Đọc lại trường ca của Hữu Thỉnh:
"Chúng tôi làm thơ ghi lấy
cuộc đời mình"
Kỷ niệm 46 năm thống nhất đất nước, tôi muốn trở
lại với một hiện tượng đặc biệt của Văn học Việt Nam hiện đại: sự nở rộ các trường
ca trong những năm 70 – 80 của thế kỷ XX.
Trong đó, 3 trường ca Sức bền của đất, Đường tới thành
phố và Trường ca biển được Hữu Thỉnh viết trong vòng 20 năm
(1975-1995). Nghĩa là viết sau chiến tranh, nhưng bối cảnh cuộc chiến vẫn vẹn
nguyên trong vùng ký ức, cùng “quán tính” thời gian vẫn chảy miết, khắc chạm
trong cuộc sống hòa bình hôm nay.
Nhà thơ Hữu Thỉnh vừa về hưu sau nhiều năm làm Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam.
“Cuộc sống lớn lao bi tráng quá”
Trong khoảng thời gian từ những năm 70 đến những năm 80 của
thế kỷ trước, sự nở rộ của hàng loạt trường ca (gần 100 trường ca) được coi là
một hiện tượng đặc biệt của văn học Việt Nam hiện đại. “Nhà thơ không trường ca
khác nào nhà vua không vương miện” (Mã Giang Lân – Tiến trình thơ hiện đại
Việt Nam).
Hữu Thỉnh đã cắt nghĩa căn nguyên đến với thể loại trường ca
trong lời tự bạch chân thành “Cuộc sống lớn lao bi tráng quá, đòi hỏi phải mở rộng
các kích cỡ”. Điều này có lẽ cắt nghĩa thuyết phục cho sự xuất hiện của trường
ca của thế hệ nhà thơ chống Mỹ với những tên tuổi, như: Nguyễn Khoa Điềm với Mặt
đường khát vọng; Hữu Thỉnh chọn Đường tới thành phố; Thanh Thảo cùng Những
người đi tới biển; Nguyễn Đức Mậu đến với Trường ca sư đoàn; Nguyễn
Trọng Tạo đến với Con đường của những vì sao; Y Phương với Chín tháng
và Đò trăng; Nguyễn Thái Sơn tái hiện Chiến tranh chín khúc tưởng niệm…
Xuất hiện và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống xâm lược,
thế hệ nhà thơ ý thức rất rõ vai trò, trách nhiệm vẻ vang và con đường đi của
mình, trực tiếp cầm bút viết về thế hệ mình chủ động, sáng tạo một “biên niên sử”
như chính Hữu Thỉnh đã viết trong Đường tới thành phố: “Không có sách
chúng tôi làm ra sách/ Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình”
Với Hữu Thỉnh, tập thơ đầu tay Âm vang chiến hào in
chung cùng Lâm Huy Nhuận năm 1976 và giải thưởng qua hai cuộc thi thơ do báo Văn
nghệ tổ chức (năm 1972-1973 với Mùa xuân đi đón; năm 1975 – 1976 với Chuyến
đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất như một bước chuẩn
bị, tập dượt để trường ca Đường tới thành phố và Trường ca biển ra
đời bề thế, khẳng định phong cách, bút pháp thơ Hữu Thỉnh.
Với trường ca Sức bền của đất, Hữu Thỉnh viết sau phút
đón giao thừa Tết Ất Mão 1975 tại một Tiểu đoàn xe tăng (Lữ đoàn xe tăng 273 –
đơn vị hai lần Anh hùng). Lúc đó đơn vị trong tư thế tấn công giải phóng thị xã
Kon Tum trong Chiến dịch Hồ Chí Minh. Anh viết một mạch từ đêm giao thừa năm
trước, sang trọn vẹn cả ngày mùng 1 Tết Nguyên đán và vắt sang nửa ngày mùng 2
Tết. Người lính xe tăng chép vào sổ tay, cất vào balo và mở ra xem lại đúng
ngày 30/4/1975 toàn thắng.
Hân hoan niềm vui chiến thắng, anh gửi báo Văn nghệ và giải A
của cuộc thi này với trường ca Sức bền của đất và Chuyến đò đêm
giáp ranh đã có tên Hữu Thỉnh. Để phù hợp thể lệ cuộc thi, anh đã tự rút bớt
lượng câu chữ và sau đó 20 năm trường ca này mới được in trọn vẹn. Ngoài phần
khôi phục lại những phần đã cắt, nhà thơ đã chỉnh sửa, bổ sung thêm một số câu,
đoạn mà trong hoàn cảnh chiến tranh đã chưa kịp viết.
Trải nghiệm cả cuộc đời ở chiến trường
Trường ca Đường tới thành phố được hoàn thành tại
Trại sáng tác Đà Lạt tháng 8/1977 và được hoàn thiện vào tháng 4 năm sau. Có thể
nói đây là trải nghiệm cả cuộc đời người lính ở các chiến trường, để sau 2 năm
miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, nhà thơ – chiến sĩ đã hoàn thành tâm
nguyện trả nghĩa, tri ân với đồng đội và sự hy sinh anh dũng của cả dân tộc cho
tới ngày chiến thắng.
Trường ca Đường tới thành phố đã tổng kết lại cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước khốc liệt mà hào hùng; gian khổ, hy sinh, thấm đượm
nghĩa tình mà thắng lợi vẻ vang.
Đường tới thành phố dài 1609 câu, kết cấu theo 5 chương
chặt chẽ và trong từng chương lại chia thành từng khúc theo liên kết logic, hợp
lý nhằm làm nổi bật chủ đề.
Cũng như thế hệ mình, anh có điều kiện miêu tả sự hy sinh một
cách chân thật, thấm thía ở cự ly gần. Có thể gặp những chi tiết trùng hợp về
hy sinh của người lính, nhưng mỗi nhà thơ vẫn có cách khai thác riêng từ những
trải nghiệm cá nhân. Có mặt giữa chiến trường, Hữu Thỉnh có điều kiện ghi lại
cuộc chiến đấu bằng trải nghiệm thực tiễn, những tên đất, tên người được định
danh khá cụ thể (đây là điểm mạnh so với thế hệ đàn anh). Những cái tên đồng
chí, đồng đội, mảnh đất, tên làng… được ghi lại chân thực bằng “ký sự thơ”. Nhà
thơ như một nhà quay phim với cú máy lia đặc tả. Đó là người xạ thủ trung liên:
– Lưỡng quyền cao đen một nốt ruồi
Đang chở che, đang âu yếm mọi người
Tiếp thêm củi bằng bàn tay thô nháp
Những ngón bằng như cây bài tam cúc
Từng bàng hoàng trên mái tóc người yêu
Là người Tư lệnh:
– Hai mươi năm anh khó nhận ra mình
Người trong ảnh bây giờ là Tư lệnh
Khoảng cách giữa anh và bức ảnh
Có bao quãng đường những bà mẹ tiễn con
…Những chiếc xe tăng đòi anh nguyên vẹn
Những vết thương đòi anh lành lặn
Và anh
Ý nghĩ lăn qua viên đạn cuối cùng
Trong một trận đánh cần nhanh chóng tạo ra một “cửa mở”, người
lính bộc phá viên giỏi toán đã không do dự Bước chân anh không do dự nửa vời/ Cửa
mở/ Anh không chọn cho mình nơi che chắn nào hơn. Dẫu biết “dây càng ngắn, khoảng
an toàn càng ngắn” và “nguy hiểm cũng nhiều hơn”, nhưng anh đã quyết định cho cửa
mở để đồng đội đi tới chiến công và “Cắt ngắn từng đoạn dây cháy chậm”…
Chống gối bò lên đất vùi choáng ép
Nhưng lần sau vẫn không thể dài thêm
Từ cửa mở đến bộc phá viên
Khoảng cách ấy là chân dung tự họa
Và anh thêu trên ngực áo của mình
Người lính đã lý giải sức mạnh từ những câu thơ, từ những
trang sách:
Mỗi quyển sách nặng bằng năm viên đạn
Chúng tôi đành mang đạn trước tiên
Không có sách chúng tôi làm ra sách
Chúng tôi làm thơ ghi lấy cuộc đời mình
– Chúng tôi sưởi trên những câu thơ ấy
Cứ thế qua đi nhiều mùa mưa
Và chúng tôi làm thơ…
Với người lính, trong trận chiến sinh tử với kẻ thù, đất nước
có thể chỉ là một mảnh đất cằn nơi giáp ranh, là một “gốc sim cằn” nơi tranh chấp
và người lính bằng mọi giá bảo vệ màu tím như “mực rớt” kia đã “bò lên với trái
tim tình nguyện”, vì “trước mặt là Tổ quốc”. Người lính hiểu giá trị của từng tấc
đất ở chiến trường và phải giành gịât với kẻ thù: “Nhưng trời ơi nếu kẻ thù chiếm
được/ Một gốc sim thôi, dù một gốc sim cằn/ Thơ ơi thơ hãy ghì lấy gốc sim/ Anh
đang bò về phía gốc sim”.
Chi tiết “nắm cơm” của người lính như một tín hiệu hiện thực
được mỗi nhà thơ cảm nhận theo lối riêng. Hữu Thỉnh miêu tả nắm cơm “cháy thành
than” của người chiến sĩ xe tăng, gợi nên nỗi ám ảnh khôn nguôi: “Có nắm cơm đã
cháy thành than/ Đen chỉ còn một nửa/ Có dấu tay in lõm vào trong/ Ngón tay to
bè của đồng chí lái/ Các anh ăn nửa bữa trong ngày/ Phần để dành/ Làm ta day dứt
mãi”.
Vượt qua những khó khăn, gian khổ, người chiến sĩ đến gần
ngày chiến thắng, con đường đang tiến đến thành phố mang tên Bác. Người lính giữa
“Sài Gòn trưa ba mươi, tháng Tư”, bên mình còn xanh “lá ngụy trang” đã “hòa vào
giữa biển người vàng sao”. Mong ước được trở về với mẹ đau đáu tâm can, mong tiếng
hát thỏa nỗi mong chờ, nhưng chỉ trước đó thôi, người chiến sĩ đã “giao hẹn” với
mẹ: “Con sẽ trở về nếu vượt qua đêm nay”. Mọi điều đều có thể, khi sự sống, cái
chết chỉ trong gang tấc. Biết bao sự sự hy sinh khác có thể đến trước giờ chiến
thắng chỉ trong giây phút, người lính hiểu “Nếu sáng mai anh nhìn thấy cỏ/ Tức
là anh nhìn thấy mẹ và em”.
Hữu Thỉnh là một trong những gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ chống Mỹ. Trường ca Đường tới thành phố đã thể hiện bước phát triển trong tư duy và nghệ thuật của ông với những đóng góp lớn về nội dung, nghệ thuật; góp phần hòa chung tiếng thơ vào dòng chảy thơ ca Việt Nam hiện đại.Nói như nhà thơ Ngô Thế Oanh “Những trường ca của Hữu Thỉnh khiến ta nhớ đến một nhận xét giàu chiêm nghiệm: Những nhà thơ lớn là những nhà thơ luôn làm chủ được cảm xúc tự nhiên của nhịp điệu lịch sử”.
Vài nét về nhà thơ Hữu Thỉnh
Nhà thơ Hữu Thỉnh tên khai sinh là Nguyễn Hữu Thỉnh; bút
danh: Vũ Hữu, Ngôn Thanh. Ông sinh ngày 15/02/1942 tại làng Phú Vinh, xã Duy
Phiên, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúctrong một gia đình nông dân có truyền thống
học hành. Sau hoà bình lập lại (1954), ông mới thực sự được đi học. Năm 1963, tốt
nghiệp phổ thông, Hữu Thỉnh tham gia quân đội. Đơn vị nhập ngũ đầu tiên là
Trung đoàn 202 Binh chủng Tăng – Thiết giáp. Ông chiến đấu tại các chiến trường
Khe Sanh, Đường 9 – Nam Lào (1970-1971); Quảng Trị (1972); Tây Nguyên và chiến
dịch Hồ Chí Minh (1974-1975). Năm 1976, học Trường Viết văn Nguyễn Du (khoá I)
Trường Đại học Văn hóa; Lớp bồi dưỡng cao cấp Học viện Văn học quốc tế mang tên
Gorki (1987).
Hữu Thỉnh trải qua nhiều vị trí công tác. Năm 1981, là cán bộ
biên tập, Trưởng ban Thơ, Phó Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội. Từ 1990
chuyển ngành ra Hội Nhà văn Việt Nam. Đến 2020 giữ các cương vị: Tổng biên tập
tuần báo Văn nghệ, Tổng biên tập tạp chí Thơ; tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà
văn Việt Nam (từ khóa 3 đến khóa 9), Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam (2000-2020);
Đại biểu Quốc hội (khóa X và khóa XI); Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa Quốc
gia; Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương; Bí
thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam (2020), Chủ tịch Uỷ ban toàn quốc
Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam (khóa 8, 9).
Tác phẩm đã xuất bản:
– Thơ: Âm vang chiến hào (1976, in chung với Lâm
Huy Nhuận), Khi bé Hoa ra đời (1985, thơ thiếu nhi, in chung), Tiếng
hát trong rừng (1985), Thư mùa Đông (1994), Thơ Hữu Thỉnh (1998,
thơ tuyển), Thương lượng với thời gian (2005), Hoang dại dưới trời (2010,
thơ chọn), Ghi chú sau mây (2020).
– Trường ca Đường tới thành phố (1979), Từ chiến
hào tới thành phố (1985), Trường ca Biển (1994), Sức bền của
đất (2004), Trăng Tân Trào (2016)
– Bút ký – Truyện ngắn: Mùa xuân trên tháp pháo (2009)
– Tiểu luận phê bình: Lý do của hy vọng (2010), Bến
văn và những vòng sóng.
Giải thưởng: Giải ba cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1972-1973 với bài thơ Mùa xuân đi đón);Giải A cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1975-1976 với bài thơ Chuyến đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 với trường ca Đường tới thành phố; Giải nhất của Bộ Đại học – Trung học – Chuyên nghiệp và Trung ương Đoàn năm 1991 với bài Thưa thầy; Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 với tập thơ Thư mùa đông; Giải thưởng văn học ASEAN năm 1999 (Thư mùa đông); Giải xuất sắc của Bộ Quốc phòng năm 1994 với Trường ca biển; Giải A Cuộc vận động sáng tác văn học nghệ thuật về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2020 với trường ca Trăng Tân Trào. Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (đợt I, 2001); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 4, 2012).
1/5/2021
Lê Thị Bích Hồng
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét