Trong nhiều định nghĩa về thơ
từ trước tới nay, có một định nghĩa của nhà thơ Nga Xô viết - Ôxíp Manđenxtam
mà tôi cho là ứng nghiệm với đề tài đang bàn: “Thơ là ý thức mình có lý” (*).
Như vậy, cũng có hàm nghĩa biện chứng một trong những đặc trưng của thơ là phi
lý tính, phải nhờ sự nhờ can thiệp của nhà thơ thì cái phi lý tính kia trở
thành có lý. Thơ được thể hiện khi không thể nào chọn được phương thức diễn đạt
suy lý trong một tình thế đầy mâu thuẫn. Thơ nhận ra sự bất túc của nhận thức
lôgic trong văn xuôi. Thơ chỉ bắt đầu khi văn xuôi kết thúc. Hướng tiếp cận của
đề tài này tập trung vào ba bình diện sau đây: Yếu tố phi lý tính thường hiện
diện trong thơ văn cổ truyền dân tộc; Những đặc trưng của phi lý tính trong
thơ. Vai trò của phi lý tính trong thơ hiện nay.
Lần theo yếu tố phi lý tính
trong ca dao, thơ văn cổ truyền dân tộc:
Ca dao, dân ca phản ánh lịch
sử, xã hội, con người, thiên nhiên qua các thời đại. Ca dao cũng phản ánh tình
yêu và muôn mặt đời thường của con người. Để đến được với người đọc, thi pháp của
ca dao gồm nhiều cách diễn đạt, trong đó phổ biến là tiếng hát trữ tình của con
người được miêu tả bằng những biện pháp ngoa dụ, ẩn dụ, hoán dụ.v.v… mà thường
mang yếu tố phi lý tính. Ở biện pháp ngoa dụ phóng to ta đọc: Đàn ông một
trăm lá gan/ Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người/ Khó khăn thì chẳng ai nhìn/ Đến
khi đỗ trạng chín nghìn anh em… Ở ngoa dụ thu nhỏ ta có: Ước gì sông
hẹp bằng ao/ Bắc cầu dải yếm qua trao ân tình/ Cô kia tát nước bên sông/ Muốn
sang anh ngả cành hồng cho sang.
Người sáng tác ca dao thường
dùng biện pháp ẩn dụ nhân hóa sự vật để nói lên tâm trạng nghịch cảnh đau đớn của
con người: Lá vàng còn ở trên cây/ Lá xanh rụng xuống trời hay chăng trời?
Với biện pháp hoán dụ, chúng
ta đọc: Thấy anh như thấy mặt trời/ Nói năng khó nói trao lời khó trao/
Trông anh nư thể sao mai/ Biết rằng trong có như ngoài hay không?
Tất cả các biện pháp nói
trên đều đưa lại bài học đạo đức, sự việc diễn ra có lý. Ca dao mang trong mình
triết lý dân gian, triết lý đó nói lên lòng chung thủy của nghĩa vợ chồng(Thuyền
về có nhớ bến chăng? Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền); hoặc cam chịu số
phận (Đã mang lấy cái thân tằm; Không tơ vướng nữa cũng nằm trong tơ)… Cảnh
sắc thiên nhiên ở ca dao thường được diễn tả bằng nhận thức lôgic, cũng có khi
bằng biện pháp phi lý tính: Gió đưa trăng, trăng thanh vằng vặc/ Trăng đưa
gió, gió mát hiu hiu… Mượn trật tự đầu phi lôgic (gió đưa trăng, trăng đưa gió…
) để nói trật tự sau lôgic hơn (trăng thanh vằng vặc, gió mát hiu hiu). Để triết
lý về thời gian, ta có câu: Trăng bao nhiêu tuổi trăng già/ Núi bao nhiêu
tuổi gọi là núi non.
Trong truyện Nôm khuyết
danh, yếu tố phi lý tính hiện diện ở dạng tính kỳ, là phương tiện làm gia
tăng kịch tính của câu chuyện. Câu chuyện thường được xem như một bài thơ; ví dụ
như truyện Hòn vọng phu hoặc truyện Trầu cau. Nhiều nhà nghiên cứu
của văn hóa sử đã coitính kỳ của truyện Lưu Bình - Dương Lễ nhuốm
màu huyền thoại, thể hiện ước mơ của người xưa về sự cao thượng của đạo lý làm
người, về sức mạnh tự thân vượt lên chính mình để làm được những nghĩa cử cao đẹp.
Đây là một tình huống lý tưởng, phi lý (chứ trong thực tế làm gì có một người
vì quý bạn mà gửi vợ mình đi nuôi bạn ăn học trong ngần ấy năm!). Câu chuyện được
phóng to đến mức cực đại, nhưng người đọc không ai băn khoăn gì về các chi tiết;
chỉ biết rằng, hạt nhân câu chuyện là tình bạn cao cả, nghĩa vợ chồng chung thủy
sắt son.
Trong thơ ca cổ điển dân tộc,
đặc biệt trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vận dụng tài tình yếu tố phi lý
tính vào phương pháp phản ánh hiện thực xã hội. Chúng ta biết rằng, chất liệu
nào của văn chương cũng bắt nguồn từ cuộc sống tự nhiên, trần trụi, duy lý. Dưới
bàn tay tài hoa và sự tư duy lấp lánh hình tượng của nghệ sĩ, chất liệu được phi
lý tính hóa nhằm xây dựng một hình tượng tính cách, phát ngôn một triết lý
sống, tổng kết một kinh nghiệm lao động, đề xuất một thái độ ứng xử. v.v… Khi
nhà thơ đã vượt thoát chất liệu, không chịu sự ràng buộc của lôgic cuộc đời để
đi vào thế giới nghệ thuật với cảm hứng sáng tạo chân thật, thì hình tượng thơ
trở thành ma lực, ngôn ngữ thơ trở nên tỏa hương, ý nghĩa bài thơ hàm chứa triết
lý xanh rờn. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã vượt lên trên những “Lời quê
chắp nhặt dông dài” bước ra khỏi thi pháp miêu tả “những điều trông thấy” đã
làm cho 3254 câu thơ lục bát của Truyện Kiều được kể theo lối truyện
thơ mà hấp dẫn từ đầu chí cuối là nhờ đại thi hào không ngần ngại sử dụng yếu tố
phi lý tính trong thơ, thường là phi lý tính ẩn dụ. Để miêu tả cuộc đời trầm
luân bụi bặm, bèo trôi sóng vỗ của Kiều, nhà thơ đã khái quát hóa cuộc đời là:Chốn
bụi hồng, hồng trần, trần ai, đường xa bụi hồng… (Sự đời đã tắt lửa lòng/ Còn
chen vào chốn bụi hồng làm chi!). Vẽ chân dung người đẹp, trong đó có chân dung
Vương Thúy Kiều, người đọc bắt gặp những nét son: má hồng, hồng nhan, cánh
hồng, sắc tía, bóng hồng, sắc hồng… Ngay cả một lĩnh vực tình cảm mênh mông là
vậy, sâu thẳm là vậy, cũng được nhà thơ dùng thủ pháp “lượng hóa” trong các
câu: Sen tàn cúc lại nở hoa/ Sầu dài, ngày ngắn, đông đà sang xuân/ Sầu
đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê… Còn tả cảnh thì mỗi cảnh
là một bức tranh huyền diệu: Gương nga chênh chếch dòm song/ Vàng reo ngấn
nước cây lồng bóng sân/ Bóng tà như giục cơn buồn/ Khách đà lên ngựa người còn
ghé theo.
Đầu thế kỷ XX luồng gió mới
cải cách nhiều bình diện xã hội trong đó có văn chương học thuật. Cánh cửa sổ
nhìn về văn hóa phương Tây ngày càng mở rộng, Thơ mới ra đời. Thơ mới là một hiện
tượng văn hóa mới lạ đã tạo nên bước chuyển biến mới về nội dung lẫn hình thức.
Được như vậy có nhiều nguyên
nhân; riêng trong lĩnh vực kỹ xão thơ, sự sáng tạo ngôn ngữ thơ đó là sự mạnh dạn
sử dụng yếu tố phi lý tính. Màu thời gian của Đoàn Phú Tứ là một ví dụ: Màu
thời gian không xanh/ Màu thời gian tím ngắt/ Hương thời gian không nồng/ Hương
thời gian thanh thanh…
Thời gian chỉ đo bằng năm
tháng, đo bằng chiều dài lịch sử, sao lại đo bằng màu, bằnghương? Tứ thơ
này chịu ảnh hưởng thơ Pháp là đúng rồi, nhưng còn là sự tự biểu hiện tình yêu
của chính nhà thơ đối với thiên nhiên, đối với loài hoa màu tím. Cũng ảnh hưởng
thơ Pháp, Xuân Diệu trong Vội vàng đã không nén được dục vọng, nỗi
đam mê ở tuổi đang yêu đã muốn hưởng mọi lạc thú ở đời: Tôi muốn tắt nắng
đi cho màu đừng nhạt mất/ Tôi muốn buộc gió lại cho hương đừng bay đi… và tiếp
theo là những hành vi hưởng thụ: Ta muốn ôm (sự sống); Ta muốn siết (mấy
đưa và gió lượn); Ta muốn say (cánh bướm với tình yêu); Ta muốn tham (trong một
cái hôn nhiều)và hơn tất cả (ta muốn cắn vào ngươi) (Xuân hồng). Trong bài thơ Thiên
nhiên, Bôđơle đã có lần viết rằng, “màu sắc, hương vị và âm thanh đều đối đáp lẫn
nhau”. Có lẽ Xuân Diệu đã ảnh hưởng nhà thơ Pháp bằng lối chơi màu sắc,
hương vị với những yếu tố phi lý tính.
Lưu Trọng Lư trong Tình
điên (Hôm ấy trăng thu rụng dưới cầu… ); Chế Lan Viên trongĐiêu tàn (Sợ lời
than lay đổ bóng đêm thâu… ); Hàn Mặc Tử trong Ave Maria (Hồn tôi bay đến
bao giờ mới đậu?) Bích Khê trong Tình huyết (Ô, Hay buồn vương cây
ngô đồng, Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông.v.v.); Quách Tấn với Đêm thu
nghe quạ kêu (Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng?) và nhiều nhà thơ khác đã mạnh
dạn sử dụng yếu tố phi lý tính để tô vẽ thiên nhiên thêm màu nhiệm, thoáng đượm
mùi hương, làm cho hồn người bớt hiu quạnh và nhịp đời thêm náo nức… !
Mấy đặc trưng của yếu tố phi
lý tính trong thơ:
Nếu chưa xác định được nhiều
hơn, thì ít nhất có ba đặc trưng: Sự liên tưởng, sức tưởng tượng và ý nghĩa triết
lý.
Liên tưởng là một trạng
thái của tư duy, là một phẩm chất của con người. Trong từng hoạt động của não bộ,
nhất là những hoạt động trí tuệ thường xuất hiện sự liên tưởng. Trong sáng tạo
nghệ thuật, sự liên tưởng giúp nhà văn có thêm chất liệu để xây dựng hình tượng.
Liên tưởng là hiện tượng trực giác, nó có sức mạnh thuyết phục bằng tri giác,
chứ không chứng minh bằng thực nghiệm. Khi Huy Cận viết trong Tràng giang:
Lòng quê dờn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà… thì người đọc
biết ngay tình cảm ngổn ngang nhớ quê của người xa xứ lúc chiều tà. Còn Xuân Diệu
nhìn thấy lá liễu thướt tha, là nghĩ ngay đến người con gái đẹp: Lá liễu
dài như một nét mi. (Nhị hồ). Vậy làm thế nào để liên tưởng đi vào thơ một
cách chân thật? Ở chỗ này nên nhớ đến ý kiến của Phơlôbe: “Đừng bao giờ sợ sự
phóng đại và xu hướng phóng đại… sự phóng đại vừa độ, hợp lý, hài hòa”, tức là
sự quát hóa và tính sinh động trong cách thể hiện liên tưởng. Dùng sự liên
tưởng trực tiếp để so sánh hiện tượng này với sự vật kia. Ở đây những liên
từ: như, tựa, hay, là, thường được sử dụng: Thời gian đi, chóng tựa
đưa thoi,(Hồ Chí Minh - Gửi Bộ chính trị) - Dưới màu hoa như lửa cháy khát
khao. (Thanh Tùng - Thời hoa đỏ) - Mắt em như nước giếng thôn làng. (Quang
Dũng - Mắt người Sơn Tây) - Biển như một con tàu sắp sửa kéo còi đi (Hữu
Thỉnh - Phan Thiết có anh tôi) - Em là ai cô gái hay nàng tiên (Tố Hữu - Người
con gái Việt Nam). Ngoài ra, sự liên tưởng ẩn dụ giúp nhà thơ tìm kiếm
cách nói độc đáo, gây ấn tượng khi cảm hứng đang trào dâng: Sông Đuống
trôi đi/ Một dòng lấp lánh/ Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ. (Hoàng
Cầm - Bên kia sông Đuống), hoặc: Ôi cái gió Tuy Hòa/ Cái gió chuyên cần và
phóng túng (Trần Mai Ninh - Tình sông núi). Sức tưởng tượng của con người
là không giới hạn. Trí tưởng tượng xán lạn, óc phán đoán minh mẫn sẽ bổ sung
cho trí tuệ phong phú, năng lực tư duy mẫn cảm của con người. Sức tưởng tượng
chân chính bao giờ cũng sánh vai với lý tính. V.I.Lênin coi “tưởng tượng là một
phẩm chất, là một giá trị vĩ đại nhất của loài người”. Nhưng cũng có loại tưởng
tượng quái dị, điên rồ, sự bịa đặt vô cớ, vô bổ, thậm chí có hại. Vì vậy mà có
người nói sức tưởng tượng có khi là “con điên trong nhà”. Chúng ta từ chối loại
tưởng tượng kiểu đó. Con đường đúng đắn dẫn đến sức tưởng tượng chân chính là sự
kết hợp hai sức mạnh tự nhiên: Cái vô thức và cái lý tính. Fr.Hebbel, nhà
thơ Đức, (1813 -1863) có lần nói rằng, tưởng tượng có thể chấp nhận được trong
sự có mặt của lý tính… tưởng tượng chân chính thường xuyên gắn kết với lý tính.
Đúng vậy, sức tưởng tượng chỉ có thể làm gia tăng sức mạnh của hình tượng nghệ
thuật, chỉ khi nào nhà thơ tổng hợp được những tri thức trực giác với sức tưởng
tượng của trí tuệ và sự thăng hoa cảm xúc. Sau đây là những ví dụ:- Ôi những
cánh đồng quê chảy máu. Dây thép gai đâm nát trời chiều. (Nguyễn Đình Thi
- Đất nước)- Buổi sáng em lên rẫy/ Thấy bóng cây Kơnia/ Bóng ngã che ngực em/ Về
nhớ anh không ngủ… (Ngọc Anh - Bóng cây Kơnia) - Đưa người, ta không đưa
qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng. (Thâm Tâm - Tống biệt hành) -
Tình cờ anh gặp lại vầng trăng/ một nửa vầng trăng thôi một nửa/ Trăng vẫn đấy
mà em xa quá/ Nơi cuối trời em có ngắm trăng lên (Hoàng Hữu - Hai nửa vầng
trăng).
Sử dụng yếu tố phi lý tính trong thơ, nhà thơ muốn phát ngôn ý nghĩa triết lý sống, thường được thể hiện dưới mấy dạng thức sau: Nói lên khí phách anh hùng cá nhân: Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo (Nguyễn Công Trứ). Phát biểu một cách chân lý lao động: Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm (Hoàng Trung Thông); Ký thác nỗi đau chia cắt đất nước vào một bức tranh thiên nhiên: Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/ Tận chân trời mây núi có chia đâu!? (Tế Hanh); Khẳng định một thái độ sống, một nhân sinh quan biện chứng… Ta đẻ ra Đời, sao khỏi những cơn đau… Hãy biết ơn vị muối của Đời cho thơ chất mặn (Chế Lan Viên)…
Sử dụng yếu tố phi lý tính trong thơ, nhà thơ muốn phát ngôn ý nghĩa triết lý sống, thường được thể hiện dưới mấy dạng thức sau: Nói lên khí phách anh hùng cá nhân: Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo (Nguyễn Công Trứ). Phát biểu một cách chân lý lao động: Bàn tay ta làm nên tất cả/ Có sức người sỏi đá cũng thành cơm (Hoàng Trung Thông); Ký thác nỗi đau chia cắt đất nước vào một bức tranh thiên nhiên: Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/ Tận chân trời mây núi có chia đâu!? (Tế Hanh); Khẳng định một thái độ sống, một nhân sinh quan biện chứng… Ta đẻ ra Đời, sao khỏi những cơn đau… Hãy biết ơn vị muối của Đời cho thơ chất mặn (Chế Lan Viên)…
Phi lý tính và thơ hôm nay
Ở trên chúng tôi có nói đẹp
đến sự chật hẹp của lý tính, mà sự sáng tạo của nhà thơ thì không dừng lại ở lý
tính. Nhà thơ lớn nào cũng muốn ôm cả chiều sâu lịch sử, chiều rộng cuộc đời,
chiều cao tư tưởng cuộc đời mình. Vậy nên các nhà thơ cũng một lúc vừa nhận thức
bằng duy lý, vừa nhận biết bằng trực giác. Nhiều nhà khoa học tổng kết rằng,
con người không thể nhận thức thế giới khách quan nếu không đi trên con đường trực
giác và con đường duy lý. Một mình suy lý, con người sẽ bất lực trước chân lý
khách quan. Vì vậy, sự bổ sung trực giác, tưởng tượng, phi lý tính có thể coi
là quy luật. Người cổ đại thường dùng thơ và văn chương hình ảnh trong các tác
phẩm triết học. Vì sao vậy? Bởi vì, khi khoa học còn ở buổi bình minh, chưa
phát triển, người ta vay mượn nghệ thuật để diễn đạt tính chân thật của thức
giác, về sau trở thành đối tượng của khoa học.
Muốn cho nghệ thuật thơ thực
sự đổi mới, vượt kên trên lối kể lẻ dài dòng, vần vè đơn điệu, vượt lên trên cái
đã biết, cái đã quen, cái đã thấy nhà thơ cần cấu tạo những hình tượng độc
đáo, những vần thơ vi diệu, có màu sắc có âm thanh… nơi mà suy lý lôgic không
phát hiện được; chứ không phải là sự lạm dụng ngôn ngữ, sự vay mượn tứ thơ bên
ngoài, cố tình phá hủy trật tự sự vật, làm rối loạn giác quan mình và giác quan
người đọc,
Thực trạng thơ của chúng ta,
bên cạnh nhiều cái được: Một khối lượng tác phẩm thơ của đội ngũ nhà thơ chuyên
nghiệp và nghiệp dư; sự xuất hiện một số nhà thơ trẻ với tiếng nói mới, lạ; sự
sung sức của những tài năng thơ thời chống Mỹ; còn có ba cái yếu, đáng lo ngại,
nhiều nhất là ở những người viết mới vào nghề.
- Lý tưởng xã hội còn mờ nhạt,
tư tưởng thẩm mỹ chưa định hướng. Lý tưởng xã hội không phải là cái gì
khác ở bên ngoài văn chương; không phải là áp lực của một tổ chức xã hội nào đó
áp đặt cho nhà thơ. Lý tưởng xã hội là cái nằm trong bầu máu nóng, là lẽ sống đẹp
nhất của tuổi trẻ; Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời chân lý chói qua
tim (Tố Hữu).
Nghề thơ ví như nghề làm việc thiện vì
nó có thể cứu rỗi tâm hồn người đọc. Danh hiệu “kỹ sư tâm hồn” mà các nhà thơ
được ban tặng có ý nghĩa như vậy. Để đạt tới lý tưởng xã hội tiên tiến nhà thơ
cần có sự thôi thúc của con tim, sự sưởi ấm ngọn lửa bên trong được coi là động
lực sáng tạo. Cũng như nhiều lĩnh vực lao động sáng tạo khác, nhà thơ cần viết
cái mà xã hội cần, chứ không viết cái mình có. Có thể viết cái tôi, cái
riêng của mình, nhưng phải phù hợp với cái ta, cái chung của cộng
đồng. Muốn vậy, nhà thơ cần nuôi dưỡng tình yêu nồng cháy đối với cái Đẹp,
cái Thiện, lòng căm thù đối với những hiện tượng suy thoái trong xã hội. Đó
chính là lý tưởng thẩm mỹ của nhà thơ. Đừng nhầm, nói lý tưởng, tư tưởng thì sẽ
thui chột tài thơ. Trái lại, chính lý tưởng sinh ra kỹ thuật, tài năng thơ ca.
A.Puskin đã hơn một lần nói đến quan hệ giữa lý tưởng và tài năng: “… Không có
tư tưởng thì cách biểu hiện có xuất sắc mấy đi nữa, vẫn không phục vụ được một
cái gì hết… Tư tưởng ánh sáng của thế kỷ đòi hỏi những món ăn cho tư duy. Trí
tuệ không thể bằng lòng với một trò chơi của sự hài hòa và sức tưởng tượng”. Để
hình thành lý tưởng thẩm mỹ của một đời văn thì trong ba điều bất hủ của đời
người: lập đứcđược coi là hàng đầu, rồi mới đến lập công và lập ngôn.
Văn chương thơ ca là sự nghiệp của nghìn đời, cái còn lại trong thơ ca của một
người là đạo, nhân tâm thế đạo, hướng về nhu cầu thưởng thức của số đông. Không
phải vô cớ mà các bậc túc nho thời trước khi làm thơ thường chú ý cái đạo, cái
chí, cái cốt cách, khẩu khí đối với xã hội, bởi có đạo đức là có lý tưởng, có nội
dung. Mà có nội dung thì thơ ca thịnh, phát đạt. Ngược lại thì thơ ca suy, hỗn
loạn.
- Thiếu sự chân thật trong cảm
xúc hay thiếu sự liên kết giữa cảm hứng chủ đạo và cảm hứng phản xạ.
Thực trạng yếu kém trong
sáng tạo ở một số nhà thơ, ở một số bài thơ, tập thơ được biểu hiện ở hai hướng:
Hoặc đi quá sâu vào nỗi buồn cá nhân, quan tâm hơi nhiều đến những đề tài vụn vặt,
cá biệt, từ đó đi đến chỗ thoát ly những vấn đề bức bách, những nhu cầu cấp thiết
về tâm - sinh lý của đại đa số người đọc, hoặc là: do nôn nóng muốn sớm được khẳng
định mình, một số người đã tung ra những dòng thơ đánh đố người đọc, những câu
thơ cầu kỳ, tắc tị, mà cứ tưởng phát hiện cái mới. Có một nhà thơ nói rằng, nghệ
sĩ phải viết không chỉ bằng bút mà bằng cả máu con tim và tinh lực của mọi giây
thần kinh. Còn Hữu Loan nói chí lý: “Sáng tạo là hiện tượng tâm sinh lý ác liệt,
nhưng không mù quáng, mà có lửa thần đưa đường…”. Lửa thần, theo tôi hiểu là lý
tưởng xã hội, lý tưởng thẩm mỹ của nhà thơ. Bất cứ trong tình huống nào, tâm trạng
nào nhà thơ trả lời cho được hai câu hỏi có tính công dân: Viết để làm gì? Và
viết cho ai? Ngoài ra trong cái hiện tượng tâm sinh lý kia còn có cảm hứng sáng
tạo của nhà thơ. Vậy cảm hứng sáng tạo là gì? Là sự thôi thúc nội tâm, sự đam
mê một đề tài nào đó. Nồng độ cháy sáng của lý tưởng và của cảm xúc chân thật
giúp nhà thơ có những định hướng lựa chọn đề tài, nhân vật… Thiếu cảm hứng thì
nghệ sĩ không hiểu, không sáng tạo được gì. Đó là cảm hứng chủ đạo thường
được duy trì thường xuyên ở nhà thơ. Nhưng phải đợi đến khi anh ta nảy sinh cảm
hứng phản xạ, tức là phút xao động trước một cảnh ngộ, một số phận, một cành
hoa đẹp… thường gọi là “tia chớp”, thì nhà thơ mới hình thành tứ thơ mới, những
từ ngữ lạ.
- Không có trí thức văn hóa,
tri thức triết mỹ, các nhà thơ trẻ khó có bài thơ hay. Có người nói, gốc của
cây thơ là phù sa văn hóa, là tri thức của nhiều lĩnh vực khoa học và sự lịch
duyệt. Khác với nhiều nghệ sĩ khác, nhà thơ mà cảm xúc bàng bạc, trí tuệ nông cạn,
tầm khái quát thiếu hụt… thì dễ dàng dẫn thơ đến tình trạng rối loạn hình tượng,
nghèo nàn ngôn ngữ. Đó là chưa nói tới sự bắt chước, sự săn đuổi kỹ xảo của một
vài khuynh hướng thơ hiện đại - hậu hiện đại ở nước ngoài. Giả dối là tối kỵ
trong nghệ thuật, giả dối còn là điều rất tối kỵ trong thơ, bởi ở đây
nhà thơ và nhân vật trữ tình thường trùng khít. Từ rất lâu, M.Gorki, khi nói
chuyện với các nhà thơ trẻ, đã phân biệt người thợ thơ và nhà thơ. Người
thứ nhất thường bằng lòng trước những sự kiện dồn dập của đời sống, sa đà vào lối
miêu tả, liệt kê, kể lể, chắp nối từ ngữ cho có vần vè… Còn nhà thơ thì phấn đấu
để có tâm lý sự kiện, thân phận con người, tính đa nghĩa, đa thanh, đa sắc của
ngôn ngữ thơ.
Điểm tựa để thực hiện kỹ
năng, kỹ xảo, các biện pháp tu từ ngôn ngữ thơ là trình độ tư duy khái quát,
chiều cao của trí tuệ, chiều rộng của tri thức văn hóa và chiều sâu của cảm xúc
nhân văn của nhà thơ. Nhà thơ là nhà nhân văn chủ nghĩa. Không phải ngẫu nhiên
mà trong thời đại mình, Cao Bá Quát gọi “phẩm chất của người là phẩm chất của
thơ; phẩm chất của người cao, thì phẩm chất thơ cao”.
Phi lý tính trong thơ chỉ là
một phẩm chất, nhưng là phẩm chất đặc thù để phân biệt với những đặc trưng của
mọi thể loại văn chương còn lại. Thơ là tiếng nói của trái tim, của tình cảm, của
tâm sinh lý, của bản năng con người. Nó cần được sự hướng dẫn của lý trí, của
trí tuệ. Nó có những cái lý riêng mà lý trí thuần túy không hiểu được. Phi lý
tính trong thơ khác với sự lập dị, sự suy nghĩ mù quáng, quái dị, cường điệu vô
mục đích trong cảm hứng nhà thơ. Trái lại nó là phần khuất của tảng băng chìm
trong dòng sông thơ. Nó có lập luận riêng, mà chỉ đọc bằng lý lẽ thông thường
thì không giảng giải được. Nhưng khi hình tượng thơ đã được phi lý tính
hóa một cách điệu nghệ, có sự thôi thúc của cảm hứng dồi dào, sự chân thật
tối đa của nhà thơ đối với đối tượng miêu tả, thì câu thơ trở nên có cánh, hình
tượng thơ trở nên lấp lánh, tạo được sự nhập cảm, sức lan truyền của bài thơ đối
với người đọc.
(*) Tiếng Pháp: “La poésie
eslla consience d’ avoir raison”. Ở đây có lý là cái chân lý nhưng không thể luận
chứng, mà chân lý được tri giác bằng trực giác. Nó được khẳng định vững chắc do
nhà thơ chứng giải bằng yếu tố phi lý tính.
Hồ Sĩ Vịnh



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét