Trở về dòng sông tuổi thơ -
Hoàng Hiệp
Cù lao Sông Tiền
Trong ca khúc của Hoàng Hiệp,
chất trữ tình là một mạch chảy không ngừng xuyên qua các giai đoạn sáng tác của
ông, kể cả trong thời kỳ chiến tranh ác liệt nhất. Mạch trữ tình ấy thường được
khởi nguồn từ thơ ca. Ai đó từng gọi ông là một ông hoàng của nghệ thuật phổ
thơ. Quả thực, Hoàng Hiệp là một trong số ít nhạc sĩ có biệt tài chắp cánh cho
thơ. Với giai điệu giàu cảm xúc của ông, nhiều bài thơ nổi tiếng như có thêm cuộc
đời mới, bay bổng và bay xa hơn. Cậu
bé Lưu Trần Nghiệp ra đời ngày 1-10-1931 tại An Giang, trong một làng cù lao nằm
giữa sông Tiền. Là niềm hy vọng của gia đình, cậu bé như được định hướng vào
nghề thuốc theo truyền thống bên nội, hoặc nghề giáo của bên ngoại. Vậy mà đời
cậu lại chẳng an bài theo số phận. Vốn đa sầu đa cảm, cậu bé dễ rớt nước mắt
trước những điệu hát buồn thảm, và tuổi ấu thơ của cậu thấm đẫm những điệu hò.
Tiếng hò xốn xang quyến rũ có đêm đã gọi cậu vùng dậy chạy dọc theo sông như
người mộng du, rồi một mình đứng bên sông khóc mùi mẫn. Không có điều kiện học
nhạc để sớm bộc lộ nǎng khiếu bẩm sinh, phải đợi cho đến nǎm 45, khi cơn lốc
Cách mạng tràn về thức tỉnh cái làng nhỏ im lìm, cũng là lúc những bài ca yêu
nước làm bừng lên khả nǎng ca hát ở cậu thiếu niên nhút nhát. Không còn là đứa
trẻ trầm tư, rụt rè, cậu hǎng hái tham gia.
Quê tôi ai cũng có một dòng
sông bên nhà
Con sông quê gắn bó với tuổi
thơ đời tôi
Bao năm xa quê ấy trong mơ tôi vẫn thấy
Đoàn tuyên truyền lưu
động Long Xuyên phục vụ Cách mạng bằng tiếng hát, hát đến rát cả cổ họng, hát đến
muốn vỡ tung lồng ngực.Nếu không xảy ra sự kiện Cách mạng, chưa biết cuộc đời cậu
bé thích ca hát đó phải đi theo ngả nào. Có thể đã có một thầy thuốc hay nhà
giáo Lưu Trần Nghiệp, chứ chắc chắn không thể có một nhạc sĩ Hoàng Hiệp! Đam mê
ca hát vừa bùng lên đã kéo theo ngay một niềm đam mê mới: học đánh đàn. Bàng
hoàng thực sự khi lần đầu tiên nghe người ta vừa hát vừa họa theo bằng đàn
mǎngđôlin, cậu thiếu niên 14 tuổi đã nhất quyết thực hiện kỳ được giấc mơ lớn của
đời mình. Khó khǎn lắm gia đình mới sắm nổi cho cậu cây đàn cũ, và cậu tự lần
mò như một em bé tập đi mà không ai dắt. Cùng cây đàn đó, Hoàng Hiệp đã thoát
ly gia đình đi vǎn công kháng chiến. Cùng cây đàn đó, chàng trai 17 tuổi đã vô
tình đặt bước chân đầu tiên lên một ngưỡng cửa mới của nghệ thuật âm nhạc: sáng
tác ca khúc. Bài hát vỡ lòng của chàng nhạc sĩ chưa tên tuổi này là cảm xúc
không thể kìm nén trong nỗi đau mất em gái nhỏ. Nǎm 1954, Hoàng Hiệp theo Đoàn
Vǎn công Nam Bộ tập kết ra Bắc. Vừa theo học khóa sáng tác đầu tiên (1956) tại
Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội), ông đã nổi tiếng vớiCâu
hò bên bờ Hiền Lương. Nhạc sĩ cho rằng từ đó trở đi đời ông may nhiều hơn rủi:
được chọn một nghề nghiệp phù hợp với khả nǎng, được học hành đến nơi đến chốn,
được làm việc tại các nhà xuất bản âm nhạc (Nhà xuất bản Mỹ thuật Âm nhạc
từ 1960 và Nhà xuất bản Giải phóng từ 1969), và công việc biên tập đã cho
ông một điều kiện đáng ao ước đối với người sáng tác: tiếp xúc với nhiều tác phẩm
âm nhạc.
Là người con của quê hương
Miền Nam, dễ hiểu vì sao trong thời kỳ đất nước còn chia cắt, Hoàng Hiệp đã rất
thành công ở những bài ca gửi về đất mẹ thương nhớ. Ông nắm bắt những góc độ bất
ngờ của những con người vô danh, những công việc bình thường, và làm cho những
hình ảnh xúc động trở nên lung linh hơn trong âm nhạc. Em gái vừa hò khoan vừa
vác hòm đạn tám mươi cân với hình cánh hoa lan trên vai áo trắng ngần là vết xước
đinh hòm vừa mới xé.
Mẹ già bao nǎm đào hầm
đủ giấu cả sư đoàn trong lòng đất, và nơi hầm tối đã thành nơi sáng nhất để soi
tỏ tấm lòng và sức mạnh con người Việt Nam .Sức mạnh con người còn được thể hiện
qua những ngọn đèn dầu chong mắt đêm thâu trên đường ra trận, những cây tre rừng
làm nhà biến thành chông diệt giặc, những đoàn xe không kính, không đèn, không
mui, chỉ cần có một trái tim nóng bỏng để lao ra trận tuyến .Sức mạnh tinh thần
tiềm ẩn ở những người con trai con gái nơi tiền tuyến biết gạt đi mọi nỗi nhớ
riêng tư, ở những người vợ người yêu nơi hậu phương biết đợi chờ cũng là hạnh
phúc, như xưa kia ông bà cha mẹ ta đã từng đợi chờ nhau . Vốn sống được tích
lũy từ những chuyến đi, nhiều cảm xúc cũng xuất phát từ đó, nhiều ca khúc thành
công là kết quả của thực tế đời sống mà nhạc sĩ được tận mắt chứng kiến. Sẽ
không có được mộtNgọn đèn đứng gác (1966) đầy xúc động và niềm tin nếu tác
giả chưa từng đội bom trên tuyến lửa khu bốn với ba lần chết hụt. Sẽ chẳng có một Trường
Sơn đông Trường Sơn tây (1971) hay Lá đỏ (1975) đằm thắm và đầy sức sống nếu
tác giả chưa từng lặn lội trên con đường mòn lịch sử.
Cũng chẳng có Em vẫn đợi
anh về (1980) nếu trong chiến tranh tác giả đã không gặp một người - đó là
một người vợ lính luôn bình thản vui vẻ như chẳng hề bặt tin chồng nhiều nǎm,
nhưng nỗi đau khổ nhớ thương chị cất giấu trong mỗi đêm đã để lại đầy những vết
rǎng cắn dọc suốt thành giường. Trước 1975, Hoàng Hiệp còn viết nhiều về đề tài
xây dựng cuộc sống mới trên Miền Bắc. Ông hát về cánh đồng mười tấn rồi lại đến
với nhà máy thép gang, hát từ thượng nguồn đến cánh đồng vùng chiêm trũng, hát
dưới ánh sáng đèn dầu xóm bản đến đêm trǎng đồng bằng, hát với anh lái xe trên
tầng, hát cùng cô xã viên nông nghiệp... Sau 1975, đề tài này được bổ sung thêm
nhiều bài mang tên các vùng đất phía Nam: từ Huế đến Cà Mau, từ Đà Lạt đến Nha
Trang, từ Tây Ninh đến Đồng Tháp... Nếu trong đề tài về chiến tranh Hoàng Hiệp
thường phổ thơ, thì ở đề tài về quê hương ông thường tự viết lời, có lẽ đó là
những cảm xúc trực tiếp sau mỗi chuyến đi về các vùng miền đất nước. Bài
Trở về dòng sông tuổi thơ không gắn liền với địa danh nào cụ thể, lại có
phần nổi trội hơn nhiều bài khác. Bên cạnh đường nét giai điệu giàu cảm xúc, yếu
tố thành công còn nhờ vào lời ca truyền cảm và đẹp như một bài thơ. Bài hát
không trói buộc vào một địa phương nào càng làm cho nhiều người dễ cảm thấy như
chính nỗi lòng mình đang hát về con sông quê của riêng mình.
Sông vẫn in màu mây
Vẫn
khi vơi đầy vẫn mang phù sa
làm đẹp thêm làng quê yêu dấu
Sông
vẫn như thuở ấy
Một điểm đặc biệt nữa trong
đề tài quê hương, là chưa có địa phương ca nào của Hoàng Hiệp, kể cả những bài
dành cho quê hương Miền Nam ruột thịt, được công chúng yêu thích hơn Nhớ về Hà
Nội - Thủ đô yêu dấu, một thời đạn bom, một thời hòa bình và một thời thanh
xuân của chính ông.
Trong giai đoạn hòa bình,
đòi hỏi chính đáng của giới trẻ về đề tài tình yêu đã thôi thúc Hoàng Hiệp viết
nhiều tình ca. Thực ra, chủ đề tình yêu đã xuất hiện từ lâu trong những bài ca
ngày Bắc đêm Nam, những ca khúc kể về tình người hậu phương gửi người ra trận,
về nỗi nhớ nhau giữa cô thanh niên xung phong với chàng lính lái xe đang xẻ dọc
Trường Sơn đi cứu nước. Nhưng, như các bạn trẻ thời nay nhận xét, những bài hát
một thời đạn bom ấy chỉ có 50% tình yêu đôi lứa, còn 50% kia vẫn không quên nhiệm
vụ. Vậy, tình yêu 100% phải từ thập niên 80 trở đi mới thực sự trở thành một chủ
đề chính trong sáng tác của ông. Viết về tình yêu đôi lứa khi đã bước qua tuổi
50, 60... rồi 70, nhạc sĩ cho thấy một quan niệm và cách thể hiện tình yêu của
lớp người từng trải, từng hy sinh mất mất. Đó không phải loại tình ca giận hờn
đỏng đảnh một cách hời hợt, hoặc đau đớn não nề một cách giả tạo như thường gặp
trong nhiều bài hát thời thượng của âm nhạc kinh tế thị trường. Tình yêu của
Hoàng Hiệp không phải trò đùa, không mờ ảo sương khói, không là cỏ, là gió, chợt
đến rồi đi .Yêu, không theo cái cách bột phát, lộ liễu, gấp gáp, mà có phần cổ
điển trong cái nghĩa kín đáo, sâu nặng, bền lâu. Với ông, tình yêu luôn thủy
chung, sắt son, trọn vẹn. Nếu thuở nào đã nhắn nhủ nhau lời thề:
Bến thì một
dạ, khǎng khǎng đợi thuyền,
thì nay ông vẫn muốn giữ cho tình yêu một màu hoa
tím.
Sông vẫn như thuở ấy
Vẫn
con đò ngang đón đưa người sang
và từng đêm hát ru đôi bờ
Chỉ một lần đến là có
một đời để nhớ để yêu, là nguyện nuôi tình yêu trẻ mãi đến trọn đời .Chữ yêu
luôn đi kèm với chữ tin, dù xa cách vẫn biết anh đang nghĩ với em những điều em
nghĩ và anh vẫn thấy đời không lẻ loi. Những nàng Tô Thị của hôm nay cũng như
trong quá khứ, của thời bình cũng như thời chiến, luôn mong mỏi đợi anh về để
có một hạnh phúc thật giản dị, đời thường: được ghen được hờn, được thương được
giận, được cùng chồng hôn con . Hoàng Hiệp ngợi ca những mối tình sáng trong
như nắng mai vàng, đầy đặn như biển ôm bến nước, còn Em dịu dàng như cơn gió nhẹ,
như cánh én mỏng, ấm êm như một vầng nắng giữa đời mưa sa .Cũng có những phút
giây đánh mất, nhưng ngay lập tức người trong cuộc sực tỉnh ngộ anh không ra đi
mà như trở lại.Khoảng cách thời gian, không gian chẳng làm nhạt đi niềm tin về
một tình yêu vĩnh cửu, một tình yêu không già. Ngoài các mảng đề tài chính đã
nói trên, còn thấy ở Hoàng Hiệp một số bài ngợi ca vị lãnh tụ kính yêu (Thǎm
lǎng Bác - thơ Viễn Phương), một vài bài lấy cảm hứng từ đề tài cổ, từ dân
gian, một số bài khác nặng về suy ngẫm lẽ đời và cả những bài hát dành cho thiếu
nhi.
Sông cũng như người ấy
Có
khi vui buồn có khi hờn ghen
chỉ tình yêu tuổi thơ mới thấy
Nhiều bài hát của ông đã được
công chúng yêu mến nhờ những sáng tạo trong nghệ thuật phổ thơ, nhờ một ấn tượng
đậm nét trong ngôn ngữ âm nhạc: đường nét giai điệu uyển chuyển và đa dạng, tiết
tấu linh hoạt và không đơn điệu, lối sử dụng một nét nhạc ngắn vừa làm điểm nhấn
gây chú ý, vừa để tạo nên tính thống nhất cho tác phẩm, và đặc biệt, nhiều yếu
tố gần gũi với phong cách dân ca trữ tình của các vùng miền khác nhau: Bắc,
Trung, Nam, Tây Nguyên. Bên cạnh hơn 200 ca khúc, ông còn viết nhạc cho
sân khấu, cho hàng chục phim truyện và phim tài liệu. Sự nghiệp âm nhạc của ông
được ghi nhận bằng một loạt huy chương, huân chương và một phần thưởng cao quý
nhất trong đời nhạc sĩ: Giải thưởng Hồ Chí Minh về Vǎn học - Nghệ thuật.
Nguyễn Thị Minh
Châu






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét