỗi gần gũi chúng ta. Đó là Marie Curie, nữ
bác học người Ba Lan, mà tên tuổi cùng với chồng là nhà vật lý Pháp Pierre
Curie, gắn liền với một giai đoạn phát minh khoa học và phát triển kỹ thuật vô
cùng rạng rỡ trong lịch sử văn minh loài người.
Một khám phá đảo lộn cả nền triết học và vật lý của mấy thế kỷ
trước, là ánh bình minh của thời đại nguyên tử, trong điều kiện nghiên cứu thô
sơ, tạm bợ “bốn năm ở một nhà xe” nghe như chuyện thần tiên lại do một phụ nữ rụt
rè, thầm lặng, tính tình nếp sống chẳng khác gì chị em lao động bình dị, chất
phác, nhưng tâm hồn, tư tưởng có tầm vóc thời đại.
Cuối thế kỷ 19, nước Ba Lan còn bị vùi dập dưới ách phong kiến
phụ thuộc. Do tư tưởng trọng năm khinh nữ, thời đó phụ nữ không được vào Đại học,
Maria Salomea Skłodowska, con một gia đình nhà giáo yêu nước bị chèn ép, đã
không chịu sống trói buộc, thấp hèn, ra sức học hỏi tích luỹ kiến thức với một
lý tưởng quán xuyến cả cuộc đời say mê khoa học.
Em bé chưa đầy mười hai tuổi mồ côi mẹ, thời thơ ấu bị đau
thương đè nén, càng yêu quê hương đất nước, yêu từ tiếng nói đến lịch sử dân tộc.
Đang học trung học, mặc dầu bị cấm đoán Maria Skłodowska vẫn lén lút tìm dự các
buổi “Đại học di động”. Say sưa với những luồng tư tưởng tiến bộ hướng về tầng
lớp lao động.
Cô gái mười bảy, hiếu thảo tận tình, muốn giúp chị có tiền ra
học nước ngoài, đỡ đần cha và dành dụm thêm cho mình, đã đi tỉnh xa dạy tư tám
năm ròng rã, gần gũi con em nông dân với một lòng yêu chân thành. Tha thiết
khêu gợi cho các em thấy vẻ đẹp của tiếng nói mẹ đẻ và lịch sử đất nước Ba Lan.
Cô tìm thấy ở các em “niềm vui lớn và nguồn an ủi chính” của mình, ở địa phương
hẻo lánh, không người hướng dẫn, cô vẫn tự mình cố gắng học thêm.
Cô nữ sinh viên 25 tuổi, miệt mài sách vở, kham khổ ba năm để
giành hai bằng cử nhân toán lý, đỗ nhất và nhì đồng thời trang bị cho mình một
vốn kiến thức khoa học cơ bản vững chắc. Khi tốt nghiệp xong, cô đã hoàn lại học
bổng mình nhận trước kia, để số tiền này lại có thể giúp một bạn học nghèp
khác.
.
Marie Sklodowska, sinh viên năm 1895
Người mẹ hai con vẫn thi thạc sĩ đỗ đầu, lại chuẩn bị thi tiến
sĩ. Bốn mươi lăm tháng trời vất vả, nghiên cứu các chất phóng xạ, cùng chồng
tìm ra hai kim loại mới, và cả phương thức khai thác. Một thành công kỳ diệu đã
đem lại cho hai vợ chồng giải Nobel vật lý 1903, chung với một nhà bác học nổi
tiếng đương thời.
Người quả phụ 38 tuổi, trong bước thảm khốc của đời mình đã
nén đau thương, tần tảo lao động nuôi con và chăm sóc bố chồng già, lại đảm
đương trọng trách thay chồng một cách xuất sắc, tiếp tục nghiên cứu, phát minh,
đặt nền móng cho một khoa học và một công nghiệp mới, giật thêm một Noben về
hoá học. Có thể cho con cái một gia tài lớn, nhưng bà đã đem lại cho nhà nước
Pháp mảnh kim loại trị giá một triệu “francs” và đem tiền thưởng Noben cùng
trang sức của mình chuyển thành quốc trái, với ý nghĩ đơn giản mà cao đẹp: “Con
cái nó phải tự kiếm sống là điều lành mạnh tất nhiên”. dạy dỗ con gái thành
tài, sau này cũng nối nghiệp mẹ và cũng được giải Nobel (1934).
Nữ bác học nổi tiếng vẫn giữ bản chất tốt đẹp của một người
lao động, cần mẫn, giản dị, không hay nói đến mình, không thích tiền tài, danh
vọng, chỉ say sưa nghiên cứu, chỉ muốn làm việc và cống hiến. Trong chếin
tranh, ra tiền tuyến với chiếc xe điện quang tự thiết kế, bà lăn lộn khắp chiến
trường cứu chữa thương binh, như một chiến sĩ, chẳng nề hà gian khổ, chẳng đòi
hỏi đối xử riêng biệt. Nhìn rõ trách nhiệm của người trí thức “không thể đứng
trên cuộc chiến đấu và sẽ phản lại sứ mệnh của mình, nếu không kiên trì bảo vệ
văn minh và tự do tư tưởng”. Chính nhờ đi vào thực tế cuộc sống chiến đấu mà bà
đã có thêm nhiều thành tựu độc đáo về khoa học ứng dụng và kỹ thuật thực hành.
Như đã thấy được đây là cả một sự nghiệp quần chúng, bà đã đào tạo hàng trăm
người làm công tác khoa học kỹ thuật là con em nhân dân lao động cho yêu cầu thời
chiến. Càng tha thiết đến tiền đồ khoa học, bà càng quan tâm đến “những tài
năng chưa phát triển, trong những tầng lớp xã hội ít được nâng đỡ” vì “một nông
dân, một công dân, biết đâu chẳng là mầm mống một nhà văn, nhà bác học, hoạ
sĩ?”
Nhà tri thức chân chính và từng trải đã thành một người có
tài tổ chức và cổ vũ, ra sức vun đắp thế hệ trẻ với lòng hy sinh cao cả, vừa chỉ
đạo chuyện môn, vừa hoạt động xã hội “chú trọng phát triển các học bổng quốc tế
về nghiên cứu khoa học, đấu tranh cho một nền văn hoá quốc tế vẫn tôn trọng các
nền văn hoá dân tộc, bảo vệ nhân cách và tài năng bất cứ nơi đâu, củng cố sức mạnh
tinh thần lớn lao của khoa học trên thế giới”.
Qua hình ảnh Marie, người phụ nữ Ba Lan giàu tình cảm ước mơ,
nhưng còn giàu nghị lực và ý chí hơn nữa, luôn luôn cưỡng lại số phận tàn khốc,
vươn lên làm tròn nhiệm vụ mà cuộc sống và lịch sử đặt cho mình, ngay cả lúc
đau khổ nhất, hàng vạn chị em phụ nữ Việt Nam có thể tìm thấy những nét về thời
tuổi trẻ và đời sống tình cảm của mình, của những con người dũng cảm, bất khuất,
trung hậu, đảm đang trên hai miền đất nước. Và kiều bào ta trên thế giới bấy
lâu da diết nhớ quê cha đất tổ giờ đây thông cảm hơn bao giờ hết với người trí
thức Ba Lan bốn chục năm xa quê hương vẫn không quên được tiếng mẹ đẻ và dòng
sông Vit-xtuyn, vẫn tha thiết với vận mệnh và tiền đồ tổ quốc Ba Lan, đã tìm
cách tặng thủ đô Vác-xô-vi của lòng mình một viện Ra-đi-om, để đền đáp ơn nghĩa
chôn nhau cắt rốn vì đã gửi gấm cả cuộc đời hoạt động khoa học trên đất nước
người.
Ngày nay trên đất nước đang lớn lên, có bao khó khăn, thử
thách chúng ta càng được khích lệ và tin tưởng khi nghĩ đến điều kiện làm việc
rất đỗi khó khăn mà lại thành công rực rỡ của Marie Curie. Chị em phụ nữ ta đều
có thể học tập những điều bổ ích ở cuộc đời và sự nghiệp của Marie Curie ở lòng
say mê học hỏi nghiên cứu phát minh khoa học không vì tiếng hay danh vọng và đức
tính cần cù, nhẫn nại, giản dị, thanh liêm.
Học tập giờ đây đâu chỉ là nhu cầu cuộc sống mà còn là phẩm
chất đạo đức, là đấu tranh với thiên nhiên và bản thân khắc phục mọi trở ngại
khó khăn do dốt nát sinh ra, nâng cao mại trình độ tiếp thu và tích luỹ kiến thức
của dân tộc và thế giới nhằm giải quyết tốt đẹp mọi vấn đề đời sống con người
và xã hội, vì ngày mai hạnh phúc huy hoàng của nhân dân ta, dân tộc ta, Tổ quốc
ta.
Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn “Nữ bác học Marie
Curiei” do con gái bà là Éve Curie viết, nguyên bản tiếng Pháp đã được dịch ra
26 thứ tiếng. Một tác phẩm sinh động chân thật về một phụ nữ đại tài, một nhà
khoa học chân chính.
Tháng 4 năm 1982
ĐÀO TRỌNG TỪ
Lời Tác Giả
Cuộc đời của Marie Curie rất nhiều nét cao siêu đến nỗi người
ta muốn kể lại như một câu chuyện cổ tích.
Một phụ nữ thuộc một dân tộc bị áp bức, nghèo và đẹp. Theo tiếng
gọi của một chí hướng mãnh liệt, bà rời tổ quốc Ba Lan của mình, đến Paris học,
sống những năm cô đơn túng bách.
Bà gặp Pierre Curie, cùng một thiên tư hiếm có. Hai người lấy
nhau. Hạnh phúc của họ có một chất lượng duy nhất.
Qua nỗ lực kiên trì và vô vàn gian khổ, Marie và Pierre Curie
tìm ra một chất màu nhiệm: đó là nguyên tố Ra-đi. Phát minh này không chỉ khai
sinh ra một khoa học mới và một triết học mới, nó còn mang đến cho loài người
cách điều trị một căn bệnh khủng khiếp.
Giữa lúc vinh quang của hai nhà bác học lan khắp thế giới,
tai ương đổ xuống đầu Marie. Phút chốc, cái chết cướp đi của bà người bạn đời kỳ
diệu.
Đau khổ và bệnh hoạn không sờn lòng, bà tiếp tục công việc
đang tiến hành, phát triển một cách rực rỡ bộ môn khoa học do hai vợ chồng sáng
lập ra.
Cho đến cuối đời, Marie Curie chỉ biết có cống hiến. Với
thương binh, bà đã hiến dâng tất cả lòng tận tụy và sức khỏe của mình. Sau này
bà dành toàn bộ kiến thức và thì giờ cho những sinh viên từ khắp năm châu đến học,
được bà hết lòng khuyên răn, đào tạo thành những nhà bác học tương lai.
Xong sự nghiệp, kiệt sức, bà từ giã cuộc đời sau khi đã khước
từ phú quý và dửng dưng với danh vọng.
*
Câu chuyện không khác gì truyền thuyết này, tôi cảm thấy có tội
lỗi nếu đặt thêm vào dù chỉ là một điều trang trí nhỏ bé nhất. Mỗi giai đoạn được
kể ra đây đều đã xác minh chắc chắn, mỗi lời chủ yếu là trung thực, cả đến màu
sắc một chiếc áo. Sự việc đã xảy ra, lời lẽ được nói ra đúng như vậy.
Họ hàng bên mẹ tôi ở Ba Lan, nhất là dì ruột tôi là bà
Du-xki, người chị thân thiết của mẹ tôi, đã cung cấp cho tôi những lá thư quý
giá, và những kỷ niệm sống về tuổi niên thiếu của nhà nữ bác học. Viết về cuối
đời của Marie Curie, tôi đã dựa vào giấy tờ riêng cùng những ghi chép vắn tắt của
bà và những câu chuyện và thư từ của bạn bè người Pháp và người Ba Lan, những
ký ức của chị tôi là Irène Joliot-Curie và anh rể tôi là Frédéric Joliot.
Mong rằng bạn đọc, qua những diễn biến nhất thời của một
quãng đời, nhận rõ điều mà ở bà Curie còn quý hơn cả sự nghiệp và cuộc sống nên
tranh của bà: đó là tính kiên định, sự nỗ lực kiên trì, tất thắng của trí tuệ,
lòng hy sinh của một con người đã biết cho tất cả mà không biết lấy một thứ gì,
thậm chí nhận một thứ gì. Và sau cùng là tâm hồn mà không có gì – thành công xuất
sắc hay hoạn nạn – làm vẩn đục được tính trong trắng tột bực.
Chính do tâm hồn như vậy mà Marie Curie đã không chút ngần ngại
gạt xa những thuận lợi mà danh vọng vẫn đem lại cho những thiên tài chân chính.
Bà đã phải đau khổ vì thế giới đương thời cứ muốn bà đóng vai
một nhân vật tiếng tăm. Con người vốn nghiêm khắc với mình và sống nhiều về nội
tâm, đã không thể chọn thái độ thường đi đôi với danh vọng: thân mật, hòa nhã một
cách máy móc, nghiêm nghị cố ý, khiêm tốn bề mặt.
Marie Curie không biết kiểu cách cư xử của những người danh
tiếng.
*
Tôi sinh ra khi mẹ tôi đã 37 tuổi. Lớn lên, đủ trí khôn nhận
xét, tôi thấy bà Curie đã là một phụ nữ có tuổi, lừng lẫy. Thế nhưng chính “nhà
bác học nổi tiếng” lại xa lạ với tôi hơn cả có lẽ vì Marie Curie không hề bận
tâm với ý nghĩ rằng mình có danh vọng. Và tôi luôn luôn cảm thấy như vẫn sống với
một nữ sinh viên nghèo dạt dào ước vọng tên là Marie Skłodowska, từ rất lâu trước
khi tôi ra đời.
Cho đến lúc thở hơi cuối cùng, Marie vẫn giống người con gái
đó. Một sự nghiệp lâu dài, vất vả, sáng chói đã không làm cho bà lớn hơn hoặc
thấp kém, hóa thần thánh hoặc sa đọa. Và đến ngày cuối cùng, vẫn một vẻ dịu hiền,
bướng bỉnh, dút dát và ham hiểu biết như thuở hàn vi.
Đối với một con người như vậy, lúc chết, giá có được nghi lễ
linh đình, theo kiểu mà các chính phủ thường dành cho các vĩ nhân của họ thật
là một điều phạm thánh, bất kính. Bà được an táng giản dị, lặng lẽ tại một
nghĩa trang thôn quê[1], giữa hoa lá đồng nội, dường như cuộc sống vừa chấm dứt
cũng bình dị như trăm nghìn cuộc sống khác…
*
Ước gì tôi có khiếu viết văn để miêu tả người nữ sinh muôn
thuở mà nhà bác học Anh-xtanh đã nói:
“Trong tất cả những danh nhân, bà Curie là người duy nhất
không bị vinh quang làm cho hư hỏng”.
Bà đã bước trên đường đời như một người ngoài cuộc, nguyên vẹn,
hồn nhiên, gần như dửng dưng với số phận lạ lùng của mình.
EVE CURIE
Ève Denise Curie
PHẦN THỨ NHẤT - Chương 1
“an-chiu”
Như mọi chủ nhật, trường trung học ở phố Nô-vô-lip-xki chìm đắm
trong im lặng. Dưới tấm da mặt nhà có khắc mấy tiếng Nga “Trường Nam trung học”,
cổng chính khóa chặt, hành lang toàn cột trông như một ngôi đền bỏ hoang. Cuộc
sống đã rút khỏi cái công trình kiến trúc chạy dài, thấp, chỉ có một tầng gác
này, khỏi những gian phòng sáng sủa, bàn kê hàng dọc, gỗ đen, mặt bàn xây xát đầy
vết dao con khắc tên kỷ niệm, chỉ nghe thấy tiếng chuông chiều ở nhà thờ Đức Mẹ
Đồng Trinh thong thả gióng, thỉnh thoảng xen lẫn tiếng xe bò lọc cọc hoặc vó ngựa
uể oải của chiếc xe khách “đô-rốt-sca” từ ngoài phố vọng vào. Phía trong hàng
rào vây quanh sân trường, bốn cây tử đinh hương khẳng khiu, bụi bậm đang trổ
hoa. Mùi hương ngào ngạt thường làm khách qua đường, mặc diện ngày chủ nhật, bất
giác ngoảnh lại, ngạc nhiên. Chưa sang tháng sáu mà trời đã nóng. Ở Vác-xô-vi
cái nóng cũng khắc nghiệt, thấm thía như cái rét.
Bầu không khí tĩnh mịch của ngày chủ nhật ấy đang bị khuấy đảo.
Từ gian trái tầng dưới, nơi ở của ông Vla-đi-xoáp Xkhua-đốp-xki, giáo sư vật lý
đồng thời là hiệu phó, vọng ra những tiếng động bí mật như búa đập không thành
nhịp. Bỗng thấy xoảng một cái, một công trình xây dựng nào đó đổ nhào; tiếp
theo là tiếng trẻ con hò la, the thé. Rồi lại tiếng khua.
Rồi những mệnh lệnh ngắn gọn, bằng tiếng Ba Lan:
- Hê-la (Hélena) ơi, tao hết đạn rồi!
- Cái tháp! Dô-dếp (Józef) ngắm cái tháp!
- Ma-ni-a (Manya)! Tránh ra!
- Ấy chớ! Em mang thỏi gỗ đến mà!
Lại ầm ầm, bao nhiêu thỏi gỗ vuông rơi tung tóe xuống sàn
đánh bóng xi như lệnh vỡ: ngọn tháp không còn nữa. Tiếng hò hét càng loạn xạ. Đạn
bay tới tấp, trúng đích.
Bãi chiến trường là một phòng rộng, vuông vắn, cửa sổ mở
trông ra sân trường phía sau. Bốn chiếc giường con kê bốn góc. Bọn trẻ nhỏ từ
năm đến chín tuổi rưỡi đang chơi trận giả, la hét inh ỏi. Chẳng là ông cậu, vốn
thích chơi bài, đêm Nô-en có tặng mấy cháu bộ đồ chơi xếp gỗ này. Và chắc ông
không ngờ được công dụng cuối cùng của nó. Vài ngày đầu, Dô-dếp, Brô-ni-a,
Hê-la và Ma-ni-a còn ngoan ngoãn chơi xếp thành quách, cầu cống, nhà thờ theo mẫu
vẽ trên hộp gỗ to. Nhưng rồi các mảnh gỗ ấy mau chóng đi theo số phận của
chúng. Cột nhà bằng gỗ sến ngắn biến thành pháo, ô vuông thành đạn trái phá và
mấy nhà kiến trúc tí hon đã nghiễm nhiên là những nguyên soái.
Józef đang nằm rạp xuống sàn, lấn dần tới và lần lượt đẩy khẩu
pháo của mình về phía địch. Ngay giữa trận đánh gay go, nét mặt đứa trẻ khỏe mạnh
trông vẫn nghiêm túc như hệt mọi viên tướng ra trận. Nó lớn tuổi hơn cả, sáng
trí nhất trong bốn đứa trẻ, và cũng chỉ mình nó là con trai ở đây. Mấy đứa kia
toàn con gái, ăn mặc như nhau, có viền xếp nếp trên bộ áo ngày chủ nhật, yếm
màu nâu sẫm thêu hoa dây.
Phải nói rằng bọn con gái cũng cừ đây. Hê-la, đồng minh của
Dô-dếp, mắt long lên sòng sọc. Nó uất ức vì mới chỉ sáu tuổi rưỡi, không được
ném những thanh gỗ xa hơn, mạnh hơn. Chao, giá nó cũng lên tám như Brô-ni-a, cô
bé múp míp, hồng hào, có mớ tóc hung cứng quật gió trong khi nó khoa chân múa
tay chống đỡ cho đạo quân của mình đang dàn ở giữa hai cửa sổ.
Cạnh Brô-ni-a (Bronia), một tiểu đội phó tí hon mặc yếm có
hoa dây lon ton từ tốp quân này, sang tốp quân khác nhặt đạn, bận rộn, mặt mũi
đỏ bừng môi khô lại vì hò hét và cười nhiều quá.
- Ma-ni-a!
Đang chạy, đứa bé sửng sốt dừng lại, buông rời vạt yếm nó
đang ôm gọn vào ngực. Thỏi gỗ rơi loảng xoảng xuống sàn.
- Gì cơ? Chị Dô-sa (Sophia)?
Những đứa trẻ của gia đình Sklodowski: từ trái sang phải:
Sophia, Hélèna, Manya, Józef et Bronislawa, 1872.
Trong năm đứa con ông giáo, Dô-sa nhớn nhất. Tuy chưa đến mười
hai tuổi, nhưng đối với 4 em, cô đã ra vẻ chững chạc. Tóc màu tro, hất về phía
sau, xòa xuống ngang vai, mặt xinh xắn nhiệt tình, đôi mắt cũng màu tro, mơ
màng tuyệt đẹp.
- Mẹ bảo là đã chơi quá lâu rồi, phải nghỉ thôi.
- Nhưng Brô-ni-a còn cần đến em cơ mà. Em mang thỏi gỗ đến
cho chị ấy.
- Mẹ gọi em ra với mẹ đấy.
Sau một giây phút lưỡng lự, Ma-ni-a cầm tay chị ung dung đi
ra. Kể mới năm tuổi mà chơi đánh trận thì cũng mệt đấy, cô bé cũng nhọc rồi, chẳng
phải là không muốn thôi. Có tiếng ngọt ngào, âu yếm từ buồng bên:
- Ma-ni-a!... Ma-ni-u-sa!... An-xi-u-pê-trô của mẹ đâu?
Ở Ba Lan, người ta ưa gọi nhau bằng những tên nựng nịu ấy.
Trong gia đình ông giáo, từ trước đến nay cô cả Xô-phi vẫn được
gọi thân mật là Dô-sa, cô hai Brô-nhi-xoa-va là Brô-ni-a, Hê-lê-na thành Hê-la,
còn Dô-dếp là Dô-sô. Nhưng có nhiều tên nhất là Ma-ni-a, cô út, yêu nhất nhà.
Ma-ni-a là tên gọi thường ngày, Ma-ni-u-sa là gọi âu yếm, và từ khi còn đặt
trong nôi, cô được cả nhà đặt cho một cái tên ngộ nghĩnh: An-xi-u-pê-trô.
An-chiu bé nhỏ.
- Sao tóc con bù thế? Sao mặt con đỏ thế? An-chiu bé nhỏ của
mẹ!
Hai bàn tay xanh xao, gầy guộc dịu dàng thắt lại dải yếm, vuốt
ve những búp tóc quăn, để lộ ra gương mặt cương nghị của một nữ bác học vĩ đại
tương lai. Dần dần, đứa bé trở lại yên tĩnh.
*
Manya rất yêu quý mẹ. Trên trái đất này, có lẽ chẳng ai xinh
đẹp, dịu hiền, đoan trang bằng mẹ. Bà giáo là con gái đầu lòng của một gia đình
khá giả ở nông thôn. Thân sinh là Fê-lích Bô-gu-xki, thuộc tầng lớp quý tộc nhỏ
thường gặp ở Ba Lan thời đó. Không đủ sống trên mảnh đất của mình, ông phải làm
quản lý cho các nhà quý tộc khác giàu sang và có thế lực hơn. Trong sáu chị em,
có lẽ bà giáo tính tình thăng bằng và sáng trí nhất, không bị ảnh hưởng một kiểu
Xla-vơ nào. Chẳng lập dị, không sôi nổi mà cũng không thái quá. Tốt nghiệp xong
trường phố Phrê-ta ở phố Vác-xô-vi, được tiếp thụ một nền giáo dục ưu tú, bà
quyết đi vào sư phạm, sau một thời gian dạy học, được cử làm hiệu trưởng. Năm
1860, khi giáo sư Xkhua-đốp-xki hỏi cưới, ông đã chọn được một người vợ hoàn
toàn. Bà không có của hồi môn nhưng là con nhà giáo, mộ đạo, hoạt bát, có một
nghề nghiệp chắc chắn và lại biết âm nhạc. Bà chơi dương cầm và hát những bài
hát trữ tình thời ấy với một giọng say sưa, tuyệt diệu.
Mẹ của bà Marie Curie.
.
Wladyslaw Sklodowski, Cha của Bà Marie Curie.
Bà rất đẹp. Bức ảnh hồi mới cưới cho ta thấy một khuôn mặt đều
đặn, mái tóc dày óng mượt bện giản dị, đôi mắt xám có đuôi theo kiểu Ai Cập có
cái nhìn dịu hiền, huyền ảo dưới cặp mày ngài.
Một cuộc hôn nhân nghe nói là “tương xứng”. Họ nhà trai cũng
thuộc tầng lớp quý tộc nhỏ mà thảm họa của nước Ba Lan thời đó làm cho sa sút,
gốc tích ở Xkhua-đi, một vùng thôn trại cách Vác-xô-vi độ một trăm cây số. Nhiều
gia đình thông gia với nhau cùng quê quán ở Xkhua-đi đã lấy tên là Xkhua-đốp-xki.
Nghề nghiệp tự nhiên của những hộ này là canh tác, trồng trọt.
Gặp thời tao loạn, đất đai ngày càng cằn cỗi và phân tán dần. Đến thế kỷ 18,
ông tổ trực tiếp của Vla-đi-xoáp Xkhua-đốp-xki có vài trăm mẫu ruộng, sống
phong lưu nhàn hạ, đời con hãy còn là điền chủ sung túc nhưng đến Dô-dếp, thân
sinh của ông giáo thì không thế nữa.
Muốn nâng cao thân phận bạc bẽo thấp hèn, và làm vinh dự cho
cái tên mà ông tự hào, Vla-đi-xoáp hướng về đường học vấn. Sau nhiều năm lăn lộn
với nghề mà các cuộc đảo chính và chiến tranh làm cho bi đát, ông được bổ nhậm
làm hiệu trưởng trường Nam trung học một thành phố quan trọng là Lu-blin. Đó là
người trí thức đầu tiên trong họ.
Hai gia đình Bô-gu-xki và Xkhua-đốp-xki đều đông anh em, một
nhà sáu, một nhà bảy. Nhiều người làm ruộng, đi giáo học, một người là thẩm
phán tòa án, một nữ đi tu và cũng có một vài nhân vật kì quặc. Hen-rich, một em
trai của bà giáo là tay chơi bất trị, cứ tưởng mình tài giỏi về những chuyện
phi thường, mạo hiểm. Và anh chàng Di-xoáp – em ông giáo – sống lông bông hưởng
lạc, đang là sinh viên ở Pê-téc-bua[2], gặp cuộc khởi nghĩa ở Ba Lan, đã đi
lính, trong thời gian lánh nạn ở Tu-lu-dơ[3] đã từng làm thơ bằng tiếng Prô-
văng-xơ rồi trở về nước, làm quản lý văn khế ở các tỉnh, cuộc đời cứ luôn luôn
phất rồi lại mạt.
Trong hai dòng họ, những tâm hồn mơ mộng, đắm đuối ở cạnh những
tính tình điềm đạm, những hiền triết sống bên những nhà du hiệp.
Cha mẹ của Ma-ri Qui-ri (Marie Curie) là những người khôn
ngoan. Vla-đi-xoáp noi gương bố, học hết đại học ở Pê-téc-bua, trở về Vác-xô-vi
dạy toán và lý. Bà giáo mở trường nữ học có kí túc xá mà các nhà giàu sang
trong thành phố đều cho con gái đến học. Gia đình ở phố Phrê-ta trên gác, sống ở
đây tám năm trời. Mỗi buổi sáng khi thầy giáo bước chân qua cửa; nhìn ra sân,
thầy thấy các bao lơn nhẹ nhàng như những tràng hoa giăng từ cửa sổ này đến cửa
sổ nọ, thì mấy buồng phía trước đã rộn ràng tiếng cười nói của các cô học sinh
đợi giờ học đầu tiên trong ngày.
Năm 1869, ông giáo được bổ nhiệm về dạy và làm hiệu phó trường
Nam trung học phố Nô-vô-lip-xki, bà giáo phải thích nghi với sự thay đổi này.
Không thể đến chỗ ở mới do chức vụ của chồng được thu xếp, đồng thời tiếp tục
quản lý kí túc xá và chăm sóc con cho chu đáo. Bà đành nhường lại trường tư thục,
lòng rất luyến tiếc, rời phố Phrê-ta, nơi trước đây ít lâu – ngày 7 tháng 9 năm
1867 – cô bé Ma-ni-a ra đời.
Ma-ni-a chưa hiểu nổi cái lý do khe khắt của những cử chỉ ấy
và nỗi cô quạnh mà mẹ em đang giam hãm mình vào. Bà giáo lâm bệnh nặng. Triệu
chứng lau phổi đầu tiên chớm nở ngay từ khi mới sinh Ma-ni-a cho đến nay đã năm
năm rồi, khám và chữa rất nhiều, bệnh vẫn cứ phát triển. Người đàn bà ngoan đạo
ấy rất can đảm, luôn luôn gọn gàng trong ăn mặc, bận rộn việc nội trợ, làm ra vẻ
như là mình vẫn khỏe. Nhưng bà tự ràng buộc vào một khuôn khổ chặt chẽ: dùng
thìa, bát riêng và không hôn hít các con. Mấy đứa trẻ chỉ biết phảng phất về
căn bệnh nguy hiểm của mẹ: thỉnh thoảng lại một cơn ho khan chúng nghe thấy từ
buồng bên, nét mặt rầu rĩ của ông giáo và một câu ngắn gần đây được thêm vào đoạn
cầu nguyện buổi chiều: “Cầu chúa cho mẹ chúng ta khỏe lại”.
Người mẹ trẻ đứng dậy đẩy nhẹ bé Ma-ni-a cứ bám chặt lấy váy
bà.
- Ma-ni-u-sa, cho mẹ yên nào. Mẹ bận.
- Con ở đây được không? Con đọc một tí mẹ nhé?
- Mẹ thích con ra vườn. Ngoài kia trời đẹp quá.
Cứ nói đến đọc sách thì đôi má Ma-ni-a lại ửng hồng. Năm
ngoái, Brô-ni-a ở thôn quê học chữ cái một mình thấy chán mới rủ bé chơi làm
“cô giáo, học trò”. Trong mấy tuần, hai chị em xếp các chữ bằng bìa cắt, đặt lộn
xộn. Rồi một buổi sáng, trong khi Brô-ni-a ê a đánh vần một bài rất dễ cho bố mẹ
nghe, Ma-ni-a sốt ruột giằng lấy sách đọc một mạch hết câu đầu. Mới đầu nó thấy
thích thú vì mọi người lắng nghe nên cứ kéo dài cái trò say sưa ấy. Nhưng bỗng
nó thấy sợ hãi. Sự kinh ngạc lộ trên mặt ông bà Xkhua-đốp-xki, còn Brô-ni-a thì
nhăn nhó, phụng phịu. Nó bập bẹ vài câu lí nhí rồi bật tiếng khóc không nén được.
Đứa trẻ xuất chúng giờ đây chỉ còn là một em bé bốn tuổi, đang nức nở, và nhắc
đi nhắc lại rất thiểu não:
- Con xin lỗi… con không cố ý, chẳng phải lỗi con… chẳng phải
tội của Brô-ni-a. Tại là dễ quá.
Tâm hồn trẻ thơ của nó chợt hiểu ra rằng có lẽ không bao giờ
được tha tội vì đã tập đọc sớm thế.
Từ buổi sáng đáng ghi nhớ ấy, Ma-ni-a làm quen dần với các mặt
chữ, và nếu không tiến bộ rõ rệt, đó là tại cha mẹ không bao giờ để em cầm đến
quyển sách. Là những nhà sư phạm thận trọng, ông bà Xkhua-đốp-xki không muốn
con học quá sớm; mỗi khi đứa bé giơ tay muốn lấy một trong những tập tranh có
chữ to để quanh trong nhà thì lại được gợi ý: “Con chơi xếp gỗ nhá! Búp bê của
con đâu rồi? Con hát cho mẹ nghe nào!”. Và như hôm nay: “Mẹ thích con ra vườn
hơn”.
- Con đi tìm chị Dô-sa vậy
- Cũng được.
- Dô-sa!
Qua cái sân nhỏ hẹp nơi hằng ngày chúng vẫn chơi “đuổi bắt”
và “bịt mắt bắt dê”, hai chị em cầm tay nhau đi dọc theo trường trung học, đến
một cái vườn lớn, cửa gỗ mọt ọp ẹp. Giữa bốn bức tường, những thảm cỏ lưa thưa,
những cây cao tù hãm thoảng một mùi đất, một hương vị đồng nội.
- Chị Dô-sa ơi! Bao giờ lại đi Dơ-vô-la đây?
- Sau tháng bảy mới đi cơ. Em còn nhớ Dơ-vô-la à?
Ma-ni-a có một trí nhớ lạ lùng, không quên cái gì hết. Cái
thác nước mùa hè năm ngoái mấy chị em bì bõm hàng giờ, mò đất nặn “những bánh
xà phòng” rồi đem phơi nắng trên một tấm ván ở một chỗ chỉ có chúng biết mà
thôi, đứa nào đứa nấy váy và yếm bùn bê bết. Bảy tám đứa trẻ rủ nhau trèo lên
cây chè già, đem theo cả cô bé có đôi tay quá yếu, đôi chân ngắn ngủn. Họ lấy
những lá cải vừa lạnh vừa giòn, phủ lên những cành to và gói trong những lá cải
khác, nào là quả dâu tây, củ cà rốt non mơn mởn, quả anh đào, để giấu trong hốc
tường cho tươi. Lại nhớ đến làng Mác-ki nữa, cái kho lúa nóng khiếp, Dô-dếp vẫn
đến học cửu chương, chúng chơi vùi Ma-ni-a dưới đống lúa. Còn bác Xkri-pốp-xki
mỗi lần đánh xe ngựa qua, hay quất cái roi da nghe đến là vui! À, còn đàn ngựa
của chú Xa-vi-ê nữa!
Bọn trẻ tỉnh thành ấy thường có những ngày hè say sưa như vậy.
Họ hàng đông chỉ một nhánh ra ở thành phố. Tỉnh nào cũng có hai dòng họ Xkhua-đốp-xki
và Bô-gu-xki làm ruộng, nhà cửa ở thôn quê tuy không rộng rãi lắm, nhưng cũng
có đủ buồng để đón ông giáo cùng gia đình về nghỉ mát. Do đó mặc dù hoàn cảnh bố
mẹ không lấy gì làm phong lưu lắm, Ma-ni-a chưa hề biết đến những nhà trọ tầm
thường tại những nơi nghỉ mát bình dân ở Vác-xô-vi. Và cứ mùa hè, cô bé gia
đình trí thức ấy lại trở thành một em gái thôn quê thật sự, đúng với bản chất
sâu xa của dòng họ.
- Chúng mình chạy thi nào… chị cuộc là sẽ đến cuối vườn trước
Ma-ni-a đấy. – Dô-sa vui vẻ thốt lên với giọng chững chạc của một chị cả.
- Em chả muốn chạy đâu. Em muốn nghe kể chuyện cơ.
Không ai biết kể chuyện như Dô-sa, cả ông giáo và bà giáo,
trí tưởng tượng của cô thêm thắt nhiều chi tiết li kì vào những giai thoại, những
chuyện thần tiên như những khúc biến tấu tài tình của một người chơi đàn rất giỏi.
Dô-sa còn tự nghĩ ra những đoạn hát kịch ngắn và đóng rất sôi nổi trước con mắt
ngạc nhiên của các em. Chúng hoàn toàn bị chinh phục bởi tài tác giả và nghệ
sĩ. Ma-ni-a lúc thì cười ngặt nghẽo, khi thì run bắn lên khi nghe những chuyện
hoang đường quái đản mà tuổi lên năm của nó khó mà theo dõi liên tục.
Hai chị em quay về nhà. Càng đến gần trường, Dô-sa càng hạ giọng,
và tự kiềm chế. Câu chuyện còn đang nghĩ và kể dở, cô bỗng dừng lại. Đi qua
gian nhà phía tay phải có cửa sổ treo rèm cứng, hai đứa bé im bặt.
Sau những rèm cửa ấy, có một con người mà gia đình ông giáo rất
ghét mà cũng rất sợ, đó là viên hiệu trưởng I-van-nốp, đại diện của chính phủ
Sa hoàng trong trường này.
*
Năm 1872. Còn ai khổ nhục bằng người dân Ba Lan “thuộc Nga” ở
vào hàng ngũ trí thức đa cảm, mà thần kinh đã căng thẳng, và đầu óc cách mạng
đang âm ỉ, họ cay đắng, nhức nhối hơn mọi tầng lớp khác vì ách đô hộ đè nặng
trên đầu.
Đúng một thế kỷ rồi, những vua chúa tàn bạo, lân bang đáng sợ
của một nước Ba Lan suy nhược đã quyết định bóp chết nước này. Đức, Nga, Áo đã
ba lần chia đi cắt lại mảnh đất đau thương đó. Người dân Ba Lan đã đứng lên chống
lại bọn đô hộ. Mỗi lần thất bại, cái thòng lọng buộc vào cổ họ lại càng thắt chặt.
Sau khi cuộc đảo chính oanh liệt năm 1831 không thành, Sa hoàng Ni-cô-lai I đã
ra lệnh trừng trị khốc liệt: hàng loạt người yêu nước bị tù đày, tịch thu tài sản.
Năm 1863, lại một lần dấy lên, lại một lần bị dìm trong máu.
Nghĩa quân chỉ có đinh ba, lưỡi liềm và gậy gộc chống với súng đạn của Sa
hoàng. Mười tám tháng chiến đấu thất bại, ngoài thành quách Vác-xô-vi dựng lên
năm giá treo cổ, thây bao người yêu nước vật vờ trước gió.
Sau thảm họa đó, bọn thống trị tìm mọi cách khuất phục nước
Ba Lan không cam tâm chịu chết. Từng đoàn tù chính trị tay cùm chân xích bị áp
giải đi Xi-bê-ri, đến những nơi quanh năm phủ tuyết. Hàng loạt người khác kéo
vào Ba Lan để Nga hóa vùng này. Đó là những cảnh sát, giáo sư, viên chức, mà
nhiệm vụ là do thám dân Ba Lan, khủng bố tôn giáo của họ, cấm đoán sách báo tiến
bộ, dần dần xóa bỏ tiếng nói của nước này, tóm lại, tiêu diệt linh hồn một dân
tộc.
Những cuộc đề kháng được tổ chức ngay ở hàng ngũ bên kia.
Kinh nghiệm xương máu cho người Ba Lan thấy rõ ràng lúc đó, thời cơ chưa đến để
giành lại tự do bằng vũ lực. Họ buộc lòng phải đợi và chống lại những nguy cơ của
sự chờ đợi là nhu nhược và chán nản.
Thế là cuộc chiến đấu thay đổi trận địa. Những anh hùng giờ
đây không còn là những chiến sĩ chỉ có liềm hái trong tay xông vào đám quân
Cô-dắc và ngã xuống, miệng hô như nhân vật Lu-i Mác-buyt nổi tiếng: “Sung sướng
thay được chết cho Tổ quốc ta!” mà là những trí thức, những nghệ sĩ, nhà tu
hành, thầy giáo – những người quyết định tinh thần của thế hệ mới. Sự dũng cảm
của họ là cố nén lòng, giấu những ý nghĩ tình cảm của mình, chịu nhẫn nhục bám
lấy những vị trí mà Sa hoàng còn thí cho họ để từ đó, có thể bí mật đào tạo lớp
trẻ, hướng dẫn đồng bào.
Thế là trong mỗi trường trung học ở Ba Lan, thường có mâu thuẫn
sâu sắc giữa những người chiến bại và những kẻ chiến thắng, những giáo sư bị
chèn ép và những hiệu trưởng do thám, những Xkhua-đốp-xki và những I-va-nốp, dưới
bề mặt lịch thiệp giả tạo.
Đặc biệt đáng ghét là tên I-va-nốp. Hắn không một chút thương
xót những người làm việc dưới quyền bị bắt buộc phải dạy trẻ nước mình bằng tiếng
Nga. Đương ngọt ngào, đường mật, hắn có thể trở mặt ngay, văng tục cục cằn, thô
lỗ. Tuy dốt đặc cán mai, hắn vẫn soi mói xem lại bài làm của các học sinh ngoại
trú để bới tìm “những cách nói Ba Lan”. Giữa I-va-nốp và ông Xkhua-đốp-xki quan
hệ trở nên lạnh nhạt như băng giá kể từ ngày ông giáo, muốn bênh vực học trò,
đã bình tĩnh nói thẳng vào mặt hắn: “Thưa ông I-va-nốp, em bé này chẳng qua chỉ
sơ ý nên mới viết lỗi. Bản thân ông còn có thể viết tiếng Nga sai, và rất nhiều
lần nữa là khác. Tôi chắc rằng cũng như những học sinh của tôi, hẳn ông không cố
ý…”
Dô-sa và Ma-ni-a đi chơi về, bước vào phòng ông giáo, thấy bố
mẹ đang nói chuyện về I-va-nốp. Ông Xkhua-đốp-xki khẽ bảo vợ:
- Bà biết không, tuần trước, ở nhà thờ, bọn học sinh năm thứ
hai tổ chức một buổi cầu nguyện “cho mong muốn tha thiết nhất của họ được toại
nguyện”. Chúng góp tiền với nhau để trả phí tổn và khăng khăng không cho cha xứ
biết điều mong muốn ấy là gì. Thế mà hôm qua, thằng Ba-đin-xki thú hết với tôi:
“Bọn con trai được tin là con gái tên I-va-nốp bị thương hàn, vì căm ghét hắn
mà chúng cầu kinh cho con bé chết đi”. Cha cố mà biết điều này thì hắn phát
điên lên vì đã vô tình nhận một trách nhiệm trọng đại như vậy.
Ông giáo tỏ vẻ thích thú về chuyện đó, nhưng bà giáo vốn
ngoan đạo nên không cười. Bà lúi húi với công việc đang làm, một công việc khá
vất vả: tay dao, tay dùi, bà khâu giầy. Nào người mẹ tần tảo ấy có nề hà một việc
gì. Từ dạo sinh nở và bệnh tật giữ chân ở nhà, bà đã học nghề đóng giầy và giờ
đây, những đôi giầy da mà đàn con đi mòn như phá chỉ tốn tiền da mà thôi. Cuộc
sống chẳng dễ dàng chút nào…
- Đôi này khâu cho con đấy, An-chiu à. Con xem, sẽ rất đẹp.
Ma-ni-a chăm chú nhìn đôi bài tay dài cắt đế, rút sợi dây nhớp
nháp. Bên cạnh, ông giáo ngồi thoải mái trong cái ghế bành ông ưng ngồi nhất…
chao, giờ mà trèo lên lòng bố thì thích nhỉ, tháo cái nơ bố thắt rất cẩn thận ở
cổ áo, đùa nghịch bộ râu màu hung trên khuôn mặt điềm đạm đang nở một nụ cười
hiền hậu…
Chuyện người lớn nghe chán lắm! Chỉ những I-va-nốp… cảnh sát…
Sa hoàng… đi đày… âm mưu chống đối… Xi-bê-ri… Những tiếng ấy vẫn rì rầm bên tai
Ma-ni-a kể từ khi mới lọt lòng, như bao hàm một ý nghĩ đáng sợ. Tự nhiên, đứa
bé lảng ra xa, sau này nó sẽ hiểu.
Rời chỗ bố mẹ đang trò chuyện, giọng nói thì thầm đầy yêu
thương, xen lẫn tiếng cắt da xoèn xoẹt và tiếng búa đóng đinh lách cách,
Ma-ni-a tha thẩn trong phòng để tâm hồn chạy theo những chuyện ngây thơ.
Ma-ni-a thích nhất phòng làm việc này mà nó thấy là đẹp hơn cả,
thú vị hơn cả trong nhà, một cái bàn giấy kiểu Pháp, rộng thênh thang bằng gỗ
đào hoa tâm, bộ ghế bành thời Phục hưng bọc nhung đỏ làm cho lòng em tràn đầy
trân trọng. Sao những đồ đạc này sạch sẽ thế, bóng loáng thế! Sau này, khi đến
tuổi đi học, Ma-ni-a sẽ được ngồi chỗ đằng đầu cái bàn giấy đồ sộ rất nhiều
ngăn kéo của ông giáo mà cứ mỗi buổi trưa, bọn trẻ quây quần xung quanh để làm
bài.
Bức họa Đức giám mục nghiêm trang đứng giữa khung mạ vàng
treo ở tường cuối buồng – mà trong nhà, chỉ trong nhà thôi, bảo là của họa sĩ
Ti-tiêng[4] – không làm Ma-ni-a chú ý bằng cái đồng hồ đá cẩm thạch vân xanh,
bóng loáng đặt trên mặt bàn giấy và chiếc ghế đẩu do một người anh họ mang từ
Pa-lec-mơ về năm ngoái. Mặt ghế là một bàn cờ mà mỗi ô làm bằng một mẩu đá hoa
khác nhau.
Có một cái giá đặt chiếc chén sứ Xe-vrơ màu xanh lơ trong vẽ
chân dung vua Lu-i thứ XVIII trông mặt rất hiền, nhưng vì bố mẹ cứ luôn nhắc là
không được sờ vào thành thử Ma-ni-a đâm ra sợ. Em cứ đi tránh cái giá rồi dừng
lại trước những đồ vật mà em thích nhất. Đó là cái phong vũ biểu kim vàng, nền
trắng trông rất nổi, ông giáo thường vặn lại và lau chùi rất đều đặn vào những
ngày nhất định, trước những cặp mắt chăm chú của đàn con. Rồi đến cái tủ kính
nhiều ngăn đựng bao nhiêu là thứ kỳ lạ và hấp dẫn: nào là ống thủy tinh, chiếc
cân bé nhỏ, mẩu quặng và có cả một cái điện nghiệm có lá bằng vàng. Trước kia,
ông giáo thường mang các đồ lề ấy đến lớp để giảng bài nhưng từ ngày có lệnh giảm
bớt những giờ khoa học thì cửa tủ luôn luôn đóng chặt.
Manya chưa hiểu được mấy thứ đồ chơi mê li đó dùng để làm gì.
Một hôm, em đang kiễng chân ngắm nghía, mồm há hốc ra, thì ông giáo nói: “Đó là
những dụng cụ vật lý”.
Cái tên nghe mới kỳ lạ.
Em không quên – Manya có hề quên cái gì bao giờ - và nhân lúc
đang vui, em cứ nhắc lại mãi mấy chữ đó, vừa đi vừa hát.
Chương 2
những ngày đen tối
Ma-ri Xkhua-đốp-xka.(Marie Skłodowska)
- Có tôi.
- Em hãy nói về Xta-ni-xlat O-gut-xtơ.
- Năm 1764, Xta-ni-xlat O-gut-xtơ Pô-ni-a-tốp-xki lên làm vua
nước Ba Lan. Người rất thông minh, giàu kiến thức, là bạn của văn nghệ sĩ. Người
hiểu thấu các tệ nạn làm suy yếu nước nhà và muốn tìm phương cứu chữa. Tiếc rằng
Người đã thiếu can đảm…
Em học sinh đứng trong hàng ghế thứ ba, gần cửa sổ cao trông
ra những thảm cỏ phủ tuyết của công viên Xắc-xơ đang đọc bài bằng một giọng dễ
thương, vững vàng. Em trông không khác các bạn mấy trong bộ đồng phục ở ký túc
xá may bằng thứ len mỏng màu lơ tím, khuy sắt. Cổ cồn trắng là thẳng đứng làm
cô bé lên mười trông như rụt cổ. Đâu rồi những búp tóc quăn luôn rối bời của bé
An-chiu xưa kia? Một mớ tóc bím quá chặt buộc bằng một cái dải vải bé, kéo bộ
tóc quăn ra sau hai tai nhỏ xinh xắn làm cho khuôn mặt cương nghị hóa ra tầm
thường. Một mớ tóc bím khác dày hơn cũng đã thay những “búp kiểu ăng-lê” của
Hê-la, chị của Ma-ni-a ngồi ở bàn bên. Theo nội quy của trường tư thục
Xi-coóc-ca, ăn mặc phải chỉnh tề, tóc chải nghiêm túc.
Cô giáo cũng chẳng diêm dúa gì hơn. Vả lại, với chiếc áo lụa
đen, cổ cồn không theo thời trang, cô Tu-pac-xca chẳng có gì là đẹp. Mặt thô và
xấu, được cái dễ thương. Các em thường gọi thân mật là cô Tup-sa. Cô dạy toán
và sử, đồng thời còn làm giám thị, thỉnh thoảng vẫn phải nghiêm khắc với tính
tình phóng khoáng và ngang bướng của “con bé Xkhua-đốp-xka”.
Tuy thế nhưng cô nhìn Ma-ni-a bằng ánh mắt âu yếm. Làm sao
không tự hào khi có một học trò xuất sắc như vậy. Ma-ni-a kém các bạn hai tuổi,
và đối với em, hình như không có gì là khó. Môn nào cũng nhất, toán, sử, văn, đều
nhất, nhất cả tiếng Pháp, tiếng Đức và kinh bổn.
Cả lớp im lặng như tờ. Một cái gì hơn cả sự lặng lẽ. Bài Sử mới
rồi tạo ra một không khí say sưa tha thiết. Hai mươi nhăm tâm hồn yêu nước ngây
thơ, nồng nàn, hai mươi nhăm cặp mắt bừng sáng cùng vẻ mặt khắc khổ của cô giáo
trẻ ánh lên một niềm hào hứng nghiêm nghị.
Maya nói đến một nhà vua đã mất từ bao nhiêu năm, giọng chan
chứa nhiệt tình.
- Tiếc rằng vua đã thiếu can đảm.
Từ cô giáo ít tươi cười đến các học trò nhỏ quá nghiêm túc học
lịch sử Ba Lan bằng tiếng mẹ đẻ, lớp học có vẻ như đang làm điều gì mờ ám.
Họ bỗng run lên, không khác gì những người âm mưu thật sự: từ
ngoài thềm, vừa có tiếng chuông điện rung kín đáo.
Hai tiếng dài, hai tiếng ngắn…
Một cảnh nhốn nháo hồi hộp nhưng lặng lẽ tức khắc diễn ra. Cô
Tup-sa đứng phắt dậy, thu vội sách vở tản mạn. Các quyển sách và vở viết bằng
tiếng Ba Lan trên các bàn học sinh cũng được những bàn tay nhanh nhẹn vơ hết và
chồng vào các tạp dề của năm học sinh. Họ biến thoắt sau cánh cửa thông sang buồng
ngủ nội trú. Có tiếng xô ghế, mở nắp và đóng nắp nhẹ. Năm cô bé thở chẳng ra
hơi quay về chỗ. Cửa phòng ngoài chầm chậm mở.
Lão Hoóc-no-be, thanh tra các ký túc xá của thành phố
Vác-xô-vi xuất hiện trên ngưỡng cửa. Người lão bó chặt trong bộ đồng phục đẹp
màu vàng, áo xanh lơ khuy bóng loáng. Thân hình nặng nề, tóc húi ngắn, mặt béo
phị, mắt rất sâu sau đôi kính gọng vàng.
Hắn nhìn học sinh không nói một lời. Cô hiệu trưởng
Xi-coóc-ca đi theo, đứng cạnh hắn, cũng nhìn các em – ngoài mặt thản nhiên
nhưng trong lòng lo sợ bằng chừng nào. Hôm nay, không hiểu sao khoảng cách thời
gian quá ngắn. Ngoài cổng vừa mới bấm chuông báo hiệu Hoóc-no-be đã đi trước
người hướng dẫn, bước lên thềm, vào trong lớp. Trời, không biết mọi việc có đâu
vào đấy không?
Đâu vào đấy cả. Hai mươi nhăm em gái nhỏ đang lúi húi học
khâu, ngón tay lồng trong đê, tập thùa khuyết trên những mảnh vải vuông xơ mép.
Kéo và chỉ để bừa ra trong các ngăn bàn rỗng. Cô giáo ngồi trên bục mặt đỏ gay,
gân trán hơi nổi, chưng ra một quyển sách mở in bằng chữ “chính thống”.
- Thưa ngài thanh tra, các em có hai giờ nữ công mỗi tuần. Cô
hiệu trưởng khoan thai nói bằng tiếng Nga.
Hoóc-no-be bước tới chỗ cô giáo:
- Cô vừa đọc to quyển gì đấy?
- Truyện cổ tích kri-lốp. Hôm nay chúng tôi mới bắt đầu. - Giọng
cô Tup-sa thản nhiên và đôi má cô cũng đã trở lại sắc thái bình thường.
Lơ đãng Hoóc-no-be mở một ngăn bàn gần nhất. Chẳng thấy gì
bên trong. Không một quyển sách, một quyển vở.
Các em cẩn thận đính xong mũi khâu và cái kim vào vải rồi xếp
công việc lại ngồi khoanh tay, im lặng, tất cả đều giống nhau trong trong bộ đồng
phục màu sẫm và cổ cồn trắng toát. Hai mươi lăm khuôn mặt trẻ thơ ấy bỗng già
đi, với một vẻ kín đáo che giấu nỗi sợ hãi, trí mưu mẹo, lòng căm ghét.
Hoóc-no-be nhận cái ghế Tup-sa trao cho, nặng nề ngồi xuống:
- Cô gọi cho tôi một học sinh.
Ma-ni-a ngồi bàn thứ ba tự nhiên quay mặt ra cửa sổ, nét mặt
đăm đăm. Lòng thầm cầu xin: “Lạy Trời, đừng gọi tôi! Đừng, đừng gọi tôi!”
Nhưng lại chắc chắn thể nào mình cũng sẽ được gọi. Đã thành lệ
rồi, mỗi lần có thanh tra chính quốc tới hỏi vấn đáp, bao giờ cô giáo cũng gọi
em học sinh thông thái nhất lớp và tiếng Nga rất giỏi.
Nghe gọi tên mình, Ma-ni-a đứng dậy. Em thấy nóng bừng à
không, lạnh toát cả người. Và thẹn đến chín dừ, cổ họng như tắc lại.
- Đọc kinh. - Hoóc-no-be buông một tiếng, dửng dưng chán chường.
Maya đọc một mạch bài kinh “Đức Cha của chúng ta” với một giọng
đều đều. Sa hoàng quả đã không tìm được cách làm nhục quái ác hơn là bắt các trẻ
em Ba Lan hằng ngày đọc kinh Thiên chúa giáo bằng tiếng Nga! Một mặt thì làm
như tôn trọng tín ngưỡng của các em nhưng đồng thời lại thóa mạ điều các em tôn
kính nhất.
Lại im lặng.
- Các Sa hoàng nào trị vì trên đất thánh Nga sau Ca-tơ-rin
II?
- Ca-tơ-rin II, Pôn I, A-léc-xang I, Ni-cô-lai I, A-léc-xang
II.
Lão thanh tra tỏ vẻ bằng lòng. Con bé có trí nhớ tốt. Và giọng
nói tiếng Nga mới hay làm sao! Cứ y như đẻ ở Pê-téc-bua vậy.
- Nói cho ta nghe tên và chức tước các vị trong Hoàng tộc.
- Đức hoàng hậu, Đức Hoàng tử Txa-rê-vích A-léc-xang, Đức Quận
công…
Danh sách dài, đọc một mạch làm Hoóc-no-be nhếch mép cười.
- Ừ, tốt đấy! - Lão không thấy – hay không muốn thấy vẻ mặt bối
rối và đanh lại của em gái đang cố nén bực dọc trong lòng.
- Danh vị của Nga Hoàng trong tôn ti quyền quý?
- Đức Hoàng đế.
- Còn chức tước của ta?
- Ngài đại thần.
Lão thanh tra thích thú về những chi tiết ngôi thứ ấy mà hắn
còn coi trọng hơn cả số học hay ngữ pháp. Hắn lại hỏi thêm.
- Ai trị vì chúng ta?
Những cặp mắt bốc lửa của cô hiệu trưởng và cô giám thị cố
chăm chú ngắm nghía quyển sách gọi tên đặt trước mặt. Chưa được ngay câu trả lời,
Hoóc-no-be cáu, sẵng giọng nhắc lại.
- Ai trị vì chúng ta?
- Đức Hoàng đế A-léc-xang II (Alexandre II), Sa hoàng của tất
cả nước Nga.
Ma-ni-a mặt tái nhợt, đáp lại, giọng nặng trĩu.
Cuộc lục vấn đã xong. Lão kia bước khỏi bục, khẽ hất đầu chào
rồi sang lớp bên cạnh, cô hiệu trưởng Xi-coóc-ca theo sau.
Lúc này, cô Tup-sa mới ngẩng đầu lên.
- Em lại đây, linh hồn bé nhỏ của ta.
Ma-ni-a ra khỏi hàng, bước đến gần cô giáo, cô lặng lẽ hôn
lên trán em. Và trong lớp học đang nhộn nhịp hẳn lên, em bé Ba Lan, thần kinh
quá căng thẳng bỗng òa khóc nức nở.
*
“Lão thanh tra đã đến! Lão thanh tra đã đến!”
Đàn em gái nhỏ ríu rít báo cái tin mới ấy cho các bà mẹ, các
chị đứng đợi ở cổng trường vào lúc tan học. Những nhóm học sinh mặc áo rét dầy
cộp, các người lớn to sù trong chiếc áo bông rảo bước tản nhanh trên vỉa hè phủ
tuyết đầu mùa, ai nấy chỉ nói chuyện thì thầm. Mỗi người lảng vảng ngoài đường,
mỗi anh chàng nghênh ngang bước trước các cửa hiệu, biết đâu chẳng là một tên
chỉ điểm?
Hê-la huyên thuyên kể lại câu chuyện buổi sáng cho cô Mi-sa-lốp-sca
thường gọi là cô Lu-sa – đến đón hai cháu.
- Hôm nay lão Hoóc-no-be hỏi Ma-ni-a nhiều lắm cô ạ. Nó trả lời
được cả. Thế rồi nó khóc cô ạ. Cháu nghe bạn cháu nói ở tất cả các lớp, lão
thanh tra không bới móc được điều gì.
Hê-la vốn tính bộc trực cứ rủ rỉ kể mãi, Ma-ni-a lững thững
bên cạnh, không hé nửa lời. Cuộc đối đáp đã qua được mấy giờ rồi mà em vẫn thấy
xúc động, bàng hoàng. Ma-ni-a rất ghét những lần sợ hãi bất thần như thế này.
Em không ưa lối đóng kịch nhục nhã, cứ phải nói dối, lúc nào cũng nói dối,
không đúng với lòng mình…
Sau lần lão Hoóc-no-be đến thăm trường, Ma-ni-a càng cảm thấy
đời mình có một nỗi buồn. Còn đâu em bé vô tư lự xưa kia? Bốn năm gần đây, bao
tai họa đã liên tiếp giáng xuống gia đình ông giáo làm cho em tưởng như một cơn
ác mộng.
Đầu tiên là bà giáo đi Ni-xơ cùng với Dô-sa. Cả nhà bảo
Ma-ni-a rằng mẹ đi nghỉ dưỡng ở bờ biển cho khỏi hẳn sẽ về. Một năm sau, gặp lại
mẹ thì thấy mẹ đã già xọp đi, không nhận ra nữa. Và số mệnh như đã định trước rồi.
Rồi đến thu 1873, một ngày ảm đạm sau kì nghỉ hè. Khi cùng với
gia đình trở về phố Nô-vô-lip-xki để tiếp tục làm việc vào năm học mới, ông
giáo thấy trên bàn giấy một lá công văn: theo lệnh trên, ông bị rút lương, đòi
nhà, cách chức hiệu phó.
Đó là cách trả thù của tên I-van-nốp đối với những người dưới
quyền không chịu cúi đầu nịnh nọt.
Sau nhiều lần đổi chỗ ở, gia đình Xkhua-đốp-xki chuyển đến một
căn nhà góc phố Ni-vô-li-xki và Các-mê-lít.
Hoàn cảnh ông giáo lúc này đã thay đổi, ngày càng túng bấn,
lúc đầu ông chỉ nhận hai, ba người trọ học, về sau đến năm, mười người vừa ăn, ở
và học tư, nhà thành như cái chợ, chẳng còn không khí gia đình thân mật ấm cúng
nữa.
Không chỉ vì địa vị đã sút kém hoặc vì muốn để vợ đi
Ri-vi-e-ra chữa bệnh mà ông giáo phải thu xếp như vậy. Cũng còn một lý do khác.
Đó là vì ông đã nhẹ dạ nghe người em vợ gọi chung vốn mua một cối xay máy để
tính chuyện làm giàu. Và con người vốn cẩn thận đó, bỗng chốc mất nhẵn ba mươi
nghìn rúp, kết quả một đời làm việc và ky cóp. Vừa hối, vừa tiếc, lại lo nghĩ về
tương lai, ông cứ tự trách là đã làm cho gia đình nghèo túng và mấy con gái mất
của hồi môn.
Nhưng chỉ cách đây hai năm – vào tháng giêng 1876 – Ma-ni-a mới
biết thế nào đau thương, bất hạnh. Một người học trò trọ học bị lên đậu đã lây
ra Brô-ni-a và Dô-sa (Sophia). Trời! Những tuần lễ khủng khiếp! Buồng bên này
bà mẹ lao cố nén cơn ho, buồng bên kia, hai cô gái lên cơn sốt rên rỉ và run lập
cập.
Rồi một buổi thứ tư, ông giáo gọi Dô-dếp, Hê-la và Ma-ni-a và
dẫn chúng đến với chị chúng. Dô-sa mặc toàn trắng nằm trong quan tài, mặt nhợt
nhạt và như mỉm cười, đôi tay chắp lại, đầu cạo trọc, nhưng trông mới đẹp làm
sao!
Lần đầu tiên, Ma-ni-a trông thấy cái chết. Lần đầu tiên, em mặc
một áo choàng đen đi đưa tang. Brô-ni-a mới khỏi nằm trong giường nức nở và bà
giáo kiệt sức không đi được, cố lê đến khắp các cửa sổ để nhìn theo linh cữu của
con gái chầm chậm đi xuôi phố Các-mê-lít.
*
- Này các cháu thân yêu, ta đi quành một tí nhé. Mùa rét đến
nơi rồi, cô phải mua trước ít táo.
Buổi chiều tháng một này ở vườn hoa Xắc-xơ như vắng ngắt. Cô
Lu-sa xinh đẹp và tốt nết thường tìm cớ dẫn các cháu đến đây, đi chơi cho
thoáng, khỏi gian nhà chật hẹp mà bà mẹ ho lao ngồi thẫn thờ suốt ngày. Nếu lây
thì đến khổ! Hê-la còn khá, chứ em nó thì xanh lướt như tàu lá, yếu thế kia!
Ba cô cháu rảo bước qua vườn, đi đến khu phố cổ của
Vác-xô-vi. Ma-ni-a đẻ ở nơi này đây. Đường phố trông vui hơn ở trong thành phố
mới. Tại quảng trường Xta-rơ Mi-at-xtơ (Thành phố cổ) nhà nào nhà nấy mái dốc đồ
sộ, mặt nhà màu xám phô bày hàng nghìn chạm trổ: nào là đường gờ, nào là hình
thánh hoặc hình súc vật đã biến thành biển hàng cho các quán trọ và các cửa hiệu.
Tiếng chuông nhà thờ đối đáp nhau ở nhiều điệu thức trong bầu
không khí giá lạnh, gợi lại bao kỉ niệm về thời thơ ấu. Lễ rửa tội ở nhà thờ
Xanh Ma-ri, lễ chịu mình thánh ở nhà thờ Đô-mi-ni-canh. Ma-ni-a vẫn còn nhớ mãi
cái ngày ấy, cùng với Ha-ri-ét, một cô em họ thề với nhau sẽ không ghé răng cắn
vào bánh thánh. Ở nhà thờ Thánh Pôn, cứ chủ nhật, các cô bé thường đến nghe giảng
đạo bằng tiếng Đức.
Quảng trường Nô-vơ Mi-at-xtơ (thành phố mới) bốn bề lộng gió,
thoáng đãng, vắng vẻ, cũng rất quen thuộc đối với Ma-ni-a. Gia đình ông giáo đã
đến đây một năm sau khi rời khỏi trường. Mỗi sáng, em cùng mẹ và các chị đến
nhà thờ Đức bà, một kiến trúc rất độc đáo khang trang. Cái tháp vuông và các
khu xây bằng đá đỏ đã mòn nhẵn vì thời gian như bám vào ngọn đồi cao chế ngự
dòng sông.
Hai em bé theo cô Lu-sa bước vào nhà thờ, Ma-ni-a bước qua
khung cửa kiến trúc kiểu gô-tích, đi thêm vài bước trong bóng tối rồi quỳ xuống.
Em rùng mình, hôm nay đến đây chạnh nhớ Dô-sa, thật chua xót, Dô-sa không còn nữa
và thiếu cả người mẹ có tính tình thần bí mà Chúa hình như chẳng đoái hoài.
Ma-ni-a cầu khấn với lòng tin dạt dào vào chúa. Em cầu chúa
đem lại sức sống cho mẹ em, người mà em yêu quý nhất đời, với tất cả lòng tha
thiết nhưng cũng với một nỗi tuyệt vọng, em xin hiến dâng đời mình để đánh đổi
điều cấu nguyện đó. Em sẵn sàng chết để mẹ em được sống.
Cô Lu-sa và chị Hê-la cũng cúi đầu gần đây, khấn khấn, niệm
niệm…
Ba cô cháu ra khỏi nhà thờ, bước từng bậc mấp mô xuống tận bờ
sông. Dòng sông Vit-xtuyn trải ra mênh mông, không có vẻ dịu tính chút nào. Nước
sông vàng bệch uốn quanh những cồn cát bồi thành những hòn đảo nhàn nhạt nhấp
nhô giữa dòng. Nước vỗ vào hai bờ khúc khuỷu, chen chúc nhà tắm và bến giặt, mấy
chiếc thuyền nghỉ mát, hình thon dài màu xám, mùa hè nhộn nhịp những đoàn người
đi chơi sông là thế mà bây giờ nằm im, buồm, cột tháo dỡ hết, chỉ còn quanh đám
thuyền táo là tấp nập. Hai chiếc xuồng to, hẹp và nhọn đằng mũi, nước mấp mé đến
tận mạn.
Chủ thuyền vùi mình trong một tấm da cừu, bới từng ôm rơm rạ
cho khách mua xem hàng. Dưới ổ rơm mềm mại phủ lên để chống băng giá, những quả
táo đỏ mọng, rắn tươi, bóng loáng trông rất thích mắt. Có đến hàng nghìn quả chất
đầy khoang thuyền: Táo vùng Vit-xtuyn thượng phải mất bao nhiêu ngày mới từ
thành phố Cac-dơ-mia đẹp đẽ xuôi thuyền về tới đây.
- Để cháu chọn, cháu chọn táo cho…
Hê-la mừng rỡ nói rối rít. Ma-ni-a cũng vội bỏ cặp xuống rồi
cởi bao tay ra.
Không gì thích hơn những lần đi mua táo như thế này: nhặt từng
quả, ngắm chọn kỹ rồi bỏ vào một cái giỏ mây, quả nào thối quăng ngay xuống
sông rồi nhìn theo dòng nước cuộn xoáy tròn. Được đầy giỏ rồi lên bờ, tay ai nấy
cầm một quả táo đẹp đẽ hơn tất cả…
Táo lạnh, cắn vào răng kêu ken két, ăn thật tuyệt. Cô Lu-sa mặc
cả và thuê một em bé mặt đầy trứng cá đứng cạnh đấy bưng giỏ về nhà.
*
Sau bữa chiều, lúc năm giờ, mấy chị giúp việc đã lau dọn bàn
và thắp cái đèn dầu to treo giữa nhà. Đã đến giờ học. Các cậu học sinh trọ học
đã quay về phòng của họ, cứ hai ba người chung một phòng. Con trai và mấy con
gái ông giáo ở lại buồng ăn, lúc này đã thành buồng học. Ai nấy đem sách vở ra,
rồi chỗ nào cũng rì rầm tiếng học, những âm thanh dai dẳng sẽ hàng nhiều năm nữa
là chủ đề chính trong điệu nhạc của ngôi nhà này.
Vẫn những giọng đọc quen thuộc ê a những câu thơ La Tinh, những
niên hiệu lịch sử hoặc những đầu bài toán. Trong cái nhà máy kiến thức này, nơi
nào người ta cũng phải trầy trật gian khổ. Thật khó khăn đấy. Một bài toán chứng
minh bằng tiếng mẹ đẻ thì ai cũng hiểu ngay, nhưng tiếng Nga – tiếng chính thống
– thì không lần ra được, càng không thể nhắc lại. Đã bao phen trò chán nản, thầy
lại phải động viên, dỗ dành.
Nhưng Ma-ni-a không biết nỗi khổ ấy. Em có trí nhớ tài tình đến
nỗi chỉ cần đọc hai lượt một bài thơ là thuộc lòng không sai chữ nào. Các bạn cứ
đổ cho là gian lận, lén học từ trước. Ma-ni-a thường làm xong bài trước các bạn
và nhiều khi ngồi rỗi và do dễ dãi tự nhiên, em vẫn giúp một bạn gái đang bí.
Nhưng em thích nhất là như chiều hôm nay, ngồi ở cái bàn to,
trước quyển sách mở, khuỷu chống lên bàn, tay đỡ lấy trán, hai ngón cái bịt lỗ
tai để khỏi nghe Hê-la đang “gào” bài. Cẩn thận như vậy xét ra cũng chẳng cần
thiết. Vì chỉ một lúc sau, em đã mê mải đọc, không để ý gì đến xung quanh nữa.
Tài tập trung cao độ ấy là điều lạ lùng duy nhất ở đứa bé
bình thường và khỏe mạnh đó, làm mấy chị và chúng bạn rất thích bông đùa. Nhiều
lần với sự thông đồng của bọn học sinh ký túc, Brô-ni-a và Hê-la đã khua gõ loạn
xạ xung quanh Ma-ni-a đang vùi đầu vào quyển sách vẫn không làm cho em ngước mắt
lên.
Chiều nay lúc các chị muốn tìm ra những trò chơi hay hơn, nhất
là có thêm Hăng-ri-ét, con cô Lu-sa, họ càng nghịch tợn. Họ kiễng chân đi rón
rén, xếp chồng ghế cái nọ lên cái kia chung quanh Ma-ni-a đang ngồi yên như pho
tượng. Mỗi bên đặt hai ghế, đằng sau lưng đặt một, chồng hai cái khác lên bốn
cái trước, và một cái trên cùng, như một giàn giáo. Xong họ rút lui lặng lẽ, giả
vờ làm việc và đợi.
Ma-ni-a vẫn không biết gì cả, không để ý đến những tiếng rì rầm
to nhỏ, những chuỗi cười khúc khích cố nén lại, và cả đến bóng mấy chiếc ghế
trên mái tóc và người em, suốt nửa giờ ngồi như thế, dưới cái tháp chênh vênh sắp
đổ mà không biết. Đọc xong chương sách, cô mới ngẩnh đầu lên. Một tiếng rầm, mấy
chiếc ghế đổ nhào. Hê-la thích thú cười la inh ỏi, Hăng-ri-ét và Brô-ni-a sợ bị
phản ứng, vội né ra xa.
Nhưng Ma-ni-a vẫn thản nhiên, không tỏ ra bực mình và cũng
không cười cái trò tinh quái đã làm cho em một phen hoảng sợ. Đôi mắt màu tro
trông hớt hơ hớt hải như người đương mê ngủ choàng tỉnh. Em xoa chỗ vai trái bị
ghế đập phải, nhặt sách lên và sang phòng bên. Đi qua các chị lớn, em chỉ nói:
“Chả hay gì cả!”
Câu trách nhẹ nhàng, nhưng các chị cũng không bằng lòng lắm.
Những lúc miên man đọc sách quên hết cảnh vật bên ngoài là
Ma-ni-a thấy lại thời thơ ấu rực rỡ của mình. Em say sưa đọc: sách giáo khoa,
văn thơ, truyện phiêu lưu, sách kỹ thuật, tất cả những sách vở có trong tủ sách
của bố. Và dầu chỉ vài giờ ngắn ngủi, em đã đẩy xa những con ma vẫn hằng ám ảnh
mình. Em quên hết, những tên do thám của Sa hoàng, những cuộc đi kiểm tra trường
của lão Hoóc-no-be, quên cả vẻ mặt phờ phạc của bố suốt ngày tất bật trong những
công việc tầm thường, quên đi gian nhà không lúc nào ngớt tiếng động, ồn ào,
huyên náo, và sáng sáng cứ phải dậy thật sớm, lúc trời còn tối đen, đang ngái
ngủ đã phải rời cái ghế tràng kỷ lót nhung để nhường chỗ cho các học sinh trọ học
ăn sáng vì buồng ăn trong nhà cũng là buồng ngủ của mấy đứa con ông giáo.
Và Ma-ni-a quên tất cả mọi nỗi lo âu khiếp đảm, lo sợ kẻ áp bức,
lo sợ về tôn giáo, lo sợ bệnh hoạn và chết chóc. Bản năng tự nhiên đã thúc đẩy
em tìm cách thoát khỏi cái không khí nặng nề ấy.
Những giây phút lãng quên quá đỗi ngắn ngủi. Chợt nhớ ra, là
lại thấy tất cả, và bắt đầu là nỗi lo âu về bênh lao của mẹ đã quá trầm trọng.
Người đàn bà trước kia khỏe đẹp thế, nay chỉ còn cái bóng. Không lời an ủi nào
đánh lừa được Ma-ni-a nữa. Em cảm thấy rằng sự say mê ngưỡng mộ, lòng yêu mẹ vô
hạn, lời cầu khẩn thiết tha của mình sẽ không còn đủ sức mạnh ngăn cản được diễn
biến khủng khiếp đang đến gần.
*
Bà giáo cũng nghĩ đến sự kết thúc khó lòng tránh khỏi đó. Bà
muốn rằng khi nó đến thì mình đã sẵn sàng, không để nó làm đảo lộn nếp sống ở
gia đình. Ngày 9 tháng 5 năm 1879, bà đã yêu cầu thầy thuốc nhường chỗ cho cha
cố. Chỉ cha cố sau này mới thấu nỗi sầu muộn của người đàn bà ngoan đạo ấy, đau
buồn vì phải để lại cho chồng thân yêu cáng đáng bốn đứa con thơ và lòng luôn
luôn bị vò xé mỗi khi nghĩ đến tương lai của chúng, đến cái An-chiu mới mười
hai tuổi đầu.
Trước mặt chồng con, bà chỉ lộ ra những nét nguôi dịu, đến giờ
phút cuối cùng càng cao đẹp khác thường. Bà chết như lòng mình đã từng mong muốn,
không mê, không lẫn. Trong căn phòng sạch sẽ, chồng, con trai, con gái đứng
quanh giường bệnh. Đôi mắt dài màu xám, sầu ải, đã mờ đi vì cái chết sắp đến, hết
nhìn chồng lại đến con, như muốn xin lỗi vì mình đã gây ra nỗi đau thương ấy.
Bà còn đủ nghị lực để vĩnh biệt từng người, rồi lịm dần.
Sự sống chỉ còn là một tia lửa hiu hắt. Bà chỉ có một cử chỉ
và một lời nói cuối cùng.
Cử chỉ là bàn tay run rẩy làm dấu chữ thập để cầu phúc cho cả
nhà.
Lời cuối cùng, thì thầm trong hơi thở hắt ra, con người hấp hối
nhìn chồng và con, vĩnh biệt: “Ta yêu tất cả”.
*
Trong căn nhà phố Các-mê-lít, Ma-ni-a lại mặc áo tang đen một
lần nữa, thờ thẫn âu sầu, đi đi lại lại. Em chưa thể quen được khi đến tối chị
Brô-ni-a sang ngủ ở buồng mẹ mới chết, chỉ còn Hê-la ngủ cùng em trên chiếc
tràng kỷ nệm nhung. Em cũng chưa quen ngay được với bà quản gia mà ông giáo phải
nhờ đến giúp hằng ngày, sai khiến người làm, sắp đặt hai bữa ăn cho nhóm học
trò và chăm lo qua quýt việc ăn mặc, tắm rửa cho bọn trẻ. Ông giáo còn thì giờ
nào rỗi để dành hết thời gian cho đàn con côi, như gà trống nuôi con, vụng về
và cảm động biết bao.
Cuộc sống đã sớm chỉ cho Ma-ni-a biết đời đầy khắc nghiệt: khắc
nghiệt với các dân tộc, khắc nghiệt với con người. Dô-sa đã chết, bà giáo cũng
đã chết. Thiếu tình âu yếm dịu dàng của mẹ, thiếu sự chăm sóc thương yêu của chị
cả, em đã lớn lên trong cảnh cô quạnh nhưng không hề có một lời than thân.
Một sự chịu đựng dũng cảm nhưng không nhẫn nhục. Giờ đây, mỗi
lần Ma-ni-a đến quỳ ở nhà thờ, nơi mà xưa kia, em vẫn thường đến với mẹ, em bắt
đầu cảm thấy âm thầm uất hận.
Em không còn cầu chúa với tất cả lòng thành kính năm xưa nữa.
Em thấy chúa bất công vì đã giáng xuống đời em những tai họa khủng khiếp, đã dập
tắt xung quanh em niềm vui, trí tưởng tượng và cảnh êm đềm.
Chương 3
tuổi niên thiếu
Lịch sử mỗi gia đình thường có một thời nảy nở toàn diện. Có
những lí do bí ẩn làm cho một thế hệ bỗng trỗi lên hơn hẳn mọi thế hệ trước và
mọi thế hệ sau nó về tài năng dồi dào, sức sống rạng rỡ, sắc đẹp khác thường và
thành công lớn lao.
Thời đó đã đến với nhà ông giáo, mặc dầu vừa mới phải góp phần
bất hạnh với đời. Thần chết đã bắt mất Dô-sa, một trong năm đứa con thông minh
và nồng nhiệt. Nhưng bốn đứa còn lại, bốn thiếu niên, con của một bà mẹ chết vì
lao và một người cha trí thức làm việc đến kiệt sức, họ mang trong mình một sức
mạnh không gì chống nổi. Họ sẽ thắng mọi tai họa, đạp bằng mọi trở ngại, và sẽ
đều trở thành những con người khác thường.
Vào buổi sáng mùa xuân tràn đầy ánh nắng đó, năm 1882, bốn
anh em ngồi quây quần ăn lót dạ quanh chiếc bàn to. Trông họ đẹp làm sao! Hê-la
(Helena) 16 tuổi, nhớn và duyên dáng, đúng là “Cô gái xinh nhất nhà”; Brô-ni-a
(Bronislawa)mặt mày đầy đặn, tóc vàng, nước da mịn màng như hoa, anh cả Dô-dếp
(Jozef) trong chiếc áo quàng trắng sinh viên khoa y, trông vạm vỡ như một lực
sĩ phương Bắc.
Còn Ma-ni-a (Manya)? Hiện nay còn ít tuổi nên em không đẹp bằng
các chị. Nhưng cô gái tròn lẳn trong bộ đồng phục nữ sinh có khuôn mặt tươi cười
tinh nghịch, mắt và tóc màu nhạt và nước da sáng ngời của những thiếu nữ Ba
Lan.
Chỉ hai cô gái út bận đồng phục. Hélena vẫn học trường tư thục
Xi-coóc-ca, mặc màu xanh lơ. Manya mười bốn tuổi, là học sinh xuất sắc tại trường
trung học của nhà nước, mặc màu hạt dẻ. Chính Brô-ni-a (Bronia) cũng đã tốt
nghiệp trường này, năm ngoái, với huy chương vàng làm cho cô vẻ vang thực sự.
Dô-dếp (Józef ) cũng được huy chương vàng khi tốt nghiệp
trung học, anh đang học Y. Các em gái khâm phục anh và cũng mong muốn được học
lên đại học như anh. Sớm có hoài bão học cao, hiểu rộng, cả ba chị em đều nguyền
rủa cái luật lệ khắc nghiệt không cho con gái vào trường đại học ở Vác-xô-vi
(Varsovie). Nghe anh Dô-dếp (Józef ) kể về trường đại học của Sa hoàng, các cô
rất háo hức. Nhưng thật ra nó cũng tầm thường, vì ở đó, thầy người Nga thì đầy
tham vọng, còn thầy người Ba Lan thì tâm hồn nô lệ.
Vui chuyện không làm cho mấy anh em ăn kém một miếng nào. Chỉ
thoáng một lúc, bánh mì, kem, bơ, mứt đã hết nhẵn.
- Anh Dô-dếp (Józef) ơi, chiều nay tập vũ, anh đi bước nam
cho chúng em nhé!
Đó là lời của Hê-la (Hela), và cô không quên một việc quan trọng:
- Chị Brô-ni-a (Bronia) này, áo của em mà đem là phẳng phiu
liệu còn mặc được không?
- Chẳng còn cái nào khác thì đành mặc vậy chứ sao! – Brô-ni-a
(Bronia) triết lý trả lời. - Ba giờ chiều nay, khi nào em về, ta sẽ lo đến việc
đó.
- Áo các chị đẹp lắm – Ma-ni-a nói.
- Mày còn bé, đã biết cái gì!
Họ tản đi. Brô-ni-a thu dọn bàn ăn. Dô-dếp ôm sách vở biến mất.
Hê-la và Ma-ni-a (Manya) xô nhau chạy xuống bếp.
- Bánh mì của em đâu? Xúc xích của em đâu? Bơ đâu rồi?
Ăn sáng no nê thế mà hai cô nàng còn lo đến thức ăn buổi ra
chơi hồi mười một giờ: một chiếc bánh mỳ nhỏ, một cặp dồi ngắn và to làm theo
kiểu Ba Lan, một quả táo, tất cả nhét trong túi vải.
Ma-ni-a cài túi thức ăn chật căng và ném cặp sách lên vai.
- Nhanh lên cô ả! Chậm rồi, chúng bạn đang đợi đây! – Hê-la
giễu thế rồi cũng sửa soạn đi.
- Không đâu! Mới tám giờ rưỡi. Chào chị
Cô bé vội xuống cầu thang, trước hai anh trọ học. Họ cũng đến
trường, nhưng chậm hơn.
Trường trung học, kí túc xá, trường tư thục… mấy tiếng đó
luôn quện lấy tuổi thơ trẻ của Ma-ri. Ông giáo dạy ở trường trung học, Brô-ni-a
tốt nghiệp trường trung học, Ma-ni-a đi học trường trung học, Dô-dếp học đại học,
Hê-la học trường tư thục. Cả đến ngôi nhà mấy bố con đang ở cũng không khác gì
một trường học. Cô chắc hẳn phải tưởng tượng như cả thế giới là một trường
trung học khổng lồ chỉ có thầy và trò mà một lý tưởng là học, học mãi.
Từ dạo gia đình rời phố Các-mê-lít ảm đạm để dọn sang phố
Le-skô. Vấn đề trọ học cũng đỡ phiền toái một chút. Ngôi nhà đẹp đẽ, kiểu cách,
có một cái sân tịch mịch, chim bồ câu xám gù gù, dây leo hoa tím phủ kín các
bao lơn. Tầng gác trên khá rộng nên mấy bố con ông giáo ở riêng bốn buồng tách
hẳn với đám học sinh trọ học.
Phố Le-skô cũng “ra vẻ” lắm, lòng đường rộng rãi giữa hai dãy
nhà đồ sộ. Không còn thấy lối kiến trúc Xla-vơ độc đáo nữa. Trong khu phố lịch
sự này, cái gì cũng gợi tính cách Tây Âu, từ nhà thờ Tin lành phía trước mặt đến
ngôi nhà nhiều cột hoàn toàn xây theo kiểu Pháp ở phố Ry-man-xca.
Cặp sách đeo gọn sau lưng, Ma-ni-a chạy vội đến biệt thự bá
tước Da-moi-xki, quen gọi là “Lâu đài xanh”. Cô tránh cổng giữa mà đi sang một
cái sân cổ xưa có một con sư tử bằng đồng đen ngồi chồm chỗm như canh giữ. Bất
giác, cô dừng lại, thất vọng. Sân vắng ngắt. Đang định quay ra thì nghe gọi giật:
- Ma-ni-u-sa, đừng vội đi, Ca-di-a nó đang xuống đấy.
- Ồ, bác đấy ạ, cám ơn bác.
Từ cửa sổ tầng dưới cùng, bà Psi-bô-lốp-xka, vợ ông thủ thư của
bá tước Da-moi-xki có bộ tóc quấn trần đầy bím, trìu mến nhìn cô bé má phính,
đôi mắt tinh anh, thân với con gái mình từ hai năm nay.
- Đến trưa, tan học, cháu về đây ăn bánh. Bác sẽ làm bánh ngọt
với món sô-cô-la đường mà cháu thích.
- Đúng rồi, đằng ấy đến ăn bánh với mình nhé – Ca-di-a chạy vội
xuống cầu thang, khoác tay bạn – Rảo bước lên Ma-ni-a ạ. Muộn rồi đấy.
- Ừ, mình đang định quay cái vòng của con sư tử lên.
Ngày nào Ma-ni-a cũng đến rủ Ca-di-a cùng đi, hẹn đợi nhau dưới
vòm nhà. Nếu không thấy ai, cô nhấc lại cái vòng nặng ở mõm con sư tử bằng đồng
đen, quay ngược ghếch trên mũi con vật rồi tiếp tục đi đến trường. Ca-di-a nhìn
cái vòng biết là bạn mình đã đi qua rồi, phải bước gấp mới đuổi kịp.
Ca-di-a là một cô bé rất tuyệt, vui tính, niềm nở, được bố mẹ
chiều. Ông bà Psi-bô-lốp-xki rất quý Ma-ni-a, coi như con, cố bù đắp thiệt thòi
cho đứa trẻ mất mẹ. Nhưng cứ nhìn qua nhiều chi tiết nhỏ trong cách ăn mặc và
dáng điệu của hai cô nữ sinh cùng đồng phục màu hạt dẻ, cũng dễ đoán là một đằng
được nuông chiều, mỗi sáng mẹ chăm chút chải đầu và quấn dải mầu vào tóc, một đằng
lớn lên, đã mười bốn tuổi, trong một gia đình mà không ai có thì giờ săn sóc đến.
Hai đứa bé khoác tay nhau đi dọc theo phố Da-bi-a chật hẹp. Mới
xa nhau từ bữa ăn sáng hôm qua mà đã có lắm chuyện muốn kể với nhau. Những chuyện
về trường trung học ở đại lộ Kra-lô-kốp.
Từ ký túc xá Xi-coóc-ca có phong thái Ba Lan thuần túy chuyển
đến một ngôi trường chính thống có xu hướng thân Nga rõ rệt là một thay đổi lớn
đối với Ma-ni-a. Một thay đổi cần thiết. Chỉ những trường trung học của Sa
hoàng mới cung cấp bằng có giá trị. Để phản ứng, Ma-ni-a và Ca-di-a thích nhạo
báng các giáo sư từ Nga sang, có lão mục sư Mê-din dạy tiếng Đức chán ngấy và mụ
giám thị May-e mà các em ghét cay ghét độc.
Người bé choắt, tóc râu bóng nhẫy, đi giầy vải đế êm – để dễ
rình mò – mụ May-e là kẻ thù số một của cô gái Ba Lan. Mụ đổ lên đầu cô trăm thứ
tội: nào là bướng bỉnh, khó bảo, nào là “có cái cười khinh khỉnh” mỗi khi nói
chạm đến nó. Rồi luôn mồm:
- Cái con Xkhua-đốp-xka ấy à. Hơi sức đâu mà đối khẩu với nó.
Bộ tóc quăn của Ma-ni-a làm cho mụ May-e lộn ruột, mụ cho là
“bù xù và trông khỉ lắm”. Thế là mụ lấy bàn chải, chải tuột những mớ tóc ngạo
ngược, mụ muốn biến em thành một cô gái Đức bím tóc thật chặt. Nhưng mụ vừa mới
rời tay lược thì mấy mớ tóc nhẹ nhàng, nhún nhảy lại hiện trên khuôn mặt tươi tắn
mà đôi mắt ngây thơ cứ chằm chằm vào cái dây buộc tóc óng ánh của mụ giám thị.
- Tao cấm mày không được nhìn tao như thế. Cái kiểu đâu như bề
trên nhìn xuống! – Mụ cáu tiết rít lên.
- Nhưng tôi không thể làm khác được.
Một lần không nén được, Ma-ni-a trả lời như vậy, vì cô cao
hơn mụ May-e một đầu.
Không ngày nào không xảy ra đôi co như thế giữa cô học sinh
khao khát tự do và mụ đàn bà khe khắt.
Cơn giông tố dữ dội nhất nổ ra năm ngoái. Đó là lần mụ May-e
bất ngờ bước vào lớp, bắt gặp Ma-ni-a và Ca-di-a nhảy múa vui mừng giữa bàn ghế
đang lúc có lệnh phải để tang Sa hoàng A-lếch-xăng II bị ám sát.
Sự o ép về chính trị có một hậu quả đáng buồn là gây cho lớp
người bị đè nén một tình hình khắc nghiệt. Ma-ni-a và Ca-di-a có một tâm hồn dịu
hiền và tấm lòng quảng đại, nhưng vẫn đôi khi có những cái hằn học xa lạ với
người dân tự do và các cô không thoát khỏi cái luân lý của những người nô lệ -
lấy chống đối làm nết tốt và coi vâng lời là hèn nhát.
Hai cô rất mến thầy dạy toán, ông Glát trẻ đẹp và thầy
Xua-xa-ki dạy sinh vật là những người Ba Lan chân tình. Với thầy người Nga,
thái độ của các cô có nhiều mức độ. Nghĩ gì về ông Mi-li-ê-sin bí ẩn, muốn thưởng
học trò, đã im lặng tặng một tuyển tập thơ Nê-cra-xốp, một nhà thơ cách mạng.
Các nữ sinh ngạc nhiên nhận ra những cử chỉ đoàn kết kín đáo ngay ở phía hàng
ngũ thù địch. Sa hoàng đâu chỉ có những thần dân trung thành!
Lớp học của Ma-ni-a có cả học sinh Ba Lan, Do Thái, Nga và Đức.
Giữa họ, không có gì là xung khắc trầm trọng. Cùng trẻ tuổi, lại cùng đua nhau
học hành, họ tạm lãng quên sự khác nhau về chủng tộc, hoặc về tâm tư. Nhìn học
trò giúp nhau học tập hoặc vui đùa trong giờ chơi thì tưởng như họ rất hòa thuận.
Nhưng khi ra khỏi trường, ai nấy lại quay về với tiếng nói riêng, lòng yêu nước
và tín ngưỡng của mình. Chị em Ba Lan cùng cảnh áp bức thường đi thành nhóm
riêng, dần dà cũng ăn quà trưa chung với nhau, không thích mời bạn khác đến dự.
Ngoài công viên La-gien-ki mà Ma-ni-a hay lui tới những lúc rảnh
rang thì vườn Xắc-xơ là nơi cô thích nhất ở thành phố quê hương, hàng nhiều năm
nữa cô sẽ mãi gọi là “Vác-xô-vi yêu mến của tôi”.
Qua cổng sắt đôi bạn gái đi dọc theo con đường dẫn đến lâu
đài. Hai tháng trước, ngày nào các cô cũng mang ủng lội vào các vũng bùn lớn cố
giữ sao cho nước chỉ đến cổ giầy, không để ngập hẳn. Nay mùa khô, lại có những
trò khác, đơn giản nhưng cũng làm hai chị em cười chảy nước mắt. Thí dụ trò miếng
“xanh”.
- Có đi mua vở với tao không? – Ma-ni-a thản nhiên hỏi bạn –
Có nhiều quyển vở rất đẹp, bìa “xanh”.
Ca-di-a đã thủ thế rồi. Thoạt nghe tiếng “xanh” cô đã chìa ra
một miếng nhung xanh giấu trong túi. Thế là không thua cuộc. Ma-ni-a làm như
không chơi nữa, lái câu chuyện về bài sử thầy giáo đọc cho chép hôm qua, nói rằng
Ba Lan là một tỉnh, tiếng Ba Lan là một tiếng địa phương và người Ba Lan vô ơn
bạc nghĩa đã làm Sa hoàng Ni-cô-lai I – thật đã yêu họ quá đỗi – phải buồn rầu
mà chết!
- Tuy vậy, lão ta cũng ngượng về những chuyện xằng bậy ấy.
Mày có thấy mắt lão len lét không? Cái mặt trông đến tởm!
- Ừ, mặt lão “xanh lè”. – Ca-di-a thản nhiên nói. Nhưng tức
khắc đã thấy lất phất trước mũi một lá cây dẻ màu xanh non.
Trước mặt đám trẻ đang chơi nhà bằng cát và nhảy vòng, hai cô
gái cười như nắc nẻ. Qua dãy cột thanh thanh của cung điện Xắc-xơ, rồi qua một
quảng trường lớn, Ma-ni-a chợt kêu lên:
- Ta đi qua đài kỷ niệm rồi, phải quay lại thôi!
Không nói một lời, Ca-di-a cũng quành lại.
Hai cô đãng trí đã phạm một lỗi không tha thứ được. Chả là ở
giữa quảng trường Xắc-xơ dựng một cột lưu niệm tráng lệ, với bốn con sư tử đá
chầu bốn bên và mang dòng chữ “chính thống”: “Tặng những thần dân Ba Lan trung
thành với quân vương của mình”. Cái ơn nghĩa này của Sa hoàng đối với những tên
phản bội đã liếm gót kẻ áp bức làm cho những người yêu nước Ba Lan ghê tởm. Cứ
mỗi lần đi qua phố đều nhổ vào đấy, dần dần thành một truyền thống, ai lỡ quên
thì phải quay lại làm đúng thủ tục đó.
Hai cô bạn lại tiếp tục tán chuyện:
- Tối nay nhà tớ có vũ đấy – đằng ấy có đến xem không?
- Có chứ. Nhưng Ma-ni-u-sa này, bao giờ mới đến lượt bọn mình
dự? Chúng ta đã biết đi bước van khá rồi. Ca-di-a sốt ruột.
Bao giờ? Khi nào các cô “bước vào đời” đã. Lúc này các cô mới
chỉ được phép tập dượt với nhau về các điệu lăng-xi-ê, pôn-ka-ma-duốc-ka học được
ở trường và cũng được ngồi trên hai cái ghế nhỏ xem thanh niên nam nữ gia đình
bạn bè hàng tuần vẫn đến tập vũ ở nhà ông giáo.
Trong khi chờ đợi cũng sẽ đến lượt mình được các bạn nam mời,
các cô còn phải học nhiều tháng nữa ở trường trung học. Đó là một ngôi nhà lớn
ba tầng mộc mạc ngay cạnh nhà thờ Thăm Viếng, trang trí hoa mĩ, nên trông như một
khối kiến trúc từ thời Phục Hưng Ý, giữa những lâu đài nghiêm trang. Bạn học đã
vào cả trong trường: có bạn Vun mắt xanh, bạn A-ni-a Rốt-te, người Đức, mũi tẹt,
học rất giỏi, trong lớp chỉ thua Ma-ni-a và Lê-ô-ni Cu-níc-ca.
- Con bé Cu-níc-ca có chuyện gì đấy nhỉ? Mắt nó sưng húp lên.
Xưa nay, lúc nào nó cũng ăn mặc gọn gàng, hôm nay lôi thôi thế nào ấy.
Ma-ni-a và Ca-di-a không cười đùa nữa. Hai đứa sán lại gần bạn.
- Mày sao thế, Cu-níc-ca. Có chuyện gì thế?
Mặt Cu-níc-ca tái nhợt cô mãi ấp úng:
- Anh, anh mình… anh ấy vào hội kín… có kẻ đi báo, đã ba hôm
nay, ở nhà không biết anh ấy đi đâu.
Rồi nghẹn ngào, nước mắt giàn giụa:
- Sáng sớm mai, chúng treo cổ anh ấy!
Hai cô bé rụng rời, sít lại gần bạn bất hạnh. Họ còn đang tìm
lời hỏi han an ủi bạn, đã thấy tiếng mụ giám thị May-e ken két:
- Thôi, thôi, ít chuyện chứ! Nhanh lên!
Ma-ni-a rùng mình, thẫn thờ trở về nhà; mới lúc nãy còn mơ đến
âm nhạc, đến vũ, bây giờ mấy câu đầu bài địa lý cứ quay tròn trong đầu, không
còn biết chúng nghĩa là gì nữa; trong tâm trí, chỉ thấy khuôn mặt nồng nhiệt và
non trẻ của người thanh niên xấu số rồi thấy giá treo cổ và tên đao phủ.
Tối hôm đó, năm cô gái tuổi đôi bảy, đôi tám không thiết gì
đi xem vũ. Ma-ni-a, Brô-ni-a, Hê-la và hai chị em nhà Ca-di-a đã đến với
Lê-ô-ni Cu-níc-ca thức trắng đêm trong phòng của bạn.
Họ hòa chung nước mắt buồn thương và uất hận. Họ chỉ biết âu
yếm chăm sóc người bạn đang quằn quại đau khổ, lấy khăn ướt chườm đôi mắt sưng
vù, ép bạn uống một ít trà nóng. Thời gian sao trôi quá chậm mà cũng quá nhanh
như vậy, đối với mấy cô gái mà bốn người còn mặc đồng phục nữ sinh.
Lúc trời hửng sáng ánh bình minh nhợt nhạt rọi vào những bộ mặt
cũng nhợt nhạt là lúc điểm giờ phút cuối cùng của người anh. Họ quỳ tất cả xuống
sàn, trong một lời cầu nguyện cuối cùng và giấu trong lòng bàn tay những bộ mặt
đầy khiếp đảm.
*
Gia đình ông giáo lần lượt nhận một huy chương vàng, hai huy
chương vàng, ba huy chương vàng. Cái thứ ba do Ma-ni-a giành được ngày 12 tháng
6 năm 1883 khi tốt nghiệp trung học.
Hôm đó trời oi bức ngột ngạt. Nghe đọc danh sách các học sinh
được thưởng xong đến diễn văn và nhạc kèn đồng, các thầy giáo lên khen ngợi và
sau đó là cái bắt tay thờ ơ, lỏng lẻo của viên tổng thanh tra giáo dục của Sa
hoàng ở Ba Lan thuộc Nga, rồi Ma-ni-a trịnh trọng cúi chào một lần cuối cùng.
Một bó hoa hồng nhỏ cài trên chiếc áo lễ phục màu đen theo tục
lệ, cô học sinh tốt nghiệp từ biệt bạn bè tay nắm tay, thề thề thốt thốt là sẽ
biên thơ đều hàng tuần cho nhau. Ôm một chồng sách đồ sộ bằng tiếng Nga – một
phần thưởng mà cô lớn tiếng nói là “ghê tởm” (Ngày học cuối cùng, cần gì),
Ma-ni-a từ giã mãi mãi trường trung học ở đại lộ Vác-xô-vi, khoác tay ông giáo,
người cha rất tự hào về thành tích học tập của con gái.
Ma-ni-a đã học tập rất tốt, cố gắng vượt bậc, nên ông giáo
quyết định để cô về sống một năm ở nông thôn trước khi chọn nghề ra đi làm.
Suốt một năm hè! Rất dễ mường tượng rằng một thiên tư sớm bị
một chí hướng ám ảnh, sẽ phải tìm cách đọc bằng được những sách báo khoa học. Sự
thật đã không vậy. Lứa tuổi dậy thì kể cũng lạ. Ma-ni-a bỗng thay đổi tính
tình, uể oải, không còn ham mê sách vở nữa.
Một giai đoạn thôn dã đẹp xen vào lịch sử người con gái nhà
giáo đó. Biên thư cho Ca-di-a, cô nói “Lúc này mình không thể tưởng được rằng
trên đời lại có hình học và số học. Mình đã quên hết hai môn đó rồi”. Những
tháng xa Vác-xô-vi và mái trường trung học, về ở nông thôn, với những họ hàng
chỉ nhận một khoản tiền ăn nhỏ, nhờ cô dạy qua quýt cho mấy đứa trẻ trong nhà,
lần đầu tiên được đắm mình trong một cuộc sống thảnh thơi, êm đềm, Ma-ni-a tươi
tỉnh hẳn lên, vui vẻ hồn nhiên hơn rất nhiều so với những ngày thơ ấu ảm đạm.
Thư gửi Ca-di-a:
“Có thể nói rằng mỗi ngày mình chỉ dạy một giờ tiếng Pháp. Cả
thêu thùa đang làm dở cũng bỏ đấy… không có thời gian biểu cho một chú bé, còn
hoàn toàn không làm một chút gì gọi là việc… gì hết… không đọc sách gì thuộc loại
nghiêm túc mà toàn xem chuyện giải trí, vô thưởng vô phạt, và mặc dầu được bà
con ở đây nể nang vì có mảnh bằng tốt nghiệp, mình cảm thấy dốt, dốt ơi là dốt,
làm mình không khỏi tự cười thầm!
Bọn mình đi chơi rừng, nhẩy vòng, đánh cầu lông (mình rất kém
về môn này), chơi mèo bắt chuột và rất nhiều trò con nít như vậy. Ở đây, dâu rừng
sẵn lắm, năm xu một bát tú ụ. Tiếc rằng hết mùa rồi. Mình đang lo là khi trở về
sẽ ăn khỏe đến phát sợ.
Hết đánh đu lại đi tắm. Đến tối tối, lại đốt đuốc bắt tôm…
Mình đã đi Dô-vô-la mấy ngày, được nghe một nghệ sĩ, ông ta
tên là Kô-tô-bin-xki từ Vác-xô-vi về đây biểu diễn, ông ta hát và ngâm thơ rất
tuyệt, nói chuyện rất vui. Bọn mình thích quá, hôm ông ta ngược Vác-xô-vi,
chúng mình đã tết một vòng hoa rất to lúc tiễn chân mới tặng…”
Ở đây vui lắm, có một không khí tự do, bình đẳng, độc lập mà
Ca-di-a không thể tưởng tượng được…
Suốt năm hè đó, hoạt động trí tuệ như lắng xuống, nhường chỗ
cho một say mê mới sẽ mãi mãi thấm sâu tâm hồn của Ma-ri Quy-ri. Đó là lòng yêu
thôn quê thắm thiết. Nay về tỉnh này, mai đến tỉnh kia, đón chờ các mùa thay đổi,
Ma-ni-a luôn nhìn ra nhiều vẻ đẹp mới lạ của mảnh đất quê hương Ba Lan đây đó đều
có họ hàng sinh sống. Đây – Đơ-vô-la một vùng bao la, tịch mịch, ngoảnh nhìn
đây cũng chỉ thấy chân trời xa thẳm hơn bất cứ nơi nào trên thế giới. Kia –
Da-vi-ê-poyt-xơ, quê chú Xa-vi-ê có đàn ngựa năm mươi con thả trên đồng cỏ.
Ma-ni-a đã từng tập cưỡi ngựa, đi nước kiệu và phi nước đại rất thành thạo.
Và cảnh núi Các-pát tuyệt trần! Những đỉnh núi tuyết phủ long
lanh, những ngọn thông đen thẳng tắp, làm cô gái vùng đồng bằng lên đây ngạc
nhiên đến sững sờ. Quên sao được những cuộc leo núi, qua những sườn đồi quất rừng
bao phủ, cheo leo túp lều của thổ dân mà mỗi đồ vật là một công trình trạm trổ,
khắc gỗ tài tình, và mãi tận đỉnh cao chót vót, mảnh gương của cái hồ nước xanh
biếc như tròng con ngươi, có cái tên tuyệt diệu là “mắt biển”.
Mùa đông năm đó, Ma-ni-a đến chỗ người chú là Di-xoáp, làm
văn khế ở Xkhan-bơ-mia, hai vợ chồng có ba con gái. Ở đây cứ mỗi dịp có hội hè
dân gian là cả nhà huyên náo hẳn lên, trong khi người lớn chuẩn bị thịt thà, mấy
cô gái làm bánh ngọt hoặc ngồi trong nhà khâu vội bộ quần áo cải trang để tham
dự trò múa dân gian “kulich” sắp tới.
Thật ra, đó không chỉ là một cuộc vui hát múa, mà là một hành
trình thần tiên huy hoàng. Từ buổi chiều Ma-ni-a cùng ba cô em họ ăn mặc như những
chị em nông dân vùng Kra-kốp ngồi trên hai xe trượt tuyết, ai nấy trùm chăn
kín. Những trai làng quần áo mộc mạc cưỡi ngựa cầm đuốc đi theo một chiếc xe
trượt tuyết khác có bốn nghệ nhân trong làng chơi đàn vi-ô-lông, cử lên những
dân vũ Ba Lan quen thuộc. Ánh đuốc chập chờn qua cành thông và tiếng nhạc rộn
ràng trong đêm tối. Lần lượt thêm ba, năm, mười xe trượt tuyết nhập bọn, vừa lướt
xe xuống những dốc tuyết đóng băng nhanh đến chóng mặt, vừa đàn hát náo nhiệt.
Cứ qua mỗi nhà, cả đoàn người và xe dừng lại: Chủ nhà làm ra
vẻ bất ngờ, nhưng thật ra, thức ăn được chuẩn bị từ trước được dọn ra ngay và
cuộc vũ bắt đầu dưới ánh lửa đuốc. Sau một lúc vui huyên náo, họ lại lên xe,
lên ngựa, đến một nhà khác, rồi một nhà khác nữa, xuyên qua rừng, qua núi. Đoàn
người mỗi lúc đông thêm với những lực lượng mới mẻ. Hết đêm hôm đó, rồi cả ngày
hôm sau, cuộc hành trình đàn hát múa này không lúc nào gián đoạn và kết thúc bằng
một “hội múa” vào đêm thứ hai ở ngôi nhà rộng nhất trong vùng, vẫn theo tiếng
vi-ô-lông dồn dập không biết mệt mỏi của bốn anh kéo đàn trẻ.
Và giữa những hình tượng múa tuyệt diệu, Ma-ni-a, cô gái khỏe
khoắn hồng hào múa đẹp nhất đêm hôm đó. Trong chiếc áo cánh nhung ngắn, hai tay
bồng bằng lanh mịn, đầu đội một vòng tết bằng bông lúa với những giây màu sắc sặc
sỡ tỏa xuống quanh người, trông cô giống như một cô gái dân tộc miền núi trong
trang phục ngày hội.
Biên thơ cho Brô-ni-a, cô kể lại sự hào hứng của mình:
“Thứ bẩy vừa qua, em lại được tham gia một cuộc vũ trá hình rất
thích thú. Chị biết không, bây giờ em nhảy được điệu dân vũ ô-be-rếch khá lắm rồi…
Có lẽ không bao giờ trong đời em sẽ lại được hưởng những phút
vui đùa thắm thiết như vậy. Nó để lại trong em một nỗi nhớ nhung da diết. Dì
nói đùa là nếu vài năm nữa, em đi lấy chồng, nhất định sẽ tổ chức cưới theo
phong tục vùng kra-kốp có vũ dân gian và cưỡi xe trượt tuyết, tất nhiên chỉ là
câu đùa, nhưng em cũng rất ưa thích!”
Nhiều năm về sau, mẹ tôi thỉnh thoảng nhắc lại những ngày vui
đó với một giọng dịu dàng và như cam phận. Nhìn khuôn mặt mệt mỏi, hao mòn sau
gần nửa thế kỷ lo âu và lao lực, tôi thầm cám ơn số phận đã dành cho mẹ nhiều
phút êm đềm trước khi quyết định bà phải đi theo một chí hướng nghiêm nghị và
khắc nghiệt.
Chương 4
chí hướng
Sau mười bốn tháng sống ở nông thôn, đến tháng chín, Ma-ni-a
trở về Vác-xô-vi. Lúc này, gia đình cô lại dọn đến gần trường trung học ở phố
Nô-vô-lip-xki, nơi cô đã sống thời thơ ấu.
Vì một thay đổi lớn đã đến gia đình này. Ông giáo tuy vẫn dạy
ở trường trung học, nhưng nay đã có tuổi, nên thôi nhận học sinh trọ học. Từ
đây, Ma-ni-a cùng với bố và anh chị ở một căn nhà nhỏ hơn, thanh bạch hơn.
Khung cảnh và môi trường ấy khêu gợi suy nghĩ và làm việc.
Ai mới gặp ông giáo lần đầu sẽ nghĩ là ông nghiêm khắc, khó gần.
Ba mươi năm trời gõ đầu trẻ ở trường trung học đã tạo cho người đàn ông béo lùn
ấy một dáng đạo mạo, có nhiều chi tiết chứng tỏ đây là một công chức tiêu biểu:
quần áo màu sẫm, luôn luôn chải chuốt, tưởng như không còn vướng một hạt bụi, cử
chỉ điệu bộ chính xác, ưa dùng châm ngôn thị phạm. Mỗi việc trong đời ông đều
có phương pháp, quy củ. Ông đã viết một bức thư thì câu cú phải gọn gàng, nét
chữ nắn nót. Nghỉ hè, nếu định đi tham quan danh lam thắng cảnh thì từng chi tiết
đi đứng phải được xếp đặt từ trước. Một chương trình tỉ mỉ sẽ lần lượt đưa mấy
bố con đến những nơi đáng xem, rồi vừa đi, ông vừa ca ngợi cảnh đẹp hoặc giải
thích ý nghĩa lịch sử của một công trình kiến trúc. Ma-ni-a không hề để ý đến
cá tính đó của nhà giáo. Cô chỉ càng yêu cha tha thiết.
Đối với Ma-ni-a, ông giáo vừa là cha, vừa là một người thầy
thông thái, uyên thâm. Quả vậy, gần như môn gì ông cũng tỏ ra am hiểu. Ngày nay
khó mà tìm ở một nước Châu Âu, một thầy giáo âm thầm, vô danh, mà hiểu rộng như
thế. Phải tất bật sớm chiều mới lo nổi cân bằng chi thu gia đình, người cha tần
tảo đó vẫn để thì giờ trau dồi kiến thức khoa học qua những sách báo trầy trật
lắm mới có được. Ông nhận thức rõ không những cần học tiếng La Tinh, tiếng Hy Lạp,
mà còn phải biết những bước tiến của hóa học và lý học, và ngoài tiếng Ba Lan,
tiếng Nga còn phải hiểu tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức. Ông dịch ra tiếng mẹ
đẻ nhiều tác phẩm văn thơ ưu tú của nước ngoài. Ông còn làm thơ, và chép cẩn thận
vào một quyển vở bìa đen và xanh, những bài như: Tặng các bạn, một ngày kỷ niệm.
Chúc rượu mừng đám cưới. Tặng học trò cũ của tôi.
Cứ đến chiều thứ bảy, cả nhà quây quần bên ấm trà bốc khói,
bình văn thơ. Ông giáo ngâm thơ hoặc đọc sách. Con trai và ba con gái ngồi nghe
chăm chú say sưa. Người thầy giáo già, trán hói, mặt bầu bầu, điềm đạm, với bộ
râu màu tro, rất có tài về khoa nói. Thứ bảy nào cũng vậy, Ma-ni-a lại được
nghe các tác phẩm văn học cổ điển do một giọng thân thuộc đọc. Cũng cái giọng
khi xưa đã từng kể cho cô nghe chuyện cổ tích, tường thuật du lịch, hoặc giới
thiệu cuốn Đa-vít Cơ-pơ-phin của nhà viết tiểu thuyết Anh Đích-kơn[5] (Charles Dickens) ông giáo vừa đọc,
vừa dịch từ tiếng Anh ra tiếng Ba Lan, không vấp váp chỗ nào. Giờ đây, với một
giọng rè khan vì bao nhiêu giờ lên lớp ở trường trung học, ông ngâm cho bốn
thanh niên chăm chú nghe những tác phẩm của các nhà thơ lãng mạn ở Ba Lan như
Xlo-vat-xki, Cra-sin-xki và Mic-kê-vich (Adam Mickiewcz-NS), viết về cảnh nô lệ
và sự chiến đấu. Những trích đoạn của thiên anh hùng ca “Ông Ta-đê”[6] (Pan Tadeuse) hoặc những vần thơ
Coóc-đi-an đau thương in trên những trang sách bạc màu mà một số bị Sa hoàng
nghiêm cấm vẫn cứ được in ra lén lút.
Ma-ni-a sẽ còn nhớ mãi những buổi chiều ấy. Cô lớn lên trong
một môi trường trí thức có một phẩm chất đặc biệt mà ít bạn gái được biết. Một
sợi dây vô hình gắn bó cô với người cha đã cố gắng hết sức mình để tạo cho con
gái một cuộc sống có ý thức và bổ ích. Cô yêu cha nồng nàn và cảm thông nỗi buồn
lắng đọng dưới bề mặt bình thản của ông giáo: nỗi buồn thương nhớ vợ khôn
nguôi, nỗi buồn của một công chức bị chèn ép, phải làm những việc thấp kém, nỗi
hối hận, day dứt của một con người vốn thận trọng đến lúc này vẫn còn trách
mình năm nào đã nhẹ dạ làm tiêu ma vốn liếng của gia đình.
Những lúc không trấn tĩnh được, ông giáo than thở với các con
“Sao cha lại có thể hồ đồ như thế nhỉ?Cha vẫn hằng mong cho các con có một học
vấn tinh tế nhất, được đi đây đi đó, ra học nước ngoài. Nay thế là lỡ hết rồi!
Cha không còn tiền, không giúp các con được. Mà rồi đây, các con lại còn phải
nuôi cha. Các con sẽ ra sao?”
Ông giáo thở dài, nhìn đàn con, như chờ đợi những lời phản đối
vui vẻ mà mấy anh em Ma-ni-a sẽ nói để an ủi cha. Chúng ngồi đấy, quây quần bên
ngọn đèn dầu trong căn phòng xinh xắn, có những bồn cây xanh được chăm sóc ân cần,
làm cho thêm tươi tắn. Bốn mái đầu kiên nghị, bốn nụ cười đảm đang. Những tròng
mắt sáng ngời, từ màu xanh biển cả đến màu xám tro, cùng ánh lên một bầu nhiệt
tình, một niềm hy vọng. “Cha cứ yên tâm. Chúng con còn trẻ, chúng con khỏe”.
*
Tâm trạng ông giáo cũng dễ hiểu. Năm đó, một năm quyết định đối
với tương lai, tình hình kinh tế gia đình không sáng sủa lắm.
Vấn đề rất đơn giản. Đồng lương giáo học của ông sắp về hưu
chỉ đủ trả tiền nhà, tiền ăn và công chị giúp việc. Ngay từ bây giờ, mấy anh em
Dô-dếp, Brô-ni-a, Hê-la, Ma-ni-a phải tự kiếm sống.
Là con nhà giáo, ý nghĩ đầu tiên của cậu con trai và ba cô
gái là đi dạy tư. “Sinh viên khoa y nhận kèm cặp ở nhà”, “Nữ sinh có bằng tốt
nghiệp nhận dạy toán, hình học, Pháp văn giá phải chăng”. Mấy anh em Xkhua-đốp-xki
giờ đây đã đứng vào hàng ngũ hàng trăm những người trí thức trẻ ở Vác-xô-vi phải
đến từng nhà dạy tư để sinh sống.
Cái nghề bạc bẽo. Mới mười sáu tuổi, Ma-ni-a đã biết đến những
nỗi vất vả, nhục nhằn mà một cô giáo dạy tư phải chịu đựng.
Mưa hay rét vẫn phải đi dạy, cuốc bộ từ đầu tỉnh đến cuối tỉnh.
Học trò thì bướng bỉnh, chây lười. Lại thêm cái tội các bậc cha mẹ cứ bắt cô
giáo chờ mãi trong phòng đợi gió lùa “mời cô nán thêm một lát, em nó xuống ngay
đấy” và có khi đến cuối tháng, quên khuấy mấy đồng rúp mà người ta mong đợi từ
bao nhiêu lâu rồi và cứ nhắc đến sáng hôm ấy là có.
Mùa đông đến. Ở phố Nô-vô-lip-xki, cuộc sống phẳng lặng trôi,
ngày nào cũng giống ngày nào.
Manya viết:
“Ở nhà, chẳng có gì mới. Mấy bồn cây vẫn xanh tươi, khóm đỗ
quyên vẫn trổ hoa đều. Con chó Lăng-xê vẫn quen ngủ trên tấm thảm nhỏ. Chị
Gu-xi-a, thợ may theo công ngày vừa chữa xong cái áo mà mình đem nhuộm, trông lịch
sự và đẹp. Áo của chị Brô-ni-a cũng xong rồi, khá lắm. Mình chả viết thư cho ai
cả, rất ít thì giờ và ít tiền. Có một bà được giới thiệu đến hỏi giá cả học tư
ra sao. Chị Brô-ni-a nói là nửa rúp một giờ, thế mà bà ta chạy như cháy nhà”.
Phải chăng Manya chỉ là một cô gái nghèo, chịu khó và biết
nghĩ, và chỉ lo có một việc là cố nhận thêm học sinh? Không. Vì nghèo túng, cô
đã dũng cảm chịu đựng thiếu thốn, vất vả đi dạy học tư. Nhưng cô lại có một cuộc
sống khác phong phú, say sưa – cuộc sống nội tâm. Như mọi cô gái Ba Lan đương
thời thuộc tầng lớp mình, Ma-ni-a có một tâm hồn rạo rực mơ ước.
Có một hoài bão chung cho tuổi trẻ Ba Lan thời đó. Đó là Tổ
quốc. Lòng tha thiết phục vụ đất nước đi trước cả tham vọng bản thân, trước cả
tình yêu và gia đình. Người thì khát khao một cuộc chiến đấu dũng mãnh, táo bạo
và rèn dựng những mưu đồ to lớn, hiểm nghèo. Người thì mơ tưởng đấu tranh bằng
ngòi bút. Lại có kẻ ôm ấp một ảo mộng huyền bí. Vì Thiên chúa giáo cũng là một
nơi ẩn dật, một sức mạnh chống lại kẻ áp bức khác đạo.
Từ lâu, Ma-ni-a đã tỉnh hẳn giấc mơ huyền bí. Cô vẫn đi nhà
thờ đều, nhưng là theo tập tục và phép lịch sự mà thôi. Lòng tin ở đấng chí tôn
đã bị lung lay từ ngày bà Xkhua-đốp-xka qua đời, cứ phai nhạt dần. Xưa kia, cô
hoàn toàn phục tùng người mẹ rất mộ đạo. Nhưng đã sáu bảy năm nay sống với cha,
cô bị ảnh hưởng sâu sắc của một người chỉ đi đạo một cách hững hờ, tuy không
nói ra, nhưng chính là vô đạo. Lòng sùng đạo thời thơ ấu nay chỉ còn là một
khát vọng mơ hồ, mong muốn thờ phụng một cái gì cao cả nhất.
Bạn gái Manya có nhiều người yêu nước giàu tinh thần cách mạng.
Cô đã từng liều lĩnh cho mượn giấy thông hành nhưng Ma-ni-a không hề có ý nghĩ,
muốn tham gia các cuộc ám sát hoặc ném bom vào xe của Sa hoàng hay cả viên thị
trưởng. Một phong trào mạnh mẽ dấy lên giữa tầng lớp trí thức trong đó có
Ma-ni-a, nhằm gạt bỏ mọi ảo tưởng trống rỗng, mọi luyến tiếc hão huyền, mọi hồ
hởi đòi tự chủ bừa bãi, chỉ còn làm việc, vun đắp cho nước Ba Lan một vốn trí
thức huy hoàng và phát triển sự nghiệp giáo dục nhân dân mà các nhà chức trách
chủ tâm dìm sâu trong dốt nát.
Chủ nghĩa tiến bộ dân tộc ở Ba Lan hồi đó có một hướng đi đặc
biệt, do ảnh hưởng các học thuyết triết học thời bấy giờ. Những năm ấy, thuyết
thực tiễn của Công-tơ[7] (August Comte) và thuyết tiến hóa của
Xpen-xe[8] (Herbert Spencer) đã đem lại cho
các nước Tây Âu những nếp tư duy mới. Trong khi đó, các công trình của Pat-xtơ[9] (Louis Pasteur-NS), Đát-uyn[10] (Charles Robert Darwin-NS) và Clốt
Béc-na[11] (Claude Bernard-NS) nâng cao rất
nhiều uy tín của khoa học thực nghiệm. Ở Vác-xô-vi cũng như nhiều nơi khác và
hơn các nơi có xu hướng xa rời những tác phẩm lãng mạn, xa rời cái thế giới xúc
cảm và của nghệ thuật. Lớp trẻ vốn thích những khẳng định dứt khoát, nay bỗng đề
cao hóa học và sinh vật học, đặt lên trên cả văn học. Xưa kia tôn sùng các nhà
văn, nay họ quay ra chiêm ngưỡng các nhà bác học. Nếu ở các nước độc lập tự do,
những luồng tư tưởng trên có thể phát triển công khai, thì ở Ba Lan phụ thuộc mỗi
biểu hiện tự do tư tưởng bị coi như khả nghi. Các thuyết tiến bộ phải đi “đường
ngầm” để đến với quần chúng.
Ít lâu sau khi trở về Vác-xô-vi, Manya chơi thân với một số bạn
gái hăng say theo thuyết “thực dụng”. Có một chị tên là Pi-a-set-xka ảnh hưởng
sâu sắc đến cô. Chị độ hai mươi sáu, hai mươi bảy tuổi, tóc màu hung, người gầy
gò, mặt xấu nhưng dễ thương. Chị dạy ở một trường trung học và yêu một sinh
viên tên Noóc-blin vừa mới bị đuổi ra khỏi đại học vì hoạt động chính trị. Chị
say sưa với những học thuyết hiện đại thời đó.
Manya thoạt đầu còn dè dặt e ngại nhưng về sau bị những ý kiến
táo bạo của chị Pi-a-set-xka lôi cuốn. Cùng với hai chị Brô-ni-a và Hê-la và một
bạn gái tên là Ma-ri-a Ra-kốp-xka, Manya được dự các buổi “đại học di động”. Đó
là những buổi giảng về giải phẫu, khoa học tự nhiên, xã hội học, do những thầy
giáo dạy không lấy tiền cho đối tượng trẻ muốn mở mang kiến thức. Lớp học mở bí
mật ở nhà Pi-a-set-xka hay một vài tư nhân khác. Tám hay mười người tụ họp lại,
ghi ghi chép chép, truyền tay nhau sách báo, bài toán. Hơi khẽ có tiếng động là
run bắn lên. Nếu lộ, chỉ có tù đày.
Bốn mươi năm sau, Marie Curie viết:
“Tôi còn nhớ rất rõ cái không khí xã hội trí thức thân mật ái
hữu đó. Phương tiện hoạt động thì nghèo nàn và kết quả chẳng được là bao, nhưng
hồi đó, tôi vẫn tin rằng những lý tưởng dìu dắt mình, là duy nhất có thể đưa đến
một tiến bộ xã hội thật sự. Không thể mong xây dựng một thế giới tốt hơn nếu
không cải tạo con người. Với mục đích ấy, mỗi chúng ta phải làm việc để tự nâng
cao bản thân, đồng thời nhận lấy phần trách nhiệm của mình trong cuộc sống của
nhân loại. Chúng ta có bổn phận giúp đỡ những người mà ta thấy có thể giúp ích
nhiều nhất”.
Vai trò trường “đại học di động” không chỉ bổ túc cho những
thanh niên mới ở trường trung học ra. Sự nghiệp giáo hóa này được cả sự tham
gia của học sinh. Được chị Pi-a-set-xka cổ vũ, Manya nhận dạy học cho dân
nghèo. Cô đến đọc sách cho chị em công nhân ở một xưởng may và dần dà xây dựng
cho chị em một tủ sách tiếng Ba Lan.
Làm sao tưởng tượng được sự say mê của cô gái mười bảy tuổi.
Tuổi thơ ấu của cô đã trôi qua trước những sinh linh bí ẩn là dụng cụ vật lý của
bố. Và ngay trước khi khoa học tự nhiên được mọi người chú ý, ông giáo đã truyền
cho con gái lòng ham muốn say mê hiểu biết. Nhưng đối với một cô gái dạt dào sức
sống sôi sục, cái thế giới ấy chưa đủ. Giờ đây, cô đang bước vào các lĩnh vực
khác của nhận thức về thế giới. Phải nắm được thuyết thực dụng của Công-tơ. Phải
tiếp thu tiến triển xã hội! Ma-ni-a không chỉ ao ước học toán và hóa. Cô còn muốn
chấn chỉnh lại trật tự xã hội, và đem ánh sáng kiến thức đến đông đảo quần
chúng nhân dân.
Giữa những hoài bão, ước mơ đó, Manya chưa thấy rằng cần có một
sự lựa chọn. Cô chưa ý thức được đâu là ý thức dân tộc, đâu là tư tưởng nhân đạo
và đâu là nguyện vọng của người trí thức.
Thật lạ là cô vẫn giữ được bản chất dịu dàng, dễ thương trong
tình trạng tao loạn ấy, giữa những học thuyết ấy. Được tiếp thu ở cha mẹ một nền
giáo dục chặt chẽ, cao quý và tấm gương sáng của những con người thanh khiết đã
chăm sóc đến tuổi thanh xuân của cô, Manya đã tránh được nhiều điều cực đoan. Bản
chất cô mang một phong thái đoan trang, một vẻ duyên dáng, sau này sẽ luôn đi
cùng với lòng hăng hái của cô, cả những lúc đắm đuối nhất. Trong đời Manya,
chưa hề có lúc nào biểu lộ phẫn uất hoặc bừa bãi phóng đãng. Tuy tính khẳng
khái, tự do, chưa bao giờ nói một lời tục tằn, chưa bao giờ cô nghĩ đến châm
hút một điếu thuốc lá...
Sau những giờ ôn tập cho lớp học khu phố, giảng bài cho công
nhân xưởng và những buổi học lén lút về giải phẫu ở “đại học di động”, nếu còn
rảnh Manya thường đóng cửa ngồi nhà đọc và viết. Thời kỳ chỉ xem tiểu thuyết
“giải trí nhẹ nhàng” đã qua rồi. Giờ đây Manya Đốt-xtôi-ép-xki[12] (Dostojeewki), Gôn-xa-rốp[13] (Gontscharow), “Những người được
giải phóng” của Bô-let-xoáp Prút-xơ[14] (Boleslav Pruss) và tìm thấy trong
tác phẩm này hình ảnh của chính bản thân mình và của chị em phụ nữ Ba Lan khao
khát học hỏi. Sổ tay nhật ký của cô cho ta biết cuộc sống nội tâm của một thanh
niên đầy tham vọng và quá dồi dào năng khiếu nên gần như mất phương hướng. Mười
trang liền về bút chì minh họa thơ ngụ ngôn Pháp của La Phông-ten[15] (La Fontaine). Các bài thơ tiếng
Ba Lan và tiếng Đức. Một trích đoạn của Mắc Noóc-đô[16] (Max Nordot), nhiều đoạn của
Kra-zit-ki[17] (Ignacy Krasicki), Xlô-vat-xki[18] (Juliusz Slovacki) và Hai-nơ[19] (Heinrich Heine-NS). Ba trang của
Rơ-năng[20] (Ernest Ronan-NS) nói về “Cuộc đời
Giê-su”, “không ai bằng Người, đã đề cao lợi ích của Loài người trên những phù
hoa trần thế”. Những tiểu luận triết học bằng tiếng Nga, một đoạn của Luy-Blăng[21] (Louis Blanc), một trang của
Bran-đét-xơ[22] (Georges Brandes). Rồi lại đến
tranh vẽ hoa lá, giống vật. Lại thơ của Hai-nơ. Rồi đến Mu-xê[23] (Alfred de Musset-NS), Suy-li
Pruy-đơm[24] (Sully Prudhomme-NS)và
Phơ-răng-xoa Cô-pê[25] (François Coppé) do Manya dịch ra
tiếng Ba Lan.
Thật là mâu thuẫn. Người con gái có tư tưởng “tự giải thoát”,
không thích diện nên đã cắt phăng mớ tóc hung duyên dáng đi, lại vẫn than thở một
mình và chép lại nguyên những vần thơ tình tứ và hơi nhạt nhẽo như:
Nếu anh cứ nói anh yêu
Mắt xanh em có thấu điều này chăng?
Cố nhiên là Manya không bao giờ nói cho các bạn gái cố chấp,
rằng cô thích bài “Vĩnh biệt, Suy-dông em” hoặc bài “Chiếc bình vỡ”, có lẽ cô
cũng không tự thú điều đó ngay cả với bản thân mình. Manya thường ăn mặc nghiêm
chỉnh, nhưng bộ mặt non trẻ lạ lùng với mớ tóc ngắn cũn cỡn chẳng những không
làm nổi bật được phong cách của cô mà còn làm cô gái trông ngây thơ hơn.
Hết đi học lại nói chuyện, đến đâu Manya cũng hăng say tranh
luận. Cô say sưa ngâm cho các bạn nghe thơ Át-ních đã thành niềm tin tưởng của
cả nhóm:
Hãy tìm tia sáng trong vắt của chân lý
Hãy tìm những con đường mới mẻ chưa ai đi
…Tầm mắt con người dù đưa xa đến đâu,Vẫn sẽ không hết những
điều lạ lùng, kỳ diệu
…Mỗi thời đại đều có ước mơ hoài bão
Và bỏ lại những giấc mộng hôm qua
Nào các bạn, hãy cầm lấy bó đuốc của tri thức
Hãy làm nên một sự nghiệp mới trong công việc các thế kỷ,
Và xây dựng lên Lâu đài của Tương lai…
Trên một tấm ảnh chụp cùng chị Brô-ni-a, và tặng Ma-ri-a Ra-kốp-xka,
Manya viết: “Tặng một bạn “thực dụng lý tưởng” của hai chị em theo thuyết lý tưởng
nhưng có đầu óc thực tế”.
Hết ngày này đến ngày khác, hai chị em “lý tưởng thực tế” đó
ngồi bàn tính với nhau, cô thảo ra một kế hoạch cho cuộc sống ngày mai. Tiếc
thay! Cả Át-ních lẫn Bran-đét-xơ đều không chỉ được cách cho hai cô được theo học
đại học ở một thành phố vẫn cấm đoán phụ nữ vào trường đại học. Hai nhà tư tưởng
đó cũng chẳng đem lại cho hai cô phép màu nhiệm có thể gây nhanh một vốn lớn với
những buổi dạy tư nửa rúp một giờ.
Manya vốn giàu độ lượng, càng thấy đau khổ. Đứa con út của
gia đình ấy tự thấy có trách nhiệm đối với tương lai các anh chị. Cũng may là
không cần phải lo cho anh Dô-dép và chị Hê-la. Dô-dép sắp ra bác sĩ. Còn chị
Hê-la xinh tươi và sôi nổi nhiệt tình đang lưỡng lự giữa đi về sư phạm hoặc trở
thành ca sĩ. Hê-la có giọng hát mê ly, tốt nghiệp cả hai trường. Đã nhiều nơi dạm
hỏi mà chị chưa ưng đám nào.
Nhưng còn Brô-ni-a, làm sao giúp đỡ Brô-ni-a đây? Từ khi rời
ghế nhà trường, Brô-ni-a về quán xuyến gia đình. Thôi thì mọi việc nhà việc cửa
đều đổ lên đầu chị: hết đi chợ búa, mua thức ăn, lo thay đổi món lại điều khiển
việc nấu mứt. Dần dà, Brô-ni-a trở thành một người nội trợ rất đảm đang. Nhưng
chính cái đó làm chị chán nản. Chị không muốn chỉ có thế. Manya hiểu thấu tâm
tư chị mình. Brô-ni-a muốn đi học đại học Y ở Paris rồi về Ba Lan làm thầy thuốc
ở nông thôn. Chị cũng đã dành dụm được ít nhiều để thực hiện nguyện vọng đó.
Nhưng học ở nước ngoài tốn kém lắm! Còn phải đợi bao nhiêu tháng, bao nhiêu năm
nữa?
Manya luôn luôn suy nghĩ về nỗi băn khoăn day dứt của chị mà
lãng quên đi mơ ước của bản thân mình. Bản chất cô vốn vẫn như vậy. Vì chính cô
cũng bị nơi “đất thánh” là Paris quyến rũ. Ma-ni-a cũng đã từng ao ước vượt qua
mấy ngàn cây số để đến Xoóc-bon học cho thỏa lòng khao khát hiểu biết rồi mang
về nước vốn kiến thức quý giá, dạy học ở Vác-xô-vi cho đồng bào ruột thịt.
Sở dĩ Manya để tâm đến nghề nghiệp của chị là vì giữa hai chị
em có những tình cảm thắm thiết hơn cả tình máu mủ. Từ ngày bà giáo mất đi, hai
chị em càng quấn quít yêu thương nhau, bổ sung cho nhau: chị có vốn sống thực tế
và từng trải hơn, được em gái phục và tin yêu, em thường đem công việc tỉ mỉ hằng
ngày ra hỏi ý kiến chị; Ma-ni-a thì say đắm hơn, e lệ hơn, là một người bạn gái
tuyệt diệu của Brô-ni-a, một tình bạn đượm lòng biết ơn và bao hàm một sự đền
đáp.
Một hôm, Brô-ni-a đang mải gạch xóa những con số trên một mảnh
giấy, tính đi tính lại không biết bao nhiêu lần khoản tiền đã có, hay nói cho
đúng hơn, khoản tiền chưa có, thì Ma-ni-a bất giác nói:
- Chị này, từ ít lâu nay, em đã nghĩ lung về vấn đề của chúng
ta. Em cũng đã bàn với cha. Sẽ có cách.
- Cách gì?
Cô xích lại gần chị. Chuyện này khá tế nhị, phải cân nhắc từng
lời thì chị mới nhận.
- Đây nhé. Chị liệu có thể ở Paris được bao lâu với số tiền
đã gom góp được?
- Không kể tiền tàu thì được một năm ăn học ở Đại học –
Brô-ni-a trả lời rất nhanh – nhưng học Y phải năm năm, hẳn em cũng biết.
- Đúng thế. Vậy thì, chị nhỉ, cứ dạy tư nửa rúp một giờ thì
chẳng bao giờ chúng mình thoát khỏi cảnh này. Thế thì sao ta không thể kết hợp
với nhau. Nếu cứ phấn đấu riêng rẽ thì chả người nào đi được. Nhưng bằng theo
cách em tính thì chỉ vài tháng nữa, sang thu, chị có thể lên tàu đi Pháp.
- Manya, em điên à?
- Không. Bước đầu, chị hãy tiêu tiền của chị. Em sẽ thu xếp gửi
tiền cho chị sau. Và cả cha nữa. Đồng thời, em gây vốn để rồi cũng đi học. Khi
chị đã ra bác sĩ, sẽ đến lượt em đi. Lúc ấy, chị sẽ giúp em.
Brô-ni-a nước mắt lưng tròng, ý nghĩa của đề nghị này cao cả
làm sao! Nhưng còn một điểm chưa rõ trong chương trình vừa phác ra.
- Chị chưa hiểu. Làm thế nào em có thể vừa kiếm được đủ ăn
cho mình, kiếm thêm giúp chị mà lại còn để dành được nữa?
- Đúng thế! Manya khẽ đáp – Đó chính là “Cách” của em. Em sẽ
làm cô giáo dạy tư. Ăn, ở mặc do chủ nhà chịu. Mỗi năm được bốn trăm rúp, hoặc
hơn nữa. Như vậy chẳng phải mọi việc đều ổn hay sao?
- Manya, Manya yêu dấu của chị!
Chẳng phải Manya chọn cái nghề phụ thuộc ấy mà Brô-ni-a cảm động.
Cô cũng theo thuyết lý tưởng như em gái, coi khinh những thành kiến của xã hội.
Không... Cô xúc động khi nghĩ rằng vì muốn cho chị được học, ngay từ bây giờ
Ma-ni-a phải tự ghép mình vào một cái nghề không hứng thú gì và phải khổ tâm chờ
đợi. Vì thế cô cưỡng lại:
- Nhưng tại sao người đi trước lại là chị? Sao không đổi ngược?
Em có năng khiếu, có thể còn hơn cả chị.
-Ồ, Brô-ni-a, chị còn hỏi tại sao à? Thì tại chị đã hai mươi,
mà em mới mười bảy. Tại chị đã giẫm chân tại chỗ hằng bấy lâu rồi, mà em, em
còn nhiều thời gian. Cha cũng bảo: đứa nhớn cần đi trước. Khi đã mở phòng khám
bệnh, chị sẽ thừa tiền để giúp em. Nghĩa là em mong như thế. Có vậy, chúng ta mới
làm được một việc thông minh, thiết thực.
☆ ☆ ☆
Một buổi sáng tháng chín năm 1885, trong phòng đợi của một sở
tìm việc, có người con gái lặng lẽ ngồi chờ đến lượt mình. Có hai chiếc áo dài,
cô đã chọn mặc chiếc áo trông chỉnh tề nhất. Dưới cái mũ đã bạc màu, mớ tóc mới
nuôi lại mấy tháng nay cặp còn chưa gọn. Một cô giáo, dù có tư tưởng “thực dụng”
đi nữa, cũng không được để tóc ngắn. Một cô giáo phải ăn mặc gọn ghẽ, không có
gì đặc biệt khác người.
Cửa mở, một chị gầy gò, vẻ mặt chán nản, lững thững đi qua
phòng đợi, gật đầu chào Ma-ni-a trước khi về. Chị cùng cảnh ngộ như Ma-ni-a.
Hai người lúc nãy đã làm quen với nhau, họ ngồi trên mấy chiếc ghế mây là đồ đạc
duy nhất trong phòng này. Họ đã cùng chúc nhau may mắn.
Manya đứng dậy. Bất giác, cô thấy e ngại, tay cứ nắm chặt một
tập giấy tờ và thư từ. Trong buồng bên, sau một bàn giấy nhỏ, có một bà to béo.
- Cô muốn gì?
- Tôi tìm một chỗ dạy tư.
- Cô có giấy tờ gì không?
- Tôi đã từng dạy tư nhiều nơi. Đây là nhận thực của cha mẹ học
sinh. Còn đây là bằng tốt nghiệp.
Nhìn qua những chứng chỉ mà Manya vừa đưa, với con mắt nhà
nghề, bà giám đốc sở bỗng chăm chú. Bà ngẩng đầu, ngắm cô thiếu nữ kỹ hơn.
- Cô biết tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Ba Lan và
tiếng Anh phải không?
- Vâng, tiếng Anh thì hơi kém, nhưng tôi có thể dạy các môn
trong chương trình. Tôi mới tốt nghiệp trường trung học với huy chương vàng.
- À, vậy ý cô thế nào?
- Bốn trăm rúp một năm và đảm bảo ăn ở.
- Bốn trăm, – bà ta nhắc lại, mặt vẫn thản nhiên – Cha mẹ cô
làm gì?
- Cha là giáo sư trường trung học.
- Được. Tôi sẽ thẩm tra. Có thể có việc cho cô. À, cô bao
nhiêu tuổi?
- Mười bảy – Mặt đỏ bừng, Manya nói tiếp với một nụ cười động
viên:
- Sắp mười tám rồi.
Bà ta ghi lên hồ sơ bằng một kiểu chữ viết ngả mẫu mực:
“ Manya Sklodowska. Chứng chỉ tốt. Có học lực. Công việc muốn
làm: Cô giáo. Lương: bốn trăm rúp một năm”.
Bà trả Manya giấy tờ:
- Cảm ơn cô. Khi nào có việc, tôi sẽ gửi giấy báo.
Chú thích:
[5]
[25]
Chương 5
cô giáo
Thư của Manya cho em họ là Hăng-ri-ét Mi-khai-lốp-xka:
“Hăng-ri-ét mến yêu!
Kể từ ngày xa rời Hăng-ri-ét, cuộc sống của chị không khác
chi một người tù. Chị đến ở nhà một luật sư B. như em đã biết. Một địa ngục trần
gian mà ngay đối với kẻ tử thù, chị cũng không cầu cho phải đến sống ở đây.
Quan hệ của chị với bà B. đã lạnh nhạt đến nỗi chị không nén nổi nữa và nói thẳng
cho bà ấy biết. Vì bà ta “hâm mộ” chị không kém gì chị “hâm mộ” bà ta nên đôi
bên rất hiểu nhau.
Đây là một trong những nhà giàu mà mỗi bận có khách khứa, người
ta nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp – một thứ tiếng Pháp tồi một cách
kinh khủng. Hóa đơn để đến hằng nửa năm không chịu thanh toán, thế nhưng họ vẫn
tiêu xài như phá rồi lại bủn xỉn như tí dầu đèn. Thuê năm người làm, rồi ra vẻ
tự do, phóng khoáng, nhưng thật ra lại đần độn đến mức lú lẫn. Ngoài mặt thì giọng
ngọt xớt, nhưng lòng độc địa, nói xấu chẳng từ ai...
Thế là chị hiểu thêm một chút về loài người. Chị nhận ra rằng
các nhân vật miêu tả trong văn học là có thật và mình không nên gần những kẻ mà
giàu sang làm cho vẩn đục đi.”
Bức họa nghiêm khắc, do một con người không có ác ý cho ta thấy
Manya còn quá ngây thơ và ảo tưởng. Do ngẫu nhiên vào một gia đình Ba Lan khá
giả, cô những mong gặp những cha mẹ học trò sẵn thiện cảm, những trẻ nề nếp dễ
bảo. Lòng cô chỉ muốn quyến luyến, yêu thương. Sự thất vọng mới phũ phàng làm
sao.
Do đâu mà chí hướng và thiên tài của Manya không được phát hiện
sớm hơn? Tại sao người ta không cho cô đi học ở Paris mà lại để cô đi dạy tư?
Muốn trả lời được câu hỏi này, phải nhìn vào phẩm chất cao quý và sự thông minh
tuyệt vời của mấy anh em con nhà giáo đó.
Bên cạnh ba thanh niên ưu tú khác thường, người nào cũng học
giỏi, đỗ cao, cũng ham làm việc và giàu mơ ước thì cô gái sau này trở thành bà
Marie Curie, lúc đó chẳng có gì đặc biệt... Giá như ở vào một môi trường dốt
nát, kém cỏi, những năng khiếu của cô sẽ nổi bật và làm cho người ta ngạc
nhiên, thán phục. Nhưng ở đây, dưới cùng một mái nhà có Dô-dếp, Brô-ni-a, Hê-la
và Ma-ni-a, bốn anh em đều học tập xuất sắc, đều rất có khiếu và hiểu biết rộng.
Thế là từ già đến trẻ, chẳng ai nhìn ra trong bốn thanh niên đó dấu hiệu của một
bộ óc vĩ đại. Chưa ai chú ý đến những tia sáng đầu tiên của Ma-ni-a (Manya). Chẳng
ai ngờ rằng Ma-ni-a có một bản lĩnh khác anh và các chị. Bản thân cô cũng không
biết.
Manya khiêm tốn gần như tự ti khi so sánh mình với anh chị.
Nhưng ở vào những gia đình trưởng giả mà cô có dịp lui tới trong nghề nghiệp của
mình, cô nổi bật lên hẳn. Chính Ma-ni-a cũng nhận thấy và thích thú điều đó.
Người con gái vốn dĩ không coi trọng những đặc quyền đặc lợi
do tông tích, phú quý đem lại, mà cũng chẳng bao giờ để cái ghen ghét lởn vởn
trong tâm trí, nay lại tự hào về dòng dõi của mình và về nền giáo dục đã tiếp
thu được. Rồi đây, qua những nhận xét về các “ông chủ” của cô, thỉnh thoảng ta
thấy toát lên lòng khinh thị và một sự kiêu hãnh ngây thơ.
Từ những kinh nghiệm vào đời đầu tiên, cô không chỉ rút được
nhiều bài học triết lý về con người và về “những kẻ mà giàu sang làm cho vẩn đục
đi”. Cô còn thấy rằng chương trình bàn với Brô-ni-a trước đây cần phải điều chỉnh
lại.
Sở dĩ cô xin việc làm ở Vác-xô-vi là để có thể giải quyết
kinh tế mà không phải đi xa. Đối với một cô giáo mới tập sự, dù sao, ở thành phố
cũng đỡ vất vả. Được gần nhà, hằng ngày được nói chuyện với cha, vẫn liên lạc với
chị em bạn ở “đại học di động” và biết đâu còn có dịp học thêm, theo các lớp buổi
tối? Nhưng đã hy sinh, không thể hy sinh nửa vời. Cuộc sống mà cô gái tự chọn
cho mình chưa đủ khắt khe! Ma-ni-a chưa kiếm ra nhiều tiền, nhất là lại tiêu
quá mức. Lương lĩnh về cứ chi lắt nhắt hằng ngày, đến cuối tháng chẳng còn mấy
nữa. Thế mà đã đến lúc phải gửi tiền cho chị. Brô-ni-a đã đi Pa-ri, hiện đang sống
chật vật ở khu La-tinh. Ông giáo thì sắp về hưu. Rồi đây, ông cũng cần được
giúp. Làm thế nào?
Hai ba tuần trước, có người giới thiệu một chỗ dạy tư ở nông
thôn, lương khá. Ma-ni-a không trù trừ lâu. Cô nhận đi ngay địa phương, dấn
mình vào những nơi chưa hề quen biết. Hàng năm sẽ phải sống hoàn toàn cô đơn,
xa cách họ hàng thân thuộc. Nhưng có hề chi! Có lương cao, và ở nơi sơn cùng thủy
tận đó, càng đỡ tiêu pha.
- Thế mà ta không nghĩ ra từ trước! Mình vốn thích sống ở nơi
thoáng đãng! – Ma-ni-a tự nhủ.
Thư cho cô em họ Hăng-ri-ét:
...“Sau khi suy đi tính lại, chị đã quyết định nhận một chỗ ở
thôn quê, năm trăm rúp một năm, bắt đầu làm từ tháng Giêng. Chính cái nơi được
giới thiệu cách đây ít lâu mà chị đã bỏ lỡ. Họ không bằng lòng cô giáo trước
nên nhờ đến chị. Rất có thể là rồi chị cũng chẳng làm cho họ hài lòng hơn!”
Ngày mồng một tháng Giêng 1886, ra đi trong rét mướt. Một kỷ
niệm buồn trong đời Ma-ni-a. Cô can đảm từ biệt cha. Một lần nữa, Ma-ni-a đọc
cho ông giáo ghi địa chỉ của cô:
“Ma-ni-a Xkhua-đốp-xka
Nhà ông bà Z
Ở Schuc-ki qua Prát-snich”.
Ngồi trên xe lửa, Ma-ni-a còn nhìn lại mãi hình dáng thâm thấp
của ông giáo và tươi cười với cha. Rồi bỗng cô cảm thấy một nỗi hiu quạnh nặng
nề chưa từng biết đến trước đây. Lần đầu tiên trong đời, cô sống một mình một
thân.
Một nỗi hoảng sợ đột ngột đến với cô gái mười tám tuổi ấy.
Trong cái toa xe nặng nề đưa cô đến một gia đình xa lạ, Ma-ni-a bất giác rùng
mình, lo hãi. Nhỡ ra chủ mới lại như chủ cũ thì sao? Nhỡ ra ông giáo ở nhà đau ốm
trong khi con cái đi vắng cả thì thế nào? Chẳng biết cô có còn gặp lại cha nữa
không? Việc cô đang làm phải chăng là điên rồ? Đầu óc cứ quay cuồng với bao
nhiêu câu hỏi. Trời tối dần. Ngồi nép cạnh cửa toa xe, cô lấy tay gạt nước mắt
cứ ròng ròng, lặng nhìn cánh đồng tuyết phủ mênh mông đang lướt qua trước mặt...
Ông Z, người nhận Ma-ni-a đến làm cô giáo dạy tư, là quản lý
một phần đất đai cho một họ hoàng tộc, cách Vác-xô-vi một trăm cây số về phía Bắc.
Sau ba giờ ngồi tàu, bốn giờ ngồi xe trượt tuyết trong một chiều đông bao la,
phẳng lặng, Ma-ni-a đến nơi giữa một đêm băng giá. Cô đã mệt lả, chỉ thoáng
nhìn thấy trong giấc mơ bóng dáng cao lớn của người chủ nhà, khuôn mặt lu mờ của
bà vợ và những cặp mắt hau háu, tò mò của mấy đứa trẻ.
Một chén trà nóng, mấy lời niềm nở, đón chào cô giáo mới.
Xong, bà Z dẫn Ma-ni-a lên buồng của cô ở trên gác ba, rồi xuống ngay, để mặc
cô gái một mình với mấy thứ hành lý nghèo nàn.
*
Ma-ni-a gửi em họ là Hăng-ri-ét, ngày 3 tháng hai 1886: “Thế
là chị đến đây. Thấm thoát được một tháng rồi. Và đã bắt đầu thích nghi với
hoàn cảnh mới. Cho đến nay, thấy khá thoải mái. Ông bà Z rất tốt. Chị đã làm
quen với cô gái lớn là Brôn-ka, nhờ vậy mà cuộc sống cũng vui thêm. Học trò của
chị là em gái An-gia, lên mười, ngoan, chỉ phải cái rất bừa bãi vì quá được
nuông chiều. Nhưng không thể đòi hỏi cái gì cũng hoàn toàn!
Ở đây, người ta không làm gì cả, chỉ nghĩ đến vui chơi. Và vì
không muốn đàn đúm, mà chị trở thành câu chuyện chế giễu trong vùng. Chả là một
tuần lễ sau khi đến đây, chị đã thoái thác không đi tham gia tối vũ ở
Các-vát-sơ, một nơi mà không có chuyện gì trong địa phương lại không được đem
ra đây bàn tán. Cũng may là chị không đi, vì ông bà Z, mãi đến trưa hôm sau mới
về.
... Mỗi ngày chị làm việc bảy giờ, bốn với An-gia, ba với
Brôn-ka. Cũng khá nhiều, nhưng đành vậy! Buồng chị ở tầng thượng. Rộng, yên
tĩnh, dễ chịu. Ông bà Z rất đông con: ba trai ở Vác-xô-vi (một học đại học, hai
ở ký túc xá). Ở nhà có Brôn-ka 18 tuổi, An-gia 10 tuổi, Sta-xơ ba tuổi và cuối
cùng là bé gái Ma-rich-na mới sáu tháng. Thằng Sta-xơ nhộn lắm. Nghe người giữ
nó giải thích rằng Chúa trời ở khắp nơi, Sta-xơ tỏ vẻ lo âu trên khuôn mặt xinh
xắn, hỏi: “Thế nó có đuổi bắt em không? Nó có cắn không?” làm mọi người được một
trận cười rũ rượi!”
Ma-ni-a ngừng viết, đặt bút trên cái bàn kê gần cửa và bước
ra ngoài bao lơn, mặc dầu thời tiết đã lạnh. Quang cảnh bày ra trước mắt làm cô
phì cười. Thật khôi hài là đi về một nơi ở vùng thôn quê hẻo lánh, cứ chắc mẩm
là sẽ đến trước một khung cảnh thôn dã với những đồng cỏ, rừng rú, rồi vừa mở cửa
sổ đã thấy một ống khói nhà máy cao sừng sững, che kín và phun khói đen làm bẩn
cả bầu trời.
Đằng đẵng hàng mấy cây số, không một lùm cây, không một mảnh
đồng cỏ, chỉ thấy ruộng củ cải đường mênh mông đơn điệu. Thu đến, củ cải rỡ còn
đất, chất đầy xe bò từ khắp nơi chậm rãi ùn về xí nghiệp, là một xưởng làm đường.
Mọi công việc của nông dân ở đây, từ gieo, xới đến gặt hái đều nhằm phục vụ nhà
máy. Những dãy nhà gạch đỏ buồn tẻ của xưởng đã thu hút về đây những túp lều
tranh của cái làng bé nhỏ Kra-xi-ni-ét. Ngay con sông cũng biến thành nô lệ của
nhà máy, chảy đến thì trong vắt, chảy đi thì đục ngầu, bọt váng nhầy nhụa.
Ông Z, là một kỹ sư nông học, rất theo sát những kỹ thuật hiện
đại. Ông có nhiều cổ phần của xưởng đường và điều khiển việc khai thác hai trăm
héc-ta củ cải. Trong gia đình này cũng như ở nhiều nhà khác, mọi câu chuyện đều
hướng về công việc của xưởng đường.
Mình rơi vào đây, kể ra chẳng đến nỗi nào, Ma-ni-a vừa đóng cửa
sổ vừa thầm nghĩ. Nhà máy chẳng có gì là đẹp, dù sao, chính nhờ nó mà cái địa
phương hiu quạnh này mới nhộn nhịp hơn các nơi khác một chút. Vẫn thường có người
ở Vác-xô-vi đi đi về về. Ngay trong xí nghiệp có một môi trường trí thức là kỹ
sư và giám đốc khá thú vị. Có thể đến đây mượn sách báo, bà Z khó tính nhưng
không xấu bụng. Đôi lúc bà thiếu tế nhị với cô giáo Ma-ni-a có lẽ vì bản thân
bà trước đây cũng đi dạy tư và bước lên phú quý quá nhanh. Ông Z, một kỹ sư rất
lịch thiệp, cô gái cả thật đáng yêu, bọn trẻ cũng dễ chịu. Được như thế là may
mắn rồi!
*
Một cô giáo tại gia, lại ở thôn quê viết rất nhiều thư, thường
khi chỉ là để được thư trả lời cùng các tin tức thành phố. Hết tuần rồi hết
tháng, thời gian chậm rãi trôi. Ma-ni-a kể cho họ hàng và bè bạn từng chi tiết
cuộc đời làm thuê của mình, từ công việc âm thầm hằng ngày đến những lúc “hầu
chuyện” và giải trí miễn cưỡng.
Hết biên thư cho bố lại viết thư cho anh và hai chị. Cô cũng
viết thư đến cho Ca-di-a bạn cũ ở trường trung học và cho Hăng-ri-ét, cô em họ
mới lấy chồng ở Lô-vô, một tỉnh nhỏ, và đến giờ vẫn là một con người “thực dụng”
sôi nổi. Ma-ni-a thổ lộ tâm tư, nói ra những thất vọng cùng ước mơ thầm kín của
mình.
Thư cho Hăng-ri-ét, ngày 5 tháng 4 năm 1886.
“Chị sống ở đây như mọi người trong cảnh ngộ này quen sống.
Ngoài việc dạy học, chị cũng học thêm, nhưng không dễ đâu, cứ khách đến là cả
thời khóa biểu trong ngày bị đảo lộn. Nhiều lúc rất bực mình vì con bé An-gia
được thể cứ chơi tràn, mỗi lần ngừng học giữa giờ là không tài nào bảo nó học lại
được. Hôm nay lại có chuyện. Buổi sáng, đến giờ rồi mà nó lại không chịu dậy.
Sau cùng chị phải lẳng lặng cầm tay nó kéo ra khỏi giường. Trong bụng, mình giận
điên lên được. Em không thể mường tượng những chuyện nhỏ nhặt ấy tai hại như thế
nào. Cứ mỗi lần như vậy là chị mệt hàng giờ. Nhưng mệt thì mệt vẫn phải cương
quyết với nó.
Còn khách khứa ấy à? Toàn là kiểu ngồi rỗi lắm chuyện về hàng
xóm, về những kiểu khiêu vũ, hội hè v.v... Nói về khiêu vũ thì khó mà tìm ra một
nơi nào có những cô gái giỏi hơn vùng này. Ở đây, cô nào cũng nhảy tuyệt đẹp. Họ
không phải là những người xấu, có nhiều cô rất thông minh nhưng không được học
hành mở mang trí óc, mà còn bị quá nhiều hội hè không đâu làm cho phân tán. Còn
thanh niên thì chẳng mấy người gọi là thông minh. Đừng nói đến “thuyết thực dụng”
hoặc “vấn đề thợ thuyền” với trai gái ở đây. Chẳng khác gì nói trước bức vách.
Có khi họ còn chưa hề nghe thấy những chữ đó.
Nếu em biết được chị đi đứng mẫu mực như thế nào! Chủ nhật và
ngày lễ đến nhà thờ đều, không bao giờ vin cớ nhức đầu hay mệt mỏi để ngồi nhà.
Không hề đả động đến vấn đề giáo dục đại học của phụ nữ. Nói chung trong lời
nói, chị luôn luôn giữ đúng cương vị của mình.
Lễ Phục sinh này chị sẽ về Vác-xô-vi vài ngày. Cứ nghĩ đến
trước là lòng lại rạo rực, phải cố kiềm, nếu không đã kêu lên vì sung sướng”.
*
Tuy nói mỉa mai cách “đi đứng mẫu mực” của mình như vậy,
trong lòng Ma-ni-a vẫn ủ một tâm hồn táo bạo, khác thường, không chịu nổi lối sống
khép nép theo khuôn khổ. Vẫn còn đây cô gái “thực dụng lý tưởng” nóng lòng muốn
giúp ích, nóng lòng phấn đấu.
Ngày nào, Ma-ni-a cũng gặp trên con những con đường lầy lội
trẻ em nông thôn, trai cũng như gái quần áo rách rưới, tiều tụy, vẻ mặt láu lỉnh
dưới những mớ tóc rối bù. Một ý định nở trong tâm trí cô. Những tư tưởng tiến bộ
mà lòng hằng tha thiết, sao không đem nó ra thực hành trong cái thế giới nhỏ ở
vùng Schuc-ki này? Năm ngoái cô còn mơ ước “soi sáng” cho dân. Thì cơ hội là
đây! Trẻ em trong làng phần lớn mù chữ. Số rất ít em được đến trường thì lại học
vần chữ cái Nga. Lúc này mà mở lén lút một lớp dạy tiếng Ba Lan, khêu gợi cho
những bộ óc non trẻ ấy biết vẻ đẹp của tiếng nói và của lịch sử dân tộc thì hay
biết mấy!
Brôn-ka được cô giáo ngỏ ý, đồng tình ngay và sẵn sàng giúp đỡ.
- Chị cứ nghĩ cho chín – Ma-ri-a thấy cần làm dịu bớt sự bồng
bột của bạn – Nếu có kẻ tố giác thì hai chúng mình sẽ bị đày đi Xi-bê-ri đấy!
Nhưng không gì dễ lây bằng lòng dũng cảm. Nhiệt tình và quyết
tâm ánh lên trong khóe mắt của Brôn-ka, Ma-ni-a chỉ còn xin phép chủ nhà và đi
đến các túp lều tranh giải thích và hô hào một cách kín đáo.
Thư cho Hăng-ri-ét, ngày 3 tháng 10 năm 1886:
“Chị có thể xin phép nghỉ hè nhưng chẳng biết đi đâu nên ở lại
Schuc-ki. Cũng không muốn tốn tiền đi lên núi Các-pát. Hằng ngày, hết dạy
An-gia, lại đọc sách với Brôn-ka rồi còn kèm con một bác nông dân mỗi ngày một
giờ để chuẩn bị cho nó thi vào trường. Brôn-ka và chị còn kèm hai tiếng cho con
em nông dân. Tất cả đến mười đứa, gần như một lớp nhỏ. Chúng học ngoan lắm,
nhưng việc của chị lắm lúc cũng rất khó. Chỉ được cái an ủi là dần dà, kết quả
khá hơn và cũng nhanh. Một ngày của chị là như thế đấy. Khá bận. Hơn nữa, chị
còn học thêm cho mình”.
Cũng viết cho Hăng-ri-ét, tháng 12 năm 1886:
“Hiện giờ chị đã có mười tám em học sinh nông dân. Cố nhiên
chúng không đến học cùng một lúc, vì như vậy không tài nào dạy được, mà ngay
như thế này, mỗi thứ năm cũng mất đến hai giờ, thứ bảy còn kéo dài hơn, đến năm
tiếng. Buồng của chị ở tầng thượng, có lối đi riêng, đi thang gác ngoài sân,
không phiền đến ai cả. Niềm vui lớn và nguồn an ủi chính của chị cũng là ở mấy
em bé đó”.
Thế là Ma-ri-a kèm An-gia học bài, lại dạy thêm cho Brôn-ka
và còn nhắc nhở Giu-lếch mới ở trường trung học Vác-xô-vi về, ngồi học cứ ngủ
gà ngủ gật, chốc chốc lại phải gọi. Vẫn chưa đủ. Việc xong đâu đấy, cô gái đảm
này lên buồng mình, ngóng chờ những tiếng giày ủng nhỏ lẫn với tiếng chân đất
bước lên cầu thang, báo hiệu là học trò đã đến. Cô đã mượn một cái bàn gỗ bách
và mấy chiếc ghế để các em tập viết được thuận tiện. Cô còn trích tiền để dành
ra mua vở và bút mực mà những bàn tay cóng sử dụng rất khó khăn vụng về. Những
lần có bảy, tám em cùng ngồi học ở căn buồng rộng, tường trát vôi vữa thì cả
Ma-ri-a và Brôn-ka phải vất vả mới giữ được trật tự và giúp những em kém đánh vần
chữ khó. Chúng cứ hít ra hít vào, phì phò đến thiểu não.
Xúm quanh bộ áo màu xẫm và mớ tóc hung của cô giáo Ma-ri-a là
con em các chị đi ở, các tá điền làm rẻ, và công nhân xưởng đường. Chúng lem luốc,
hôi hám. Nhiều em còn chểnh mảng, bướng bỉnh. Nhưng các cặp mắt trong trẻo đều
ánh lên một lòng ham muốn chân thành và sâu sắc là biết đọc và viết: hai chiến
công quá sức tưởng tượng của các em. Và tim Ma-ni-a se lại, khi thấy mục đích
nhỏ bé này đã đạt được, những dòng chữ đen trên tờ giấy trắng đã có ý nghĩa,
trước niềm tự hào hân hoan của con trẻ và sự thán phục của các cha mẹ không biết
chữ thỉnh thoảng đến đứng ở cuối buồng.
Cô giáo trẻ nghĩ đến cái nguồn nghị lực to lớn ấy chưa được sử
dụng, đến những năng khiếu biết đâu còn ẩn nấp trong lớp người mộc mạc chất
phát ấy. Trước biển cả mênh mông của sự dốt nát, cô cảm thấy mình yếu ớt biết
chừng nào, bất lực biết chừng nào.
Chương 6
một sự nhẫn nại lâu dài
Những nông dân tí hon ấy nào có ngờ được rằng “cô Ma-ri-a”
đang nghĩ ngợi chua chát về cái dốt nát của bản thân mình. Chúng có biết đâu
chính cô giáo chúng đang ao ước trở lại đời học trò, không phải dạy mà chỉ được
học.
Giờ phút này, trong lúc Ma-ni-a trầm tư nhìn qua cửa sổ vọng
theo những xe bò chở củ cải đỏ đến nhà máy đường thì ở Béc-linh, Viên,
Pê-téc-xbua, Luân-đôn, tại các phòng thí nghiệm, các bảo tàng, các bệnh viện,
hàng nghìn, hàng vạn thanh niên đang được nghe giảng bài, nghe thuyết trình hoặc
làm công việc nghiên cứu. Nhất là ở trường Xoóc-bon nổi tiếng, người ta đang dạy
sinh vật học, toán, hóa, lý cùng xã hội học.
Có thật là một ngày kia, Ma-ni-a sẽ đáp tàu đi Paris có thể
như thế không? Có thật là cô sẽ được cái hạnh phúc to lớn ấy không?
Ma-ni-a đã không còn mơ tưởng gì đi Paris-ri nữa rồi. Mười
hai tháng đầu của một cuộc sống ngột ngạt ở tỉnh nhỏ đã làm tiêu tan cả hy vọng
của cô. Vì mặc dầu có nhiều ước mơ, hoài bão và đam mê hoạt động trí tuệ,
Ma-ri-a không mảy may là một con người ảo tưởng. Rõ ràng cô đang đứng trước một
hoàn cảnh không có lối thoát. Ở Vác-xô-vi, ông giáo sắp về hưu, sẽ cần nương tựa
vào con gái. Ở Paris-ri, Brô-ni-a còn cần được viện trợ nhiều năm nữa, trước
khi ra đi làm và kiếm được tiền. Và ở Schuc-ki, có Ma-ni-a Xkhua-đốp-xka làm cô
giáo dạy tư. Cái kế hoạch gây vốn, góp ít thành tích nhiều trước kia tưởng như
dễ thực hiện, giờ đây làm cho Ma-ni-a mỉm cười. Nó trẻ con thật. Đã sa vào một
nơi như Schuc-ki, khó lòng mà thoát ra được!
Chúng ta xúc động khi thấy con người thiên tư ấy chẳng phải
tuyệt đối bất khả xâm phạm. Như mọi cô gái ở lứa tuổi đôi mươi, Ma-ri-a cũng có
lúc ủ rũ, đau khổ, chán chường. Chúng ta cũng xúc động khi thấy cô mâu thuẫn với
mình, trong lúc nói là từ bỏ tất cả mọi thứ thì lại phấn đấu mãnh liệt cưỡng lại
cảnh ngộ, không chịu để tài năng của mình bị mai một. Sức mạnh gì đã thôi thức
cô tối nào cũng thức khuya đọc những sách của thư viện nhà máy, về xã hội học,
vật lý học và luôn luôn biên thư cho ông giáo để hỏi thêm về toán?
Thật lạ lùng Ma-ni-a có thể kiên trì trong mấy việc ấy. Ở nơi
thôn dã này không có ai hướng dẫn chỉ bảo, Ma-ri-a tự mò mẫm thu thập những kiến
thức cần thiết mà các sách báo đã lạc hậu chỉ giới thiệu sơ lược. Lắm khi chán
nản, cô cũng như mấy em bé nông thôn kia, mãi không đọc được thì quẳng sách đi.
Nhưng cũng với lòng nhẫn nại của nông dân, cô vẫn bền bỉ cố gắng hết sức mình.
Bốn mươi năm sau, Ma-ri Qui-ri viết:
“Dạo đó, tôi thích thơ văn chẳng kém gì xã hội học và các
khoa học khác. Nhưng trong mấy năm trời làm việc hăng say ấy, suy nghĩ kỹ về sở
thích và sở trường của mình, cuối cùng tôi hướng hẳn về toán, lý.
Học một mình quả vô vàn khó khăn, chật vật. Vốn liếng khoa học
tiếp thu ở trường trung học ở Ba Lan hồi đó thật quá ít ỏi – Tôi phải học thêm
bằng cách đọc một số sách thu thập được đó đây. Phương pháp này cũng chẳng tốt
lắm, nhưng nó tạo cho tôi thói quen làm việc độc lập và bổ sung cho tôi một số
kiến có ích về sau này”.
Thư viết cho Hăng-ri-ét tháng 12 năm 1886, tả lại một ngày của
cô ở Schuc-ki như sau:
“Chị thường bận suốt từ tám giờ sáng đến mười một giờ rưỡi và
từ hai giờ trưa đến bảy giờ rưỡi chiều. Khoảng thời gian giữa hai buổi làm việc
thì ăn bữa trưa và đi dạo. Sau khi uống trà, chị đọc sách cho An-gia nghe, hoặc
hai cô cháu trò chuyện. Chị hay ngồi khâu, nhiều khi không rời kim chỉ ngay
trong lúc dạy học. Từ chín giờ tối, lại vùi đầu vào sách, trừ phi bận đột xuất.
Để làm việc thêm, chị tập dậy sớm từ sáu giờ nhưng cũng không
được đều. Hiện giờ có bố đỡ đầu của An-gia đang ở đây chơi. Một ông già rất tốt.
Bà chủ bảo chị nhờ ông ấy dạy chơi cờ, cho ông giải trí. Nhiều khi họ cũng gọi
chị vào một ván bài cho đủ chân, thế là lại gác sách một chỗ.
Chị đang đọc:
Vật lý của Đa-niên[26] (John Federic Daniel-NS), đã xong
quyển I.
2. Xã hội học của Xpen-xe[27] (Hertbert Spencer-NS) bằng tiếng
Pháp.
3. Giải phẫu và sinh lý học của Pôn-Be[28] (Paul Bert) bằng tiếng Nga.
Chị đọc nhiều thứ một lúc vì học mãi một thứ, có thể làm cho
óc mệt mỏi, mà hiện giờ đã quá căng thẳng. Khi thấy mình không thể đọc tiếp được
nữa thì đem những bài toán về đại số và lượng giác ra giải. Việc này đòi hỏi phải
chú ý và như thế, lại tập trung được tư tưởng.
Chị Brô-ni-a biên thư từ Paris-ri kể chuyện đi thi gặp nhiều
khó khăn. Chương trình học khá nặng và sức khỏe đáng lo ngại.
Còn dự định ấy à? Chị chả có kế hoạch gì hết, mà nếu có thì
cũng tầm thường và đơn giản đến nỗi chẳng có gì đáng nói. Chỉ biết gắng hết sức
mình, và đến khi không cố được nữa thì từ giã cõi này; thiệt hại có là bao,
thương tiếc mình để lại cũng ngắn ngủi thôi, như đối với hàng bao kẻ khác.
Ý định của chị hiện nay là như vậy. Có người nói: ít ra cũng
nên nếm qua cái say đắm của tình yêu. Nhưng chương trình của chị quả không có mục
này. Trước kia cũng có nhiều ý đồ khác đấy, nhưng nay tiêu tan hết rồi, chị đã
chôn vùi và cố quên đi. Hẳn em cũng biết, bức tường bao giờ cũng rắn hơn cái đầu
muốn húc đổ nó”.
*
Tại sao nàng lại có những ý nghĩ hồ đồ muốn tự vẫn và thốt
lên những lời chán nản và hoài nghi tình yêu như vậy?
Nguyên nhân cũng đơn giản và thường tình. Cảnh ngộ của
Ma-ri-a trong những năm đó có thể gọi là “Truyện một cô gái nghèo”, đã từng được
kể trong các sách nói về tình yêu.
Câu chuyện bắt đầu từ việc cô Xkhua-đốp-xka càng nhớn càng
xinh, chưa phải là vẻ đẹp huyền diệu toát từ chân dung của Ma-ri Qui-ri sau
này. Cô gái má phính mười lăm đến tuổi dậy thì đã thành một thiếu nữ xinh tươi
duyên dáng, rất ưa nhìn, từ nước da, mái tóc, đến cổ tay trắng ngần, đôi chân
thanh thanh. Khuôn mặt không được đầy đặn lắm, nhưng có duyên do đôi môi cương
nghị, đôi mắt màu tro trông càng to thêm với cái nhìn thăm thẳm dưới cặp mày
ngài.
Khi Ca-di-mia, con trai cả của ông bà Z. từ Vác-xô-vi về
Schuc-ki nghỉ mấy ngày lễ, sau đó, lại về trong mấy tháng hè, anh thấy ở nhà có
thêm một cô giáo trẻ, khỏe, có văn hóa, biết làm thơ, khiêu vũ và thông minh,
khác hẳn những bạn gái mà anh quen biết trước đây. Anh yêu ngay, đắm đuối. Mặc
dầu có những tư tưởng cách mạng, Ma-ni-a vẫn ấp ủ một trái tim rung động, cũng
đem lòng yêu người sinh viên đẹp trai và rất dễ thương ấy.
Nàng chưa đến mười chín. Chàng chỉ hơn vài tuổi. Họ muốn kết
hôn.
Thoạt trông thì tưởng như không có trở ngại gì.
Đành rằng ở Schuc-ki, đó chỉ là “cô giáo Ma-ri-a” cô giáo của
lũ trẻ. Nhưng trong gia đình ông bà Z., cô được mọi người quý mến. Ông Z. cũng
nhiều lần đi dạo chơi với cô rất xa qua những cánh đồng củ cải. Bà vợ ông cũng
thường bênh vực, che chở cô, còn Brôn-ka thì quý Ma-ni-a vô cùng. Cô được cả
nhà chú ý, mấy lần gia đình này đã mời cha, anh cùng các chị cô về Schuc-ki
chơi. Cô cũng được tặng hoa và quà vào dịp sinh nhật của mình.
Cho nên khi Ca-di-mia ngỏ ý với cha mẹ xin cưới Ma-ni-a, anh
không lo lắng gì mà lại còn đinh ninh là việc sẽ thành là khác. Song câu trả lời
thật không ngờ. Bố làm ầm lên, mẹ sửng sốt đến suýt ngất. Thế nào, cậu con cưng
nhất nhà lại lấy một đứa con gái nghèo xơ xác, phải đi làm đi ở cho người ta à?
Thiếu gì đám quyền quý giàu sang vào loại nhất nhì trong tỉnh sao nó không lấy?
Dễ nó hóa điên rồi chắc?
Trong một gia đình xưa nay ngoài mặt vẫn đối xử chan hòa như
tình bạn, những rào cản xã hội bỗng dựng lên tua tủa. Còn như cô gái là con nhà
gia giáo, giỏi giang, nết na, con một ông giáo có danh tiếng ở Vác-xô-vi, tất cả
đều không đáng kể trước lý lẽ: “Không ai đi lấy gia sư làm vợ”.
Hết bị mắng mỏ, dằn vặt lại bị thuyết phục khuyên lơn, quyết
tâm của anh chàng sinh viên tan rã dần. Vốn không có nghị lực, Ca-di-mia sợ những
lời rầy la, đay nghiến. Còn Ma-ni-a, uất ức vì bị khinh rẻ, cô tự giam mình vào
một vẻ lạnh lùng ngượng nghịu, một sự yên lặng cố tình. Cô nhất quyết không bao
giờ nghĩ đến chuyện này nữa. Nhưng tình yêu cũng như lòng tham vọng, đâu cứ hạ
lệnh là nó khắc phải chết!
*
Làm sao Ma-ni-a có thể quyết định bỏ nhà ông bà Z. mà đi được?
Cô không muốn làm ông giáo lo ngại, nhất là không thể bỏ một chỗ làm lương cao
như thế, giữa lúc Brô-ni-a đã tiêu hết số tiền dành dụm được và đang cần cô em
gái và bố gửi cho tiền học. Hàng tháng Ma-ni-a gửi cho chị mười lăm rúp, đôi
khi hai mươi rúp – non một nửa tháng lương. Vả lại, giữa gia đình ông bà Z. và
cô chưa hề có lời đi tiếng lại gì và cũng chưa ai nói thẳng với cô về việc này.
Ma-ri-a đành ngậm đắng nuốt cay, ở lại Schuc-ki như không có chuyện gì xảy ra.
Cuộc sống vẫn trôi đều như trước. Cô giáo vẫn ra bài cho
An-gia, nhắc nhở Giu-lêch cứ hay ngủ gật mỗi lần làm việc bằng trí óc. Cô vẫn dạy
trẻ em thôn quê. Cô tiếp tục đọc sách, và còn tự giễu mình, nhún vai trước sự
kiên trì mà cô cho là vô ích đó. Rồi vẫn chơi cờ, đố chữ, đi khiêu vũ, dạo bộ
ngoài trời...
Đau khổ vì tình, thất vọng trong hoài bão học vấn, đời sống vật
chất túng thiếu, vì sau khi giúp hết người này đến người khác thì không còn gì
cho bản thân nữa. Ma-ni-a cố quên đi số phận mình đã sa vào một nơi bùn lầy mà
cô cảm thấy khó lòng ngóc đầu ra khỏi. Cô hướng về gia đình không phải để cầu cứu
mà cũng chẳng phải để thổ lộ niềm chua chát, đắng cay.
Trong mỗi lá thư, cô chỉ biết khuyên lơn, khẩn khoản hiến
dâng tấm lòng thiết tha của mình, những mong sao cha cùng anh chị có một cuộc sống
tốt đẹp.
Thư biên cho ông giáo, năm 1886:
“Xin cha yêu dấu đừng buồn phiền với ý nghĩ là không thể giúp
chúng con. Khó mà tưởng tượng rằng cha còn làm được hơn thế nữa. Chúng con đã
được một nền giáo dục tốt, học lực vững, tính nết chẳng đến nỗi nào. Vậy xin
cha đừng tuyệt vọng. Nhất định chúng con sẽ tự xử được mọi việc. Về phần con,
con muôn đời ghi lòng tạc dạ công ơn của cha yêu dấu đối với con. Cha đã làm rất
nhiều cho chúng con, chỉ buồn là các con chẳng đền đáp được. Chúng con chỉ biết
yêu mến và kính trọng cha với tấm lòng tha thiết...”
Thư cho Dô-dếp ngày 9 tháng ba năm 1887.
“Em nói không phải, anh đừng giận. Như chúng ta đã ao ước, em
nghĩ thế nào cứ thẳng thắn nói ra:
Anh thấy đó, không có phòng thuốc, phòng khám và sách báo thì
một bác sĩ dù quyết tâm đến mấy đi nữa, cũng hóa tiêu cực. Em rất đau khổ nếu
điều này đến với anh vì trong khi không còn hy vọng gì cho mình, em đặt tất cả
hoài bão vào chị Brô-ni-a và anh đấy. Brô-ni-a hoặc anh nhất định phải vươn lên
theo năng khiếu của mình. Đó là năng khiếu của họ nhà ta, không thể để cho mai
một mà cần vun đắp cho nó nẩy nở ở một trong chúng ta, càng tiếc cho bản thân,
em càng trông mong ở chị Brô-ni-a và anh đấy...”
Thư gửi Dô-dếp ngày 20 tháng năm 1887.
“... Em chưa biết cô học trò An-gia của em có sẽ đi thi
hay không, nhưng em đã rất lo lắng. Sự chú ý và trí nhớ của nó hết sức bấp
bênh. Với Giu-lếch cũng vậy. Cố dạy chúng quả như xây nhà trên cát, chúng học
trước quên sau, lắm lúc đến khổ. Và em cũng lo nghĩ cho em nữa. Em cảm thấy như
đần độn. Ngày qua rất nhanh mà chẳng thấy tiến bộ gì...”
Thư gửi Hăng-ri-ét ngày 10 tháng 12 năm 1887.
“... Hăng-ri-ét đừng tin những lời đồn đại rằng chị sắp kết
hôn. Nó chẳng có căn cứ gì. Họ đồn ầm lên ở đây, và cả Vác-xô-vi, tuy không phải
lỗi ở chị, nhưng chị e rằng có thể phiền đến mình.
Dự định tương lai của chị rất khiêm tốn: có một chỗ ở riêng đề
có thể sống với bác giai. Thật rõ tội! Bác giai nhớ chị lắm, chỉ mong chị về.
Và chị sẵn sàng đổi nửa đời mình để được tự do và có một căn nhà riêng.
Nếu có thể, chị sẽ rời Schuc-ki – nhưng không thể trước một
thời gian dài – chị sẽ ở hẳn Vác-xô-vi, tìm một chân giáo sư ở một ký túc xá và
dạy tư để kiếm thêm. Chị không ao ước gì hơn thế...”
Thư gửi Brô-ni-a, 24 tháng Giêng 1888.
“... Em rất suy nghĩ khi đọc quyển sách của
O-ret-skho-va Trên bờ dòng Ni-ê-men. Tất cả mơ ước của chúng ta là ở
đó, những câu chuyện say sưa đã từng làm chị em mình nóng mặt. Em đã khóc như một
đứa trẻ lên ba. Tại sao mơ ước đó lại tiêu tan? Trước đây em ôm ấp hoài bão làm
việc vì nhân dân, với nhân dân, thế mà đến nay mới chỉ dạy được cho mười đứa trẻ
nông thôn biết đọc...”
Thư gửi Dô-dếp, 18 tháng ba 1888.
“... Anh thân mến, còn cái tem cuối cùng em biên thư cho anh
đó. Lúc này em không còn đến một xu dính túi...
Nếu anh biết em mong mỏi như thế nào được trở về Vác-xô-vi
vài ngày. Chưa nói chi đến quần áo mặc đã cũ quá rồi, cần phải sửa sang, may mới...
Mà đến tâm hồn của em cũng chẳng đương nổi nữa. Chao, giá được thoát khỏi vài
ngày cái không khí giá lạnh này, lúc nào cũng bị chỉ trích, cứ phải luôn luôn
xét nét từng lời nói, cử chỉ. Em cần thay đổi không khí như người ta cần tắm
mát sau một ngày oi bức vậy.
Đã lâu em không được thơ Brô-ni-a. Có lẽ chị ấy cũng không
còn tiền mua tem như em.
Thơ của cha và Hê-la luôn luôn chỉ thấy phàn nàn, kêu ca làm
em lo không biết ở nhà khó khăn như thế nào. Nếu không nghĩ đến chị Brô-ni-a,
em đã thôi việc ở chỗ ông Z. ngay tức khắc, và tìm một nơi khác, mặc dầu chỗ
này lương khá như vậy...”
Viết thơ cho bạn là Ca-di-a (vừa mới báo tin cô đã đính hôn
và mời Ma-ni-a về chơi), 25 tháng Giêng 1888.
“... Mình hiện nay bề ngoài thì cười nói mà trong lòng tái
tê. Đây là một kinh nghiệm kể từ lúc mình hiểu được rằng người nào có những xúc
động mạnh như mình mà không thay đổi được bản chất đó của họ thì cần phải giấu
kỹ. Nhưng nào ích lợi gì! Càng bị kìm nén, bản chất lại càng bật ra, thế là lại
nói quá lời rồi lại hối.
Ca-di-a kể là đã sống một tuần lễ hạnh phúc nhất đời. Còn
mình thì trong mấy tháng hè đó, mình đã trải qua những ngày rất căng và đau khổ.
Điều an ủi duy nhất là mình đã vượt qua được cuộc thử thách một cách đoan trang
trong trắng. (Vẫn cái tính khí khái trước kia làm cho mụ May-e thù ghét).
Bạn đừng nghĩ là mình đâm ra mơ mộng, sướt mướt, không khi
nào thế đâu, vì nó hoàn toàn trái ngược bản chất của mình. Chỉ có cái gần đây
hay cáu gắt. Có những kẻ tìm cách đẩy mình đến chỗ đó...”
Ma-ni-a gửi Dô-dếp tháng 10-1888.
“... Anh thử tưởng tượng em đang học hóa học chỉ với một quyển
sách. Thu hoạch ít ỏi như thế nào, chẳng cần nói anh cũng rõ. Nhưng làm sao
khác được trong khi không tìm được một chỗ nào để thực nghiệm... ”
Thơ gửi Hăng-ri-ét, 25 tháng 11-1888.
“... Không biết khi gặp lại chị, Hăng-ri-ét sẽ đánh giá kết
quả thời gian chị sống ở đây như thế nào. Ai cũng nói rằng chị thay đổi nhiều về
cả thể xác lẫn tinh thần. Có gì là lạ. Khi mới đến đây, mình mới 18 tuổi. Từ đó
đến nay, đã qua biết bao gian truân! Chị cảm thấy như vừa qua một cơn ác mộng.
Nguyên tắc đầu tiên: “Không thể để bất cứ ai, bất cứ sự việc gì làm ta ngả
lòng”...
Chú thích:
[24]
[26]
Chương 7
thoát ly
Thấm thoát đã ba năm làm cô giáo, ba năm đơn điệu, túi bụi và
túng thiếu điểm bằng một vài niềm vui và một nỗi buồn. Giờ đây, cuộc sống im
lìm, bi thảm của cô gái đang chuyển động qua từng bước mà thoạt tiên Ma-ni-a
không cảm thấy được. Ở Paris ở Vác-xô-vi có những sự kiện tưởng như không quan
trọng gì, nhưng thật ra đang đảo lộn ván bài định đoạt số phận của Ma-ni-a.
Ông giáo về hưu, rồi đi tìm việc làm thêm để đỡ đần các con
gái. Tháng tư năm 1888, ông nhận một việc khó nhọc và khô khan: điều khiển,
trông coi một nhà cải tạo thiếu niên không xa Vác-xô-vi lắm. Ở đây từ cảnh vật
đến con người là một môi trường chán ngấy, nhưng tiền lương khá cao, ông có thể
trích một phần, hàng tháng gửi cho Brô-ni-a.
Việc đầu tiên của Brô-ni-a là nhắn ngay cho em gái không phải
gửi tiền cho chị nữa. Việc thứ hai và xin với ông giáo giữ lại mỗi lần tám rúp
trong số bốn mươi rúp cha cho hàng tháng để hoàn lại dần số tiền em gái đã
giúp. Thế là vốn liếng của Ma-ni-a lại từ số không tăng lên...
Lại còn nhiều tin nữa của cô sinh viên khoa y từ Paris báo về.
Brô-ni-a học tập đều, lần lượt đỗ các kỳ thi. Chị yêu một người Ba Lan tên là
Ca-di-mia Du-xki, một bạn học duyên dáng và có nhiều đức tính. Chỉ một điều bất
tiện là anh bị cấm cố ở Ba Lan vì còn án đi đày.
Sang 1889, công việc của Ma-ni-a ở Schuc-ki đã xong. Từ ngày
lễ thánh Giăng, ông bà Z. không cần đến cô nữa. Phải tìm một nơi khác. Cô giáo
trẻ đã nhắm một nơi rồi, một nhà kỹ nghệ ở Vác-xô-vi. Đây là sự thay đổi hàng bấy
lâu chờ đợi.
Từ biệt Schuc-ki và những cánh đồng củ cải! Từ biệt gia đình!
Hôm chia tay, hai bên tươi tỉnh, vui vẻ. Được giải phóng, Ma-ni-a trở về
Vác-xô-vi, say sưa hít thở không khí thành phố quê hương. Rồi chưa kịp nghỉ
ngơi, đã lại ngồi tàu! Đi đến một bãi biển buồn tẻ trên bờ Ban-tích – Dô-pốt, ở
đây, những chủ mới, ông bà F. đang đi nghỉ mát cùng con cái.
Thư cho Ca-di-a (từ Dô-pốt) ngày 14 tháng bảy 1889, Ma-ni-a kể:
“Lúc đi tàu, không có chuyện gì xảy ra, mặc đầu đã có linh
tính chẳng lành. Phải đổi tàu năm chỗ mà mình không nhầm toa, không bị mất cắp.
Dồi thịt mang đi đường ăn hết nhẵn.
Ông bà F. ra tận ga đón, niềm nở. Mấy đứa trẻ rất dễ thương,
mình thấy mến ngay...”
Rồi cả gia đình ông F. cùng cô giáo mới lại trở về Vác-xô-vi.
Đối với Ma-ni-a, bắt đầu một năm tương đối dễ chịu, thư thái.
Bà F. rất đẹp, rất sang, rất giàu. Ma-ni-a sẽ được chứng kiến và tiếp xúc lần đầu
tiên và cũng là lần cuối cùng với tất cả sự xa hoa phù phiếm mà phú quý có thể
đem lại cho một người đàn bà được nuông chiều. Được cái thích là bà F. rất
khéo, quý mến và không ngớt lời ca ngợi “cô Xkhua-đốp-xka tuyệt diệu” và muốn
cô cùng dự các buổi tiệc trà, khiêu vũ...
Rồi bỗng một tin đột ngột. Một buổi sáng – người đưa thư giao
cho Ma-ni-a một cái thư từ Paris. Thư của Brô-ni-a, viết vội trên một mảnh giấy
kẻ ô vuông giữa hai buổi lên lớp ở đại giảng đường, mời em gái năm sau đến ở
nhà riêng của chị.
Thơ viết từ Paris tháng 3 năm 1890:
“Chị định sẽ cưới trong hè. Anh Ca-di-mia lúc ấy đã ra bác sĩ
và chị cũng chỉ còn một kỳ thi nữa thôi. Anh chị sẽ ở lại Paris một năm đợi chị
thi xong sẽ cùng về Ba Lan. Chị tính như vậy là phải, em nghĩ sao? Chị đã hai
mươi bốn, mà anh ấy thì ba mươi tư, chẳng còn sớm sủa gì. Đợi thêm thật là vô
lý!
Còn em, em cũng phải làm việc gì cho bản thân đi chứ? Năm nay
hãy cố dành dụm vài trăm rúp, sang năm có thể đi Paris-ri và đến ở nhà anh chị.
Cần nhất là phải có vài trăm rúp ghi tên theo học ở Xoóc-bon. Năm đầu, cứ ở với
anh chị. Mấy năm sau khi anh chị không ở đây nữa, cha sẽ gửi tiền cho em.
Thôi, em hãy quyết định đi! Em đợi quá lâu rồi! Chị tin chắc,
sau hai năm em sẽ đỗ cử nhân. Vậy em nhớ dành dụm từ bây giờ, gửi tiền một nơi
chắc chắn, chớ cho vay. Có lẽ nên đổi ngay ra Phơ-răng, đổi bây giờ có lợi, ít
nữa tiền sẽ bị hạ”.
Dễ chừng ai đó hồ hởi nhận lời đi Paris ngay chắc? Đâu có vậy!
Những năm tù túng đày ải vừa qua không làm cô gái khác thường này chua xót, mà
chỉ luyện cho cô tính thận trọng. Hơn thế, vẫn lòng hy sinh cao cả vốn có, lại
một lần nữa làm cho Ma-ni-a bỏ lỡ dịp tốt. Cô không muốn đi, vì đã hứa là sẽ về
ở với cha, giúp chị Hê-la, giúp anh Dô-dếp.
Ngày 12 tháng 3 năm 1890, Ma-ni-a biên thơ trả lời chị
Brô-ni-a:
“Em của chị đã ngu, vẫn ngu, và sẽ suốt đời ngu: nói cách
khác, em không có và sẽ chẳng bao giờ gặp may cả. Em đã từng mơ ước đến Paris
như mong đợi Chúa cứu thế, nhưng hy vọng ấy đã từ bỏ em lâu rồi. Giờ đây, nó lại
hiện ra trước mắt, em bâng khuâng không biết làm thế nào. Em không dám nói với
cha. Cha đang vui với ý nghĩ rằng, năm tới, em sẽ về cùng sống. Em cũng muốn tuổi
già của cha được sung sướng đôi chút, nhưng tim em như muốn vỡ ra khi nghĩ mình
có khả năng mà chưa sử dụng được. Em lại đã hứa cố hết sức làm sao, năm tới,
tìm được việc cho chị Hê-la ở tại Vác-xô-vi. Chị ấy vẫn như “em bé” trong nhà,
em cảm thấy có nhiệm vụ lo thêm cho chị ấy! ”
Brô-ni-a cứ khẩn khoản, bàn tới. Nhưng nói gì thì nói, còn
thiếu cái yếu tố quyết định: chị còn nghèo, chưa mua được cho Ma-ni-a một cái
vé tàu hỏa để buộc cô phải lên tàu. Cuối cùng, hai chị em thỏa thuận khi nào hết
hợp đồng với ông bà F. cô sẽ về ở Vác-xô-vi một năm, sống gần ông giáo lúc này
đã thôi việc ở trại thiếu niên. Cô sẽ dạy học kiếm thêm tiền. Đến lúc đó, cô sẽ
đi Paris.
*
Lại một giấc mơ trôi qua suốt thời gian ở tỉnh với những
khách khứa rộn ràng huyên náo ở nhà ông bà F., Ma-ni-a trở về với bầu không khí
lòng hằng ưa thích, sống bên cha già trong một căn nhà riêng và hàng ngày lại
được nghe những câu chuyện thú vị, bổ ích. Trường “Đại học di động” lại mở của
rộng đón cô. Mà một sự kiện quan trọng, một niềm vui không gì sánh tày, lần đầu
tiên trong đời Ma-ri-a bước vào một phòng thí nghiệm.
Đó là ở căn nhà số 66, đại lộ Kra-kop, cuối một cái sân trồng
tử đinh hương, một tầng gác có cửa sổ bé tí. Ở đây, một anh họ đàng mẹ là Dô-dếp
Bô-gu-xki mở một phòng làm việc mang cái tên hoa mỹ: “Bảo tàng kỹ nghệ và Nông
lâm”. Tên gọi cố ý huênh hoang, mập mờ chỉ cốt che mắt các nhà chức trách Nga.
Một bảo tàng không làm họ nghi ngờ gì. Và sau cửa kính của một bảo tàng, vẫn có
thể giảng dạy khoa học cho những người Ba Lan trẻ.
Sau này, Ma-ri Qui-ri viết:
“Tôi được rất ít thì giờ làm việc trong phòng thí nghiệm ấy,
thường chỉ có thể tới đây vào buổi chiều, sau bữa ăn hoặc Chủ nhật. Một mình ở
đó, tôi thử làm lại các thí nghiệm tả trong các sách vật lý và hóa học. Kết quả
nhiều khi bất ngờ. Họa hoằn mới được một thành công nhỏ khuyến khích. Nhưng bao
phen thất vọng do đổ vỡ, hư hỏng vì thiếu kinh nghiệm. Tôi thấy rằng mỗi bước
tiến trong lĩnh vực này không nhanh và cũng chẳng dễ đâu. Những cuộc thử thách
đầu tiên ấy làm nở trong tôi cái ý thích tìm tòi thực nghiệm”.
Tới khuya trở về nhà, Ma-ni-a vẫn còn gửi tâm trí bên những
điện nghiệm kế, ống nghiệm cùng những chiếc cân chính xác. Cô bỏ áo ngoài, ngả
lưng trên chiếc ghế đệm dài hẹp. Nhưng trằn trọc không sao ngủ được. Cái chí hướng
bấy lâu còn lờ mờ, nay bừng sáng, thúc giục như một mệnh lệnh. Và mỗi lần nâng ống
nghiệm với bàn tay khéo léo tại Bảo tàng kỹ nghệ Nông lâm này, Ma-ni-a lại liên
tưởng đến những kỷ niệm xa xăm thời thơ ấu, những vật dụng vật lý nằm im lìm
trong tủ kính của ông giáo, những thứ mà ngày xưa, cô hằng khao khát muốn chơi.
Giờ đây, Ma-ni-a đang nối lại sợi chỉ của cuộc đời mình.
Ban đêm sống sôi nổi như vậy, nhưng ban ngày, vẫn tỏ ra bình
thản. Cô không muốn những người xung quanh biết sự sốt ruột nóng lòng đang như
thúc sau lưng mình. Những ngày tháng cuối cùng sống bên cha, cô muốn cha hoàn
toàn sung sướng. Anh Dô-dếp cưới vợ, rồi chị Hê-la có việc làm, đều được cô góp
sức tận tình. Còn một mối tình cảm nữa cứ làm cho Ma-ni-a trù trừ chưa quyết định
được ngày đi. Cô còn nhớ Ca-di-mia. Tuy bị một sức mạnh thần kỳ lôi cuốn đến
Paris, chẳng phải là không day dứt mà Ma-ri-a nghĩ đến mấy năm xa nhà.
Tháng chín 1891, Ma-ni-a đi nghỉ hè ở Da-cô-pan vùng núi
Các-pát, và hẹn gặp Ca-di-mia Z. Ông giáo viết cho Brô-ni-a:
“Ma-ri-a còn ở lại Da-cô-pan, 13 ngày em nó mới về vì ho và
cúm nặng, thầy thuốc bảo không chữa dứt thì bệnh sẽ dai dẳng suốt mùa đông. Thật
vừa thương lại vừa giận. Chỉ vì xem thường sức khỏe, ăn mặc phong phanh mà nên
nỗi này.
Thư nó viết cho cha thảm thiết quá. Cha lo nó có thể yếu mòn
đi vì buồn phiền và nghĩ ngợi về số phận bấp bênh. Nó có một nỗi niềm riêng tư
về tương lai, nó bảo khi về sẽ kể hết cho cha. Thật ra, cha cũng đoán là chuyện
gì rồi, chả hiểu nên vui hay nên buồn. Nếu cha không nhầm thì vẫn nỗi niềm ấy
do cũng vẫn những con người ấy gây ra. Tuy nhiên, nếu có thể xây dựng cuộc đời
theo trái tim mình và đem lại hạnh phúc cho hai người, thì cũng đáng đương đầu
với những cái đó. Ngoài ra, cha chả biết gì hơn!
Tin con mời em tới Paris đến với nó quá đột ngột khiến nó
phát sốt lên và càng lo nghĩ tợn. Cha cảm thấy nó tha thiết muốn tìm đến ngọn
nguồn của khoa học mà nó hằng mơ ước. Song điều kiện lúc này chưa cho phép, và
khi em trở về nhà chưa khỏi hẳn thì nhất quyết cha không để em đi. Mùa đông ở
Paris khó khăn lắm. Ấy là không kể đến nhiều mặt khác, như là nếu phải xa em
thì cha rất khổ tâm, nhưng chuyện này chỉ là thứ yếu. Hôm qua cha vừa biên thư
cho em để an ủi nó. Về ở Vác-xô-vi, dù Ma-ni-a không tìm được chỗ dạy học, hai
bố con vẫn có cách nuôi nhau trong một năm.
Con nói nhà con rất khỏe, cha mừng. Giá mỗi cô gái của cha
cũng gặp được một người chồng như anh Ca-di-mia nhỉ!”.
Ôi, tấm lòng cha đáng yêu! Trong thâm tâm ông giáo chả muốn
chút nào để con gái út cứ lang bạt mãi trên cái thế giới bao la này. Ông thầm
mong một cái gì đó sẽ giữ Ma-ri-a ở lại Ba Lan. Nên chăng, một cuộc hôn nhân với
Ca-di-mia Z.?
Nhưng đôi trai gái đã có dịp tâm tình dứt khoát với nhau giữa
hai cuộc leo núi ở Da-cô-pan trong vùng Các-pát. Như mọi lần, chàng sinh viên nọ
cứ sợ sệt, đắn đo. Người yêu không cầm lòng được nữa, đã nói thẳng:
“Anh đã không thấy có cách nào đưa chúng ta ra khỏi cái cảnh
éo le này thì em cũng không bày cho anh được”.
Mối dây liên lạc mong manh còn giữ cô ở lại nay đã đứt. Không
còn gì cản trở Ma-ri-a nữa. Cô khẩn trương chuẩn bị ra đi.
Về sau, cụ Xkhua-đốp-xki nhận xét mối tình đầu của con gái
tuy có gắn bó nhưng không thắm thiết lắm và Ma-ri-a đã biết “tự hào và kiêu
hãnh”. Cô nhìn lại quãng đời phải sống kiên nhẫn. Tám năm xa rời trường trung học,
sáu năm làm cô giáo. Giờ đây, Ma-ri-a không còn là một thiếu nữ đang đứng trước
cuộc đời. Chỉ thiếu vài tuần, cô đã tròn hai mươi bốn tuổi.
Rồi bỗng nhiên, ngày 23 tháng 9 năm 1891, một lá thư kêu gọi
Brô-ni-a, cầu cứu:
“Chị Brô-ni-a ơi! Chị trả lời em dứt khoát nhé! Liệu em có thể
đến ở với anh chị không? Hiện nay em thấy đã đến lúc đi Paris được rồi. Em có đủ
tiền tiêu pha. Nếu chị xem đảm bảo được cho em hai bữa ăn mà không thiếu thốn lắm
thì biên thơ ngay cho em biết. Đối với em đó là một hạnh phúc lớn. Nó sẽ vực em
dậy sau thử thách đau khổ đã đến với em trong hè vừa qua, nó còn ảnh hưởng suốt
đời em. Nhưng em chẳng dám ép đâu.
Chị đang có mang, có thể em sẽ giúp ích được chút nào chăng?
Nếu chị không thấy gì bất tiện thì cho em biết. Nhân thể, chị nói rõ thi vào
trường phải thi những môn gì và hạn cuối cùng ghi tên là ngày nào.
Em nóng lòng nghĩ tới ngày đi, nên không thiết bàn việc gì
khác với chị cho đến khi chị trả lời. Chị biên thư ngay nhé. Em gửi đến anh chị
những lời thân mến.
Thu xếp cho em ở đâu cũng được. Em sẽ không làm bận chị đâu.
Em hứa sẽ không làm phiền, làm mất trật tự. Mong chị trả lời ngay, có gì cứ nói
thật cho em nhé!”
*
Brô-ni-a không đánh điện trả lời để đỡ tốn tiền, còn Ma-ni-a
thì chưa đi ngay được vì phải tính toán chi ly về chuyến đi to lớn này. Đặt tất
cả vốn liếng lên bàn, kể cả số tiền cha cho thêm, tuy ít nhưng đối với ông giáo
cũng rất quan trọng, Ma-ri-a bắt đầu tính.
Tiền lấy giấy thông hành này, tiền vé tàu từ Vác-xô-vi đến
Paris này. Chả dại mà đi suốt hạng ba – ở Nga và ở Pháp đó là hạng thấp nhất –
nhưng quãng đường qua Đức lại còn loại toa hạng tư, trống trải như những toa chở
hàng, bốn phía kê ghế dài, khoảng giữa trống, có ghế gập mang đi ngồi thì tươm
chán!
Brô-ni-a vốn có đầu óc thiết thực đã căn dặn: mang theo tất cả
những gì cần thiết để đến Paris đỡ phải mua. Chăn, màn, đệm nên gửi đi trước, bằng
tàu thường. Ma-ri-a xếp sẵn ở trên ghế dài quần áo lót may bằng thứ vải dày, mấy
cái áo ngoài, giày dép và hai cái mũ dạ. Cạnh đó là một cái rương to bằng gỗ,
màu nâu, thứ đồ dùng duy nhất mới sắm, đơn giản nhưng chắc chắn, trên mặt rương
đã sơn hai chữ tắt M. X.
Đệm gửi đi rồi, rương đăng ký rồi. Ma-ri-a chỉ còn mang theo
mấy thứ lặt vặt đi đường: thức ăn và nước uống cho ba ngày ngồi tàu, cái ghế gập
dùng trên toa xe lửa qua Đức, mấy quyển sách, một túi kẹo, một cái khăn.
Đặt hành lý vào túi lưới trong toa, giữ chỗ trên cái ghế dài,
hẹp và cứng nhắc, Ma-ni-a bước xuống xe. Vẫn mặc chiếc áo khoác đã sờn lại rộng
mà sao hôm nay trông cô trẻ đẹp hẳn lên, đôi má ửng hồng, cặp mắt màu tro long
lanh như người đang cơn sốt. Bất giác cô thấy xúc động, rồi như bị giày vò vì hối
hận, Ma-ni-a ôm hôn cha, nói mãi những lời âu yếm, ngập ngừng, gần như xin lỗi:
- Con sẽ không vắng nhà lâu đâu... nhiều lắm là hai, ba năm!
Học xong, thi xong vài môn, con sẽ trở về rồi con sống bên cha, sẽ không bao giờ
bố con xa nhau nữa, cha nhỉ?
- Phải, An-chiu bé bỏng của cha – ông giáo khẽ nói, giọng
khàn khàn, hai tay cứ ôm ghì lấy con gái – Trở về nhanh, con nhé! Cố học con
nhé! Chúc con may mắn!
*
Trong đêm khuya chỉ nghe tiếng còi tàu rúc giữa tiếng bánh xe
sắt lăn rền, toa xe lửa hạng tư chạy qua nước Đức.
Ngồi trên chiếc ghế gập, đôi chân ủ kỹ, thu gọn quanh mình mấy
gói hành lý cứ chốc chốc lại đếm đi đếm lại cẩn thận, Ma-ni-a tận hưởng niềm
vui tuyệt vời của mình. Cô nhớ lại quá khứ, nghĩ đến cuộc ra đi thần tiên này bấy
lâu mong đợi. Cô thử tưởng tượng đến tương lai và trong tâm trí, đã thấy mình sắp
trở về thành phố quê hương, trở thành một giáo sư bình thường, khiêm tốn.
Cô không hề có ý nghĩ – xa xôi biết bao đối với cô – rằng khi
bước lên tàu, cô đã chọn giữa tối tăm và ánh sáng, giữa những chuỗi ngày buồn tẻ
và một cuộc sống bao la rộng lớn.
PHẦN THỨ II - Chương 8
paris
Những khu phố đẹp nhất của Paris không nằm trên tuyến đường từ
khu nhà Vilet đến trường đại học Xooc-bon (Sorbonne) và cuộc hành trình chẳng
chóng vánh hoặc là khó khăn ghê gớm gì. Phố Đức quốc, nơi vợ chồng chị Brô-ni-a
ở vẫn có xe khách, loại xe ba ngựa kéo, hai tầng, lên tầng trên bằng một cầu
thanh xoáy ốc chóng cả mặt, chở đến ga đằng đông. Từ đây tới phố Các trường, lại
một chuyến xe nữa.
Tay cắp chiếc cặp da cũ có từ thời còn ở trường “Đại học di động”,
Ma-ri-a cố nhiên trèo lên ngồi ở tầng thượng trống trải và dãi dầm mưa nắng – rẻ
tiền mà thích thú hơn biết chừng nào. Chót vót trên cái đài quan sát di chuyển ấy,
gió đông thổi rát cả mặt, cô gái cúi người chăm chú nhìn. Cái phố La-fay-et (La
Fayette) dài dằng dặc chán ngấy, nhưng cần quái gì? Rồi đại lộ Xê-ba-tô-pôn (
Sébastopol) chỉ toàn cửa hiệu nối đuôi nhau đến buồn tẻ, cũng cần quái gì? Những
gian hàng đó, những cây trụi hết lá, cái đám đông ấy, cái mùi bụi bậm ấy, tất cả
đó là Paris…Đây rồi, Paris!
Đến Paris, sao mà người ta thấy trẻ thế, sung sức thế, như muốn
bay nhảy, tràn đầy hy vọng! Và đối với một cô gái Ba Lan quả là một cảm giác giải
phóng tuyệt vời.
Đang mệt mỏi, phờ phạc sau một cuộc hành trình vất vả, từ lúc
đặt chân xuống sân ga Phương Bắc (Gare du Nord) khói mù, Ma-ri-a cảm thấy đôi
vai nhẹ bỗng đi, buồng phổi trái tim thở, đập khoan khoái, dễ chịu vì ách nô lệ
không còn nữa.
Với khoản tiền nhỏ dành dụm từng đồng rúp một, giờ đây cô đã
có quyền được dự thính những bài giảng mà mình thích. Có biết bao môn học, giờ
giấc phân phối ghi đầy bảng thông báo. Cô lại có một chỗ trong phòng thí nghiệm,
có người chỉ dẫn, khuyên bảo cho cách sử dụng các dụng cụ, không phải mò mẫm.
Cô đã làm được các thí nghiệm. Vui sướng biết chừng nào! Ma-ri-a nay đã là một
nữ sinh viên đại học khoa học!
Từ nay, tên cô không phải là Maria, cũng không phải là
Manya.Trên tờ giấy đăng ký sinh viên, cô đã viết tên mình theo tiếng Pháp
“Marie Xkhua-đốp-xka”. Nhưng vì bạn bè không đọc nổi mấy vần quái ác Xkhua-đốp-Xka
mà cô gái Ba Lan không muốn ai gọi mình cộc lốc là Ma-ri (Marie) nên cô hầu như
vẫn mang một tên vô danh bí mật. Cô gái có mái tóc nhẹ nhàng màu nâu nhạt, ăn mặc
khắc khổ nghèo nàn, vẻ mặt lạnh lùng, mỗi lần đi ngang qua hành lang đầy tiếng
vang thường khiến các thanh niên ngạc nhiên quay lại hỏi nhau: “Ai đấy?”. Nếu
có người trả lời thì cũng chỉ chung chung, lờ mờ:”Chị ta là một người nước
ngoài.Tên gọi khó lắm! Luôn luôn ngồi hàng đầu lớp vật lý. Tính rất ít nói!”.
Đám thanh niên nhìn theo bóng dáng xinh tươi cho đến khi cô đi khuất ở hành
lang và kết luận: “Mái tóc đẹp”.
Mái tóc màu tro, vẻ mặt Xla-vơ. Một thời gian khá lâu,đám
sinh viên Xoóc-bon (Sorbonne) chỉ biết được có thế về cô bạn gái trầm lặng khó
gần ấy.
Lúc này, cô đâu còn tâm trí để ý đến đám thanh niên. Cô đang
bị những ông có dáng điệu nghiêm trang làm mê hoặc, cô đang muốn khám phá ra bí
quyết học thức uyên thâm của những người được gọi là “Các giáo sư đại học”. Thời
đó, các giáo sư lên lớp đều mặc một kiểu đồng phục: cà vạt trắng, quần áo dạ
đen luôn luôn đầy bụi phấn. Ma-ri bị thu hút vào những bộ quần áo trang trọng ấy,
những bộ râu màu xám ấy.
Hôm kia là giáo sư Lip-man, có lối giảng điềm đạm và chí lý.
Hôm qua được nghe ông Bu-ti, mặt xấu xí nhưng đầu chứa đựng cả một kho tàng
khoa học. Ma-ri muốn dự tất cả những bài giảng của hai mươi ba giáo sư có tên
trên bảng trắng. Cô tưởng như không bao giờ thỏa mãn được khao khát học hỏi
đang bừng cháy.
Mấy tuần lễ đầu, Ma-ri đã vấp phải nhiều khó khăn bất ngờ. Cô
tưởng cô đã hiểu thấu tiếng Pháp. Cô đã nhầm. Nhiều khi vì không nghe kịp và
không hiểu, cô phải bỏ mất từng câu dài. Cô cũng tưởng mình có một vốn khoa học
khá vững để dễ dàng theo dõi những bài giảng ở đại học đường. Song những buổi tự
học ở thôn quê trong buồng riêng của một cô giáo dạy tư ở Schuc-ki, những hiểu
biết thu thập qua thư từ trao đổi với ông giáo, những thí nghiệm bấp bênh tại bảo
tàng kĩ nghệ và Nông lâm làm sao thay thế được chương trình tú tài chắc nịch của
những học sinh trung học ở Paris. Ma-ri còn nhìn ra nhiều chỗ trống trong kiến
thức của mình về toán và lý. Giờ đây, phải ra sức làm việc, từng giờ từng phút,
mới hòng giật được cái bằng cử nhân khoa học tốt đẹp mà mình từng mong ước.
Trong đại giảng đường thấp dần từng bậc, ánh sáng tháng chạp
chiếu mờ mờ, Ma-ri đến đầu tiên, chọn một chỗ ở hàng ghế thấp nhất gần bục giảng.
Cô xếp bút và sách vở có thứ tự, quyển vở bọc vải xám chốc nữa sẽ ghi chép bằng
một nét chữ đẹp đều đặn. Ngay từ phút này, cô đã tập trung tư tưởng, không còn
nghe thấy chung quanh ào ào như ong vỡ tổ rồi bỗng im bặt.
Lạ thật, nhiều ông thầy có thể tạo ra một sự im lặng gần như
căng thẳng. Nghe Pôn A-pen lên lớp, trình bày mạch lạc, văn vẻ, cả giảng đường
cúi xuống, những khuôn mặt đẹp làm sao trong nếp nhăn vì tập trung chú ý ghi
ghi chép chép các phương trình do nhà bác học viết trên bảng đen. Nơi đây chỉ
có những học trò say sưa mà thôi! Đây là thế giới của toán học!
Giáo sư A-Pen trông thật uy nghiêm trong bộ y phục cứng nhắc
và với khuôn mặt có chòm râu vuông. Giọng điềm đạm, nhằn từng chữ với kiểu nói
hơi nặng của vùng An-dat-xơ Ignace Paderewski) [29]. Ông có lối chứng minh gọn gàng sáng sủa
đến nỗi tưởng như không có gì khó khăn nữa và có thể biến đổi thế giới theo ý
muốn của mình. Vững vàng và bình tĩnh,ông đi sâu vào những lĩnh vực tế nhị nhất
của trí tuệ, rồi như đánh tung hứng với các con số, các vì sao. Pôn A-pen không
ngại dùng hình ảnh táo bạo, và nói với giọng bình thản và điệu bộ khoan thai
như một người chủ:
“Tôi cầm mặt trời và ném…”
Cô gái Ba Lan ngồi nghe với một nụ cười ngất ngây. Dưới vầng
trán cao, đôi mắt màu tro xưa nay thầm kín thế, bỗng sáng rực lên sung sướng.
Sao người ta có thể cho khoa học là khô khan nhỉ? Còn gì hấp dẫn hơn là những
quy luật cố định vẫn ngự trị thế giới từ bao đời nay, và còn gì đáng khâm phục
hơn là trí tuệ con người đã khám phá ra chúng? Bên cạnh những hiện tượng rất đặc
biệt, nối liền với nhau theo những nguyên tắc rất hài hòa, bên cạnh cái trật tự
nằm trong cái hỗn độn bên ngoài, tiểu thuyết trở nên vô nghĩa, và những chuyện
thần thoại bỗng hóa nghèo nàn về trí tưởng tượng. Tâm hồn cô gái bừng nở một
nhiệt tình chỉ có thể so sánh với tình yêu, muốn đi sâu vào kiến thức vô tận,
vào vật chất và quy luật của nó.
“Tôi cầm mặt trời và ném..”
Được nghe câu nói đó của một nhà học giả uyên bác và điềm đạm,
cũng bõ công bấy lâu phấn đấu gian khổ.
Nỗi niềm sung sướng của Ma-ri không lời nào tả xiết.
Chồng của Brô-ni-a viết cho cụ Xkhua-đốp-xki:
“Kính thưa cha.
…Ở bên này, mọi việc đều tốt lành. Cô Ma-ri học hành rất
nghiêm túc, hầu như ở Xooc-bon suốt cả ngày, đến bữa ăn chiều mới về nhà. Mặc dầu
cha đã biên thư rõ ràng, giao cho con trách nhiệm bảo ban, nhưng cô ấy rất tự
ý, chẳng những không kiêng nể và nghe theo lời con, mà còn nhạo báng mỗi lần
con tỏ ra nghiêm nghị. Con mong sẽ đưa dần vào khuôn khổ, nhưng cho đến nay,
khoa sư phạm của con chưa có hiệu quả gì. Tuy thế nhưng hai anh em vẫn rất vui
vẻ hòa thuận.
Con rất sốt ruột mong Brô-ni-a sớm trở lại đây. Song cô nàng
không tỏ vẻ vội vã muốn về mặc dầu ở nhà rất cần sự có mặt của nhà con.
Xin nói thêm là độ này cô Ma-ri rất hồng hào tươi tắn.
Xin chúc cha khỏe mạnh”.
Đó là tin tức đầu tiên bác sỹ Du-xki viết về cô em vợ mà anh
nhận trách nhiệm thu xếp cho đến ở phố Đức quốc trong thời gian Brô-ni-a về Ba
Lan vài tuần. Chẳng phải nói, Ma-ri được người anh rể vui tính và hay châm biếm
này tiếp đón vồn vã nồng nhiệt thế nào. Trong đám kiều dân Ba Lan ở Pháp,
Brô-ni-a đã khéo chọn được một đối tượng đẹp trai nhất, xuất sắc nhất, có duyên
nhất. Con người hoạt bát làm sao! Ca-di-mia Du-xki trước học ở Pê-tec-bua,
O-đét-xa, Vác-xô-vi. Bị tình nghi dính líu đến vụ ám sát Sa hoàng Alec xăng II
(Alexander), anh phải trốn ra nước ngoài, ở Giơ-ne-vơ (Genève) hoạt động tuyên
truyền cách mạng, ở Pháp vào trường khoa học chính trị Paris rồi chuyển sang học
Y và trở thành bác sỹ.
Nghe đâu gia đình anh ở Ba Lan thuộc tầng lớp giàu có. Trong
hồ sơ của bộ ngoại giao Pháp còn có một bản lý lịch dựa trên điều tra của cảnh
sát Nga hoàng khiến anh không được nhập quốc tịch Pháp và không được mở phòng
khám bệnh ở Paris.
Khi trở về, Brô-ni-a được chồng và em gái vui mừng chào đón.
Quả là trong nhà đang cần sự chăm nom của chị, một người nội trợ đảm đang tháo
vát. Chỉ sau vài giờ trật tự lại trở lại với gian nhà ở gác hai có bao lơn rộng
rãi nhìn ra hàng cây cổ thụ ở phố Đức quốc. Bữa ăn lại thơm tho ngon lành, nhà
cửa lại gọn gàng ngăn nắp, sạch bóng không một hạt bụi, hoa tươi mua về cắm đầy
lọ. Brô-ni-a thật khéo thu xếp!
Việc dọn đến khu Vi let (Viette), gần công viên
Sô-mông(Chaumont) ở ngoại ô Paris chính là do Brô-ni-a. Chị không muốn ở trung
tâm thành phố. Chị đã vay một ít tiền vài lần đến nhà Tầm tầm. Rồi một buổi
sáng nọ, gian nhà mới thuê có thêm một bộ bàn ghế kiểu Vơ-ni-dơ diêm dúa và
xinh xắn, một đàn pi-a-nô và các cửa sổ đều có rèm che xếp liền nếp rất đẹp.Thế
là tạo ra được một không khí rất ấm cúng. Brô-ni-a còn khéo sắp đặt thời gian
cho mỗi người. Giờ này, phòng khám dành để Ca-di-mia tiếp những người ốm thuộc
các cửa hàng thịt và lò lợn. Giờ khác đến lượt Brô-ni-a thăm thai cho sản phụ
cũng ở đây. Hai vợ chồng rất chịu khó đến từng nhà thăm hỏi bệnh nhân đang điều
trị.
Nhưng tối đến, khi lên đèn, mọi lo nghĩ trong ngày đều gác lại.
Ca-di-mia Du-xki thích vui chơi, giải trí. Mệt mỏi, túng thiếu không hề làm giảm
sút tính hoạt bát, vui nhộn của anh. Sau những ngày làm việc căng thẳng, thỉnh
thoảng anh vẫn dành một tối đi xem hát lấy vé hạng ít tiền nhất. Hoặc giả, nếu
thiếu tiền thì anh ngồi đánh pi-a-nô vì anh đàn rất hay. Đến khuya vẫn có tiếng
chuông gọi cửa, bạn bè là những cặp vợ chồng trẻ người Ba Lan biết rằng “lúc
nào cũng có thể đến chơi nhà Du-xki được”. Và mỗi lần có khách, Brô-ni-a rất
nhanh, biến rồi lại hiện, chỉ thoáng một cái, ấm chè bốc khói đã đặt lên bàn
bên cạnh những cốc nước lọc và bánh ngọt mà chị bác sỹ vừa mới làm vội ban
trưa, giữa hai đợt khám bệnh.
Một buổi tối, Ma-ri đang mải đọc trong buồng nhỏ của cô ở đầu
nhà, tính làm việc đến khuya thì anh rể chạy vào.
- Lấy áo, mũ mau! Ta đi nghe hòa nhạc, tôi có vé mời đây rồi!
- Nhưng…
- Không nhưng gì cả! Đây là cái anh Ba Lan chơi pi-a-nô tôi
đã kể chuyện với cô. Vé bán được rất ít, chúng mình phải đến dự cho đông. Tôi
đã rủ thêm nhiều anh em khác, chúng ta vỗ tay hăng vào để tạo ra một không khí
thắng lợi. Cô chưa biết chứ anh ta chơi khá lắm!
Khó mà cưỡng nổi sự lôi kéo của Du-xki, cái anh “quỉ sứ” rậm
râu, mắt đen tươi sáng ấy, Ma-ri đành gập sách, đóng sập cửa. Mấy anh em lao xuống
cầu thang. Vừa ra đến phố thì xe ngựa phi nước kiệu đang tiến đến. Thế là phải
chạy ba chân bốn cẳng để khỏi nhỡ chuyến.
Một lúc sau, Ma ri đã ngồi trong phòng hòa nhạc E-ra còn ba
phần tư ghế bỏ trống. Trên bục xuất hiện một người gầy và cao, nét mặt khác thường,
tóc da màu đồng như tỏa hào quang, rực lửa. Anh đến ngồi trước pi-a-nô. Dưới
ngón tay thần tình của anh, Litx, Su-man, Sô-panh lần lượt sống lại. Vẻ mặt anh
cao thượng và tự hào, đôi mắt nhìn xa đầy cảm hứng. Ma-ri say sưa nghe người nhạc
sỹ lạ lùng ấy và cảm thấy dưới bộ quần áo biểu diễn bóng loáng, trước những
hàng ghế trống gần hết, anh không có vẻ một nghệ sỹ mới vào đời, mà là một
hoàng đế, một thiên thần.
Có nhiều tối, người nhạc sỹ ấy khoác tay một thiếu phụ rất đẹp
đến phố Đức quốc. Đó là bà Gooc-xka người yêu và sau này là vợ anh. Anh nói đến
cuộc đời khổ cực, những nỗi thất vọng và quá trình đấu tranh của mình, nhưng
anh không tỏ ra cay đắng chút nào. Brô-ni-a và Ma-ri nhắc lại những kỉ niệm xa
xưa, thời bà Gooc-xka còn là một cô gái 16 tuổi, có lần cùng đi với bà giáo đến
nơi bà dưỡng bệnh. Brô-ni-a vừa kể vừa cười.
- Dạo đó, mẹ chúng em trở về Vác-xô-vi cứ nói là không dám dắt
chị đi các nơi nghỉ mát vì chị đẹp quá!
Giữa câu chuyện, người thanh niên tóc bờm đỏ rực ấy bỗng cảm
hứng gõ vài hợp âm. Như có phép lạ, cái pi-a-nô xuềnh xoàng của vợ chồng chị
Brô-ni-a bỗng biến thành một cây đàn tuyệt diệu.
Người nghệ sĩ ấy trông hốc hác, thiếu ăn, nhưng duyên dáng biết
bao. Anh đang yêu rạo rực, sung sướng mà cũng đau khổ.
Sau này, anh sẽ trở thành một nhạc sĩ thiên tài và một ngày
kia, sẽ là chủ tịch hội đồng chính phủ của một nước Ba Lan giải phóng và kiến
thiết lại.
Đó là I-nha-xơ Pa-đơ-rép-xki[30].
Say sưa với cuộc đời mới của mình, Ma-ri làm việc đến quên ăn
quên ngủ. Một nguồn vui đối với cô là tình bạn bè giúp đỡ nhau học tập ở đại học.Vốn
tính dè dặt, cô chưa kết bạn với sinh viên người Pháp và mới thân với những người
đồng hương: hai bạn nữ học toán là Di-din-ka và Kra-kóp-xka, bác sỹ Mót, nhà
sinh vật học Da-nit, anh Sa-lay sau này yêu Hê-la và sẽ là con rể của gia đình
Xkhua-đốp-xki, anh Vôi-trê-khốp-xki, một chủ tịch tương lai của nước cộng hòa
Ba Lan. Họ đều là bạn cô trong nhóm kiều dân tượng trưng cho một nước Ba Lan tự
do ở cái khu La-tinh này. Cùng cảnh nghèo với nhau, họ thường tổ chức những buổi
họp, những bữa liên hoan đêm No-en. Trong dịp này, có những đầu bếp xung phong
nấu các món ăn Vác-xô-vi: xúp củ cải đỏ như hoa mào gà phải dùng nóng sốt, cải
bắp nấu nấm, cá măng nhồi thịt, bành ngọt rắc hạt thuốc phiện… một vài chén rượu
Vodka, rất nhiều nước chè. Có những nghệ sỹ tài tử đóng bi kịch và hài kịch.
Chương trình in bằng tiếng Ba Lan có những bức vẽ tượng trưng: trên cánh đồng
phủ tuyết, một túp lều, bên dưới buồng xép, một chàng trai mê mải đọc sách, một
ông già Noel đang trút những sách khoa học qua ống khói lò sưởi của một phòng
thí nghiệm. Và ngay đàng trước, là một cái túi rỗng chuột gặm.
Ma-ri thường dự vào các cuộc vui ấy. Cô không có thì giờ học
các vai hài kịch. Nhưng trong một buổi liên hoan yêu nước do nhà điêu khắc
Va-xin-khốp-xki tổ chức, cô được chọn để thể hiện hình tượng “nước Ba Lan phá
xiềng xích”.
Tối hôm ấy, không ai nhận ra cô nữ sinh viên nghiêm trang
hàng ngày nữa. Trên sân khấu, một người đàn bà lạ mặt, mặc chiếc áo dài cổ xưa
với những nếp vải màu thạch lựu, quanh mình quàng nhiều khăn tô mỏng dài mang
màu Tổ quốc, mớ tóc bung xõa xuống hai vai, bao quanh khuôn mặt cương nghị có
đôi má Xla-vơ đã đem lại cho những người đang sống tha hương một hình ảnh Ba
Lan thắm thiết.
Thế đấy, mặc dầu xa đất nước quê nhà, hai chị em Ma-ri và
Brô-ni-a nào quên được Vác-xô-vi. Họ đã chọn đến ở phố Đức quốc này, bên lề cái
thủ đô mà họ chưa dám vào hẳn, gần ngay ga Phương Bắc với những đoàn tàu đã đưa
họ đến đây. Trăm nghìn dây vô hình ràng buộc nối hai cô gái Ba Lan đó với Tổ quốc,
mà sợi dây thắm thiết nhất là thư trao đổi với cha.
Hai cô con nhà giáo nết na, lễ phép ấy biên thư cho cha chỉ
dùng ngôi thứ ba[31] và lá thư nào cũng kết thúc bằng
câu: “Con hôn tay cha yêu dấu”. Các cô tả cho cụ Xkhua-đốp-xki cuộc đời rực màu
sắc của mình và nhờ cha trăm thứ vặt vãnh. Làm như ngoài Vác-xô-vi ra không còn
đâu bán chè nữa, hoặc như khó lòng tìm mua được ở Pháp một cái bàn là dùng tạm!
Cố nhiên Ma-ri cũng thuật lại cho cụ giáo buổi dạ hội tại gia
đình nhà điêu khắc và thành công của cô trong vai hoạt tượng “Ba Lan”. Nhưng rồi
cô nhận thức rất nhanh rằng những cuộc vui chơi ấy ảnh hưởng đến việc học tập của
mình nên tìm cách tránh. Phải đâu Ma-ri-a Xkhua-đốp-xka sang Pháp để đóng các
vai hoạt cảnh? Mỗi giây phút không học hỏi là một giây phút mất đi.
Lại một khó khăn nữa. Ở phố Đức quốc, cuộc sống thú vị và êm
đềm song Ma -ri không tìm được ở đây sự yên tĩnh của tâm hồn. Không thể cấm anh
rể chơi đàn hoặc tiếp bạn bè hoặc cứ đến phòng cô trong lúc cô đang nghĩ cách
giải những phương trình rắc rối. Cũng chẳng ngăn được bệnh nhân của hai bác sỹ
lui tới ồn ào trong nhà. Ban đêm, Ma-ri thường giật mình tỉnh dậy vì tiếng
chuông gọi cửa và tiếng guốc lộc cộc của những người đến mời Brô-ni-a đỡ đẻ.
Nhưng trước hết, ở cái khu Vi-let này vô cùng là phiền phức:
phải mất một tiếng mới đến được trường Xooc-bon. Và tiền vé hai chuyến xe hàng
lâu dần cũng thành quá đắt.
Ma-ri thấy cần dời ra ở khu La-tinh, gần trường Đại học, gần
các phòng thí nghiệm, các thư viện. Anh chị Du-xki cứ khăng khăng bắt cô cầm lấy
ít tiền chuyển nhà, Ma-ri tự mình đi xem và hỏi thuê những buồng xép ở sát nóc.
Từ giã ngôi nhà ở cái khu lò lợn này, Ma-ri không khỏi luyến
tiếc khung cảnh bình dị mà đầy yêu thương, dũng cảm và vui tươi. Giữa Ma-ri và
Ca-di-mia Du-xki đã nảy nở một tình cảm anh em ruột thịt gắn bó suốt đời. Còn với
Brô-ni-a những năm vừa qua đã là một thiên tiểu thuyết mỹ lệ về sự hiến dâng và
lòng trung hậu, về tinh thần tương trợ chân thành, thân thiết.
Mang bụng khệ nệ, Brô-ni-a ân cần gói ghém mấy thứ quần áo và
đồ dùng sơ sài, tiều tụy của đứa em gái út, tất cả chất gọn trong một chiếc xe
người kéo. Và một lần nữa, hai vợ chồng chị lại mua vé tầng thượng trên những
chuyến xe khách nổi tiếng một thời để long trọng tiễn chân Ma -ri đến chỗ ở
sinh viên của cô.
Chú thích:
[29] Miền Đông Bắc nước Pháp (Alsace)
[30] Ignace Paderewski (1860-1941) Nhạc sĩ biểu diễn piano và
sáng tác, đồng thời là một nhà hoạt động chính tr ị người Ba Lan
[31] Trong tiếng Ba Lan ngôi thứ ba dùng chỉ người trên là một
biểu hiện lễ độ.
Chương 9
bốn mươi rúp một tháng
Phải, đời Ma-ri (Marie) chưa đến nỗi nghèo túng xác xơ! Mấy
tháng sống ở phố Đức quốc mới là một chặng đường thích nghi. Từ nay, cô gái sẽ
dần dần dấn mình vào cảnh cô quạnh. Đối với Ma-ri, những người cô thường gặp
hàng ngày giờ đây chẳng khác gì những vách tường cô vẫn đi chạm phải. Cô tự
giam mình vào im lặng và họa hoằn lắm mới chào hỏi vài lời. Trong suốt ba năm tới
đây, Ma-ri sẽ sống một cuộc sống hướng vào một việc duy nhất là học tập. Một cuộc
sống như cô vẫn hằng mơ ước, một cuộc sống toàn thiện theo kiểu những người đi
tu, những giáo sĩ.
Vả lại hoàn cảnh thực tiễn buộc Ma-ri phải sống thật giản dị,
khắc khổ. Từ khi thôi không ăn ở tại nhà anh rể Du-xki, Ma-ri phải tự trang trải
mọi chi tiêu. Thu nhập của cô – do tiền dành dụm từ trước đem chia thành từng
khoản cộng với những số tiền nho nhỏ thỉnh thoảng cha gửi cho – thu gọn trong bốn
mươi rúp mỗi tháng.
Làm thế nào mà một người phụ nữ, một người nước ngoài có thể
sống tươm tất ở Paris-ri năm 1852 với bốn mươi rúp mỗi tháng, nghĩa là khoảng
ba quan một ngày, mà phải chi bao nhiêu thứ, tiền nhà, tiền ăn, may mặc, tiền
sách vở và học phí đại học. Đó là bài toán cần phải giải. Nhưng có lần nào
Ma-ri lại không tìm ra lời giải cho một bài toán?
Không riêng gì Ma-ri mà nhiều chị em Ba Lan khác cũng nghèo
như vậy, cũng phải sống với vẻn vẹn một trăm quan một tháng. Họ họp nhau lại
thành từng nhóm ba, bốn người ăn chung, ở chung một buồng. Ai ở riêng thường
cũng bỏ mấy giờ mỗi ngày tự nấu lấy ăn và khâu vá lấy quần áo, khéo sắp xếp vẫn
có thể ăn no, mặc ấm và khá lịch sự là khác. Xưa kia, Brô-ni-a đã từng làm như
vậy và chị đã từng nổi tiếng một thời ở khu La-tinh về tài nấu nướng.
Marie chẳng thiết gì theo những gương khôn ngoan ấy. Cô cần
yên tĩnh hơn cả nên không thuê chung buồng với ai. Chỉ tha thiết muốn làm việc,
cô chẳng còn đâu thì giờ nghĩ đến tiện nghi bản thân. Mà giá có muốn cũng chẳng
làm được. Một người con gái từ năm mười bảy đã phải đi dạy học tư, ăn ở ngay
nhà người ta, bận dạy học đến bảy, tám tiếng mỗi ngày, làm gì còn thì giờ để giỏi
giang về nội trợ? Tất cả những gì mà Brô-ni-a học được khi còn giữ tay hòm chìa
khóa ở nhà thì Ma-ri không biết. Và người ta kháo với nhau trong nhóm đồng
hương Ba Lan, “Cô Xkhua-đốp-xka không hề biết xúp nấu bằng gì”.
Ma-ri không biết và cũng không muốn biết. Tội gì bỏ cả buổi
sáng để tìm bí quyết nấu xúp trong khi cũng thời gian ấy có thể học được vài
trang vật lý hoặc đến phòng thí nghiệm làm được một phân tích lý thú?
Trong chương trình hàng ngày, Ma-ri dứt khoát bỏ hết cả buổi
giải trí, gặp gỡ bạn bè và đến cả khoản tiếp xúc với mọi người. Cô khẳng định đời
sống vật chất là không quan trọng, thậm chí không có nữa. Trên nguyên tắc ấy,
cô tự ghép mình vào một cuộc sống khắc khổ, lạ lùng.
Thư gửi Dô-dép ngày 17 tháng 3 năm 1893:
“Có thể nói bây giờ em làm việc được rất nhiều, gấp trăm lần
dạo mới qua đây, còn ở phố Đức quốc, đằng chị Brô-ni-a, hồi đó cứ bị quấy rầy
luôn. Anh Ca-di-mia, chồng chị Brô-ni-a hình như nghĩ rằng hôm nào em không đến
trường thì chẳng còn việc gì khác ở nhà là tiếp chuyện anh ấy. Có lần em đã phải
nói thẳng… mấy hôm sau cả hai anh chị đã tiếc, đến chỗ em và ba người lại uống
trà với nhau vui vẻ.
Ở đằng nhà, chị dâu em vẫn săn sóc đến cha như chị đã hứa với
em đấy chứ? Cha biên thư, bắt đầu nói về chị một cách âu yếm khiến em lo rồi
cha quên em đấy!...”
Phố Phơ-lát-te, đại lộ Po Roay-an, phố Phơi-ăng-tin… Những chỗ
ở mà Ma-ri thuê đều chung một đặc điểm là rẻ tiền và thiếu tiện nghi. Thoạt
tiên cô đến một nhà trọ xoàng xĩnh có sẵn đồ đạc. Ở đây phần lớn là sinh viên
có gia đình, thầy thuốc hoặc sĩ quan của doanh trại bên cạnh. Sau đó, muốn yên
tĩnh hơn, cô tìm thuê một gian sát nóc, tầng trên cùng một ngôi nhà khá giả, là
loại phòng dành cho người nhà. Với 15 hoặc 20 quan một tháng, chỉ có thể được một
buồng cỏn con, không điện nước, không được sưởi ấm, ánh sáng lọt qua một cửa tò
vò trên mái, chỉ đủ thấy một mảnh trời vuông.
Đồ đạc của Ma-ri vẻn vẹn có chiếc giường gấp bằng sắt và nệm
mang từ Vác-xô-vi, một lò sưởi, một bàn gỗ tạp, một ghế làm bếp, một chậu, một
bình xách nước, một bếp cồn vừa bằng cái đĩa, sẽ đủ dùng nấu ăn trong suốt ba
năm trời, hai cái đĩa, một dao, một dĩa, một thìa, một bát, một xoong, một ấm
và ba chén uống nước, để anh chị Du-xki có đến thì cùng ngồi dùng trà, theo tục
lệ Ba Lan. Giờ đây, rất ít khách khứa, nhưng mỗi lần, Ma-ri đều đốt cái lò sưởi
con, lôi chiếc rương vừa là chạn đồ đạc vừa là tủ áo ra để làm ghế ngồi.
Đương nhiên, Ma-ri phải tự dọn dẹp lấy. Dù chỉ thuê một giờ
người giúp việc hàng ngày thì tiền công cũng quá nặng đối với cô. Mọi chi phí về
tàu xe đã sút hẳn. Thời tiết thế nào cũng mặc, Ma-ri vẫn đi bộ tới Xoóc-bon. Tiền
than giảm xuống mức tối thiểu: cả mùa đông, không quá hai bao tải than quả bàng
mua ở cửa hàng góc phố. Cầu thang khó đi, mỗi đoạn lại phải nghỉ để thở, cô vẫn
khệ nệ chuyển từng xô than lên tận tầng sáu. Để đỡ dầu đèn, tối đến, cô sang
thư viện Xanh Giơ-nơ-vi-e-vơ, ở đó có đèn sáng, ấm áp, cô gái Ba Lan nghèo, hai
tay ôm đầu, có thể làm việc tới 10 giờ đêm, mãi đến khi thư viện đóng cửa. Về
nhà, chỉ cần đủ dầu thắp đèn đến hai giờ sáng, học cho đến khi mắt đỏ hoe lên,
cô mới buông sách, lăn vào giường ngủ.
Ngoài học ra, việc duy nhất trong thực tế hàng ngày mà Ma-ri
có thể làm là khâu vá. Đây là kỷ niệm của những giờ nữ công ở ký túc xá
Xi-coóc-ca và những ngày dài đằng đẵng sống ở Schúc-ki cô vừa trông học trò, vừa
khâu. Nào Ma-ri có thích diện gì. Ít khi thấy cô tìm mua những mảnh vải giá rẻ
để cắt may một áo bờ-lu mới. Hình như cô đã thề không bao giờ rời những chiếc
áo mang từ Vác-xô-vi, dù đã cũ nhẵn bóng hay sờn chỉ cô vẫn thích mặc và gìn giữ,
năng chải chuốt, may vá. Khi học đã mệt, đôi khi cô cũng giặt giũ trong cái chậu
thau, cho đầu óc “đỡ căng thẳng”.
Cô sinh viên nghèo đó không cho phép mình nghĩ đến đói hoặc
rét. Để đỡ tiền than, và cũng do đãng trí, cô không hay đốt lò sưởi ống khói
ngoằn ngoèo và mải viết những con số và những phương trình, không thấy rằng mấy
ngón tay đã cóng và hai vai đang run rẩy vì rét.
Lúc này mà được bát xúp nóng hay miếng thịt rán thì khỏe ra
đây! Nhưng Ma-ri nào có biết nấu xúp! Tội gì tiêu một phơ-răng và bỏ nửa giờ để
lạng mỏng một miếng thịt!
Hầu như Ma-ri không hề đặt chân tới cửa hàng thịt và càng
không biết đến hàng ăn vì quá đắt. Ngày nào cũng chỉ bánh mì bơ và nước chè. Nếu
thèm ăn ngon thì vào một hiệu bánh ngọt ở khu La-tinh gọi hai quả trứng hoặc
mua một thỏi sô-cô-la hay một thứ hoa quả mang về.
Cô gái hồng hào tươi tắn cách đây mấy tháng khi từ giã
Vác-xô-vi nay sút hẳn đi vì kham khổ. Có lần Ma-ri vừa đứng dậy khỏi bàn, thấy
choáng váng, chỉ kịp bước đến giường thì ngất. Tỉnh dậy, cô nghĩ có lẽ mình ốm
nên mới ngất như vậy, nhưng lại coi thường bệnh. Cô không hề thấy rằng mình bị
suy nhược và cái bệnh duy nhất của cô chỉ là thiếu ăn.
Cố nhiên Ma-ri không hề cho anh chị Du-xki biết cô đang sống
như thế nào. Mỗi lần đến thăm anh chị, nếu có phải trả lời những câu hỏi của
Brô-ni-a về làm bếp, nấu ăn có tiến bộ gì thì cô chỉ đáp gióng một. Nếu
Ca-di-mia nhận xét là cô trông không được khỏe, Ma-ri quả quyết là cô làm việc
quá nhiều, và đó là nguyên nhân duy nhất. Rồi làm ra vẻ dửng dưng, cô xoay ra
chơi với đứa cháu gái yêu, con chị Brô-ni-a.
Một hôm, Ma-ri ngất ngay trước mặt một cô bạn. Cô này chạy đến
phố Đức quốc báo tin, một giờ sau, Ca-di-mia leo vội mấy tầng thang gác, lên tới
buồng xép dưới nóc, thấy cô em đã ngồi học bài ngày mai rồi. Anh nhìn kỹ vẻ mặt
xanh xao của Ma-ri, nhất là hai cái đĩa sạch trơn và cái xoong rỗng. Trong
phòng chỉ có một gói chè là “thực phẩm” duy nhất. Ca-di-mia hiểu ngay. Anh hỏi:
- Bữa hôm nay cô ăn những gì?
- Bữa nay ấy à? Em chẳng nhớ nữa em vừa ăn xong.
- Thế cô đã ăn gì?
- Mấy quả anh đào, và… nhiều thứ nữa.
Cuối cùng Ma-ri phải nói ra hết. Tối hôm trước, cô đã gặm gần
hết một bó củ cải đỏ và ăn nửa cân anh đào. Thức đến ba giờ sáng để làm việc,
ngủ bốn tiếng, dậy đi đến Xoóc-bon. Về nhà lại ăn nốt củ cải rồi bị ngất.
Người bác sỹ trẻ không nói nhiều nữa. Anh rất bực. Bực với cô
em gái đang nhìn anh một cách mệt mỏi, ngây thơ với đôi mắt màu tro. Bực với
chính mình vì anh tự trách là không chăm sóc chu đáo đến Ma-ri, mặc dầu đã có lời
gửi gắm của cụ Xkhua-đốp-xki. Ma-ri còn đang vùng vằng, anh đã đưa mũ áo, và bắt
xếp sách vở gì cần dùng trong tuần tới để mang đi. Buồn bực chẳng nói nên lời,
anh đưa Ma-ri về khu Vi-lét, vừa bước vào nhà đã gọi Brô-ni-a xuống bếp.
.
Marie Curie và chị Bronia.
Hai mươi phút sau, Ma-ri từ từ nuốt thứ thuốc mà bác sĩ
Ca-di-mia kê đơn cho cô: một miếng thịt bò to rán tái, một đĩa khoai tây rán
giòn. Như có phép lạ, màu hồng lại ứng lên đôi má. Đến mười một giờ khuya,
Brô-ni-a vào tắt đèn ở buồng mà chị mới vừa kê một cái giường cho em gái. Sau
vài ngày được chăm sóc tẩm bổ, Ma-ri lại sức. Nghĩ đến các kỳ thi sắp đến, cô vội
trở về cái gian sát nóc, với lời hứa là sẽ chú ý hơn đến ăn uống. Và hôm sau,
cô lại vẫn cứ “sống bằng không khí”.
*
Làm việc!... Làm việc!... Bị thu hút hoàn toàn vào học tập,
say sưa với tiến bộ của mình, Ma-ri tự thấy có đủ sức tiếp thu tất cả những gì
mà người đời đã khám phá. Cô dự các lớp toán, lý, hóa. Cô làm quen dần với kỹ
thuật thực hành khoa học, rồi đây lại có niềm vui được giáo sư Lip-man giao cho
mấy công trình nghiên cứu tuy ít quan trọng song lại là một dịp để cô tỏ rõ cái
khéo tay và óc sáng kiến của mình. Phòng thí nghiệm vật lý ở Xoóc-bon, một kiến
trúc cao, rộng và độc đáo, có hai cầu thang xoáy trôn ốc đưa vào một hành lang
bên trong, là nơi Ma-ri Xkhua-đốp-xka thả sức tìm tòi, học hỏi.
Còn gì quyến rũ hơn cái không khí tĩnh mịch giúp cho sự tập
trung suy nghĩ! Cho đến giờ phút cuối cùng của đời mình, Ma-ri vẫn sẽ thích cái
phòng thí nghiệm hơn mọi thứ khác. Lúc nào cô cũng đứng trước cái bàn bằng gỗ
sên, trên đặt một dụng cụ đo lường chính xác, hoặc trước cái lò có chiếc đèn xì
đang đốt cháy một chất gì đó. Dưới cái áo khoác vải thô, khó mà phân biệt được
Ma-ri với đám thanh niên đang mê mải cúi xuống trước nhiều đèn xì cùng dụng cụ
khác. Tất cả đều tôn trọng sự yên tĩnh của nơi này, không gây một tiếng động,
không nói một lời nào thừa.
Một bằng cử nhân chưa đủ! Marie quyết định thi hai môn vật lý
và toán. Tham vọng của cô trước kia mới nhỏ bé làm sao, nay mạnh bạo, lớn lên
nhanh chóng đến nỗi cô không còn thì giờ, nhất là không dám nói với cụ Xkhua-đốp-xki.
Người cha tuyệt diệu đó đang nóng lòng mong đợi Ma-ri trở về Ba Lan, và có vẻ
lo ngại về đứa con gái bấy lâu được ông chăm nom ấp ủ. Trong bao nhiêu năm trời
chỉ biết phục tùng, chịu đựng và hy sinh, giờ đây cô đang tỏ ra muốn tự lập.
Cụ Xkhua-đốp-xki viết cho Brô-nia ngày 5 tháng 3 năm 1893:
“Đọc bức thư gần đây nhất của con, lần đầu tiên cha mới biết
Manya có ý định thi cử nhân. Cha đã hỏi nó về việc này, nhưng trong các thư viết
cho cha, không thấy nó đả động đến. Con cho cha rõ ngày nào em thi và tiền nong
tốn kém là bao để cha thu xếp gửi cho em.
Dự định của cha cũng phụ thuộc vào nó. Cha tính đến sang năm
vẫn giữ chỗ ở hiện nay cho cha và Ma-ni-a – nếu nó có về - chỗ này rất thích hợp.
Dần dần Ma-ni-a sẽ có nhiều học trò, dầu sao, cha sẵn sàng san sẻ với Ma-ni-a
cái gì cha có. Làm gì mà hai bố con chẳng nuôi nhau được”.
Muốn sao mặc lòng, Ma-ri không thể tránh tiếp xúc với người
này người khác. Nhiều bạn trai tỏ ra thành thực và ân cần đối với cô. Ở
Xoóc-bon, những cô gái nước ngoài vẫn được coi trọng. Các cô thường là nghèo, lại
rất có khiếu, từ xa xôi vạn dặm lặn lội đến đây, nơi mà hai anh em nhà văn nổi
tiếng Gông-cua[32] từng gọi là “mẹ dinh dưỡng của học
tập”. Các cô được nhiều thiện cảm trong sinh viên Pháp. Cô gái Ba Lan dần dần
thấy rằng các bạn trai của mình phần lớn là “dân học gạo”. Họ rất mến cô và rất
thân thiện với cô. Tình cảm này nhiều khi đến vồn vã. Có lẽ Ma-ri khá xinh, chẳng
thế mà cô bạn đồng hương Di-din-xka, một bạn gái rất nhiệt tình với cô, có hôm
đã phải lấy cán ô xua đuổi những anh chàng si tình quá vồ vập.
Nếu Ma-ri tỏ ra thờ ơ với những lời tán tỉnh yêu đương và để
mặc bạn Di-din-xka từ chối hộ, trái lại cô hay tìm cách đến gần những người
chín chắn, mà cô có thể bàn bạc về công việc của mình. Giữa hai buổi lên lớp vật
lý và thực hành ở phòng thí nghiệm, cô tranh thủ nói chuyện với Pôn Panh-lơ-vê
giờ đây đã làm giáo sư, với Giăng Pe-ranh, Sac-lơ Mo-ranh, những bậc thầy tương
lai của nền khoa học Pháp. Cũng mới chỉ là quan hệ bạn bè sơ khai, Ma-ri không
có thì giờ cho tình bạn thân thiết hoặc nghĩ đến yêu đương. Cô đang yêu toán và
vật lý…
Nhờ có đầu óc chính xác, minh mẫn, Ma-ri không bị một hạn chế
tinh thần nào cản trở trong cố gắng của mình. Cô có một quyết tâm sắt đá, say
mê theo đuổi cái hoàn thiện với một tính bướng không tưởng tượng được. Đó là những
yếu tố thôi thúc cô làm việc kiên nhẫn và có hệ thống, lần lượt đạt được những
mục đích đã đề ra cho mình: Năm 1893 thi cử nhân vật lý đỗ đầu, năm 1894 đỗ thứ
nhì cử nhân toán.
Ma-ri thấy rõ tiếng Pháp rất cần cho mình nên cô quyết tâm học
thật vững vàng. Nhiều bạn gái Ba Lan khác sau hàng bao năm ở Paris vẫn cứ nói
lơ lớ như hát và có nhiều câu sai văn phạm. Nhưng Ma-ri học cả chính tả và ngữ
pháp cho nhuần nhuyễn và chú ý sửa chữa bằng hết những giọng nói sai ngữ điệu,
chỉ còn chữ “R” hơi uốn lưỡi, nhưng nghe lại rất duyên dáng mềm mại.
Với vỏn vẹn bốn mươi rúp một tháng, Ma-ri vẫn đủ sống và chịu
thiếu cái cần thiết để thỉnh thoảng đi xem hát, đi chơi vùng ngoại ô và mỗi lần
đều mang về nhà một bó hoa rừng tươi thắm.Tâm hồn cô gái thôn quê năm xưa vẫn
còn đây. Phiêu bạt giữa một thành phố lớn, Ma-ri đón chờ mùa cỏ cây nở lộc và hễ
còn chút thì giờ và tiền túi là tìm đến rừng xanh bóng mát.
Thư gửi cụ Xkhua-đốp-xki ngày 16 tháng 4 1894:
“Chủ nhật trước, con đã đến một vùng ngoại ô gần ngay Paris,
khá đẹp dễ chịu. Các cây tu chanh và nhài cùng tất cả các cây ăn quả, kể cả táo
đều nở rộ và không gian ngào ngạt hương thơm.
Ở Paris, cây cối bắt đầu xanh tốt kể từ tháng tư. Lúc này lá
non đã nhú, mận đã ra hoa. Nóng như mùa hè vậy. Trong buồng xép của con bắt đầu
bức lắm.
Cũng may là đến tháng bảy, khi chuẩn bị đi thi, con không còn
ở đây nữa vì con chỉ thuê chỗ này đến ngày 8 tháng bảy…”
Tháng bảy, mùa thi cử đã đến. Ai nấy lo lắng, bận rộn. Có những
buổi sáng mệt nhọc, Ma-ri ngồi trong phòng thí nghiệm với 30 thí sinh, thần
kinh căng thẳng đến mức chữ cứ nhảy múa trước mắt, phải mấy phút sau mới đọc được
mảnh giấy có đề toán và câu hỏi lý thuyết sẽ quyết định số mệnh của cô. Thi
xong lại đến những ngày mong đợi đằng đẵng và giờ phút nghiêm trang nghe đọc kết
quả. Thí sinh và cha mẹ, họ hàng đều tụ tập trước giảng đường lớn. Trong đám
đông, Ma-ri bị xô đẩy, chen lấn giữa làn sóng người ai nấy ngóng trông ban giám
khảo bước vào, đọc tên những người đỗ theo thứ tự tài năng. Trong một phút, cả
giảng đường im phăng phắc. Bất thần cô nghe gọi tên mình đầu tiên: Ma-ri
Xkhua-đốp-xka.
Khó mà biết được xúc động của Ma-ri lúc này. Cô phải cố lắm mới
lách được ra khỏi đám đông vì bạn bè cứ vây xung quanh, không ngớt lời khen ngợi.
Nghỉ hè rồi đây! Đã đến lúc về Ba Lan quê nhà. Anh chị em
sinh viên Ba Lan nghèo trở về quê quán thường có những thủ tục mà Ma-ri theo rất
nghiêm chỉnh. Trước hết là mang gửi đồ đạc - giường, bếp, nồi xoong - ở chỗ một
bạn đồng hương có khả năng giữ một buồng ở Paris-ri trong mấy tháng hè. Sau là
giao trả cái gác xép sát nóc nhà mà trước khi đi, cô quét dọn sạch sẽ tinh tươm
để rồi đến chào vĩnh biệt bà gác cổng sẽ không bao giờ gặp lại, sau nữa là mua
một ít thức ăn đi đường. Cuối cùng, tính nhẩm tiền còn lại, cô vào một cửa hàng
bách hóa lớn. Lần đầu tiên trong suốt một năm học, Ma-ri đến đây tìm mua mấy thứ
lặt vặt, những khăn quàng…
Đáng hổ thẹn cho những kẻ xa nhà khi trở về lại còn tiền túi!
Lịch sự nhất, đúng đắn nhất là có đồng nào tiêu bằng hết, mua quà tặng họ hàng,
bạn hữu và đã bước lên tàu, ga Phương Bắc là phải sạch túi. Thế mới là khôn
ngoan biết nghĩ. Đằng đầu bên kia con đường sắt này, cách đây hai nghìn cây số,
bao hình ảnh thân yêu đang đợi ta, cụ Xhua-đốp-xki, anh Dô-dếp, chị Hê-la,
không khí gia đình đầm ấm, những bữa ăn no nê, ngon lành, và chị thợ may quen
biết, chỉ vài đồng công là cắt và may được cả áo lót, áo dài bằng vải hoặc len,
những chiếc áo mà đến tháng 11 khi trở lại Xooc-bon, Ma-ri mặc vào năm học mới.
Cô trở lại Xooc-bon người đẫy ra, mặt mày nở nang, rạng rỡ.
Chả là trong ba tháng hè ở Ba Lan, cô đã đi thăm khắp lượt tất cả các gia đình
họ Xkhua-đốp-xki, đến đâu họ hàng cũng ái ngại về nước da kém tươi của Ma-ri, đến
đâu cô cũng cứ bị ép ăn thật nhiều. Để rồi lại bắt đầu một năm học hăng say,
làm việc, học tập không biết mệt mỏi, chuẩn bị một kì thi mới và lại gầy dần…
*
Mỗi lần thu sang là một lần Ma-ri lo lắng day dứt. Tìm đâu ra
tiền bây giờ? Trở lại Paris bằng cách nào đây? Vốn liếng dành dụm cứ cạn nên bốn
mươi rúp này rồi bốn mươi rúp khác. Nghĩ đến bố phải bỏ cả những cái vui nhỏ để
dành tiền cho mình, Ma-ri rất áy náy. Năm 1893, tình cảnh hầu như bế tắc, cô
đương định thôi, không đi du học nữa thì một may mắn bất ngờ đã đến. Di-din-xka
người bạn gái năm ngoái đã lấy cán ô bảo vệ cô, lúc này lại giúp đỡ Ma-ri thiết
thực hơn nữa. Tin tưởng rằng Ma-ri sẽ có một tương lai rực rỡ, Di-din-xka đã ra
sức vận động ở Vác-xô-vi cho Ma-ri được học bổng A-lếch-xăng-đro-vích, giành
cho những sinh viên xuất sắc muốn ra học nước ngoài.
Sáu trăm rúp! Đủ sống mười lăm tháng! Ma-ri vốn chỉ biết xin
cho người, có lẽ không hề nghĩ đến cầu khẩn khoản trợ cấp ấy cho mình, nhất là
không bao giờ dám làm những việc giao dịch, chạy chọt cần thiết! Sung sướng, phấn
khởi, cô bay bổng đến Paris.
Thư gửi anh Dô-dép ngày 15 tháng 9-1893 (từ Paris):
“Em đã thuê buồng ở tầng sáu tại một phố sạch sẽ, lịch sự.
Anh thưa với cha là nơi em định thuê trước thì không còn chỗ nữa, và em rất ưng
cái buồng hiện nay: Có một cửa sổ đóng được kín, và chữa thêm một tý thì có lẽ
trong nhà không lạnh lắm, nhất là không lát gạch mà là sàn gỗ. So với cái buồng
năm ngoái thì quả là một lâu đài! Mỗi năm 180 quan, nghĩa là rẻ hơn 60 quan chỗ
mà cha nói chuyện với em.
Không nói, chắc anh cũng rõ em thích thú như thế nào khi được
trở lại Paris! Hôm ra đi, em rất đau khổ vì lại phải xa cách cha, nhưng em thấy
cha khỏe mạnh và còn lanh lẹn, không cần đến sự có mặt của em, nhất là nay anh
lại về ở Vác-xô-vi. Còn em, cả cuộc đời em sắp được định đoạt… Vì vậy, em nghĩ
có thể lưu lại một thời gian ở Paris mà không ân hận gì.
Em học toán, học gấp rút, để khi vào năm học mới khỏi bỡ ngỡ.
Mỗi tuần dạy ba buổi sáng cho một bạn học người Pháp đang chuẩn bị thi cái bằng
em vừa đỗ. Anh thưa hộ với cha là em quen việc này rồi, không thấy vất như ban
đầu, và em định cứ tiếp tục.
Em bắt đầu dọn dẹp chỗ ở mới cho năm nay - còn sơ sài lắm,
nhưng biết làm thế nào? Thứ gì cũng tự làm lấy nếu không thì tốn vô kể. Em sẽ sửa
sang lại đồ đạc, nói vậy cho ra vẻ, vì tất cả chỉ đáng hai mươi quan.
Em sẽ biên thư cho anh Bô-gu-xki hỏi thêm về phòng thí nghiệm.
Điều này quyết định công việc sắp tới của em”.
Thư gửi anh Dô-dép ngày 18 tháng 3 năm 1894:
“…Khó mà kể tỉ mỉ cho anh cuộc sống của em vì nó cứ đều đều,
đơn điệu, và xét đến cùng chẳng có gì đáng nói. Song em không hề thấy khổ vì sự
bằng phẳng đó, em chỉ thấy tiếc là ngày tháng sao ngắn ngủi và trôi nhanh quá!…
Chỉ thấy bao việc còn phải làm và nếu không yêu công việc của mình thì rất có
thể nản chí.
Em mong anh trở thành bác sỹ. Cuộc sống chẳng có vẻ dễ dàng đối
với mỗi chúng ta. Nhưng sao phải kiên trì, nhất là phải tin ở mình chứ? Phải
tin rằng ta có khiếu về một mặt nào đó và quyết đạt tới cho bằng được, có thể
là mọi việc sẽ trơn tru ngay khi ta ít ngờ đến nhất.”
Cái học bổng A-léch-xăng-đro-vích đến đúng lúc biết chừng
nào! Ma-ri vốn rất tằn tiện, cô kéo dài số tiền sáu trăm rúp để có thể ở lâu
hơn nữa trong cái thế giới thần tiên của giảng đường và phòng thí nghiệm.
Và năm sau, cũng với tinh thần tằn tiện ấy, khi kiếm được tiền
lần đầu tiên, do một công việc nghiên cứu cho Hội khuyến khích kỹ thuật quốc
gia, Ma-ri đã lấy ra sáu trăm rúp mang đến cho Tổng thư kí của hội A-lếch-xăng-đro-vích
(alexandre droviche), khiến ông sửng sốt về sự đền đáp có một không hai này
trong lịch sử của Hội.
Ma-ri đã nhận học bổng đó như một món nợ danh dự, một biểu hiện
tin cậy. Tâm hồn thẳng thắn của cô tự thấy không xứng đáng nếu cứ giữ lâu số tiền
giờ đây lại có thể cứu giúp một người con gái nghèo khác.
*
Đọc bài thơ ngắn của mẹ tôi viết bằng tiếng Ba Lan về thời kì
ấy, sực nhớ những mẩu chuyện mẹ thường kể cho nghe, thỉnh thoảng lại điểm một nụ
cười hoặc câu hài hước dí dỏm, nhìn ngắm tấm ảnh mà mẹ thích nhất: ảnh một nữ
sinh có đôi mắt táo bạo, cái cằm cương quyết, tôi cảm thấy mẹ tôi suốt đời vẫn
yêu thích hơn cả những ngày khó khăn và đầy nhiệt tình đó.
Tuổi thanh xuân ấy biết bao gian khổ
Lúa tuổi này người khác chỉ vui chơi
Mình cô, yên tĩnh, thảnh thơi
Say sưa học tập cuộc đời rộng thêm…
Sống bao ngày tháng êm đềm
Lòng yêu khoa học tự nhiên nồng nàn
Cảnh sao rõ thật gian truân
Những lo sinh sống muôn vàn khó khăn
…Nhiều khi tâm trí bần thần
Lại tìm về dưới mái trần đơn sơ
Nơi mãi mãi lòng cô yêu quí
Nơi đêm ngày lặng lẽ miệt mài
Nơi ấp ủ những ước mơ
Khắc sâu kỷ niệm bao giờ cho phai
Cố nhiên, sau này Ma-ri còn biết bao niềm vui khác, nhưng
ngay trong những giờ phút ân ái mặn nồng nhất, ngay trong thắng lợi và vinh
quang, không bao giờ nữ sinh viên muôn thủa ấy lại bằng lòng mình đến thế, tự
hào đến thế giữa cảnh nghèo túng và quá trình rèn luyện, nỗ lực đó. Tự hào về
cái nghèo của mình, tự hào vì sống một mình và tự lập giữa một thành phố xa lạ.
Những buổi tối làm việc dưới ngọn đèn dầu hiu hắt trong một
chỗ ở tiêu điều làm Ma-ri cảm thấy số phận mình tuy còn thấp nhưng dường như được
nối liền bằng những sợi dây vô hình với bao cuộc đời cao cả mà cô hằng khâm phục.
Cô cảm thấy mình đang trở thành người bạn âm thầm vô danh của những nhà bác học
tiền bối. Các vị đó cũng đã từng sống trong những buồng thiếu ánh sáng như thế
này mà đã thoát được ra khỏi thế kỉ của mình, đã ra sức tư duy để đưa tầm mắt
xa hơn tri thức của loài người đương thời.
Đúng vậy, bốn năm anh dũng đó không phải là những năm sung sướng
nhất trong đời Ma-ri, nhưng là những năm mà cô cho là hoàn hảo nhất, tiến gần
nhất đến đỉnh cao của sứ mệnh làm người cô vẫn hằng chiêm ngưỡng.
Tuổi trẻ son rỗi, miệt mài say sưa học tập, có thể “không có
gì sống” mà vẫn sống nhiều nhất. Một niềm hào hứng tràn ngập làm cho cô gái Ba
Lan hai mươi sáu tuổi đó quên tất cả những thiếu thốn đang chịu đựng, để nhìn
cuộc đời khốn khổ của mình với đôi mắt đầy hoài bão.
Rồi đây, tình yêu, sự sinh nở, những lo âu của người vợ, người
mẹ, khó khăn phức tạp của một công việc nặng nề sẽ lại đặt con người dạt dào lý
tưởng đó vào cuộc sống thực tế. Nhưng trong giờ phút mầu nhiệm này, lúc nghèo
túng hơn bao giờ hết, Ma-ri vẫn vô tư như một đứa trẻ. Tâm hồn cô bay bổng nhẹ
nhàng đến một thế giới khác, thế giới mà tư duy của cô luôn luôn nhận thức là
trong trắng, chân thật nhất.
Một cuộc sống bấp bênh như thế khó mà ngày nào cũng tốt đẹp.
Biết bao ngẫu nhiên bất thần đến đảo lộn tất cả và như không phương cứu vãn: một
sự mệt mỏi không tài nào gắng gượng được, mấy ngày ốm cần người trông nom. Còn
nhiều tai họa khác thật gay go như có mỗi đôi giầy thủng đế, nay bung từng mảnh,
phải lo mua đôi khác. Thế là ngân sách bị xáo lộn hàng tuần và khoản chi to lớn
này phải khấu dần vào thức ăn, vào dầu đèn. Hoặc giả mùa đông kéo dài làm cho
căn phòng sát nóc trên tầng sáu lạnh toát, lạnh đến nỗi Ma-ri không ngủ được,
cô run bắn lên. Than trữ đột ngột hết rồi. Thế nào đây? Chẳng lẽ một cô gái Ba
Lan lại chịu thua cái rét Paris-ri à? Ma-ri vùng dậy, thắp đèn dầu, nhìn khắp
chung quanh, cô mở rương, còn bao nhiêu quần áo lôi ra hết mặc thật nhiều lên
người, xong chui vội vào chăn rồi kéo nốt mấy manh áo còn lại đắp lên mình. Vẫn
còn thấy rét, Ma-ri với tay kéo cái ghế độc nhất đặt lên lớp chăn áo để tạo một
cảm giác nặng và ấm. Chỉ còn đợi giấc ngủ đến, cần nhất là nằm im không động đậy
để khỏi làm đổ nhào cái giàn giáo mà cô là nền móng sống.
Trong cái bình, nước dần dần đóng băng.
Chương 10
piere curie
Marie đã gạt bỏ tình yêu và hôn nhân trong chương trình cuộc
sống.
Điều này chẳng có gì độc đáo cho lắm, một người con gái nghèo
bị thất vọng và tủi nhục trong mối tình đầu thề không bao giờ yêu nữa, nhất là
một nữ sinh viên Xla-vơ hoài bão trí thức, muốn đi theo sứ mệnh của mình, dễ
dàng cương quyết từ bỏ những cái gì thường làm cho bạn gái cùng cảnh ngộ bị
ràng buộc, họ có hạnh phúc, song cũng có đau thương. Thời nào cũng vậy, những
chị em phụ nữ tha thiết muốn trở thành họa sĩ, nhạc sĩ giỏi đều phải hy sinh
tình yêu, sự sinh nở, những chức năng thường tình của con người.
.
Marie đã tạo cho mình một thế giới riêng do lòng yêu khoa học
trị vì. Ở đây, cũng có chỗ cho tình thương gia đình và tình nghĩa gắn bó với Tổ
quốc còn đang bị áp bức. Ngoài ra, không còn gì nữa đối với cô gái hai mươi sáu
tuổi sống độc thân một mình ở Paris, hàng ngày chỉ biết có trường đại học
Xooc-bon (Sorbonne) và phòng thí nghiệm.
Bị những ước mơ ám ảnh, cảnh nghèo thúc bách, lại túi bụi
quanh năm ngày tháng với một công việc quá căng thẳng, Marie không hề biết đến
nhàn rỗi và tác hại của nó. Lòng tự hào, tính e lệ và cả sự hoài nghi đã ngăn cản
tình yêu đến với cô. Từ ngày bị gia đình Z. chê nghèo không muốn cô về làm dâu,
cô đinh ninh rằng phận con gái không của hồi môn khó mà tìm thấy được ở đàn ông
sự tận tình hoặc lòng yêu quý. Quan niệm cứng rắn ấy, ý nghĩa đắng cay ấy càng
làm cô khăng khăng muốn sống tự do, đơn độc.
Đúng thế, chẳng lấy gì làm lạ rằng một cô gái Ba Lan có thiên
tài, bị một cuộc đời khắc khổ đẩy vào cảnh cô quạnh, đã tự giữ mình cho một sự
nghiệp lớn. Nhưng thật lạ lùng, kỳ diệu là một nhà bác học thiên tài, một người
Pháp, đã giữ cho mình cô gái Ba Lan ấy, chờ đợi cô mà không hề hẹn ước. Chính
vào thời mà Marie còn ở phố Nô-vô-lip-xki, đang mơ ước đến học ở Sorbonne thì
Pierre cũng từ đại học đường Sorbonne đó, nơi mà anh đã có bao nhiêu khám phá
quan trọng về Vật lý, một hôm ra về, đã viết trong nhật ký những dòng chữ:
“Hơn nam giới, người phụ nữ yêu cuộc sống để mà sống. Những
phụ nữ có thiên tài rất hiếm, cho nên khi chúng ta bị một tình yêu nào đó
thôi thúc, muốn đi theo con đường không tự nhiên, khi chúng ta để cả tâm trí
vào một sự nghiệp nó khiến chúng ta xa rời xã hội chung quanh thì ta phải
đấu tranh với đàn bà. Người mẹ đòi hỏi trước hết tình yêu của đứa con, dù có thể
vì vậy mà nó bị ngớ ngẩn đi chăng nữa. Cô nhân tình cũng muốn chiếm hoàn
toàn người yêu và cho rằng ở một giờ ái ân và có phải hy sinh cái thiên tài cao
đẹp nhất trên đời thì cũng rất tự nhiên mà thôi. Cuộc chiến đấu hầu như luôn
luôn không bình đẳng, vì ở đây, chính nghĩa thuộc về đàn bà, họ nhân danh sự sống
và tạo hóa để mà ra sức lôi kéo ta”.
Ngày tháng thoi đưa, Pierre Curie chỉ biết miệt mài nghiên cứu
khoa học, không hề để ý đến một cô gái nào, dù tẻ nhạt hay xinh tươi mà anh có
dịp gặp. Đã 35 tuổi, nhưng anh chưa yêu ai.
Và mỗi lần tình cờ giở lại cuốn nhật ký bỏ dở từ lâu, anh đọc
lại những câu mình viết năm nào, tới nay nét mực đã phai mờ, anh đăm chiêu dừng
lại trước những dòng chữ đầy luyến tiếc và khát vọng:
“Những phụ nữ có thiên tài rất hiếm”
*
“Khi tôi bước vào, Pierre Curie đang đứng bên cửa sổ. Trông
anh rất trẻ, tuy anh đã 35 tuổi. Tôi ngạc nhiên nhìn cặp mắt trong sáng, vóc
người cao lớn, bên ngoài ít chau chuốt của anh. Lời nói chậm rãi đầy suy nghĩ,
vẻ giản dị, nụ cười nghiêm trang trẻ trung làm tôi tin tưởng. Chúng tôi trò
chuyện với nhau chỉ một chút đã thân mật. Câu chuyện xoay quanh vấn đề khoa học
mà tôi rất sung sướng được hỏi ý kiến anh”.
Buổi gặp gỡ ban đầu với Pierre được Marie kể lại với lời lẽ
giản dị, ngượng ngùng. Đó là đầu năm 1894.
Một giáo sư vật lý người Ba Lan, ông Kô-van-xki, dạy ở trường
đại học Phơ-ri-bua, đến nước Pháp một thời gian với vợ mà Marie quen biết từ dạo
còn ở Schuc-ki. Đang tuần trăng mật, đôi vợ chồng mới cưới này đi du lịch, đồng
thời kết hợp cùng chuyến đi để trao đổi về khoa học. Giáo sư Kô-van-xki có nhiều
cuộc thuyết trình ở Paris và dự các buổi họp của Hội Vật lý. Vừa mới đến, ông
đã hỏi thăm Marie về tình hình học tập, nghiên cứu và được biết nỗi băn khoăn của
cô lúc này. Hội khuyến khích kỹ nghệ quốc gia đặt cho cô nghiên cứu về từ tính
của các loại thép. Marie đã bắt đầu tìm tòi ở phòng thí nghiệm của giáo sư
Lip-man. Việc phân tích các quặng, phân loại các mẫu kim khí đòi hỏi sắp đặt dụng
cụ cồng kềnh, quá cồng kềnh với một phòng thí nghiệm đã chật chội. Marie phân
vân, khó nghĩ.
- Tôi quen một nhà khoa học có giá trị làm việc ở trường Vật
lý Hóa học – Đô-dếp Kô-van-xki nói sau mấy phút suy nghĩ - có thể anh ấy còn một
phòng chưa sử dụng. Dù sao anh ấy sẽ góp ý với cô. Chiều mai, sau bữa ăn, cô lại
chơi, uống trà. Tôi sẽ mời anh ta đến. Có lẽ cô biết tên anh ấy: Pierre Curie.
Buổi chiều êm ả ấy, trong một căn phòng của ngôi nhà tĩnh mịch
là nơi vợ chồng Kô-van-xki ở trọ, một mối cảm tình đột ngột nẩy nở giữa nhà vật
lý Pháp và nhà vật lý Ba Lan.
Pierre Curie rất duyên dáng, vừa nghiêm trang vừa nồng hậu.
Anh cao lớn. Quần áo may rộng theo lối hơi cổ, hơi lùng thùng rất hợp với dáng
người. Pierre có một vẻ lịch sự rất tự nhiên mà chính anh cũng không ngờ. Đôi
bàn tay dài, nhạy cảm, khuôn mặt đều đặn, điềm đạm, có bộ râu hơi cứng kéo dài
thêm, trông càng đẹp với đôi mắt thanh thản có cái nhìn tuyệt vời, thăm thẳm êm
đềm như quên hết mọi việc trên đời.
Tuy Pierre luôn ý tứ, nói năng ôn tồn, người ta vẫn thấy ở
anh vẻ thông minh và phong cách thanh tao hiếm có. Trong cái xã hội mà sự hơn hẳn
về trí thức không phải bao giờ cũng đi đôi với phẩm chất cao đẹp, Pierre là một
mẫu người hầu như có một không hai: trí tuệ tuyệt vời, tâm hồn lại cao thượng.
Ngay từ phút đầu tiên, cô gái Ba Lan ít nói này khiến Pierre
cảm thấy như bị thu hút và bắt buộc phải chú ý. Cô Xkhua-đốp-xka (Skłodowska)đó
quả là một người khá kỳ lạ. Thế ra cô là người Ba Lan từ Vác-xô-vi (Varsovie) đến
đây để theo học ở Sarbonne? Năm vừa rồi đỗ nhất cử nhân vật lý à? Năm nay, mấy
tháng nữa lại thi cử nhân toán? Và cái nếp nhăn lo nghĩ kia, giữa đôi mắt màu
tro là do đang nghiên cứu từ tính các chất thép mà không biết đặt dụng cụ vào
đâu.
Câu chuyện thoạt đầu còn chung chung, chuyển dần thành một hội
thoại khoa học giữa hai người. Marie rất trân trọng đặt nhiều câu hỏi và lắng
nghe những gợi ý của Pierre. Còn Pierre thì kể những dự kiến của mình, mô tả những
hiện tượng tinh thể học mà anh thấy rất lạ và đang tìm quy luật của nó.
Thú vị thật! Pierre nghĩ thầm. Cô bạn trẻ xinh đẹp này chẳng
những hiểu công việc ta thích, qua tiếng nói chuyên môn và công thức phức tạp,
mà lại còn có thể bàn luận về nhiều chi tiết với một sự sáng suốt kỳ lạ! Quả là
êm dịu biết bao!
Anh nhìn mái tóc Marie, vầng trán rộng, đôi bàn tay sứt sẹo
nhiều chỗ vì cốc a-xit ở phòng thí nghiệm và những công việc nội trợ. Cô không
trang điểm nhưng vẻ duyên dáng tự nhiên càng khiến lòng anh bàng hoàng. Bất
giác, Pierre nhớ lại những điều ông Kô-van-xki cho anh biết về Marie, cô đã làm
việc nhiều năm trước khi đến Paris học, cô nghèo, sống cô đơn trong một buồng
gác xép sát nóc. Anh hỏi bâng quơ, không biết để làm gì:
- Cô định ở Pháp mãi chứ?
Gương mặt Marie thoáng một nét buồn. Cô trả lời, giọng như
hát:
- Không! Hè này, nếu đỗ cử nhân, tôi sẽ về Varsovie. Sang
thu, tôi cũng muốn quay lại đây, nhưng chả biết có được không. Nay mai, tôi sẽ
đi dạy ở Ba Lan và tìm cách giúp ích cho nước tôi. Những người Ba Lan không có
quyền bỏ nước mình.
Đương nhiên, câu chuyện có cả vợ chồng giáo sư Kô-van-xki
tham gia, hướng về đất nước Ba Lan đang bị o ép, nghẹt thở dưới ách áp bức của
chế độ Sa Hoàng. Ba con người phải sống xa tổ quốc hồi tưởng lại những kỷ niệm
của quê hương thân yêu, trao đổi thông tin về tin tức họ hàng, bè bạn. Pierre
nghe Marie nói đến nhiệm vụ yêu nước thì rất đỗi ngạc nhiên. Là một nhà khoa học
chỉ miệt mài với vật lý, anh không ngờ được rằng người con gái rất có khiếu kia
lại có thể nghĩ đến những chuyện không phải là khoa học và ôm ấp một ý định sẽ
đem hết sức mình đấu tranh chống lại ách thống trị của Sa hoàng…
Anh muốn gặp lại Marie.
Pierre Curie là ai?
Một nhà bác học Pháp thiên tài, trong nước chưa ai biết tên
nhưng đã được đồng nghiệp nước ngoài đánh giá rất cao.
Anh sinh ngày 15 tháng 3 năm 1859 ở Paris phố Qui-vi-ê
(Cuvier), là con trai thứ hai bác sĩ Ô-giên Qui-ri (Eugène Curie ) cũng là con
một thầy thuốc. Dòng họ Curie gốc ở An-đát-xơ (alsace)và theo đạo tin lành, xưa
kia thuộc tầng lớp trung lưu, kế tiếp mấy đời trở thành một gia đình trí thức,
một gia đình bác học. Ngoài công việc thầy thuốc chữa bệnh để kiếm sống, bác sỹ
Curie rất ham mê nghiên cứu khoa học. Ông làm trợ lý ở phòng thí nghiệm viện bảo
tàng và là tác giả của nhiều công trình tiêm chủng bệnh lao.
.
Từ bé, hai anh em Giắc và Pi-e (Jacque, Pierre) cũng ham
thích khoa học. Pierre tính tự do và thích mơ mộng, không chịu gò ép vào khuôn
khổ giảng dạy cho các trường trung học. Bác sỹ Curie biết rằng đứa con trai quá
đặc biệt này không thể là một học trò xuất sắc ở trường trung học nên lúc đầu,
ông tự mình dạy con, về sau giao phó cho một giáo sư nổi tiếng là Ba-li-dơ.
Nhờ cách dạy dỗ phóng khoáng đó, 16 tuổi Pierre đỗ tú tài
khoa học, 18 tuổi đỗ cử nhân, 19 tuổi được vào làm trợ lý cho giáo sư Đơ-danh ở
Đại học khoa học. Anh làm việc này 5 năm. Giắc (Jacque) cũng đỗ cử nhân và làm
trợ lý ở Sorbonnr. Hai nhà vật lý trẻ cùng nghiên cứu tìm ra một hiện tượng
quan trọng, hiện tượng áp điện và chế ra một dụng cụ mới gọi là áp điện kế có
nhiều tác dụng, đo được chính xác những lượng điện rất nhỏ.
Năm 1883, Giắc(Jacque) được công bố làm giáo sư ở
Mông-pơ-li-ê (Montpellier). Hai anh em rất tiếc phải xa nhau. Pierre trở thành
trưởng phòng thí nghiệm vật lý và Hóa học Paris. Ngoài thì giờ hướng dẫn cho học
sinh thực tập, anh đi sâu vào những vấn đề lý thuyết của vật lý tinh thể và
khám phá ra nguyên lý đối xứng là một trong những nền tảng của khoa học hiện đại.
Sau quá trình nghiên cứu và thí nghiệm, Pierre sáng chế ra một
cái cân rất nhạy gọi là cân Curie và tìm ra một định luật từ tính: định luật
Qui-ri (Curie).
Do những công trình đó và do kết quả hướng dẫn ba mươi học
sinh của trường, đến năm 1894, lương anh ba trăm quan một tháng, bằng lương một
thợ chuyên môn trong nhà máy.
Khi nhà bác học nổi tiếng người Anh, công tước Ken-via tới
Paris, ông không chỉ đến hội vật lý nghe những thông báo của Paris, ông còn
biên thư cho nhà vật lý trẻ, tỏ lòng thán phục công trình của Pierre và muốn được
gặp.
Sau đó có nhiều buổi tiếp xúc giữa hai người, bàn luận hàng
giờ về những vấn đề khoa học. Nhà bác học Ken-via rất đỗi ngạc nhiên khi được
biết Pierre Curie làm việc không có người cộng tác, trong một gian phòng tiều tụy,
và bỏ rất nhiều thì giờ vào những công việc không đâu và ở Paris không ai biết
đến tên một nhà vật lý mà bản thân ông liệt vào bậc thầy.
*
Pierre Curie lại còn hơn cả một nhà vật lý đặc sắc.
Khi bạn bè giục anh xin một chức vụ có thể nâng mức sống vật
chất cho mình, Pierre đã nói:
- Người ta bảo có một giáo sư muốn thôi việc và tôi nên xin
vào chỗ đó. Làm cái trò đi xin xỏ địa vị thật không gì chán bằng và tôi không
quen cái trò này. Tôi cho không gì hại trí óc bằng những việc đại loại như thế.
Trả lời ông hiệu trưởng trường vật lý muốn đề nghị tặng huân
chương cho anh, Pierre từ chối như sau:
“Kính thưa ông hiệu trưởng.
Tôi được ông Muy-đê cho biết ông định giới thiệu tôi một lần
nữa với ông thị trưởng về vấn đề huân chương.
Xin ông đừng làm việc đó. Bằng không tôi buộc lòng phải từ chối
vì tôi đã quyết không bao giờ nhận huân chương gì. Mong ông tránh cho tôi trở
thành hài hước trước mặt mọi người.
Còn như nếu ông muốn chiếu cố đến tôi thì ông đã làm rồi, một
cách thiết thực khiến tôi rất cảm động: Đó là cho tôi phương tiện làm việc…”
Pierre Curie có tâm hồn một nhà văn, nhà thơ và đã từng ghi
vào sổ tay của mình: “Phải biến cuộc sống thành một giấc mơ và biến giấc mơ
thành sự thật”.
Giờ đây, nhà thơ và nhà vật lý đang bị tài đức của một cô gái
Ba Lan chinh phục: kiên trì và dịu dàng, Pierre tìm cách đến gần con người huyền
diệu ấy. Anh gặp lại cô một đôi lần trong những buổi họp ở Hội vật lý, Marie tới
đây nghe các báo cáo về những phát minh khoa học mới. Anh gửi tặng cô một bản
“in giấy đặc biệt” công trình nghiên cứu mới nhất của anh: Về tính đối xứng
trong những hiện tượng vật lý. Đối xứng giữa một điện trường và từ trường.
Trang đầu có ghi: “Tặng cô Xkhua-đốp-xka (Skłodowska) với sự kính trọng và tình
bạn của tác giả, Pierre Curie ”. Anh thoáng trông thấy Marie ở phòng thí nghiệm
của giáo sư Lip-man trong chiếc áo choàng vải thô, lặng lẽ, cặm cụi trước những
dụng cụ nghiên cứu.
Pierre ngỏ ý muốn đến chơi, Marie cho anh địa chỉ. Thân ái,
đoan trang, Marie tiếp anh trong phòng của mình. Tim Pierre se thắt lại trước
bao thiếu thốn nghèo nàn, nhưng lại thưởng thức tự đáy lòng sự hòa hợp tinh tế
giữa nhân vật và trang trí bên ngoài. Chưa bao giờ anh thấy Marie đẹp như lúc
này trong cái gác xép gần như trống rỗng với chiếc áo đã cũ sờn, vẻ mặt thiết
tha nghiêm nghị. Không thể tìm một cái khung đẹp hơn là cái gian sát nóc trần
trụi ấy cho gương mặt trẻ trung mang dấu vết một cuộc sống kham khổ.
Mấy tháng trôi qua. Giữa Pierre và Marie, tình bạn ngày một mặn
mà, tình thân càng thêm gắn bó, tăng lên cùng lòng khâm phục, quí trọng và tin
yêu lẫn nhau. Pierre đã là tù nhân đáng mến của người con gái Ba lan rất đỗi
thông minh sáng trí ấy. Anh nghe lời Marie, làm theo ý của cô. Nhờ có Marie
thúc đẩy, khích lệ, dần dần Pierre khắc phục được tính lơ là, chậm chạp của
mình. Anh đang thảo những công trình về từ tính và sẽ bảo vệ luận án tiến sĩ xuất
sắc.
Marie cứ nghĩ mình còn tự do. Cô không có vẻ sẵn sàng muốn
nghe những lời quyết định mà nhà vật lý chưa dám nói ra.
Chiều hôm ấy, một buổi chiều tháng sáu đẹp trời, họ lại gặp
nhau, có lẽ là lần thứ mười, trong buồng nhỏ phố Phơ-ăng-tin.Trên bàn, bên cạnh
những sách toán Marie đang dùng để chuẩn bị cho kỳ thi sắp tới, trong một cái cốc
có cắm mấy bông cúc trắng mà Pierre và Marie đi chơi mang về. Cô gái đun nước
trên cái đèn cồn thủy chung để pha trà.
Pierre vừa kể xong tỉ mỉ công trình mà anh đang suy nghĩ. Bất
giác, anh nói:
- Tôi muốn cô được biết bố mẹ tôi. Tôi ở với các cụ ở một
gian nhà nhỏ ở Xô (Sceaux). Hai thân là những người tuyệt vời.
Anh tả cho Marie nghe bố cô là một cụ già cao mảnh khảnh, đôi
mắt xanh sắc sảo, rất thông minh, xốc nổi và nóng như lửa nhưng lại rất tốt; mẹ
ốm yếu, bệnh tật, vẫn là một người nội trợ khéo, can đảm và vui vẻ. Anh hồi tưởng
lại tuổi thiếu niên tinh nghịch của mình, những buổi tối đi chơi miết trong rừng
cùng anh ruột là Giắc (Jacques).
Maiẻ không khỏi ngạc nhiên. Sao mà giống gia đình mình như thế
nhỉ? Chỉ cần đổi một vài chi tiết, chuyển ngôi nhà ở Sceaux đến một phố ở
Vác-xô-vi (Varsovie )
thì gia đình Curie sẽ trở thành gia đình Xkhua-đốp-xki. Nếu gác một bên mặt tín
ngưỡng - bác sỹ Curie là một con người tự do tư tưởng và chống giáo trị, không
cho các con chịu lễ rửa tội - thì hai nhà có nhiều chỗ giống nhau, cũng một môi
trường khôn ngoan và trọng danh dự, cũng yêu quí văn hóa và khoa học, cũng đùm
bọc thân thương giữa cha và con, cũng một lòng yêu thiên nhiên sâu sắc…
Tươi cười, thoải mái, Marie kể những ngày vui vẻ ở nông thôn
Ba Lan, nơi quê nhà mà vài tuần nữa, cô sẽ về thăm.
- Nhưng đến tháng mười, cô trở lại chứ? Hãy hứa với tôi là cô
sẽ quay lại đây. Ở Ba Lan, cô sẽ không thể nào tiếp tục học được. Bây giờ cô
không có quyền rời bỏ khoa học.
Qua mấy câu chăm sóc thường tình này, Pierre đã để lộ một nỗi
lo sâu sắc. Marie hiểu rằng khi anh nói “Cô không có quyền rời bỏ khoa học” ý
anh định nói là “Cô không có quyền rời bỏ tôi!”
Cả hai cùng im lặng một lúc lâu. Rồi Marie ngước đôi mắt màu
tro nhìn Pierre, trả lời giọng còn do dự:
- Anh nói phải. Tôi rất muốn trở lại đây.
*
Nhiều lần Pierre tỏ ý muốn lấy Marie làm vợ. Song những lần
đó đều không được tốt đẹp như anh mong muốn. Lấy một người Pháp ư? Từ giã gia
đình nhà mình, không phụng sự tổ quốc nữa, bỏ mặc nước Ba Lan ư? Tất cả những
cái đó đối với Marie đều là phản bội ghê gớm. Cô không thể làm như thế! Cô đã
thi đỗ xuất sắc, giờ đây cô phải trở về Varsovie, ít nhất là hè tới, và có lẽ sẽ
về hẳn. Mặc cho Pierre thất vọng, Marie bước lên tầu không hứa hẹn gì, chỉ dành
cho anh một tình bạn lúc này không làm anh thỏa mãn nữa.
Trong tâm trí, Pierre hướng vọng theo Marie. Anh muốn đến gặp
cô ở Thụy Sĩ, cô ở đó vài tuần với cụ Xkhua-đốp-xki đã đến tận đây đón con gái.
Hay là đi Ba Lan, cái nước Ba Lan mà anh ghen? Nhưng không thể được.
Ở xa, anh tiếp tục biện hộ cho ý định của mình. Trong mấy
tháng hè ở Trét-ta, Lăm-be, Kra-kốp, Vác-xô-vi, đến đâu Marie cũng nhận được những
lá thư nét chữ vụng về hơi trẻ con, gửi từ trường Vật lý và Hóa học, cố thuyết
phục cô, kéo cô trở lại, nhắc nhở cô rằng Pierre Curie đang chờ đợi.
Pierre viết cho Marie 10 tháng 8 năm 1984:
“Có vui nào bằng vui được thư cô. Mong ngóng hai tháng trời bẵng
tin làm tôi bần thần. Nói để cô biết rằng thư cô đến rất đúng lúc.
Tôi mong rằng cô sẽ chóng lại sức rồi trở về với chúng tôi
vào tháng 10 và phần tôi, có lẽ chẳng đi đâu cả. Tôi ở thôn quê suốt ngày trước
cửa sổ mở, hoặc trong vườn.
Chúng ta đã hứa hẹn với nhau một tình bạn rộng lớn (có phải
không?). Miễn là cô không thay đổi ý kiến! Vì đây không phải là vấn đề hứa mà
được! Làm sao có thể ra lệnh trong những chuyện này. Tuy nhiên, giá ta được sống
bên nhau mỗi người theo đuổi say sưa một ước mơ: ước mơ yêu nước của cô, ước mơ
nhân đạo và ước mơ khoa học của hai ta thì thật là một sự tốt đẹp mà tôi không
dám nghĩ đến.
Về phương diện khoa học, đã có những công việc mà chúng ta
dám làm, con đường này chắc chắn và mỗi phát minh dù nhỏ đến đâu cũng coi như
là đã được.
Cô thấy đấy, mọi việc đều có liên quan… Chúng mình hứa hẹn với
nhau sẽ là đôi bạn thân, nhưng nếu sang năm, cô rời bỏ nước Pháp thì tình bạn
lý tưởng ấy giữa hai con người không bao giờ gặp nhau sẽ có tác dụng gì! Hay cô
ở lại với tôi có hơn không? Tôi hiểu rằng chuyện này sẽ làm cô bực mình và tôi
chả muốn nhắc đến nữa. Vả lại, tôi tự xét không xứng đáng với cô về mọi mặt.
Mới đầu tôi định xin phép gặp cô một cách ngẫu nhiên ở
Phơ-ri-bua nhưng lại hiềm cô chỉ ở đây một ngày mà cái ngày ấy nhất định giành
cho các bạn Kô-van-xki của chúng ta!
Người bạn tận tình của cô
Pierre Curie
Nếu cô biên thư cho tôi biết chắc chắn là thế nào tháng 10
này cô cũng sẽ trở lại Paris, tôi sẽ sung sướng vô cùng. Để thư đi nhanh, xin đề
theo địa chỉ: Pierre Curie, 13 phố Xa-blông ở Xô (quận Xen)”
Lại viết cho Marie ngày 14 tháng 8 năm 1894:
“Tôi đã do dự cả một ngày và cuối cùng, không định đến tìm
cô. Cảm nghĩ đầu tiên khi đọc thư cô là cô thích tôi không đến. Cảm nghĩ thứ
hai là dù sao, cô cũng không ngăn cản tôi đến sống bên cô 3 ngày và tôi đã tính
đi. Rồi tôi lại thấy hổ thẹn vì mình cứ đeo đuổi như vậy trong khi cô không thuận.
Sau cùng, sở dĩ tôi ở lại là vì nghĩ rằng tôi đến sẽ làm cô không thích và cụ
nhà mình mất thú vui đi chơi với cô.
Nay không còn kịp nữa thì tôi lại tiếc. Phải chăng ba ngày sống
bên nhau có thể tăng gấp đôi tình bạn giữa chúng ta để rồi có đủ nghị lực không
quên nhau trong hai tháng rưỡi xa cách.
Marie có theo thuyết định mệnh không? Cô còn nhớ ngày tuần
chay chứ? Cô mất hút trong đám đông. Tôi có cảm giác là tình bạn của chúng ta rồi
cũng sẽ gián đoạn đột ngột như vậy mà cả hai chúng mình đều không muốn. Tôi
không có tư tưởng định mệnh, nhưng có lẽ đó sẽ là hậu quả tình bạn của chúng
ta. Tôi sẽ không biết hành động đúng lúc.
Kể ra nếu thế thì cũng rất hay cho cô, vì tôi chẳng hiểu tại
sao lại cứ muốn giữ cô ở lại Pháp, đày ải cô xa Tổ quốc, xa những người thân mà
chẳng có gì tốt lành đền bù cho sự hy sinh ấy?
Cô hơi quá tự tin khi cứ tưởng rằng mình hoàn toàn tự do. Ít
ra ta cũng làm nô lệ tình cảm của mình, nô lệ các định kiến của những người
thân. Ta lại còn phải kiếm sống do đó, trở thành một bánh xe trong guồng máy…
Cái khó và cái khổ nhất là phải nhân nhượng các thành kiến của
xã hội xung quanh. Nhiều hay ít, tùy theo chừng mực ta cảm thấy mình yếu hoặc
khỏe đến đâu. Không nhân nhượng đủ mức thì bị nghiền nát. Nhân nhượng quá hóa
hèn và mình thấy tởm với chính mình. Thế là tôi nay đã xa những nguyên tắc của
tôi cách đây mười năm. Dạo đó, tôi cho rằng cần phải thái quá trong bất cứ việc
gì và không được nhân nhượng chút nào cho môi trường quanh ta. Và nghĩ rằng ta
cứ phải đi quá về cả mặt xấu cũng như mặt tốt của mình.
Sau hết, cô xem đây, tôi đã già đi nhiều và cảm thấy mình rất
sút.
Chúc cô vui vẻ.
Người bạn tận tình của cô”.
Thư viết cho Marie ngày 7 tháng 9 năm 1894:
“Cô đoán đúng làm sao, lá thư của cô khiến tôi lo ngại vô ngần.
Tôi khẩn khoản khuyên cô trở lại Paris vào tháng10 này. Cô mà không trở lại thì
tôi sẽ rất buồn. Chẳng phải vì ích kỉ mà tôi nói thế. Tôi chỉ nghĩ rằng ở
Paris, cô sẽ làm việc tốt hơn và có ích hơn.
Nếu một người cứ muốn húc đầu vào tường đá, hòng làm đổ tường
thì cô nghĩ sao? Ý tưởng đấy có thể bắt nguồn từ một tình cảm tốt đẹp, nhưng thật
ra lại rất buồn cười và dại dột. Tôi nghĩ rằng một số vấn đề đòi hỏi được giải
quyết chung, song ngày nay không còn giải pháp cục bộ nữa, và khi ta đi vào một
con đường không có lối thoát ta có thể gây nhiều tác hại. Tôi lại nghĩ rằng
công lý không có thật ở trên đời này và ưu thế sẽ thuộc về chế độ nào mạnh hơn,
nghĩa là kinh tế hơn. Một người làm việc đến kiệt sức mà vẫn sống khổ cực. Đó
là một điều đáng căm giận, phẫn nộ, nhưng không vì vậy mà nó sẽ hết. Có lẽ rồi
nó sẽ mất đi vì con người là một thứ máy và về phương diện kinh tế, cho chạy một
cái máy nào đó theo chế độ bình thường của nó, có lợi hơn là làm nó quá sức.
Cô hiểu nghĩa ích kỷ một cách hơi lạ. Dạo mới tuổi hai mươi,
tôi gặp một tai họa lớn: trong trường hợp khủng khiếp, tôi mất một bạn gái thời
niên thiếu mà tôi rất yêu. Tôi không đủ can đảm để kể lại chuyện này. Qua nhiều
ngày nhiều đêm, tôi cứ bị ám ảnh, cứ tự giày vò mình, rồi lại nguyện sống như một
kẻ tu hành, tự nhủ là chỉ nghĩ đến sự vật, chứ không nghĩ đến bản thân hoặc người
khác. Từ ấy tôi thường tự hỏi phải chăng mình muốn thoát li đời sống chỉ là một
cách để lãng quên?
Bên nước cô có thể viết thư tự do không? Tôi ngờ lắm và từ
nay ta không nên bàn luận tự do trong thư, tuy chỉ là chuyện triết học song có
thể bị phán đoán sai và phiền đến cô.
Cô có thể biên thư cho tôi nếu muốn, địa chỉ 13 phố Xa-blông.
Người bạn tận tình của cô
Pierre Curie
Tôi đưa ảnh cô cho Jacques xem. Được chứ? Anh tôi bảo rất đẹp.
Và nỏi thêm: vẻ mặt cương quyết lắm và bướng nữa”.
*
Tháng mười đây rồi. Trái tim Pierre như muốn vỡ ra vì vui sướng.
Marie đã trở lại Paris. Ma-ri có mặt trong lớp ở Sorbonne, ở phòng thí nghiệm của
giáo sư Líp-man. Năm nay, năm cuối cùng ở Pháp - cô nghĩ thế - Marie không ở
khu La-tinh nữa. Brô-ni-a nhượng cho em gái một buồng liền vách với phòng khám
bệnh của chị ở số 39 phố Sa-tô-doong. Brô-ni-a (Bronia) chỉ đến đây ban ngày vì
hai anh chị đã về ở khu Vi-let (Vilette). Marie có thể làm việc yên tĩnh.
Chính trong chỗ ở thiếu ánh sáng và man mác buồn ấy, Pierre lại
tha thiết nêu câu chuyện tâm tình của mình. Lòng anh cũng rạo rực một niềm tin,
như người vợ tương lai của anh, một niềm tin còn tuyệt đối hơn nữa, không chút
pha trộn. Với Pierre, khoa học là một mục đích cuối cùng. Đường đời của anh vì
vậy mới lạ lùng làm sao, hầu như không thể tưởng tượng được, vì nó hòa lẫn ước
mơ của trái tim với hoài bão của trí tuệ. Pierre hướng về Marie do tình yêu đồng
thời còn do sự nghiệp khoa học.
Pierre lại sẵn sàng hi sinh cái mà người đời gọi là hạnh
phúc, cho một hạnh phúc chỉ mình anh biết. Anh đề nghị với Marie một việc thoạt
đầu nghe rất kỳ cục, một kế gạ gẫm, nhưng lại hoàn toàn đúng với bản chất của
anh. Nếu Marie không yêu anh, liệu anh có cách thu xếp theo tình bạn được
không? Nghĩa là sẽ cùng ở và làm việc trong một nhà ở phố Mup-phơ-ta, có cửa sổ
trông ra vườn, có thể ngăn đôi thành hai gian riêng biệt.
Hoặc nếu như Pierre sang ở Ba Lan, liệu cô có lấy anh không?
Thời gian đầu anh sẽ dạy tiếng Pháp, rồi dần dần cũng nghiên cứu khoa học với
Marie, được đến đâu hay đến đấy.
Cô giáo ngày xưa mà một nhà giàu quê kệch ở nông thôn Ba Lan
chê thì giờ đây, Pierre Curie, con người hiếm có ấy khẩn khoản, van nài.
Marie thổ lộ với Bronia nỗi niềm lo ngại của mình. Cô nói về
ý định của Pierre muốn rời bỏ nước Pháp, sang Ba Lan. Cô thấy mình không có quyền
nhận sự hy sinh ấy. Nhưng lòng rất đỗi xao xuyến.
Biết thêm rằng Marie đã nói đến mình với anh chị Du-xki
(Kazimierz Dłuski), Pierre lại cố dần thêm một bước về phía này. Anh nhiều lần
tìm đến Bronia, giành được sự đồng tình hoàn toàn của chị, rồi mời chị cùng đi
với Marie đến gặp cha mẹ anh ở Xô (Sceaux). Bà bác sỹ Curie kéo Bronia ra một
nơi và xúc động, khẩn khoản, bà nhờ chị thuyết phục cô em út.
Bà nói:
- Chị bảo em nó đừng chần chừ nữa. Không ai trên đời này như
Pierre đâu. Lấy Pierre, cô bé sẽ sung sướng.
Phải mười tháng qua đi, cô gái Ba Lan khẳng khái ấy mới nhận
lời. Nhưng từ lâu, Pierre đã hiểu Marie. Điều làm anh gắn bó và như bị thôi
miên, đó là lòng tận tụy gần như hoàn toàn của Marie đối với công việc, là
thiên tư mà anh linh đoán, đó cũng là lòng dũng cảm và tâm hồn cao thượng của
cô.
Còn nguyên tắc ấy à? Từ lâu, Pierre cũng đã từng sống theo những
nguyên tắc mà rồi chính cuộc sống lại giải thích cho anh thật là vô lý. Anh
cũng đã từng dự định là không bao giờ lấy vợ và lập gia đình. Anh chẳng có một
đất nước Ba Lan để bảo vệ như Marie, song anh vẫn đinh ninh rằng gia đình không
thể dung hòa với một cuộc đời cống hiến cho khoa học. Kỷ niệm đau thương về một
mối tình thắm thiết thời trai trẻ đã khiến lòng anh co lại, xa lánh đàn bà.
Pierre không muốn yêu nữa. Nguyên tắc có ích đó đã tránh cho anh một cuộc hôn
nhân tầm thường, đợi đến ngày gặp một người đặc biệt, một người “dành cho anh”,
đó là Marie. Làm sao anh có thể bỏ qua cái may mắn được có một hạnh phúc lớn và
một sự hợp tác tuyệt diệu? Pierre muốn có riêng bên mình người thiếu nữ, đồng
thời là một cô gái Ba Lan và một nhà vật lý. Ba con người đó giờ đây không thể
thiếu trong cuộc đời anh được. Đó là những điều Pierre dịu dàng dẫn giải cho cô
bạn. Với lời lẽ đó, và nhiều lời khác âu yếm hơn, với sự săn sóc ân cần, nhất
là sự có mặt hàng ngày, dần dần Pierre làm thay đổi tâm tính của Marie từ cô quạnh
thành một con người thường tình.
*
Ngày 14 tháng 7 năm 1895, Dô-dếp (Józef Władysław
Skłodowski), anh cả trong gia đình Xkhua-đốp-xki biên thư từ Vác-xô-vi cho
Marie, báo cho cô biết sự đồng tình thân yêu của cả nhà:
“Nay em là vợ chưa cưới của Pierre Curie, trước hết anh chân
thành chúc em tìm thấy hạnh phúc tươi vui bên cạnh chồng em. Em xứng đáng được
hưởng hạnh phúc ấy. Đó là ý nghĩ của anh và những ai biết lòng tốt cùng tính nết
của em.
Không có người nào công bằng lại có thể trách em đã đi theo
tiếng gọi của trái tim. Biết em từ trước đến nay, anh tin chắc rằng em sẽ mãi
mãi là một phụ nữ Ba Lan và trái tim em bao giờ cũng thuộc về gia đình ta. Anh
và các chị cũng vậy, không bao giờ quên em.
Hôn em trăm lần, Mania yêu quý và một lần nữa, chúc em hạnh
phúc, vui vẻ và thành công. Gửi đến chồng chưa cưới của em những lời chúc thân
ái. Nói với chồng em rằng anh sung sướng nhận Pierre là một thành viên trong
gia đình ta, dành cho Pierre tình bạn chân thành và lòng ngưỡng mộ của anh…”
Ngày 26 tháng 7 năm 1895, Marie trở dậy ở cái nhà phố
Sa-tô-doong lần cuối cùng. Trời tuyệt đẹp. Mặt cô gái có một vẻ rạng rỡ mà bạn
học của cô chưa hề biết đến. Hôm nay, cô Xkhua-đốp-xka trở thành Marie Curie.
Cô chải chuốt mái tóc đẹp của mình, mặc chiếc áo mới do bà mẹ
anh rể Du-xki hiện nay ở phố Đức quốc tặng, Marie nói với cụ:
“Cháu chỉ có một cái áo vẫn mặc hàng ngày. Nếu bác có lòng muốn
mừng cháu một cái áo mới, cháu thích nó mầu sẫm, thiết thực để sau này có thể mặc
đi đến phòng thí nghiệm”.
Chị thợ may ở phố Đăng-cua do Brô-ni-a chỉ dẫn, đã cắt một
chiếc áo len xanh nước biển và một chiếc áo kẻ dọc hai màu lơ và xanh nhạt.
Marie mặc vào trông càng đẹp và trẻ.
Marie rất ưng cách tổ chức đám cưới này. Ngay trong từng chi
tiết đưa dâu sẽ khác mọi đám cưới. Không có áo dài trắng, không có nhẫn vàng,
cũng chẳng có tiệc cưới và lễ bên đạo. Pierre là người tự do tư tưởng và Marie,
từ lâu, không còn đi nhà thờ nữa. Không cần quản lý văn khế vì hai người chẳng
có tài sản gì ngoài hai chiếc xe đạp mới bóng loáng vừa sắm hôm trước với tiền
mừng cưới của một người anh họ. Rồi đây, hè đến, hai vợ chồng sẽ thỏa sức đạp
xe đi khắp thôn quê.
Đúng là một đám cưới giản dị, tốt đẹp, không hề vương vấn một
chút gì gọi là hờ hững, tò mò hoặc ghen ghét. Ở tòa thị chính Sceaux và trong
vườn nhà giai, phố Xa-blông (Salomé), chỉ có vợ chồng chị Brô-ni-a, vài bạn
thân ở đại học, cùng cụ Xkhua-đốp-xki và Hê-la từ Vác-xô-vi đến. Nhà giáo lấy
làm vinh dự được tiếp chuyện bác sỹ Curie bằng tiếng Pháp rất mẫu mực, chau chuốt.
Giọng trầm trầm cảm động, cụ thốt ra những lời từ đáy lòng:
- Rồi cụ xem, Marie là một đứa con rất đáng yêu. Từ tấm bé,
nó chưa bao giờ làm tôi buồn đâu đấy.
Chương 11
vợ chồng trẻ
Những ngày đầu chung sống đẹp như tranh… Pierre và Marie đi
chơi xe đạp khắp các nẻo đường chung quanh Paris thuộc vùng “hòn đảo đất Pháp”[33], cái tên gọi Pháp thời cổ. Trên giá xe
chỉ độc mấy bộ quần áo và hai chiếc áo quàng vải nhựa, phải sắm thêm vì dạo này
mùa hè mưa luôn. Trưa đến, dừng xe ở một chỗ rừng thưa, ngồi nghỉ trên bãi cỏ,
giở bánh mỳ, pho mát, mấy quả đào và anh đào ra ăn.
Một buổi chiều, hai người nghỉ trọ một quán dọc đường. Ở đây
có xúp đặc và nóng, có một phòng ngủ bốn vách dán giấy đã bạc màu, ánh nến thắp
lên cứ làm những cái bóng nhảy múa chập chờn. Đêm nông thôn không thật tĩnh mịch,
chốc chốc lại nghe tiếng chó sủa xa xa, tiếng chim gù, tiếng mèo gào và tiếng
sàn nhà cọt kẹt phát sợ.
Cũng có khi họ dừng xe, thủng thẳng dạo quanh các lùm cây, mỏm
đá.
.
Pierre yêu thích thôn quê say sưa, dạt dào. Hình như những cuộc
đi bộ dài thanh thản ấy cần thiết cho tài năng của anh nảy nở và kích thích tư
duy của nhà bác học. Nếu đã ra vườn, Pierre không thể nào ngồi yên chỗ. Anh
không biế ‘‘nghỉ ngơi”. Anh lại không thích những cuộc đi chơi thông thường, sắp
xếp trước từng chặng. Tựa hồ như anh không có khái niệm về thời gian. Sao cứ phải
ban ngày mới đi, mà chẳng đi ban đêm và cứ đợi đến ngày mới ăn? Pierre vốn quen
cái nếp này từ bé, hễ thích thì đi, bất luận sáng sớm hay chiều tối, mà cũng chẳng
cần biết mình sẽ quay về sau ba ngày hay sau một giờ. Xưa kia Pierre thường
cùng anh ruột đi chơi phóng khoáng như thế, cho đến nay vẫn giữ lại những kỷ niệm
tuyệt vời…
Song những chuyến đi chơi đó đây, hè 1895, “tuần trăng mật du
ngoạn” đó còn êm dịu hơn nhiều vì được tình yêu tô điểm và làm cho thêm rạo rực.
Chỉ tốn vài phơ-răng (francs) tiền trọ trong làng, và chịu
khó đạp xe, cặp vợ chồng trẻ đã tạo cho mình những ngày và đêm thần tiên hạnh
phúc, chỉ có hai người với nhau.
Hôm nay, gửi xe đạp trong làng, Pierre và Marie đã rời đường
cái, dần bước vào một con đường nhỏ chỉ mang theo mình một la bàn và mấy trái
cây. Pierre đi trước, bước từng bước dài, Marie thoăn thoắt theo sau. Phớt lờ cả
tục lệ, cô xắn váy cao hơn để đi cho dễ dàng. Đầu tóc để trần, cô mặc một cái
áo trắng rất tươi mát, dễ coi, đi đôi giầy to và mang một thắt lưng da chỉ tiện
chứ không đẹp. Trong túi thắt lưng có một cái đồng hồ, một dao díp và ít tiền lẻ.
Pierre không ngoảnh lại nhìn vợ, vừa đi vừa nói to lên những
suy nghĩ lúc này về một vấn đề tinh thể học phức tạp. Anh biết rằng Marie vẫn
chú ý nghe và sẽ có một câu trả lời thông minh, độc đáo và lý thú. Marie cũng
có nhiều dự định lớn. Cô sẽ chuẩn bị thi thạc sỹ và thể nào ông hiệu trưởng trường
Vật lý và Hóa học cũng sẽ cho phép cô cùng nghiên cứu trong một phòng thí nghiệm
với Pierre. Luôn luôn sống bên nhau! Không khi nào xa rời nhau!
Xuyên qua những lùm cây, họ đến một bờ ao chung quanh đầy sậy.
Pierre như một đứa trẻ thơ hồn nhiên vui thú khám phá ra thế giới sinh vật và
thực vật của đám nước tù hãm. Anh rất am hiểu về các loại thằn lằn, chuồn chuồn,
kỳ đà… Trong khi Marie ngả lưng trên cỏ, anh thoăn thoắt bước trên một cây đổ,
lỡ chân là ngã và ướt hết đấy, nhưng anh cứ cố với tay hái vài bông dong vàng
và hoa súng màu nhợt nổi lềnh bềnh trên mặt nước…
Chợt nhớ đến công việc, Pierre không thiết gì đến trời đất nữa.
Bao khó khăn tinh tế và mênh mông trong nghiên cứu đang đòi hỏi giải quyết, bao
bí mật về sự tăng cường các tinh thể đang quyến rũ anh. Pierre mô tả cái máy mà
anh muốn lắp để làm một thí nghiệm mới. Và Marie với một giọng trung thực, lại
có những câu hỏi thông minh, những câu trả lời đầy suy nghĩ.
Những ngày hạnh phúc ấy, một sợi dây đẹp nhất đã nối liền đôi
trai gái. Hai trái tim cùng đập một nhịp, hai bộ óc kỳ tài cùng chung một tư
duy. Ma-ri không thể lấy ai hơn là nhà vật lý có tài, một con người khôn ngoan
có tinh thần cao thượng. Pierre cũng không thể lấy ai hơn cô gái Ba Lan tóc
hung, âu yếm, linh hoạt, trong chốc lát có thể đang ngây thơ chuyển thành siêu
việt, vừa là bạn vừa là vợ, vừa là người yêu và nhà bác học.
*
Mùa hè êm đềm, tuyệt đẹp! Đầu tháng 8, hai vợ chồng dọn đến gần
Săng-ti-i (Chantilly) ở một trại nhỏ lấy tên là “Con Hươu”. Lần này, cũng lại
nhờ tài của Brô-ni-a (Bronia), họ đã thuê được một căn nhà yên tĩnh này trong mấy
tháng. Pierre và Marie đến đây ở cùng với bà cụ Du-xki (Dłuski), vợ chồng chị
Bronia và đứa cháu gái Hélène - quen gọi là “Lu” và cụ Xkhua-đốp-xki cùng
Helena còn chơi ở Pháp. Thú vị thay, một ngôi nhà nên thơ, chơi vơi giữa những
lùm cây gỗ, nơi trú ẩn của thỏ rừng và chim trĩ! Thú vị thay tình thân thương gắn
bó hai dòng họ và ba thế hệ!
Pi-e Qui-ri (Pierre Curie) đã hoàn toàn giành được tình cảm của
nhà vợ. Anh bàn luận về khoa học với cụ Xkhua-đốp-xki (Skłodowski). Anh thủ thỉ
nói chuyện với cái “Lu” ba tuổi, rất kháu, rất nhộn, là niềm vui của cả nhà. Thỉnh
thoảng, hai cụ Qui-ri (Curie) ở Sceaux sang chơi. Đến bữa, trên chiếc bàn ăn rộng,
lại đặt thêm hai bộ bát đĩa. Cả nhà rộn ràng tiếng nói tiếng cười, hết chuyện
hóa học lại đến chuyện y học rồi sang giáo dục trẻ em, rồi vấn đề khoa học ở
Pháp, ở Ba Lan.
Bản chất Pierre không hề có một chút hoài nghi gì đối với người
nước ngoài như thường thấy ở những đồng bào của anh. Hai gia đình Du-xki
(Dłuski), và Xkhua-đốp-xki (Skłodowski) lại làm cho nhà bác học siêu lòng. Muốn
biểu lộ tình yêu nồng thắm của mình, anh cố gắng một cách cảm động học tiếng Ba
Lan, thứ tiếng khó nhất Châu Âu và thời đó bị xem như vô ích vì là thứ tiếng của
một nước đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới.
Ở trại “Con Hươu”, Pierre học tiếng Ba Lan. Đến tháng 9, theo
chồng về ở Sceaux, thì lại đến lượt Marie trau giồi thêm tiếng Pháp. Cô chẳng
mong gì hơn. Marie rất quý bố mẹ chồng. Tình thương yêu của hai cụ Curie sẽ làm
dịu bớt nỗi nhớ nhung của cô khi giáo sư Skłodowski và chị Helena trở về
Varsovie.
Vốn có tâm hồn cao cả, hai cụ Curie không hề ngạc nhiên về việc
Pierre lấy một cô gái nghèo người nước ngoài, gặp gỡ trong một gian xép sát nóc
ở khu La Tinh. Ngay từ lúc đầu, hai cụ đã mến Marie, không chỉ vì cái “duyên
dáng Xla-vơ” mà còn do vẻ thông minh khác thường và tính tình của Marie nữa.
Về ở Sceaux, Marie chỉ lấy làm lạ có mỗi một điều là thấy mọi
người ở đây rất hăng say bàn luận chính trị. Bác sỹ Curie có cảm tình với trào
lưu tư tưởng 1848, chơi thân với Hăng-ri Brit-xông (Henri Brisson ) trong Đảng
cấp tiến. Cụ thích đấu tranh. Marie xưa nay đã từng quen chống đối lại ách áp bức
của nước ngoài, lần này có dịp hiểu thêm các kiểu tranh chấp đảng phái thông
thường mà người Pháp vẫn ưa chuộng. Cô không được nghe những cuộc tranh luận
tràng giang đại hải cùng những học thuyết sôi nổi đầy tính chiến đấu và lòng
nhân đạo. Và mỗi khi mệt mỏi, cô lại đến bên chồng, anh vẫn im lặng, mơ màng,
không tham gia vào cuộc bàn cãi…
*
Ở số nhà 24 phố Nhà máy nước đá, cửa sổ trông ra một khu vườn
rộng, cây to. Đó là thú vui duy nhất của gian nhà thiếu tiện nghi này. Đôi vợ
chồng trẻ dọn đến đây từ tháng mười. Ba buồng chật hẹp. Pierre và Marie chẳng
thiết trang hoàng gì, và không nhận mấy thứ đồ đạc cụ Curie cho, vì chật chỗ.
Thêm một tràng kỷ hay một chiếc ghế bành là thêm công quét bụi buổi sáng và lau
chùi vào những ngày dọn dẹp. Marie đâu có thì giờ làm những công việc ấy!
Hàng ngày, Pierre chỉ có một say mê là cùng nghiên cứu khoa học
với người vợ thân yêu. Cuộc sống của Marie chật vật hơn, vì ngoài việc nghiên cứu,
còn việc nội trợ tầm thường và vất vả. Giờ đây, không thể lơ là đời sống vật chất
như hồi còn là sinh viên Sorbonne nữa. Đi nghỉ hè về, Marie mua ngay một quyển
sổ bìa đen có in chữ vàng: “Chi tiêu”.
Mỗi tháng, lương của Pierre ở trường Vật lý và Hóa học là năm
trăm quan. Trong khi chờ đợi Marie thi xong thạc sỹ, sẽ được giảng dạy ở Pháp,
số tiền này là tất cả thu hoạch của đôi vợ chồng trẻ. Với một gia đình bình thường
thì cũng tạm đủ, Marie đã học cách chi tiêu dè sẻn. Vấn đề lúc này là làm thế
nào trong hai mươi bốn giờ, thanh toán hết mọi công việc nhọc nhằn của một
ngày. Phần lớn thì giờ, Marie ở phòng thí nghiệm, ở đây cô đã được sắp xếp một
chỗ làm việc. Vào đến nơi này là hạnh phúc rồi. Thế nhưng ở nhà riêng, phố Nhà
máy nước đá, phải dọn giường, quét sàn, quần áo của Pierre phải lành lặn, chỉnh
tề, các bữa ăn phải tươm tất. Mà không có ai giúp cả…
Thế là Marie dậy rõ sớm, đi chợ và đến chiều, ở trường về lại
cùng Pierre tạt vào hàng thực phẩm và hàng sữa. Thời nào cô Xkhua-đốp-xka vô tư
không biết nấu súp với những thứ nay còn đâu? Đối với bà Curie, giờ đây biết những
cái đó, là một vấn đề danh dự.
Trước khi lập gia đình, Marie đã lén đến nhờ bà cụ Dłuski và
chị Bronia bày cho cách nấu nướng, tập luộc gà, rán khoai. Nay cô đã làm được
những món ăn ngon lành cho Pierre, còn Pierre thì đãng trí đến nỗi không thấy sự
cố gắng vượt bậc ấy.
Marie có một niềm tự ái hơi trẻ con. Cô không muốn để mẹ chồng
người Pháp, nhỡ ra một hôm làm món trứng hỏng, sẽ hỏi to, chẳng hiểu họ dạy các
cô gái Varsovie làm những gì mà đến tráng một cái trứng cũng không nên thân? Giả
sử có như vậy thì cô sẽ hổ thẹn biết chừng nào! Cô đọc đi đọc lại quyển sách dạy
nấu nướng, và mỗi lần tập, đều ghi kỹ bên trang sách lần nào làm hỏng, lần nào
thành công, và tại sao, với những từ khoa học chính xác.
Người nội trợ trẻ đó nghĩ ra những món ăn dễ làm, ít phải
canh, có thể để “mặc cho nó chín âm ỉ” trong những giờ mình đến trường. Nấu bếp
cũng khó như nghiên cứu khoa học, cũng lắm bí ẩn không kém. Làm cách nào cho mỳ
ống khỏi dính nồi? Hầm thịt bò thì cho vào nước lã hay nước đang sôi? Luộc đậu
cô ve phải bao nhiêu lâu mới chín? Marie, má đỏ ửng lên vì nóng, cứ thở ngắn thở
dài trước cái bếp đốt bằng than khí. Nhớ lại xưa kia, ăn bánh mì với bơ, uống
nước trà, ăn củ cải đỏ và quả anh đào, chẳng đơn giản hơn sao?
Khó thì khó, cô vẫn dần dần giỏi hơn. Cái bếp hơi đã bao phen
làm cháy món thịt bò nay phải vào khuôn phép. Trước khi đi, Marie vặn nhỏ lửa với
sự chính xác của nhà vật lý rồi tần ngần nhìn một lần cuối mấy chiếc xoong đặt
trên bếp lửa, cô đóng cửa phòng, bước vội xuống theo kịp Pierre để cùng tới trường.
Mười lăm phút sau, cô đã đang cúi xuống những nồi cổ cong
khác, cũng với một động tác thận trọng, cô lại điều chỉnh ngọn lửa của một “đèn
khí phòng thí nghiệm”.
*
Tám giờ nghiên cứu khoa học, và khoảng ba giờ nội trợ, nào
đâu đã xong việc! Tối đến, sau khi ghi các chi tiêu hàng ngày, Marie lại ngồi
trước cái bàn gỗ tạp vùi đầu vào sách. Giờ là lúc chuẩn bị cho kỳ thi thạc sĩ sắp
tới. Ngồi bên kia ngọn đèn, Pierre đang cặm cụi thảo giáo trình dạy ở trường Vật
lý và Hóa học. Nhiều lúc, Marie cảm thấy đôi mắt sâu đẹp đẽ của chồng nhìn
mình. Cô ngước lên, gặp cái nhìn của Pierre một biểu hiện yêu đương và khâm phục.
Một nụ cười trao đổi giữa hai con người đang yêu đó. Đến hai, ba giờ sáng, vẫn
có ánh đèn trên những khung cửa kính và trong cái phòng làm việc chỉ có hai ghế
đó vẫn nghe tiếng trang sách khẽ lật say sưa và tiếng ngòi bút viết miệt mài
trên giấy.
Marie thi thạc sĩ, đỗ đầu. Pierre sung sướng quàng tay vào cổ
người vợ Ba Lan yêu quí. Vai kề vai, hai anh chị trở về phố Nhà máy nước đá và
ngay lúc ấy, họ bơm xe đạp, soạn ba lô, đi chơi vùng Ô-véc-nhơ.(Auvergne)
Sao mà hai vợ chồng này phung phí sức lực như thế, cả về trí
tuệ và thể xác! Ngay đến những ngày nghỉ của họ cũng là một sự tiêu pha năng lượng
thái quá.
Trích một trang sổ tay của Marie về những ngày sống sôi nổi
đó:
“Chúng tôi còn giữ một kỷ niệm rạng rỡ về một ngày nắng ráo,
sau một đoạn leo dốc mệt nhọc, chúng tôi rong xe qua cánh đồng cỏ xanh tươi,
mát mẻ của vùng Ô-brac (l’Aubrac), được hít thở không khí trong lành trên cao
nguyên. Một kỷ niệm sống nữa là một buổi chiều, vào đến thung lũng Tơ-luy-e, được
nghe một điệu dân ca rất mê ly vọng xa từ một con thuyền trôi theo dòng nước.
Vì không thích tính chặng đường, mãi đến tảng sáng hôm sau mới về nhà. Chả là gặp
mấy chiếc xe ngựa, những con vật thấy hai cái xe đạp hốt hoảng, lồng lên làm
chúng tôi phải đi tắt qua mấy thửa ruộng vừa cày ải. Sau đó lại lên đường cái đạp
xe trên cao nguyên ánh trăng huyền ảo”…
Năm thứ hai cuộc sống gia đình chỉ khác năm đầu là về tình
hình sức khỏe. Marie đã có mang, lòng thì mong muốn có con nhưng lại bực bội vì
mệt mỏi, không còn đứng trước các dụng cụ để nghiên cứu “từ tính của các kim loại”.
Tháng 7 năm 1897, Pierre và Marie, từ hai năm nay, chưa rời
nhau một bước, lần đầu tiên phải xa nhau. Nhân dịp cụ Xkhua-đốp-xki sang Pháp
nghỉ hè, Marie đã đến ở với bố tại khách sạn “Những phiến đá xám” ở Po-blăng,
còn Pierre bận không đi được.
Pierre biên thư cho Marie tháng 7 năm 1987:
“Em rất yêu quí, hôm nay anh vừa được thư em và lòng anh tràn
ngập sung sướng. Ở đây không gì mới cả, chỉ thiếu em thôi, tâm hồn anh đang bay
theo em.”
Mấy dòng chữ này, Pierre viết nắn nót…
Bằng tiếng Ba Lan, thứ tiếng khó học mà nhà vật lý lại muốn
viết cả những lời âu yếm nhất. Ma-ri cũng trả lời bằng tiếng Ba Lan với những
câu dễ đọc, cho người mới học:
“Anh yêu dấu, trời đẹp, nắng ấm.
Vắng anh, em buồn rười rượi, em đợi anh cả sáng lẫn chiều mà
không thấy anh đến. Em vẫn khỏe và cố hết sức làm việc, song cuốn sách của
Poăng-ca-rê[34] khó hơn là trước đây em nghĩ. Em cần
trao đổi với anh để cùng xem chỗ nào khó hiểu đối với em”.
Lại dùng tiếng Pháp, Pierre biên thư cho Marie, mở đầu bằng
“Em rất đỗi yêu quý”, kể vội cuộc sống ở Sceaux và công việc cuối năm của anh.
Anh nghiêm túc nhắc đến tã lót, áo dài tay, và áo cánh của đứa trẻ sắp chào đời.
“Hôm nay anh gửi một bưu kiện cho em, có hai áo đan dài tay,
hình như của bà P. gửi. Một cỡ bé và một cỡ to. Cỡ nhỏ hợp với áo len đan chun,
còn bằng vải thì phải rộng hơn. Em cần phải có hai cỡ.”
Bất giác, anh lại nói đến tình yêu của mình với những lời đằm
thắm hiếm có:
“Anh nhớ đến em, người đã chiếm hoàn toàn cuộc sống của
anh. Và anh mong sao có thêm tài năng. Anh tưởng như nếu dồn tất cả trí tuệ
vào em như lúc này anh đang làm, đáng ra anh phải có thể nhìn thấy em, xem em
đang làm gì và làm em thấy rằng hiện giờ anh hoàn toàn thuộc về em. Song vẫn
không tài nào có được một hình ảnh như thế”.
Đầu tháng 8, Pierre vội vã đến tìm Marie ở Pô-blăng. Trong
tình trạng Marie có mang tám tháng, ai cũng tưởng hai vợ chồng sẽ nghỉ ngơi yên
tĩnh. Không! Họ thật vô tâm như những người mất trí - hay những nhà bác học. Họ
lại đi xe đạp tới Bretz - vẫn đi từng chặng đường dài như mọi bận. Marie thì quả
quyết là không thấy mệt, còn Pierre thì vội tin ngay. Anh cảm thấy dường như
Marie là một con người khác thường, thoát khỏi quy luật của tạo hóa.
Song lần này, Marie không đương nổi nữa, buộc lòng phải rút
ngắn chuyến đi để trở về Paris. Ngày 12 tháng 9 năm 1897, con gái đầu lòng của
hai nhà bác học ra đời. Đó là I-ren (Irène), một đứa bé xinh đẹp, một phần thưởng
Nobel tương lai, bác sỹ Curie đỡ đẻ cho con dâu. Marie cắn răng không một tiếng
kêu rên.
Sinh nở không tốn kém gì. Trong sổ chi tiêu ngày 12 tháng 9
có ghi một mục “đặc biệt”: rượu sâm panh 3 quan, đánh điện 1 quan 10, trong mục
“đau ốm”: dược phẩm và công chăm nom người bệnh 71 quan 50. Tổng cộng chi tiêu
tháng 9 là 430 quan 40. Hai gạch đậm dưới con số 430 nói lên sự bực dọc của người
ghi sổ về khoản chi tiêu đã tăng thêm như vậy.
*
Marie không hề nghĩ đến chọn giữa xây dựng hạnh phúc gia đình
và theo đuổi sự nghiệp khoa học. Bà đã quyết định làm song song. Yêu đương,
sinh nở và nghiên cứu khoa học, và không lơ là mặt nào. Và nếu bà thành công
trong mọi việc, đó là nhờ tình yêu và lý trí.
Theo ý kiến thầy thuốc, người mẹ trẻ phải cho con cai sữa.
Nhưng sáng, trưa, chiều, tối, Marie tắm, thay quần áo cho bé Irène và trong khi
người vú đẩy xe em bé ra công viên, nhà nữ bác học lại bận rộn trước các dụng cụ
phòng thí nghiệm, thảo gấp công trình nghiên cứu về các chất nam châm sẽ đăng
trong bản tin của “Hội khuyến khích kỹ nghệ quốc gia”.
Thế là cùng một năm sinh đứa con đầu lòng, chỉ sau đó ba
tháng, Marie công bố kết quả nghiên cứu đầu tiên của mình.
.
Marie, Irène và Pierre Curie
Nhiều lúc bà tưởng như không thể đương nổi cuộc sống căng thẳng,
mệt nhọc chẳng khác gì làm xiếc đó. Từ khi có mang, sức khỏe Marie giảm sút rõ
rệt. Anh Ca-di-mia Du-xki (Kazimierz Dłuski) và bác sĩ Vô-chi-ê, thầy thuốc vẫn
khám bệnh cho gia đình Curie đều nói Marie bị nám phổi bên trái. Nhớ lại xưa
kia bà giáo đã chết vì lao, hai bác sĩ khuyên Marie nên nghỉ ngơi, tĩnh dưỡng
vài tháng. Nhưng Marie không nghe. Vì còn bao mối lo khác! Nào phòng thí nghiệm,
nào chồng, nào con, Irène mọc răng, quấy, rồi cúm, những chuyện nho nhỏ này thường
làm cho hai nhà vật lý phải nhiều đêm mất ngủ. Cũng có khi Marie tự nhiên hốt
hoảng tất tả chạy ra ngoài trường Vật lý, đến công viên Mông-xu-ri
(Montsouris). Chẳng biết người vú có để lạc con bé không? Kia rồi, ở đằng xa,
bà vẫn trông thấy chị ta và cái xe bé nhỏ, bên trong xe có vật gì trăng trắng.
Cụ Curie đã đem lại cho con dâu một sự giúp đỡ quý báu. Marie
sinh Irène được vài ngày thì bà bác sỹ Curie qua đời nên cụ quấn quýt với cháu
bé. Trong vườn nhà, cụ chăm nom dìu dắt từng bước đi chập chững đầu tiên của
Irène. Khi Pierre và Marie không ở phố Nhà máy nước đá nữa mà dọn đến một ngôi
nhà nhỏ ở phố Kê-lec-man thì cụ cũng đến ở với con cháu, Irène sẽ thấy ở ông nội
một người thầy dạy học và bạn chơi thân thiết nhất.
*
Quãng đường dài biết bao từ buổi sáng tháng mười một 1891 khi
một cô gái Ba Lan tay mang tay xách bộn bề những gói, đáp tàu hỏa đến ga Phương
Bắc trong một toa xe hạng ba…! Maria Skłodowska đã khám phá ra vật lý, hóa học
và toàn bộ cuộc đời của một người đàn bà. Cô đã thắng mọi trở ngại, khó khăn, từ
cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất mà không một lúc nào ngờ rằng mình đã phải vận dụng
một tinh thần bền bỉ và một lòng dũng cảm phi thường.
Những bước đầu phấn đấu và những thắng lợi ấy đã làm Marie
thay đổi từ dáng người đến khuôn mặt. Không sao khỏi xúc động khi nhìn hình ảnh
Marie lúc ngoài ba mươi tuổi, cô gái chắc nịch năm xưa đã thành một thiếu phụ mảnh
khảnh. Giờ đây, trông thấy Marie ai cũng nghĩ: “Người đàn bà nào mà đẹp lạ
lùng, quyến rũ thế?” nhưng lại không dám nói ra vì bà có vầng trán rộng mênh
mông và cái nhìn sâu thẳm.
Bà Curie đẹp ra như để sửa soạn đón vinh quang đang chờ đợi.
Chú thích:
[33] Ile de France - một hòn đảo giữa sông Seine ở Paris
[34] Henri Poincare ( 1854 – 1912) nhà toán học Pháp
Chương 12
khám phá ra chất ra-đi (radium)
Một người vợ trẻ trông nom nhà cửa, tắm rửa con gái bé, đặt nồi,
xoong lên bếp… và trong phòng thí nghiệm nghèo nàn của Trường Vật Lý, một nữ
bác học hoàn thành phát minh quan trọng nhất trong khoa học hiện đại.
Hai bằng cử nhân, một bằng thạc sĩ, một công trình nghiên cứu
về “từ tính của những loại thép đã tôi”. Đó là thống kê hoạt động của Marie,
tính đến cuối năm 1897, khi bà quay lại làm việc sau thời gian nghỉ đẻ.
Giờ đây, bước tiến triển lô-gích trong sự nghiệp của Marie là
chuẩn bị thi tiến sĩ. Sau một vài tuần lễ cân nhắc, nhà nữ bác học thấy cần chọn
một đề tài nghiên cứu có một nội dung đặc biệt phong phú để làm luận án. Với mục
đích đó, Marie đã xem lại một lượt các công trình nghiên cứu mới về vật lý.
Trong việc chọn lựa này, ý kiến của Pierre rất quan trọng,
Pierre là trưởng phòng thí nghiệm, “thủ trưởng” của Marie, lại là một nhà vật
lý lâu năm, có nhiều kinh nghiệm hơn. Bên cạnh Pierre, Marie cảm thấy mình như
còn đang học việc.
Song, phải nói đến vai trò cá tính và bản chất sâu xa của cô
gái Ba Lan trong việc quyết định về vấn đề nghiên cứu này. Từ bé, Marie đã mang
trong lòng ham muốn hiểu biết và dũng cảm của những nhà thám hiểm. Chính bản
năng ấy thôi thúc mà cô xa rời Varsovie để đến Paris và trường Sorbonne, và
cũng vì say mê học hỏi mà cô ưa các gian phòng tĩnh mịch ở xóm La-tinh (Latin)
hơn căn nhà ấm cúm của anh chị Du-xki (Dłuski). Mỗi lần đi chơi thăm rừng, cô
thường tìm con đường nào ít dấu chân nhất, hoang dại nhất.
Giờ đây, Marie giống như một nhà du hành đang nghĩ đến một
chuyến đi trọng đại. Người đó cúi xuống bản đồ, phát hiện giữa một vùng xa xăm
một tên gọi lạ tai, làm trí tưởng tượng của mình bị kích thích, và bất giác,
quyết định chỉ đi đến chỗ ấy chứ không đi đâu khác. Đọc lại những bản báo cáo về
kết quả nghiên cứu thể nghiệm mới nhất, Marie dừng lại ở công trình của nhà vật
lý học Hăng-ri Bếch-cơ-ren (Henri Becquerel) đăng năm ngoái. Pierre và Marie đã
xem qua một lần rồi. Nhưng nay Marie đọc kĩ hơn, nghiên cứu thêm với sự cẩn thận
quen thuộc của mình.
Sau khi Rơn-gân[35] tìm ra tia X, Hăng-ri Poăng-ca-rê
nảy ra ý nghĩ nghiên cứu về các chất huỳnh quang, xem dưới tác động của ánh
sáng, chúng có phát ra những tia giống như tia X không. Cùng một ý kiến ấy, Bếch-cơ-ren
(Becquerel )[36] đã nghiên cứu muối của một kim loại
hiếm: Đó là U-ra-ni (L'uranium). Nhưng Becquerel lại tìm ra một hiện tượng khác
khó hiểu: các muối u-ra-ni không cần tác động của ánh sáng, vẫn tỏa ra những
quang tuyến có tính chất mới lạ. Một chất muối u-ra-ni đặt trên một tấm kính ảnh
bọc trong giấy đen, đã tác động vào thuốc ảnh, qua tấm giấy. Giống như quang
tuyến X, những tia u-ra-ni cũng khiến một máy điện nghiệm phóng điện, do không
khí chung quanh hoá thành dẫn điện.
Becquerel đã thể nghiệm và đi đến kết luận rằng những đặc
tính ấy không tuỳ thuộc vào một nguồn ánh sáng tiếp nhận từ trước, mà vẫn tồn tại
khi muốn u-ra-ni đã bị giữ rất lâu trong bóng tối. Song Becquerel chỉ mới khám
phá ra hiện tượng mà sau này Marie Curie gọi là tính phóng xạ. Nguyên nhân của
sự phát quang ấy hiện còn bí ẩn. Muối U-ra-ni phát quang, nghĩa là phát ra năng
lượng, dù là rất ít. Vậy năng lượng ấy ở đâu mà ra? Tính chất các quang tuyến
này ra sao? Đây là một đề tài nghiên cứu lý thú, một luận án thi tiến sĩ. Vấn đề
rất hấp dẫn đối với Marie, nhất là phạm vi nghiên cứu hãy còn trắng, những công
trình của Becquerel còn mới mẻ, và trong các phòng thí nghiệm Châu Âu, theo như
bà biết, chưa ai đi sâu vào U-ra-ni.
Cho đến lúc này, điểm khởi đầu và thư mục duy nhất là những
thông báo của Henri Becquerel, trước viện Hàn lâm khoa học năm 1896.
Đi vào khám phá một lĩnh vực chưa hề ai đặt chân tới thật say
sưa hào hứng biết bao!
*
Chỉ còn tìm một chỗ cho Marie làm các thí nghiệm. Khó khăn bắt
đầu từ đây. Pierre mấy lần khẩn khoản với ông hiệu trưởng trường vật lý, nhưng
chỉ được một kết quả rất nhỏ: nhà trường để cho Marie sử dụng một cái buồng kho
ở tầng dưới, có tường lắp kính. Đó là một không gian bề bộn, ám khói vừa là kho
chứa hàng, vừa để đặt máy, trang bị kĩ thuật thô sơ, tiện nghi không có.
Thiếu trang bị điện thích hợp và thiếu mọi thiết bị khởi đầu
trong nghiên cứu khoa học, Marie không nản lòng vẫn tìm cách cho chạy máy móc,
dụng cụ trong gian phòng chật hẹp.
Nào có dễ đâu. Ẩm ướt và thời tiết thay đổi là kẻ thù nham hiểm
của các dụng cụ chính xác. Trong phòng máy nhỏ hẹp này, thời tiết rất hại đối với
những điện nghiệm kế nhạy bén, mà cũng chẳng tốt gì cho sức khoẻ của Marie.
Song có hề chi! Những lúc lạnh quá, Marie đều ghi vào sổ tay nhiệt độ do hàn thử
biểu chỉ. Ngày 6 tháng hai 1898, giữa những con số và những công thức, có ghi
“Nhiệt độ ống tròn 6025”. Tiếp theo là mười chấm than! Sáu độ, rét thật.
Trước tiên, cần phải đo cho được khả năng “I-ôn hoá” của tia
u-ra-ni, nghĩa là khả năng làm cho không khí trở thành dẫn điện, khiến một máy
điện nghiệm xả điện.
Phương pháp rất hay mà Marie áp dụng – nó sẽ là chìa khoá
thành công trong các thí nghiệm của bà – trước đây đã do Pierre và Jacques tìm
ra trong khi nghiên cứu các hiện tượng khác. Dụng cụ gồm một “phòng i-ôn hoá”,
một điện kế Curie và một bàn thạch anh áp điện.
Nhận xét đầu tiên của Marie rút được sau một vài tuần là: cường
độ phát quang tỉ lệ thuận với lượng u-ra-ni có trong những mẫu nghiên cứu và sự
phát quang ấy có thể được chính xác, không phụ thuộc vào trạnh thái hoá học của
U-ra-ni hoặc điều kiện bên ngoài như ánh sáng, nhiệt độ v.v…
Điều đó đối với người thường, tưởng như không có gì quan trọng,
nhưng trước con mắt nhà bác học lại vô cùng hấp dẫn. Đã bao phen, trong vật lý,
có hiện tượng không giải thích được, sau một hồi nghiên cứu ngắn, lại có thể
ghép vào những định luật đã biết trước kia rồi và do đó, chẳng còn lí thú gì đối
với người tìm tòi nữa. Có thể ví như trong những truyện trinh thám viết dở, nếu
mới đến chương ba tác giả đã cho biết rằng con người dáng điệu lạ lùng kia, cứ
nghĩ là thủ phạm vụ ám sát nọ, chẳng qua chỉ là một người đàn bà bình thường mà
cuộc sống chẳng có gì bí mật, thì câu chuyện hoá nhạt và chúng ta không muốn đọc
nữa.
Đằng này khác. Càng đi sâu tìm hiểu quang tuyến u-ra-ni,
Ma-ri càng thấy rằng đây là những tia rất lạ. Chúng không giống hiện tượng nào
cả. Chúng không hề bị cái gì tác động đến và mặc dù rất yếu ớt, chúng có một “đặc
cách” phi thường.
Tâm trí Marie cứ lật đi lật lại điều bí ẩn này. Nhà bác học
linh cảm là chẳng bao lâu, có thể khẳng định rằng sự phát quang khó hiểu đó là
một đặc tính nguyên tử. Bà nghĩ hiện tượng này mới chỉ bắt gặp ở chất u-ra-ni,
song không có nghĩa rằng u-ra-ni là nguyên tố hoá học duy nhất có thể gây ra hiện
tượng ấy. Biết đâu các chất khác cũng có khả năng này? Có thể những tia mới đó
do ngẫu nhiên được tìm thấy ở u-ra-ni, mà rồi trong trí óc các nhà vật lý,
chúng cứ gắn liền với u-ra-ni. Phải thử tìm những tia ấy ở chỗ khác.
Nghĩ là làm! Marie thôi không nghiên cứu chất u-ra-ni nữa mà
soát lại một lượt tất cả các chất hoá học đã biết. Kết quả là các hợp chất của
một nguyên tố khác là tho-ri cũng phát quang với một cường độ không lớn. Nhà nữ
bác học trẻ đã nhìn sáng suốt, hiện tượng này không là một đặc tình của
u-ra-ni, cần phải cho nó một tên gọi riêng. Bà Curie đề nghị gọi là sự phóng xạ.
Các chất như u-ra-ni và tho-ri ( L'uranium, và Thorium,) có khả năng “tỏa
quang” đặc biệt, là những chất phóng xạ.
Hiện tượng phóng xạ làm cho nhà vật lý băn khoăn suy nghĩ nhiều.
Bà tiếp tục nghiên cứu nhiều chất khác nhau bằng cùng một phương pháp. Không chỉ
giới hạn phạm vi tìm tòi vào những hợp chất đơn giản là muối và o-xýt (, Marie
bỗng nảy ra ý soát lại toàn bộ mẫu quặng có ở trường Vật lý, đem thử hết lượt
qua điện nghiệm kế, ví như một cuộc khám xét thuế quan. Thử cầu may, không được
gì cũng là giải trí. Pierre cũng nghĩ như vậy và cùng Marie chọn những mẫu quặng
có gân, cứng hoặc dễ vụn, hình dáng kì quặc, mà Marie có ý định khảo sát.
Ý nghĩ của Marie thật đơn giản – đơn giản như mọi khám phá
thiên tài. Bà Curie đã đến một chặng đường mà có lẽ nhiều người tìm tòi khác sẽ
ngừng lại hàng tháng, thậm chí hàng năm. Sau khi soát lại tất cả các chất hoá học
đã biết và tìm ra được sự phát quang của tho-ri (Thorium), như Marie đã làm, có
thể họ sẽ tiếp tục tự hỏi và không trả lời được vì sao có sự phóng xạ huyền bí
đó. Marie cũng tự hỏi và ngạc nhiên. Song ngạc nhiên này diễn ra bằng những
hành động có hiệu quả. Mọi khả năng hiển nhiên đã được tận dụng, Marie quay ra
cái chưa dò đến, cái còn bí ẩn.
Bà biết trước sự khảo sát các quặng sẽ cho thấy cái gì. Nói
cho đúng, mới tưởng là biết. Loại quặng nào không có chất u-ra-ni hoặc tho-ri,
sẽ tỏ ra hoàn toàn “không có thuộc tính”. Còn các loại khác có u-ra-ni hoặc
tho-ri ( L'uranium, và thorium,)) thì phóng xạ.
Thực tế đã chứng minh những dự đoán ấy. Bỏ qua những quặng
không có thuộc tính, Ma-ri bám sát những quặng khác và đo độ phóng xạ của
chúng. Ở đây, có điều rất lạ. Sự phóng xạ ấy mạnh hơn rất nhiều so với mức
phóng xạ mà người ta có thể dự đoán thông thường, căn cứ vào lượng u-ra-ni và
tho-ri có trong các chất được khảo sát!
“ Có thể là một lầm lẫn trong thực nghiệm”.
Marie nghĩ như vậy. Vì trước một hiện tượng bất ngờ, phản ứng
đầu tiên của nhà bác học là hoài nghi.
Marie bình tĩnh làm lại các đo lường, với cùng những chất
đang nghiên cứu. Mười lần, rồi hai mươi lần. Sự thật vẫn hiển nhiên, lượng
u-ra-ni và tho-ri có trong quặng không đủ để chứng minh cường độ đặc biệt của
hiện tượng tỏa quang đang theo dõi.
Độ phóng xạ quá mức và khác thường ấy do đâu? Chỉ có thể giải
thích như sau: các quặng chứa đựng một lượng rất nhỏ một chất có khả năng phóng
xạ mạnh hơn u-ra-ni và tho-ri rất nhiều.
Song chất đó là gì? Trong các cuộc thí nghiệm trước, Marie đã
khảo sát tất cả các chất hoá học khác đã biết.
Nhà nữ bác học trả lời câu hỏi ở trên với sự vững vàng và táo
bạo tuyệt vời của những thiên tài. Bà mạnh dạn nêu lên giả thuyết: các quặng ắt
phải chứa đựng một chất phóng xạ đồng thời cũng là một nguyên tố hoá học cho đến
nay chưa biết – một chất mới lạ!
Một chất mới lạ! Giả thuyết này thật hấp dẫn, quyến rũ, nhưng
vẫn mới là giả thuyết. Cho đến lúc này, các chất phóng xạ cực mạnh ấy chỉ tồn tại
trong trí tưởng tượng của Pierre và Marie. Nhưng nhất định phải có! Một hôm,
Marie cố nén xúc động, nói với Bronia:
- Chị có biết không, một hiện tượng tỏa quang mà em không giải
thích nổi, chính là do một nguyên tố hoá học chưa ai biết. Nguyên tố ấy đây rồi!
Chỉ còn tìm ra nó, Pierre và em tin chắc là có. Em nói chuyện với nhiều nhà vật
lý thì họ ngờ là nhầm lẫn trong thực nghiệm và khuyên chúng em nên cẩn trọng.
Song em nhất quyết là không nhầm.
Những giây phút không gì sánh tày của một cuộc sống duy nhất.
Tâm lý thông thường vẫn hay mang một khái niệm lãng mạn hoàn toàn sai lệch về
người tìm tòi và sự khám phá ra cái mới. Không phải bao giờ cũng có cái “giây
phút phát hiện”. Công việc của nhà bác học vốn phức tạp, tinh tế, và trong quá
trình nghiên cứu gian khổ, sự thành công không hề loé ra như một tia chớp làm
choáng mắt. Đứng trước các dụng cụ của mình, Ma-ri có lẽ không biết đến cái say
sưa đột ngột của thành công, vì niềm vui khám phá thật ra đã tiềm tàng, tản mạn
trong bao ngày làm việc có tính quyết định, những ngày chứa chan hy vọng tuyệt
vời. Song, hồi hộp biết bao, cái giây phút mà Marie thổ lộ bí mật của mình cho
người chị ruột và đồng minh thân thuộc, sau khi đã vận dụng một lý luận chặt chẽ
để kiểm tra lại và khẳng định được rằng mình đang theo dõi một chất mới lạ. Hai
chị em xúc động không nói nên lời, để tâm hồn say sưa hồi tưởng lại những năm
tháng đợi chờ, lần lượt hy sinh cho nhau và cuộc đời sinh viên khắc khổ nhưng
tràn đầy tin tưởng và mơ mộng.
Mới cách đây bốn năm, Marie viết:
“Cuộc sống chẳng có vẻ dễ dàng đối với mỗi chúng ta. Nhưng dù
sao, phải kiên trì, nhất là phải tin ở mình chứ? Phải tin rằng ta có nhiều về một
mặt nào đó và quyết đạt tới cho bằng được”.
Cái “khiếu” ấy là đẩy khoa học vào một con đường không ngờ tới.
Trong thông báo gửi Viện hàn lâm khoa học đăng trên Bản tin
khoa học ngày 12 tháng 4 năm 1898, Marie Curie báo tin trong quặng Pếch-blen có
thể có một chất mới có tính phóng xạ mãnh liệt.
Thông báo có câu:
“Hai quặng u-ra-ni là pêch-blen (ô-xít u-ra-ni) có hoạt tính
mạnh hơn bản thân u-ra-ni rất nhiều. Hiện tượng này rất đáng chú ý vá cho ta
tin tưởng rằng các quặng ấy có thể chứa đựng một chất có hoạt tính hơn u-ra-ni
nhiều”.
Đó là giai đoạn đầu của sự khám phá ra chất ra-đi.
.
*
Do nhạy cảm, Marie đã chứng minh cho mình rằng chất ấy nhất định
phải có. Bà khẳng định như vậy. Bây giờ chỉ còn truy lùng chất ấy mà thôi. Bây
giờ phải lấy thực nghiệm kiểm tra giả thuyết, cố tách riêng cái chất ấy ra. Tuy
không tham dự trực tiếp vào việc này, Pierre thường xuyên nhận xét, góp ý giúp
đỡ Marie.
Trước kết quả đặc biệt bất ngờ, Pierre quyết định tạm ngừng
công trình nghiên cứu về tinh thể mà anh đang làm, để dốc sức cùng Marie tìm
nguyên tố mới.
Thế là khi một việc trọng đại cấp thiết đòi hỏi một sự cộng
tác thì một nhà vật lý lớn đã có mặt bên cạnh một nhà vật lý. Đó là Pierre, người
bạn đời của Marie.
Ba năm trước đây, tình yêu đã nối liền hai con người phi thường
ấy. Tình yêu, và có lẽ một sự tiên tri diệu kì, một bản năng không thể lầm lẫn
về tinh thần đồng đội.
*
Sức chiến đấu nay đã gấp đôi. Trong cái xưởng nhỏ ẩm ướt phố
Lô-mông, hai khối óc, bốn bàn tay cùng tim tòi một nguyên tố mới. Từ nay, trong
sự nghiệp chung của hai vợ chồng bác học Curie, không thể phân biệt đâu là phần
của người này, đâu là phần của người kia. Chúng ta biết rằng Ma-ri, sau khi chọn
nghiên cứu các quang tuyến của u-ra-ni làm đề tài luận án tiến sĩ, đã khám phá
ra rằng nhiều chất khác cũng có tính phóng xạ. Rồi sau khi khảo sát nhiều loại
quặng, Ma-ri đã có thể báo cáo sự có mặt của một nguyên tố hoá học mới phóng xạ
rất mạnh và tầm quan trọng hàng đầu của phát hiện này đã thúc đẩy Pierre Curie
tạm ngừng nghiên cứu về lĩnh vực khác để tìm cách tách chất đó ra. Từ tháng năm
hay tháng sáu 1898 đó, bắt đầu sự cộng tác chặt chẽ trong tám năm giữa Pierre
và Marie, chỉ chấm dứt một cách tàn bạo do một tai nạn chết người.
Trong suốt tám năm ấy, khó mà phân biệt được việc gì do Marie
làm, việc gì do Pierre làm. Có lẽ hai vợ chồng bác học đều không nghĩ đến điều
đó. Thiên tài của Pierre Curie đã được tỏ rõ qua những công trình đặc biệt của
nhà vật lý trước đây. Còn thiên tài của Marie là linh cảm ngay từ giây phút đầu
sự khám phá ấy, và khởi đầu một cách chớp nhoáng. Thiên tài ấy sau này được thể
hiện một lần nữa khi bà quả phụ Curie trong cảnh cô đơn, vẫn dũng cảm đảm đương
một khoa học mới và đưa dần khoa học này đến phát triển rạng rỡ, hài hòa. Đó chẳng
phải là những chứng cớ hiển nhiên rằng trong quá trình phối hợp tuyệt diệu giữa
một nam một nữ ấy, cuộc trao đổi là bình đẳng đó sao?
Như vậy kể cũng đủ thỏa mãn lòng chúng ta tha thiết muốn tìm
hiểu và khâm phục. Hãy đừng tách rời hai con người tràn đầy tình yêu mà chữ viết
cũng quyện lấy nhau trên những trang sổ ghi đầy công thức. Hai con người mà rồi
đây sẽ cùng kí chung hầu hết những bản báo cáo khoa học của họ. Pierre và Marie
thường viết: “Chúng tôi thấy rằng… chúng tôi nhận xét rằng…” Trường hợp bất đắc
dĩ phải nói rõ vai trò từng người, hai nhà bác học sẽ dùng cách nói cảm động
như sau:
“Nhiều quặng u-ra-ni và tho-ri (pêch-blen, can-cô-lit và
u-ra-nit) rất có hoạt tính về phương diện phát ra tia bếch-cơ-ren. Trong một
công trình trước đây, một trong hai chúng tôi đã chỉ rõ rằng hoạt tính của
các quặng ấy còn mạnh hơn cả hoạt tính của u-ra-ni và tho-ri nữa, và đề xuất ý
kiến rằng hiệu quả này có lẽ do một chất gì khác có hoạt tính chứa đựng
trong những quặng đó với một lượng rất nhỏ”.
(Pierre và Marie Curie. Tường trình ngày 18 tháng 7 năm
1898).
*
Hai vợ chồng bác học Curie tìm cái “Chất rất có hoạt tính”
trong một loại quặng u-ra-ni, đó là pêch-blen. Ở thể thô, quặng pêch-blen tỏ ra
phóng xạ mạnh hơn bốn lần ô-xít U-ra-ni tinh khiết mà nó chứa đựng. Nhưng thành
phần các chất có trong quặng ấy đã khá rõ. Vậy thì cái nguyên tố mới nằm trong
quặng này phải ở một lượng rất nhỏ cho nên các nhà bác học mới không thấy, mặc
dầu đã dùng những phương pháp phân tích tỉ mỉ và chính xác.
Pierre và Marie ước lượng rằng quặng phải chứa đựng không quá
một phần trăm nguyên tố mới, và còn nghĩ rằng như thế đã quá ít rồi. Họ sẽ kinh
ngạc biết bao nếu biết rằng chất phóng xạ bí mật ấy không có đến một phần triệu
trong quặng pêch-blen.
Rất kiên nhẫn, hai nhà vật lý bắt tay khảo sát bằng một
phương pháp tự đặt ra, dựa trên tính phóng xạ: dùng lối phân tích hóa học thông
thường, tách riêng các chất có trong pêch-blen rồi đo độ phóng xạ của từng chất.
Qua nhiều lần loại trừ, dần dần hiện tượng phóng xạ “dồn” hết vào những mảnh quặng
nào đó. Công việc càng tiến thì phạm vi nghiên cứu càng thu hẹp. Đó chính là
phương pháp mà Sở Công an hay dùng khi cần khám từng nhà trong một khu phố để
truy lùng một kẻ phạm tội.
Song ở đây, không chỉ có phạm nhân: tính phóng xạ tập trung
vào hai phần hóa học của pêch-blen. Đối với ông bà Curie, đó là dấu hiệu có hai
chất mới khác nhau. Kể từ tháng 7 năm 1898, họ đã có thể công bố sự khám phá ra
một trong hai chất này.
Pierre bảo người vợ trẻ:
- Em phải đặt tên cho “nó” đi!
Người thiếu phụ trước kia là cô Xkhua-đôp-xka trầm ngâm một
lúc. Bất giác, trái tim Marie bay về Tổ quốc đã bị xoá tên trên bản đồ thế giới.
Bà mơ màng suy nghĩ rằng sự kiện khoa học này sẽ được đăng báo ở nước Nga, nước
Đức, nước Áo, những nước đang đàn áp Ba Lan. Rồi bà ngập ngừng đáp:
- Hay gọi nó là “Pô-lô-ni”? (Ponolium)
Bản tường trình tháng 7 năm 1898 có viết:
… “Chúng tôi nghĩ rằng cái chất mà chúng tôi chiết ra từ
pêch-blen chứa đựng một kim loại mới chưa ai nói đến bao giờ, nó gần với
bitx-mút do đặc tính phân tích của nó. Nếu sự có mặt của kim loại mới này được
xác minh, chúng tôi đề nghị gọi nó là Pô-lô-ni, tên đất nước quê hương của một
trong hai chúng tôi”.
Trước khi công bố trên thông báo của Viện hàn lâm khoa học
Pháp việc khám phá ra một chất phóng xạ mới trong quặng pêch-blen, Marie đã gửi
bản thảo về Tổ quốc của mình cho Dô-dếp Bô-gu-xki, phụ trách phòng thí nghiệm của
Bảo tàng kĩ nghệ và Nông lâm, nơi khi xưa Marie đã từng làm thí nghiệm đầu
tiên. Thông báo này được đăng ở Vác-xô-vi “Tạp chí Ánh sáng” (Swiatlo), đồng thời
đăng ở Paris.
*
Trong ngôi nhà ở phố Nhà máy nước đá, cuộc sống không có gì
thay đổi. Marie và Pierre làm việc hơn mọi lúc, thế thôi. Hè đến, nóng nực,
Marie cố thu xếp thì giờ đi chợ mua hàng giỏ trái cây về và như thường lệ, đem
nấu mứt để dành đến mùa đông, theo cách vẫn quen làm ở nhà Curie.
Sau đó Marie đóng các cửa sổ, đem hai xe đạp ra ga Ooc-lê-ăng
(Orléans). Như trăm nghìn phụ nữ Paris khác, bà đi nghỉ hè với chồng và con.
Họ thuê một nhà nông dân ở làng O-ru (Oru) xứ O-vec
(Auvergne). Không khí thôn quê trong lành dễ chịu biết bao so với khói và hơi độc
ở phố Lô-mông! Pi-e và Ma-ri chơi rất nhiều nơi. Hết lên dốc lại xuống dốc, hết
đi thăm ruộng lại đi tắm sông. Hằng ngày ở thôn quê, vẫn bàn đến “Những kim khí
mới”, đến Pô-lô-ni, và các chất thứ hai đang cần phải tìm. Để đến tháng chín, lại
về với cái kho ẩm thấp và những mảnh quặng xám xịt và tiếp tục tìm tòi, thí
nghiệm với một niềm hăng say mới.
Một nỗi buồn làm giảm thú vui say mê với công việc của Ma-ri.
Anh chị Dłuski sắp rời Paris, để trở về Ba Lan mở một an dưỡng đường cho người
lao ở vùng núi Za-kô-pan. Hai chị em lưu luyến chia tay nhau, lòng buồn rười rượi.
Marie mất một người bạn, một người đỡ đầu, và lần đầu tiên thấm thía sâu sắc cảnh
tha hương.
Marie biên thư cho chị ngày 2 tháng 12 năm 1898:
“ Chị không thể tưởng tượng được sự trống trải mà chị để lại.
Hai anh chị đi, em đã mất những gì em gắn bó nhất ở Paris ngoài chồng con ra.
Giờ đây, Paris đối với em chỉ còn là cái nhà của chúng em và cái trường, nơi
chúng em làm việc. Chị hỏi hộ em bà cụ Du-xka rằng cái cây xanh mà cụ để lại có
phải tưới không, và mỗi ngày mấy lượt? Nó có cần ánh sáng mặt trời không?
Thời tiết độ này xấu, mưa và bùn, nhưng chúng em vẫn bình thường.
Irène đã hơi lớn rồi. Cháu rất khảnh ăn, không như con người ta. Ngoài bột nấu
với sữa, nó chẳng chịu ăn gì, kể cả trứng. Chị bảo trẻ em bằng tuổi ấy nên ăn
những gì cho hợp”.
*
Vài trang sổ tay của Marie Curie trong năm 1898 đáng ghi nhớ ấy.
Đọc nghe tầm thường nhưng có lẽ chính vì nó bình thường mà đáng kể ra đây.
Ghi ở lời quyển “Những món ăn thành thị”, ngay bên cạnh mục
“mứt phúc bồn tử nấu đông”.
“Lấy bốn cân quả và bốn cân đường, đun sôi mười phút rồi lọc
qua một cái rây khá mịn. Được mười bốn lọ nước quả khá đặc và đông ngay”.
Người mẹ trẻ ghi vào một quyển vở học sinh bọc vải xám, từng
ngày, cân lạng của bé Irène, chế độ ăn, hôm nào mọc răng. Đến ngày 20 tháng 7
năm 1898 một tuần sau khi đăng báo việc khám phá ra chất Pô-lô-ni, trong quyển
vở có ghi:
“ Irène đã biết ra hiệu bằng tay để tỏ ra là nó “cảm ơn”. Nó
đã bò rất khoẻ. Nó nói “gô-ghi, gô-ghi, gô”. Cả ngày nó ở ngoài vườn ở Sceaux,
trên một tấm thảm. Nó lăn, rồi trở dậy, rồi ngồi”.
Ngày 15 tháng 8:
“Irène mọc răng thứ bảy, hàm dưới, bên trái. Nó đứng một mình
được đến nửa phút. Từ ba hôm hay, ngày nào cũng mang nó ra tắm sông. Lúc đầu,
nó thét, nhưng hôm sau (lần thứ tư) nó quen, không kêu nữa, cứ vỗ lạnh bạch xuống
nước.
Nó đùa với con mèo, đuổi mèo và tru tréo lên. Nó không sợ người
lạ nữa. Nó hát suốt ngày. Cứ đặt ngồi trên ghế là nó trèo lên bàn”.
Hai tháng sau, ngày 17 tháng 10, Ma-ri ghi với một vẻ tự hào:
“Irène đi vững rồi, không bò nữa”
Ngày 5 tháng giêng năm 1899:
“Irène được 15 răng rồi”
Giữa hai câu ghi chép trên đây, nghĩa là khoảng thời gian từ
17-10-1898 đến 5-1-1899, có một đoạn ghi chép đáng chú ý. Đoạn này do Pierre và
Marie cùng một người cộng tác nữa thảo gửi cho Viện hàn Lâm khoa học và đăng
trong thông báo ngày 26 tháng 12 năm 1898, báo tin sự có mặt trong quặng
pêch-blen một nguyên tố hoá học phóng xạ thứ hai.
Đây là trích một đoạn của thông báo đó:
“Những lý do mà chúng tôi vừa kể trên làm chúng tôi tin rằng
chất phóng xạ mới chứa đựng một nguyên tố mới mà chúng tôi đề nghị đặt tên là
Ra-đi.
Chất phóng xạ mới hẳn là chứa đựng một tỉ lệ nhỏ chất Ba-ri
thế mà tính phóng xạ vẫn rất mạnh. Do đó, tính phóng xạ của Ra-đi hẳn rất lớn”.
Chú thích:
[35] Roentgen (1845 – 1923) nhà vật lý người Đức đã khám phá
ra quang tuyến X (Giải Nobel 1901)
[36] Henri Becquerel (1852 -1908) nhà vật lý người Pháp đã
tìm ra hiện tượng phóng xạ (Giải Nobel 1903)
Chương 13
bốn năm trời trong nhà xe
Đọc thông báo về sự khám phá ra chất Ra-đi, một quần chúng
bình thường tin ngay rằng chất Ra-đi có thật, không chút nghi ngờ. Những người
mà trí phán đoán chưa được mài sắc và lại bị méo mó nghề nghiệp thường giữ được
một sức tưởng tượng mới mẻ. Họ sẵn sáng thừa nhận và ngưỡng mộ bất cứ sự kiện bất
ngờ gì, dù kì lạ mấy đi nữa.
Nhưng thái độ của nhà vật lý, người đồng nghiệp với ông
bàCurie, đứng trước tin này, lại khác. Mấy đặc tính của hai chất Ra-đi và
Pô-lô-ni làm đảo lộn cả những thuyết căn bản từ bao thế kỷ nay vẫn được các nhà
bác học tin tưởng. Giải thích thế nào đây sự tỏa quang tự phát của những chất
phóng xạ? Khám phá này làm lay chuyển cả một loại khái niệm quen thuộc và trái
với nhiều ý kiến xưa nay vẫn được coi là vững chắc về thành phần vật chất.
Chính vì vậy mà thái độ của những nhà vật lý tỏ ra thận trọng. Tuy rất lưu ý đến
công trình của Pierre và Marie Curie, biết rằng lĩnh vực này sẽ còn phát triển
vô tận, nhà vật lý vẫn chờ đợi những kết quả quyết định rồi mới có ý kiến.
Nhà hóa học lại còn dứt khoát hơn nữa. Theo định nghĩa, nhà
bác học chỉ công nhận một chất mới sau khi đã có thể trông thấy, sờ mó, cân đo,
thí nghiệm với các a-xít, đựng trong lọ, và tính được trọng lượng nguyên tử của
chất đó.
Song cho đến nay, chưa ai trông thấy chất Ra-đi. Chưa ai biết
trọng lượng nguyên tử của Ra-đi và các nhà bác học, trung thành với nguyên tắc
của họ, kết luận: “Phi trọng lượng nguyên tử, không có Ra-đi. Hãy cho chúng tôi
xem chất Ra-đi, chúng tôi sẽ tin”.
Muốn chỉ rõ chất Ra-đi và Pô-lô-ni cho những ai còn hoài
nghi, muốn chứng minh cho thế giới biết “con đẻ” của họ và cũng để tự củng cố
thêm lòng tin, ông bà Qui-ri sẽ phải làm việc bốn năm trời nữa.
*
Phải lấy được Ra-di và Pô-lô-ni nguyên chất. Trong các chất
có tính phóng xạ mạnh nhất mà hai nhà bác học chế ra được, Ra-di và Pô-lô-ni chỉ
ở dạng những dấu vết không thể nắm được. Muốn tách rời hai kim loại mới này, cần
đến rất nhiều nguyên liệu.
Ba vấn đề nan giải là:
Làm thế nào có đủ quặng?
Chế biến quặng ở chỗ nào?
Tiền đâu trả chi phí?
Lúc này ở một vùng Bô-hêm (thời đó còn thuộc nước Áo – ND)
người ta khai thác pêch-blen để lấy muối u-ra-ni cần cho kĩ nghệ pha-lê. Đó là
một loại quặng quý giá. Hàng tấn pêch-blen rất đắt tiền, quá đắt đối với Pierre
và Marie.
Thiếu tiền sẽ có tài tháo vát thay thế. Hai nhà bác học có một
dự đoán sáng suốt: sau khi u-ra-ni được chiết ra để làm pha-lê, trong quặng vẫn
cón lại nguyên vẹn hai chất Pô-lô-ni và Ra-đi. Và nếu pêch-blen nguyên chất rất
đắt, khi lấy hết muối u-ra-ni ra rồi, có thể rất rẻ.
Pierre và Marie nhờ một người bạn đồng nghiệp người Áo giới
thiệu để mua một khối lượng lớn xỉ thừa với giá phải chăng.
Thật là đơn giản, nhưng vấn đề là phải nghĩ tới…
Để mua nguyên liệu và trả tiền chuyên chở tới Paris, Pierre
và Marie lấy trong tiết kiệm ít ỏi của mình. Họ chẳng ngây thơ gì mà xin nhà nước
Pháp trợ cấp. Tuy hai nhà vật lý đang ở thời kì sắp có một khám phá trọng đại,
nếu yêu cầu trường Đại học hay Nhà nước cấp tiền để mua xỉ pêch-blen, người ta
sẽ cười cho. Dù sao, đơn của họ sẽ lẫn trong những hồ sơ của một bàn giấy nào
đó, và phải hàng tháng mới được trả lời, chắc chắn là bị từ chối. Trong bao
nhiêu truyền thống, bao nhiêu nguyên tắc mà cuộc cách mạng Pháp đã để lại, và
trong nhiều trường hợp, đã từng khuyến khích khoa học, nhà nước Pháp hình như
chỉ còn giữ lại, sau hơn một thế kỷ, những lời nói đáng tiếc của Phu-ki-ê Tanh
Vin trong phiên toà đã kết án tử hình La-voa-di-ê (Lavoisier) [37].
“Chính phủ cộng hoà không cần đến những nhà bác học”.
Hoặc giả ít ra cũng có thể cho ông bà Curie mượn một phòng
làm việc thích hợp trong bấy nhiêu tòa nhà thuộc trường Sorbonne? Nghe chừng
không được. Sau nhiều lần chạy vạy vô ích, Pi- Pierre và Marie lại trở về điểm
khởi đầu, nghĩa là về trường Vật lý nơi Pierre đang dạy và cái xưởng nhỏ mà
Marie đã từng làm những thí nghiệm đầu tiên. Xưởng trông ra một cái sân, bên
kia sân có một cái lồng bằng gỗ, một cái nhà xe bỏ trống, mái lồng kính đã
trong tình trạng tồi tàn đến nỗi nước mưa giột vào nhà y như ngoài sân. Khi
xưa, trường đại học Y khoa dùng nơi này làm phòng mổ xác nhưng đã lâu rồi, ngay
dùng để tử thi cũng không đáng. Không có sàn. Nền đất chỉ phủ một lớp nhựa đường
mỏng. Đồ đạc vỏn vẹn vài chiếc bàn làm bếp ọp ẹp, một cái bảng đen không hiểu tại
sao lại lạc đến đây, một cái lò gang cũ, ống thông hơi đã gỉ.
Một người thợ có lẽ cũng không thèm làm ở đây. Vậy mà Pi-
Pierre và Marie vẫn thản nhiên chịu đựng. Cái nhà xe ấy có một ưu điểm, trông
nó tiều tuỵ quá, đổ nát quá nên chẳng ai nghĩ đến việc từ chối cho hai vợ chồng
hoàn toàn sử dụng.
Hiệu trưởng trường Vật lý xưa nay vẫn lưu ý đến Pierre chắc
cũng ân hận là không có gì hơn để cho Pierre mượn cả. Dù sao, nhà trường cũng
không giao cho hai nhà bác học một nơi nào khác. Pierre và Marie quá mừng vì
không phải ra đứng đường với những dụng cụ của mình, cám ơn nói:
“Thế là được rồi. Chúng tôi sẽ thu xếp sau”.
Giữa lúc họ tiếp nhận cái nhà xe thì có thư trả lời từ nước
Áo. Những tin vui. Thật may, xỉ quặng đã lọc hết muối U-ra-ni chưa bị phân tán
mà vẫn còn chất đống ở ven mỏ Gio-Khin-xthan, trên một khoảnh đất bỏ không, trồng
đầy thông.
Nhờ có giáo sư Xu-ét và Viện hàn lâm khoa học Viên xin hộ,
Pierre và Marie được chính phủ Áo tặng một tấn xỉ, “cho hai người từ cung trăng
xuống hay sao mà lại cần cái của đó”. Sau này, nếu họ cần nhiều hơn nữa, mỏ sẽ
nhượng thêm cho họ với những điều kiện hời nhất.
Một buổi sáng, một cái xe ngựa thồ nặng y như loại xe chở
than dừng lại ở phố Lô-mông, trước cửa trường Vật lý. Được tin, Pierre và Marie
chạy vội ra ngoài, đầu trần, mặc áo choàng phòng thí nghiệm. Pierre còn giữ được
vẻ bình tĩnh thường ngày, nhưng Marie không kìm nổi niềm vui sướng trước những
bao tải do anh em lao công vác vào. Quặng pêch-blen đây rồi, pêch-blen của
Marie đây, đã có giấy báo của nhà ga hàng hoá đến từ mấy hôm trước. Không nén nổi
nôn nóng, tò mò và sốt ruột, Marie muốn mở ngay một bao tải ra xem để ngắm
nghía cái kho tàng quý báu của mình. Cắt dây gai, bao tải vừa tung ra, bà đã vục
hai tay vào quặng nâu và xám xịt, còn lẫn lá thông vùng Bô-hêm.
Chất Ra-đi trốn ở đây. Dù có phải dùng hàng núi cái chất vô dụng,
giống như bụi đường này, nhất định Ma-ri sẽ rút bằng được Ra-đi ở đó ra.
Trông một buồng xép sát nóc, Ma-ri Xkhua-đốp-xka đã sống những
giờ phút say sưa nhất của đời sinh viên. Giờ đây, trong một lán gỗ tiêu điều,
Ma-ri Qui-ri lại được biết những niềm vui kỳ diệu. Lạ lùng thay sự khởi đầu trở
lại đó, khi một hạnh phúc khắc khổ và tinh tế (mà có lẽ chưa một người đàn bà
nào đã cảm thấy trước Ma-ri) lại hai lần chọn cái khung cảnh nghèo nàn nhất.
Cái nhà xe phố Lô-mông thật là một điển hình về mặt thiếu tiện
nghi. Mùa hè thì cái mái lắp kính làm cho nóng như thiêu như đốt. Mùa đông, chẳng
biết nên mong băng giá hay mưa. Nếu trời mưa, nước giột cứ thánh thót rơi xuống
đất hoặc trên bàn, nghe rất khó chịu. Những chỗ này hai nhà vật lý đã đánh dấu
để tránh không đặt dụng cụ. Gặp tiết trời băng giá thì người cũng lạnh cóng,
không có cách nào khác. Có chất đầy than củi vào lò cũng bằng không. Phải áp
người thật sát lò mới thấy ấm đôi chút, nhưng chỉ rời một bước thì đã rét buốt
rồi!
Vả lại, Pierre và Marie cũng cần làm quen với thời tiết bên
ngoài chứ! Thiếu trang bị kĩ thuật, không có ống thoát hơi độc, phần đông công
việc phải làm giữa sân ở ngoài trời. Mỗi khi mưa rào, hai vợ chồng phải tất tả
chuyển dụng cụ vào nhà xe. Để tiếp tục công việc mà không bị ngạt, họ thường mở
hết cửa cho thoáng gió.
Nhà nữ bác học bị bệnh lao mới chớm, chắc không dám khoe với
bác sĩ về cách điều trị của mình.
Về sau, Marie viết:
“Dạo đó, chúng tôi không có tiền, không có phòng thí nghiệm
và không có người giúp việc trong công trình quan trọng và khó khăn ấy. Hầu như
chúng tôi đã làm tất cả với hai bàn tay không. Nếu xưa kia anh Ca-di-mia Du-xki
đã từng gọi những năm tôi còn là sinh viên, là “những năm trời anh dũng của cô
em vợ” thì nay cũng có thể nói không quá rằng thời gian ấy đối với Pierre và
tôi “cũng là thời gian anh dũng trong cuộc sống chung của hai người”.
Chính trong cái nhà xe tiêu điều ấy mà chúng tôi đã sống những
năm tháng tốt đẹp, hạnh phúc nhất, hoàn toàn dốc vào công việc. Nhiều khi tôi nấu
ăn tại đây để khỏi phải dừng một vài thao tác đặc biệt quan trọng. Có khi suốt
ngày đứng quấy một chất đang sôi với một thanh sắt cao ngang tầm người, tối về
cứ là mệt rã ra”.
Đó là điều kiện làm việc của hai vợ chồng nhà bác học Qui-ri,
những năm từ 1898 đến 1902.
Năm đầu, Pi-e và Ma-ri cùng tiến hành việc tách riêng hai chất
Pô-lô-ni và Ra-đi và nghiên cứu sự phóng xạ của hai kim loại này.
Sau đó, hai người thấy cần phải phân công. Pi-e cố đi sâu vào
những đặc tính của Ra-đi, làm quen với kim loại mới này. Ma-ri tiếp tục lấy từ
trong quặng ra muối Ra-đi nguyên chất. Thế là Ma-ri nhận phần việc nặng nhọc
hơn. Trong nhà xe, Pi-e say sưa làm các thí nghiệm tinh vi. Ngoài sân, Ma-ri
choàng cái tạp dề cũ, mắt cay sè vì khói, một mình làm công việc của cả một nhà
máy.
Bà viết:
“Dần dà, tôi nhận thấy phải chế biến mỗi lần 20kg nguyên liệu.
Nhà xe bày đầy những lọ to đựng chất kết tủa và chất lỏng. Khuân những lọ ấy, đổ
từ cái này sang cái kia, rồi đứng hàng giờ quấy các chất đang sôi trong một chảo
gang thật là một việc nặng nhọc”.
Song chất Ra-đi vẫn muốn giữ bí mật. Nó chưa muốn để loài người
biết nó. Còn đâu thời mà Ma-ri dự tính lấy được từ xỉ pêch-blen một phần trăm
chất Ra-đi. Sức phóng xạ của kim loại mới này mạnh đến nỗi một lượng Ra-đi rất
nhỏ, phân tán trong quặng, đã gây ra những hiện tượng đập vào mắt, rất dễ quan
sát và đo lường. Làm sao tách một lượng Ra-đi vô cùng nhỏ bé ấy ra khỏi xỉ quặng
mà nó đã quyện vào rất chặt. Đó là vấn đề khó, hầu như không làm được.
Những chuỗi ngày làm việc kéo dài hàng tháng, hàng năm. Pi-e
và Ma-ri không nản. Cái chất bí mật kia càng không chịu xuất hiện, càng quyến
rũ hai nhà vật lý mà tình yêu và lòng hâm mộ khoa học đã gắn bó trong một cái
lán gỗ, vào một cuộc sống “khác thường”.
Ma-ri viết:
“Thời gian đó, chúng tôi dốc hết tâm trí vào cái lĩnh vực mà
một khám phá không lường được mới mở ra trước mắt mình. Bao khó khăn trở ngại về
điều kiện làm việc mặc lòng, chúng tôi vẫn cảm thấy rất sung sướng. Hai người
suốt ngày ở phòng thí nghiệm. Trong cái nhà xe tiều tuỵ, có một sự yên tĩnh lạ
thường. Thỉnh thoảng trong khi theo dõi một chế biến đang tiến hành, tôi hoặc
Pi-e đi đi, lại lại, hết nói chuyện hiện tại lại bàn đến tương lai. Ấm lòng biết
bao chiếc ấm nước trà uống bên cạnh lò, những khi trời lạnh. Cuộc sống chúng
tôi hướng vào một mục đích duy nhất, như trong mơ…
Khách khứa rất ít. Trong các nhà vật lý và hoá học, thỉnh thoảng
có người đến xem chúng tôi làm thí nghiệm, hoặc đến hỏi ý kiến Pierre, anh có
tiếng là thông thạo nhiều bộ môn Vật lý. Và mỗi lần, thường có những cuộc đàm
thoại trước bảng đen, sau này ai nấy còn ghi nhớ mãi. Nó kích thích sự chăm chú
đến khoa học và hăng say làm việc, mà không làm gián đoạn dòng suy nghĩ và bầu
không khí yên lặng và tĩnh tâm của phòng thí nghiệm”.
Những lúc Pierre và Marie rời dụng cụ trong chốc lát và thư
thái trò chuyện bên nhau, những lời trao đổi về chất Ra-đi mà họ say mê, chuyển
từ siêu việt thành ngây thơ.
- Chẳng hiểu “nó” sẽ ra sao nhỉ? Trông nó như thế nào? –
Ma-ri hỏi với vẻ tò mò, nôn nóng của một đứa trẻ được người lớn hứa cho một đồ
chơi – Pi-e, anh có thể mường tượng hình dung của nó không?
- Nào ai biết được – Pi-e nhẹ nhàng nói – Anh muốn nó có một
màu thật đẹp!
*
Rất lạ là trong thư từ của Ma-ri Qui-ri, không thấy bà nhắc đến
bao nỗ lực phi thường của mình, bằng những lời bóng bẩy, nhạy cảm mà xưa kia,
chốc chốc lại xuất hiện trong những lá thư tấm tình thân mật. Phải chăng những
năm tha hương đã làm phai nhạt tình thân thiết giữa người thiếu phụ trẻ với họ
hàng? Phải chăng vì nhiệm vụ thúc bách và thiếu thì giờ mà Ma-ri không còn hay
thổ lộ như xưa nữa?
Lý do chính có thể ở chỗ khác. Chẳng phải ngẫu nhiên mà thư của
bà Qui-ri mất dần tính độc đáo giữa lúc mà lịch sử cuộc đời của nhà bác học trở
thành xuất chúng. Khi còn là học trò, là cô giáo, là sinh viên hoặc là người vợ
mới cưới, Ma-ri có thể tâm sự được… Nhưng ngày nay chí hướng bí mật và chưa nói
ra được khiến bà thành đơn độc. Trong đám người thân, không còn ai hiểu được
bà, thấu được điều lo nghĩ và băn khoăn nan giải của bà. Giờ đây, Ma-ri chỉ còn
có thể đem những nhận xét của mình trao đổi với một người duy nhất, một bạn đường:
đó là Pi-e Qui-ri. Chỉ riêng với Pi-e, Ma-ri mới nói những tư tưởng hiếm có và
những ước mơ của mình. Còn với tất cả họ hàng, dù thân thiết mấy chăng nữa, từ
nay Ma-ri chỉ có thể phô bày một hình ảnh gần như tẻ nhạt về bản thân. Bà sẽ chỉ
kể mặt sinh hoạt của đời mình, đôi khi tìm ra những lời cảm động để khoe nỗi niềm
sung sướng của người vợ. Còn công việc, thì chỉ nói qua vài câu vắn tắt, không
biểu lộ gì, theo kiểu báo tin ba dòng…
Chúng ta nhận thấy ở đây một quyết tâm rất mực, Ma-ri không
muốn tô điểm con đường mình đã chọn.
Do khiêm tốn, tế nhị, ghét những lời rỗng và thừa, Ma-ri tự
che dấu, hay nói cho đúng, chỉ cho biết một khía cạnh của đời mình. Nhà bác học
thiên tài chủ tâm muốn tỏ rõ mình cũng chỉ là “một người đàn bà như trăm nghìn
người khác”.
Ma-ri viết thư cho Brô-ni-a năm 1899:
“Cuộc sống của hai chúng em cũng đều đều như thế. Làm việc
nhiều, nhưng ngủ được, nên sức khoẻ không bị ảnh hưởng. Buổi tối, em chăm sóc
I-ren. Sáng ra, mặc cho cháu, cho nó ăn, rồi em có thể đến trường vào lúc chín
giờ. Cả năm chúng em không đi xem hát hoặc đi nghe hòa nhạc. Chúng em không đến
chơi một ai. Vả lại cũng chẳng thấy cần… Em chỉ cảm thấy da diết nhớ nhà, nhớ
anh chị và cha. Lắm lúc em cứ nghĩ buồn về cảnh tha hương của mình. Ngoài ra em
không có gì than phiền cả. I-ren lớn đều, sức khoẻ của em và Pi-e vẫn tốt. Em
có một người chồng tốt không thể tưởng tượng được. Thật là trời cho, chúng em
càng sống với nhau, càng thấy yêu nhau hơn.
Còn công việc vẫn cứ tiến. Em sắp làm thuyết trình về vấn đề
này. Đáng lẽ làm thứ bảy tuần trước, nhưng rồi bận, định cố đến thứ Bảy này, bằng
không thì phải mười lăm hôm nữa.”
Công việc mà trong thư chỉ nhắc đến một cách khô khan đang tiến
triển rất tốt đẹp. Trong hai năm 1899 và 1900, Pi-e và Ma-ri đăng báo cáo về
“Tính phóng xạ cảm ứng” do Ra-đi gây ra, một bài nữa về “điện tích của các tia
phóng xạ”. Cuối cùng, năm 1900, là một bản tổng quát về các chất phóng xạ, gửi
tới Hội vật lý, được giới khoa học hết sức chú ý.
Ngày khoa học mới về phóng xạ phát triển dồn dập như vũ bão.
Ông bà Qui-ri cần người cộng tác. Cho đến nay, hai nhà bác học chỉ nhận được sự
giúp đỡ thất thường của một công nhân ở phòng thí nghiệm tên là Pơ-ti, một con
người chân thật, sốt sắng, hầu như giấu giếm đến giúp ngoài giờ. Nay cần phải
có những người biết kĩ thuật. Khám phá của Ma-ri và Pi-e có nhiều phát triển
quan trọng trong lĩnh vực hoá học cần được đặc biệt chú ý. Họ tìm sự cộng tác của
người nghiên cứu có năng lực.
Ma-ri viết:
“Việc nghiên cứu về phóng xạ khởi đầu trong tình trạng đơn độc
nhưng về sau phát triển rộng, ngày càng đòi hỏi sự cộng tác. Từ 1898, một trưởng
phòng thí nghiệm là Gioóc Bê-mông đã đến giúp chúng tôi chút ít. Năm 1900, Pi-e
gặp một nhà hoá học trẻ An-đrê Đơ-biếc, trợ tá của giáo sư Phơ-ri-đen, được
giáo sư rất tin cậy. Do lời mời của Pi-e, An-đrê Đơ-biếc, nhận trông coi công
việc phóng xạ. Anh cũng tìm được một nguyên tố phóng xạ mới, đặt tên là
Ac-ti-ni. Tuy làm việc ở phòng thí nghiệm hoá lý ở Xoóc-bon do giáo sư Pa-ranh
trông nom, anh hay đến thăm chúng tôi tại nhà xe, và trở thành một người bạn rất
thân của chúng tôi, với bác sĩ Qui-ri và sau này với các con chúng tôi.”
“… Cũng thời gian này, một nhà vật lý trẻ tên là Gioóc Xa-nhắc
đang nghiên cứu về tia X thường đến trao đổi với Pi-e Qui-ri về những điểm giống
nhau giữa tia X, với tia thứ cấp và sự tỏa quang của các chất phóng xạ. Hai người
có chung một công trình về điện tích do các tia thứ cấp chuyển vận.”
Hàng tấn xỉ pêch-blen tiếp tục từ nước Áo chuyển đến và được
Ma-ri khai thác với một sự nhẫn nại đáng sợ. Suốt bốn năm ròng rã, mỗi ngày bà
vừa là nhà bác học, thợ chuyên môn, kĩ sư và lao công. Đôi bàn tay và khối óc của
bà đã tạo ra được những chất ngày càng cô đặc, ngày càng chứa nhiều Ra-đi, giờ
đây đặt hết lên mấy cái bàn cũ trong nhà xe điều khiển.
Đã gần tới đích rồi. Nay không còn là lúc phải đứng suốt ngày
giữa sân, mắt cay sè vỉ khói, canh từng chảo nặng đầy quặng đang sôi. Nay đã đến
thời kì tinh khiết và “kết tinh từng phần những dung dịch phóng xạ rất cô đọng”.
Cần có một gian nhà sạch, với những dụng cụ hoàn toàn được chống rét, chống
nóng, chống bụi. Trong nhà xe đổ nát, bốn bề gió thổi, hắt cả bụi sắt, bụi than
vào cái chất đã tốn bao công phu mới tinh khiết được. Trước các tai họa xảy ra
hàng ngày, mất bao nhiêu thì giờ và sức khoẻ, lòng Ma-ri se lại.
Còn Pi-e thì đã chán cái cảnh phải đấu tranh mãi và gần muốn
bỏ cuộc. Nói cho đúng, Pi-e không hề nghĩ bỏ hẳn việc nghiên cứu chất Ra-đi và
hiện tượng phóng xạ. Trong giờ phút này, Pi-e định hãy tạm ngừng cái thao tác đặc
biệt là chế ra Ra-đi nguyên chất vì có những trở ngại hầu như không vượt được.
Đợi khi nào có điều kiện sẽ làm, chẳng hơn sao? Ý nghĩ của hiện tượng tự nhiên
được Pi-e chú trọng hơn là thực tế vật chất. Pi-e bực dọc thấy Ma-ri vất vả như
vậy mà kết quả không có gì. Pi-e khuyên Ma-ri hãy dừng ở đây.
Song nhà bác học đã hiểu rõ tính tình của vợ. Ma-ri đã định
làm việc gì thì nhất quyết làm bằng được. Đã muốn chiết suất Ra-đi nguyên chất
thì khó mấy cũng sẽ có được chất này. Ma-ri chẳng quản mệt nhọc, khó khăn mà
ngay kiến thức hạn chế của bà càng làm tăng thêm. Dù sao, Ma-ri còn là một nhà
vật lý trẻ tuổi, đâu có sự chín chắn, và kiến thức rộng lớn của Pi-e – một người
đã hai mươi năm trong ngành. Chốc chốc, Ma-ri lại vấp những hiện tượng, những
phương pháp mà bà còn bỡ ngỡ, thế là lại tất tả chạy đi tìm tài liệu.
Có hề chi! Vầng trán rộng và cái nhìn kiên nghị kia vẫn cứ cặm
cụi, bám lấy các dụng cụ bát sứ dùng để nghiên cứu.
Năm 1902, bốn mươi nhăm tháng sau cái ngày mà vợ chồng bác học
báo tin rằng chất Ra-đi có thể có trong tạo hoá, Ma-ri cuối cùng cũng giành thắng
lợi trong cuộc chiến tranh tiêu hao ấy. Bà đã chế ra được một đề-xi-gam Ra-đi
nguyên chất và lần đầu tiên, tìm ra trọng lượng nguyên tử của chất mới đó là
225.
Những nhà bác học hoài nghi – đến nay lúc này vẫn hãy còn một
vài người – chỉ cúi đầu trước sự việc trước quyết tâm phi thường của một phụ nữ.
Chất Ra-đi chính thức được xác nhận.
*
Đã chín giờ tối, Pi-e và Ma-ri lúc này đang ở nhà đằng đại lộ
Kê-léc-man. Nơi đây thật hợp với hai nhà bác học. Từ ngoài đường nhìn vào, qua
ba hàng cây che mất nửa ngôi nhà, chỉ còn trông thấy một bức tường buồn tẻ, một
cửa ra vào nhỏ bé. Nhưng sau căn nhà một tầng gác ấy có một mảnh vườn xinh xắn
rất tĩnh mịch. Và vượt khỏi “hàng rào” ở cổng Giăng-ti-I là có thể đạp xe ra
ngoại ô, đến với rừng thưa.
Cụ Qui-ri quay về phòng riêng, Ma-ri tắm rửa cho con gái xong
đã đưa nó đi ngủ và ngồi một lúc lâu bên chiếc giường nhỏ. Tối nào cũng vậy, đã
thành lệ, I-ren không thấy mẹ bên cạnh, cứ luôn tiếng gọi “mẹ”, thế là Ma-ri
đành chiều theo ý của đứa bé mới bốn tuổi, lên gác đến ngồi ở đầu giường con,
trong bóng tối, cho tới khi tiếng đứa bé nhường dần cho nhịp thở đều đều. Lúc
này Ma-ri mới xuống dưới nhà, Pi-e đang sốt ruột đợi.
Pi-e đi bước một trong phòng, Ma-ri đem cái yếm đang khâu dở
cho I-ren, ngồi viền tiếp. Từ khi sinh I-ren, Ma-ri không bao giờ mua quần áo
may sẵn cho con gái. Đối với bà, đó gần như một nguyên tắc. Ma-ri thấy các quần
áo ấy quá diêm dúa và bất tiện. Hồi Brô-ni-a còn ở Pa-ri chị đã cùng với em cắt
áo cho cháu bé, theo mẫu do hai người nghĩ ra. Giờ đây, Ma-ri vẫn còn dùng những
mẫu đó.
Nhưng tối nay, Ma-ri không tài nào chú ý được. Ma-ri sốt ruột,
đứng dậy, bỏ đồ khâu xuống. Rồi bất chợt, bà nói:
- Chúng ta đến đó một lát đi!
Giọng khẩn khoản của Ma-ri cũng hơi thừa. Lúc này, bản thân
Pi-e cũng muốn quay lại nhà xe họ vừa mới ra khỏi cách đây hai giờ. Chất Ra-đi
quyến rũ như thần ái tình gọi hai người đến nơi ở của nó.
Sau suốt một ngày làm việc căng thẳng, đáng lẽ hai nhà bác học
phải nghỉ ngơi. Song Pi-e và Ma-ri nào có thể làm theo như thế. Hai nhà vật lý
đã vào xứ sở của mình, nơi họ vẫn hằng mơ ước.
Ma-ri lên tiếng:
- Đừng thấp đèn – Rồi khẽ cười nói thêm – Anh có nhớ ngày nào
anh bảo em: Anh muốn có một “màu thật đẹp” không?
Nhưng cái sự thật làm cho Pi-e và Ma-ri náo nức, hoan hỉ từ mấy
tháng nay còn đáng yêu gấp mấy điều mơ ước chất phác năm xưa. Chất Ra-đi có cái
gì khác hơn là một màu “thật đẹp”. Nó tự tỏa sáng. Trong gian nhà xe tối om, những
lọ thủy tinh tí tẹo đựng các mảnh vụn quý báu ấy, đặt la liệt trên bàn, trên
các miếng ván bắt vào tường - vì không có tủ - trông như có lân tinh, màu xanh
lơ, sáng rực, treo lơ lửng trong bóng tối.
- Piere, anh nhìn xem này,…- người vợ trẻ thì thầm.
Maiẻ rón rén, thận trọng bước lại gần, quơ tay sờ thấy một
cái ghế rơm và ngồi xuống. Trong đêm tối, nguồn quang tuyến bí mật do chất
Ra-đi tỏa ra, chất Ra-đi của họ. Nghiêng mình về phía trước, lặng lẽ, nghe
ngóng, Ma-ri lại có tư thế như một giờ mới đây, ngồi bên đầu giường đứa con gái
bé đang yên giấc.
Tay Pi-e khẽ vuốt lên mái tóc vợ.
Ma-ri sẽ nhớ mãi buổi tối lung linh ấy, nhớ mãi cảnh thần
tiên ấy.
Chú thích:
[37] Lavoisier (1753 - 1794) nhà hoá học Pháp, một trong những
người sáng lập ra ngành hoá học hiện đại
Chương 14
cuộc sống khắc khổ
Có thể nói Pierre và Marie sẽ hoàn toàn hạnh phúc ngay trong
cái nhà xe nghèo nàn, nếu như nơi đây, họ được dốc hết sức vào cuộc chiến đấu đầy
quyến rũ để khám phá thiên nhiên.
Tiếc thay, còn nhiều thử thách đang chờ đợi mà hai người
không thắng nổi.
Để được năm trăm phơ-răng mỗi tháng, Pi-e nhận dạy ở trường Vật
lý một giáo trình một trăm hai mươi bài giảng và hướng dẫn cho sinh viên thực tập.
Một việc nặng nhọc, thêm vào nhiệm vụ nghiên cứu. Chưa có con thì năm trăm
phơ-răng cũng tạm đủ chi tiêu. Nhưng sau khi sinh I-ren, phải mướn một chị giúp
việc và một người giữ trẻ. Khoản thu nhập trên thành ra eo hẹp. Hai vợ chồng phải
tìm đủ mọi cách làm thêm.
Còn gì ái ngại bằng cảnh hai nhà bác học lớn chật vật như thế
nào mà không kiếm ra nổi hai ba nghìn phơ-răng thiếu hụt hằng năm. Chuyện đâu
đơn giản là chỉ cần tìm một việc phụ để lấp lỗ hổng của quỹ gia đình. Pierre
Curie vốn coi việc nghiên cứu khoa học cũng cần thiết như cuộc sống. Đối với
Pi-e, làm việc thí nghiệm – dù là trong một nhà xe – còn cần hơn ăn và ngủ.
Nhưng nhiệm vụ ở trường Vật lý đã choán gần hết thời gian. Đáng lẽ nên giảm bớt
việc cho Pi-e mới phải, nay lại thêm công việc. Mà tiền lại thiếu. Biết làm thế
nào?
Giải pháp đơn giản, quá đơn giản. Chỉ cần bổ nhiệm nhà khoa học
này làm giáo sư ở Sorbonne, chức vụ mà Pi-e rất xứng đáng, lương sẽ được một vạn
phơ-răng mỗi năm, giờ dạy sẽ ít hơn ở trường Vật lý, học vấn của ông sẽ mở rộng
kiến thức cho sinh viên và tăng thêm uy tín cho trường Đại học. Nếu với chức vụ
đó, lại được sử dụng một phòng thí nghiệm thì có lẽ Pi-e không còn ao ước gì nữa.
Tham vọng của ông chỉ là được dạy ở trường Đại học để đảm bảo đời sống và để
đào tạo những nhà vật lý trẻ, và có một phòng thí nghiệm để làm việc. Một phòng
thí nghiệm với mấy thứ mà cái nhà xe đang thiếu một cách tàn ác: điện và thiết
bị kĩ thuật; có chỗ cho mấy người phụ tá; mùa đông có sưởi ấm chút ít.
Những đòi hỏi không tưởng! Ghế giáo sư, mãi đến năm 1904 khi
mà cả thế giới đã biết đến chân giá trị của ông, Pi-e Qui-ri mới nhận được. Còn
phòng thí nghiệm chẳng bao giờ đến với ông cả. Cái chết thường lôi kéo các bậc
vĩ nhân hơn là chính quyền.
Đó là vì Pierre, khi giải thích các hiện tượng thiên nhiên hoặc
tìm tòi khám phá bí ẩn của vật chất tài giỏi bao nhiêu thì đối với việc chạy đi
xin chức vụ lại vụng về bấy nhiêu. Ông vốn có tài nên mỗi khi thi thố với đời
không tránh khỏi bị ganh ghét, đố kị. Pi-e đâu hề biết đến mưu mô, thầy thợ.
Ngay đến những học vị của ông cũng thành vô dụng vì ông không biết trưng giá trị
của nó.
Sau này một nhà toán học lớn đương thời[38] nhắc tới Pi-e có nói:
- Với tính khiêm tốn lúc nào cũng nhún mình trước bạn bè, thậm
chí ngay cả trước đối thủ của mình, Pi-e thuộc hạng người mà ta thường gọi là
những “ứng cử viên xoàng” mà dưới nền dân chủ nước Pháp, ứng cử viên có thừa.
Năm 1898, môn hoá lý trường Đại học Xoóc-bon (Sorbonne) thiếu
người dạy, Pi-e định xin vào chỗ đó. Kể công bằng ra thì ông đáng được bổ dụng.
Nhưng vì không tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm và cũng chẳng học qua Đại học bách
khoa, Pi-e không được sự nâng đỡ quyết định mà hai trường này dành cho nhưng học
sinh cũ của mình. Vả lại một vài giáo sư cố chấp nói nếu trong vòng mười lăm
năm qua, Pi-e đã có nhiều phát minh được đăng trên sách báo thì “nói cho đúng”,
nó không thuộc lĩnh vực hoá- lý. Pi-e bị từ chối.
Một bạn thân cũng là giáo sư viết cho ông:
“Chúng ta đã thất bại, và có lẽ tôi sẽ hối mãi là đã xui anh
ra ứng cử với kết quả thảm hại như vậy nếu như cuộc bình nghị về anh đã không
rõ rệt tốt hơn cuộc bỏ phiếu. Các anh Líp-man, Bu-ti, Pê-la và tôi hết sức cố gắng,
và ngay cả các đối thủ cũng ngợi khen những công trình tuyệt diệu của anh,
nhưng làm sao mà đối địch với dân ở sư phạm ra, làm sao mà chống đối nổi với sự
tây vị của bên toán học cơ chứ!”
Nói rằng cuộc bàn cãi đó có lợi cho Pi-e chỉ là một bù đắp
suông! Sau đó hàng tháng trời không đâu thiếu người cả. Vợ chồng Qui-ri say sưa
với công trình trọng đại của mình về chất Ra-đi, thà chịu sống chật vật còn hơn
là đi chầu chực ở các phòng đợi,
Trong khó khăn họ vẫn lạc quan không một lời kêu ca. Với năm
trăm phơ-răng, nào đã là cùng cực. Cuộc sống vẫn còn thu xếp được… trầy trật…
Ma-ri viết thư cho anh ruột là Dô-dếp, ngày 19 tháng ba 1899:
“Chúng em phải hết sức dè xẻn, lương nhà em không đủ chi
tiêu, nhưng rồi hằng năm vẫn thường có những khoản thêm bất ngờ, nên cuối cùng
chắc không đến nỗi vay nợ. Với lại, em cũng mong rằng rồi đây sẽ tìm được một
việc ổn định. Lúc đó, không những sẽ đủ ăn, mà còn có thể dành dụm thêm để bảo
đảm tương lai cho cháu. Nhưng em muốn bảo vệ xong luận án rồi mới đi làm. Những
chất kim loại mới làm cho chúng em rất bận, đến nỗi em không còn thì giờ chuẩn
bị thi tiến sĩ, kỳ thi này tất nhiên phải dựa vào những công trình ấy, nhưng
cũng cần nghiên cứu thêm, việc đó hiện giờ chưa làm được.
Chúng em khoẻ cả: Pi-e không kêu nhức xương nữa. Em cũng khá
hơn, không còn ho tí nào, phổi không sao cả. Khám nghiệm y học và thử đờm nhiều
lần đều đi đến kết quả như vậy.
Cháu I-ren lớn bình thường. Em cho cháu cai sữa hồi mười tám
tháng, nhưng cố nhiên em đã cho cháu ăn cháo sữa từ lâu. Độ này em vẫn cho cháu
ăn cháo sữa, nhưng có thêm trứng gà tươi “thực sự là mới đẻ”.
Năm 1900. Trong quyển sổ chi tiêu, mục chi cứ tăng đều nhiều
hơn thu. Cụ bác sĩ Qui-ri lúc này cũng đến ở đây, nhà có năm người – kể cả chị
giúp việc. Nhà ở đại lộ Kê-lec-man. Một nghìn bốn trăm phơ-răng tiền thuê một
năm. Vì cuộc sống thúc bách, Pi-e buộc lòng phải xin và nhận một chân ôn tập
viên ở trường bách khoa, lương hai nghìn phơ-răng một năm. Bỗng nhiên, Pi-e nhận
được đề nghị không ngờ tới, nhưng không phải là từ Pháp đưa lại. Sự phát minh
ra chất Ra-đi, tuy chưa phổ biến rộng rãi đã được giới vật lý xác nhận, Trường
Đại học Thuỵ Sĩ muốn tranh thủ sự cộng tác của hai nhà bác học mà họ xếp vào hạng
nhất nhì ở châu Âu. Pi-e được mời làm giáo sư vật lý, lương một vạn phơ-răng một
năm, có phụ cấp khu vực và được điều khiển một phòng thí nghiệm mà dự chi sẽ
còn tăng sau khi đã thoả thuận với giáo sư Qui-ri, và còn thêm hai người phụ
tá. Ma-ri cũng được mời vào làm việc chính thức ở phòng thí nghiệm.
Số phận thật là oái oăm, đã mang đến cho người ta điều mong ước
nhất, nhưng lại kèm một chi tiết nhỏ làm cho nó tuyệt nhiên không thể thực hiện
được. Giá trên đầu lá thư không đề “Nước cộng hoà Giê-ne-vơ” mà là “Trường đại
học Pa-ri” thì vợ chồng Qui-ri sung sướng biết mấy!
Trước sự ân cần và trân trọng ấy, Pi-e nhận lời. Tháng bảy,
hai vợ chồng đến Thuỵ Sĩ và được các bạn đồng nghiệp tiếp đón nồng nhiệt. Nhưng
đến mùa hè, Pi-e bắt đầu suy nghĩ. Đây là một khóa giảng quan trọng sẽ phải nhiều
tháng chuẩn bị? Làm sao có thể đành lòng bỏ dở công trình nghiên cứu dù trong
chốc lát, vì không dễ gì mang theo được, làm sao có thể trì hoãn công việc làm
tinh khiết hoá chất Ra-đi mới khám phá? Đối với hai nhà khoa học đang say mê,
tin tưởng vào sự nghiệp của mình, đòi hỏi như vậy là quá đáng!
Tiếc thì tiếc, Piere đành gửi đến trường Đại học Giơ-ne-vơ
(Genève) một bức thư cảm ơn, xin lỗi không nhận. Vì lòng yêu chất Ra-đi, Pi-e
đã không chọn con đường dễ dàng, và quyết định ở lại Paris. Tháng mười, ông xin
thôi việc ôn tập viên ở trường Bách khoa và nhận dạy lớp hóa sinh ở phố
Qui-vi-ê (Quevier) gần trường Sorbonne, đằng nào cũng là làm thêm, nhưng ở chỗ
mới, lương có hơn, Marie cũng muốn góp phần tăng thu nhập nên làm đơn xin dạy ở
trường Nữ sư phạm Xe-vrơ, gần Véc-xây (Versailles). Bà nhận được thư của bà hiệu
trưởng trường Nữ sư phạm:
“Thưa bà:
Tôi hân hạnh báo tin là trong niên học 1900-1901 bà được giao
trách nhiệm giảng chương trình vật lý năm thứ nhất và năm thứ hai, trường Nữ sư
phạm Xe-vrơ.
Mời bà đến gặp hiệu trưởng trường chúng tôi, từ thứ hai sau,
ngày 29”
Đó là hai “thành công”. Quỹ gia đình được thăng bằng về lâu
dài, nhưng ông bà Qui-ri phải gánh thêm một khối việc rất lớn, giữa lúc cần dồn
tâm sức vào những thử nghiệm về phóng xạ. Thế là người ta từ chối điều duy nhất
xứng đáng với Pi-e: một ghế giáo sư ở Xoóc-bon, nhưng lại tỏ ra quá đắc ý khi
có thể dồn lên đầu nhà bác học có tài những việc nặng nhọc và thứ yếu.
Hai vợ chồng Qui-ri cắm cúi trên những sách giáo khoa, đặt
thêm đầu đề toán cho học sinh, hoàn chỉnh các thí nghiệm làm trong lớp. Pi-e
bây giờ dạy hai môn và hướng dẫn cho hai lớp sinh viên thực hành. Ma-ri mới vào
nghề sư phạm ở Pháp, nên phải cố gắng hết sức để chuẩn bị giáo trình và sắp xếp
cho các nữ sinh thực tập. Bà có những phương pháp mới và soạn những bài giảng độc
đáo đến nỗi ông Luy-xiêng Poăng-ca-rê, hiệu trưởng trường đại học cũng phải ngạc
nhiên và khen ngợi. Tính Ma-ri vẫn như vậy: đã làm gì thì phải đến nơi đến chốn.
Thật lãng phí bao nhiêu sức lực và thời giờ đáng lẽ phải dùng
vào việc “chính”: mỗi tuần Ma-ri phải mấy chuyến vào Xe-vrơ, tay xách cặp dày cộm
bài học sinh, tàu điện chậm đến sốt ruột lại còn phải đứng đợi trên vỉa hè hàng
nửa giờ. Pi-e thì cứ như con thoi từ phố Lô-mông đến phố Qui-vi-ê, lên lớp
lý-hoá-sinh rồi từ phố Qui-vi-ê về phố Lô-mông, nơi nhà xe. Vừa mới bắt đầu thí
nghiệm lại phải bỏ đấy để đi hỏi bài những nhà vật lý trẻ.
Trước đây, Pi-e đã hy vọng đến đây sẽ có phòng thí nghiệm. Nó
sẽ an ủi tất cả! Nhưng không… Lớp lý-hoá-sinh, chỉ được sử dụng hai phòng rất
nhỏ. Lần này, Pi-e thất vọng đến nỗi, mặc dầu tính vốn không hay đòi hỏi, ông vẫn
thử đề nghị được một nơi rộng hơn. Vô ích. Sau này Ma-ri viết:
“Ai đã từng qua cảnh chạy vạy như thế, đều biết những khó
khăn tài chính và hành chính thường vấp và đều phải nhớ bao nhiêu đơn từ, bao
nhiêu lượt thăm hỏi và khiếu nại mới giành được mối thuận lợi nhỏ bé. Những việc
đó làm Pi-e Qui-ri rất mệt và nản”.
Hiệu suất làm việc và đến cả sức khoẻ của hai nhà bác học đều
bị ảnh hưởng, Pi-e mệt mỏi đến nỗi thấy cần phải giảm ngay số giờ làm việc. Vừa
đúng lúc đó thì nghề giáo sư khoáng vật học ở Xoóc-bon lại khuyết, Pi-e, tác giả
của một số học thuyết có giá trị về tinh thể học, đương nhiên là người thích hợp
hơn cả với nhiệm vụ ấy. Ông đưa đơn. Một người nữa cũng xin, và người ấy được bổ
nhiệm. Xưa kia, Mông-te-nhơ (Montaigne) [39] đã từng nói:
“Với một tài năng lớn và một tính khiêm tốn lớn hơn nữa, người
ta có thể một thời gian dài, không được ai biết đến!”
Bạn bè tìm hết cách giúp Pi-e tiến tới cái ghế giáo sư khó vời
ấy. Năm 1902, giáo sư Mát-xca giục Pi-e tiến cử vào viện Hàn lâm khoa học. Chắc
chắn ông sẽ trúng và đời sống vật chất sẽ ổn định thêm rất nhiều.
Pi-e do dự, sau ưng thuận mà không hào hứng lắm. Vì ông không
thể cam tâm làm cái việc đến chào trình diện các nhà Hàn lâm theo tục lệ mà ông
cho là “ngu xuẩn và mất phẩm giá con người”. Nhưng biết làm thế nào, phân khoa
Vật lý ở Hàn lâm viện đã nhất trí giới thiệu, Pi-e đành ra ứng cử. Theo lời căn
dặn của giáo sư Mát-xca, Pi-e lần lượt đến thăm từng vị Hàn lâm. Về sau, khi
danh vọng đã đến với Pi-e Qui-ri và các báo muốn tìm những mẩu chuyện lý thú về
nhà bác học, có người sẽ kể lại như sau chuyến đi thăm miễn cưỡng đó:
“Lên các tầng gác, bấm chuông tự giới thiệu, nói tại sao mình
đến, đã làm người ứng cử gượng ấy[40] đỏ mặt tía tai lên rồi. Rồi lại phải
trình bày các chức vị của mình, nói tốt cho mình, vốn khoa học và công trình của
mình, tất cả những cái đó, đối với Pi-e thật là quá sức.
Thế là ông quay ra khen thành thật, tận tình đối thủ của
mình, cho rằng ông A-ma-ga xứng đáng hơn, hơn ông rất nhiều để vào Hàn Lâm”.
Ngày 9-6, công bố kết quả bầu cử. Giữa Pi-e Qui-ri và
A-ma-ga, các vị Hàn lâm đã chọn A-ma-ga.
Pi-e viết thư cho bạn thân Gioóc-Guy:
“Như anh đã đoán trước lần bầu cử này đã thuận lợi cho
A-ma-ga với 23 phiếu, còn tôi được 20 phiếu và Giec-ne 6 phiếu.
Tôi tiếc đã mất thời giờ đi thăm hỏi để chỉ được cái kết quả ấy.
Phần khoa Lý đã nhất trí đề cử tôi và tôi đã quá nể. Kể lại chuyện này để anh
biết, xin đừng nghĩ là tôi để tâm vì những chuyện nhỏ nhặt ấy.
Piere Curie”
Chủ nhiệm mới của trường Đại học khoa học, Pôn A-pen vẫn người
giáo sư ngày xưa đã từng làm cô nữ sinh Ba Lan say sưa thán phục – tìm cách
khác giúp Pi-e. Biết tính không khoan nhượng của Pi-e, ông rào trước.
Pôn A-pen viết thư cho Pi-e Qui-ri:
“Bộ giáo dục có hỏi ý kiến tôi để lập danh sách tặng Bắc đẩu
bội tinh. Vì danh nghĩa trường Đại học khoa học, cho phép tôi ghi tên ông. Đành
rằng huân chương này chả có ý gì với một người như ông, nhưng tôi thấy cần phải
giới thiệu những người xứng đáng nhất ở trường Đại học khoa học, những người
tiêu biểu nhất do sáng kiến và công trình của họ. Cũng là để cho Bộ trưởng biết
đến và giới thiệu cách làm ăn của chúng ta ở Xoóc-bon. Nếu được huân chương,
ông đeo hay không tuỳ ý, nhưng xin cứ cho phép chúng tôi giới thiệu ông”.
Pô A-pen viết cho Ma-ri Qui-ri:
“Tôi đã nhiều lần nói với ông hiệu trưởng Li-a về những công
trình tốt đẹp của ông Qui-ri, về thiết bị thiếu thốn của ông, về sự cần thiềt
phải cho ông một phòng thí nghiệm rộng hơn. Ông hiệu trưởng đã nói về ông
Qui-ri với ngài Bộ trưởng nhân dịp giới thiệu những người xứng đáng được tặng
thưởng Bắc đẩu bội tinh ngày 14-7.
Ngài Bộ trưởng có vẻ chú ý đến ông Qui-ri lắm và có lẽ muốn
biểu lộ sự chú ý đó bằng cách gắn huân chương cho ông Qui-ri, vì vậy, xin bà hết
sức nói giúp để ông Qui-ri không từ chối. Việc ấy tự nó chẳng có ích lợi nhưng
về hậu quả - phòng thí nghiệm, nguồn ngân sách… thì nó có tác dụng rất to lớn.
Vì khoa học và lợi ích cao cả của trường đại học xin bà nói
giúp để ông Qui-ri đồng ý về việc này”.
Pi-e không “đồng ý”, Pi-e rất ghét danh vọng và riêng điều đó
cũng đủ giải thích thái độ của ông. Nhưng còn một nguyên nhân tư tưởng nữa. Ông
thấy thực nực cười khi người ta tiếc cho một nhà khoa học những phương tiện làm
việc, và cùng lúc đó, như để vỗ về, người ta lại bày ra trò tặng một chữ thập
tráng men treo bằng một mẩu lụa đỏ.
Pi-e Qui-ri đã trả lời:
“Nhờ ông cảm ơn Bộ trưởng giúp tôi và nói hộ rằng tôi không mảy
may thấy cần được huân chương, nhưng bao giờ hết, tôi cần một phòng thí nghiệm”.
*
Thế là hết hy vòng vào một cuộc sống sáng sủa hơn. Chẳng được
nơi làm việc như ý, Pi-e và Ma-ri đành bằng lòng với cái nhà xe để tiếp tục thí
nghiệm. Và những giờ hăng say sống trong cái lán ấy đã an ủi họ bao nhiêu lỡ
làng. Họ vẫn dạy học. Dạy với thiện chí, không chút miễn cưỡng. Sau này, nhiều
học trò cũ còn nhớ với lòng biết ơn những bài giảng sinh động và mạch lạc của
thầy Pi-e. Và nhiều nữ sinh trường sư phạm Xe-vrơ đầy ham thích khoa học cũng
là nhờ Ma-ri, bà giáo có mớ tóc hung, giọng nói thuộc dân tộc Xla-vơ làm cho những
bài chứng minh cao siêu của bà nghe như hát.
Bị giằng co giữa việc nghiên cứu khoa học và nhu cầu đời sống,
Pi-e và Ma-ri quên cả ăn, cả ngủ. Cái nếp “sống bình thường” xưa kia Ma-ri đặt
ra, những thành tích nội trợ, nấu nướng của người vợ trẻ nay hầu như bị lãng
quên.
Họ làm việc đến kiệt sức mà không biết rằng đó là một sự liều
lĩnh. Nhiều khi Pi-e, nhức nhối chân tay đến mức không thể chịu được, phải nằm
liệt. Ma-ri, thần kinh có phần vững hơn; từ khi đẩy lùi được cái bệnh lao mới
chớm đã làm cho cả nhà lo âu, bằng cách liều xem thường không cần kiêng khem gì
thì Ma-ri tưởng mình sức vững như đá, khó mà ốm. Nhưng trên quyển sổ nhỏ ghi
hàng tuần trọng lượng của mình, con số cứ thấp đều. Bốn năm ở nhà xe Ma-ri sút
đi bảy cân. Bạn bè ai cũng ái ngại thấy Ma-ri như tàu lá. Một nhà vật lý trẻ phải
viết thư cho Pi-e khẩn khoản mong ông chú ý sức khoẻ của Ma-ri và bản thân. Bức
thư này đã phác họa một cách đáng lo ngại về cuộc sống, và sự hy sinh của hai
nhà bác học.
Gioóc Xa-nhắc viết cho Pi-e Qui-ri:
“Gặp chị Qui-ri ở Hội vật lý, tôi sửng sốt trước thần sắc suy
nhược của chị. Tôi biết rằng chị đã làm việc căng thẳng trong thời gian viết luận
án. Nhưng chị không đủ sức để sống một cuộc đời hoàn toàn tinh thần, như cuộc đời
anh chị đang sống, và điều này áp dụng cả với anh nữa. Một ví dụ cụ thể là hai
anh chị không chịu cố gắng ăn để lấy sức. Nhiều lần tôi thấy chị Qui-ri chỉ ăn
hai khoanh xúc-xích và uống một chén nước trà. Sức nào kham nổi ăn uống thiếu
thốn như vậy? Nếu chị Qui-ri mất sức thì anh sẽ ra sao?
Dù chị có tỏ ra chểnh mảnh hoặc cố chấp thì đó cũng không phải
là một lý do. Tôi đoán anh sẽ gặp trở ngại sau đây: Chị sẽ nói là chị không
đói, là chị không còn là một đứa trẻ để ai đó bảo ban! Thế nhưng, chị hiện nay
cư xử như một em bé vậy. Tôi nói điều này với tất cả lòng chân thật của tình bạn.
Anh chị không dành đủ thời giờ cho những bữa ăn. Giờ ăn quá
tùy tiện. Bữa tối thường muộn đến nỗi dạ dày đợi mãi đâm ì không làm việc được
nữa. Cố nhiên, một vấn đề đang nghiên cứu dở có thể làm chậm một bữa tối, nhưng
đừng để thành thói quen. Cuộc sống của anh chị hiện nay, lúc nào cũng chỉ thấy
lo ngại về nghiên cứu khoa học. Như vậy không nên. Hãy cho cơ thể nghỉ ngơi.
Hãy ngồi vào bàn ăn một cách thư thái, tránh những chuyện buồn, thậm chí cả những
chuyện mệt óc, không nên vừa ăn vừa đọc hoặc nói chuyện vật lý”.
*
Trước những lời báo động và trách móc đó, Pi-e và Ma-ri trả lời
một cách ngây thơ “Chúng tôi vẫn nghỉ đấy chứ, hè nào chúng tôi chẳng đi nghỉ!”.
Đúng là họ vẫn thường đi nghỉ hè và họ tưởng như vậy. Những
ngày hè đẹp trời hai vợ chồng vẫn thường đi chỗ này chỗ nọ như xưa. Đối với
Pi-e và Ma-ri, nghỉ ngơi nghĩa là đi xe đạp, qua suốt rặng núi Xê-ven năm 1898.
Hai năm sau đi dọc bờ biển Măng-sơ (Manche), từ Ha-vrơ (Havre) đến Xanh
Va-lê-ri (Saint Valery) trên sông Xom (Somme), rồi ra đảo Noa-mu-chi-ê (ile
noirmoutier). Năm 1901, người ta thấy hai người ở Phu-duy, 1902 ở A-rô-măng-sơ
(Arromanches), 1903 ở Trê-po (Tréport )và Xanh Trô-giăng (Saint trojan )…
Cách nghỉ hè như thế có làm cho Pi-e và Ma-ri đỡ căng thẳng về
tinh thần và thể xác không? Đáng ngờ lắm… Mà cũng chỉ tại Pierre nôn nóng, cứ đến
đâu vài ba ngày, Pierre đã bàn chuyện về và nhắc vợ: “Đã lâu quá chúng mình chẳng
làm được gì nhỉ!”
Năm 1899, một chuyền đi chơi xa đã đem lại cho hai vợ chồng một
niềm vui lớn. Lần đầu tiên sau khi lập gia đình, Marie mới trở về Tổ quốc,
không phải về Vác-xô-vi, mà về Ba Lan thuộc Áo, ở Da-cô-pan, nơi anh chị Du-xki
đang dựng một nhà an dưỡng. Ngay sát bên cạnh cái công trường đang tấp nập thợ
xây, nhà trẻ E-gie có thêm một đoàn người rất mực thương yêu trìu mến nhau. Ở
đây có cả cụ Xkhua-đốp-xki, giáo sư trông còn rất tráng kiện và trẻ hẳn ra vì
sung sướng gặp lại bốn con đến nay đã lập gia đình.
Năm tháng qua nhanh thật! Mới hồi nào anh con trai và ba cô
gái cụ còn đi tìm việc ở Vác-xô-vi. Bây giờ, Dô-dếp, một bác sĩ có tín nhiệm,
đã có vợ và mấy con. Brô-ni-a và Ca-di-mia mở một nhà điều dưỡng. Hê-la đang có
nhiều triển vọng trong ngành giáo dục, chồng là Xra-nis-lítx Sa-lay mở một hiệu
ảnh lớn. Còn cô út Ma-ni-a thì làm việc trong một phòng thí nghiệm, đã có công
trình nghiên cứu được xuất bản, “cái con bé hóm hỉnh” như cụ vẫn thường gọi trước
kia…
Chàng rể nước ngoài được cả nhà vồn vã. Họ hãnh diện giới thiệu
cho Pi-e đất nước Ba Lan tươi đẹp. Thoạt đầu, cảnh tượng cằn cỗi với những ngọn
tùng đen sẫm, chĩa lên bầu trời không làm Pi-e hào hứng lắm; rồi sau, trong một
buổi đi chơi trên đỉnh núi “Ri-xi”, Pi-e rất cảm xúc trước cảnh nên thơ và tầm
bao la của dãy núi hùng vĩ này. Buổi chiều, Pi-e nói với vợ trước mặt cả nhà:
- Đất nước Ba Lan đẹp lắm, nay tôi mới hiểu tại sao người ta
có thể yêu nó đến thế.
Pi-e cố ý nói bằng những tiếng Ba Lan mới học được, tuy giọng
sai nhưng cũng làm cho anh em nhà vợ rất thích thú và phục lăn. Và Pi-e nhận thấy
nét mặt Marie rạng rỡ hẳn lên, với một nụ cười ngây thơ tự hào.
Ba năm sau, tháng năm 1902, Ma-ri lại đi tàu về Ba Lan. Nhiều
thư báo tin là cụ giáo ốm nặng, phải mổ túi mật, lấy ra được nhiều sỏi to. Mới
đầu, còn nhận được những tin tức an tâm, rồi bỗng nhiên, một bức điện. Thế là hết,
Ma-ri muốn đi ngay. Nhưng thủ tục giấy thông hành rất phức tạp, phải mấy tiếng
đồng hồ, giấy tờ mới hợp lệ. Sau hai ngày rưỡi đi đường tới Vác-xô-vi, đến nhà
Dô-dếp nơi cụ Xkhua-đôp-xki ở. Chậm quá, Ma-ri không thể chịu đựng ý nghĩ là sẽ
không được nhìn mặt bố lần cuối cùng, Trên đường đi, nhận được tin bố mất, bà
đánh điện van nài anh chị hãy hoãn lễ an táng. Bước vào nhà tang, chỉ còn thấy
quan tài và hoa. Bà khăng khăng yêu cầu mở nắp quan tài. Trước khuôn mặt vô tri
vô giác và bình thản của bố, có một vết máu nhỏ đã khô đọng từ lỗ mũi ra. Ma-ri
vĩnh biệt và xin lỗi người đã khuất. Bà vẫn thầm trách mình cứ ở mãi bên Pháp
không đáp lại lời mong mỏi của người cha đã dự định sống ngày cuối cùng với con
gái út. Trước quan tài đã mở nắp, Ma-ri cứ đứng lặng mãi cho đến lúc anh và chị
phải chấm dứt cái cảnh đau lòng ấy.
Marie thật cẩn thận và nghiêm khắc với mình. Bà tự dằn vặt một
cách bất công, cụ Xkhua-đốp-xki đã sống những năm cuối đời rất êm đềm – và nhờ
có Ma-ri, lại càng êm đềm hơn. Tình mến thương của con cháu và niềm vui của người
cha, người ông, làm cụ quên dần những nỗi gian truân của một cuộc đời thua thiệt.
Những niềm vui cuối cùng, những niềm vui lớn nhất của cụ đều do Ma-ri. Sự khám
phá ra hai chất Pô-lô-ni và Ra-đi, các bản thông báo của Viện Hàn lâm khoa học
Pa-ri, các bản tin rạng rỡ kí tên con mình làm tràn ngập lòng tự hào của nhà
giáo sư vật lý ấy, mà công việc vụn vặt hằng ngày không cho ông đi sâu nghiên cứu
khoa học. Theo dõi công trình của con gái, từng giai đoạn một, cụ thấy rõ tầm
quan trọng và đoán trước ảnh hưởng của nó. Mới đây Ma-ri đã báo tin cho cụ: sau
bốn năm trời kiên trì đã có được Ra-đi nguyên chất. Và trong bức thư cuối cùng,
viết sáu ngày trước khi chết, tay run nét chữ nguệch ngoạc làm cho Ma-ri lo lắng
nhận thấy chữ viết của cụ không còn đều đặn, đẹp nét như xưa, cụ đã nói với con
gái:
“Thế là con đã có được muối Ra-đi nguyên chất. Nếu tính tổng
số công sức bỏ ra để có được chất ấy, thì chắc hẳn nó là một nguyên tố hoá học
đắt nhất, chỉ tiếc là hình như vật ấy chỉ đáng chú ý về mặt lý thuyết mà thôi”.
Giá cụ sống thêm hai năm nữa, hẳn cụ sẽ sung sướng và tự hào
biết bao khi thấy vinh quang đến với con gái và giải thưởng Nô-ben được tặng
chung cho Hăng-ri Bếch-cơ-len, Pi-e và con bé út “An-chiu bé nhỏ” của cụ.
Xanh xao, gầy gò, Ma-ri từ giã Vác-xô-vi. Đến tháng 9 năm ấy,
bà trở lại Ba Lan. Sau tang tóc, mấy anh em Xkhua-đốp-xki càng thấy gắn bó, để
tỏ rõ cho nhau rằng tình anh em đùm bọc vẫn cứ còn sống mãi.
*
Tháng mười, Pi-e và Ma-ri trở lại phòng thí nghiệm. Cả hai đều
mệt mỏi. Ma-ri vừa tham gia nghiên cứu về soạn lại kết quả làm tinh khiết chất
Ra-đi. Nhưng cái hào hứng, ham thích năm xưa không còn nữa. Nếp sống căng thẳng
kinh khủng mà từ bốn hôm nay thần kinh bà phải chịu đựng bắt đầu có triệu chứng
không bình thường. Có đêm Ma-ri mê ngủ, trở dậy đi đi lại lại trong phòng.
Năm sau, xẩy ra mấy việc đau thương, Ma-ri có mang, rồi đẻ
non, coi đó là một việc bi thảm Ma-ri viết cho Brô-ni-a, ngày 20 tháng Tám
1903:
“Em sửng sốt đến nỗi chả có can đảm để viết cho ai cả. Em đã
đinh ninh sẽ có đứa con đó, nên không tự an ủi được. Chị xem có phải là do suy
nhược không. Vì phải thú nhận rằng em không biết giữ sức. Em quá tin ở cơ thể
mình và bấy giờ mới hối, vì đã phải trả giá quá đắt điều đó. Một đứa bé gái,
lanh lẹn và đáng lẽ có thể sống mà em thì đang mong mỏi biết chừng nào!”
Ít lâu sau, lại có tin buồn từ Ba Lan. Đứa con trai thứ hai của
Brô-ni-a đau màng óc, chỉ vài ngày là chết.
Ma-ri viết thư cho anh Dô-dếp:
“Tai hoạ xảy ra đến với anh chị Du-xki làm em hết sức đau
xót. Cháu thật hồng hào khoẻ mạnh. Chăm sóc hết mức mà còn không giữ được một đứa
bé như thế thì mong gì giữ được đứa khác và nuôi chúng? Em không thể nhìn thấy
đứa con gái em mà không run lên vì sợ. Nỗi đau đớn của chị Brô-ni-a như cắt xé
lòng em”.
Những đau buồn đó làm tăm tối cuộc đời của Ma-ri đang bị xâu
xé bởi một mối lo âu nghiêm trọng nhất: Pierre không khoẻ. Pierre bị những cơn
đau quằn quại, làm cho ông ủ rũ đáng sợ. Vì thiếu triệu chứng cụ thể, thầy thuốc
cứ cho là thấp khớp. Nhiều lần đau dữ dội quá, Pi-e rên suốt đêm, Ma-ri hoảng sợ,
cũng thức trắng để chăm sóc. Thế mà Ma-ri vẫn dạy học ở Xe-vrơ, Pi-e cần phải hỏi
bài sinh viên và trông coi họ thực tập, và hai nhà vật lý vẫn tiếp tục những
thí nghiệm tinh vi, dù thiếu nơi làm việc như ý.
Một lần, một lần thôi, Pi-e thốt ra một lời than vãn. Ông nói
rất nhỏ:
- Kể ra thì con đường chúng ta chọn vất vả thật đấy!
Ma-ri định nói lại nhưng không giấu nỗi lo ngại của mình.
Pi-e mà nản đến thế phải chăng vì quá suy nhược? Biết đâu chẳng do một bệnh hiểm
nghèo không hòng cứu chữa? Còn bản thân mình, không biết sẽ khắc phục nổi những
sự mệt mỏi ghê gớm của mình không? Hàng mấy tháng nay, ý nghĩ về cái chết cứ lởn
vởn trong đầu Ma-ri và ám ảnh bà.
Ma-ri gọi:
- Pierre.
Giọng lo âu, nghẹn ngào của Ma-ri làm nhà bác học ngạc nhiên
quay lại:
- Gì thế, Ma-ri, em sao thế?
- Pi-e…, nếu một ngày một trong hai chúng ta chết… thì chắc
người còn lại khó mà sống nổi. Chúng ta không thể sống không có nhau, phải
không anh?
Pi-e chậm chạp lắc đầu. Ma-ri đã nói những lời của một người
vợ và một người yêu, nhưng trong giây phút đã quên sứ mệnh của mình, làm cho
Pi-e sực nhớ rằng một nhà bác học không có quyền bỏ khoa học, lẽ sống của mình.
Pi-e nhìn ngắm bộ mặt đăm chiêu buồn rầu của Ma-ri, và nói với
một giọng cương quyết:
- Em nhầm. Dù sao đi nữa, dù có như cái xác không hồn, người
còn lại vẫn cứ phải làm việc.
Chú thích:
[38] Henri Poincera (1854 -1912) nhà toán học Pháp
[39] Montaigne, một nhà luân lý học Pháp vào thế kỷ XVI (1533
– 1592)
[40] Chỉ Pierre Curie
Chương 15
một luận án thi tiến sĩ
và một câu chuyện năm phút
Đối với khoa học, thì những người phục vụ, dù giàu hay nghèo,
sướng hay khổ, khỏe hay yếu, có gì là quan trọng. Họ sinh ra để tìm tòi, để
phát minh, và cho đến lúc sức tàn, lực kiệt, họ vẫn cứ sẽ tìm tòi và phát minh.
Một nhà khoa học khó mà cưỡng lại chí hướng của mình. Ngay những khi chán nản,
bực bội, nhà bác học chỉ biết quay về với những dụng cụ phòng thí nghiệm.
Vậy thành tựu rạng rỡ mà Pi-e và Ma-ri đã đạt được trong những
năm tháng khó khăn ấy không có gì đáng ngạc nhiên. Học thuyết phóng xạ mới ra đời
đang lớn như thổi, nảy nở tốt tươi; đồng thời, làm kiệt lực dần hai nhà vật lý
đã sinh ra nó.
Từ năm 1899 đến năm 1904, tất cả 32 bản thông báo khoa học đã
được ông bà Qui-ri công bố đứng tên chung, hoặc tên riêng, hoặc cùng làm với một
bạn đồng sự. Đầu đề kì quặc khó hiểu, nội dung chi chít những đồ thị và công thức
làm cho người ngoài nghề phát khiếp. Tuy nhiên, mỗi bản báo cáo là một thắng lợi,
khi đọc danh sách khô khan những thông báo quan trọng nhất, ta hãy nghĩ đến bao
nhiêu công phu tìm tòi, kiên trì và sáng tạo:
- Về tác dụng hoá học của những Ra-đi (Ma-ri Qui-ri và Pi-e
Qui-ri 1899).
- Về trọng lượng của nguyên tử của Ra-đi mang chất Ra-đi
(Ma-ri Qui-ri 1900).
- Về chất phóng xạ cảm ứng do muối Ra-đi (Pi-e Qui-ri và
Ang-đrê Đờ-biếc-nơ, 1901)
- Tác dụng sinh lý của tia Ra-đi (Pi-e Qui-ri và Bếch-cơ-ren,1901).
- Về tính phóng xạ cảm ứng và về khí tỏa của Ra-đi (Pi-e
Qui-ri 1903)
- Về nhiệt tự phát tỏa ra từ muối Ra-đi (Pi-e Qui-ri và A.
La-boóc-đơ, 1903)
- Nghiên cứu về các chất phóng xạ (Ma-ri Qui-ri, 1903)
- Về tính phóng xạ của khí thoát ra ở suối nước nóng (Pi-e
Qui-ri, Sác-lơ bu-xa và V. Ban-ta-da 1904).
Thuyết phóng xạ nhanh chóng lan rộng từ Pháp ra các nước
ngoài. Ngay từ 1900, nhiều nhà khoa học có tên tuổi tại Anh, Đức, Áo, Đan Mạch,
tới tấp gửi thư đến hỏi ý kiến. Ông bà Qui-ri liên tục trao đổi thư từ với
Uy-li-am Crúc-cơ người Anh, với các giáo sư Suy-ét và Bôn-đơ-man ở Áo; với nhà
thám hiểm Pôn-ven người Đan Mạch. “Cha mẹ đẻ” của Ra-đi gửi cho các bạn đồng
nghiệp những lời giải thích và hướng dẫn về kĩ thuật. Trong nhiều nước, những
nhà nghiên cứu lao vào đi tìm những chất phóng xạ mới. Quả là một cuộc tìm tòi
bổ ích, đã phát hiện ra những chất như Mê-đô-tô-ri, Ra-đi-ô-tô-ri, i-ô-ni,
prô-lắc-ti-ni v.v…
Năm 1903, hai nhà bác học người Anh Răm-xay và Xô-đi chứng
minh rằng chất Ra-đi luôn luôn tỏa ra một lượng nhỏ khí Hê-li. Đây là một bằng
chứng rõ rệt đầu tiên về biến đổi nguyên tử. Ít lâu sau, cũng ở Anh, Rơ-đơ-pho
và Xô-đi lập lại một giả thuyết do Ma-I đề ra từ năm 1900 và cho in thuyết “Biến
đổi phóng xạ”. Họ khẳng định rằng các chất phòng xạ, tuy bề ngoài như không biến
đổi, vẫn ở một trạng thái tiến triển tự phát: biến thiên càng nhanh chóng thì
hoạt tính càng cao.
Sau này Pi-e Qui-ri viết:
“Đây là hiện tượng thoái biến của các đơn chất, nhưng không
phải như các nhà luyện kim thời xưa đã hiểu. Chất vô cơ nhất định phải tiến triển
qua các thời đại và theo những định luật không thay đổi”.
Chất Ra-đi thần kỳ! Tinh khiết dưới dạng clo-rua, đó là một
thứ bột trắng đục trong như muối ăn. Nhưng những tính chất của nó càng ngày
càng được hiểu rõ thêm làm cho ta kinh ngạc. Tia phóng xạ của Ra-đi, đã giúp
hai nhà bác học Pi-e và Ma-ri Qui-ri khám phá ra nó, có cường độ vượt tất cả sự
ước lượng. Ra-đi phóng xạ mạnh hơn u-ra-ni hàng triệu lần. Khoa học đã phân
tích, chia phóng xạ Ra-đi thành ba loại tia khác nhau, có thể xuyên qua các chất
mờ nhất, và đồng thời biến dạng đi. Chỉ có một tấm bình phong dày bằng chì mới
cản được chúng.
Chất Ra-đi tự tỏa ra một chất khí đặc biệt luôn luôn kèm với
nó như bóng với hình, đó là khí tỏa của Ra-đi cũng có tính hoạt động và ngay để
trong ống nghiệm bằng thủy tinh cũng tự phân hủy từng ngày từng giờ theo một
quy luật nhất định.
Trong nhiều suối nước nóng cũng có khí ấy.
Lại thêm một thách thức khác đối với những thuyết trước kia
tưởng như là nền móng bất di bất dịch của ngành vật lý. Ra-đi phát nhiệt một
cách tự phát. Trong một giờ, nó có thể tỏa ra một lượng nhiệt làm tan một lượng
đá bằng trọng lượng của nó. Nếu giữ cho nó không bị nguội đi, nó sẽ nóng lên và
nhiệt độ của nó sẽ tăng thêm mười độ hay hơn nữa so với môi trường xung quanh.
Khả năng của nó thật kì diệu: nó tác động vào kính ảnh bọc
trong giấy đen; nó làm cho khí trời dẫn điện và từ xa đã làm cho một máy điện
nghiệm phóng điện. Những lọ thủy tinh đựng chất Ra-đi đều chuyển sang màu tím
hoặc màu hoa cà; giấy hoặc bông bọc chất Ra-đi đều bị Ra-đi gặm dần và tan
thành bụi.
Ra-đi phát sáng như ta đã biết, Ma-ri viết:
“Sự phát sáng ấy không thể thấy được ban ngày, nhưng dễ nhận
thấy ở nơi tranh tối tranh sáng. Với một ít chất ở trong tối ánh sáng phát ra
có thể đủ đọc sách”.
Chất Ra-đi không giữ riêng cho mình cái khiếu màu nhiệm đó,
Ra-đi còn làm cho rất nhiều đồ vật khác phát lân. Ví dụ: kim cương.
Dùng Ra-đi có thể phân biệt kim cương thật với kim cương giả
vì tính phát lân của kim cương giả rất yếu.
Các tia Ra-đi còn hay “lây” nữa, lây như một mùi hương dai dẳng,
lây như bệnh truyền nhiễm.
Bất cứ một vật gì, một cây cỏ, một con vật hoặc một người đặt
bên cạnh một ống Ra-đi, đều tiếp thu một “hoạt tính” đáng kể. Tính hay lây đó
là kẻ thù thường xuyên của Pi-e và Ma-ri vì nó làm rối loạn kết quả của những
thí nghiệm chính xác.
Marie viết:
“Khi nghiên cứu các chất phóng xạ mạnh, nếu muốn tiếp tục đo
lường tỉ mỉ thì phải đặc biệt cẩn thận. Các dụng cụ dùng trong phòng thí nghiệm
hóa học và các dụng cụ dùng cho thí nghiệm vật lý chẳng bao lâu cũng trở thành
phóng xạ và tác động vào kính ảnh xuyên qua những giấy đen bọc ngoài. Bụi,
không khí trong phòng, quần áo đều có phóng xạ. Không khí trong phòng cũng
thành dẫn điện. Trong phòng thí nghiệm của chúng tôi, tình trạng này đã đến mức
nghiêm trọng, không còn có được một dụng cụ nào hoàn toàn cách ly mà không bị
nhiễm phóng xạ”.
Sau này, khi ông bà Qui-ri không còn nữa, những cuốn sổ tay của
hai nhà bác học, ba, bốn mươi năm sau vẫn còn một “hoạt tính” sinh động và bí mật,
và vẫn ảnh hưởng đến những dụng cụ đo lường.
Phóng xạ, tỏa nhiệt, phát sinh ra khí hê-li và khí tỏa, tự
phân ra, tự phát, tất cả những hiện tượng đó đã vượt xa những thuyết về vật chất
trơ, về nguyên tử không thay đổi. Trước kia những nhà bác học tưởng rằng vũ trụ
gồm những chất đã được xác định, những nguyên tố cố định. Thế mà giờ đây mỗi
giây phút qua đi, các mảnh Ra-đi phóng xạ những nguyên tử hê-li và bắn chúng ra
ngoài với sức mạnh ghê gớm. Kết quả của sự bắn phá nhỏ bé và rùng rợn ấy – mà
Ma-ri gọi là “tai biến lớn” – của sự thay đổi nguyên tử là một nguyên tử khí tỏa
ra và bản thân nguyên tử này cũng sẽ biến thành một chất phóng xạ khác – và chất
này đến lượt nó cũng sẽ lại biến đổi! Thế là các nguyên tố phóng xạ hợp thành
những dòng họ lạ lùng và tàn nhẫn mà mỗi thành viên sinh ra bởi sự thay đổi tự
phát của chất mẹ: chất Ra-đi là “con” của chất u-ra-ni, chất Pô-lô-ni là “con”
của chất Ra-đi. Những chất ấy mỗi lúc sinh ra lại tự hủy theo những quy luật
muôn thuở: Mỗi một nguyên tố phóng xạ mất đi một phân nửa chất của mình trong một
thời gian không thay đổi gọi là “chu kì” của nó. Muốn giảm đi nửa, u-ra-ni phải
mất một vài tỉ năm, Ra-đi 1600 năm, khí tỏa của Ra-đi bốn ngày, những “con
cháu” của khí tỏa thì vài giây.
Ra-đi còn có thể tạo thêm hạnh phúc cho con người. Nó sẽ trở
thành bạn đồng minh của người, chống lại một căn bệnh hiểm nghèo, bệnh ung thư.
Năm 1900, hai nhà bác học Đức, Van-cốp và Ghi-den tuyên bố rằng Ra-đi có tác dụng
về sinh lý. Không ngại nguy hiểm Pi-e Qui-ri sẵn sàng thí nghiệm tác dụng của
Ra-đi trên tay mình. Ông vui mừng khi thấy một vết thương hiện ra! Trong một bản
báo cáo ở Hàn lâm viện khoa học, Pi-e mô tả những hiện tượng nhận xét được.
“Da trở nên đỏ trên một diện tích sáu xăng-ti-mét vuông: bề
ngoài trông như một vết bỏng nhưng da không đau hoặc hơi đau thôi. Ít lâu sau,
độ đỏ tăng lên nhưng không loang ra, đến ngày thứ hai mươi thì đóng vẩy, được
băng bó, đến ngày thứ bốn mươi hai da non bằt đầu mọc từ mép vết thương mọc dần
vào giữa, và năm mươi hai ngày sau khi tác động của các tia, vẫn còn một vết
thương bề mặt độ một xăng-ti-mét vuông, màu xám, cho biết là thịt ở chỗ đó đã
chết một khoảng sâu hơn nữa.
Bà Qui-ri khi di chuyển một vài xăng-ti-gam chất có hoạt tính
mạnh cũng bị những vết bỏng tương tự mặc dầu ống nghiệm đã được đựng trong một
hộp mỏng bằng kim loại.
Với các chất có hoạt tính mạnh, chúng tôi còn bị những tác động
khác trên bàn tay, thường là bị bong vẩy, nhưng đầu ngón tay cầm đầu ống nghiệm
và bắt đầu sử dụng các chất đó trở nên cứng và có khi rất đau. Một người trong
chúng tôi bị bỏng đầu ngón tay mất mươi lăm ngày, sau đó bong da, nhưng cảm
giác đau đớn sau hai tháng vẫn chưa dứt hẳn”.
Hăng-ri Bếch-cơ-ren khi mang ống nghiệm bằng thủy tinh đựng
chất Ra-đi để trong túi áo gi-lê cũng bị một vết bỏng không ngờ. Kinh ngạc và bực
bội, ông đến ngay nhà Qui-ri để than phiền về chiến công của đứa con đáng sợ ấy.
Sau cùng ông kết luận:
“Chất Ra-đi, tôi yêu nó nhưng tôi cũng giận nó”… rồi ông vội
lấy những kết quả của cuộc thí nghiệm không cố ý đó, đăng trong báo cáo ngày 3
tháng sáu năm 1901 bên cạnh những nhận xét của Pi-e.
Rất ngạc nhiên trước tác dụng kì lạ của tia Ra-đi, Pi-e tiếp
tục nghiên cứu trên các loài vật. Ông cộng tác với các bác sĩ cao cấp, các giáo
sư Bu-xa và Ban-ta-da. Không bao lâu, họ biết chắc chắn rằng: bằng cách hủy diệt
tế bào có bệnh, tia Ra-đi chữa được những u và một vài dạng ung thư. Cách chữa ấy
sau này gọi là phương pháp điều trị Qui-ri. Nhiều bác sĩ người Pháp lần đầu
tiên áp dụng cách chữa ấy cho người bệnh có hiệu quả. Họ dùng những ống khí tỏa
Ra-đi của Pi-e và Ma-ri cho mượn.
Ma-ri viết:
“Tác dụng của Ra-đi trên da được bác sĩ Đô-lốt, ở bệnh viện
Xanh Lu-I nghiên cứu đi đến những kết quả phấn khởi, biểu bì đã bị chết một phần,
lại tái sinh lành lặn như cũ”.
Chất Ra-đi có ích – rất có ích.
Kết quả trực tiếp của sự khám phá đó đã rõ ràng. Nguyên tố mới
này, không chỉ còn thuộc lĩnh vực thí nghiệm, nó đã thành cần thiết và có lợi.
Một nền công nghiệp Ra-đi sắp ra đời.
Pi-e và Ma-ri trông nom cho bước khởi đầu của công nghệ ấy. Họ
tự tay làm ra – phần lớn do Ma-ri – một gam Ra-đi đầu tiên chế hóa từ tám tấn xỉ
pếch-blen ở nhà xe trường Vật lý, theo một phương pháp tự đặt ra. Dần dần những
tính chất của Ra-đi kích thích óc sáng kiến của giới khoa học, hai vợ chồng
Qui-ri được nhiều cộng tác có hiệu quả để tổ chức sản xuất qui mô.
Việc chế biến quặng theo quy mô lớn bắt đầu dưới sự điều khiển
của Ăng-đrê Đơ-biếc-nơ, ở tổng công ty Hóa chất, công ty này nhận làm giúp
không lấy lãi. Năm 1902, Hàn lâm viện khoa học trợ cấp cho ông bà Qui-ri hai
mươi nghìn phơ-răng “để khai thác các chất phóng xạ”, nhờ đó có thể bắt tay
ngay vào việc tinh chế năm tấn quặng.
Năm 1904, một nhà kĩ nghệ Pháp khôn ngoan lá Ác-mê Đờ-lin
nghĩ đến xây dựng một nhà máy sản xuất Ra-đi dùng trong y học để chữa các u ác
tính. Pi-e và Ma-ri được một gian nhà ở liền nhà máy để tiến hành những việc mà
nhà xe ghép ván chật hẹp không cho phép. Ông bà Qui-ri đào tạo ra những cộng
tác viên như Hô-dơ-panh và Giắc-đan. Hai người này được giao việc khai thác chất
quý đó.
Gam Ra-đi đầu tiên được Ma-ri nâng niu gìn giữ. Sau này bà sẽ
tặng lại phòng thí nghiệm. Từ trước đến nay và mãi mãi về sau nó chỉ có thể
đánh giá bằng sức lao động tận tuỵ của Ma-ri mà thôi. Và khi bà Qui-ri không
còn nữa, gam Ra-đi ấy vẫn sẽ là tượng trưng rực rỡ cho một sự nghiệp vĩ đại và
một khoảng thời gian anh dũng của hai cuộc đời.
Những gam Ra-đi sản xuất sau đó có một giá trị khác: giá một
cáng. Trên thị trường, nó là chất đắt nhất thế giới, mỗi gam tới bảy trăm năm
mươi nghìn phơ-răng vàng.
Một chất đặc biệt quý giá như thế cần được bàn luận tới.
Tháng giêng 1904, tạp chí “Chất Ra-đi” dành riêng nói về các chất phóng xạ ra đời.
Ra-đi cũng dành được một cương vị thương mại. Nó có chỉ số mua bán và báo chí
riêng. Chẳng bao lâu, trên giấy tờ có đề tự của nhà máy Ác-mê Đờ-lin, người ta
sẽ đọc những dòng chữ lớn:
MUỐI RA-ĐI CHẤT PHÓNG XẠ
Địa chỉ điện tín: “Ra-đi – No-giang – Trên sông MAC-NƠ”
*
Có được những công trình nghiên cứu sáng tạo của bao nhà khoa
học các nước, có được một nền công nghiệp mới và một phương pháp chữa bệnh mới
đó là nhờ một thiếu phụ Ba Lan tóc hung, ham mê tìm tòi học hỏi, năm 1897 đã chọn
đầu đề làm luận án là sự nghiên cứu các tia Bếch-cơ-ren. Đó là nhờ bà đã đoán
được rằng quặng pêch-blen chứa đựng một chất mới và cùng dốc sức với chồng, bà
chứng minh được sự tồn tại của chất đó. Đó là nhờ bà đã thành công trong việc
tách riêng ra chất Ra-đi nguyên chất.
Người đàn bà trẻ tuổi ấy hôm nay đứng đây, ngày 25 tháng sáu
1903, trước bảng đen trong một phòng nhỏ ở Xoóc-bon, cái phòng “sinh viên” mà
người ta đi lên bằng một cái thang máy trôn ốc ở một bên và kín đáo. Từ khi
Ma-ri bắt đầu chuẩn bị luận án đến nay đã hơn năm năm. Bị lôi cuốn trong cơn lốc
của một phát minh vĩ đại, bà cứ hoãn mãi kì thi tiến sĩ, vì không có thì giờ
thu thập tài liệu. Hôm nay bà đến trước các giám khảo.
Theo tục lệ Ma-ri nộp cho ban giám khảo gồm các ông Líp-man,
Bu-ti, Moát-xăng để duyệt, văn bản công trình của mình: “Nghiên cứu các chất
phóng xạ”. Và, hiện tượng bất ngờ! Ma-ri mặc một cái áo mới màu đen bằng “lụa
pha len”. Nói cho đúng, bà chị Brô-ni-a đến Pa-ri trong dịp cô em bảo vệ luận
án đã kêu trời vì mấy mảnh quần áo nhẵn bóng của Ma-ri và khăng khăng kéo Ma-ri
vào một hiệu may. Chính Brô-ni-a đã hỏi giá cả, xem vải và quyết định những chỗ
phải sữa chữa, không hề để ý đến vẻ mặt cau có của em mình.
Brô-ni-a đã từng dẫn Ma-ri đi may mặc, cũng với một sự chăm
sóc ân cần, cảm động như vậy, vào một buổi sáng tháng sáu rực rỡ khác, không
kém phần long trọng. Cách đây hai mươi năm, năm 1883, cô bé Ma-ni-u-sa cũng mặc
đồ đen như bây giờ, miễn cưỡng nhận từ tay một nhân viên Nga hoàng chiếc huy
chương vàng của một trường trung học ở Vác-xô-vi…
Ma-ri Qui-ri đứng rất thẳng. Khuôn mặt xanh xao, dưới bộ tóc
màu nhạt chải ngược bồng lên, để lộ một vầng trán rộng, in mấy nếp nhăn li ti,
dấu hiệu cuộc chiến đấu mà bà đã thắng. Trong gian phòng đầy ánh sáng, các nhà
vật lý, các nhà hóa học ngồi chật ních. Phải kê thêm ghế: tầm quan trọng đặc biệt
của vấn đề sắp tới đã lôi kéo tất cả giới khoa học.
Cụ bác sĩ Qui-ri, Pi-e và Brô-ni-a, ngồi ở cuối phòng xen lẫn
với sinh viên. Gần đấy một nhóm các cô nói chuyện lao xao. Đó là những nữ sinh ở
Xe-vrơ, học trò của Ma-ri đến cổ vũ giáo sư của họ.
Ba ông giám khảo mặc lễ phục ngồi sau một cái bàn dài bằng gỗ
sên lần lượt đặt câu hỏi, Ông Bu-ti sau đến ông Líp-man - người thầy đầu tiên
có những cảm hứng tế nhị và cuối cùng ông Moát-xăng, mà bộ râu quá dài làm cho
mọi người chú ý. Thí sinh trả lời, giọng êm dịu, tay cầm phấn, thỉnh thoảng lại
vẽ lên bảng đen lược đồ một chiếc máy hoặc những dấu hiệu một công thức cơ bản.
Công trình nghiên cứu được trình bày bằng tiếng nói khô khan của kĩ thuật, và
những tính từ nhạt nhẽo. Nhưng trong đầu óc người nghe, già cũng như trẻ, thầy
cũng như trò, đang diễn ra một sự biến đổi mới. Lới nói lạnh lùng của Ma-ri trở
thành một hình ảnh nóng bỏng vô cùng phấn chấn: hình ảnh một trong những phát
minh lớn nhất của thế kỷ.
Các nhà bác học thường không thích hùng biện hoặc bình phẩm
dài dòng. Để phong cho Ma-ri danh hiệu tiến sĩ, các vị giám khảo trường Đại học
khoa học cũng lại dùng những lời lẽ hết sức giản dị, mà hai mươi năm sau, khi đọc
lại, vẫn thấy cảm kích sâu sắc.
Ông Líp-man, chủ nhiệm khoa, tuyên bố bằng câu nói đã thành
công thức:
- Trường Đại học Paris tặng bà danh hiệu Tiến sĩ khoa học vật
lý hạng xuất sắc.
Khi tiếng vỗ tay đã dứt, ông nói thêm, giọng giản dị, thân mật
và hơi rụt rè của một giáo sư Đại học già:
- Và nhân danh ban giám khảo, tôi xin gửi tới bà những lời
chúc mừng của chúng tôi.
Những cuộc thi trang nghiêm ấy, những buổi lễ trịnh trọng và
đơn giản ấy, dù thí sinh là một nhà nghiên cứu thiên tài hay chỉ là một người
làm việc cần cù, từ trước đến nay đều diễn ra như vậy, có phong thái và tính
cao quý của nó.
*
Trước đó ít lâu, Pi-e và Ma-ri có một quyết định, tuy đối với
họ không quan trọng lắm nhưng sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống sau này của hai nhà
bác học.
Trong quá trình tinh chế quặng pêch-blen và tách riêng chất
Ra-đi, Ma-ri đã sáng tạo ra một kĩ thuật và tìm ra một phương pháp chế biến.
Kể từ khi tác dụng chữa bệnh của Ra-đi được phổ biến, đâu đâu
người ta cũng tìm tòi các quặng phóng xạ. Nhiều nước muốn xây dựng nhà máy khai
thác quặng, nhất là Bỉ và Mỹ. Nhưng các nhà máy chỉ có thể sản xuất ra chất
“kim loại diệu kì” ấy, khi nắm được bí mật điều chế Ra-đi nguyên chất.
Chuyện này Pi-e nói với vợ vào một sáng chủ nhật, trong căn
nhà nhỏ ở đại lộ Kê-lec-man. Người đưa thư vừa đưa đến một cái thư từ Mỹ. Pi-e
đọc kĩ thư gập lại để trên bàn, và nói giọng bình thản:
- Phải bàn một tí về chất Ra-đi của chúng ta. Rõ ràng là công
nghiệp Ra-đi sẽ phát triển mạnh. Đây là một cái thư từ Ba-pha-lô[41] tới: một số nhà kĩ thuật muốn khai
thác Ra-đi ở Mỹ viết xin tài liệu.
- Thế thì sao? – Ma-ri lơ đãng hỏi.
- Ta có hai cách giải quyết. Một là mô tả tỉ mỉ tất cả các
nghiên cứu tìm tòi của chúng ta, không giấu gì hết, kể cả phương pháp tinh chế…
Ma-ri gật đầu tỏ vẻ đồng tình và khẽ nói:
- Cố nhiên.
Pi-e tiếp:
- Hai là ta có thể coi mình như những người chủ, những người
“sáng chế” ra Ra-đi. Nếu vậy, trước khi công bố cách chế hóa pếch-blen, em phải
lấy bằng sáng chế các kĩ thuật ấy để bảo đảm bản quyền của chúng ta về việc chế
tạo Ra-đi trên thế giới.
Pi-e cố sức mới trình bày câu chuyện cho khách quan. Giọng
nói thoáng một vẻ khinh thị kín đáo, khi nhắc đến những lời mà ông không quen
như “bằng sáng chế”, “bảo đảm bản quyền”.
Ma-ri suy nghĩ vài giây, rồi nói:
- Không được. Như thế trái với tinh thần khoa học.
Pi-e nhấn thêm:
- Anh cũng nghĩ thế, nhưng anh không muốn rằng chúng ta quyết
định vấn đề này một cách vội vàng. Cuộc sống của chúng ta khổ cực, e rằng còn
khổ cực nữa. Và chúng ta có một con gái… có thể còn những đứa con khác nữa. Đối
với con cái, đối với chúng ta, bằng sáng chế nghĩa là nhiều tiền, giàu có… đảm
bảo một cuộc sống đủ tiện nghi, không vất vả như hiện nay.
Rồi Pi-e mỉm cười nói tới điều duy nhất nếu thiếu đối với ông
thật là chua xót.
- Chúng ta lại còn có thể có một phòng thí nghiệm đàng hoàng.
Đôi mắt Ma-ri chăm chú, Ma-ri thoáng nghĩ đến quyền lợi, đến
những phần thưởng vật chất, nhưng gần như tức khắc, bà gạt bỏ ý nghĩ đó.
- Những nhà vật lý thường cho in trọn vẹn các công trình
nghiên cứu của họ. Nếu phát minh của chúng ta sau này có giá trị thương mại thì
đó là cái ngẫu nhiên mà chúng ta không thể lợi dụng. Và chất Ra-đi sắp được
dùng để chữa bệnh… không thể lạm dụng nó để mưu lợi.
Nào Ma-ri có hề định thuyết phục chồng. Pi-e chỉ nói đến bằng
sáng chế để khỏi ân hận mà thôi, bà rất biết thế. Những lời dứt khoát trên đây
là cảm nghĩ của hai người, là quan điểm không lay chuyển của họ về vai trò nhà
bác học.
Trong sự im lặng, Pi-e nhắc lại như một tiếng vang:
- Không, không thể được. Như thế trái với tinh thần khoa học!
Pi-e như trút được gánh nặng. Ông nói thêm, như đang giải quyết
một vấn đế chi tiết:
- Vậy chiều hôm nay, anh sẽ viết thư cho các kĩ sư Mỹ, cung cấp
cho họ mọi chi tiết cần thiết.
Hai mươi năm sau, Ma-ri viết:
“Đồng ý với tôi, Pi-e Qui-ri từ bỏ, không muốn tìm một lợi lộc
vật chất gì từ phát minh đó. Chúng tôi không lấy một bằng sáng chế nào và cho
in toàn bộ kết quả nghiên cứu của mình, kể cả phương pháp chế tạo chất Ra-đi.
Hơn nữa, còn cung cấp cho những người muốn hỏi, tất cả những chỉ dẫn cần thiết.
Việc này đã giúp ích rất nhiều cho công nghiệp Ra-đi phát triển, mới đầu ở Pháp
và ở các nước, cung cấp cho các nhà bác học và thầy thuốc những chất họ cần.
Cho đến nay, các phương pháp mà chúng tôi chỉ dẫn vẫn còn áp dụng hầu như không
thay đổi.
Công ty khoa học tự nhiên Ba-pha-lô có bảo chúng tôi làm kỷ
niệm một bản in nói về sự phát triển công nghiệp Ra-đi ở Mỹ, kèm thêm ảnh chụp
các bức thư của Pi-e Qui-ri trả lời tường tận từng câu hỏi của các kỹ sư Mỹ những
năm 1902-1993”.
Câu chuyện ngắn ngủi trên đây, diễn ra vào một sáng chủ nhật,
mười lăm phút sau Pi-e và Ma-ri đã vượt cổng Giăng-ti-i chắn đường xe lửa, đạp
nhanh về phía rừng cây bóng mát.
Giữa hai ngã đường, họ không màng giàu sang mà chọn cuộc sống
thanh bần.
Buổi chiều, họ trở về hai tay ôm đầy lá và những bó hoa đồng
nội.
Chú thích:
[41] Buflalo: một tỉnh ở Mỹ.
Ève Curie
Đào Trọng Từ dịch
Theo http://vnthuquan.net/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét