Tráng sĩ nói tới đây, Oanh
Cơ mới nhìn sang phía đông thì thấy một góc trời sáng sủa, báo hiệu mặt trời sắp
sửa xuất đầu trên các ngọn đồị Lúc đó mới mờ mờ sáng, đủ trông rõ các sự vật
trong một bức màn xam xám. Sương trong rừng dầy như khói, có mặt trời lên chăng
nữa, cũng còn phải đợi còn lâu mới có ánh nắng chiếu vào cây cỏ ướt đầm.
Từ tối, Oanh Cơ ngồi chễm chệ
trong lòng tráng sĩ, ngoan ngoãn như một đứa bé thơ, quên cả sượng sùng, e lệ.
Nàng đầu tiên sợ cọp, sau lại sợ ma, sau nữa nghe hai cái xác cười lại càng sợ
thêm, hóa nên cứ bám chặt lấy tráng sĩ rúc đầu giấu mặt vào vai chàng. Kịp đến
lúc chàng vui mồm kể chuyện nàng nghe, thì nàng mải mê chăm chú vào câu chuyện.
Câu chuyện chàng kể lại rùng rợn ghê sợ hết sức, hóa ra nàng càng ôm chặt sát lấy
người chàng không nghĩ gì đến thẹn thùng cả. Nàng bị một phen quá khủng khiếp,
thần kinh đâm ra suy nhược, chả còn sức lực nào nghĩ ngợi suy tính gì. Đến buổi
trời mờ mờ sáng, nàng mới hơi hơi tỉnh ngộ nhưng chung qui vẫn chưa ra khỏi cơn
kinh hãị Gia dĩ ngay dưới sàn lại có hai xác chết cứng đờ ra đó, nàng không đủ
can đảm ra khỏi lòng tráng sĩ dẫu biết răng ngồi ôm lấy một người con trai lạ mặt
là khó coi và vô luân lý cương thường.
Ngộ biến phải tòng quyền,
nàng biết làm sao được? Nàng cứ ngồi lỳ trong lòng tráng sĩ, hai mắt lóng lánh
áp vào ngực chàng không muốn nhìn sự vật bề ngoài, sợ hoàn cảnh lại gây cho
nàng một nguồn đau đớn hãi hùng thứ hai nữạ Nàng ngồi yên như thế, không cựa,
không nói, tuy thức mà như ngủ. Tráng sĩ tưởng nàng vì mệt nên thiếp đi, nên
cũng chiều ý nàng; chàng cứ ngồi ôm lấy nàng khư khư, như giữ gìn một bảo vật
quý giá. Hai người, chả ai nói với ai một lời nào nữa; cả hai cùng thả hồn vào
cõi mơ màng êm dịu, mỗi người đi về một đàng nhưng có lẽ cùng chung một hướng.
Cặp thiếu niên xa lạ mà tự
nhiên trời run rủi cho gần sát bên nhau trong trường hợp lạ lùng bi đát ấy, cặp
thiếu niên đó cứ ngồi trơ trơ như một pho tượng, thức cũng chẳng phải thức, ngủ
cũng không phải ngủ, cho mãi tới khi mặt trời lên rõ cao, rọi ánh sáng vào đám
sương lam, làm cho sương biến thành hơi nước bay lên, khiến non sông được sáng
láng mà cây cỏ được khô ráo nhẹ nhàng.
Tráng sĩ bấy giờ mới se sẽ vỗ
vào vai Oanh Cơ, cúi xuống bảo nàng:
- Bạch nhật rồi, cô ạ! Mặt
trời đã chếch quá hai sào! Bây giờ chúng ta có thể xuống được, để còn lo liệu tống
táng cho ông cả và cô hai chớ!
Oanh Cơ giật mình mở mắt ngơ
ngác nhìn tứ phía; hình như lúc này nàng mới rõ biết là vô tình ngồi trong lòng
một thiếu mến xa lạ; nàng vùng đứng dậy, ra chỗ khác, hai má ưng ửng đỏ, chỉ biết
cúi rạp mặt xuống chứ chả biết nói câu gì. Tráng sĩ cũng đứng dậy vươn vai, duỗi
tay duỗi chân răng rắc; đoạn nhìn Oanh cười:
- Bây giờ chúng ta phải trèo
xuống, tôi xin đỡ cộ Nếu cô đau chân quá, không leo cành cây được, tôi xin cõng
cô đem xuống. Ta hãy nên để tử thi ông cả, cô hai ở đây, chốc nữa mượn ngườii đến
mang ra đồng phía ngoài núi cũng chưa lấy gì làm muộn. Thôi, ta xuống đi cô! Cô
nên theo tôi!
Oanh Cơ đi cả ngày hôm trớc,
chân bị sây sứt sưng lên đau đớn lắm, không leo trèo được. Tráng sĩ lại phải
khi bế, khi cõng, đem nàng xuống gốc cây, rồi, xuống đến mặt đất, chàng tháo dải
lưng sồi của nàng ra, làm thành một cái võng, cho nàng ngồi, rồi chàng cõng
nàng, chạy vèo vèo ra khói thung lũng về quán trọ của chàng.
Chàng đem nàng vào một căn
phòng sạch sẽ để nàng nghỉ ngơi dưỡng sức. Rồi một mặt chàng thuê sáu người phu
và đốc thúc họ vào rừng ngay để khiêng xác Văn Quản và Huyền Cơ về nhà trọ; một
mặt chàng nhờ chủ quán đi mua ngay các đồ khâm liệm cùng hai chiếc quan tàị
Khi đem xác về đến nơi tự
tay tráng sĩ và Oanh Cơ tắm rửa cho hai kẻ bạc mệnh, rồi đem khâm liệm ngaỵ Đám
ma hôm đó thực là giản dị đơn sơ; càng giản dị đơn sơ trông lại càng thảm thiết.
Một tên phu cầm một bó đuốc đi trước, rồi đến hai tên khiêng áo quan Văn Quản
buộc vào một cái đòn dàị Tiếp đến áo quan Huyền Cơ cũng hai tên phu khiêng. Sau
cùng, đến một tên phu đem thuổng cuốc và xẻng, rồi đến tráng sĩ đỡ Oanh Cơ vừa
thất thểu lê bước vừa rũ xuống khóc như gió mưạ Thế là hết: đám tang chỉ có bấy
nhiêu ngườị
Ra đồng, tráng sĩ truyền cho
đào rõ sâu vùi rõ chặt, lịch kịch mãi mới xong. Lúc về, hai tên phu phải quàng
tay làm kiệu nâng đỡ Oanh Cơ về quán trọ.
Oanh Cơ đưa xong đám ma anh
và chị thì ốm liệt giường chiếu, sốt rét li bì, nói mê nói sảng. Tráng sĩ lo ngại
lắm, bỏ cả cuộc săn bắn, chỉ lo thuốc thang cho nàng và ngồi bên cạnh giường bệnh
của nàng thôị Ốm nửa tháng ròng, Oanh chỉ ăn có hồ cháo qua ngày, người gầy rạc
đi như vẹ Tráng sĩ thương hại lắm, chăm chút nàng như chăm nom em gái, chẳng quản
công lao gì cả. Nhờ sự tận lực đó, Oanh khỏị Tráng sĩ để nàng nằm dưỡng sức mười
ngày nữa ở quán trọ; khi nàng đã ăn trả bữa, da thịt bắt đầu tươi tỉnh, lúc ấy
chàng mới bảo nàng rằng:
- Nay cô khỏi rồi, tôi xin
đưa cô ra Nho Quan, kẻo nữa chậm. Cô định thế nàỏ
- Bây giờ em ra Nho Quan làm
trò gì? Anh chị em thác rồi, em ra đó cũng vô ích; vả chăng nhà quan phủ thết
tiệc xong từ non một tháng, nay ra đó thì còn gì nữa!
- Thế cô phải suy tính thế
nào chớ! Hay là cô về núi Gội ở với mẹ tôi, mẹ tôi sẽ yêu cô như con, tôi và
anh tôi cũng sẽ quí cô như em vậỵ
Oanh Cơ cúi đầu suy nghĩ một
hồi, nàng ngước mắt nhìn tráng sĩ, rồi bỗng cúi gằm mặt xuống hai má ửng đỏ, nhưng
chỉ thoáng một chút mắt nàng đã mờ những lệ, nàng gạt nước mắt thổn thức nói rằng:
- Em đây bây giờ bơ vơ cô độc
một thân, chả còn họ hàng thân thích nào nữa, chỉ có một đứa cháu gọi bằng cô
hiện còn ở Bàn Thạch. Em đội ơn anh quá nặng, biết lấy gì báo đáp được? Nếu em
nhờ ơn Trời Phật còn được sống dai dẳng ít lâu nữa, có ngày em sẽ xin đền đáp
nghĩa anh. Nay em đang thụ trọng tang, tâm hồn tan nát, gan dạ héo hon, chưa biết
định liệu ra làm sao cả. Em xin anh cứ theo đuổi các việc anh làm, đừng vì em mà
phí cả ngày giờ cùng tâm lực. Anh mặc em sống nốt quãng đời thừa nàỵ Nguyện vọng
duy nhất của em bây giờ là được ở chốn này cư tang và săn sóc mồ mả cho hai anh
chị em mà em cũng coi như là cha mẹ; em sẽ để trở và mặc chế phục sô gai trong
hai mươi bảy tháng, họa là vong linh anh chị em đỡ tủi một đôi phần! Chỉ có một
điều em đáng ngại là mai đây, khi anh từ biệt em để trở về quê nhà anh, em sẽ
chịu lẻ loi thân gái, sống giữa nơi xa lạ chả còn ai thân thích quen thuộc nữa!
Em muốn nhắn thằng cháu ra để ở chung với em cho vui, và luôn thể để hầu hạ
giúp đỡ em nhưng biết nhắn ai bây giờ? Cháu em tên là Nguyễn Đức Tiêu, nó hiện ở
làng Đại Thạch, cũng gần Bàn Thạch là quê quán em, vì bác em từ xa di cư ra ở đấy,
đến nay đã ba đờị Làng Đại Thạch cũng như làng Bàn Thạch là nguyên quan của
giáo phường; hai làng ấy thuộc về phủ Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa ...
Oanh Cơ nói xong, lệ rỏ ròng
ròng ướt đẫm cả hai gò má. Tráng sĩ nhìn nàng rất ái ngại, bảo nàng rằng:
- Cô chớ lo ngại! Cứ chịu
khó ở tạm đây năm bảy hôm nữa, tôi thu xếp công việc cho cô, lúc đó sẽ về!
Oanh Cơ nghe lời ân nhân, ở
lại trong quán trọ. Độ mươi ngày sau, một hôm tráng sĩ đi săn về, vui vẻ bảo
nàng rằng:
- Công việc xong rồi, bây giờ
cô chỉ còn phải dọn nhà là yên ổn cả!
Chàng đem nàng đến một nơi
cao ráo, nàng lấy làm ngạc nhiên thấy, từ lúc nào không rõ, chàng đã sai thợ lợp
riêng cho nàng một nếp nhà sàn rộng rãi chót vót đứng giữa một thửa vườn bát
ngát mênh mông. Nàng vừa mừng rỡ, vừa ngại ngùng cảm động, bước lên thang vào
sàn. Tới nơi, nàng ngã ngửa người ra: đồ đạc nồi siêu và quần áo rương hòm sắm
sửa bày biện sẵn sàng cả; và trong hoàn cảnh êm ấm đó, có phải ai đâu xa lạ, rõ
ràng cháu ruột nàng Nguyễn Đức Tiêu, ngồi chễm chệ Ở một phòng trên một góc chiếc
ghế đẩu!
Thấy Oanh Cơ, Tiêu mừng quá,
chạy tất tưởi lại đón cô, nói tíu tít:
- "Cô ơi! Cô đã mạnh
chưả Cháu nghe bác Hai đây" Tiêu có ý trỏ tráng sĩ "nói rằng chú và
cô Huyền cháu thác vì vuốt hổ, lòng cháu đau đớn vô cùng; nhưng biết rằng cô
còn sống sót, cháu sung sướng quá! Từ nay cháu ở đây hầu hạ cô mãi mãi không để
cho cô phải ở một mình đâu cô ạ!"
- Ai nhắn nhủ cháu ra, mà
cháu biết lần mò len lỏi tới nơi đâỷ
- Mấy hôm trước, có hai người
về tận Đại Thạch đón cháu, bảo cháu dẫn sang nhà cô ở Bàn Thạch. Song họ nói
cho cháu rõ cô hiện ở Đồng Giao; muốn cư ngụ tại đó, nên cho người về đón cháu
và khuân các đồ đạc ra ngoài nàỵ Họ chọn lấy những đồ đạc còn tốt và thường
dùng, đem đi, còn bao nhiêu, bỏ lại cả. Đến Đồng Giao, họ đem cháu lại nhà này,
cháu được gặp bác Hai mới rõ đầu đuôi câu chuyện ...
Mắt Oanh Cơ mờ hẳn đi vì lệ ứa
trào rạ Nàng cảm động quá, vuốt ve đầu cháu rồi lại ngồi ở một chiếc ghế thấp.
Tráng sĩ ngồi ở một góc giường. Oanh đợi khi tráng sĩ vô tình giữa lúc xuất kỳ
bất ý nàng ngồi xệp xuống sàn, ngoảnh về phía chàng ngồi, lạy hai lạy rất cung
kính. Chàng luống cuống đứng dậy nhưng không kịp nữa, vội chạy lại đỡ nàng lên,
rồi bằng một giọng nghẹn ngào:
- Ô kìa! Sao cô lại làm như
vậy, tôi chả tổn thọ mất ư? Bổn phận tôi là phải thế, cô chớ cám ơn tôi làm gì.
Người ta ở đời, chả qua nợ đồng lân nhau cả, có chi mà phải bận long! Trong nhà
này, tôi đã xếp đặt đủ cả, cô có thể sống nổi trong nửa năm. Trong hòm kia, có
tích sẵn vài chục quan tiền, cô cứ việc lấy mà chi dụng. Sáu bảy tháng, tôi sẽ
qua một lượt thăm cô, khi nào cô hết tang, thì sẽ di cư đi chỗ khác, đừng ở nơi
đây mà bất lợị Cô phải cho cẩn thận, chớ có đi đêm về tối, lỡ ra có sự khó
lòng. Nhà này, tôi đã có ý làm cao, có hai từng sàng. Nếu động dụng gì, cô khá
lên gác trên mà ẩn, đừng ở lớp dưới nhé! Thôi công việc của tôi thế này là tạm
yên ổn, tôi xin bái biệt cộ Cô nên thận trọng lấy mình, chớ để phụ lòng tôi đó!
Tráng sĩ nói xong, đứng dậy
từ biệt, Oanh Cơ lúc ấy không hiểu thế nào, tựa như ngại ngùng quyến luyến,
không nỡ chia taỵ Nàng muốn giữ tráng sĩ lại chút nữa, nhưng cũng thẹn thùng
không dám. Nàng thổn thức sùi sụt, ứa nước mắt tiễn tráng sĩ xuống gác, muốn
nói vài lời tống biệt mà nghẹn ngào không nói được, chỉ thỏ thẻ được một lời:
- Em xin lạy anh!
Thế là hết. Rồi nàng đứng tựa
gióng cửa sàn đờ mắt nhìn theo chàng mãi, theo mãi, tới khi bóng chàng khuất
sau rặng lau, bụi duối thì thôị Ra đi, chàng cũng dùng dằng; lúc thất thểu trên
con đường, chàng cũng ngoái cổ nhìn lại, thấy bóng nàng dựa cửa trông chàng, một
cảm giác êm ái đầm ấm tự nhiên bừng nổi dậy, làm giảm một đôi phần nỗi buồn rầu
thấm thía của sự phân lỵ Chàng nện mạnh gót trên đường, cắm đầu đi thẳng, cố
xua đuổi trong lòng những ý tưởng bất chính, không xứng đáng với một tay thiếu
niên nghĩa hiệp như chàng ... Chàng đi, đi được bao xả Cứ hùng dũng tiến được
mươi bước, là đã ngại ngùng muốn quay gót lạị Trở lại e bất tiện quá, chàng
đành quay đầu trông lại mà thôị Chàng vẫn thấy bóng nàng như bóng đá vọng phu,
còn sừng sững đứng trên thang nhìn theo chàng không ngớt, nhìn mãi, nhìn mãi, lấy
luồng nhỡn tuyến đuổi theo chàng ...
Muốn cho tâm hồn khỏi bị suy
nhược, sa ngã, chàng nhắm mắt lại, vùng cẳng chạy một mạch, không dám ngoái cổ
lại nữạ
Tráng sĩ đi rồi, Oanh Cơ ở lại
một mình với cháu là Nguyễn Đức Tiêu, tại Đồng Giaọ Nhờ có tiền nong tráng sĩ để
lại, nàng cùng cháu sống phong lưu lắm. Tuy nhiên, nàng cũng cố làm lụng cho khỏi
ăn không ngồi rồi, nàng mở một cửa hàng nhỏ ở trên sàn, nhận vải cắt áo quần để
may vá. Nàng đoạn tuyệt hẳn với nghề ca xướng, dẫu rằng cháu nàng cũng có thể
đàn tạm để nàng hát được. Có hát nữa, thì ở mạn Đồng Giao buổi đó, đã mặt nào
là tay biết thưởng thức cầm cả Kể ra, khâu vá kiếm ăn, cũng đủ chi tiêu sinh hoạt,
lọ là phải giở nghề cũ làm gì? Vả có danh giá gì cái nghiệp "xướng ca vô
loạI" ấỷ Cháu nàng giúp nàng các việc vặt như đi chợ, gánh nước vân vân
... Nói tóm lại, Tiêu là tay sai, hễ cứ có việc gì phải ra ngoài thì cậu phải
gánh vác cả; còn nội bao công việc trong nhà thì có Oanh đảm đang. Một đàng ngoại
giao một đàng nội vụ. Thành ra Oanh Cơ ở đấy đến ba bốn tháng, mà chả biết mặt
mũi nàng. Bởi lẽ nàng không bước chân ra khỏi cửa bao giờ cả. Cứ tối đến, cháu
nàng ngủ ở từng sàn dưới, còn nàng thì leo lên từng cao nhất để ẩn mình.
Từ độ Oanh Cơ đến trú ngụ Ở
Đồng Giao, trong hạt bỗng xôn xao bàn tán về một câu chuyện lạ. Ấy là chuyện
làm đầu đề cốt yếu cho bài thuật này đó, chuyện hát ả đảo ở trong rừng. Cứ đêm
đêm, quá trống canh hai, trong một thung lũng cách Đồng Giao gần năm dặm người
ta nghe có tiếng véo von đàn hát não nùng. Những kẻ táo bạo rủ nhau vào rừng đi
xem, lúc về đều thuật đúng như thế cả. Mới đầu tiên, cả vùng kinh dị, nhưng rồi
lâu dần cũng quen đi, chả ai nói đến nữa; họ đều cho là một sự dĩ nhiên, không
có gì lạ cả.
Chỉ riêng một mình Oanh Cơ
biết đó là hồn anh chị mình hiện lên; nàng tin rằng hai anh chị mình linh
thiêng nên hết sức chăm chỉ lễ bái, cúng tuần cúng giỗ cho vong hồn kẻ khuất, vả
lại sai cháu cứ ba ngày thì ra thăm mả Quản và Huyền một lần.
Oanh Cơ sống yên ổn và kiên
nhẫn quãng đời hiu quạnh lặng lẽ của nàng dưới mái ngôi nhà sàn, không nghĩ gì
đến tương lai cả. Thỉnh thoảng nàng cảm thấy tấm lòng dào dạt, vì hình như
tráng sĩ tự nhiên bỗng hiện ra rõ rệt trong ký ức nàng, tươi cười, sángsủa, khiến
nàng bị trái tim vỗ đập, máu trào lên gò má, nóng bừng. Mỗi lần như thế, nàng lại
cố nén lòng, lấy tay để lên ngực, rồi nhắm mắt lại, xua đuổi cái ám ảnh kiạ
Song nó nhất định không đi, bắt nàng cứ phải luôn luôn trông thấỵ Nàng vơ vẩn đứng
dậy, nâng tấm liếp con lên, tỳ tay vào thành song thưa vơ vẩn trông trời ...
Nàng đứng như thế giờ lâu, bỗng
mắt nàng để ý đến những vết gì, tựa như lốt chân một giống vật to lớn, in sâu
xuống nền đất cát, ở ngay thềm nhà nàng. Những vết nhiều lắm, không biết bao
nhiêu mà đếm được.
Nàng đi vòng gác nhìn ra bốn
phía, cũng đều như thế. Lại có vết ở ngoài vườn, trên luống rau, trên luống
khoai, rau và khoai bị dẫm nát cả. Có lẽ là vết chân lợn lòi về đào trộm khoai
chăng? Nàng đợi cháu đi chợ về, chỉ cho nó xem, nó sợ hãi lắm. Hai cô cháu bàn
tán, chả biết vết gì. Tối hôm đó, cả hai cùng không ngủ, đóng cửa ngõ từ trước
buổi sâm sẩm tối, lấy bàn ghế và gỗ chặn ngang cửa chính, xong tắt đèn đóm lên
tận gác trên, hé liếp ngồi rình, mỗi người một xó. Đêm hôm ấy, có trăng khuyết,
ánh sáng mờ mờ thỉnh thoảng mới lọt qua vừng mây ám mà tỏa ra một lúc, rồi mất
ngay, trời đất lại tối như mực. Hai cô cháu rình lâu lắm; hết canh hai đầu canh
ba bỗng thấy một cái bóng đen dài, lớt đi rất nhẹ nhàng trên thềm cát, đi vòng
khắp nhà. Cái bóng ấy có hai con mắt lớn, đỏ rực như hai ngọn đèn; hai cô cháu
nhận biết ngay là mắt hổ, vì vẫn nghe các người chung quanh vùng nói như thế.
Oanh Cơ sợ quá hét lên một
tiếng, ngã lăn trên mặt sàn. Con quái vật kia, nghe tiếng động, vùng cẳng chạy
mất. Thì ra một con hổ vẫn lợn qua nhà nàng, đêm nào cũng vậỵ Hai cô cháu nàng
rình bốn năm đêm, đều thấy bóng hổ đi lại tuần tiễu quanh nhà, tìm kế leo lên
sàn. Cả hai cùng lo ngại cực điểm. Rạng ngày thứ năm. Tiêu chạy ra chợ, tìm một
thầy số dắt về. Oanh đặt tiền quẻ, kể đầu đuôi câu chuyện cho thầy số nghe, rồi
khóc mà hỏi rằng:
- Nhờ thầy coi giúp cho cháu
một quẻ, và xem có cách gì cứu cháu thoát nạn được chăng?
Ông thầy bấm quẻ hồi lâu,
nghiêm nghị phán rằng:
- Cô không lọ Thọ mệnh cô vững
lắm, chưa có thể chết ngay được. Ít ra, cô cũng còn sống được lâu nữa, bây giờ
chưa đáng ngại đâu! Nó không làm gì được cô cả! Cô chỉ nên bỏ tạm chốn này lánh
mình xuống thuyền ở vài tháng là tự nhiên nó chán, không theo cô nữa!
Ông thầy số đó chính là cậu
ruột tôị Trong khi ông đoán quẻ cho Oanh Cơ, nàng có thuật rõ cho ông nghe trường
hợp gặp gỡ tráng sĩ Lê Trọng Việt ra làm sao, tình hình anh chị nàng bị thác ra
làm sao, nàng được thoát nạn thế nào, câu chuyện tráng sĩ kể cho nàng nghe thế
nào, và sự tráng sĩ giúp đỡ nàng những thế nào v.v… Sau này kể lại chuyện ấy
tôi nghe cậu tôi nói:
- Lúc đó cậu thấy nàng bồn
chồn kinh sợ quá, cậu cũng động tâm thương nàng, không muốn nói sự thực cho
nàng phải lo nghĩ khủng khiếp. Theo quẻ, nàng có số cọp vồ chết chỉ còn sống được
dăm bảy năm nữa là cùng!
Không biết về sau nàng bị tuẫn
nạn ở đâu, chỉ biết sau khi nghe thầy số bảo thì nàng bỏ tiền dành dụm ra mua một
cái thuyền con, thu xếp đồ đạc, rồi khóa chặt cửa nhà lại, mang cháu xuống thuyền,
bập bềnh trôi nổi trên mặt một con sông con không xa hạt Đồng Giao mấỵ Nàng yên
trí lánh nạn như thế độ một hai tháng thì yên. Lúc bấy giờ sẽ trở về nhà cư
tang anh chị như cũ, cho hết hạn hai mươi bảy tháng thì thôi, nhiên hậu đi đâu
sẽ định liệu cũng không muộn.
Ngờ đâu đến ở trên sông, mà
nàng cũng bị hổ theo rình để bắt. ngày ngày nàng ra đầu thuyền vo gạo rửa cá,
nhìn lên bờ thấy ông tướng kia ngồi chồm chỗm chõ mắt nhìn nàng. Giá lần đầu,
có lẽ nàng thất đảm ngã lăn xuống nước, nhưng lâu nàng cũng quen đi chỉ tất tởi
bỏ gạo cá chạy thụt vào khoang thuyền mà thôị Hổ rình chán, chả làm gì nổi gầm
lên cút thẳng.
Oanh Cơ và cháu sợ hãi, nhổ
sào đi về khoảng sông rộng hơn, cắm thuyền tận giữa sông, không dám lại gần bờ.
Như thế hổ không làm gì ra tận giữa dòng được, hai cô cháu sẽ khỏi bị nạn. Khốn
nỗi tránh khỏi cái nạn hổ, lại khó qua nạn phong ba; đã không dám đậu thuyền
sát kề bờ, mỗi lần có sóng gió thì còn gì là tính mạng. Nhất là hai cô cháu
không phải nòi chài lới, nhỡ bị lật thuyền hẳn là chết ngạt chết trôi thôi! Hai
cô cháu đều không biết bơi, thế mới lại càng nguy hiểm! Nghĩ cho kỹ, ở trên đất
cũng chết, xuống dưới sông cũng chết, chả thà lên mặt đất còn hơn. Tử sinh hữu
mệnh, thầy số đã cho biết mình còn sống được lâu nữa, sợ gì mà chả dám về sàn ở
như thường? Ta chỉ việc đóng cửa ngõ cho sớm, chặn cho chắc, lên tận từng cao
mà nằm, rút thang đi, nó giỏi mấy cũng không lên được. Ta cứ đừng đi đâu, ở tịt
trong buồng kín, dễ thường đã bắt được tả
Nghĩ như vậy, chọn lúc mặt
trời đúng ngọ, nàng cắm thuyền vào một chỗ đông đúc, thu xếp đồ đạc, thuê một
toán phu khuân vác và hộ nàng đi ngựa trở về Đồng Giaọ Tính đốt tay, hôm nàng lại
nhà sàn chính là hôm cách sáu tháng về trước anh chị nàng bị chết nạn trong rừng.
Ông Cai Móm lại ngừng một lượt
nữa để uống rượu và hút thuốc làọ Biết tính ông hay hãm câu chuyện bằng những
món sở trường ấy, Lệ Thi và tôi đành đăm đăm ngồi chờ nghe nốt, không dám giục
ông nữa sợ nếu làm cuống quít lên, ông sẽ bị tinh thần rối loạn quên đoạn mạch
rồi làm cho sự tích kém hay đị May sao, ông không để hai vợ chồng tôi đợi quá.
Ông hút thuốc lào xong, vội vã kể tiệp: Bấy giờ Oanh Cơ trở lại ở đất Đồng Giao
làm lụng khâu vá như thường. Bỗng một đêm, tự nhiên nàng thấy trong lòng bồn chồn
khắc khoải, tuy nằm tận sàn trên, cửa ngõ đóng chặt và chặn kỹ lưỡng cả, thang
cũng rút lên rồi, cửa gác đóng sập xuống rồi, thế mà nàng vẫn thấy lo ngại quá.
Nàng cố ngủ đi cho đỡ mệt, thế mà không sao ngủ được, từ mấy tháng nay, có đêm
nào nàng nhắm mắt được đâụ Nàng cùng cháu mỗi người một góc phòng, thám thính.
Lúc bấy giờ vừa hết canh haị Bỗng nghe có tiếng đập cửa thình lình, cấp bách lắm:
- Mở cửa cho tôi vớị Mau
lên, cô Oanh ơi! Mở maụ
Đầu tiên, nàng nghe rõ cả,
nhưng bấm cháu, cố làm thinh không trả lờị Tiếng đập cửa lại gấp nữạ
- Tôi đây mà, tôi là Lê Trọng
Việt đây mà! Mở cửa mau cho tôi, tôi bảo cái này cần kíp lắm, không thì chết cả
bây giờ nào! Mau lên!
Nghe đến tên Lê Trọng Việt,
nàng mới sai cháu thắp đèn lên, xuống từng sàn dưới dựng liếp, mở rèm, giơ đèn
ra ngoài rọi xem. Quả nhiên là Lê Trọng Việt thực. Người cháu nhanh trí khôn, gọi
Việt lại mé cửa song, vứt xuống cho Việt một cái chạc lớn, bảo tráng sĩ nắm vào
chạc mà đu lên, còn một đầu thì người cháu cố sức kéọ Hì hục một lúc, tráng sĩ
lẫn mò lên được, vội vàng cùng người cháu đóng liếp thả rèm cẩn thận, lấy gỗ chắn
ngang cả cửa song, rồi cùng lên cả từng trên, rút thanh lên, đóng sập cửa gác lại,
bắc ghế để lên trên cho chắc.
Tráng sĩ vừa lên đến nơi, bỗng
thấy Oanh Cơ rên một tiếng, rồi ôm bụng la ó vang lừng, lăn tử trên giường xuống
mặt sàn, giẫy giụa khóc lóc. Hỏi nàng, nàng kêu đau bụng lắm lắm, vừa nói vừa quằn
quại dưới chân tráng sĩ, ôm lấy bụng mà kêu van.
Người cháu lại nâng đỡ cô, đấm
lưng cho cô và lần trong bao, có một miếng mộc hương, bắt Oanh phải bỏ mồm nhai
nuốt đi, mặc dầu nó đắng hơn mật gấụ Nuốt mộc hương rồi nàng vẫn còn kêu đau;
được một lúc, đòi xuống nhà, ra vườn đi đại tiện. Tráng sĩ vội ngăn nàng lại
nói rằng:
- Cô điên đấy hay saỏ Bây giờ
mà đòi xuống nhà, cô không sợ chết ư? Cô cứ phải ngồi đâỵ Cô cứ phải ở ngay bên
cạnh tôi, chả được đi đâu cả. Tôi không cho cô xuống!
Oanh Cơ hết sức kêu khóc, một
mực đòi ra vườn, nếu không thì chết mất. Tráng sĩ nhất quyết giữ chặt lấy nàng,
mặc nàng kêu la khan cổ thì thôị Mãi sau cùng, nàng đau dữ dội kịch liệt quá,
cuống cuồng cả lên, xé cả áo yếm, toan đập đầu vào vách tự tử nếu ngăn cấm
không cho nàng toại ý xuống gác. Tráng sĩ bất đắc dĩ, phải tìm một kế hoạch mới,
bảo nàng rằng:
- Cô cần kíp đi sông quá, mà
không thể nào xuống được, thì âu là tôi mở liếp ra, cô ngồi vào bực cửa này, thế
cũng được chớ gì! Tôi chỉ có thể cho phép cô làm thế mà thôi, nếu cô không thuận
nữa thì mặc cô, tôi cứ bắt cô ở đây!
Lần này, Oanh Cơ bằng lòng,
nhưng nàng không chịu cho ai sờ đến nàng cả, muốn cho hai người đàn ông, cháu
nàng và tráng sĩ, để mặc nàng một mình ra cửa sổ, không ai được đến gần. Nàng
chỉ rình cho tráng sĩ vô ý là lao mình xuống đất. Tráng sĩ hình như hiểu biết tất
cả, chàng ghé sát mồm vào tai người cháu nói vài câu nhỏ, rồi giả vờ cho phép
Oanh Cơ muốn làm gì thì làm. Người cháu lại gần Oanh bảo nàng:
- Nào! Cháu đỡ cô lại cửa sổ
nào! Khi nào cô an vị rồi, cháu sẽ buông cô ra!
Kỳ thực, cậu ta giả vờ nói
thế, nhưng lại gần đến liếp thì cứ nắm chặt lấy dây lưng và dải yếm của cô
không buông. Oanh giằng co, mắng cháu tàn tệ, bắt cháu phải thả mình rạ Giữa
lúc hai cô cháu đưng xung đột ấy, nhanh như chớp, tráng sĩ đã nhận được ngay dưới
cửa sổ một cái bóng đưng thu hình ngồi đợi, rình hễ Oanh có văng mình xuống là
đỡ lấy đem đị Chàng giả vờ lại mé cửa song, can ngăn hai cô cháu:
- Thôi! Cậu bỏ cô ấy ra, mặc
cô ấy ngồi một mình!
Mồm tuy nói thế, nhưng chàng
đã dang cổ tay sắt chặn ngang tấm cửa, bấm vào vai Tiêụ Người cháu biết ý, chạy
đem cái đèn dầu lạị Oanh giãy nãy:
- Ô hay! Đem đèn lại làm gì
thế này! Tôi thẹn đến chết mất thôi! Ô kìa! Sao lại thế?
Rồi nàng mắng Tiêu, chửi
Tiêu thậm tệ. Tráng sĩ chả nói gì cả, mặc nàng la ó; chàng sẽ hơi né đầu qua cửa
sổ, xem xét tình hình một chút, nhận rõ đích xác tọa vị của bên địch, rồi rút
trong lưng ra cái pháo địa lôi cùng hai chiếc dùi đồng. Nhanh như cắt, chàng dí
ngòi pháo vào đèn, luồn tay qua vai Oanh ném mạnh cả pháo xuống thềm, ngay dưới
cửa sổ.
Tiếng pháo nổ kinh thiên động
địa xen với tiếng hổ gầm rung chuyển vùng lặng lẽ giữa đêm khuyạ Tiếp những tiếng
huỳnh huỵch nặng nề tỏ rằng một vật bị thương đương chạy bán sống bán chết.
Oanh Cơ nghe tiếng nổ ngã gục về đằng trước, cháu nàng vội giơ tay nâng đỡ và vực
nàng lại nằm nghỉ trên giường. Hồi lâu nàng tỉnh dậy, hỏi nàng vừa làm trò gì
khi nãy, nàng chối rằng mê đi, chả biết đã xử sự ra làm saọ Thì ra nàng bị hồn
ma ám ảnh ốp vào nàng để chực đưa nàng vào tử lộ. Bấy giờ tráng sĩ mới ngỏ cho
nàng rõ chàng đã tình cờ cứu mạng nàng một lượt thứ haị Chàng ngồi kể:
- Tôi vào đây chiều hôm nay,
định vào thăm cô trước khi vào thung lũng mọi ngày để săn bắn. Song không hiểu
vì đâu tôi lại nghĩ rằng: “Mình ở Nam vào, chả có quà bánh gì, lại chơi thì khó
coi quá, âu là ta hãy vào rừng kiếm con cầy con cáo, may ra nếu vớ được con hoẵng,
con nai, mai đem về làm quà, nấu nướng đánh chén với nhau thì vừa lịch sự vừa
thú vị!” Tôi nghĩ thế nên đi thẳng vào rừng lại chỗ nhà sàn của tôị Tôi thắp
hương đốt vàng khấn thần Linh thổ địa và các vong, rồi theo lệ thường, nằm chèo
khoeo ngủ một giấc dưỡng thần, đợi đến đầu canh hai thì dậỵ Không hiểu thế nào
tôi chỉ chợp đi có một chốc, khi tỉnh dậy, thấy một sự rất dị kỳ.
Trước lúc tôi còn ở đây săn
bắn, cây cổ thụ chỗ tôi đóng đô tuy có nhiều rễ từ trên cành mọc xuống, song
chưa có rễ nào mọc từ cành này liền qua cành kiạ Đến nay, nó có nhiều rễ như thế
lắm trĩu xuống là là mặt đất, trông như một cái võng. Mới có sáu tháng mà rễ ấy
đã chóng tốt thế! Tôi mở mắt dậy, lúc ấy vừa cuối canh một mà thôi, chưa qua
canh haị Tôi nhìn xuống gốc cây, thấy một con hổ đương phủ phục nằm đó, hình
như ngủ. Song không phải nó ngủ, bởi chỉ một chốc, thấy nó vẫy đuôi, rồi chồm đứng
dậy hai chân trước víu vào thân cây, tựa hồ muốn đứng thẳng hai chân như ngườị
Quả nhiên nó muốn thế thật. Mới đầu tiên nó phải dùng thân cây làm chỗ dựa để đứng
lên, sau nó tập quen thì đứng vững được. Nó cố lê đi một bước, đặt đít ngồi lên
những rễ cây uốn cong như võng, còn hai chân thì víu vào những rễ ở là là ngang
mặt nó. Tôi ngồi trên cây, lấy làm kinh dị lắm, cố ngồi yên không cựa quậy, thử
xem con quái vật kia giở trò gì mà càng ngày càng bí hiểm lạ lùng như vậỵ
Con hổ an vị rồi thì lấy
đuôi đập mạnh xuống đất, co chân sau lên khỏi mặt cỏ, làm cho mấy cái rễ cây
lung lay, đưa đi đưa lại như võng. Hình như nó cho sự bắt chước loài người như
thế là thú lắm, nó ngồi chễm chệ, vênh váo, có vẻ tự tôn tự tại và đắc ý vô
cùng. Nó ngồi như vậy trong giờ lâu, gầm gầm gừ gừ tỏ vẻ khoái lạc sung sướng
tuyệt điểm. Bỗng thấy nó gầm lên một tiếng, nhưng gầm be bé thôi, không há hốc
miệng ra “à uôm” như mọi ngày đâụ Có lẽ nó ra một mệnh lệnh nên khi vừa hét
xong, có hai cái bóng hiện ra ngồi dưới đất, trước mặt nó: một người đàn ông, áo
thâm, quần trắng, tay ôm một cây đàn dài, một người đàn bà áo thâm, váy thâm,
khăn mỏ quạ, cầm một đôi gỗ phách. Một kép một đàọ Tôi mới thấy, cũng đoán đó
là ông cả và cô hai nhà ta vậỵ Gia dĩ mặt trăng lưỡi liềm lúc đó lại không bị
mây che khuất; dưới ánh trăng mờ, tôi trông thấy ông cả và cô hai ngồi ngay ở
chỗ cả đôi tuẫn nạn ngày hôm trước. Ông cả lên dây đàn rồi gảy, cô em theo nhịp
gõ phách hát. Tiếng đàn ca nghe rõ mồn một, vang cả một vùng thung lũng. Lần
này, thứ tiếng tôi nghe, nó y như tiếng đàn hát của loài người, không có cái vẻ
âm thầm xa lắc xa lơ như tiếng ma ngày nọ, cái thứ tiếng mà tôi gọi là “bóng lời
nói” ấy mà.
Ca hát lâm ly não nuột, tôi
nghe cũng còn nhẹ nhàng khoan khoái cả tâm trí, nữa là hổ. Nó nghe tiếng du
dương hình như ngồi ngủ gật gà gật gưỡng, vừa mơ màng vừa rung rinh đưa võng
theo nhịp đàn phách. Nghe như thế đến gần giữa canh haị Bỗng thấy con hổ bỏ
võng, nhảy chồm lại cào cấu ông cả, rồi cô haị Vẳng nghe có tiếng than khóc và
kêu van:
- Lạy ông vạn lạy! ông sinh
phúc tha cho chúng tôi! Ông đã biết nhà em nó ở đâu rồi, ông cứ việc lại bắt
nó, hà tất phải cần đến chúng tôi! Lạy ông vạn lạỵ
Hổ nhảy lên chồm chỗm, gầm gừ
như thất ý, hành hạ hai kẻ bạc mệnh một lần nữạ Lại than khóc, cầu xin:
- Em nó còn nhỏ dại, ông tha
cho nó? Vả nó xấu xí, hát còn kém cỏi lắm dở hơn tôi nhiều, ông bắt nó làm gì.
Nó còn thơ, da thịt hôi tanh, lại là đàn bà, bẩn thỉu, ông xơi mà làm chỉ Ông
tha cho nó.
Đó là lời cô Huyền, Hổ nghe
nói thế thì gầm thét lên, đánh, tát cào cấu túi bụị Hai oan hồn vừa tránh vừa
né, vừa xin:
- Lạy ông muôn vạn lạy! Tha
cho chúng tôi, chúng tôi xin dẫn ông lại bắt nó!
Hổ hất hàm, nhìn chõ vào mặt
hai oan hồn, như hỏi cách bắt ra làm saọ Có tiếng thưa lại:
- Canh ba đêm nay, giờ tý ông
ngồi ở dưới thềm. Chúng tôi đến, làm cho nó đau bụng, run rủi nó xuống sàn, ra
vườn đi rữa, ông sẽ vồ nó đem đị Nếu nó không chịu xuống, chúng tôi làm cho nó
phải đâm đầu qua cửa sổ phía tây nhảy xuống hiên, ông cứ việc chờ ở đó, đỡ lấy
nó mà yên việc. Ông có bằng lòng không?
Hổ gật đầu, lại ngồi ở võng.
Đàn hát nữạ
Tôi xem chừng kíp giờ lắm,
chả mấy chốc đến canh ba; nếu tôi không về ngay, e mạng cô nguy lắm lắm. Tôi sờ
tay nải, đếm xem có bao nhiêu chiếc pháo địa lôi, thì ra tôi đem đi tất cả hơn
chục cáị Tôi theo phương pháp hôm nọ, đốt hai cái ném xuống cạnh hổ, nó vùng cẳng
chạy mất, mà hai oan hồn cũng biến theọ Tôi chẳng quản đêm khuya trời tối, thu
thập một vài khí giới giắt vào lưng, rồi cầm mã tấu trèo xuống. Muốn cho ác thú
đừng theo tôi quấy quả, cứ vài chục thước, tôi lại đốt một chiếc địa lôi cho
vang động cả vùng. Đốt xong tôi chạy, chạy được quãng xa, lại ngừng lại đốt,
như thế về mãi tận đây sờ lưng chỉ còn mỗi một chiếc pháọ Tôi về kịp nên mới cứu
cô thoát nạn, cũng là một sự maỵ Bắt đầu từ ngày mai, cô nên nghe tôi, đừng ở
nán tại đây làm gì nữạ Có và cậu em hãy theo tôi cùng về Gội, ở với mẹ tôi là
hơn. Cô nghĩ thế nàỏ
Oanh Cơ bấy giờ cảm động đến
cực điểm, nàng không biết lấy gì để tạ Ơn tráng sĩ đã hai lần cứu mạng cho
nàng; nàng bèn thành thực thưa rằng:
- Em đội ơn anh rất dày, dẫu
gan óc lầy đất cũng không đáp đền được. Ngày nay em không còn ai thân thích nữa
chỉ có một đứa cháu, vậy xin tình nguyện theo anh. Nếu anh quả có lòng thương,
không chê em là ti tiện, không quản em là con nhà ca kỹ, thì em xin dùng quãng
đời sống sót này để hầu hạ anh, nâng khăn sửa túi đỡ đần anh, dù phải làm phận
tiểu tinh em cũng cam lòng. Tấm thân băng giá này, em xin phó thác cho anh, gọi
là để đáp lại mảy may tấm lòng trọng nghĩa của anh và ơn anh đã cứu mạng! Có lẽ
cũng tại Trời xui khiến, nên từ buổi sơ thân, tình cờ đã chỉ bảo cho chúng ta
biết thân em phải chọn anh làm chủ. Em đang lúc thụ tang, nói đến hôn thú thực
là mang tội cùng với người khuất; song le, đến nỗi nước này, không thưa thực
anh bấy nhiêu lời, cũng không được. Chỉ mong anh cho biết rõ một điều là anh có
ưng thuận hay không, thế là đủ. Em sẽ theo anh về Nam. Bao giờ em hết tang trở
rồi, lúc đó sẽ làm vợ anh, anh có đem em vào chốn rừng hoang núi thẳm em cũng
cam lòng.
Vài lời tâm huyết xuất phát
từ tim phổi, xin anh chớ cười em là người thô lỗ, không biết đắn đo lời nói,
cũng như không biết thẹn thùng. Đối với anh, là người đã hai lần cứu em, đã săn
sóc cho em trên giường bệnh trong nửa tháng trời, em còn phải e lệ ngại ngùng
làm gì nữả Em một niềm kính cẩn giãi bày tâm sự hầu anh, xin anh định liệu cho
em được nhờ, cho phận em nào em xin bái lĩnh phận ấy!
Câu chuyện Oanh Cơ đến đây
là hết, chả biết tráng sĩ trả lời nàng ra làm sao, chỉ biết ngày hôm sau chàng
đem cả hai cô cháu nàng vượt đèo Tam Điệp đi ra Nam Định. Từ đấy, chả còn ai biết
rõ tông tích Oanh Cơ nữạ Cũng chẳng biết nàng sống hay thác, còn hay mất, có
thoát được nạn hổ bắt hay đã bị mãnh thú ấy tha đi vào rừng lau sậy để ăn rồi!
Duy có một điều chúng ta biết
rõ, là hồn anh chị nàng vẫn thường hiện lên để đàn ca réo rắt, mà đến nay đã
năm sáu chục năm rồi, hai oan hồn ấy vẫn chưa tan ...
Ông Cai Móm nói xong câu
chuyện, tôi trông đồng hồ trên vách thấy điểm hơn ba giờ. Ông Cai phải ngủ lại
trong trại của tôi, không về nhà được. Tôi nghe nói, cũng có phần tin câu chuyện
của ông đúng sự thật, vì nó ý vị và rành mạch xem chừng không phải chuyện người
ta cố ý bịa đặt rạ Tuy nhiên, tín ngưỡng của tôi cũng chửa lấy chi làm vững
vàng lắm. Tấm lòng hiếu sự của tôi xui tôi dò xét xem lời ông Cai nói quả có
đúng không hay là chỉ như những chuyện vu vơ mà người quanh vùng này thường bàn
tán? Phải trông thấy hai con ma đào kép, thì mới có thể tin rằng chuyện nàng
Oanh Cơ có thực, không phải chuyện chơị Phần nhiều, người trong hạt này, họ chỉ
“văn kỳ thanh” mà thôi, rồi xây nặn ra đủ các thứ cổ tích, chưa ai dám có can đảm
vào rừng dò xem bóng ma bóng quỉ nó ra làm saọ
Chỉ riêng một mình tôi có
can đảm ấỵ Tôi bắt ép ông Cai Móm phải đưa tôi vào cái thung lũng xưa kia làm
trường săn bắn cho tay tráng sĩ đã cứu mạng nàng Oanh. Ông Cai hai ba lần ngăn
tôi đừng nên đi, tôi nhất quyết không nghe, bắt ông phải dẫn đi xem cho kỳ được.
Bất đắc dĩ, ông phải chiều lòng tôị Ông bèn sắm sửa đủ khí cụ và khí giới để
vào rừng, rồi hai thầy trò nai nịt gọn gang, rẽ lau vạch cỏ tìm vào thung lũng.
Đi mất ba, bốn giờ đồng hồ mới tới một nơi um tùm đầy cây cối, cỏ mọc cao vút,
lau sậy trắng xóa, rễ cây cành cây chi chít, phải lấy dao bảy phạt bờ bụi mới
vào được.
Chúng tôi tìm đến một cây cổ
thụ, luồn dây qua chẻ cành đánh đu leo lên, rồi lấy dao phạt bớt lá rậm, dọn một
chỗ để ngồị Chỗ đó có hai cành cây to mọc ngang, chỉ việc lấy một ít then tre
hay một tấm phên gác lên trên là có cái sàn sạch sẽ tươm tất, có thể nằm ngủ được.
Dọn dẹp chỗ xong rồi, hai thầy trò tháo bỏ các đồ đạc đeo trên vai, ngồi nghỉ một
chốc, giở các đồ nguội ra ăn uống. Chẳng bao lâu, mặt trời xế bóng, sương bắt đầu
nặng hột, tối đến lúc nào không haỵ Hôm đó là một hôm có trăng sáng vằng vặc ngồi
trên cây ngắm xuống thực không còn gì thú bằng. Cái cảnh sương rừng rậm, tôi đã
từng quen lắm, hóa nên cũng không sợ hãi kinh khủng chút nàọ Lòng hiếu kỳ làm
cho tôi nhẫn nại và can đảm thêm, tôi cứ ngồi điềm tĩnh trên ngọn cổ thụ, đến
xem ma sẽ hiện thế nàọ Thì giờ bằn bặt trôi, chả mấy chốc hết canh một. Các thứ
tiếng chung quanh người tôi nổi lên như một cuộc hòa nhạc âm thầm ảo não, chúng
nó gồm đủ cả âm thanh cao thấp, khoan nhặt, thực là hết sức lạ lùng. Tôi tuy
quen ở đồng rừng, thế mà chưa bao giờ tai được nghe hết mọi thứ tiếng kêu, tiếng
hú, tiếng gọi, tiếng gầm, tiếng la, tiếng thét, như trong cái đêm hôm ấỵ Giọng
nói của rừng hoang là một giọng cực kỳ huyền bí; trong bóng tói âm u, tịch mịch,
biết bao giống sinh vật, biết bao loài thảo mộc, giữa cuộc đua tranh vật lộn,
phát ra mỗi giống mỗi loài một khẩu hiệu riêng, cái đục cái thanh, cái dài cái
ngắn, để hòa thành một cái âm hưởng không tên tuổi, có thể ví được với tiếng ầm
ầm, lạo xạo trong một ngày phiên chợ, hoặc trong một ngày hội hè tấp nập ở một
chốn đô thành. Khó lòng tả rõ được cái vẻ ồn ào phức tạp ấy, chỉ có thể tưởng
tượng ra nó mà thôị
Giữa chốn rừng khuya, tôi có
cảm giác là chung quanh người tôi có một vũ trụ đông đúc, tôi tuy không nhận được
bằng mắt song thấy được bằng tai; thế giới đó bao bọc khăng khít lấy tôi, quay
cuồng múa máy trên đầu tôi, dưới chân tôi, tựa hồ lấy tôi làm đích cho một cuộc
khiêu vũ phi thường. Ông Cai Móm và tôi thu hết can đảm và trí tuệ, ngồi chờ
xem một cuộc phô diễn hiếm có, sắp sửa xảy ra giữa cái vũ trụ hãi hùng náo động
ấỵ Óc hiếu sự thực quả xui người ta làm lắm sự cầu kỳ, có khi đến quên cả sinh
mệnh, chỉ có một ý định duy nhất trong tâm hồn là thỏa mản được tính tò mò, mà
nếu không như nguyện được thì ngồi đứng không an, bứt rứt khó chịu lắm. Bởi thế,
dẫu vào nơi hang hùm tổ rắn, để được thỏa thích thói hiếu sự của mình, ta cũng
chẳng từ nan.
Riêng tôi, tính tò mò sôi nổi
trong trí não, ngồi trên cây nóng lòng sốt ruột lắm, chăm chăm chú chú nhìn vào
chỗ rễ cây uốn cong như chiếc võng chỉ ước sao ma hiện ngay ra cho xem mới cam
tâm. Tôi đợi cũng chả lâu lắm: Vào khoảng giữa canh hai, một tiếng gầm to lớn
khiến tôi phải giật nẩy mình. Vừa định thần mở mắt nhìn, tôi đã thấy ngay trên
cái võng rễ cây một con cọp xám, to gấp rưỡi con hổ thường, da vằn đen vằn trắng,
trông đẹp lắm. Ông tướng ấy ngồi chễm chệ như người, hai chân sau bơi bơi trên
mặt cỏ để làm cho võng lúc lắc, mau lẹ vô cùng. Hai chân trước thì giơ thẳng về
phía trước, không bám vào gì cả. Một chốc như thế, tôi vừa chớp mắt có một khắc
con con, trông xuống lại không phải cọp xám nữa, mà là ông cụ già đầu râu bạc
phới, ngồi nghiêng nghiêng trên võng, tay để vào má, xem có vẻ trầm ngâm nghiêm
nghị, tựa hồ đang nghĩ ngợi sự gì.
Tóc tôi tự nhiên bỗng thấy dựng
đứng cả trên đầu, một luồng khí lạnh chạy khắp các mạch máu tôi, luồn vào sống lưng
tôi, tôi nắm chặt lấy cánh tay ông Cai Móm. Giữa lúc đó, ông cụ cọp già kêu lên
một tiếng, như ra một mệnh lệnh. Ông vừa dứt lời, ba cái bóng không biết từ
đâu, bỗng phơi phới lướt trên mặt cỏ, lại đứng trước mặt ông rồi quỳ xuống lạy
ông cung kính lắm. Đó là bóng một người, hình như đàn ông thì phải, áo thâm, quần
trắng, búi tóc tay ôm một cây đàn giai; và hai người nữa tựa hồ như đàn bà, quần
áo trắng toát, một làn tóc đen bỏ xõa sau lưng gần chấm gót, tay cầm vật gì đen
đen, trông giống một cái then gỗ nhỏ. Cả ba cầm tay nhau làm thành một cái
vòng, bao bọc lấy ông cụ già ngồi võng, rồi quay cuồng chung quanh ông cụ,
trông chả khác gì đèn kéo quân. Có một sự rất lạ là dưới gốc cổ thụ chi chít những
rễ cây giằng buộc lấy nhau, những cành cây, những lá cỏ, không có đủ chỗ cho
người thường nhảy múa được. Thế mà ba cái bóng kia khiêu vũ như không có gì vướng
cả, họ cứ lâng lượn phiêu phiêu trong không khí nhẹ nhàng dễ dãi vô cùng. Họ lượn
quanh mình ông cụ một hồi, ông cứ ngồi gật gưỡng thưởng thức tấn trò ấy như làm
thú lắm. Bỗng ông thét lên một tiếng nữa, to hơn tiếng khi nảy nhiềụ Sau mệnh lệnh
thứ hai này, trong rừng tự nhiên hiện ra không biết cơ man nào là bóng, cái trắng
lốp, cái xam xám, cái đen sì đều cầm tay nhau thành mười mấy lớp vòng tròn bay
lợn mé ngoài tưởng chừng một cuộc hội hè của lũ Mọi Châu Phi khi nhảy múa chung
quanh thây chết.
Thực là một quang cảnh lạ
lùng hiếm có càng xem sống lưng càng thấy lạnh buốt mà tóc càng dựng ngược cả
lên. Đó mới là bài học hay cho mấy kẻ tò mò hiếu sự như tôi vậỵ Tôi cứ bám chặt
lấy ông Cai Móm.
Trong khi khủng khiếp, khuỷu
chân tôi rủn quá, làm tôi gần quỵ xuống, phải lấy gân để đứng thẳng người lên.
Ai ngờ tôi hụt chân, bước ra ngoài then tre hụt chân xuống khe sàn, suýt ngã
dúi xuống trước mặt ông Hổ xám. Tôi kinh hồn thất đảm, trống ngực đánh như tim
sắp vỡ, hoảng hốt kêu lên một tiếng vang trờị Ông Cai Móm phải vội vã đỡ lấy
tôi, ôm chặt lây nách tôi nâng lên, nếu chỉ chậm một khắc tôi sẽ bị lăn xông đất.
Tôi kêu thét lên xong, chết ngất đi, không biết trời đất là gì nữạ Đến lúc tôi
tỉnh dậy, thấy mình đương nằm trong buồng, trên chăng dưới nệm, và trước mặt có
Lệ Thi, Thu Nhi, cả hai đều ra vẻ lo ngại, trong khi ngồi trên một chiếc ghế đẩu
ở góc phòng, ông Cai Móm vừa chúm chím cười vừa nhai bỏm bẻm một miếng trầu đỏ
loét:
- Nào, thầy đã bằng lòng chưả
Lần sau có muốn vào rừng xem cọp nữa không, thì con lại dẫn thầy đi lần nữa!
Từ đấy trở đi, anh xem, tôi
chẳng dám không tin lời ông Cai Móm, nhưng thực quả là các vàng cho kẹo, tôi
đây cũng hết đám vào rừng. Đêm đêm tôi chỉ cùng Lệ Thi ngồi điềm tĩnh ở một xó
nhà, lắng tai chủ ý nghe xem có nhận được điệu hát đào mà thiên hạ nhao nhao
nói đến. Nhưng tôi vô duyên hết sức; cái lần đáng lẽ được nghe thì chết ngất
đi, phải có người nhà cõng về tận trại, còn những lần sau thì thức suốt mấy đêm
ròng mà tịnh chả thấy gì! Thế mà ai ngờ mới đến đây lần đầu, anh đã có diễm
phúc nhận được ngay điệu ca nhạc đó!
Đấy, điển tích của điệu hát ấy
dị kỳ là như thế, bây giờ anh đã rõ rồị Có một điều tôi đoán được sau khi theo
ông Cai Móm vào rừng, là có lẽ nàng Oanh Cơ cũng chết về nạn hổ. Bởi lẽ, đúng
lý ra, chỉ có hai cái bóng ma hiện lên diễn trò hầu cọp, cớ sao tôi lại thấy những
bả Người thứ ba chắc hẳn là Oanh Cơ, theo anh chị chết chung một nghiệp. Song
chẳng biết nàng chết bao giờ, chết nơi đâu và có lấy được ý trung nhân là tráng
sĩ Lê Trọng Việt hay chăng? Điều đó hiện còn mờ ám lắm.
Chương 10: VÉN MÀN BÍ MẬT
Tôi ở Đồng Giao về, trong
lòng lại canh cánh đeo thêm một nguyện vọng thiết tha, trong ký ức lại tăng
thêm một đoạn ký sử mớI; nhưng bị trôi nổi trong cuộc mưu y, mưu thực thường
ngày, tôi dần dà cũng chả có thì giờ đâu nghĩ đến hai câu chuyện ở núi Gội và Đồng
Giao nữạ Mãi cho đến ngày tình cờ khiến tôi gặp gỡ ông Trần Công Chất, trong một
trường hợp ngẫu nhiên khi tôi đem vợ con lên nghỉ mát tại Chapạ
Riêng tôi, tôi chả muốn đi
xa diệu vợi làm gì, nhưng vợ tôi, Tuyết Tiên, cứ nằng nặc đòi lên Chapa một lần
cho khỏi thẹn với chị em. Không thể từ chối được, tôi đành theo ý vợ tôị
Thế là, dắt díu bồng bế
ôquan san ngàn dặm, thê nhi một đoànô tôi đi nghỉ mát Chapạ Cái cảnh đi nghỉ
mát mà phải đeo đàng sau một bà vợ dềnh dàng cùng một lũ con nheo nhóc, thì còn
gì là thú nữả Còn gì thú nữa nếu tôi không gặp ông cụ Chất ngay trong mấy hôm đầủ
Cái cảnh rừng núi Chapa,
không có gì là rừng sâu núi thẳm cả. Chapa là một hòn ngọc là một vườn hoa cao
hơn mặt đất, là một nơi khí hậu đầm ấm, thảo mộc tốt tươi, non nước hữu tình.
Những đường lốI, những bãi có, nhưng rừng cây ở đó sạch như ly như lau, có thể
nằm trên mà ngủ không sợ bệnh tật gì cả. Không một con ruồi không một con muỗi,
loài vắt thì thật là không có hẳn. Chapa không phải chỉ đẹp ở những rừng đào,
thác bạc, đẹp ở những căn nhà xinh xắn dựng chênh chếch trên sườn đồi, Chapa
còn đẹp ở chỗ khách đến đây cư ngụ toàn là tay chơi hào hoa lịch sự, con gái
mơn mởn như trái đào vừa chín, con trai khỏe mạnh như các hiệp sĩ đời Chiến Quốc,
thỉnh thoảng đánh con ngựa thồ lên dốc núi, dừng cương đứng lẫm liệt giữa vừng
thảo mộc xanh tươi, gợi cho kẻ bàng quan một bức ảnh thanh kỳ, tưởng chừng có
thể làm sống lại một thời oanh liệt của lịch sử ...
Trước khi mắt được ngắm
phong cảnh Chapa, ta hãy vượt hết một con đường xoắn ốc chừng ba mươi nhăm cây
số, ngùng ngoàn lượn quanh sườn đá theo hình chữ chi, khúc khuỷu, cong queo, có
từng đoạn chênh vênh hết sức. Trong cái thú đi chơi Chapa, có lẽ khoái lạc là
con đường ấy cũng dự một phần. Một bên là sườn núi cheo leo hiểm hóc, một bên
là hang sâu vực thẳm cây cối um tùm, mọc chi chít hai bên bờ một dải suối khổng
lồ nước cuồn cuộn chảy nhanh như xuống thác, đương chảy thỉnh thoảng lại vấp phải
một thân cây đổ bắc ngang qua khe, hoặc một tảng đá nhẵn lì nằm ngay giữa long,
khiến vì thế lại bồng bột nhảy chồm lên, bọt bắn tung tóe trắng phau như muôn
ngàn tia bạc ... Trong khi đi đường xe ô tô không chỗ nào mở được máy ba cả, phải
cứ mở máy hai, sè sè cắn lấy đường thong thả lên dần. Đi chừng ba mươi ba, ba
mươi bốn cây, khí hậu vẫn còn như thường, trong người vẫn còn thấy nực như khi
chưa lên núi; thế mà gần đến địa hạt Chapa, thì tựa hồ như có phép tiên biến
hóa, khí hậu thấy dịu đi ngay, mình bỗng cảm thấy hơi lành lạnh. Một khi tới hẳn
nơi rồi, sự mát mẻ khoan khoái không tả xiết được. Chỉ từ sáng đến chiều, xem
trong người cũng đã thấy khác ngay; nào là nhức đầu, khó ở, sổ mũi, hắt hơi, những
bệnh vặt đó biến hẳn đi như bị thánh dược xua đuổi; đi chơi chỉ một chốc về nhà
ăn cơm đã khỏe bằng hai ngày thường, mà sự tiêu hóa cũng rất lưu thông, không bị
bí, bị trệ như ở chốn thị thành dưới chợ.
Nghỉ dưỡng sức mà lên Chapa,
chả mấy chốc lành mạnh không cần uống thuốc, tinh thần mình cũng nhờ khí hậu mà
sáng suốt tỉnh táo thêm. Tôi chỉ được lên Chapa có một thời hạn mười lăm ngày,
khi về lấy làm quyến luyến, tiếc rẻ, không muốn về nữạ Nếu không có vợ tôi, Tuyết
Tiên, nhất định bắt tôi phải trở xuống Hà Thành, thì có lẽ tôi cứ ở lì tại
Chapa, dẫu phải sống nghèo nàn kham khổ cũng cam lòng - chúng tôi đi chơi là do
sự tình cờ, ai ngờ sự tình cờ ấy rất hữu ích cho tôi, giúp tôi được đủ vật liệu
viết xong quyển tiểu thuyết nàỵ Tôi đương bị tâm trí bứt rức vì chưa tìm được
ra bí thuật để giải quyết một vấn đề mà óc tôi đang suy tính: vấn đề tìm ra
nguyên ủy của câu chuyện tráng sĩ không đầu ở núi Gộị May thay đặt chân lên đất
Chapa tính tò mò hiếu sự của tôi được thỏa mãn đến cực điểm; không những tôi
gây dựng lại được một đoạn bí sử ngày nay đã bị vùi lấp hẳn trong gầm dĩ vãng
xa xăm u ám, không những tôi đem được hẳn bí sử ấy ra ánh sáng, tôi còn được hạnh
phúc biết rõ sự tích của hai bóng oan hồn ở núi Gội, và dây liên lạc của sự
tích đó với câu chuyện rùng rợn tôi đã nghe ở Đồng Giao trong cái đêm mưa gió
được nằm êm ấm bên cạnh Lệ Thi và Thủỵ
Người đàn ông giúp tôi đi
ngược dòng thời gian để làm sống lại cuộc đời Oanh Cơ và hai tráng sĩ bị tử
hình, người đó là ông cụ Trần Công Chất, một cụ già thâm nho thuộc về thế hệ
trước, sống lạc loài ngơ ngác trong xã hội mới này, nhưng vẫn thành kính nhẫn nại
thờ quan niệm cổ hủ của ông cha, không bị ánh sáng lộng lẫy rực rỡ của kim tiền
làm lu mờ mất tính tình, nhân cách. Tôi ngẫu nhĩ được gặp cụ Chất trên chuyến
xe lửa Hà Nội - Lào Kay, giữa lúc đang bồn chồn thấp thỏm không biết vợ chồng
chúng tôi sẽ trú ngụ Ở đâu một đêm trước khi đáp ô tô lên Chapa nghĩ mát. Tuyết
Tiên và tôi bàn tán cùng nhau vê cách xử sự thế nào trên đất lạ, hai chúng tôi
đều tỏ vẻ lo ngại, rì rầm suy đi tính lại mãi không thôi, nhất là khi tàu sắp tới
ga Phố Mới, sau một ngày lúc lắc trên một con đường gay go khúc khuỷu vô cùng.
Thấy dáng bộ lúng túng của
Tuyết Tiên xoăn xoe chung quanh mấy đứa con thơ và mấy va li đồ đạc, hết dặn bảo
các con lại điểm sửa soạn hành lý, một ông cụ già ngồi ngay cạnh chúng tôi từ
ga Hà Nội, bỗng tự nhiên quay lại phía tôi:
- Tôi xem chừng hai thầy cô
đi nghỉ mát Chapa thì phả i!
- Thưa cụ vâng! Thưa cụ cũng
đi Lào Kaỷ
- Không, tôi về Chapa chớ?
Tôi có nhà ờ đó! Tôi di cư lên Chapa đã mười mấy năm nay rồi, từ lúc nhà nước mới
bắt đầu khai khẩn hạt ấỵ
- Vậy ạ? Tha cụ chúng cháu hỏi
khí không phải: chúng cháu lên nghỉ mát lần đầu, chả có ai quen thuộc cả, muốn
xin cụ cho chúng cháu ở đậu ít ngày, chẳng hay như thế có phiền chăng? Cụ có thể
vui lòng dung nạp chúng cháu chăng?
Ông cụ cười khà khà ra vẻ
nhân từ hiền hậu lắm:
- Nếu thế thì quí hóa quá!
Thầy cô có lòng yêu hạ cố đến tệ xá thì còn gì bằng! Tôi tuy già rồi, nhưng nhà
vắng lắm, chỉ có một đứa con gái đã lớn và một thằng con nhỏ mà thôị Thầy cô ở
chơi làm bạn với tôi, tôi rất vui lòng. Tôi xin làm hướng đạo cho thầy cô!
Tuyết Tiên hết sức mừng rỡ,
vội vàng cho hai con lại lạy chào ông cụ, cụ vuốt ve hai cháu một cách rất âu yếm
tưởng chừng như cháu ruột cụ vậỵ Tàu đến ga Lào Kay cụ săn sóc cho cả bầu đoàn
chúng tôi, dắt chúng tôi về ở Thiên Nhiên khách sạn. Chúng tôi thuê hai phòng,
một phòng cho vợ con tôi, một phòng cho tôi và ông cụ cơm nước xuềnh xoàng cho
qua bữa, rồi tôi xin phép ông bạn già mở va li thiết một bàn thờ Phù dung dới
sàn gạch.
Tôi lấy làm sung sướng đến tột
bực khi nghe ông cụ tỏ ra cho tôi rõ ngài cũng là một tín đồ của Nương tử; cho
hay những kẻ cùng chung quan niệm thường hay được hội nhau trong những dịp tình
cờ! Nếu thế, hà tất tôi phải nằm đất để nhường giường cho ông cụ; chúng tôi
khiêng bàn tĩnh lên chiếc phản độc nhất của gian phòng, để cùng nhau được hưởng
khoái lạc lim dim “đi gió về mây” sau một cuộc hành trình khó nhọc.
Thực không bao giờ tôi ngờ
được rằng tôi có thể, vì hai bửa nha phiến, mà ngẫu nhĩ viết lên một pho tiểu
thuyết; giá cứ mỗi lần cùng chị Phù dung tình tự, tôi cũng được diễm phúc như
thế, thì dù phải hết sức khổ sở điêu linh vì thuốc phiện, tôi cũng không hối hận
than thở nỗi gì! Tối hôm đó, câu chuyện của cụ Chất và tôi chỉ loanh quanh ở những
vấn đề làm ăn, ở lai lịch tôi và thân thế cụ Tôi được biết qua loa, cụ là nòi
Thổ, mẹ nưgời bản xứ mà cha người Kinh; thủa bé có xuống Hà Thành học tập rồi
được bổ đi phán sự Ở các miền Cao Bằng, Hà Giang, Lào Kay và Phong Thổ. Sau khi
làm việc được hơn hai mươi năm, cụ xin về hưu, lên an cư tại Chapa, chỗ mà cụ
cho là kỳ quan đệ nhất. Tôi cũng kể cho cụ nghe tông tích và chí hướng tôi, sự
tích nhân duyên của Tuyết Tiên, con một nhà đại phú hào chốn kinh đô với tôi,
là một nhà văn sĩ nghèo nàn nghiện ngập.
Nghe tôi nói, cụ chỉ gật gù
điểm một lời rất ôn tồn, song chứa đầy triết lý:
- Chả qua chỉ là duyên nghiệp
cả! Ai mà tránh khỏi nghiệp duyên tự mình, mình đã gây nên?
Điếu chú, điếu anh thì giờ
êm ả bằn bặt trôi, không biết đã lướt qua bao nhiêu độ. Tuyết Tiên và con tôi
ngủ im thin thít trong phòng bên cạnh, chỉ còn tôi và cụ Chất nằm lim dim, nửa
mê nửa tỉnh, giữa một vùng lặng lẽ âm ụ Bỗng đâu tôi mơ màng thấy bên cạnh có
bóng dáng một thiếu phụ áo quần trắng toát, tóc lòa xòa phủ kín ngang vai, giữa
ngực một dòng máu tươi phọt ra đỏ sẫm. Tôi giật mình thức dậy, bồ hôi đẫm ướt cả
sơ mị Ngọn đèn dầu lạc lụn bấc tỏa ra một thứ ánh sáng lờ mờ, gian phòng tối vắng
đìu hiu nhuộm một vẻ thê lương ảm đạm..
Không dám chợp ngủ nửa, tôi
khêu to ngọn bấc, tiêm thuốc hút để xua đuổi những tư tưởng rùng rợn đến ám ảnh
tôị Khói thuốc xanh cuồn cuộn tỏa khắp phòng, tựa hồ có mãnh lực thiêng liêng gạn
lọc sạch trong không gian những bóng hình ma quỉ. Tiếng kêu vo vo của điếu thuốc
thu dần vào nhĩ tẩu chẳng khác gì một điệu kèn làm huyên náo quãng u tịch thê
thảm của canh trường. Tiếng vo vo ấy kinh động giấc ngủ thiu thiu của cụ bạn
già ngài mở choàng mắt dậỵ
- Thưa cụ xơi với con vài điếu
nữa cho vui, con sợ quá, không dám ngủ.
- Làm sao mà thầy sợ?
- Con vừa chợp mắt đi, thấy
ngay một bóng ma đàn bà trắng lốp, giữa ngực có một vết thương máu tuôn đỏ
chóe, đến sờ tay lạnh buốt vào tay con, con giật mình tỉnh dậy bồ hôi ướt đẫm
khắp mình ..
- Thôi, đích thị rồi! Ấy là
con gái ông Hường Quyền, bị người nhân tình ghen đâm chết trong phòng này đó!
Chị ả chết đến năm nay đã mười mấy năm rồị Ra cái thứ ma chết oan lại bất đắc kỳ
tử này nó sống dai dẳng thật, có khi đến mấy chục năm mà vong hồn vẫn chưa siêu
linh!
- Bẩm cụ cũng tin là có mả
- Thầy hỏi lạ chửa! Có chứ
sao không? Ma là giống ở cỏi âm cũng như mình là loài ở cỏi dương, có gì là lạ!
Ai ở địa hạt người ấy, miễn đừng xâm phạm đến nhau, đừng làm hại đến nhau thì
thôi!
- Thưa cụ, mình có làm gì họ
mà họ hại mình?
- Có chớ! Nó không thể xâm
phạm đến mình được, nhưng nó chòng ghẹo mình thử chơị Cũng tựa hồ như mình nói
đùa con cái vậỵ Một đôi khi, có lợi cho nó, thì nó tìm kế tàn sát mình nữa, tỷ
như lũ ma trành chả hạn ...
- Bẩm cụ, con nghe nói trên
các miền thượng du này có rất nhiều chuyện ma kỳ quặc chẳng hay có đúng hay
chăng? Con tuy chưa bao giờ ở lâu tại đồng rừng, nhưng cứ như mắt con đã thấy ở
núi Gội và tai con đã nghe ở Đồng Giao, thì con phải tin rằng, trong cõi âm u lạnh
lẽo của linh hồn, có nhiều sự kỳ dị hết sức. Con xin kể cụ nghe hai chuyện này,
may ra cụ có thể chỉ giáo cho con được chút nào bổ ích chăng, vì sống trước con
bốn năm chục năm, có lẽ cụ đã từng nghe nói về hai sự tích đó?
- Vừa tiêm thuốc mời ông cụ
Chất, tôi vừa dần dà kể hầu cụ hai huyền bí hiểm lạ lùng mà tôi đã tường thuật
trên đâỵ Cụ như chăm chú nghe tôi lắm, thỉnh thoảng lại cười mỉm và gật gù thưởng
thức lời tôị Khi thuật xong, cụ không đợi tôi phải hỏi, nói ngay rằng:
- Thầy với tôi hẳn phải có
tiền duyên, nên mới gặp nhau tình cờ như hôm nay đó! Đã là bạn có duyên với
nhau tôi nhẽ nào chẳng bổ chính thêm vào câu chuyện của thầy cho có ngành có ngọn,
khiến thấy có thể, một ngày kia, đem hiến cho người đờị Quả như thầy đã tưởng,
tôi có thể giúp thầy gây dựng lại sự tích nàng Oanh Cơ được. Hai câu chuyện thầy
vừa kể, mặt ngoài tuy không có liên lạc gì mật thiết với nhau, song, bề trong
chính là do một gốc mà ra cả.
Ai ngờ một chuyện bị chìm
vào dĩ vãng ngoài năm chục năm rồi, bây giờ lại còn có người moi móc lên được?
Giá thầy không gặp tôi, chuyện đó sẽ không có cỏ gì lý thú đáng ghi chép cả, nó
chỉ là hai đoạn dã sử rời rạc mà thôị Đã gặp tôi, tôi đem hai đoạn ấy chắp liền
làm một, biến chúng thành một thiên bi sử ly kỳ. Ngoài tôi ra, hiện thời này,
thực không còn ai có thể giúp thầy làm nên việc ấy! Tôi nói ngoài tôi, bởi tôi
là người độc nhất vô nhị giấu trong ký ức thiên bi sử ly kỳ đó. Thầy đã có
duyên với tôi, thì tôi xin kể thầy nghe!
Ông cụ nói đến đây, ngừng lại
một chút. Tôi càng nghe ông. càng như nở từng khúc ruột, tai tôi nuốt lời ông một
cách thèm nhạt, ngon lành. Tôi thấy mở đầu đã khá dài, cũng hơi nóng ruột muốn
đi vào đầu đề tức khắc. May sao, ông cụ Chất không để tôi mất công chờ đợị
Đêm hôm ấy, lại bên cạnh chiếc
khay đèn nha phiến, cũng trong một gian phòng lặng lẽ âm u, tôi được hớt trên
môi ông bạn già lai lịch của hai võ sĩ ở núi Gội, cũng như tôi đã trên môi anh
Thủy, làm quen được với một đóa hoa vô cùng mỹ lệ và biết một phần sự tích của
nàng Oanh Cơ!
Trong hoàn cảnh đêm đó, chỉ
kém có một cái bóng yêu kiều: Lê Thị Một cái bóng khác, may sao, tự nhiên đền
bù vào chỗ thiếu; Tuyết Tiên không hiểu vì đâu không nhắm mắt được, có lẽ cũng
như tôi sợ con ma đàn bà bị đâm chết, nên mở cửa phòng sang nghe chõ chuyện dưới
chân chồng, vẽ lên nền vàng xám của bức tường khách sạn một hình ảnh mảnh khảnh,
dịu dàng, tha thướt như thông lay, buồn rầu như liễu rủ ...
Chương 11: ĐẸP DUYÊN CẦM SẮC
Hồi ấy, nghĩa là cách đây
đúng 56 năm, mùa xuân năm Giáp 1,Thân (1884), ngày 16 tháng 2, thành Bắc Ninh
thất thủ về tay Pháp. Hai đạo binh dưới quyền của hai thiếu tướng De Négrier và
Brière de l'Isle, một mặt qua sông Hồng Hà, theo dọc sông Đuống, một mặt ở Hải
Dương, đi tàu tới Phả Lại rồi đổ bộ, cùng men bờ sông Nguyệt Cầu tiến đánh Bắc
Ninh.
Trận ấy, quân Pháp chỉ mất độ
tám tên binh và độ vài chục khẩu súng. Quân Tàu Cỏ Đen, núng thế, rút cả về Yên
Thế, còn trơ quân An Nam thế cô, phải cổi giáp lai hàng. Một vị quan binh đứng
đầu cai quản đội binh ta hồi ấy trong thành Bắc Ninh là lãnh binh Lê Vũ Khúc.
Ông là dòng dõi cựu thần nhà Lê, tuy không phải tôn thất, song tổ tiên ông đã
làm quan tới chức Công Khanh, ba bốn đời nối tiếp nhau trong hàng tứ trụ. Sau bốn
năm thế hệ văn quan, trong họ bỗng đổi nghề nghiên bút sang nghề cung kiếm, tổ
phụ Lê lãnh binh xuất thân cử võ, làm tới Ngũ quân Đô thống, thân sinh ông làm
Sơn Nam Đề Đốc, đến đời ông khí nhuệ nhụt đi chút ít, ông chỉ làm tới Chánh
lãnh binh thôị
Khi thành Bắc Ninh có cuộc
xung đột binh đao, Lê công đứng trên mặt thành đốc thúc quân sỉ, hợp với quân Cờ
Đen kháng chiến cùng binh Pháp.
Phải một tốp lính phía dưới
thành bắn lên, ông bị một phát trúng dưới xương vai, một phát trúng tay phải,
rơi mất ba ngón taỵ Biết mình khó lòng chống cự được nữa, Lê công bèn nhảy vào
trong thành, theo đường hầm chạy khỏi chiến trường, rồi lên ngựa phóng thẳng một
mạch về chỗ đất phong ấp của ông, ở cách thành Bắc Ninh hơn một dặm. Gia đình
ông ở cả trong ấp đó. Ông vừa phi ngựa tới cửa chưa kịp vào đến sân thì ngã gục
xuống, lịm đị Vực vào nhà ông cứ thế thiếp dần, máu chảy ra lênh láng, không trối
trăng câu nào cả.
Lê phu nhân hồi đó mới non bốn
mươi tuổi, bà sống với hai người con trai đã khôn lớn, một người mười bốn, một
người mười haị Cậu cả tên Lê Mạnh Khôi, cậu em là Lê Trọng Việt. Hai anh em được
mục kích cái chết thảm thương của thân phụ lấy làm đau đớn lắm; tuy còn thơ ấu
nhưng cũng đã cảm thấy sự tử biệt sinh ly là một nỗi thường tâm thống thiết nhất
trên đờị Hai anh em giúp mẹ tắm rửa cho cha, khâm liệm tử tế và an táng cho người
bị chết nạn chiến tranh vì tận tâm báo quốc.
Thành Bắc Ninh bị hạ rồi,
khi loạn lạc đã yên yên, ba mẹ con thu thập đồ đạc, bỏ đất phong ấp ở Bắc Ninh
rút về an cư lạc nghiệp ở núi Gội, là quê quán tổ tiên hai anh em Khôi và Việt.
Về đến tổ hương, mẹ dệt cửi
vá may để nuôi cho hai con ăn học, theo các trẻ con trong làng, sang đình thụ
giáo một ông đồ. Hai anh em họ Lê rất nhác, chẳng bao giờ thuộc bài vở sử kinh,
chỉ toàn trốn thầy đi với lũ trẻ con du thủ du thực, tìm đến chân đồi chơi đánh
trận giả và tập dượt quyền cước. Thầy đồ nhiều phen căng nọc đánh cho rất đau
mà hai anh em vẫn không chừa, cứ ham mê nghề võ hơn nghề văn. Bà từ mẫu ngày
ngày hết sức khuyên răn, Khôi và Việt thờ mẹ rất hiếu thảo nên lại quỳ xuống
xin lỗi mẹ và hẹn sẽ ra công chăm chỉ học, nhưng đến hôm sau, vắng mặt mẫu thân
thì vẫn chứng nào tật ấy như thường.
Dần dần, bà mẹ biết rằng máu
truyền thống chạy trong huyết mạch hai đứa con mình còn sôi nổi hăng hái lắm,
nên cũng chỉ bảo ban lấy lệ mà thôi, còn mặc cho hai anh em Khôi, Việt được tự
do luyện tập gân cốt, không ngăn cản nữạ Thành thử đến năm sáu năm sau, cả hai
cùng to lớn khỏe mạnh; rõ ràng một đôi lực sĩ hùng dũng, oai phong. Từ khi góa
chồng, Lê mẫu làm lụng chăm chỉ, để dành để dụm, thu xếp tảo tần, khi bỏ ấp ở Bắc
ra đi, có bao nhiêu của cải thu vén đem cả về Nam Định; nhờ thế cũng có ít nhiều
ruộng nương phong phú, đủ túc dụng một đờị Hai anh em Khôi, Việt, kịp đến tuổi
trưởng thành, bà chưa có thì giờ lo bề gia thất cho hai con thì tự nhiên lâm bệnh,
rồi lúc khỏi, liệt mất cả hai chân, không làm ăn gì được nữạ Hai anh em phải ở
nhà lo liệu công việc giúp đỡ mẹ già. Tuy nói là giúp đỡ, nhưng kỳ thực hai cậu
ấm chả được việc gì có lợi cả, bà mẹ ngồi một chỗ mà vẫn phải để tâm coi sóc đến
công chuyện hàng ngàỵ Ruộng nương thì bà cho cấy rẽ, cứ đến vụ là có gia đinh
đi thu thóc lúa về, hai cậu ấm chỉ phải trông lũ người nhà, đừng để chúng ăn bớt
ăn xới, thế là đủ. Lúc bán lúa cho hàng xáo, thì cũng đã có các vú bõ đếm tiền
đong thóc, chả bận gì đến cậu ấm cả và cậu ấm haị
Những buổi không phải coi
sóc người nhà, ngoài vụ mùa màng và vụ bán chác, hai anh em lại chia nhau, anh ở
nhà với mẹ già ba tháng, em di ngao du săn bắn nơi xa; rồi em lại trở về nhà ở
ba tháng trong khi anh được tự do đi chơi đây đó. Cậu hai Việt hay vào mạn Đồng
Giao săn bắn, mỗi khi cậu đi vắng, thì cậu cả có thèm thuồng lắm cũng không dám
rời mẹ đi chơi nốt, chỉ quanh quẩn vào chợ Ghềnh lùng hưu nai hay chồn cáo một
hai ngày mà thôị Nhưng hễ cậu hai quay gót trở về, lại tha hồ cho cậu ấm Khôi
muốn vượt bể băng ngàn tới đâu mặc sức.
Một buổi sớm, cậu Việt về
nhà bỗng thấy vẻ vui mừng tươi tỉnh, song chỉ vui mừng tươi tỉnh được ít hôm đầụ
Vui tươi xong, cậu bỗng đâm ra thẫn thờ, vớ vẩn, tựa hồ thần hồn thần trí bị một
cái gì ám ảnh; có ngày cậu buồn thỉu buồn thiu chả nói một câu nào, bà mẹ có hỏi
thì cậu gượng cười chốc lát, nhưng phút sau, lại trầm ngâm mơ tưởng nhớ nhung aị
Thấy anh cả đi vắng lâu, cậu lộ ra vẻ sốt tuột lăm chỉ ngong ngóng ra đứng cửa
chầu chực, đợi cậu Khôi về suốt ngàỵ
Mong ròng ra ba tháng, cũng
chả thấy, mãi gần sáu tháng mới gặp cậu ấm anh trở lại, tải về một xe gạc hưu
nai và hai tấm da báo, một tấm da cọp và một bộ hổ cốt. Anh em chả kịp hàn
huyên nữa; cậu hai thấy có anh về thì mừng quýnh vội vàng thu xếp hành lý ra đi
ngaỵ Lần này cậu đi chơi có non nửa tháng đã về, đem theo một người con gái mặc
tang phục, và một đứa trẻ độ 14, 15 tuổị
Từ trước tới nay, có nhiều
nhà phú hộ và danh giá trong vùng Gội, thấy hai anh em họ Lê con nhà võ tướng,
và rất khôi ngô tuấn tú, có ý muốn gả con chọ Mối lái có đến nhà ngỏ lời cho Lê
mẫu biết, bà cụ hỏi ý kiến hai con, song cả hai cậu, chẳng cậu nào bằng lòng lập
gia đình cả.
- Lạy mẹ, anh em chúng con
còn ít tuổi, có đi đâu mà vội! Mẹ còn trường thọ nữa, vì lão niên đới tật là một
số rất tốt. Nếu mẹ cho phép chúng con, thì chúng con sẽ tự chọn lựa lấy người bạn
trăm năm chăn gối, như thế sau này chúng con chẳng còn oán thán nỗi gì! Duyên số
là một sự tình cờ mà thành, chớ biết thế nào mà chọn lựả
Lê mẫu nghe hai con trình
bày như vậy, cũng vui lòng chiều ý không ép uổng nữạ Hai anh em vì trọng võ thuật,
cũng chả nghĩ đến sự lấy vợ. Tới khi Việt thình lình đem một người con gái ở
đâu về cả nhà đều lạ lùng kinh ngạc hết sức. Cậu hai đem nàng ấy vào lạy mẹ và
lạy anh, rồi đầu đuôi sự thể thế nào, thú thật cả một lượt cho mẹ và anh rõ. Lê
mẫu mới hay thiếu nữ đó là nàng Oanh Cơ quê ở làng Bàn Thạch tỉnh Thanh Hóa, bồ
côi cha mẹ và hiện không còn ai thân thích họ hàng. Bà và cậu ấm cả thấy Oanh
Cơ thùy mị dịu dàng lại thướt tha kiều diễm, nên rất vui lòng đẹp ý, nghĩ ngay
đến sự cho phép nàng và cậu hai Việt sánh đôị Cậu hai cũng chỉ mong ước có thế,
thôi lúc nghe mẹ và anh nói trúng tâm can mình, cậu bất giác đỏ một tía tai, phần
vì thẹn, phần vì mừng, phần vì thương anh thương mẹ đã nghĩ đến hạnh phúc trăm
năm của mình, không hề cản trở ý định của mình một chút cỏn con nào cả.
Cậu Việt vội bẩm mẹ là nàng
Oanh còn có trở anh chị nàng bị chết trong khi vào rừng gặp cọp, phải đợi nàng
trừ phục đã mới sẽ bàn đến chuyện thành thân. Từ đó, hai cô cháu Oanh Cơ ở hầu
hạ Lê mẫu như hầu hạ mẹ già, không có lòng muốn đi đâu nữạ Mà cậu ấm hai cũng
nhường anh đi xa săn bắn; về phần cậu, cậu chỉ muốn ờ nhà thần hôn định tỉnh
bên gối huyên đường mà thôị
Hơn một năm sau, nàng Oanh
Cơ mặc áo quần hồng, quấn khăn vành dây, che quạt lượt đỏ, lạy Lê mẫu hai lạy để
trở nên mợ hai Việt. Lứa uyên ương mới cả ngày chỉ quấn quít lấy nhau, yêu mến
nhau cực điểm, khiến mẹ già trông thấy cũng vui lòng. Trong gia đình họ Lê từ
đó, càng ngày càng thêm vui, thêm thịnh; Oanh Cơ đã từ đâu đem về cho Lê mẫu sự
an nhàn thư thái, đem về cho cậu Hai sự hạnh phúc êm đềm. Từ ngày có nàng, Lê mẫu
không phải nai lưng cáng đáng công chuyện trong nhà nữạ Bao nhiêu việc tần tảo
thu vén gặt lúa, bán thóc, một tay nàng coi sóc được hoàn hảo, vẹn toàn.
Nàng là người không những chỉ
có thanh có sắc, nàng còn khéo léo đủ đường, tề gia nội trợ đảm đang khôn xiết.
Nhà họ Lê có nàng thì phòng ốc cửa ngõ ngăn nắp đâu vào đấy; thềm gạch, sân hầu
bao giờ cũng sạch sẽ tươm tất. đồ đạc giường chiếu bao giờ cũng ngay ngắn chỉnh
tề; cơm bao giò cung ngon, canh bao giờ cũng ngọt; trong gia đình bao giờ cũng
êm thắm yên vuị Lê mẫu nhiều phen ngồi bên ngọn đèn dầu đọc sách xem con dâu dệt
cửI, thinh thoảng gấp sách ngừng đọc, trông Oanh Cơ một cách yêu đương âu yếm,
bảo nàng rằng:
- Này nhà hai! Mày về làm
dâu mẹ, mẹ chả còn có điều gì trách móc được. Mẹ bình sinh không có con gái,
nay được con mẹ quí mến biết bao! Nhất là tất cả mọi việc trong nhà, con một
tay thu xếp gọn gàng yên ổn cả, khiến mẹ được ăn không dưỡng lão, mẹ còn gì mà
chả vui lòng? Sau này mẹ nếu thác đi, buổi lâm chung thực mẹ không ấn hận oán
than gì nữa! Duy chỉ có một điều là anh con chưa có vợ, vợ chồng con thì chưa
có con, nếu hai sự ấy nhất đán nhờ Trời Phật, đều được như lòng mẹ ước, thì mẹ
dù nhắm mắt cũng sẽ mãn nguyện đủ trăm bề.
Bà cụ mong như vậy, ai ngờ ước
mong của bà nó linh hiệu làm sao! Chẳng bao lâu, nàng Oanh thụ thai, khiến bà
thiếu chút nữa mừng quá mà chết. Mãn nguyệt khai hoa, Oanh cho ra đời một đưa
con gái nhỏ giống mẹ như tạc, lại được có vẻ khẳng khái lẫm liệt của chạ Trong
gia đình nhờ có đứa trẻ càng tăng hạnh phúc êm vui; cậu Việt, từ buổi có con,
chỉ quấn quít chung quanh mình vợ, hầu hạ con như một ông bố trung thành tận tụỵ
Riêng chỉ có Khôi thì vẫn
không quên nghề nguy hiểm, ở nhà lâu không săn bắn tập luyện là thấy chồn chân
khó chịu vô cùng. Chàng thường đi đây đó suốt năm, ở nhà nhiều nhất chỉ được độ
vài ba tháng. Mỗi kỳ ở nhà, Khôi lại bắt Việt theo mình ra chân đồi múa võ, sợ
em lâu ngày không rèn tập thì gân cốt yếu hèn đị Bởi thế, cứ độ nào có Khối,
thì Việt phải tạm xa vợ xa con một ngày hai buổi, cùng anh ra dượt võ ở ngoài đồng.
Lâu dần thành một thói quen hễ cứ anh đi vắng thì thôi, lúc nào anh có nhà, Việt
lại cùng anh đối thủ. Hai anh em tựa hồ rất có tin ngưỡng trong nghề quyền cước;
họ thi nhau trổ tài không phải để cố ý ganh nhau, cũng không phải để khoe
khoang tài nghệ mình trước mặt công chúng. Công chúng đây là vài ba người nhà
quê hiền hậu, chất phác chả hiểu cung kiếm là gì. Lắm khi hai anh em họ Lê rượt
nhau chạy bên mình họ, họ cũng vẫn thản nhiên điềm tỉnh cày bừa, không buồn để
ý đến. Tuy họ không chú ý ngắm nhìn hai cậu ấm luyện võ, mà trong làng, từ trên
chí dưới chẳng ai là người không rõ hai anh em họ Lê là một đôi tráng sĩ hùng
dũng, săn bắn rất giỏi có sức đích nổi muôn ngườị Tiếng đó đồn đãi rất xa;
quanh một vùng từ Bình Lục đến chợ Ghềnh, Đồng Giao, rất nhiều tay hào kiệt, rất
nhiều đảng lục lâm, đều mộ tiếng cả hai chàng Khôi, Việt.
Hai chàng giỏi võ nghệ gần đến
nơi tuyệt đích thế mà không bao giờ dùng sức mạnh của mình để làm một sự gì phạm
pháp hoặc mưu công danh tài lợi trong đờị Hai anh em chỉ an cư ở thôn quên sinh
hoạt bằng mươi mẫu ruộng và bằng nghề săn hưu, nai, beo, cọp; họ thờ mẹ chí hiếu,
đối với anh em vợ con, thân bàng cố hửu chí tình, tịnh không có một dục vọng
cao kỳ nào cả.
Ai ngờ đâu xử thế đến như vậy
mà cả hai đều không tránh khỏi dây oan nghiệt đến chằng vào cổ; một ngày kia
Khôi Việt cùng bị tình nghi phải bắt giải lên Tỉnh ly, rồi chẳng bao lâu bị
khép vào án tử hình. Thực là vạ gió tai bay, chả ai hiểu vì đâu nên nỗị Có kẻ
hiếu sự len lỏi vào gia đình hai cậu ấm bàn tán rằng chả qua chỉ vì Oanh Cơ mà
cửa nhà phút chốc tan tành. Họ nói:
- Phàm giả những đóa hồng
nhan rực rỡ và hoàn hảo quá chỉ toàn là những binh khí giết ngườị Muội Hỉ làm
chết vua Kiệt, Đắc Kỷ làm chết vua Trụ, Tây Thi xui Phù Sai vong quốc diệt thân
mà Bao Tự khiến U Vương táng mệnh, còn Qúi Phi thì làm Minh Hòang sống cũng như
thác; thực quả đàn bà đẹp là cái mầm tai họa đến cho đời! Đến vương bá bị những
vưu vật đó còn thiệt thân mất nước, nữa là người thường tránh sao khỏi nạn tan
cửa nát nhà!
Câu nói ấy, tuy quá độc địa,
song cũng có một phần sự thực. Sắc đẹp nàng Oanh Cơ quả là một duyên cớ trọng yếu
khiến chồng và anh chồng nàng bị cái nạn đoạn đầụ Hai anh em họ Lê bình sinh
hay đem nhau ra thí võ ở chân đồi làng Gội, đều bị đao phủ hành hình tại chỗ
đó.
Oan hồn, sau khi lìa khỏi
xác trong một trường hợp cực kỳ thảm thiết, vì uất ức nên không tài nào tiêu
tán đợc, nhất là vì hai tráng sĩ chết rồi, lại không được họ hàng lập đàn cầu
nguyện cho tinh thần chóng đợc siêu thăng. Hấp thụ mãi khí thiêng liêng của non
sông cây cỏ, hai vong hồn đó lâu dần hóa ra một thứ ma có đủ tư cách hiện hình
về được, hiện về chẳng để dọa nạt hay làm hại ai cả, nhưng chỉ để diễn lại một
bài quyền xưa kia họ ngày ngày hằng tập luyện ngõ hầu khi trong cái thế hệ mới
mẻ này vết tích một nỗi thương tâm uất ức của một thời dĩ vãng một nỗi đau
thương do "oan nghiệt" dệt thành ...
Thường thường, trong xã hội
cũng như trong gia đình, hễ cứ thịnh vượng quá thì càng dễ bị suy vong; cũng
như một vết trên bánh xe, khi lên đến đỉnh tuyệt cao rồi thì tự nhiên tụt dần
xuống dướị Hạnh phúc trong nhà không bao giờ hoàn toàn mỹ mãn quá; hoàn mỹ quá
tức là một cái mầm tai nạn, bởi lẽ Hóa công hình như hay đùa ghen với sự sung
sướng tuyệt đích của loài ngườị
Oanh Cơ từ ngày về làm dâu họ
Lê, đem về cho họ ấy đủ mọi sự phong lưu nhàn hạ. Cửa nhà ngăn nắp thóc lúa đầy
kho, tiền bạc chật hòm. Lê mẫu không còn phải lo toan gì nữạ Gia dĩ Oanh lại
sinh hạ được một đưa con nhỏ, sự vui vẻ trong gia đình thực quả như pha lê
không vết, ai ai cũng đều sinh hoạt đầy đủ, mãn nguyện, chẳng có nỗi gì oán
thán hay ước muốn viển vông. Hoàn cảnh yên vui êm ấm đó tưởng đâu có thể lâu bền
vĩnh viễn, bởi lẽ anh em cậu ấm không hề làm sự gì ám muội phạm pháp, cũng
không vì bon chen danh lợi mà bôn tẩu, sinh ra các mối oan thù.
Ai ngờ đâu Trời Già không để
cho yên, bỗng run rủi vạ gió tai bay đến phá nát hạnh phúc nhà họ Lê trong nhột
sớm. Căn nguyên tai vạ đó rất là vô lý thế mà cũng xui nên hai kẻ mất đầu!
Số là trong buổi sơ khai, nước
ta còn nhiều đấng giang hồ trộm cướp tụ tập binh lính quấy nhiễu lương dân và
kháng cự cùng nhà nước. Cứ chỗ nào có rừng cao núi cả khó lòng mang quân đến tiễu
trừ được là chúng quần tam tụ ngũ, bầu một tên chánh sai, rồi lập ngay một sào
huyệt, một cơ sở để làm nghề không vốn muôn lờị Những nơi hiểm trở như các miền
Yên Thế, Chợ Ghềnh, Đồng Giao, Phồ Cát, các mạn thượng du xứ Bắc kỳ và các hạt
giáp giới với dải núi giăng màn xứ Trung kỳ, phần nhiều là có giặc cỏ, kẻ cướp ẩn
nấp ở trong các truông lau, bãi sậy, các thung lũng eo hẹp ở chen vào những lớp
núi cao ngất, gồ ghề dựng đứng như bức tường cheo leo, thẳng vút, các nơi hoang
vu cô tịch ở phía tây hạt Đồng Giao như mấy vùng Thạch Thành, Cẩm Thủy, La Hán,
Hồi Xuân, toàn là các trường mai phục có địa thế, có thắng lợi, giúp cho một
tên giặc mang súng ống nấp trong hang hốc bờ bụi có thể một mình địch nổi vài
chục binh linh nhà nước.
Thủa ấy, trong muôn ngàn đảng
giặc cỏ lau nhau chui rúc trong kẽ rừng hốc đá, như ở các vùng núi non hiểm trở
tả trên đây, có một vài đảng rất cường thịnh hiển hách, quân nhà nước lùng bắt
trừ khử mãi không xong.
Có một đảng, trong các bọn
tho khấu cường thính đó, gồm độ vài trăm tên lâu la dưới mệnh lệnh của một tay
cuồng nho phẫn chí tên là Nguyễn Quán hoành hành ở biên giới hai xứ Bắc và
Trung kỳ, nhất là ở các vùng Thạch Thành, Cẩm Thủy, Phố Cát Đồng giao; thanh thế
lan dọc từ Bỉm Sơn, đến Chợ Ghềnh, ngang từ Phát Diệm tới mãi Nho Quan, Hồi
Xuân và La Hán.
Đám giặc cỏ ấy thường thường
vào các làng cướp bóc lương dân, hãm hiếp đàn bà con gái, phá nhà thờ, bắt cố đạo,
ngang tàng đốt phá, đến đâu thì xưng hùng xưng bá, sát hại khổ chủ dọa nạt dân
nghèo, bắt trâu dê gà lợn mổ xẻ làm tiệc linh đình chè chén với nhau, xong rồi
vơ vét đầy túi, kéo cả đàn lẩn tránh tản mát vào các hang sâu khe hẻm trong
núi, không tài nào tróc nã được. Quan quân truy tầm lùng bắt đã riết lắm, thế
mà chúng vẫn chưa bị sa vào pháp luật bao giờ.
Tên đầu sỏ, Nguyễn Quán, là
một kẻ không chỉ lắm mưu gian kế quyệt, lại còn giỏi võ nữạ Hắn có mặt khẩu
súng hỏa mai thập bát hưởng, nghĩa là bắn luôn được 18 phát không cách xa nhau
mấy, lại có một con dao găm hai lưỡi rất lợi hại, rạch người như mổ lợn, không
hề khó nhọc chút nàọ Ngoài hai thứ khí giới đó, Quán còn biết sử dụng một ngọn
roi gân hổ mà hắn múa vù vù, trông không thấy người đâu nữa, khiến tên bắn khó
lòng trúng hắn được. Có thế mà thôi đâu, hắn lại còn sở trường môn ném chuỗi tiền;
chuỗi tiền hắn tung ra bách phát bách trúng, phi đoạt được gươm giáo côn đao của
bên địch, cũng làm cho kẻ thù ngã quỵ xuống bị trọng thương. Võ nghệ của Quán
thực là gần tới chỗ tuyệt đích. Nếu không giỏi như vậy, hắn đã làm sao thâu phục
được lũ đầu trâu mặt ngựa làm lâu la giúp hắn?
Hắn cứu tụi con em trong đảng
đã nhiều phen, trong những trường hợp cực kỳ nguy khốn, hóa nhiều đứa từng chịu
ơn cứu tử nên hết sức trung thành tận tụy với hắn. Tuy giỏi đến đâu thì giỏi,
Quán cũng có ý gìn giữ phòng thân, sợ có khi bị người ta ném ám khí thì thiệt mạng.
Bởi vậy hắn bèn chọn trong bọn lâu la, bốn tay giỏi võ nghệ nhất để làm bốn kiện
nhi hộ vệ theo hầụ
Bốn tên kiện nhi đó, đáng lẽ
bổn phận là phải bảo trợ chủ tướng trong cơn nguy biến; ai ngờ lại chính là
Nguyễn Quán phải giữ gìn tính mạnh cho chúng, mỗi lần có những cuộc xung đột
gay go! Bảy tám phen, giá Quán không giở đến tài nghệ bắn súng, ném đao, quất
roi, hay ném tiền, bốn tên hộ vệ ắt bỏ mạng từ lâụ
Chúng chỉ được mỗi một việc
là giúp chủ tướng mà thôi, là vây bọc chủ lại, tả một đứa, hữu một đứa, tiền một
đứa, hậu một đứa, để ngăn người ngoài ném trộm các ám khí. Ngoài sự che chở dó,
chúng không được việc gì nữạ Bởi thế Nguyễn Quán vẫn có ý phàn nàn chưa chọn được
cặp tả hữu nào có nghệ thuật siêu quần để được nhờ mà khỏi bị hao công tổn lực,
để mỗi lần có cuộc huyết chiến thì chúng gánh vác hộ cái phần nguy hiểm gian
nan. Mỗi lần đi cướp bóc ở đâu, Quán xem chừng công cuộc phải làm to, thì thân
đi đốc suất lâu la đánh phá; nếu đoán là "tiếng bạc" hôm ấy bé thì chỉ
nằm một chỗ, phái một hai tên thủ túc thay mình quản lĩnh là xong. Cũng do lẽ ấy,
hắn cần phải có bọn tay chân xứng đáng. Bốn tên hộ vệ lúc ấy chưa phải là những
người đáng mặt thay quyền Quán mà cai quản được bọn lâu la, dầu bọn ấy không lấy
gì làm đông cho lắm. Quán có ý muốn tìm hai võ sĩ có bản lĩnh, có can tràng để
rủ vào phe đảng mình, rồi giao cho cái chân phó soái họa may hắn sẽ được an
nhàn đôi chút.
Có kẻ mách hắn ở vùng Gôi có
hai thiếu niên tráng sĩ dòng dõi võ tướng, vì lỗi thời nên không lĩnh ấn công
khanh. Hai người đó chính là hai cậu ấm con quan lãnh Lê, võ nghệ đều siêu quần
xuất chúng, tính tình thì cương trực anh hùng.
Nguyễn Quán nghe tiếng hai
anh em Khôi, Việt đã lâu vẫn có lòng hâm mộ và cảm phục tài năng của hai chàng
song chưa có dịp nào làm quen cả. Nay nhân người tiến cử, hắn bèn tự thảo một
phong thư sai kẻ tâm phúc đưa đến Gôi cho họ Lê, trong thư đại ý nói rằng:
"Bỉ nhân trộm nghe đại
danh hai công tử đã lâu, thường ao ước được một phen tương ngộ. Đấng hào kIệt tất
phải lấy nghĩa xứ nhân; bực anh hùng lẽ đâu chẳng lấy ân xử với hai người trí
thức? Từng mảng hai túc hạ là người khoáng đạt, cỏ chí cao xa; vậy nên bỉ nhân
đây, cơm Mạnh Thường mong đải khách hiền lương, vàng Trịnh Bá rắp tặng người tuấn
kiệt. Bằng hai túc hạ sẵn lòng giúp bỉ nhân cho hùm thiêng thêm cánh, thì ngoài
giữ chân tay, trong làm lòng dạ, chúng ta tuy Nguyễn Lê khác họ, rồi sẽ như Hồ
Việt một nhà; nghĩa vườn đào rạng tiếng khách ngàn xưa, chúng ta há chẳng biết
noi theo để cùng gây sự nghiệp? ... xin hai công tử xét cho lòng thành thực này
chớ có từ nan: được như thết bỉ nhân sẽ lấy làm vạn hạnh! Vạn hạnh!"
Hai anh em Lê Mạnh Khôi và
Lê Trọng Việt được thư ấy vội vàng trả lời cho sứ giả đem về. Trong tờ phúc
đáp, lời lẽ ngọt ngào khiêm tốn; hai cạu ấm tỏ ý rất ân hận, không thể cùng
Nguyễn Quán cộng tác được viện cớ rằng mẹ già vợ dại, lại "tông đường chút
chửa cam lòng" nên không thể dứt tình bỏ cửa nhà vào núi để đeo roi cắp kiếm
theo hầu dưới trướng Nguyễn Quán được. Vậy xin ông chủ tướng kìa hãy tìm những
người phò tá khác. Vả chăng, hai anh em lại tự lượng mình không có tài cán gì,
không có thao lược gì để giúp cho Nguyễn gây nên cơ đồ lộng lẫy cả. Muốn cho
Nguyễn khỏi bị thất vọng về sau, chi bằng ngay lúc đầu tiên, đừng để cho nhau
tưởng tượng quá sâu xa về những công cuộc vĩ đại hay về một cuộc hiệp tác hão
huyền.
Hai cậu ấm Lê tuy đối phó một
cách quyết liệt với sự mời mọc của tên đầu đảng cướp, nhưng bề ngoài vẫn dùng lời
lẽ thanh tao lịch sự, không ai bắt bẻ nổi hoặc giận dỗi vào đâu được.
Tưởng như thế tất là yên câu
chuyện, không xảy ra điều gì rắc rối, khó khăn; ai ngờ đâu vì mảnh thơ vô tình
kia hai anh em bỗng lâm vào một tình thế gian nan, càng ngày càng nguy hiểm,
không tài nào gỡ thoát ...
Ở một làng cách núi Gôi chừng
hai ba mươi dặm, một đêm kia bỗng xảy ra một vụ cướp tọ Quân cướp đề phòng
không được cẩn mật, để mưu kế chúng bị bại lộ, khiến quan quân biết trước, đến
mai phục chung quanh nhà sự chủ và căng lưới sẵn sàng để dụ cường đạo vào
trong. Quả nhiên sau một trận xung đột kịch liệt mười lăm tên gian phi bị
thương chịu cho quan quân trói lại, mười hai tên khác thì tử trận, duy có tên đầu
đảng và một ít lâu la trốn thoát được mà thôị Hỏi ra mới biết tay chủ tướng
khôn ngoan ấy là Nguyễn Quán. Y sở dĩ tẩu thoát được, một là vì có súng, hai là
nhờ bốn tay thị vệ hết sức xông xáo che chở hộ ỵ Trong bốn tên ấy, ba tên bỏ mạng
trong trường xung đột; đứa thứ tư thì bị bắt vì mang một vết trọng thương giữa
đùị Cớ sao bốn thằng kiện nhi đó lại hy sinh tính mệnh cho chủ một cách anh hùng
như thế? Căn nguyên sự hy sinh này mới kỳ dị làm sao! Chính là bức thư Nguyễn
Quán đã viết cho hai anh em chàng họ Lê đó! Vốn từ lâu, Nguyễn Quán vẫn có ý
phàn nàn về những tay hầu cận mình không được giỏi, bời thế mới viết thư dụ dỗ
hai anh em họ Lê vào phe đảng giúp mình. Bốn tên hắu cận bị chủ tướng khinh rẻ,
lấy làm căm tức ngấm ngầm trong lòng, nên kịp khi lâm sự, chúng mới hết sức trổ
tài thi nhau che gươm đỡ đạn cho Quán, để tỏ rằng nghệ thuật của chúng nào kém
gì tài cán hai gã họ Lệ Ngờ đâu vì hăng hái quá, chúng đều bị những miếng đòn độc
ác cua quan quân mà chết, chỉ còn một đứa sống thì rồi cũng bị què và tàn tật
suốt đờị Cái kết quả của một sự tức giận nhất thời đó là như thế. Kết quả ấy
càng chua cay thê thảm bao nhiêu, nó càng làm cho tên kiện nhi sống sót nghĩ
thương tiếc anh em đồng chí, bực tức số phận hẩm hiu mà thâm thù thâm oán hai
anh em Khôi, Việt bấy nhiêụ
Bởi thế, khi giải về dinh Án
sát để lấy khẩu cung, tên gian tặc ấy không ngập ngừng gì cả, khai ngay rằng muốn
bắt được Nguyễn Quán, cứ việc đem tra tấn hai chàng thiếu niên võ sĩ đã giúp ngầm
y trong các cuộc cướp của đốt nhà. Hai thiếu niên đó là con quan lanh Bắc Ninh:
Lê Mạnh Khôi, Lê Trọng Việt ...
Tai nạn nhà họ Lê bắt đầu từ
buổi ấy; đương lúc cả nhà chung hưởng hạnh phúc thái bình vui vẻ, hai anh em bị
bắt đem đi, ngơ ngác không hiểu vì đâu lại xảy ra cơ sự lạ lùng như vậỵ Lê mẫu
kinh khủng lo lắng, bỏ ăn bỏ ngủ; Oanh Cơ thì khóc lóc suốt ngàỵ Về phần Nguyễn
Đức Tiêu, cháu Oanh Cơ, sau khi hai công tử bị giải lên tỉnh rồi tống lao,
chàng bèn vội vã thu xếp hành lý theo lên Nam Định để đem cơm nước quà bánh cho
hai người bị nạn và dò la xem tin tức thế nàọ
Việt và Khôi bị bắt vừa được
hai ngày thì sáng hôm thứ ba, các quan trên tỉnh về khám nhà họ Lê tại núi Gôị
Trong cuộc khám xét, chẳng bắt được giấy má gì quan trọng cả, duy chỉ tìm ra được
bức thư của Nguyễn Quán mà thôị Thầy thư ký thông ngôn theo quan Chánh cẩm đến
khám nhà Oanh Cơ, thấy nàng thùy mị dịu dàng, cứ chòng chọc ngắm nhìn nàng mãi,
khiến nàng phải sượng sùng e lệ, cúi gằm mặt xuống không dám ngửng lên nữạ
"Gái một con, trông mòn con mắt", gia dĩ nàng Oanh lại có sắc đẹp tự
nhiên vẹn vẻ, hóa nên thầy Thông ngôn càng mê đắm mê say, thầy tiến đến bên cạnh
nàng, lộ ra vẻ hiền từ phúc hậu bảo nàng rằng:
- Bà chớ lo! Tôi xin tình
nguyện làm giấy má hộ bà, để bà đầu đơn khiếu nại cùng nhà nước!
Oanh Cơ tưởng đấy chỉ là lời
nói đãi bôi cho đẹp chuyện ai ngờ thầy Thông nói sao làm vậy, ngày hôm sau vội
đến nhà họ Lê thảo các đơn từ tử tế rồi đọc cho Oanh Cơ và Lê mẫu nghẹ Xong thầy
xin hai mẹ con ký tên vào đơn rồi đệ trình lên quan Án. Khi thầy Thông ra về,
hai mẹ con Oanh Cơ cảm chút tình săn sóc đến người có nạn, đem gạo tiền ra tiễn,
song thầy Thông một mực chối từ nhất định không nhận.
Cách đấy ít lâu, chẳng biết
Tòa xử và tuyên án ra làm sao, chỉ rõ ngày 26 tháng ba, đầu giờ Mão, anh em
công tử họ Lê bị điệu về núi Gôi, trói vào hai chiếc cột đóng thấp thấp ở một
sườn đồị Mười hai tên đạo tặc đồng đảng với Nguyễn Quán cũng bị trói như thế
chung quang mình hai cạu ấm.
Trên sườn đồi, trước mặt lũ
tội nhân, nền đất bị san phẳng để dựng một cái rạp lớn, chung quanh có tinh kỳ
đỏ ốI, gươm giáo sáng quắc, tàn quạt uy nghị Trong rạp, trên một chiếc ghế bành
đằng trước có bày hương án, một ông quan áo mũ chỉnh tề,cân đai bối tử trịnh trọng,
ngồi chễm chệ uy nghi, sắc mặt nghiêm nghị đượm vẻ sát khí lạnh lùng. Diện mạo
cứng cỏi đó thực là hợp với vẻ long trọng thê thảm của pháp trường. Bên mình
Giám trảm quan có các viên bộ hạ, các lính tráng theo hầu và một bộ đàn sáo bát
âm. Hai bên trước cửa rạp, một bên là giá trống cái, một bên là giá chiêng đồng;
hai tên lính mặc quần áo chẽn vàng nẹp đỏ, chân thắt xà cạp điều, cầm dùi đứng
chực sẵn.
Trong hoàn cảnh lạnh lùng
nghiêm nghị ấy bỗng thấy một người đàn bà vừa khóc sướt mướt như mưa gió, vừa
thất thểu tiến đến. Thiếu phụ đó mặc đồ sô gai trắng, bỏ tóc xõa, đội mũ mấn
che lấp cả mặt mũi hóa nên không ai nhận rõ được dung mạo nàng. Nàng bồng một đứa
con thơ, rẽ đám người đi xăm xăm vào tận giữa pháp trường, tới gần một tội nhân
nâng đứa hài nhi cho anh ta hôn hít, đoạn phủ phục dưới chân anh ta khóc nức nở,
nói không ra tiếng.
Phạm nhân đó nào phải ai xa
lạ, chính là công tử Lê Trọng Việt mà thiếp phụ kia, ấy là nàng Oanh Cợ Nàng
Oanh Cơ ngồi xệp xuống đất, bên cạnh chồng, ruột gan quằn quại như đứt ra từng
đoạn một, cảnh sinh ly tử biệt, tự nhiên đến hủy hoại gia đình êm thấm nhà
nàng, nó tàn ác quá, đau đớn quá, khiến nàng không còn tâm hồn nào nữa, không
còn đủ trí giác và tinh thần sáng suốt để tìm ra một lời lẽ gì thống thiết khóc
chồng và từ giã anh chồng. Nàng cứ quỳ móp dưới đất. Cậu ấm hai, trông thấy vợ
con, lòng cũng tan nát, không thể cầm được nước mắt. Nhưng đã đến trường hợp
này cậu đành phải cúi đầu nhẫn nhục trước sắc lệnh cay nghiệt của định số, thổn
thức bảo vợ rằng:
- Em khá mau về đi, đừng ở
chốn rơi thịt đổ máu này làm gì! Ngày nay anh sở dĩ đương tuổi thanh niên mà bỏ
vợ con, chịu bất đắc kỳ tử một cách thảm thiết thế này, chẳng qua chỉ vì tiền
oan nghiệp trái đó mà thôi, có cưỡng cũng vô ích! Thân phụ chúng ta, xưa xông
pha trong vòng khói lửa, chém giết tàn sát cũng nhiều, các oan hồn bởi thế mới
theo dõi dòng họ ta mà trả thù, báo óan! Đến lúc vận trong nhà suy bĩ, lại có cả
hai con ma rừng thủa trước cũng hùa vào tác quái, mạng anh nghĩ cho kỹ, thực là
khó nỗi bảo toàn! Em còn nhớ câu chuyện ma rừng anh thuật lại cho em nghe trong
cái đêm vắng vẻ, khi hai ta mới bắt đầu gặp gỡ nhau không? Thôi, em khá về đi!
Anh sống khôn chết thiêng, sẽ theo dõi bóng em, phù hộ cho em mãi mãi! Em còn
trẻ, có nhan sắc; đời em còn chứa chan hạnh phúc, em chớ nên nghĩ luôn luôn tới
kẻ khốn nạn này làm gì! Anh phúc mỏng đức bạc, không được cùng em thủy chung trọn
nghĩa; một mai anh chết rồi em nên quên hẳn anh đi, chọn lấy một kẻ xứng đáng
trao thân gửi phận, may ra sau này sẽ không đến nỗi khổ nghèo hèn! Còn như đối
với anh, duyên số hai ta chỉ còn đến đây là đoạn tuyệt! Em đùng nên quá câu nệ,
nghĩ vẩn vơ mà chịu thiệt thòi cả một đời xuân trẻ tốt tươi! Thôi, anh nói thế
đủ rồi, em đứng dậy về đi đừng bịn rịn dùng dằng nứạ
Lê Trọng Việt căn dặn vợ vừa
xong, thì có một tốp lính vâng lịch Giám trảm quan, cầm roi đến xô đuổi Oanh Cơ
ra ngoàị Nàng bèn đạt phịch đứa con thả xuống bãi cỏ, bỏ mặc nó khóc oe oe, thụp
xuống lạy anh chồng hai lạy, rồi lạy chồng hai lạy, vừa lạy vừa khóc lóc rất thảm
thương. Đoạn nàng bế cháu lại hôn bác, nâng con cho hôn cha, rồi bồng nó lủi thủi
bước ra khỏi vùng cấm địa của pháp trường. Nàng đi mưới được vài bước đã nghe
tiếng loa nổi dậy như một hiệu còi thảm thiết, bi ai, tiếp đến một tiếng trống
trầm trầm và một tiếng chiêng lanh lánh. Tùng! Bi ly! Nàng ngoái đầu lại, hốt
nhiên hoa mắt choáng váng, ngã gục trên thảm cỏ ...
Thì ra mỗi tiếng loa, tiếng
trống chiêng báo hiệu như thế là một mệnh lệnh khai đaọ Đao phủ mặc áo chẽn
đen, thắt dây lưng điều buộc thành tua ra phía tả múa may giữa đám tử tù, cứ mỗi
lần nghe dứt tiếng chiêng sau cùng là hắn khoa thanh mã tấu đưa một linh hồn về
chín suốI! ... Bãi chân đồi núi Gôi ngày nay chỉ còn là một cảnh hiền lành phẳng
lặng có ai hay nó đã làm sân khấu cho một tấn tuồng cực kỳ bi đát mà những vai
đào kép bấy giờ đều đã khuất, chi còn lại sự tích thương tâm của họ, và hai mảnh
hồn oan nghiệt phiêu phiêu tán tụ, thỉnh thoảng lại hiện lên chốc lát để kỷ niệm
lại cho đỡ tiếc cuộc đời trai trẻ đầy hy vọng, một sớm mai chẳng may bị cắt đứt
dưới lưỡi gươm tên đao phủ vô tình!
Hai cậu ấm chết rồi, chẳng mấy
chốc Lê mẫu cũng buồn thảm mà chết theo, Oanh Cơ trước kia sống nghèo nàn cô độc
nay củng lại sống nghèo nàn cô độc, cùng một đứa con th ấu và một đứa cháu vị
thành niên. Bao nhiêu sản nghiệp trong nhà, lúc hai cậu ấm Lê bị tù tội, đã đem
bỏ cả ra lo lót, thậm chí bán cả vườn cả ruộng mà gỡ cũng không xong! Những đơn
từ và mọi công việc chạy chọt, bởi cớ cậu Nguyễn Đức Tiêu còn bé dại nên nhờ ơn
thầy Thông ngôn coi sóc hộ từ trước đến saụ Thầy Thông ngôn thực quả là người
quí hóạ Giữa khi trong nhà lâm biến, thầy một lòng tình nguyện đến đỡ đần dù
khó nhọc thế nào cũng chẳng từ nan. Những buổi lấy khẩu cung ở giữa tòa, thầy
đã cố ý bênh vực che chở cho hai anh em họ Lê, song quan trên nghiêm khắc quá,
nên không tài gì làm giảm tội được chút nào! Kịp đến khi chồng nàng và anh chồng
nàng bị hành hình rồi, thầy lại tự đứng lên giúp đỡ mọi việc ma chay tống táng
rất là tươm tất.Thấy cô cháu Oanh Cơ lâm thế quẫn, nghèo nàn chả có tý gì thầy
nhiều phen giúp tiền, giúp gạo, đối với gia đình nàng rõ ra một vị ân nhân hào
hiệp. Thầy Thông không những chỉ phúc hậu, từ tâm, thầy còn là người đứng đắn
nghiêm trang nữa; trước mặt một quả phụ trẻ đẹp như Oanh Cơ, không hề bao giờ
thầy có một lời bờm xờm bợm bãi cả.
Mãi đến khi nàng hết tang chồng
đã hơn một năm, lúc ấy thầy thấy gia đình nàng quẫn bách quá, mới sai mối lái lại
hỏi nàng và đưa cho nàng một lá thơ đại ý như sau này:
"Tôi xem chùng cái thế
bà không thể đứng một mình như thế này được mãi, vì cứ thế, bà lấy kế gì mà
sinh nhai và nuôi hai cháu còn thở Như bà không có lòng tục huyền thì thôi, tôi
không dám nóị Còn nếu bà liệu phải bước đi bước nữa bởi tình thế bó buộc thì tôi
có một lời này tâm sự mong bà rộng lượng xét cho! Tôi đây cũng góa vợ đã lâu
không có con; ở trong cảnh cô tịch quạnh hiu mãi lấy làm buồn lăm. Chi bằng có
sự này là lưỡng toàn hơn cả: chúng ta cùng họp nhau lại để gây một gia đình
tươi vui đằm thắm, tưởng nhừng kẻ nơi chín suối cũng hiểu tình thế mà tha thứ
cho ta! Bà nghĩ thế nàỏ"
Thực ra Oanh Cơ cũng muốn thủ
tiết với chồng cho trọn nghĩa ái ân và đền tấm ơn tri ngộ, nhưng trong buổi khốn
khó này, nàng còn có đứa con thơ phải nuôi nấng gây dựng nên người cho khỏi phụ
lòng kẻ khuất. Nàng là một phụ nhân hèn yếu, không có gia tư điền sản, cũng
không nghề nghiệp sinh nhai, chả lẽ cứ ỷ lại mãi mãi vào lòng tốt của thầy
Thông để cô cháu mẹ con được no thân lành áỏ Vả lại, gia đình nàng thụ Ơn thầy
Thông quá nặng, nay cũng là một dịp để đền đáp chút ơn ấỵ Bởi thế nàng nhận lời
gá nghĩa cùng thầy, mong rằng sẽ có thể tựa vào thầy được để gây dựng cho đứa
con gái bé nên người tử tế. Nàng có lấy thầy chăng nữa, cũng chỉ là vì đứa con
thơ, đứa cháu bé mà phải cải giá; chớ lòng nàng đã héo khô rồi, còn có ái tình
đâu nữả Ái tình của nàng nó đã theo cậu ấm Lê cùng xuống Tuyền đài, nàng không
thể một đời yêu đến hai lần, nếu người đó không phải chàng thứ tử họ Lê sống lại
...
Chương 13: ĐÈO Ô QUÍ HỒ
Trên con đường từ Chapa qua
Phong Thổ, một đoàn khách dừng chân nghỉ giữa con đèo Ô Qúi Hồ. Đoàn hành khách
có mười hai người: một người đàn bà và một người con gái bé ngồi ghế đăng sơn một
người con trai cưỡi ngựa, còn bao nhiêu là phu khiêng ghế và tải đồ đạc cả.
Hỏi ra mới biết người đàn bà
đó là bà Tri Châu Phong Thổ, chồng vừa ra đất ấy phóng nhậm được ít lâu naỵ Đứa
con gái bé là con bà, người con trai là cháu bà. Đoàn phu để chiếc ghế đăng sơn
ở chỗ có bóng mát, rồi họ tản mác ngồi mỗi người ở một gốc cây để nghỉ chân dưỡng
sức. Bà Tri Châu lúc ấy giở tráp trầu ra ăn một miếng, trông bà có vẻ buồn rầu
lo lắng, nhưng vẻ lo buồn không làm thế nào át được sắc đẹp dịu dàng sắc so của
bà. Bà ăn mặc cực kỳ diễm dắn, nền nếp, không đeo lắm vàng ngọc, không đánh phấn
thoa son; song càng ngắm bà càng thấy có duyên, càng bị say đắm vì đôi con mắt
mơ mộng của bà, đôi mắt đăm đăm nhìn vào khoảng chân trời xa thẳm.
Lúc ấy khoảng ba giờ chiềụ
Bóng nắng xê xế, trên đường rừng mát mẻ dễ chịu lắm. Người thiếu niên đi ngựa
buộc con vật đỡ chân của chàng vào một gốc cây rồi đi dạo quanh quẩn ngắm nhìn
vẻ đẹp lộng lẫy tươi thắm của ngàn nộị Tụi phu có vẻ mệt nhọc, vì họ đã tất tưởi
cả ngày rồi, ai ai cũng nhân dịp lúc dừng chân mà quạt mồ hôi, và nghỉ ngơi cho
lại sức. Họ để các rương hòm rải rác dọc đường, núi, rồi ngồi phanh ngực ra mà
quạt, có người thì dựa vào gốc cây, vách đá mà lim dim ngủ, chả ai để ý đến chiếc
đăng sơn để ngay sát rìa núi trước mặt bãi sậy rườm rà.
Bỗng đâu, một tiếng la to
làm cho mọi người hoảng hốt đứng cả dậy, rồi đến tiếng khóc, rỗi đến một lời
kêu the thé vang lùng trong rừng sậy đưa ra:
- Cháu Tiêu ơi! Cháu nhớ lấy
lời cô đó!
Xong, im bặt. Cả đoàn ùa lại
mé đăng sơn. Cô bé con nằm chết ngất, ngoẹo đầu dựa vào thành ghế, còn bà Tri
Châu đã biến tự lúc nào rồị Dưới đất, ngay chỗ đăng sơn, có vết bốn cái vuốt in
sâu xuống cát. Đoàn phu nhận ra đó là dấu chân hổ. Thì ra bà Tri Châu đã bị hổ
cắp tha đi!
Bà Tri Châu đó là Oanh Cợ
Ngày nay, theo đúng nghiệp số của nàng, nàng phải theo hai anh chị chết dưới vuốt
thiêng loài mãnh thú. Con hổ này rình nàng từ lâu lắm, nó định bắt nàng đi đã mấy
năm nay rồi! Bới chưa có dịp nào, nó đành phải đợi sau khi bắt hụt nàng một
phen ở Đồng Giaọ Tra khảo anh chị nàng, nó biết nàng tất phải qua đèo Ô Qúi Hồ
vì theo chồng ra Phong Thổ. Nó phục trong bụi lau đợi nàng ở đó. Ngày giờ nàng
đã đến, số kiếp nàng đã tận, nàng bị nó nhảy xô ra ngắm chặt lấy lôi đi, giữa
khi cháu nàng và các phu phen đều vô ý mỗi người chăm chú vào việc riêng của
mình.
Đời Oanh Cơ thế là đoạn tuyệt;
nàng vừa ra khỏi kịch trường mà nàng đã đóng một vai đào thương hết sức bi aị
Nhưng kỷ niệm của nàng mãi mãi vẫn không bị ám mờ trong lớp bể dâu; hình bóng
nàng còn sống trong tâm hồn con nàng và cháu nàng, trước khi nhắm mắt lìa đời,
nàng đã tìm ra được một bí mật: là chồng cũ nàng, Lê Trọng Việt không phải bị
các quan tòa lầm lẫn bắt buộc vào tội chết, mà chính là kẻ thù đã thêu dệt đã bịa
đặt ra nhiều chuyện để xui giục quan tòa hạ bút phê án tử hình! Kẻ thù ấy, độc
địa thay! Lại là thầy Thông, người đã cùng nàng gá nghĩa sau này! Cậu ấm Lê Trọng
Việt chết được 3 năm, nàng nghe lời đường mật của thầy cùng thầy đánh bạn. Nàng
về nhà thầy được 3 năm thì thầy bổ đi Bắc Cạn, rồi được 2 năm nữa, thầy thăng
Tri Châu, lên phó nhậm ở Phong Thổ. Trong khi chung chạ, nàng nhận ra thầy
Thông là người gian trá xảo quyệt, chỉ có vẻ ngoài niềm nở lịch sự, mà thực
tình trong lòng chứa đầy các kế độc, mưu sâu, nàng nhận được rằng thầy là kẻ
tham lam bôn tẩu, tìm hết cách hại nhân thắng kỷ, một là để ăn tiền cho giàu
có, hai là để chóng cao thăng. Thầy đã làm cho bao nhiêu gia đình tan nát, bao
nhiêu nhân vật điêu linh, thế mà không tỏ vẻ gì hối hận cả, lại còn đắc ý là
đàng khác. Những giờ chăn gối, nàng có ý gợi câu chuyện chồng cũ, than vãn sao
kẻ kia vô tội mà đến nỗi bị quan trên khép vào án tử hình. Nghe nàng căn vặn thầy
Thông cứ ầm ừ không trả lời sao cả; mãi lâu lắm, lâu lắm, một đêm mà trời đất lạnh
lùng buồn tẻ, một đêm mà hoàn cảnh như gợi lòng người phải mở phanh cho tâm sự
lọt ra, thầy Thông mới khe khẽ rỉ tai nàng, bằng một giọng trầm trầm, ngần ngại:
- Sở dĩ tôi yêu mợ quá, nên
buộc lòng phải làm như thế! Đáng lý ra, anh em họ Lê không đến nỗi chết, chỉ phải
tù tội mà thôi; tôi có nói thêm vào nên họ mới bị xử trảm. Song ngẫm ra đến ái
tình là hết, tôi có quý thương mợ, nên mới gây ra tội ác ấy; không thì sao có
ngày naỷ
Từ khi nghe lời thú nhận của
thầy Thông, Oanh Cơ coi thầy như con vật dữ, ngoài mặt nàng không lộ ra vẻ gì
giận dỗi căm tức cả, nhưng trong lòng nàng chứa chất một khối oán hận tầy đình.
Nàng oán thầy khẩu Phật tâm xà, làm hại người ngay thẳng để quyến rũ vợ người
ta mà vẫn nhơn nhơn vui vẻ, hình như không coi việc ác của mình là một sự xấu xạ
Nàng trót đã lấy thầy, không nhẽ giết thầy để rửa hận cho người đã thác; vả có
giết thầy chăng nữa, cũng không đủ trả thù rửa oán; tội thầy đáng phải hình phạt
một cách tàn nhẫn, độc địa sâu cay hơn, hình phạt thế nào cho thầy sống cũng
như chết, ăn mất ngon, ngủ mất yên, đêm ngày tâm trí lo sợ, hối hận, hai mắt dù
mở dù nhắm, cũng thấy những cảnh mất đầu đổ máu tự tay thầy đã gây nên. Như thế,
may ra mới xứng đáng! Nàng muốn tìm một kế báo thù như thế, nhưng thời gian thấm
thoắt, nàng chưa tìm được kế gì. Có lắm lúc mối oán hận trong lòng như sóng nước
chơi vơi, tràn lên tới cổ, nàng muốn chém thầy ngay, đầu độc thầy ngay, song chợt
nghĩ đến đứa con thơ, nàng lại nén dằn khối lòng, hết sức trấn tĩnh, lộ ra vẻ
điềm đạm như thường, khiến thầy khỏi nghi ngờ.
Muốn biết rõ ngày xưa thầy
hành động thế nào, Oanh Cơ lần về Nam Định, đến tòa sứ, hỏi những người bạn của
thầy Thông, nhờ họ cho xem tập hồ sơ của cái án cũ Lê Trọng Việt. Xem tập án ấy,
nàng mới hay lá đơn khiếu nại thầy đã làm hộ cho mẹ con nàng đại ý như sau này:
"Chúng tôi là Bùi Thị
Lan, vợ góa của quan nguyên Lãnh binh Lê Văn Khúc và Nguyễn Oanh Cơ, nàng dâu
thứ hai của vị cựu quan ấy, cúi đầu thành kính xin các quan Tòa đèn trời soi
xét trông lại cho chúng con nhờ.
Nguyên hai tên Lê Mạnh Khôi
và Lê Trọng Việt tức là con, anh chồng và chồng chúng con, gần đây lại can phạm
vào vụ cướp ở làng Ngọc Chính Hạ. Tên đầu đang bọn cướp đó là Nguyễn Quán. có rủ
rê người nhà chúng con làm việc phạm pháp, người nhà chúng con trót dại giúp đỡ
quân phản nghịch, nhưng cúi xin các quan thương cho mà đừng bắt tội, bởi lẽ, nếu
hai anh em Khôi và Việt bị tội, thì họ Lê chúng con sẽ tuyệt tự. Khôi và Việt
còn mẹ già năm nay đã ngoài 50 lại có vợ dại con thơ không biết nàng tựa vào
đâu, tình cảnh thực là bi thiết. Cúi xin các quan mở lượng hải hà, hết sức che
chở bao dung cho, chúng con sẽ ngậm vành kết có, đội ơi các quan lớn vạn bộị"
Một lá đơn như thế có bao giờ
hai mẹ con nàng Oanh chịu ký tên ở dưới, nếu thầy Thông không đọc trại đi một
cách khác, bảo rằng hai cậu ấm Lê không từng vào phe với đảng cướp bao giờ. Cứ
theo lá đơn này, thì rõ ràng là, nàng Oanh và mẹ chồng nàng đã nhận rằng hai cậu
ấm có đi ăn cướp thật, và kêu xin quan tòa ra tay tế độ, mở đường hiếu sinh chọ
Nàng Oanh xem đến đấy, khí giận bốc lên ngùn ngụt nàng phải rút khăn lau mồ hôi
trán đến bốn năm lần. Nàng lại giở xem nữạ Đến đoạn lấy khẩu cung, nàng thấy
chép bằng tiếng Pháp, mới mượn người dịch lại cho nghẹ Khẩu cung của anh em
Khôi, Việt mà chính thầy Thông hồi ấy đã dịch cho các quan tòa nghe, như sau
này:
"Chúng tôi vì có điều tức
giận nên đi theo đảng cướp. Nay đã làm nên tộI, chúng tôi không hối hận gì cả!"
Trời ôi! Có lẽ nào anh chồng
và chồng nàng lại điên cuồng ngộ dại mà khai như vậỷ Thực tình họ có đi theo đảng
cướp bao giờ. Con ngời độc địa sâu cay làm saọ Thế mà ngoài mặt vẫn đạo mao
nghiêm trang, nào ai dám bảo là một kẻ giết người không đao kiếm?
Sau khi ở Nam Định về Oanh
Cơ viện hết lẽ này đến lẽ khác. không hề chung chạ gối chăn với thầy Thông nữạ
Cho mãi tới ngày thầy được giấy quan trên cho thăng chức Tri Châu, và bổ đi
Phong Thổ. Thầy đi trước, chỉ đem một ít hành lý, dặn nàng ở lại Bắc Kạn, rồi
đem người nhà và đồ đạc theo saụ Trước khi lên đường, không hiểu tại sao, nàng
cảm thấy một sự gì buồn buồn khó tả, tựa hồ báo trớc cho nàng biết, nàng sắp gặp
những tai nạn bất ngờ. Rửa mặt, nàng ngửi nước thấy mùi tanh; ra cửa nàng bị vấp
suýt ngã, rồi lại có con chó vàng đến kéo áo như muốn lôi nàng trở lạị Nàng ngồi
ở đâu thì chỗ ấy có nhện đen sạ Thực là những điềm quái dị vô cùng. Nàng bèn thảo
một phong thư di chúc trao cho cháu là Nguyễn Đức Tiêu; đoạn, nàng tỏ bày nỗi
oán hận cho cháu rõ và bảo chàng rằng:
- Cháu chịu khó giữ lấy thư
này cho kín đáo cẩn thận lắm mới được! Khi nào em Quyên (con gái nàng) đúng 18
tuổi, bây giờ cháu sẽ kể sự tích cha nó thế nào cho nó nghẹ Và cháu sẽ bảo nó
nên theo đúng lời cô mà báo thù. Báo thế nào cho kẻ kia phải điêu linh, khổ sở,
còn cũng như mất chứ đừng giết hại nó làm gì! Bởi giết nó, tức là gia ân cho nó
đấy! Đi chuyến này, cô cảm thấy mệnh số cô hình như sắp hết; cô cháu ta sẽ cùng
nhau vĩnh quyết nay mai! Trên đời này, cô không còn ai họ hàng thân thích cả,
chỉ có cháu và em Quyên. Cô thường vẫn thương cháu như con, vậy một mai cô có mệnh
hệ nào, cháu sẽ nghĩ tình, tận lực giúp em cho nó trả được thù, ấy là cháu đáp
nghĩa cho cô đấy!
Nỗi lo ngại của nàng Oanh quả
nhiên thành sự thực. Nàng đã bỏ con thơ cháu bé ở lại với cuộc đời tàn ác, để một
mình lánh sang cõi thế bên kiạ Câu chuyện sự tích nàng Oanh đến đây là dứt. Từ
ngày nàng bị hổ tha vào bụi, thì cứ những đêm ma dầm gió bấc, những đêm u ám
không trăng, trên quãng đèo Ô Qúi Hồ lại văng vẳng có tiếng đàn ca não nuột, ai
bạo gan xông xáo trong đêm khuya rừng vắng, thì thấy ba cái bóng ma ngồi đàn
hát cho một con cọp lớn ngồi nghẹ Quái trạng đó hiện chán ở đèo Ô Qúi Hồ, thì lại
quay về hiện ở Đồng Giao tức chỗ ngày trước nó thường dùng làm nơi cơ sở. Ở
đây, cũng như ở kia, chỉ là do một gốc tích mà xảy ra tình hình ghê rợn ấỵ Nàng
Oanh thác rồi, 15 năm sau, con gái nàng mới thay nàng báo thù cho cha là Lê Trọng
Việt. Câu chuyện báo thù ấy, lại là một vấn đề khác, nó dài dòng lắm, và nó ly
kỳ rùng rợn chẳng kém gì câu chuyện của Oanh Cợ Con người độc nhất vô nhị được
rõ nguồn gốc và kết quả sự báo phục ấy là tôi, bởi lẽ tình cờ và duyên số đã
khiến tôi đóng một vai, một vai thụ động trong tấn kịch thương tâm chua xót ấỵ
Mà cũng vì có chân trong kịch, tâm tôi bị đeo một vết đau đớn thấm thía đến nay
đã bốn mươi năm rồi, cũng vẫn chưa nguôi ... Nhưng mà? ... Bây giờ đêm sắp hết
rồi, tôi không thể kể tiếp cho ông nghe được nữa! Mai khi chúng ta lên tới
Chapa, trong những giờ rỗi rãi nhàn cả, tôi sẽ dần dần thuật một lượt để ông thởng
thức!
Kìa! ông hút nữa đi chứ! Hút
đi và tiêm cho tôi một điếu xem nào!
Cụ Trần Công Chất nói tới
đây, ngừng lại, tôi nhìn cửa sổ trong phòng thấy ánh sáng nhờ nhờ đương xuyên
qua luỗng kính ...















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét