Thế giới nghệ thuật trong thơ MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
1.1. Trong lịch sử, các công sở hành chính, cơ quan chuyên môn của triều Nguyễn và khu vực sinh hoạt của Hoàng gia bao gồm cả một hệ thống kiến trúc với hàng trăm công trình có quy mô lớn nhỏ, chính phụ khác nhau. Hệ thống kiến trúc cung đình Huế là những điển hình cho trình độ kỹ thuật xây dựng cũng như trình độ thẩm mỹ của Việt Nam vào thế kỷ XIX. Đặc biệt, trên các kiến trúc cung đình Huế, ở những vị trí khác nhau tại ngoại thất cũng như nội thất kiến trúc thường có sự xuất hiện của các ô chữ Hán được bố trí xen kẻ với các họa tiết. Đó là những bài thơ, câu thơ chữ Hán, trang trí theo lối nhất thi, nhất họa. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế là sự khác biệt nổi bật của một kiểu trang trí kiến trúc riêng có của Việt Nam so với kiến trúc của các nước đồng văn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Việc chủ động trang trí thơ chữ Hán với các hình thức khác nhau trên kiến trúc chỉ có ở triều Nguyễn. Những công trình tương tự như vậy không xuất hiện ở các triều đại Việt Nam trước đó cũng như ở các nước đồng văn. Vì lẽ đó, có thể khẳng định thơ trên kiến trúc cung đình Huế là sự độc đáo của một lối trang trí kiến trúc định hình, ổn định và phát triển thành một ngôn ngữ thẩm mỹ riêng biệt. Đó là một giá trị có tính đỉnh cao.
1.2. Nghiên cứu về một số đặc điểm nghệ thuật thơ trên kiến trúc cung đình Huế sẽ chỉ ra rằng, đây không chỉ là những chi tiết trang trí phục vụ mục đích thẩm mỹ, thơ được trang trí trên kiến trúc còn có những giá trị nội dung, giá trị tư tưởng và những phẩm chất nghệ thuật không thể phủ nhận từ giác độ là một văn bản nghệ thuật. Giá trị của các bài thơ ấy là nguồn tư liệu vô cùng quý giá, góp phần khẳng định diện mạo văn học cũng như lịch sử thời Nguyễn. Tồn tại trên các cấu kiện kiến trúc, thơ trên kiến trúc cung đình Huế thật sự đã trở thành một bảo tàng vật chất khổng lồ về văn học, thật sự trở thành những minh chứng thuyết phục về một thời kỳ phát triển rực rỡ của văn học trung đại Việt Nam. Với những giá trị đó, vào ngày 19/5/2016, tại Hội nghị toàn thể lần thứ 7 của Ủy ban Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương (gọi tắt là MOWCAP), thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế đã được công nhận là “Di sản tư liệu thuộc chương trình ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương”.
1.3. Với nhiều ý nghĩa cộng hưởng và đáp ứng mục tiêu của chiến lược nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá về di sản tư liệu đặc biệt nói trên, luận án xác định chọn nội dung Thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế để làm đề tài nghiên cứu. Việc nghiên cứu này sẽ phần nào giúp chúng ta không những nhận thức một cách đúng đắn về nội dung các tác phẩm thơ ca trên kiến trúc cung đình Huế mà còn hiểu rõ hơn về những đặc điểm nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của chủ nhân/ tác giả của nó. Việc tìm hiểu này sẽ chỉ ra rằng: “Thơ trên di tích đã góp phần làm nên phần hồn, làm tăng tính văn hóa cho các công trình kiến trúc thời Nguyễn. Đó cũng là bản chất tâm hồn của chủ nhân với những khát vọng và ước mơ chính đáng về triều đại. Và, thơ đã trở thành thông điệp để nối quá khứ với hiện tại, quá khứ với tương lai trong một hành trình bất tận của cuộc kiếm tìm và khám phá cái đẹp” [107, tr.238].
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu toàn diện thơ chữ Hán trên kiến trúc cung đình Huế đã được ghi chép, dịch thuật, chú giải bước đầu và được tác giả luận án hệ thống, biên dịch, chú giải, hiệu đính lại bao gồm 1.087 bài thơ ở các thể khác nhau. Bên cạnh đó, tác giả luận án cũng đối chiếu, kiểm chứng lại với số lượng thơ trên kiến trúc cung đình Huế từ khuôn khổ sử dụng các nguồn tài liệu đã công bố bao gồm: 47 bài thơ chạm khắc trên điện Long An được giới thiệu trong sách Điện Long An, di tích kiến trúc nghệ thuật do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cô đô Huế xuất bản năm 2005; các bài thơ được giới thiệu trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản năm 2015; tham khảo 115 bài thơ tại lăng Minh Mạng in trong sách Lăng của Hoàng đế Minh Mạng do Hội Sử học Việt Nam, Hội Sử học Thừa Thiên Huế xuất bản 1993; 8 bài thơ trên kiến trúc Ngọ Môn, 191 bài thơ trên điện Thái Hòa in trong sách Từ Ngọ Môn đến Thái Hòa Điện của tác giả Huỳnh Minh Đức do Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh xuất bản năm 1994; 191 bài thơ trên điện Thái Hòa in trong luận văn thạc sĩ của Nguyễn Phước Hải Trung. Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng một số bài thơ do tác giả luận án tự dịch được đăng tải trên các diễn đàn khác nhau. Ngoài ra, một số tài liệu chính sử của triều Nguyễn sẽ được luận án sử dụng để nêu cơ sở kiểm chứng những lập luận, phán đoán trong luận án.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận án xác định một số phạm vi nghiên cứu bao gồm các nội dung như những quan niệm về con người trong văn học trung đại tham chiếu vào hình tượng con người trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế; nghiên cứu, nhận định về hình tượng không gian, thời gian; phân tích thi pháp thơ từ đặc điểm sử dụng từ ngữ, sử dụng thể loại, cấu tạo nhịp vần cùng các biện pháp nghệ thuật đặc sắc có mặt trong thơ trên kiến trúc. Ngoài ra, luận án còn chú ý phân tích những giá trị thẩm mỹ nhìn từ chỉnh thể bài trí, từ các thể chữ đến nghệ thuật thư pháp của thơ trên kiến trúc cung đình Huế; đồng thời phân tích các nội dung chứa đựng những giá trị mang tính thông điệp lịch sử được gửi gắm qua tác phẩm văn chương.
3. Cơ sở lý thuyết và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án sử dụng lý thuyết thi pháp học kết hợp các kiến giải từ góc độ ngôn ngữ học, sử học và văn hóa học để nghiên cứu. Trên cơ sở lý thuyết, tác giả xác định những vấn đề cần giải quyết trong luận án, bao gồm:
Thông qua các tài liệu, lý thuyết và các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án để miêu tả khái quát về cơ sở xã hội trong thời đại nhà Nguyễn với việc quy hoạch kiến trúc cung đình; giới thiệu về loại hình thơ trên kiến trúc với những đặc điểm cơ bản gắn liền với tình hình văn học thời Nguyễn. Nội dung này có tính chất miêu thuật cụ thể về đối tượng nghiên cứu, làm cơ sở cho sự phân tích ở nhiệm vụ trọng tâm.
- Luận án tiến hành phân tích về thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế, những giá trị nghệ thuật thơ trên kiến trúc cung đình Huế, làm rõ một số đặc điểm qua quan niệm nghệ thuật, các hình tượng không gian, thời gian, các phương thức biểu hiện của một loại hình thơ rất đặc biệt xét từ góc độ văn bản học, đó là thơ trên kiến trúc. Việc nghiên cứu này sẽ góp phần chỉ ra các cấu trúc hình thức mang tính nội dung các bài thơ trên kiến trúc cung đình Huế, nhằm có cơ sở để hiểu đủ, hiểu đúng các tác phẩm văn chương trong quá trình phát triển tư duy nghệ thuật, phục vụ cho việc tìm hiểu nội dung tác phẩm một cách xác đáng nhất. Bên cạnh đó, nó còn giúp đánh giá đúng tư duy nghệ thuật của mỗi tác phẩm văn chương và hình tượng tác giả. Từ đây sẽ có những căn cứ xác đáng để có thể đánh giá một cách đúng đắn hơn về giá trị nội dung tư tưởng của nó.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu “Thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế”, chúng tôi sử dụng các phương pháp, thủ pháp liên ngành khác nhau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích, tổng hợp là phương pháp cơ bản nhất được áp dụng để phân tích tác phẩm thơ, được áp dụng trên cơ sở dựa vào hệ thống lý thuyết thi pháp học, tu từ học để phân tích, nhận xét, đánh giá đặc điểm nghệ thuật và các giá trị thẩm mỹ của thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Từ cơ sở này sẽ rút ra được những nhận định cơ bản, có tính khái quát về những thông điệp thẩm mỹ của hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đây là phương pháp được sử dụng khi phân tích nhằm chỉ ra những nét tương đồng, dị biệt trong nội tại hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng như so sánh với các dạng thức khác. Đó là cơ sở để làm nổi bật những giá trị của thơ trên kiến trúc cung đình Huế.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Thực chất ở đây chủ yếu là thống kê tần số hoạt động của chữ, mật độ sử dụng ngôn ngữ ở cấp độ chữ, từ ngữ tạo nên ngữ liệu cần thiết tương ứng với các yêu cầu cụ thể khi phân tích, nhận định các vấn đề được nêu tại các chương, mục trong luận án, là cơ sở, là điều kiện cần để kiểm chứng các lập luận, phán đoán, nhận định.
- Ngoài ra, trên cơ sở yêu cầu của đề tài, các thủ pháp liên ngành như lịch sử, văn hóa, bảo tàng học, thư pháp học, mỹ học, điền dã, v.v. cũng được chúng tôi vận dụng để soi chiếu các vấn đề về thời đại nhà Nguyễn, về kiến trúc cung đình Huế, về lịch sử văn chương thời Nguyễn, văn chương cung đình thời Nguyễn cũng như định hướng các lập luận khi phân tích để đưa ra phán đoán và nhận định.
5. Đóng góp khoa học của luận án
Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy, việc nghiên cứu nghệ thuật thơ trên kiến trúc cung đình Huế sẽ có những đóng góp mang ý nghĩa về khoa học và thực tiễn.
- Trước hết việc nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế sẽ góp phần nghiên cứu lịch sử phát triển của văn học thời Nguyễn nói riêng cũng như văn học Việt Nam nói chung. Đặc biệt là khái quát được tình hình "văn học cung đình thời Nguyễn" gắn liền với các hoàng đế thi sĩ, nội dung mà trước đây ít có công trình đề cập đến.
- Việc nghiên cứu về thế giới nghệ thuật của thơ trên kiến trúc cung đình Huế sẽ giúp các nhà nghiên cứu văn học trung đại hiểu thêm về một nguồn thi liệu quan trọng, có giá trị để làm đối tượng và dẫn liệu khi nghiên cứu về văn học trung đại ở Việt Nam nói riêng cũng như văn hóa dân tộc nói chung.
- Từ sự kiện được UNESCO công nhận là di sản tư liệu, việc chọn nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế của luận án còn có ý nghĩa cấp thiết như một gợi ý lâu dài về đối tượng nghiên cứu đối với chuyên ngành văn học Việt Nam, ngành ngôn ngữ học, ngành Hán Nôm học.
- Ngoài các ý nghĩa trên đây, việc nghiên cứu này còn có ý nghĩa đặt vấn đề nghiên cứu toàn diện khi nghiên cứu văn hóa lịch sử thời Nguyễn. Cho đến nay, các nghiên cứu về triều Nguyễn thường đi sâu vào các vấn đề chính trị, kinh tế, quốc phòng, văn hóa, mỹ thuật, nhưng rất ít công trình đề cập đến thơ của các hoàng đế triều Nguyễn, đặc biệt là thơ trên kiến trúc cung đình Huế với các nội dung thể hiện tình cảm của các hoàng đế cũng như quan điểm của triều đại. Nghiên cứu này cũng góp phần bổ sung những vấn đề liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu văn hóa nghệ thuật thế kỷ XIX. Do vậy, những nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế sẽ phần nào bổ sung cứ liệu để các nhà nghiên cứu có những nhận định khách quan và thỏa đáng hơn khi đánh giá về triều đại này.
- Nghiên cứu thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng góp phần khẳng định giá trị của một loại hình tư liệu đã được UNESCO công nhận là "Di sản ký ức thế giới", tiếp tục khẳng định truyền thống văn hóa tốt đẹp, giàu bản sắc của con người Việt Nam.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án được cấu trúc thành bốn chương:
- Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu.
Chương này nhằm tính tổng kết thực tiễn tài liệu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế mà chúng tôi đã khảo sát. Ngoài miêu tả và đánh giá những nội dung mà người đi trước đã thực hiện, phần tổng quan nêu lên những định hướng nội dung cho toàn bộ luận án.
- Chương 2: Bối cảnh xã hội - văn hóa thời Nguyễn và thơ trên kiến trúc cung đình Huế.
Xuất phát từ tính chất, đặc điểm đối tượng nghiên cứu, nên chương này khái quát những vấn đề cơ bản về lịch sử và tình hình văn học thời Nguyễn, giới thiệu tổng quan về thơ trên kiến trúc cung đình Huế qua những nét cơ bản có tính định hướng, làm cơ sở cho sự lập luận, phân tích ở chương tiếp theo.
- Chương 3: Thơ trên kiến trúc cung đình Huế nhìn từ hình tượng con người, không gian và thời gian.
Việc nghiên cứu hình tượng về con người, không gian và thời gian mang ý nghĩa quan trọng, vì quan niệm gắn với hình tượng chi phối toàn bộ tác phẩm của nhà văn. Chương 3 mô tả đặc điểm về hình tượng con người, các kiểu không gian và thời gian, đánh giá các hiện tượng phổ biến liên quan đến cảm thức và quan niệm.
- Chương 4: Thơ trên kiến trúc cung đình Huế nhìn từ phương thức biểu hiện.
Xuất phát từ các đặc điểm nổi bật qua sử dụng ngôn từ, ở chương này, chúng tôi tiến hành đánh giá thơ trên kiến trúc cung đình Huế qua các phương thức biểu hiện, đặc biệt là các biện pháp nghệ thuật nổi bật được sử dụng trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế.
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về tình hình dịch thuật, giới thiệu và nghiên cứu
Kiến trúc cung đình Huế đã phản ảnh nhiều giá trị truyền thống ở nhiều giác độ khác nhau. Từ lịch sử đến kiến trúc, từ mỹ học đến văn học, từ công nghệ cổ truyền đến ngành nghề truyền thống v.v... rõ ràng đã khái quát lên một phức hợp di sản vật chất lẫn tinh thần với hai thế kỷ tồn tại. Trong ý nghĩa này, hệ thống thơ ca trên di tích cung đình Huế đã đặt ra những yêu cầu bảo tồn, gìn giữ, nghiên cứu và giới thiệu đối với đội ngũ làm công tác bảo tồn di sản ở Huế nói riêng cũng như giới nghiên cứu văn hóa nghệ thuật nói chung. Sau năm 1975 đến nay, nhiều công trình kiến trúc đã được tu bổ, trùng tu, trả lại những giá trị vật chất và tinh thần cho từng di tích. Theo đó, các bài thơ trên di tích cũng được bảo tồn theo nguyên dạng ở nhiều công trình kiến trúc như Thế Miếu, Triệu Miếu, Hưng Miếu, điện Sùng Ân, Minh Lâu, v.v... Nghiên cứu về một số đặc điểm nghệ thuật thơ trên kiến trúc cung đình Huế sẽ chỉ ra rằng, đây không chỉ là những chi tiết trang trí phục vụ mục đích thẩm mỹ, thơ được trang trí trên kiến trúc còn có những giá trị nội dung, giá trị tư tưởng và những phẩm chất nghệ thuật không thể phủ nhận từ giác độ là một văn bản nghệ thuật. Giá trị của các bài thơ ấy là nguồn tư liệu vô cùng quý giá, góp phần khẳng định diện mạo văn học cũng như lịch sử thời Nguyễn. Tồn tại trên các cấu kiện kiến trúc, thơ trên kiến trúc cung đình Huế thật sự đã trở thành một bảo tàng vật chất khổng lồ về văn học, thật sự trở thành những minh chứng thuyết phục về một thời kỳ phát triển rực rỡ của văn học trung đại Việt Nam. Với những giá trị đó, vào ngày 19/5/2016, tại Hội nghị toàn thể lần thứ 7 của Ủy ban Chương trình Ký ức Thế giới khu vực châu Á - Thái Bình Dương (gọi tắt là MOWCAP), thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế đã được công nhận là “Di sản tư liệu thuộc chương trình ký ức thế giới khu vực Châu Á - Thái Bình Dương”.
Nhiều năm qua việc tổ chức ghi chép, phiên âm, dịch nghĩa, chú giải một cách tổng thể các ô chữ Hán ở toàn bộ các di tích Huế đã góp phần gìn giữ các di sản thơ trên di tích. Đây thật sự đã trở thành một nguồn tư liệu phong phú, được bảo lưu có tính hệ thống nhằm tạo cơ sở dữ liệu cho công tác nghiên cứu văn học cũng như công tác bảo tồn. Hiện nay, việc khai thác, phát huy giá trị thơ ca trên di tích Huế đang được sự quan tâm của những người làm công tác nghiên cứu khoa học gắn liền với sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa cung đình Huế.
Đối với hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế, vấn đề giới thiệu, nghiên cứu chỉ mới được đặt ra trong những năm gần đây. So với các loại hình thi ca trung đại khác, thành tựu về nghiên cứu thơ trên kiến trúc cung đình Huế đang còn khá khiêm tốn, chỉ mang tính gợi mở, đặt vấn đề.
1.1.1. Tình hình dịch thuật, giới thiệu
Chỉ trong khoảng 20 năm trở lại đây, loại hình thơ trên kiến trúc cung đình Huế mới được một số ít các nhà nghiên cứu quan tâm, xem là đối tượng để nghiên cứu, nhưng thực tế thì chưa có nhiều thành tựu đáng kể. Do đó, lịch sử nghiên cứu về đối tượng văn học này không có được diễn trình phong phú như các đối tượng văn học khác trong dòng chảy văn học trung đại nói riêng cũng như văn học Việt Nam nói chung. Vì vậy, trước khi đề cập đến tình hình nghiên cứu, ở đây, chúng tôi xin trình bày khái quát về công tác dịch thuật, giới thiệu thơ trên kiến trúc cung đình Huế, vì đó chính là đối tượng nghiên cứu trực tiếp trong nội dung của luận án này.
Từ năm 1991, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (Trung tâm BTDTCĐ Huế) đã tổ chức một nhóm nghiên cứu Hán Nôm tiến hành ghi chép, phiên âm, dịch nghĩa hệ thống văn tự chữ Hán (chủ yếu là thơ) trên kiến trúc cung đình Huế nhằm gìn giữ khối lượng di sản tư liệu này trước nhiều nguy cơ bị hủy hoại theo các công trình. Đợt này có sự tham gia của các nhà nghiên cứu như Trần Đại Vinh, Phan Thuận An, Nguyễn Tân Phong đã tiến hành ghi chép, phiên âm hệ thống thơ được chạm khắc trên các kiến trúc như Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Thế Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu (thuộc khu vực Hoàng Thành); Bi Đình, Hiển Đức Môn, điện Sùng Ân, Minh Lâu (thuộc lăng Minh Mạng); Hồng Trạch Môn, điện Biểu Đức, (thuộc lăng Thiệu Trị); điện Long An (nay thuộc Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế); đình Hương Nguyện (thuộc chùa Linh Mụ).
Sau đó, năm 1995, một nhóm nghiên cứu khác gồm Phan Thuận An, Nguyễn Tân Phong, Phan Thanh Hải, Nguyễn Phước Hải Trung, Phạm Đức Thành Dũng tiếp tục điền dã ghi chép phần còn lại của hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Đợt này đã thực hiện việc điền dã, ghi chép, phiên âm, dịch nghĩa thơ ở các kiến trúc như Triệu Tổ Miếu, Tam quan điện Phụng Tiên (thuộc khu vực Hoàng Thành); Bi đình (lăng Thiệu Trị); điện Long Ân (lăng Dục Đức); điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh); Di Luân Đường (Quốc Tử Giám); điện Khải Thành (lăng Khải Định).
Nhìn chung, cả hai đợt điền dã, các nhóm nghiên cứu đã cơ bản ghi chép, phiên âm, dịch nghĩa bước đầu về hệ thống văn tự tồn tại trên hệ thống kiến trúc cung đình Huế. Tuy vậy, công việc này mới dừng lại ở những chừng mức nhất định. Toàn bộ tài liệu điền dã đã được cố định mang tính tư liệu ở mức độ lưu trữ, tham khảo, chưa được chỉnh lý, hiệu chỉnh một cách khoa học.
Năm 1993, Hội Sử học Việt Nam, Hội Sử học Thừa Thiên Huế xuất bản sách “Lăng của Hoàng đế Minh Mạng” của tác giả Mai Khắc Ứng. Tập sách ngoài mục đích chính là giới thiệu về kiến trúc lăng Minh Mạng, tác giả cũng đã cố gắng phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ 115 bài thơ tại Bi đình, điện Sùng Ân và Hiển Đức Môn thuộc quần thể lăng Minh Mạng. Trong sách này, Mai Khắc Ứng cũng đã phân tích nêu lên quan điểm về cách ghép (sắp xếp) các câu thơ được chạm khắc trên kiến trúc nằm ở các vị trí khác nhau để liên kết thành bài thơ.
Năm 1994, tác giả Huỳnh Minh Đức xuất bản tác phẩm “Từ Ngọ Môn đến Thái Hòa Điện” (Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1994), được xem là tác phẩm đầu tiên giới thiệu tương đối hệ thống về các bài thơ trên kiến trúc cung đình, ở đây là trường hợp Ngọ Môn và điện Thái Hòa. Công trình chủ yếu giới thiệu khái lược về kiến trúc Ngọ Môn, điện Thái Hòa và phiên âm dịch nghĩa, chú thích 8 bài thơ trên kiến trúc Ngọ Môn, 191 bài thơ trên điện Thái Hòa. Trong lời tựa của sách, Bửu Cầm đã nhận định: “Cuốn Từ Ngọ Môn đến Thái Hòa Điện của ông Huỳnh Minh Đức là một đóng góp tích cực vào công cuộc bảo vệ những di sản văn hóa bị thời gian và chiến tranh tàn phá (…) Chỉ tiếc một điều là trong sách này, tác giả chưa dành thời gian để phân tích, tổng hợp và đánh giá nội dung tất cả các văn tự được trang trí ở hai công trình kiến trúc cung đình nổi tiếng ấy” [19, tr.155].
Năm 2005, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản sách “Điện Long An, di tích kiến trúc nghệ thuật”. Đây là cuốn sách giới thiệu về lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật điện Long An - một ngôi điện tiêu biểu về nghệ thuật chạm khắc trên gỗ và khảm cẩn xà cừ và là một ngôi điện điển hình nhất về kiến trúc nghệ thuật triều Nguyễn. Phần cuối sách đã tuyển chọn phiên âm, dịch nghĩa 47 bài thơ chạm khắc trên ngôi điện này.
Ngoài ra, từ năm 2015 trở về trước, các tác giả như Phan Thuận An, Ngô Thời Đôn, Nguyễn Phước Hải Trung, Phạm Đức Thành Dũng cũng đã có một số bản dịch giới thiệu thơ trên kiến trúc cung đình Huế thông qua các nghiên cứu đăng tải ở nhiều diễn đàn khác nhau.
Đến năm 2016, toàn bộ hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế về cơ bản đã được Trung tâm BTDTCĐ Huế quay phim, chụp ảnh, số hóa để lưu trữ nhằm đề phòng những tình huống bất ngờ xảy đến với kiến trúc, làm tổn hại đến hệ thống thi ca tại đây. Đó là một hình thức “san định” hiệu quả, tạo nên một “phông dữ liệu” phục vụ nghiên cứu về di sản. Đặc biệt, cũng trong năm này, “Hợp tuyển thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế” đã được Trung tâm BTDTCĐ Huế tổ chức tiến hành dịch thuật, nhuận sắc để làm tư liệu tham khảo đặc biệt. Hợp tuyển giới thiệu 146 bài thơ thuộc các kiến trúc Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Thế Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu (thuộc khu vực Hoàng Thành); Minh Lâu (thuộc lăng Minh Mạng); điện Biểu Đức, (thuộc lăng Thiệu Trị); điện Ngưng Hy (thuộc lăng Đồng Khánh); điện Long Ân (thuộc lăng Dục Đức); điện Long An (thuộc Bảo tàng tàng Cổ vật Cung đình Huế); đình Hương Nguyện (thuộc chùa Linh Mụ).
Cùng với công tác dịch thuật, giới thiệu, lưu trữ, nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế tuy chưa được nhiều tác giả quan tâm, nhưng cũng đã được sự lưu ý của một số nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa Huế.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế từ trước đến nay nói chung vẫn chưa có nhiều thành tựu đáng kể so với bức tranh thành tựu nghiên cứu thơ ca trung đại ở Việt Nam. Ở một số tạp chí, sách báo từ năm 1972 đến nay, có những tác giả đã đề cập đến một số vấn đề liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hệ thống thơ trên di tích Huế như Pierre Daudin, Nguyễn Tân Phong, Nguyễn Tài Cẩn, Trần Đại Vinh, Phan Thuận An, Nguyễn Phước Hải Trung, Phạm Đức Thành Dũng, v.v... Gần đây nhất, hội thảo “Bảo tồn và phát huy hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế” đã ít nhiều thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong toàn quốc. Dưới đây, xin được lược khảo về tình hình nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế kể từ khi giới nghiên cứu đặt vấn đề vào năm 1960 đến nay.
Năm 1960, ban biên tập Tập san Việt Nam khảo cổ đã phát động kêu gọi các bậc thức giả khám phá bí mật bài thơ “Vũ trung sơn thủy” (Non nước trong mưa) của vua Thiệu Trị được chạm cẩn xà cừ trên điện Long An. Bài thơ có bố cục từ 56 chữ Hán nhưng đọc được 64 bài thơ khác nhau, nhưng đến thời điểm bấy giờ chưa có ai lưu ý giải mã. Nội dung lời kêu gọi này có đoạn: “Viện Bảo tàng Huế đã nhờ mấy vị túc nho đọc mấy bài thơ ấy, có vị chỉ đọc được đôi bài, có vị đọc được vài ba bài (…). Ẩn ngữ thời cổ Sumer, Assyrie, Ai Cập, Hy Lạp còn có người biết được huống chi chỉ có hai bức thơ chữ Hán khảm trong một cung điện có cách đây hơn một thế kỷ mà chẳng lẽ không ai đọc được hay sao? Dẫu sao chúng ta cũng nên nhờ ngay một số nhà cựu nho sớm vén màn bí mật, nếu không, hai bức thơ ấy sẽ trở thành những ẩn ngữ chôn vùi vĩnh viễn với thời gian” [75, tr.10]. Nhưng cuộc phát động này không thu được kết quả. Mãi đến 12 năm sau, năm 1972, một học giả nước ngoài là Pierre Daudin mới “bước đầu” tìm cách giải mã bài thơ này. Trên tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông Dương (B.S.E.I) có đăng bài “Poèmes anacycliques de l’empereur Thieu Tri” (Tìm lời đáp về bài thơ của Hoàng đế Thiệu Trị) của Pierre Daudin với nội dung nghiên cứu về bài thơ nói trên với kết quả giải mã được 12 bài theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Pierre Daudin cũng chỉ giải quyết được cách đọc thành 12 bài trong lúc mà bài thơ chơi chữ của vua Thiệu Trị yêu cầu phải đọc được thành 64 bài khác nhau. Nhưng dẫu sao, thực tế này cho thấy, có lẽ Pierre Daudin là người đầu tiên nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế.
Hơn hai mươi năm sau, các tác giả như Nguyễn Tân Phong, Nguyễn Tài Cẩn lại tiếp tục tập trung nghiên cứu bài thơ chơi chữ theo lối kỹ xảo nói trên.
Năm 1994, Nguyễn Tân Phong xuất bản tập sách “Về hai bài thơ hồi văn kiêm liên hoàn của vua Thiệu Trị” (Nxb. Thuận Hóa, Huế) tập trung vào việc giải mã hai bài thơ “Vũ trung sơn thủy” (Non nước trong mưa) và bài “Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm” (Ngâm vịnh tại hội thơ ban đêm ở vườn Phước Viên). Tập sách cũng giải mã và định hình cách đọc được 64 bài thơ nhưng chỉ ở thể thất ngôn tứ tuyệt trong lúc mà bài thơ của vua Thiệu Trị yêu cầu phải đọc được thành 64 bài thể thất ngôn bát cú Đường luật.
Tiếp theo, năm 1996, trên tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế, tác giả Nguyễn Tài Cẩn đã có hai bài viết “Thử tìm hiểu thêm về bài thơ Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị” và “Bàn thêm về kỹ xảo bài Vũ trung sơn thủy” (hai bài viết này đều in lại trong sách “Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hóa”). Trong bài viết, tác giả đã phân tích rất chi tiết về những khả năng kết hợp để có thể đảm bảo tính chất hồi văn kiêm liên hoàn của bài thơ: từ 01 bài thơ gốc ban đầu, có thể đọc được 64 bài, thậm chí còn gấp đôi số lượng này. Tác giả nhận định: “Rõ ràng bài Vũ trung sơn thủy là một trường hợp hồi văn khá phức tạp: tuy Thiệu Trị chỉ dùng 56 chữ, nhưng do cách kết cấu, sắp xếp các câu, các đoạn, cuối cùng 56 chữ ấy đã cho phép ta có thể tìm ra 64 điểm xuất phát, rồi đọc ‘quanh co đi lại’ thành được 128 bài” [9, tr.351]. Năm 1998, tác giả Nguyễn Tài Cẩn xuất bản sách “Tìm hiểu kỹ xảo hồi văn kiêm liên hoàn trong bài Vũ trung sơn thủy của Thiệu Trị”. Sau nghiên cứu này, Nguyễn Tài Cẩn đã giải quyết dứt điểm về cách đọc để có được 64 bài thơ thể thất ngôn bát cú đối với cả hai bài thơ “Vũ trung sơn thủy” và “Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm”.
Những nghiên cứu đã nêu trên chỉ đề cập đến loại đối tượng đơn lẻ đó là hai bài thơ chơi chữ của vua Thiệu Trị được cẩn xà cừ trên điện Long An mà thôi. Ngoài các nghiên cứu về trường hợp thi ca này, một số tác giả khác đã quan tâm đến việc nghiên cứu thơ trên kiến trúc cung đình Huế ở những nội dung và phạm vi khảo cứu khác nhau. Năm 1991, trong cuốn sách “Kiến trúc cố đô Huế”, khi nghiên cứu về kiến trúc điện Thái Hòa, Phan Thuận An đã giới thiệu một số bài thơ chạm khắc trên kiến trúc này. Tuy chỉ là những điểm xuyết, nhưng cũng khái quát được phần nào về hệ thống thơ ở kiến trúc điện Thái Hòa: “Tòa cung điện này còn ghi lại được nhiều ngôn ngữ văn học với 297 ô hộc khắc chạm và đúc nổi [sic] thơ chữ Hán, nói lên một trong những nét đặc sắc của văn hóa Phú Xuân thế kỷ XIX” [1, tr.58].
Năm 1992, Trần Đại Vinh có bài viết “Thơ trên các di tích kiến trúc cung đình Huế” đăng trên tạp chí Thông tin Khoa học Công nghệ số 1. Trong bài viết này, thông qua những nhận định về nội dung tác phẩm, Trần Đại Vinh đã giới thiệu 25 bài thơ được chạm khắc tại các kiến trúc như Ngọ Môn, điện Thái Hòa, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị. Tác giả nhận định: “Toàn bộ các ô hộc thơ đó hợp thành vài ngàn bài đã tỏ rõ chiều sâu tâm hồn và tư tưởng của các vua. Đề tài gồm vịnh cảnh thiên nhiên, cảnh sinh hoạt, sự nghiệp thành tựu của vương triều. Thể tài [sic] là thơ luật Đường, thất ngôn tứ tuyệt bát cú, nhưng phần lớn là ngũ ngôn tứ tuyệt hay ngũ ngôn bát cú. Tất cả đều dùng văn tự Hán.” [117, tr.22]. Đây là lần đầu tiên có một nghiên cứu tổng quan về thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Tuy nhiên, nội dung nghiên cứu chỉ dừng ở tính chất giới thiệu, điểm xuyết sơ lược về nội dung các bài thơ được đề cập đến, chưa có những khảo sát kỹ lưỡng về nghệ thuật thơ. Nhưng dẫu sao bài viết này cũng đã khái quát nên được nội dung cơ bản nhất của hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế, rất có ý nghĩa vào thời điểm bấy giờ.
Năm 2005, Phạm Đức Thành Dũng có bài “Vua Thiệu Trị và những bảo tàng thơ” in tại sách “Điện Long An, di tích kiến trúc nghệ thuật”. Tác giả đã tập trung nghiên cứu về thân thế sự nghiệp của vua Thiệu Trị, đồng thời giới thiệu và nêu nhận định về những bài thơ khắc trên các công trình tiêu biểu dưới thời Thiệu Trị như Minh Trưng Các, điện Long An (thuộc Quốc Tử Giám); đình Hương Nguyện (thuộc chùa Linh Mụ). Phạm Đức Thành Dũng nhận định: “Thơ ở điện Long An được chạm khắc muôn màu muôn vẻ trên các ô hộc liên hoàn, ở các liên ba, đố bản với nhiều loại hình trang trí và đầy đủ các kiểu tự dạng chân thảo triện lệ” [61, tr.123].
Liên quan đến những vấn đề khác nhau của hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế, từ năm 1995 đến năm 2014, tác giả Nguyễn Phước Hải Trung đã có hơn 20 bài nghiên cứu. Trong đó, đáng chú ý là các bài Thơ trên Di tích Huế, tâm tưởng một triều đại (tạp chí Sông Hương số 12, 1998); Chủ đề trọng nông trong thơ trên di tích Huế (tạp chí Nghiên cứu Văn hoá nghệ thuật số 9, 1998); Thơ trên di tích cung đình Nguyễn- những giá trị nhân văn và vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn (“Kỷ yếu hội thảo Di sản Hán Nôm Thừa Thiên Huế”, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn Hà Nội, Trung tâm BTDTCĐ Huế, xb. năm 2003); Thơ chữ Hán trên điện Thái Hòa, một di sản tư liệu có giá trị nghiên cứu về thời Nguyễn (1802-1945) ở Việt Nam (Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ tư của Viện Khoa học xã hội Việt Nam và Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức tại Hà Nội, tháng 11/2014). Những bài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phước Hải Trung về thơ trên kiến trúc cung đình đã tập trung vào ba vấn đề chính. Thứ nhất, các nghiên cứu của tác giả đã giới thiệu một cách tổng quan về hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Ở góc độ nghiên cứu tổng quan về lịch sử văn hóa, qua bài viết “Thơ trên di tích Huế tiếp cận từ giá trị văn hóa”, tác giả nhận định: “Hiện nay, trên các công trình kiến trúc cung đình Huế hiện còn khoảng 3.500 ô chữ Hán (chính là các bài thơ, đoạn thơ, câu thơ) thường được trang trí xen kẽ với các họa tiết hoa văn kỹ hà, thảo mộc, linh vật, chim thú cách điệu với phong cách ước lệ... Mô típ trang trí này thường được gọi là nhất thi nhất họa. Nếu như các họa tiết mang tính khái quát cao về thẩm mỹ, về nhận thức thế giới khách quan thì các ô chữ Hán lại mang tính cụ thể về tư tưởng thông qua nội dung của các ký tự này, đồng thời cũng khái quát được thế giới nội tâm của con người, của chủ nhân các công trình kiến trúc này” [63, tr.75]. Thứ hai, các nghiên cứu của tác giả đã nghiên cứu và giải quyết một số trường hợp cụ thể của hệ thống thơ này qua các nhóm đề tài như “Những bài thơ có câu “Hà xứ xuân sinh tảo” trên di tích Huế”, “Chủ đề trọng nông trong thơ trên di tích Huế”, “Nhã nhạc trong thơ trên điện Thái Hòa”. Nhóm đề tài này phân tích thơ trên kiến trúc cung đình ở các chủ đề thông qua nội dung phản ánh trong thơ, đối chiếu viện dẫn cứ liệu lịch sử để góp phần chứng minh một số quan điểm, tư tưởng của nhà Nguyễn. Thứ ba, các nghiên cứu của tác giả đã đề ra các biện pháp, phương thức nhằm gìn giữ, bảo tồn và phát huy loại hình tư liệu văn chương này. Trong bài viết “Thơ trên di tích cung đình Nguyễn - Những giá trị nhân văn và vấn đề đặt ra cho công tác bảo tồn”, Hải Trung nhấn mạnh: “Việc bảo tồn di sản thi ca trên di tích Huế đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với thực tế hiện nay. Do vậy, nội dung của việc bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật của thơ trên kiến trúc cung đình Huế theo chúng tôi cần kết hợp với các nhà khoa học am hiểu chữ Hán trong lĩnh vực bảo tồn thơ trên di tích thông qua các lĩnh vực trùng tu, nghiên cứu. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh các công tác chỉnh lý hoàn thiện các hồ sơ tư liệu về thơ trên di tích hiện có, tập trung công tác nghiên cứu và xuất bản các công trình khoa học liên quan đến di sản thơ trên di tích kiến trúc cung đình Huế” [107, tr. 112]. Trong các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Phước Hải Trung, đáng chú ý là tham luận tại Hội thảo Quốc tế Việt Nam học năm 2014 “Thơ chữ Hán trên điện Thái Hòa, một di sản tư liệu có giá trị nghiên cứu về thời Nguyễn (1802-1945) ở Việt Nam”. Trong tham luận này, tác giả khẳng định: “Ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa thực sự là một hình ảnh thu nhỏ của một cộng đồng ngôn ngữ là giai cấp quý tộc, của tầng lớp đại diện cho tiếng nói triều đình Nguyễn. Xuất phát từ những nhu cầu nhận thức và phản ánh và đã làm nên một hiện tượng nghệ thuật đặc biệt. Và có thể cho rằng thơ trên điện Thái Hòa là tập đại thành về nghi thức tổ chức nhà nước quân chủ Việt Nam vào nửa đầu thế kỷ XIX. Đó là cơ sở để nghiên cứu về một loại hình về thơ ca mang tính nghi thức, đồng thời nó cũng có thể là cơ sở để nghiên cứu về nghi thức, điển chế của cả một giai đoạn lịch sử. Thơ trên điện Thái Hòa là sự phản ánh rất tập trung về “bức chân dung” chế độ và triều đại sản sinh ra nó” [110, tr.588]. Tựu trung, những nghiên cứu của Nguyễn Phước Hải Trung đều có nội dung tập trung bình luận văn chương theo hướng tiếp cận của liên ngành nghiên cứu văn học - lịch sử - văn hóa, chưa phát triển vấn đề theo hướng tiếp cận về nghệ thuật thơ. Những nghiên cứu này là những bài khảo cứu riêng lẻ, chưa đặt vấn đề nghiên cứu nghệ thuật thơ một cách hệ thống.
Trước đó, tác giả Nguyễn Phước Hải Trung đã thực hiện luận văn thạc sĩ với đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa” (Chuyên ngành Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Huế, 2006). Đây là một đề tài nghiên cứu có hệ thống về 191 bài thơ chữ Hán với hướng tiếp cận thống kê ngôn ngữ học và phân tích đặc điểm ngôn ngữ, từ đó rút ra những nội dung của hệ thống thơ chạm khắc trên điện Thái Hòa. Luận văn này nghiên cứu thơ trên điện Thái Hòa ở góc độ thống kê ngôn ngữ học. Nghiên cứu ngôn ngữ thơ đều xuất phát từ cơ sở các chủ đề được diễn đạt thông qua các hình thức ngôn ngữ, mà trước hết là việc sử dụng từ ngữ. Với tính chất đó, trong luận văn tác giả đã thống kê và miêu tả các tần số sử dụng chữ, từ ngữ nhằm làm nổi bật các chủ đề tư tưởng trong thơ trên điện Thái Hòa. Tác giả nhận định: “Một hệ thống thơ với 764 câu trong 1.078 chữ có tần số xuất hiện như đã phân tích, có sự trùng lặp về câu, chữ ở rất nhiều trường hợp như thế đã nói lên rằng, triều Nguyễn đã dùng thơ như ‘công cụ bổ sung’ cho việc trị nước: để giáo huấn, để bày tỏ lý tưởng, để bày tỏ ước mơ, để khẳng định về triều đại mình. Qua con số thống kê và từ những nhận xét trên cũng có thể chỉ ra rằng, việc sử dụng từ ngữ gắn liền với những chủ đề, ứng với vị trí của nó ở điện Thái Hòa đã tạo nên những giá trị thẩm mỹ, giá trị phong cách” [108, tr.59].
Đặc biệt, năm 2015, nhằm chuẩn bị cho việc đệ trình hồ sơ đến UNESCO để công nhận hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế là Di sản ký ức thế giới, Trung tâm BTDTCĐ Huế đã tổ chức hội thảo cấp quốc gia về “Bảo tồn và phát huy hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế” vào tháng 5/2015, thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu. Hội thảo này đã nhận được 34 tham luận tham gia ở các nhóm chủ đề như tổng quan về thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế; đánh giá giá trị của thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế; đề xuất phương án bảo tồn và phát huy giá trị.
Ở nhóm chủ đề về tổng quan hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, các tác giả Phan Thanh Hải, Lê Thị An Hòa, Phạm Đức Thành Dũng, Phan Tiến Dũng, Trương Quốc Bình, Hải Trung đã khái quát nên một bức tranh chung về hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Từ góc độ là nhà quản lý trực tiếp di sản, TS. Phan Thanh Hải cùng nhóm cộng sự ở Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã khảo sát và giới thiệu một cách khá đầy đủ và hệ thống toàn bộ thơ văn hiện còn trên kiến trúc cung đình Huế; xác định nguồn gốc, tính xác thực và nguyên gốc, tính độc đáo cũng như giá trị nhiều mặt của loại hình di sản này. Từ cái nhìn tổng quan về một loại di sản tư liệu độc đáo, các tác giả đã đặt ra kế hoạch quản lý, bảo tồn đối với hệ thống này. Cũng là cách nhìn tổng quan, tác giả Nguyễn Tuấn Cường có bài “Phác họa một số đặc trưng của hệ thống di văn trên kiến trúc cung đình Huế” đã nêu lên những phác thảo về những thuộc tính nghệ thuật trong thư pháp, trong sử dụng điển cố, trong đa dạng thể loại của hệ thống văn tự này. Tác giả nhấn mạnh: “Xét về thể loại, trong hệ thống di văn trên kiến trúc cung đình Huế có nhiều thể loại văn học truyền thống, trong đó thiên về vận văn (văn vần) hơn là tản văn và biền văn (…) Tất cả những thể loại này đều có đặc điểm chung là ngôn ngữ cô đọng, đúc rút, súc tích, lời ít ý nhiều, chính là cảnh giới biểu đạt cao nhất của ngôn ngữ cổ Hán văn” [66, tr.65].
Ở nhóm chủ đề về đánh giá giá trị của thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, đáng chú ý là có 18 tham luận tập trung vào hai địa hạt: nghiên cứu, đánh giá về những giá trị tiêu biểu trong nội dung của các tác phẩm thi ca chạm khắc trên kiến trúc cung đình Huế và giới thiệu thơ chữ Hán trên một số kiến trúc tiêu biểu. Các đề tài nghiên cứu, đánh giá về giá trị tư tưởng của hệ thống thơ chạm khắc tại điện Thái Hòa (Hoàng Thành) như “Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế - Di sản văn học nghệ thuật sống động” (Phan Tiến Dũng); “Tinh thần tự hào dân tộc và ý thức củng cố nền thống nhất quốc gia qua thơ văn chữ Hán ở điện Thái Hòa” (Nguyễn Minh Tường); “Khát vọng hòa bình của người Việt Nam thể hiện trong các bài thơ chữ Hán ở Hoàng cung Huế” (Nguyễn Tá Nhí). Cùng chung chủ đề này nhưng lại đi sâu chi tiết vào việc bình luận một bài thơ cụ thể khắc tại trung tâm ngôi điện này có các tham luận “Niềm tự hào Đại Nam qua bản ‘Tuyên ngôn’ đặt giữa điện Thái Hòa” (Nguyễn Thị Bích Hải); “Đọc lại bài thơ quan trọng nhất ở điện Thái Hòa” (Phan Đăng); “Về một bài thơ chữ Hán ở điện Thái Hòa” (Phan Anh Dũng). Tác giả Phan Đăng nhận định: “Riêng về lĩnh vực văn chương và ngôn ngữ, những bài thơ khắc trên các ô hộc trong và ngoài điện Thái Hòa là những viên ngọc quý, không chỉ mang ý nghĩa trang trí mà từ đó còn toát lên niềm tự hào về con người, lịch sử, về cảnh thái bình an lạc của đất nước một thời cũng như ước mơ của một dân tộc luôn canh cánh hai nhiệm vụ lớn lao là giữ nước và dựng nước.” [66, tr.174]. Tác giả Nguyễn Thị Bích Hải còn nhấn mạnh: “Những tác phẩm thơ chữ Hán được đặt trang trọng ở điện Thái Hòa cùng với toàn bộ hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế sẽ trở thành di sản ký ức của nhân loại - trước hết là di sản ký ức của Việt Nam, nhắc nhở người Việt nhớ lấy để tự hào, yêu quý và gìn giữ độc lập thống nhất của Tổ quốc; đồng thời cũng nhớ lấy để rút ra bài học, khắc phục những hạn chế để hội nhập và phát triển cùng thời đại” [66, tr.173]. Trong bài viết “Tinh thần tự hào dân tộc và ý thức củng cố nền thống nhất quốc gia qua thơ văn chữ Hán ở điện Thái Hòa”, sau khi phân tích những giá trị nội dung, tư tưởng của thơ trên điện Thái Hòa, tác giả Nguyễn Minh Tường đã nhấn mạnh về giá trị nổi bật của loại hình tư liệu này: “Nói là tư liệu độc đáo, hiếm có, vì lẽ, loại văn thơ chữ Hán được trang trí theo phong cách nhất thi, nhất họa, trên phạm vi nước ta, chỉ thấy ở các kiến trúc cung đình Cố đô Huế. Ở các nơi khác, phong cách trang trí này, dường như không có, và nếu có đi chăng nữa, thì về mặt số lượng cũng không nhiều, đặc biệt về nội dung văn thơ chữ Hán cũng không thể phong phú và sâu sắc như ở đất Cố đô này. Vì vậy, chúng tôi thiết nghĩ: Cần có những biện pháp vừa khoa học, vừa lâu dài để bảo tồn những tư liệu độc đáo này, cho thế hệ tương lai” [66, tr.150]. Tựu trung, các tham luận thuộc nhóm đề tài này đã chỉ ra rằng, thơ trên điện Thái Hòa là sự khẳng định vị thế của triều Nguyễn trong lịch sử và lòng tự hào về nền văn hiến của Việt Nam, đồng thời thể hiện khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam và đánh giá cao những giá trị của hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Các đề tài khảo sát, nghiên cứu về các giá trị nội dung, hình thức trang trí, ngôn ngữ của thơ trên kiến trúc cung đình như “Một số giá trị thơ văn trang trí trên di tích cung đình Huế - Điển hình là ở điện Thái Hòa” (Phan Thuận An); “Ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa qua số liệu thống kê” (Nguyễn Phước Hải Trung); “Thơ trên miếu điện” (Vĩnh Cao); “Thơ ký ức sắc màu đất nước - Kinh đô trên cung điện Huế” (Ngô Thời Đôn); “Thơ khắc trang trí tại điện Long An” (Trần Đại Vinh). Đó là các đề tài nêu lên giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật trang trí, ngôn ngữ và hình thức kết cấu của loại hình di sản tư liệu này. Trong bài “Thơ ký ức sắc màu đất nước - Kinh đô trên cung điện Huế”, sau khi phân tích một số nội dung về thiên nhiên gắn với những hình ảnh của đất nước, tác giả Ngô Thời Đôn đã nhận định rằng: “Thơ trên cung điện cố đô Huế không phải là thơ dễ đọc, dễ cảm, nhưng một khi ta đã đọc được, cảm được thì thấy thơ ấy chính là một thứ ký ức chân thực, to lớn, vẹn tuyền về sắc màu đất nước ký gởi trên di tích bằng tinh thần kiến trúc Á Đông mà đậm vẻ Việt Nam. Hình bóng kinh đô chở che sắc màu đất nước, hình bóng đất nước rung lên độ lớn, chiều sâu của tình cảm nhà vua/ người thơ/ người dân đối với kinh đô” [66, tr.221]. Trong “Một số giá trị thơ văn trang trí trên di tích cung đình Huế - Điển hình là ở điện Thái Hòa”, tác giả Phan Thuận An đã phân tích nội dung tư tưởng của các bài thơ trên điện Thái Hòa với ba nội dung chủ yếu là tự hào về nền văn hiến của Việt Nam và khẳng định vị thế của triều Nguyễn trong lịch sử nước nhà, ca ngợi vẻ tráng lệ và tính thiêng liêng của Kinh đô Huế, quan tâm đến nghề nông trong xã hội. Tác giả cho rằng: “Giữ vị thế trung tâm quyền lực của cả nước một thời, điện Thái Hòa, so với thơ văn ở các công trình kiến trúc khác, là nơi vua quan nhà Nguyễn gửi gắm những tư tưởng quan trọng nhất trong việc trị quốc an dân” [66, tr.159]. Trong “Thơ trên miếu điện”, tác giả Vĩnh Cao đã tập trung phân tích tính chất của các chủ đề thơ khắc trên miếu điện, giới thiệu một số đặc tính đối ngẫu trong thơ, tác giả nhận định: “Thơ văn trên các điện miếu đề cập đến nhiều vấn đề, hoặc ngợi ca việc điều hành, hoặc đất nước thịnh trị, hoặc mô tả cảnh sắc sông núi, hoa cỏ. Tùy thuộc là miếu, là điện, là đình, nơi làm việc hoặc nơi thờ tự… mà nội dung thơ sẽ nghiêng nhiều về công năng của cấu trúc. Như ở miếu thờ thì đề cập đến thừa tự, ở nơi triều hội thì nói đến vấn đề cai trị đất nước hoặc đạo trị nước hoặc ca ngợi sự thịnh trị, ở nơi đình lâu thì mô tả cảnh thiên nhiên” [66, 241]. Trong “Thơ khắc trang trí tại điện Long An”, tác giả Trần Đại Vinh đã quan tâm đến vấn đề tác giả: “Trong đó, các bài thơ có khắc tên đề bài gồm 73 bài, được xác định là sáng tác của vua Thiệu Trị và 121 bài không khắc tên bài thơ, trong đó vừa có sáng tác của vua, vừa có sáng tác và phụng họa của một số văn thần đời vua Thiệu Trị” [66, 222] cùng những nội dung tư tưởng của hệ thống thơ điện Long An: “Thơ khắc ở biệt điện cần phải nhắc nhở nhà vua luôn luôn cầu thị, nghĩ đến ơn cha và mệnh trời nặng nề để cai trị nhân dân một cách đúng đắn, trung chính, cốt phải siêng năng và thân người hiền, làm cho phong hóa thịnh trị” [66, 226]. Các đề tài giới thiệu thơ chữ Hán trên một số kiến trúc tiêu biểu như ở lăng tẩm các hoàng đế triều Nguyễn “Ngự chế thi trên di tích Hiếu Lăng” (Lê Na); “Thơ văn của vua Thiệu Trị trên điện Biểu Đức” (Lê Thị Mỹ Châu); “Thơ trên di tích kiến trúc điện Long Ân - lăng Dục Đức” (Nguyễn Thị Diệu Linh); “Tổng quan về hệ thống thơ văn chữ Hán trên di tích lăng Đồng Khánh” (Lê Thị Toán, Lê Tiến Đặng); và hệ thống thơ ở các kiến trúc miếu điện khác tại Hoàng Thành, Kinh Thành Huế như “Tổng quan về ô hộc thơ trên Thế Miếu” (Nguyễn Hoàng Khánh Trang); “Thơ trên di tích kiến trúc điện Long An” (Nguyễn Thị Hồng Hạnh). Các đề tài chủ yếu là giới thiệu những bài thơ tiêu biểu ở các kiến trúc lăng tẩm và miếu điện. Trong bài “Tổng quan về hệ thống thơ văn chữ Hán trên di tích lăng Đồng Khánh”, các tác giả đã cho rằng: “Nội dung của các bài thơ được thể hiện trên Cung Môn và điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh) cũng có các chủ đề như đa phần các kiến trúc cung đình Nguyễn. Đa số các bài thơ có chủ đề tư tưởng ca ngợi về triều đại, ca ngợi chính sự tốt đẹp, ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên của đất nước, bày tỏ mơ ước về thái bình, quốc thái dân an” [66, tr.302]. Đáng chú ý là các đề tài về thơ ở Hiếu Lăng (lăng Minh Mạng), ở lăng Thiệu Trị, ở điện Long An, các tác giả đã giải quyết được vấn đề tác giả khi đối chiếu hệ thống thơ chạm khắc ở các kiến trúc này với các tập “Ngự chế thi” của các hoàng đế triều Nguyễn. Tựu trung, ở nhóm chủ đề này, các tác giả đã tập trung giới thiệu hệ thống thơ tại các công trình cụ thể qua một vài trường hợp cụ thể tương ứng với các nội dung trong các luận điểm của từng bài viết.
Nhóm chủ đề về đề xuất phương án bảo tồn và phát huy giá trị có 4 bài viết đều xuất phát từ việc đánh giá cao giá trị của thơ văn chữ Hán trên kiến trúc cung đình để từ đó đề xuất các kế hoạch quản lý và bảo tồn giá trị di sản độc đáo này. Với bài viết, “Bảo tồn phần cốt của văn tự trên di tích kiến trúc”, tác giả Trần Minh Đức đã đi sâu vào tìm hiểu thực tế công việc bảo tồn phần cốt của văn tự trên gỗ của di sản kiến trúc cung đình Huế. Tác giả đã đề cập đến hai vấn đề chính là bảo tồn phần cốt, nhất là cốt gỗ và quan điểm về tu bổ hiện vật mang ký tự phải được xem như là cổ vật hay di tích động sản. Từ những phân tích đó để có ứng xử thích hợp trong công tác bảo tồn, bảo quản và phát huy giá trị của hệ thống tư liệu thành văn này. Các bài viết của các tác giả Đặng Văn Bài, Lê Thị An Hòa, Phạm Đức Thành Dũng đã đánh giá tình trạng hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế từ sau năm 1945 cho đến nay, từ đó kiến nghị một số phương án để bảo tồn thích hợp. Trải qua thời gian hơn 200 năm, do ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh, tàn phá của thiên tai, một số công trình được trang trí thơ văn chữ Hán đã bị phá hủy như Thái Tổ Miếu, Đại Cung Môn, điện Cần Chánh, điện Càn Thành v.v... Đáng chú ý là bài viết “Biện luận tìm lại những chữ đã mất trên hai ô thơ ở liên ba Triệu Miếu” của tác giả Phạm Đức Thành Dũng. Trên cơ sở phân tích ngữ nghĩa, vần thơ, văn tự, tác giả đã sử dụng biện pháp loại suy để phục nguyên các chữ Hán đã mất trong 3 bài thơ trên liên ba Thế Miếu. Trước đây, tác giả Phạm Đức Thành Dũng cũng có nghiên cứu các vấn đề về các giải pháp bảo tồn hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế, trường hợp đình Hương Nguyện (chùa Linh Mụ). Bài viết “Ghép những ô thơ trên đình Hương Nguyện - đề xuất giải pháp trùng tu” của tác giả đã ứng dụng vào việc trùng tu di tích này vào năm 2004. Những nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình của tác giả Phạm Đức Thành Dũng thường tập trung vào việc phân tích đề nghị sắp xếp lại các ô thơ (do bị trùng tu sai lệch vào thời gian trước 1975), hoặc phân tích, biện luận nhằm phục hồi các chữ đã mất (do bị chiến tranh tàn phá trước đây). Đó là những đóng góp quan trọng vào thực tiễn bảo tồn di sản.
Nhìn chung, những nghiên cứu tham gia hội thảo “Bảo tồn và phát huy hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế” đã đánh giá nhiều nội dung khác nhau về đối tượng nghiên cứu đặc biệt này. Nhiều quan điểm của các tác giả đã chỉ ra rằng, hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là một di sản vô giá mà triều Nguyễn đã để lại cho thế hệ sau. Giá trị độc đáo và duy nhất của thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế cùng với nghệ thuật trang trí nhất thi nhất họa đã đạt đến những giá trị khu biệt, đặc sắc điển hình của thơ văn trang trí trên kiến trúc cung đình thời Nguyễn. Di sản này hoàn toàn xứng đáng được UNESCO vinh danh như các di sản tư liệu thuộc “Chương trình Ký ức thế giới”. Thơ văn chữ Hán trên kiến trúc cung đình Huế vốn được tuyển chọn từ trước tác của các vị hoàng đế, thân vương, quan lại triều Nguyễn được thể hiện bằng nhiều phương thức mang tính mỹ thuật cao trên các công trình kiến trúc cung đình tại Kinh đô Huế trong giai đoạn 1802-1945. Hệ thống này bao gồm hàng ngàn bài thơ, bài văn, câu đối được thể hiện trực tiếp bằng nhiều loại hình chất liệu khác nhau (gỗ, xà cừ, pháp lam, sành sứ) trên 9 đơn vị công trình kiến trúc thuộc Quần thể Di tích Cố đô Huế, như một cách thức trang trí đặc biệt, riêng có tại Huế. Trải qua thời gian, những biến động của lịch sử và sự khắc nghiệt của khí hậu, Cố đô Huế vẫn còn bảo tồn được một số lượng rất lớn hệ thống thơ văn độc đáo này. Theo thống kê, hiện nay trên kiến trúc cung đình Huế hiện còn 2.967 ô thơ văn chạm khắc, sơn thếp, cẩn xà cừ trên gỗ; 146 ô thơ văn viết tráng men thành pháp lam; 78 đơn vị ô hộc, câu đối, bài văn được đắp ngõa sành sứ. Đó thật sự là một bảo tàng sống động về nền văn học thời Nguyễn. Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế vẫn còn ở tình trạng khá nguyên vẹn và vẫn giữ được tính nguyên gốc và chân xác cao. Tuy nhiên trong kế hoạch quản lý cần xác định và có giải pháp xử lý các nguy cơ ảnh hưởng đến hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, nhằm bảo tồn một cách bền vững hệ thống di sản tư liệu này. Có thể nói rằng, các hướng nghiên cứu trong các đề tài tham gia hội thảo “Bảo tồn và phát huy hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế” đã đặt ra những góc nhìn tổng quát về nhiều nội dung, địa hạt trong nghiên cứu, bảo tồn hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế.
Như vậy có thể nói, liên quan đến hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế nói chung đã có một số công trình nghiên cứu đề cập tới. Những công trình nêu trên đã giúp chúng tôi nhiều tài liệu quan trọng, những đánh giá và nhận định đáng quan tâm tham khảo. Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu ở những địa hạt khác nhau, nên các công trình này chưa đề cập đến vấn đề một cách hệ thống, đầy đủ và toàn diện, nhất là ở địa hạt nghiên cứu nghệ thuật thi ca, và đó cũng là nhiệm vụ đặt ra cho luận án này.
1.2. Đánh giá về tình hình dịch thuật, nghiên cứu và hướng triển khai đề tài
1.2.1. Đánh giá về tình hình dịch thuật, nghiên cứu
Tổng quan tình hình nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình đã cho thấy, đến thời điểm hiện nay ngoài một số công trình dịch thuật, việc nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế nói chung đa số đều tồn tại ở hình thức là bài nghiên cứu. Về số lượng các công trình dịch thuật, giới thiệu thơ và các công trình nghiên cứu đã công bố, theo sự thu thập khá đầy đủ của chúng tôi, có 04 tác phẩm dịch thuật giới thiệu thơ hoặc liên quan đến việc công bố bản dịch các bài thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã in thành sách; có 02 tác phẩm in thành sách nghiên cứu về một đối tượng cụ thể là bài thơ chơi chữ “Vũ trung sơn thủy” của vua Thiệu Trị chạm khắc trên điện Long An; có 01 luận văn cao học ngôn ngữ nghiên cứu về thơ trên điện Thái Hòa; có khoảng dưới 60 tác phẩm là bài nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình được in trong các kỷ yếu hội thảo khoa học, sách nghiên cứu và các tạp chí. Về nội dung nghiên cứu, ngoài luận văn cao học đã nêu, những nghiên cứu này chủ yếu phân tích, đánh giá nội dung chủ đề, quan điểm tư tưởng của các bài thơ trên kiến trúc cung đình Huế ở góc nhìn văn bản học, bình luận văn chương theo hướng so sánh đối chiếu từ cảm thức văn hóa, lịch sử. Từ thực tế này, chúng tôi có một số nhận xét như sau:
- Thứ nhất, nghiên cứu thơ trên kiến trúc cung đình nói chung được quan tâm sớm nhất cũng chỉ vào năm 1972 với sự xuất hiện của tác giả Pierre Daudin khi nghiên cứu về bài thơ chơi chữ khắc trên điện Long An của vua Thiệu Trị. Sau đó 20 năm (1992), lần đầu tiên mới có 01 bài nghiên cứu về vấn đề này đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế. Điều này cho thấy việc nghiên cứu thơ trên kiến trúc cung đình Huế là không mấy được quan tâm vào thời điểm bấy giờ trở về trước. Sau sự kiện quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới (tháng 12/1993), việc nghiên cứu thơ trên kiến trúc cung đình mới bắt đầu có sự chú ý của một số cá nhân. Tình hình đó nói lên rằng việc nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã bị bỏ ngỏ trong thời gian khá dài.
- Thứ hai, với những vận hội mới, sau khi di tích cố đô được công nhận là di sản văn hóa thế giới, rồi sự kiện chuẩn bị hồ sơ để công nhận hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là di sản tư liệu thế giới, việc nghiên cứu về thơ trên kiến trúc cung đình Huế bắt đầu thu hút sự quan tâm của xã hội. Tuy vậy, kết quả của những nghiên cứu vẫn dừng lại ở những mức độ nhất định, chưa toàn diện và chuyên sâu.
- Thứ ba, qua những công trình, bài viết đã nêu, chúng ta thấy các tác giả chủ yếu tập trung vào việc giới thiệu, nghiên cứu về nội dung, tư tưởng tác phẩm trong sự khảo tả, quan sát kết hợp với đối chiếu lịch sử, văn hóa để phân tích, luận giải vấn đề, chưa có sự quan tâm kỹ lưỡng để nghiên cứu về giá trị nghệ thuật của hệ thống thi ca này.
- Thứ tư, có một số bài viết tuy mới dừng ở mức độ điểm xuyết về mỹ học cũng như nghệ thuật thơ, dù chỉ đặt vấn đề, nhưng có nhiều ý kiến rất hữu ích, rất đáng được quan tâm, tham khảo, chẳng hạn như nghệ thuật kết hợp thi - họa, nghệ thuật điển cố, thể loại nhưng cũng đã gợi mở cho chúng tôi những luận điểm khi triển khai đề tài.
- Cuối cùng, trên cơ sở vấn đề mà chúng tôi đã quan tâm trong 20 năm nay cùng với nguồn tài liệu mà chúng tôi thu thập được, có thể kết luận rằng, ngoại trừ hai công trình nghiên cứu chuyên sâu về một bài thơ chơi chữ của vua Thiệu Trị chạm khắc trên điện Long An của tác giả Nguyễn Tân Phong, của tác giả Nguyễn Tài Cẩn và luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học về thơ trên điện Thái Hòa của Nguyễn Phước Hải Trung, đến nay chưa có công trình chuyên sâu nghiên cứu về nghệ thuật thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Điều này cho phép đề tài luận án hứa hẹn sẽ có nhiều đóng góp mới về khoa học lẫn thực tiễn.
1.2.2. Hướng triển khai của đề tài
Từ những kết quả nghiên cứu đã nêu và phân tích như trên, đề tài xác định hướng nghiên cứu sẽ là những khía cạnh về nghệ thuật thơ. Đó là giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật trang trí, ngôn ngữ và hình thức kết cấu của loại hình di sản tư liệu này với những thể hiện đa dạng trong nghệ thuật từ chương. Một số thành quả nghiên cứu đi trước cũng như một số luận điểm nghiên cứu trước đây của chúng tôi sẽ được tiếp thu, kế thừa phát triển trong luận án này. Với quan điểm như vậy, hướng nghiên cứu đề tài “Thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế” được triển khai như sau:
Đầu tiên, xuất phát từ những đặc điểm về đối tượng nghiên cứu trong đề tài, luận án sẽ tập trung giải quyết những vấn đề chung nhất, có ý nghĩa cơ sở thực tiễn, tiền đề lý luận. Đó là việc giải quyết những vấn đề cụ thể như cơ sở lịch sử xã hội và tình hình về văn học thời Nguyễn. Từ đó, lý giải nguyên nhân hình thành loại hình thơ trên kiến trúc để trở thành một bảo tàng thơ độc đáo của Việt Nam. Ngoài ra, ở những vấn đề chung, luận án cũng tập trung làm rõ những đặc điểm về số lượng, sự phân bố và tác giả của hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Những phân tích này sẽ là tiền đề quan trọng cho việc lập luận, phân tích, phán đoán, nhận định trong luận án.
Thế giới nghệ thuật thơ là một chỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố có quy luật cấu trúc riêng, thể hiện cảm thức của con người đối với khách thể thẩm mỹ thông qua lăng kính cá thể mang dấu ấn của thời đại. Trên cơ sở này, luận án hướng tới các mục tiêu nghiên cứu qua các nội dung như phân tích những quan niệm về con người trong văn học trung đại tham chiếu vào thơ trên kiến trúc cung đình Huế; như nghiên cứu về không gian, thời gian nghệ thuật. Việc nghiên cứu này sẽ góp phần chỉ ra các cấu trúc hình thức mang tính nội dung các bài thơ trên kiến trúc cung đình Huế, nhằm có cơ sở để hiểu đủ, hiểu đúng các tác phẩm văn chương trong quá trình phát triển tư duy nghệ thuật. Điều đáng nói khác là các hình tượng nghệ thuật nói trên được thể hiện qua nghệ thuật ngôn từ, do vậy luận án còn tập trung làm sáng tỏ phương thức biểu hiện bao gồm đặc điểm ngôn ngữ, sự vận dụng của các thể thơ tiêu biểu, các biện pháp nghệ thuật đặc sắc trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Trên cơ sở đó để phân tích mối liên hệ biện chứng giữa hình thức và nội dung trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Những điều này sẽ giúp đánh giá đúng tư duy nghệ thuật của mỗi tác phẩm văn chương và hình tượng tác giả.
Tiểu kết chương 1
Tóm lại, có thể khái quát như sau, việc xem thơ trên kiến trúc cung đình Huế là một đối tượng nghiên cứu chỉ mới được quan tâm trong những năm gần đây. Ngoài các công trình nghiên cứu về trường hợp bài thơ “Vũ trung sơn thủy” và luận văn thạc sĩ “Đặc điểm ngôn ngữ thơ trên điện Thái Hòa” thì việc nghiên cứu thơ trên kiến trúc cung đình Huế chỉ tồn tại dưới hình thức là các bài viết ngắn. Đa số các nghiên cứu này đều xuất phát từ những vấn đề đơn lẻ và chỉ mang tính chất đặt vấn đề, thiếu hệ thống và chưa thật sự xem thơ trên kiến trúc cung đình Huế là một đối tượng văn chương cần được khảo sát và nghiên cứu toàn diện. Mặt khác, ở nội dung nghiên cứu, hầu như chưa có tác giả nào đặt ra vấn đề nghiên cứu về thế giới nghệ thuật đối với hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Bởi vậy, có thể xem, nghiên cứu về thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế là một nội dung đang còn bỏ ngõ, chưa được quan tâm.
Xuất phát từ cơ sở trên, có thể nói rằng, nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế là một vấn đề mới. Thực tế đó vừa phản ảnh những khó khăn của người nghiên cứu vì ít được kế thừa các thành quả đi trước; đồng thời cũng phản ảnh những thuận lợi nhất định cho người viết vì khi đưa ra các quan điểm, luận điểm nghiên cứu sẽ có đóng góp mới. Việc nghiên cứu nghệ thuật thơ trên kiến trúc cung đình Huế tại luận án như vậy sẽ có hướng triển khai mới mẻ, đạt yêu cầu đề ra, và cũng hy vọng gợi mở cho các hướng nghiên cứu tiếp theo về thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng như văn học trung đại Việt Nam.
Chương 2
BỐI CẢNH XÃ HỘI - VĂN HÓA THỜI NGUYỄN VÀ THƠ TRÊN KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ
Thơ trên kiến trúc cung đình Huế là một loại hình khá đặc biệt, trước hết là chúng tồn tại trên các công trình kiến trúc triều chính và sinh hoạt của nhà Nguyễn. Nội dung thơ trên kiến trúc lại gắn bó với trường triết mỹ của thời đại này. Do vậy, việc khái quát về triều Nguyễn cùng với công cuộc chấn hưng Nho giáo, quy hoạch, xây dựng kiến trúc và đánh giá tổng quát về tình hình văn học thời Nguyễn nói chung cũng như thơ trên kiến trúc cung đình nói riêng là rất cần thiết bởi đó là cơ sở tồn tại của thơ trên kiến trúc và là cơ sở cho những phân tích, nhận định trong các nội dung nghiên cứu.
2.1. Triều Nguyễn với công cuộc chấn hưng Nho giáo và quy hoạch, xây dựng kiến trúc cung đình
Hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế phản ánh những giá trị tinh thần gắn kết với triều đại quân chủ cuối cùng ở Việt Nam - triều Nguyễn. Kể từ hoàng đế Gia Long, triều Nguyễn đã nối tiếp với 13 triều vua, trị vì đất nước trong suốt 143 năm lịch sử (1802-1945). Đây là triều đại có nhiều thăng trầm qua một diễn trình lịch sử đầy biến động, phức tạp của bối cảnh khu vực lúc bấy giờ. Tuy vậy, đây cũng là triều đại đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm đối với đất nước Việt Nam, nhất là những dấu ấn về văn hóa nghệ thuật.
2.1.1. Triều Nguyễn với công cuộc chấn hưng Nho giáo
Sau khi đánh thắng nhà Tây Sơn, năm 1802, hoàng đế Gia Long lên ngôi và lập ra triều Nguyễn. Trải qua 13 đời hoàng đế với những đặc điểm của từng triều vua, thăng trầm khác biệt, do vậy có thể phân định lịch sử của triều Nguyễn thành hai giai đoạn lớn: đó là giai đoạn độc lập, tự chủ và giai đoạn mất quyền tự chủ, hoàn toàn lệ thuộc sự bảo hộ của ngoại bang.
- Giai đoạn từ năm 1802 đến năm 1883 được xem là thời gian tự chủ, thịnh trị của triều Nguyễn với sự ổn định, vững mạnh về nhiều mặt dưới các triều vua như Gia Long (1802-1819), Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847) và giai đoạn đầu ở triều Tự Đức (1848-1883).
Lên ngôi năm 1802, chính thức lập nên triều Nguyễn, tháng 3.1804, đổi quốc hiệu là Việt Nam, vua Gia Long đã tập trung ổn định, củng cố chấn hưng đất nước. Từ đây, Việt Nam đã xây dựng nhà nước phong kiến độc lập trên một quốc gia thống nhất, kiến lập hệ thống Lục Bộ và tập trung chấn chỉnh về quân sự, ngoại giao. Năm 1820, hoàng đế Minh Mạng nối ngôi đã có nhiều cải cách quan trọng, đặc biệt là công cuộc cải cách hành chính, làm cho mọi mặt văn hóa xã hội có nhiều sự phát triển đáng kể, đổi quốc hiệu là Đại Nam vào năm 1838. Tiếp theo là hoàng đế Thiệu Trị kế tục từ năm 1840, đã tiếp tục hoàn thiện và giữ gìn những thành tựu các triều đại trước để lại, chủ trương đường lối nội trị và ngoại giao có phần mềm dẻo hơn thời Minh Mạng. Năm 1848, hoàng đế Tự Đức lên ngôi, giai đoạn khoảng 20 năm đầu khá thịnh trị. Triều đại Tự Đức có nhiều chỉnh đốn, sửa sang về khoa cử, đặt ra Nhã Sĩ Khoa và Cát Sĩ Khoa, để chọn lấy người có tài văn học ra làm quan. Tuy vậy, triều Tự Đức gặp rất nhiều khó khăn, nhất là đất nước phải đối mặt với nguy cơ ngoại xâm. Từ năm 1858 đến 1884, mặc dù có sự khủng hoảng dần vào giai đoạn cuối với những biến động tác động trực tiếp vào sự hưng vong của đất nước thể hiện qua các biến cố như: Pháp tấn công vào cửa biển Đà Nẵng (1858); triều đình Tự Đức nhượng bộ cắt ba tỉnh miền Đông Nam kỳ (1862), ba tỉnh miền Tây Nam kỳ (1867) cho thực dân Pháp; rồi sự kiện Pháp đánh vào Hà Nội và buộc triều đình ký Hiệp ước Harmand (1883) thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp, nhưng phải đến năm 1884 khi triều Nguyễn ký Hiệp ước Patenôtre thì Việt Nam mới chính thức mất độc lập, toàn bộ chủ quyền đất nước đặt dưới sự kiểm soát của Pháp. Vì vậy vẫn có thể nói rằng, từ năm 1802 đến năm 1883 là giai đoạn độc lập, tự chủ của triều Nguyễn - giai đoạn được xem là từ khởi đầu đến ổn định, rồi phát triển, thịnh trị. Đây là nền tảng xã hội cho sự phát triển văn hóa.
- Giai đoạn từ năm 1884 đến năm 1945 là thời gian Việt Nam mất quyền tự chủ, thực dân Pháp đã kiểm soát mọi mặt của đời sống chính trị, xã hội. Có thể thấy rằng, ở giai đoạn này nhiều chính sách trong đối ngoại của triều Nguyễn đã không còn phù hợp với bối cảnh quốc tế. Trước những chuyển biến phức tạp của tình hình thế giới, lấy lý do Việt Nam bế quan tỏa cảng, quân đội viễn chinh Pháp đã tấn công vào Đà Nẵng (1858), Nam Kỳ (1859-1867), Bắc Kỳ (1873-1882), sau đó tiếp tục tấn công Kinh đô Huế từ cửa biển Thuận An và cuối cùng là đánh chiếm Kinh đô Huế (1883). Kinh đô Huế thất thủ, rơi vào tay thực dân Pháp.
Các vị vua như Hàm Nghi (1884-1885), Thành Thái (1889-1907), Duy Tân (1907-1916) với lòng yêu nước và ý thức dân tộc đã tìm cách chống lại thực dân Pháp để giành độc lập dân tộc, nhưng đều không thành công và bị đày biệt xứ. Đến tháng Tám năm 1945, cách mạng Việt Nam đã giành chính quyền về tay nhân dân, vua Bảo Đại đã tuyên Chiếu thoái vị, chấm dứt chế độ Quân chủ ở Việt Nam, chấm dứt 143 năm tồn tại của triều Nguyễn.
Nhìn lại giai đoạn tự chủ với nhiều ổn định và phát triển trong khoảng 80 năm (1802 - 1883), có thể thấy rằng bốn hoàng đế đầu triều đã có nhiều nỗ lực trong công cuộc chấn hưng, cải cách nhiều mặt để phát triển đất nước. Chính những điều đó đã đưa đất nước dần dần vào thế ổn định, phong hóa được chấn hưng, dân chúng được hưởng cảnh sống thanh bình.
Thời kỳ đầu độc lập của triều Nguyễn được mở ra bằng công cuộc chấn hưng Nho giáo. Từng trải qua thời gian dài chinh chiến, trước thực tế các triều thần nhà Nguyễn đa số là võ tướng, nên sau khi lên ngôi, Gia Long chú trọng đến việc học hành thi cử để tuyển chọn nhân tài. Ông cho thành lập Quốc Tử Giám ở Phú Xuân để dạy con quan, tổ chức thi Hương, củng cố giáo dục, v.v... Đến thời Minh Mạng, việc xây dựng hệ thống quan lại được tiến hành với những quy củ, điển chế quy chuẩn, có vị trí chiến lược. Từ triều đại này trở đi, chế độ giáo dục và khoa cử được thống nhất trên phạm vi cả nước. Các mô hình giáo dục, đào tạo từ thấp đến cao, các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình được tổ chức để thông qua đó đào tạo, tuyển dụng nhân tài. Triều Nguyễn đã siết chặt kỹ cương của thi cử, nghiêm trị các gian lận, tệ nạn trong thi cử với những quy định chặt chẽ về đối tượng dự thi, sĩ tử, quan trường thi cử v.v... Việc chấn chỉnh và mở rộng khoa cử của triều Nguyễn đã cho thấy mục tiêu, chiến lược xây dựng và sử dụng nhân tài trong điều kiện bấy giờ hết sức được chú trọng, chứng tỏ việc đào tạo nguồn lực cho phát triển xã hội luôn được quan tâm, đề cao. Đây cũng là điều kiện để hình thành một tầng lớp trí thức thực tài, có kiến thức, phục vụ trực tiếp cho bộ máy chính trị và là điều kiện để trở thành những văn nhân sau này.
Bên cạnh đó, triều Nguyễn đã không ngừng củng cố, nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của các cơ quan khoa học, đặc biệt là Quốc Sử Quán. Vào năm 1820, triều Minh Mạng cho lập Quốc Sử Quán trong Kinh Thành thuộc phường Trung Hậu (nay là Thuận Thành). Từ thời Gia Long ở Huế đã có một cơ quan đảm nhận chức năng này với tên gọi là Sử Cục. Trong Minh Mạng chính yếu, vua Minh Mạng có đoạn nhấn mạnh tầm quan trọng của quốc sử như sau: “Nước có sử là để tin ở đời nay, mà truyền lại đời sau (...) hãy nên cố gắng làm sao cho bút pháp được đúng đắn, vựng biên không thiếu sót, tập thành tín sử một đời, ngõ hầu cơ đồ thần truyền thánh kế, quy mô văn hiển võ thừa được lưu truyền mãi mãi” [79, tr.856]. Cùng với ý thức đó, Quốc Sử Quán triều Nguyễn đã hoạt động trên 120 năm với nhiều đóng góp cho nền sử học của nước nhà không những vào giai đoạn mà nó tồn tại mà còn có đóng góp lớn lao cho sử học hôm nay qua nhiều công trình biên soạn có giá trị về nhiều mặt. Các bộ lịch sử, địa chí do Quốc Sử Quán biên soạn, chỉnh lý, ấn hành đã trở thành pho tư liệu hết sức quý giá với hàng chục ngàn trang viết, hàng chục bộ sách. Có thể điểm qua một số bộ sách chính, do Quốc Sử Quán biên soạn, ấn hành như Đại Nam thực lục (560 quyển); Đại Nam liệt truyện (85 quyển); Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (262 quyển, chưa kể phần tục biên); Đại Nam nhất thống chí (31 quyển); Khâm Định Việt sử thông giám cương mục (53 quyển), v.v... Điều đó cũng đủ khái quát lên quy mô đồ sộ của các trước thuật được soạn tại cơ quan khoa học xã hội mang tính quốc gia này.
Có thể thấy rằng, nhà Nguyễn đã xây dựng một chế độ quân chủ trung ương tập quyền, lấy học thuyết Nho giáo làm nền tảng tư tưởng và xây dựng bộ máy quan lại để quản lý đất nước, điều hành nhà nước thông qua khoa cử. Cuộc chấn hưng Nho giáo của triều Nguyễn đã biến hệ tư tưởng này thành vị trí độc tôn chi phối toàn diện quan điểm, đường lối chính trị. Tuy vậy, “Nho giáo thời Nguyễn bao hàm nhiều xu hướng khác nhau, trong đó, nổi bật nhất là ba xu hướng thể hiện ba đặc trưng ảnh hưởng khác nhau là Hán Nho, Đường Nho và Tống Nho” [94, tr.171].
Vào giai đoạn đầu thời Nguyễn đã xuất hiện một bộ phận đông đảo các Nho gia có thực tài nhưng rơi vào cảnh bất đắc chí hoặc không mấy thành công trên con đường khoa bảng thường chủ trương theo xu hướng Hán Nho. Đây là những nhà Nho có khuynh hướng trọng sử, thường đề cao Kinh Xuân Thu, xem đó là nền tảng của tình cảm và tư tưởng. Thơ văn của họ thường sao dẫn và luận giải căn cứ vào Kinh Xuân Thu, hoặc mượn chuyện xưa, tích cũ giải bày tình cảm, hoặc nghiêng hẳn về viết sử, nhiều tác phẩm của họ mang màu sắc lịch sử hay dã sử. Chẳng hạn như Ngô Thì Du với Hoàng Lê nhất thống chí (từ hồi 8 đến hồi 14); như Ngô Cao Lãng với Lịch triều tạp kỷ, Thanh Hóa dư đồ sự tích ký; như Phạm Đình Hổ với hàng loạt tác phẩm: An Nam chí, Ô châu lục, Quốc triều hội điển, Ải Lao sứ trình, Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục; như Phan Huy Chú với Lịch triều hiến chương loại chí; , Hoàng Việt dư địa chí, Mai Phong du Tây thành dã lục, Hoa thiều ngâm lục; Ngô Thế Vinh với Trúc Đường chu dịch tùy bút, Tống sử học; Lê Ngô Cát với Đại Nam quốc sử diễn ca; Nguyễn Văn Siêu với Phương Đình dư địa chí, Chư kinh khảo ước, Chư sử khảo thích; v.v... Họ là Nho gia nhưng đồng thời cũng là những sử gia, ngoài những sáng tác thi ca, những bộ địa chí, ghi chép, khảo đính lịch sử của họ trở thành những đóng góp xuất sắc cho nền trước thuật xã hội nhân văn.
Nếu như xu hướng Hán Nho là đề cao lịch sử với sự chú trọng Kinh Xuân Thu thì Đường Nho lại đề cao Tứ Thư, đặc biệt là sách Luận Ngữ và Mạnh Tử. Các nhà nho theo khuynh hướng này thường đề cập đến những suy nghiệm của mình vào văn chương thi phú. Một số tác giả vào thời Nguyễn còn chú trọng đến việc cổ xúy cho tinh thần “tam giáo đồng nguyên”. Số lượng Nho gia thời Nguyễn theo xu hướng Đường Nho không đông đảo. Có thể kể đến như Vũ Tông Phan với nhiều suy ngẫm, triết lý về thế sự; tràn ngập trong thơ là cảnh sắc thiên nhiên của đất nước qua các tập Thăng Long hoài cổ, Lỗ An di cảo thi tập, Kiếm hồ thập vịnh; như Nguyễn Tư Giản với những đau đáu dân sinh, phác họa được hình ảnh người dân lao động qua các tập Quan hà tập, Tiểu Tuyết Sơn phòng thi tập, Thạch Nông toàn tập; Nguyễn Đức Đạt với kiểu viết theo lối vấn đáp, thảo luận về các nội dung Thiên đạo, đạo đức và trị đạo qua các tác phẩm Nam Sơn tùng thoại, Đông hiên hà dạ tập, Cần kiệm vựng biên; đặc biệt như Nguyễn Du với kiểu mô tả hiện thực nổi lên sắc nét bằng tất cả sự sinh động của sắc màu, âm thanh, tràn trề xúc cảm qua nhiều tác thơ chữ Hán (Thanh Hiên tiền hậu tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục.) cũng như Truyện Kiều; v.v... Nho gia theo xu hướng Đường Nho cũng có vịnh sử nhưng chủ yếu là qua thơ với tính chất đượm màu triết lý. Khác hai xu hướng trên, các nhà Nho chủ trương Tống Nho có số lượng nhiều hơn hẳn và điều quan trọng lực lượng này chi phối tư tưởng chính trị đương thời. Xu hướng Tống Nho đề cao Ngũ Kinh, đặc biệt xem trọng Kinh Dịch; xem trọng Tứ Thư nhưng tập trung vào Đại học và Trung Dung. Tư tưởng chính của Tống Nho là tuyệt đối hóa chế độ quân chủ, đề cao Thuyết thiên mệnh, xem hoàng đế là người thay mặt đấng tối cao và tối linh. Ở xu hướng này, các Nho gia là quần thần, quan lại là tầng lớp gắn bó mật thiết với triều đình. Họ được sự "lưu dung" của triều Nguyễn, họ là các khoa bảng hiển đạt ở triều đại này. Điển hình như Ngô Nhân Tĩnh với sự thanh liêm, giản dị, đau đáu nỗi niềm thương nhớ nước trong những dòng thơ đi sứ, u uẩn thế thời vận nước qua các tập Thập Anh đường thi tập, Gia Định tam gia thi tập; Lê Quang Định với những bài thơ sáng trong tình cảm với quê hương, đất nước, với những dấu ấn địa dư lưu truyền cùng hậu thế qua các tập Hoa nguyên thi thảo, Gia Định tam gia thi tập, Hoàng Việt nhất thống địa dư chí; Đặng Đức Siêu với những dòng văn biên niên về chúa Nguyễn, những ca khúc tán tụng công đức của hoàng đế Gia Long bình định giang sơn qua các tác phẩm Thiên Nam thế hệ, Hồi loan khải ca; Trương Đăng Quế với tâm hồn nhạy cảm để lại nhiều trước tác thi ca qua các tập Quảng Khê văn tập, Trương Quảng Khê thi văn, Nam Giao nhạc chương, đặc biệt là tham gia biên soạn nhiều bộ sử chính yếu của triều Nguyễn; Bùi Ngọc Quỹ đến đâu cũng xướng họa qua các tập Hữu Trúc thi tập, Yên Đài anh thoại, Sứ trình anh thoại khúc, Yên hành khúc; Phan Thanh Giản với những dòng thơ bày chí, tỏ đạo, chân thành xúc cảm như nhưng trang nhật ký cuộc đời qua Lương Khê văn thảo, Sứ Thanh thi tập, Tây phù nhật ký, Ước Phu thi tập, và là chủ biên của hai bộ sách Việt sử thông giám cương mục, Minh Mạng chính yếu; Đặng Huy Trứ với những tư tưởng tiến bộ nhấn mạnh sự liêm chính, cần kiệm của quan trường, chống tham ô, hối lộ, đề cao phẩm chất tốt đẹp của con người qua nhiều tác phẩm Từ thụ yếu quy, Tùng chinh di quy, Tứ thập bát hiệu ký Sự tân biên, Hoàng Trung thi văn, Việt sử thánh huấn diễn nghĩa; Nguyễn Công Trứ với tráng chí nam nhi, luôn thể hiện là con người hành động, luận bàn nhân tình thế cuộc qua nhiều bài thơ Nôm ngất ngưỡng tiêu sái, luận bàn nhân thế; Trần Bích San với tư tưởng cải cách, tuyệt đối chống xâm lăng qua các tác phẩm Thanh tâm tài nhân quốc âm thi, Nhân sự kim giám, Mai Nham thi thảo; v.v... Mỗi nho gia dù có những biểu hiện khác nhau nhưng tựu trung đều một lòng phụng sự triều đình, hoàn thành chức phận xã hội. Cũng cùng chung xu hướng Tống Nho còn một đội ngũ nho gia khác là các hoàng đế, hoàng thân (chúng tôi sẽ đề cập ở phần sau).
Nhìn chung, dù cả ba xu hướng trên có vị trí, ý nghĩa khác nhau, nhưng sự phân chia ở đây cũng chỉ mang tính tương đối, các xu hướng này luôn có sự chuyển hóa, thậm chí còn hô ứng trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Trên hết là các nho gia luôn xuất phát từ hiện thực để xuất xử và sáng tác, điều này là hiện thực tất yếu.
Các mặt tư tưởng, văn hóa được củng cố, chấn hưng song song cùng quá trình kiến tạo cơ sở vật chất, xây dựng công sở hành chính, thiết lập thiết chế nhà nước cần thiết, bảo đảm cho quá trình quản lý, điều hành đất nước. Quy hoạch, xây dựng kiến trúc cung đình dưới thời Nguyễn đã có những bước phát triển gắn với công cuộc tạo dựng một hệ thống công trình kiến trúc ở Kinh đô Huế, phục vụ bộ máy chính quyền trung ương cũng như các sinh hoạt hoàng gia.
2.1.2. Công cuộc quy hoạch, xây dựng kiến trúc cung đình
Cùng với sự hình thành và phát triển qua 143 năm lịch sử, gắn với công cuộc cai trị đất nước, triều Nguyễn đã kiến tạo nên một phức hệ kiến trúc phong phú và đa dạng ở Kinh đô Huế. Kinh đô Huế thời Nguyễn phản ánh sự dung hợp hài hòa, phát triển đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc truyền thống Việt Nam. Từ một quy hoạch hoàn chỉnh về không gian, người xưa đã kiến cục nên một phức hợp kiến trúc với nhiều loại hình, tính chất đan xen với khung cảnh thiên nhiên thơ mộng của sông núi, ao hồ, đầm phá. Bức tranh kỳ tráng về kiến trúc được kiến tạo nên qua một hệ thống công trình được quy hoạch, xây dựng với những quy mô khác nhau.
Trong lịch sử, kinh đô triều Nguyễn là một hệ thống gồm cả hàng trăm công trình lớn nhỏ, chính phụ được xây dựng vào nhiều giai đoạn nhưng chủ yếu là được kiến thiết vào triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Đó là các giai đoạn hình thành, ổn định và phát triển đến đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc Việt Nam vào lúc bấy giờ. Những giai đoạn về sau chỉ là sự bổ sung, hoặc tiếp tục duy trì và phát triển của hệ kiến trúc này. Thời cận hiện đại, một dòng kiến trúc “tân cổ điển” được du nhập vào Việt Nam, kết hợp với thẩm mỹ của kiến trúc truyền thống cung đình Nguyễn cũng để lại một dấu ấn đáng kể đối với hệ thống kiến trúc ở Kinh đô.
Kinh Thành là một tòa thành lũy đồ sộ và kiên cố (chu vi trên 10.000m, với diện tích bên trong là 5,2 km2 ) được xem là chủ thể trong quy hoạch tổng thể của Kinh đô Huế. Được khảo sát xây dựng từ năm 1803 đến khi hoàn chỉnh vào năm 1832, công trình Kinh Thành trải qua 30 năm xây dựng với hàng vạn nhân công tham gia. Có công năng là một pháo đài phòng thủ bốn mặt, Kinh Thành được xây dựng khúc khuỷu dích dắc, trên bố trí các vọng lâu, pháo nhãn, đại bác, tường bắn, phòng lộ, thành giai, kho đạn, v.v.., để thuận lợi trong việc kiểm soát các mũi tấn công của đối phương. Xuất phát từ quan niệm phòng thủ truyền thống “kim thành thang trì” (Thành bằng đồng, hào chứa nước sôi), xung quanh Kinh Thành là hào nước (Hộ Thành hào) có chức năng là yếu tố phòng vệ đầu tiên của hệ thống, đồng thời còn giữ chức năng giao thông về đường thủy. Xung quanh Kinh Thành có 10 cửa ra vào cho đường bộ và 02 cửa đường thủy. Bên trong Kinh Thành có nhiều công trình lớn nhỏ khác nhau là những cơ quan như Cơ Mật Viện, Lục Bộ, Quốc Sử Quán, Tàng Thư Lâu, Tôn Nhơn Phủ, Khâm Thiên Giám, Hồ Tịnh Tâm v.v... nhưng quy mô nhất là khu vực Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.
Hoàng Thành (Đại Nội) là khu vực công sở hành chính và là không gian sinh hoạt của Hoàng gia có cả trăm công trình với nhiều tính chất khác nhau. Hoàng Thành vốn có 136 công trình kiến trúc. Tuy nhiên, với sự thay đổi liên tục qua các thời kỳ xây dựng trong Hoàng Thành rất khó để đưa ra số lượng chính xác của các công trình kiến trúc. Bộ mặt Hoàng Thành lúc đầy đủ nhất có thể kể đến các tổ hợp không gian chính như:
- Không gian nghi lễ chính trị, hành chính như Ngọ Môn - điện Thái Hòa: khu vực này là không gian nghi lễ quan trọng nhất của triều Nguyễn. Các cuộc đại lễ quan trọng của triều đình như lễ Đại triều (mỗi tháng 2 lần), lễ Đăng quang, lễ Vạn thọ, Nguyên đán… đều tổ chức ở điện Thái Hòa; lễ Duyệt binh, lễ Truyền lô công bố tân khoa tiến sĩ tổ chức ở Ngọ Môn.
- Không gian nghi lễ thờ tự như Triệu Tổ Miếu, Thái Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu, Hiển Lâm Các, Phụng Tiên Điện cùng hàng chục công trình phối thuộc là nơi thờ tự các vua chúa triều Nguyễn.
- Không gian sinh hoạt của hoàng đế và hoàng gia ở khu vực Tử Cấm Thành với khoảng 50 kiến trúc lớn nhỏ chia thành 2 khu vực: hệ thống công sở hành chính, nơi nhà vua và các cận thần làm việc và xử lý triều chính hàng ngày gồm Đại Cung Môn -Tả Vu - Hữu Vu - Cần Chánh Điện - Đông Các Điện - Văn Minh Điện - Võ Hiển Điện; tiếp theo là khu vực sinh hoạt hàng ngày của hoàng đế, hoàng quý phi, cung phi, giai tần như Càn Thành Điện, Khôn Thái Cung, Lục Viện, v.v...
- Không gian sinh hoạt riêng của hoàng thái hậu, thái hoàng thái hậu như cung Diên Thọ, cung Trường Sanh.
- Không gian sinh hoạt giải trí, thư giãn như Duyệt Thị Đường, Dưỡng Tâm Điện, Minh Trinh Điện, Thái Bình Lâu cùng các ngự uyển như Thiệu Phương, Cơ Hạ, v.v...
Các công trình này được xây dựng, bổ sung, thay đổi tùy theo nhu cầu, điều kiện nhất định, nhưng cơ bản, tất cả đều được bố cục một cách hài hòa, chặt chẽ và hầu như đều theo nguyên lý đăng đối trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc phong thủy, Dịch lý.
Bên cạnh thành quách và cung điện, nhiều công trình dinh thự, đàn miếu, công sở khác cũng phần nào nói lên những thiết chế hoàn chỉnh của một nhà nước quân chủ. Ngoài khu vực Hoàng Thành, về thiết chế hành chính, khoa học, giáo dục có các kiến trúc như Quốc Sử Quán, Quốc Tử Giám, Văn Miếu, Võ Miếu, Tàng Thư Lâu, Phu Văn Lâu, v.v...; về thiết chế thiên văn học có các kiến trúc như Quan Tượng Đài, Nha Khâm Thiên Giám; về thiết chế nghi lễ, tín ngưỡng có các kiến trúc như đàn Nam Giao, đàn Xã Tắc, điện Huệ Nam và hệ thống quần miếu, quần tự phong phú khác, v.v...; về thiết chế quân sự có các kiến trúc như Trấn Hải Thành, Trấn Bình Đài, Hải Vân Quan v.v.../; cùng nhiều công trình cảnh quan, giải trí khác như hồ Tịnh Tâm, Nghinh Lương Đình, Hổ Quyền v.v...
Ngoài ra, điển hình cho kiến trúc truyền thống Việt Nam, lăng tẩm các hoàng đế triều Nguyễn là một bức tranh sinh động về kiến trúc cảnh quan. Lăng tẩm các vua được xây dựng với tính chất là “biệt cung thứ hai”, kết hợp với quan niệm “sinh ký, tử quy” (sống là gửi, chết là về) nên luôn được quy hoạch xây dựng có hai phần: lăng mộ và tẩm điện, nhấn mạnh đến yếu tố cảnh quan. Điều này thể hiện rất rõ qua bảy khu lăng tẩm: Lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng), lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng), lăng Thiệu Trị (Xương Lăng); lăng Tự Đức (Khiêm Lăng), lăng Dục Đức (An Lăng), lăng Đồng Khánh (Tư Lăng), lăng Khải Định (Ứng Lăng). Xuất phát từ những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, xã hội cụ thể khác nhau, dù triều Nguyễn có đến 13 triều vua nhưng chỉ có bảy khu lăng tẩm được quy hoạch, xây dựng. Quan niệm lăng tẩm như một hành cung thứ hai của các vị vua triều Nguyễn đã hình thành nên một kiểu quy hoạch các công trình kiến trúc rất đặc sắc, đặc biệt là phần tẩm điện. Nhiều công trình kiến trúc được xây dựng với chức năng là nơi sinh hoạt và giải trí của nhà vua, điển hình như ở lăng Tự Đức với hàng loạt kiến trúc như Dũ Khiêm Tạ, Xung Khiêm Tạ, Minh Khiêm Đường, v.v... Với tính chất là một cõi sống cho giấc vĩnh hằng đặc biệt như vậy nên kiến trúc lăng tẩm các vua triều Nguyễn cũng có những đặc điểm gần gũi với kiến trúc chốn hoàng cung.
Kiến trúc triều Nguyễn ở Huế đã để lại nhiều dấu ấn về phong cách, nhất là về mỹ thuật trang trí. Nhìn vào di tích Huế ngày nay có thể thấy rằng, tất cả các yếu tố như vật liệu xây dựng, motif mỹ thuật v.v, đều có thể phản ánh về một phong cách kiến trúc Việt Nam vào thế kỷ XIX với những đặc trưng cơ bản nhất ở nhiều góc độ khác nhau. Từ ngoại thất đến nội thất, từ hệ thống kèo cột đến hệ thống mái lợp v.v... đều có sự trang trí mỹ thuật với nhiều hình thức và chất liệu. Đặc biệt, tại nhiều kiến trúc, ở khu vực mái lợp, các phần bờ nóc, bờ quyết 1 , cổ diêm 2 đều được chia thành các ô hộc 3 để trang trí các họa tiết và chữ Hán; ở phần liên ba 4, đố bản nội thất cũng tương tự, trang trí các họa tiết và chữ Hán. Các chữ Hán này đa số là những bài thơ, đoạn thơ, câu thơ. Thơ trên kiến trúc là một tiêu biểu về giá trị thẩm mỹ, thể hiện một phong cách trang trí giàu tính văn hóa của các kiến trúc cung đình Huế, mà trước hết, tình hình văn học thời bấy giờ là yếu tố tác động trực tiếp làm nên hiện tượng này.
2.2. Tình hình văn học dưới triều Nguyễn
Thời Nguyễn được đánh giá là thời đại phát triển rực rỡ về nhiều mặt, trong đó có phần quan trọng của văn học. Chính sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội vào giai đoạn độc lập, tự chủ thời Nguyễn đã tạo điều kiện cho văn học phát triển. Cơ sở lịch sử xã hội đã quy định trực tiếp đến tình văn học nói chung.
Chú thích:
1. Bờ quyết: phần vữa đắp theo bờ nghiêng ở các góc của hệ thống mái.
2. Cổ diêm (古 簷): dải nối giữa hai tầng mái trong một kiến trúc truyền thống.
3. Ô hộc: là một thuật ngữ của ngành nghiên cứu lịch sử kiến trúc, chỉ hiện tượng chia nhỏ các dải liên ba, bờ nóc, cổ diêm trên công trình thành các ô hộc tạo để trang trí.
4. Liên ba (連 葩): dải ván (hoặc vữa) nối giữa hệ thống cột trong một kiến trúc truyền thống. Trong các tài liệu chữ Hán về triều Nguyễn, liên ba vốn là xuyên hoa (川 葩 ) hoặc xuyên hoa (川花 ) dân gian vẫn quen gọi là liên ba. Ở đây, chữ ba (葩) thực chất là chữ hoa (花), do kỵ húy tên bà Hồ Thị Hoa (mẹ của vua Thiệu Trị) nên các chữ hoa trong cách viết và nói từ triều Thiệu Trị trở về sau đều đổi là ba hoặc đổi bằng chữ khác.
2.2.1. Các chặng đường phát triển
Xuất phát từ cơ sở lịch sử xã hội, văn học thời Nguyễn trải qua ba phân khúc thời gian là chặng đường sơ Nguyễn (1802-1819), thịnh Nguyễn (1820-1883) và suy Nguyễn (1884-1945).
Văn học chặng đường sơ Nguyễn gắn liền với hai lực lượng sáng tác đó là các quan thời Gia Long, các cựu thần của triều Lê không thuận theo triều Nguyễn. Có thể kể đến các tác giả như Phạm Quý Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, v.v... Văn học ở chặng đường này tập trung nội dung gắn với tính chất hoài vọng, tiếc nuối về triều đại cũ. Nhưng bộ phận văn chương ở vùng đất mới phương Nam lại có nhiều đóng góp. Đây là thời gian ở miền Nam có sự xuất hiện của nhóm Gia Định tam gia gồm Ngô Nhân Tĩnh, Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định cùng một số tác giả khác như Hoàng Ngọc Uẩn, Diệp Minh Phụng. Vùng đất này cũng đánh dấu sự ra đời của hai thi xã đó là Bình Dương thi xã và sau này có sự xuất hiện của Bạch Mai thi xã. Bình Dương thi xã ra đời ở Gia Định sau khi Gia Long lên ngôi khoảng một vài năm. Tác phẩm của Bình Dương thi xã thể hiện những niềm lạc quan trước vận hội mới thái bình, ca ngợi thiên nhiên cảnh sắc non nước trời Nam.
Tiếp theo, chặng đường thịnh Nguyễn được xem là một thời kỳ văn học phát triển đến đỉnh cao với sự xuất hiện của một lực lượng sáng tác phong phú bậc nhất trong lịch sử dân tộc. Đánh giá về thời kỳ lịch sử này, Trần Văn Giàu từng tổng kết: “Không có thời nào, văn hóa phát triển như thời Nguyễn. Tám mươi năm [1802-1884] của nhà Nguyễn, sách vở, sáng tác gần bằng hoặc bằng, thậm chí nhiều hơn mấy trăm năm trước. Những nhà tư tưởng của triều Nguyễn cao hơn những nhà tư tưởng trước. Có thể nói sự phát triển văn hóa dưới thời Nguyễn tương đương với sự thống nhất quốc gia. Sự thống nhất về chính trị thúc đẩy sự phát triển văn hóa rất nhiều.” [21, tr.19]. Nhiều vị hoàng đế đã trở thành những tác giả lớn, tiêu biểu. Nhiều vị hoàng thân hoàng tộc thành tựu qua nhiều trước tác để lại cùng hậu thế. Nhiều bậc quan lại, nho sĩ làm nên tên tuổi và đi vào lịch sử văn học. Tất cả các thành phần xuất thân của lực lượng sáng tác như vậy đã thể hiện một “sự bùng nổ” có tính lịch sử trong diễn trình văn học trung đại. Tương truyền, vua Tự Đức từng khen ngợi có phần khích lệ về sự thịnh trị của văn chương thời ký này qua hai câu sau: “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán/ Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”. Các quan lại, nho sĩ như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Bùi Hữu Nghĩa, Cao Bá Quát, Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thận, Vũ Duy Thanh, Phan Thanh Giản, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Văn Siêu, Trương Đăng Quế, Huỳnh Mẫn Đạt, Nguyễn Thị Hinh (Bà Huyện Thanh Quan), Chu Mạnh Trinh, Trần Tiễn Thành, Đặng Huy Trứ, v.v... đều có thể là những đại diện tiêu biểu cho văn học thời kỳ này. Văn chương, đặc biệt là thơ ca của họ đã phản ánh sự đa diện của đời sống xã hội, thể hiện những suy tư về trách nhiệm của đình thần, vận mệnh của đất nước, những trở trăn, ưu tư của nỗi lòng kẻ sĩ trước thời cuộc. Nổi bật hơn cả ở thời kỳ thịnh Nguyễn là sự xuất hiện một bộ phận đáng kể các tác giả cung đình là các vị vua, các vị hoàng thân, hoàng tộc. Chính nhóm tác giả này đã làm cho diễn trình văn học thời Nguyễn có sự thay đổi lớn trong lịch sử văn học trung đại Việt Nam (về nội dung này, chúng tôi sẽ đề cập ở phần tiếp theo).
Chặng đường suy Nguyễn, đất nước đặt dưới sự bảo hộ của Pháp. Hoàn cảnh lịch sử đã tác động trực tiếp đến tính chất của văn học. Song vào giai đoạn suy vong khi đất nước lệ thuộc vào Pháp, văn học cũng tự tìm đường tạo nên hướng đi mới nhằm tiếp tục phát triển cùng những nhu cầu phản ánh xã hội và bày tỏ quan điểm, tình cảm cá nhân. Thi ca không lệ thuộc vào sự suy vong của chế độ, tự điều chỉnh để đáp ứng được nhu cầu phản ánh xã hội. Nhiều tác giả đã sáng tác từ niềm xúc cảm của nỗi đau mất nước, của số phận dân tộc. Điển hình cho lực lượng sáng tác thời kỳ này là các tác giả Nguyễn Liên Phong, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Xuân Ôn, Tôn Thọ Tường, Hoàng Diệu, Nguyễn Thông, Phan Văn Trị, Trương Gia Mô, Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Nhược Thị, v.v... Thời kỳ này cũng chứng kiến sự ra đời của Bạch Mai thi xã ở phương Nam, nơi hội tụ của các tao nhân Gia Định. Càng về sau, tác phẩm của Bạch Mai thi xã chủ yếu sáng tác bằng chữ Nôm với những tên tuổi như Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, v.v...
Nhìn chung, trải qua ba chặng đường sơ Nguyễn, thịnh Nguyễn và suy Nguyễn, văn học thời Nguyễn ở Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ từ số lượng lẫn chất lượng, từ hình thức lẫn nội dung, từ lực lượng sáng tác đến tác phẩm được in ấn, phổ biến. Với đặc tính ngôn chí, thường được quan niệm như một mệnh đề mỹ học có tính phổ quát, văn chương bấy giờ đã hành chức phản ánh hiện thực một cách trọn vẹn dù ở bất cứ hoàn cảnh nào. Suy cho đến cùng, chính lực lượng sáng tác hùng hậu và phong phú đã tạo nên một đột phá có tính nhảy vọt của văn học. Điều này sẽ được tiếp tục củng cố qua lực lượng sáng tác là các thi sĩ hoàng tộc.
2.2.2. Sự phát triển vượt bậc của văn học hoàng tộc
Kinh đô Huế bấy giờ là trung tâm chính trị, văn hóa, giáo dục của Việt Nam, nơi hội tụ nhân tài của quốc gia, mặc nhiên cũng trở thành trung tâm văn học nghệ thuật của đất nước. Đây là điều kiện để văn chương triều Nguyễn phát triển. Trong nội tại hoàng tộc, đa số các hoàng đế, các hoàng tử, hoàng thân hầu hết đều trải qua quá trình đào tạo về kiến văn từ nhỏ nên họ được trang bị những tri thức với sở học rất ổn định. Đây cũng chính là điều kiện để hình thành nên một lực lượng sáng tác phong phú, tạo nên dòng văn học hoàng tộc.
Đầu tiên phải kể đến là nhóm tác giả bao gồm các hoàng đế. Nhiều hoàng đế triều Nguyễn để lại các trước tác thi ca dưới dạng là tập thơ như Nguyễn Phúc Đảm (Minh Mạng), Nguyễn Phúc Miên Tông (Thiệu Trị), Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (Tự Đức), Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (Đồng Khánh), Nguyễn Phúc Bửu Lân (Thành Thái), Nguyễn Phúc Bửu Đảo (Khải Định). Nhiều hoàng đế đã để lại các trước tác thi ca dưới dạng bài thơ được lưu truyền hoặc chép trong các sách như Nguyễn Phúc Vĩnh San (Duy Tân), Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (Bảo Đại). Đặc biệt, các vị vua đầu triều đã để lại một khối lượng trước tác văn học cực kỳ đồ sộ, khó có thể hình dung. Theo thống kê của Viện Hán Nôm, trong 63 năm (từ 1820 đến 1883), các hoàng đế Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đã “ngự chế” 15.097 bài thơ văn dài ngắn khác nhau, được chép trong 25 tên sách, đóng thành 82 tập với 25.196 trang chữ Hán Nôm. Trong đó, tổng số lượng thơ của ba vị vua này thống kê được đã lên đến khoảng 11.800 bài (ước tính theo số làm tròn thì vua Minh Mạng có khoảng 4.200 bài thơ, vua Thiệu Trị có khoảng 3.200 bài, vua Tự Đức có khoảng 4.600 bài. Nếu đem so với các thi gia nổi tiếng thời trung đại thì số lượng trên là “vượt mức bình thường”: đại thi hào Nguyễn Trãi sinh thời sáng tác được gần 450 bài thơ; đại thi hào Nguyễn Du có khoảng 250 bài; thánh thơ Cao Bá Quát có chừng 1.400 bài [63, tr.459-460]. Điều này nói lên rằng, các vua đầu triều Nguyễn thực sự đã tạo nên một kỷ lục thi ca trong lịch sử văn chương của Việt Nam cũng như thế giới.
Tình hình các tác phẩm thơ được in, hoặc tập hợp thành tập riêng của các hoàng đế còn được lưu trữ và miêu tả trong các tài liệu, cụ thể như sau:
- Thơ của Hoàng đế Minh Mạng: Bộ thơ Ngự chế thi tập (gồm 4.768 trang, có 3.783 bài thơ) khắc in năm 1831, bao gồm các tập Ngự chế thi sơ tập (gồm 10 quyển, có 865 bài thơ), Ngự chế thi nhị tập (10 quyển, 813 bài thơ), Ngự chế thi tam tập (10 quyển, quyển này bị rách nát, ước khoảng 500 bài thơ), Ngự chế thi tứ tập (10 quyển, 522 bài thơ), Ngự chế thi ngũ tập (10 quyển, 509 bài thơ), Ngự chế thi lục tập (10 quyển, 574 bài thơ); Bộ thơ Ngự chế tiễu bình Nam Bắc tặc khấu thi tập (gồm 228 trang, 73 bài thơ) khắc in năm 1835 gồm hai phần Ngự chế tiễu bình Nam kì tặc nghịch thi tập (34 bài thơ), Ngự chế tiễu bình Nam Bắc tặc khấu thi tập (79 bài thơ); Bộ thơ Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập (gồm 910 trang, 394 bài thơ), chưa rõ năm in gồm 4 tập: “Tập 1” từ quyển 1 đến quyển 3 (136 bài thơ); “Tập 2” từ quyển 4 đến quyển 7 (78 bài thơ); “Tập 3” từ quyển 8 đến quyển 10 (57 bài thơ); “Tập 4” quyển 13, 14 (đã mất quyển 11, 12, có 123 bài thơ).
- Thơ của Hoàng đế Thiệu Trị: Tập thơ Ngự chế tài thành phụ tướng thi tập (gồm 234 trang, có 200 bài thơ) bản viết tay năm 1847; Tập thơ Thiệu Trị ngự chế thi (gồm 5.634 trang, có 3.032 bài thơ) bản in, chưa rõ năm in; Tập thơ Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập (có 157 bài thơ của vua Thiệu Trị và 218 bài thơ đi sứ của các quan), 157 bài thơ của hoàng đế Thiệu Trị trong tập thơ Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập đều là những bài thơ chơi chữ dưới dạng kỹ xảo cao siêu, trác việt. Đã có 04 bài thơ trong tập này được chọn để khảm cẩn xà cừ trên điện Long An; Tập thơ Thánh chế Bắc tuần thi tập (gồm 173 bài thơ) sáng tác năm 1842; Tập thơ Ngự chế Vũ công thi tập (10 quyển, 141 bài thơ); Tập thơ Hoàng huấn cửu thiên (gồm 9 thiên, 27 chương); Bộ thơ Ngự đề đồ hội thi tập (gồm 14 quyển và 2 quyển mục lục), bản in 1845, bộ thơ này gồm các phần Ngự đề danh thắng, Ngự đề cổ tích và Ngự đề nhân vật. Trong phần Ngự đề danh thắng có viết về 20 thắng cảnh của Huế gọi là Thần Kinh nhị thập cảnh với 150 bài thơ vịnh 20 thắng cảnh của đất Thần Kinh (Huế) gồm 7 thắng cảnh tự nhiên và 13 thắng cảnh kiến trúc hoặc là sự kết hợp giữa kiến trúc với tự nhiên, đó là những tư liệu lịch sử quý giá và các giá trị văn hóa lớn khi tìm hiểu về văn hóa nghệ thuật cũng như lịch sử của Huế xưa vào thời Nguyễn.
- Thơ của Hoàng đế Tự Đức: Bộ thơ Tự Đức Ngự chế thi (gồm 2.650 trang, có 3.784 bài thơ) khắc in năm 1877, bao gồm các tập “Ngự chế thi sơ tập” (gồm 15 quyển, có 996 trang), “Ngự chế thi nhị tập” (15 quyển, 624 trang), “Ngự chế thi tam tập” (20 quyển, 1.030 trang); Bộ thơ Ngự chế Việt sử tổng vịnh (gồm 14 tập, có 212 bài thơ); Tập thơ Tự Đức cơ dư tự tỉnh thi tập (gồm 512 trang, 560 bài thơ) bản viết tay; Tập thơ Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca (gồm 610 trang, với 4.572 câu lục bát); Tập thơ Tự Đức thánh chế Luận Ngữ thích nghĩa ca (gồm 1.110 trang, với trên 6.000 câu lục bát); Tập thơ Ngự chế thi ngũ tập (gồm 64 trang, có 46 bài thơ); Ngự chế thi phú (180 trang). Ngoài ra, tác phẩm của vua Tự Đức còn được ghi chép ở hàng chục loại thư tịch khác.
- Thơ của Hoàng đế Thành Thái: Tập thơ Canh tý thi tập (gồm 18 trang, có 14 bài thơ), bản viết tay, năm 1900. Ngoài ra, vua Thành Thái còn có một số bài thơ lưu truyền trong dân gian in trong các sách văn học sau này.
- Thơ của Hoàng đế Đồng Khánh: Tập thơ văn Đồng Khánh ngự chế thi văn (gồm 1 quyển thơ, 1 quyển văn), được chép lại năm 1925, thời Khải Định trong bộ Cổ học viện thư tịch thủ sách.
- Thơ của Hoàng đế Khải Định: Tập thơ Khải Định ngự giá Như Tây thi tập (gồm 1 quyển), khắc in năm Khải Định thứ chín (1924). Ngoài ra, hoàng đế Khải Định còn có 01 bài thơ khắc trên bia đá chùa Thiên Mụ; 03 bài thơ in trong sách Đồng Khánh, Khải Định chính yếu.
Ngoài ra một số hoàng đế khác như Duy Tân, Bảo Đại cũng có làm một vài bài thơ được lưu truyền qua các sách vở, tư liệu.
Nghiên cứu về thơ các hoàng đế như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, nhiều nhà nghiên cứu đã công nhận ngôn ngữ thơ của các vua có tính bác nhã, thể hiện sở học uyên thâm. Đánh giá về thi ca của các hoàng đế triều Nguyễn, Nguyễn Tuấn Cường - một tác giả nghiên cứu Hán Nôm - đã không ngần ngại xác quyết rằng: “Việc tiếp cận hệ thống thơ văn ngự chế triều Nguyễn như là một bộ phận cấu thành của văn hóa cung đình triều Nguyễn là một hướng nghiên cứu khả thi, mặc dù cũng lường trước được không ít khó khăn do chúng ta sẽ phải đối mặt với những văn bản thuộc hàng tinh hoa nhất mà giới trí thức tinh hoa thời trung đại Việt Nam đã sản sinh ra” [63, tr.463]. Điều này cũng nói lên thực tế về giá trị của các “ngự chế thi”. Với số lượng vượt trội cùng những giá trị rất đáng lưu tâm, thơ của các vua Nguyễn thực sự là những di sản văn học, phản ảnh rõ nét về sự thịnh trị văn chương trong giai đoạn độc lập, tự chủ của thời Nguyễn.
Bên cạnh những thi sĩ hoàng đế, đội ngũ các hoàng thân, hoàng tử, con em hoàng tộc cũng hình thành nên một lực lượng sáng tác hùng hậu. Có thể kể đến các tác giả như Nguyễn Phúc Miên Thẩm (Tùng Thiện Vương), Nguyễn Phúc Miên Trinh (Tuy Lý Vương), Nguyễn Phúc Miên Bửu (Tương An Quận Vương), Nguyễn Phúc Miên Định, Nguyễn Phúc Miên Nghi, Nguyễn Phúc Miên Liêu, Nguyễn Phúc Miên Bật, Nguyễn Phúc Miên Khoan, Nguyễn Phúc Miên Cư, Nguyễn Phúc Miên Ngung, Nguyễn Phúc Miên Thanh, Nguyễn Phúc Miên Kiền, Nguyễn Phúc Miên Tuấn, Nguyễn Phúc Miên Triện, Nguyễn Phúc Hường Vịnh, Nguyễn Phúc Hường Hàng, Nguyễn Phúc Hường Y, Nguyễn Phúc Hường Sâm, Nguyễn Phúc Ưng Phục, Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (công chúa Huệ Phố), Nguyễn Phúc Trinh Thận (công chúa Mai Am). Được đào tạo từ nhỏ về Nho học, các tác giả hoàng tộc có những kiến thức lẫn kỹ năng thi phú hơn người. Sách Đại Nam liệt truyện ghi nhận điều này qua hàng loạt mẩu truyện có nhận xét về khả năng của con em hoàng tộc. Miên Thẩm biết làm thơ khi 9 tuổi “ra ngoài học tập, không sách gì không thông hiểu”; Miên Trinh “lúc bé thông minh, (…) đến thầy đọc sách Tiểu học, Hiếu kinh, miệng đều đọc lầu lầu, người giảng tập lấy làm lạ, thật ra lúc mới 4 tuổi”; Miên Bửu thì “cố sức đọc sách, thông khắp kinh sử, có tiếng làm thơ, càng giỏi về quốc âm”; Miên Bật “lúc trẻ đĩnh ngộ lạ thường, vốn thích học viết khi mới trưởng thành, ra học thầy dạy bên ngoài, không sách gì là không đọc, vua rất yêu”; Miên Ngung “lúc trẻ ham học, có trí thông minh, làm văn hay, biết rộng kinh sử, xem khắp các sách của bách gia tử, không sách nào xem mà không nghiên cứu” [80, tr.85-112].
Nổi tiếng trong giới văn chương hoàng thân hoàng tộc là nhóm Tam đường gồm Miên Trinh, Miên Thẩm và Miên Bửu. Nguyễn Phúc Miên Thẩm là hoàng tử thứ mười của vua Minh Mạng. Ông có rất nhiều tác phẩm: Thương Sơn thi tập (54 quyển: 2022 bài); Thương Sơn thi thoại; Thương Sơn văn di; Nạp bị tập; Nam cầm phổ; Lão sinh thường đà; Thức cốc biên; Thi kinh diễn nghĩa ca; Lịch đại thi nhân tiểu sử; Tỉnh y ký; Học giả chí; Tinh kị lịch đại đế vương thông hệ đồ; Độc ngã thư sao... Khi lập ra Mặc Vân sào tàng bản, ông chủ trương khắc in các tác phẩm của bằng hữu, như Quảng Khê thi tập của Trương Đăng Quế, Lương Khê thi tập của Phan Thanh Giản, Diệu Liên thi tập của công chúa Mai Am v.v... Nguyễn Phúc Miên Trinh là hoàng nam thứ mười một của vua Minh Mạng. Ông có tác phẩm chữ Nôm như Nữ phạm diễn nghĩa từ, Nghinh thường khúc; tác phẩm chữ Hán là Vĩ Dã hợp tập, Vĩ Dã thi tập (6 quyển), Vĩ Dã văn tập (5 quyển) và một số bài thơ Nôm rải rác khác, tiêu biểu như Hoà Lạc ca (cùng làm với Miên Thẩm và Miên Bửu). Nguyễn Phúc Miên Bửu là con thứ mười hai của vua Minh Mạng. Tác phẩm của ông có Khiêm Trai thi tập; Khiêm Trai văn tập; Hoài cổ ngâm (thơ Nôm); Trăm thương (thơ Nôm). Thơ của Miên Trinh, Miên Thẩm, Miên Bửu đượm chất triết lý, chất chứa nỗi ưu tư về đất nước và con người.
Nhóm Tam Đường bấy giờ đã tổ chức những sinh hoạt văn chương rất phong phú, tổ chức Mặc Vân thi xã (cũng gọi là Tùng Vân thi xã), con em trai gái cùng bạn bè ai thích văn chương đều được dự, cùng nhau xướng họa mạn đàm, thu hút nhiều danh sĩ đương thời. Người khởi sự đứng đầu thi đàn này là Miên Thẩm thường tổ chức tụ họp bình luận thi phú văn chương ở Ký Thưởng viên nằm trong vương phủ Tuy Lý. Thi đàn này bình đẳng với mọi thành phần nên đã quy tụ được nhiều danh sĩ trong Hoàng tộc cũng như bên ngoài như Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Nguyễn Văn Siêu, Phan Thanh Giản v.v. Nơi đây đã tạo hứng khởi cho các tao nhân, mặc khách sáng tác nhiều vần thơ hay. Diễn đàn thi ca này thật sự đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển văn học nghệ thuật đương thời như thành lập nhà in với tên gọi là “Mặc Vân sào tàng bản” để in các trước tác văn chương, thi phú; như sáng tạo nên trò chơi chữ nghĩa “Thả thơ” hay “Đánh thơ” nổi tiếng mà nhà văn Nguyễn Tuân sau này từng miêu tả qua qua bài bút ký “Thả thơ, canh bạc văn chương” trong “Vang bóng một thời”, v.v... Nơi đây từng đón Nhân Trùng Khánh (một danh sĩ Trung Hoa bấy giờ) đến “sinh hoạt” rồi để lại lời nhận xét hoa mỹ về văn chương và lòng hiếu khách của thi xã: “Phân tài trực bách Ngụy Tào Thực/ Ái khách cách siêu Tề Mạnh Thường” (So tài nào kém chi Tào Thực/ Mến khách chẳng thua tướng Mạnh Thường). Những điều đó cho thấy sự phát triển của tình hình văn học lúc này.
Đặc biệt, trong hoàng tộc có sự xuất hiện của “lực lượng” sáng tác nữ với tên tuổi của công chúa Huệ Phố và Mai Am. Công chúa Huệ Phố (Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa) là hoàng nữ thứ 34 của vua Minh Mạng. Lúc trẻ, cùng với công chúa Diệu Liên và công chúa Quy Đức theo học thơ phú ở Tùng Thiện Vương và nổi tiếng là Tam Khanh ở Kinh Thành. Trước tác của bà có tác phẩm Huệ Phố thi tập, do Tùng Thiện Vương đề tựa, chưa được khắc in. Công chúa Mai Am (Nguyễn Phúc Trinh Thận) là hoàng nữ thứ 25 của vua Minh Mạng. Trước tác của công chúa Mai Am có tác phẩm Diệu Liên thi tập được khắc in đến hai lần và nhiều bậc khoa bảng có tiếng thời bấy giờ đề tựa. Thi tập gồm 370 bài thơ, chia làm 3 quyển. Bản in lần đầu vào năm 1867 gồm 2 quyển, 177 bài, do chính bà tuyển chọn, được Tùng Thiện Vương đọc duyệt. Tùng Thiện Vương, Tuy Lý Vương viết lời bình v.v... Tập này được tái bản (có bổ sung) vào năm 1891. Đây là một tập thơ được giới trí thức đương thời chú ý, ở cuốn tái bản có ba bài tựa, một bài bạt, năm lời đề, năm bài thơ ghi cảm nhận của nhiều danh sĩ, trong đó 6 người Trung Quốc. Thật đúng như Hà Đình Nguyễn Thuật đã đề vào tập thơ Diệu Liên thi tập của công chúa Mai Am hai câu sau: “Thanh vận Ức mai vô hạn tuyệt/ Danh hiệu Mai Am đáng để đời”. Đánh giá về lực lượng sáng tác đặc biệt này, Nguyễn Khắc Thuần có nhận định: “Những Nho gia xuất thân là quý tộc tuy không tham dự các khoa thi nhưng chính họ, với những cống hiến xuất sắc trong hoạt động trước thuật, đã tự nâng mình lên vị trí những Nho gia lừng danh đương thời” [94, tr.179].
Qua cái nhìn tổng quan về một dòng văn học hoàng tộc trong lịch sử như vậy, chúng ta có thể hình dung được về lực lượng sáng tác, về số lượng trước tác hùng hậu và phong phú dưới thời Nguyễn. Các nhà nghiên cứu văn học sử đã ghi nhận về thời kỳ rực rỡ này khi làm một phép thống kê về trước tác của các tác gia văn học thời Nguyễn. Chỉ trong một giai đoạn ngắn so với toàn bộ chiều dài lịch sử dân tộc, thời Nguyễn đã để lại khối lượng tác phẩm văn chương nhiều hơn so với các thế kỷ trước đó cộng lại. Chính sự thịnh trị văn chương vào thời Nguyễn, nhất là sự xuất hiện của dòng văn học cung đình gắn với tên tuổi của các hoàng đế triều Nguyễn, các hoàng thân, hoàng tộc đã hình thành nên một hình thức tồn tại khác của thơ ca đó là thơ trên kiến trúc cung đình.
2.3. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế
Trải qua nhiều biến động của thiên tai, của chiến tranh, có thể nói rằng, hệ thống thi ca trên kiến trúc cung đình Huế tuy không được nguyên vẹn như nó vốn có, nhưng những gì cơ bản còn lại đến nay đều đã trở thành vốn quý của văn học, lịch sử và văn hóa. Tuy nhiên, tác giả cụ thể của các bài trong toàn bộ hệ thống thơ gần 1.500 đơn vị này là một vấn đề còn tồn nghi.
2.3.1. Vấn đề về tác giả
Hiện nay, mặc dù đã có nhiều cố gắng, chú ý nghiên cứu về hệ thống thơ trên di tích Huế nói chung, song chúng tôi chưa tìm được loại tài liệu nào để có thể làm rõ về vấn đề tác giả. Ngoài trường hợp bài thơ Vũ trung sơn thủy và Phước viên văn hội lương dạ mạn ngâm chạm khảm xà cừ trên điện Long An là có ghi rõ do vua Thiệu Trị sáng tác (紹 治 御 製 詩 Thiệu Trị ngự chế thi), thì hầu như không có trường hợp nào đề cập thơ chạm khắc trên kiến trúc cung đình Nguyễn là của tác giả nào. Nhà nghiên cứu Phan Thuận An nhận định: “Thơ văn trang trí ở đây phải là kết tinh của trí tuệ và tâm hồn của cả tầng lớp thượng lưu, trí thức, khoa bảng và hiền tài của cả nước đang hội tụ tại đế đô. Mặc dù trước các bài thơ không đề hai chữ 'Ngự chế' và sau các bài thơ không viết tên tác giả, nhưng qua nội dung gần 300 ô thơ văn trang trí tại chỗ, chúng ta có thể cho rằng đó đều là những sản phẩm văn học của vua quan triều Nguyễn một thời”[66, tr.154]. Thực tế thì cũng có trường hợp đã xác định tác giả là hoàng đế khi có sự ghi chú hai chữ “ngự chế” trong phần đề lạc khoản ở ô hộc thơ. Như trường hợp điện Thái Hòa, tại bờ nóc ngoại thất, ở trên một tấm pháp lam đề thơ đã đề cập đến vấn đề tác giả một cách mơ hồ như sau: thơ vua làm, mười ba bài (御 製 詩 十 三 首 ngự chế thi thập tam thủ). Điều này rất khó để xác định: thơ vua làm, vua ở đây là vua nào, khi mà ngôi điện này đã trải qua cả một quá trình xây dựng, cải tạo dưới nhiều triều vua (?); rồi mười ba bài, nghĩa là các bài còn lại không phải của vua làm (?). Điều đáng nói nữa là, tại vị trí xác định “ngự chế thi thập tam thủ” vừa nêu, dù ghi là mười ba bài, nhưng thực tế chỉ có mười hai bài (kể cả một bài bị mất toàn bộ), điều này cũng rất khó hiểu và chắc chắn là không quan hệ gì đến kết quả trùng tu vào các giai đoạn sau này (từ 1960 - 1992). Bởi lẽ thơ được viết trên các tấm pháp lam, đã được đánh dấu định vị trong quá trình trùng tu. Hơn nữa, dù cố tình làm sai lệch cũng không thể, vì tính chất bố cục theo motif nhất thi nhất họa và kích thước của các tấm pháp lam đều có những số đo xác định, chỉ có thể phân bố đủ trên một diện tích đã xác định.
Tuy nhiên, đến nay đã có một số kết quả qua việc đối chiếu thơ trên kiến trúc cung đình Huế xác định được một số tác giả của hệ thống thơ ở vài miếu điện, lăng tẩm. Kết quả đối chiếu “ngự chế thi” của hoàng đế với các ô thơ trên các kiến trúc ở Hiếu Lăng có kết quả là “tất cả 475 ô thơ này đều chính là Ngự chế thi của vua Minh Mạng”; “hầu hết các ô hộc chữ Hán trên điện Biểu Đức đều có trong Thiệu Trị Ngự chế thi ”; “đã đối chiếu được 27 bài là thơ vua Thiệu Trị” trên tổng số 100 bài được đối chiếu ở Cung Môn và điện Ngưng Hy lăng Đồng Khánh [66, tr.301]. Khi đối chiếu 08 bài thơ ở bờ nóc, bờ quyết Ngọ Môn, 47 ô hộc thơ được viết trên nền pháp lam ở bờ nóc, cổ diêm, bờ quyết phần mái trước và sau điện Thái Thái Hòa với “ngự chế thi” của hoàng đế Minh Mạng có kết quả là tất cả các bài này đều của vua Minh Mạng. Từ những phân tích trên có thể thấy rằng, tuy đã xác định được tác giả ở một số trường hợp như đã nêu, nhưng quả thực vấn đề tác giả của hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình cơ bản vẫn còn là những tồn nghi. Vì các nguồn tài liệu hiện còn không nêu tác giả của các bài thơ trên kiến trúc cung đình Huế nên cách duy nhất để xác định tác giả hiện nay vẫn là bằng con đường đối chiếu với các tác phẩm “ngự chế thi” của các hoàng đế. Nhưng công việc đối chiếu này là một quá trình cực kỳ công phu, mất rất nhiều công sức và thời gian bởi lẽ thơ của các hoàng đế có hằng chục nghìn bài nằm ở trăm quyển khác nhau. Điều này sẽ không chắc hứa hẹn mang lại kết quả khả dĩ. Do vậy, đến nay ngoài những kết quả đã có thể đối chiếu được, xác định được tác giả, hơn 70% số ô hộc thơ còn lại hãy tạm xác định tác giả của chúng là vua quan triều Nguyễn.
Các ô hộc (chính là các bài thơ, đoạn thơ, câu thơ chữ Hán) trên các công trình kiến trúc cung đình Huế thường được trang trí xen kẽ với các họa tiết hoa văn kỹ hà, thảo mộc, linh vật, chim thú cách điệu với phong cách ước lệ. Motif trang trí này thường được gọi là nhất thi nhất họa. Nếu như các họa tiết mang tính khái quát cao về thẩm mỹ, về nhận thức thế giới tự nhiên thì các ô chữ Hán lại mang tính khái quát về tư tưởng thông qua nội dung của các ký tự, đồng thời cũng khái quát được thế giới nội tâm của con người, của chủ nhân các công trình kiến trúc này. Điều đó cũng nói lên được rằng, kiến trúc chính là phần thể và thơ ca được khắc chạm ở đây là phần phách, tạo nên một chỉnh thể cân đối, hài hòa của kiến trúc Huế. Đây là một loại hình di sản vừa có tính vật thể, vừa có tính phi vật thể rất độc đáo của Việt Nam.
Khi đến kiểm tra việc tu sửa điện Thái Hòa vào năm 1833, hoàng đế Minh Mạng từng phân tích việc mở rộng quy mô điện Thái Hòa bằng cách bình luận về mấy câu thơ được khắc trên Đại Cung Môn. Sách Đại Nam thực lục có đoạn: “Vua đến chỗ thợ làm điện Thái Hòa, bảo Nội Các rằng: Chỗ chính giữa cửa Đại Cung có khắc bài thơ trong có câu một người chịu mệnh trời để cai trị thiên hạ, nhưng không phải đem cả thiên hạ để cung phụng một người. Tứ thơ rất tinh vi và đẹp đẽ. Ý nói vua nhận lĩnh mệnh trời để cai trị thiên hạ, nên lo lắng chăm nom mọi việc, khiến cho mọi vạn vật đều được yên chỗ, chứ đâu phải chỉ lấy sự đóng góp để cung phụng riêng một người hay sao? Nay xây dựng một phen, cũng vì chỗ vua ở là nơi tai mắt người ta trông vào, nên bất đắc dĩ phải làm, chứ chẳng phải có ý xa xỉ tự phụng” [78, tr.215]. Thực tế này cũng góp phần lý giải về một trong những tác tố để hình thành nên hiện tượng cho khắc thơ văn lên kiến trúc dưới thời Nguyễn.
2.3.2. Chỉnh thể bài trí và định hình văn tự
Sự thể hiện các bài thơ bằng các phương thức khác nhau, bằng các lối chữ khác nhau, ở các vị trí khác nhau, tại các loại kiến trúc khác nhau vừa tạo nên sự độc đáo riêng có của phong cách kiến trúc thời Nguyễn ở Việt Nam.
Vị trí trang trí thơ trên kiến trúc là một đặc điểm rất đáng quan tâm. Thơ được trang trí ở hầu hết các loại kiến trúc có tính nghi thức như miếu điện, môn đình, lâu quán, v.v... Đặc biệt, các kiến trúc có tính nghi thức liên quan đến các vị hoàng đế là miếu điện chắc chắn việc thể hiện các bài thơ trên các kiến trúc được xem như là điển chế. Chẳng hạn như là nơi làm việc của các vua (điện Thái Hòa, điện Cần Chánh); như là nơi thờ các chúa, nơi thờ các vua (Triệu Miếu, Thế Miếu, điện Sùng Ân, điện Biểu Đức, điện Ngưng Hy, điện Long Ân, điện Long An), v.v...
Thơ được thể hiện ở nhiều vị trí khác nhau trên kiến trúc. Tại ngoại thất của các kiến trúc, thơ văn được thể hiện trên bờ nóc, bờ quyết, cổ diêm của công trình. Tại nội thất, thơ được thể hiện trên các liên ba, đố bản tại các công trình kiến trúc.
Chất liệu và phương thức "chế tác" cũng phản ánh sự sáng tạo khá đặc trưng. Thơ được thể hiện với nhiều loại hình vật liệu và nhiều phương cách thể hiện. Theo số liệu thống kê được, hiện nay trên kiến trúc cung đình Huế hiện còn 2.945 ô hộc thơ chữ Hán. Trong đó có 2.785 ô hộc thơ chạm khắc trên gỗ (khắc nổi hoặc đục chìm; sơn son thếp vàng hoặc chỉ thếp vàng chữ, chỉ sơn đỏ chữ), 136 ô hộc thơ viết trên nền pháp lam (đồng tráng men) và 24 ô hộc thơ đắp vữa nổi khảm mảnh sành sứ.
Các phương thức thực hiện trên vật liệu cũng có nhiều cách thức phong phú. Cách thức thông thường nhất là dùng bút lông để thể hiện trên vải, trên giấy. Tuy nhiên, thơ trên kiến trúc cung đình đều thể hiện bằng các phương pháp như chạm nổi, khắc chìm, tráng men, chạm cẩn, đắp nổi với mục đích tạo nên sự ổn định, bền vững, đó là sự dụng công tương ứng với tính chất nghi thức, điển lệ của kiến trúc.
Thơ được chạm chìm, hay khắc nổi trên các liên ba bằng gỗ sau đó sơn son, thếp vàng là cách thể hiện phổ biến nhất (xuất hiện ở nhiều kiến trúc); thơ được viết trên nền đồng rồi tráng men (pháp lam) với nhiều màu sắc (chữ màu đen, xanh, vàng trên nền có màu tương phản) cũng là một dạng thường thấy (như ở phần mái Ngọ Môn, điện Thái Hòa, tam quan điện Phụng Tiên, Bi đình lăng Minh Mạng v.v); thơ được đắp vôi vữa khảm sành sứ (như ở lăng Khải Định); thơ được chạm khắc thếp vàng chữ hoặc sơn chữ nhưng nền không sơn son thếp vàng (như ở điện Long An, điện Long Ân, Nghinh Lương Quán). Ngoài ra, thơ còn được cẩn xà cừ trên ván gỗ, tuy chỉ xuất hiện ở một số trường hợp cá biệt (như ở điện Long An) nhưng đã để lại một giá trị độc đáo.
Đặc điểm vị trí tồn tại của các bài thơ cho thấy, có khi một bài được thể hiện hoàn chỉnh trên một ô; có khi một bài lại được thể hiện trên nhiều ô hộc, căn cứ vào lôgic nghĩa và vần để ghép thành một bài. Trên kiến trúc cung đình Huế, thơ được thể hiện với sự có mặt của nhiều thể thơ phổ biến thời bấy giờ, nhưng cách bố trí, sắp xếp có sự khác biệt về hình thức: có khi, các ô chữ là một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt; có khi chỉ là hai câu của một bài thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú thường được thể hiện nối tiếp, muốn có một bài hoàn chỉnh phải ghép lại mà thành; có khi cả ô chỉ là một đại tự, nhiều ô liên tục như vậy mà ghép thành một bài thơ; cũng có khi một ô lại là một rừng chữ với sự xếp đặt cầu kỳ (như hai bài thơ hồi văn kiêm liên hoàn của vua Thiệu Trị ở đố bản tại điện Long An).
Trên các công trình, các liên ba ở nội thất kiến trúc; bờ nóc, bờ quyết, cổ diêm ở phần mái của các miếu, điện, môn, đình trong kiến trúc cung đình, thường được phân chia thành các ô để trang trí như điện Thái Hòa, điện Sùng Ân, điện Biểu Đức, điện Long An, điện Khải Thành; như Triệu Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu; như Ngọ Môn, Tam quan Phụng Tiên; Bi đình các lăng Minh Mạng, Thiệu Trị, v.v... Các ô trang trí thường là một bài thơ chữ Hán, câu thơ, hoặc một đại tự (Triện thư hoặc Khải thư) xen kẽ với một họa tiết. Nhóm họa tiết này là một phức hệ vô cùng phong phú với các đề tài như hoa văn kỹ hà, tứ linh, bát bửu, cổ đồ; gần gũi với đời sống hơn là các đề tài về thiên nhiên như nhóm tứ quý (mai, lan, cúc, trúc); nhóm tứ thời (mai, sen, cúc, tùng), các nhóm chủ đề như tùng - lộc, liên - áp (sen - vịt), hoa - điểu, v.v... Các họa tiết kết hợp với chữ Hán ở các ô hộc để tạo nên một lối cấu tạo nhất thi nhất họa hoặc nhất tự nhất họa. Đó cũng là dấu ấn đỉnh cao của quan niệm thi trung hữu họa, làm nên phong cách trang trí kiến trúc độc đáo, đặc sắc riêng có, mang đậm dấu ấn cung đình rồi trở thành điển lệ và điển chế trong trang trí kiến trúc thời Nguyễn.
Nhìn vào tổng thể kiến trúc cung đình Huế có thể thấy rằng người xưa đã chủ đích tạo nên một thế giới thi ca mang màu sắc của nghệ thuật tạo hình, tác động lên thị giác của khách thể một cách trực tiếp về đối tượng nghệ thuật được phản ảnh. Do vậy, trang trí kiến trúc cung đình Huế nói chung và thơ trang trí thơ trên kiến trúc nói riêng thực sự đã tạo nên một đỉnh cao của nghệ thuật thị giác (hay còn gọi là nghệ thuật trực quan) vào thời bấy giờ. Tác phẩm cộng hưởng, tồn tại trong môi trường không gian vật lý cụ thể, nên để thưởng thức tác phẩm nghệ thuật thị giác, đối tượng tiếp nhận phải vận dụng lối tư duy tổng hợp qua quá trình tưởng tượng, liên tưởng phong phú.
2.3.3. Sự phân bố chủ đề gắn với tính chất kiến trúc
2.945 ô hộc thơ trên kiến trúc cung đình Huế được phân bố tại nhiều vị trí tại ngoại thất và nội thất ở 21 đơn nguyên kiến trúc với nhiều loại hình, tính chất công năng khác nhau của kiến trúc. Việc trang trí một cách có chủ đích ngay từ đầu đã làm cho hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế trở thành một thành tố không thể tách rời với kiến trúc, chuyển tải những giá trị thẩm mỹ và tư tưởng của thời đại.
Trong quần thể kiến trúc cung đình Huế có 8 khu di tích được khắc chạm thi ca đó là khu vực Hoàng Thành, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Dục Đức, lăng Đồng Khánh, lăng Khải Định, Quốc Tử Giám và chùa Linh Mụ. Đặc điểm phân bố các ô hộc thơ tại các công trình kiến trúc cụ thể và khái quát nội dung như sau:
- Ở khu vực Hoàng Thành có 1.130 ô hộc thơ chạm khắc tại các công trình kiến trúc bao gồm Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Triệu Tổ Miếu, Hưng Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu, và Tam quan điện Phụng Tiên.
+ Ngọ Môn xây dựng vào năm 1833, là nơi các vị vua Nguyễn tổ chức lễ Duyệt binh, lễ Truyền lô công bố tân tiến sĩ, lễ Ban sóc phát lịch, trở thành biểu trưng của cả đế đô, nơi thể hiện sự uy nghi của nhà Nguyễn và quốc gia thời bấy giờ. Tại bờ nóc, bờ quyết mái lầu Ngũ Phụng có 08 ô hộc thơ được viết trên nền pháp lam. Nội dung các bài thơ ca ngợi vẻ tráng lệ của Kinh đô và sự hòa hợp giữa trời đất, con người với thiên nhiên cây cỏ.
+ Điện Thái Hòa là công trình quan trọng nhất trong Hoàng Thành làm nơi đặt ngai vua và tổ chức các lễ đại triều từ năm 1805 (từ khi xây dựng) đến năm 1945 (từ khi chấm dứt chế độ quân chủ ở Việt Nam). Đây là ngôi điện được đánh giá là uy nghi tráng lệ nhất trong hệ thống kiến trúc cung đình Huế và Việt Nam, là một trong những biểu trưng cho sự uy nghi của một triều đại với những giá trị tư tưởng, nghệ thuật của chế độ quân chủ triều Nguyễn. Tại bờ nóc, cổ diêm, bờ quyết phần mái trước và sau điện Thái Hòa có 47 ô hộc thơ được viết trên nền pháp lam. Tại các liên ba bằng gỗ trên hệ thống khung nhà điện Thái Hòa có 248 ô hộc thơ được chạm khắc, sơn son thếp vàng. Nội dung thơ rất phong phú với nhiều chủ đề khác nhau, nhưng tựu trung đều tập trung ở những nội dung cơ bản là khẳng định ngôi vua, khẳng định triều đại, khẳng định về vị thế đất nước, bày tỏ sự quan tâm đối với đời sống nhân dân, tự hào về giang sơn, xã tắc.
+ Triệu Tổ Miếu xây dựng năm 1804, là nơi thờ chúa Nguyễn Kim (1468-1545), vị tổ của các vua chúa Nguyễn, thân phụ của chúa Nguyễn Hoàng (1525- 1613). Tại các liên ba bằng gỗ trên hệ thống khung nhà Triệu Tổ Miếu có 62 ô hộc thơ được chạm khắc, sơn son thếp vàng. Nội dung chủ yếu ca ngợi công lao của người được thờ tự tại đây, thể hiện lòng ngưỡng vọng và tri ân của hậu thế.
+ Hưng Tổ Miếu là nơi thờ thân phụ và thân mẫu của hoàng đế Gia Long, được xây dựng từ năm 1804, bị hủy hoại năm 1947 và được bà Từ Cung (hậu của hoàng đế Khải Định) cho dựng mới lại vào năm 1957. Tại đây có 83 ô hộc thơ được chạm khắc, sơn son thếp vàng. Nội dung chủ yếu là vịnh cảnh, tả vật. Một số bài trùng khớp với thơ “ngự chế” của vua Thiệu Trị.
+ Thế Tổ Miếu được xây dựng từ năm 1821 đến 1823, là nơi thờ các hoàng đế và hoàng hậu triều Nguyễn. Đây là công trình có nhiều thơ nhất với 676 ô hộc thơ được chạm khắc tại liên ba bằng gỗ. Nội dung chủ yếu ngợi ca công đức vị vua đầu triều, khai sáng cơ đồ triều đại, xây dựng đất nước hùng mạnh, mở mang biên cõi; nhấn mạnh nền tảng Nho học với tam cương, ngũ thường, v.v...
+ Tam quan điện Phụng Tiên là cổng chính để vào ra khu vực điện thờ dành cho phái nữ trong cung cúng tế các hoàng đế và hoàng hậu triều Nguyễn. Ở mặt ngoài tam quan có 06 bài thơ viết trên nền pháp lam. Nội dung chủ yếu là vịnh cảnh sắc thiên nhiên, gửi gắm tình người.
- Ở khu vực lăng Minh Mạng có 474 ô hộc thơ chạm khắc tại các công trình kiến trúc bao gồm Bi Đình, Hiển Đức Môn, Điện Sùng Ân, Minh Lâu và Nghinh Lương Quán. Toàn bộ thơ ca ở đây đều do hoàng đế Minh Mạng sáng tác với nội dung đề vịnh thiên nhiên, con người qua đó gửi gắm những tình cảm của chủ thể sáng tạo với quê hương, đất nước.
+ Bi Đình (nhà bia) là nơi đặt bia “Thánh đức thần công” do hoàng đế Thiệu Trị viết ca ngợi công đức của hoàng khảo Minh Mạng. Tại bờ nóc, bờ quyết phần mái của nhà bia có 11 ô hộc thơ được viết trên nền pháp lam. Tại các liên ba bằng gỗ trên hệ thống khung nhà có 64 ô hộc thơ được chạm khắc, sơn son thếp vàng.
+ Hiển Đức Môn là một cửa tam quan có chức năng nghi thức trước khi vào điện chính của lăng. Tại các cấu kiện kiến trúc gỗ ở công trình có 42 ô hộc thơ được chạm khắc, thếp vàng.
+ Điện Sùng Ân là điện thờ chính của lăng, nơi thờ hoàng đế Minh Mạng và Tá Thiên Nhân hoàng hậu. Tại bờ nóc, cổ diêm, bờ quyết phần mái điện có 14 ô hộc thơ được viết trên nền pháp lam. Tại các liên ba bằng gỗ trên hệ thống khung nhà có 111 ô hộc thơ được chạm khắc, thếp vàng.
+ Minh Lâu được xem là nơi thể hiện cách lý giải nhân sinh quan và vũ trụ quan của người xưa. Đó là nơi “linh hồn” của nhà vua ngự trị và suy nghiệm về mọi việc. Tại các liên ba bằng gỗ trên hệ thống khung nhà ở hai tầng có 216 ô hộc thơ được chạm khắc, thếp vàng.
+ Nghinh Lương Quán là nơi hóng mát của “linh hồn” nhà vua theo quan niệm của người xưa. Tại các liên ba bằng gỗ có 16 ô hộc thơ được chạm khắc.
- Ở khu vực lăng Thiệu Trị có 255 ô hộc thơ chạm khắc tại các công trình kiến trúc bao gồm Bi Đình, Hồng Trạch Môn và Điện Biểu Đức. Toàn bộ thơ ca ở đây đều do hoàng đế Thiệu Trị sáng tác cũng với nội dung đề vịnh thiên nhiên, con người qua đó gửi gắm những tình cảm của chủ thể sáng tạo với quê hương, đất nước.
+ Bi Đình (nhà bia) là nơi đặt bia “Thánh đức thần công” (bài bi ký dài hơn 2.500 chữ) do hoàng đế Tự Đức viết ca ngợi công đức của hoàng khảo Thiệu Trị. Tại các liên ba bằng gỗ trên hệ thống khung của nhà bia có 56 ô hộc thơ được chạm khắc, sơn son thếp vàng.
+ Hồng Trạch Môn là một cửa tam quan có chức năng nghi thức trước khi vào điện chính của lăng. Tại các cấu kiện kiến trúc gỗ ở công trình có 48 ô hộc thơ được chạm khắc, thếp vàng.
+ Điện Biểu Đức là điện thờ hoàng đế Thiệu Trị và hoàng hậu. Tại bờ nóc, cổ diêm, bờ quyết phần mái điện có 36 ô hộc thơ được viết trên nền pháp lam. Tại các liên ba bằng gỗ trên hệ thống khung nhà có 115 ô hộc thơ được chạm khắc, thếp vàng.
- Ở khu vực lăng Dục Đức có 20 bài thơ chạm khắc ở điện Long Ân - điện thờ chính của lăng, nơi thờ đế và hậu của các vua Dục Đức, Thành Thái, Duy Tân. Nội dung 20 bài thơ này chủ yếu ngợi ca công đức của chủ nhân được thờ tự tại đây là vua Dục Đức, xưng tụng ân trạch của thần linh…
- Ở khu vực lăng Đồng Khánh có 284 ô hộc thơ chạm khắc ở Cung Môn và điện Ngưng Hy. Nội dung vẫn theo motif như ở lăng Minh Mạng và Thiệu Trị, ca ngợi cảnh sắc thiên nhiên, bày tỏ niềm lạc quan với thời thái bình thịnh trị v.v...
+ Cung Môn là một cửa tam quan có chức năng nghi thức trước khi vào điện chính của lăng. Tại các cấu kiện kiến trúc gỗ ở công trình có 152 ô hộc thơ được chạm khắc, thếp vàng.
+ Điện Ngưng Hy là điện thờ chính của lăng, nơi thờ hoàng đế Đồng Khánh và hoàng hậu. Tại bờ nóc, cổ diêm, bờ quyết phần mái điện có 14 ô hộc thơ được viết trên nền pháp lam. Tại các liên ba bằng gỗ trên hệ thống khung nhà có 118 ô hộc thơ được chạm khắc, thếp vàng.
- Ở khu vực lăng Khải Định có 24 ô hộc thơ đắp ngõa sành sứ tại nội thất điện Khải Thành. Nội dung vịnh cảnh sắc thiên nhiên, đề vịnh tứ thời xuân, hạ, thu, đông; tụng ca tứ quý mai, lan, cúc, trúc v.v...
- Ở khu vực Quốc Tử Giám có 702 ô hộc thơ chạm khắc tại các công trình kiến trúc bao gồm Di Luân Đường - Minh Trưng Các và điện Long An. Cả hai công trình này đều gắn với hoàng đế Thiệu Trị, đều có nguồn gốc là kiến trúc vốn nằm trong cung Bảo Định. Do vậy, tất cả những bài thơ này đều do vua Thiệu Trị ngự chế với nhiều chủ đề khác nhau.
+ Di Luân Đường - Minh Trưng Các vốn là một kiến trúc thuộc cung Bảo Định của vua Thiệu Trị. Năm 1908, Minh Trưng Các và Đạo Tâm Hiên ở cung này được dời ra khu vực Quốc Tử Giám để dựng làm nhà giảng văn với tên gọi mới là Di Luân Đường. Tại các cấu kiện kiến trúc gỗ ở cả hai tầng công trình có 152 ô hộc thơ được chạm khắc, thếp vàng.
+ Điện Long An vốn là một cung điện riêng của vua Thiệu Trị. Năm 1845, hoàng đế Thiệu Trị cho xây dựng trong cung Bảo Định (phường Tây Lộc) một biệt điện với tên gọi là Điện Long An làm nơi nghỉ ngơi của vua sau khi làm lễ diễn canh (cày ruộng Tịch điền) vào đầu xuân. Đây cũng là nơi vua Thiệu Trị thường hay lui tới, nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ, ngâm vịnh. Năm 1909, ngôi điện này được dời ra khu vực Quốc Tử Giám để dựng làm Tân Thư Viện, rồi năm 1913 thành trụ sở của tạp chí B.A.V.H, cuối cùng thành nơi trưng bày chính của Musée Khải Định năm 1923. Tại các cấu kiện kiến trúc gỗ ở công trình có 452 ô hộc thơ được chạm khắc, thếp vàng. Đặc biệt, trong đó có 04 ô hộc thơ khảm cẩn xà cừ các bài thơ chơi chữ của vua Thiệu Trị như các bài “Vũ trung sơn thủy” (Non nước trong mưa) và bài “Phước Viên lương hội văn dạ mạn ngâm” (Ngâm vịnh tại hội thơ ban đêm ở vườn Phước Viên) và hai bài thơ chơi chữ hình tròn, trên có ghi là “Phỏng Lương Vũ Đế cổ nghiên minh” (Phỏng theo bài minh trên chiếc nghiên mực cổ của Lương Vũ Đế).
- Chùa Linh Mụ là kiến trúc cung đình khá đặc biệt, có lịch sử xây dựng và tu sửa gắn liền với triều Nguyễn, được xếp hạng “quốc tự” thời bấy giờ. Tinh thần “cư Nho mộ Thích” (sống hành động theo đạo Nho, mến chuộng đạo Phật), lấy tư tưởng Nho giáo làm nền tảng pháp luật để điều hành xã hội; xem giáo lý Phật giáo là nền tảng đạo đức để an dân. Do vậy mà nhiều ngôi chùa ở Huế xưa được sự quan tâm của các vua chúa nhà Nguyễn. Tại chùa Linh Mụ, chúa Nguyễn Phúc Chu, hoàng đế Thiệu Trị, hoàng đế Khải Định đều có đề vịnh thi ca khắc vào bia đá dựng lưu niệm tại đây. Do vậy, khi tu sửa các chùa, các vua Nguyễn và nhà chùa cũng chủ trương cho khắc thơ lên kiến trúc. Ở chùa Linh Mụ có 56 ô hộc thơ chạm khắc tại đình Hương Nguyện, đều là thơ ngự chế của hoàng đế Thiệu Trị. Nội dung vịnh cảnh Thánh Duyên Tự và Linh Hựu Quán, bàn về những triết lý của đạo Phật. Ngoài ra, đã có hàng trăm bài thơ khác vốn từng được chạm khắc trên kiến trúc cung đình Huế đã bị phá hủy theo các công trình do chiến tranh như thơ trên Đại Cung Môn, thơ trên điện Cần Chánh, thơ trên điện Phụng Tiên (khu vực Hoàng Thành), thơ trên lầu Đức Hinh (lăng Thiệu Trị), v.v...
Từ những thực tế trên có thể thấy rằng, hầu hết các ngôi miếu, điện gắn liền với các Hoàng đế (lúc còn tại vị, cũng như đã băng hà) đều được khắc chạm thi ca. Trong tổng số ô hộc thi ca khắc trên kiến trúc cung đình Huế (2.945 ô hộc), số lượng thi ca khắc trên miếu, điện chiếm con số áp đảo với 2.020 ô hộc. Thi ca chỉ xuất hiện ở các không gian có tính chất nghi lễ, nghi thức gắn liền với sự tôn nghiêm. Thơ không được chạm khắc ở những kiến trúc không gắn với sở thuộc của hoàng đế, cũng như không được chạm khắc trên các kiến trúc có tính sinh hoạt, giải trí. Ngay cả những nơi gọi là “thơ” nhất như Thái Bình Lâu (nơi vua đọc sách, hóng gió làm thơ) cũng không được khắc chạm thơ. Điều đó khẳng định việc chạm khắc thơ trên kiến trúc cung đình là một điển chế chặt chẽ gắn với các quy thức nhất định, chứng tỏ các hoàng đế thời Nguyễn rất đề cao, chú trọng văn chương, xem thi ca là nghi thức điển lệ, tác tố này ảnh hưởng đến việc lựa chọn nội dung các tác phẩm thi ca cũng như lựa chọn hình thức thể hiện trên kiến trúc.
“Diễn trình thi ca” trên kiến trúc dưới thời Nguyễn cũng gắn với đặc điểm lịch sử vào các giai đoạn hưng thịnh, suy vong của triều đại này. Hầu hết thơ khắc trên kiến trúc vào giai đoạn hưng thịnh của triều đại từ thời Minh Mạng đến thời Tự Đức đều tuân thủ chặt chẽ các quy thức, tạo nên dòng mỹ thuật kiến trúc ổn định, định hình làm nên giá trị phong cách mỹ thuật kiến trúc gỗ. Chính sự quy chuẩn này cho thấy việc lựa chọn thi ca để khắc lên kiến trúc tuy có sự phụ thuộc vào sở thích của từng vị hoàng đế nhưng cũng phản ảnh được sự cân nhắc, tính toán nội dung thơ cho các kiến trúc. Các công trình kiến trúc càng quan trọng, càng nghi thức (như điện Thái Hòa, Triệu Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu) thì dấu ấn cá nhân về thi ca của các hoàng đế càng mờ nhạt. Dường như, các hoàng đế muốn chứng tỏ sự khiêm cung của mình đối với các tiên đế, với thiên hạ nên không sử dụng thơ của mình để khắc trên các kiến trúc dạng này? Ngoại trừ các bài thơ của vua Minh Mạng ở phần mái điện Thái Hòa, hầu hết, thơ tại điện Thái Hòa, Triệu Tổ Miếu, Thế Tổ Miếu, điện Long Ân rất khó nêu lên lập luận để phân tích, nhận định về tác giả.
Ở giai đoạn sau 1884, khi đất nước và triều Nguyễn đã thuộc quyền “bảo hộ” của thực dân Pháp, kiến trúc cung đình Nguyễn đã đi vào giai đoạn thoái trào. Những quy chuẩn, điển lệ không còn được áp dụng, việc chạm khắc thơ trên kiến trúc có phần chiếu lệ, điển hình như ở điện Long Ân, lăng Dục Đức. Điều này cũng diễn biến tương tự như ở điện Chấp Khiêm thuộc lăng Kiến Phúc (nằm trong quần thể lăng Tự Đức, xây năm 1884). Ở ngôi điện thờ hoàng đế Kiến Phúc không được chạm khắc bài thơ nào. Đến năm 1888, lăng Đồng Khánh mới có sự “tái lập” những quy chuẩn của điển lệ lăng tẩm trên kiến trúc. Việc xây dựng lăng Đồng Khánh đã diễn ra trong ngót 35 năm (1888 - 1923) qua 4 đời vua Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân và Khải Định. Thơ trên kiến trúc cung đình theo đó được áp dụng điển lệ nhất thi, nhất họa trở lại ở các kiến trúc Cung Môn, điện Ngưng Hy. Tuy nhiên, thời gian sau đó, dù vẫn có sự cố gắng “nối lại” mạch nguồn kiến trúc ở trường hợp lăng Đồng Khánh, nhưng sự xuất hiện của dòng kiến trúc tân cổ điển, có sự giao thoa giữa kiến trúc Á - Âu đã hình thành một dòng chảy kiến trúc riêng, cũng đã không mấy chú trọng đến việc khắc chạm thơ trên kiến trúc, điển hình như lăng Khải Định.
Thơ trên kiến trúc cung đình tồn tại qua hai loại chất liệu phổ biến là chạm khắc trên gỗ, sơn son thếp vàng; viết trên nền pháp lam (đồng tráng men). Các loại hình chất liệu khác như cẩn xà cừ, đắp ngõa sành sứ tuy không phổ biến nhưng cũng tạo nên được những giá trị thẩm mỹ, có tính độc đáo riêng.
2.3.4. Về nghệ thuật thư pháp
Khi nghiên cứu về thư pháp Việt Nam thời Nguyễn, Nguyễn Sử có nhận định: “Có thể nói ý thức bản thể thư pháp của các tác gia thời Nguyễn có xu hướng mạnh mẽ hơn. Trên một phương diện nào đó, đây chính là sự chuyển biến về từ tính công thức sang tính thẩm mỹ, quay trở về giá trị thưởng thức của thư pháp” [82, tr.190].
Di bút để lại của nhiều thư gia vào thời Nguyễn đã chứng minh về một thời kỳ hưng thịnh của nghệ thuật thư pháp Việt Nam. Bút tích châu phê của các hoàng đế như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Khải Định phần nào đã phản ánh trình độ vận bút của các hoàng đế. Đặc biệt, thư pháp của vua Thiệu Trị còn lưu giữ trên các cổ vật ngày nay như bức hoành phi với ba đại tự “Long An điện”, bức hoành phi với bốn đại tự “Ái trưởng quần sinh”, v.v... Các di cảo thi văn với di bút của các hoàng thân như Nguyễn Phúc Miên Trinh, Nguyễn Phúc Miên Thẩm, Nguyễn Phúc Miên Bửu, v.v... cũng phản ánh sự rèn luyện chữ nghĩa của tầng lớp trí thức, danh Nho hoàng tộc. Trong tác phẩm “Lâm hạ bút ký”, Lý Dụ Nguyên từng nhận xét: “Ta vào Yên Kinh (Bắc Kinh) gặp sứ thần An Nam. Chế độ áo mão cũng như nước ta, đoàn lĩnh, hung bối, thắt lưng tê giác, võng cân cũng đại đồng tiểu dị (…) Giỏi văn năng viết, chữ theo lối chữ thời Tấn”. Trong “Mộng mai đình thi thảo”, Trương Hảo Hợp cũng có ghi về câu chuyện chữ nghĩa trên đường đi sứ trong dịp này như sau: “Nơi kiệu của ta đi qua, trên đường gặp sĩ đại phu hay thứ dân, đều tới cầu thư họa, không có ngày nào ngớt đến mức tắc nghẽn cả đường, không đi nổi một bước” [82, tr.193].
Triều Nguyễn đã ý thức cao trong việc lưu trữ thư pháp qua việc khắc mộc bản để in ấn, truyền bá những thủ bút của các danh nho. Những tài liệu học tập thư pháp được in ấn, truyền bá như là Tứ thể bút thức (Phương pháp về bốn thể thư), Tam diệu pháp thiếp (Ba thác bản đẹp về thư pháp), Thư pháp trích yếu v.v... Vua Tự Đức khi ngự phê in sách Tam diệu pháp thiếp có nhận định: "Ba bản thiếp này đều đáng xưng là danh thiếp, đều là kỳ quan, trong chữ nảy vàng, giữa hàng sinh ngọc, loan bay phượng múa cũng chưa đủ để miêu tả sự kỳ diệu (...) Phàm là người hiếu cổ, đều chẳng dễ gặp được báu vật này, nên sai khắc in, ban hành để lưu muôn đời, cũng là để giúp cho việc học tập thư pháp vậy" [82, tr.191]. Có thể thấy rằng, ý thức rất rõ nét trong việc rèn luyện chữ nghĩa, cùng với việc sao khắc in các loại sách về thư pháp, tổ chức hệ thống thư viện, lưu trữ như ở Quốc Sử Quán, Tàng Thư Lâu, Tụ Khuê, Nội Các của triều Nguyễn đã tạo nên nền tảng và là điều kiện để trau dồi, phát triển kiến văn nói chung cũng như nghệ thuật thư pháp nói riêng.
Trong Từ điển Hán Việt (Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh, 2008),
Nguyễn Tôn Nhan quan niệm rằng, Thư pháp (書
法) nếu hiểu một cách nôm na theo cách chiết tự thì: Thư
là viết, ghi chép lại; Pháp là hình pháp, mẫu mực, cách thức, phép tắc. Điều đó
cho thấy thư pháp ban đầu là cách thức, khuôn phép trong khi viết chữ, sau đó
phát triển, nâng tầm lên thành một môn nghệ thuật riêng biệt.
Về hình thức, thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã phản ánh rõ nghệ thuật thư pháp của Việt Nam vào thời Nguyễn. Trong lịch sử thế giới, thời trung đại trở về trước, các nước đồng văn như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Hoa đều chủ yếu dùng chữ Hán để làm ngôn ngữ viết. Thư pháp chữ Hán nói chung không chỉ có nghĩa là phương pháp viết chữ thông thường, mà là nghệ thuật viết chữ - đây thực sự là môn nghệ thuật trừu tượng dung hợp hai tầng ý nghĩa: sử dụng và thẩm mỹ; chữ viết và hội họa. Bởi trên hết theo quan niệm của người phương Đông, văn tự được xem là báu vật của thần linh, có văn tự mới khai mở được huyền vi tạo hóa.
Việc khắc chìm hay chạm nổi trên các ván gỗ, việc viết trên nền pháp lam hay đắp nề ngõa trên các ô hộc, việc chọn các lối thể hiện về kiểu chữ như chân, thảo, lệ, triện hay chia tách các ô thành các cụm câu hoặc đại tự v.v... đều nói lên tính đa dạng của hình thức thư pháp của thi ca trên kiến trúc cung đình Huế.
Hán tự có 5 thư thể chính là Khải thư (楷 書), Hành thư (行 書), Thảo thư (草 書), Lệ thư (隸 書) và Triện thư (篆 書). Đó cũng chính là những thủ pháp chính của cách viết thư pháp. Về hình thức thể hiện, thơ trên kiến trúc cung đình Huế hội đủ cả 5 thư thể này, điều đó phản ánh một ý thức rõ nét của triều Nguyễn trong quan niệm về thư thể của nghệ thuật thư pháp đồng thời đã tạo nên một giá trị đặc sắc.
Khải thư (hay còn gọi là kiểu chữ chân) là loại chữ khá phổ biến trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Nét đặc trưng chính khi được thể hiện là tính chuẩn mực, nghiêm trang, bố cục nghiêm ngặt, sử dụng dưới dạng phồn thể với đầy đủ các nét của một chữ, có tự dạng dễ phân biệt. Trong nghệ thuật thư pháp, lối chữ khải thường dùng trong các hoàn cảnh chính thức, điển hình nhất là trong văn bản hành chính. Thơ trên kiến trúc tuy là văn bản nghệ thuật, nhưng lối chữ khải có mặt hầu hết ở các bức chạm khắc thơ sơn son thếp vàng tại các cổng, điện, miếu quan trọng như Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Thế Miếu, Triệu Miếu, lăng Minh Mạng, lăng Thiệu Trị, lăng Dục Đức v.v...
Cũng như Khải thư, Hành thư (kiểu chữ Hành) cũng là kiểu chữ phổ biến trong thơ trên kiến trúc. Đây là lối viết nhanh của Khải thư, bố cục phóng khoáng hơn Khải thư, giữa các nét thường có tính liên đới, chuyển tiếp. Do đặc tính của chữ Hán cổ là viết từ trên xuống, từ phải qua nên nét kết thúc của chữ trước thường có tính dự báo cho nét đầu tiên của chữ tiếp theo. Cách vận bút trong các bài thơ thể hiện ở dạng này (điển hình như điện Long An, điện Ngưng Hy, đình Hương Nguyện v.v...) thường nhanh gọn, suôn chảy, nhẹ nhàng tạo nên sự uyển chuyển, hài hòa.
Thảo thư (kiểu chữ thảo) xuất hiện không nhiều trong hệ thống thơ trên kiến trúc, chủ yếu xuất hiện ở phần hậu điện Thái Hoà. Với lối viết phóng túng, nhanh đã làm hình dáng của chữ bị giảm bớt một số nét, có xu hướng nối nhau giữa các chữ. Nhiều nét và bộ thủ bị đơn giản hoá (kiểu viết tắt) nên khó nhận ra mặt chữ. Lối chữ này vốn thường dùng trong sáng tác văn chương, nhưng đáng lưu ý là chúng không phổ biến trong hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Điều này cũng phản ánh một quan điểm nhất quán của triều Nguyễn về sự uy nghi cho hệ thống kiến trúc, dù là văn bản nghệ thuật nhưng khi công bố một cách chính thức lên cung điện thì phải rõ ràng, nghiêm trang. Riêng điện Thái Hòa, do là một công trình mang tính biểu tượng, điển hình nên việc cần phải có đầy đủ cả năm thư thể cũng là điều dễ hiểu. Lệ thư (kiểu chữ lệ) cũng là một kiểu trang trí điển hình trên kiến trúc. Lối chữ này xuất hiện nhiều ở điện Thái Hòa, Hưng Miếu, Thế Miếu, điện Long An. Kiểu chữ này có đặc điểm khác biệt với các kiểu khác là tự dạng của chữ dẹp, mang sắc thái cổ xưa, rất phù hợp trong trang trí. Đường nét của chữ cũng khác biệt với nét ngang được thực hiện theo nguyên tắc “tằm đầu, yến vĩ” (đầu nét có hình dạng đầu con tằm, cuối nét có hình dạng đuôi con chim én). Tuy vậy, kiểu chữ lệ xuất hiện trong các bài thơ trên kiến trúc cũng đa dạng về phương thức thể hiện: có lối viết nét mảnh mai, thanh tú; có lối viết mạnh mẽ, chắc khỏe làm nên sự đa dạng trong thể hiện thư pháp.
Triện thư (kiểu chữ triện) xuất hiện trong thơ trên kiến trúc chủ yếu trên chất liệu chạm khắc nổi trên gỗ, sơn son thếp vàng hoặc chỉ thếp vàng chữ. Tuy xuất hiện tương đối ít so với các thể chữ khác, nhưng lối triện thư đã để lại những ấn tượng thẩm mỹ cao trong nghệ thuật thư pháp. Điển hình như ở điện Thái Hòa, điện Long An, điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị), điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh), điện Long Ân (lăng Dục Đức). Đặc biệt chữ triện có sự xuất hiện rất điển hình với hình thức là các đại tự với mỗi ô là một chữ như ở điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng), điện Long An. Điểm nổi bật của chữ triện là tính huyền bí của nó vì lối chữ này xuất phát từ những ký tự mang tính chất hình vẽ tượng hình cổ xưa nhất của chữ Hán vốn được khắc trên giáp cốt, mai rùa. Tính chất của đường nét có tính đều đặn, cân xứng hài hòa. Từ chữ khải chuyển sang dạng chữ triện đòi hỏi người viết phải phục nguyên dạng phồn thể tuyệt đối vốn có của chữ. Do vậy, rất khó để nhận biết được mặt chữ, nhưng lại mang đến sự hấp dẫn nghệ thuật và cảm giác thần bí.
Trong quan niệm về cái đẹp của các thú chơi tao nhã, người xưa cho rằng, nhất tự, nhì tranh, tam sành, tứ kiểng, thư pháp do vậy được xem là một loại hình nghệ thuật được đề cao bậc nhất. Hầu hết thơ được thể hiện tại các kiến trúc đều là những bức thư pháp có giá trị. Đặc biệt, chữ viết vốn được đề cao trong xã hội xưa, nó được xem là công cụ gián tiếp để tuyển chọn nhân tài. Bởi trên hết chữ viết thể hiện rõ nhất tâm lý và tính cách người viết, là biểu trưng của Nho sĩ. Khi lựa chọn người viết chữ làm mẫu để khắc trên kiến trúc, triều Nguyễn đã tuyển chọn những vị có chữ tốt ở Hàn Lâm Viện hoặc ở bộ Lễ. Do đó, có thể thấy rằng, thơ trên kiến trúc cung đình Huế còn là cơ hội để lưu giữ sống động nhất nét bút và tâm trạng của các bậc thức giả đương thời khi viết chữ để khắc chạm, hoặc viết lên các vật liệu để trang trí trên công trình kiến trúc. Điều đáng tiếc là các sự kiện này đều không được sử sách ghi lại hoặc nhắc đến.
Các thư thể trong thư pháp thơ trên kiến trúc cung đình Huế nhìn chung về căn bản đã bộc lộ rõ nét sở học và trình độ của những người viết. Những nét chữ khải mực thước, nghiêm trang; những dòng chữ thảo rồng bay, phượng múa; những nét chữ lệ nghiêm ngắn, chỉn chu; những nét chữ triện uy nghi, huyền bí, v.v... khiến người đời sau cảm nhận và hình dung được phần nào về một thời vàng son của Nho học. So với mộc bản - di sản ký ức thế giới - là những tài liệu ván khắc âm bản dùng để in sách thì thơ chạm khắc trên các cấu kiện gỗ tại các kiến trúc thời Nguyễn là ván khắc dương bản, một tác phẩm chạm khắc hoàn chỉnh rất có giá trị, nhất là tính độc bản của nó.
Từ đặc điểm phân bố đến dạng thức chất liệu, từ tính chất nội dung gắn với kiến trúc đến nghệ thuật thư pháp đã phản ánh rằng, hệ thống thơ trên kiến trúc cung đình Huế có một khối lượng phong phú, đa dạng về hình thức lẫn nội dung cũng như những giá trị về văn chương - nghệ thuật, về văn hóa - lịch sử. Trang trí chữ nghĩa, thi ca trên kiến trúc, mục đích của triều Nguyễn đã hướng tới tạo thêm cái đẹp cho kiến trúc (thông qua các hình thức thư pháp) và bày tỏ tư tưởng, tình cảm của thời đại mình (thông qua nội dung của các bài thơ). Chính tất cả những đặc điểm này đã nói lên sự tinh tế đạt đến trình độ nhận thức văn hóa, nhận thức thẩm mỹ cao trong lao động sáng tạo của con người thời bấy giờ.
Tiểu kết chương 2
Trên cơ sở lịch sử xã hội, chính sự phát triển hưng thịnh vào giai đoạn tự chủ của triều Nguyễn là điều kiện để tồn tại hệ thống kiến trúc với những đặc trưng riêng có. Sự phát triển của văn học, nhất là sự phát triển vượt bậc của "dòng văn học hoàng tộc" với sự xuất hiện của các thi sĩ hoàng đế đã trở thành điều kiện và cơ sở quan trọng để hình thành một lối trang trí nhất thi, nhất họa trên kiến trúc cực kỳ độc đáo. Đó thực sự trở thành là nơi lưu giữ tâm hồn và bút pháp tài hoa của các bậc thức giả thời Nguyễn.
Tuy tác giả của các bài trong hệ thống thơ trên kiến trúc vẫn chưa được xác định một cách cụ thể, nhưng có thể khẳng định rằng, thơ trên kiến trúc cung đình Huế với số lượng hiện còn là 2.945 ô hộc thơ tồn tại ở nhiều vị trí khác nhau tại 21 đơn nguyên kiến trúc đã tạo nên một hệ thống tư liệu có những giá trị gắn kết với những nội dung nghệ thuật nhất định. Chúng vừa biểu hiện đặc điểm thẩm mỹ của kiến trúc vừa tồn tại trong tư cách là một văn bản nghệ thuật. Xuất phát từ cơ sở lịch sử văn học, hệ thống thơ ca này thuộc về văn học trung đại, một hệ thống văn học có nhiều đặc trưng trong sử dụng ngôn ngữ, trong quan điểm nghệ thuật. Những miêu tả trên đây là tiền đề và cơ sở cho những phân tích của chúng tôi sẽ trình bày ở các chương tiếp theo.
Chương 3
THƠ TRÊN KIẾN TRÚC CUNG ĐÌNH HUẾ NHÌN TỪ HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI, KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN
Trong sáng tạo văn học, quan niệm về hình tượng con người, không gian và thời gian là các phạm trù quan trọng, vì suy cho đến cùng đó là đối tượng miêu tả cốt yếu của văn chương, không thể mô tả sự vật, hiện tượng mà không bao hàm những quan niệm về nó. Dù đối tượng có thể là những mô tả về thiên nhiên, thậm chí là mô tả về các thế giới siêu hình không thấy được, thì mục tiêu cuối cùng vẫn là bày tỏ tình cảm, thái độ của con người trước thế giới và “hiện thực” tồn tại trong đầu óc, trong nhận biết của con người. Qua những điều kiện này, chủ thể thẩm mỹ lại thể hiện ước mơ, khát vọng của mình đối với tự nhiên và xã hội.
3.1. Hình tượng con người
Mỗi thời đại sẽ có những “kiểu con người” khác nhau, mang quan niệm dấu ấn của thời đại đó. Điều này xuất phát từ những nội dung trong quan niệm xã hội, trong tư tưởng triết học nền tảng mà thời đại đó đề cao. Do vậy, việc nghiên cứu hình tượng con người mang ý nghĩa rất quan trọng, vì con người với tất cả những quan niệm về nó đã chi phối toàn bộ tác phẩm của nhà văn. Trần Đình Sử viết về điều này như sau: “Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lý giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [83, tr.15].
3.1.1. Con người vũ trụ đề cao thiên mệnh
Nền tảng xã hội thời trung đại gắn liền với đời sống nông nghiệp, phụ thuộc sâu sắc vào các điều kiện tự nhiên. Con người trung đại Việt Nam cũng như các nước đồng văn gắn bó mật thiết với thiên nhiên, với vũ trụ. Do vậy con người và vũ trụ được quan niệm như một thể thống nhất và có tính phổ quát. Con người được xem là một tiểu vũ trụ tồn tại trong đại vũ trụ. Chính quan niệm con người vũ trụ đã chi phối mọi hình thái tinh thần xã hội.
Xuất phát từ nhận thức về mối quan hệ hữu cơ giữa con người và vũ trụ cũng như tập quán tư duy, người xưa đã xem mình là trung tâm khi miêu tả, xem xét và đánh giá tự nhiên. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế có nhiều biểu hiện tập trung về điều này, thể hiện trước tiên ở vị trí, tư thế của con người trong vũ trụ, giữa đất trời để nhìn ngắm, mô tả, đánh giá, bày tỏ, v.v... với mọi sự vật, hiện tượng. Con người quan sát sự vận hành của thiên tượng: mặt trời, mặt trăng, tinh tú, mây, mưa, sấm, chớp, v.v... để tính thời tiết, tính nông lịch, thậm chí tính cả biến thiên thời cuộc. Với tần số xuất hiện trung bình là 11,02 lần qua 1.087 bài thơ trên kiến trúc được khảo sát, tần số xuất hiện của các chữ nằm trong trường nghĩa này rất lớn: trời (thiên 天: 390 lần); đất (địa 地: 79 lần); trời, tên một quẻ trong Dịch học (càn 乾: 78 lần); đất, tên một quẻ trong Dịch học (khôn 坤: 40 lần); ngày, mặt trời (nhật 日: 201 lần); tháng, mặt trăng (nguyệt月: 127 lần); tạo hóa, giáo hóa (hóa 化: 60 lần); mưa (vũ 雨: 145 lần); mây (vân 雲: 190 lần); sương, móc (sương 霜: 60 lần); gió (phong 風: 248 lần), sao trời (tinh 星: 40 lần), v.v... Đó quả là một "vũ trụ ngôn ngữ" được tích hợp qua tập quán tư duy.
Trong vũ trụ, con người phóng mắt ra bốn phương để khẳng định vị trí trung tâm của mình trong mối tương hợp, đan xen, trộn lẫn giữa hữu thể và vô thể; giữa hữu hạn và vô hạn:
- Bản căn tùng bắc địa/ Chi cán lộ nam thiên 本 根 從 北 地/ 枝 幹 露 南 天 (Gốc rễ từ đất Bắc/ Cành thân rõ Nam phương, NM);
- Đông táp từ từ phất/ Tây vân tiệm tiệm thinh 東 颯 徐 徐 拂/ 西 雲 漸 漸 清 (Từ từ thổi ngọn gió đông/ Mây tây gió đẩy trời trong dần dần, LĐK);
- Bạch vân thu bắc tụ/ Hồng nhật xuất đông cai 白 雲 收 北 岫/ 紅 日 出 東 垓 (Mây trắng lui về hang hướng bắc/ Mặt trời hồng lên từ hướng đông xa, LMM);
- Nhật nhật thùy tình lãng thượng nhân/ Bắc nam tào vận đệ niên tần 日 日 垂 情 浪 上 人/ 北 南 漕 運 遞 年 頻 (Ngày ngày vẫn đoái nghĩ những người trên sóng nước/ Hàng năm phải lần lượt chuyên chở từ nam chí bắc, ĐLA).
Khái quát cao nhất của con người trung tâm vũ trụ là ước vọng tham hóa vào đất trời và bốn phương, tham hóa vào thiên nhiên và cây cỏ: Dã hoa cổ mộc giai sinh ý/ Lục hợp đồng xuân chuyển hóa ky 埜 花 古 木 皆 生 意/ 六 合 同 春 轉 化 機 (Hoa đồng cổ thụ đều tươi mát/ Lục hợp - trời đất và bốn phương - theo xuân mãi vận hành, ĐLA). Từ vị trí đó, con người vũ trụ thức nhận được cái giới hạn của thực tại chính mình, tương giao trong mối quan hệ với tạo hóa vĩnh hằng:
Quần sinh quy phú tái, 群 生 歸 覆 載 Mọi người, trời che chở,
Vạn quốc hấp thê hàng. 萬 國 翕 梯 航 Muôn nước vượt khó khăn. Cộng ngưỡng vô tư chiếu, 共 仰 無 私 照 Lẽ công bằng5 ngưỡng vọng, Hàm tri hữu đạo tràng. 咸 知 有 道 長 Biết đạo trên vĩnh hằng (ĐTH). Trong cõi “thiên địa phú tái” này, con người là trung tâm trong hệ thống “Tam tài” (thiên địa nhân) được thiên phú (trời che), được địa tái (đất chở). Trong quan niệm “Tam tài” thì trời là đấng tối cao và tối linh, mà mệnh trời qua thuyết “Thiên mệnh” là một trong những nội dung quan trọng trong nền tảng chính trị để cai trị đất nước theo học thuyết Nho giáo vào thời Nguyễn. Nho giáo quan niệm đạo trời, lẽ trời lưu hành ở mọi vật và định phép sống cho mọi vật như một mệnh lệnh, sau chuyển thành nội dung là số phận do trời định đoạt. Con người hoàng đế mang chân mệnh “thiên tử”, là con trời, thay trời để cai trị thiên hạ. Thuyết “Thiên mệnh” có một ảnh hưởng rất sâu sắc trong ý thức hệ của triều Nguyễn, điển hình như: “Trời sinh ra dân, phải có đặt vua để cầm đầu và cai trị. Vua thừa mệnh trời phải có bầy tôi giúp đỡ chở che”[20, tr.133]. Con người vũ trụ luôn ứng xử phù hợp với quy luật tuần hoàn của tạo vật, âm tiêu dương trưởng. Một bài thơ ở Ngọ Môn biểu hiện rất khái quát về thuyết này:
Xảo tượng gia ngôn lặc, 巧 匠 嘉 言 勒 Thợ khéo khắc lời đẹp,
Côn Cương danh cửu tri. 昆 崗 名 久 知 Núi Côn danh ngàn đời.
Âm tiêu dương trưởng hậu, 陰 消 陽 長 後 Khí âm tiêu, dương trỗi, Thiên đạo thái lai thì. 天 道 泰 來 時 Vận thái lớn đạo trời (NM).
Mệnh đề về vũ trụ đã trở thành một nội dung mấu chốt, chi phối thẩm mỹ văn chương. Nhiều bài phú trong "mẫu văn thơ phú" trong các kỳ khoa cử thời Nguyễn do bộ Lễ triều Nguyễn san định với các chủ đề như "Thiên hành kiện phú" (Trời vận động mạnh); "Văn dĩ tải đạo phú" (Văn dùng chở đạo); "Dĩ đức vi xa phú" (Lấy đức làm xe); "Thu nhật huyền thanh quang phú" (Mặt trời mùa thu treo sáng trong), v.v... đều xoay vần trong cái trục vũ trụ "thiên đạo" đó: "Này xem như thánh như thần: Vừa văn vừa vũ. Mở quyền hành ở trước vạn vật; ngồi hướng nam ở trên 9 châu. Bắt chước trời đất; đặt phép vuông tròn.
Chú thích:
5. Nguyên văn là: Vô tư chiếu, tức là 3 điều không riêng. Rút gọn từ Tam vô tư: Thiên vô tư phú, địa vô tư tái, nhật nguyệt vô tư chiếu ai (三 無 私: 天 無 私 覆/ 地 無 私 載/ 日 月 無 私 照: Ba điều không riêng: trời không che riêng ai, đất không chở riêng ai, mặt trời mặt trăng không sáng cho riêng ai). Ý ở đây nói đến sự công bằng.
Nói làm phép tắc, như người khéo cầm cương xe ngựa; Nuôi cả âm dương, như thợ khéo trông coi nước nhà" (Dĩ đức vi xa phú) [71, tr.152]. Hay là "Nay xem ra, chỉ có vua dựng phép, dẫu vạn vật cũng dự tam tài; Chỉ thánh nhân bắt chước trời lên ngôi quẻ Kiền mà dùng số 9. Cầm cương lĩnh của muôn việc; dùng then máy ở một lòng. Gốc ở đức kim mộc thủy hỏa thổ tương sinh; khiến cho mưa tạnh ấm rét gió không trái. Cõi đông, cõi nam, cõi bắc chỗ mặt trời chiếu không sai đỗ toàn cơ. Sắc xanh, sắc đỏ, sắc trắng, sắc đen ánh mặt trời biến rõ ở sao Bắc đẩu so với phép hỗn thiên thì đúng" (Thiên hành kiện phú) [71, tr.148].
Nho giáo xem con người là một yếu tố của “tam tài” với ý niệm “thiên nhân hợp nhất”, quan niệm này đã chi phối mạnh mẽ đến nghệ thuật. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế do vậy thường xuất hiện vóc dáng con người “tan hòa” với trời đất để khẳng định:
- Phất hỗ nhương nhương đàm khải trạch/ Phối thiên phối địa giới vô cương 茀 嘏 穰 穰 覃 闓 澤/ 配 天 配 地 介 無 疆 (Đầy tràn phúc lộc ban ân trạch/ Thích hợp trời đất thật chẳng cùng, Tr.M);
- Bao la thiên địa thái/ Tận nhập đế vương đồ 包 羅 天 地 態/ 盡 入 帝 王 圖 (Cảnh sắc khắp trời đất/ Thu vào hết cơ đồ của nhà vua, LTT). Gắn liền với quá trình xây dựng và không ngừng hoàn thiện mô thức tổ chức nhà nước là quá trình xây dựng kỷ cương xã hội theo quan điểm Nho giáo. Trong quan điểm chính trị của chế độ quân chủ, mệnh trời luôn được dùng như một khái niệm để quảng bá cho một quyết tâm lớn, để khẳng định tính tất yếu của triều đại nào đó mới được thiết lập hoặc giả là để củng cố cho “giềng mối” chính thống của một dòng vua. Đây cũng là một điển hình ở điện Thái Hòa:
Cư trung hữu thánh nhân, 居 中 有 聖 人 Giữa ngôi có thánh nhân, Thiên bảo mệnh thường tân. 天 保 命 常 新 Mệnh trời ban phúc lành. Hoặc ở điện Long An, có bài thơ làm vào dịp ban sóc (phát lịch) của vua Thiệu Trị cũng biểu hiện tương tự: Thiên địa âm dương hàm định phán/ Đế vương thống kỷ vĩnh tuyên chiêu 天 地 陰 陽 咸 定 判 / 帝 王 統 紀 永 宣 昭 (Âm dương trời đất đều phân định rạch ròi/ Kỷ cương pháp chế của đế vương mãi ban truyền).
Quan niệm về mệnh trời của Nho giáo cũng đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong phong tục cổ truyền, điển hình nhất là lễ Tế Giao (tế trời, cầu mưa thuận gió hòa), chỉ có Thiên tử mới được làm chủ tế, v.v... Trời được quan niệm với một uy đức mang tính phổ quát, cho nên người đứng đầu đất nước, thay trời để điều hành xã hội, phải thuận lòng trời mới có thể làm cho muôn dân ấm no, hạnh phúc, ngược lại, nếu trái ý trời thì muôn dân sẽ lâm vào kiếp nạn đắng cay, khổ nhục. Đó là quan niệm có tính tuyệt đối hóa về vai trò quyết định của mệnh trời. Con người vũ trụ trong thơ trên kiến trúc vì vậy mới xuất xử theo đạo trời, nhập tàng cùng tạo hóa: Vạn hóa dao nguyên hoàng giác diệu 萬 化 瑶 源 皇 覺 妙 (Vạn loài giáo hóa càng huyền diệu, CLM); Lục hợp đồng xuân chuyển hóa ky 六 合 同 春 轉 化 機 (Lục hợp [trời đất và bốn phương] theo mùa xuân mãi vận hành, ĐLA); Điều nguyên tán hóa công 調 元 贊 化 功 (Ngợi ca công của tạo hoá đã điều hòa nguyên khí); Tài thành diệu hóa công 裁 成 妙 化 工 (Kỳ diệu công tạo hóa đã vun trồng công, ĐTH); v,v...
Bên cạnh con người vũ trụ hòa ái trong cõi thiên địa nhân, đề cao và làm theo “thiên mệnh” để quản lý, điều hành xã hội, quan niệm về con người trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế còn được đề cập theo quan niệm đạo đức, nghĩa lý xã hội. Do vậy, khuynh hướng mô tả con người gắn với sự giáo huấn thông qua chủ đề đạo đức có khuynh hướng phổ biến.
3.1.2. Con người xã hội coi trọng đạo đức
Thời Nguyễn, lực lượng sáng tác đều xuất thân từ lớp nho sĩ khoa bảng, chủ yếu là quan lại, kẻ sĩ và đặc biệt là lớp thi sĩ hoàng đế, hoàng thân. Họ đều xuất thân từ nền giáo dục Khổng học, nên việc trước tác văn chương suy đến cùng vẫn là đề cao tư tưởng Nho giáo với tinh thần “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí”, đề cao đạo đức phong kiến với chủ đích: "Để thuận cái lý tính mệnh gốc ở lòng mình; Để tỏ văn tự dọc ngang thông cùng đạo trị. Văn như thế thực để tỏ rõ; Sự tốt đẹp của trị hóa, làm trống kèn thời thái bình" (Văn dĩ tải đạo phú) [71, tr.150]. Văn chương nói chung đã có thể trở thành một phương tiện hữu ích trong việc duy trì và bảo vệ tôn ti trật tự xã hội. Do vậy, nội dung thơ trên kiến trúc cung đình Huế cũng xuất hiện hình tượng con người với quan điểm đề cao giá trị đạo đức của tư tưởng nho giáo. Trong học thuyết Nho giáo, “Đạo nhân” của Khổng Tử chủ yếu nhấn mạnh nội dung học tập, rèn luyện, tu dưỡng nhân cách hoàn thiện, để làm người; đến Mạnh Tử thì đề cao việc vận dụng thực hành “Đạo nhân” trong chính trị và điều chỉnh các quan hệ xã hội, phát triển thành tư tưởng nhân nghĩa. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế thể hiện giá trị đạo đức Nho giáo thông qua việc khẳng định nội dung về “đạo nhân” (đạo đức, nhân nghĩa, nhân đạo, nhân văn). Nhiều bài thơ đã nêu quan niệm về con người thông qua đạo đức, đánh giá về tác dụng của đạo đức, nhân nghĩa, đề cao chữ “nhân”, như một bài điển hình ở điện Thái Hòa:
Nghĩa nhân chiêu tráng lệ, 義 仁 昭 壯 麗
Nhân nghĩa bừng tráng lệ,
Đạo đức trọng uy linh. 道 德 重 威 靈
Đạo đức trọng oai phong.
Bạch nhật khai long các, 白 日 開 龍 閣
Gác rồng mở ngày rạng,
Hồng vân ủng phụng đình. 紅 雲 擁 鳳 庭
Sân phụng ngập mây hồng
Quan niệm về con người đạo đức do vậy cũng tương đồng với con người nhân nghĩa. Nhân (nhân nghĩa) như một mệnh đề phổ quát xuyên suốt theo các quan niệm, tư tưởng. Đó cũng là tư tưởng nhân trị (cai trị bằng đức nhân), coi con người như bản thân mình, đức nhân được xem là nội dung cốt lõi của tu thân. Do vậy, không phải ngẫu nhiên ngay ở Nghi Môn cầu Trung Đạo (Hoàng Thành) có bức hoành phi pháp lam với nội dung Cư nhân do nghĩa (居 仁 由 義 - sống theo lòng nhân, làm theo điều nghĩa). Cũng không ngẫu nhiên trong khi tất cả các cửa vào ra Kinh Thành đều đặt tên theo phương vị (Chính Đông Môn, Đông Nam Môn, Chánh Tây Môn, Tây Nam Môn, v.v...), thì hai cửa chính ra vào Kinh Thành được đặt tên là Thể Nhân Môn 6 (體 仁 門 - thể hiện điều nhân nghĩa) và Quảng Đức Môn (廣 德 門 - mở rộng đức độ). Càng không phải ngẫu nhiên hai cửa hông ra vào Hoàng Thành được đặt tên là Hiển Nhân Môn (顯 仁 門 - làm rõ điều nhân nghĩa) và Chương Đức Môn (彰 德 門 - làm rực rỡ đức độ). Hai câu thơ trên điện Thái Hòa đã tiếp tục cổ xúy cho mệnh đề nhân đức đó: Hậu trạch thâm nhân hà nhĩ mộ, 厚 澤 深 仁 遐 邇 慕
Thần công thánh đức sử thư thùy. 神 功 聖 德 史 書 垂
(Ơn nặng nhân sâu gần xa mến/ Công thần đức thánh sử thư truyền).
Chú thích:
6. Thể Nhân môn, Hiển Nhân môn: người Huế xưa nay vẫn quen đọc là Thể Nhơn, Hiển Nhơn vì húy kị miếu hiệu của vua Minh Mạng là Thánh Tổ Nhân Hoàng đế.
Những nội dung này rõ ràng đã quảng bá cho khái niệm nhân đức, được ghi nhận hiện hữu trên kiến trúc với chủ đích nhất định của triều Nguyễn. Việc “chương đức”, “quảng đức”; việc “hiển nhân”, “thể nhân”, theo đó mà được “triển khai”, thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã khái quát hình tượng con người hành xử theo nhân-đức như một mệnh đề được phát triển có tính hệ thống với các luận điểm cụ thể, rõ ràng. “Mẫu văn thơ phú” của triều Nguyễn có đoạn: “Đức không đâu xa mà đến; Xe đi đến đâu cũng đều thông. Theo phép cả đi trên mặt đất; Vốn chí công ở trong lòng trời. Làm đều đúng cả, không ngăn trở bề ngoài; Đi đâu cũng lợi, có giữ vững ở bên trong. Đấy là việc tốt của thánh nhân; Thấy xoay vần có công hiệu” (Dĩ đức vi xa phú - Bài phú lấy đức làm xe) [71, tr.152]. Minh Mệnh chính yếu cũng có đoạn: “Cái đức của Trời, Đất thường hiện ra cho thấy ở mùa xuân, mà cái việc đầu tiên của Thánh nhân cũng nhân đó tìm ra mối mà làm việc phước (…) Chính trong lúc trời ban cho, đất sinh ra làm đầu, nên trước hết phải ban bố điều nhân để ơn mưa móc được phổ cập đến với mọi người” [79, tr.323]. Triển khai như một luận điểm, thơ trên kiến trúc cung đình nói nhiều về chữ Đức (đạo đức, cái đạo để lập thân) là sự bày tỏ ước nguyện “đạt đức” của người quân tử trong tư tưởng Nho gia. Theo quan niệm của Khổng Tử, người quân tử nếu có ba điều “nhân - trí - dũng” thì có thể gọi là đạt đức. Về sau, Mạnh Tử loại yếu tố “dũng” và thay vào đó các yếu tố “lễ, nghĩa” tạo thành “tứ đức” gồm nhân - trí - lễ - nghĩa. Một đoạn thơ ở điện Long An khẳng định:
Kích trọc dương thanh chương tứ đức, 激 濁 揚 清 彰 四 德
Tàng châu hiến mỵ tựu trung hình. 藏 珠 獻 媚 就 中 形
(Gạn đục khơi trong nêu tứ đức/ Ngọc xinh giấu kín lại phô bày).
Đến thời Hán, Nho giáo bổ sung thêm yếu tố “tín” và trở thành “ngũ thường” với đầy đủ: nhân - nghĩa - lễ - trí - tín. Đó là 5 yếu tố thuộc nội hàm của khái niệm đức, là cái đạo để lập thân của người quân tử. Ngoài tiêu chuẩn ấy, người quân tử còn phải biết thi, thư, lễ, nhạc, phải thể hiện vốn văn hóa toàn diện. Đó là những yếu tố có những quan hệ ràng buộc chặt chẽ, đức và văn là những phạm trù không thể tách biệt. Tất nhiên, hơn ai hết, bậc thánh nhân phải làm sáng được cái đức của người quân tử: Linh đức cao tiêu quân tử tháo/ Thánh nhân vị tác ái tài chương 靈 德 高 標 君 子 操 / 聖 人 為 作 愛 才 章 (Đức nêu tiết tháo người quân tử/ Bậc thánh vì tài thích tụng ca, ĐLA).
Đức là cơ sở, là thước đo, nên toàn bộ xã hội được xem xét, nhìn nhận, đánh giá trên một hệ thống quan niệm. Ở đây, con người đạo đức quân tử phải làm cho đức hóa đến muôn dân như một sứ mệnh, do vậy, thơ trên kiến trúc vì vậy đã hình thành nên một lối diễn đạt có tính chất nghi thức: Đồng nhân phu thánh hóa 同 仁 敷 聖 化 (Cùng điều nghĩa nhân phô bày sự giáo hóa của thánh nhân); Hà phương triêm thánh hóa 遐 方 霑 聖 化 (Phương xa thấm giáo hóa của bậc thánh); Cửu châu triêm thánh hóa 九 州 霑 聖 化 (Cửu châu 7 đều thấm nhuần sự giáo hóa của vua), v.v...
Thơ ở đây còn thể hiện niềm ước vọng, nỗi khát khao để đạt được “đỉnh cao” của tu thân: Thế đức tác cầu (世 德 作 求 - Mong đức để đời, LDĐ). Có thể thấy rằng, chủ đề đạo đức, khuynh hướng giáo huấn nhân nghĩa là có tính phổ biến đối với thơ trên kiến trúc cung đình Huế. Giáo huấn nhân nghĩa là nội dung được đề cập đến nhiều lần và cũng được trình bày như những luận đề có chủ ý:
- Lộ trích nhân thiên lưu ngọc dịch (露 滴 仁 天 流 玉 液
- Sương giọt xuống sự nhân nghĩa của trời lưu trong dòng nước ngọc, Tr.M);
- Như thiên phổ đế nhân (如 天 溥 帝 仁 - Dường như khắp trời đâu cũng rõ lòng nhân của vua, ĐTH);
- Ưu du phùng thịnh đán/ Phú thứ hữu hoàng nhân (優 游 逢 盛 旦/ 富 庶 囿 皇 仁 - Nhàn hạ khi gặp ngày thịnh trị/ Lấy nhân nghĩa của bậc thánh hoàng mà quy tụ mọi người, HM);
- Nghĩa nhân chiêu tráng lệ (義 仁 昭 壯 麗 - nghĩa nhân sáng tỏ thêm cho sự tráng lệ, ĐTH); v.v...
“Nhân” chính là vấn đề mấu chốt trong tu dưỡng của con người trong các mối quan hệ, trở thành quy phạm để rèn luyện không ngừng: Chỉ ư chí thiện tuân kinh sử/ Hành bất vi nhân pháp điển mô 止 於 至 善 遵 經 史 / 行 不 違 仁 法 典 謨 .
Chú thích:
7. Thơ trên kiến trúc cung đình thường nhắc đến khái niệm Cửu Châu hay Cửu cai dùng để chỉ một vùng đất rộng lớn, ý nói khắp đất nước. Theo truyền thuyết Trung Quốc, sau khi Hạ Vũ chia “thiên hạ” thành chín châu (cửu châu), lấy đồng của các châu đúc thành chín đỉnh (cửu đỉnh), khắc tinh hoa phong cảnh của chín châu vào Cửu Đỉnh, mỗi Cửu Đỉnh tượng trưng cho một châu, toàn bộ cất giữ tại kinh đô nhà Hạ. Vì thế, Cửu Đỉnh trở thành biểu trưng cho quyền uy của chính quyền phong kiến và sự thống nhất quốc gia.
(Tuân theo kinh sử “chỉ ư chí thiện”/ Noi theo phép tắc làm không trái đức nhân, LMM). Đó cũng là sự ghi lòng theo kinh sử. Sách Đại học nhấn mạnh: Cái đạo của bậc đại học là ở sự làm cho sáng cái đức sáng, ở sự thân yêu con người, ở sự đến chí thiện mới thôi (大 學 之 道, 在 明 明 德, 在 親 民, 在 止 於 至 善: Đại học chi đạo, tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện) [35, tr.194]. Nếu như những giáo huấn nhân nghĩa trên được trình bày, đề cập như những mệnh đề có tính “lý luận”, thì hai bài thơ sau đều cùng ở điện Thái Hòa là những “thực hành” về điều nhân ấy. Chỉ là một câu chuyện đánh cá, rồi phóng thích, nhưng nội dung lại bàn đến lòng nhân của con người, lòng nhân trong xử thế như ở một bài trên điện Thái Hòa:
Đả ngư hà thủy bạn, 打 魚 河 水 畔 Bên sông buông lưới cá,
Phóng dưỡng hậu đình tân. 放 養 後 庭 濱 Rồi thả nuôi hồ gần.
Nội ngoại ái tăng biệt, 內 外 愛 憎 別 Yêu ghét trong ngoài rõ,
Dụng tâm nhân bất nhân. 用 心 仁 不 仁 Ấy cũng bởi lòng nhân.
Để cuối cùng đỉnh cao của sự giáo hóa về nhân nghĩa trong thi ca là sự thể hiện khát vọng về một chữ nhân phổ quát khắp cùng, lòng nhân được nhân lên với mọi quốc gia, dân tộc: Bán thiên khai Thái vận/ Vạn quốc hữu đồng nhân 半 千 開 泰 運/ 萬 國 有 同 仁 (Người hiền tài 8 mở ra vận hanh thông/ Muôn nước đều có cùng sự nhân nghĩa, ĐTH). Nhìn chung, từ đạo đức đến nhân nghĩa, thơ trên kiến trúc cung đình Huế là sự khái quát, giáo hóa đức nhân với những chuẩn mực phong kiến. Đức và nhân là điều kiện cần của người quân tử, bậc thánh nhân gắn liền với chức phận và sứ mạng của đấng trượng phu. Trên hết, đó là sự chuyển tải những giáo lý Nho gia thông qua hình tượng con người đạo đức đề cao nhân nghĩa gắn liền với con người vũ trụ hòa ái thiên nhiên. Không dừng ở đây, thơ trên kiến trúc cung đình Huế còn đề cập đến kiểu con người đấng bậc với ý thức sứ mệnh rõ nét.
3.1.3. Con người đấng bậc ý thức sứ mệnh
Chú thích:
8. Trong nhiều bài thơ trên kiến trúc có hai từ bán thiên: nửa ngàn và ngũ bách: năm trăm (dùng chỉ bậc kẻ sĩ, hiền tài). Hai từ trên trong thơ trên kiến trúc có cùng nghĩa, liên quan đến điển: trong sách Đường Thư có kể chuyện Vương Nghĩa Phương thường thưởng cho tài năng của Viên Dư Khánh và có nhận xét về nhân vật này như sau: “Cứ phải 500 năm thì mới xuất hiện một hiền tài, ngươi đúng là người đó”. Do vây, Viên Dư Khánh mới được đổi tên là Viên Bán Thiên - nửa ngàn; bán thiên hay ngũ bách đều thế.
Đối với thời trung đại của các nước đồng văn, quan niệm về cái đẹp gắn với con người được nhận thức theo tôn ti, tầng bậc trong xã hội: quân tử - tiểu nhân, quý tộc - bình dân, thượng lưu - dân dã, được khái quát thành 12 hạng người chủ yếu là công, hầu, khanh, tướng; sĩ, nông, công, thương; ngư, tiều, canh, mục.
Thời trung đại đề cao con người quân tử hiểu mệnh trời, xem quân tử là giai đoạn tiến hóa cao của tiểu nhân. Quân tử thì phải biết rèn luyện nhân nghĩa nhằm tiếp tục giáo hóa tiểu nhân từ bỏ dục vọng bản năng để hướng thiện, cải tà quy chánh. Quan niệm này đã hình thành nên hình tượng con người đấng bậc. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế khi quan niệm về con người đấng bậc với ý thức sứ mệnh đã làm nên một hệ thống các đối tượng trong xã hội, từ người đứng đầu là chủ thể quản lý tối cao như bậc đế vương (với nhiều cách định danh), là chủ thể quản lý thừa lệnh các vương thần (công, hầu, khanh, tướng) đến đối tượng quản lý là thần dân (cũng với nhiều cách định danh) thậm chí là những đối tượng rất cụ thể như người học thức (sĩ), người thợ (công), người dân cày (nông), người dân chăn trâu (mục). Ví dụ như:
- Chỉ đối tượng cá nhân, từ cao đến thấp: người đứng đầu như Thiên tử (天 子- con trời), Đế vương (帝 王 - nhà vua), Thánh đế (聖 帝 - nhà vua), Thánh nhân (聖 人 - bậc thánh, nhà vua), Thánh hoàng (聖 皇 - nhà vua); các loại người khác trong xã hội như Tư dân (斯 民 - người dân ấy), Cao sĩ (高 士 - kẻ sĩ thanh cao), Xảo tượng (巧 匠 - người thợ lành nghề), Nông (農 - nhà nông), Mục (牧- mục đồng, người chăn trâu), v.v...
- Chỉ đối tượng tập thể, từ cụ thể đến khái quát như Vương thần (王 臣 - đình thần của vua, Thần dân (臣 民): đình thần và người dân, nhân dân, Dân (民 - người dân), Thiên hạ (天 下 - mọi người), Quần sinh (群 生 - mọi thần dân), Vạn tính (萬姓 - vạn dân, nhân dân), Bách tính (百姓 - trăm họ, nhân dân), Hậu sinh (後 生 - lớp người sau), v.v...
Đó quả thực là một bức tranh xã hội với nhiều hạng người tồn tại trong ngôn ngữ thơ. Điều này nói lên rằng, con người đấng bậc trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế trước hết đã được phản ánh qua sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội.
Con người đấng bậc trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế xuất phát từ tinh thần tự tôn dân tộc để đề cao triều đại, đề cao vị thế quốc gia. Trong lịch sử, Trung Hoa luôn xem Việt Nam và các nước khác trong khu vực nước nhỏ, chịu sự lệ thuộc nước lớn, là chư hầu của nước lớn. Văn kiện ngoại giao của Trung Hoa gửi Việt Nam trước đây thường xuất hiện cụm từ Việt Nam quốc vương (越 南 國 王) - quốc vương là một khái niệm chỉ vua các nước chư hầu của Trung Hoa. Nhưng đã trải nghìn năm, ý thức dân tộc khiến cho người Việt Nam đã có ý tách ra, các vị vua đều xưng là Hoàng đế. Từ sau năm 981, vị thế nước ta bấy giờ từng khẳng định qua cách xưng trong Nam quốc sơn hà Nam đế cư (南 國 山 河 南 帝 居). Trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế, chân mệnh thiên tử đó càng được khẳng định đậm nét khi sử dụng đến 346 lượt khái niệm chỉ hoàng đế, thánh nhân với 89 lần đế (帝), 116 lần hoàng (皇) và 141 lần thánh (聖) trên tổng số hơn 1.000 bài thơ! Đó còn là cách để khẳng định sự chính danh trong quan điểm Nho giáo, sự vật phải ứng với tên gọi, mỗi người phải làm đúng với chức phận của mình, mọi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng địa vị của mình. Trong điều hành đất nước, chính danh thể hiện qua việc hướng xã hội đến một tôn ti, trật tự rõ ràng. Có thể thấy rằng, trong đặc điểm ngôn ngữ, cùng với các văn bản hành chính có tính chất quản lý nhà nước vào thời Nguyễn thuộc thẩm quyền ban hành của nhà vua như: chiếu, lệ, lệnh, chỉ, dụ, sắc cùng một số công văn khác, ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế thường xuất hiện các từ như đế vương, thiên tử, thánh nhân, thánh hoàng đã biểu hiện rõ những ý đồ của triều Nguyễn, nhắm vào hai mục đích: một là, trong quan hệ đối nội, khiến cho trăm họ thấy rằng đây là triều đại mới thiết lập, sự lên ngôi chính thống của vị vua mới, xã hội đã được xác lập tôn ti; hai là thực hiện ý đồ đối ngoại, công bố về quyền tự chủ của đất nước đối với các nước khác. Điều này đã được thể hiện rất rõ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế:
- Thiên địa âm dương hàm định phán/ Đế vương thống kỷ vĩnh tuyên chiêu 天 地 陰 陽 咸 定 判/ 帝 王 統 紀 永 宣 昭 (Trời đất âm dương phân định rõ/ Đế vương pháp chế mãi ban truyền, ĐLA);
- Càn thủy khôn sinh tham đại hóa/ Vương công đế đạo xiển hồng du 乾 始 坤 生 參 大 化/ 王 功 帝 道 闡 鴻 猷 (Vận trời mới đất sinh sôi dự phần vào vũ trụ/ Công vua, đạo hoàng đế mở kế sách lâu dài, Tr.M); "Tính cách đế" ấy cũng nhiều lần khẳng định trong thơ trên điện Thái Hòa: Quần phương ca đế đức 群 方 歌 帝 德 (Muôn phương ca tụng đức của hoàng đế); Xuân phong mãn đế đô 春 風 滿 帝 都 (Gió xuân tràn ngập khắp kinh đô của hoàng đế); Quần tinh củng đế xu 群 星 拱 帝 樞 (Muôn vì tinh tú chầu về nghiệp đế); Thiên niên điện đế cơ 千 年 奠 帝 基 (Ngàn năm định hình cơ nghiệp của hoàng đế), v.v...
Ý thức sứ mệnh được khái quát trên bình diện tinh thần, suy nghiệm qua các hình thức tu dưỡng, tự khẳng định mình bằng cách gắn bản thân với đạo, nhằm không ngừng hoàn thiện nhân cách. Con người đấng bậc trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế nói nhiều về chữ “đạo” của người quân tử. Ở điện Thái Hòa có các câu như: Chấp trung hoằng đế đạo 執中弘帝道 (Nắm giữ mở rộng cái đạo của hoàng đế); Đãng bình khai đế đạo 蕩平開帝道 (Giữ sự ngay thẳng mà mở ra đạo của hoàng đế); Phỏng cổ hành vương đạo 倣古行王道 (Phỏng theo xưa để thi hành vương đạo); Thánh nhân cửu kỳ đạo 聖 人 久 其 道 (Bậc thánh nhân từ lâu đã vững đạo lý); ở Ngọ Môn như Thiên đạo thái lai thì 天道泰來時 (Đạo trời vận hành thông suốt); ở Thế Tổ Miếu như Vương công đế đạo xiển hồng du 王功帝道闡鴻猷 (Công vua, đạo hoàng đế mở kế sách lâu dài); v.v...
Chữ đạo mà Nho giáo quan niệm thực chất là những tác động thúc đẩy sự hình thành và chuyển hóa sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, những chuyển biến không ngừng trong mối quan hệ tam tài (thiên-địa-nhân) trong mô hình trật tự của hai chiều âm - dương. Người quân tử nắm được quy luật này để điều chỉnh, rèn luyện. Con người đấng bậc trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế còn thể hiện ở thái độ tôn xưng với những con người bề trên, phân biệt với những người khác. Điều này được thể hiện rõ nét nhất là ở hệ thống thơ trên Thế Miếu và điện Long Ân lăng Dục Đức. Cách miêu tả của thơ tại Thế Miếu và điện Long Ân chịu sự chi phối của quan niệm đấng bậc về con người. Trong thơ tại hai kiến trúc này nổi lên hình ảnh của các vị vua tiền nhiệm, các bậc thánh hiển linh, đều được quan niệm là những “đấng”, những “bậc” khả kính. Đối với những nhân vật này, ngôn ngữ thơ thường gắn với tính chất trang trọng, giàu màu sắc tượng trưng.
Hoàng hoàng chính thống khải trùng tân, 皇 皇 正 統 啟 重 新
Chinh phạt do lai trượng nghĩa nhân. 征 伐 由 來 仗 義 仁
Biện hữu bát niên cần phủ tự, 卞 有 八 年 勤 撫 字
Chưng lê cộng khánh thái bình xuân. 烝 黎 共 慶 太 平 春
(Lớn lao nối nghiệp lại trùng tân/ Chinh chiến xưa nay lấy nghĩa nhân/ Vội vã tám năm trời phủ dụ/ Toàn dân vui hưởng thái bình xuân, Th.M). Nội dung của các bài thơ này chủ yếu biểu thị một thái độ tôn xưng đối với các bậc vua chúa tiền nhiệm, tán tụng công đức gây dựng cơ đồ, khai sáng triều đại, xây dựng một đất nước hùng cường, mở rộng bờ cõi của vị hoàng đế đầu triều.
Từ ý thức sứ mệnh, khẳng định vai trò hoàng đế với sự chính danh ngôi vị, con người đấng bậc còn thể hiện với trách nhiệm tối cao là “chăn dân”, mà cái ăn của dân là quan trọng hàng đầu như câu thơ ở điện Thái Hòa: Bất ưu tần khốc thử/ Thả hỷ dụ dân thiên 不 憂 頻 酷 暑/ 且 喜 裕 民 天 (Không lo khi luôn nắng nhiều/ Hãy mừng vì cơm áo của dân được đầy đủ). Hoặc là câu thơ ở điện Long An: Niệm niệm dân thiên thiết ngã tư/ Cận nhân vị hạ lãn ngâm thi 念 念 民 天 切 我 思/ 近 因 未 暇 懶 吟 詩 (Mong ngóng cho cái ăn của dân là điều cấp thiết mà ta lo nghĩ/ Đó là nguyên nhân mà khi nhàn hạ khó có thể ngâm thơ), v.v...
Các câu thơ trên có sức khái quát về một con người đấng bậc với ý thức sứ mệnh rõ nét. “Dân thiên” chính là nghĩa rút gọn từ quan niệm “Dân dĩ thực vi thiên” (Dân lấy cái ăn làm trời). Đây là một câu trong sách Hán Thư “Vương giả dĩ dân vi thiên, dân dĩ thực vi thiên” (王 者 以 民 為 天 民 以 食 為 天 - Bậc làm vua thì lấy dân làm trời, còn dân thì lấy cái ăn làm trời). “Dân lấy miếng ăn làm trọng, nên muốn trị dân, trước hết phải làm cho dân no ấm, vì dân đói thì nước loạn (…) nước loạn hay nước yên là tùy ở dân bị đói kém hay no đủ” [13, tr.192]. Con người vì vậy mà luôn ưu tư trước cảnh thiên tai, mất mùa, trước những dự báo xấu về đời sống nông nghiệp: Tây trù giai mãn tiến/ Nam mẫu hựu tàn tiện 西 疇 皆 滿 洊 / 南 畝 又 殘 賤 (Ruộng miền Tây đều đầy nước lụt/ Ruộng miền Nam lại bị hư hại, LTT).
Đó quả là những điển hình về con người của tấm lòng, của trách nhiệm chăn dân, thể hiện cách bày tỏ quan điểm của mình. Ý thức sứ mệnh của con người đấng bậc về trách nhiệm xã hội cũng chú trọng vào lĩnh vực chính trị, đạo đức, những vấn đề quyết định sự an nguy của triều đại, sự ổn định của xã hội. Điều này còn được nhiều lần chứng minh trong sử sách. Khi quở phạt quan lại địa phương chậm trễ trong việc cứu đói cho dân bị mất mùa, hoàng đế Minh Mạng từng xuống dụ rằng: “Trước đây tại Nam Định gạo kém, đã ra ân dụ phát gạo kho ra năm vạn hộc để bán, cho vay, hoặc phát chẩn cho dân được nhờ đó mà thư thái. Đáng lẽ phải lập tức tuân làm để đỡ cấp thiết cho dân (…); vả lại giúp đỡ người nghèo khó, sớm một ngày là dân được nhờ một ngày, sao lại còn phải kê cứu chậm trễ như thế. Sở dĩ dân đói không thể sống được, lỗi ấy tại ai?” [79, tr. 282]. Con người đấng bậc vì vậy mới chan hòa vào niềm vui được mùa của dân. Trên đường tạm nghỉ bên ao (池 塘 小 憇 Trì đường tiểu khế, ĐLA), con người đó đã bày tỏ những tình cảm, suy tư của mình:
Kỷ hồi vô hạ nhật, 幾 回 無 暇 日 Bấy nay không ngày rỗi,
Đắc vũ vị lai lâm. 得 雨 為 来 臨 Gặp mưa đến đây mà.
Thời nhược niên phong lạc, 時 若 年 豐 樂 Tiết thuận vui trúng vụ,
Dân tâm tức ngã tâm. 民 心 即 我 心 Lòng dân tức lòng ta.
Bên cạnh sự xuất hiện của con người vũ trụ, đấng bậc với những trăn trở về nghĩa vụ “kinh bang tế thế”, thơ trên kiến trúc cung đình Huế còn thể hiện những nỗi day dứt về những con người đời thường. Đó còn là ý thức sứ mệnh cùng với nghĩa vụ trong quan hệ cộng đồng.
Thuân tuần mẫn mục đê, 逡 旬 憫 牧 胝 Lo vết chai mục đồng,
Bạt thiệp bì ngưu thác. 跋 涉 疲 牛 跅 Theo bóng trâu lặn lội.
Cánh phục nậu điền nê, 更 復 耨 田 泥 Vừa cày ở ruộng sâu,
Bất đồ canh thổ tháp. 不 徒 耕 土 塌 Lại bừa cao khắp lối.
Đến đây, từ con người đấng bậc, con người trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã “chuyển hóa” thành con người có dấu ấn cá nhân, phản ánh cái tôi giãi bày, diễn tả những tình cảm riêng tư. Tuy không xuất hiện nhiều, nhưng đó cũng là điểm đáng ghi nhận trong hình tượng nghệ thuật con người đấng bậc với những ý thức sứ mệnh của người cầm cân nảy mực trong xã hội. Trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế hầu như dấu ấn con người cá nhân chưa được ý thức để xây dựng thành một hình tượng nghệ thuật có hệ thống. Điều này dĩ nhiên xuất phát từ cơ sở xã hội phong kiến về phương diện kinh tế, không dựa trên nền tảng cá nhân. Vì vậy các giá trị cá nhân không được đánh giá từ bản thân phẩm chất cá nhân mà ở vai trò của cá nhân trong mối quan hệ giai tầng, tương ứng với những chuẩn mực chung. Thơ trên trên kiến trúc cung đình Huế nói riêng con người xuất hiện theo phương thức đồng trục, đồng dạng về tư tưởng tình cảm, với các mối quan hệ xã hội, đạo đức, ít mang hình sắc cá nhân. Đây cũng là đặc điểm khá nổi bật của hình tượng con người trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế.
Từ những phân tích về quan niệm nghệ thuật về con người, có thể thấy rằng, thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã thể hiện một mảng chủ đề lớn trong việc phổ biến những nguyên tắc có tính chất đường lối căn bản của Nho giáo gắn liền với tư tưởng văn trị, lễ trị và nhân trị; thể hiện quan điểm đề cao quản lý xã hội bằng tri thức, bằng sự hiểu biết, bằng các thiết chế xã hội; đề cao nghi lễ trong trị quốc và dùng lòng nhân ái để quản lý, điều hành xã hội. Xuất phát từ quan niệm nghệ thuật về con người gắn với các đặc điểm trên, không gian và thời gian nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế được "triển khai" với các nội dung tính chất có tính "hô ứng", hòa vào dòng chảy của thế giới nghệ thuật đặc biệt này. Do vậy, thơ trên kiến trúc đã chuyển tải những ý thức thẩm mỹ, những lý tưởng xã hội gắn kết cùng bối cảnh lịch sử xã hội nhất định qua các quan niệm về mỹ học, triết học của thời đại sản sinh ra chúng. Tiền đề cơ sở ấy là yếu tố không thể bỏ qua khi nghiên cứu thơ trên kiến trúc cung đình Huế nói riêng cũng như thi ca thời trung đại nói chung.
Hình tượng con người với tất cả những quan niệm như vậy đã được miêu tả trong sự hô ứng của cả thế giới không - thời gian cũng đầy quan niệm. Trong nghệ thuật, con người, không gian và thời gian đều được mô tả, tạo dựng dưới dạng hình tượng, vì thế không gian và thời gian nghệ thuật được xem là hình thức tồn tại của hình tượng con người. Do vậy, để tiếp tục tri nhận một cách đầy đủ về hình tượng nghệ thuật về con người thì tất yếu cần tiếp tục tìm hiểu về không gian, thời gian nghệ thuật trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế.
3.2. Hình tượng không gian
Lý luận về không gian nghệ thuật, Trần Đình Sử nhấn mạnh: “không có hình tượng nghệ thuật nào không có không gian, không có một nhân vật nào không có một nền cảnh nào đó”, và “không gian nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một quan niệm nhất định về cuộc sống” [83, tr.88, 89]. Những điều đó khẳng định không gian nghệ thuật chính là hình thức tồn tại, là cái dung chứa hình tượng nghệ thuật. Không có hình tượng nghệ thuật nằm ngoài không gian.
Nghiên cứu về hình tượng không gian sẽ chỉ ra những kết cấu nội tại của tác phẩm, các biểu tượng ngôn ngữ cũng như các quan niệm về thế giới, về tác giả và bối cảnh văn chương, tạo nên những cơ sở khách quan khi đánh giá, nhận định về hình tượng của tác phẩm cũng như tác phẩm nói chung.
Xuất phát từ đặc điểm của văn học trung đại, thơ trên kiến trúc cung đình Huế tựu trung xuất hiện các kiểu loại hình tượng không gian cơ bản như không gian vũ trụ, không gian lịch sử, không gian đời thường. 3.2.1. Không gian vũ trụ gắn với các quan niệm triết lý
Tương ứng với con người vũ trụ, thơ trên kiến trúc cung đình Huế xuất hiện kiểu không gian vũ trụ hùng tráng, bao la với mô hình sinh tồn gắn với đất trời, sông núi. Không gian vũ trụ chiếm vị trí ưu thế với những quy mô, kích thước ước lệ không xác định. Trên cái nền ấy luôn tồn tại mô hình ba yếu tố, là cấu trúc không gian của vũ trụ thiên-địa-nhân. Ở vị trí trung tâm, con người hình thành nên điểm nhìn, thiên nhiên vạn vật là những thứ bao quanh, tương hợp. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế đã diễn tả không gian vũ trụ rất phong phú, khái quát cả một vũ trụ bao la rộng lớn, giàu tính ước lệ: thiên địa (trời đất), thiên ngoại (ngoài trời), càn khôn (trời đất), sơn hà (núi sông), thiên tằng (ngàn tầng), vạn khoảnh (vạn khoảnh), sơn xuyên (núi sông), tứ hải (bốn biển), cửu châu (chín châu), đại địa (đất rộng), vạn phương (muôn phương), vạn lý (muôn dặm), càn khôn vũ trụ (vũ trụ đất trời), sơn hà vạn lý (muôn dặm núi sông), sơn hà cẩm tú (núi sông tươi đẹp), bao la thiên địa (bao la đất trời), tinh đẩu thiên tằng (sao trời lớp lớp), mãn sơn xuyên (khắp núi sông) thiên phương ngoại (ngoài ngàn dặm), v.v...
Vũ trụ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế tràn ngập một không gian của “khí” với những nhận thức về đối tượng có thuộc tính vật chất và tính năng động. Khí nhập vào “đạo”, vào “lý”, vào “thái cực”, vào “tâm” trở thành nguyên tố, chất liệu hoặc khâu trung gian để cấu tạo nên thế giới muôn vật: Thục khí bố hồng quân (淑 氣 佈 洪 鈞 - Tạo hóa phân bố khí lành, ĐTH); Khí tĩnh quang tăng nhị (氣 靜 光 增 膩 - Khí lặng ánh sáng càng tỏa mịn, LMM); Thu sinh khí hậu lương (秋 生 氣 候 涼 - Thu đến trong khí trời mát mẻ, LTT); Hòa khí mãn hoàng châu (和 氣 滿 皇 州 - Khí lành khắp non sông, LĐK); Du quan lam khí trùng (榆 關 嵐 氣 重 - Khí núi mờ quan ải, LTT); Thanh thương vân khí liễm (清 商 雲 氣 斂 - Trời xanh mây cuốn hết, DLĐ); Sơn xuyên chung thụy khí (山 川 鐘 瑞 氣 - Núi sông un khí tốt, Tr.M); Di nhiên sảng khí sinh (怡 然 爽 氣 生 - Mát đầy khí tỏa khắp, ĐLA), v.v...
Khái niệm “khí” trong thơ trên kiến trúc được nhắc 89 lượt. Xoay vần cùng với “sơn xuyên chung thụy khí” ấy là phong (248 lần), là vân (190 lần), là vũ (145 lần); được “bố cục” cùng nhật (201 lần), cùng nguyệt (127 lần), cùng tinh (53 lần); với những trạng thái, tính chất của chuyển (18 lần), của động (42 lần), của hợp (21 lần), của tán (16 lần), v.v... ngập tràn thiên tượng mà vần xoay theo cách cảm của con người. Theo quan niệm Nho giáo, khí là nguồn gốc, là bản thể của thế giới sự vật, hiện tượng trong thế giới tự nhiên, chuyển động không ngừng. Đó là cơ sở thống nhất của thiên - địa - vạn vật, nguồn gốc sinh thành vạn vật, vũ trụ, là nguồn gốc của thế giới. Âm - dương là hai thuộc tính cố hữu của khí. Thế giới quan của người xưa đã đề cập và xem xét về nguồn gốc và bản chất của sự vật, trong Vân đài loại ngữ, học giả Lê Quý Đôn cho rằng: “Tràn đầy vũ trụ là khí”, “khí trong vũ trụ chỉ là âm dương, ngũ hành (kim loại, gỗ, nước, lửa, đất)”, “khí sinh ra mặt trời, mặt trăng, các vì sao, khoảng không vũ trụ, sấm, bão”, v.v... [18, tr.186-194]. Điều này cũng góp phần giải thích về tầm quan trọng của hình tượng không gian, của hình tượng con người trong tác phẩm.
Trần Đình Sử nhận định rằng: “Ông Lixêvích nghiên cứu tư tưởng văn học cổ Trung Quốc đã nhận xét 'Miêu tả bốn phương là biện pháp thịnh hành trong thể phú', người ta gọi là biện pháp “tứ vọng”. Biện pháp này được vận dụng ở Chinh phụ ngâm, Ai tư vãn, v.v... Nhưng điều đáng chú ý là mô hình ấy đã thể hiện vào thơ, dù chỉ trong một bài [N.V nhấn mạnh] Tuyệt cú của Đỗ Phủ, thể hiện sự rộng mở bao quát của tâm hồn” [83, tr.171]. Cứ như lập luận của Trần Đình Sử thì thiết tưởng cũng cần nhấn mạnh thêm “điều đáng chú ý là mô hình ấy đã thể hiện vào thơ” trên kiến trúc cung đình Huế, như một bài thơ tứ tuyệt ở Minh Lâu, lăng Minh Mạng:
Tứ vọng mạc cùng thiên lý mục, 四望莫窮千里目 Bốn phía dõi xa mắt vạn dặm
Chu chiêm khả triển nhất song mi. 週瞻可展一雙眉 Nhìn quanh chỉnh ướn cặp lông mày
Đăng lâm bất vị du quan niệm, 登臨不為遊觀念 Lên cao nhìn ngắm đâu vì hứng
Thưởng giám hoàn kỳ u ẩn tri. 賞鋻還期幽隱知 Cốt biết trong trời những đổi thay Hay một “kiểu tứ vọng” khác ở bài thất ngôn bát cú tại điện Long An:
Nam đường bắc các cách trì pha, 南堂北閣隔池坡 Nhà nam, gác bắc cách ao đồi
Tiếp giá kiều lang tứ vọng xa. 接架橋廊四望賒 Cầu lang bốn phía dõi bắt qua
Không dừng lại đó “tứ vọng” còn xuất hiện trong cả ca từ (cũng là một bài tứ tuyệt) được xướng lên theo điệu hát khách (một điệu hát mang âm hưởng tuồng phổ theo các thể thơ cổ, tính cách vui tươi, tiết tấu nhanh theo nội dung lời ca) trong vũ khúc Phiến vũ (múa quạt) của hệ thống vũ khúc cung đình Huế:
Phất tụ khinh khinh hướng bích hồ, 拂 袖 輕 輕 向 碧 湖
Phong quang tứ vọng thỏa ngao du, 風 光 四 望 妥 遨 遊
Hoa hương phức úc phong tiền chuyển, 花 香 馥 郁 風 前 轉
Nguyệt ảnh đăng huy thượng thủy phù. 月 影 澄 輝 上 水 浮
(Rũ áo nhẹ thênh hướng ngọc hồ/ Bốn phương quang đãng thỏa ngao du/ Hương hoa ngào ngạt rung theo gió/ Bóng nguyệt lung linh nổi thẫn thờ).
"Tứ vọng" như một phương thức mở rộng quy mô, chiều kích của không gian, có ý nghĩa giải phóng tầm nhìn, biểu thị độ mở của tư tưởng, tình cảm. Nhìn bao quát bốn hướng, từ vận khí của trời đất, những chiều kích của vũ trụ, của phương hướng được định vị theo các tầng bậc khác nhau với những kiểu mô tả phong phú.
- Kiểu không gian vũ trụ có phương vị xác định (đông, tây, nam, bắc):
+ Bản căn tùng bắc địa/ Chi cán lộ nam thiên (本 根 從 北 地/ 枝 幹 露 南 天Gốc rễ từ đất Bắc/ Cành thân rõ Nam phương, NM);
+ Đông táp từ từ phất/ Tây vân tiệm tiệm thinh (東 颯 徐 徐 拂/ 西 雲 漸 漸 清
- Từ từ thổi ngọn gió đông/ Mây tây gió đẩy trời trong dần dần, LĐK), v.v...
- Kiểu không gian vũ trụ rộng lớn, có phương vị khái quát không xác định (phương xa, bốn phương, tám hướng):
+ Lai phương nhân tự (來 方 禋 祀 - Phương xa đến tế tự, LDĐ);
+ Bát hoang qui hộ dũ (八 荒 歸 戶 牖 - Tám hướng - đông, tây, nam, bắc, đông bắc, tây bắc, đông nam, tây nam - cùng quy về một mối, ĐTH), v.v...
- Kiểu không gian vũ trụ rộng lớn, phương vị không xác định, ước lệ hóa giàu tính tượng trưng (ngàn phương, muôn phương, khắp mọi phương):
+ Đàn hương triêm nhiễm thiên phương ngoại (檀 香 霑 染 千 方 外 - Thấm tỏa hương thơm khắp vạn dặm, LMM);
+ Sơn xuyên biến vạn phương(山 川 遍 萬 方-Khắp sông núi muôn phương, ĐLA); v.v...
Thế giới vũ trụ thiên nhiên trong thi ca trung đại có vị trí quan trọng, trực tiếp làm nên tác phẩm. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế nói chung đều có một bức tranh thiên nhiên phổ biến. Thiên nhiên vũ trụ vừa là khách thể thẩm mỹ để chủ thể sáng tạo thể hiện cảm quan vũ trụ, các quan điểm về triết học, mỹ học đương thời; thiên nhiên vũ trụ vừa là như một chủ thể thẩm mỹ, được gán trao những phẩm chất, thuộc tính của con người. Nhu cầu tìm đến thiên nhiên vũ trụ của con người với mục đích giáo huấn, hoặc bày tỏ xúc cảm, do vậy một không gian vũ trụ rộng lớn đã không thể hiện như bản chất hiện hữu mà đã được khoác lên một ước lệ mỹ học chủ quan, đầy cảm tính.
Nhật nguyệt quang thiên đức, 日 月 光 天 德 Đức trời ngời nhật nguyệt, Sơn hà tráng đế cư. 山 河 壯 帝 居 Núi sông vững đô thành.
Bát hoang qui hộ dũ, 八 荒 歸 戶 牖 Tám hướng chung nề nếp,
Tứ hải nhập đình trừ. 四 海 入 庭 除 Bốn biển nhập triều đình.
Đó là một vũ trụ ước lệ của núi sông, của giang sơn gấm vóc. Thơ trên kiến trúc cung đình Huế ngập tràn một không gian của núi sông như thế với một loạt hình ảnh núi sông (sơn hà, sơn xuyên): Sơn hà vạn lý giai tâm hội (山 河 萬 里 皆 心 會 - Vạn dặm núi sông đồng lòng hội tụ, LMM); Sơn hà vạn lý minh (山 河 萬 里 明 - Giang sơn muôn dặm sáng ngời, ĐLA); Thuận Hóa sơn xuyên tú (順 化 山 川 秀 - Núi sông Thuận Hóa tươi đẹp, LMM); Sơn xuyên biến vạn phương (山 川 遍 萬 方 - Sông núi khắp muôn phương, ĐLA); Dĩ chiếu mãn sơn xuyên (已 照 滿 山 川 - Đã chiếu khắp núi sông, NM), v.v...
Khi mô tả không gian vũ trụ, thơ trên kiến trúc cung đình Huế xuất hiện những điệp thức từ ngữ biểu hiện một không gian rộng lớn. Loại từ ngữ này được sử dụng nhiều lần, quen thuộc, trở thành những ẩn dụ tu từ, có tính tượng trưng mang ước lệ xã hội, biểu thị cho sự thống nhất của giang sơn dưới thời Nguyễn, mang đậm dấu ấn về lý tưởng thẩm mỹ của triều đại đương thời. Điển hình như hình ảnh bốn biển (tứ hải): Thống thu tứ hải nhập thần xu (統 收 四 海 入 宸 樞 - Bốn biển thu về một mối ở Kinh đô, Th.M); Tứ hải lượng giai hoài ái đới (四 海 諒 皆 懷 愛 戴 - Bốn biển đội ân lòng mến ái, LMM); Tứ hải điềm hy cảnh vật nhiêu (四 海 恬 熙 景 物 饒 - Bốn bể an vui cảnh vật nhiều, ĐLA). Riêng ở điện Thái Hòa hình ảnh tượng trưng này có sự xuất hiện đồng loạt, hệ thống: Tứ hải ngưỡng xuân phong (四 海 仰 春 風 - bốn biển nghênh đón gió của mùa xuân); Tứ hải tận vi gia (四 海 盡 為 家- bốn biển tất thảy là nhà); Tứ hải cộng tuân vương (四 海 共 遵 王 - bốn biển cùng noi theo nhà vua); Tứ hải cộng vương thần (四 海 共 王 臣- bốn biển cùng là vương thần; Tứ hải cộng chiêm y (四 海 共 瞻 依bốn biển cùng trông vào mà noi theo), v.v...
“Tứ hải” trong tập quán nhận thức của triều Nguyễn nói chung cũng như ngôn ngữ thơ trên kiến trúc cung đình Huế nói riêng đã trở thành một “phạm trù” mỹ học khi đề cập về lý tưởng thẩm mỹ. Trên loại tiền đồng khắc mỹ tự (tiền khắc lời hay, ý đẹp có tính giáo huấn, dùng để ban thưởng, đường kính khoảng 5cm) vào thời Minh Mạng, thời Thiệu Trị có câu “Tứ hải cộng chi, vạn thế truyền chi” (四 海 共 之, 萬 世 傳 之 - Bốn biển cùng như vậy, vạn thế truyền như vậy).
Quan niệm xưa cho rằng, trong cõi thiên địa, xung quanh tứ phía đất liền đều là biển cả. Từ vị trí trung tâm của mình, con người nhìn ra xung quanh đều thấy nước, do vậy mới có nhận thức là “tứ hải” khi chỉ về thế giới xung quanh. Tập quán tư duy này đã hình thành nên các thành ngữ “Tứ hải giai huynh đệ” (Bốn biển đều là anh em); “Tứ hải vi gia” (Bốn biển là nhà, nghĩa bóng là nói về con người đi khắp đó đây, không ở nơi nào cố định, lấy bốn biển làm nhà). “Tứ hải” vì vậy đã biểu trưng cho sự đồng lòng, cùng ý chí, biểu thị của tinh thần hợp nhất, đoàn kết.
Không gian vũ trụ trong thơ trên kiến trúc cung đình Huế xuất hiện với phương
thức được “ghi lại” bằng cách hiểu, bằng nhận thức được, chứ không phải bằng
cái nhìn thấy được. Không gian vũ trụ được mở rộng bao la, được mở rộng ra
thành không gian đa chiều của bốn phương, tám hướng, trên dưới, dọc ngang, v.v... được hình thành từ cảm nhận vừa bằng tư duy lý tính, vừa bằng tư duy cảm tính
xuất phát từ những quan niệm triết học đương thời. Do vậy, không gian vũ trụ ở
đây giàu tính tượng trưng và tính quan niệm.
Huế 2019 Nguyễn Phước Hải Trung
Huế 2019

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét