Thứ Năm, 8 tháng 10, 2020

Thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế 2

 Thế giới nghệ thuật trong thơ 
trên kiến trúc cung đình Huế 2

3.2.2. Không gian lịch sử hợp cùng lý tưởng xã hội 

Trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế hình tượng không gian lịch sử gắn với các sự kiện lịch sử, với nhân vật lịch sử, là không gian của đời sống chính trị, xã hội, là những hoài vãng, hồi ức gợi nhắc đầy ước lệ, tượng trưng. Truyền thống dân tộc trải hàng ngàn năm từ thời Hùng Vương như đã trở thành một tiềm lực tinh thần, con người xem đó là một kiểu loại không gian lịch sử đầy tự hào mỗi khi nhắc đến: Tân phong quảng Lạc Hùng ( - Chế độ mới mở rộng thời Hùng Vương); Dư đồ quảng Lạc Hùng (輿 Địa đồ dòng dõi Lạc Hùng rộng lớn); Hỗn đồng khu vũ quang Hồng Lạc ( - Hòa hợp bốn phương Hồng Lạc rực sáng); Thịnh trị quan Hồng Bàng ( - Thịnh trị bao trùm thời Hồng Bàng), v.v... Không gian lịch sử ở đây không được miêu tả, định vị bằng sự kiện, mà chỉ nêu lên bằng sự khái quát có tính gợi nhắc, liên tưởng, nhằm góp phần khẳng định hiện tại. Không gian lịch sử trong thơ trên kiến trúc được thể hiện qua hàng loạt điển cố chỉ về những mô hình thiết chế trong lịch sử Trung Quốc, xem đó là những hình mẫu của lý tưởng nho gia trong quản lý đất nước. Chuyển tiếp từ mô hình không gian vũ trụ, hình ảnh chín châu (cửu châu) trở thành một ước lệ cho một không gian lịch sử có tính gợi nhắc: Cửu châu hàm toại chiêm y nguyện ( - Chín châu đều thỏa lòng nương cậy, LMM); Cửu châu hàm dục ngưỡng thanh quang ( - Chín châu muốn nhận ánh trời quang, LMM); Văn phong phiến cửu châu ( - phong tục văn hóa lan rộng khắp chín châu, ĐTH); Cửu châu triêm thánh hóa ( - Khắp Cửu châu đều thấm nhuần sự giáo hóa của vua, ĐTH), v.v... Cửu châu (chín châu) ở đây có một ý nghĩa biểu tượng, gắn liền với con số 9 biểu trưng theo quan niệm phương Đông, tượng trưng cho thiên tử, cho sự hoàn thiện tuyệt đối, cho uy nghi cùng sứ mệnh của người cai trị thiên hạ. Ở đây, cửu châu theo thuyết sử Trung Hoa xưa có để chỉ chín đơn vị hành chính cổ đại của Trung Quốc, bao gồm Ký Châu, Duyện Châu, Thanh Châu, Từ Châu, Dương Châu, Kinh Châu, Lương Châu, Ung Châu (Úng Châu) và Dự Châu. Ước lệ của lý tưởng nho gia khi nhắc đến khái niệm này là để chỉ đến sự thống nhất thiên hạ, sự chính danh của ngôi thiên tử của bậc hoàng đế. Đồng thời, trong bối cảnh lịch sử bấy giờ, việc sử dụng “khái niệm cửu châu” còn có ý nghĩa gợi nhắc về niềm tự hào về một quốc gia có lãnh thổ thống nhất vào thời Nguyễn, trải dài nhất trong lịch sử dân tộc. Bởi vậy, năm 1835, khi chủ trương đúc Cửu Đỉnh, hoàng đế Minh Mạng nhấn mạnh: “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế Miếu. Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau” [78, tr.795]. 

Những khuôn mẫu xã hội lý tưởng theo quan điểm của Nho giáo đã trở thành yếu tố thường trực trong hệ thống không gian của thơ trên kiến trúc. Hàng loạt bài thơ có sự hô ứng, “gọi” các kiểu không gian lịch sử ấy như cùng “đồng hiện” sánh đôi từng cặp: Đại nghiệp thừa Phong Cảo/ Hoằng tài tập Dự Chương ( / - Theo đất Phong Cảo [như thời Chu] dựng nghiệp/ Thu nạp người tài như ở Dự Chương, ĐTH); Tư bồi Ân Hạ xã/ Sướng mậu Hán Tề lâm / - Đất Ân, Hạ tưới bồi/ Rừng Tề, Hán rậm rạp tươi tốt, ĐLA); Hán kiếm Đường cung ca đãng định/ Ân di Chu đỉnh lặc sùng hồng ( / - Gươm Hán, cung Đường tụng công đại định/ Đồ thờ Ân, đỉnh Chu ghi khắc công lớn, Th.M), v.v... 

Có thể nói không gian nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc vừa phản ánh được không gian lịch sử vừa mang ý nghĩa hiện thực gắn với các sinh hoạt xảy ra ở chốn cung đình. Tất cả đượm một không khí tự tôn mà nổi bật là hình ảnh, sự kiện trong quá khứ lịch sử được nhắc đến như một sự so sánh mang màu sắc trọng sử của nho gia thời bấy giờ. Những không gian xưa cũ chỉ còn tồn tại qua sách vở. Sự thịnh trị của các triều đại phát triển rực rỡ trong lịch sử Trung Hoa đã trở thành mẫu hình lý tưởng trong quan điểm Nho giáo. Do vậy, các yếu tố không gian lịch sử của cung điện, lâu các, uyển hựu xa xưa đã trở thành hệ quy chiếu khi so sánh với hiện thực quy mô của đất nước thời bấy giờ. Thơ trên kiến trúc ngập tràn một không gian lịch sử ở dạng này, ví dụ như: 

- Thơ ở điện Thái Hòa: Hoan thanh đằng Thuấn điện 殿 (Tiếng mừng vang cả cung điện vua Thuấn); Vũ điện sơn hà tráng (Vùng đất vua Vũ tráng lệ cả sơn hà,); Hình thế Chu kinh tráng/ Uy nghi Hán điện tôn   / 殿 (Hình thế tráng lệ như kinh đô nhà Chu/ Sự uy nghi tôn nghiêm tựa cung điện nhà Hán); 

- Thơ ở lăng Thiệu Trị: Điều phong lai Vũ điện (Gió thông suốt ở đất vua Vũ); 

- Thơ ở Thế Miếu: Thịnh hĩ nan danh tư Vũ đức/ Nguy hồ kỳ đại kiến Nghiêu công ( / - Nghĩ đến đức độ vua Vũ tốt đẹp khó kể tên được/ Như thấy công lao vua Nghiêu sừng sững); v.v... 

Đó là cả một phức hợp vật thể tồn tại trong nhận thức và phản ảnh. Trong các dẫn chứng kể trên, không gian của “cung điện vua Thuấn”; “cung điện vua Vũ” là những không gian lịch sử cách thời Nguyễn cả hàng ngàn năm. Vua Thuấn là một vị vua huyền sử thời Trung Quốc cổ đại, được vua Nghiêu truyền ngôi. Việc vua Nghiêu chọn Thuấn truyền ngôi chứ không truyền ngôi cho con mình được sử sách đời sau đề cao, lấy đó làm bài học trong việc chọn người tài đức, bỏ qua lợi ích riêng tư của dòng tộc. Nho giáo xem các vua Nghiêu, Thuấn, Vũ là những quân vương, đế vương kiểu mẫu trong văn hóa Trung Hoa. Tương tự cách làm của vua Nghiêu, vua Thuấn rất ấn tượng trước những nỗ lực trị thuỷ thành công của Đại Vũ và đã đưa Đại Vũ lên ngôi chứ không phải con trai mình. Đại Vũ lên ngôi, lập nên nhà Hạ (2070 TCN - 1600 TCN), là triều đại phong kiến đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, trải qua hơn 500 năm với hơn 17 đời vua. Những triều đại trong lịch sử này đã trở thành mẫu mực trong quan điểm Nho giáo, ảnh hưởng đến các nội dung truyền bá tư tưởng nho học của con người xã hội để tạo nên những không gian lịch sử đầy tính biểu tượng. 

Lý tưởng xã hội này là cơ sở để con người ví cơ đồ của triều đại mình lừng lẫy không thua kém gì các triều đại thịnh trị trong lịch sử, không thua kém gì so với nước khác; ví công lao của tiên tổ chẳng khác chi các nhân vật kiệt xuất trong quá khứ. Điều này cũng dễ hiểu vì nó sẽ góp nên động lực để hướng tới, vì rằng, Ngôi cao phân biệt rõ/ Cái đẹp của con người tồn tại vĩnh cửu (乾象分明列/ 人文 久遠存: Càn tượng phân minh liệt/ Nhân văn cửu viễn tồn, LTT). Vẫn còn nhiều trường hợp phản ánh không gian lịch sử dạng này, chúng tôi sẽ tiếp tục trình bày, lý giải thêm ở nội dung phương thức thể hiện qua biện pháp ẩn dụ điển cố trong chương tiếp theo. 

3.2.3. Không gian đời thường hòa sắc hiện thực và thiên nhiên 

Theo thời gian, từ không gian vũ trụ "Bao la thiên địa thái" đến không gian lịch sử "Vũ điện sơn hà tráng", không gian trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã được kéo gần với hiện tại qua không gian đời thường, gắn với các sinh hoạt của con người, mà trước hết là những sinh hoạt triều chính. Vẫn tiếp diễn từ mô hình chung của quan niệm về tam tài, con người trong không gian đời thường ở vị trí trung tâm để quan sát, nhìn ngắm nhằm đánh giá, bày tỏ và thể hiện cùng thế giới chung quanh, một bài thơ điển hình của không gian đời thường khắc trên điện Long An: 

Vị Ương song lý tọa, Trong cung người vẫn ngự, 

Đình tế tiệm hi vi, Ngoài sảnh trời dần trong. 

Thành bắc chung sơ yết, Thành bắc hồi chuông dứt, 

Lâu tây chúc thượng huy, 西 Lầu tây ánh đèn chong. 

Lan giai hàm lộ trọng, Thềm lan sương vẫn đẫm, 

Cúc kính đới yên phì. Lối cúc khói khắp cùng. 

Thôi đệ trình phê tập, Ngưng trình phê tấu sớ, 

Lâm hiên tảo sách y. Soạn khăn áo ra cung. 

Ở đây, các yếu tố “Vị Ương” ( - là một biệt cung nổi tiếng thời nhà Hán, ẩn dụ cho cung điện nơi vua ngự); “đình tế” ( - giữa sân); “lâu tây” ( 西 - lầu phía tây); “thành bắc” ( - phía bắc Kinh Thành); “lan giai” ( - lối bậc thềm); “cúc kính” ( - lối cúc); “lâm hiên” ( - đến nơi làm việc) đều nằm trong trường nghĩa định danh, định vị tạo nên một thể không gian sinh hoạt đặc biệt, hiện lên với đầy đủ dáng dấp hiện thực của nó, nhưng cũng có sức gợi, sức khái quát cao về chốn triều chính lúc ban sớm. 

Chính xuất phát từ không gian sáng tạo đặc biệt này, thơ trên kiến trúc cung đình Huế trước tiên đã phản ánh một không gian đời thường khá đặc biệt gắn với đất kinh kỳ, gắn với hoàng cung với tên gọi những sông núi, thành quách, cung điện, lầu tạ. 

Những địa danh gắn với kinh đô, gắn với các yếu tố phong thủy của Kinh Thành, những tên công trình kiến trúc đã được "gọi tên" với những định danh rõ nét, kết quả khảo sát cho thấy: 

- Trong thơ xuất hiện những địa danh chung nhất nhằm miêu thuật về khách thể thẩm mỹ là kinh đô Huế Phú Xuân như ở các trường hợp Miếu mạo trĩ Thần Kinh ( 京 - Miếu mạo sừng sững đất Thần Kinh, Tr.M); Thần Kinh quy chính điện dao đồ ( - Đất Thần Kinh như dáng rùa vững địa đồ, Tr.M); Xuân sinh Thuận Hóa đô ( - Xuân đến kinh đô Thuận Hóa, ĐTH); Thuận Hóa sơn xuyên tú ( - Núi sông Thuận Hóa đẹp đẽ, LMM); - Xuất hiện các địa danh thiên nhiên gắn bó với kiến trúc Kinh Thành như sông Hương (với các cách gọi Hương, Hương Giang, Hương hà, Hà thủy, Giang Hà, Xuân thủy) như núi Ngự (với các cách gọi Ngự, Bình Sơn, Bình chướng, Xuân sơn). Điều đặc biệt vì là yếu tố phong thủy của Kinh Thành trong thực tế nên hai địa danh này thường được "gọi tên" thành từng cặp, như trong các trường hợp ở điện Thái Hòa: Nhật di kỳ ảnh động/ Phong chuyển Ngự Hương phiêu ( / - Mặt trời trôi đi làm lay động bóng cờ/ Gió chuyển khuếch tán tận sông Hương, núi Ngự), Bình sơn đoan ngự án/ Hà thủy tịch minh đường ( / 堂 Núi Ngự Bình làm ngự án/ Nước sông Hương mở ra minh đường), Giang hà thông chúng thủy/ Bình chướng liệt quần sơn ( / 障列 - Sông Hương thông thương với nhiều nguồn khác/ Núi Ngự bắt nhánh với các núi khác); như ở Triệu Tổ miếu: Cần Hải, Tân Giang phù triệu trẫm/ Bình sơn, Hương thủy kiến cao thanh ( / - Cần Hải, Tân Giang tỏ điềm lành/ Sông Hương, núi Ngự thấy cao thanh); v.v... Có thể thấy, con người từ vị trí trung tâm của Kinh Thành bao quát vọng xa chiêm ngắm và đánh giá phong thủy của khách thể là địa thế Đế kinh với các yếu tố minh đường là sông Hương, tiền án là đỉnh Ngự, tả thanh long, hữu bạch hổ là Cồn Hến và Cồn Dã Viên: 

Bình sơn đoan ngự án, Núi Ngự mở tiền án, 

Hà thủy tịch minh đường. Sông Hương tụ minh đường, Long hổ trùng trùng củng, Trùng trùng thế long hổ 

Nguy hoàng trạch đế vương. Huy hoàng đất đế vương, (ĐTH). 

Cái nhìn bao quát về không gian sinh hoạt đó còn mở rộng với những ưu tư, khát vọng về “quốc thái dân an” của người đứng đầu đất nước qua những không gian mang màu sắc của hiện thực, ám ảnh tâm tưởng đến khôn cùng. Đó là một không gian hướng biển, cháy bỏng về “Thái Hoà” như chính tên gọi công trình cùng những vần thơ được khắc lên đó: 

- Nam Sơn tăng đại thọ, Núi Nam tăng thêm thọ 

Đông Hải bất dương ba. Đông Hải chẳng sóng to; 

- Tinh thần quyền Bắc cực, Tinh tú quanh Bắc cực 

Ba lãng thiếp Nam minh. Sóng yên lặng biển Nam; 

- Đông minh ba lãng thiếp, Biển Đông sóng đã lặng 

Viễn quốc hiệu thê hàng. Muôn nước đến thông thương; - Quế hải hồng đào thiếp, Sóng to biển Nam lặng, 

Bội thần thụy khí phù. Khí tốt hoàng cung xa; v.v... 

Trong những hình ảnh thơ ở trên, vùng biển nước Nam được diễn đạt bằng các khái niệm biển Đông (Đông Hải), biển nước Nam (Nam minh), biển Quế (Quế hải - chỉ biển Đông) đều được gắn với trạng thái gió yên sóng lặng (bất dương ba, hồng đào thiếp, ba lãng thiếp) đã tạo nên một chỉnh thể không gian hướng biển với ước nguyện hòa bình. Không gian thiên nhiên thăm thẳm trùng khơi trở thành ám ảnh bởi khát vọng của con người rồi chuyển hóa thành không gian sinh hoạt gắn chặt với những suy tư, ước vọng mang hùng tâm tráng chí của con người đấng bậc. 

- Xuất hiện các địa danh kiến trúc với những tên gọi phiếm chỉ về các địa danh tại Hoàng Thành: 

+ Bắc Khuyết phù giai khí, 浮佳 Khí tốt tràn cửa Bắc 

Nam sơn hiến thọ trường. 獻壽 Chén thọ dâng núi Nam; 

+ Thự nhật quang ly bệ, Nắng sớm tràn bệ ngọc 

Xuân phong mãn Phụng lâu, 滿 Gió xuân khắp Phụng lầu; 

+ Phương viên tăng tú mậu, Vườn Phương cây cỏ tốt Lục dã trưởng sâm si. Cao thấp đồng xanh vươn. 

Ở đây, các danh từ Bắc Khuyết chính là chỉ cửa Hòa Bình (cửa nằm cạnh Bắc Khuyết Đài); Phụng Lâu là lầu Ngũ Phụng (phần trên của Ngọ Môn, mà trước đây là Nam Khuyết Đài); Phương Viên là cách gọi tắt của vườn Thiệu Phương (một vườn ngự trong Hoàng Cung). Đó là những dáng dấp, sắc màu được hiện lên đầy đủ với các trạng thái, tính chất hiện thực của chúng tạo nên một không gian sinh hoạt cụ thể. Chuyển tiếp từ mô hình của không gian sinh hoạt cụ thể gắn với những địa danh này là kiểu không gian với sắc thái đời thường gắn liền với những sinh hoạt tại nội cung và những sinh hoạt ngoài chốn nhân gian. Đó là một kiểu không gian thơ phổ biến, xuất hiện ở nhiều kiến trúc. Trước hết cảnh vật trong thơ thường hiện lên với dáng dấp phong phú của lâu đài, cung điện, ao hồ, hiên tạ với hương sắc đua chen của cây cỏ, hoa lá. 

Gắn với con người đấng bậc là một không gian sinh hoạt triều chính rõ nét, chỉ kinh đô, nơi vua ở với nhiều cách diễn đạt: đế đô, đế khu, đế cư, tử thần, thần cư, thần viên, thần ngự, ngọc kinh, hoàng châu, bội thần v.v...; chỉ ngai vàng, ngôi vua: đế tọa, thần bệ, đan bệ, ngọc tọa, ngọc bệ, ngọc thế, ly bệ, kim bệ, hoàng cực, cửu ngũ v.v...; chỉ sân chầu: đình trừ, đan đình, phụng đình, ngọc trì, v.v... Có hàng loạt những câu thơ miêu tả cảnh triều chính như thế trên các cung điện. 

- Đan đình sâm ngọc bạch, Sân son kín lụa, ngọc 

Kim bệ tấu sênh chung. Bệ vàng tấu sênh, chuông; 

- Nhật lãng hoàng kim điện, 殿 Điện vàng trời chiếu rực Phong thanh bạch ngọc trì. Thềm ngọc trong gió lành; 

- Đan trì la hổ bái, Thềm son hổ bái lạy 

Ngọc tọa nghiễm long phi. Bệ ngọc rồng bay cao; v.v... Đối với thơ trên kiến trúc cung đình với đặc trưng nội dung liên quan đến đời sống cung đình chiếm ưu thế, không gian thường được miêu tả chủ yếu là không gian vật lý gắn với cảnh cung vàng, điện ngọc của triều đình là nơi diễn ra hầu hết các sự kiện thực tế và tâm tưởng, gắn với quan niệm nghệ thuật về con người. Trong không gian đó, tâm tư, tình cảm của chủ thể sáng tạo hình thành, phát triển thành tứ thơ, suy ngẫm và đến lượt nó tiếp tục chi phối chủ đề tư tưởng, nội dung của tác phẩm. 

Gắn với không gian sinh hoạt triều chính, nội dung các bài thơ phản ánh con người đấng bậc đề cao chuyên cần chính sự với các hoạt động như phê tấu sớ, nêu cao giáo hóa, quan tâm nông nghiệp, canh nông trị thủy, trau dồi kinh sử, đổi mới khoa cử, chỉnh đốn quân sự, v.v... Có thể kể đến một vài dẫn chứng cụ thể như: 

- Không gian điện Long An: nhà vua đến điện Long An, một ngôi biệt điện để nghỉ dưỡng, nhưng vẫn họp bàn chính sự: 

Tuy thị cơ dư lai biệt điện, 殿 

Ưu cần vô gián thận uyên trung.  

(Tuy lúc nhã nhàn thăm biệt điện/ Chuyên cần thận trọng vẫn siêng làm); 

- Không gian Tịch điền: nhà vua đi cày ruộng Tịch điền tại khu vực Thường Mậu viên, xong thuật lại bằng thơ ( - Cung canh lễ thành thuật sự): 

Vị ương sách kỵ vãng thiên điền,  

Vụ bổn ân cần thân suất tiên.  

(Cưỡi ngựa đi nhanh đến tịch điền/ Thân chinh đến trước chuyện đương nhiên); 

- Không gian điện Càn Thành: Thức dậy buổi sớm ( - hiểu khởi) tại nơi nghỉ, nhà vua xem xét tấu sớ, gọi đại thần đến nghị sự: 

Tác y duyệt tập tùy phê thị,  

Triệu đối lâm hiên lệ dịch kiền.  

(Áo đơn đọc sớ mãi phê dần/ Gọi đến bên hiên bậc đại thần). 

Hầu như mô hình không gian sinh hoạt gắn với những công việc cụ thể lại dường như không xuất hiện với các địa danh cụ thể, căn cứ vào đặc điểm của tính chất công trình, hoặc đầu đề bài thơ trong các trường hợp vừa nêu để xác định. "Nhìn từ góc độ không gian chính trị - xã hội thì đây là yếu tố không thể thiếu của bất cứ một hoạt động xã hội nào. Người xưa không thể hình dung một sự kiện liên quan đến những đấng bậc, những danh nhân lại nằm ngoài không gian thiên hạ, tức là nằm ngoài không gian của một triều đại nào đó" [93, tr.28]. Chuyển tiếp từ mô hình không gian đời sống hoàng cung rộng lớn là mô hình không gian được "đánh dấu" bằng hệ thực vật. Vẫn cũng là motif của mai lan cúc trúc, quế đào tùng bách, liên hà liễu hạnh, v.v... nhưng ở đây ngoài ý nghĩa ước lệ, các loại cây cỏ, hoa lá ấy trên hết, khi được nhắc đến chính là "hệ thực vật" có thực được ươm trồng. Đó là yếu tố cảnh quan gắn với cả không gian sinh hoạt của hoàng cung. Qua khảo sát, có thể thấy rằng thơ trên kiến trúc đã xuất hiện nhiều loài thực vật gồm các loài hoa như: hoa mai, hoa sen, hoa lan, hoa quế, hoa đào, hoa huệ, hoa hồng, tường vi, hoa cẩn, phù dung, hoa nhài, hoa đồng tiền; các loài cây như: dương liễu, cây tùng, cây bách, cây trúc, cây chuối, cây hòe, cây lý, cây sơn trà, cây ngô đồng, cây sa kê, cây trầm đàn, cây tiểu sơn, cây lúa, cây hành. Điều đặc biệt ở đây hình ảnh các loài cây, loài hoa như cây liễu (55 lần), cây sen, hoa sen (43 lần), hoa mai (31 lần), hoa đào (19 lần), hoa cúc (15 lần), hoa quế (7 lần), cây tùng (16 lần) chiếm số lượng ưu thế. Trên thực tế, kiến trúc cung đình thời Nguyễn là điển hình của lối kiến trúc cảnh quan, mà trong đó, yếu tố cây xanh và mặt nước đóng một vai trò quan trọng. Do vậy, chỉ gọi tên loài mà có thể hình dung nơi chốn, như khi gọi đến hoa sen (với các tên gọi liên, hà, phù cừ) thì lập tức hình dung về cả một phức hệ hồ ao trong kiến trúc; khi gọi đến cây liễu (với các tên gọi liễu, dương liễu) thì đã hình dung được những bờ hồ chen xanh liễu rũ. Liên chiểu phân ba trình hạm đạm,  

Liễu đê nghênh táp vũ du dương.  

(Rẽ sóng sen dâng hương ngát ngát/ Tiếp bờ liễu rũ gió lay phay, LMM); 

Thanh hương phức phức hồng hà biện,  

Tú sắc y y lục liễu điều.  

(Sen thắm ngạt ngào hương trong gió/ Liễu xanh lướt thướt dáng trên đê, LĐK). 

Sen, liễu như là yếu tố có tính đánh dấu, định vị về không gian được đề cập đến. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế sử dụng nhiều hình ảnh cây cỏ tập trung một số loài do vậy đã tượng trưng được cho cả một không gian cảnh sắc có dáng dấp, hình hài và sinh động. Một số loài cây (như mai, đào) lại được sử dụng tượng trưng cho yếu tố thời gian (chúng tôi sẽ đề cập ở phần sau). 

Trong khi mô hình không gian sinh hoạt gắn với những công việc cụ thể ở các kiến trúc có tính nghi thức như điện Thái Hòa, Triệu Miếu, điện Long An chiếm ưu thế, thì tần số xuất hiện của mô hình không gian được "đánh dấu" bằng hệ thực vật này ở các kiến trúc tại lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị là chiếm ưu thế.

Như bài thơ sau - được trang trí tại Hiển Đức môn lăng Minh Mạng - có thể xem là điển hình của không gian thiên nhiên nhập tràn muôn sắc: Quế tống thanh hương viễn Quế đưa hương xa ngát, Mai truyền xuân tín tiên

Mai truyền tin báo xuân. 

U lan nhụy chính uẩn Nhụy lan hương còn giấu, 

Thùy liễu diệp do tiên Lá liễu sắc đã ngần. 

Diệu nhật quang y cẩn 耀 槿 Nắng vây thân hoa cẩn, 

Ngạo sương kình cái liên Sương đọng lá sen tràn. 

Lưu hà phi vãn phố Bến chiều bóng mây dạt, 

Lai nhạn lạc tình xuyên Sông tạnh nhạn lìa đàn. 

Phân tích trên cũng phần nào thấy được thực tế là tuy tính chất ngôn chí có xu hướng phổ quát, chi phối toàn bộ nội dung chủ đề thi ca, nhưng xét về tính chất thì trên kiến trúc cung đình Huế đã có ý thức "triển khai" thành hai hướng: 

- Chủ đề thơ có tính nghi thức, giáo huấn được tập trung vào các công trình kiến trúc có tính chất hành chính, nghi thức đại diện triều đại. 

- Chủ đề thơ ngâm vịnh thiên nhiên, tỏ chí tập trung vào các công trình kiến trúc có tính chất gắn với từng cá nhân của mỗi vị vua. 

Cảnh vật ngoài cung cũng hiện lên phong phú với nhiều yếu tố địa lý như núi sông, ao hồ, khe đầm, ruộng nương, bờ bãi, vệ đường, v.v... Có thể thấy bóng dáng của ngư tiều canh mục (người ngư dân, người tiều phu, kẻ mục đồng, người nông dân) hiện lên với những sắc màu sinh động. 

Trước không gian của đồng ruộng vào mùa thu hoạch, tâm cảm của con người nông nghiệp dạt dào nỗi reo vui, khiến thơ như chực sẵn ở đầu ngọn bút: 

- Nhương nhương lũng mẫu hoàng vân bố,  

Úc úc thương tương ngọc lạp doanh.  

(Rờm rợp ruộng đồng mây vàng bủa/ Tốt tươi kho thóc hạt ngọc đầy, ĐLA); 

Duyên đồ cực mục hoàng vân bố, 沿  

Mãn dã ngu tâm ngọc lạp doanh. 滿  

Tải lộ dân nhân giai hỷ sắc,  

Hoạch điền dũng phụ dật ca thanh.  

(Ven đường mây trải vàng tầm mắt/ Khắp ruộng lòng vui trĩu hạt đầy Chuyển lúa muôn người đều hớn hở/ Trên đồng phụ nữ tiếng ca say, LMM

Lo lắng nông vụ, trong không gian của cảnh được mùa ấy, con người đấng bậc như không giấu cảm xúc mà nói về nguyên nhân của thi hứng: 

Tầm thường bất túc lao đề vịnh,  

Tuế nẫm liên chương hảo bút huy.  

(Việc thường chẳng phí thơ ngâm vịnh/ Mùa vụ bội thu bút múa tràn, ĐLA). 

Vì thế nên trong hệ thống thơ trên kiến trúc có đến hơn 70 lần nhắc đến các khái niệm cùng trường nghĩa chỉ nương rẫy, ruộng đồng với dã (19), điền (16), mẫu (12), trù (11), uyển (7), dã (7), mẫu (2), mẫu (3) và mẫu (2). Đó là hệ quả của Mùa vụ bội thu bút múa tràn chăng? Và đây có lẽ cũng là câu trả lời, năm 1826, gặp vận mưa thuận, gió hòa vua Minh Mạng "vui vẻ gọi quan thị thần phán rằng: Lúa vừa trổ bông, mà được mưa lành ấy, có thể làm vui và thỏa mãn lòng dân ta mong ước.” [79, tr. 685]. 

Bên cạnh đó, hình ảnh người ngư dân trong không gian đời thường cũng được thơ trên kiến trúc miêu tả rất sinh động: Phong hồi thủy lạc tịch dương thiên/ Cạnh sử quy ngư sấn vãn thuyền ( / : Gió trở mưa quay đã xế tà/ Lướt nhanh thuyền cá ruổi chiều xa, ĐLA); Mê ly viễn phố ảm bình sa/ Nhất vĩ ngư chu ẩn thảo pha ( / : Mịt mờ bờ bãi cát xa màu/ Một chiếc thuyền chài - nhỏ ngọn lau, ĐLA), v.v... Bức tranh của đời sống ngư nghiệp cứ vậy mà hiện lên trong những không gian tràn đầy gợi cảm của con người. 

Tựu trung, nằm trong cảm thức nghệ thuật thời trung đại, sự ý thức về không gian trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng rất đặc trưng mang dấu ấn của thời đại. Hình tượng không gian vũ trụ, không gian lịch sử, không gian đời thường sắp xếp theo chiều dọc tạo nên một tôn ti thiên - địa - nhân với các “phạm trù đối xứng” như: thiên - địa, càn - khôn; tinh - vân; sơn - hải, sơn - xuyên, đông - tây, nam - bắc, cửu châu - tứ hải, v.v... (trong không gian vũ trụ); với các hình ảnh từ lịch sử như miếu điện - lầu gác; uyển hựu - hiên tạ (không gian lịch sử); với các tiểu cảnh về làm việc triều chính của nhà vua, tiểu cảnh của cỏ cây hoa lá trong chốn hoàng cung, tiểu cảnh sinh hoạt lao động của người dân (không gian đời thường) đã tạo nên những trục quan hệ thẩm mỹ. Các hiện tượng đa dạng dung chứa trong đó rất nhiều tầng, nhiều lớp làm cho quan hệ thẩm mỹ đa dạng, phong phú. Các kiểu hình tượng không gian trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã góp phần chỉ ra rằng những đặc trưng của nghệ thuật là phản ánh thế giới bằng hình tượng có tính định hướng, gợi mở, mang dấu ấn thời đại của dân tộc, của thời đại sản sinh ra nó. 

3.3. Hình tượng thời gian 

Là một trong những yếu tố khách quan để chủ thể sáng tạo nhận thức và phản ánh nên thời gian trong tác phẩm nghệ thuật chịu sự chi phối bởi tính chủ quan để tạo nên hình tượng thời gian nghệ thuật. “Do vậy mọi cảm nhận về tồn tại của con người đều gắn liền với cảm nhận không gian và thời gian. Con người cảm nhận thời gian từ sự thay đổi của chính mình và của thế giới xung quanh” [83, tr.193]. 

Thời gian nghệ thuật tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật do vậy được tái hiện, dựng nên tùy vào mục đích và nhu cầu của chủ thể sáng tạo, mặc nhiên trở thành hiện tượng có tính ước lệ của thế giới nghệ thuật. Từ hiện thực vốn có chuyển hóa đến nghệ thuật là quá trình thể hiện ý thức sáng tạo của chủ thể thẩm mỹ. Chính điều đó là làm nên hình tượng thời gian trong tác phẩm nghệ thuật với sự phản ảnh mang tính chủ quan gắn liền với cảm tính, mang tính quan niệm gắn liền với lý tính. 

Cũng xuất phát từ đặc điểm của văn học trung đại, tương ứng với các kiểu loại không gian nghệ thuật cơ bản, thời gian nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng tồn tại các kiểu thời gian vũ trụ, thời gian lịch sử, thời gian đời thường. 

3.3.1. Thời gian vũ trụ biểu hiện những ước lệ trường cửu 

Thời gian vũ trụ tồn tại biện chứng với không gian vũ trụ, bởi trên hết vũ trụ vốn là một khái niệm chỉ không gian nhưng đã bao hàm cả yếu tố thời gian. Trong “Thi pháp thơ Đường”, Nguyễn Thị Bích Hải nhấn mạnh: “Sở dĩ có thói quen quan niệm ấy chỉ vì không gian là cái có thể nhìn thấy được, còn thời gian thì không ai nhìn thấy hình thù nó bao giờ. Thời gian vô hình mà chẳng có gì là không vận động trong thời gian” [22, tr.130]. 

Thơ trên kiến trúc cung đình Huế diễn tả thời gian vũ trụ rất phong phú và dường như đã có ý thức biểu hiện qua một hệ thống bằng những kiểu thức biểu đạt gắn với các quan niệm. Thời gian được đề cập đến qua các khái niệm xác định, sử dụng trùng lặp nhiều lần nên giàu tính ước lệ: các khái niệm chỉ thời gian một cách trực tiếp như giờ ( thời); ngày, ban ngày ( nhật); buổi sáng ( hiểu, thự); buổi trưa ( ngọ); buổi chiều (cán, tà dương, tịch dương); buổi đêm ( dạ, tịch); tháng, ban đêm ( nguyệt); năm ( niên, tuế); các khái niệm chỉ mùa như xuân (), hạ (), thu (), đông () v.v. được sử dụng với mật độ lớn, thể hiện nỗi ám ảnh về thời gian của chủ thể sáng tạo. 

Từ đó, thời gian trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế phát triển tràn ngập một ước lệ trường cửu gắn với những nhận thức về các đối tượng. Thời gian không xác định chuyển hóa thành những biểu trưng: chỉ sự lâu bền, thể hiện khát vọng, ước mơ về vĩnh cửu, về trường tồn với các kiểu: năm năm ( niên niên); bốn mùa ( tứ thời, tứ tự); vạn năm ( vạn niên, vạn tải); ngàn năm ( thiên niên); trăm đời ( bách thế); vạn đời ( vạn đại, vạn thế); ngàn thu, ngàn năm ( thiên thu); v.v... Chẳng hạn: 

- Thơ trên Minh Lâu, lăng Minh Mạng: Ngọc cung phách diệu niên niên tại/ Bảo điện phương lưu nhật nhật trường ( 耀 / 殿 : Cung ngọc ánh trăng năm năm tỏ/ Bảo điện hương thơm mãi ngày dài); 

- Thơ trên Triệu Miếu: Cơ chỉ vạn niên/ Phân phương tứ tự ( / : Muôn năm nền móng vững bền/ Bốn mùa hương thơm ngát tỏa); 

- Thơ trên Thế Miếu: Tại thiên trường tích hỗ/ Vạn đại hưởng thăng bình ( / : Ở trên trời ban phước/ Muôn đời hưởng thanh bình); 

- Thơ trên Hưng Miếu: Thiên niên chung tú khí/ Trạc trạc chấn thanh linh ( / : Ngàn năm hun đúc khí lành/ Vang lừng rực rỡ tiếng tăm); v.v... 

Cảm quan thời gian trường cửu này dường như đã được chuyển hóa thành một sức mạnh vật chất, thể hiện ý thức mang tính quan niệm về lý tưởng xã hội. Đó là sự lý tưởng hóa hiện thực, đồng thời cũng thể hiện ước mơ về sự ổn định, phát triển nói chung. 

Trong tổng số hơn một ngàn bài thơ khảo sát được, khái niệm cụ thể, trực tiếp chỉ thời gian là chữ Thời () được sử dụng đến 148 lần và có 21 lần tổ hợp thành Tứ thời ( : bốn mùa) và 07 lần trong trường hợp Tứ tự ( : bốn mùa). Bốn mùa (tứ thời, tứ tự) trong hoàn cảnh này đã đi từ ẩn dụ để trở thành biểu trưng cho sự ổn định về tự nhiên, xã hội. Hình ảnh này xuất hiện trong 28 bài, điển hình như: Tứ thời triêm vũ lộ ( : bốn mùa đều thấm nhuần ơn mưa móc); Tứ thời đa thụy thái ( 時多 : bốn mùa luôn có mây lành); Tứ thời hoằng trưởng dưỡng ( : bốn mùa mở rộng nuôi dưỡng để sinh trưởng); Tứ thời điều ngọc chúc ( 調 : bốn mùa điều hoà ổn định); Bác đắc trường xuân tứ tự long ( : mong được như xuân bốn mùa hưng thịnh); Tứ tự đô hàm xuân cảnh tại ( : Bốn mùa đều thấy toàn là cảnh xuân) v.v... Bốn mùa ở đây không được miêu tả theo sự vận hành thông thường của lẽ tự nhiên, mà vận hành theo cách cảm, cách nghĩ của con người, nó thể hiện ước nguyện về sự ổn định quanh năm về thời tiết, gắn với ước nguyện về sự ổn định xã hội. Một đời sống xã hội lấy nông nghiệp làm đầu (dĩ nông vi bản, trọng nông ức thương) như thời bấy giờ thì sự chi phối có tính quyết định của thời tiết là đương nhiên, là tất yếu. Do vậy, tứ thời, tứ tự trong các trường hợp này đã ẩn dụ cho sự ổn định về xã hội hoặc tự nhiên. 

Điều đáng lưu ý là, mặc dù tổ hợp tứ thời (bốn mùa) trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế như là một nội dung chỉ về sự ổn định, nhưng sự định danh cụ thể về bốn mùa đó lại có độ chênh tương đối lớn về tần số xuất hiện. Trong các chữ xuân, hạ, thu, đông, chữ xuân xuất hiện 186 lần trong lúc đó chữ chỉ mùa khác đều xuất hiện ít hơn: chữ thu có 146 lần, chữ hạ có 48 lần, chữ đông có 17 lần. Ở thống kê trên, mùa xuân và mùa thu chiếm tỷ lệ lớn. Ở đây, mùa xuân là phần dương mở ra sự sinh trưởng; mùa thu là phần âm chưa phát triển đỉnh cao. Đó là hai trạng thái đối nghịch của vạn vật muôn loài, cũng là sự cân bằng âm - dương của tạo vật, đều tiềm tàng những khả năng phát triển của quá trình, tạo nên một quy luật vận động chuyển tiếp, liên tục. Sách Xuân thu phồn lộ của Đổng Trọng Thư có câu: “Xuân khí ái, thu khí nghiêm, hạ khí lạc, đông khí ai” ( , , , ), nghĩa là không khí mùa xuân êm ả; không khí mùa thu gắt gao; không khí mùa hè vui vẻ; không khí mùa đông buồn bã [13, tr.162]. Trong quan niệm truyền thống, mùa xuân thuộc về hành mộc (thuộc dương), ứng với phương đông, vật biểu của nó là con rồng xanh; mùa hạ thuộc về hành hỏa (thuộc dương), ứng với phương nam, vật biểu của nó là con chim đỏ; mùa thu thuộc về hành kim (thuộc âm), ứng với phương tây, vật biểu của nó là con hổ trắng; mùa đông thuộc về hành thủy (thuộc âm) ứng với phương bắc, vật biểu của nó là con rùa đen. Ứng dụng ngũ hành trong quan niệm chung của con người bấy giờ thì phương nam và phương đông được coi trọng hơn các phương khác. Theo đó, mùa xuân và mùa hạ là biểu niệm cho sinh trưởng, phát triển (với sắc xanh và đỏ thường được xem như là sự vui, sự tốt lành, sự sinh trưởng); mùa thu và mùa đông là biểu niệm cho sự tàn úa, mai một (với sắc trắng và đen thường được xem như là sự chết chóc). Rõ ràng là, nội dung các bài thơ trên kiến trúc cung đình Huế thường nói đến sự tươi sáng, sự hưng vượng, sự phát triển, nói đến sự nghiệp của triều Nguyễn mới bắt đầu, nên việc dùng hình ảnh mùa xuân với nhiều lần, việc hạn chế các hình ảnh mùa đông được hiểu như một lẽ tự nhiên. Điều này dường như được khẳng định ngay chính trong những câu thơ ở đây: Càn khôn vũ trụ tổng giai xuân ( : đất trời, vũ trụ tất cả đều mùa xuân, ĐLA). Mùa đông xuất hiện với 17 lần nhưng không có lần nào xuất hiện ở các công trình có tính nghi thức, nghi lễ như ở điện Thái Hòa, Triệu Miếu, Thế Miếu, chỉ xuất hiện ở chủ đề vịnh cảnh trong thơ tại các lăng tẩm mà thôi. Chi tiết có tính đánh dấu thời gian nghệ thuật, đặc biệt là nói nhiều về mùa xuân này cũng có thể xem là một đặc tính về cách cảm về thời gian của con người liên quan đến đề tài, tính chất của sự tình nói đến. Chẳng hạn: Xuân thủy nguyên lưu viễn, Sông xuân nhánh xa chảy, Xuân sơn khí tượng hùng. Núi xuân khí tỏa tràn. 

Đế vương hồi cựu chỉ, Hoàng đế về đất cũ, 

Nam bắc nhập tân phong. Hợp mới cõi Bắc Nam. 

Nếu như với không gian, thơ trên kiến trúc cung đình Huế ngập tràn hình tượng không gian tứ phương thì với thời gian, ở đây lại ngập tràn hình tượng thời gian tứ thời. Bốn mùa vận hành, chuyển nhịp từ mùa này sang mùa khác, lặp lại cái hôm qua: Tứ tự thường vô gián ( : Bốn mùa thường không gián đoạn, ĐLA). Quan niệm này đã tạo nên những hình tượng thời gian mang đậm tính quan niệm, tính văn hóa trong nhận thức của con người thời bấy giờ. 

Cũng là thời gian nghệ thuật được thông diễn qua các mùa, nhưng cách thể hiện gián tiếp về mùa bằng các tình thái sự vật như hoa nở, lá đâm chồi, tiếng chim hót, dáng chim bay, v.v... đã trở thành những phiếm chỉ có tính tượng trưng. Ví như diễn đạt mùa xuân với những thời điểm: 

- Đầu xuân bằng các tình thái sự vật như hàn tùy (khí lạnh qua), noãn hướng, noãn thích (hơi ấm đến), sơ mai (hoa mai hé nụ), mai tảo (mai nở sớm), ví dụ: 

+ Hàn tùy âm vụ tán ( : Lạnh tan theo mù khí, LMM); 

+ Tình vũ quân quân hàn noãn thích ( : Mưa và tạnh đều nhau, lạnh qua hơi ấm đến, ĐLA); 

+ Hướng dương mai tảo phát ( : Vươn nắng mai nở sớm, thơ trên điện Biểu Đức, LTT); v.v... 

- Giữa xuân bằng các tình thái sự vật như: liễu thúy (liễu thắm), hoa tiên (hoa tươi tốt), đề oanh (tiếng chim oanh hót), quế tống (mùi quế lan xa), mai truyền (hương mai ngát), thúy liễu (liễu thắm), đào lý (hoa đào, hoa lý), yến oanh (chim én, chim oanh), hồng đào (hoa đào hồng), cúc kính phương (cúc tỏa tràn), đào lý thành (đào lý trổ), chi lan mãn (hoa lan đầy cành), ví dụ: 

+ Xuân thâm liễu thúy đấu hoa minh ( : Xuân thắm liễu xanh, hoa khoe sắc, Tr.M); 

+ Uyển chuyển đề oanh nghinh hạ ngữ ( Tiếng oanh hót líu lo mời mọc đón chào, thơ trên Minh Lâu, LMM); v.v... 

- Cuối xuân, đầu hạ bằng các tình thái sự vật như lục liễu (liễu xanh), ví dụ: 

+ Thanh hương phức phức hồng hà biện/ Tú sắc y y lục liễu điều ( / : Thoang thoảng hương thơm cánh sen hồng/ Liễu xanh ẻo lả sắc càng xinh, ĐLA); v.v... 

Những dẫn chứng trên còn biểu hiện ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế có đặc điểm phân tích tính khá cao, một ý nghĩa được thể hiện qua nhiều khái niệm, hình ảnh. Hình tượng thời gian nghệ thuật do vậy mà được tạo dựng cực kỳ sinh động, đó là bức tranh đa sắc của sự vận động thời gian thể hiện qua sự vận động của thiên nhiên. 

3.3.2. Thời gian lịch sử thể hiện lý tưởng thẩm mỹ 

Tiếp theo mô hình thời gian vũ trụ là thời gian lịch sử gắn với hoài niệm, vọng tưởng. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế đậm đặc chất hoài niệm lịch sử với sự ký thác ước mơ, hoài bão về một xã hội lý tưởng, gắn với những con người lý tưởng. Điều này cũng góp phần cắt nghĩa sự xuất hiện của nhiều điển cố trong thơ. Những kiểu so sánh qua sử dụng điển cố đã làm nên một chuỗi thời gian có tính quy chiếu với chủ đích vừa ngưỡng vọng, vừa tự tôn. Điều này đã tạo nên một tiềm lực tinh thần của chủ thể thẩm mỹ. Tính chất ấy đã chi phối cảm xúc để hình thành nên một "Đặc điểm nổi bật của văn học thời gian lịch sử trong thi ca văn học trung đại là thời gian không gian hóa, tính bất biến của lịch sử hóa thân vào dấu tích" [83, tr. 204]. 

Xuất phát từ quan niệm như vậy, thơ trên kiến trúc cung đình Huế sử dụng mô hình "thời gian không gian hóa" khá phổ biến. Có thể thấy những mô hình nhà nước như thời Nghiêu Thuấn đã trở thành khuôn mẫu theo quan điểm Nho gia, ở đây điển tích vua Nghiêu () được dùng tới với 38 lần, điển tích vua Thuấn () với 27 lần. Điều này đã “kéo lại” cả một không - thời gian đầy tính hoài niệm: 

- Thuấn bệ thùy y trị/ Nghiêu cù kích nhưỡng ca ( / : Rũ áo trị nước như vua Thuấn/ Khắp đường hát bài Kích nhưỡng tựa đế Nghiêu, ĐTH); 

- Cửu cù ca Thuấn đán/ Tứ hải vọng Nghiêu vân ( / ): Chín nẻo ca ngợi ngày của vua Thuấn/ Bốn biển ngắm cảnh mây của vua Nghiêu, ĐTH); 

- Nghiêu Thuấn xuân phong cổn miện thu ( : Gió xuân Nghiêu Thuấn đời đời thanh bình, Th.M); 

- Quang hoa tuyên Thuấn đán ( : Tinh hoa tươi sáng nêu cao ngày vua Thuấn, Th.M); 

- Huân phong hòa Thuấn sắt/ Lệ nhật chuyển Nghiêu cơ ( / : Đàn Thuấn điều gió ấm/ Ngày Nghiêu chuyển nắng trời, ĐTH); 

- Âu ca bách tính lạc Nghiêu thiên ( : Trăm họ ca hát vui vẻ dưới trời vua Nghiêu, HM), v.v... và v.v...

Đế Nghiêu, đế Thuấn được Nho giáo xem là các vị hoàng đế kiểu mẫu, trở thành những tấm gương đạo đức trong văn hóa Trung Hoa. Theo thuyết sử thì vua Nghiêu họ Cơ từng đóng đô ở Sơn Tây (Trung Quốc). Những năm cuối đời vua Nghiêu, nạn hồng thủy gây nhiều tai họa cho dân chúng. Nhà vua hết sức lo lắng, triệu các quan đến hiến kế, các quan đề cử một người để chuyên lo vấn đề trị thủy, nhưng gần chục năm trời vẫn không mang lại kết quả gì. Không lâu sau thì đề cử một người khác tên là Thuấn (họ Diêu là người ở Sơn Tây) chuyên trách về vấn đề này. Khi được giao công việc trị thủy, ông đã dốc hết tâm trí để thực hiện và đạt được nhiều kết quả khả quan, được vua Nghiêu truyền ngôi. Nhưng ba năm sau ông lại nhường con cho con của vua Nghiêu, về ẩn dật tại phía nam sông Nam Hà. Nhưng dân chúng và các nước chư hầu đều hướng về vua Thuấn, nên sau đó ông phải quay lại ngai vị. Tuy toàn bộ câu chuyện Nghiêu - Thuấn chỉ mang tính chất thuyết sử, không phải là chính sử nhưng nó đã trở thành một hình ảnh có ý nghĩa biểu trưng cao trong văn chương trung đại Việt Nam. Thơ trên kiến trúc cung đình thường dùng điển này để “tái tạo” thời gian lịch sử với ngụ ý nước Nam sẽ có một nền chính trị tốt đẹp như thời Nghiêu - Thuấn, đó cũng là những lời tuyên bố về đường lối chính sách của triều Nguyễn. Sự sống lại cả những không - thời gian đã góp phần cổ xúy cho hiện tại và lý tưởng cho vị lai. 

Bên cạnh đó, thời gian hoài niệm quá vãng, dù quá vãng đã quá mờ xa, nhưng con người luôn ngưỡng vọng, lấy nó như một chuẩn mực để thẩm định hiện tại, lấy cổ xưa để làm thước đo hiện tại: Tam đại dĩ hoàn công mạc quá/ Du tai vạn tự hưởng minh nhân ( / : Công đức lớn từ đời Tam Đại về sau/ Đời đời cúng tế lòng thành lâu dài, thơ trên Thế Miếu). Tam đại là ba đời vua Trung Quốc (Hạ, Thương, Chu), có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp ứng với ba đời vua Trung Quốc là vua Hạ, vua Thang và vua Văn Võ vương). Ở đây, không gian thời Tam đại là hàm ý ẩn dụ so sánh với những truyền thống văn hóa tốt đẹp. Hay là: Thuấn bệ thùy y trị/ Nghiêu cù kích nhưỡng ca ( / : Rũ áo trị nước như vua Thuấn/ Khắp đường hát bài Kích nhưỡng tựa đế Nghiêu, ĐTH). Đó quả là một không - thời gian ăm ắp chuyện xưa, tích cũ với “thùy y trị”, với “kích nhưỡng ca”. Chương Phệ Hạp của Kinh Dịch có câu: "Đế Nghiêu Thuấn thùy y thường nhi thiên hạ trị ( 垂衣 : vua Nghiêu, vua Thuấn buông rủ áo xiêm để cai trị thiên hạ) [41, tr.97]. Ở đây chỉ sự ung dung của thời thái bình, vua không phải quá bận rộn trong chính sự. Câu thơ trên còn một điển cố khác, theo huyền sử Trung Quốc thì thời vua Nghiêu, thái bình thịnh trị, muôn dân an lạc, có ông lão chơi trò ném que và ca bài Kích Nhưỡng. Về sau “Kích Nhưỡng ca” được coi là bài dân ca cổ nhất của Trung Quốc chỉ cảnh thái bình, thịnh trị. Trong thơ trung đại Việt Nam, nhiều tác giả cũng từng sử dụng điển tích này, như thơ Nôm của Nguyễn Khuyến có câu: “Nhởn nhơ kích nhưỡng khang cù/ Thiều quang chín chục xuân thu tám nghìn” (Mừng ông lão hàng thịt). Thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã tạo dựng cả một không gian, thời gian chỉ thái bình bằng dạng thức hoài vọng như thế ở nhiều kiến trúc: 

- Kích nhưỡng tụng phong niên ( : Hát bài Kích Nhưỡng được mùa màng, ĐTH); 

- Kích nhưỡng hữu nông ca ( : Hát bài Kích Nhưỡng nhà nông mãi ngân vang), Khang cù kích nhưỡng dao ( : Hát bài Kích Nhưỡng giữa đường vui, LMM);
- Hàm lạc thăng bình Kích Nhưỡng diêu ( : Niềm vui thanh bình cùng vang bài Kích Nhưỡng, ĐLA); v.v... 

Văn học chữ Nôm cũng nhiều lần nhắc đến cảnh thái bình qua thời gian lịch sử bằng điển cố này: “Khá phen đời trị Đường Ngu/ Kích nhưỡng khang cù đạm chiếu dân an” (Việt sử diễn âm); hay là: Đâu chẳng kích nhưỡng ca cù/ Thái bình lại thấy Thành Chu khúc hình (Việt sử quốc âm), v.v... Ấn tích thời gian trong thơ ở đây thật sự điển hình với các hình ảnh của lịch sử, của quá khứ được chủ thể cảm nhận như là sự tồn tại của hiện tại bằng một không gian hiện tại. Những "cái xưa cũ" luôn được gợi nhắc như một thông thiệp thời gian để củng cố cho "cái nay hiện tại". 

- Chí kim đoan ủy do tư Vũ,  

Chung cổ canh tường nhược kiến Nghiêu.  

(Đến nay nghiêm chỉnh nhớ đến vua Vũ/ Thấy vua Nghiêu trong canh trên tường, TM); 

- Chưng thường quang Hạ tự,  

Cơ mệnh tỉ Chu long.  

(Tế tự ngang đời Hạ/ Thịnh trị sánh triều Chu, Tr.M); v.v... 

Đúng là hướng vọng quá khứ ở đây thực sự đã là những diễn ngôn phản ánh nhận thức, cao hơn là phản ánh tư tưởng đương thời. Trong biên độ của cổ - kim (xưa - nay), cựu - tân (mới - cũ), tiền - hậu (trước - sau), thời gian hoài cổ như có sự dung hợp giữ quá khứ, hiện tại và tương lai trong cách cảm của con người. Đồng hiện thời gian ở đây vừa có tính ngưỡng vọng hồi cố, vừa có tính đối sánh để thể hiện lý tưởng, để ký thác ước mơ: 

- Đinh Lý Trần Lê canh điệt hậu,  

Bắc Nam Chiêm Lạp hỗn đồng sơ.  

Tự kim hữu quốc truyền thiên thế,  

Miếu vũ dương dương điện đế cư.  

(Lại nối tiếp sau đời Đinh, Lý, Trần, Lê/ Bắc Nam Chiêm Lạp bước đầu thống nhất/ Từ nay đặt nước truyền đến muôn đời/ Miếu mạo lớn lao làm vững đế đô, Th.M); 

- Võ định văn tuy chiêu đế tích,  

Hồng Mang dĩ hậu vị tiền văn.  

(Võ định, văn dương sáng công Hoàng đế/ Từ đời Hồng Bàng trở về sau chưa từng nghe, Th.M); 

- Thái bình tân chế độ,  

Hiên hoác cựu quy mô.  

(Thái bình chế độ mới/ Mở rộng quy mô xưa, ĐTH); v.v... 

Thời gian lịch sử ở đây vừa có tính tuyến tính, vừa có tính tuần hoàn. Cái trước và cái sau; cái mới và cái cũ; cái hôm qua và cái hôm nay, cả cái mai hậu vần vũ theo các chiều kích không gian rộng mở của tri giác con người. Đó cũng là chuyển động của con người trong trục không - thời gian. Chuyển động trong không gian, thời gian đến trước rồi trở thành quá khứ; chuyển động diễn tiến thời gian đến tiếp là thời gian đến sau rồi trở thành tương lai, con người chuyển động thời gian cũng vận hành từ quá khứ đến tương lai. Không gian đã ánh xạ thành thời gian, “tân chế độ” - tính chất không gian - đã trở thành phiếm chỉ thời điểm thời gian (là thời điểm hiện tại); tương tự “quy mô xưa”- tính chất không gian - đã trở thành phiếm chỉ thời điểm thời gian (là thời điểm quá khứ). Điều này là một đặc điểm của ngôn ngữ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế là từ ngữ chỉ không gian trở thành “nguyên liệu” để tạo nên từ ngữ trong ý nghĩa chỉ thời gian. Cái xưa cũ cùng cái nay mới cứ như vậy đã đồng hiện trong sự đối sánh, nhưng quy chuẩn lại xác định trên sự chuẩn mực của cái xưa cũ đó: Quang phục cựu vật/ Xa thư cộng đạo ( / : Làm tươi sáng văn vật cũ/ Thống nhất trên một con đường, Th.M); Tích lũy Chu nhân cựu/ Phổ tương đế mệnh tân ( / : Tích lũy điều nhân thời Chu/ (mà) Làm rộng mệnh đế mới, Th.M); Thời ung hân thịnh hội/ Tái vãn cổ thuần phong ( / : Lúc an vui hưng thịnh/ Giữ lấy nếp thuần phong cũ, ĐTH). 

Thời gian lịch sử trong thơ trên kiến trúc còn là những khoảng lắng nhớ đến người xưa, xoay quanh sự tụng ca các tiên đế đã mở mang bờ cõi, chấn hưng cơ đồ với một niềm ngưỡng vọng, tôn kính tột bậc: 

- Minh minh hoàng khảo, Vua cha sáng suốt, 

Đế đức võng khiên. Đức độ ngời ngời. (Th.M); 

- Tưởng tượng âm dung cựu, Tưởng tượng người xưa cũ, 

Hách linh trắc giáng tiền. Thăng giáng đấng hiển linh. (Tr.M); 

- Công đức thiên đồng đại, Sánh trời công đức lớn, Thanh linh cổ hữu quang. Ngàn xưa ngời tiếng thiêng. (Th.M); 

Tựu trung, không gian lịch sử ở đây trở thành hệ quy chiếu, mang dấu ấn về quan niệm gắn với thế giới quan lịch sử cùng những quan niệm thẩm mỹ của tư tưởng Nho giáo. Xem những khuôn mẫu lịch sử, xem mẫu hình quá khứ là chuẩn mực để bày tỏ lý tưởng, hoài bão về xây dựng xã hội và củng cố triều đại. Không gian ấy trở thành những giá trị tinh thần, là yếu tố không thể bỏ qua của con người trung đại. 

3.3.3. Thời gian đời thường cô đúc từ hiện thực cuộc sống 

Nếu thời gian vũ trụ, thời gian lịch sử hoài cổ mang đậm màu sắc quá khứ, mơ hồ mờ xa gắn với lý tưởng, quan niệm, gắn với kỷ niệm thì thời gian đời thường trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế lại mang đậm màu sắc hiện tại, gắn với suy tư, hành động, gắn với các sự kiện. Ở đây, hòa sắc cùng hiện thực, thời gian không còn sự giãn nở đến vô tận của những khái niệm trường cửu của vạn niên, thiên niên, niên niên, bách thế, vạn thế, vạn tải, vạn đại, tứ thời v.v... mà đã nhường chỗ cho những khoảng bó hẹp của những giờ giờ ( thời thời), ngày ngày ( nhật nhật, đán đán), sớm sớm ( triêu triêu), của những hiểu, dạ, tịch, tà dương, tịch dương, v.v... đang triển nở cùng các trạng thái, cảm xúc của con người. Dù lý tưởng vẫn là cái đích của triều đại, nhưng trước hiện thực cuộc sống đang diễn ra, ở đây thời gian không còn rộng mở của ngàn năm, muôn đời để ký thác ước mơ nữa mà đã nhường chỗ cho khoảnh khắc thường nhật của ngày ngày, sớm sớm để trở trăn cùng hiện thực. Thơ trên kiến trúc tràn ngập thời gian đời thường như vậy, và hầu như chúng gắn với từng trạng thái, suy tư có thực đang diễn ra đúng với bản chất của hiện thực. Thời gian lo lắng việc nông trở thành ám ảnh hàng ngày của hoàng đế qua những câu thơ được thể hiện trên phần cổ diêm mái điện Thái Hòa (đã được đối chiếu và xác định là của vua Minh Mạng): 

- Nhật nhật ưu nông sự/ Tư tư lượng vũ tình ( / : Ngày ngày lo việc nông/ Chăm chăm đoán mưa hay là tạnh); 

- Nhật nhật cam lộ giáng/ Triêu triêu nông vụ tuân ( / : Ngày ngày sương ngọt rơi xuống/ Sớm sớm hỏi han việc nông); 

- Nhật nhật hỷ hòa thanh/ Thời thời ưu lạo giáng ( / : Ngày ngày vui lúa lên xanh/ Giờ giờ lo nước lũ giáng xuống); Xem xét những câu thơ trong sự đối sánh với sự kiện ắt hẳn sẽ lý giải rõ về nội dung này. Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), “Vua phán rằng: trẫm xem nông thư [sách nói về việc nông] có nói rằng: Nếu một ngày mưa, mấy ngày tạnh tất nhiên khí đất ôn ấm, mùa màng tươi tốt, đúng theo sự ước mong của nhà nông được một năm như thế và cũng là vui lòng nông dân ta mong muốn ấy” [79, tr.684]; Năm Minh Mạng thứ 12 (1831): “vua xuống dụ Bộ Lễ rằng: tại Kinh Đô, ra Tết luôn mấy ngày mong được ân ban mưa móc, nhưng từ mồng mười trở lại vẫn luôn luôn tạnh ráo, chưa có mưa xuân thấm nhuần, hôm qua trẫm thành tâm mật đảo [bí mật cầu mưa] và thường làm thơ (để cầu khẩn)’.” [79, tr.697]. Đó là một hiện thực lịch sử hiện rõ trong thơ, con người đấng bậc ưu tư cùng công việc nhà nông - một địa hạt quan trọng quyết định sự ổn định xã hội đương thời. Hiện thực và thơ ở đây là một, chất chứa niềm ưu tư, trăn trở về thời tiết, về nông vụ và cao hơn thể hiện trách nhiệm trước đời sống xã hội của con người đấng bậc. Nỗi canh cánh của các nhà quản lý nhà nước từ xưa đến nay đó là đối diện với vấn đề ruộng đất, điền thổ, nhất là vào thời quân chủ, thời đại mà nền kinh tế của nước ta là nền nông nghiệp với phương thức canh tác chính là trồng lúa nước. Trong các vị vua đầu triều, vua Minh Mạng là tác giả có nhiều thơ về đề tài này nhất, hầu như trong Ngự chế thi của nhà vua, đều có xuất hiện chủ đề trọng nông, khi thì rõ ràng chi tiết, lúc ẩn kín với hàm ý sâu xa. Đau đáu nỗi ưu tư về nông vụ, thời gian được con người nghĩ đến trong một sự ám ảnh khôn cùng về thời tiết, ám ảnh đến nỗi câu thơ lặp lại đến hai lần trong hai bài khác nhau: 

- Tiểu xuân kinh tiết hậu/ Á tuế cập nông thì ( / : Tiểu xuân đã qua tiết/ Đông chí kịp vụ nông, LTT); 

- Hòa xuân kinh tiết hậu/ Á tuế cập nông thời ( : Mùa xuân trải khí hậu đẹp/ Ngày đông chí gặp tiết nông, LĐK). Trong các trước tác, các vị vua như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã dành tình cảm rất đặc biệt đối với chủ đề trọng nông. Điều ấy còn được cụ thể trong các bài thơ trên kiến trúc với âm hưởng ngợi ca về sự thịnh trị của triều đại, về thiên nhiên và niềm ước mơ về cảnh “quốc thái dân an, phong điều vũ thuận”. 

Khả tri nam mẫu doanh hòa cốc, 畆盈  

Kham hỷ tây trù thục đạo hương. 西  

Thắng thưởng bổn phi điều uyển hựu,  

Ngu tình yếu tại vịnh thương sương.  

(Biết được đồng nam lúa trổ sây/ Tin mừng thơm nếp ruộng miền tây/ Lòng vui vun xới trong vườn tược/ Hát một khúc ca vịnh lúa đầy, ĐLA). 

Đáng nói nhất về thời gian đời thường trong thơ ở đây là nổi lên hình ảnh thường nhật rõ nét của con người đấng bậc gắn với trách nhiệm điều hành đất nước như lúc họp triều thần, lúc phê chuẩn tấu chương, khi tổ chức luyện binh, khi ra quyết sách phòng hộ đê điều, ân xá tội hình, v.v... Đó là thời gian của mọi hoạt động điều hành chính sự hàng giờ, hàng ngày. Con người đấng bậc thao thức cùng thơ trong nỗi chuyên cần quốc sự, ngày ngày lặp lại những công việc quen thuộc: 

- Tự răn mình phải cố gắng chăm lo việc nước: Lệ trị lâm hiên tảo/ Suy tâm ngự hạ thành ( / ; Gắng sức trị nước đến hiên lúc sáng sớm/ Hết lòng thành với kẻ dưới, ĐTH); 

- Làm việc chốn triều chính một cách cần cù vào hôm sớm hàng ngày: Nhật nhật ân cần thận thủ thành/ Triêu bô phong sự án tiền doanh (日日慇勤慎守成/ 朝晡封事案 前盈: Ngày ngày cần cù giữ gìn thành quả/ Sớm chiều chính sự chất chồng bàn án, ĐLA); 

- Luôn ý thức cùng các hiền thần bàn luận việc nước với một nhận thức trách nhiệm rõ ràng về trách nhiệm của người đứng đầu: Tư tuân nhật nhật tảo đăng điện/ Quân đạo thân hiền dữ nạp ngôn ( 日早 殿/ : Lên điện sớm ngày ngày để hỏi han bàn bạc/ Đạo vua cần tiếp nhận lời tâu của bậc hiền thần, ĐLA); 

- Cùng với quần thần tổ chức huấn luyện binh bị, tăng cường bảo vệ đất nước trong mọi cảnh huống: Nhật nhật gia tâm giáo dục thi/ Binh vi vệ quốc tráng hùng bi ( / : Ngày ngày tăng cường tâm sức để thực thi giáo hóa/ Binh bị bảo vệ đất nước phải hùng cường, mạnh mẽ, ĐLA); 

- Họp bàn vạch kế sách để củng cố hệ thống đê điều phục vụ canh nông, điền thổ: Nhật nhật hà phòng Bắc cố ưu/ Dân sinh sở hệ thục gia trù ( / : Ngày ngày lo lắng đê điều ở miền Bắc/ Việc dân sinh buộc phải tính toán thêm nhiều, ĐLA); 

- Nghĩ đến người dân với những gian khó trong công việc mà mong được quân thần nhận thức để làm tốt hơn chức phận: Nhật nhật thùy tình lãng thượng nhân/ Bắc Nam tào vận đệ niên tần (日日垂情浪上人/ 北南漕運遞年頻: Ngày ngày vẫn nghĩ đến những người trên sóng nước/ Vận chuyển lương thực từ Bắc Nam hằng năm nhiều lần, ĐLA); - Và ý thức được giữa hiện lý tưởng và thực tiễn vẫn là một khoảng cách không dễ bù đắp, khoảng cách giữa thi ca và hiện thực: Bất đản thi ca đương nhật sự/ Nhân quân pháp cổ lẫm căng trì (不但詩歌當日事/ 人君法古凛兢持: Không chỉ có thi ca về công việc hàng ngày/ Người làm vua nghiêm túc cần cù giữ vững phép xưa, ĐLA); v.v... Những trăn trở trước những khoảnh khắc của công việc đã trở thành tác tố để tạo nên những khoảng thời gian tâm trạng trong thi ca. Dưới đây vẫn là nỗi trăn trở, lo toan của con người đấng bậc ý thức về sự "cong vênh" giữa lý tưởng và hiện thực như thế. 

Vị mông cam nhị thực Dân chưa được bánh ngọt, 

Dĩ giác tụy tu lân Cảm giác tuổi già gần. 

An thổ trùng thiên niệm Chưa làm chi yên ổn, 

Khủng cừ phất tác nhân E chẳng kịp điều nhân (ĐTH). Đến đây, yếu tố thời gian đã "cụ thể hóa" bằng những điều trông thấy với tóc bạc, với nếp nhăn của con người. Ngay tại thời điểm đó vẫn hiện rõ lên một nỗi âu lo của con người đấng bậc sợ không còn đủ thời gian để thực hiện điều nhân nghĩa. Bởi vậy mà nỗi lòng con người vẫn luôn canh cánh: Niệm niệm dân thiên thiết tài tư/ Cận nhân vị hạ lãn ngâm thi ( / - Luôn nghĩ cái ăn của dân là việc cấp thiết trong lòng/ Đó là nguyên nhân chưa có lúc rảnh lại biếng ngâm thơ). Sự nhân văn ấy thật đáng trân quý. 

Ngoài ra, con người đấng bậc cũng có những khoảng khắc đắm chìm lãng đãng trong không - thời gian, hiếm hoi ít gặp, chỉ như thoáng qua để trở về với ngôn chí, ký thác tâm tư về nhân dân, về đất nước, về những triết lý của cuộc đời: Trù tư cảm hoặc hoàng/ Sầu khán thu dạ thâm ( / : Suy tính riêng tư đâu dám nhàn rỗi/ Buồn lặng ngắm đêm thu trôi dần khuya). Nỗi khuya khoắt lan dần theo ánh trăng thời gian. Có thể cho rằng, ánh trăng trong thời gian vũ trụ là ánh tượng phản chiếu của trường cửu, của trường tồn, là ước mơ hoài vọng, nhưng đến ánh trăng trong thời gian đời thường là ánh trăng của tâm tư, tâm trạng, gắn với tình cảm với những giờ khắc cụ thể. 

Nhìn chung, trong thơ trên kiến trúc, cả hai yếu tố không gian và thời gian gắn với lịch sử là một cách diễn đạt chung chung của mô hình lịch sử lý tưởng, nó thể hiện cách tri nhận thẩm mỹ truyền thống. Nhận thức lịch sử trong mô hình không - thời gian này mang tính xã hội, gắn chặt với những ảnh hưởng của xã hội thời trung đại. Bao trùm lên tất cả là quan niệm xem quá khứ căn bản là lý tưởng, là chuẩn mực cần nêu gương để củng cố, cỗ vũ cho hiện tại, phản ánh thế giới quan của triều đại. 

Tiểu kết chương 3 

Thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế thể hiện qua hình tượng con người, không gian và thời gian chính là thế giới của những quan niệm, một thể giới của nhận thức và tri nhận; xuất phát từ nhu cầu nhận thức và phản ánh xã hội theo những lý tưởng thời đại trong sự chi phối của một hệ thống quan niệm nghệ thuật. Có thể xem đây là những điển hình quan trọng khi đánh giá về những mô hình con người, không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ Việt Nam thời trung đại.

Từ việc phân tích, tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế qua hình tượng con người, thời gian và không gian cùng các mối quan hệ khăng khít của nó, đã cho thấy đây là một hệ thống thơ mang sắc thái riêng, tiêu biểu cho trường thẩm mỹ, có những hình thức thể hiện mang đậm bản sắc. Thơ ở đây đã chuyển tải những ý thức thẩm mỹ, những quan niệm lý tưởng gắn kết cùng bối cảnh lịch sử xã hội nhất định qua những hệ tư tưởng mỹ học, triết học của riêng của chúng. Tiền đề cơ sở ấy là yếu tố không thể bỏ qua khi nghiên cứu thơ trên kiến trúc cung đình Huế nói riêng cũng như thi ca thời trung đại nói chung.
Chương 4 

THƠ TRÊN KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN 

Thơ ca nói riêng và nghệ thuật nói chung khi phản ánh hiện thực bao giờ cũng thông qua nội dung tác phẩm, nội dung tác phẩm lại được cấu thành bởi các hình thức nghệ thuật như thể tài, quan niệm về con người, cách thức tổ chức các yếu tố không gian, thời gian nghệ thuật, v.v... với các mối quan hệ khác nhau. Chính thông qua phương thức biểu hiện mà đối tượng tiếp nhận có thể lĩnh hội được cách thức tổ chức ngôn ngữ, cấu tạo nhịp điệu, tổ chức hiệp vần, sử dụng loại thể, các biện pháp nghệ thuật, v.v... dung chứa trong tác phẩm. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế có một thế giới nghệ thuật khá đặc sắc qua phương thức biểu hiện trong phương thức cấu trúc của nó, mà trước tiên là sự biểu hiện tập trung mang tính thống nhất trong tổ chức ngôn ngữ. 

Quan niệm về nghệ thuật thi ca chữ Hán đã tồn tại hàng nghìn năm với nhiều ý kiến khá phong phú và phức tạp. Trong sách Luận Ngữ (thiên Vệ linh công), Khổng Tử (551- 479 TCN) từng đưa ra quan niệm: “Từ đạt nhi dĩ hỉ” (Ngôn từ đạt là đủ) [83, tr.136]. Đó là những quan niệm thực dụng, không chuộng sự cầu kỳ, lòe loẹt. Lý Tử Tấn (1378-1457) thì cho rằng: “Muốn thơ cổ kính, thanh đạm sẽ gần dung tục, muốn thơ giàu đẹp sẽ gần hoa hòe. Hào phóng sẽ đi đến quá trớn, mộc mạc sẽ đi đến chỗ quê mùa. Cho nên lời ý phải rõ ràng, mạch lạc, thông suốt, thật thà mà không dung tục, kỳ lạ mà không thoát tục, khí cao khoát mà ôn hòa, khó lắm mới đạt được vậy” [58, tr.23-24]. Nguyễn Cư Trinh (1716-1767) dường như cũng tán đồng quan niệm ấy: “Người làm thơ không ngoài lấy trung hậu làm gốc (...) cái khéo léo lạ lùng nên đặt ngoài sáu nghĩa” [58, tr.47], v.v... Từ một vài quan niệm như thế có thể thấy rằng, suy cho đến cùng, phương thức biểu hiện theo quan niệm chung trong thơ chữ Hán là phải lấy sự chân thật làm gốc, nhưng sự chân thật ấy phải được diễn đạt một cách uyển chuyển, tinh tế qua ngôn từ. 

4.1. Đặc điểm nổi bật trong sử dụng ngôn từ 

Ngoài những đặc trưng cơ bản của phong cách văn chương với nhiều bình diện nghĩa, thơ trên kiến trúc cung đình Huế còn thể hiện bản chất rất đặc biệt của một loại ngôn ngữ trong nghi thức tổ chức nhà nước, có tính điển chương, điển chế trong phong cách nghệ thuật qua việc sử dụng ngôn ngữ của chủ thể sáng tạo. 

Nghiên cứu ngôn ngữ thơ đều xuất phát từ cơ sở các chủ đề, các chủ đề này được diễn đạt thông qua các hình thức ngôn ngữ, mà trước hết là việc sử dụng chữ nghĩa. Với tính chất đó, ở phần này, chúng tôi lần lượt thống kê tần số sử dụng chữ, tạo cơ sở cứ liệu để chỉ ra đặc điểm chủ đề tư tưởng trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Ở đây, chúng tôi xuất phát từ đơn vị cơ sở của chữ Hán để thống kê, đó là chữ. Về vấn đề đơn vị cơ sở của tiếng Hán, chúng tôi xuất phát từ quan điểm cơ bản đã thống nhất của nhiều nhà ngữ học Trung Quốc như Triệu Nguyên Nhiệm (1892-1982), Vương Lực (1900-1986). Triệu Nguyên Nhiệm cho rằng, trong nhận thức của ngôn ngữ của người Trung Quốc thì đơn vị cơ sở là tự (chữ), đó “là một âm tiết, thường là có nghĩa” [31, tr.37]. Tương tự, Vương Lực đã nhấn mạnh: “Hán ngữ về cơ bản lấy tự làm đơn vị, không phải lấy từ làm đơn vị” [31, tr.38]. Xuất phát từ quan niệm này, chúng tôi sẽ lần lượt tiến hành thống kê từ đơn vị cơ sở là chữ, từ các cấp độ như thế để lần lượt làm rõ các chủ đề nội dung tư tưởng của ngôn ngữ thơ trên kiến trúc. 

4.1.1. Sử dụng ngôn từ trong quan hệ với các chủ đề 

Đề cập đến thế giới nghệ thuật thơ trên kiến trúc, điểm nổi bật đầu tiên là cách dùng chữ, sử dụng từ ngữ. Thơ trên kiến trúc số lượng bài được xác định là 1.087 bài; số lượng câu thơ là 383 cặp câu với tổng số lượt chữ sử dụng là 36.023 lượt, tương ứng với 36.023 vị trí (hoặc gọi là lượt chữ hiện tồn). 

Theo thống kê tần số xuất hiện của từng chữ (xem phụ lục 2 và phụ lục 3), chúng tôi xác định tổng số chữ thực tế là 3.268 chữ, là số lượng chữ được sử dụng (vì có nhiều trường hợp dùng nhiều lần, trên 2 lần, cá biệt đến gần 400 lần). Lấy tổng số 36.023 vị trí chia cho 3.268 chữ ta sẽ được con số 11,02 lần: đó là tần số xuất hiện trung bình của mỗi chữ. Do vậy, hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế có khoảng 75% số chữ xuất hiện với tần số 11 lần trở xuống, thấp hơn mức trung bình; 25% còn lại xuất hiện với tần số 12 lần trở lên, cao hơn mức trung bình, trong đó có nhiều chữ xuất hiện với tần số rất cao (xin xem thêm phụ lục 3). 

Tác giả Nguyễn Tài Cẩn (1926-2011) khi phân tích thống kê ngôn ngữ học có nhận định: “Theo phương pháp thống kê ngôn ngữ học, nếu tỷ lệ giữa số lượng các từ khác nhau và độ dài văn bản mà càng lớn thì điều đó chứng tỏ rằng việc sử dụng kho từ vốn có của tác giả là phong phú” [9, tr.197]. Do đó, ở đây có thể cho rằng, 75% số chữ xuất hiện dưới mức trung bình đã phản ảnh vốn từ ngữ được sử dụng trong thơ trên kiến trúc cung đình là phong phú (từ dùng đa dạng, không trùng lắp); 25% số chữ xuất hiện trên mức trung bình phản ánh một đặc điểm khá đặc biệt, thể hiện định hướng về chủ đề khá rõ nét của chủ thể sáng tạo. 

Nếu xem xét ở góc độ dùng chữ có tần số ít lặp lại thì 75% số lượng chữ được sử dụng dưới mức trung bình thể hiện mức độ phân tích tính cao của lớp từ vựng. Số lượng này thể hiện vốn từ vựng được sử dụng là khá lớn, có hiện tượng đồng nghĩa từ vựng, nhiều chữ nhưng diễn đạt cho một nghĩa trong một nội dung, chủ đề có tính tập trung. Điều này thể hiện sự uyên bác của chủ thể sáng tạo. 

Nếu xem xét ở góc độ dùng chữ có tần số lặp lại cao với 25% thì có thể khái quát nên những đặc điểm về nội dung chủ đề của thơ trên kiến trúc như sau: 

- Thơ trên kiến trúc rất quan tâm đến những vấn đề chính trị, xã hội, nói nhiều về vua, về tổ chức bộ máy nhà nước thuở “bình minh” thiết lập, về giang sơn gấm vóc: quốc (): đất nước (46 lần); triều (): triều đình, triều đại, buổi chiều (42); đế (): hoàng đế (89); thánh (): vua, bậc thánh (141); hoàng (): vua (116), thuộc về vua; đô ( ): kinh đô (21); đồ (): cơ đồ (64); trị (): cai trị (69); cư ( ): ở, sinh sống (28); sơn (): núi (198); hà (): sông (101); v.v... 

- Thơ trên kiến trúc thể hiện hoài bão, ước mơ về một xã hội lý tưởng, một đất nước hưng thịnh, ước mơ vươn tới một xã hội kiểu mẫu theo lý tưởng Nho gia như thời: Nghiêu (): vua Nghiêu (38 lần); Thuấn (): vua Thuấn (28); như các thời đại Hán (): nhà Hán (74) ; Đường (): nhà Đường (19); Chu (): nhà Chu, khắp cùng (76); ước mơ về một đất nước thái bình muôn thuở: bình (): hòa bình (113); thái (/): thái hòa, to lớn, tốt đẹp (75); hòa (): hòa hiếu, hòa thuận (97); v.v... 

- Thơ trên kiến trúc nói nhiều đến tạo hóa đất trời, vũ trụ, thời gian, thời tiết: thiên (): trời (391); càn (): trời, tên một quẻ trong Dịch học (78); khôn (): đất, tên một quẻ trong Dịch học (40); nhật (): ngày, mặt trời (202); nguyệt (): tháng, mặt trăng (127); thời (): mùa, thời gian (148); hóa (): tạo hóa, giáo hóa (60); vũ (): mưa (145); vân (): mây (201); sương (): sương, móc (47); lộ (): sương (64), phong (): gió (249), tinh (): sao trời (53); tình (): tạnh, mưa tạnh (43) v.v... 

Ngoài ra, đặc điểm sử dụng chữ cũng đã chỉ ra những nét liên quan đến tính chất của chủ đề được nói đến, đến những đặc điểm của chủ đề, thậm chí cả những nét rất khu biệt của người sử dụng ngôn ngữ, của chủ thể sáng tạo: 

- Thơ trên kiến trúc chủ yếu tập trung mảng đề tài liên quan đến không gian của đời sống cung đình triều Nguyễn, tần số các chữ liên quan đến không gian của cung đình như, những vật thể chiếm vị trí trong không gian: đình (): sân triều (89 lần); điện (殿): cung điện (42); miếu (): miếu thờ (178); đường (): nhà lớn (39); lâu (): lầu (37); các (): gác (21); vũ (): mái hiên lớn (76); bệ (): nơi đặt ngai vua (11); ngự (): chỉ về vua, sở thuộc của vua (34); bên cạnh những vật thể khác: kỳ (): lá cờ (11); y (): áo (49); quan (): mão (31); thậm chí cả kim (): vàng, kim loại vàng (90); ngọc (): ngọc ngà (140); và với tính chất gắn liền những sinh hoạt vui tươi: hỷ (): vui (20), hoan hỉ; khánh (): vui vẻ, hân hoan 28); ca (): ca hát (81); nhạc, lạc (): âm nhạc, vui vẻ (86); v.v... Bên cạnh đó, những hình ảnh về đời sống bên ngoài chốn Hoàng cung cũng được nhắc đến: dân (): nhân dân (54); chúng (): dân chúng (17); dã (): chốn hoang dã, đồng nội (19); nông (): làm ruộng, nông nghiệp (19); điền (): đồng ruộng (16); v.v... 

- Thơ trên kiến trúc thường đề cập đến những vấn đề lớn, có xu hướng chỉ về tính thống nhất, sự hòa hợp: thái (như đã nêu); đại (): to, lớn (126 lần); hồng (, ): to lớn, lớn lao (57); trường, trưởng (): dài, sinh trưởng (122); cộng (): cùng chung (44); đồng (): đều, cùng (56); hội (): hội tụ (35); quần (): hội tụ (49); thường đặt các hiện tượng được nói đến vào tính chất chỉ sự sáng sủa, tốt đẹp, tươi mới trong sự phát triển, trong sự thành công: minh (): sáng (238); quang (): sáng (345); khai (): mở, mở ra, mở mang (156); “các loại” diệu (, 耀, ): đẹp đẽ, sáng sủa, kỳ diệu (63); tân (): mới mẻ (142); thành (): thành công (142); lệ (): tráng lệ, đẹp đẽ (23); v.v... 

- Thơ trên kiến trúc còn nói đến các giá trị xã hội, các phẩm chất mà xã hội đề cao, các giá trị văn hóa truyền thống: chính (): ngay thẳng (69); trung (): không thiên lệch, ở giữa (98); đức (): đạo đức (252); đạo (): con đường, đạo lý (61); đãng (): không thiên lệch (55); nhân (): nhân đạo, đức nhân (50); văn (): cái đẹp, văn hóa (145); lễ (): lễ nghĩa, lễ nghi (42); v.v... 

- Thơ trên kiến trúc tuy xuất hiện sự giải bày những tình cảm cụ thể, riêng tư, nhưng chủ thể sáng tạo ít nói về mình, chủ thể thẩm mỹ ở đây là “cái ta đại diện” của triều đại nên ít bày tỏ các tình cảm cá nhân: tư (): riêng tư (5 lần); ngô (): ta (5); ngã (): ta (21); úy (): sợ (6); niệm (): nhớ lại (11); ưu (): lo lắng, buồn rầu (12); cảm (): cảm động, cảm thương (12); ái (): yêu (15); hoài (): nhớ (33); v.v... Trong ngôn ngữ học, các chữ/ tiếng khi sử dụng có tần số xuất hiện cao thường thuộc vốn từ vựng cơ bản, nhưng ở đây, các chữ có tần số xuất hiện cao (số lượng lên đến 25%) lại không thuộc vốn từ vựng cơ bản mà đa số thuộc lớp từ vựng văn hóa. Điều này trước hết cũng nói lên được tính chất ngôn ngữ thơ trên kiến trúc, thể hiện một đặc trưng có tính định hướng rất rõ nét trong ngôn ngữ thơ với bản chất điển chương, điển chế gắn với tập quán thẩm mỹ của thời đại. 

Từ những đặc điểm sử dụng chữ mang đặc điểm như vậy cũng cho thấy bản chất "ngôn chí" trong nội dung thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Ngôn ngữ gắn với tính chất nghi thức, mang đặc điểm rất riêng của hệ thống thơ trên kiến trúc nếu xét từ góc độ phong cách ngôn ngữ nghệ thuật. Điều này dường như được khẳng định thêm bởi việc sử dụng nhiều câu thơ ngập tràn các con số ước lệ. 

4.1.2. Sử dụng nhiều chữ số nhưng ít chú trọng giá trị nghĩa về số 

Tập quán chung của người Việt trong nghệ thuật ngôn từ là thường thích dùng những cách diễn đạt bằng các con số biểu trưng, có xu hướng khái quát hóa, ước lệ hóa (3 hồn 7 vía, 9 nhớ 10 thương, 3 chìm 7 nổi, 5 cha 7 mẹ, 5 lần 7 lượt, 3 bò 9 trâu v.v...). Soi vào hệ thống thơ trên kiến trúc, điều này dường như càng được khẳng định. Trong các bài thơ trên kiến trúc có sự xuất hiện khá phổ biến và đầy đủ các chữ số từ một đến mười, rồi trăm, ngàn, vạn, ức. Điều đáng nói là có đến 1.197 lần thơ trên kiến trúc sử dụng các con số, cụ thể như Nhất (/ / ) với 192 lần; Nhị ( / /) 17 lần; Tam (/ ) 89 lần; Tứ (/ ) 131 lần; Ngũ () 55 lần; Lục (/) 16 lần; Thất () 8 lần; Bát () 36 lần; Cửu () 85 lần; Thập () 25 lần; Bách () 93 lần; Thiên () 159 lần; Vạn () 236 lần; Ức () 55 lần. 

Nhiều trường hợp những con số ấy tồn tại trong những bối cảnh ngôn ngữ là các câu thơ cụ thể, chưa hẳn đã phản ánh những giá trị nghĩa về số. Chúng tồn tại như một hiện tượng tất yếu của tập quán sử dụng ngôn ngữ, là kết quả ảnh hưởng trực tiếp từ các quan niệm về hệ thống các con số trong nhận thức về vũ trụ của thời đại bấy giờ. 

Việc sử dụng nhiều các con số cũng xuất phát từ tập quán tư duy qua nền tảng triết lý gắn liền với các con số. Trong triết lý âm dương, người xưa có hai hướng quan niệm. Thứ nhất là quan niệm xem âm dương là Lưỡng nghi đã làm sản sinh ra mô hình vũ trụ với số lượng thành tố chẵn: 2 sinh 4 (tứ tượng), 4 sinh 8 (bát quái). Thứ hai quan niệm tạo nên những mô hình vũ trụ với số lượng thành tố lẻ: 2 sinh 3 (tam tài), 3 sinh 5 (ngũ hành). Những chữ số xuất hiện nhiều trong thơ kiến trúc phần nào cũng phản ánh về quá trình nhận thức đó, nhất là những quan niệm về âm dương, tam tài, về ngũ hành trong nội dung nhận thức vũ trụ; về tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức trong nội dung nhận thức xã hội. 

Chữ số trong các bài thơ không mang giá trị xác định mà mang giá trị biểu trưng. Chữ số được tổ hợp cùng với các nét nghĩa đã làm nhòe đi giá trị số học của chúng và tạo nên một ý nghĩa khác. Có thể hình dung qua một số ví dụ: 

- Chữ Thiên (ngàn) xuất hiện ở trong các trường hợp: thiên tải (ngàn năm), thiên niên (ngàn năm), thiên tuế (ngàn năm), thiên gia (ngàn nhà), thiên quan (ngàn quan), tam thiên (ba ngàn), thiên vạn (ngàn vạn), bán thiên (nửa ngàn), thiên lý (ngàn dặm). 

Các tổ hợp thiên tải, thiên niên... được tổ chức như là một khẳng định về sự tồn tại có tính bền vững, cụ thể và điển hình như: 

- Thiên tải khiết minh lương ( : Ngàn đời [luôn] có bậc hiền tài, ĐTH); 

- Điển vi xán nhĩ khai thiên tải (典韋燦爾開千載: Điển chương xán lạn mở đến ngàn năm, Th.M); 

- Thiên niên điện đế cơ (千年奠帝基: Cơ nghiệp của nhà vua vững ngàn đời, ĐTH); 

- Phương trục thiên niên miễu miễu tồn (芳躅千年杳杳存: Thơm ngát ngàn năm mãi mãi còn, Tr.M); v.v... 

Những con số ngàn ở đây chỉ mang ý nghĩa ước lệ, là những con số “bị nhòe nghĩa thực tế”, nó mang hàm nghĩa về việc xác định thời gian vô tận. Đó là mơ ước về một sự bền vững thuở đầu thiết lập vương triều. Bất cứ một triều đại nào đều cũng muốn khẳng định sự chính thống của nó đồng thời với khẳng định lý tưởng xã hội, lý tưởng trường tồn của chế độ, lý tưởng về một quốc gia vững bền. 

Điển hình về các chữ số trên sẽ có thêm các tổ hợp được khảo sát trong hệ thống với tần số cao như: vạn lý (vạn dặm) 21 lần, vạn cổ (vạn năm xưa) 9 lần, nhất đường (một nhà) 6 lần, cửu ngũ (hào cửu ngũ trong Kinh Dịch) với 6 lần, cửu trùng, cửu tiêu (chín tầng trời, mây cũng liên quan đến hào cửu ngũ trong Kinh Dịch) 11 lần, tứ hải (bốn biển) 12 lần, v.v... Tất cả các tổ hợp nghĩa này đều mang ý nghĩa biểu trưng (trong trường nghĩa chỉ về sự đoàn kết, sự đồng lòng, sự thống nhất). Có thể hình dung các nét nghĩa với các bậc qua các ví dụ sau ở tổ hợp nhất đường: 

- Trong tổ hợp Nhất đường: 

Cụ thể như: Nhất đường canh hỉ khởi ( : Một nhà/ Triều đình/ Đoàn kết nối nhau vui vẻ dậy lên, ĐTH); Nhất đường lượng hữu quang ( : Một nhà/ Triều đình/ Đoàn kết thực sáng tươi, LĐK); Nhất đường Chu lễ nhạc ( : Một nhà/ Triều đình/ Cùng chung nền lễ nhạc như thời Chu, ĐTH); v.v... 

Đó thực chất là sự ảnh hưởng của tư duy và quá trình lựa chọn ngôn ngữ để diễn đạt. Nếu giả sử lấy tổng số lần dùng các chữ số trong thơ trên kiến trúc là 1.197 chia đều cho 1.087 bài thơ ở đây thì sẽ có kết quả là, mỗi một bài thơ đều có trên một chữ số. Mật độ này đối với loại văn bản nghệ thuật là khá cao, cao đến mức đặc biệt. Do vậy, có thể cho rằng, mật độ sử dụng khá cao các con số trong phong cách nghệ thuật là một đặc điểm của ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế, phản ánh một phương thức cải số đặc sắc và cũng mang tính quan niệm xuất phát từ tập quán tư duy cũng như tập quán thẩm mỹ của chủ thể sáng tạo. Bên cạnh việc sử dụng nhiều các con số, thơ trên kiến trúc cũng sử dụng nhiều một lượng từ láy giàu chất biểu cảm. 4.1.3. Sử dụng nhiều từ láy mang màu sắc biểu cảm 

Láy là một biện pháp nghệ thuật tu từ từ vựng, đó là việc cấu tạo từ bằng hình thức lặp lại/ nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định với mục đích làm cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, vừa hài hòa với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị tượng trưng hóa. Trong nhiều bài thơ trên kiến trúc, phương thức láy thường được tổ chức chủ yếu bằng dạng láy/ lặp hoàn toàn, có thể xem đó là một phương thức láy nghĩa. Phương thức láy ở đây được vận dụng rất tự nhiên, có những ý nghĩa trong diễn đạt ngữ âm, ngữ nghĩa. 

Khảo sát cho thấy, hiện tượng láy là phổ biến ở nhiều bài, thể hiện khá rõ một đặc điểm tạo sắc thái biểu cảm trong sáng tạo. Theo số liệu thống kê được, thơ trên kiến trúc xuất hiện 126 từ láy với 457 lần sử dụng, có nhiều từ sử dụng lặp lại ở tần số cao từ 10 đến 41 lần. Nhiều bài thơ sử dụng phương thức láy, các hiện tượng từ láy trong những trường nghĩa như: 

- Trường nghĩa chỉ tính chất gắn với đặc tính thời gian qua việc mô tả bản chất thời gian của sự tình: niên niên (năm năm, năm nào cũng); nguyệt nguyệt (năm năm, năm nào cũng); triêu triêu (sáng sáng, sáng nào cũng); đán đán (sáng sáng, sáng nào cũng); nhật nhật (ngày ngày, ngày nào cũng); thời thời (giờ giờ, lúc nào cũng) ), v.v... 

- Trường nghĩa chỉ tính chất gắn với đặc tính không gian qua việc mô tả quy mô, kích thước... của sự tình: dung dung (mênh mông, bát ngát); mục mục (thăm thẳm, tít tắp); ngôi ngôi (lồng lộng); đãng đãng (thênh thang, mênh mông); hạo hạo (mênh mang); trùng trùng (tầng tầng, lớp lớp); ngật ngật (vòi vọi, vời vợi); mật mật (rậm rạp, um tùm); sơ sơ (lơ thơ, thưa thớt), v.v... 

- Trường nghĩa chỉ tính chất qua việc mô tả trạng thái, sắc độ, thuộc tính... của sự tình: đồng đồng (đăm đăm, đăm đắm); lục lục (lục lục, biêng biếc); thanh thanh (xanh xanh); hoàng hoàng (rực rỡ, rạng rỡ); hạo hạo (rực rỡ, rạng rỡ); đường đường (rực rỡ); diệu diệu (vẻ vang, rực rỡ); minh minh (rực rỡ); phất phất (phất phơ, phe phẩy, lất phất); bàn bàn (cuồn cuộn); tiêm tiêm (thon thon, nho nhỏ, thon thả); v.v... Ở đây, từ quan niệm thơ trên kiến trúc như một hệ thống, chúng ta có thể thấy nổi lên hai vấn đề sau: 

- Nếu xuất phát từ góc nhìn “hình thức của hình thức” trong toàn bộ số lượng từ láy trên, thì hiệu quả thẩm mỹ lĩnh hội được từ bản chất hình thức đó là việc gợi lên một sự trùng điệp, tác động lên trực quan sinh động, làm nên hiệu quả thẩm mỹ về mỹ thuật. 

- Nếu xét sâu hơn từ góc quan sát “hình thức của nội dung”, thì rõ ràng hiệu quả thẩm mỹ lĩnh hội được từ bản chất nội dung, đó là giá trị biểu trưng, tác động vào tư duy trừu tượng, làm nên hiệu quả thẩm mỹ về ngôn ngữ. Từ láy có sự hòa âm trong nội bộ cấu trúc, tạo ra những hiệu quả ngữ nghĩa, tạo điểm nhấn cho sự diễn đạt mà chỉ khi xướng/đọc lên mới có thể cảm thụ hết được. Ở đây vỏ âm thanh của ngôn ngữ khi được chọn lựa, đặt vào đúng chỗ sẽ góp phần khơi gợi cảm xúc cho đối tượng tiếp nhận. so ánh thêm KINH THI 

Toàn bộ phương thức láy trong thơ trên kiến trúc, ngoài một vài trường hợp, thì dường như tất cả đều mang ý nghĩa tượng trưng, liên tưởng đến những tính chất: rực rỡ, bao la; lộng lẫy, hùng vĩ. Đi vào từng trường hợp với bối cảnh ngữ nghĩa cụ thể càng thấy rõ bản chất này: 

- Bài có một câu sử dụng phương thức láy: Long hổ trùng trùng củng (龍虎重重拱: [Thế đất] long hổ lớp lớp chầu về, ĐTH); Trạc trạc chấn thanh linh (濯濯振聲靈:Lừng vang rực rỡ thiêng linh, Th.M); Gia gia cộng lạc ung hi hội (家家共樂雍希會: Nhà nhà hòa hợp cùng vui hội, ĐLA) v.v... 

- Bài có hai câu sử dụng phương thức láy chiếm số lượng nhiều nhất (trong các bài có sử dụng từ láy) vì lý do đa số trong các bài thơ đều tồn tại 1 cặp đối (đối với thể tứ tuyệt), hoặc 2 cặp đối trong bài (đối với thể bát cú). Do vậy, để đảm bảo nguyên lý đối xứng trong ngôn từ, nếu đã sử dụng 1 từ láy ở vế trước thì vế sau cũng phải sử dụng 1 từ láy tương ứng. Có thể dẫn rất nhiều ví dụ: Lục diệp niên niên mậu/ Chu hoa nguyệt nguyệt tân (綠葉年年茂/朱華月月新: Lá xanh năm năm tốt/ Hoa đỏ tháng tháng tươi, NM); Nhương nhương lũng mẫu hoàng vân bố/ Úc úc thương tương ngọc lạp doanh (穰穰隴畝黄雲布/彧彧倉箱玉粒盈: Trĩu sai đồng ruộng mây vàng bủa/ Tươi tốt vựa kho thóc ngập đầy, ĐLA); v.v... 

- Bài đặc biệt có hai câu, bốn câu với nhiều lần sử dụng phương thức láy, ví như: Khuê tinh diệu diệu vi viên lãng/ Hạo nguyệt trừng trừng ngọc vũ thanh/ Phức phức hương phù lan thổ nhụy/ Nhương nhương lộ trích cúc thư anh ( 星耀耀微垣朗/皓月澄澄玉宇清/馥馥香浮蘭吐蕊/瀼瀼露滴菊舒英:Sao khuê lấp lánh hoàng cung sáng/ Trăng tỏa vặc vằng trời vợi xa/ Ngào ngạt hương bay lan hé nhụy/ Đầm đìa sương ngậm cúc khoe hoa, LMM); v.v... 

Sử dụng phương thức láy trong nhiều bài thơ với một dạng thức láy hoàn toàn qua các dẫn chứng vừa nêu là một đặc điểm quan trọng trong thơ trên kiến trúc. Từ những trưng dẫn trên, có thể xem thơ chữ Hán trên kiến trúc là một trong những minh chứng khá điển hình về việc sử dụng chữ Hán theo cách của người Việt. Tập quán sử dụng ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm của người Việt trong tiếng Việt từ rất lâu đã chú trọng đến các phương thức láy khác nhau, trong đó việc láy toàn bộ (không thay đổi thanh) là một thực tế hiển nhiên. Đặc biệt từ thực tế sử dụng tính từ ở tiếng Việt, chúng ta có thể thấy rõ điều này, điển hình như cách nói: nhỏ nhỏ; bé bé; thấp thấp; xấu xấu; đẹp đẹp, to to; lớn lớn; béo béo; v.v... Cách nói này được sử dụng rất tự nhiên trong phong cách khẩu ngữ. Nhìn lại toàn bộ hệ từ láy trong thơ ở đây, ngoài một số trường hợp có thể phát hiện trong thơ Đường của Trung Quốc, trong thơ chữ Hán thời trung đại của Việt Nam (như trùng trùng, thanh thanh, hồng hồng...), thì hầu như những hiện tượng khác đều là hiện tượng không phổ biến, có phần “lạ hóa”. Điều đó nói lên rằng, chủ thể sáng tạo ở đây đã sử dụng chữ Hán theo tập quán sử dụng tiếng Việt. Quá trình dịch chuyển, thẩm thấu từ nét nghĩa của những chữ Hán (vốn là vay mượn) ấy để tạo nên một hệ thống từ láy đặc trưng đã thể hiện rõ tâm lý, tập quán dân tộc trong cách nghĩ, lối nói của người Việt. Đây là điểm tích cực trong sáng tạo ngôn từ, làm cho ngôn từ có những sắc thái mới, gần gũi với tư duy và tập quán dân tộc, bởi vậy, nội dung diễn đạt thêm phần sắc thái biểu cảm. Sắc thái biểu cảm này sẽ được hình dung thêm qua việc tổ chức vần và nhịp của thơ. 

4.2. Đặc điểm về thể thơ, vần thơ và nhịp thơ 

4.2.1. Sử dụng nhiều thể thơ 

Kết quả khảo sát cho thấy hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế có đủ loại thể cơ bản của văn học thời trung đại Việt Nam, bao gồm thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt của hệ thống loại thể Đường luật. Đây là thể thơ chiếm ưu thế với sự góp mặt lên đến 80%. Bên cạnh đó, có một số bài 4 chữ, 5 chữ, 7 chữ ở thể cổ phong (cổ thể) và một số loại thể khác. 

- Thể thất ngôn bát cú (7 chữ 8 câu) trên kiến trúc cung đình Huế có 143 bài, chủ yếu xuất hiện tại các công trình kiến trúc như điện Long An, lăng Thiệu Trị, lăng Đồng Khánh, Di Luân Đường và chùa Linh Mụ, được xác định là thơ của hoàng đế Thiệu Trị, nhiều bài trong số đó có ghi nhan đề. 

- Thể ngũ ngôn bát cú (5 chữ 8 câu) trên kiến trúc cung đình Huế có 76 bài, xuất hiện ở các công trình kiến trúc như Hưng Miếu, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Đồng Khánh, điện Long An và Di Luân Đường. 

- Thể thất ngôn tứ tuyệt hay còn gọi là thất ngôn tuyệt cú (7 chữ 4 câu) trên kiến trúc cung đình Huế có 276 bài xuất hiện ở các kiến trúc như Triệu Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Đồng Khánh, điện Long An và Di Luân Đường. 

- Thể ngũ ngôn tứ tuyệt (5 chữ 4 câu) xuất hiện hầu hết ở các kiến trúc với 436 bài xuất hiện ở các kiến trúc như Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Triệu Miếu, Thế Miếu, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Đồng Khánh và Di Luân đường. 

- Thể cổ phong (4 chữ/ 5 chữ/ 7 chữ, 5 câu, không lệ thuộc niêm luật, đối ngẫu) xuất hiện nhiều chủ yếu tập trung ở các miếu như: Triệu Miếu, Thế Miếu, Hưng Miếu. Thể cổ phong 7 chữ 4 câu xuất hiện rất khiêm tốn chỉ với 07 bài ở các kiến trúc như lăng Minh Mạng, điện Long An, Di Luân Đường. 

- Các dạng thể khác: ở một số trường hợp khác, thơ trên kiến trúc cung đình Huế còn tồn tại 10 bài (5 chữ gồm 12 câu, 14 câu, 16 câu) là những "biến thể" giữa cổ phong và đường luật. Nói "biến thể" vì hình thức của một bài thơ nhiều câu là đặc điểm của thể cổ phong (không hạn định số câu), nhưng ở đây trong các bài đều tồn tại những hình thức đối nhau thành từng cặp lại là đặc điểm của đường luật. Thể thơ dạng này xuất hiện 01 bài tại lăng Minh Mạng, 9 bài ở điện Long An, có thể xem đây là những biệt thể. 

Ngoài ra, ở điện Long An còn có 02 bài thất ngôn bát cú của vua Thiệu Trị. Nhưng đây là hai bài bát cú chơi chữ theo lối kỹ xảo với “mã khóa thể loại” có nội dung là “dụng hồi văn thể kiêm liên hoàn, bình trắc tứ vận, đọc thành thất ngôn, ngũ ngôn, lục thập tứ chương” (dùng thể hồi văn kiêm liên hoàn, đọc thành thể thất ngôn, ngũ ngôn thành 64 bài), cũng là một thức dạng có tính biệt thể. 

Nhìn chung, có thể xem thể thơ trên kiến trúc cung đình Huế là bức tranh khái quát khá đầy đủ về các loại thể trong sáng tác thi ca thời Trung đại ở Việt Nam. Điều này cũng cho thấy các chủ thể sáng tạo đã làm chủ tất cả các loại thể thơ trong hoạt động sáng tác của mình. Tuy nhiên sự chú trọng lựa chọn các thể thơ có độ chênh khá cao về số lượng, điều này lại thuộc vào ý nghĩa thi pháp của các thể thơ. 

Trong thơ trên kiến trúc, việc lựa chọn thể thơ trong sáng tác của chủ thể sáng tạo là một thực tế có định hướng. Sự tồn tại hình thức thể loại đều có liên quan đến nội dung. Có thể khái quát bức tranh của thể loại của thơ trên kiến trúc thành hai tập hợp lớn: thể cổ phong (cổ thể) và đường luật (kim thể). 

Khảo sát nội dung, có thể thấy rằng, các bài thơ trên kiến trúc ở dạng thể cổ phong 4 chữ (có số lượng câu khác nhau) là loại thơ phỏng theo Kinh thi, sử dụng tràn ngập nội dung kinh điển trong Kinh thi để khai triển nội dung chủ đề. Thực chất thơ ở dạng thể cổ phong 4 chữ trên kiến trúc là những khúc tán tụng nhằm đề cao, ca ngợi công đức của tiên đế, là những sử thi tưởng niệm công đức và cơ nghiệp của tiên tổ của các hoàng đế triều Nguyễn, rất gần với nhã, tụng trong Kinh thi. Bài cổ phong 66 câu ở lăng Dục Đức là điển hình về bản chất tán tụng thánh thần, tiên vương ở các miếu đường, nhiều lần mô phỏng hoặc nhắc lại các nội dung chủ yếu trong Tiểu nhã, Đại nhã, Chu Tụng của Kinh Thi. Ví như ngay ở 4 câu mở đầu: Cổ chung khâm khâm/ Khánh quản thương thương/ Lễ nghi tốt độ/ Hưu hữu liệt quang (鼓鐘欽欽/磬筦將將/ 禮儀卒度/ 休有烈光: Trống chuông lanh canh/ Khánh sáo êm đềm/ Pháp độ nghi lễ/ Sáng soi rực lên, LDĐ). Cả 4 câu đều liên quan đến nội dung ở Kinh Thi. Câu Cổ chung khâm khâm xuất xứ từ câu Cổ chung khâm khâm/ Cổ sắt cổ cầm (Chiêng trống lanh canh/ Đàn sắt đàn cầm) trong chương Cổ chung, Tiểu nhã, Kinh Thi; câu Khánh quản thương thương xuất xứ từ câu Chung cổ hoàng hoàng/ Khánh quản thương thương (Chuông trống vang vang/ Khánh sáo êm đềm) trong chương Chấp cạnh, Chu tụng, Kinh Thi. Hai câu còn lại cũng xuất xứ từ Tiểu nhã và Chu tụng của Kinh Thi. So sánh với Nhạc chương Thọ huy (trong Lễ tế miếu đế vương qua các đời) ở Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cũng thấy có câu tương tự: Lễ nghi tốt độ/ Minh tự cáo kiền/ Quản khánh tương tương/ Đào cổ uyên uyên [71, tr.422]. 

Tình hình ở các bài cổ phong 4 chữ (với 6 câu hoặc 8 câu) cũng phản ánh hiện tượng này. Có thể nhận thấy hình thức và nội dung của lối tán tụng trong các bài thơ 4 chữ ở đây rất giống với các bài nhạc chương (hay còn gọi là bài Thài) trong các ca từ của nhạc lễ gắn với các lễ tế dưới thời Nguyễn. Thử so sánh một đoạn trong 1 bài 4 chữ 8 câu ở Thế Miếu và 1 bài nhạc chương Hàm hòa chi chương trong lễ tế ở Triệu Miếu: 

- Bài thơ ở Thế Miếu: - Bài nhạc chương Hàm hòa chi chương: 

Minh minh hoàng khảo, Minh minh hoàng tổ, 

Đế đức võng khiên. Đức phối kiền khôn. 

Văn võ duy hậu, Phong công vĩ liệt, 

Thông minh hiến thiên... Thùy dự hậu côn... 

Rõ ràng sự giống nhau về tính chất cơ bản trên cũng nói lên rằng, đa số các bài thơ 4 chữ gồm các loại câu khác nhau trong thơ trên kiến trúc chính là các nhạc chương gắn với các lễ tế. Do vậy, loại thể 4 chữ này được chạm khắc tràn ngập ở các miếu (Triệu Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu). Cũng cần lưu ý thêm là, trong thư tịch Cổ học viên thư tịch thủ sách chép dưới thời Khải Định năm 1925 đã ghi nhận sự có mặt của loại thơ ca phỏng Kinh Thi. Đó là tác phẩm Thiệu Trị Hoàng huấn cửu thiên với tính chất là dựa vào thể cổ phong của Kinh Thi sáng tác lại thành 9 chương của vua Thiệu Trị. Đây chính là cơ sở khi nghiên cứu xuất xứ của các bài thơ dạng thể 4 chữ phỏng Kinh thi trong thơ trên kiến trúc, khi có thể nhận thấy giữa chúng có một mối quan hệ về hình thức và nội dung khá rõ nét. 

Dạng thể cổ phong 7 chữ trong thơ trên kiến trúc xuất hiện không nhiều, nhưng cũng tạo nên những nét đặc sắc. Dạng này xuất hiện ở các bài gắn liền với tả cảnh, ít nhiều tạo dấu ấn ghi tình cảm riêng của chủ thể sáng tạo. Không hệ lụy nhiều với các hình thức đăng đối, cân xứng hài hòa nên các chiều kích giải bày có phần thoáng đạt hơn. Ví dụ như bài thơ này ở điện Long An: 

Tam thôi lễ túc giá ngôn hoàn, Ba đường đúng lễ về xa giá, 

Mật nhĩ cung viên vãng phản nhàn. Gần sát hoàng cung lui tới nhanh. Cựu để lai lâm thi trấp nhị, Chốn cũ đến gần thơ vẫn thiếu 

Dân nham trù biện thượng thiên ban. Còn bao công việc để lo dân. 

Đối với các bài này, tuy là cổ phong, ít chú trọng đăng đối, nhưng tâm lý sáng tạo của tác giả vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi sự ràng buộc của mẫu hình đăng đối, đặc biệt là về hình thức. Trong hiệp vận bằng trắc, vẫn là khuôn mẫu của đường luật với những quy định nghiêm ngặt của tính chất cân xứng âm thanh. Điều này cũng diễn ra tương tự ở những bài 5 chữ, nhiều câu (từ 12 đến 14 câu). 

Ở phần trên, chúng tôi phân dạng thể 5 chữ nhiều câu ở mục "dạng thể khác" mà không phân ở mục "thơ cổ phong" vì lý do đã giải thích là trong các bài thơ vẫn tồn tại quy tắc đối của đường luật, trong khi mà đối ngẫu không phải là đặc điểm của cổ phong. Xuất hiện tuy không nhiều, nhưng 9 bài ngũ ngôn nhiều câu ở lăng Minh Mạng và điện Long An cũng có tạo nên sự đặc sắc riêng. 

Nếu như đường luật là một hệ thống cấu trúc được tổ chức chặt chẽ, rõ ràng, một thế giới khép chặt của điển phạm (với luật bằng trắc, với đối ngẫu, với niêm vận, với số chữ, với số câu), thì các bài thơ ngũ ngôn có nhiều câu được xem như sự giải phóng khuôn khổ để mở rộng cảm xúc. Nếu như cổ phong là một hệ thống không có luật nhất định, không hạn định số câu, co giãn linh hoạt trong số chữ, trong gieo vần, thì các bài thơ ngũ ngôn nhiều câu lại tự ràng buộc trong quy tắc đối ngẫu, quy luật bằng trắc để bày tỏ tính điển phạm của cách thức tổ chức mang tính điển lệ. Ví dụ qua một bài tượng trưng, bài 14 câu ở lăng Minh Mạng (xin xem toàn bài ở Phụ lục 1): 

Quốc khánh thời phương thái,9 Đất nước mừng vận mới, 

Chính bình dân nãi hòa. Chính trị hòa dân an. 

Thi uy trừ ngoại hoạn, Uy bền ngừa mối họa, 

Phu giáo trật nam ngoa. Giáo hóa việc mùa màng10. 

Chọn thơ cổ phong để miêu tả cuộc sống, các bức tranh sinh hoạt của dân chúng, của thiên nhiên hiện lên trong thơ trên kiến trúc rất chi tiết, cụ thể, gắn với những không gian cụ thể, những sự việc cụ thể khác với bản chất ước lệ, tượng trưng trong thơ luật thi. 

- Thơ trên kiến trúc tồn tại qua các loại thể trong hệ thống thơ Đường luật là chiếm ưu thế với hơn 80% số lượng. Đặc điểm của Đường luật thể hiện qua các mối quan hệ giữa các yếu tố như đã nêu đã cho thấy tính chặt chẽ, khuôn mẫu của thể thơ. Do vậy, khác với cổ phong, Đường luật bó buộc, hạn định trong một "không gian" định sẵn với quy định nghiêm ngặt nên "chỉ thích dụng trong việc thể hiện tâm tính sâu lắng trầm tư của con người vũ trụ" [22, tr.190]. 

Con người xuất phát từ một không gian hạn định của thể thơ (trong 8 câu, các quy tắc bằng trắc, đối ngẫu, niêm luật...) nhưng vẫn có khả năng chuyển tải cả vũ trụ vô cùng dung chứa trong câu chữ. 

Chú thích:

9. Thái: vận tốt cũng là thái bình. Thái ở đây còn là một khái niệm liên quan đến Kinh Dịch, quẻ Thái mở ra vận tốt (xin xem thêm chú thích số 51 ở Phụ lục 1). 

10. Nguyên văn là Phu giáo trật nam ngoa. Ý chỉ sự giáo hóa cho dân về ý thức thời tiết để tính nông vụ (xin xem thêm chú thích số 243 ở Phụ lục 1).

Đi từ không gian hữu hạn của luật thi đến cái vô hạn của đối tượng miêu tả là một quá trình phản ánh ý nghĩa của thi pháp thể loại. Đó là dùng những mối quan hệ nội tại để tương tác với khách thể bên ngoài, cấu trúc khép kín nhưng nội dung không không khép kín, mà hô ứng, tương liên với ngoại vật. Thơ trên kiến trúc cung đình sử dụng cách thức đó để bày tỏ, để chiêm cảm về khách thể tri nhận. Với bản chất như vậy nên tác giả cực kỳ chú ý đến câu kết của bài thơ, câu kết trong bài thường có tính vừa chốt lại vừa mở ra tạo thành tuần hoàn, luân chuyển: 

Kỷ hồi vô hạ nhật/ Đắc vũ vị lai lâm/ Bát thúy hà phiên cái/ Trừu thanh liễu phiền âm/ Dã tri tiêu thử khí/ Nan đắc địch phiền khâm/ Thời nhược niên phong lạc/ Dân tâm tức ngã tâm (Bấy nay không ngày rỗi/ Gặp mưa đến đây mà/ Lá thắm sen nghiêng ngửa Chồi non liễu la đà/ Biết tiêu dần oi bức/ Khó mờ nỗi lo xa/ Tiết thuận vui trúng vụ/ Lòng dân tức lòng ta, LMM, xin xem thêm ở phục lục 1). 

Sau những miêu tả về thiên nhiên, về cảm nghĩ, đến câu cuối cùng, cái khoảnh khắc "tức" (chính là, ngay tức thì) vừa có tính phiếm chỉ về tính chất, vừa có tính phiếm chỉ thời gian đó là sự trổi dậy của trách nhiệm đấng bậc: dân tâm tức ngã tâm. Chỉ một chữ "tức" mà đã làm cho ý thơ chuyển động theo một hướng khẳng định, con người đấng bậc đáu đáu về thời tiết, về mùa vụ, cùng chung niềm lo nghĩ với muôn dân. Bởi vậy nên: Tầm thường bất túc lao đề vịnh/ Tuế nẫm liên chương hảo bút huy (尋常不足勞題咏/歲稔連章好筆揮: Việc thường chẳng phí thơ ngâm vịnh/ Mùa vụ bội thu bút múa tràn, ĐLA). 

Những khoảnh khắc thức nhận này không hiếm trong thơ trên kiến trúc. Quan sát, chiêm ngắm thiên nhiên, nhận định thiên nhiên, để rốt cuộc vẫn ý thức rằng, thế giới muôn vật chuyển động, khó có thể nắm bắt, hiểu cho hết ngọn ngành: Không minh trừng lựu trọc/ Lãng thiếp triệt vân âm/ Viễn muội tuy trình hiện/ An tri tận thiển thâm (空明澄溜濁/浪貼徹雲陰/遠昧雖呈現/安知盡淺深: Trời cũng có trong, đục/ Sóng áp mây tận cùng/ Mờ, xa tuy hiện diện/ Đâu biết tận sâu nông, LMM). Cái sự "tận thiểm thâm" (tận nông sâu) của hữu thể hay vô thể không ai biết được sự tận cùng, sự rõ ràng của nó, đó có thể xem là một định đề triết lý. Hầu như tất cả các bài Đường luật trong thơ trên kiến trúc đều có câu kết làm bật chủ đề muốn trao gửi của tác giả. Câu kết mang vác cả tứ thơ, hàm súc, cô động sau những gì đã trải ra ở các câu trước. Câu kết do vậy trở thành lõi nội dung, thu hút sự chú trọng của chủ thể sáng tạo, sự chú ý của đối tượng tiếp nhận.

Bên cạnh thể Đường luật 8 câu, thể Đường luật tứ tuyệt là sự biểu hiện tập trung nhất của hệ thống thơ trên kiến trúc với số lượng lên đến 436 bài ngũ ngôn tứ tuyệt và 276 bài thất ngôn tứ tuyệt. Ưu thế của thể loại ngũ ngôn tứ tuyệt là ngắn gọn súc tích, dễ nhớ, dễ chuyển tải những nội dung như bày tỏ quan điểm, ý chí, công bố những nội dung mang tính tuyên ngôn. Thể loại ngũ ngôn tuyệt cú được vận dụng tối đa để phục vụ tính chất ngôn chí như vậy. Điều này thể hiện rất rõ ở đa số các bài thơ chạm khắc trên điện Thái Hòa, Thế Miếu, lăng Minh Mạng, lăng Đồng Khánh. Ở đây xin chỉ trưng dẫn một ví dụ (xin xem hàng loạt ví dụ khác ở phụ lục 1), bài thơ ở vị trí trung tâm điện Thái Hòa: 

Văn hiến thiên niên quốc, 文獻千年國 Nước ngàn năm văn hiến, 

Xa thư 11 vạn lý đồ. 車書萬里圖 Thống nhất toàn giang san. 

Hồng Bàng12 khai tịch hậu, 鴻庬開闢後 Thuở Hồng Bàng mở đất, 

Nam phục nhất Đường Ngu.13 南服一唐虞 Đã thịnh trị trời Nam. 

Bài thơ là sự khẳng định có tính tuyên ngôn, tuyên bố về truyền thống văn hiến của Đại Nam bấy giờ. Ngắn gọn, cô đọng, dễ nhớ nhưng cũng không kém phần hùng hồn, trang trọng của một lời tuyên bố cùng trăm họ, với lân bang về truyền thống quốc gia, về hưng thịnh triều đại. Ưu thế của ngũ ngôn tứ tuyệt bởi vậy mà được đề cao trong quá trình lựa chọn loại thể trong sáng tác của con người vũ trụ đề cao thiên mệnh, con người xã hội coi trọng đạo đức thời bấy giờ. 

Tựu trung, trong thơ trên kiến trúc, thể cổ phong tồn tại tập trung chủ yếu ở dạng thơ 4 chữ nhiều câu, 5 chữ nhiều câu và một số ít bài 7 chữ 4 câu. Tuy ít bị lệ thuộc vào luật thi, nhưng thói quen thẩm mỹ của chủ thể sáng tạo đã tạo nên nét riêng cho thể loại cổ phong này, điển hình cao nhất là tính đăng đối trong thơ. Loại thể này thể hiện đậm nét qua các nội dung tán tụng thần tích, công lao tiền nhân, gắn bó với nhạc chương nơi giao miếu; ngợi ca đất nước thịnh trị, bày tỏ hứng khởi trước chế độ thanh bình, cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, v.v... Nếu như thể cổ phong được sử dụng để miêu tả cụ thể về sự vật, hiện tượng, chủ yếu để bày tỏ tình cảm, thì ở các thể luật thi lại sử dụng để khái quát, ước lệ sự vật, hiện tượng nhằm bày tỏ ý chí, quan điểm, tất nhiên bày tỏ tình cảm vẫn tồn tại nhưng mục đích cuối vẫn là ngôn chí, tạo nên "hành động ngôn ngữ", gắn với hệ thống quan niệm về lý tưởng thẩm mỹ đương thời. Điều này một lần nữa cũng được bộc lộ qua cách thức tổ chức vần và nhịp trong thơ. 

Chú thích:

11. Xa thư: chỉ sự thống nhất (xin xem thêm ở phần phụ lục). 

12. Hồng Bàng: Theo huyền sử Việt Nam thời thượng cổ đại, thời Hồng Bàng được tính từ năm 2879 đến năm 258 TCN. Bấy giờ gọi là nước Văn Lang (文郎) với 18 đời vua Hùng (theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim). 

13. Đường Ngu: Trong thuyết sử Trung Quốc, thời Ngũ đế, có nhiều triều đại thịnh trị với sự cai trị của những vị anh quân, điển hình như vua Nghiêu (thời Đường), vua Thuấn (thời Ngu), vua Vũ (thời Hạ). Gắn liền với tên tuổi của những bậc anh quân này là nhiều câu chuyện ca ngợi về đức tài của họ. Do đó, thơ trên kiến trúc khi nhắc đến các chữ Đường (), Ngu (), Hạ (), Nghiêu (), Thuấn (), Vũ () v.v... có hàm chỉ sự thịnh trị của đất nước với chính sách đường lối cai trị sáng suốt của triều Nguyễn.

4.2.2. Vần thơ và nhịp thơ 

Vần thơ là những chữ có hệ thống nguyên âm giống nhau/ hoặc gần giống nhau, được sử dụng để tạo âm điệu trong thơ. Đây là một quy luật để nối các câu trong bài thơ với nhau. Vần được dùng để nối câu, gieo vào chữ cuối cùng của câu thơ. Có hai loại vần: vần bằng/ bình tương ứng với các chữ thuộc hệ thống không dấu, dấu huyền; vần trắc tương ứng với các chữ thuộc hệ thống dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng. 

Đại đa số, các bài thơ trên kiến trúc đều được cấu trúc theo vần bằng, chỉ có 05 bài là vần trắc ở thể ngũ ngôn. Vần bằng trong thơ thường tạo nên cảm giác mềm mại, uyển chuyển, tạo nên sắc thái nhẹ nhàng, tha thiết, ví dụ: 

Hồng đồ chiêu hữu vĩnh, 鴻圖昭有永 Cơ đồ muôn đời vững, 

Phụng lịch bảo vô cường. 鳳曆保無彊 Năm tháng giữ muôn đời. 

Đại địa bồi cơ chỉ, 大地培基址 Đất rộng bồi cơ nghiệp, 

Hoằng tài tác đống lương. 宏材作棟樑 Có nhân tài khắp nơi. 

Bên cạnh đó, vần trắc cũng tạo được cảm giác xao động, tạo được sắc thái phấn chấn, hưng phấn hoặc gắn với ý đồ nhấn mạnh, ví như: Nhật nhật hỷ hòa thanh, 日日喜禾青 Ngày ngày vui lúa xanh, 

Thời thời ưu lạo giáng. 時時憂潦降 Giờ giờ lo mưa lũ. 

Nhược năng sơn thủy khuy, 若能山水虧 Nếu điều tiết núi sông, 

Khả tất thương sương mãn. 可必倉箱滿 Nhất định đầy lúa trữ. 

Hoặc đây là một kiểu cấu trúc vần trắc nhằm vào mục đích tạo cảm giác day dứt, lo lắng: 

Thuân tuần mẫn mục đê, 逡旬憫牧胝 Lo vết chai mục đồng, 

Bạt thiệp bì ngưu thác. 跋涉疲牛跅 Theo bóng trâu lặn lội. 

Cánh phục nậu điền nê, 更復耨田泥 Vừa cày ở ruộng sâu, 

Bất đồ canh thổ tháp. 不徒耕土塌 Lại bừa cao khắp lối. 

Nói chung, thơ trên kiến trúc có sự ổn định rất cao trong tổ chức vần thơ, mà ở đây hầu hết các bài thơ đều cấu trúc theo vần bằng, điều này cũng là một điểm đáng chú ý, phản ánh được bản chất quy thức, điển lệ trong quan niệm sáng tạo của chủ thể. 

Bên cạnh vần thơ là nhịp thơ. Nhịp thơ là phương thức tạo tiết tấu, điệu thơ. Thơ trên kiến trúc có sự tạo nhịp mang tính ổn định khá cao. Dòng thơ thường được chia thành từng vế, mỗi vế tương ứng với một ý nghĩa nào đó, thường là một ý nghĩa trọn vẹn. Chính cái ý nghĩa đó vô hình trung sẽ tạo nên "ranh giới" để ngắt nhịp. Thơ chữ Hán không có dấu câu, nên ý nghĩa của mỗi vế chính là ranh giới để xác định nhịp thơ. 

Ở thể thơ ngũ ngôn (5 chữ) của thơ trên kiến trúc là nhịp 2/3 (chẵn trước, lẻ sau), ví dụ: 

Thu quang/ hà xứ thị, 秋光何處是 Chốn nào mùa thu rực, 

Ngọc vũ/ lãng tam viên14. 玉宇朗三垣 Vũ trụ sáng Tam viên. 

Càn tượng/ phân minh liệt, 乾象分明列 Thiên tượng phân biệt rõ, 

Nhân văn/ cửu viễn tồn. 人文久遠存 Nhân văn mãi vững bền. 

Ở thể thơ thất ngôn (7 chữ) của thơ trên kiến trúc là nhịp 4/3 (cũng chẵn trước, lẻ sau), ví như ở bài tứ tuyệt: 

Giang sơn củng ấp/ văn minh địa, 江山拱揖文明地 Giang sơn ôm trọn đất văn minh, 

Khuê bích xu tường/ lễ nghĩa môn. 圭璧趨翔禮義門 Khuê bích hai sao cửa lễ nhân. 

Bính bính hoàng du/ chiêu vũ trụ, 炳炳皇猷昭宇宙 Vũ trụ đạo vua ngời chói lọi, 

Dương dương hạo khí /mãn càn khôn. 洋洋灝氣滿乾坤 Đất trời hạo khí ngập mông mênh. 

Tình hình này cũng diễn ra ở tất các các bài bát cú trong thơ trên kiến trúc. 

Cách ngắt nhịp 2/3 (ở thể thơ 5 chữ) và ngắt nhịp 4/3 (ở thể thơ 7 chữ) trong thơ trên kiến trúc đã thành khuôn mẫu có tính cố định. Điều này phản ánh thơ trên kiến trúc tuân thủ chặt chẽ của tiết tấu Đường luật. Phân tích tiết tấu trong thơ Đường, tác giả Nguyễn Thị Bích Hải nhấn mạnh: “Cách ngắt nhịp chẵn/ lẻ (âm/ dương) này là cố định, hầu như không có ngoại lệ, khiến cho âm dương xen kẽ, chẵn lẻ luân chuyển nhịp nhàng và hài hòa” [22, tr.186]. Người xưa quan niệm số lẻ 1-3- 5-7-9 là số dương, là số sinh; số chẵn 2-4-6-8 là số âm, là số tử, nên cũng có thể thấy cấu trúc chẵn/ lẻ trong ngắt nhịp thơ cũng phản ánh được quan niệm về vũ trụ, đó là sự phản ánh mô hình âm dương, tuần hoàn theo quy luật Âm tiêu/ dương trưởng hậu 

Chú thích:

14. Tam viên: Thiên văn học cổ chia bầu trời thành các khu vực khác nhau. Ba khu vực ở giữa là Tam Viên (gồm các sao Tử Vi Viên, Thái Vi Viên,Thiên Thị Viên, tiếp đó là vòng của Nhị thập bát Tú). 

( : Sau âm tiêu, dương trưởng, ĐTH). Âm dương (chẵn/ lẻ) gắn bó mật thiết với nhau, vận động và chuyển hóa cho nhau, khi âm phát triển đến cùng cực thì chuyển thành dương, dương phát triển đến cùng cực thì chuyển thành âm. Một bài thơ từ câu đầu đến câu kết là một chuyển động tuần hoàn theo nhịp: chẵn/ lẻ/ chẵn/ lẻ... nối nhau vận động liên tục, luân chuyển thành vòng khép kín. Do vậy, có thể cho rằng, tính ổn định tuyệt đối trong nhịp thơ đã phản ánh phần nào hình thức có "tính quy phạm" trong tổ chức ngôn ngữ thơ ở đây. 

Bên cạnh những đặc điểm nổi bật từ thi pháp biểu hiện thông qua các hình thức ngôn ngữ cũng như tổ chức vần, nhịp, thơ trên kiến trúc còn có sự hô ứng của nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc, phản ánh rõ năng lực ngôn từ của chủ thể sáng tạo. 

4.3. Các biện pháp nghệ thuật tiêu biểu 

Trong thơ trung đại nói chung cũng như trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế nói riêng, việc vận dụng linh động nhiều phương thức biểu hiện trong trình bày và diễn đạt là một quy luật. Chúng có vai trò quyết định chất lượng nội dung và quy định nghệ thuật của tác phẩm. Do vậy, khi nghiên cứu hệ thống thế giới nghệ thuật của tác phẩm, nhất là về mặt nghệ thuật ngôn từ không thể không nói đến các đặc điểm của phương thức biểu hiện, mà trong đó các biện pháp nghệ thuật là điều không thể bỏ qua trong quá trình nghiên cứu. 

4.3.1. Đa dạng cách thức so sánh 

So sánh (hay còn gọi là tỉ dụ) là việc trực tiếp đối chiếu hai đối tượng có cùng một thuộc tính nào đó (thuộc tính giống nhau) nhằm biểu hiện một cách hình tượng về phẩm chất bên trong của một đối tượng. Khác với so sánh logic chỉ mang tác dụng nhận thức, so sánh tu từ còn thực hiện chức năng biểu cảm với những quan hệ thẩm mỹ nhất định. So sánh ngầm là kiểu so sánh không xuất hiện từ so sánh do tính chất cố định, cân đối và sự cố định của kết cấu. Hình thức này thường xuất hiện trong ngôn ngữ thơ, thành ngữ, tục ngữ. Biện pháp so sánh là một phương thức miêu tả sự vật, hiện tượng giàu biểu cảm để hình dung được sự vật, sự việc đề cập tới. 

Thơ trên kiến trúc cung đình Huế có 159 lần dùng từ để so sánh, trong đó thị ( là, 60 lần); như ( ví như, 67 lần); tỉ ( tựa như, 17 lần); tự ( giống như, 15 lần). Nhiều trường hợp vế được so sánh là một khúc xạ, hình thành trên một tiền giả định đã được khẳng định, hiệu quả so sánh chính là hiệu quả do hình ảnh mà ngôn ngữ tạo nên. 

- Dùng từ so sánh thị (): Khởi đạn tiêu lao kỳ đại hữu/ Tứ thôi phương thị khuyến nhân yên ( / : Há đâu sợ mệt nhọc vì cầu được mùa/ Bốn đường [ta] cày là để khuyên mọi người vậy, ĐLA); Thời điều lượng thị khả thư niên ( 調 : Thời tiết điều hòa đoán chừng là năm được mùa, ĐLA); v.v... 

- Dùng từ so sánh như (): Quỳnh ba đóa đóa như ngân thụ/ Ngọc biện hàng hàng nhược tuyết bình ( / : Hoa xinh từng đóa như bạc treo trên cây/ Cánh ngọc từng hàng tựa bình phong tuyết, LMM); Đài tạ như tân hội/ Trì đường liễu hướng vinh ( / : Đài tạ như thêu nên màu mới mẽ/ Bờ ao, rặng liễu hướng đến tươi tốt, LĐK); v.v... 

- Dùng từ so sánh tỉ (): Lương ngọc tỉ quân tử/ Trác thành ý vị thâm ( / : Ngọc tốt tựa như người quân tử/ Một khi mài dũa thành thì ý vị thâm sâu, HM); Chưng thường quang Hạ tự/ Cơ mệnh tỉ Chu long ( / : Tế tự mùa đông, mùa thu sáng ngang nhà Hạ/ Cơ nghiệp tựa như thời Chu thịnh trị, Tr.M); v.v... 

- Dùng từ so sánh tự (): Đế đức như xuân dục/ Thần tâm tự thủy thanh ( / / / ): Đức của vua như mùa xuân hóa dục/ Tấm lòng của bề tôi như dòng nước trong, ĐTH); Tĩnh luyện tình ba tự kính liêm/ Kim lân hoạt bát thích phù tiềm ( / : Mặt sóng trong suốt tựa như tấm rèm gương/ Cá vàng nhanh nhẹn nổi lên, lặn xuống, ĐLA); v.v... 

Biện pháp so sánh trong nhiều câu thơ đã tạo ra được những hình ảnh sinh động, những tính chất khái quát có sức gợi, mở rộng trí tưởng tượng của đối tượng tiếp nhận. Câu thơ vì vậy mà trở nên cô đọng, hàm súc. Bên cạnh tác dụng giúp con người nhận thức, các kiểu so sánh này không chỉ có chức năng tạo hình, biểu cảm, có khả năng tái hiện đối tượng được so sánh bằng hình ảnh sinh động, giàu tính thẩm mỹ, mà còn cao hơn, bày tỏ được thái độ đánh giá của chủ thể sáng tạo. 

Một điều đáng nói khác là trong ngôn ngữ thơ trên kiến trúc, biện pháp so sánh xuất hiện ở nhiều trường hợp đã không viện đến những từ dùng để so sánh trong chữ Hán như đã nêu. Nhiều so sánh được xác lập không thông qua các từ để so sánh, chúng được ẩn trong hai vế: vế được so sánh và vế so sánh. Điều này cũng dễ hiểu, nhất là đối với các trường hợp thơ ngũ ngôn tứ tuyệt chỉ gói gọn trong 20 chữ, thì chủ thể sáng tạo phải chấp nhận thực tế này như một giải pháp “tiết kiệm”. Hiện tượng này khá phổ biến trong diễn đạt của ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế, thử xét một vài ví dụ: Tiêm tiêm thượng ấu hài/ Tiết tiết dĩ nan tồi/ Hàm tác lăng vân thế/ Hậu sinh khả uý tai/ ( / / / ): Nho nhỏ non tơ [như] một đứa trẻ/ Từng nhánh nhỏ trên cành tưởng khó mà vươn lên/ [Nhưng] tất cả làm nên cái thế vượt lên mây/ Hậu sinh đáng sợ thay, ĐTH). Bài thơ này miêu tả một chồi non đang vươn lên, nhưng lại gửi gắm một triết lý nhân sinh về lẽ tồn tại của cuộc đời. Hình ảnh “tiêm tiêm thượng” đặt trong sự tương quan với “ấu hài” là một so sánh hai tính chất có cùng thuộc tính: nhỏ nhắn, non tơ, còn nhỏ. Có nhiều trường hợp sử dụng biện pháp so sánh như vậy trong thơ trên kiến trúc: Sơn hà hồi ngọc lũy/ Kim bích diệu dao cung ( / 耀 : Núi sông quanh co [tựa] bờ lũy bằng ngọc/ [Giống như] châu báu sáng cả cung ngọc, ĐTH); Hồng đồ thiên tịnh đại/ Minh đức nhật duy tân ( / : Cơ đồ to lớn [ví như] trời vĩ đại/ Đức sáng ngày càng duy trì cái mới, LMM); Hoàng kỷ hương hệ tán/ Đối khách tửu tần thiêm ( / : Trên chiếc ghế vàng hương tỏa [như] sợi tơ/ Đối diện khách rót thêm rượu, LĐK); v.v... 

Những kiểu so sánh này vừa dễ lại vừa khó phát hiện. Dễ phát hiện ở chỗ là khi chúng ta xác định được những thuộc tính gần giống của hai vế so sánh; khó ở chỗ là các vế so sánh bị đảo lộn, sắp xếp trong một quy tắc hiệp vần nhất định. Trường hợp sau là rất khó để phát hiện: Ngự uyển thần tiên quả/ Xuân thiên phương diễm hoa/ Phong lai phiêu giáng tuyết/ Nhật xuất miện đan hà ( / / / ): Những quả thần tiên ở vườn ngự uyển/ Hoa đẹp thơm ngát cả trời xuân/ Gió đến nhẹ nhàng mang theo tuyết đỏ/ Mặt trời lên những ráng đỏ [như] cái vương miện, ĐTH). 

Cảnh mùa xuân trong bình minh lên được kết thúc bằng hình ảnh của “nhật xuất” (mặt trời mọc), của “miện” (vương miện), của “đan hà” (cái ráng mây màu đỏ) với một trật tự như vậy thì rất khó để xác định phép so sánh. Ở đây, cần xác định đúng đắn đối tượng so sánh và đối tượng được so sánh. Nếu theo trật tự từ, hiểu là: mặt trời mọc như cái vương miện (trên những) ráng mây màu đỏ, thì câu thơ bị giảm về giá trị nghệ thuật, “ráng mây màu đỏ” trở thành “nét dư” không cần thiết. Do vậy, cách hiểu: mặt trời lên, những ráng đỏ (như) cái vương miện là hợp lý (lần lượt các đối tượng được nói đến xuất hiện: mặt trời làm nên hiện tượng ráng mây đỏ, ráng mây đỏ tiếp tục làm nên hình tượng chiếc vương miện, đó cũng là logic của tư duy: từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. 

Rõ ràng, do đặc thù của độ dài văn bản, nên việc “nén nghĩa” trong những kiểu so sánh trên đã làm cho ngôn từ trở nên khó hiểu với những ý tứ xa xôi, khó nắm bắt. Thành thử để hiểu được những trường hợp như thế, đòi hỏi cần phải viện đến “sự nhạy cảm” thơ ca. Các kiểu so sánh trong ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế do vậy ngoài việc thể hiện biểu cảm trong các mối quan hệ thẩm mỹ, thì các lối so sánh ngầm được sử dụng như một giải pháp “tiết kiệm” do quy định về số lượng chữ trong một bài thơ. 

Ở đây, chúng tôi đề cập đến phương tiện này như một hiện tượng phổ biến của ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Quan trọng là hướng đến mục đích: tìm ra quy luật và xác định đúng đắn biện pháp so sánh trong ngôn ngữ thơ ở đây sẽ góp phần quan trọng cho việc nghiên cứu và dịch thơ đối với hệ thống thơ ca tồn tại trên kiến trúc cung đình Huế nói chung. 

4.3.2. Tạo nghĩa mở rộng hoán dụ 

Biện pháp hoán dụ là lấy tên gọi của đối tượng này để “lâm thời” biểu thị đối tượng khác dựa trên cơ sở về mối quan hệ liên tưởng lôgic khách quan giữa hai đối tượng. Đây thực chất cũng là sự so sánh, chỉ sử dụng một vế tồn tại trên lời nói, đó là đối tượng so sánh, còn vế không tồn tại trên lời nói, bị ẩn giấu là đối tượng được so sánh. Điều đặc biệt là, giữa hai đối tượng này đều phải có mối liên hệ bản chất tất nhiên, đó là các mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả, giữa hình thức và nội dung, giữa cái chung và cái riêng, giữa cái bộ phận và cái toàn thể; giữa cái chứa đựng và cái được chứa đựng. 

Ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế điển hình cho phương thức hoán dụ. Nhiều từ ngữ được sử dụng phương thức này thực hiện trên cơ sở chuyển nghĩa của từ dựa vào sự gần nhau của các đối tượng, sự vật. Hoán dụ trong thơ trên kiến trúc cũng biểu hiện những đặc điểm trong cách vận dụng trong ngôn ngữ thơ, nhưng ở đây, nó rất khó phát hiện và nhiều khi không nhận diện được bản chất hoán dụ trong đối tượng thì ý thơ, câu thơ sẽ trở nên mơ hồ, khó hiểu. Cách dùng hoán dụ ở đây khá linh hoạt, chẳng hạn: Thanh thanh thùy thúy mạc/ Diệu diệu quải kim luân ( / : Đám mây biêng biếc rủ xuống/ Mặt trời rực rỡ treo lên, ĐTH). Ở đây, thùy thúy (cái rèm xanh biếc) có các các thuộc tính phẳng, có màu xanh biếc là một cách hoán dụ để chỉ đám mây xanh/ quải kim luân (cái vòng vàng chói sáng) có các thuộc tính tròn, màu vàng chói là một cách hoán dụ để chỉ mặt trời, thể hiện những mối liên hệ về những bản chất tất nhiên. Do vậy, toàn bộ bài thơ được đặt trong những quan hệ ngữ nghĩa thống nhất: Đám mây biêng biếc rủ xuống/ Mặt trời rực rỡ treo lên/ Bốn bề đồng nội thâm nghiêm màn sương cuốn/ Chín tầng trên sương móc dày mới mẻ. Hoán dụ này thể hiện mối liên hệ giữa tính lôgic khách quan giữa hai đối tượng. 

Thơ trên kiến trúc xuất hiện nhiều trường hợp hoán dụ được sử dụng nhiều lần có xu hướng trở thành phép chuyển nghĩa tượng trưng. Chẳng hạn như ở các trường hợp phổ biến: 

- Nhất đường: Nhất đường canh hỉ khởi ( : Triều đình nối nhau vui vẻ dậy lên, ĐTH); Ấp tốn nhất đường trung ( : Vái chào khiêm cẩn cả triều đình, ĐTH); Nhất đường Chu lễ nhạc ( : Lễ nhạc của triều đình như thời nhà Chu, ĐTH); Nhất đường phu hỉ khởi ( : Triều đình tin tưởng vui vẻ dậy lên, ĐTH); Dần cung hiệp nhất đường ( : Cung kính hòa hợp cả triều đình, DLĐ); v.v... 

Ở đây, nhất (một), đường (nhà lớn, cung điện) xuất hiện trong bối cảnh về những sinh hoạt chính trị của triều đình trong các bài thơ nên tổ hợp nhất - đường này được dùng để chỉ về triều đình, biểu hiện phép cải dung, chỉ cái chứa đựng thay cho vật chứa đựng. Nó không chỉ thể hiện “cái tên gọi, cái hình thức” có tính định danh của đối tượng miêu tả, mà còn hướng đến việc xác lập, khẳng định “cái thuộc tính, cái bản chất” của đối tượng được miêu tả, chúng ta có thể hiểu: nhất đường - một nhà - triều đình - đoàn kết, vừa hoán dụ, vừa ẩn dụ rất hiệu quả. 

- Y quan: Y quan diệu thái hà ( 耀 : Muôn quan rạng rỡ thêm cả ráng mây sáng, ĐTH); Y quan bái tử thần ( : Muôn quan đều chầu lạy cung vua, ĐTH); Minh đường hấp tập Hán y quan ( : Minh đường tụ họp đầy đủ các quan như thời Hán, Th.M); Sum nghiêm kinh tế y quan liệt ( : Đông đảo hàng lối muôn quan đứng chầu, ĐLA), v.v... 

Ở đây, y (cái áo); quan (cái mũ) xuất hiện trong bối cảnh là không gian của hoàng cung trong các bài thơ, nên tổ hợp y - quan này đã được dùng để chỉ về các quan lại trong triều đình. Lối dùng này đơn giản nhưng có giá trị về miêu tả, làm cho câu thơ có những sắc thái mới với các cách hiểu khác nhau. Thử xét trường hợp Y quan diệu thái hà ở trên, chúng ta có thể thấy: Cung khuyết khai vân biểu/ Y quan diệu thái hà ( / 耀 ). Ở hai dòng thơ này, chúng ta có thể lĩnh hội theo hai hướng nghĩa: Cửa cung mở ra (thấy) những áng mây bên ngoài/ (như) áo mũ rực rỡ cả ráng mây sáng/ hoặc Cửa cung mở ra (thấy) những áng mây bên ngoài/ (và) muôn quan rực rỡ cả ráng mây sáng. Cách hiểu thứ nhất cũng không phải là không đúng đắn, nhưng nếu xét y - quan trong cả hệ thống và cách dùng của nó ở nhiều bài thơ khác thì phải hiểu theo cách thứ hai mới hợp lý. Trong trường hợp này, hoán dụ được xác lập trên cơ sở mối liên hệ giữa chủ thể (người) và vật sở thuộc (áo, mão). Ở trường hợp y - quan, chúng ta cũng có thấy được hiệu quả của cách dùng vừa hoán dụ, vừa ẩn dụ như trường hợp nhất - đường trên. Ngoài ra, y quan còn được hiểu như là một khái niệm để chỉ sự phát triển chế độ với những điển chế rõ ràng, là sự đối lập với sự kém phát triển của man di. Y quan trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế được sử dụng đến 25 lần. 

Cách thời Nguyễn cả 400 năm, Hồ Quý Ly15 từng có bài thơ “Đáp Bắc nhân vấn An Nam phong tục” ( ) cũng đề cập đến văn hiến đất nước, có đoạn sau: 

Dục vấn An Nam sự, Muốn hỏi chuyện về nước Nam, An Nam phong tục thuần. An Nam phong tục ngày càng tốt lên. 

Y quan Đường chế độ, Như Đường áo mão trang nghiêm, 

Lễ nhạc Hán quân thần. 16 Tựa Hán lễ nhạc càng thêm chỉnh tề. 

Rõ ràng ở đây đã có sự tiếp nối của nguồn mạch tự tôn dân tộc bắt rễ từ truyền thống người Việt Nam. Việc khẳng định nhiều lần về chế độ chính trị, thể hiện lòng tự tôn dân tộc đã in đậm trong ý thức của triều Nguyễn.  

Chú thích:

15. Hồ Quý Ly (1336 - 1407) là vị vua lập ra nhà Hồ ở Việt Nam, tồn tại trong 7 năm (từ 1400 đến 1407) với quốc hiệu là Đại Ngu. 

16. Bài thơ do Hồ Quý Ly viết năm 1407. Khi bị bắt và giải qua Trung Quốc, quan nhà Minh có hỏi về phong tục của người Việt, ông trả lời bằng cách làm bài thơ này. Nguyên văn đầy đủ là: / / / / / / / (Dục vấn An Nam sự/ An Nam phong tục thuần/ Y quan Đường chế độ/ Lễ nhạc Hán quân thần/ Ngọc ủng khai tân tửu/ Kim đao chước tế lân/ Niên niên nhị tam nguyệt/ Đào lý nhất ban xuân). 

Một bài thơ có nội dung tương tự khắc trên điện Thái Hòa: Võ yển văn tu hội/ Hà thanh hải yến thì/ Y quan Chu chế độ/ Lễ nhạc Hán uy nghi ( / / / : Lúc triều hội ngưng việc võ, sửa sang việc văn/ Thời của sóng yên biển lặng/ Áo mão thì như chế độ của nhà Chu/ Lễ nhạc thì như uy nghi của nhà Hán, ĐTH). 

Y quan trong bối cảnh này sẽ lần lượt được lĩnh hội với ba bậc nghĩa: nghĩa bậc 1: áo mũ (nghĩa đen); nghĩa bậc 2: quan lại (nghĩa hoán dụ); nghĩa bậc 3: sự quy củ của chế độ (nghĩa ẩn dụ). Điều đó cho thấy, phương tiện hoán dụ và ẩn dụ dường như đã được đồng thời thực hiện, ý thơ trở nên giàu tính tượng trưng với những tầng bậc liên tưởng ngữ nghĩa, rất khó nắm bắt. 

Bên cạnh đó, hoán dụ theo phương thức biểu thị mối quan hệ giữa những con số cụ thể và con số tổng quát (hay còn gọi là cải số) cũng phổ biến trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Về cách dùng này, ở phần trước, chúng tôi đã có đề cập đến trong phần sử dụng nhiều con số. Ở đây, cũng xin nhấn mạnh thêm mấy điểm: 

- Cải số trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế được sử dụng như một phép chuyển nghĩa tượng trưng (nhất đường, tứ thời, ngũ bách, cửu trùng, cửu tiêu, thiên lý, vạn phương, vạn tính v.v...). Đó là những con số được gọi đích xác với các nghĩa chỉ số (một, bốn, năm, chín, mười ngàn, một ngàn) nhưng chúng không mang giá trị số cụ thể mà chỉ mang giá trị biểu trưng. 

- Cải số trong thơ trên kiến trúc được sử dụng có khi lại liên quan đến điển, mang tính ẩn dụ, dùng những con số liên quan đến điển, đến ngữ để chỉ về đối tượng được miêu tả, như ở các trường hợp bán thiên, ngũ bách, ngũ vân, cửu ngũ v.v... Ví dụ:

Ở trường hợp bán thiên (nửa ngàn) và ngũ bách (năm trăm), người xưa dùng từ này để chỉ về hiền tài. Chúng xuất hiện nhiều trong thơ ở điện Thái Hòa: Xương kỳ thuộc bán thiên ( : Thời kỳ tốt của hiền tài); Bán thiên khai thái vận ( : Hiền tài mở ra vận tốt); Ngũ bách phùng xương vận ( : Nhân tài gặp vận tốt); Ngũ bách khai xương vận ( : Nhân tài mở ra vận tốt) và ở Thế Miếu: Bán thiên tân cảnh mệnh ( : Hiền tài mệnh tươi sáng); Bán thiên khai cảnh vận ( : Hiền tài mở vận tốt); Bán thiên khai cảnh tượng ( : Hiền tài mở cảnh vận); Ngũ bách phùng xương vận ( : Hiền tài gặp được vận tốt); v.v... Tính lặp lại có hệ thống của khái niệm chỉ hiền tài như vậy như là cách để thời đại khẳng định đồng thời cũng là cách thể hiện ước mơ về sự hưng thịnh về "nguyên khí quốc gia" trên mọi chặng đường phát triển. Hai từ này liên quan đến điển tích trong sách Tân Đường thư ở mục Liệt Truyện 37 có kể về Vương Nghĩa Phương tán thưởng cho tài năng của Viên Dư Khánh, Nghĩa Phương có nhận xét về nhân vật này như sau: “Cứ phải 500 năm thì mới xuất hiện một hiền tài, ngươi đúng là người đó” [19, tr.57]. Do vậy, Viên Dư Khánh mới được đổi tên là Viên Bán Thiên (họ Viên, tên là ‘Nửa Ngàn’), mà nửa ngàn và năm trăm thì đều giống nhau. Nhân vật này cũng từng được đề cập trong sách Đại Nam thực lục của triều Nguyễn: “Viên Bán Thiên: Người danh sĩ thời Đường Cao Tông (650 - 683), đỗ cao, làm quan trải 5 đời vua.” [78, tr.351]. Nhận thức về những khó khăn trong buổi đầu thiết lập, triều Nguyễn đã tỏ rõ lòng tự hào vì có nhiều bậc hiền tài trong bộ máy nhà nước, đồng thời với lòng tự hào đó là những ước mơ luôn thu nạp, tuyển chọn người tài để giúp nước, điều này phù hợp với quy luật phát triển. Triều Nguyễn còn tự hào và khẳng định kinh đô Phú Xuân là nơi hội tụ nhân tài tại một câu đối trên trụ biểu của đình Thương Bạc: Vũ trụ thái hòa thiên, ngọc bạch y thường thử hội/ Kinh sư thủ thiện địa, thanh danh văn vật sở đô (Trời vũ trụ thái hòa, ấy lúc phồn hoa áo xiêm ngọc lụa/ Đất Kinh sư tốt đẹp, này nơi đô hội văn vật tài danh). Trong lịch sử, từ năm 1822 đến 1919, triều Nguyễn đã tổ chức 39 khoa thi Hội, lấy đỗ được 293 tiến sĩ (không kể phó bảng và tiến sĩ võ). Khái niệm về người hiền tài được nhắc rất nhiều lần trong thơ trên di tích cũng chính vì những lẽ đó. Triều Nguyễn cũng chứng tỏ vai trò của triều đại mình trong việc mở ra một kỷ nguyên mới trong sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Truyền thống khoa cử ở bậc tiến sĩ của Việt Nam trước triều Nguyễn đã kết thúc tại khoa thi Hội cuối cùng vào triều Lê - Trịnh (khoa thi năm 1787), đến 35 năm sau, năm 1822, triều Nguyễn mới tổ chức lại khoa thi Hội đầu tiên của triều đại mình, tiếp tục chấn hưng sự nghiệp đào tạo của Việt Nam vào thời bấy giờ. Ở trường hợp ngũ vân (mây ngũ sắc), người xưa dùng từ này để chỉ điềm lành: Thanh triệt ngũ vân đoan ( : Tiếng [nhạc] vang xa là đầu mối của điềm lành); Phiêu miễu ngũ vân đa ( : Thăm thẳm nhiều điềm lành); Phiêu miễu ngũ vân trung ( ): Thăm thẳm trong [trời] điềm lành); Đan phụng ngũ vân thư ( : Trên gác phụng điềm lành đã viết nên); Phiêu miễu ngũ vân phi ( : Thăm thẳm điềm lành bay). Tại các câu này, ngũ vân là một từ có nghĩa là điềm lành, nó liên quan đến điển tích trong thuyết sử Trung Quốc: khi vua Thuấn sắp nhường ngôi cho vua Vũ, cả triều thần đều đồng thanh hát khúc Khanh Vân ca ( ) với nội dung là: Khanh vân lạn hề/ Củ mạn mạn hề/ Nhật nguyệt quang hoa/ Đán phục đán hề ( / / / ): nghĩa là Mây đẹp xán lạn hề/ Quyện lại rồi lan hề/ trời, Trăng tươi sáng mãi/ Ngày lại ngày thế hề. Điển tích này gắn với việc chỉ điềm lành. Đó cũng là ước mơ của triều đại, cháy bỏng khát vọng hòa mục, trên dưới đồng tâm, trong ngoài đồng thuận để xây dựng cơ nghiệp, giữ vững cơ đồ. 

Ở trường hợp cửu ngũ (chín, năm), người xưa dùng từ này để chỉ ngôi vua, khẳng định sự chính thống của ngôi vị: Long phi càn cửu ngũ ( : Rồng bay trên trời [biểu thị cho] ngôi vua); Cửu ngũ ốc càn phù ( : Trên ngôi nắm điềm tốt của trời ban); Cửu ngũ lâm càn ngự ( : Trời soi xuống ngai vua ngự); Cửu ngũ đoan thần ngự ( : Trên ngôi vua ngự nghiêm trang); Cửu ngũ ứng long phi ( : Ngôi vua ứng với rồng bay). Ở các câu trên, cửu ngũ đều chỉ ngôi vua. Cửu ngũ là hào thứ năm của quẻ Kiền trong Dịch học, tượng trưng cho vua hoặc giai đoạn thành công của kẻ sĩ. Quẻ này lý giải về ngôi vua là Phi long tại thiên lợi kiến đại nhân ( 天利 : Rồng bay trên trời, ra mắt đại nhân thì có lợi). Hào Cửu ngũ ứng với mạng thiên tử, sánh với đức thánh nhân, ở vào vị trí tột đỉnh trong xã hội (cư tôn vị). Do vậy, nơi vua ngồi, nơi vua ở thường được gọi là cửu trùng, địa vị của vua gọi là cửu ngũ chi tôn (hoặc tôn cư cửu ngũ). Điều này rất sát hợp với thực tế ở không gian kiến trúc cung đình Huế, trên vị trí ngai vua có bửu tán với hình ảnh tiêu biểu là 9 con rồng được chạm lọng, thếp vàng rực rỡ, thể hiện uy quyền của bậc thánh nhân. 

Nhìn chung, hoán dụ trong ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế thể hiện những đặc điểm khá nổi bật như vừa dùng hoán dụ mang sắc thái của cách dùng ẩn dụ, vừa có tính chất hoán dụ vừa có tính chất tượng trưng, thậm chí có cả việc vận dụng điển tích. Có nhiều trường hợp rất khó để xác định một cách xác quyết nó thuộc cách sử dụng biện pháp nghệ thuật nào. Nhận thức đầy đủ như vậy, việc dịch thơ, chuyển nghĩa và chú giải sẽ được thực hiện một cách cẩn trọng, nhằm xác định đúng đắn ngữ nghĩa của nội dung nói đến cũng như giá trị nghệ thuật của chúng. 

4.3.3. Phong phú kiểu thức ẩn dụ 

Biện pháp ẩn dụ là lấy tên gọi biểu thị đối tượng này lâm thời dùng để biểu thị đối tượng kia dựa trên cơ sở về mối quan hệ liên tưởng về nét tương đồng giữa hai đối tượng. Đây cũng là một kiểu so sánh, nhưng trong đó vế so sánh không xuất hiện, chỉ xuất hiện vế được so sánh và cả hai vế đều không có mối liên hệ bản chất tất nhiên, nhưng phải có mối quan hệ thể hiện nghĩa logic trong liên hệ, nghĩa này là một ý ngầm nghệ thuật ở dạng tiềm năng mà đối tượng tiếp nhận có thể cảm nhận được. Ý ngầm nghệ thuật này được đối tượng tiếp nhận qua liên tưởng trên cơ sở của nhân tố văn cảnh, nhân tố hợp logic, nhân tố hợp thói quen thẩm mỹ. 

Biện pháp ẩn dụ sử dụng trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế có hai dạng điển hình là ẩn dụ hình ảnh (ẩn dụ bằng các hình ảnh liên tưởng) và ẩn dụ dẫn ngữ (dẫn điển tích, thành ngữ, thơ văn). 

4.3.3.1. Ẩn dụ hình ảnh 

- Ẩn dụ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế được biểu hiện rất tinh tế, khó phát hiện. Dưới đây là một ẩn dụ hình tượng thể hiện sự khái quát, sự khẳng định về một chế độ mới được thiết lập. Chúng ta thử hình dung qua bài thơ sau: Vân tế huyền sơ thướng/ Ảnh tà thể vị viên/ Hà tu tam ngũ dạ/ Dĩ chiếu mãn sơn xuyên ( / / / 滿 : Ven mây [trăng] treo lơ lửng/ Bóng xế, hình thể chưa tròn/ Há chi đêm mồng ba hay mồng năm/ Cũng [có thể] chiếu sáng khắp núi sông, NM). Bài thơ là một cấu trúc hình tượng nhiều tầng bậc: viết về ánh trăng, nhưng không có một từ nào định danh về trăng, chỉ có những hình ảnh miêu tả không gian tồn tại (ven mây), miêu tả hình dáng (chưa tròn), miêu tả thời gian tồn tại (đêm mồng ba, mồng bốn), miêu tả về khả năng (có thể chiếu khắp núi sông) là những phép hoán dụ trong liên hệ giữa chủ thể (trăng) và những thuộc tính bên ngoài, bên trong của nó. Liên tưởng từ toàn bộ nội dung văn cảnh, chúng ta có thể thấy ánh trăng ở bài thơ là ẩn dụ cho triều đại. Ánh trăng non (lơ lửng, bóng xế, chưa tròn, mọc trong đêm mồng ba, mồng bốn) thì có gì liên quan đến triều đại, việc liên tưởng nghĩa lôgic ở đây không xuất phát từ thói quen thẩm mỹ (ánh trăng thường tượng trưng cho cái đẹp, cho người đẹp), ánh trăng trong bài thơ này phải được tiếp nhận theo một hướng khác, đặt nó trong nhân tố văn cảnh “cũng chiếu khắp núi sông”. Chúng ta có thể hình dung các hình ảnh liên tưởng như sau: Ánh trăng: triều đại; chưa tròn: mới thiết lập, chưa ổn định; sá chi mồng ba mồng năm: không cần nhiều thời gian; có khả năng chiếu sáng: đã thống nhất chế độ, khả năng sẽ điều hành xã hội tốt hơn. Liên tưởng này xuất phát từ hai hiện tượng gần giống về tính chất trong tự nhiên và xã hội. Đó là một ẩn dụ khá tinh tế, trước hết nó thể hiện tính triết lý về tự nhiên, về con người, và sau đó nó trở thành dấu hiệu hàm chỉ sự dự báo, sự thông báo về tiềm năng tốt đẹp của một triều đại. Ánh trăng của đêm mồng ba, mồng năm ấy đã ẩn dụ cho một triều đại mới mặc dù chưa ổn định, nhưng đã tự khẳng định mình với cách nhìn khá tự tin. 

- Ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế thường được sử dụng phương thức ẩn dụ qua những hình ảnh được sử dụng nhiều lần, do đó, các hình ảnh này trong thơ ở đây có tính tượng trưng khá cao. Có thể thấy điều này qua hoạt động của các tổ hợp như đại địa, tứ thời, tứ hải, xuân phong, v.v... Cụ thể là:

Dùng hình ảnh đại địa (đất rộng) để ẩn dụ cho sự thống nhất về lãnh thổ, hình ảnh này xuất hiện trong nhiều bài ở điện Thái Hòa: Đại địa chung linh huống ( : Đất lớn ban cho hun đúc linh khí), Đại địa chung linh khí ( : Đất lớn ban cho un đúc linh khí), Sơn hà chung đại địa ( : Linh khí núi sông tụ nên đất rộng), Đại địa bồi cơ chỉ ( : Đất lớn bồi thêm nền móng); ở lăng Thiệu Trị: Đại địa minh hy trứ thái đàm ( : Đất rộng trời trong, đầm rộng sáng rực); ở Thế Miếu: Đại địa chung anh/ Phúc ấm khổng trường ( / : Đất lớn hun đúc khí lành/ Phúc ấm sinh sôi mãi mãi); ở điện Long An: Đại địa tịnh trần hiệu ( : Đất lớn sạch bụi trần huyên náo), v.v... 

Kế tiếp nền móng chính trị của triều Tây Sơn, triều Nguyễn với vị vua đầu triều là Gia Long đã có công rất lớn trong việc thống nhất đất nước vào thời bấy giờ, từ đây giang sơn thu về một cõi. Việc khai hoang mở đất đã kéo dài liên tục vào nhiều đời sau nữa. Triều Nguyễn rất tự hào về điều này, trên kiến trúc cung điện, nhiều bài thơ đã xuất hiện hai chữ đại địa (đất rộng, đất lớn) có lẽ cũng vì lẽ đó. 

Dùng hình ảnh xuân phong (gió xuân) để ẩn dụ cho sự tốt đẹp của xã hội, cho sức sống của một triều đại mới, hình ảnh này xuất hiện trong các trường hợp như: Xuân phong điều ngọc vũ ( 調 : Gió xuân điều hòa điện ngọc); Kim điện xuân phong chuyển ( 殿 : Trên điện vàng, gió xuân đang chuyển tới); Vô nhật bất xuân phong ( : Không ngày nào là không có gió xuân); Xuân phong lai hợp điện ( 殿: Gió mùa xuân chan chứa chốn cung điện); Xuân phong mãn đế đô ( 滿 : Gió xuân tràn ngập khắp kinh đô), v.v... Truyền thống thẩm mỹ chung luôn xem mùa xuân biểu hiện cho sức sống mới. Trong tập quán tư duy của người phương đông, nhất là trong văn chương, mùa xuân đại diện cho sức trẻ, cho khí thế, cho dự báo tốt đẹp. Các trường hợp gió xuân ở trên không chỉ ẩn dụ về muôn điều tốt đẹp về thời tiết, mà còn ẩn dụ về bình minh triều đại với sinh khí mới, nó có khả năng ước lệ hóa rất cao. Ẩn dụ ở đây mang cách nghĩ mới về đối tượng, nó có thể phát hiện bản chất ẩn giấu của đối tượng. Ẩn dụ này còn “tiềm tàng” một sức mạnh biểu hiện nếu xét từ góc độ gắn với những quan niệm âm dương, ngũ hành trong văn hóa nhận thức của người Việt bấy giờ. 

Dùng hình ảnh Lễ nhạc (cùng với Y quan như đã phân tích) để khái quát "phạm trù" văn hiến của đất nước. Trong hoàn cảnh tri thức Nho gia gắn cùng các quan niệm về chuẩn mực xã hội, thì văn hiến một quốc gia được nhận thức là một khái niệm bao quát qua các mặt như Phong tục; Chế độ y quan17; Chế độ lễ nhạc18 và Ngôn ngữ 19. Bởi vậy, lễ nhạc có bao hàm được một phần bản chất văn hiến của một quốc gia. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế thường nhắc đến sự quy củ của lễ nhạc gắn với các điển tích (lễ nhạc 18 lần, nhạc 38 lần), khẳng định sự ổn định, hưng vượng của triều đại: Nhất đường Chu lễ nhạc/ Tứ tái Hán sơn hà ( / : Lễ nhạc triều đình như thời Chu/ Sông núi bốn phương tựa thời Hán); Văn vật thanh danh địa/ Y quan lễ nhạc đình ( / : Đất văn vật có tiếng/ Áo mũ, lễ nhạc tràn ngập cả sân chầu).

Chú thích:

17. Vào năm Vĩnh Bình thứ 2, thời Đông Hán (TQ), Hán Minh Đế dựa theo tư tưởng truyền thống của Nho gia, chính thức chế định ra chế độ y quan. Chế độ y quan bấy giờ gồm tế phục và triều phục, cụ thể như: quan miện, y thường, hài lí, bội thụ v.v... mỗi loại đều có sự phân biệt đẳng cấp, phản ánh tôn ti, trật tự. Đây là sự khởi đầu chế độ y quan trong học thuyết Nho gia được thực hiện và kế thừa qua nhiều thế hệ. 

18. Chu Công (thời Chu, TQ) đã xác lập đẳng cấp trong xã hội gồm: thiên tử - chư hầu - khanh, đại phu - sĩ. Ông định ra lễ nghi và nhạc trong triều đình. Ông đề ra các định chế và những quy định nhằm làm cho quan hệ đẳng cấp có tôn ti trật tự, bảo đảm ổn định xã hội. Nhất là quy định chặt chẽ về nhạc dùng và điệu múa ở các tính chất khác nhau như lễ hội, tiệc yến, hôn lễ, tang ma v.v... đều phải có sự phân biệt. Đặc biệt, chế độ lễ nhạc mà Chu Công soạn ra tương đối hoàn chỉnh, giúp cho xã hội ổn định trật tự và phát triển, mà các triều đại sau đều xem là mẫu mực. 

19. Về sau cũng có quan niệm văn hiến gồm phong tục, chế độ y quan, chế độ lễ nhạc, ngôn ngữ và nhân tài. 

Điều này khẳng định sự quan trọng trong việc đặt lễ nhạc như một thiết chế văn hóa có tính nghi thức hành chính của nhà Nguyễn. Vào nửa đầu thế kỷ XIX, với các điều kiện thuận lợi, âm nhạc cung đình phát triển rất cao. Triều Nguyễn quy định 7 thể loại âm nhạc, bao gồm: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đại triều nhạc, Thường triều nhạc, Yến nhạc, Cung trung nhạc. Lễ nhạc được dùng trong các lễ tế đại triều 2 lần/ tháng, thường triều 4 lần/ tháng như Tế giao, Tịch điền, sinh nhật vua và hoàng hậu. Ngoài ra, lễ nhạc còn sử dụng vào các dịp lễ như lễ Đăng quang, Lễ tang của vua và hoàng hậu, đón tiếp sứ thần. Tùy theo từng cuộc tế lễ mà có các thể loại khác nhau, như Đại nhạc dùng trong lễ Nguyên đán, Ban sóc v.v...; Tiểu nhạc dùng trong mừng thọ, chúc thọ, tiếp đãi sứ thần v.v...; Cung trung nhạc biểu diễn trong cung hoàng thái hậu và thái hoàng thái hậu, v.v...; Miếu nhạc sử dụng tại các nơi thờ vua, chúa Ngũ tự nhạc dùng trong tế Xã tắc, Tiên nông, v.v... Trên tất cả là niềm tự hào của triều Nguyễn về lễ nhạc, từ quy mô đến sự hoàn chỉnh của nó trong cái nhìn đối sánh với quan niệm về điển chế ổn định đã được xem là mẫu mực của lý tưởng Nho gia: Lễ nhạc long Tam đại/ Dần cung hiệp nhất đường ( / : Lễ nhạc thịnh trị như thời Tam đại/ Sự uy nghiêm hòa hợp cả triều đình); Lễ nhạc siêu Tam đại/ Thông minh khuếch tứ môn ( / : Lễ nhạc vượt cả thời Tam đại/ Sự thông minh mở rộng ra đến bốn phía). Đặc biệt, câu thơ Lễ nhạc siêu Tam đại (Lễ nhạc vượt cả thời Tam đại) đã khẳng định một niềm tự tôn vượt bậc. Thời Tam đại với ba triều vua Trung Quốc ứng với nhà Hạ, Thương, Chu có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp, bày điển chương lễ nhạc một cách quy củ để khẳng định sự hưng thịnh của triều đại. Nhưng đến triều Nguyễn, các vị vua Việt Nam đã tự tin lẫn tự hào để khẳng định sự vượt trội về lễ nhạc của mình, đó là những niềm tự hào tột bậc của của triều đình đối với cơ đồ sự nghiệp, đối với giang sơn xã tắc, là cơ sở để hình thành nên những lối khoa trương như vậy. 

Ngoài ra, nhiều hình ảnh tương tự (chúng tôi đã phân tích ở phần trước) cũng tạo nên một hệ thống khá đặc biệt như: dùng hình ảnh tứ thời (bốn mùa) để ẩn dụ cho sự ổn định về tự nhiên; dùng hình ảnh tứ hải (bốn biển) để ẩn dụ cho sự đoàn kết, đồng lòng của con người trong xã hội; dùng hình ảnh cửu thiên, cửu châu, cửu tiêu, cửu trùng để ẩn dụ cho sự uy nghi cùng sứ mệnh của thiên tử cai trị thiên hạ; v.v... 

Các kiểu ẩn dụ hình ảnh trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã được ý thức sử dụng như một hệ thống, có tính trùng lặp, thể hiện một quan niệm chung trong nhận thức thẩm mỹ của triều đại. 

4.3.3.2. Ẩn dụ dẫn ngữ 

Dẫn ngữ cũng là một phương thức thuộc biện pháp ẩn dụ, thực chất đó là việc vay mượn điển tích, thành ngữ, tục ngữ, các câu thơ, ý văn có giá trị tiêu biểu để làm cho nội dung diễn đạt thêm phần sinh động và biểu cảm, nó có thể gợi hàm ngôn, thể hiện năng lực diễn đạt của chủ thể sáng tạo. 

Trong dẫn ngữ, thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã tạo nên ba nhóm chủ yếu: dẫn ngữ điển tích, dẫn ngữ thành ngữ và dẫn ngữ thơ văn. 

- Dẫn ngữ điển tích: Ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế thường được sử dụng phương thức ẩn dụ qua điển tích với nhiều lần trùng lặp, do đó, các điển tích này trong thơ ở đây có tính tượng trưng khá cao, chúng có tính ẩn dụ và tỉ dụ. Sử dụng điển tích là một trong những đặc trưng của văn chương viết bằng chữ Hán. Đó là cách dùng tên các nhân vật, sự kiện, truyền thuyết lịch sử, địa danh; dùng các câu trong kinh sách, v.v... để vận dụng liên tưởng ngữ nghĩa ở một bối cảnh ngôn ngữ nhất định. 

Ngôn ngữ thơ trên kiến trúc sử dụng nhiều điển tích. Có điển tích lại sử dụng nhiều lần ở những bối cảnh gần nhau, giống nhau (như Tam đại, Nghiêu, Thuấn, Hán, Chu, Vũ, Hạ, Thang v.v). Các điển tích được sử dụng thường hướng đối tượng được nói đến trong sự liên tưởng, so sánh với những nét nghĩa tích cực. Chúng ta có thể kiểm chứng điều này qua một số ví dụ sau: 

+ Điển tích Tam đại (ba đời): Lễ Nhạc siêu Tam đại ( : Lễ nhạc vượt cả thời Tam đại); Phụng lịch minh tam thống ( : Cảnh thái bình tươi sáng như thời Tam đại); Lễ nhạc long Tam đại ( : Lễ nhạc đầy đủ như thời Tam đại). Tam đại là ba đời vua Trung Quốc (Hạ, Thương, Chu), có nhiều truyền thống văn hóa tốt đẹp ứng với ba đời vua Trung Quốc là vua Hạ, vua Thang và vua Văn Võ vương). Ở đây, điển tích Tam đại là ẩn dụ so sánh với những truyền thống văn hóa tốt đẹp. 

+ Điển tích Nghiêu Thuấn (vua Nghiêu, vua Thuấn) xuất hiện trong thơ ở nhiều kiến trúc: cả hai điển này được sử dụng đến 66 lần. Điển được sử dụng linh hoạt, tránh sự nhàm chán khi nhắc đến đối tượng so sánh: Điển về vua Thuấn thì gắn với “những cái sở thuộc” của vua Thuấn như thềm, nhạc, ngày, điện, đàn sắt, đàn cầm; tương tự điển về vua Nghiêu cũng gắn “những cái sở thuộc” của vua Nghiêu như đường, cỏ, kinh đô, thềm, lông mi, bậc thềm, cung điện v.v... 

Xét về tính chất  trong ẩn dụ của điển tích, thì nghĩa hàm ẩn mang lại trong các trường hợp này là tương tự nhau, nhưng xét về cách sử dụng thì hình thức của nó tránh được sự nhàm chán, khô khan. Chẳng hạn: Hóa nhật quang Nghiêu điện/ Huân phong độ Thuấn cầm ( / : Mặt trời làm sáng ngôi điện của vua Nghiêu/ Khúc Nam Phong đã đưa tiếng đàn cầm của vua Thuấn); Đại đạo đăng Nghiêu Thuấn/ Tân phong quảng Lạc Hùng ( / : Đạo lớn theo mô hình thời Nghiêu Thuấn/ Chế độ mới mở rộng quy mô Hùng Vương); Cửu cù ca Thuấn đán/ Tứ hải vọng Nghiêu vân ( / : Chín nẻo ca ngợi ngày của vua Thuấn/ Bốn biển ngắm cảnh mây của vua Nghiêu) v.v... 

Tuy toàn bộ điển tích Nghiêu - Thuấn chỉ mang tính chất thuyết sử (như chúng tôi đã phân tích ở phần không gian, thời gian nghệ thuật), không phải là chính sử nhưng nó đã trở thành một hình ảnh có ý nghĩa tượng trưng cao trong văn chương trung đại Việt Nam. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế thường dùng điển này với ngụ ý nước Nam sẽ có một nền chính trị tốt đẹp như thời Nghiêu Thuấn, đó cũng là những lời tuyên bố về đường lối chính sách của triều Nguyễn. 

Ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm súc, nên xu hướng rút gọn các điển tích, rút gọn ngữ diễn ra như một quy luật. Nhiều điển tích đã bị rút gọn chỉ còn lõi nòng cốt. 

+ Điển tích Xa thư (xe, sách): được sử dụng 11 lần và 5 lần đồng dạng khác ở trường hợp Tam đồng (3 sự cùng như), Tam thống (3 sự thống nhất) để chỉ về sự thống nhất lãnh thổ và chế độ chính trị. Đây là một điển được dùng khá đặc biệt với tính chất rút gọn, tinh giảm chữ, chỉ giữ lại “lõi trung tâm”: 

Có 11 lần rút gọn chỉ còn trung tâm là danh từ (xa đồng quỹ, thư đồng văn, hạnh đồng luân) chỉ còn xa thư. Điển này xuất hiện tập trung ở điện Thái Hòa và Thế Miếu, ví như: Xa thư vạn lý tân ( : Nay thống nhất muôn dặm, ĐTH); Xa thư vạn lý thông ( : Thống nhất thông suốt muôn dặm, ĐTH); Xa thư cộng nhất gia ( : Thống nhất cùng một nhà, ĐTH); Xa thư quy nhất thống ( : Thống nhất quy về một mối, ĐTH); Xa thư cộng đạo ( : Thống nhất cùng một con đường, Th.M); Nhất thống hỗn xa thư ( : Thống nhất theo một hệ thống, Th.M); Vạn lí xa thư quy bản tịch ( : Thống nhất muôn dặm quy về trên bản đồ, Th.M), v.v... 

Có 01 lần rút gọn chỉ còn trung tâm là thành phần vị ngữ chung và bổ ngữ (xa đồng quỹ, thư đồng văn) chỉ còn đồng văn quỹ: Tứ hải đồng văn quỹ ( : Bốn biển đã cùng thống nhất, ĐTH). Bên cạnh đó, cũng là chỉ sự thống nhất với bản chất của "xa thư" như đã nói, nhưng cách dùng được thay đổi linh hoạt hơn với sự chuyển khái niệm thành "tam đồng" (đồng văn, đồng quỹ, đồng luân) và thành "tam thống" trong 5 lần (bánh xe thống nhất cỡ, chữ thống nhất kiểu, đạo đức thống nhất), ví như: Tam đồng phủ thái hanh ( ; Thống nhất giữ sự phát triển hanh thông, ĐTH); Tam đồng hỗn quỹ văn ( : Thống nhất mọi thứ như trục xe và văn tự, Th.M); Bạc hải khánh tam đồng ( 海慶 : Bốn bể vui thống nhất, Th.M); Quỹ thiên đại kỷ minh tam thống ( : Suy xét đại nghiệp mà làm sáng tỏ sự thống nhất, LMM); Phụng lịch minh tam thống ( : Lịch số rõ sự thống nhất, ĐTH), v.v... 

Xa thư vốn có nghĩa đen là xe và sách, nhưng nghĩa tiềm ẩn lại chỉ sự thống nhất. Trong sách Sử Ký, ở thiên Thủy Hoàng bản kỷ, có đề cập đến việc vua Tần Thủy Hoàng (236-208 TCN) đã quy định thống nhất cho tất cả các mẫu mã, kích cỡ của các vật dụng đo lường cũng như nhiều thể thức mang tính hành chính khác. Vị vua Tần này cho rằng, muốn đất nước phát triển bền vững thì một trong những vấn đề mấu chốt là: Kim thiên hạ, xa đồng quỹ, thư đồng văn, hạnh đồng luân ( / / / ) có nghĩa là, nay trong thiên hạ, xe cùng một cỡ trục, sách cùng một loại chữ, đức hạnh cùng một khuôn phép. Ba điểm mấu chốt đo đã khái quát nên sự thống nhất của xã hội với hàm ý thống nhất vật chất (xa đồng quỹ), thống nhất về văn tự, tư tưởng (thư đồng văn) và thống nhất về quan niệm đạo đức, luật pháp (hạnh đồng luân). Do vậy có thể hiểu xa thư chính là sự thống nhất đất nước về mọi mặt, từ vật chất đến tinh thần, từ tư tưởng đến hành động. Trong Thiên Nam ngữ lục có câu: “Phong trần bốn bể vỗ an/ Xa thư một mối giang sơn vẹn toàn” ( / ). Tóm gọn trong hai chữ xa thư (cũng như tam đồng, tam thống) triều Nguyễn đã nói lên lòng tự hào về công cuộc thống nhất và điều hành đất nước của mình. 

Việc dùng điển tích trong thơ ở đây rất thích hợp với tính chất của loại thơ suy lý, chúng làm cho câu thơ trở nên gọn gàng, kiệm ngôn mà đa ý, nhưng cũng có lúc tính “kiệm ngôn” cũng đã làm cho nội dung trở nên xa xôi, dễ bị nhầm lẫn, ngộ nhận. Ví dụ: Tinh văn quýnh tử thần ( : Vẻ đẹp của các vì sao soi tỏ hoàng cung); Y quan bái tử thần ( : Mũ mão chỉnh tề chầu lạy hoàng cung); Triêu tịch yến thần cư ( : Sớm chiều én bay lượn trong hoàng cung); Phong thần thụy khí phù ( : Hoàng cung đã nổi lên khí lành); Ly minh diệu tử thần ( 耀 : Ánh sáng phương nam soi sáng trong hoàng cung). Nếu chỉ nắm được nghĩa (phong: cây phong có lá sắc đỏ về mùa thu, tử: màu tía, tím hơi ngả đỏ, thần: cái nhà thâm kín) mà không rõ về điển thì rất dễ ngộ nhận về nghĩa của các tổ hợp Phong thần, Tử thần. Thực ra, các từ Phong thần, Tử thần (cũng có khi dùng là Đan thần) đều có nghĩa giống nhau. Đây cũng là một trường hợp về đồng nghĩa từ vựng, dùng nhiều từ để chỉ về một đối tượng. Chúng liên quan đến điển tích đời nhà Hán trong cung vua có trồng nhiều cây phong lá đỏ, nên người xưa mượn sắc đỏ kết hợp với tính chất của ngôi nhà thâm kín để ngụ ý là cung vua, hoàng cung, chốn thâm cung. Mặt khác, Tử thần ở trên cũng liên quan đến "cái màu đỏ" trong Tử Vi viên ( ) thuộc nhóm sao trong thiên văn cổ, phân bố xung quanh cực bắc và nhóm sao Bắc đẩu. Tử Vi Viên được xem như là nơi ở của Thần mặt trời. Do đó các hoàng đế khi xây cất cung điện đã gọi nơi ở của mình và gia quyến là Tử Cấm Thành. 

Hoặc ở một số trường hợp khác như: Thú vũ phụng lai nghi ( : Muôn thú nhảy múa, phụng hoàng bay lại uy nghi): Nhạc tấu phụng hoàng nghi ( : Nhạc tấu lên, chim phụng chim hoàng uy nghi); Tiêu quản phụng hoàng lai ( : Tiếng tiêu thổi lên, chim phụng hoàng tụ tập đến). Ở đây, nếu đơn giản, chúng ta sẽ lĩnh hội được nội dung là, các câu thơ trên miêu tả quang cảnh của một buổi Đại triều hoặc Thường triều trong Hoàng Thành, trong các lễ này thường cử hành lễ nhạc. Chim phượng, chim hoàng ở đây lại là những con vật không thực tế, nó là các chi tiết trang trí ở bờ nóc các ngôi điện như điện Cần Chánh, điện Thái Hòa. Trong các câu thơ, khi lễ nhạc tấu lên, trạng thái của những com chim này cũng trở nên uy nghi là một cách ẩn dụ rất tinh tế cho cảnh uy nghi của một triều đại. Nhưng thực ra, đây là một điển tích. Trong Kinh Thư ở thiên Ích Tắc có đoạn: Tiêu thiều cửu thành, phụng hoàng lai nghi ( / : Sáo thổi khúc tiêu thiều cửu thành, chim phụng hoàng tụ tập đến nghiêm trang). Tiêu thiều là một nhạc khí và là tên một nhạc chương của vua Thuấn. Nhạc chương này có 9 lần thay đổi tiết tấu, mỗi tiết tấu gọi là một thành, do vậy nên còn gọi là cửu thành, đây là một loại lễ nhạc dùng trong nghi lễ liên quan đến việc cúng tế trời, cầu mong mưa hòa gió thuận, nước an dân ổn. Hơn nữa, trong quan niệm của Đông phương, chim phụng hoàng xuất hiện sẽ báo điềm lành, thiên hạ thái bình. Do vậy, các tổ hợp được tinh giảm trên (phụng lai nghi, phụng hoàng lai, phụng hoàng nghi) đều có liên quan đến điển tích này, hàm ngôn của chúng là triều đại thái hòa, đất nước thanh bình, muôn dân no ấm. 

Việc vận dụng những điển tích ở đây dựa trên tiền đề là giữa chủ thể sáng tạo và đối tượng tiếp nhận có sự hiểu nhau, mà sự hiểu nhau này lại dựa vào một số quan điểm chung. Sự vận dụng điển tích trong thơ ở đây còn giúp cho chúng ta tìm hiểu quan niệm lịch sử và quan niệm về thế giới của triều Nguyễn nói riêng cũng như của cả giai đoạn trung đại nói chung. 

- Dẫn ngữ thành ngữ: Ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế còn được sử dụng phương thức ẩn dụ qua việc trưng dẫn những thành ngữ với đặc điểm là rút gọn đến mức tối đa, nhằm phù hợp với đặc tính ngắn gọn của thể thơ. Do vậy, nội dung diễn đạt mang hàm ngôn rất kín đáo, rất khó để nắm bắt. Một thành ngữ vốn nguyên dạng là một câu, trong thơ ở đây chỉ xuất hiện cao nhất là ba chữ, hai chữ thậm chí có trường hợp chỉ còn lại một chữ! Điều này gây không ít khó khăn cho việc lĩnh hội bản chất nội dung của thơ ca. Từ việc rút gọn với nhiều mức độ khác nhau này, chúng ta cũng có thể hình dung được cái khó trong việc dịch thuật thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Điển hình như: 

+ Xa thư vạn lý đồ ( : Thống nhất cơ đồ muôn dặm). Đây là một câu gồm 1 điển tích và 1 thành ngữ (đều được rút gọn). Tổ hợp Xa thư là một điển (như đã trình bày); tổ hợp Vạn lý đồ rút gọn từ thành ngữ Vạn lý trường đồ ( : cơ đồ dài muôn dặm, để chỉ sự thống nhất lãnh thổ). 

+ Long hổ trùng trùng củng ( : Thế long hổ điệp điệp chầu về). Tổ hợp Long hổ rút gọn từ thành ngữ Long bàn hổ cứ ( : Thế đất rồng chầu hổ phục, để chỉ thế đất tốt, có đủ yếu tố phong thủy của Kinh đô.
+ Tam vô hoằng phú tái ( : “Ba điều không” mở rộng sự chở che). Câu này có 2 thành ngữ rút gọn. Tổ hợp Tam vô là 1 thành ngữ rút gọn, rút gọn từ câu tam vô tư : thiên vô tư phú, địa vô tư tái, nhật nguyệt vô tư chiếu ( : : Ba điều không riêng: trời không che riêng ai, đất không chở riêng ai, mặt trời mặt trăng không sáng cho riêng ai). Tổ hợp Phú tái rút gọn từ thành ngữ Thiên phú địa tái ( : Trời che đất chở). Các thành ngữ này được hàm ngôn là triều đình có một chế độ chính trị tốt đẹp, không thiên vị, thực thi công bằng xã hội và mọi thần dân đều có quyền được hưởng ân trạch của nhà vua. 

+Vạn thặng ngưỡng di tôn ( : Nhà vua ngẩng lên trông thấy càng tôn kính). Câu này có 1 điển tích và 1 thành ngữ rút gọn. Tổ hợp Vạn thặng là điển tích liên quan đến nhà Chu. Theo lịch sử Trung Quốc, chế độ nhà Chu, thiên tử thì có muôn cổ binh xa (vạn thặng), cho nên xưa gọi thiên tử là vạn thặng. Tổ hợp Ngưỡng di rút gọn của thành ngữ Ngưỡng chi di cao ( : Ngửa lên trông thấy càng cao). Sau đó lại được dùng “phép thế” để tạo nghĩa mới: Ngưỡng di tôn ( : Ngửa lên trông thấy càng tôn kính). Thành ngữ này được sử dụng nhằm miêu tả tính chất “cửu ngũ chi tôn” của ngôi thiên tử khẳng định địa vị tột đỉnh trong xã hội của nhà vua. 

+ Nhật nhật tân Thang đức/ Tư tư khắc Thuấn cần ( / : Ngày ngày khắc phục bản thân để theo đức của vua Thang/ Chăm chú sửa mình để theo sự chuyên cần của vua Thuấn). Đây là trường hợp ngữ được rút gọn một cách tối đa. Hai câu này có 2 điển (vua Thang, vua Thuấn) và 2 ngữ rút gọn. Chữ Tân vừa là rút gọn từ thành ngữ Cải quá tự tân ( : Đổi cũ để tự làm mới); vừa là điển tích liên quan đến câu nói khắc trong chậu tắm của vua Thành Thang: Cẩu nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân ( : Nếu ngày nay đổi mới, thì ngày ngày sẽ mới, càng ngày lại càng mới). Chữ Khắc rút gọn từ thành ngữ Khắc kỷ phục lễ ( : Khắc phục bản thân để theo điều lễ). Các thành ngữ này được sử dụng để nói đến việc nhà vua chăm chỉ tu thân để tề gia, trị quốc, mong muốn xây dựng chế độ với những kỷ cương ngày càng tốt đẹp. Việc sử dụng phương tiện dẫn ngữ đã làm cho nội dung diễn đạt thêm hàm súc, giàu hình tượng, tạo ra được hiệu quả thẩm mỹ trong diễn đạt, làm bật lên được nội dung tư tưởng. 

- Dẫn ngữ thơ văn, sách vở: Ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế còn được sử dụng phương thức ẩn dụ qua việc mượn những câu thơ, ý thơ, các câu trong kinh sách để diễn đạt nội dung. Nội dung trong quá trình tiếp nhận sẽ được lĩnh hội thông qua việc liên tưởng đến những “tiền giả định” là những câu thơ, đoạn văn đã biết. Chẳng hạn như: 

+ Yêu đào hồng chước chước ( : Cây đào mơn mởn hồng rực rỡ, ĐTH). Trong Kinh Thi có bài Đào yêu ( ) như sau: Đào chi yêu yêu/ Chước chước kỳ hoa/ Chi tử vu quy/ Nghi kỳ thất gia ( / / / : Nhánh đào mơn mởn/ Rực rỡ muôn hoa/ Theo chàng về nhà/ Yên bề gia thất). Dẫn hai chữ này, ý thơ muốn chỉ về sự tốt đẹp trong cuộc sống, sự hòa hợp âm dương trong vạn vật. 

+ Đông ly hiểu lộ lung ( : Bờ rào phía đông sương sớm phủ dày, ĐTH). Hai chữ đông ly xuất phát từ câu thơ của Đào Tiềm: Thái cúc đông ly hạ, du nhiên kiến Nam sơn ( : Hái hoa cúc tại hàng rào đông/ Bỗng nhiên vụt thấy núi Nam), ở đây ý của câu thơ trong ngữ cảnh là ca ngợi, tự hào về non sông, gấm vóc, cái đẹp vụt lên trong ngỡ ngàng. 

+ Lưỡng tương nhân trí nhạo ( : Hai bậc nhân và trí cùng lấy đó làm thích, ĐTH). Ba chữ nhân trí nhạo xuất phát từ một câu trong thiên Ung Dã của sách Luận Ngữ: Trí giả nhạo thủy, nhân giả nhạo sơn ( : Người trí dũng ưa thích nước, người nhân nghĩa ưa thích núi). Chu Hy chú câu này là: “Người trí đạt sự lý thông suốt mọi lẽ không bị đình trệ, giống thể của nước, cho nên ưa thích nước. Người nhân ổn định nghĩa lý, trước sau không thay đổi, giống đức của núi, cho nên ưa thích núi”. Sau này, vua Thiệu Trị cũng từng có câu thơ trong bài Tịnh hồ hạ hứng (Cảm hứng ngày hè ở hồ Tịnh Tâm): "Y nhiên nhân trí tình vô hạn ( : Quang cảnh ở đây hợp với tình cảm của người nhân và người trí) [3, tr. 85]. 

Dẫn ngữ này trong ngữ cảnh bài thơ để bày tỏ lòng tự hào về núi sông tươi đẹp, con người sống chan hòa với thiên nhiên, cây cỏ, đất nước thanh bình. 

+ Cửu hữu ngưỡng nghi hình ( : “chín điều có” ngẩng lên làm khuôn mẫu, ĐTH). Cửu hữu ở đây đây chính là cửu tư ( : Chín điều phải lo nghĩ. Hai chữ này mượn từ một câu trong sách Luận ngữ: “Quân tử hữu cửu tư: thị tư minh, thính tư thông, sắc tư ôn, mạo tư cung, ngôn tư trung, sự tư kính, nghi tư vấn, phẫn tư nạn, kiến đắc tư nghĩa (君子有九思:視思明,聽思聰,色思溫,貌思恭,言思忠,事思敬,疑思 ,忿思難,見得思義: Người quân tử có chín điều lo nghĩ: khi nhìn thì lưu ý để minh bạch, khi nghe thì lưu tâm để nghe cho rõ, sắc mặt thì luôn giữ ôn hòa, diện mạo thì giữ cho đoan trang, khi nói thì giữ cho trung thực, khi làm thì giữ cho kính cẩn, có điều nghi hoặc thì hỏi cho rõ, khi giận thì nghĩ tới hậu quả, thấy mối lợi thì nghĩ đến nhân nghĩa). Mượn điển này để chỉ về việc “tu thân, trị quốc” của nhà vua, phải luôn lo lắng tu dưỡng bản thân, công bằng, phân minh trước mọi cảnh huống khi điều hành quốc sự. 

+ Minh đức nhật duy tân ( : Đức sáng ngày càng duy trì cái mới, TM). Hai từ Minh đức, duy tân ở đây mượn từ sách Đại học: Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện (Cái đạo của Đại học ở chỗ làm sáng cái đức sáng, ở chỗ thân thiện với dân, ở chỗ đạt đến cái thiện). Ý thơ ở đây là chỉ về sự tu dưỡng, rèn luyện của nhà vua, ngày không ngừng đổi mới để hoàn thiện bản thân nhằm đạt đến “cái đức”, “cái đạo”, “cái thiện”, nói chung là những điều tốt đẹp trong hành xử với con người, trong điều hành xã hội. 

Những kiểu dẫn ngữ thơ văn tương tự ở thơ trên kiến trúc cung đình Huế là phổ biến, chúng được sử dụng đan xen, hòa trộn rất linh hoạt. Trong chừng mực giới hạn, chúng tôi chỉ trình bày vấn đề này qua một vài dẫn chứng có tính tượng trưng mà thôi. 

4.3.4. Đối lập sóng đôi cú pháp 

Các thể văn chương xưa đều chú trọng lối văn biền ngẫu, đây là thể văn có cấu trúc ngữ pháp cân đối, nhịp nhàng giữa các câu chữ. Biền () vốn có nghĩa ban đầu là hai con ngựa sóng đôi, ngẫu () là cặp đôi, sóng đôi. Người xưa dùng tổ hợp biền ngẫu để chỉ về một thể thức diễn đạt có tính đối xứng về âm sắc và ngữ nghĩa. Đó là hiện tượng dùng phổ biến trong các thể đối, phú, văn tế, thơ Đường luật v.v... 

Các trường hợp đối xứng/ đối lập này là sóng đôi cú pháp. Sóng đôi cú pháp là biện pháp nghệ thuật dựa trên sự sắp xếp các câu thành từng cặp, các bộ phận từ ngữ thành từng cặp có hình thức ngữ âm, cấu tạo ngữ pháp và nội dung ngữ nghĩa tương ứng với nhau tạo nên tính cân đối, hài hòa làm nổi bật nội dung và tăng tính biểu cảm. Biện pháp này xuất phát từ một quan niệm truyền thống chung của người phương Đông, quan niệm cho rằng mọi vẻ đẹp đều phải có tính hài hòa cân đối, phải có sự hòa hợp của âm dương. Đối ngẫu chỉ có thể gọi là thành công khi nó diễn tả đắc lực cho nội dung, ý tứ của bài thơ, do vậy việc xác định về tác dụng của nó là rất quan trọng. Đối với thơ trên kiến trúc cung đình, tính cân đối nhịp nhàng này là dấu ấn đậm nét do có sự ràng buộc về thể thơ (nhất là thể thất ngôn bát cú). Điều đáng quan tâm ở đây là rất nhiều trường hợp không bị bó buộc bởi loại thể cần có các cặp đối, nhưng sự xuất hiện các cặp đối thơ của gần như đa số bài thơ đã cho thấy một quy luật phổ biến rất điển hình về sóng đôi cú pháp trong thơ trên kiến trúc.

Trong một bài, thường có hai câu đối nhau về âm vận, từ ngữ, nội dung. Chẳng hạn như: Nhật nhật hỷ hòa thanh/ Thời thời ưu lạo giáng ( / : Ngày ngày vui [vì] lúa lên xanh/ Giờ giờ lo nước lũ giáng xuống, ĐTH). Ở đây từ ngữ tổ chức thành từng cặp đối xứng về ngữ âm, về từ vựng, về ngữ nghĩa. Trong trường hợp này gọi là “phản đối”, có xu hướng tạo ra những quan hệ có tính đối lập, so với “chính đối” thì nó ưu thế hơn vì đã đặt sự tình vào hai trạng huống và tính chất khác nhau để có thể làm rõ bản chất. Chúng ta thử hình dung: 

Đó là một sự đối lập trong một thể thống nhất của tư duy: lúc vui mừng, hoan hỉ rồi sẽ có lúc ưu tư, lo lắng; qua cơn bỉ cực lại đến hồi thái lai... thể hiện một nhận thức về lẽ tự nhiên, không phải lúc nào tự nhiên cũng dự báo những điều tốt đẹp. Xét vấn đề rộng hơn, thì các kiểu sóng đôi, nhất là trong quan hệ “phản đối” còn thể hiện một quan niệm sâu xa về thế giới trong quan niệm về âm-dương, hình thành nên một chỉnh thể đối xứng, đó cũng là quan niệm chung trong nhận thức thẩm mỹ thời bấy giờ. 

Do vậy, đối trong sóng đôi cú pháp đã trở thành một “năng lực thẩm mỹ” của thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Bài thơ có sự nhịp nhàng về âm điệu, câu thơ có tiết tấu hài hòa, trang nhã, với hàng loạt sóng đôi cú pháp như thế, điển hình nhất là trên điện Thái Hòa: Lục diệp cửu vô suy/ Bạch hoa xán tứ thì ( / ): Lá xanh mãi không héo/ Hoa trắng rực bốn mùa); Cửu tiêu thanh hữu sắc/ Vạn lại tịch vô thanh ( / : Chín tầng mây xanh ngắt một màu/ Muôn tiếng tiêu lặng im, không có thanh âm); Đả ngư hà thuỷ bạn/ Phóng dưỡng hậu đình tân ( / : Đánh cá bên dòng sông/ Thả nuôi ở hồ sau); Cung vân khai trĩ vĩ/ Các nhật chiếu ly đầu ( / : Mây trên cung điện mở ra [như] hình đuôi trĩ/ Nắng trên lầu gác chiếu xuống [như] hình đầu lân); Văn hiến thiên niên cựu/ Xa thư vạn lý tân ( / 里新: Xưa văn hiến ngàn năm/ Nay thống nhất muôn dặm), v.v... Rất nhiều hình thức sóng đôi cú pháp thể hiện trong thơ, điển hình trong một bài thơ có đến hai cặp đối, câu 1 đối với câu 2, câu 3 đối với câu 4, rất câu nệ về hình thức cân đối, hài hòa: 

1. Tinh vân trình xán lạn,  

2. Nhật nguyệt tụy xung hòa.  

3. Thuấn bệ thùy y trị,  

4. Nghiêu cù kích nhưỡng ca.  

(Sao và mây trình hiện xán lạn/ Trời và trăng tụ họp hòa hợp/ Trên bệ Thuấn, rủ áo để trị nước/ Giữa đường Nghiêu, hát bài Kích Nhưỡng, ĐTH). 

Ngoài việc tăng cường giá trị miêu tả và giá trị biểu cảm của đối tượng được miêu tả, phép đối ở đây còn có thể tạo nên được nhịp điệu, gây sự chú ý, có sức tập trung đối với đối tượng tiếp nhận. Nó còn có khả năng lập lên một mối tương liên ngữ nghĩa giữa các yếu tố của thơ, các yếu tố mà đứng ngoài ngữ cảnh đó thì không thể có những mối liên hệ ngữ nghĩa. Trường hợp Nhật nhật tân Thang đức/ Tư tư khắc Thuấn cần (Ngày ngày tự đổi mới để học tập đức của vua Thành Thang/ Chăm chỉ sửa mình để noi theo sự chuyên cần của vua Thuấn) - như đã nêu ở phần dẫn ngữ thành ngữ - nếu không sóng đôi cú pháp thì rất khó để xác định về mối liên hệ ý nghĩa. Hai dấu hiệu tân và khắc nếu không nằm trong quy luật sóng đôi cú pháp thì không thể xác định đó là hai ngữ rút gọn tối đa về lượng chữ, và như vậy sẽ thông tin sẽ không bao giờ được tiếp nhận một cách đúng đắn và trọn vẹn. Nhiều nội dung sự việc, nhiều trạng thái của hiện tượng được đồng thời thể hiện trong hai câu thơ làm cho lượng thông tin có độ dồn nén cao. Mỗi đơn vị ngữ nghĩa trong một trung tâm ngữ nghĩa lại được cộng hưởng bởi một đơn vị tương ứng. 

Do vậy, việc sóng đôi cú pháp đã đem đến cho câu thơ tính súc tích, chặt chẽ, rất cần thiết cho quá trình diễn đạt mang tính “lập luận” của loại thơ suy lý.
4.3.5. Đỉnh cao nghệ thuật chơi chữ 

Chơi chữ (hay còn gọi là lộng ngữ) là một biện pháp nghệ thuật xuất hiện khá phong phú về hình thức trong văn chương, nhất là thi ca. Đó là những hình thức diễn đạt dùng âm thanh, từ ngữ, hàm ý để tạo ra lượng nghĩa mới bất ngờ và thú vị. Trong thơ văn chữ Hán, chơi chữ xuất hiện với nhiều dạng linh hoạt và “biến hóa” dựa trên cơ sở tính tượng hình của ký tự như đồng âm dị nghĩa, đa nghĩa mở rộng, chiết tự, ám họa thị giác, hồi văn liên hoàn, trình bày theo cấu trúc v.v... 

Chơi chữ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế tuy không phải là biện pháp phổ biến, nhưng thiết tưởng cũng cần giới thiệu về một số trường hợp đặc biệt. Đặc biệt đến mức có thể trở thành những ví dụ điển hình về trình độ chữ nghĩa cao siêu của chủ thể sáng tạo nếu so sánh với các tác giả trung đại ở Việt Nam cũng như các nước đồng văn. 

- Hình tượng hội họa từ các con chữ: 

Thi ca với hội họa là một quan hệ “huyết thống” in đậm trong văn chương chữ Hán, từ đó hình thành nên các thành ngữ “thi trung hữu họa” hay “họa trung hữu thi”. Trong thế giới nghệ thuật, thư pháp và thi ca đã hô ứng rất hiệu quả. Ở đó, phương diện hình ảnh của con chữ gắn với nội dung luôn được cổ xúy, nhấn mạnh qua nghệ thuật viết chữ. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế trong quá trình tổ chức câu thơ, có thể là ngẫu nhiên, cũng có thể là hữu ý, đã tập hợp nên những cấu trúc đầy sức gợi hình, gợi cảm cho sự thúc đẩy phát triển hình tượng, nội dung. Những điển hình đó được thể hiện qua các trường hợp sau ở lăng Minh Mạng, ở điện Thái Hòa, ở điện Long An: 

+ Có thể bắt gặp một đàn chim ríu rít, tụ tập qua sự xếp đặt loạt chữ có cấu trúc bộ khẩu (: cái miệng) trước mỗi chữ: (Nam ni trao triết kỷ thanh kiêu: Râm ra ríu rít thật xinh yêu); 

+ Có thể bắt gặp cả một vũ trụ bao la vần vũ nhưng lại dồn nén trong sự dung chứa của các chữ có bộ khí (: thể khí): (Anh khí chính nhân uân: Khí lành tràn đầy khắp); 

+ Có thể bắt gặp cảnh hừng đông bừng tỏ dần lên qua các chữ có bộ nhật (: mặt trời): 曈曨東旭耀(Đồng lung đông húc diệu: Mờ sáng mặt trời mới mọc phía Đông chói lọi); 

+ Có thể thấy và “nghe” được âm thanh của nước chảy, sự trở mình của hệ thực vật trong hai câu có đến 9/14 chữ mang bộ chấm thủy (: nước) tràn ngập, với 4 chữ mang bộ thảo đầu (: cỏ) sum xuê: / (Sàn sàn thủy giản đài tư nhuận/ Dạng dạng ba châu liệu mậu vinh: Nước suối rì rào rêu thắm mướt/ Bãi bồi sóng sánh cỏ tươi xanh); hay “tận mục” nước cuộn mặt hồ của hai câu thơ với 6/10 chữ mang bộ chấm thủy: / (Y liên hồi ngạn đẩu/ Trừng trạm toại lưu lung: Lăn tăn quanh dốc bến/ Cuộn chảy theo dòng trong). Hay là một câu bảy chữ đều có bộ chấm thủy diễn tả mặt nước lô xô: (Thiền hồi bình phái phất phong lan: Sóng gió lô xô ở giữa dòng. Quả tài tình với cách lựa chọn chữ nghĩa, ắt hẳn là dụng ý của cổ nhân. 

+ Có thể bắt gặp trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế, ngoài các chữ mang nét nghĩa chỉ về các công trình xây dựng như đình, điện, đường, các, vũ, lâu, tạ, đài, đặc biệt còn có 239 chữ liên quan đến bộ môn (), có nhiều chữ nằm trong trường nghĩa chỉ về nhà cửa trong đó: khai () 136 lần, các () 21 lần, khuyết () 16 lần, môn () 15 lần, quan () 14, nhàn ()14 lần, khải () 8, xương () 4 lần, hạp () 4 lần, tịch () 4 lần và nhàn () 3 lần. Trong đó, có một số câu thơ được thể hiện với tính biểu tượng rất cao, một câu có đến 3, thậm chí 4 chữ có bộ môn này, tạo nên một hình ảnh có hình dáng, tượng hình về công trình kiến trúc, ví dụ: (Xương hạp khai Hoàng đạo: Cửa cung mở vào giờ Hoàng đạo); hoặc (Xương hạp khai kim khuyết: Cửa cung điện đã mở ra [như] cửa bằng vàng). Đây là lối chơi chữ có tính chất “ám họa thị giác”, chúng thật sự là những bức tranh được vẽ nên một cách hình tượng bằng những ký tự. Câu thơ tác động trực tiếp vào thị giác, chúng ta như hình dung được cả không gian với những hình khối tầng tầng lâu các, lớp lớp cung điện. Đó là một hiện tượng phù ứng với thực tế, triều Nguyễn rất tự hào về công cuộc kiến thiết đất nước của mình, hàng loạt các công trình làm việc của triều đại đã bắt đầu khởi công xây dựng từ thời Gia Long và bộ mặt của Kinh đô Huế đến thời Thiệu Trị đã khá chỉnh trang. Do vậy, các công trình kiến trúc đã trở thành một trong những niềm tự hào của triều đại này. 

Trong những “kiệt tác thơ thị giác” của thi ca chữ Hán, Vương Duy (701 - 761) có câu: 木末芙容花 (Mộc mạt phù dung hoa: Cuối cành phù dung nở hoa). Câu thơ được triển khai từ chữ đầu tiên đến chữ cuối cùng có số nét tăng dần mộc (4 nét), mạt (5 nét), phù (8 nét), dung (10 nét) và cuối cùng đến hoa số nét bắt đầu giảm (8). Chỉ cần cảm nhận bằng thị giác, người đọc có thể hình dung tiến trình vận động của sự vật, từ chữ đầu đến chữ cuối biểu hiện khá rõ của cả một tiến trình vận động, có cảm giác như được chứng kiến về hình ảnh nụ hoa từ khi hàm tiếu đến lúc nở bùng và mãn khai. Hay Đỗ Phủ (712 - 770) khi mô tả nỗi khát khao của con người khi gặp hạn hán, cầu được mưa thì viết lên một loạt các chữ liên quan đến bộ vũ (: mưa) từ nhiều nét đến ít nét: 雷莛空霹靂 (Lôi đình không tích lịch/ Vân vũ cánh hư vô: Sấm chớp giật liên hồi/ Mây mưa rốt cuộc vẫn là sự huyễn hoặc). Câu thơ trở thành một ám thị có chất hội họa, thật sự gợi lên cả một không gian có dáng dấp. 

Những trường hợp chơi chữ có hình thức như vậy trong văn chương là không nhiều, chỉ những bậc hay chữ, giỏi nghĩa mới có thể làm được. Các trường hợp chơi chữ theo dạng này như đã nêu trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng là một trong số ít đó, nó có giá trị phản ánh nghệ thuật qua hình thức phô diễn chữ nghĩa của người xưa. 

Tuy chơi chữ ở trường hợp trên chỉ có tính chất đơn lẻ, nhưng nó lại phản ánh giá trị cao về một biện pháp nghệ thuật, về hình thức nghệ thuật và phản ánh khá rõ nét bản chất ý nghĩa của thơ trong hệ thống này qua các chủ đề miêu tả và thể hiện. 

- Kỹ xảo sắp đặt ngôn từ: 

Trong hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế có một công trình khá đặc biệt - điện Long An - được xem là “biệt điện” của vua Thiệu Trị, nơi được chạm khắc của 165 bài thơ đều là thơ của vị vua này. Thơ ở đây được trang trí với nhiều dạng thức: chạm nổi sơn son, chạm nổi thếp vàng và cẩn xà cừ. Đặc biệt có hai bài thơ chơi chữ đồng dạng, được cẩn xà cừ cực kỳ tinh xảo trên vách ván ngôi điện này. Đó là bài Vũ trung sơn thủy ( : Non nước trong mưa) và bài Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm ( : Ngâm vịnh trong đêm thơ ở vườn Phước Viên). 

Cả hai bài thơ đều có cùng hình thức trình bày, chạm khảm theo đồ hình bát quái. Bên cạnh mỗi bài thơ là “mã” để mở khóa với nội dung như sau: Dụng hồi văn thể kiêm liên hoàn, bằng trắc tứ vận, độc thành thất ngôn ngũ ngôn, lục thập tứ chương ( / / / : Dùng thể hồi văn kiêm liên hoàn với bốn vần bằng trắc, đọc thành thất ngôn, ngũ ngôn được 64 bài). Vì cả hai bài đều có hình thức giống nhau, ở đây chỉ xin trình bày bài Vũ trung sơn thủy mà thôi. 

Vũ trung sơn thủy có tính chất hồi văn và liên hoàn, có nghĩa là bắt đầu từ xuất phát điểm nào cũng có thể đọc thành câu, ghép thành bài. Bên cạnh đó, tính liên hoàn buộc phải ít nhất, chỉ trong một cặp câu thì phải có sự láy/ lặp một chữ, nối hai bài lại với nhau (hoặc vận dụng nhiều dạng láy khác). Điều quan trọng nữa, bài thơ được giải mã phải trên cơ sở xác định rõ bốn vần (bằng trắc tứ vận) là Canh, San, Dạng, Chấn. Ở đây chúng tôi không thể trình bày cách mở khóa của toàn bộ bài thơ (từ cách xác định vần đến cách đọc). Tại cuốn sách Tìm hiểu kỹ xảo hồi văn kiêm liên hoàn trong bài Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cũng đã “mất” hơn 450 trang sách để lý giải, trình bày phương pháp, cách đọc cho từng bài theo trình tự nhất định. Trong giới hạn cho phép, chúng tôi xin được giới thiệu một số bài mà tác giả Nguyễn Tài Cẩn đã mở khóa, giải mã một “bí ẩn thi ca” tồn tại suốt nhiều năm. 

Từ 56 chữ, vua Thiệu Trị đã sắp xếp theo những trật tự về âm vận, niêm luật, đối ngẫu những ngữ nghĩa vẫn đảm bảo, đến cách dịch, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn cũng tỏ ra công phu không kém trong sự chọn chữ để dịch với sự sắp xếp đồng dạng một cách khéo léo và tinh tế. Nguyên văn bài thơ: Bản dịch thơ của GS. Nguyễn Tài Cẩn: Sau đây là 02 bài hồi văn, liên hoàn trong vần Canh của bài thơ Vũ trung sơn thủy qua bản dịch của Nguyễn Tài Cẩn [8, tr.32]: 

Bài 1: Loan hoàn vũ hạ giang triều tấn, Tròn vây gió nổi triều lan ngập, Trướng dật phong tiền ngạn biện thanh. Rộng thoáng mưa vờn nước biếc xanh. 

Sơn tỏa ám vân thôi trận trận, Non kín đen trời mây cuốn gấp, 

Lãng sinh khiêu ngọc trích thanh thanh. Sóng dâng gieo ngọc tiếng vang quanh. 

Sàn sàn thủy giản đài tư nhuận, Tuôn reo suối thấm rêu dâm dấp, Dạng dạng ba châu liệu mậu vinh. Bóng dợn cồn vươn cỏ mướt xinh. Nhàn điếu nhất chu ngư dật tấn, Buồn giải rỗi câu thuyền lướt khắp, Hướng lâm song tiễn yến phi khinh. Động về chia dãy én bay nhanh. 

Bài 2: Sơn tỏa ám vân thôi trận trận, Non kín đen trời mây cuốn gấp, Lãng sinh khiêu ngọc trích thanh thanh. Sóng dâng gieo ngọc tiếng vang quanh. 

Sàn sàn thủy giản đài tư nhuận, Tuôn reo suối thấm rêu dâm dấp, Dạng dạng ba châu liệu mậu vinh. Bóng dợn cồn vươn cỏ mướt xinh. Nhàn điếu nhất chu ngư dật tấn, Buồn giải rỗi câu thuyền lướt khắp, Hướng lâm song tiễn yến phi khinh. Động về chia dãy én bay nhanh. Loan hoàn vũ hạ giang triều tấn, Tròn vây gió nổi triều lan ngập, Trướng dật phong tiền ngạn biện thanh. Rộng thoáng mưa vờn nước biếc xanh. 

Bài thơ là một kiểu chơi chữ trí tuệ của một vị vua. Chỉ từ 56 chữ, vua Thiệu Trị đã cho đến 64 bài thơ thất ngôn bát cú (chưa kể 64 bài ngũ ngôn bát cú). Trong đó có kiểu hồi văn với 32 cặp bài thất ngôn thuận nghịch độc với 16 điểm xuất phát đi 2 hướng; lại có kiểu liên hoàn vô cùng phức tạp: liên hoàn thẳng, liên hoàn vòng quanh; liên hoàn một chiều, hai chiều; liên hoàn đối xứng, không đối xứng. Đó là một cách sắp xếp cực kỳ công phu, người thật có tài và vốn chữ nghĩa phong phú mới có thể làm được. Ngoài ra từ hình thức và cấu trúc của Vũ trung sơn thủy có thể suy luận thêm về mối liên hệ giữa dịch học trong kết cấu bài thơ. Bài thơ trình bày theo 1 hình tròn tượng trưng cho thái cực, có 2 vần bằng/ trắc tượng trưng cho lưỡng nghi, có 4 vần Canh, San, Chấn, Dạng tượng trưng cho tứ tượng, và đọc được 64 bài tượng trưng cho 64 quẻ trong Dịch học [106, tr.68]. Những sự trùng khít một cách nhịp nhàng về các con số chắn chắn phải có nguyên nhân. Vua Thiệu Trị là một Nho gia, ở đây sự đề cao về dịch lý của các nhà nho theo khuynh hướng Tống Nho có thể là nguyên nhân hình thành nên hiện tượng này. 

Tuy xuất hiện chưa nhiều, nhưng các dạng chơi chữ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế lại có giá trị nghệ thuật đạt đến mức đỉnh cao, phản ánh tài văn chương cũng như năng lực, khuynh hướng thẩm mỹ của người đương thời, trở thành những minh chứng vô cùng đặc sắc về nghệ thuật chơi chữ trong sáng tạo thi ca của người trung đại Việt Nam và các nước đồng văn. 

Nhìn chung, các biện pháp nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế khá đa dạng và tập trung. Các loại so sánh, hoán dụ, ẩn dụ được sử dụng một cách tinh tế, nhiều trường hợp rất khó phát hiện. Toàn bộ các phương tiện này đã làm cho ngôn ngữ thơ mang lời lẽ gọn gàng nhưng ý tứ sâu xa. Do vậy ý tứ, sự tình được nói đến thường bóng bẩy, ẩn chứa những nét nghĩa phái sinh ngữ nghĩa. Trong các ẩn dụ hình thành bằng việc dẫn ngữ, các hình thức của dẫn ngữ là hết sức phong phú, chúng được sử dụng đan xen, trộn lẫn, có nhiều bài chứa đến bốn, năm dẫn ngữ điển tích, thành ngữ, thơ văn đã tạo nên một mã ngôn ngữ phức tạp, đòi hỏi đối tượng tiếp nhận phải huy động tất cả khả năng hiểu biết để lĩnh hội. 

Một số dẫn ngữ dùng nhiều lần đôi lúc đã trở thành phô trương, khuôn sáo, nhất là các dẫn ngữ về điển tích. Điều đáng chú ý là chủ thể sáng tạo đã linh hoạt, “đắp” cho điển tích những sắc thái nghĩa mới bằng cách thêm vào điển một nét nghĩa có tính chất “xác định tính cụ thể” của điển, tránh sự lặp lại nhàm chán. Những hình ảnh sử dụng trong các biện pháp nghệ thuật có sự trùng lặp với những ý đồ diễn đạt mang tính biểu cảm cao xuất phát từ những quan niệm trong nhận thức về tự nhiên và xã hội. Đặc biệt, các biện pháp nghệ thuật trong ngôn từ ở đây dường như được thực hiện cùng lúc, có thể phát hiện trong so sánh có hoán dụ, trong hoán dụ có ẩn dụ, trong so sánh, hoán dụ, ẩn dụ, và các biện pháp ấy đều có điểm chung của tượng trưng. Ngoài ra, các hình thức đối lập trong song đôi cú pháp cũng thể hiện những năng lực thẩm mỹ nhất định, phản ánh quan niệm thẩm mỹ của người trung đại. Cao hơn, nghệ thuật chơi chữ tuy chưa tạo thành một hệ thống phổ biến, nhưng qua một số dẫn chứng cũng cho thấy trình độ chữ nghĩa của các bậc thức giả thời bấy giờ, nhất là các hoàng đế thi sĩ. 

Nhận thức đúng đắn về những quy luật của các biện pháp nghệ thuật trong ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế sẽ lĩnh hội được nội dung một cách đúng đắn nhất, đồng thời nó sẽ tạo nên một kinh nghiệm trong việc lĩnh hội thơ của các vua quan triều Nguyễn, những chủ thể sáng tạo của thơ trên kiến trúc cung đình Huế. 

Tiểu kết chương 4 

Qua việc khảo sát, đánh giá các đặc điểm nổi bật trong sử dụng ngôn từ cũng như phân tích đặc điểm về thể thơ, vần và nhịp thơ trong phương thức biểu hiện, có thể thấy rằng, thơ trên kiến trúc mang bản chất của loại thơ suy lý với mục đích ngôn chí. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế do vậy có một trường thẩm mỹ riêng, gắn với quan niệm lý tưởng thẩm mỹ của thời đại. Chủ thể sáng tạo luôn hướng vào việc trình bày những hoài bão, những ước mơ tốt đẹp cho sự nghiệp “kinh bang tế thế”, với tâm nguyện “quốc thái dân an”, “phong điều vũ thuận” và “thiên hạ thái bình”. 

Đặc biệt, thơ trên kiến trúc thể hiện sự linh hoạt trong sử dụng các biện pháp nghệ thuật, có biện pháp đặc sắc: từ so sánh, hoán dụ, ẩn dụ, đến đối lập, chơi chữ. Đó là một hệ thống biện pháp được sử dụng phổ biến với nhiều tính chất, ý nghĩa. Qua việc phân tích các biện pháp nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc, những vấn đề liên quan đến nội dung, chủ đề của các bài thơ, tư tưởng của chủ thể sáng tạo càng được làm nổi bật, đó là bài thơ, câu thơ tập trung chủ yếu về những đề tài suy lý mang tính giáo huấn với xu hướng ngôn chí mạnh mẽ. 

Tóm lại, thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế là sự tổng hòa của các mối quan hệ gắn bó trong quan niệm nghệ thuật con người được thể hiện qua những mô hình không gian và thời gian khác nhau. Bên cạnh đó, sự hô ứng hòa điệu trong cách thức tổ chức ngôn ngữ, sử dụng loại thể, cấu tạo nhịp điệu cùng nhiều các biện pháp nghệ thuật khác đều gắn kết với những nội dung nhất định, mà trên hết đó chính là thế giới của cảm thức và tri nhận gắn bó mật thiết với quan niệm thẩm mỹ của thời đại. 

KẾT LUẬN 

Thơ trên kiến trúc cung đình Huế là thành tựu tiêu biểu của văn chương cung đình triều Nguyễn, nhất là khi triều đại này đã chủ trương lựa chọn để khắc lên các cung điện, lăng miếu tiêu biểu, nghi thức nhất của triều đại mình. Thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế thật sự tiêu biểu cho thơ trung đại Việt Nam với những đặc điểm nghệ thuật phong phú, rất khó để khẳng định là có thể tri nhận đến tận cùng. Nghiên cứu đề tài “Thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế”, tác giả luận án mong muốn đóng góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu những đặc điểm nghệ thuật ngôn ngữ thơ của một “cộng đồng ngôn ngữ” là triều Nguyễn. Ở đây vì không xác định được một cách toàn diện và trọn vẹn về chủ thể sáng tạo nên chúng tôi căn cứ vào những đặc điểm của ngôn ngữ để tạm thời xác định đó là thơ của tầng lớp các hoàng đế, quan lại và tầng lớp quý tộc. Lịch sử vấn đề cho thấy, việc nghiên cứu về thế giới nghệ thuật ở trường hợp cụ thể là thơ trên kiến trúc cung đình Huế hầu như chưa được chú ý. Do vậy, công việc nghiên cứu đề tài này là không hề đơn giản, nếu không muốn nói là sẽ tiên lượng trước một số khó khăn. Qua việc tìm hiểu và khảo sát mang tính tổng quát và chi tiết, chúng tôi có thể nêu lên một số kết luận sau: 

1. Sự thịnh trị văn chương thời Nguyễn và sự phát triển vượt bậc của các tác giả hoàng tộc, đặc biệt là các tác giả hoàng đế đã thật sự trở thành nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy sự hình thành của thơ trên kiến trúc cung đình Huế, tạo cho hệ thống kiến trúc này có những đặc điểm giàu giá trị thẩm mỹ và nhân văn. Điều cần lưu ý là thơ được trang trí trên các kiến trúc gắn liền với chủ nhân của chúng là các hoàng đế và chỉ tập trung ở các công trình nghi thức, mang tính biểu tượng. Không có kiến trúc mang tính chất giải trí, du hí được khắc thơ. Ngay cả ở những kiến trúc được xem là "thơ nhất" như Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách và ngâm thơ), Nghinh Lương Đình (nơi vua hóng mát và làm thơ), v.v... đều không được chạm khắc thơ. Điều này nói lên triều đình đã có chủ đích và ý thức xem trọng tính nghi thức của thi ca khi chọn khắc trên các kiến trúc. 

2. Trên cơ sở phân tích về thế giới nghệ thuật, chúng tôi rút ra một số đặc điểm nội dung của thơ trên kiến trúc cung đình Huế gồm các chủ đề chủ yếu sau: tôn vinh công trạng mở mang bờ cõi, thống nhất đất nước, thiết lập nhà nước và củng cố vị thế quốc gia của các bậc vua chúa thời Nguyễn; lý tưởng hóa những quan điểm tiến bộ trong tư tưởng Nho giáo với tư cách là học thuyết chính trị làm nền tảng để quản lý và điều hành xã hội; khẳng định một chế độ quân chủ lý tưởng với những đổi mới về chính trị, xã hội, khẳng định về truyền thống văn hóa dân tộc; ca ngợi cảnh thái bình, thịnh trị, cảnh đẹp của đất nước; bày tỏ sự quan tâm đến kinh tế nông nghiệp, đời sống của dân chúng; ước mơ đất nước thái bình, trăm họ yên vui. 

3. Hình tượng con người trong trong thơ trên kiến trúc xuất hiện theo phương thức đồng trục, đồng dạng về tư tưởng tình cảm qua các mối quan hệ với thiên nhiên, vũ trụ, với đời sống, xã hội, ít mang hình sắc cá nhân. Qua hình tượng con người cho thấy, thơ trên kiến trúc đã thể hiện một mảng chủ đề lớn trong việc phổ biến những nguyên tắc có tính chất đường lối căn bản của Nho giáo gắn liền với tư tưởng văn trị, lễ trị và nhân trị. Điều đó thể hiện qua quan điểm đề cao quản lý xã hội bằng tri thức, bằng sự hiểu biết; sử dụng các thiết chế xã hội, đề cao nghi lễ trong trị quốc và dùng lòng nhân ái để quản lý, điều hành xã hội. Xuất phát từ hình tượng về con người gắn với các đặc điểm trên, hình tượng không gian và thời gian trong thơ trên kiến trúc cũng "hô ứng", hòa vào dòng chảy của thế giới nghệ thuật đặc biệt này. Không gian và thời gian trong thơ trên kiến trúc cũng là đặc trưng mang dấu ấn của thời đại, nhất là các kiểu thức quan hệ của không gian, thời gian dung chứa trong đó rất nhiều tầng, nhiều lớp làm cho quan hệ thẩm mỹ trở nên đa dạng, phong phú. Các kiểu không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã làm rõ đặc trưng của nghệ thuật là phản ánh thế giới bằng hình tượng có tính định hướng, gợi mở, mang dấu ấn của thời đại mà nó tồn tại. 

4. Từ đặc điểm sử dụng ngôn ngữ, nhất là sử dụng chữ, qua thống kê tần số xuất hiện của từng chữ trong toàn bộ các chữ có mặt trong thơ trên kiến trúc, phân tích những trường hợp từ ngữ được sử dụng nhiều lần, chúng tôi đã cố gắng phân tích, lý giải những tác nhân của sự chênh lệch, về nguyên nhân trong các trường hợp sử dụng trùng lắp trên cơ sở vận dụng những lý thuyết được nhiều nhà ngôn ngữ học chấp nhận. Từ đó để nói lên rằng, thơ trên kiến trúc có một hệ thống chữ nghĩa được sử dụng với tần số cao phản ánh rõ bản chất về phương cách sử dụng có đặc trưng mô phạm, nghi thức của chủ thể sáng tạo. Tính mô phạm, nghi thức này cũng diễn ra tương tự trong việc sử dụng thể thơ và cấu trúc vần nhịp. Thơ trên kiến trúc mang bản chất của ngôn ngữ nghệ thuật nhưng để nhằm ứng hợp với nội dung có tính cách tuyên truyền, giáo huấn, bày tỏ hoài bão nên đã bị “nghi thức hóa”, điều này diễn ra khá phổ biến. Do vậy, từ đặc điểm của phương thức biểu hiện ở đây có thể quan niệm rằng, về đại thể thơ trên kiến trúc là những tuyên ngôn, giáo hóa bằng thi ca, chủ thể sáng tạo đã dùng thơ như một công cụ để tuyên truyền cho chế độ cũng như chuyển tải ý thức hệ chính trị của chế độ. 

5. Thơ trên kiến trúc giàu có các biện pháp nghệ thuật. Các biện pháp nghệ thuật ở đây trước hết thể hiện tính linh hoạt trong cách vận dụng, ranh giới xác định của các biện pháp có lúc bị “nhòe”, nghĩa là linh hoạt đến nỗi có trường hợp rất khó để xác định quả quyết nó thuộc ẩn dụ hay hoán dụ, nó thuộc ẩn dụ hay tượng trưng. Luận án đã hệ thống các biện pháp nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc nhằm chỉ ra quy luật mang tính đặc trưng, tiêu biểu. Sự đa dạng trong biện pháp nghệ thuật đã cho thấy ngôn ngữ thơ ở đây rất có giá trị về nghệ thuật. Đặc biệt, những cách diễn đạt ẩn dụ (ẩn dụ hình ảnh; dẫn ngữ điển tích, thành ngữ, thơ văn) đã chứng tỏ chủ thể sáng tạo là những người sở học uyên thâm, thông đạt kinh sử, mẫn tuệ ngôn từ. Cũng có thể cho rằng, ngôn ngữ thơ trên kiến trúc là một hình ảnh thu nhỏ của một cộng đồng ngôn ngữ là giai cấp quý tộc, của tầng lớp đại diện cho tiếng nói triều đại nhà Nguyễn, xuất phát từ những nhu cầu nhận thức và phản ánh, đã làm nên một hiện tượng nghệ thuật đặc sắc. 

6. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng biểu hiện một số hạn chế nhất định. Đó là hầu như, các tác giả không mấy chú trọng đến việc xây dựng hình tượng con người cá nhân trong hệ thống hình tượng nghệ thuật. Nổi lên về hình tượng con người trong thơ trên kiến trúc là hình tượng con người vô ngã, chưa tách khỏi môi trường cộng đồng, đó là con người quân quốc. Điển phạm của mỹ học phong kiến đã chi phối mạnh mẽ đến ý nghĩa hình tượng trung tâm của tác phẩm. Do vậy, thơ trên kiến trúc cung đình thật sự là một loại hình văn chương quan phương, hướng đến tính điển chế, mà cảnh giới cao nhất của nó là tính nghi thức, quy phạm trong thế giới nghệ thuật cũng như nội dung đề cập đến. Một số hạn chế về nghệ thuật lại nằm ngay ở chính ưu điểm của nghệ thuật. Đó là việc sử dụng các phương thức ẩn dụ bằng điển cố chiếm một tỷ lệ khá lớn, trong đó lại có nhiều điển cố rất khó hiểu. Hơn nữa, thơ trên kiến trúc thường xuất hiện các hiện tượng rút gọn điển cố, vận dụng hiện tượng đồng nghĩa trong điển cố khiến người đọc rất khó khăn để thông hiểu được ý ngầm nghệ thuật trong điển cố vốn tồn tại ở dạng tiềm năng mà chủ thể sáng tạo nên. 

7. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã phản ánh rõ kiểu tư duy chú trọng kỹ năng tổng hợp bằng trực cảm, sự hỗn dung của văn chương, sử học, triết học trong sáng tác rất phổ biến. Đây cũng là một tất yếu liên quan đến đặc trưng phổ biến của văn chương trung đại, liên quan đến quy luật tư duy nghệ thuật gắn với quan niệm văn chương thời trung đại. Có thể cho rằng, thơ trên kiến trúc là tập đại thành về nghi thức tổ chức nhà nước quân chủ Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XIX. Đó là cơ sở để nghiên cứu về một loại hình về thơ ca mang tính nghi thức, là cơ sở để nghiên cứu về nghi thức, điển chế của cả một giai đoạn lịch sử. Nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng là dịp thức nhận cùng văn hóa lịch sử, nhận diện lại con người trung đại một thuở với sự cống hiến to lớn trong nghệ thuật ngôn từ. Đến nay, thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã trở thành di sản ký ức của nhân loại, tiếp tục tỏa sáng giá trị nhân văn gắn với thời đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Điều cần nói thêm là, những vấn đề mà chúng tôi trình bày trong luận án chắc chắn chưa phải là những kiến giải toàn diện. Do vậy, chúng tôi hy vọng sẽ nhận được sự chỉ giáo, soi mở của các bậc thầy cũng như ý kiến góp ý của các đồng nghiệp với mong muốn có thể phát huy được thành quả nghiên cứu này.
1. CÁC BÀI BÁO KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 

A. Công bố trước khi thực hiện luận án: 

1. Nguyễn Phước Hải Trung (1998), "Thơ trên Di tích Huế, tâm tưởng một triều đại", Tạp chí Sông Hương, số 12, tr. 45 - 48. 

2. Nguyễn Phước Hải Trung (1998), "Chủ đề trọng nông trong thơ trên di tích Huế", Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 9, tr. 22 - 28. 3. Nguyễn Phước Hải Trung (2000), "Phục hồi những bài thơ trên điện Cần Chánh, nhìn từ thực tiễn và hệ thống tư liệu", Kỷ yếu Hội thảo về phục hồi điện Cần Chánh, Trường Đại học Waseda Nhật Bản, tr. 49 - 51. 

4. Nguyễn Phước Hải Trung (2003), "Thơ trên di tích cung đình Nguyễn- những giá trị nhân văn và vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn", Kỷ yếu hội thảo Di sản Hán Nôm Thừa Thiên Huế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội, tr. 230 - 238. 

5. Nguyễn Phước Hải Trung (2012), "Thơ chữ Hán trên điện Thái Hòa, một di sản tư liệu có giá trị nghiên cứu về thời Nguyễn (1802-1945) ở Việt Nam", Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học của Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 571 - 588. B. Công bố trong thời gian thực hiện luận án: 

6. Nguyễn Phước Hải Trung (2019), "Hình tượng con người trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế", Tạp chí Khoa học Đại học Huế, chuyên san Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Huế, tập 128, số 6C. 2019, tr.19 - 36. 

7. Nguyễn Phước Hải Trung (2019), "Ẩn dụ dẫn ngữ - biện pháp nghệ thuật đặc sắc trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế", Nghiên cứu Hán Nôm năm 2019, kỷ yếu hội thảo khoa học cấp quốc gia có phản biện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, tr.522 - 536. 

8. Nguyễn Phước Hải Trung (2019), "Loại thể trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế", Tạp chí Sông Hương, số 366, tháng 8, tr.61 - 67. 

9. Nguyễn Phước Hải Trung (2019), "Lễ nhạc - biểu tượng của văn hiến thể hiện trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế", Tạp chí Nghiên cứu văn hóa Việt Nam, số 5 (185) 2019, tr. 39 - 45. 

10. Nguyễn Phước Hải Trung (2019), "Hình tượng vũ trụ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế", Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11 (573), tháng 11.2019, tr. 59 - 73. 

11. Nguyễn Phước Hải Trung (2020), "Đội ngũ sáng tác của bộ phận văn học hoàng tộc thời Nguyễn", Tạp chí Khoa học xã hội và nhân văn, chuyên san Văn - Sử - Triết học, Trường Đại học Khoa học, Huế, tập 15. 

12. Nguyễn Phước Hải Trung (2020), "Chơi chữ, một giá trị đỉnh cao trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế", Tạp chí Sông Hương, số 372, tháng 1, tr.109 - 113. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

I. Tiếng Việt 

2. Phan Thuận An (1992), Kiến trúc cố đô Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 3. Phan Thuận An (2005), Quần thể di tích cố đô Huế, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh. 

4. Phan Thuận An, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phước Hải Trung (1996), Thần Kinh nhị thập cảnh - thơ vua Thiệu Trị, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

5. Huỳnh Công Bá (2008), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

6. Huỳnh Công Bá (2017), Lịch sử Việt Nam cổ trung đại, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

7. Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 

8. Thu Giang Nguyễn Duy Cần (2018), Dịch học tinh hoa (tái bản), Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh. 

9. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Tìm hiểu kỹ xảo hồi văn kiêm liên hoàn trong bài Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

10. Nguyễn Tài Cẩn (2003), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. 

11. Cao Hữu Công, Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường (Trần Đình Sử, Lê Tẩm dịch), Nxb. Văn học, Hà Nội. 

12. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (1996), Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh niên, Hà Nội. 

13. Đỗ Hữu Châu (1999), Cơ sở ngữ nghĩa học tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

14. An Chi (2006), Chuyện đông chuyện tây, Tập 1, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh. 

15. Mai Ngọc Chừ (2009), Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông, Nxb. Phương Đông, TP. Hồ Chí Minh. 

16. Trần Trí Dõi (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hóa xã hội, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 

17. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 18. Kim Định (2016), Tinh hoa ngũ điển, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội. 

19. Lê Quý Đôn (2008), Vân đài loại ngữ (Nguyễn Khắc Thuần dịch), Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

20. Huỳnh Minh Đức (1994), Từ Ngọ Môn đến Thái Hoà điện, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh. 

21. Tự Đức (1970), Tự Đức thánh chế văn tam tập (tập1), Ủy ban Dịch thuật Phủ Quốc vụ khanh đặc trách xb, Sài Gòn. 

22. Trần Văn Giàu (1992), Vài nhận xét về thời nhà Nguyễn, in trong “Những vấn đề văn hóa xã hội thời Nguyễn”, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

23. Nguyễn Thị Bích Hải (1995), Thi pháp thơ Đường, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

24. Dương Quảng Hàm (2002), Việt Nam văn học sử yếu (tái bản), Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội. 

25. Cao Xuân Hạo (1998), Mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

26. Cao Xuân Hạo (2001), Văn Việt, tiếng Việt, người Việt, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh. 

27. Lưu Hiệp (1997), Văn tâm điêu long (Phan Ngọc dịch), Nxb. Văn học, Hà Nội. 

28. Phạm Đình Hổ (2012), Vũ trung tùy bút (Nguyễn Hữu Tiến dịch), Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh. 

29. Hội Khoa học lịch sử Thừa Thiên Huế (2005), Cố đô Huế xưa và nay, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

30. Vương Hồng, Vương Thành Trung (2003), Tứ thư (Trần Trọng Sâm, Kiều Bách Vũ Thuận dịch), Nxb. Quân đội Nhân dân, Hà Nội. 

31. Cao Xuân Huy (1995), Tư tưởng phương Ðông gợi những điểm nhìn tham chiếu (Nguyễn Huệ Chi soạn), Nxb. Văn học, Hà Nội. 

32. Phạm Văn Khoái (2002), Một số vấn đề về chữ Hán thế kỷ XX, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 

33. Thái Văn Kiểm (1960), Cố đô Huế, Nha Văn hóa Bộ Quốc gia giáo dục xb, Sài gòn. 

34. Trần Trọng Kim (1995), Đường thi (tái bản), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 

35. Trần Trọng Kim (1999), Việt Nam sử lược (tái bản), Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 

36. Trần Trọng Kim (2008), Nho giáo, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 

37. Đinh Trọng Lạc (2003), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

38. Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2001), Phong cách học tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

39. Nguyễn Thiệu Lâu (2018), Quốc sử tạp lục, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội. 

40. Nguyễn Thế Lịch (1991), “Từ so sánh đến ẩn dụ”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 3, tr 43 - 49. 

41. Nguyễn Hiến Lê (1991), Khổng Tử, Nxb. Văn hóa, Hà Nội. 

42. Nguyễn Hiến Lê (1994), Kinh Dịch - đạo của người quân tử, Nxb. Văn học, Hà Nội. 

43. Phan Huy Lê (1983), Lịch sử Việt Nam, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội. 

44. Hồ Lê, Lê Trung Hoa (2001), Sử dụng từ ngữ trong tiếng Việt (Thú chơi chữ), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 

45. Đoàn Ánh Loan (2003), Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. 

46. Nguyễn Lộc (1999), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

47. Lê Đức Lợi (2000), Tự điển thư pháp, Nxb. Văn nghệ, TP. Hồ Chí Minh. 

48. I.X. Lixêvich. (2003), Tư tưởng văn học cổ Trung Quốc (Trần Đình Sử dịch), Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

49. Võ Đại Mau (2002), Các thi sĩ trong cung đình nhà Nguyễn, Nxb. Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. 

50. Lê Xuân Mậu (2014), Vẻ đẹp ngôn ngữ, vẻ đẹp văn chương, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh. 

51. Nguyễn Phong Nam (chủ biên) (1983), Những vấn đề lịch sử và văn chương triều Nguyễn, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

52. Hữu Ngọc (chủ biên) (1995), Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam, Nxb. Thế Giới, Hà Nội. 

53. Phan Ngọc (1985), Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 

54. Phan Ngọc (1990), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb. Trẻ, TP.Hồ Chí Minh. 

55. Phan Ngọc (1994), Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 

56. Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn học, Hà Nội. 

57. Phan Ngọc (2002), Thử xét văn hoá, văn học bằng ngôn ngữ học, Nxb. Thanh niên, Hà Nội. 

58. Bùi Văn Nguyên (1978), Lịch sử văn học Việt Nam (tập 2), Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

59. Lãng Nhân (2001), Giai thoại làng Nho, toàn tập (tái bản), Nxb. Văn học, Hà Nội. 

60. Nhiều tác giả (1981), Từ trong di sản, Nxb. Tác phẩm mới, Hà Nội. 

61. Nhiều tác giả (2004), Giáo trình mỹ học đại cương, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 

62. Nhiều tác giả (2005), Điện Long An, di tích kiến trúc nghệ thuật, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xb, Huế. 

63. Nhiều tác giả (2006), Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

64. Nhiều tác giả (2007), Di sản văn hóa Huế - nghiên cứu và bảo tồn, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xb, Huế. 

65. Nhiều tác giả (2008), 700 năm thơ Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

66. Nhiều tác giả (2008), Nghiên cứu phục nguyên điện Cần Chánh, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, Đại học Wasseda Nhật bản xb, Huế. 

67. Nhiều tác giả (2015), Kỷ yếu hội thảo khoa học “Bảo tồn và phát huy giá trị hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xb, Huế. 

68. Nhiều tác giả (2016), Di sản văn hóa cung đình thời Nguyễn, nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

69. Nhiều tác giả (2016), Ngự phê của các hoàng đế trên châu bản triều Nguyễn, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. 

70. Nhiều tác giả (2016), Triều Nguyễn và lịch sử của chúng ta, Nxb. Hồng Đức, TP. Hồ Chí Minh. 

71. N.I. Niculin (2010), Dòng chảy văn hóa Việt Nam, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội. 

72. Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (Trần Huy Hân, Nguyễn Thế Đạt dịch) (Tập IV), Trung tâm khoa học XH & NV quốc gia (Viện Sử học), Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

73. Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử (1997), Về thi pháp thơ Đường, Nxb. Đà Nẵng. 

74. Nguyễn Khắc Phi (2001), Mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

75. Nguyễn Hồng Phong (1998), Văn hóa chính trị Việt Nam truyền thống và hiện đại, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội. 

76. Nguyễn Tân Phong (1994), Về hai bài thơ Hồi văn kiêm Liên hoàn của vua Thiệu Trị, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

77. Vũ Thị Phụng (2005), Văn bản quản lý nhà nước thời Nguyễn, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. 

78. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Quốc triều chính biên toát yếu, (Quốc sử quán dịch), Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

79. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục (Tập 4, 5, 6), (Viện Sử học dịch), Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

80. Quốc Sử quán triều Nguyễn (2010), Minh Mệnh chính yếu, (Ủy ban Dịch thuật thuộc Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên Sài gòn dịch), Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

81. Quốc sử quán triều Nguyễn (2013), Đại Nam liệt truyện (Tập 3,4), (Nhiều tác giả dịch), Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

82. Nguyễn Ngọc San (chủ biên) (1998), Từ điển điển cố văn học trong nhà trường, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

83. Nguyễn Sử (2017), Lịch sử thư pháp Việt Nam, Nxb. Thế giới, Hà Nội. 

84. Trần Đình Sử (1997), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. 

85. Trần Đình Sử (2001), Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb. Đại học Quốc gia, Hà Nội. 

86. Trần Đình Sử (2002), Thi pháp Truyện Kiều, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

87. Trần Đình Sử (2004), Dẫn luận thi pháp học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

88. Nguyễn Hữu Sơn, Trần Đình Sử, Huyền Giang, Trần Ngọc Vương, Trần Nho Thìn, Đoàn Thị Thu Vân (1998), Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 

89. Trần Thị Băng Thanh (2000), Những nghĩ suy từ văn học Trung đại, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

90. Khâu Chấn Thanh (2001), Lý luận văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc (Mai Xuân Hải dịch), Nxb. Văn học, Hà Nội. 

91. Đào Thản (1998), Từ ngôn ngữ chung đến ngôn ngữ nghệ thuật, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

92. Trần Ngọc Thêm (1997), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

93. Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí Minh. 

94. Trần Nho Thìn (2006), “Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9, tr. 65-82 và số 10, tr. 164-184. 

95. Nguyễn Khắc Thuần (1997), Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

96. Mai Thục, Đỗ Đức Hiểu (1997), Điển tích văn học, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

97. Lê Huy Tiêu (2001), Từ điển thành ngữ, điển cố Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 

98. Bùi Đức Tịnh (2005), Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam (tái bản), Nxb. Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh. 

99. Nguyễn Đức Tồn (2008), Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

100. Cù Đình Tú (2001), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

101. Hoàng Tuệ (1996), Ngôn ngữ và đời sống xã hội văn hóa, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

102. Nguyễn Q. Thắng (2007), Văn học Việt Nam nơi miền đất mới (Tập 1), Nxb. Văn học, Hà Nội. 

103. Lương Duy Thứ (chủ biên) (2000), Đại cương văn hóa phương Đông, Nxb Đại học quốc gia, Tp Hồ Chí Minh. 

104. Lê Ngọc Trà (2001), Văn hóa Việt Nam, đặc trưng và cách tiếp cận, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

105. Hoàng Trinh (1991), "Thi pháp học và thế giới vi mô của tác phẩm văn học", Tạp chí văn học, số 5, tr. 18 - 23. 

106. Hoàng Trinh (1997), Từ ký hiệu học đến thi pháp học, Nxb. Đà Nẵng. 

107. Hải Trung (2002), Chơi chữ Hán Nôm - những bài thơ độc đáo, Nxb. Thuận Hóa, Huế. 

108. Hải Trung (2003), “Thơ trên di tích cung đình Nguyễn - Những giá trị nhân văn và vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn”, Kỷ yếu hội thảo Hán Nôm, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, tr. 230 - 238, Huế. 

109. Nguyễn Phước Hải Trung (2006), Đặc điểm ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa, Luận văn Cao học Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học, Huế. 

110. Nguyễn Phước Hải Trung (2012), Huế xưa tìm lại, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội. 

111. Nguyễn Phước Hải Trung (2012), “Thơ chữ Hán trên điện Thái Hòa, một di sản tư liệu có giá trị nghiên cứu về thời Nguyễn (1802-1945) ở Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ tư, Viện KHXH Việt Nam, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 571 - 588, Hà Nội. 112. Mai Khắc Ứng (1993), Lăng của Hoàng đế Minh Mạng, Hội Sử học Việt Nam, Hội Sử học Thừa Thiên Huế xb, Huế. 

113. Lê Trí Viễn (1996), Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 

114. Lê Trí Viễn (1999), Quy luật phát triển lịch sử văn học Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội. 

115. Trần Ngọc Vương (chủ biên) (2015), Văn học Việt Nam thế kỷ X đến thế kỷ XIX, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội. 

116. Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Viện Viễn Đông Bác Cổ, Di sản Hán Nôm Việt Nam, Thư mục đề yếu, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội. 

117. Viện Sử học (2002), Lịch sử Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội. 

118. Trần Đại Vinh (1992), “Thơ trên các di tích kiến trúc cung đình Huế”, tạp chí Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học, Công Nghệ và Môi trường Thừa Thiên Huế, số 1, tr. 22 - 30, Huế II. Tiếng nước ngoài 119. (2008), 西 , 暨大南

120. (2007), ,

121. (2003), , ,

122. Barasch, Moshe (2000), Theories of art 2: from Winckelmann to Baudelaire, Published by Routledge. 

123. Dorra. H (1995), Symbolist Art theories, The University of California Press.
Huế 2019
Nguyễn Phước Hải Trung
Theo https://hueuni.edu.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em

"Anh có còn ngần ngại nói: Yêu em?" Bài thơ có kết cấu đầu cuối tương ứng bởi câu thơ mở đầu lặp lại ở khổ thơ cuối: “Những thàn...