Ông sinh tại cao nguyên Lạc Giao (xã Lạc Giao-hiện nay là phường
Thống Nhất, Ban Mê Thuột), tỉnh Đắk Lắk nhưng lúc nhỏ sống ở làng Minh Hương, tổng
Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế [2]. Ông lớn lên tại Huế.
Lúc nhỏ ông học theo học các trường Lyceè Francais và Provindence ở Huế, sau
vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lyceé Jean Jacques Rousseau Sài Gòn
và tốt nghiệp tú tài tại đây.
Ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi.
Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt mi, do nhà xuất bản An
Phú in năm 1959. Từ đó tên tuổi của ông được nhiều người biết đến. Trong những
năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt
là Khánh Ly. Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản-chiến, nhà
cầm quyền Việt Nam Cộng hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông. Mặt trận Dân
tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, vốn đối lập, cũng không tán thành việc ông gọi
Chiến tranh Việt Nam là "nội chiến" trong bài Gia tài của mẹ[,
vì quan điểm của họ cho rằng đây là cuộc chiến tranh chống xâm lược và thống nhất
đất nước.
Năm 1961 vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ quân sự (trốn lính)
nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Qui
Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại 1 trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng. Một
số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như Diễm
Xưa (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), Ca dao
Mẹ, Ngủ đi con.
Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên Đài phát thanh Sài
Gòn hát bài Nối vòng tay lớn, bài hát nói về ước mơ hòa hợp dân tộc hai miền
Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968.
Cũng chính ông là người trưa ngày 30/4 đã đứng lên phát biểu
trực tiếp trên đài phát thanh Sài Gòn sau lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn
Minh.
“
Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta... Ngày mà chúng
ta giải phóng hoàn toàn đất nước... Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là
độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được...
”
Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di tản
sang Mỹ và ông đã phải sống 4 năm trong trại cải tạo. Nhưng cũng có những nguồn
tin theo tác giả Bùi Đức Lạc thì Trịnh Công Sơn chỉ đi kinh tế mới vài năm chứ
không hề có cải tạo hay ông đi học tập 2 năm ở Cồn Tiên. Một thời gian dài
sau 1975, nhạc của ông bị cấm đoán ở tại Việt Nam hay bị một ít người ngấm ngầm
tẩy chay ở hải ngoại.
Những năm sau 1975, sau thời gian tập trung lao động, ông làm
việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ đầu thập
niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, một số sáng tác ông gởi qua cho
Khánh Ly và chỉ phát hành tại hải ngoại, khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc
trong nước, ông có viết một số bài có nội dung ca ngợi những chủ trương của chế
độ mới như Thành phố mùa xuân, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền
thoại Mẹ... Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp
tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.
Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ
vai chính trong phim Đất khổ . Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được
chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt
Nam với lý do “có tính phản chiến”. Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu
tại Việt Nam. Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân. Bộ phim
được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996.
Ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường. Ông mất tại Thành phố Hồ
Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12h45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng
3 năm Tân Tỵ). Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.
Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết
hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận con.
Sự nghiệp sáng tác
Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc[,
những tác phẩm có ca từ độc đáo, mang hơi hướng triết. Tuy nhiên, còn một đánh
giá khá phổ biến cho rằng phần nhạc của nhạc Trịnh Công Sơn quá đơn điệu. Đánh
giá này trùng khớp với lời lý giải của ông về sự sáng tác của mình: "Tôi
chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về
những giấc mơ đời hư ảo...". Hai mảng đề tài lớn nhất trong âm nhạc
Trịnh Công Sơn là tình yêu và thân phận con người.
Nhạc tình
Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công
Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm. Khả năng viết nhạc
tình của Trịnh Công Sơn tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời
đại: từ 1958 với Ướt mi đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 vẫn có những
bản tình ca thấm thía: Như một lời chia tay, Xin trả nợ người...
Nhạc tình của ông đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng
buồn chán, cô đơn như trong Sương đêm, Ướt mi, những khúc tình ngầm mang sầu
ly biệt như Diễm xưa, Biển nhớ, hay tiếc nuối một cái gì đã qua: Tình
xa, Tình sầu, Tình nhớ, Em còn nhớ hay em đã quên, Hoa vàng mấy độ... Ngoài ra
còn những bài triết lý tình, mang một bóng dáng ngậm ngùi, lặng lẽ của người
tình từng trải: Cỏ xót xa đưa, Gọi tên bốn mùa, Mưa hồng...
Những bài hát này có giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường được
viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời được
đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài trông mộc mạc nhưng rất thâm trầm sâu sắc,
đôi khi mang những yếu tố tượng trưng, siêu thực.
Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam, nhạc
sĩ Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là "người Việt viết tình ca hay nhất
thế kỷ".
Nhạc về thân phận con người
Trịnh Công Sơn từng nói từ khi còn trẻ ông đã luôn ám ảnh bởi
cái chết nên âm nhạc của ông mang trong đó một sự mất mát của những số phận con
người. Ông cũng ảnh hưởng bởi Phật giáo của phương Đông và chủ nghĩa siêu thực
của phương Tây, nhạc Trịnh Công Sơn thấm đượm màu sắc hiện sinh của các tác giả
văn học phương Tây thập niên 60 như Jean Paul Sartre, Albert Camus,... Tiêu biểu
là các ca khúc Cát bụi, Đêm thấy ta là thác đổ, Chiếc lá thu phai, Một cõi
đi về, Phôi pha,.... Trong đó nhiều bài mang hơi hướng thiền như Một cõi
đi về, Giọt nước cành sen.
Nhạc phản chiến
Tên tuổi của Trịnh Công Sơn còn gắn liền với một loại nhạc
mang tính chất chống lại chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà người ta thường gọi
là nhạc phản chiến, hay còn gọi là Ca khúc da vàng theo tên các
tập nhạc của ông phát hành cuối thập niên 60. Những ca khúc da vàng thường nói
lên thân phận của những người dân một nước nhỏ (nhược tiểu) bị lôi kéo vào chiến
tranh và nằm trong vòng toan tính, giành giựt ảnh hưởng của những nước lớn (thường
là khác màu da).
Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc này
vào khoảng năm 1965- 1966. Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công
Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh
Công Sơn lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm
sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn
hành được hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trời và Phụ
khúc da vàng. Những tập ca khúc vừa kể đều được phát hành hợp pháp tại miền Nam
thời trước 1975. Chính vì thế các ca khúc phản chiến của ông được phổ biến khá
rộng rãi, có ảnh hưởng lớn đến công chúng nhất là giới trí thức, học sinh -
sinh viên miền Nam thời đó. Trong các băng nhạc Hát Cho Quê hương Việt Nam của
Khánh Ly, những ca khúc phản chiến được bố trí khéo léo đan xen với các ca khúc
trữ tình.
Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn phần lớn viết bằng điệu
Blues, cộng với lời ca chân tình thống thiết, trở nên những bài hát rất cảm động
nhưng không hề yếu đuối, bỉ mị. Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem
đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt
tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra
thế giới: nhờ nhạc phản chiến ông được một Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại
Nhật và có tên trong tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của
Pháp.
Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn được cho là có vai trò không
nhỏ trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam. Cũng vì loại nhạc này mà ông
đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh Công Sơn,
không thể phủ nhận rằng ông đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc
này.
Cho đến nay, sau hơn 30 năm hòa bình, rất nhiều bài hát
"da vàng" của ông chưa được phép lưu hành chính thức tại Việt Nam hiện
nay dù đã từng rất phổ biến (và được Khánh Ly phát hành băng nhạc) tại miền Nam
trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài Gia tài của mẹ, Huế - Sài
Gòn - Hà Nội, Cho một người vừa nằm xuống, Đi tìm quê hương, Chính
chúng ta phải nói hòa bình, Chưa mất niềm tin, Chờ nhìn quê hương
sáng chói, Hát trên những xác người, Ta đi dựng cờ, Ta quyết phải sống)
Nhạc khác
Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn
còn để lại những tác phẩm viết về quê hương: Chiều trên quê hương tôi, Huế
- Sài Gòn - Hà Nội hoặc viết cho trẻ em (trong tập nhạc Cho Con) như Em
là hoa hồng nhỏ, Mẹ đi vắng, "Em đến cùng mùa xuân", "Tiếng
ve gọi hè", "Tuổi đời mênh mông", "Mùa hè đến",
"Tết suối hồng", "Khăn quàng thắp sáng bình minh",
"Như hòn bi xanh", "Đời sống không già vì có chúng em".
Từ đầu thập niên 1980, khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc
trong nước, ông có viết một số bài có nội dung ca ngợi những chủ trương
"thanh niên tình nguyện" của chế độ mới như Em ở nông trường em
ra biên giới, Huyền thoại Mẹ, những ca khúc này (cùng với những ca khúc phản
chiến và nhạc thiếu nhi) không được ông chọn và đưa vào tập nhạc Những bài
ca không năm tháng, do ông biên tập và được phát hành năm 1998, đây là tập nhạc
đồ sộ nhất của ông, với 122 ca khúc .
Thơ
Ông làm thơ ít trong những lúc ngẫu hứng, hiện nay còn lưu giữ
lại 1 số bài thơ tự sáng tác, và các bản dịch phỏng như trong tập Hán tự
hài cú của Ngô Văn Tao.
Hội họa
Bên cạnh âm nhạc, Trịnh Công Sơn để lại khá nhiều tác phẩm hội
họa, bút tích. Các tác phẩm hội họa của ông đã được triển lãm tại Nhà Hữu Nghị
Tiệp Khắc - Việt Nam, từ 14.01.1989 đến 24.01.1989 cùng với 2 họa sĩ Đinh Cường
và Đỗ Quang Em, triển lãm tại nhà khách Ritz, và Trang viện Con Nai Vàng, Thủ Đức,
từ 15.12.1990 đến 20.01.1991 cùng với 2 họa sĩ Trịnh Cung và Đỗ Quang Em.
Một số trong đó hiện còn được lưu giữ và trưng bày tại Hội Ngộ
Quán.
Phát ngôn
Ông để lại khá nhiều bút tích ghi chép về suy tưởng từ cuộc đời.
“
Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân phận
thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu
để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận trên cây thập giá đời.
”
“
Khi bạn hát một bản tình ca là bạn đang muốn hát về cuộc
tình của mình. Hãy hát đi đừng e ngại. Dù hạnh phúc hay dở dang thì cuộc tình
ấy cũng là một phần máu thịt của bạn rồi.
”
Vinh dự
Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài
"Ngủ đi con" (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh
Ly. Năm 1979, hãng đĩa Nippon Columbia mời Khánh Ly thu băng lần thứ hai các nhạc
phẩm của ông, cũng vào năm này ca khúc "Ngủ đi con" trở thành 1 hit ở
Nhật Bản.
Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim "Tội lỗi cuối
cùng"
Giải Nhất của cuộc thi "Những bài hát hay nhất sau 10
năm chiến tranh" với bài "Em ở nông trường, em ra biên giới"
Giải Nhất cuộc thi "Hai mươi năm sau" với bài
"Hai mươi mùa nắng lạ"
Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi
bài hát: "Xin trả nợ người", "Sóng về đâu", "Em đi bỏ
lại con đường", "Ta đã thấy gì hôm nay"
Năm 2004, Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới được trao cho
ông vì "lý tưởng hòa bình mà ông đã đấu tranh không mệt mỏi cho nhân loại".
Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp Les
Million.
Trong cuộc họp chiều 17 tháng 3 năm 2011, Hội đồng nhân dân tỉnh
Thừa Thiên - Huế đã chính thức thông qua việc đặt tên của cố nhạc sĩ Trịnh Công
Sơn cho con đường dài 600 mét, rộng 11 mét lát nhựa mới mở ven sông Hương thuộc
phường Phú Cát, thành phố Huế.
Ca sĩ thể hiện
Tên tuổi gắn nhiều nhất với những bài hát nhạc Trịnh Công Sơn
là Khánh Ly, Khánh Ly đã thể hiện hầu hết những ca khúc của Trịnh Công Sơn và
được cho là thành công nhất. Nhưng Khánh Ly không phải người đầu tiên hát nhạc
này, trước đó đã có Thanh Thúy, Hà Thanh giới thiệu những sáng tác đầu tay của
Trịnh Công Sơn ra công chúng.
Ngoài ra, một số ca sĩ hát nhạc Trịnh Công Sơn theo phong
cách khác Khánh Ly và cũng được đánh giá cao như Lệ Thu, Thái Thanh, Lan Ngọc.
Giọng nam thì có Tuấn Ngọc, Quang Dũng. Tuấn Ngọc được Trịnh Công Sơn đánh giá
rất cao khi hát nhạc của ông.
Ở Việt Nam sau 1975 cũng có những người hát nhạc Trịnh Công
Sơn như Hồng Nhung, Trịnh Vĩnh Trinh theo phong cách mới và cũng được một số lớp
khán giả đón nhận.
Cũng nên kể đến những ca sĩ trẻ muốn dấn thân vào hát nhạc Trịnh Công Sơn bằng
phong cách "mới" và "lạ", để rồi hầu hết đều nhận lấy thất
bại, tiêu biểu là Thanh Lam, Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng sau khi trình bày các ca
khúc đã gặp phải sự phản đối của dư luận.
Bản thân nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng đã tự mình thể hiện một
số ca khúc của mình và được đánh giá là thành công.
Hiện nay, bản quyền các tác phẩm của ông thuộc quyền thừa kế
và sở hữu bởi Trịnh Vĩnh Trinh (em gái ông, sống tại Việt Nam) và Trịnh Xuân Tịnh
(anh trai ông, sống tại Mỹ), mỗi người giữ một nửa quyền sở hữu với các tác phẩm
của Trịnh Công Sơn.
Đời sống tình cảm
Trịnh Công Sơn không có vợ, nhưng ông có những mối tình đẹp
và lãng mạn với những phụ nữ nổi tiếng không những ở Việt Nam mà ở cả ngoại quốc.
Mối tình đầu, thực chất chỉ là một tình bạn đẹp của ông là với ca sĩ Khánh Ly, rồi
sau đó với một cô gái Nhật Bản làm luận án tiến sĩ về âm nhạc Trịnh Công Sơn,
Dao Ánh, mối tình thứ tư của ông là với ca sĩ Hồng Nhung, và mối tình thứ năm của
ông là với VA..., khi ông mất VA là một trong số các người thân ở bên cạnh ông.
Sau 1975, đã có hai lần ông định lập gia đình. Lần đầu vào
năm 1983, với một thiếu phụ tên là C.N.N., sinh năm 1944. Từ quận 18, Paris, bà
C.N.N
Những năm cuối cùng của cuộc đời, niềm say mê lớn nhất, TCS gần
như dành hết cho ca sĩ Hồng Nhung mà theo ông là "Một người quá gần
gũi không biết phải gọi là ai!"... Với Hồng Nhung, tâm hồn Trịnh gần như
trẻ lại, khiến bước chân ông trở nên bối rối, ngập ngừng với buổi hẹn ban đầu.
Ca sĩ Hồng Nhung kể lại tình cảm của cô dành cho Trịnh Công Sơn và của Trịnh
dành cho cô lần đầu gặp mặt: "Lần đầu tiên đứng trước nhau, cả tôi và
anh Sơn đều run. Tôi run vì quá trẻ và Sơn run vì anh quá... già!"
Hoàng Anh, một người được cho là người yêu của Trịnh Công Sơn
nói về tình yêu đối với ông: "Hiện tôi vẫn để ảnh tưởng nhớ Trịnh
Công Sơn trong phòng ngủ, nhưng chồng tôi không bao giờ thắc mắc, mà luôn tôn
trọng thế giới riêng của tôi"'.
Tình yêu của Trịnh Công Sơn dành cho nhiều phụ nữ trẻ, đẹp và
nổi tiếng, họ yêu ông say đắm, khi ông mất có người còn xin gia đình cho được để
tang ông, nhưng ông không sống khăng khít với một phụ nữ nào. Tài năng của ông
luôn liên tục thăng hoa, ngoài âm nhạc ông còn đóng phim, hội họa. Nhưng ông
nhìn nhận cuộc đời và giành tình cảm cho đời một cách rất giản đơn với không hề
tham vọng, ông nói một cách thản nhiên về cuộc đời: Cái chết chẳng qua
cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của cuộc sống.
Nhận xét
“
Lời ca trong ca khúc Trịnh Công Sơn đã tạo nên tên tuổi Trịnh
Công Sơn
”
- Bửu Ý
“
Tình yêu trong nhạc của anh là những cảm xúc dữ dội
như trái phá con tim mù lòa, như nỗi chết cơn đau thật dài, như vết
thương mở rộng... Cuộc đời là hư vô chủ nghĩa, con người sống trong cảnh
Chúa, Phật bỏ loài người. Cuộc đời còn là đám đông nhưng cũng là quán không.
Con người là cát bụi mệt nhoài, bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một
chiều tóc trắng như vôi... Tất cả nói lên sự muộn phiền, đau đớn...
”
- Phạm Duy
“
Tôi gọi Trịnh Công Sơn là người của thơ ca (Chantre) bởi ở
Sơn, nhạc và thơ quyện vào nhau đến độ khó phân định cái nào là chính, cái
nào là phụ... Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc theo cấu
trúc bác học phương Tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó
trào ra
”
- Văn Cao
“
..., tình ca Trịnh Công Sơn không hẳn chỉ là 1 bông hồng
dâng tặng- nó chứa đựng tất cả tâm trạng lo âu của con người nhìn ra thế giới
hiện đại
”
- Hoàng Phủ Ngọc Tường
Đóng góp cho điện ảnh
Diễn viên: phim "Đất khổ", phim năm 1974
Viết nhạc và bài hát cho phim:
Cánh đồng hoang 1979
Nhạc và bài hát được sử dụng trong phim
Tội lỗi cuối cùng, phim chiếu năm 1980 của đạo diễn Trần
Phương, cố nghệ sĩ Phương Thanh đóng vai Hiền cá sấu: bài "Đời gọi em biết
bao lần"
Cho cả ngày mai, phim năm 1981 của đạo diễn Long Vân: bài
"Em là bông hồng nhỏ"
Bãi biển đời người, phim 1983 của đạo diễn Hải Ninh: bài
"Quê hương"
Cho đến bao giờ, phim 1985 của đạo diễn Huy Thành
Cầu Rạch Chiếc, phim 1986 của đạo diễn Hoàng Lê
Cô gái trên sông, phim năm 1987 của đạo diễn Đặng Nhật Minh
Mùa hè chiều thẳng đứng, phim năm 2000: "Cuối cùng
cho một tình yêu", "Nắng thủy tinh", "Rừng xưa đã
khép"
Áo lụa Hà Đông năm 2006 của hàng phim Phước Sang: "Bài
ca dành cho những xác người"
Công chúa teen và ngũ hổ tướng năm 2010 (bài "Để
gió cuốn đi")
Phim về Trịnh Công Sơn:
Trịnh Công Sơn - sống và yêu của đạo diễn Lê Dân (Lê Hữu Phước)
Em còn nhớ hay em đã quên: đạo diễn Nguyễn Hữu Phần và Phi Tiến
Sơn, với sự tham gia của cố diễn viên Lê Công Tuấn Anh vai Quang Sơn (Trịnh
Công Sơn thời trẻ), Hoàng Hồng Nhị vai Huyền My (hình ảnh ca sĩ Khánh Ly), Nguyễn
Huỳnh vai chồng Huyền My (hình ảnh Nguyễn Hoàng Đoan, chồng ca sĩ Khánh Ly) và
Trương Ngọc Ánh vai Diễm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét