Vu
Lan là ngày thể hiện tình người
Vu Lan là ngày thể
hiện tình người thắm thiết trong cuộc sống nhân sinh, mang tính văn hoá đạo đức
tâm linh, văn hoá đạo đức tình người. Ngày lễ này đã ăn sâu trong lòng mỗi người
dân Việt, cũng như sự ảnh hưởng của nó đã lan toả khắp cộng đồng nhân loại, thắm
đượm tinh thần từ bi của Đạo Phật.
Ngày Vu Lan không chỉ dành
riêng cho người phật tử hay trong Đạo Phật, mà còn là mùa lễ hội văn hoá của
tình người, mở rộng tâm hồn để kết nối nhịp cầu yêu thương với mọi người và tất
cả chúng sanh trong cùng khắp pháp giới. Tinh thần ảnh hưởng của ngày lễ hội có
tác dụng rất mạnh mẽ trong xã hội, mang tính nhân văn cao cả, suy tiến mọi ân
tình, ân nghĩa trong cuộc sống, khuyến khích mọi người sống có luân thường đạo
lý.
Rằm tháng Bảy là ngày xá tội
vong nhân, người dân thường làm lễ cúng chúng sinh. Cúng Rằm tháng Bảy mỗi nơi
một khác song giống nhau ở tấm lòng thành và tâm hướng thiện. Cùng với các hoạt
động thể hiện truyền thống văn hóa tốt đẹp của người dân Việt Nam, Rằm tháng Bảy
âm lịch hàng năm, người dân lại tổ chức lễ Vu Lan báo hiếu.
Hiếu thuận với cha mẹ không
phải là việc ngày một, ngày hai, nhưng Lễ Vu Lan vẫn luôn là dịp để bao nỗi niềm
được bộc bạch, sẻ chia. Tấm lòng của bao người con, dù đang được ở bên cha mẹ
hay phải xa quê, được tri ân đấng sinh thành, dưỡng dục của mình một cách thành
kính nhất.
Đôi nét về sự ra đời của
Lễ Vu Lan
Định nghĩa từ Vu-lan: Cho đến
bây giờ các học giả đạo Phật đều thỏa thuận là chữ “vu-lan-bồn”, phiên âm từ chữ
“ura-bon-e”, xuất xứ từ tiếng Phạn Sanskrit “ullambana”, một hình thức đọc gọn
chữ “avalambana”, có nghĩa là treo ngược. Tiếng Trung Hoa dịch nghĩa là “đảo
huyền”, treo ngược chân lên trời, đầu xuống đất, là một hình phạt vô cùng tàn
khốc áp dụng cho các tội đồ. Người Trung Hoa phiên âm từ “ura-bon-e” thành từ
“vu-lan-bồn”, nói tắt là “vu-lan”. Lễ Vu Lan trở thành một chức năng của tập tục
thờ cúng tổ tiên, rất quan trọng trong nền văn minh của Trung Hoa và các nước
lân cận chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa.
Học giả người Nhật Bunyu
Matsuda sưu khảo trong đại tập Huyền Anh Diễn Nghĩa là một bộ kinh Phật gồm 25
tập, 449 quyển của đại sư Huyền Anh sống dưới đời Tùy, phiên âm và diễn dịch tất
cả từ ngữ trong kinh điển nhà Phật từ tiếng Ấn Độ sang tiếng Trung Hoa. Trong tập
số 13, chữ vu lan bồn được phiên âm và giải thích cặn kẽ. Đại sư Huyền Anh viết:
từ ura-bon mà ta dịch là vu lan bồn là một hình thức phiên âm sai lạc; phải viết
đúng là ullambana mới có nghĩa là “đảo huyền”.
Lại nữa, vào đời Thịnh Đường,
ở phủ Khai Phong, đại sư Tông Mật lại đưa ra một nhận định khác, khi ông viết
phần Luận của cuốn Vu Lan Bồn Kinh. Ông viết: ullam không hẳn là tiếng Phạn, từ
này gốc ở Trung bộ Á châu, nơi đạo Phật theo con đường Lụa hoằng dương vào
Trung Hoa. Chữ ullam có thể hiểu và dịch là đảo huyền, nhưng chữ bana phiên dịch
ra Hán ngữ là bồn, phải hiểu là một con thuyền hay một tấm ván, tấm bè làm
khay, một cái chậu đựng thức ăn. Vậy toàn bộ chữ ullambana dịch sang Hán ngữ,
phải được hiểu là “cứu giúp một con thuyền bị lật ngược, hay là quay lại cho
ngay một tấm bè hay một cái khay, một cái chậu, bị lật ngược”. Đại sư Tông Mật
giải thích là ngay trong bản kinh Ullamba Sutra (Vu-lan-bồn Kinh) cũng có đoạn
nói đến cái khay. Đức Phật dạy muốn báo hiếu chuộc tội cho cha mẹ, phải thành
tâm “dâng đầy khay thức uống và hương hoa phẩm vật” cho các bậc tôn trưởng cầu
xin họ giúp lời cầu nguyện.
Ý kiến phân giải của đại sư
Tông Mật được đại sư Đạo Thế là người trước tác bộ Pháp Uyển Châu Lâm yểm trợ.
Tác phẩm này dày 100 cuốn, là một công trình hệ thống hóa hai mục Kinh và Luận
trong Tam tạng kinh điển nhà Phật. Trong phần trích dịch Kinh Ullambana Sutra
cũng có đoạn nói tới lời đức Phật dạy phải dâng “đầy khay” hương hoa quả phẩm
cho tăng chúng để xin giúp lời cầu nguyện cho tổ tiên được siêu thoát.
Học giả Bunyu Matsuda còn dẫn
thêm là tài liệu trong bốn cuốn kinh khác, Vu-lan-bồn Kinh sơ, Vu-lan-bồn Kinh
sơ hiếu hành châm, Thích Thị yếu lãm và Fan-i-ming i-chi (?) để yểm trợ lời giải
thích của Tông Mật. Công trình nghiên cứu bác học của thế hệ mới, đặc biệt là
trường Nhật Bản sung túc phương tiện trí óc và nhu cụ làm cho ta phấn khởi về
tương lai của một nền Phật học hàn lâm. Tuy nhiên nếu đọc thật kỹ tài liệu
trình bày hai ý kiến của hai vị đại sư Huyền Anh và Tông Mật cùng giải thích từ
ngữ “vu lan bồn”, ta có thể kết luận không sợ sai lạc nhiều là hai ý kiến có vẻ
không tương phản, mà còn hỗ trợ nhau. Người học Phật bước đầu nghiêng về phía
giản tiện, hãy dùng chữ “Vu Lan” để gọi ngày lễ “Rằm Tháng Bảy”.
Cầu nối giữa quá
khứ và hiện tại
Từ cổ chí kim, Đông phương
hay Tây phương đều suy tiến đạo hiếu. Tinh thần của ngày lễ Vu Lan được thể hiện
trên ba phương diện: lòng biết ơn công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ,
phương pháp báo đáp công ơn đó và nhân quả tất yếu của đạo hiếu.
Chúng ta nên biết, hiếu kính
phải đi đôi với hiếu dưỡng. Lòng biết ơn cha mẹ phải được thể hiện bằng những
hành động việc làm cụ thể, phụng dưỡng cha mẹ về vật chất lẫn tinh thần, có như
vậy mới đầy đủ ý nghĩa tri ân và báo ân. Từ những ý nghĩ và hành động báo hiếu
đó sẽ đưa đến kết quả tốt đẹp cho những người con hiếu thảo.
Vì thế, ngày Vu Lan cũng là
dịp để suy tiến đạo lý nhân quả, khuyên mọi người sống hay, sống đẹp, sống có ý
nghĩa. Sống là một nghê thuật. Chúng ta phải sống hiếu thảo với cha mẹ, hiếu
kính với người trên, hiếu hoà với kẻ dưới, hiếu thuận với mọi người và hiếu
sinh với vạn loại. Như vậy, ngày lễ hội Vu Lan mang nhiều ý nghĩa giá trị luân
lý đạo đức, đề cao mọi ân tình ân nghĩa trong cuộc sống nhân sinh và vạn loại.
Vu Lan là nhịp cầu yêu
thương, được truyền thông từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. Chúng ta không
chỉ nhớ ơn những người đang cưu mang mình mà còn tri niệm công ơn của những người
đã khuất như cửu huyền thất tổ, đa sanh phụ mẫu, thất thế phụ mẫu, hay những
chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, những người đã hy sinh xương máu cho nền độc
lập tự do của tổ quốc, để hôm nay chúng ta được sống trong cảnh thái bình, no ấm.
Nhiều đàn tràng chẩn tế, cầu siêu bạt độ, chẩn thí âm linh… được các cấp Giáo hội
và chính quyền tổ chức tại các tỉnh thành cũng nhằm mục đích thể hiện tinh thần
đền ơn đáp nghĩa cao đẹp này.
Tinh thần của mùa lễ hội Vu
Lan giáo dục lòng nhân ái đối với kẻ còn người mất, khơi mở tấm lòng độ lượng
bao dung trong mối quan hệ tương duyên giữa mình và vạn loại. Tình yêu thương đất
nước, giống nòi, đạo pháp, dân tộc, tinh thần tôn sư trọng đạo, yêu thương cha
mẹ, mọi người, mọi loài… được suy tiến trong mọi khía cạnh đạo đức của xã hội
vào dịp Đại lễ Vu Lan. Đây cũng là dịp thể hiện tinh thần cứu khổ độ sanh, mang
thông điệp từ bi của Đạo Phật vào đời, chuyển hoá khổ đau, kết nối nhịp cầu yêu
thương, xây dựng xã hội ngày thêm tươi đẹp, bình an, phúc lạc.
Mỗi năm đến mùa Vu Lan,
trong lòng chúng ta lại rộn lên một niềm hiếu hạnh, nhớ thương cha mẹ nhiều
hơn. Đây là dịp làm ấm lại ân tình ân nghĩa sâu đậm của cha mẹ, công ơn sanh
thành dưỡng dục nặng tợ cù lao, để rồi trong mỗi thời khắc của cuộc sống, chúng
ta không bao giờ quên ơn cha mẹ dù còn sống hay đã khuất.
Không phải đợi đến Rằm Tháng
Bảy chúng ta mới cảm thấy thương nhớ cha mẹ, mà phải tâm niệm rằng ngày nào, giờ
nào, phút nào, tình yêu thương cha mẹ vẫn luôn chứa chan trong lòng mỗi người
con hiếu hạnh.
“Nghĩ về mẹ trời luôn tươi sắc
nắng,
Hoa trong vườn không gió
cũng xôn xao”.
Bên cạnh những lời dạy đầy
minh triết của Đức Phật nhằm chuyển hoá thân tâm, đạt đến mục tiêu tối thượng
là giác ngộ giải thoát, thì tinh thần của ngày lễ Vu Lan cũng dần dần trở thành
ngày lễ hội truyền thống của dân tộc. Dầu có bề bộn công việc gì, đến ngày này
chúng ta đều về chùa, dự vào pháp phần của Phật, nghe quý thầy giảng về công ơn
cha mẹ, cách báo hiếu, đền ơn đáp nghĩa, chúng ta mới thấy hết ý nghĩa trong đời
sống đạo đức tâm linh. Mỗi chúng ta đều mang trong mình dòng máu của tổ tiên,
ông bà, cha mẹ. “Mộc bổn thuỷ nguyên”, ai ai cũng có nguồn cội gốc gác của
mình.
“Cây có cội mới trổ cành
xanh lá,
Nước có nguồn mới toả khắp rạch
sông”.
Vu Lan được xem là “ngày về
nguồn”, là dịp để truy niệm nguồn gốc hiện hữu của mình trên thế gian, và những
ân tình đã cưu mang chúng ta tồn tại, phát triển trong cuộc đời này. Sự sống của
chúng ta được tiếp diễn bằng những mối tương duyên, tương quan của mọi người
xung quanh, thân hoặc sơ, trực tiếp hay gián tiếp đều ảnh hưởng đến sự tồn tại
và phát triển của chúng ta. Không một ai có thể tự tách rời ra mà tồn tại được.
Đây là tinh thần nhân văn cao cả thể hiện trong ý nghĩa về lý nhân duyên sinh,
trùng trùng duyên khởi. Nếu mọi người đều hiểu được đạo lý này, mình vì mọi người,
mọi người vì mình thì xã hội sẽ tươi đẹp, thấm đượm tinh thần từ bi, vô
ngã vị tha của Đạo Phật.
Tất cả chúng ta có mặt trên
cõi đời này đều do công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Từ thuở bé, cha mẹ
đã lo cho ta từng cái ăn, cái mặc. Đến khi lớn lên, lại lo cho chúng ta đến trường
trau dồi kiến thức, mai sau có công danh sự nghiệp cho mình tiến thân. Không những
thế, cha mẹ sợ chúng ta hư hỏng nên hướng vào môi trường đạo đức tâm linh, đưa
đến chùa quy y Tam Bảo, biết cách ăn ở hiền thiện, để từ đó chúng ta làm hành
trang bước vào đời một cách tự tin và vững chãi. Vì vậy, công ơn cha mẹ thật vô
bờ bến, mà bổn phận mỗi người con phải tự mình ghi khắc trong tim. Nếu chúng ta
không thương cha mẹ một cách chân tình thì đối với những ân tình ân nghĩa khác
trong xã hội, chúng ta cũng không thể báo đáp trọn vẹn. Giả chăng nếu có, cũng
chỉ là một hình thức vụ lợi để mưu cầu cho riêng mình.
Có thể nói, hiếu đạo là nền
tảng đạo đức của xã hội loài người, là nền móng căn bản hướng đến lầu cao trí
tuệ, là tiêu chí căn bản của người tu. Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh
Phật, Đạo hiếu tức là Đạo Phật. Là người phật tử đến chùa tụng kinh, làm mọi việc
thiện lành, lại sống bất hiếu, đối xử tệ bạc với cha mẹ thì không xứng đáng là
người đệ tử Phật. Trong kinh, Đức Phật dạy: “Gặp thời không có Phật, khéo thờ
cha mẹ tức là thờ Phật”. Đức Phật đã nâng địa vị của cha mẹ lên ngang tầm với
Ngài, xem cha mẹ tại tiền như Phật tại thế mà hết lòng phụng thờ, nuôi dưỡng
cho trọn đạo làm con. Như thế, chúng ta có thể hất hủi, xem thường cha mẹ mình
chăng? Thơ ca dân gian cũng đã truyền tụng:
Bất hạnh thay cho những ai
không còn cha mẹ hiện hữu trên đời để vỗ về sưởi ấm con tim, không còn dịp để
phụng dưỡng, đền đáp thâm ân cao vời của cha mẹ, thì đến ngày Vu Lan nên một
lòng chí thành tưởng nhớ về hai đấng sanh thành với niềm tôn kính nhất, phát
tâm làm mọi điều thiện lành, sống tốt đời đẹp đạo, hồi hướng công đức cho cha mẹ
sớm siêu sanh về cõi giới an lành. Đó cũng là cách báo đáp công ơn cha mẹ khi
người đã khuất.
“Nếu mình hiếu kính mẹ cha,
Mai sau con hiếu với ta khác
gì.
Nếu mình ăn ở vô nghì,
Đừng mong con hiếu làm gì uổng
công”.
Ngày nay, bên cạnh việc cúng
dường, tạo phúc trong ngày lễ Vu lan, tín đồ Phật tử còn tổ chức các sinh hoạt
tôn giáo, văn hóa, văn nghệ mang đậm nét nhân văn, thu hút được sự tham gia của
đông đảo quần chúng nhân dân.
Chính vì vậy mà ngày Vu lan
đã được nâng tầm trở thành một ngày lễ hội, không chỉ với người Phật tử, mà cả
những người không phải là Phật tử cũng hưởng ứng tham gia. Cũng chính vì những
sinh hoạt đi kèm này mà lễ hội Vu lan ở mỗi quốc gia đều có nét đặc trưng riêng,
điển hình như lễ hội Vu lan ở Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Việt
Nam…
Lễ Vu Lan của một số
nước trên thế giới
Phật giáo Đại thừa ở Trung
Hoa bắt đầu thiết lễ Vu Lan dưới thời Nam Bắc triều vào thế kỷ thứ Sáu. Tài liệu
cũ nhất tìm thấy trong Phật Tổ thống chí ghi là lễ được thiết vào ngày Rằm
Tháng Bảy năm 538 TL. Vua Vũ đế nhà Lương đến lễ Phật tại Đông Đài Tự và dâng lễ
Vu Lan. Nhưng lễ Vu Lan ngày đó chỉ dành cho vua chúa và qúy tộc thiết lễ trong
các ngôi chùa lớn, chưa phải là một dịp hội hè của dân gian. Phải chờ đến hai
trăm năm sau, dưới triều Đường Thái Tôn mới thấy trong Thích Thị ký cổ lược ghi
rõ ngày lễ Vu Lan, tháng Bảy năm 766 TL, được thiết trong triều có lễ rước Kiệu
Phật vào cung đình, và sau đó đem trưng bày Xá lợi tại Quảng An Môn cho dân
chúng chiêm ngưỡng. Từ ngày đó lễ Vu Lan mới thành ra một ngày lễ cho đại chúng
tham gia. Đồng thời, ý nghĩa của ngày Vu Lan cũng thay đổi.
Khoảng giữa thế kỷ thứ Tám,
vào đời Đường, có một vị pháp sư Ấn Độ tên là Amoghavajra, tinh thông giáo lý
nhà Phật, muốn đạo Phật tập quán nhiều hơn vào truyền thống xã hội Trung Hoa
tôn trọng việc thờ cúng tổ tiên, nên thay đổi ý nghĩa của ngày Vu Lan, làm
thành ngày lễ hướng về tất cả vong hồn những người đã chết vì loạn lạc, chiến
tranh, chết không có con cái thờ tự, chết vì nghèo đói; danh từ Phật gọi chung
là ngạ quỷ. Cũng vào thời kỳ này gọi là Thịnh Đường, đạo Phật trở nên cực kỳ
hưng thịnh, cho nên cách thiết lễ Vu Lan cũng đổi thay.
Đến rằm tháng Bảy, trong mọi
gia cư và tại chùa, dân gian xây đàn, làm chay để cúng vong hồn; đồng thời
ngoài cộng đồng, nơi các chùa lớn lại có tục lệ tổ chức chưng bày các bảo vật
thờ tự đức Phật, như là di tích của đức Phật (ví dụ, Xá lợi là di vật nhục thân
của đức Phật đựng trong bình đá, bình ngọc) đem từ Ấn Độ sang, hoặc là các bổn
kinh chép bằng chữ Sanskrit hay Pali, khắc trên đá, đẽo trên gỗ, chép trên lá
cót, lá gồi…) cho dân chúng được phép chiêm ngưỡng. Nhà chùa lại khuyến khích
các gia đình giàu có tham gia cuộc triển lãm bằng cách chưng bày các của riêng
trân châu dị bảo cho khách thập phương từ xa đến thưởng ngoạn.
Khách đi xem trong tỉnh,
ngoài tỉnh đến dựng lều ở trên đất chùa, và tổ chức các buổi ca vũ, hát tuồng,
thi đua tranh tài võ nghệ, thi đua khoe tài nấu nướng các món chay làm lễ cúng
Phật và thết đãi người đồng đạo. Từ đó mà có ý nghĩa thiêng liêng “Đại hội Vu
Lan”, xá tội cho những linh hồn chết bị nghiệp đày đọa và cởi mở cho những linh
hồn sống vui tươi, hành thiện. Đại sư Amoghavajra hiểu rõ là đạo Phật từ Ấn Độ
vào Trung Hoa phải vượt qua cái điều chướng ngại căn bản là truyền thống luân
lý Trung Hoa từ lúc mới khai sáng, dựa trên nền tảng hiếu đạo: Nguyên thủy, đạo
Phật dạy xuất thế, từ chối gia đình để hướng tới giải thoát nghiệp. Từ chối vợ
con tức là chối bỏ cái sứ mệnh nối dõi giòng họ để cúng giỗ; từ chối gia đình tức
là bỏ cha mẹ không nuôi dưỡng. Người Trung Hoa khó lòng mà chấp nhận giáo lý
nhà Phật chủ trương như vậy.
Để giải quyết chướng ngại
đó, đạo Phật phải tập quán vào xã hội vĩ đại của Trung Hoa bằng ba phương cách.
Thứ nhất là dịch thuật và diễn giải các bộ kinh Phật liên hệ đến chữ hiếu, đã
có sẵn rất nhiều trong kinh điển Sanskrit và Pali vừa mới du nhập vào nước Tàu,
để chứng minh là giáo lý Phật cũng nặng chữ hiếu không kém truyền thống Trung
Hoa. Phương cách thứ hai là thiết lập một số kinh điển mới do các đại sư Ấn Độ
và Trung Hoa rút ý trong kinh điển nhà Phật viết ra, chú trọng vào hiếu để. Phương
cách thứ ba còn siêu việt hơn nữa. Chữ hiếu cổ truyền của người Trung Hoa chỉ
giới hạn trong phạm vi gia đình: cha mẹ ông bà. Chữ hiếu của nhà Phật bao gồm
người sống và người chết: những người đã chết trong bao nhiêu đời trước (tổ
tiên), rộng hơn nữa là những người đã chết cô quả không người cúng tế, và chính
ngay những người đang sống vì trả nợ kiếp trước. Chữ hiếu theo quan niệm nhà Phật
bỏ cái quan niệm cá nhân và gia đình để bao trùm hoàn vũ, lại còn đi vào chiều
sâu thời gian. Ý niệm hiếu để của đạo Phật vượt lên bậc siêu đẳng, đáp ứng với
nhu cầu hướng thiện và hướng linh của con người.
Ta thử lược qua kinh điển để
dẫn chứng cụ thể những điều nói trên. Đời Hậu Hán, An Thế Cao (An Shih-Kao) dịch
trước tiên hai bộ kinh liên hệ đến chữ hiếu: Kinh Thi-Ca-Việt Lục Phương Lễ, và
kinh Phụ Mẫu Ân Nan Báo. Tiếp theo đời Ngũ đại, đại sư Tân Pháp Tư dịch bộ kinh
Phật Thuyết Thiện Sinh Tử. Hai bộ kinh căn bản của trường Phật giáo Nguyên thủy
là Trường A Hàm và Trung A Hàm, được dịch ra Hán văn từ thế kỷ Bốn và Năm cũng
nhắc lại lời dạy của đức Phật về chữ hiếu.
Thế nhưng muốn đề cập đến vấn
đề hiếu để trong đạo Phật, ta phải đọc đến hai bộ kinh căn bản là bộ Kinh “Bồ
Tát Thiện Tử” nói đến một người con có hiếu tên là Thiện Tử và bộ Kinh “Vu Lan
Bồn” do đại sư Pháp Phong dịch dưới đời Tây Tấn, nói đến sự tích Mục Kiện Liên,
một vị đại đệ tử của đức Phật.
Kinh Bồ Tát Thiện Tử do một
nhà sư vô danh dịch ra Hán văn dưới đời Tây Tấn, được chùa Trung Hoa xem là bổn
kinh, nhưng thật sự là trích ra trong Truyện Tiền Thân của đức Phật (Jataka).
Thiện Tử (Sanskrit là Syama; Pali, Sama) là một vị bồ tát đã tình nguyện đầu
thai làm con một cặp vợ chồng đui mù đã phát nguyện từ bỏ đời sống phù du nơi
thành thị, đến ở một hang núi để tu tập. Đứa con lớn lên rất có hiếu với cha mẹ
và đem cha mẹ vào ở trong một hang núi để thực hiện điều nguyện ước. Một hôm
Thiện Tử đội chiếc áo da nai xuống suối lấy nước. Nhà vua đi săn qua đó, tưởng
lầm là thú, bắn mũi tên độc vào chàng trai. Thiện Tử nằm chờ chết, không oán hận
nhà vua, cho là mình chết vì nghiệp, nhưng tiếc thương vì còn cha mẹ già không
ai nuôi dưỡng. Ông và bà cụ già mò đến xác Thiện Tử. Người cha ôm đầu con truyền
hơi thở, người mẹ đặt miệng vào vết thương cố hút chất độc ra. Trong cơn đau đớn
họ nguyện cầu đức Phật cứu độ. Tức thì Phật Quán Thế Âm hiện ra, chữa lành vết
thương cho Thiện Tử, và đồng thời cứu cha mẹ Thiện Tử khỏi mù lòa. Cuốn kinh kết
luận bằng lời dạy của đức Phật là hiếu để sẽ thắng mọi điều khổ ải. Câu chuyện
này rất phổ thông trong dân gian Trung Hoa. Chuyện Thiện Tử còn được nhắc lại
trong hai bổn kinh là “Lục Độ Thập Kinh” và “Pháp Uyển Châu Lâm”. Thầy Huyền
Trang (Đường Tam Tạng) cũng có thuật lại chuyện Thiện Tử trong sách “Đại Đường
Tây Vực Ký”.
Sang đời Tống, chuyện Thiện
Tử được hoàn toàn Trung Hoa hóa, trở thành một trong hai mươi bốn mô hình của
Nhị Thập Tứ Hiếu và Thiện Tử được đổi tên là Yến Tử, chi tiết câu chuyện được đặt
vào một cảnh vực Trung Hoa hơn.
Chuyện hiếu của Mục Liên tả
trong kinh Vu Lan Bồn lại càng phổ thông hơn trong các nước Á Đông theo Phật
giáo Đại Thừa. Kinh Vu-lan-bồn do đại sư Ấn độ Pháp Phong (Dharmaraksha,
Đàm-ma-la-sát, phiên âm chữ Nho) dịch vào cuối đời Tây Tấn. Bổn kinh này liên hệ
trực tiếp với lễ Vu Lan, nội dung của bổn kinh lại còn trình bày rõ ràng hơn
quan niệm của đạo Phật về chữ hiếu, ta đã nói ở đoạn trên.
Ý niệm xuất thế của đạo Phật,
bỏ nhà đi tu, không trọn hiếu đạo với cha mẹ, được Kinh Vu Lan giải tỏa và người
Trung Hoa cùng với các dân tộc khác ở Á Đông đã nồng nhiệt chấp nhận phương
cách giải thích như vậy. Ở Trung Hoa ngày đó, sự tích Mục Kiền Liên được phổ cập
quanh năm trong nhân gian, không những trong chùa vào ngày lễ lạc, mà ở khắp mọi
nơi, trong nhà thành câu hát ru em, ngoài chợ thành bài vè cho người hát xẩm, tạo
nên một loại văn chương gọi là biền văn. Đầu thế kỷ Hai mươi, khi khám phá ra
các động thờ Phật tại Đôn Hoàng (Tân Cương) ngừơi ta tìm được nhiều bổn biền
văn này, như là “Mục Kiền Liên biền văn”, “Mục Kiền Liên Lục Khởi” và bộ “Đại Mục
Kiền Liên Minh Cứu Mẫu Kiến Văn tịnh độ”. Các tài liệu này đều được trước bạ
trong sách “Đôn hoàng trích yếu lục” của chánh phủ Trung Hoa Dân Quốc ấn hành tại
Bắc Kinh năm 1931. Các bổn chánh đã bị người Âu châu chiếm đoạt, đem giữ tại
Bibliothèque Nationale de Paris và British Museum.
Sự tích Mục Liên được kể rõ
với đầy đủ chi tiết trong ba tài liệu nói trên, và từ ngày đó làm đề tài cho
nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật tại Trung Hoa. Quan trọng hơn hết là một tác
phẩm nghị luận (được kinh điển nhà Phật xếp vào bộ Luận) của đại sư Tông Mật.
Nơi đây ta cần nói rõ hơn là ông xuất thân từ quý gia vọng tộc, từ nhỏ học đạo
Khổng rất uyên thâm, và trở thành một bậc chân tu theo đạo Phật. Ông dựa trên
Kinh Vu Lan để lập luận, so sánh chữ hiếu giữa đạo Khổng và đạo Phật. Theo ông,
đạo Phật không khác đạo Khổng, đặt vấn đề hiếu đạo lên hàng đầu. Kinh Phật từ Ấn
Độ sang “gồm có Kinh (là lời dạy của đức Phật) và Luật là giới hạnh của người
tu Phật. Kinh đề ra nguyên tắc và trí huệ; Luật đề ra phép tắc để hành trì. Luật
có cả hàng vạn điều, nhưng điều căn bản là hiếu đạo”. Ông dẫn chứng bổn kinh Phạm
Võng (được xem là kinh Luật căn bản của Phật giáo Đại thừa): “Khi đức Phật giác
ngộ dưới cây Bồ đề, Ngài công bố luật Pratimoskha (tùy thuận giải thoát) cho
người tu đạo bồ-tát, và luật này dựa trên nền tảng hiếu đạo”.
Tông Mật cho rằng Nho giáo dạy
chúng ta sống xứng đáng để thanh danh lại cho con cháu đời sau, nhưng chính Phật
giáo lại dạy ta điều nhập thế là truyền bá lòng từ bi nhân ái cho thế hệ hiện tại
đang sống chung quanh ta. Nho giáo dạy lễ nghi, chẳng hạn ngày giỗ ngày Tết phải
sát sanh để làm giỗ tổ tiên; đạo Phật hiếu sinh hơn, dạy ta cầu nguyện nhưng
không sinh sát. Tông Mật còn đi xa hơn, đề quyết là đức Phật ngày xưa bỏ ngôi
đi tu chính là vì “muốn báo hiếu cho cha mẹ, không muốn cha mẹ kiếp kiếp bị trầm
luân”.
Lập luận dựa trên kinh Vu
Lan để trình bày quan điểm của đạo Phật đối với chữ hiếu, như Tông Mật và các
nhà học Phật thời bấy giờ chắc chắn đã tháo gỡ được rất nhiều các mối dè dặt của
giới nho sĩ đối với đạo của Thích Ca. Do đó mà vào đời Thịnh Đường, lúc đạo Phật
thâu hút toàn bộ nhân dân Á Đông và Trung Hoa, người ta đã thiết lễ Vu Lan như
là một ngày hội chánh, đầy ý nghĩa tôn giáo và xã hội.
Lễ Vu Lan ở Nhật Bản
Nước Nhật Bản ngày nay đứng
vào hàng đầu trong kỷ nguyên văn minh hậu kỹ nghệ, được sắp hạng tối ưu trong
các lãnh vực tiền phong như điện toán, tín hiệu… Và cũng không có một dân tộc
nào như người Nhật, đi mau và đi trước nhưng vẫn giữ tối đa nếp sống cổ truyền
đã có từ mấy nghìn năm trước. Lễ Vu-lan tại Nhật gọi là lễ Bon, viết tắt chữ
urabon, còn viết là urambon. Trước Thế-chiến II, Vu-lan Bon là ngày lễ công lập,
công sở và trường học đóng cửa, nhân công được nghỉ việc ăn lương. Hai ngày lễ
quan trọng nhất trong năm là ngày Nguyên đán và ngày Vu Lan Bon. Tưởng cần nhắc
lại là nước Nhật đang dùng dương lịch nhưng vài địa phương và trong các chùa vẫn
giữ âm lịch. Tục lệ khuyến khích những người đi làm ăn xa gia đình trong dịp
Nguyên đán và Vu Lan phải trở về nhà sum họp và dâng lễ cúng tổ tiên. Vì vậy mà
vào hai dịp lễ lớn đó các phương tiện chuyên chở tư nhân hay công cộng đều tấp
nập kèn kẹt từ cuối tháng Sáu cho đến giữa tháng Bảy.
Cho đến ngày nay, trong các
cộng đồng truyền thông đặc biệt ở vùng quê, dân chúng chuẩn bị lễ Vu Lan Bon từ
ngày mồng một tháng Bảy. Trong mỗi gia cư người Nhật đều có một bàn thờ Phật gọi
là Budsudan. Đầu tháng Bảy, người ta đặt trước bàn thờ Phật một chiếc bàn vong
Shoryodana, trên bàn vong đặt bài vị để đón tiếp hương linh người qúa vãn. Ngày
mồng Bảy gọi là ngày Nanoka Bon, gia chủ hay người trưởng tộc đi mở cửa mả (tức
là quét dọn, làm cỏ) và làm lễ tại ngôi mộ gia tiên, và từ ngôi mộ về đến nhà
trải một giây vải trắng gọi là bommichi để chỉ lối cho người chết trở lại nhà.
Trên lối đi nhiều nơi còn treo đèn lồng ở mỗi khúc rẽ cho vong hồn khỏi lạc, và
mỗi gia cư tứ bề thắp đèn lồng treo quanh máng xối. Nhiều gia đình ý tứ hơn,
đem cúng cả ngựa, cả xe kết bằng rơm, hoặc bằng giấy, bằng hoa quả để cho người
chết dùng làm phương tiện trở lại nhà. Ngày 13 gọi là ngày “đón vong hồn”
(Mukac Bon), ngoài mộ và trên bàn vong chưng đầy hoa đẹp gọi là Bonbana. Lúc xế
chiều, đốt đèn ngoài cửa tiếp đón vong hồn. Lửa này giữ cho đến ngày 16, gọi là
ngày “tiễn đưa vong hồn” (Okuri Bon). Tại một vài địa phương lại còn có tục lệ
nhảy múa Vu Lan gọi là Bon odori, chào mừng tổ tiên trở lại nhà sum họp với con
cháu mỗi năm một lần. Sau Thế chiến II, để phát triển kỹ nghệ du lịch, lệ nhảy
múa Bon odori được tổ chức rất đẹp và trọng thể.
Người Nhật đem lễ Vu Lan vào
nước Nhật dưới thời nữ hoàng Suiko và phát huy rõ hơn cái ý niệm từ bi hiếu
sinh của đạo Phật. Chồng của nữ hoàng Suiko là Thánh Đức Thái Tử trị vì từ năm
574 tới năm 622 TL. Ông là người phát huy đạo Phật lớn mạnh tại Nhật, đưa Phật
giáo lên làm quốc giáo. Năm 606, nữ hoàng chỉ dụ cho tất cả chùa chiền trong nước
thiết lễ Vu Lan, và tiếp tục mỗi năm. Người Nhật cũng theo đạo Phật Trung Hoa
thiết lễ Trung Nguyên, gọi là Chugen, nhưng biến đổi có quy tắc hơn. Tại Nhật,
lễ Vu Lan Bon được phân biệt hai phần: lễ cúng tổ tiên trong gia đình, và lễ
cúng cô hồn. Lễ cúng cô hồn có tên là Segaki-e, có nghĩa là dâng thực phẩm cho
linh hồn bị phiêu bạt đói khát, là một ngày lễ Phật riêng biệt, thường không có
ngày nhất định, nhưng về sau thiết vào dịp Vu Lan, lấy một ngày trong bốn ngày
urabon làm lễ.
Giữa thế kỷ Mười chín, Thiên
hoàng Minh Trị canh tân nước Nhật. Công cuộc duy tân và kỹ nghệ hóa buộc phải
giản dị hóa các hội hè đình đám, nên lễ urabon và sagaki-e ngày nay biến thành
lễ chung.
Nước Nhật phú cường hiện tại
có khuynh hướng trở lại đời sống tinh thần và tôn giáo. Ta hãy nghe giáo sư
Kenneth Chen, viện Đại học Princeton, nói về lễ Vu Lan tại Nhật ngày nay
(“Buddhism, The Light of Asia”, Barron, New York 1978, người viết phỏng dịch
trang 263). “Trong mỗi gia đình, dân chúng chưng dọn bàn thờ, dâng cúng hoa quả
và thức ăn đặc biệt cho vong hồn. Chiếu trải ra giữa sân, đặt các món ăn như mì
sợi, chè kê, canh bí ngô, canh dưa gang, cá hấp. Đúng ngày mười ba, lại cúng một
món chè trôi nước đặc biệt để tiếp đón khách vong hồn mới về. Ngày hôm sau mười
bốn, cúng chè khoai và cà hấp trộn mè. Ngày mười lăm hay mười sáu cúng tiễn, có
cơm đùm lá sen, và chè bọc nhân đậu. Mỗi ngày, hương đèn trên bàn thờ không để
lụi, luôn luôn châm thêm hương hoa trà nước. Vào ngày mười ba, khi bắt đầu lễ,
người trong nhà đi viếng và thắp đèn trên mộ, đồng thời thắp đèn ở cổng nhà,
hàm ý dẫn đường cho vong hồn biết lối trở lại nhà hưởng cúng phẩm. Ngày mười
lăm cúng tiễn, cũng thắp đèn gọi là đèn tạm biệt tiễn đưa vong hồn.
Tại các làng xóm gần sông lạch
và hồ biển, thường có người chết vì sông nước, lại có lệ sắm các thuyền bé tí
hon, đặt cúng phẩm lên trên và thắp đèn đem thả xuống giòng nước. Cái hình ảnh
đèn thắp trên cổng nhà, tiếp với ánh sáng le lói trên con thuyền tí hon dưới
sông trôi xa theo ngọn nước, tiêu biểu cho cái ý niệm gắn liền người sống thực
tại với người đã ra đi vào cõi hư vô”.
Ở Nhật Bản, lễ hội Vu lan được
gọi là lễ hội Urabon-e hay là lễ hội Obon, hoặc đơn giản chỉ gọi là lễ hội Bon.
Lễ hội Obon được tổ chức ở Nhật Bản đã hơn 500 năm nay. Lễ Obon ở Nhật Bản thường
được tổ chức kéo dài trong ba ngày, có khi được kéo dài cả tuần lễ, nên được gọi
là Tuần lễ Obon. Ngày đầu tiên là ngày đón mừng lễ hội, còn ngày cuối cùng được
xem là ngày tạm biệt lễ hội.
Mặc dù lễ hội Obon lúc đầu
được tổ chức với ý nghĩa là để dâng phẩm vật lên linh hồn của tổ tiên, ông bà
đã quá cố, dần dần lễ hội này trở thành một sự kiện thường niên; bên cạnh việc
dâng phẩm vật cho tổ tiên, ông bà, lễ Obon còn là dịp để mọi người tặng quà đến
người thân, bạn bè và cả những ân nhân, những người cấp trên. Cũng trong dịp
này, tín đồ Phật tử thường dâng cúng phẩm vật lên chư Tăng để nhờ chư Tăng cầu
nguyện và hồi hướng phúc đức cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ.
Vào dịp lễ hội Obon, mọi người
đều trở về quê hương của mình, đoàn tụ với người thân trong gia đình để cùng
bày tỏ lòng thành kính tri ân, lòng hiếu thảo đến tổ tiên, ông bà. Cũng trong
những ngày này, người Nhật dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, dâng cúng hoa quả, phẩm vật
lên bàn thờ Phật, bàn thờ gia tiên.
Trong ngày đầu tiên của lễ hội
Obon, người ta treo và thắp sáng các lồng đèn ở phía trước nhà, đi thăm viếng
lăng mộ của người thân đã quá cố, quét dọn vệ sinh, tu sửa lăng mộ vàmời linh hồn
tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã quá vãng về đoàn tụ với con cháu. Ở một số vùng, lồng
đèn không những được treo ở trong nhà mà còn được treo dọc theo các con đường dẫn
vào nhà để hướng dẫn linh hồn người quá vãng.
Vào ngày cuối cùng của lễ hội
Obon, người ta đem lồng đèn đến thả ở các sông, hồ, các bờ biển, xem như để tiễn
đưa linh hồn của người quá cố về với thế giới của họ. Thông thường, trong đêm
thả lồng đèn, người ta còn đốt pháo hoa.
Bên cạnh đó, vào những đêm
Obon, hầu hết người dân Nhật đều tham gia hoạt động Bon Odori, ca múa theo những
vũ điệu dân gian. Bon Odori được tổ chức tại các đường phố, công viên, sân vườn,
đền miếu, hoặc trong khuôn viên chùa. Người dân mặc trang phục yukata (kimono
mùa hè) và nhảy múa xung quanh sân khấu ngoài trời. Bất cứ ai cũng có thể tham
gia Bon Odori.
Ngày nay, lễ hội Obon không
chỉ được tổ chức ở trên đất nước Nhật Bản mà còn được tổ chức ở nhiều nơi trên
thế giới, ở đâu có cộng đồng người Nhật sinh sống thì ở đó người ta có tổ chức
lễ hội.
Ở Malaysia, ngày lễ Vu lan còn
gọi là Ngày Tổ tiên, hay là Lễ hội tháng Bảy. Bên cạnh những việc làm thể hiện
tinh thần hiếu đạo của người Á châu trong mùa Vu lan, như: thăm viếng lăng mộ,
tảo mộ, dâng cúng phẩm vật cho người thân đã quá cố, cúng dường Tam bảo để hồi
hướng công đức cho ông bà, cha mẹ, người ta còn tổ chức nhiều sinh hoạt tôn
giáo, văn hóa mang những sắc thái riêng của quốc gia này.
Vào ngày Vu lan, hàng trăm,
và đôi khi hàng nghìn người, tập trung đến các chùa để tụng kinh, cầu nguyện
cho người quá cố và cúng dường lên Đức Phật. Theo phong tục, vào ngày lễ Vu
lan, người dân nghỉ làm tất cả các công việc đồng áng và cử hành nghi thức siêu
độ vong linh.
Trước đây, mỗi khi Vu lan đến,
người ta đốt rất nhiều giấy tiền, vàng mã, hình nhân và các vật dụng bằng giấy.
Việc đốt vàng mã này xuất phát từ văn hóa tín ngưỡng dân gian, bắt nguồn từ văn
hóa tín ngưỡng Trung Hoa, chứ hoàn toàn không liên quan đến giáo lý đạo Phật -
Phật giáo không khởi xướng và không cổ xúy cho vấn đề này. Những năm gần đây,
nhờ sự hướng dẫn của chư Tăng và sự phát triển nhận thức của người Phật tử, nên
việc đốt vàng mã cũng đã bớt đi nhiều.
Bên cạnh đó, vào ngày Vu
lan, người Phật tử Malaysia còn tổ chức các hội diễn văn nghệ quần chúng tại
các khu dân cư, có sự tham gia nhiệt tình của các ca sĩ, vũ công, người diễn kịch,…
Tất cả mọi chi phí cho việc tổ chức văn nghệ và các hoạt động của lễ hội trong
ngày Vu lan đều do quần chúng Phật tử tự nguyện đóng góp.
Lễ Vu Lan ở Ấn Độ
Trước khi Thích Ca khai sáng
ra đạo Phật, người Ấn đã thiết lễ Bon, mà người Phật Bắc tông Đông Á và Đông
Nam Á gọi là lễ Vu Lan. Đạo Bà La Môn ở Ấn Độ tin rằng người chết có nhiều ràng
buộc với người đang sống, và bổn phận người sống là phải thờ cúng người đã khuất
núi. Vì lẽ đó mà đạo dạy là những kẻ vô thừa tự không sinh con cái nối dõi để
tiếp tục thờ cúng tổ tiên, sẽ bị phạt tội rất nặng, bị đày xuống địa ngục. Ngày
trước, ở Ấn Độ, người Bà La Môn đến tuổi trưởng thành phải đi tu học các nghi lễ
cúng tế để phục vụ cộng đồng. Nhưng qua thời kỳ thụ huấn, y phải trở lại gia
đình, lấy vợ, sinh con nối dõi. Y phải có con thừa tự, để đến lúc chết khỏi bị
đọa đày ở địa ngục.
Lúc Thích Ca dựng lên đạo Phật,
tông đồ của ngài đã từng sống trong niềm tin Bà La Môn. Những người từ bỏ gia
đình để đi tu theo tăng đoàn phải có một cách để tự thuyết phục đi tu theo đạo
Thích Ca không phạm tội vô thừa tự, vì tổ tiên sẽ được cứu rỗi bằng lễ Vu Lan.
Tại Ấn Độ ngày nay, tuy
không có ngày lễ Vu lan, nhưng tinh thần hiếu đạo trong những người con Phật
thì từ xưa cho đến nay đều luôn tỏ rõ. Trước hết là gương sáng hiếu hạnh của Đức
Thế Tôn, Người đã nhiều lần về thăm phụ vương và giúp phụ vương chứng thánh quả
trước giờ phút lâm chung, lên cung trời Đao Lợi để thuyết pháp giáo hóa cho
thân mẫu; rồi đến gương hiếu hạnh của các vị đại đệ tử của Phật, như ngài Xá Lợi
Phất, Mục Kiền Liên,…
Tinh thần hiếu hạnh trong Phật
giáo Ấn Độ không chỉ thể hiện qua những tấm gương hiếu thảo của các vị xuất gia
mà còn được biểu hiện qua sự cúng dường của hàng Phật tử tại gia nhằm hồi hướng
công đức cho cha mẹ. Rất nhiều bia ký được tìm thấy tại các di tích Phật giáo ở
khắp Ấn Độ đều cho thấy rằng, trong suốt nhiều thế kỷ, các nhà sư cũng như tín
đồ Phật giáo, từ hoàng tộc cho đến dân chúng đã xây chùa, dựng tháp, tạc tượng,
dâng y… để cúng dường Tam bảo, ngõ hầu hồi hướng công đức cho cha mẹ, tổ tiên
và pháp giới chúng sinh.
Ở Việt Nam chúng ta, cùng với
sự hồi sinh và phát triển của Phật giáo, lễ Vu lan ngày càng được tổ chức quy
mô, trọng thể. Ngày lễ Vu lan đã trở thành “ngày hội hiếu” của tín đồ Phật tử
Việt Nam, một số người không phải là Phật tử cũng tham gia vào ngày hội này.
Cũng trong ý nghĩa báo hiếu công ơn của tổ tiên, ông bà, cha mẹ và cứu giúp cho
các vong linh, người Phật tử ở nước ta thường đến chùa tụng kinh, cầu nguyện,
cúng dường Tam bảo để hồi hướng công đức cho ông bà, cha mẹ và cho pháp giới
chúng sinh.
Nhiều nơi còn tổ chức Đại lễ
trai đàn chẩn tế để cúng dường, bố thí và cầu nguyện cho chư vị âm linh, vong
linh cô hồn. Bên cạnh đó còn có các chương trình biểu diễn văn nghệ, các chương
trình văn hóa, nghệ thuật Phật giáo, làm tôn vinh thêm giá trị của ngày lễ Vu
lan, thu hút đông đảo quần chúng tham gia, nâng cao tinh thần hiếu đạo, tri ân
và báo ân trong lòng người dân Việt.
Có một nghi thức rất đặc biệt,
rất riêng, hầu như chỉ có người Việt mới tổ chức trong ngày lễ Vu lan, đó là
nghi thức cài hoa hồng. Việc cài hoa hồng này mới được cử hành khoảng 50 năm trở
lại đây, nhưng đã tạo ấn tượng sâu sắc và vô cùng cảm động trong lòng người
tham gia. Chính nghi thức cài hoa hồng này đã khiến cho nhiều người phải thổn
thức khi trân trọng cài hoa lên ngực áo, khiến không biết bao nhiêu người rơi
nước mắt khi phải ngậm ngùi cài lên ngực áo một đóa hồng màu trắng; và thông
qua lễ cài hoa hồng này mà có không ít người đã hồi tâm tỉnh giác, trở nên hiếu
thảo với cha mẹ hơn, sống tốt hơn.
Tuy rằng, lễ Vu lan chỉ phổ
biến và phát triển trong cộng đồng Phật tử ở các nước theo truyền thống Phật
giáo Đại thừa, nhưng ở các nước theo Phật giáo Nguyên thủy, như Lào, Thái Lan,
Campuchia, một số nhóm Phật tử cũng có tổ chức lễ Vu lan. Dù đa phần Phật tử ở
các nước này không có khái niệm về lễ Vu lan, nhưng tinh thần hiếu đạo mà Đức
Phật đã dạy thì vẫn luôn được tuân theo, vẫn luôn thể hiện rõ trong những ngày
vào mùa an cư và ngày kết thúc mùa an cư của chư Tăng.
Tại các nước theo Phật giáo
Nam truyền, vào ngày đầu tiên của mùa an cư, người Phật tử dù có đi đâu, làm gì
cũng đều trở về quê nhà, quây quần bên ông bà, cha mẹ, người thân của mình để
cúng tổ tiên ông bà đã quá cố, bày tỏ lòng hiếu kính của mình đối với ông bà,
cha mẹ hiện còn, và cúng dường Tam bảo để hồi hướng công đức cho người thân;
vào ngày chư Tăng kết thúc mùa an cư, hàng Phật tử tại gia, bất kể giàu nghèo,
sang hèn đều đến chùa dâng phẩm vật cúng dường Tam bảo để tạo phúc lành và hồi
hướng cho thân nhân đã quá vãng cũng như hiện còn đời này.
Lễ hội Vu lan dù được tổ chức
ở đâu, dưới hình thức nào đi nữa thì ở đấy vẫn có một điểm chung, vẫn toát lên
một tinh thần chung, đó là tinh thần hiếu đạo của người Phật tử. Ngày hội Vu
lan là ngày để người con Phật bày tỏ lòng hiếu thảo của mình, để thực hiện
nghĩa cử tri ân báo ân đối với hai đấng sinh thành, đối với tổ tiên, ông bà, trải
rộng lòng thương đến cả những vong linh cô hồn và cả những mảnh đời bất hạnh hiện
đang còn sống.
Đây là một ngày lễ hội rất
có ý nghĩa, cần phải được bảo tồn và phát triển, phải làm sao để nó trở thành một
ngày lễ hội của quần chúng, vượt qua giới hạn của tôn giáo, tín ngưỡng, để cho
tinh thần hiếu đạo được thấm nhuần trong lòng mọi người, để cho con người trở
nên thuần từ và trung hiếu hơn.
Rằm tháng bảy, ở những vùng
quê ngoại thành Hà Nội, các bà, các mẹ tất bật sắp mâm ngũ quả, nấu bát cháo trắng,
đồ xôi đóng oản cúng Rằm. Ở nội thành, nhiều gia đình chỉ cúng gia tiên, còn việc
cúng chúng sinh được các cụ già mang lên chùa, đồ lễ toàn đồ chay. Chùa Quán Sứ
làm lễ cầu siêu từ ngày 11 tháng Bảy âm lịch. Mỗi ngày có 6 khóa lễ, tăng, ni,
phật tử thành tâm tụng kinh niệm Phật, cầu cho quốc thái, dân an. Tối 13, nhà
chùa đã làm lễ thỉnh Phật về bố thí cho chúng sinh. Chiều 14, chùa tổ chức chư
tăng lễ tự tứ. Ngày 14, chùa Trấn Quốc tổ chức khóa lễ cầu an với sự tham dự của
hàng trăm tăng, ni, phật tử. Ngày 15, nhà chùa giảng kinh “Vô lượng thọ” và làm
lễ “A Di Đà cầu siêu tiến”. Chùa Phúc Khánh lập đàn cầu siêu từ ngày 12 âm lịch…
Đặc biệt, bàn thờ vong sau hậu liêu các chùa từ tháng Sáu âm lịch đã đầy ắp
hương hoa, vang tiếng tụng kinh.
Trong tiếng nguyện cầu của
hàng triệu người dân Việt cho vong hồn những người đã khuất, dường như đâu đó vẫn
hiện lên hình ảnh những con người thực ở cõi trần. Họ đang thiếu ăn, thiếu gạo,
thiếu muối trong những ngày giáp hạt, trong bão lũ, thiên tai… Họ rất cần được
quan tâm từ những việc nhỏ nhất như chút cơm, chút muối, gói mì tôm lúc đói
lòng tới những việc lớn hơn như vốn, kiến thức khoa học… để họ có thể có cuộc sống
no ấm hơn.
Hòa thượng Thích Thanh Tứ,
Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng trị sự TƯ Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng:
“Chữ "hiếu” trong lễ Vu Lan và ân tình dành cho những vong hồn trong ngày
Rằm tháng Bảy không nằm ở mâm cao cỗ đầy mà ở thái độ và lương tâm của mỗi con
người. Nó thể hiện ở tấm lòng thành kính với cha mẹ ngay khi còn sống, ở cách sống,
giao tiếp và ứng xử nhân văn với mọi người. Đấy mới là những việc làm đích thực
mà mỗi con người chúng ta cần làm hằng ngày chứ không phải chỉ trong ngày Rằm
tháng Bảy".
Chương trình Lễ Vu Lan 2012
tại Tp HCM
Nhân mùa Vu Lan – Báo hiếu
PL. 2556 – DL. 2012 năm nay, chùa Hòa Khánh, Q. Bình Thạch, Tp. Hồ Chí Minh sẽ
tổ chức các khóa lễ cho quý Phật tử, đạo hữu, người con hiếu thảo, báo hiếu
theo lễ nghi Cúng dường theo chương trình như sau:
- Ngày 01.7. Nhâm Thìn
– 17.8.2012: Tổ chức chia sẻ Pháp thoại, Cúng dường theo Cổ Phật khất thực:
Là chương trình chia sẻ Pháp
thoại trong mùa Vu Lan - Báo hiếu của Ban Hoằng Pháp Trung ương đã tổ chức
trong nhiều năm qua. Chỉ cần sự hiện diện của chư Tôn đức hoặc một lời chia sẻ
trong Pháp hội sẽ đem lại lợi ích rất có ý nghĩa cho Phật tử trên bước đường thực
hành Pháp hiếu đạo đối với cha mẹ, ông bà tổ tiên.
Sau đó là lễ Cúng dường theo
truyền thống Cổ Phật khất thực là một cách tái hiện lại hình thức khất thực thời
Đức Phật, tức mỗi ngày từ 8h00 sáng chư Tăng lần lượt chia ra để đi khất thực.
Ngày nay, cách Phật quá xa, nhưng hình ảnh ấy, truyền thống ấy vẫn luôn luôn hiện
hữu trong tâm trí người con Phật. Nhân mùa An cư kiết hạ PL. 2556 – DL. 2012,
ngày Tự Tứ của chư tôn đức Tăng ni sắp đến; chùa Hòa Khánh sẽ tổ chức các khóa
lễ cho Phật tử cúng dường theo truyền thống Cổ Phật khất thực tại bổn tự, cúng
dường Tứ sự đến chư tôn đức Tăng ni An cư; hồi hướng công đức cầu an cho cha mẹ
hiện tiền tăng phúc, tăng thọ, cầu siêu cho cha mẹ, ông bà, Cửu huyền Thất tổ
nương nhờ công đức mà sớm siêu sanh về thế giới an lành
- Ngày 07.7.Nhâm Thìn –
23.8.2012:
Tổ chức Cúng dường Trai tăng
Báo hiếu – Như truyền thống nhà chùa sẽ tổ chức các khóa lễ: tụng kinh, dâng sớ
cầu siêu, lập đàn Trai tăng. Buổi lễ cúng dường Pháp y và tứ sự phẩm vật, sẽ diễn
ra vào lúc 10h00 sáng ngày 07.7.âl, tại chùa Hòa Khánh, do quý Phật tử phát tâm
dâng cúng đến chư tôn đức Tăng ni An cư kiết hạ PL. 2556 – DL. 2012.
- Ngày 10.7.Nhâm Thìn –
26.8.2012:
Tổ chức Chương trình Văn nghệ
Vu Lan Báo hiếu – Do Ban Văn nghệ chùa Hòa Khánh thực hiện. Với mục đích tôn
vinh, ca ngợi công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ. Kết hợp với buổi lễ còn
Tặng quà đến các bậc cha mẹ già, neo đơn, không có người chăm sóc. Đây là buổi
lễ biểu hiện tấm lòng của những người con nghĩ tưởng đến tất cả các bậc sinh
thành của chúng ta.
- Ngày Rằm.7.Nhâm Thìn
– 31.8.2012: Tổ chức Lễ hội Vu Lan – Báo Hiếu. Đây là một lễ hội Vu Lan – Báo
hiếu theo truyền thống của người con Phật, tức là theo gương Đại hiếu của Đức Mục
Kiền Liên. Trong kinh Vu Lan Đức Phật chỉ dạy:
“… Ngày rằm tháng bảy mỗi
năm
Vì lòng hiếu thảo ân thâm phải
đền
Lễ cứu tế chí thành sắp đặt
Ngõ cúng dường chư Phật, chư
Tăng
Ấy là báo đáp thù ân
Sanh thành dưỡng dục song thân
buổi đầu…”
Ngày Rằm tháng bảy là ngày
chư Tăng thêm một tuổi đạo, đồng thời cũng là ngày Tự Tứ của chư Tăng ni, ngày
chư Phật hoan hỷ; ngày Xá Tội Vong Nhân, ngày Giải Đảo Huyền (cứu tội treo ngược),
ngày mà trước đây Ngài Mục Liên tổ chức trai tăng cúng dường cho mẹ già, bị đọa
đày nơi địa ngục được siêu thoát.
Theo gương ấy các chùa ngày
nay thường tổ chức Lễ cúng dường trai tăng, để hồi hướng công đức cho mẹ cha hiện
tiền hoặc quá vãng, tổ chức dâng sớ cầu an, cầu siêu cho cửu huyền thất tổ, đa
sanh phụ mẫu, nương nhờ Pháp lực của chư Thánh Hiền Tăng mà siêu sanh Tịnh Độ.
“Dù ai buôn bán đâu đâu - Cứ
rằm tháng Bảy mưa ngâu thì về”. Khi những cơn mưa nhẹ rả rích kéo dài - những
cơn ngâu phủ xuống đất trời, chính là lúc nhắc mọi người một mùa Tết Trung
nguyên lại đến, mùa của những ngày xá tội vong nhân, của Lễ Vu Lan báo hiếu…
Cinet tổng hợp




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét