Hình tượng người phụ nữ
trong ''Mùa xa'' của Nguyễn Ngọc Yến
Đọc truyện Nguyễn Ngọc Yến ta gặp ở đây giọng văn đầy nữ tính. Chị viết cẩn trọng, thể hiện sự quan sát tinh tế. Một cây cầu già nua nơi bản vùng cao; một bến đò Hữu Bị chiều mùa đông vắng khách; một dãy phố miền sơn cước bung ra trong kinh tế thị trường hay đêm hát ca trù nơi quán Mộng Tiên…, tất cả hiện lên chân thực…
Tác giả Nguyễn Ngọc Yến trình làng tập truyện ngắn “Mùa xa” –
Nhà xuất bản Hội Nhà văn vào năm 2015. Đây là tác phẩm đầu tay của cây bút nữ
viết văn xuôi đầy triển vọng ở Yên Bái.
Mười hai truyện, với nhiều nhân vật và trạng huống khác nhau song tập trung vào khắc họa thân phận người phụ nữ thời kinh tế thị trường. Có lẽ xuất thân từ miền xuôi, đi học và lên miền núi công tác nên Nguyễn Ngọc Yến am hiểu và thông cảm với nỗi vất vả do cái nghèo mà chị em phải chịu đựng. Hầu các nhân vật nữ trong tập truyện đều có tình cảnh éo le. Một cô Liễu (Đêm nghiêng) phận mẹ góa con côi; một cô Nhi (Chòng chành) với cảnh gia đình không lo nổi cho một chỗ làm khi tốt nghiêp để phải đem đánh đổi tấm thân trinh trắng lấy chỗ dựa; rồi Lệ (Đò chiều) mồ côi mẹ từ nhỏ phải đi làm con nuôi mà “Bao nhiêu việc trong nhà Lệ đều phải làm. Từ chăn trâu, cắt cỏ, lấy rau khoai đến nấu cám lợn, làm cỏ trong vườn, ngoài đồng… việc gì cũng đến tay. Lệ thường hay bị đánh, mà đánh trận nào là chết đòn trận ấy“, đến chuyện tình duyên cũng bị ngăn trở. Đó là Kim với thưở ấu thơ “Hôm nào rảnh em lại cùng mẹ lên đồi đào măng mang xuống chợ đổi thức ăn. Suốt buổi sáng mới đào được sọt măng, nhưng phải nì nèo mãi hai mẹ con mới đổi được miếng mỡ bụng bèo nhèo bằng bàn tay và hai lạng cá khô đã bắt đầu lên mốc” (Nhạt). Hay Diên “Từ khi có kí ức thì cái nghèo, cái đói cứ đeo đẳng bám lấy đất này. Một năm vẫn hai mùa lúa, hai mùa nương nhưng thóc gạo chẳng bao giờ có đủ. Cứ ăn tết xong là cả bản vác rá sang nhà nhau vay gạo. Rồi chẳng nhà ai còn gạo để cho vay, người già trẻ con kéo nhau lên đồi đào củ mài, chặt cây đao, cây báng về giã, lọc bột làm bánh để ăn. Sắn nhiều hơn cơm, măng nhiều hơn thịt cá. Đàn bà, con gái cả ngày còng lưng trên nương tra ngô, trồng sắn. Đàn ông, trai tráng lên rừng xẻ gỗ bán lấy tiền” (Chiều buông)… Muốn thay đổi hoàn cảnh họ đã cố vượt lên song thân gái yếu ớt, lại thêm cuộc sống quá nhiều cám dỗ trì níu, du đẩy đến chỗ “liều nhắm mắt đưa chân”. Để có tiền và danh phận, cô sinh viên Diễm (Cafe tím) cặp bồ với “người đàn ông có vợ nhưng giàu sụ” và bị đánh ghen; Kim (Nhạt) đành xa quê lấy chồng nơi đất khách quê người sống cuộc đời tẻ nhạt. Còn Diên (Chiều buông) vì “muốn hưởng thụ cuộc sống, muốn bù lại những năm đói khổ triền miên suốt quãng đời thơ ấu” thì lại nâng lên thành một thứ triết lý “Với Diên lúc này tiền là tất cả. Đàn ông đối với Diên không cần trẻ, không cần đẹp, cũng không cần hiền lành, tử tế. Tiền sẽ làm cho tất cả những người đàn ông trước mặt Diên trở nên ga lăng, hào phóng – những thứ mà đàn ông quê Diên tuyệt đối không có, không dám có“. Cũng vì thế cuộc đời họ phải chịu nhiều bất hạnh. Nhân vật Nhi (Chòng chành) đau khổ khi phải “dứt bỏ mầm sinh linh mới hình thành trong cơ thể” và tìm quên lãng qua những cơn say. Lại càng xót xa, cay đắng khi phát hiện ra kẻ mà mình vừa dứt bỏ lại là cha đẻ của Phong- người tình đang sống “cuộc sống vợ chồng hờ“. Diên thì rơi vào cạm bẫy của sở khanh Dương “Sau khi quyết định bỏ cái thai được mười hai tuần tuổi, Diên nhợt nhạt xách túi đồ lên xe về quê“. Đối với nhân vật Em (Quyền lực, Không thể), Kim (Nhạt) lại chịu đựng cuộc sống tẻ nhạt trong vòng cương tỏa của thứ quyền lực vô hình đến nỗi mình không còn được là chính mình. Những nhân vật nữ ở nông thôn ngoài cuộc sống vật chất thiếu thốn còn khổ vì nạn bạo hành. Dì út (Mùa xa) chỉ vì cái tính “ghen bóng ghen gió” của đức ông chồng mà luôn chịu những trận đòn thừa sống thiếu chết “Có lẽ với chú, Dì chỉ là tấm giẻ lau trong nhà để chú quăng quật, nhưng chú cũng không chịu đựng được cảm giác có người khác dùng đến“. Ở hoàn cảnh khác, Lệ (Đò chiều) khổ từ tấm bé, tình yêu với Bang bị ông bố nuôi ích kỷ ngăn trở. Ngay đến việc về chịu tang bố còn bị dì ghẻ và các em cấu véo, hắt hủi.
Cứ tưởng những người phụ nữ đó cam chịu và khuất phục “Phận
đàn bà mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu“. Nhưng bằng tấm lòng cảm thương
sâu sắc, Nguyễn Ngọc Yến đã vực họ dậy và thổi vào tâm hồn khát vọng được sống,
được yêu. Nhân vật Diên (Chiều buông) sau cú vấp ngã “Lần đầu tiên trong đời
Diên nghĩ đến việc sẽ gắn bó với mảnh đất mà cô luôn nghĩ rằng đó chỉ là nơi cô
sinh ra chứ không thuộc về nó“.Và cô cũng nhận ra rằng “Mất một chân hay cả hai
chân đâu phải điều đáng sợ. Điều đáng sợ nhất là sự thiếu lành lặn trong tâm hồn”. Cũng
chính bởi điều đó mà Diễm- người đàn bà ngoại tình (Cafe tím) đã tỉnh ngộ và chủ
động cắt đứt mối tình tội lỗi “Tôi không muốn có lỗi thêm với Thụy. Tôi không
muốn đánh mất chút niềm tin mới nảy nở nơi Bảo với đàn bà. Tôi càng không muốn
mình là người phụ nữ cuối cùng mà Bảo căm ghét. Tôi muốn quá khứ của tôi mãi là
bí mật với cả Thụy và Bảo“. Còn Liễu (Đêm nghiêng) đã không vì bả vật chất
mà đánh mất phẩm giá con người; Ngân (Dấu ba chấm của tình yêu) sau mấy cuộc
tình đã tìm thấy tình yêu nơi người nhạc sĩ có hoàn cảnh éo le để “nhen lên những
cảm xúc mới trong lòng anh ấy“. Đẹp và nhân văn biết bao khi tác giả để cho Dì
út quay trở về với người chồng vũ phu vì không thể để bé Na mất đi ước mơ “Gia
đình mình mãi mãi hạnh phúc“; cùng cái kết có hậu cho mối tình Lệ – Bang (Đò
chiều) cho dù trước đó còn nhiều trắc trở. Lòng vị tha là phẩm hạnh vốn có ở
người phụ nữ Việt Nam cũng được tác giả chú ý khai thác như để khẳng định bản
chất nhân hậu của họ. Bên cạnh những bà Thoan, bà mẹ Dì út (Mùa xa) hiền lành,
cam chịu; Bà cụ Nải (Chiều buông) từ tâm là bà mẹ chồng Hà (Vết nứt) hiểu và
thương con dâu như con gái. Nhờ nó mà bao hạnh phúc “gương vỡ lại lành/ cây khô
cây lại đâm cành nở hoa”.
Đọc truyện Nguyễn Ngọc Yến ta gặp ở đây giọng văn đầy nữ
tính. Chị viết cẩn trọng, thể hiện sự quan sát tinh tế. Một cây cầu già nua nơi
bản vùng cao; một bến đò Hữu Bị chiều mùa đông vắng khách; một dãy phố miền sơn
cước bung ra trong kinh tế thị trường hay đêm hát ca trù nơi quán Mộng Tiên…, tất
cả hiện lên chân thực. Do vậy cảnh vật khi miêu tả luôn sinh động góp phần làm
nổi bật tình huống truyện cũng như nội tâm nhân vật. Đẹp làm sao một bóng trăng
yêu “Trăng lộng lẫy. Trăng sáng lóa. Hàng ngàn sinh linh, vạn vật cùng gió đang
quay cuồng nhảy những vũ điệu bất tử dưới trăng. Những sợi trăng vắt ngang qua
tán lá, chiếu vào em thứ ánh sáng diệu kỳ, mờ ảo…” (Dấu ba chấm của tình
yêu). Và nhạt nhòa thay ngôi nhà khi chủ nhân của nó sống cuộc sống quá ư tẻ nhạt
“Phơn phớt hồng, phơn phớt xanh, phơn phớt vàng, mỗi phòng sơn một thứ màu nhợt
nhạt và ngay cả thứ ánh sáng điện được lắp cho căn hộ cũng nhờ nhờ” (Nhạt). Mặt
mạnh này được Nguyễn Ngọc Yến phát huy trong toàn tập và tiếp tục ở những truyện
viết sau.
Thuộc lớp người viết trẻ được đào tạo khá bài bản, vốn kiến
thức nhà trường giúp tác giả có lối kết cấu truyện hiện đại, lời kể ngắn gọn mà
hàm ngôn “nối liền khoảng thời gian xa cách là những cuộc điện thoại vuốt ve sự
đỏng đảnh của một người đàn bà mà ông dành cho cô” (Không thể). Hay “Tiền
có thể đến ồ ạt nhưng văn hóa chỉ thấm từng giọt” (Ca nương).Tuy vậy cách nói
dân dã, những làn điệu dân ca cũng được triệt để khai thác làm nên sự bình dị,
gần gụi với nhiều đối tượng bạn đọc “Đi xa con phải giữ mình như con suối, như
cây chò đầu bản, sau này mới thành người tử tế, lành lặn được con ạ” (Chiều
buông)…
Gần đây truyện ngắn có xu thế người viết dường như không bị lệ
thuộc vào cốt truyện mà chỉ mượn chuyện để chuyển tải tư tưởng. Ở Nguyễn Ngọc Yến,
một số truyện đã vượt qua được cái nghĩa thông thường, dẫn dắt bạn đọc suy ngẫm
về những vấn đề nhân sinh sâu sắc. Đó là hệ lụy của lối sống buông thả, sự rạn
nứt của kết cấu gia đình trong xã hội hiện đại, vấn đề bảo tồn di sản văn hóa
dân tộc khi đất nước mở cửa hội nhập. Truyện “Ca nương” có thể coi là một thành
công trong những số đó. Bối cảnh câu chuyện là quán Mộng Tiên “nơi gặp gỡ,
đi về của những tao nhân mặc khách yêu và mến mộ ca trù“. Nhân vật Huy, một
doanh nhân thành đạt “từng đi du học, công tác nhiều nước trên thế giới, tiếp
xúc với đủ các trào lưu, phong cách âm nhạc, nhưng không hiểu sao Huy cứ nặng
lòng với thứ âm thanh xưa cũ, với món hương hỏa mà tổ tiên để lại“. Mà không chỉ
riêng Huy, đời ông, đời cha anh cũng từng mê hát ca trù. Phải chăng đây là cái
duyên tiền định, một sự nối tiếp truyền thống. Anh đã gặp Sương, một ca nương của
quán và si mê “tiếng hát đầy mê hoặc, ám ảnh diễn tả một cách tinh tế nhất cái
tình của Huy trong mỗi bài hát“. Tình yêu của anh với nàng, với tiếng hát “...là
tình yêu thiêng liêng, tình yêu của một tín đồ với thứ nghệ thuật bác học vào
loại bậc nhất trong nền âm nhạc cổ truyền mà Huy tôn sùng“. Song kết quả tình
yêu lại là cái kết bi thương, Sương sinh ra một đứa trẻ tật nguyền không hộp sọ.
Dù lý giải bằng yếu tố di truyền “những người phụ nữ trong dòng họ Sương khi lấy
chồng đều sinh ra ít nhất một đứa trẻ không lành lặn” nhưng phía sau câu chuyện
là thông điệp: bản sắc văn hóa dân tộc phải được giữ gìn và phát huy nếu không
sản phẩm của nó chỉ là những thứ dị dạng, không bình thường.
Với thời gian, bút lực của Nguyễn Ngọc Yến ngày càng dồi dào.
Mong rằng cuộc sống phong phú sẽ rộng mở tầm nhìn để tác giả mạnh dạn đi sâu
vào những vấn đề xã hội quan tâm và có nhiều tác phẩm tốt đáp ứng yêu cầu của bạn
đọc.
15/9/2021
Thế Quynh
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét