Khoảng đầu Công nguyên cùng với sự xuất hiện của đế chế nhà Hán hùng mạnh, nền
văn minh Hán bùng nổ ra xung quanh, thu hút các nền văn minh bên cạnh tạo thành
một vùng văn hoá rộng lớn, sau này người ta gọi nó là “Khu vực Văn hoá chữ Hán”
hay vùng văn hoá Đông Á. Việt Nam và Nhật Bản đều gia nhập Khu vực văn hoá chữ
Hán vào thời gian này, vì thế cùng với bán đảo Triều Tiên, các nước trong khu vực
đều có chung một mô hình văn hoá, tư tưởng: Nho, Phật, Đạo và tín ngưỡng thờ Thần
bản địa. Riêng về Nho giáo, Nho giáo chi phối các nước trong khu vực từ khá sớm
và càng về sau ngày càng mạnh, chiếm một phần quan trọng trong văn hoá – tư tưởng
mỗi nước. Việc tìm hiểu Nho giáo của từng nước và so sánh Nho giáo giữa các nước
để tìm ra những đặc điểm riêng có tính chất “tiếp biến” là một việc làm cần thiết
nhằm tăng cường sự hiểu biết trong khu vực, đồng thời cũng hiểu rõ hơn bản thân
dân tộc ta.
Gần đây ở nước ta việc tìm hiểu Nho giáo Nhật Bản cũng đã được
quan tâm nhiều hơn trước, tuy nhiên cũng chưa có công trình nào chuyên biệt đi
sâu vào vấn đề này, xứng đáng với vấn đề mà nó đòi hỏi. Bài viết này bước đầu
đi vào tìm hiểu một cách hệ thống với những nét khái quát: trước hết là quá
trình du nhập và phát triển của Nho giáo ở Nhật Bản, sau đó so sánh với Việt
Nam để tìm những đặc điểm nổi bật trong Nho giáo Việt Nam và Nhật Bản.
1. NHO
GIÁO NHẬT BẢN :
1.1. Nho
giáo du nhập vào Nhật Bản:
Cổ sự ký 古事記 và Nhật Bản thư kỷ日本書紀, hai
bộ sử tối cổ của Nhật Bản (TK.VIII) có ghi chép về sự kiện Nho giáo truyền
vào Nhật Bản: Vào TK.V, thời Ứng Thần thiên hoàng/ Ojintennnô応神天皇, vua nước
Bách Tế 百済([1]) là
Tiêu Cổ/ Shôko肖古 có phái sứ giả là Achigi/ A Trực Kỳ阿直岐 dâng
hai con ngựa tốt. Thấy Achigi đối đáp nhanh nhẹn, tỏ ra thông tuệ, Thiên hoàng
hỏi: “Trong nước Bách Tế có ai giỏi hơn ngươi không?”. Achigi trả lời rằng có,
người tên là Vương Nhân/ Wani 王人. Triều đình Nhật Bản bèn cho mời
Vương Nhân sang. Vua nước Bách Tế bèn dâng Vương Nhân cùng với 10 quyển Luận
ngữ 論語và 1 quyển Thiên tự văn 千字文. Vương Nhân dạy cho
Thái tử Uji no Wakiiratsuko/ Thố Đạo Trĩ Lang Tử菟道稚郎子kinh điển Nho gia. Câu
chuyện này thường được coi là cái mốc chính thức đánh dấu sự truyền bá Nho giáo
vào Nhật Bản. Tuy nhiên trong thực tế Nho giáo có thể đã vào sớm hơn. Ở phía Bắc
bán đảo Triều Tiên có hai quận Lạc Lãng/ Rakurô 楽浪, Đới Phương 帯方 thuộc
hệ thống văn hoá Hán, Ngụy, đó là loại văn hóa sau khi Hán Vũ Đế dùng Nho giáo
làm quốc giáo. Sau khi hai quận ấy diệt vong, nhiều người Trung Quốc ở đấy đã
phân tán vào các địa phương ở Triều Tiên, rồi bằng nhiều con đường khác nhau họ
đã đến Nhật Bản. Vì thế sẽ không có gì ngạc nhiên khi biết rằng hai dòng họ
chuyên lo về văn thư ở Nhật Bản là Yamato no fumi/ Đông Văn東文 có gốc là
người Trung Quốc ở quận Đới Phương; và dòng họ Kawachi no fumi/ Tây Văn西文 lại
là hậu duệ của những nhà nho ở Bách Tế.
Từ thế kỷ VI trở đi, các “Ngũ kinh bác sĩ” (học giả về ngũ
kinh) đến Nhật Bản khá đông. Theo Nhật Bản thư kỷ thì vào năm
thứ 7 Kế Thể thiên hoàng/ Keitai tennô 継体天皇 (năm 513), để được công
nhận quyền sở hữu đất Kỷ Vấn/ Komon己汶 - vùng đất đang tranh chấp với
Nhiệm Na/ Mimana 任那, nước Bách Tế đã cử sứ giả đến Nhật Bản cống Ngũ kinh
bác sĩ Đoàn Dương Nhĩ 段 楊爾 (Tan Yô Ni), nhờ thế đã được triều
đình Nhật Bản công nhận quyền sở hữu ở đó. Năm 516 Bách Tế lại cử sứ giả
sang cống Ngũ kinh bác sĩ Hán Cao An Mậu/Aya no Kôanmo漢高安茂 để đổi lại Đoàn
Dương Nhĩ. Lúc này nước Bách Tế có quan hệ mật thiết với Nam Triều của Trung Quốc,
tiếp thu khá nhiều văn hóa đương thời của họ, cho nên loại Nho học mà nhóm Đoàn
Dương Nhĩ đã truyền vào Nhật Bản là Nho học Lục Triều. Tình hình ấy vẫn tiếp tục
trong một thời gian dài sau đó.
Vào thế kỷ VII lần đầu tiên người ta thấy xuất hiện những sử
liệu ghi lại rõ ràng những ảnh hưởng của Nho giáo vào Nhật Bản, ví như trong 12
cấp quan vị và trong Hiến pháp 17 điều 憲 法 七 条 (Kenpô
jùshichi jô) do nhà cách cách vĩ đại Shôtoku Taishi/ Thánh Đức Thái Tử 聖徳太子 (574
- 622) soạn thảo. Trong đó có thể thấy những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo ở
khá nhiều điều. Ví dụ:
- Điều 1 nói về Hoà và Trung Hiếu: “Lấy Hoà làm
quý, không hành động ngỗ ngược. Mọi người đều có bè đảng thì khó đạt được đạo,
cho nên sẽ không biết hiếu thuận theo đạo Vua – Cha, lỗi đạo với xóm
giềng. Cần phải hoà mục trên dưới, nhẹ nhàng bàn bạc thì mọi chuyên sẽ thông suốt,
việc gì chẳng thành tựu.”
- Điều 4 nói về Lễ: “Quần thần thuộc hạ lấy Lễ làm
gốc. Cái gốc của việc trị dân chính là ở Lễ. Trên phi Lễ, dưới chẳng theo; dưới
phi Lễ ắt có tội. Cho nên quần thần giữ Lễ, vị thứ bất loạn; trăm họ giữ Lễ, quốc
gia trị yên”
- Điều 9 nói về Tín - Nghĩa: “Tín là gốc của Nghĩa,
mọi việc đều phải giữ Tín. Thiện ác thành bại chủ yếu ở Tín. Quần thần giữ Tín,
việc gì chẳng thành? Quần thần bất Tín, mọi việc đều bại.”([2])
Có thể thấy lúc đầu Nho giáo không phổ biến nhanh chóng như
Phật giáo mà chỉ hạn chế trong một bộ phận nhất định của giới thượng lưu.
Nguyên nhân trước hết là do phương thức học tập dựa trên sự truyền thụ cá nhân
nên việc học chỉ phổ biến cho hoàng gia và một số người trong triều; thứ hai là
do Nho giáo đương thời chú trọng đến cái học huấn hổ, nên nó chỉ phù hợp với
ngưòi có học vấn cao. Từ sau cuộc cải cách thời Đại Hoá (Đại Hoá cải tân 大化改新,
năm 646), Nhật Bản mô phỏng theo chế độ luật lệnh của nhà Tuỳ, Đường thì
Nho giáo chiếm vị trí quan trọng hơn: trở thành tư tưởng chính trị quốc gia và
là kiến thức bắt buộc đối với những người tham chính.
Năm 710 triều đình Nhật Bản thiên đô đến Bình Thành
kinh 平城京(Heijô kyô, tức Nara奈良). Xây dựng theo mô hình Trường An của nhà
Đường, Nara đã mở ra thời kỳ tập quyền của chế độ phong kiến Nhật Bản. Thời Nara
kéo dài gần một thế kỷ, sau đó triều đình dưới sự điểu khiển của Tể tướng
Fujiwara藤原 đã đời đô đến Heian/ Bình An平安. Thời Heian được gọi là thời
quí tộc, vì đó là thời kỳ dòng họ quí tộc Fujiwara nắm chính quyền, thiên hoàng
chỉ là hư vị, dòng họ này đã gây ảnh hưởng lên triều đình bằng quyền lực ngoại
thích (họ ngoại của vua) và bằng trình độ văn hóa cao của mình.
Triều đình rất chú trọng học tập văn hóa Trung Hoa: thường
xuyên cử các đoàn Khiển Đường sứ遣唐使sang Trường An. Trong khoảng gần 200 năm từ
thời Nara đến đầu thời Heian - khi tạm bãi bỏ Khiển Đường sứ (năm 894) -
có đến 18 đoàn được cử sang chính thức. Mặc dù vượt biển Nhật Bản trong điều kiện
lúc bấy giờ là cực kỳ gian nan nguy hiểm, nhưng số người tham gia lưu học ở
Trung Quốc vẫn rất đông, có đoàn trên 550 người.
Về phương diện tư tưởng, thời Sơ kỳ trung đại ở Nhật Bản (thời Nara và Heian) cả
ba tư tưởng Nho, Phật và Thần đạo đều cùng tồn tại, trong đó Phật giáo được coi
như Quốc giáo. Nho giáo vẫn được sử dụng, nhưng phạm vi của nó rất hẹp, không
ra khỏi tầng lớp quý tộc và tăng sĩ. Nơi nghiên cứu và giảng dạy Nho giáo một
cách bài bản nhất là Đại học liêu 大學寮 do Thức Bộ Tỉnh 式部省 (bộ
Lễ) tổ chức. Đại học liêu dành cho con em quý tộc từ ngũ vị, đôi khi là bát vị
(trong 12 cấp quan vị) trở lên và con em dòng họ Sử Đông Văn/ Yamato no
fumi 東文, dòng họ truyền đời lo về văn thư giấy tờ của triều đình Nhật Bản
từ nhũng năm mới thành lập. Nội dung học tập được quy định khá phức tạp và có
ít nhiều thay đổi, tuy nhiên ổn định nhất thì có 4 ngành – gọi là “Tứ đạo” của
đại học: Kỷ Truyện 紀伝(sử Trung Quốc), Văn chương文章, Minh kinh 明経(Nho
giáo), Minh pháp 明法(pháp luật), Toán đạo算道(Toán). Thức Bộ tỉnh sẽ tổ chức
sát hạch, thí sinh nào đạt tiêu chuẩn sẽ được bổ nhiệm làm quan, một số khác tiếp
tục học lên bác sĩ (tiến sĩ). Trong “Tứ đạo” thì Minh kinh đạo 明経道 chuyên
dạy về Nho giáo. Sách “Tất tu” bắt buộc phải học là Luận ngữ, Hiếu
kinh, còn lại người học có thể chọn một trong 7 sách để học tập: Chu
dịch, Thượng thư, Lễ ký, Chu lễ, Nghi lễ, Thi kinh, Tả truyện. Nhưng
chế độ khoa cử thực sự như nhà Tuỳ, Đường Trung Quốc không được du nhập vào Nhật
Bản, nên Nho giáo không phát triển được, nó có khuynh hướng ngả sang “Văn
chương đạo” 文章道- một ngành học thuật thuần tuý, rồi từ đó suy thoái dần.
Nho giáo cùng với Đạo giáo còn bị Phật giáo công kích dữ dội. Đại sư
Không Hải / Kùkai 空海([4])
đầy uy vọng đầu thời Heian mới du học từ Trung Quốc về viết sáchTam giáo chỉ quy 三教指帰,
trong đó Đại sư khẳng định chỉ có Phật giáo mới là đạo tốt nhất trong tam giáo
mà thôi. Điều ấy càng làm cho người Nhật tin vào Phật giáo và lạnh nhạt với Nho
giáo, Đạo giáo.
1.3. Nho
giáo Trung kỳ trung đại ở Nhật Bản (thời Kamakura và Muromachi, TK.XII –
TK.XVI):
Thời Kamakura/ Liêm Thương鎌倉 và Muromachi/ Thất
Đinh 室町 có nhiều điểm giống nhau về mặt văn hóa xã hội, nên các nhà sử
học thường gọi chung là thời Trung thế, với ý nghĩa là giai đoạn điển hình nhất
của thời kỳ phong kiến.
Năm 1192, tướng quân Minamoto Yoritomo 源頼朝 trở
thành người chỉ huy quân đội với chức Chinh Di đại tướng quân 征夷大将軍, mở
mạc phủ ở Kamakura鎌倉, một thị trấn nhỏ phía nam Tokyo東京 hiện nay. Trung
tâm quyền lực của Nhật Bản cũng theo Yoritomo mà chuyển từ Kyoto 京都về đó.
Dòng họ Hôjô nắm quyền thay cho họ Yoritomo, rồi đến lượt nó, đầu thế kỷ XIV,
họ Hôjô 北条suy yếu và bị Ashikaga Takauji足利 尊氏cử binh đánh bại.
Takauji trở thành Tướng quân và dời mạc phủ về Muromachi室町, gần Kyoto京都, tiếp tục
chi phối thiên hoàng.
Đây là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của Thiền tông, một tông
phái sẽ có tương lai rộng rãi và có sức ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa Nhật Bản.
Từ thời Kamakura, giai tầng võ sĩ đã trở thành một giai tầng đặc biệt trong xã
hội Nhật Bản với quan niệm đạo đạo đức riêng của mình, gọi là “Võ sĩ đạo”.
Việc học tập Trung Hoa sau nhiều thế kỷ bị cắt đứt, nay
lại bắt đầu được tiếp tục. Nho giáo vẫn chỉ dừng lại là học vấn trong nhà chùa,
sau đó là các học phái ở một số phiên phương Nam. Những ngườitiên
phong trong việc truyền bá Chu Tử học 朱子学là các nhà nho trốn tránh
ách thống trị của nhà Nguyên, từ Nam Tống đến Nhật.
Đời sống trí thức Kamakura và Muromachi tập trung ở năm ngôi
chùa quyền uy nhất ở Kamakura và Kyoto gọi là Kamakura Ngũ sơn鎌倉五山, Kyoto Ngũ
sơn京都五山([5]).
Nhà chùa nghiên cứu và giảng dạy Chu Tử học như một môn học bắt buộc không phải
nhằm tuyên truyền cho tư tưởng này, mà nhằm chống lại chủ trương “Bài Phật” của
Chu Hy. Năm 1299 sư nhà Nguyên là Nhất Sơn Nhất Ninh 一山一寧 (Issan
Ichinei)([6]) lần
đầu tiên chú dịch sách Chu Tử học. Từ Kamakura, Kyoto Ngũ sơn mà Chu
Tử học lan truyền ra bên ngoài. Xã hội Nhật Bản lại tiếp thu nó với mục đích
khác.
Thiên hoàng Godaigo/ Hậu Đề Hồ 後醍醐天皇là nhà chính trị sớm
biết giá trị của Chu Tử học trong việc giáo dục lòng Trung quân, nên rất nhiệt
tâm trong việc khuyến khích Chu Tử học phát triển. Cho nên trong những hoạt động
cố gắng giành lại quyền lực cho dòng họ thiên hoàng thời Nam Bắc triều với
nền tân chính Kiến Vũ, người ta cho rằng ông đã dựa vào Chu Tử học để cố kết
nhân tâm. Tuy nhiên cố gắng của Godaigo cũng không kéo vãn được tình thế, ông mất
trong khi Kinh đô vẫn còn nằm trong tay dòng họ Tướng quân Ashikaga.
Nói chung trong bối cảnh hỗn loạn từ cuối thời Muromachi đến
Chiến quốc người Nhật tìm đến Chu Tữ học trước hết là mong muốn tìm ở đây một học
thuyết có thể phân định được ngôi thứ, ràng buộc được nhân tâm, từ đó chấm dứt
cảnh loạn lạc liên miên hàng trăm năm qua. Những học giả Chu Tử học phái nổi bật
trong giai đoạn này là :
- Keian Genju/ Quế Am Huyền Thụ 桂庵玄樹 (1427 - 1508):
nhà sư Lâm Tế Tông cuối thời Muromachi. Lúc đầu học ở Nam Thiền Tự (một trong 5
ngôi chùa thuộc Kyoto Ngũ sơn), năm 1467 sang nhà Minh học Chu Tử học suốt 7
năm, sau đó trở về nước. Cuối thế kỷ XV, chạy loạn xuống phương nam, được
lãnh chúa dòng Shimadzu島津 phiên Satsuma 薩摩trọng đãi, mời giảng Tứ
thư, Ngũ kinh cho gia thần và dòng họ. Sách Đại học chương cú của
ông được truyền tụng rộng rãi, là sách tân chú Tứ thư xuất bản đầu
tiên ở Nhật Bản. Môn hạ của ông rất đông, người ta tôn ông là khai tổ của Tát
Nam học phái / Satsunan gakuha 薩南学派.
- Minamimura Baiken/ Nam Thôn Mai Hiên 南村梅軒: sống vào cuối
thời Muromachi, học Chu Tử học từ sớm. Giữa TK.XVI (thời Chiến quốc/ Sengoku
jidai) xuống Tosa giảng Chu Tử học. Trước tác có: Tam thập lục sách vấn. Ông
có nhiều học trò xuất sắc như: Nonaka Kenzan 野中兼山, Kokura Sanshô小倉三省,
Yamasaki Ansai山崎闇斎…
- Fujiwara Seika/ Đằng Nguyên Tinh Oa 藤原惺窩 (1561-1619):
Xuất thân từ gia đình quý tộc, lên Kyoto từ nhỏ, vào tu học ở Tướng Quốc Tự (một
trong Kyoto Ngũ sơn), học Chu Tử học. Ông dự định qua nhà Minh để học thêm,
nhưng không đi được. Sau đó giao du với một nhà sư Triều Tiên tên là Khương
Hàng 姜沆 (Kyôkô) mà hiểu biết về Tống học càng sâu sắc. Ông lập
ra một phái Nho học riêng gọi là Kinh học phái 京学派, trong đó cơ bản là Chu
Tử học, nhưng cũng bao quát cả Dương Minh học. Môn đệ của ông rất đông, xuất sắc
nhất có 4 người gọi là “Tinh môn Tứ Thiên vương” 惺門四天王: Hayashi Razan/ Lâm
La Sơn林羅山; Naba Kassho/ Na Ba Hoạt Sở 那波活所; Matsunaga Shakugo/ Tùng Vĩnh
Xích Ngũ 松永尺五. Ông cũng từng giảng Chu Tử học cho Vũ tướng Toyotomi
Hideyoshi/ Phong Thần Tú Cát 豊臣秀吉, Tướng quân Tokugawa Ieyasu/ Đức Xuyên
Gia Khang徳川家康, nhưng khi Tướng quân Ieyasu mời ông ra làm quan thì ông từ chối
mà tiến cử người học trò xuất sắc của mình là Hayashi Razan/ Lâm La Sơn林羅山.
1.4. Nho
giáo Hậu kỳ trung đại ở Nhật Bản (thời Edo, TK.XVII - 1868):
Thời
Edo là thời kỳ thái bình, ổn định kéo dài dưới chế độ mạc phủ Tokugawa/ Đức
Xuyên徳川. Nho giáo đã thay chỗ cho Phật giáo trong đời sống, đẩy Phật giáo xuống
vị trí khiêm tốn hơn. Chu Tử học phái được Mạc phủ khuyến khích và trở thành học
phái Nho giáo chính thống của nhà nước gọi là “Quan Nho phái” 官儒派.
Vậy là từ trước sau TK.XV, Việt Nam, Nhật Bản (và Triều Tiên)
đều đồng loạt chuyển sang mô hình văn hóa Nho giáo.
Có thể thấy Nho giáo Nhật Bản thời Edo có hai đặc điểm chính:
- Thứ nhất
là nó phân thành nhiều khuynh hướng khác nhau, đấu tranh với nhau, và bị nhà cầm
quyền đối xử khác nhau.
- Thứ
hai: có sự thâm nhập của Nho giáo vào Thần đạo và vào đời sống đô thị tạo thành
hai khuynh hưóng tư tưởng trái ngược nhau một có khuynh hướng bảo thủ, một thì
cách tân.
1.4.1. Các học phái Nho giáo thời Edo:
Chu Tử học phái: Trong bối cảnh đất nước Nhật Bản
bị xâu xé bởi các thế lực quân sự, loạn lạc liên miên, thì Chu Tử truyền vào Nhật
Bản được giới chính trị và trí thức đón nhận một cách nồng nhiệt như một phương
cách xây dựng một xã hội trật tự. Đứng đầu Chu Tử học phái thời Edo là Hayashi
Razan/ Lâm La Sơn 林羅 山(1583 –1657). Razan xuất thân ở Kyoto, thuở nhỏ
vào tu học ở Kiến Nhân Tự (một trong Kyoto Ngũ sơn), nhưng lại say mê Chu Tử học.
Gặp Fujiwara Seika/ Đằng Nguyên Tinh Oa 藤原惺窩 và được Seika nhận
làm môn đệ. Năm 1605, được thầy giới thiệu với Tướng quân Tokugawa Ieyasu/ Đức
Xuyên Gia Khang徳川家康, và được Tướng quân mời giữ chức Thị giảng của Mạc phủ.
Razan trở thành quân sư, người tạo dựng điển chế cho chính quyền mới, ông soạn Vũ
gia chư pháp độ, điển lễ tham bái Thần cung Ise và các đại lễ khác.
Tư tưởng của Razan phù hợp với chủ trương của Mạc phủ: “Chấn
hưng Nho giáo, phát huy Tống học”. Chu Tử học phái đề cao Lý, coi nó là
căn bản và bất biến. Lý quyết định danh phận của người ta trong xã hội.
Tư tưởng này biện minh rất tốt cho trật tự xã hội của Mạc phủ (Mạc phủ chủ
trương “Cấm thay đổi thành phần”). Ông là người đã quan phương hoá Nho học, được
người đời tôn xưng là khai tổ của dòng “Quan nho phái”, mở đường cho cái học “Lập
thân xuất thế” phục vụ cho nền “Văn trị” có tính chất Tống nho của Mạc phủ.
Về sau Chu Tử học phái cũng chia ra nhiều hệ phái khác:
- Hệ Hayashi 林系: chủ yếu là dòng họ
Hayashi, dòng họ này truyền đời làm nho quan cho Mạc phủ, trong đó có chức Đại
học đầu (Hiệu trưởng đại học của Mạc phủ), giúp Mạc phủ thống nhất chính sách
văn hoá, giáo dục toàn quốc.
- Hệ Junan 順庵系: gồm Kinoshita Junan/ Mộc
Hạ Thuận Am 木下順庵([7])
và các học trò của ông: Muro Kỳusô室鳩巣, Gion Nankai祇園南海…
Dương Minh học phái 陽明学派: Nếu như Chu Tử học đề cao lòng
trung thành và mong muốn xã hội yên bình trong một trật tự nghiêm khắc, thì
Dương Minh học phái (học phái Vương Dương Minh) lại đề cao tâm của
con người, chú trọng đến kinh tế, đến giới bình dân, thị dân, và nó rất dễ dẫn
đến những tư tưởng có tính cách mạng. Đứng đầu Dương Minh học phái Nhật Bản là
Nakae Tôju 中江藤 樹(1608 – 1648). Tôju ngưòi xứ Ômi/ Cận Giang 近江,
sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, năm 9 tuổi Tôju từng bị gia đình đem
cho một gia đình võ sĩ làm con nuôi để đổi lấy 150 thạch thóc. Lớn lên tiếp thu
tư tưởng Dương Minh học, về quê mở trường dạy học gọi là Đằng Thụ Thư viện (Thư
viện của Tôju/ Đằng Thụ), giảng dạy cái học “Trí lương tri” và “Tri hành hợp nhất”
của Vương Dương Minh. Ông chủ trương coi khí là chủ, khí tại tâm con
người, tâm nhờ khí mà có tư tưởng, tư tưởng tùy hoàn cảnh
mà thích nghi biến đổi. Người ta phải sống tùy theo khí ở tâm, nhờ
thế mà có tiến bộ. Quan niệm này chống lại chính sách cố định thành phần của Mạc
phủ. Tư tưởng của Tôju tấn công vào Chu Tử học, bị các phái bảo thủ phản kích kịch
liệt. Tuy nhiên qua tranh luận các học phái này cũng lặng lẽ tiếp thu khá nhiều
tư tưởng của Vương Dương Minh. Danh tiếng trường học của Tôju lan đi khắp nơi,
không chỉ giới võ sĩ đến xin học mà còn có cả người thợ thủ công, thương nhân
cũng xin vào. Đằng Thụ Thư Viện mở rộng cửa đón nhận tất cả với tinh thần bình
đẳng triệt để. Ngưòi đời xưng tụng ông là “Thánh nhân xứ Ômi” (Cận Giang Thánh
nhân 近江聖人).
Trong số học trò của Tôju, xuất sắc nhất có Kumazawa Banzan/
Hùng Trạch Phiên Sơn 熊沢藩山(1619-1691). Banzan xuất thân trong một gia đình
võ sĩ lang thang (rônin) ở Kyoto, năm 23 tuổi trở thành môn đệ của Nakae Tôju中江 藤 樹 - nhà Dương
Minh học hàng đầu. Nhờ danh tiếng của thầy, Banzan được phiên chủ phiên Okayama
mời về làm chức dịch và mở trường cho dạy Dương Minh học. Banzan tiến hành cải
cách nông nghiệp và chính trị của phiên. Ông bị phái thủ cựu chống đối, nhất là
phái quan học của Mạc phủ: Hayashi Razan林羅 山, Hoshina Masayuki 保科正之phê
phán nặng nề. Ông bị Mạc phủ theo dõi, đuổi khỏi Kyoto, phải trốn tránh xuống xứ
Yamato, rồi lại bí mật quay về ẩn cư ở xứ Yamashiro, gần Kyoto. Ở đây ông tiếp
tục viết sách phê phán chính sách của Mạc phủ, nhất là chính sách “Binh nông
phân ly” và “Tham cần giao đại”([9]).
Ông bị bệnh mất ở Koga phía bắc Edo. Ngưòi đời sau ca tụng ông là “Người anh
hùng mặc áo nhà nho”. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn đến phái “Đảo Mạc”
(đánh đổ Mạc phủ) cuối thời Edo do Yoshida Shôin/ Cát Điền Tùng Âm 吉田松陰 lãnh
đạo.
Cổ học phái 古学派: Bên cạnh các phái Chu Tử học, Dương
Minh học, thời Edo còn có phái Cổ học. Nhiều học giả Nho giáo không chấp nhận
cách giải thích kinh điển ít nhiều có tính “xuyên tạc” của Chu Hy, họ chống lại
Chu Tử học bằng cách giải thích kinh điển, nhất là Luận ngữ một cách
trực tiếp và thực chứng. Các nhà nghiên cứu thường chia Cổ học phái ra
thành 3 hệ:
- Cổ
nghĩa học do Itô Jinsai/ Y Đằng Nhân Trai 伊藤人斎 đứng đầu
- Thánh
học do Yamaga Sokô/ Sơn Lộc Tố Hành 山鹿素行 đứng đầu
- Cổ văn
từ học (Phục cổ học) do Ogyù Sorai/ Địch Sinh Tồ Lai 荻 生 徂 徠 đứng
đầu.
Tuy nhiên Yoshida Ichirô trong Lịch sử tư tưởng Nhật Bản
– Khái luận lại căn cứ vào nội dung tư tưởng để coi Cổ học phái chỉ có 2 hệ:
Thánh học và Cổ nghĩa học, còn Cổ văn từ học thì tách ra thành
một phái riêng gọi là “Công lợi chủ nghĩa” (功利主義/ Kôrishugi)([10]),
do tính chất thương mại rất mạnh của nó. Chúng tôi ủng hộ cách chia ấy.
Yamaga Sokô/ Sơn Lộc Tố Hành 山鹿素行 (1622-1685) là
con trai một võ sĩ lang thang, nổi tiếng là nhà binh học, từng phục vụ trong
lãnh chúa phiên Akô. Năm 1666 công viết Thánh giáo yếu lục, trong đó
ông phê phán nặng nề Chu Tử học phái đã làm loạn đạo thống Nho giáo từ Khổng Tử
lại đây. Vì quan điểm mạnh bạo ấy nên ông bị đày đi xa. Trong khi lưu đày
ông viết Trích cư đồng vấn 讁居童問 (Chuyện trò với trẻ em lúc lưu đầy),
trong đó ông cho rằng: Chu Tử đè nén nhân dục, đi theo thiên lý (đạo trời),
nhưng Khổng Tử lại thừa nhận nhân dục, dục tâm là bản năng của con người, vì thế
ông đề nghị vứt bỏ Chu Tử học mà khôi phục lại Nho giáo nguyên thuỷ. Ông cho rằng
con người có dục tâm thì mới có cạnh tranh, nhờ thế xã hội mới phát triển được.
Những lý luận như thế đều đi ngược lại quan điểm của Mạc phủ.
Itô Jinsai 伊藤人斎 (1627 – 1705), con một gia đình
thương nhân ở Kyoto, ông nghiên cứu Nho giáo và dạy học ở Kyoto. Năm 1664 sáng
lập ra trường tư thục Cổ Nghĩa Đường, tập hợp thị dân Edo về giảng dạy. Ông viết
sách: Luận ngữ cổ nghĩa, Trung dung phát huy… Ông tôn Luận ngữ
là “Tập sách cao nhất trong vũ trụ” (Vũ trụ đệ nhất tối thượng chí cực thư) và
gọi học phái của ông là “Cổ nghĩa học”. Tư tưởng triết học của ông dựa trên căn
bản quan niệm “Nhất nguyên khí luận”: Khí tạo ra âm dương, âm dương tạo ra con
người, cho nên con người bình đẳng với nhau. Bản chất của con người là “Ái”
(tình yêu) chứ không phải là Lý như giải thích đơn giản của Chu Tử học.
Điều này cũng khác với quan điểm của Mạc phủ.
Phái chủ trương công lợi (功利主義/ Kôrishugi): Đứng
đầu là Ogyù Sorai/ Địch Sinh Tồ Lai 荻生 徂 徠 (1666 – 1728).
Sorai chỉ ra những nhược điểm của phái Cổ học của Itô Jinsai, sau đó lên vùng
Nihonbashi ở Edo mở trường tư thục gọi là “Huyên Viên” 蘐園. Học phái
Sorai (Tồ Lai học) không phủ định Cổ học, mà phát triển thêm tư tưởng của nó.
Năm 1717 ông viết các sách Biện đạo, Biện danh, đồng thời thành lập học
phái “Cổ văn từ học”. Từ năm 1722 đến 1727 ông viết Chính đàm 政談,
Thái bình sách dâng lên cho Tướng quân Yoshimune đúng vào lúc Tướng quân
đang tiến hành cải cách Hưởng bảo nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển. Các bài luận Hoá
tệ phẩm chất cải thiện luận,
Đồng tiền đại lượng đào tạo luận trong đó đã phê phán nặng nề chính sách kinh tế xã hội của Mạc phủ. “Cổ văn từ học” không chỉ là nơi bàn về văn học mà còn là nơi truyền bá tư tưởng triết học nhân sinh. Ông cho rằng nội dung của “tính người” không chỉ là luân lý đạo đức, mà còn chính trị, kinh tế, luân lý xã hội, và cả văn học nghệ thuật nữa. Trường Huyên Viên của ông là trường tư của phái Nho học “Phục cổ”, nhưng cũng là văn thi xã của Cổ văn từ, có ảnh hưởng rất sâu rộng đối với xã hội. Sorai là con người điển hình nhất cho nho giáo Nhật Bản thời cận thế. Ông là nhà kinh doanh, nhà kinh tế hơn là một nhà nho. Ông lập quán rượu bình văn, cửa hàng bán sách, cửa hàng bách hoá theo kiểu cổ phần rồi chia lời cho văn hữu. Khách hàng của ông gồm nhiều thành phần khác nhau, từ vũ sĩ cho đến thợ thủ công, thương nhân. Các cửa hàng chi nhánh của ông phát triển rộng khắp, và tiếp tục tồn tại sau khi ông qua đời.
Đồng tiền đại lượng đào tạo luận trong đó đã phê phán nặng nề chính sách kinh tế xã hội của Mạc phủ. “Cổ văn từ học” không chỉ là nơi bàn về văn học mà còn là nơi truyền bá tư tưởng triết học nhân sinh. Ông cho rằng nội dung của “tính người” không chỉ là luân lý đạo đức, mà còn chính trị, kinh tế, luân lý xã hội, và cả văn học nghệ thuật nữa. Trường Huyên Viên của ông là trường tư của phái Nho học “Phục cổ”, nhưng cũng là văn thi xã của Cổ văn từ, có ảnh hưởng rất sâu rộng đối với xã hội. Sorai là con người điển hình nhất cho nho giáo Nhật Bản thời cận thế. Ông là nhà kinh doanh, nhà kinh tế hơn là một nhà nho. Ông lập quán rượu bình văn, cửa hàng bán sách, cửa hàng bách hoá theo kiểu cổ phần rồi chia lời cho văn hữu. Khách hàng của ông gồm nhiều thành phần khác nhau, từ vũ sĩ cho đến thợ thủ công, thương nhân. Các cửa hàng chi nhánh của ông phát triển rộng khắp, và tiếp tục tồn tại sau khi ông qua đời.
1.4.2. Nho giáo với Thần đạo và với “Đinh nhân đạo” (đạo của
người thị dân):
“Thuỳ
gia thần đạo” 垂加神道:
Ngược lại với việc Nho giáo tách ra khỏi nhà chùa gọi là “Nho
Phật phân ly”, Nho giáo lại kết hợp với Thần đạo - “Thần Nho nhất trí” để
hình thành nên phái “Thuỳ gia thần đạo” (垂加神道Suika shintô). Phái này do
Yamazaki Ansai/ Sơn Kỳ Ám Trai 山崎闇斎 đề xướng. Ansai sinh ở Kyoto, con
một võ sĩ lang thang (rônin). Thuở nhỏ vào tu ở Hiezan gần Kyoto làm sư, sau
này học Chu Tử học mà say mê học thuyết này, ông quyết định hoàn tục làm nhà
nho. Năm 1665 tiến hành chỉnh lý lại tự viện, thần xã, bài trừ thuyết “Thần Phật
tập hợp”. ông nghiên cứu kỹ về Thần đạo nguyên thuỷ, dựa vào lý luận Chu Tử học
mà hợp nhất Nho học với Thần đạo thành phái “Thuỳ gia Thần đạo” 垂加神道. Phái
này có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, cùng với Học phái Mito/ Thuỷ Hộ học水戸学([11]) có
ảnh hưởng rất lớn đến phong trào “Tôn vương nhương di” ở cuối thời Mạc phủ Edo.
“Đinh nhân đạo” - đạo đức kinh doanh của người thị dân:
Khoảng thời gian từ niên hiệu Nguyên Lộc/
Genroku (1688-1704) đến Hưởng Bảo/ Kyôhô (1716-1735) là thời kỳ phồn thịnh
của các đô thị Nhật Bản, trong đó Osaka 大阪 và Hakata 博多, hai
thành phố phương nam phồn thịnh nhất. Lúc bấy giờ trong các đô thị bắt đầu nổi
lên khuynh hướng yêu cầu người thị dân phải có vị trí xã hội cao hơn, đồng thời
cũng phải có trách nhiệm đạo đức, xã hội – tức là Đạo, Nghĩa cao hơn. Người khởi
xướng học thuyết đó là Ishida Baigan/ Thạch Điền Mai Nham石田梅岩(1685-1744). Baigan
bắt đầu từ Chu Tử học mà chuyển sang Tâm học của Vương Dương Minh, đồng
thời cũng có tham bác thêm Thiền học, ông trở thành người phát ngôn cho tầng lớp
thị dân, thương nhân. Lúc bấy giờ Mạc phủ thực thi chính sách “cố định thành phần”,
“dĩ nông vi bản”, điều ấy đi ngược với xu hướng tự do kinh doanh và kìm hãm sự
phát triển của các đô thị. Quan niệm chính thống của Mạc Phủ là “Trọng nông ức
thương”, được thể hiện qua các bài luận: Nông bản thương mạt luận (Bàn
về chuyện nông nghiệp là gốc, thương nghiệp là ngọn), Thương nhân vô dụng
luận (Bàn về việc vô dụng của thương nhân)…Ishida Baigan từ lập trường Tâm
học, kết hợp với một số học thuyết khác, đưa ra thuyết Đinh nhân đạo – đạo của
người thị dân. Ông cho rằng:
- Cấu
trúc xã hội với bốn thành phần: Sĩ, Nông, Công, Thương đã có từ xưa, trong đó mỗi
giai tầng có một vai trò của nó, không thể thiếu được thành phần nào.
- Cả bốn
giai tầng ấy đều sống trên đất của quân vương, phục vụ quân vương, nên đều được
hưởng ân trạch của quân vương. Ông dùng lại ý của Mạnh Tử, để khẳng định rằng
thị dân cũng bình đẳng như các giai tầng khác: “Sĩ là bề tôi trong triều, nông
là bề tôi nơi đồng ruộng, công thương là bề tôi nơi thị tứ” (Sĩ giả, thần hạ tại
triều; nông giả, thần hạ tại thảo mãng; công thương giả, thần hạ tại thị tứ dã). Vì
cùng là bề tôi, nên vũ sĩ được hưởng niên bổng của quân vương, nông dân được hưởng
thóc lúa, thì thương nhân được hưởng lời lãi – tất cả đều là bổng lộc vua ban.
Từ chỗ khẳng định vị trí của người thị dân, Baigan đã đưa ra
“đạo” – tức là chuẩn mực đạo đức của giai tầng này. Ông cho rằng: các
giai tầng khác nhau đều phải tự hạn chế dục vọng và hành xử theo đạo để giữ giá
trị giai tầng của mình: Sĩ có trách nhiệm khai phóng tư tưởng và cầm giữ cương
thường; nông dân có bổn phận cần cù nơi đồng ruộng để cung cấp lương thực,
thì người thị dân cũng phải hành xử theo đạo. Đạo của người thị dân thể hiện
thành 3 Đức và 2 Nghĩa sau đây:
1. Tiết
kiệm trong việc sử dụng tài nguyên quốc gia
2. Tiết
kiệm trong chi tiêu cho bản thân
3. Cần
cù và sáng tạo
Hai Nghĩa là:
1. Chính trong
kinh doanh sản xuất
2. Trực trong
giao dịch thương mại
Về luân lý nên tránh: tửu, sắc, cờ bạc để dành thì giờ và tiền
bạc cho sáng tạo và kinh doanh. Luân lý ấy không cấm việc thưởng thức xướng ca,
nhưng không được sa vào trác táng. Hình mẫu lý tưởng cho đạo của người thị dân
là thương gia hộ quốc đầy hùng khí Shimai Soshitsu島井宗室 (1539-1615)([12]).
Ishida Baigan mất đi, Teshima Toan 手島堵庵 và Nakazawa
Dôji 中沢道二, những học trò xuất sắc của ông vẫn tiếp tục con đường
của thầy: cổ xúy cho Đinh nhân đạo.
1.5. Nho giáo trong buổi đầu thời Cận đại (1868 - 1945):
Thiên hoàng Minh Trị/ Meiji明治 lên ngôi tuyên bố bắt đầu
công cuộc duy tân để đưa nước Nhật đuổi kịp các nước phương Tây. Năm 1868 thành
phố Edo được đổi tên thành Tokyo/ Đông Kinh và trở thành thủ đô của nước Nhật mới.
Thái độ của trí thức
cận đại Nhật Bản đối với Nho giáo có hai loại:
- Một là
những nhà Duy tân tự do, họ thấy được hạn chế của Nho giáo, nhất là Tống Nho đối
với công cuộc duy tân, họ khuyến khích thực học, khuyến khích tinh thần tự cường.
Tiêu biểu nhất cho khuynh hướng này là Nhóm Minh Lục Xã/ Meirokusha 明六社 và
Fukuzawa Yukichi/ Phúc Trạch Dụ Cát福沢諭吉(1834-1901), nhà tư tưởng của phong trào
duy tân Nhật Bản. Fukuzawa viết Khuyến học 学問のすすめđể đưa ra tư tưởng
giáo dục mới, viết Thoát Á luận脱亜論để khuyến khích Nhật Bản thoát khỏi một
châu Á chậm phát triển và phải chịu ô nhục trước các nước đế quốc phương Tây.
- Hai là
triều đình và những trí thức quý tộc, một mặt họ vừa thấy được những chỗ
bất cập của Nho giáo, mặt khác họ vẫn muốn sử dụng Nho giáo làm công cụ giáo dục
đạo đức, nhất là giáo dục lòng trung thành với Thiên hoàng, xây dựng một nước
Nhật Bản theo chủ trương “Nước giàu binh mạnh” (Phú quốc cường binh).
Theo chủ trương đó, năm 1885 Mori Arinori/ Sâm Hữu Lễ 森有礼(1847 -
1889), Văn Bộ khanh (Bộ trưởng Giáo dục) đã ban bố quy chế giáo dục đạo đức Nho
giáo cho học sinh. Sau đó Nam tước Motoda Nagazane/ Nguyên Điền Vĩnh Phu 元田永孚 (1818
- 1891), Thị giảng Cung Nội tỉnh công bố bộ sách ghi những lời chỉ dụ về giáo dục
của Thiên hoàng gọi là Giáo dục sắc ngữ 教育勅語. Trong
đó phần đầu ghi lại những lời dạy của các Thiên hoàng trong lịch sử xác lập
quan hệ giữa đạo đức và quốc gia: Lòng trung hiếu của thần dân là “tinh hoa của
quốc thể”, là “ngọn nguồn của giáo dục”…Tiếp theo trình bày 12 đức mục: Hiếu với
cha mẹ, Hoà vợ chồng, Tôn trọng pháp luật, Tinh thần xả thân khi quốc gia hữu sự…Tinh
thần ấy về cơ bản chịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo truyền thống, nhất là tư tưởng
của Học phái Mito/ Thuỷ Hộ học水戸学.
2. SO
SÁNH NHO GIÁO VIỆT NAM VÀ NHO GIÁO NHẬT BẢN
2.1. Quá
trình lịch sử tương cận:
Quá
trình du nhập và phát triển của Nho giáo ở Việt Nam và Nhật Bản có những nét gần
giống nhau. Điều ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng quan trọng nhất là do nhu
cầu trong nước và ảnh hưởng của Trung Quốc:
- Nho
giáo được du nhập vào Việt Nam và Nhật Bản đều vào khoảng những thế kỷ sau công
nguyên, trước hết do sự truyền bá của các học giả nước ngoài. Ở Việt Nam khoảng
TK.III với vai trò của Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp; ở Nhật vào khoảng TK.V với
vai trò của 2 nhóm sử Đông Văn, Tây Văn, nhất là của học giả Vương Nhân và các
“Ngũ kinh bác sĩ” sau ông.
- Nho
giáo phát triển mạnh hơn vào thời kỳ xây dựng quốc gia độc lập, thống nhất.
Trong giai đoạn Sơ kỳ trung đại (TK.X-XV ở Việt Nam; TK.VIII – XII ở Nhật Bản)
Nho giáo cả hai nước đều nằm trong cấu trúc Tam giáo với vai trò ưu thắng của
Phật giáo. Nho giáo được dùng vào việc tổ chức nhà nước, xây dựng lòng trung
thành đối với quân vương và ý thức đạo đức cá nhân khác. Sự phổ biến của
Nho giáo ở cả hai nước đều chỉ hạn hẹp xung quanh cơ quan giáo dục cao nhất là
Quốc Tử Giám ở Việt Nam, Đại Học Liêu ở Nhật Bản và một vài trường tư hay chùa
chiền khác. Nho giáo vẫn chưa tách ra khỏi nhà chùa, người nghiên cứu Nho giáo
chủ yếu là các nhà sư. Sau đó diễn ra quá trình tách rời Nho với Phật, nói theo
cách nói Nhật Bản là “Nho Phật phân ly”.
- Chu Tử
học đến Việt Nam và Nhật Bản đều vào khoảng TK.XIII sau khi nhà Nam Tống sụp đổ
và nhà Nguyên lên thay. Người du nhập Chu Tử học vào VN là Chu Văn An, tác giả
của bộ sách giải thích sách “Tứ thư” do Chu Hy biên soạn: Tứ thư thuyết
ước. Người du nhập Chu Tử học vào Nhật Bản là nhà sư triều Nguyên Nhất Sơn
Nhất Ninh, người đã chú giải sách Chu Tử học ở Nhật Bản.
- Việt
Nam và Nhật Bản đều trải qua giai đoạn phát triển điển hình của chế độ phong kiến
mà chúng tôi gọi là Trung kỳ trung đại. Trong giai đoạn này ở Việt Nam, Chu Tử
học lên địa vị cao nhất: quốc giáo cùng với vai trò quan trọng của tầng lớp sĩ
đại phu xung quanh triều đình. Ở Nhật Bản ngược lại, Chu Tử học lại chìm
xuống, nhường địa vị chi phối văn hoá tư tưởng cho Phật giáo Thiền tông.
- Giai
đoạn hậu kỳ trung đại là giai đoạn suy thoái của chế độ phong kiến và chứng kiến
sự lên ngôi của tầng lớp thị dân ở các đô thị (ở Việt Nam từ TK.XVIII – giữa
TK.XIX; ở Nhật Bản là thời Edo, từ đầu TK.XVII – giữa TK.XIX). Trong giai đoạn
này ở các hai nước, Chu Tử học ngày càng trở nên nghiêm khắc hơn để chống lại
“dị học”, nhất là học thuật, tôn giáo từ phương Tây đến.
Trên đây là những điểm giống nhau chủ yếu giữa Nho giáo Việt
Nam và Nho giáo Nhật Bản. Tuy nhiên Việt Nam và Nhật Bản có những điều kiện lịch
sử, xã hội khác nhau nên Nho giáo ở hai nước cũng có nhiều điểm rất khác. Dưới
đây chúng tôi tập trung trình bày về những điểm khác nhau đó.
2.2. “Nho
học khoa cử” và “Nho học tự do”:
Nho giáo Việt Nam chủ yếu là cái học để đi thi, trong khi đó
Nho giáo Nhật Bản nhất là vào thời Edo là một ngành học thuật tự do.
Nho giáo ở Việt Nam được dùng làm kiến thức căn bản để thi
tuyển quan lại. Chế độ khoa cử được thực thi ở Trung Quốc từ năm 598 vào thời
Tuỳ Văn Đế, để thay cho chế độ tuyển dụng thế tập quý tộc trước đó. Khoa cử được
du nhập vào Triều Tiên năm 958, vào Việt Nam năm 1075. Chế độ khoa cử từ chỗ rất
tích cực: thể hiện tính chất dân chủ và minh bạch trong việc tuyển dụng nhân
tài, nhưng dần dần suy thoái đi đến chỗ “hư học” và bệnh “chuộng bằng cấp”. Vì
là kiến thức thi cử nên học vấn Nho giáo vừa chính thống, lại vừa bị cắt xén.
Sách của nho gia đã ít nếu so với kinh sách Phật giáo, đến khi đi thi giới hạn
bớt, lại còn ít hơn nữa. Nguyễn Thông đã từng ca thán về tình trạng thí sinh học
thi chỉ học bộ sách toát yếu của Bùi Huy Bích([13]).
Lê Quý Đôn tổng kết rằng người ta chỉ cần học thuộc một ngàn bài thơ, một trăm
bài phú, 50 bài văn sách là có thể đủ kiến thức để đi thi. Hệ quả là Nho giáo ở
Việt Nam càng ngày càng khô cứng, trí thức thờ ơ với các học phái mới ở Trung
Quốc, họ không du nhập chúng vào Việt Nam vì thấy nó không cần thiết cho con đường
tiến thân. Đáng tiếc nhất là người Việt lạnh nhạt với tư tưởng Vương Dương
Minh, một loại tư tưởng có tính “thực học”, tính đô thị và rất chú trọng vào
kinh tế. Nhà nho muốn trở thành trí thức hữu ích thì sau khi thi đậu phải tự
mình tích luỹ những kiến thức từ sách “ngoại thư”, nhất là những sách thực dụng.
Người trí thức Việt bấy giờ có thể yên tâm với kiến thức của mình trong khuôn
khổ một quốc gia chuyên chế phương Đông, nhưng lại hoàn toàn không đủ khi phải
đối đầu với đội quân “Dương di” từ phương Tây lại. Cho đến trước khi người
phương Tây hiện diện bằng đại bác ở cửa biển Đà Nẵng thì những trí thức Việt
Nam có kiến thức mới cũng chỉ được vài người, trong số đó tiêu biểu nhất là Lê
Quý Đôn. Ở ông chúng ta thấy ảnh hưởng khá rõ của Khảo chứng học đời Thanh,
sách khoa học phương Tây của các “Tây nho” (như cách gọi của người Nhật).
Trong Vân đài loại ngữ và một vài sách khác ông cũng nói đến thuyết trái đất hình cầu, kinh tuyến vĩ tuyến…Tuy nhiên một con người như Lê Quý Đôn có vẻ cô độc trong thời đại ông, tri thức mà ông có được chỉ là hiểu biết đơn lẻ của một cá nhân, ông không có học trò để đi tiếp con đường của mình, kể cả người học trò danh giá nhất là Bùi Huy Bích (Bùi Huy Bích sau này lại đi làm sách “luyện thi”). Ông không có nhiều bạn bè để chia sẻ, không tạo được học phong của cả một thời đại, cho nên hơn nửa thế kỷ sau ông, khi người Việt phải đối đầu với phương Tây thì giới trí thức từ thân sĩ làng quê đến trí thức khoa bảng cung đình đều ngơ ngác không biết ứng phó cách nào …
Trong Vân đài loại ngữ và một vài sách khác ông cũng nói đến thuyết trái đất hình cầu, kinh tuyến vĩ tuyến…Tuy nhiên một con người như Lê Quý Đôn có vẻ cô độc trong thời đại ông, tri thức mà ông có được chỉ là hiểu biết đơn lẻ của một cá nhân, ông không có học trò để đi tiếp con đường của mình, kể cả người học trò danh giá nhất là Bùi Huy Bích (Bùi Huy Bích sau này lại đi làm sách “luyện thi”). Ông không có nhiều bạn bè để chia sẻ, không tạo được học phong của cả một thời đại, cho nên hơn nửa thế kỷ sau ông, khi người Việt phải đối đầu với phương Tây thì giới trí thức từ thân sĩ làng quê đến trí thức khoa bảng cung đình đều ngơ ngác không biết ứng phó cách nào …
Tình hình Nho giáo ở Nhật Bản lại khác. Chu Tử học phái của
Hayashi Razan dẫu là chính thống (quan nho phái), nhưng nó chỉ là một trong nhiều
học phái Nho giáo khác nhau ở giai đoạn này: Dương Minh học phái với Nakae
Tôju/ Trung Giang Đằng Thụ, Kumazawa Banzan/ Hùng Trạch Phiên Sơn; Cổ học
phái với Itô Jinsai/ Y Đằng Nhân Trai, Yamaga Sokô/ Sơn Lộc Tố
Hành; Công lợi chủ nghĩa phái với Ogyù Sorai/ Địch Sinh Tồ
Lai …Các học phái này về phương diện tư tưởng nhiều khi đấu tranh, phê
phán nhau kịch liệt, nhưng nhờ nhờ vậy mà học thuật và xã hội mới tiến bộ. Nho
giáo Nhật Bản có thể nói theo rất sát, gần như cập nhật thường xuyên tình hình
Nho giáo Trung Quốc. Người Nhật không áp dụng chế độ khoa cử, họ sử dụng chế độ
thế tập: quý tộc cung đình, lãnh chúa địa phương, võ sĩ truyền đời…Chủ trương
“Cấm thay đổi thành phần” thời Mạc phủ Tokugawa/ Đức Xuyên là sự thể hiện chặt
chẽ nhất của tinh thần ấy. Ở các phiên khác nhau người ta có thể lựa chọn trí
thức để phục vụ cho mình từ nhiều nguồn học vấn khác nhau: có phiên sử dụng trí
thức Chu Tử học, có phiên lại dùng phái Cổ học hay Dương Minh học… Chính quyền
trung ương không tham dự vào công việc này. Nhờ thế mà trí thức Nhật Bản không
bị “đóng khuôn” kiến thức.
2.3. Thân
sĩ – nông dân và Võ sĩ – thương nhân
Thời trung đại, ở Việt Nam nhân vật trí thức đóng vai trò
chính yếu là nhà nho - các thân sĩ ở làng quê, còn ở Nhật Bản là võ sĩ ở các
phiên (lãnh địa) và đô thị.
Trần Đình Hượu phân các nhà nho Việt Nam ra thành ba loại: nhà
nho hành đạo, nhà nho ẩn dật và nhà nho tài tử. Ông cho rằng: hai loại đầu là
nhà nho chính thống, đồng thời về cơ bản cũng là nhân vật của nông thôn: xuất
thân từ làng quê, đi học đi thi, thi đậu thì làm quan, không làm quan nữa thì lại
về quê ẩn dật. Loại nhà nho thứ ba – “nhà nho tài tử” là sản phẩm của nền văn
hoá đô thị phong kiến, nhưng người tài tử chỉ thiên về văn chương nghệ thuật,
dùng sáng tác để thể hiện cái “nhân sinh tại thế bất xứng ý” của mình. Từ
khoảng TK.XVI trở đi, trong xã hội Việt Nam bắt đầu đã xuất hiện nền kinh tế thị
trường, càng về sau càng phát triển mạnh. Thái độ chung của nhà nho chính thống
Việt Nam là phản đối rất mạnh mẽ nền kinh tế ấy với biểu hiện của nó là đồng tiền,
họ đối lập nó với đạo đức Nho giáo: “Đời nay nhân nghĩa tựa vàng mười/ Có của
thì hơn hết mọi lời” hay “Đồng tiền hai chữ son khuyên ngược/ Nhân nghĩa đôi đường
nước chảy xuôi”. Ít ai trong số họ trở thành thương nhân hay đưa đạo đức nho
giáo vào kinh doanh để biến nho giáo trở thành đạo đức đô thị. Xu hướng đô thị
hoá Nho giáo ở Việt Nam cũng có thể thấy ít nhiều trong một số nhà nho
TK.XVIII-XIX, nhất là nhóm nhà nho Nam Bộ (Gia Định tam gia, hay hình tượng
“Ông Quán” (Lục Vân Tiên) – một loại nhà nho ẩn dật, thay vì làm ngư tiều canh
mục thì lại kinh doanh ăn uống…), nhưng cũng không trở thành một xu hướng mạnh
làm thay đổi cơ cấu nhà nho truyền thống hay nền tảng kinh tế xã hội sinh ra
nhà nho ấy.
Kẻ sĩ Nhật Bản là võ sĩ. Tầng lớp võ sĩ lúc đầu cũng xuất
thân từ nông dân, nhưng dần dần tách ra khỏi tầng lớp này trở thành quân nhân
chuyên nghiệp. Đến Hậu kỳ trung đại, trước việc Mạc phủ khuyến khích phát triển
Tống Nho, thì người võ sĩ chịu ảnh hưởng Nho giáo, nhất là Chu Tử học rất sâu sắc.
Do võ sĩ cấm không được thờ hai chủ, nên nhiều người trong số họ sau khi chủ chết
đã trở thành “rônin” (lãng nhân – võ sĩ thất nghiệp), lên các đô thị sinh sống,
rồi trở thành trí thức đô thị hay thương nhân. Nho giáo Nhật Bản có tính
chất đô thị là vì thế. Cho nên ta sẽ không lấy làm lạ khi thấy ở Nhật Bản, tư
tưởng Vương Dương Minh được tiếp thu một cách rất rộng rãi; Lan học cùng với
các học giả của nó – “Tây nho” có ảnh hưởng sâu sắc trong xã hội; phái Công lợi
chủ yếu lo chuyện kinh doanh; còn I.Baigan cùng với các học trò của ông lại đưa
đạo đức Nho giáo vào kinh doanh để tạo ra đạo đức của người thị dân (Đinh nhân
đạo) v.v.
Điểm khác nhau nữa về học vấn, tính cách của võ sĩ Nhật Bản
và nho sĩ Việt Nam đó là: Với võ sĩ, thì võ (kiếm thuật, bắn cung, nhu đạo...)
là sở trường của họ; Nho giáo chỉ là chuyện đạo đức để củng cố lòng trung
thành; ngoài nho học ra họ tìm đến tôn giáo chủ yếu là Thiền tông. Với nhà nho
Việt Nam thì kinh sách thánh hiền mới là sở trường của họ; võ cũng có nhưng võ
là một ngạch riêng và lại không được trọng bằng văn; ngoài Nho học ra, nhà nho
tìm đến sự giải thoát tinh thần chủ yếu là ở tư tưởng Lão Trang chứ không phải ở
Phật giáo. Điều ấy cho thấy sự khác biệt trong thơ văn của nhà nho Việt Nam và
các thiền sư, võ sĩ, thị dân Nhật Bản thời trung đại. Điều ấy cũng cho thấy nhà
nho Việt Nam “vu khoát”, kém tính thực tiễn, kém mạnh mẽ hơn võ sĩ Nhật Bản.
Cho nên sự trói buộc tinh thần với quá khứ của trí thức Việt Nam nặng nề
hơn so với trí thức Nhật Bản khi bước vào thời cận đại.
Vấn đề cuối cùng là là tại sao võ sĩ Nhật Bản lại thành công
trong công cuộc đối đầu với phương Tây, còn nho sĩ Việt Nam lại thất bại? Về
lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm thì các nho sĩ Việt Nam cũng không hề thua
kém, dẫu chỉ là một chút so với các võ sĩ Nhật Bản. Sự khác biệt về tư tưởng
Nho giáo nêu trên góp một phần không nhỏ cho sự thành bại của hai bên. Tuy
nhiên nguyên nhân của sự khác nhau đó phải tìm vào cơ sở kinh tế xã hội Việt
Nam thời Lê, Nguyễn và Nhật Bản vào thời Edo.
Cho đến khi đối đầu với phương Tây vào giữa TK.XIX Việt Nam
thực sự ổn định chỉ khoảng hơn 50 năm (từ 1802 – 1858), trong khi đó Nhật Bản
thời Tokugawa ổn định hơn 250 năm (từ 1604 – 1868), vì vậy, nền kinh tế Nhật Bản
đã tích lũy được nhiều yếu tố tiền tư bản chủ nghĩa. Theo thống kê, thành Edo
giữa TK.XIX đã có đến một triệu dân, ngang với dân số Luân Đôn bấy giờ, cho thấy
mức độ tập trung đô thị ở Nhật Bản rất cao.
Các thành phố Osaka, Nagoya... đã có các công ty cổ phần, những công ty tài chính sơ khai. Kỹ nghệ dệt của Nhật cũng đạt đến trình độ cơ khí hóa cao. Các thuyền buôn cũng đã có một truyền thống hàng hải quốc tế lâu đời. .. Vì vậy, nước Nhật Bản cận đại hóa dễ dàng hơn rất nhiều so với nước Việt Nam chủ yếu là sống bằng nông nghiệp tự cấp tự túc.
Các thành phố Osaka, Nagoya... đã có các công ty cổ phần, những công ty tài chính sơ khai. Kỹ nghệ dệt của Nhật cũng đạt đến trình độ cơ khí hóa cao. Các thuyền buôn cũng đã có một truyền thống hàng hải quốc tế lâu đời. .. Vì vậy, nước Nhật Bản cận đại hóa dễ dàng hơn rất nhiều so với nước Việt Nam chủ yếu là sống bằng nông nghiệp tự cấp tự túc.
Morishima Michio trong cuốn Tại sao Nhật Bản thành công?
Công nghệ phương Tây và tính cách Nhật Bản([14]), cho
rằng ở Nhật Bản công cuộc cận đại hóa thành công, xây dựng được chủ nghĩa tư bản
Nho giáo là do võ sĩ chứ không phải do thương nhân như ở phương Tây (với mô
hình chủ nghĩa tư bản Tin lành), từ đó cho rằng chủ nghĩa Marx đã không đúng
trong trường hợp Nhật Bản. Chúng tôi cho rằng: quả thực người tiến hành cận đại
hóa Nhật Bản là võ sĩ, nhưng võ sĩ Nhật Bản thành công được là do cơ sở kinh tế
xã hội Nhật Bản đã có bước phát triển tương đối cao so với các nước phương Đông
khác. Đó là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất dẫn đến sự thành công của
Nhật Bản, bên cạnh một số yếu tố khác nữa. Điều này chứng minh học thuyết
về cơ sở kinh tế xã hội của Karl Marx vẫn đúng đắn ngay cả trong trường hợp Nhật
Bản.
2.4. “Nghĩa”
và “Trung” – từ khóa về Nho giáo Việt Nam và Nhật Bản:
Nho giáo các nước về cơ bản là giống nhau, đều giáo dục Tam
cương, Ngũ thường, con đường tu, tề, trị, bình cho con người. Tuy nhiên nếu đi
vào chi tiết, thì do hoàn cảnh lịch sử và truyền thống văn hoá dân tộc, Nho
giáo vào mỗi nước đều khúc xạ khác đi ít nhiều hoặc được nhấn mạnh ở mặt này mặt
kia. Vì thế nếu bắt buộc phải chọn một từ làm “từ khoá” để thấy sự khác nhau của
Nho giáo mỗi nước thì người ta sẽ chọn từ nào? Giáo sư Tsuboi Yoshiharu trong Hội
nghị Quốc tế về Nho giáo tổi chức ở Yokohama (Nhật Bản) năm 1992, cho rằng: Ở
Trung Quốc đó là Hiếu, ở Triều Tiên – Hàn Quốc là Lễ hoặc Thuần, ở
Nhật Bản là Trung, còn Việt Nam là Nghĩa([15]). Quan
niệm này có lẽ cũng đã được các học giả phương Tây nói đến ít nhiều, nhưng được
GS.Tsuboi trình bày một cách có ấn tượng trước một đối tượng chọn lọc: các học
giả Nho giáo quốc tế, nên rất gây chú ý. Lúc đầu quan niệm ấy gây “shock” đối với
nhiều người, nhưng càng đi sâu vào xem xét các dữ kiện lịch sử, văn hoá mỗi nước,
người ta càng thấy nhận định ấy không phải là không có lý.
Ở Việt Nam “Nghĩa” là Nghĩa với nước, là tình nghĩa ở
đời, và nghĩa hiệp với những người bị oan khuất, ức hiếp. Chỉ cần nhắc
lại vài vài ví dụ là có thể thấy được ngay. Ví dụ như Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi
đã theo lời khuyên của cha : hãy trở về rửa nhục cho nước, trả thù cho
cha, như thế mới là Đại hiếu. Đối với đạo đức Trung Quốc, một nền
đạo đức xây dựng trên cơ sở gia đình thì hiếu là lớn nhất. Câu nói của vua Thuấn
được người TQ ngàn đời ca ngợi vì đã giải quyết được mâu thuẫn giữa Hiếu và sự
công chính của người cầm quyền. Khi vua Thuấn mới ban hành pháp lệnh, yêu cầu xử
tội rất nặng những kẻ nào vi phạm pháp luật – không chừa bất kỳ ai, thì có người
cắc cớ hỏi rằng: Nếu cha của nhà vua phạm tội thì sao? Vua Thuấn trả lời:
Ta sẽ bỏ ngôi, cõng cha đi trốn. Hiếu đối với người Trung Quốc bao gồm cả ước
mong phúc lộc thọ, con cháu nối dòng đông đúc, giàu có và trường thọ. Và như thế
Hiếu là lớn nhất. Ở Việt Nam còn có một thứ hiếu khác lớn hơn, gọi là “Đại hiếu”
– đó là hiếu với đất nước. Trong sự lựa chọn của Nguyễn Trãi cũng thấy rất rõ
những tiêu chuẩn đạo đức Việt. Nguyễn Trãi đã không chọn nhà Hồ - chủ cũ, như
yêu cầu của đạo đức Trung thành của nho sĩ nói chung, nhất là võ sĩ Nhật Bản;
không chọn nhà Trần – họ ngoại, như chữ Hiếu của Trung Quốc; Nguyễn Trãi chọn
lê Lợi, vì bằng nhãn quang sáng suốt của mình, ông hiểu rằng chỉ có Lê Lợi mới
giải quyết được vấn đề của đất nước. Các nhà nho Cần vương TK.XIX cũng là tấm
gương của đạo đức “Vì nghĩa” – nghĩa đối với đất nước. Họ không nghe theo lời
Hoàng đế Tự Đức giải giáp đầu hàng hàng giặc (Trương Định và các văn thân Nghệ
An), họ không theo Đồng Khánh là đương kim hoàng đế, họ chiến đấu một cách anh
dũng và chết một cách bình thản không phải vì vua mà vì nước, và vua Hàm Nghi
chỉ là một biểu tượng phù hợp với lý tưởng kháng chiến của họ. Quan niệm sống
Vì nghĩa đối với nước có cơ sở từ lịch sử lâu dài chống ngoại xâm để bảo vệ chủ
quyền đất nước của người Việt. Mặc dù người Việt hay nói “trung với nước”,
nhưng Trung với ý nghĩa chặt chẽ nhất của nó chỉ là trung quân mà thôi. Tình
nghĩa(cái nghĩa có được từ tình cảm, nghĩa vì tình) là linh hồn của đồi sống
tình cảm của người Việt, là nội dung trữ tình chủ yếu, đặc trưng của thơ ca Việt
(bên cạnh cái khảng khái kích ngang, phong cốt là đặc trưng của thơ TQ; cái bi
ai nhẹ nhàng kín đáo của thơ Nhật Bản)([16]).
Cơ sở xã hội của lối sống tình nghĩa là đời sống của cư dân nông nghiệp gắn bó
với làng quê. Nghĩa hiệp là lý tưởng sống hàng đầu của con người Việt
Nam, nhất là ở những vùng đất mới cư dân còn thưa thớt, luật pháp còn lỏng lẻo
– như vùng đất Nam Bộ chẳng hạn. Phương châm hành xử cao nhất của họ là “Thấy
câu kiến ngãi bất vi, làm người như thế cũng phi anh hùng” (Lục Vân
Tiên, Nguyễn Đình Chiểu) dẫu câu này có nguồn gốc Trung Quốc.
Ở Nhật Bản, chữ Trung lại là đức mục được đề cao nhất.
Trong đạo đức của người samurai bao giờ lòng trung thành với chủ cũng được đề lên
hàng đầu – ngưòi Nhật gọi nó là “Trung thành tâm” (忠誠心chùseishin),
và quan hệ bề tôi với chủ ấy gọi là “Quan hệ chủ tòng” (主従関係shujù
kankei). Lòng trung thành ấy là trung thành với chủ chứ không phải là trung
quân nói chung. Nhiều nhà xã hội học đã chỉ ra cấu trúc xã hội Nhật Bản ưu tiên
quan hệ hàng dọc và đơn tuyến, dựa trên lòng trung thành với người chủ trực tiếp
của mình: vũ sĩ – lãnh chúa đại danh – tướng quân – thiên hoàng. Người Nhật ai
cũng biết đến câu chuyện về 47 võ sĩ trong sự kiện Akô thời Nguyên Lộc (Nguyên
Lộc Xích Tuệ/ Akô sự kiện - 1748). Đội trưởng Ôishi và các võ sĩ của mình đã sống
theo lý tưởng: báo thù cho chủ là nguyên tắc đạo đức cao nhất. Lòng Trung còn
cao hơn cả Hiếu (Ôshi thấy đám tang mẹ mà vẫn gạt nước mắt ra đi không về chịu
tang), hơn cả Tình vợ chồng (Ôishi đuổi vợ đi để che mắt kẻ thù), hơn cả Liêm sỉ
(bị võ sĩ đối phương nhổ vào mặt mà vẫn chấp nhận để ẩn mình kín đáo hơn). Một
võ sĩ khác - Hara, đồng đội của anh ta cũng coi Trung hơn cả Tình gia đình
(chia tay mẹ già, vợ trẻ, con thơ để báo thù cho chủ). Bà mẹ của anh ta cư xử
như một liệt nữ Nhật Bản: bà cụ thắt cổ tự tử để cho con yên lòng thực hiện
nghĩa vụ cao cả nhất của người con trai. Câu chuyện ấy được ghi trong Trung
thần tàng (忠臣蔵Chùshingura), được diễn trên sân khấu
Tĩnh lưu ly, được nhiều thế hệ người Nhật từ xưa đến nay say mê.
Lòng trung thành trong một cấu trúc xã hội hàng dọc, quan hệ
đơn tuyến là điều vẫn còn tiếp tục được phát huy trong xã hội Nhật Bản hiện đại.
Sở dĩ lòng trung thành được đưa lên hàng đầu vì trong lịch sử Nhật Bản liên tục
bị cuốn vào các cuộc nội chiến tranh giành quyền lực giữa các lãnh chúa, nạn
“Hạ khắc thượng” (bề tôi giết chủ) hết sức trầm trọng, từ thế kỷ này đến thế kỷ
khác. Quyền lực quốc gia nằm trong tay Mạc phủ, danh phận không rõ ràng,
nên việc trung thành với người chủ trực tiếp là điều cốt tử để cho xã hội tồn tại
và vận hành được.
Như trên đã trình bày, đã đến lúc nghiên cứu về Nho giáo Việt
Nam không thể tách ra khỏi bối cảnh Nho giáo khu vực Đông Á. Quá trình vận động
của Nho giáo từng nước đều bị chị chi phối không chỉ những điều kiện lịch sử cụ
thể của mỗi quốc gia mà còn chịu sự tác động, ảnh hưởng của những xu thế có
tính khu vực. Thậm chí đánh giá về những đóng góp của từng nhà nho cũng không
thể không đặt họ trong bối cảnh khu vực.
Hơn 1500 năm Nho giáo truyền vào Việt Nam và Nhật Bản, tuỳ
theo hoàn cảnh mà có lúc thăng lúc trầm, nhưng càng về cuối thời trung đại, dấu
ấn của nó càng trở nên sâu sắc trong văn hoá, tư tưởng mỗi dân tộc. Nho giáo đã
tạo ra giai tầng đặc biệt - “Sĩ”, làm trụ cột cho đời sống tinh thần của mỗi quốc
gia. Do điều kiện địa lý và lịch sử riêng, mà Nho giáo Việt Nam và Nhật Bản có
nhiều điểm khác biệt, tạo ra sắc thái riêng, truyền thống riêng của Nho giáo mỗi
nước. Trong các nước “Khu vực văn hoá chữ Hán”, Nhật Bản là nước đã tích luỹ được
nền tảng kinh tế tiến bộ hơn cả, nhờ thế đã tác động làm thay đổi nhận thức của
tầng lớp trí thức nho học, khiến cho họ có thể thích ứng nhanh chóng với thời
cuộc, và thực hiện được thành công công cuộc duy tân, cận đại hoá đất nước.
THƯ MỤC THAM KHẢO CHÍNH
TIẾNG NHẬT
1. Nihon shisoshi
gairon日 本 思 想 史 概 論(Lịch sử tư tưởng Nhật Bản- Khái luận),
Ishida Ichiro石 田 一 郎, 吉川 弘 文 館Cát Xuyên Hoằng Văn quán, Tokyo, 1993
2. Trang
web: www2.big.or.jp/yba/asia/kenpou17jou.html
TIẾNG VIỆT
1. Thích Thiên
Ân: Lịch sử tư tưởng Nhật Bản, Đông Phương xuất bản, Sài Gòn, 1965
2. Ishida Ichirô
(Ishida Kazuyoshi?): Nhật Bản tư tưởng sử, Châm Vũ Nguyễn Văn Tần dịch,
Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa xb., Sài Gòn, 1972
3. Châm Vũ Nguyễn
Văn Tần: Nhật Bản sử lược, (4 tập), Tự Do xb.Sài Gòn
4. Đoàn Lê
Giang: Văn hóa Nhật Bản, trong Đại cương văn hóa Phương
Đông, Lương Duy Thứ chủ biên, NXB.Đại học Quốc gia TP.HCM, 2000
5. Edwin
O.Reichauer: Nhật Bản quá khứ và hiện tại, Nguyễn Nghị, Nguyễn Thị Bích Ngọc
dịch, NXB.KHXH, 1994
6. George
Sanson: Lịch sử Nhật Bản, 3 tập, Lê Năng An dịch, NXB.KHXH, 1994
7. G.B.
Sanson: Lược sử văn hóa N Bản, 2 tập, NXB.KHXH, 1989
8. Joseph
M.Kitagawa: Nghiên cứu tôn giáo Nhật Bản, Hoàng Thị Thơ, NXB.KHXH, Hà
Nội 2002
9. Michio
Morishima: Tại sao Nhật Bản thành công? Công nghệ phương Tây và tính cách
Nhật Bản, Đào Anh Tuấn dịch, Lê Văn Sang, Lưu Trọng Trịnh hiệu đính,
NXB.KHXH, 1991, 249 tr
10. Vĩnh Sính: Nhật Bản cận đại,
NXB.TPHCM, 1991
Chú thích
[1] Bách Tế: Một trong ba tiểu quốc ở bán đảo Triều
Tiên thời ấy, cùng với Tân La, Cao Câu Ly.
[3] Chúng tôi chủ trương chia lịch sử văn hoá, tư tưởng, văn học trung
đại của các nước Đông Á ra thành 3 giai đoạn: Sơ kỳ trung đại (VN,
Triều Tiên: TK.X – TK.XIV; Nhật Bản: TK.VIII – TK.XII), Trung kỳ trung đại (VN,
TT: TK.XV – TK.XVII; NB: TK.XIII – TK.XVI), Hậu kỳ trung đại (VN, TT:
TK.XVIII – TK.XIX, NB: TK.XVII – TK.XIX). Có thể xem thêm tài liệu của chúng
tôi: Ý thức văn học cổ trung đại Việt Nam, Luận án tiến sĩ Ngữ văn, Trường
Đại học KHXH và Nhân văn (ĐHQG TP.HCM), 2001; Thời trung đại trong văn học
các nước Khu vực văn hoá chữ Hán, Tạp chí Nghiên cứu văn học số 11/ 2006.
[4] Kùkai daishi 空海大師: Nhà sư đầu thời Heian,
là khai tổ Chân Ngôn tông Nhật Bản. Người xứ Sanuki. Lúc đầu học Đại học, sau
quy y Phật giáo, tu ở Shikoku. Năm 804 sang nhà Đường du học, học Tuệ Khả. Năm
806 trở về Nhật, truyền bá Chân Ngôn tông. Viết Tính linh luận, Văn Kính mật
phủ luận, Thập trú tâm luận, Tam giáo chỉ quy. Tam giáo chỉ quy三教指帰 viết
theo kiểu tranh luận giữa 5 nhân vật, mỗi nhân vật tiêu biểu cho một học phái:
Nho, Đạo, Phật, cuối cùng khẳng định chỉ có Phật giáo là cái học tốt hơn cả.
[5] Kamakura Ngũ sơn/ gozan鎌倉五山: Họ Hôjô học theo nhà Nam Tống mà định
ra 5 ngôi chùa lớn có uy tín ở Kamakura gọi là “Kamakura Ngũ sơn” (gồm:
Kiến Trường Tự, Viên Giác Tự, Trường Phúc Tự, Tịnh Trí Tự, Tịnh Diệu Tự). Tương
tự như thế họ Ashikaga cũng định ra ở Kyoto “Kyoto Ngũ sơn”京都五山 (gồm:
Nam Thiền Tự, Thiên Long Tự, Tướng Quốc Tự, Kiến Nhân Tự, Đông Phúc Tự, Vạn Thọ
Tự). Từ đó mới có khái niệm “Ngũ Sơn văn học”, để chỉ loại văn học chữ Hán và
việc nghiên cứu Hán học ở các chùa đó. Các nhà sư còn được Mạc phủ sử dụng vào
việc soạn thảo những giấy tờ ngoại giáo, mậu dịch với Trung Quốc, vì thế thơ
phú và văn tứ lục rất được coi trọng và phát triển phồn thịnh.
[6] Issan Ichinei 一山一寧 (1247 - 1317): Người Triết
Giang, TQ. Xuất gia từ nhỏ, theo Lâm Tế Tông, được phong đến “Đại sư”, và được
cử làm sứ thần sang Nhật để vận động Nhật thần phục. Hojo tức giận giam, rồi
chém cả sứ bộ, nhưng vì biết ông là “Đại sư” nên tha. Sau đó ông được trọng dụng,
cho trụ trì các chùa lớn ở Kamakura, được phong là “Nhất Sơn Quốc Sư”, Học trò
ông rất đông. Sách của ông có Nhất Sơn Quốc sư ngữ lục.
[7] Kinoshita Junan/ Mộc Hạ Thuận Am 木下順庵(1621-1699):
Nho học giả thời Edo. Xuất thân từ Kyoto, từng lên Edo. 1682 trở thành Nho quan
của Mạc phủ Tokugawa/ Đức Xuyên đời thứ 5 là Tsunayoshi 綱吉. Viết
sách về sự nghiệp Mạc phủ : Vũ đức đại thành ký. Ông là một trong những
ngưòi đặt nền móng cho Chu Tử học, nhưng dần dần có khuynh hướng Cổ học. Ông nổi
tiếng là một nhà giáo dục, có nhiều học trò xuất sắc gọi là “Mộc môn thập triết”
(Mười ngưòi tài từ học phái Mộc Hạ/ Kinoshita).
[8] Satô Issai/ Tá Đằng Nhất Trai 佐藤一斉(1772-1859): Nho học giả cuối thời
Edo. Xuất thân từ xứ Minô, học Chu Tử học, sau lại có khuynh hướng theo Dương
Minh học. Làm giáo sư cho trường học của họ Hayashi. Trước tác: Cổ bản Đại
học bàng thích bổ, Ngôn chí tứ lục, Ái Nhật Lâu văn thi…
[9] Tham cần giao đại (sankin kôtai) 参勤交代: chủ
trương của Mạc phủ bắt các lãnh chúa các phiên hàng năm phải lên Edo trình diện
6 tháng, để Mạc phủ quản lý.
[10] Ishida Ichiro石 田 一 : Nihon shisoshi gairon日 本 思 想 史 概 論(Lịch sử
tư tưởng Nhật Bản- Khái luận), 吉川 弘 文 館Cát Xuyên Hoằng Văn quán, Tokyo, 1993
[11] Học phái Mito/ Thuỷ Hộ học 水戸学: Học phái phát triển ở phiên Mito
(phía bắc Edo), từ khoảng cuối TK.XVIII – đầu TK.XIX. Học phái này chủ trương
xây dựng ý thức quốc gia trên cơ sở Quốc học, sử học, Thần đạo. Bắt đầu từ việc
năm 1657 lãnh chúa phiên Mito là Tokugawa Mitsukuni đặt Chương Khảo Quán (Sử cục),
tự mình biên soạn bộ Đại Nhật Bản sử, đồng thời giao du với nhóm di
thần “Phản Thanh phục Minh” mà có xu hướng khôi phục lại quyền lực của Thiên
hoàng. Hậu duệ của ông là Tokugawa Nariaki mổ Hoằng Đạo Quán để khuếch trương
học phái Mito với định hướng “Văn Vũ lưỡng đạo”, ngoài học Nho và Quốc học ra
còn phải học khoa học tự nhiên như y khoa, thiên văn học…Tư tưởng của học phái
Mito có ảnh hưởng rất lớn phong trào “Tôn vương nhương di” cuối thời Mạc phủ
Edo.
[12] Shimai Soshitsu 島井宗室(1539-1615): Thương gia thời
Azuchi-Momoyama, đầu thời Edo. Người vùng Hakata, nhờ ngoại thương mà trở nên
giàu có mức vạn. Dùng tiền riêng mở rộng hải cảng Haklata để phát triển thương
mại trong vùng, giúp Hideyoshi tiền bạc trong cuộc xâm lược Triều Tiên cuối
TK.XVI.
[13] “Tờ sớ xin ban cấp sách vở”, trong Thơ văn Nguyễn
Thông, Lê Thước- Phạm Khắc Khoan biên soạn, NXB.Văn học, HN, 1962,
tr.216-218
[15] “Nho giáo ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam” của Tsuboi
Yoshiharu, Đoàn Lê Giang dịch (từ Lịch sử và tương lai của khu vực văn hóa chữ
Hán (Bản tiếng Nhật), Nhiều tác giả, Đại tu quán thư điếm xuất bản, Tokyo
1992) in trong sách Đại cương văn hoá phương Đông (Xem thư mục số 4 ở
trên).
[16] Chúng tôi đã có dịp trình bày khá kỹ về chuyện này. Có thể xem
thêm: So sánh quan niệm văn học trong văn học cổ điển Việt Nam và Nhật Bản, “Tạp
chí văn học” số 9 năm 1997.
Đoàn
Lê Giang







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét