Vùng Đông Nam Bộ quê tôi, mùa Thu như còn nướng lại với màu
trời quyện cùng mấy chiếc lá đang dùng dằng chưa muốn ngả màu.
Mấy hôm nay, màu trời đượm buồn. Từng lọn mây bàng bạc, mong
manh, nhởn nhơ. Không gian tĩnh mịch, êm như ru. Tờ mờ bóng sương nhẹ buông
trên đường, khiến tôi nhớ đến phiên chợ tình Sapa đầy lãng mạn. Tiếng gió thì
thầm, len lùa qua từng nách lá. Sắc của từng chiếc lá đượm cùng những tia nắng
chiếu vàng rụ, tô đậm thêm nét ảo huyền của một buổi chiều mùa thu. Khí trời hơi
se lạnh. Lòng người bỗng chùng xuống, lâng lâng một cảm giác khó tả trước sự
chuyển mùa của trời đất. Tôi nhớ đến câu thơ của Đinh Hùng ”Trời cuối Thu
rồi em ở đâu?” (Gửi người dưới mộ). Phải, trời đang ở cái đỉnh cuối của mùa
Thu. Câu thơ là cả một sự buồn trông vẫn còn in đậm trong tâm tưởng của những
ai dễ xúc động trước sự giao mùa.
Tôi muốn quyện mình cùng những vần thơ xưa như để níu kéo, để
thưởng ngoạn cảnh sắc cuối thu khi vắt mình sang đông.
Thơ xưa dùng những hình ảnh ước lệ, tượng trưng, mượn cảnh mà
tỏ tình, trang trải nội tình ẩn khuất của mình. Một lẻ là người xưa gắn với
thiên nhiên, cho nên thiên nhiên trở thành đối tượng thẩm mỹ quen thuộc, là nguồn
đề tài phổ biến, và thơ xưa thường lấy thiên nhiên làm chuẩn mực để nói đến con
người. Đây chính là đặc trưng của “cổ thi” vậy.
Ngay từ thời Lê Thánh Tông (1460-1497), Ngô Chi Lan- nhà thơ
nữ đầu tiên của nước ta đã viết bài thơ “Mùa Thu”: “Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu
sơ/ Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa/ Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm/ Rừng phong
lá rụng tiếng như mưa”. Bài thơ ra đời khi thơ ca còn bị gói buộc trong
niêm, luật. Mặc dù vậy, thu vẫn hiện ra với những “Sen tàn, cúc nở hoa“, vẫn “bóng
nhạn, giếng ngọc, rừng phong, lá rụng…“. Ẩn sau cánh thu rất ước lệ ấy, người đọc
nhận ra phảng phất, thấp thoáng một người con gái dù e thẹn nhưng đã dám lộ
trình cái cảm xúc của mình trước thiên nhiên trong sắc thu, vườn thu. Và thật
thú vị, những hương sắc của mùa Thu cổ điển ấy còn được giữ lại đến những thu
sau, và nó đã trở thành nét thu truyền thống, thu của muôn đời, thu ”Đại Việt”.
Tuyết Giang Phu Tử (Nguyễn Bỉnh Khiêm, 1491-1585) đã tả cảnh
một đêm thu thật độc đáo: “Hiu hắt đêm qua trận gió vàng/ Ngồi buồn như gợi
tấm lòng thương“ (Thu tứ). Ở đây không phải là màu vàng của lá, màu vàng của nắng
trời, mà là màu vàng của gió ( kim phong). Ta nhận ra ngay đó không phải
là trận cuồng phong trong ” Gió thu tốc nhà” ( Đỗ Phủ), mà cũng không phải là
ngọn gió đưa vèo chiếc lá của Nguyễn Khuyến, đó chỉ là gió thu tải đậm sắc
vàng. Từ “hiu hắt” làm nhẹ đi từ “trận“. Gió thu thường được trình đạt với chuẩn
độ “hây hây” chứ không hề nặng trĩu. Người đọc hiểu, chấp nhận và cảm được cái
nghĩa sâu xa của “trận gió vàng” của một đêm mùa Thu. “Trận” có phải là tâm trạng,
nỗi niềm u uất của Nguyễn Bỉnh Khiêm? Còn “gió vàng“, phải chăng là hương của
chiếc lá ngô đồng vừa mới rụng (Ngô đồng diệp lạc)? Tính độc đáo về ngôn
từ là cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã không dùng “lá vàng” mà là “gió vàng“. Liệu ông
có nhầm lẫn giữa sắc của lá và hương của gió không? Chắc chắn là không! Một cụ
Trạng nước Việt thì không thể nhầm được. Vậy là gió đã đưa mùa Thu tới. Dùng
“gió vàng” để chỉ gió của một đêm thu, quả thật khó có mấy ai! Gió thu hẳn phải
mang theo sắc vàng của những chiếc lá khô và hương của hoa mùa Thu. Hương và sắc
của vạn vật đã tạo nên một gió thu vàng rất riêng trong thơ của Nguyễn Bỉnh
Khiêm. Cho nên chắc chắn ai cũng hiểu được đó là một đêm của mùa Thu, với nỗi
buồn miên man, nhà thơ thấy như in màu vàng của mùa Thu đất trời. Tiếp câu thơ
ta sẽ thấy rõ hơn đó là tâm trạng: “Ngồi buồn như gợi tấm lòng thương“. Rõ là
con người và thiên nhiên đã hoà quyện như người bạn biết sẻ chia và cảm thông.
Nguyễn Du cũng bộc bạch riêng mình. Ông đã có lúc thốt lên rằng:
” Ba thu dồn lại một ngày dài ghê“. Là độ dài của tâm trạng chứ không phải
của thời gian. Tâm trạng của Nguyễn Du chính là tâm cảnh, là tác động của màu sắc
thu cộng hưởng với nỗi niềm của thi nhân mà nên. Ta còn bắt gạp tâm trạng như vậy
trong ca dao: “Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu“. Điều này càng làm rõ đặc
trưng của mùa Thu.
Tải trọng đêm thu của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay là độ dài của một
ngày thu của Nguyễn Du đều đằng đẵng, trì nặng.
Đến với Nguyễn Khuyến ta nhớ đến chùm thơ Thu (Thu điếu,
Thu vịnh, Thu ẩm) nổi tiếng. Mỗi bài mỗi vẻ, nhưng có cùng nét chung là cảnh vật
vắng vẻ, cô quạnh, lòng người rười rượi đầy tâm trạng trong khoảng trời bao la,
xanh ngắt vời vợi. Con người như chơi vơi, vô bờ. Với mấy nét chấm phá của bức
tranh sơn thuỷ, lá vàng mùa thu hoà giữa những nét xanh của ngõ trúc, của cái
sóng gợn mặt nước hồ, của mây, làm cho dáng thu của vùng quê Việt Nam trở nên
thướt tha hơn “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo/ Một chiếc thuyền câu bé tẻo
teo” (Thu điếu), “Trời thu xanh ngắt mấy từng cao” (Thu vịnh), “Da trời ai
nhuộm mà xanh ngắt“ (Thu ẩm). Và cụ Tam Nguyên Yên Đỗ thật xứng danh là nhà
thơ của thu. Qua những nét vẽ của nhà thơ dễ khiến lòng ai đã yêu phong cảnh
trù phú đặc trưng của nông thôn bắc bộ, lại càng thêm yêu quê hương mình hơn.
Thoáng cảm trước cảnh trời cuối thu với những dòng thơ xưa,
trở về thực tại, tôi nghĩ lại lời văn của K. Pauxtôp-xki (1892-1968) trong tác
phẩm Một mình với mùa Thu( 1963): “…Mùa Thu lao xao trò chuyện với những
chiếc lá cuối cùng đang lác đác rơi xuống… Và anh sẽ cảm thấy đó là một tuyệt
tác vĩ đại vô cùng của thiên nhiên, món quá nâng đỡ tâm hồn anh, gợi cho anh nhớ
rằng cuộc đời chung quanh chứa đầy giá trị và ý nghĩa”
Năm nay, đất trời như vội lập đông, trong tôi còn vương mãi
cái cảm thức về mùa Thu quê hương, Thu nước Việt thật đẹp, thật lãng mạn, đã gợi
men cho hồn thơ của bao thi nhân. Chế Lan Viên phải tiếc nuối, đã thốt lên lời
nhắn gởi: “Ai đâu trở lại mùa Thu trước/ Nhặt lấy cho tôi những lá vàng“.
Vũ Hồng




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét