Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

Tổng luận sáu mươi năm văn nghệ Việt Nam 1900 - 1956

Tổng luận sáu mươi năm
văn nghệ Việt Nam 1900 - 1956

KỲ I
Ba mươi năm văn nghệ trở lại đây, tình hình văn nghệ chúng ta xoay trở một độ tiến bộ không ngờ. Từ những nhà tây học của nhóm Tự lực văn đòan, như Nhất Linh, Khái Hưng, Hòang Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… chịu ảnh hưởng tây học, nói chung; xu hướng văn nghệ lãng mạn, nói riêng – đem âm hưởng từ sự chịu ảnh hưởng đó xây dựng tiểu thuyết mới, thơ mới- thích hợp với thanh niên nam, nữ tân học.Và nếu Tú Xương, Nguyễn Khuyến còn sống tới năm 1930, sẽ cho Tự lực văn đòan là bọn đầu hàng; vì những nhà văn cổ điển của ta sống dưới chế độ phong kiến thư lại, nhất định không chịu ra đầu hàng ngòi bút sắt. Một Tú Xương, Nguyễn Khuyến… đem ẩn ức ấy phơi bầy trong tư tưởng diễn đạt, thể hiện rõ rệt trên thơ, văn. Sự thành cônglớn nhất của thi hào Việt Nam, như Nguyễn Du, sĩ phu trí thức chịu ảnh hưởng Lê Triều, lánh mặt Nguyễn Huệ, về Quỳnh Côi ( Thái Bình) làm ẩn sĩ. Và chính Nguyễn Du đã từng vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh (cũng là công thần nhà Lê) nên bị bắt đi lưu trí ở Nghệ An. Ẩn ức ấy đã là mầm mống phát khởi để sau này dựng Đọan Trường Tân Thanh lưu danh muôn thuở trong nền văn chương chúng ta; thì Nguyễn Khuyến, Tú Xương cũng đứng vào trường hợp ấy. Tú Xương xuất thân trong hoàn cảnh gia đình điêu đứng, va chạm liên tục trong trường ốc, bao nhiêu lần đi lại bấy nhiêu lần về không:
Mai không tên tớ, tới đi ngay
Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày…
Hai nhà thơ châm biếm thời thế sâu cay như Nguyễn Khuyến, Tú Xương; mặc dầu Tam nguyên Yên Đỗ đi trước, để rồi nhắn lại với Tú Xương : Kế dư chi hậu kỳ Xương hồ ( Kẻ nối chí ta có lẽ chỉ có Tú Xương). Nhưng không phải vậy mà thơ Tú Xương chịu ảnh hưởng từ Nguyễn Khuyến; trai lại, thơ ông có hương vị riêng, chẳng hạn cũng châm biếm thí châm biếm cười ra nước mắt, não lòng, thấm thía hơn cả Nguyễn Khuyến. Thơ đượm ẩn ức sâu cay, điều đó hẳn chúng ta không lạ. Vì cuộc sống của hai nhà thơ khác hẳn nhau, cả tài năng cũng không giống nhau. Cuộc sống đời thường Tú Xương khổ gấp nhiều lần hơn so với Nguyễn Khuyến. Và Tú Xương đã sống trọn vẹn với cảm giác, rối bộc bạch rung cảm chân tình bằng xúc cảm nhục hờn, đầu máu, nước mắt. Cứ chỉ ra một điều về thi cử, đã bao nhiêu lần đi là bấy nhiêu lần về không, bài phú Hỏng Thi đến gia đình lụn bại, vì không có sinh kế của người chèo chống lá Tú Xương, bởi ông đã từ chối chế độ mới:
Nào có ra gí cái chữ nho
Ông Nghè ông Cống cũng nằm co
Phen này ông quyết làm Thông phán
Sáng rượu xâm banh, tối sữa bò…
Những vần thơ ấy mói chỉ bộc lộ khiêm nhường, tế nhị để mạt sát bọn trây thuộc lần thứ nhất đến nước ta. Tú Xương chán ghét thù hận:
... Dứt cái mề đay quẳng xuống sông
Thôi thôi cũng mét xì ông
Sau này người nối chí Tú Xương, là nhà thơ gần nhất của chúng ta, là Tản Đà, ông đã than thân tráchphận trong bài Người bán than. Phải chăng thi sĩ bán lời than của một người dân bị mất độc lập, tự do; hơn là đem bán gánh than đang quẩy ở chợ đời:
Người phải biết tự do là thú
Mất tự còn có ra chi
Canh tàn thôi liệu ngủ đi
Ngủ cho đẫy giấc mai thì bán than
Ước muốn của anh chàng bán than là sống thanh nhàn, tự do, hẳn sung sướng vế mặt tnh thần nhiều hơn bọn luồn cúi:
… Đã có kẻ khom lưng luồn cúi
Lấm đầu lươn luồn lụy vào ra
Chồng chồng vợ vợ vinh hoa
Mà trong vinh hiển xót sa đã nhiều
Cảnh đem vợ đẹp hiến cho quan thầy, Tản Đà không bỏ sót bất cứ hình tượng bỉ ổi nào mà không lên án. Thời ký ấy, Pháp đang cai trị, bảo hộ dân An Nam; thì thi sĩ núi Tản, sông Đà đã ghi lại cho người đương thời, cả người đời sau nhìn thấy cảnh mua quan, bán tước, được nhìn thấy qua hình tượng sống , qua bài văn, câ u thơ chống đối- nên ở đây phải ghi nhận Tản Đà là một trong những kẻ đi tiên phong của Tự Do. Nhìn vào lịch sử văn chương Trung Hoa, một Khuất Nguyên bất mãn để dệt thành Ly Tao, hoặc một sử gia khác , đã viết một Sử Ký Tư Mã Thiên. Nhìn rộng ra nữa, một Cervantès, một Dostoievski, bất mãn trong thân phận kẻ đau khổ vì có tri thứ , cũng như kẻ tù đầy ( bagnard) - để rồi một Don Quichotte còn, và một Souvenirs de la maison des morts tồn tại (tạm dịch: Hồi ức về căn nhà cuả những người đã chết ; dầu dọc rất khó hiểu, nhưng chỉ vì tư tưởng cao sâu cần phải suy nghĩ- chỉ dành cho những ai có tâm sự chán thế thái nhân tình mới dễ cảm thông. Loại truyện tư tưởng này không phải chỉ có tình tiết éo le , bố cục ly kỳ như tiểu thuyết tầm thường- phần hồn trong truyện của Dostoievski nặng về phần xây dựng và lồng hình tượng con người điển hình cho một mẫu người trong một giai đoạn lịch sử. Dostoievski có mặt chưa tới một thế kỷ -thi đã ảnh hưởng đến các nhà văn thế giới - nhất là tác phẩm: L’Idiot, Les Frères Karamazov, Crime et Châtiment (Thằng Ngốc, Anh em Nhà Karamazov, Tội ác và Hình phạt). Một André Gide đã từng nghiêng mình kính cẩn, tự nhận hậu sinh chịu ảnh hưỡng mãnh liệt từ Dos. Cuốn sách viết về Dostoievski dầy bốn trăm trang phân tích cái hay, cái bất tử trong văn chương Dos- cuộc đời đến văn phẩm. Sau này, tư tưởng văn hào Nga đã khiến chủ nghĩa văn hoá Mác xít không dám lên án công khai, cũng không dám phổ biến tư tưởng một cách công khai.Lẽ, lo sợ chủ nghĩa văn hoá mác xít bị phân hoá, nghĩa là các tông đồ đọc rồi chịu ảnh hưởng sinh ra hoang mang, chán chường. Sự chán chường về con người , (cá nhân) nhất là thiên tài cần phải được tự do phát triển tư tưởng, không thể gông cùm theo mệnh lệnh từ đoàn thể đặt ra, hoặc bị bóp nghẹt bởi quốc gia cực quyền. Nói rõ hơn, nhân vật của Dos, chủ trương tác đoàn thể, vì con người có tài có thể tạo ra được một đoàn thể, tạo được một chủ nghĩa, như Hegel, Marx, Sartre… chẳng hạn.
Chịu ảnh hưởng tư tưởng văn nghệ - hình động lực ghê gớm nhất một khi đạt tới đỉnh. Một sức mạnh từ nhà phê bình văn học tài ba cỡ Biélinsky, Saint Beuve hoặc nhà văn tư tưởng như Dos, hoặc văn chính luận LéonTrostky, J.J. Rousseau.. có thể xoay chuyển được một tình thế mới. Chúng tôi nhó đến Dos và vợ là Anna Grigorievna ( hay Dostoievskaia ) khi đến Renovskoe- Rasotimsve thăm em nàng là Ivan Grigorievitch sinh viên đang theo học ở Vonia; thì một số rất đông sinh viên chỉ vì mến tài Dos. bu quanh được nhìn thấy văn hào ( tất nhiên cũng có một số sinh viên chống đối Dos.) . Lý do của anh em này cho rằng Dos để nhân vật Rakolnikoff trong truyện Crime et Châtiment, như một nhân vật anh hùng- mà lại được mô tả có đoạn đời sống thối tha, trụy lạc- như vậy có tính cách vu khoát cả một thế hệ sinh viên đương thời.
Tôi nhấn mạnh câu chuyện kể lại trên đây, có ý nói đến phản ứng văn nghệ có tác động phản hồi ghê gớm đến vậy! Ở nước ta, một Vũ Trọng Phụng với Giông tố, Số Đỏ… trình bầy một xã hội chết ( có chủ quan đãi lọc) dưới chế độ nô lệ, bảo hộ của Pháp, thì điều này đã từng giúp cho một nhà cách mệnh Việt Nam ở ngoại quốc có thể hiểu thấu đáo sinh hoạt xảy ra trong nước. Đó là Tạ Thu Thâu với truyện Vũ Trọng Phụng minh chứng cho trường hợp này. Văn nghệ rút từ bối cảnh xã hội và xã hội liên hệ đến tác phẩm cùng với tác dụng phản hồi từ văn phẩm đối với cải cách xã hội như thế nào? Chúng tôi đã đặt câu hỏi và đã trả lời bằng câu giải đáp trên đây. Những trang văn chương bất tử Vũ Trọng Phụng còn được nhắc nhở nhiều lần hơn, hẳn không phải là sự ngẫu nhiên mà đạt được vậy. Cuộc đời Vũ Trọng Phụng vào lúc hấp hối, ông còn than không được ăn một miếngbí tết- thì lẽ đương nhiên vì nhà văn này chọn phận (accepter son lot) : viết độc lập kể cả làm chủ đời sống tinh thần, vật chất, coi sự nghiệp văn chương làm cứu ánh, chịu sống cuộc đời thường nhậ tkham khổ. Sống vật vã, qua đời thì bất tử ở đường văn chương, nào có khác gì câu nói cuả văn hào Gogol tên tôi sau này sung sướng hon tôi bây giờ. Vũ Trọng Phụng viết báo, làm văn sống qua ngày, nhưng nhất định không bỏ nghề văn, tự biết nghề văn không thể nuôi sống bản thân, gia đình- thì đó là tình trạng chung cuả văn nghệ hôm nay cũng chưa khác hơn.
Tác giả Giông tố từng làm thư ký cho hãng Godard, đến nỗi vưà đi làm vừa viết, nên bị đuổi việc. Đó là nói thời kỳ Vũ Trọng Phụng viết Đời cạo giấy nói vể cuộc đời nhà cách mạng Việt Nam Quốc Dân Đảng, Ký Con (Đoàn Trần Nghiệp). Thì có khác gì sự viết độc lập của Stendhal thích sống lang thang, làm chủ thời gian, cuộc sống; lại chẳng màng làm quan vệ thần Bonaparte, cũng như cuộc đời của Dostoievski chống chế độ Nga Hoàng nên bỏ làm sĩ quan nhà nghề (một sĩ quan chỉ huy lăng mạ vô cớ) . Nên Dos. không thể đầu hàng vua chúa, kết cuộc bị lưu đầy, sống những ngày mật đắng nhất, để sau này có tác phẩm Souvenirs de la maison des morts. ( Hồi ức về căn nhà của những người đã chết) . Đến những trang tình sử cuả Dos. trải qua nhiều giây phút dằn vặt nhất, ông tâm sụ với vợ, Anna Grigorievna :
”… Em ạ, sau này anh sẽ có rất nhiều tiền, nhiều nhiều lắm. Thật đấy mà, em cứ tin đi!...”
Ông cũng có lòng tin như Stendhal biết mình có tài, tuyên bố dõng dạc : Je serais compris vers 1960, một trăm năm sau mới có kẻ hiểu được ông. Hoạ sĩ tài danh Van Gogh biết sử dụng tài năng hiệu quả, trước khi tự tử còn vẽ xong Le Champ aux blés ( tạm dịch: Cánh đồng luá mì ) và nợ chủ quán 33 ly cà phê đen chưa trả. Nguyễn Du bị lên án với Đoạn trường tân thanh , qua bọn nho sĩ cùng thời đố kỵ: Phan Lập Trai, Thập Thành Thi - âm thầm tự bạch Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như ( ba trăm năm sau liệu ai còn nhớ Tố Như?) Và triết gia Nietzsche cuối đời còn bị phê phán, bực rọc không biết than thở cùng ai, viết Ecce Homo tự giải thích tại sao tài giỏi, khôn ngoan, viết được sách hay đến vậy! –( theo Stephan Zweig ) - bởi người đời đối xử bạc bẽo, độc ác chê trách, ruồng rẫy , thì tác giả Ecco Homo tự khen mình đấy thôi. Hoặc Sigmund Freud vào ngày kỷ niệm thượng thọ, chẳng mống bạn bè thăm hỏi; vì sinh thời bị đời phủ nhận tài năng; qua đời rồi bao nhiêu là sách viết về, bao hội nghiên cứu nghiên cứu nghiên cứu mổ xẻ thuyết phân tâm học . Các danh nhân lúc sinh thời bị đối xử bạc bẽo, vì thói đời bon chen, ghen tị, chỉ nhìn thấy lợi nhỏ vun quén bản thân, không thể nhìn xa đánh giá trị tài năng người khác. Có một nhà văn nổi tiếng từng nhận định về tình hình văn học quốc tế ( tôi quên tên, có lẽ Pierre Brodin) cho rằng ,trước thế chiến hai thì đa số các nhà văn quốc tế chịu ảnh hưởng hai trào lưu –không chịu ảnh hưởng Dostoievski cũng là Sigmund Freud hoặc Friedrich Nietzsche.
Trở lại với niềm tin của Dos., thì chính ông cũng tự biết tài năng của ông rồi ra cũng được thẩm định đúng địa vị mà thôi. Và đương thời, ông còn một bạn văn rất tốt là Nekrassoff (mẹ gốc Ba Lan) đã in tác phẩm Dos. đưa lên đài danh vọng . Và thêm nhà phê bình đại tài V. Biélinsky tiếp đãi Dos. trong phòng khách niềm nở; khi Dos. đã nổi danh vẫn không quên công lao ban đầu họ đối đãi đối với nhà văn ở giai đoạn tập sự. Trong cuốn Nhật ký một nhà văn (qua bản tiếng Pháp Journal d’un écrivain. ) Dos. còn bà vợ hai đảm đang Anna Grigorievna, bên cạnh bạn bè văn chương chí tình , có Nekrassoff, Biélinsky – nào khác gì triết gia Karl Marx ,vợ Jenny Westphalen, và người giúp việc hết lòng , Lenchen. Những ân nhân ấy giúp đỡ danh nhân lúc sinh thời chưa mấy ai biết đến, không bao giờ tính toán hơn, thiệt giúp tác giả viết sách- thử nghĩ xem thời đoạn đó thật mơ hồ, nào ai biết được sau này trở thành triết gia, nhà tư tưởng tài ba lỗi lạc đâu? Cho nên, nói như Nguyễn Du, quả là chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài . Căn bản luận lý Marx là tương quan sinh sản rồi mới đến tương quan kinh tế xã hội; nhìn vào đời riêng tư cuả Marx- vợ và các bạn tốt giúp có đặt vấn đề tương quan sinh sản đâu ? Sự chịu đựng ghê gớm của Marx không nhận làm bộ trưởng giáo dục khi anh vợ mời ; nào có khác gì sự bỏ việc làm thư ký hãng Godard cuả Vũ Trọng Phụng, hoặc bỏ nghề làm sĩ quan của Dostoievski, hoặc Stendhal.. để lao đầu vào việc viết tác phẩm mà họ ôm ấp canh tân xã hội mai sau. Như Jenny, như Anna, có bao giờ họ nghĩ chồng sẽ thành công trong mai hậu, mà ban đầu giúp đỡ chi vì tấm lòng.
Giông tố, Số đỏ… tác phẩm nổi tiếng để đời của Vũ Trọng Phụng góp mặt trên văn đàn, đo là một đóng góp công lớn trong cuộc chống Pháp- đó là lòng tin tài năng bản thân sẽ được sáng toả mai sau , tự biết cuộc sống thường nhật kham khổ chịu đựng có mục đích , không uổng công. Có thể định giá Vũ Trọng Phụng như Dostoievski, qua con mắt chính trị gia tư tưởng xuất chúng Léon Trotsky:
“… Dostoievski là một trong những nhà văn có tư tưởng xã hội, không tham gia chính thức vào cuộc thực hành cải tổ xã hội; nói khác đi vẫn tham gia trực tiếp trong cuộc cách mạng giải phóng xã hội. Bởi lẽ, những nhà văn tư tưởng ấy đã đứng về phía những kẻ bị thống trị để nói lên ý nghĩ khắc khoải, dằn vặt cuả người dân sống khổ sở thật gay gắt- nên gọi đó là’ họ có tư tưởng thúc đẩy gián tiếp” ( pensée épileptique) ( trong Hồi ký , bản dịch tiếng Pháp cuả Victor Serge) .
Làm văn nghệ độc lập chuyên nghiệp như làm cách mạng, nhiều khi cần phải biết rằng tại sao làm? Tại sao chọn nghiệp đó? Có thế mới không nhầm lẫn phương tiện và cứu cánh , không bán rẻ cứu cánh cho phương tiện nhất thời . Sứ mệnh văn nghệ như sự nghiệp cách mạng , thoạt kỳ thủy đã mang tính chất bạc bẽo- anh phát huy được cái hay, cái đẹp là lẽ tất nhiên- còn cái dở thì lại không được quyền có.
Nhìn vào lịch sử La Mã bắt gặp chuyện tướng Scipion giúp dân duổi quân xâm lược Annibal - nhưng chính vị tướng ấy lại không được thừa nhận là người công đầu- còn bị lên án gay gắt, bị cướp công, không được ngồi trên ghế chính quyền. Và kết cục, Scipion đã phải lưu lạc ở nước ngoài, chết mòn mỏi, phút lâm chung than thân, trách phận : Ingrate patrie, tu n’auras pas mes os ( tạm dịch: "Tổ quôc bạc bẽo ơi, mi không có nắm xương cuả ta đâu ! ”)
Hay tướng De Gaulle với cuộc kháng chiến Pháp, thành công đâu có được ngồi lâu trên ghế trị vì quảng bá chủ trương gaullisme ? Bởi lẽ, lịch sử nước Pháp vẫ n cần kẻ thích ứng với đà tiến triển , không thể vì từng có công cứu nước, thì được quyền ngồì lì trên ghế chính quyền. Tôi thường suy luận - làm cách mệnh như làm văn nghệ - hai nghề dễ nhất, ai cũng có thể đảm đương được- trước hết không phải theo học một trường được cấp chứng nhận, không cần tốt nghiệp trong khóa học nào- nhưng phải trải qua cầu đoạn trường lớn nhất: vượt mình, vượt lên hiện tại, thể hiện đường lối, sự nghiệp - chỉ dành cho lịch sử mai hậu đánh giá.
Thì một Hoàng Cao Khải, Hoàng Trọng Phu- bây giờ ít ai nhắc đến mà không ít nhiều chê trách! Hoàng Cao Khải cùng thời Phan Bội Châu , cũng có công với văn hoá ( tác giả Việt sử yếu và một số vở tuồng)- khốn nỗi công ít, tội nhiều , làm sao à đánh đồn giá trị cân bằng cho được!
Một Phạm Quỳnh công đầu cuả giai đoạn nền móng xây dựng văn hoá quốc gia, trải qua đời niên thiếu khó khăn , trình độ học hành Thành chung ( Brevet 1er cycle) , viết tiếng Pháp trôi chảy. dọc diễn văn lưu loát; công nào ai hơn ông Quỳnh ông Vĩnh ?
Nhưng khi làm chính trị, con người văn hoá bước sang thể hiện đường lối xưa phơi bầy trên trang giấy, nay thành động biến cải; thì than ôi – Phạm Quỳnh đã làm tay sai cho phe thống trị Pháp, phản lại dân tộc Việt Nam- nghĩa là Phạm Quỳnh đã dùng cả cái vốn văn hóa xây dựng phục vụ chủ nghiã thực dân bảo hộ. Phạm Quỳnh là công bộc Pháp lại khác với thông ngôn tài ba Trương Vĩnh Ký, cùng là cộng tác viên đầu tiên phe xâm lược- vậy tại sao Trương Vĩnh Ký vẫn chiếm được lòng ngưỡng mộ người sau đánh giá, bởi Trương Vĩnh Ký không phục vụ chính trị phe thống trị kèm theo vốn văn hoá đã xây dựng mà ông có. Và sự khác biệt giữa Phạm Quỳnh và Trương Vĩnh Ký, nên phe mác xít đã thủ tiêu Phạm Quỳnh.
Tương tự số phận một đại-tá-thi sĩ Cao Đài, Hồ Hán Sơn ( tên thật: Hồ Mậu Đề) cũng bị chết một cách tức tưởi, chỉ vì cách làm chính trị- một thi sĩ có tài đã không biết rằng làm thơ và chính trị khác nhau, một khi không phân biệt mức ranh giới, dễ nhầm thủ đoạn lọc lừa bạn thù, sau bị thủ tiêu , xác ném xuống giếng sâu ở Trại Huấn luyện Quân sự Cao Đài Bến Kéo (Tây Ninh) năm 1955. Kinh nghiệm chung này giúp cho ai không biết cách nhận phận , hãy nhìn gương tầy liếp Scipion hoặc Hồ Mậu Đề từng là vật tế thần!
Đến nhóm Đông Dương Tạp Chí , thì Nguyễn Văn Vĩnh công đầu dịch thuật truyện ngụ ngôn cuả La Fontaine sang tiếng việt, có công xây dựng nền báo chí thời sơ khởi phát triển, đến những ngày cuối đời mang thân chôn chặt ở hang sâu đào vàng trên đất Lào. Và đời sau vẫn nhắc tới ông, người từng cộng tác với Pháp thực dân bảo hộ, truyền bá văn hoá mẫu quốc như Phạm Quỳnh, vẫn được đánh giá công lao- tuy vậy đời cũng không quên đã có lần Nguyễn Văn Vĩnh giả vờ chống tây có tiền nuôi con ăn học ở Pháp. Và cũng có dư luận việc đặt tên thứ nam Nguyễn Nhược Pháp, thì liệu đây có làm cho Pháp bị nhược không, hoặc chỉ là cách vải thưa che mắt thánh?
Cùng trong giai đoạn nền móng 1913-1930 có Tản Đà, Hồ Biểu Chánh, Á Nam Trần Tuấn Khải, Đào Duy Anh, Vũ Đình Dy, Trần Huy Liệu, Phan Khôi, Nguyễn Văn Tố, … đều được đánh giá là có công xây dựng văn học quốc ngữ. Phan Khôi , người từng đề xướng thơ mới, từng bị nằm tù vì chống Pháp , rồi lại bị phe mác xít giam cầm vẫn không quản thân già đòi văn nghệ phải có tự do, qua vụ Nhân Văn Giai Phẩm ( 1956)- Đến Hồ Hữu Tường , ngòi bút độc đáo trào lộng chính trị từ Phi Lạc sang Tàu, Phi Lạc Bỡn Nga, đến Phi Lạc náo Huê Kỳ vv…. tác phẩm phúng thích chính trị rất có giá trị văn chương, tư tưởng, một mình một chiếu độc nhất vô nhị.
Phần Tổng Luận Sáu Mươi Năm Văn Nghệ , hẳn đã có thể gây thắc mắc bạn đọc thí dụ , sẽ có người đặt câu hỏi: tại sao không viết tổng kết văn nghệ cách thuần nhất, mà lại so sánh song hành bối cảnh chính trị?
Tôi cho rằng hình động lực văn nghệ tác động đời sống xã hội và đời sống nhà văn, thơ phản ánh qua thơ, văn và ngược lại, tất có phản ứng tương quan giao hoà với nhau. Lấy trường hợp Nguyễn Du ra phân tích, ông từng lê gót , chồn chân leo núi, băng đồi, không chỉ một lần lên thăm 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, không chỉ thăm thú, vãn cảnh- mà cón là một thái độ ẩn mình không ra đầu hàng vua Quang Trung ( dầu đây là một ông vua đã tô điểm cho lịch sử Việt Nam trang oanh liệt ). Sĩ khí Nguyễn Du không thể chê trách và người sau vẫn phải coi đây là sự tự do được chọn lựa và kính trọng ông. Vì nhờ đấy chúng ta mới có một Truyện Kiều hoặc thái độ không chiu đầu hàng của ngọn bút lông trước ngòi viết sắt của Tú Xương, ông chịu sống cơ cực, ẩn thân nhờ vợ quanh năm buôn bán ở ven sông cung cấp thức ăn đạm bạc, bữa no bữa đói, áo rách sờn vai, bạc màu, rồi giãi bầy lòng chán chường, cộng tâm trạng chống đối phe thống trị, không nỡ phản tinh thần Khổng Mạnh vào ngày tàn lụi- sau này để lại những bài thơ đầy tính chất phúng thích chính trị, lên án quân cướp nước cùng phường tôi đòi ăn bám – và nhắc nhở hận cuả dân mất nước đối với nền thông trị cuả Tây thuộc.
Trong phần tổng luận này, chúng tôi cố ý không theo thứ tự sau, trước, nhà văn thế hệ sau có thể được đưa lên trước, nếu có điểm tương đồng hoàn cảnh, cuộc đời, hành động, tư tưởng, tài năng và cả quan điểm.
Văn hào khác với nhà văn bình thường ở điểm họ có chủ quan đãi lọc, giầu tư liệu sống thu thập từ ngoài cuộc sống rồi đưa vào tác phẩm có một cách bố cục sắp đặt rất riêng- nói như Biélinsky- thì đó là sự trình bầy một sự thật cuả ngoài đời sống, là lấy được từ nhiều cuộc điều tra, qua con mắt tinh đời- mới chỉ có lợi cho tình tiết cuốn truyện , chưa phải là đã hình thành được một cuốn truyện- và chỉ nên coi đó là một cơ hội cần thiết cho một cuốn truyện. Đại lý thuyết gia trên , còn là nhà phê bình văn học siêu việt Biélinsky,nhấn mạnh thêm: có cơ hội cho một cuốn tiểu thuyết là tài liệu cung cấp cho người văn nghệ có dịp để nhận định khi viết truyện nhưngvới cơ hội ấy vẫn phải có tư tưởng hướng dẫn đi sâu vào sự vật sống tực ngoài đời sống- vẫn theo ông, một khi đã nắm được chủ yếu thời cơ, đó là điểm độc đáo để một khi mô tả toàn diện các nhân vật đã sống động trong tay nhà văn -đó là đã thành công. Tất nhiên đây chỉ là ý kiến nhà phê bình chưa có kinh nghiệm sống trải cuả tiểu thuyết gia,nên chỉ coi là một tham khảo nhu cần mà thôi. Dù văn hào hay một nhà văn bình thường, tất nhiên ai cũng có một bút pháp riêng, chẳng ai giống ai được!
Giông Tố là tác phẩm đã nắm được chủ chốt thời cơ cuả bối cảnh xa hội rối loạn sinh ra một giai cấp tư sản thối nát, điển hình qua nhân vật Nghị Hách cuả Tiểu Vạn lý trường thành , mà tác giả không sinh ra trong giai cấp ấy vẫn sản sinh ra một tác phẩm tiêu biểu nói về giai cấp này.
Tác giả Vũ Trọng Phụng được sinh ra từ một giai cấp tiểu tư sản trí thức, có gốc giai cấp lao động ( bố chết sớm , mẹ buôn thúng, bán mẹt), nhưng lao động trí thức hoá được chuyển từ giai đoạn sống ở ven đô thành thị, sang sống chung với tư sản trung lưu mại bản, thấu hiểu tâm lý, thủ thuật lối sống thường ngày, nói chung tác giả đã chứng kiến đầy đủ hình tượng cuộc sống đô thị cuồng loạn.
Chủ yếu thời cơ này vững trong khối óc bén nhậy hoà đồng với chủ quan đãi lọc, lấy mẫu điển hình nhất từ trong tay bọn tay sai thực dân cấu kết với thục dân để có tác phẩm bất hủ để đời. Khi phải viết về đới sống của me tây mà tác giả chưa đủ vốn sống, ông không ngại ngần dò tìm đến nhưng bạn đồng nghiệp giàu kinh nghiệm, xin được cung cấp, đó cũng một phương pháp cần được đúc kết kinh nghiệm viết cho lớp mai hậu. Tôi viết đến đây là nhớ tôi câu chuyện kể qua Lê Văn-Vũ Bắc Tiến , thuật lại đã có lần Vũ Trọng Phụng lên tận Bắc Giang gặp ông , chỉ để ghi chép lại ngôn ngữ các me tây ứng xử thường nhật như thế nào? Nhờ đó, các nhận vật truyện Vũ Trọng Phụng rất linh hoạt, thì đó cũng không phải điều đang ngạc nhiên!
Cũng như nhóm Tự Lực văn đoàn, Khái Hưng, nhà văn chủ lực của nhóm văn chương tư sản và tiểu tư sản - đa số con quan , và Khái Hưng khai triển nhân vật tư sản thì cũng trong phạm vi đời sống quen thuộc ấy được rút ra. Ngoài thực tế, Khái Hưng và Trần Tiêu, hai anh em đều là con tổng đốc Trần Mỹ.
Trần Khánh Giư có thời thanh niên ăn chơi lịch lãm, giao du với bạn bè giai cấp tiểu tư sản; vậy nhân vật tiểu trí thức tư sản khó có nhà văn nào qua mặt được Khái Hưng qua tác phẩm Băn Khoăn và Đẹp vv…
Như đã đề cập, cơ hội chủ yếu sẵn trong nếp sống nhà văn tư sản, họ có nghệ thuật ráp lại một cách rất bình thường nên cũng dễ thành công. Trong Tư Lực văn đoàn, Khái Hưng có lối văn bay bướm nhất, có kỹ năng tài hoa cuả một tiểu thuyết gia (romancier) đúng nghĩa nhất, hơn cả Nhất Linh.
Nhưng Đến khi Khái Hưng phải tả nhân vật nông dân thì chưng hửng , bởi vốn sống không có, nên tác giả thật bối rối khi tả nhân vật Vọi trong Trống Mái, thật chẳng khác gì hai mươi năm sau, nhóm Phượng Giang ( Tự Lực văn đoàn xé lẻ ở hậu chiến - Nhất Linh chủ trương) thì Nguyễn Thị Vinh tả nông dân Triển (Hai chị em ) cũng ngây ngô, khờ dại kệch cỡm rất đáng thương! Nhân vật Triển dưới mắt tác giả có y mai mỉa lớp người nông thôn hậu chiến- mặc dầu cả hai tác giả ( Khái Hưng tiền chiến và Nguyễn Thị Vinh hậu chiến ) muốn đề cao vai trò nông dân, vẽ lại chân dung nông dân theo một hình tượng sự sống một thời trong bối cảnh xã hội tiền và hậu chiến. Lý do thất bại , vì hai tác giả không có vốn sống nông thôn, không am hiểu tính tình, suy nghĩ cuả nông dân , lại cứ viết về nông dân , qua sự thiển cận kém cỏi từ bản thân nhà văn.
Nói khác đi, chính thái độ thiếu nghệ thuật thành ra viết về nông dân với thái độ ngụy bác ái đối với nhân vật Vọi của Khái Hưng lồng trong khung cảnh được yêu một nhân vật nữ tiểu tư sản ( Hiền ) - khi Hiền mời tất cả anh, chị em bạn bè trong giới trí thức đến dự buổi ra mắt đề cao người yêu là Vọi. Tác giả Khải Hưng tả chân dung Vọi thô kệch, như một thứ nông dân mất gốc- mặc áo the, quần thì ống cao, ống thấp , bàn chân voi thô kệch lấm bùn – đứng trơ trơ như pho tượng được giới thiệu trước những bộ âu phục cực kỳ sang trọng đúng mốt - thì Vọi, người yêu cuả Hiền nào có khác chi một vai hề mua vui cho họ. Đến thời hậu chiến , Nguyễn Thị Vinh cũng cho nhân vật Triển yêu con trai bà chủ nhà tiểu tư sản trí thức tản cư- sau con gái bà chủ đỏng đảnh đi lấy chồng biết hắn yêu mình, không thẳng thắn từ chối để Triển yêu trong thất vọng đau khổ.
Khái Hưng và Nguyễn Thị Vinh đều muốn đề cao nhân vật nông dân, ( Vọi của Khái Hưng và Triển của Nguyễn Thị Vinh) với lập ý đào cái hố thật sâu phân cách : ái tình cũng có giai cấp . Thì hiển nhiên rồi, cái kém là nghệ thuật non tay, ở chỗ cả hai tác giả đều thiếu khả năng diễn đạt thái độ, hình tượng sống nông dân ( thời tìền và hậu chiến) . Nguyễn Thị Vinh cóp nhặt, bắt chước lề lối, nếp sống văn chương, từ nội dung đến kỹ thuật viết cuả Tự Lực văn đoàn , rồi sống lại vào hai mươi năm sau. Và Nguyễn Thị Vinh có biết đâu rằng Hồn bướm mơ tiên hay Trống Mái , tác phẩm tiên phong làm nòng cốt cho tiểu thuyết tâm lý tiền chiến có thể là tác phẩm văn chương giá trị ( song song bối cảnh xã hội) ; còn lối viết từ hai mươi năm trước ( nội dung và kỹ thuật) cho tái hiện trở thành lạc hậu.
Như thế , người đọc không cần một Nguyễn Thị Vinh hôm nay - kỹ sư linh hồn cuả lớp lang sau, trước không thể dùng cho mọi thời - độc giả đòi hỏi người viết bây giờ phải khác hơn, nghệ thuật cao hơn người đi tiên phong, tạo được nhân vật có bối cảnh xã hội mới, khác hẳn với nhân vật lớp sống cũ tiền chiến. Nếu không đổi mới nhân vật, mà chỉ mô phỏng, sao chép nhân vật cũ; thí sự có mặt tác giả lớp sau không cần thiết, bởi lẽ như vậy thì không cần có Nguyễn Thị Vinh mà chỉ một Khái Hưng là đủ.
Nói như vậy , tôi vẩn thưà nhận cả Khái Hưng tiền chiến và Nguyễn Thị Vinh hậu chiến đều là tác giả tài năng. Và nếu phải phê bình văn chương Nguyễn Thị Vinh, như với bà Tùng Long hoặc Dương Hà ; chẳng cần phân tích dài dòng; chỉ vài dòng tóm lược : romantisme du voyou (tạm dịch: lãng mạn con bú dù) là đủ.
Jean Nélis trong cuốn Communauté des hommes (tạm dịch Cộng đồng con người), tác giả cánh tả Thiên chuá giáo tỏ thái độ bàn về Chúa:
”… Nếu tông đồ hậu sinh phạm tội hết, và cái gì cũng phải làm theo lời Chúa; thì không cần có chúng sinh tông đồ mới nưã; bởi lẽ đã có Chúa là có tất cả rồi.”
Ẩn dụ đưa ra có ý khuyên tông đồ hậu sinh phải biết suy luận, rung cảm, tạo được sự hoà hợp với lời Chúa dạy- chứ không phải đã có Chuá rồi đã có sẵn tất cả. Jean Nélis nhấn mạnh dạn hơn nữa:
” … Chúng ta có thể thay đổi tất cả - chỉ trừ Chúa “.
Vậy là ông cho rằng vai trò Chuá Jésus Christ chỉ là người tiên phong mở đường.
Trường hợp này, chúng tôi cũng muốn nói đến Nguyễn Thị Vinh đã quá yêu Tự Lực văn đoàn nên trở thành mê muội, chỉ nhắm mắt theo, chưa tạo nổi đường đi riêng biệt, tất nhiên theo đuôi con đường mở sẵn dễ dãi cuả kẻ nổi tiếng đi trước để bước theo, tất nhiên thiếu hẳn khả năng sáng tạo cái mới.
Đề tựa truyện đầu tay của Nguyễn Thị Vinh, Nhất Linh cho rằng nhà văn nữ này tài năng có lối viết truyện ngắn sâu sắc như đọc truyện Katherine Mansfield . ( nhà văn nữ nổi tiếng Anh quốc, còn là tác giả Poems , 1923) song vẫn chỉ là cảm nhận cuả kẻ ngắm vườn hoa trong thưả đất trồng xen kẽ cả hoa thược dược. Có thể hoa cúc chỉ đẹp rạng rỡ , khi thửa vườn chỉ trồng toàn hoa cúc.
Bàn về một nhà văn khác ( Tự lực văn đoàn nối dài hậu chiến), Tường Hùng , sinh 1931, cháu gọi Nhất Linh bằng chú ruột - ngoài hai mươi đã cho ra mắt tiểu thuyết đầu tay Gió mát. Cách viết theo quan niệm viết tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn - Nhất Linh đề xướng : văn chương vượt không gian và thời gian. Và Tường Hùng tạo nhân vật Sâm sống trong thời đại chung chung , chẳng biết vào thời gian nào, kể cả bối cảnh chính trị , xã hội thời nào song hành với cốt truyện. Nhưng cũng chỉ giấu diếm được ở phần một, đến phần hai thì văn chương vượt thời gian, không gian đã lộ dần ra bối cảnh xã hội vào thời điểm nào. Độc giả thấy ngay chủ tâm tác giả cố ý giấu- giấu đầu bối cảnh lại hở đuôi, độc giả biết bối cảnh truyện được xây dựng vào tiếng gà gáy của buổi khởi đầu kháng chiến 1945. Tất nhiên Tường Hùng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhà văn Nhất Linh, chấp nhận lề lối si nh hoạt văn nghệ đường lối sáng tạo Bướm trắng. (Nhất Linh tự cho tác phẩm này ưng ý nhất).
Giả thiết rằng Dostoievski nổi tiếng thế giới từ 1801, nếu Dos. sống đến thập niên 50 cũng phải khác với 1801 - kể cả tuổi tác, nếp sống, cũng như tác phẩm . Vẫn biết tác phẩm thường ra chịu ảnh hưởng từ liên tưởng làm tựa điểm bứt xa hơn - Nguyễn Du đọc Thanh Tâm tài nhân rồi tái tạo Đoạn trường tân thanh, hoặc Las Macedades del Cid Gullen de Castro trở thành Le Cid mới cuả Corneille…).
Hơn nưã với Dostoievski, tác phẩm bất tử còn đọng lại trong tâm tư người đọc cả trăm năm sau , kể cả nhân vật bệnh ( morbidité) phản ánh trong Tội ác và Trừng phạt vẫn bao trùm rộng lớn tới thế hệ xã hội Nga sau này. So sánh Bướm trắng Nhất Linh, qua nhân vật Trương, tác giả chịu ảnh hưởng từ liên tưởng, nhân vật này mới thể hiện được một phần nhỏ bé hình tượng sống nhân vật Raskolinoff cuả Dostoievski (Nhất Linh mượn hơi ngắn để tái tạo nhân vật Trương trong Bướm Trắng) -. Với cá nhân tác giả Bướm trắng, đó là con người nhỏ bé mang tâm trạng chán nản lớn , nó chẳng đại diện độ đi lên nào cuả thực trạng xã hội khi ấy. Như vậy, cái gọi là điểm tựa liên tưởng chịu ảnh hưỏng kia không vượt được nhân vật Raskolinoff, đó là sự chịu ảnh hưởng không giống như Thanh tâm tài nhân đến Truyện Kiều , Las Macedades del Cid đến Le Cid vậy.
Xã hội trong Thanh tâm tài nhân bên Tàu là một tập hợp người sống lẻ tẻ, không đại diện một hình tượng sống điển hình, mà đáng lẽ ra không nên có trong tác phẩm Bướm trắng - khi ông mượn nhân vật điển hình ở xã hội Nga băng rã, chán chường trong thế kỷ XIX , rồi làm nển cho thực trạng xã hội Việt Nam - khoảng thời gian từ 1910 đến 1944.
Nhìn vào sự liên tưởng trong tác phẩm Nguyễn Du, nào có thiếu sót đại diện cho một tầng lớp người nào đâu : Từ Hải anh hùng một phương, Kim Trọng thư sinh, Tú Bà sảo trá, gian manh, Thúy Kiều đoan truân kiếp hồng nhan bạc mệnh, Thúc Sinh công tử quen thói ăn chơi bốc trời.. còn bao nhân vật khác nữa: Hồ Tôn Hiến, Người bán tơ, Sư Giác Duyên…
Bệnh chịu ảnh hưởng từ tác phẩm của tác giả đi trước sẽ còn được bàn tới ở phần nói về nhóm Xuân Thu Nhã Tập ( tiền chiến) , Người-Việt-Sáng-Tạo ( hậu chiến) ở những trang sau.
Cho nên Nhất Linh tự cho Bướm trắng là tác phẩm được liệt vào loại hay cuả ông vẫn có thể chiều ý tác giả được- nếu chỉ xét đến ý riêng. Còn tác phẩm nuôi dưỡng đường lối lý luận cho ích kỷ cá nhân được hợp lý (égoisme raisonnable) - nói chung ( giai cấp con quan tiến bộ hồi ấy) -nói riêng (cho Khái Hưng, Trần Tiêu, Nhất Linh cùng đồng thuyền)- thì ngoài Đôi Bạn ra- không còn tác phẩm nào khác.
Biélinsky từng ca tụng Gogol đã dẫn tinh thần thanh niên Nga ,nuôi dưỡng lý tưởng thanh niên nhiều năm, sau chính kẻ cầm đuốc dẫn đường lại đưa thanh niên Nga tới vực thẳm bi quan, yếm thế trong tác phẩm Những linh hồn chết. ( bản dịch tiếng Pháp: Les Âmes mortes )- sau này Biélinsky viết một lá thư ngỏ gửi Gogol ( Lettre à Gogol: 3-8- 1847 - trong sách Textes philo .choisies ) mạt sát thậm tệ thi hào đã đầu hàng Nga hoàng. Bởi lẽ Gogol biện bạch rằng:
…Tất cả tác phẩm của tôi viết ra từ trước (đọc lại) thì không còn thích lắm- và chỉ yêu tác phẩm nào khi đã được sự khen tặng cuả Nga hoàng mà thôi…
Con đường cách mệnh trong văn chương của Dũng, hết sang Tàu lại sang Nga, vì chán cảnh gia đình quan lại, muốn tự rèn luyện đời sống mới, không chịu cong lưng, uốn gối, chán chức mượn thế quan quyền, đầu hàng phe quan lại (nếu Dũng bằng lòng lấy Khánh làm vợ) . Dũng bỏ Khánh, yêu Loan, tình duyên với Loan sau bị trắc trở. . Và như để cứu vãn thế hệ thập niên ba mươi, tác giả cho nhân vât thoả hiệp với chế độ phong kiến đầu hàng thực dân sau này . Thì đúng là sau 1945, Nhất Linh tự bất mãn với bản thân (chính trị không thành công) , mượn cảnh chán chường không lý do ấy để dẫn dắt lớp thanh niên chịu ảnh hưởng tinh thần tác giả từ những năm ba mươi cùng chìm vào thú ăn chơi; và chính mình làm cha gia đình của con của mình, bạn con mình đã từng yêu mến mình cùng lao xuống vực sâu. Sự bất mãn cá nhân trưởng đoàn cầm chịch liệu có được phép chán chường, bỏ anh em nơi trận địa, nhìn địch quân tàn sát đồng đội không? Trả lời được câu hỏi này, sẽ tự đánh giá được tư tưởng làm cách mệnh trong văn chương qua tác phẩm Bướm trắng (Việt Nam) và trước đó ( Nga) thời Nga hoàng qua tác phẩm Những linh hồn chết của Nicholas Gogol.
Và nhờ đọc Nhà văn với cuộc đời cuả Ilya Ehrenbourg , tôi rất tâm đắc với điều nhận xét này:
”…Có nhà văn mô tả một điều nào đó mà chính tác giả không thấy đó là một điều rất khôi hài; thì cũng có phê bình gia văn học thích phê phán tác giả bài này hay bài kia (hoặc cuốn này hay cuốn khác) vể điểm nào đó không có trong tiểu thuyết của người ta, rồi tự làm bảng t hống kê điều không thấy nói đến (theo nhà phê bình), thì đó là việc thật kỳ quái! Đọc những bài phê bình s ách kiểu ấy, hẳn chúng ta sẽ nghĩ rằng nhà phê bình nào đó nếu không phù phiếm thì củng thuộc loại mất trí rồi..”!
Thiên tài đôi khi cũng bị chỉ trích, nên tôi nghĩ một Đôi Bạn của Nhất Linh, cho là tác phẩm từng được coi là khuôn mẫu điển hình lớp người tiền chiến tranh đấu, hằn sẽ không được quyền đưa đến Bướm trắng-tương tự Gogol không được phép cho xuất bản Những linh hồn chết-làm băng hoại tinh thần đấu tranh cuả tác giả đã từng hô hào trước đó. Và Biélinsky từng tán tụng Gogol, sau phải viết thư ngỏ lên án nặng nề Gogol (Gogol chỉ thích tác phẩm nào đã được Nga hoàng định giá) . Thái độ phê bình này, theo lối nói André Malraux : ne pas savoir vivre ( tạm diễn ý : không biết cách sống cho phải lẽ).
Nói đến đây lại nhớ đến Nguyễn Đức Quỳnh ( nhóm Hàn Thuyên ) thời tiền chiến. Phải rồi chính là Hà Việt Phương, Đặng Tầm Thanh, Cung Phúc Chung… bút danh mới Nguyễn Đức Quỳnh sau này xuất hiện trên tạp chí Đời Mới ( ở Sài Gòn vào khoảng thời gian 1952 -1957, với loạt bài phản tỉnh- vượt ý thức hệ cũ luận về Nhân bản mới hoặc Vượt Mác.
Năm 1957, bút danh mới khác là Hoài Đồng Vọng ký trên tác phẩm mới nhất , kể từ khi rời Liên khu IV, đó là Ai có qua cầu. Tâm bút viết theo lối roman-essai-politique cuả một tiểu-thuyết-gia-luận đề triết lý chính trị qua một văn phong rất mới, xây dựng nhân vật tượng trưng , mang tên rất lạ : Bóng Cao, Bóng Thấp rất mới mẻ, khác hẳn thời tiền chiến (thập niên 40)-và đa số độc giả bình thường không thể đoán và biết được đó là tác giả bộ truyện dài gồm ba tập: Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kinh gần 1000 trang- cũng rất mới lạ, so với những tiểu thuyết luận đề thời tiền chiến.
Đến đây, chúng tôi khám phá được ngay chân dung chủ soái Hàn Thuyên xưa kia - Nguyễn Đức Quỳnh với nhà văn Pháp Jean Audard là một – nhà văn Pháp viết tiểu thuyết luận đề áp dụng cách nhìn phân tâm học Sigmund Freud hoà đồng biện chứng pháp Marx tạo thành truyện luận đề tổng hợp: freudo-marxisme . Vậy thì Ai có qua cầu, hoặc một thiên truyện nào khác … Cuả thời đại …. ký Minh Ái Thành đăng feuilleton từng kỳ trên báo Dân Chủ (Vũ Ngọc Các, chủ nhiệm) chưa có hồi kết thúc - hoặc Hỗn Mang (dày khoảng 400 trang khổ giấy 21x27 đánh máy- bản thảo này cũng đăng dở dang trên tạp chí Sống (chủ nhiệm: Ngô Trọng Hiếu) vào thập niên sáu mươi ( bút danh : Cung Phúc Chung)- hoặc trước đó Làm lại cuộc đời ký Hà Việt Phương đăng trên tuần báo Đời Mới , Trần Văn Ân, chủ nhiệm
Có thể nói rằng cách viết gọi là tâm bút trào lộng - lồng nhân vật có tư tưởng phản mác xít của nhà văn tiền chiến Nguyễn Đức Quỳnh ở hậu chiến vào trong các sáng tác mới viết sau nay trong thời hậu chiến- thật sự mới lạ. Vào nghề làm báo, viết văn- thì Nguyễn Đức Quỳnh trước tiên khởi sự viết biên khảo cổ sử , nặng lý luận nhiễm triết lý duy vật sử quan, và sau này là chủ soái Hàn Thuyên , lại chuyển sang viết tiểu thuyết - cho nhân vật suy luận nặng lý trí biện giải qua nhân vật truyện – rất ư thiếu hấp dẫn người đọc. Nói như thế, chúng tôi không có ý nghĩ này đâu- một khi đã là nhà biên khảo thì không thể trở thành tiểu thuyết gia viế được tiểu thuyết hay. Như trong lịch sử văn chương Áo quốc, vẫn có Stephan Zweig đấy thôi , ở Pháp là André Gide, vưà là người viết nouvelle critique” ( tạm dịch: phê bình mới) trong tác phẩm phê bình văn chương Dostoievski, vừa là tác giả truyện dài bất tử Les nouvelles terrestres (tạm dịch : Thức ăn mới cuả trần gian) sau cùng được nhận giải Nobel văn chương 1947. Hoặc một tác giả khác cuả Pháp: Louis Aragon (nhà văn, thơ. nhà lý luận), tác giả Libertinage- tạm dịch Phóng đãng, Les Communistes - (Những người Cộng sản), hoặc bài thơ mang tựa Il n’y pas d’amour heureux (tạm dịch: Chẳng có tình yêu nào sung sướng đâu!), hoặc gần hơn một Benjamin Goriély, tác giả cuốn phê bình văn nghệ mác xít Sciences des letters soviétiques (tạm dịch: Thành quả văn chương Xô viết) rất giá trị, và lại là tác giả bài thơ tuyệt bút Conservation d’amour (tạm dịch: Nói chuyện yêu đương)
Nguyễn Đức Quỳnh tiền chiến khác hẳn Hà Việt Phương, Minh Ái Thành, Hoài Đồng Vọng, Đặng Tầm Thành, Vương Thương Thương, Cung Phúc Chung vv… hậu chiến. Thời kháng chiến ông viết rất ít, so với đồng đội Nguyễn Tuân (Gíó Lào), Đặng Thai Mai , Nguyễn Khánh Toàn, hoặc các nhà văn tiền chiến đồng thời khác.
Hà Việt Phương của thập niên 50 phản tỉnh ý thức hệ mác xít (tiền chiến tả đối lập), đi sâu vào loạt bài viết về Nhân bản mới , đề cao chủ thuyết Tito và chủ nghiã xã hội Nam Tư
Đến năm 1957, Nguyễn Đức Quỳnh cho xuất bản thiên tâm bút Ai có qua cầu , nhân vật truyện đối kháng tư tưởng mác xít , tư bản, phát xít, phong kiến, thư lại cũ ,mới, phơi bầy một thực trạng xã hôi đi xuống, và nay cần phải được cải tổ dưới sự hướng dẫn viễn kiến của trí thức tiểu tư sản ..
Lớp trí thức thành thị (thập niên năm sáu mươi) chán chường muốn tự tử. đã được lồng vào hai lớp người nhân vật Bóng cao , Bóng thấp . Và không gian ấy xảy ra ngay bên ngọn đèn đầu ở cầu Khánh Hội (ranh giới Saigon 1 & 4). Cuối cùng, tác gỉả lý gỉải hướng thượng (orienté) bằng cách tin ngọn đèn cầu Khánh Hôi sẽ tắt (trước năm giờ sáng), thay thế bằng tia lửa mặt trời rực sáng lúc rạng đông. Lối viết truyện luận đề lồng tư tưởng được thể hiện qua nhân vật biểu hiện kiều Zarathustra, Nietzsche sử dụng tối ưu trong Zarathustra đã nói như thế ….
Là nhà văn không cần được đòi hỏi phải viết cho tất cả mọi từng lớp người đọc, nếu có nghệ thuật cao tột đỉnh như Nguyễn Du thì sẽ sản xuất được Đoạn trường tân thanh – hoặc La Quán Trung với Tam quốc chí , truyện viết về thời thế cổ sứ Tàu với bút pháp điêu luyện tuyệt chiêu hấp dẫn đọc giả. Nguyễn Đức Quỳnh tiền chiến là nhà văn tiên phong đưa ý thức hệ tả đối lập vào bộ truyện Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình khá thành công. Đọc đên đây , chắc cũng có người đặt câu hỏi sao không để lý luận riêng rẽ mà lại lồng vào tiểu thuyết , hoặc sao nhóm Hàn Thuyên không như Tự lục văn đoàn viết tiểu thuyết chơi chơi lãng mạn thuần túy kiểu Tự lực văn đoàn - còn lý thuyết triết học, chính trị nên đưa qua sách luận thuyết thuần nhất có hon không? Xin trả lời, ý kiến này André Maurois từng đề xướng- với chúng tôi nhận định thì không hợp thời. Tại sao vậy? Bởi, văn chương là sản phẩm phản ảnh từ bối cảnh xã hội; xã hội quay cuồng theo một chính thể nào, quân chủ, dân chủ,phát xít , cộng sản… thì trong đó đã có sự hiện diện mọi chủ thuyết tư tưởng đưa vào cuộc sống xã hội rồi. Một khi nhà văn xây dựng nhân vật trong bối cảnh xã hội ( qua nhỡn quan đãi lọc tác giả) nếu không phản ánh trung thực phần hồn đời sống xã hội trong đó, là điều không thể tha thứ, chấp nhận. Với nhà văn tầm thường hẳn là không thể đưa hinh tượng điển hình xã hội vào tác phẩm là điều không đáng trách, bởi khả năng chỉ làm được vậy- cũng không thể phê phán người khác sao lại làm thế, có nghĩa khác mình lại đả kích, chê bai ngay . Và họ chỉ được quyền phê phán tác phẩm cuả kẻ khác không đạt được mức giá trị cao, thấp cuả loại truyện đó mà thôi.
Ở trên chúng tôi đã bàn đến hai loại nhà văn đáng kể nhất, vi họ đã biết ghi lại hình tuợng bối cảnh xã hội đương thời cách điển hình, tương tự một nhà chép sử sống có nghệ thuật, cao hơn là đã tạo được thời thế theo nếp sống mẫu mực để làm theo. Đã có nhiều thanh niên thời tiền chiến sống theo nhân vật kiểu Tự lực văn đoàn , hoặc ở Pháp cũng đã có kẻ sống theo kiểu nhân vật truyện của Aragon, gần đây nhất là theo nhân vật truyện của Jean Paul Sartre. Francis Jeanson trong cuốn Sartre par lui-même ( NXB Seuil 1956) bàn về trường hợp cái chết cuả Monique - chỉ vì theo sinh tồn chủ nghĩa sinh ra bi quan, chán nản, sợ bất trắc nên đã tự tử.
Và nhóm Hàn Thuyên tiền chiến được coi là có tội với lịch sử tiến hoá, vì đã tạo mẫu con người máy móc sau 1945; đúng hơn sau 1950 trở đi. Đó là người mác xít tả đối lập hành động dưạ trên lý trí máy móc, chẳng khác cỗ máy được lên giây cót hành động, vì thế Trương Tửu-Nguyễn Bách Khoa, (Trương Tửu có trưởng nam rồi, bèn ký thêm bút danh mới: Nguyễn Bách Khoa) có lần khinh miệt bố đẻ khi biết tin bố qua đời. Sự rãy chết con người nhiễm lý thuyết chính trị cực đoan sinh ra nhiều ẩn ức, sống theo nếp sống trí thức rồi lại tự phản giai cấp, thỏa hiệp giai đoạn với ngụy vô sản (pseudo-marxiste) phát sinh ra hậu quả, tai ương khó lường! (ngay trong đời sống thường nhật) . Không lên án- ở đây -chúng tôi chỉ trình bầy một thực trạng diễn tiến đúng với bối cảnh lịch sữ xã hội mà con người , còn là tác giả Trương Tửu mà thôi.
Nhóm Dada cuả Pháp: Aragon, Éluard, Breton, Soupault, Denos, Picabia…. cũng không khác hơn, khi họ bắt gặp hoàn cảnh xã hội đáng chán, nôn mửa cũng đành phải tìm con đường khác giai cấp mình để thoả hiệp- và nhóm này hiệp với đảng cộng sản Pháp - mặc cảm tự ty cho phe phái kia có tổ chức, chính nghiã hơn- như Louis Aragon viết bộ truyện Les Communistes hết lời ca tụng đảng Cs Pháp. (tạm dịch: Những người Cộng sản- 4 tập vào những năm 1949) .
Ở Việt Nam là nhóm Xuân Thu Nhã Tập : Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh - Thê Húc sau này trong Nhóm Tam Ích ở miền Nam năm 1950) .
Đoàn Phú Tứ viết kịch Ghen chỉ là tư liệu cóp nhặt ý tưởng hay trong các vở kịch của Pháp ( xem Nhà văn hiện đại- Vũ Ngọc Phan), còn Nguyễn Xuân Sanh làm thơ bi hiểm kiểu Dada ( và sau này Francis Picabia tự thú : đại để thơ văn sản xuất ra chính bản thân cũng chẳng hiểu nổi là cái gì , vậy làm sao độc giả có thể hiều đươc ! Vậy trường hợp này chính xác đạo văn, đạo ý tưởng chắp vá thành cái được gọi là tác phẩm văn chương nghệ thuật , chứ không thể biện minh là liên tưởng (réminiscence). Hoặc gần đây, nếu có thức tỉnh bắt nguồn từ một động cơ, một khung cảnh liên tưởng lãng quên, hay chưa gợi ra bây giờ được nhắc nhở đưa ra ánh sáng, có công phu tạo tác mới , thì mới có thể goi là liên tưởng ( từ Thanh tâm tài nhân cuả Tàu, Nguyễn Du liên tưởng thành Truyện Kiều tuyệt tác). Văn, thơ của Aragon, Breton hay- bởi tư tưởng phản ảnh đúng sự điên cuồng thật sự xảy ra ngoài xã hội mà họ bắt gặp. Và họ đã khai phá được lối thơ mới mà chính họ dụng tâm đem cả một đời dồn vào đó -tương tự Baudelaire , Saint-John Perse- viết thơ bằng máu, rung cảm thực!
Tôi xin phép được dẫn chứng một đoạn thơ hay - Louis Aragon gửi một người tình- một người vợ yêu trọn đời - nàng - thơ- vợ Elsa Triolet:
Ma femme d’or mon chrysanthème
Pourquoi ta lettre est-elle amère?
Pourquoi ta lettre si je t’aime
Comme un naufrage en plein mer…
tạm diễn ý:
Vợ tôi như đoá dã quỳ vàng
Tại sao thư em dằn vặt đớn đau
Tại sao thư em khiến anh càng yêu dấu?
Như kẻ đắm tàu giữa biển bao la!
Và còn nhiều bài thơ hay trong tập Les yeux d’Elsa , hoặc En étrange pays dans mon pays ( tạm dịch : Đất nước mình sao cảm thấy xa lạ!) nói lên niềm thống khổ cuả tâm trạng một émigré de l’intérieur ( tạm dịch : quê quán mình mà như xa lạ).
Cũng vì vậy, có một nhà phê bình văn chương Pháp đã cực lực lên án sự đầu hàng này- và tôi cũng không dưạ vào lời phẩm bình ấy thẩm định giá trị văn chương- song chỉ muốn nhấn mạnh cái hay tốt -mà người đương thời còn dè bỉu , gièm chê - huống hồ một bọn làm thơ trong nước ăn cắp vài hình ảnh, ý tưởng lạ cuả Pháp đem toát dịch , ký tên mình- bề ngoài vênh váo lên mặt đời không hiểu, thì ôi thôi, cũng đành chẳng biết ăn nói làm sao?
Lại còn phải nhắc thêm nhóm Dada - Francis Picabia giận quá vì không chịu nổi lời phê phán đàm tiếu từ các nhà phê bình văn học, ông tuyên bố: … Vous ne comprenez pas, n’est ce pas ce que nous faisons? Eh bien chers amis, nous le comprenons moins encore… ( trích từ bản tuyên ngôn cuả nhóm Dadaisme - (tạm dịch: Các anh không hiểu được , phải vậy không? Vậy thì các bạn thân mến ơi , đến như chúng tôi còn hiểu ít hơn nưã kìa?!”
Cho dầu Nguyễn Xuân Sanh viết một chục bài thơ bí hiểm, rối rắm, hẳn là chính tác giả cũng chẳng hiểu gì , cho đủ mười lần Đinh Gia Trinh phịa chục bài diễn ý- thì ý còn được ít cảm, hiểu hơn nữa- khi giải thích tinh túy thơ hay rất mênh mông kia! Vậy thơ bí hiểm kia thiếu ba yếu tố :
- một là : thiếu chân thành với chính bản thân tác giả.
- hai : tạo một ngôn ngữ bịp để loè chính bản thân ,sau đến đọc giả.
- ba : tác giả chẳng hiểu gì thật sự khi sáng tạo thi ca cho bản thân hay cho ai khác ?
Sau này đọc một bài thơ lục bát khác của Nguyễn Xuân Sanh sáng tác trong kháng chiến 1945, bài Làng nghẹt trong rừng đêm , thì cảm và hiểu được ngay - thì tôi mới cho rằng lối thơ bí hiểm trước kia đích thị loè bịp, lập dị, chơi ngông- xã hội mù thằng chột làm vua .
Trích đoạn bài thơ viết theo lối xóc mẫu tự, ráp điệu, phối âm thanh dặt dìu cuả Nguyễn Xuân Sanh tiền chiến :
Lên mùa xuân khách vút xe hương
Vai nghiêng suối lạnh trải hồn đường
Gieo trắng dặm thơ đời ngát nẻo
Lỡ muà chân ướt ngấn hoa sương
Ngập ngừng hơi ấm bình thanh xuân
Tay thơm dâng sóng đậm triều gần
Hồn gặp men, chiều siêu mái đượm
Sương người tươi trải duyên riêng thân
Thế kỷ xuân về hương nước ơi
Người xuân tiễn thắm nhạc hồn đời
Say nước nẻo hương hoa thấm bước
Hạt trầm nhựa chuyển nhánh vươn hơi (…)
Cứ như thế, vẫn lối xếp chữ nhịp điệu trầm bổng của cái được gọi là thơ - thơ lúc lắc xóc mẫu tự. Chẳng khác gì trò chơi tiêu dao lớp trẻ nhỏ sắp chữ cái, lắc lên, đọc cho nhau nghe; bất cần chủ đích nào, ngoài việc muốn hiểu phải giải thích bưà . Bản thân không hiểu được chủ đích, huống hồ ai khác hiểu được ? – xã hội này hay tương lai mai hậu?
Tiếp đến Thanh Tâm Tuyền 20 năm sau không mới hơn – có khác khác trò chơi lắc xúc sắc chữ làm thơ. Éluard chết đi không kể làm gì, rồi Aragon, Picabia…đầu hàng Đảng cộng sản Pháp, vì chưa nhận thức được, và biết cần phải làm gì?
Thế rồi, Xuân Thu Nhã Tập - Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh tự nộp thân đầu hàng mác xít việt vô điều kiện ( mà cần gì điều kiện, chẳng ai ra điều kiện ). Phạm Văn Hạnh - Thê Húc sau này- đầu hàng gián tiếp, đứng với Tam Ích - nhóm Chân Trời Mới có đường lối hù theo mác xít - bảo hoàng hơn vua .( flairer l’idéologie marxiste plus que l’orthodoxie marxiste. )Tam Ích bênh vực, tung hô Karl Marx lên mây xanh -cho rằng không thể ai vượt nổi Marx- thực ra thì sự thể thế nào? (xem thêm Nhà văn miền Nam 1945-1950, tập 3- trong bộ Lược sử văn nghệ Việt Nam –T.P). Ngót sau hai mươi năm- Xuân Thu Nhã Tập- tiếp là Nguyễn Quốc Trinh, -nhà thơ này gần với Éluard hơn- thơ dễ cảm nhận, bứt phá, hướng thượng, có tính chiến đấu, rung cảm chân thành, sáng tạo chủ đích. Lại tiếp nối là Thanh Tâm Tuyền với Tôi không còn cô độc là một Nguyễn Xuân Sanh hậu chiến phiêu lưu không lý do , chưa đủ tầm vóc để là một thi nhân có khả năng cách tân thơ tự do . Cũng vẫn kiểu xóc mẫu chữ cái: Nhịp Ba, Tình cờ - lối chơi văn chương chàng trai trẻ mới lớn ở vùng tạm chiếm , bất mãn bản thân, xã hội, tuy là thanh niên lại không muốn lao đầu vào tình yêu như đám cùng lứa- tự kỷ ám thị bản thân vĩ đại hơn người ,muá may quay cuồng trong vũ điệu thơ lạ loè bịp , đánh động dư luận lưu tâm . Và thật ra vũ điệu kỳ quặc cuả bóng mờ sẽ lộ diện bịp trước bóng thật sáng ngời - Nietzsche từng bàn đến trong nhân vật Zarathustra. Ấy là triết gia Nietzsche có thực tài mà đương thời bàn luận về Nietzsche, thì Bertrand Russell còn lịch liệt đả kích triết gia thi nhân này không cần biết trách nhiệm việc làm- dù để lại cái rất hay hoặc rất kỳ quặc cũng tạm cho là được đi- mà lại không là thế! ( Histoire de la littérature occidentale-tạm dịch : Lịch sử Triết học Tây phương).
Nguyên lý chính chủ thuyết siêu nhân đã bạch hoá điều buộc tội của Russell đối với Nietzsche, qua các tác giả định giá tư tưởng siêu nhân giá trị siêu đẳng. Có thể kể: Charles Andler, Daniel Halévy, A. Cresson, Raymond Shawb, H. Mann, Henri Albert, Dessaignes, Geniève Bianquis…v.v...
Nhóm Người Việt-Sáng Tạo (có Thanh Tâm Tuyền) không tổ chức sinh hoạt chặt chẽ như một Tự lực văn đoàn hoặc Hàn Thuyên . Mà nếu hơn, chỉ hơn nhà xuất bản Tân Dân (Vũ Đình Long) với lối tổ chức tạp nham- hiển nhiên Tân Dân xuất bản số lượng sách nhiều gấp hai Tự lực văn đoàn và Hàn Thuyên. Sáng Tạo có điều khác Tân Dân - , sách, báo không cần đối tượng độc giả. Nhóm Sáng Tạo là sản phẩm thỏa hiệp văn hoá, một thứ đại lý nhận viện trợ văn hoá Hoa Kỳ — chủ nhiệm dư tiền rủ bạn bè ăn chơi nơi trà đình tửu quán ( tôi vẫn đánh xe rủ Vũ Khắc Khoan, Phạm Đình Chương đi ăn chơi, vì chúng nghèo đói, còn tôi nhiều tiền, sách bán loại best-seller) . Chẳng thế , sau này Nguyễn Đức Quỳnh viết potin trên nhật báo Dân Việt (Thời kỳ Chu Tử thuê manchette) – gọi đích danh đàn em là bọn Sáng tạo hư sinh.
Thật ra bình diện văn nghệ miền Nam giai đoạn 1950-1957, chăng có nhóm nào ra hồn -chỉ là hình thức - kể cả Quan điểm ( cũ vì Nhóm này gồm một số trí thức tiểu tư sản có lập trường văn hóa văn nghệ, đủ khả năng tạo cho giai cấp một ý thức hệ. Nào Nghiêm Xuân Hồng, Nhuệ Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng, và người cầm cờ súy là cựu lãnh tụ Hàn Thuyên - Nguyễn Đức Quỳnh.
Nhóm Người Việt-Sáng Tạo , Mai Thảo với lối văn cảm giác ( style d’inspiration) - tuy chưa siêu như Nguyễn Tuân tiền chiến; thì lối văn cảm giác vẫn được coi là mới mẻ, độc đáo. Sự độc đáo ấy, nếu đạt được mức tuyệt chiêu như Ba Kim, Lỗ Tấn- đầu tiên cần có giữ bản thân có chỗ đứng độc lập tinh thần, vật chất không ngửa tay xin trợ cấp – thì điều này Mai Thảo chưa thể có được. Ở địa hạt văn nghệ, văn hoá- tự do đối lập- không đứng trong quan điểm phe thống trị- ở thế bị thống trị viết ra. Tất nhiên nhà văn không nên để phe cấm quyền, đảng phái suỳ tiền nắm đầu sai bảo. Chẳng hạn thế đứng Romain Rolland thời kỳ trước đại chiến I, được gọi là người có lương tâm xứng đáng đại diện Âu châu- conscience de l’Europe - lãnh tụ cộng sản Nga Lénine muốn lôi kéo làm phe đảng , mời sang thăm Nga Xô, ông từ chối-hoặc đảng phái, hiệp hội chính trị khác mời- ông cũng chỉ lắc đầu để giữ được sự độc lập cần thiết . Nhà văn Việt Nam, sở dĩ chưa thể có tiếng tăm lớn vượt khỏi biên giới, tôi cho rằng ngoài tài năng thiên bẩm ra, vẫn cần có một thái độ, một đường lối độc đáo, một bản sắc riêng như một Stephan Sweig , một Gheorghiu , hay trước đó một Romain Rolland . Đến như Ba Kim cũng , có một thời đoạn trở thành tay sai guồng máy chính trị, sau phản tỉnh lại bị nhóm tứ nhân bang đoạ đầy thân xác, hành hạ tinh thần. Vậy muốn tạo được thế đứng, hoàn thành sứ mệnh - Lỗ Tấn, Romain Rolland - đòi hỏi sự khổ công tu luyện. Còn khó hơn nữa khi nhìn vị thế Maxime Gorki, Dostoievski, Léon Tolstoi - hay gần đây André Malraux - làm công việc dung hòa tư tưởng chính trị, văn nghệ, cách mạng.
Và đó cũng là điều tôi muốn bàn đến sự liên hệ văn nghệ và chính trị.
KỲ II
Văn hào khác với nhà văn bình thường ở điểm họ có chủ quan đãi lọc, giầu tư liệu sống thu thập từ ngoài cuộc sống rồi đưa vào tác phẩm có một cách bố cục sắp đặt rất riêng- nói như Biélinsky- thì đó là sự trình bầy một sự thật cuả ngoài đời sống, là lấy được từ nhiều cuộc điều tra, qua con mắt tinh đời- mới chỉ có lợi cho tình tiết cuốn truyện , chưa phải là đã hình thành được một cuốn truyện- và chỉ nên coi đó là một cơ hội cần thiết cho một cuốn truyện. Đại lý thuyết gia trên , còn là nhà phê bình văn học siêu việt Biélinsky,nhấn mạnh thêm: có cơ hội cho một cuốn tiểu thuyết là tài liệu cung cấp cho người văn nghệ có dịp để nhận định khi viết truyện nhưngvới cơ hội ấy vẫn phải có tư tưởng hướng dẫn đi sâu vào sự vật sống tực ngoài đời sống- vẫn theo ông, một khi đã nắm được chủ yếu thời cơ, đó là điểm độc đáo để một khi mô tả toàn diện các nhân vật đã sống động trong tay nhà văn -đó là đã thành công. Tất nhiên đây chỉ là ý kiến nhà phê bình chưa có kinh nghiệm sống trải cuả tiểu thuyết gia,nên chỉ coi là một tham khảo nhu cần mà thôi. Dù văn hào hay một nhà văn bình thường, tất nhiên ai cũng có một bút pháp riêng, chẳng ai giống ai được!
Giông Tố là tác phẩm đã nắm được chủ chốt thời cơ cuả bối cảnh xa hội rối loạn sinh ra một giai cấp tư sản thối nát, điển hình qua nhân vật Nghị Hách cuả Tiểu Vạn lý trường thành , mà tác giả không sinh ra trong giai cấp ấy vẫn sản sinh ra một tác phẩm tiêu biểu nói về giai cấp này.
Tác giả Vũ Trọng Phụng được sinh ra từ một giai cấp tiểu tư sản trí thức, có gốc giai cấp lao động (bố chết sớm , mẹ buôn thúng, bán mẹt), nhưng lao động trí thức hoá được chuyển từ giai đoạn sống ở ven đô thành thị, sang sống chung với tư sản trung lưu mại bản, thấu hiểu tâm lý, thủ thuật lối sống thường ngày, nói chung tác giả đã chứng kiến đầy đủ hình tượng cuộc sống đô thị cuồng loạn.
Chủ yếu thời cơ này vững trong khối óc bén nhậy hoà đồng với chủ quan đãi lọc, lấy mẫu điển hình nhất từ trong tay bọn tay sai thực dân cấu kết với thục dân để có tác phẩm bất hủ để đời. Khi phải viết về đới sống của me tây mà tác giả chưa đủ vốn sống, ông không ngại ngần dò tìm đến nhưng bạn đồng nghiệp giàu kinh nghiệm, xin được cung cấp, đó cũng một phương pháp cần được đúc kết kinh nghiệm viết cho lớp mai hậu. Tôi viết đến đây là nhớ tôi câu chuyện kể qua Lê Văn-Vũ Bắc Tiến , thuật lại đã có lần Vũ Trọng Phụng lên tận Bắc Giang gặp ông , chỉ để ghi chép lại ngôn ngữ các me tây ứng xử thường nhật như thế nào? Nhờ đó, các nhận vật truyện Vũ Trọng Phụng rất linh hoạt, thì đó cũng không phải điều đang ngạc nhiên!
Cũng như nhóm Tự Lực văn đoàn, Khái Hưng, nhà văn chủ lực của nhóm văn chương tư sản và tiểu tư sản - đa số con quan , và Khái Hưng khai triển nhân vật tư sản thì cũng trong phạm vi đời sống quen thuộc ấy được rút ra. Ngoài thực tế, Khái Hưng và Trần Tiêu, hai anh em đều là con tổng đốc Trần Mỹ.
Trần Khánh Giư có thời thanh niên ăn chơi lịch lãm, giao du với bạn bè giai cấp tiểu tư sản; vậy nhân vật tiểu trí thức tư sản khó có nhà văn nào qua mặt được Khái Hưng qua tác phẩm Băn Khoăn và Đẹp vv…
Như đã đề cập, cơ hội chủ yếu sẵn trong nếp sống nhà văn tư sản, họ có nghệ thuật ráp lại một cách rất bình thường nên cũng dễ thành công. Trong Tư Lực văn đoàn, Khái Hưng có lối văn bay bướm nhất, có kỹ năng tài hoa cuả một tiểu thuyết gia (romancier) đúng nghĩa nhất, hơn cả Nhất Linh.
Nhưng Đến khi Khái Hưng phải tả nhân vật nông dân thì chưng hửng , bởi vốn sống không có, nên tác giả thật bối rối khi tả nhân vật Vọi trong Trống Mái, thật chẳng khác gì hai mươi năm sau, nhóm Phượng Giang ( Tự Lực văn đoàn xé lẻ ở hậu chiến - Nhất Linh chủ trương) thì Nguyễn Thị Vinh tả nông dân Triển (Hai chị em ) cũng ngây ngô, khờ dại kệch cỡm rất đáng thương!
Nhân vật Triển dưới mắt tác giả có y mai mỉa lớp người nông thôn hậu chiến- mặc dầu cả hai tác giả ( Khái Hưng tiền chiến và Nguyễn Thị Vinh hậu chiến ) muốn đề cao vai trò nông dân, vẽ lại chân dung nông dân theo một hình tượng sự sống một thời trong bối cảnh xã hội tiền và hậu chiến. Lý do thất bại , vì hai tác giả không có vốn sống nông thôn, không am hiểu tính tình, suy nghĩ cuả nông dân , lại cứ viết về nông dân , qua sự thiển cận kém cỏi từ bản thân nhà văn.
Nói khác đi, chính thái độ thiếu nghệ thuật thành ra viết về nông dân với thái độ ngụy bác ái đối với nhân vật Vọi của Khái Hưng lồng trong khung cảnh được yêu một nhân vật nữ tiểu tư sản ( Hiền ) - khi Hiền mời tất cả anh, chị em bạn bè trong giới trí thức đến dự buổi ra mắt đề cao người yêu là Vọi. Tác giả Khải Hưng tả chân dung Vọi thô kệch, như một thứ nông dân mất gốc- mặc áo the, quần thì ống cao, ống thấp , bàn chân voi thô kệch lấm bùn – đứng trơ trơ như pho tượng được giới thiệu trước những bộ âu phục cực kỳ sang trọng đúng mốt - thì Vọi, người yêu cuả Hiền nào có khác chi một vai hề mua vui cho họ. Đến thời hậu chiến , Nguyễn Thị Vinh cũng cho nhân vật Triển yêu con trai bà chủ nhà tiểu tư sản trí thức tản cư- sau con gái bà chủ đỏng đảnh đi lấy chồng biết hắn yêu mình, không thẳng thắn từ chối để Triển yêu trong thất vọng đau khổ.
Khái Hưng và Nguyễn Thị Vinh đều muốn đề cao nhân vật nông dân, (Vọi của Khái Hưng và Triển của Nguyễn Thị Vinh) với lập ý đào cái hố thật sâu phân cách: ái tình cũng có giai cấp . Thì hiển nhiên rồi, cái kém là nghệ thuật non tay, ở chỗ cả hai tác giả đều thiếu khả năng diễn đạt thái độ, hình tượng sống nông dân ( thời tìền và hậu chiến) . Nguyễn Thị Vinh cóp nhặt, bắt chước lề lối, nếp sống văn chương, từ nội dung đến kỹ thuật viết cuả Tự Lực văn đoàn , rồi sống lại vào hai mươi năm sau. Và Nguyễn Thị Vinh có biết đâu rằng Hồn bướm mơ tiên hay Trống Mái, tác phẩm tiên phong làm nòng cốt cho tiểu thuyết tâm lý tiền chiến có thể là tác phẩm văn chương giá trị (song song bối cảnh xã hội); còn lối viết từ hai mươi năm trước (nội dung và kỹ thuật) cho tái hiện trở thành lạc hậu.
Như thế, người đọc không cần một Nguyễn Thị Vinh hôm nay - kỹ sư linh hồn cuả lớp lang sau, trước không thể dùng cho mọi thời - độc giả đòi hỏi người viết bây giờ phải khác hơn, nghệ thuật cao hơn người đi tiên phong, tạo được nhân vật có bối cảnh xã hội mới, khác hẳn với nhân vật lớp sống cũ tiền chiến. Nếu không đổi mới nhân vật, mà chỉ mô phỏng, sao chép nhân vật cũ; thí sự có mặt tác giả lớp sau không cần thiết, bởi lẽ như vậy thì không cần có Nguyễn Thị Vinh mà chỉ một Khái Hưng là đủ.
Nói như vậy, tôi vẩn thưà nhận cả Khái Hưng tiền chiến và Nguyễn Thị Vinh hậu chiến đều là tác giả tài năng. Và nếu phải phê bình văn chương Nguyễn thị Vinh, như với bà Tùng Long hoặc Dương Hà ; chẳng cần phân tích dài dòng; chỉ vài dòng tóm lược : romantisme du voyou (tạm dịch : lãng mạn con bú dù ) là đủ.
Jean Nélis trong cuốn Communauté des hommes (tạm dịch Cộng đồng con người), tác giả cánh tả Thiên chuá giáo tỏ thái độ bàn về Chuá:
”… Nếu tông đồ hậu sinh phạm tội hết, và cái gì cũng phải làm theo lời Chúa; thì không cần có chúng sinh tông đồ mới nưã; bởi lẽ đã có Chúa là có tất cả rồi.”
Ẩn dụ đưa ra có ý khuyên tông đồ hậu sinh phải biết suy luận, rung cảm, tạo được sự hoà hợp với lời Chúa dạy- chứ không phải đã có Chuá rồi đã có sẵn tất cả. Jean Nélis nhấn mạnh dạn hơn nữa:
” … Chúng ta có thể thay đổi tất cả - chỉ trừ Chúa “.
Vậy là ông cho rằng vai trò Chuá Jésus Christ chỉ là người tiên phong mở đường.
Trường hợp này, chúng tôi cũng muốn nói đến Nguyễn Thị Vinh đã quá yêu Tự Lực văn đoàn nên trở thành mê muội, chỉ nhắm mắt theo, chưa tạo nổi đường đi riêng biệt, tất nhiên theo đuôi con đường mở sẵn dễ dãi cuả kẻ nổi tiếng đi trước để bước theo, tất nhiên thiếu hẳn khả năng sáng tạo cái mới.
Đề tựa truyện đầu tay của Nguyễn Thị Vinh, Nhất Linh cho rằng nhà văn nữ này tài năng có lối viết truyện ngắn sâu sắc như đọc truyện Katherine Mansfield. (nhà văn nữ nổi tiếng Anh quốc, còn là tác giả Poems, 1923) song vẫn chỉ là cảm nhận cuả kẻ ngắm vườn hoa trong thưả đất trồng xen kẽ cả hoa thược dược. Có thể hoa cúc chỉ đẹp rạng rỡ, khi thửa vườn chỉ trồng toàn hoa cúc.
Bàn về một nhà văn khác (Tự lực văn đoàn nối dài hậu chiến), Tường Hùng , sinh 1931, cháu gọi Nhất Linh bằng chú ruột - ngoài hai mươi đã cho ra mắt tiểu thuyết đầu tay Gió mát. Cách viết theo quan niệm viết tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn - Nhất Linh đề xướng : văn chương vượt không gian và thời gian. Và Tường Hùng tạo nhân vật Sâm sống trong thời đại chung chung , chẳng biết vào thời gian nào, kể cả bối cảnh chính trị , xã hội thời nào song hành với cốt truyện. Nhưng cũng chỉ giấu diếm được ở phần một, đến phần hai thì văn chương vượt thời gian, không gian đã lộ dần ra bối cảnh xã hội vào thời điểm nào. Độc giả thấy ngay chủ tâm tác giả cố ý giấu- giấu đầu bối cảnh lại hở đuôi, độc giả biết bối cảnh truyện được xây dựng vào tiếng gà gáy của buổi khởi đầu kháng chiến 1945. Tất nhiên Tường Hùng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhà văn Nhất Linh , chấp nhận lề lối si nh hoạt văn nghệ đường lối sáng tạo Bướm trắng .( Nhất Linh tự cho tác phẩm này ưng ý nhất ) .
Giả thiết rằng Dostoievski nổi tiếng thế giới từ 1801, nếu Dos. sống đến thập niên 50 cũng phải khác với 1801 - kể cả tuổi tác, nếp sống, cũng như tác phẩm . Vẫn biết tác phẩm thường ra chịu ảnh hưởng từ liên tưởng làm tựa điểm bứt xa hơn - Nguyễn Du đọc Thanh Tâm tài nhân rồi tái tạo Đoạn trường tân thanh, hoặc Las Macedades del Cid Gullen de Castro trở thành Le Cid mới cuả Corneille…).
Hơn nưã với Dostoievski, tác phẩm bất tử còn đọng lại trong tâm tư người đọc cả trăm năm sau , kể cả nhân vật bệnh ( morbidité) phản ánh trong Tội ác và Trừng phạt vẫn bao trùm rộng lớn tới thế hệ xã hội Nga sau này. So sánh Bướm trắng Nhất Linh, qua nhân vật Trương, tác giả chịu ảnh hưởng từ liên tưởng, nhân vật này mới thể hiện được một phần nhỏ bé hình tượng sống nhân vật Raskolinoff cuả Dostoievski (Nhất Linh mượn hơi ngắn để tái tạo nhân vật Trương trong Bướm Trắng)-. Với cá nhân tác giả Bướm trắng , đó là con người nhỏ bé mang tâm trạng chán nản lớn , nó chẳng đại diện độ đi lên nào cuả thực trạng xã hội khi ấy. Như vậy, cái gọi là điểm tựa liên tưởng chịu ảnh hưỏng kia không vượt được nhân vật Raskolinoff, đó là sự chịu ảnh hưởng không giống như Thanh tâm tài nhân đến Truyện Kiều , Las Macedades del Cid đến Le Cid vậy.
Xã hội trong Thanh tâm tài nhân bên Tàu là một tập hợp người sống lẻ tẻ, không đại diện một hình tượng sống điển hình, mà đáng lẽ ra không nên có trong tác phẩm Bướm trắng - khi ông mượn nhân vật điển hình ở xã hội Nga băng rã, chán chường trong thế kỷ XIX , rồi làm nển cho thực trạng xã hội Việt Nam - khoảng thời gian từ 1910 đến 1944.
Nhìn vào sự liên tưởng trong tác phẩm Nguyễn Du, nào có thiếu sót đại diện cho một tầng lớp người nào đâu : Từ Hải anh hùng một phương, Kim Trọng thư sinh, Tú Bà sảo trá, gian manh, Thúy Kiều đoan truân kiếp hồng nhan bạc mệnh, Thúc Sinh công tử quen thói ăn chơi bốc trời.. còn bao nhân vật khác nữa: Hồ Tôn Hiến, Người bán tơ, Sư Giác Duyên…
Bệnh chịu ảnh hưởng từ tác phẩm của tác giả đi trước sẽ còn được bàn tới ở phần nói về nhóm Xuân Thu Nhã Tập ( tiền chiến) , Người-Việt-Sáng-Tạo ( hậu chiến) ở những trang sau.
Cho nên Nhất Linh tự cho Bướm trắng là tác phẩm được liệt vào loại hay cuả ông vẫn có thể chiều ý tác giả được- nếu chỉ xét đến ý riêng. Còn tác phẩm nuôi dưỡng đường lối lý luận cho ích kỷ cá nhân được hợp lý (égoisme raisonnable) - nói chung ( giai cấp con quan tiến bộ hồi ấy) -nói riêng ( cho Khái Hưng, Trần Tiêu, Nhất Linh cùng đồng thuyền)- thì ngoài Đôi Bạn ra- không còn tác phẩm nào khác.
Biélinsky từng ca tụng Gogol đã dẫn tinh thần thanh niên Nga ,nuôi dưỡng lý tưởng thanh niên nhiều năm, sau chính kẻ cầm đuốc dẫn đường lại đưa thanh niên Nga tới vực thẳm bi quan, yếm thế trong tác phẩm Những linh hồn chết. (bản dịch tiếng Pháp: Les Âmes mortes)- sau này Biélinsky viết một lá thư ngỏ gửi Gogol (Lettre à Gogol: 3-8- 1847 - trong sách Textes philo .choisies) mạt sát thậm tệ thi hào đã đầu hàng Nga hoàng. Bởi lẽ Gogol biện bạch rằng:
…Tất cả tác phẩm của tôi viết ra từ trước (đọc lại) thì không còn thích lắm- và chỉ yêu tác phẩm nào khi đã được sự khen tặng cuả Nga hoàng mà thôi…
Con đường cách mệnh trong văn chương của Dũng, hết sang Tàu lại sang Nga, vì chán cảnh gia đình quan lại, muốn tự rèn luyện đời sống mới, không chịu cong lưng, uốn gối, chán chức mượn thế quan quyền, đầu hàng phe quan lại (nếu Dũng bằng lòng lấy Khánh làm vợ) . Dũng bỏ Khánh, yêu Loan, tình duyên với Loan sau bị trắc trở. . Và như để cứu vãn thế hệ thập niên ba mươi, tác giả cho nhân vât thoả hiệp với chế độ phong kiến đầu hàng thực dân sau này . Thì đúng là sau 1945, Nhất Linh tự bất mãn với bản thân (chính trị không thành công) , mượn cảnh chán chường không lý do ấy để dẫn dắt lớp thanh niên chịu ảnh hưởng tinh thần tác giả từ những năm ba mươi cùng chìm vào thú ăn chơi; và chính mình làm cha gia đình của con của mình, bạn con mình đã từng yêu mến mình cùng lao xuống vực sâu. Sự bất mãn cá nhân trưởng đoàn cầm chịch liệu có được phép chán chường, bỏ anh em nơi trận địa, nhìn địch quân tàn sát đồng đội không? Trả lời được câu hỏi này, sẽ tự đánh giá được tư tưởng làm cách mệnh trong văn chương qua tác phẩm Bướm trắng (Việt Nam) và trước đó ( Nga) thời Nga hoàng qua tác phẩm Những linh hồn chết của Nicholas Gogol.
Và nhờ đọc Nhà văn với cuộc đời cuả Ilya Ehrenbourg , tôi rất tâm đắc với điều nhận xét này:
”…Có nhà văn mô tả một điều nào đó mà chính tác giả không thấy đó là một điều rất khôi hài; thì cũng có phê bình gia văn học thích phê phán tác giả bài này hay bài kia ( hoặc cuốn này hay cuốn khác) vể điểm nào đó không có trong tiểu thuyết của người ta, rồi tự làm bảng t hống kê điều không thấy nói đến ( theo nhà phê bình), thì đó là việc thật kỳ quái! Đọc những bài phê bình s ách kiểu ấy, hẳn chúng ta sẽ nghĩ rằng nhà phê bình nào đó nếu không phù phiếm thì củng thuộc loại mất trí rồi..”!
Thiên tài đôi khi cũng bị chỉ trích, nên tôi nghĩ một Đôi Bạn của Nhất Linh, cho là tác phẩm từng được coi là khuôn mẫu điển hình lớp người tiền chiến tranh đấu, hằn sẽ không được quyền đưa đến Bướm trắng-tương tự Gogol không được phép cho xuất bản Những linh hồn chết-làm băng hoại tinh thần đấu tranh cuả tác giả đã từng hô hào trước đó. Và Biélinsky từng tán tụng Gogol, sau phải viết thư ngỏ lên án nặng nề Gogol (Gogol chỉ thích tác phẩm nào đã được Nga hoàng định giá) . Thái độ phê bình này, theo lối nói André Malraux : ne pas savoir vivre (tạm diễn ý : không biết cách sống cho phải lẽ).
Nói đến đây lại nhớ đến Nguyễn Đức Quỳnh ( nhóm Hàn Thuyên ) thời tiền chiến. Phải rồi chính là Hà Việt Phương, Đặng Tầm Thanh, Cung Phúc Chung… bút danh mới Nguyễn Đức Quỳnh sau này xuất hiện trên tạp chí Đời Mới (ở Sài Gòn vào khoảng thời gian 1952 -1957, với loạt bài phản tỉnh- vượt ý thức hệ cũ luận về Nhân bản mới hoặc Vượt Mác.
Năm 1957, bút danh mới khác là Hoài Đồng Vọng ký trên tác phẩm mới nhất , kể từ khi rời Liên khu IV, đó là Ai có qua cầu. Tâm bút viết theo lối roman-essai-politique cuả một tiểu-thuyết-gia-luận đề triết lý chính trị qua một văn phong rất mới, xây dựng nhân vật tượng trưng , mang tên rất lạ : Bóng Cao, Bóng Thấp rất mới mẻ, khác hẳn thời tiền chiến (thập niên 40)-và đa số độc giả bình thường không thể đoán và biết được đó là tác giả bộ truyện dài gồm ba tập: Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kinh gần 1000 trang- cũng rất mới lạ, so với những tiểu thuyết luận đề thời tiền chiến.
Đến đây, chúng tôi khám phá được ngay chân dung chủ soái Hàn Thuyên xưa kia - Nguyễn Đức Quỳnh với nhà văn Pháp Jean Audard là một – nhà văn Pháp viết tiểu thuyết luận đề áp dụng cách nhìn phân tâm học Sigmund Freud hoà đồng biện chứng pháp Marx tạo thành truyện luận đề tổng hợp: freudo-marxisme . Vậy thì Ai có qua cầu, hoặc một thiên truyện nào khác … Cuả thời đại …. ký Minh Ái Thành đăng feuilleton từng kỳ trên báo Dân Chủ (Vũ Ngọc Các, chủ nhiệm) chưa có hồi kết thúc - hoặc Hỗn Mang (dày khoảng 400 trang khổ giấy 21x27 đánh máy- bản thảo này cũng đăng dở dang trên tạp chí Sống (chủ nhiệm: Ngô Trọng Hiếu) vào thập niên sáu mươi ( bút danh : Cung Phúc Chung)- hoặc trước đó Làm lại cuộc đời ký Hà Việt Phương đăng trên tuần báo Đời Mới , Trần Văn Ân, chủ nhiệm
Có thể nói rằng cách viết gọi là tâm bút trào lộng - lồng nhân vật có tư tưởng phản mác xít của nhà văn tiền chiến Nguyễn Đức Quỳnh ở hậu chiến vào trong các sáng tác mới viết sau nay trong thời hậu chiến- thật sự mới lạ. Vào nghề làm báo, viết văn- thì Nguyễn Đức Quỳnh trước tiên khởi sự viết biên khảo cổ sử , nặng lý luận nhiễm triết lý duy vật sử quan, và sau này là chủ soái Hàn Thuyên , lại chuyển sang viết tiểu thuyết - cho nhân vật suy luận nặng lý trí biện giải qua nhân vật truyện – rất ư thiếu hấp dẫn người đọc. Nói như thế, chúng tôi không có ý nghĩ này đâu- một khi đã là nhà biên khảo thì không thể trở thành tiểu thuyết gia viế được tiểu thuyết hay. Như trong lịch sử văn chương Áo quốc, vẫn có Stephan Zweig đấy thôi , ở Pháp là André Gide, vưà là người viết nouvelle critique” (tạm dịch: phê bình mới) trong tác phẩm phê bình văn chương Dostoievski, vừa là tác giả truyện dài bất tử Les nouvelles terrestres (tạm dịch : Thức ăn mới cuả trần gian) sau cùng được nhận giải Nobel văn chương 1947. Hoặc một tác giả khác cuả Pháp: Louis Aragon (nhà văn, thơ. nhà lý luận), tác giả Libertinage- tạm dịch Phóng đãng, Les Communistes - (Những người Cộng sản) , hoặc bài thơ mang tựa Il n’y pas d’amour heureux (tạm dịch : Chẳng có tình yêu nào sung sướng đâu !), hoặc gần hơn một Benjamin Goriély, tác giả cuốn phê bình văn nghệ mác xít Sciences des letters soviétiques (tạm dịch : Thành quả văn chương Xô viết) rất giá trị , và lại là tác giả bài thơ tuyệt bút Conservation d’amour ( tạm dịch : Nói chuyện yêu đương)
Nguyễn Đức Quỳnh tiền chiến khác hẳn Hà Việt Phương, Minh Ái Thành, Hoài Đồng Vọng, Đặng Tầm Thành, Vương Thương Thương, Cung Phúc Chung vv… hậu chiến. Thời kháng chiến ông viết rất ít, so với đồng đội Nguyễn Tuân (Gíó Lào), Đặng Thai Mai , Nguyễn Khánh Toàn, hoặc các nhà văn tiền chiến đồng thời khác.
Hà Việt Phương của thập niên 50 phản tỉnh ý thức hệ mác xít (tiền chiến tả đối lập), đi sâu vào loạt bài viết về Nhân bản mới , đề cao chủ thuyết Tito và chủ nghiã xã hội Nam Tư
Đến năm 1957, Nguyễn Đức Quỳnh cho xuất bản thiên tâm bút Ai có qua cầu, nhân vật truyện đối kháng tư tưởng mác xít , tư bản, phát xít, phong kiến, thư lại cũ ,mới, phơi bầy một thực trạng xã hôi đi xuống, và nay cần phải được cải tổ dưới sự hướng dẫn viễn kiến của trí thức tiểu tư sản ..
Lớp trí thức thành thị (thập niên năm sáu mươi) chán chường muốn tự tử. đã được lồng vào hai lớp người nhân vật Bóng cao , Bóng thấp . Và không gian ấy xảy ra ngay bên ngọn đèn đầu ở cầu Khánh Hội ( ranh giới Saigon 1 & 4). Cuối cùng, tác gỉả lý gỉải hướng thượng ( orienté) bằng cách tin ngọn đèn cầu Khánh Hôi sẽ tắt ( trước năm giờ sáng), thay thế bằng tia lửa mặt trời rực sáng lúc rạng đông . Lối viết truyện luận đề lồng tư tưởng được thể hiện qua nhân vật biểu hiện kiều Zarathustra , Nietzsche sử dụng tối ưu trong Zarathustra đã nói như thế ….
Là nhà văn không cần được đòi hỏi phải viết cho tất cả mọi từng lớp người đọc, nếu có nghệ thuật cao tột đỉnh như Nguyễn Du thì sẽ sản xuất được Đoạn trường tân thanh – hoặc La Quán Trung với Tam quốc chí , truyện viết về thời thế cổ sứ Tàu với bút pháp điêu luyện tuyệt chiêu hấp dẫn đọc giả. Nguyễn Đức Quỳnh tiền chiến là nhà văn tiên phong đưa ý thức hệ tả đối lập vào bộ truyện Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình khá thành công. Đọc đên đây , chắc cũng có người đặt câu hỏi sao không để lý luận riêng rẽ mà lại lồng vào tiểu thuyết , hoặc sao nhóm Hàn Thuyên không như Tự lục văn đoàn viết tiểu thuyết chơi chơi lãng mạn thuần túy kiểu Tự lực văn đoàn - còn lý thuyết triết học, chính trị nên đưa qua sách luận thuyết thuần nhất có hon không? Xin trả lời, ý kiến này André Maurois từng đề xướng- với chúng tôi nhận định thì không hợp thời. Tại sao vậy? Bởi, văn chương là sản phẩm phản ảnh từ bối cảnh xã hội; xã hội quay cuồng theo một chính thể nào, quân chủ, dân chủ,phát xít , cộng sản… thì trong đó đã có sự hiện diện mọi chủ thuyết tư tưởng đưa vào cuộc sống xã hội rồi. Một khi nhà văn xây dựng nhân vật trong bối cảnh xã hội ( qua nhỡn quan đãi lọc tác giả) nếu không phản ánh trung thực phần hồn đời sống xã hội trong đó, là điều không thể tha thứ, chấp nhận. Với nhà văn tầm thường hẳn là không thể đưa hinh tượng điển hình xã hội vào tác phẩm là điều không đáng trách, bởi khả năng chỉ làm được vậy- cũng không thể phê phán người khác sao lại làm thế, có nghĩa khác mình lại đả kích, chê bai ngay . Và họ chỉ được quyền phê phán tác phẩm cuả kẻ khác không đạt được mức giá trị cao, thấp cuả loại truyện đó mà thôi.
Ở trên chúng tôi đã bàn đến hai loại nhà văn đáng kể nhất, vi họ đã biết ghi lại hình tuợng bối cảnh xã hội đương thời cách điển hình, tương tự một nhà chép sử sống có nghệ thuật, cao hơn là đã tạo được thời thế theo nếp sống mẫu mực để làm theo. Đã có nhiều thanh niên thời tiền chiến sống theo nhân vật kiểu Tự lực văn đoàn , hoặc ở Pháp cũng đã có kẻ sống theo kiểu nhân vật truyện của Aragon, gần đây nhất là theo nhân vật truyện của Jean Paul Sartre. Francis Jeanson trong cuốn Sartre par lui-même ( NXB Seuil 1956) bàn về trường hợp cái chết cuả Monique - chỉ vì theo sinh tồn chủ nghĩa sinh ra bi quan, chán nản, sợ bất trắc nên đã tự tử.
Và nhóm Hàn Thuyên tiền chiến được coi là có tội với lịch sử tiến hoá, vì đã tạo mẫu con người máy móc sau 1945; đúng hơn sau 1950 trở đi. Đó là người mác xít tả đối lập hành động dưạ trên lý trí máy móc, chẳng khác cỗ máy được lên giây cót hành động, vì thế Trương Tửu-Nguyễn Bách Khoa , ( Trương Tửu có trưởng nam rồi, bèn ký thêm bút danh mới: Nguyễn Bách Khoa ) có lần khinh miệt bố đẻ khi biết tin bố qua đời. Sự rãy chết con người nhiễm lý thuyết chính trị cực đoan sinh ra nhiều ẩn ức, sống theo nếp sống trí thức rồi lại tự phản giai cấp, thỏa hiệp giai đoạn với ngụy vô sản ( pseudo-marxiste) phát sinh ra hậu quả, tai ương khó lường! ( ngay trong đời sống thường nhật) . Không lên án- ở đây -chúng tôi chỉ trình bầy một thực trạng diễn tiến đúng với bối cảnh lịch sữ xã hội mà con người , còn là tác giả Trương Tửu mà thôi.
Nhóm Dada cuả Pháp : Aragon, Éluard, Breton, Soupault, Denos, Picabia…. cũng không khác hơn, khi họ bắt gặp hoàn cảnh xã hội đáng chán, nôn mửa cũng đành phải tìm con đường khác giai cấp mình để thoả hiệp- và nhóm này hiệp với đảng cộng sản Pháp - mặc cảm tự ty cho phe phái kia có tổ chức, chính nghiã hơn- như Louis Aragon viết bộ truyện Les Communistes hết lời ca tụng đảng Cs Pháp. (tạm dịch : Những người Cộng sản- 4 tập vào những năm 1949) .
Ở Việt Nam là nhóm Xuân Thu Nhã Tập : Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh - Thê Húc sau này trong Nhóm Tam Ích ở miền Nam năm 1950) .
Đoàn Phú Tứ viết kịch Ghen chỉ là tư liệu cóp nhặt ý tưởng hay trong các vở kịch của Pháp ( xem Nhà văn hiện đại- Vũ Ngọc Phan), còn Nguyễn Xuân Sanh làm thơ bi hiểm kiểu Dada ( và sau này Francis Picabia tự thú : đại để thơ văn sản xuất ra chính bản thân cũng chẳng hiểu nổi là cái gì , vậy làm sao độc giả có thể hiều đươc ! Vậy trường hợp này chính xác đạo văn, đạo ý tưởng chắp vá thành cái được gọi là tác phẩm văn chương nghệ thuật , chứ không thể biện minh là liên tưởng (réminiscence). Hoặc gần đây , nếu có thức tỉnh bắt nguồn từ một động cơ, một khung cảnh liên tưởng lãng quên, hay chưa gợi ra bây giờ được nhắc nhở đưa ra ánh sáng, có công phu tạo tác mới , thì mới có thể goi là liên tưởng ( từ Thanh tâm tài nhân cuả Tàu, Nguyễn Du liên tưởng thành Truyện Kiều tuyệt tác). Văn, thơ của Aragon, Breton hay- bởi tư tưởng phản ảnh đúng sự điên cuồng thật sự xảy ra ngoài xã hội mà họ bắt gặp. Và họ đã khai phá được lối thơ mới mà chính họ dụng tâm đem cả một đời dồn vào đó -tương tự Baudelaire , Saint-John Perse- viết thơ bằng máu, rung cảm thực!
Tôi xin phép được dẫn chứng một đoạn thơ hay - Louis Aragon gửi một người tình- một người vợ yêu trọn đời - nàng - thơ- vợ Elsa Triolet:
Ma femme d’or mon chrysanthème
Pourquoi ta lettre est-elle amère?
Pourquoi ta lettre si je t’aime
Comme un naufrage en plein mer…
tạm diễn ý:
Vợ tôi như đoá dã quỳ vàng
Tại sao thư em dằn vặt đớn đau
Tại sao thư em khiến anh càng yêu dấu?
Như kẻ đắm tàu giữa biển bao la!
Và còn nhiều bài thơ hay trong tập Les yeux d’Elsa , hoặc En étrange pays dans mon pays ( tạm dịch : Đất nước mình sao cảm thấy xa lạ!) nói lên niềm thống khổ cuả tâm trạng một émigré de l’intérieur ( tạm dịch : quê quán mình mà như xa lạ).
Cũng vì vậy, có một nhà phê bình văn chương Pháp đã cực lực lên án sự đầu hàng này- và tôi cũng không dưạ vào lời phẩm bình ấy thẩm định giá trị văn chương- song chỉ muốn nhấn mạnh cái hay tốt -mà người đương thời còn dè bỉu , gièm chê - huống hồ một bọn làm thơ trong nước ăn cắp vài hình ảnh, ý tưởng lạ cuả Pháp đem toát dịch , ký tên mình- bề ngoài vênh váo lên mặt đời không hiểu, thì ôi thôi, cũng đành chẳng biết ăn nói làm sao?
Lại còn phải nhắc thêm nhóm Dada - Francis Picabia giận quá vì không chịu nổi lời phê phán đàm tiếu từ các nhà phê bình văn học, ông tuyên bố: … Vous ne comprenez pas, n’est ce pas ce que nous faisons? Eh bien chers amis, nous le comprenons moins encore… ( trích từ bản tuyên ngôn cuả nhóm Dadaisme - (tạm dịch: Các anh không hiểu được , phải vậy không? Vậy thì các bạn thân mến ơi , đến như chúng tôi còn hiểu ít hơn nưã kìa?!”
Cho dầu Nguyễn Xuân Sanh viết một chục bài thơ bí hiểm, rối rắm, hẳn là chính tác giả cũng chẳng hiểu gì , cho đủ mười lần Đinh Gia Trinh phịa chục bài diễn ý- thì ý còn được ít cảm, hiểu hơn nữa- khi giải thích tinh túy thơ hay rất mênh mông kia! Vậy thơ bí hiểm kia thiếu ba yếu tố :
- một là : thiếu chân thành với chính bản thân tác giả.
- hai : tạo một ngôn ngữ bịp để loè chính bản thân ,sau đến đọc giả.
- ba : tác giả chẳng hiểu gì thật sự khi sáng tạo thi ca cho bản thân hay cho ai khác ?
Sau này đọc một bài thơ lục bát khác của Nguyễn Xuân Sanh sáng tác trong kháng chiến 1945, bài Làng nghẹt trong rừng đêm , thì cảm và hiểu được ngay - thì tôi mới cho rằng lối thơ bí hiểm trước kia đích thị loè bịp, lập dị, chơi ngông- xã hội mù thằng chột làm vua .
Trích đoạn bài thơ viết theo lối xóc mẫu tự, ráp điệu, phối âm thanh dặt dìu cuả Nguyễn Xuân Sanh tiền chiến :
Lên mùa xuân khách vút xe hương
Vai nghiêng suối lạnh trải hồn đường
Gieo trắng dặm thơ đời ngát nẻo
Lỡ muà chân ướt ngấn hoa sương
Ngập ngừng hơi ấm bình thanh xuân
Tay thơm dâng sóng đậm triều gần
Hồn gặp men, chiều siêu mái đượm
Sương người tươi trải duyên riêng thân
Thế kỷ xuân về hương nước ơi
Người xuân tiễn thắm nhạc hồn đời
Say nước nẻo hương hoa thấm bước
Hạt trầm nhựa chuyển nhánh vươn hơi (…)
Cứ như thế, vẫn lối xếp chữ nhịp điệu trầm bổng của cái được gọi là thơ - thơ lúc lắc xóc mẫu tự. Chẳng khác gì trò chơi tiêu dao lớp trẻ nhỏ sắp chữ cái, lắc lên, đọc cho nhau nghe; bất cần chủ đích nào, ngoài việc muốn hiểu phải giải thích bưà . Bản thân không hiểu được chủ đích, huống hồ ai khác hiểu được ? – xã hội này hay tương lai mai hậu?
Tiếp đến Thanh Tâm Tuyền 20 năm sau không mới hơn – có khác khác trò chơi lắc xúc sắc chữ làm thơ. Éluard chết đi không kể làm gì, rồi Aragon, Picabia…đầu hàng Đảng cộng sản Pháp, vì chưa nhận thức được, và biết cần phải làm gì?
Thế rồi, Xuân Thu Nhã Tập - Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Xuân Sanh tự nộp thân đầu hàng mác xít việt vô điều kiện ( mà cần gì điều kiện, chẳng ai ra điều kiện ). Phạm Văn Hạnh - Thê Húc sau này- đầu hàng gián tiếp, đứng với Tam Ích - nhóm Chân Trời Mới có đường lối hù theo mác xít - bảo hoàng hơn vua .( flairer l’idéologie marxiste plus que l’orthodoxie marxiste. )Tam Ích bênh vực, tung hô Karl Marx lên mây xanh -cho rằng không thể ai vượt nổi Marx- thực ra thì sự thể thế nào? (xem thêm Nhà văn miền Nam 1945-1950, tập 3- trong bộ Lược sử văn nghệ Việt Nam –T.P). Ngót sau hai mươi năm- Xuân Thu Nhã Tập- tiếp là Nguyễn Quốc Trinh, -nhà thơ này gần với Éluard hơn- thơ dễ cảm nhận, bứt phá, hướng thượng, có tính chiến đấu, rung cảm chân thành, sáng tạo chủ đích. Lại tiếp nối là Thanh Tâm Tuyền với Tôi không còn cô độc là một Nguyễn Xuân Sanh hậu chiến phiêu lưu không lý do , chưa đủ tầm vóc để là một thi nhân có khả năng cách tân thơ tự do . Cũng vẫn kiểu xóc mẫu chữ cái: Nhịp Ba, Tình cờ - lối chơi văn chương chàng trai trẻ mới lớn ở vùng tạm chiếm , bất mãn bản thân, xã hội, tuy là thanh niên lại không muốn lao đầu vào tình yêu như đám cùng lứa- tự kỷ ám thị bản thân vĩ đại hơn người ,muá may quay cuồng trong vũ điệu thơ lạ loè bịp , đánh động dư luận lưu tâm . Và thật ra vũ điệu kỳ quặc cuả bóng mờ sẽ lộ diện bịp trước bóng thật sáng ngời - Nietzsche từng bàn đến trong nhân vật Zarathustra. Ấy là triết gia Nietzsche có thực tài mà đương thời bàn luận về Nietzsche, thì Bertrand Russell còn lịch liệt đả kích triết gia thi nhân này không cần biết trách nhiệm việc làm- dù để lại cái rất hay hoặc rất kỳ quặc cũng tạm cho là được đi- mà lại không là thế! ( Histoire de la littérature occidentale-tạm dịch : Lịch sử Triết học Tây phương).
Nguyên lý chính chủ thuyết siêu nhân đã bạch hoá điều buộc tội của Russell đối với Nietzsche, qua các tác giả định giá tư tưởng siêu nhân giá trị siêu đẳng. Có thể kể: Charles Andler, Daniel Halévy, A. Cresson, Raymond Shawb, H. Mann, Henri Albert, Dessaignes, Geniève Bianquis…vv.
Nhóm Người Việt-Sáng Tạo (có Thanh Tâm Tuyền) không tổ chức sinh hoạt chặt chẽ như một Tự lực văn đoàn hoặc Hàn Thuyên . Mà nếu hơn, chỉ hơn nhà xuất bản Tân Dân (Vũ Đình Long) với lối tổ chức tạp nham- hiển nhiên Tân Dân xuất bản số lượng sách nhiều gấp hai Tự lực văn đoàn và Hàn Thuyên . Sáng Tạo có điều khác Tân Dân - , sách, báo không cần đối tượng độc giả. Nhóm Sáng Tạo là sản phẩm thỏa hiệp văn hoá, một thứ đại lý nhận viện trợ văn hoá Hoa Kỳ — chủ nhiệm dư tiền rủ bạn bè ăn chơi nơi trà đình tửu quán ( tôi vẫn đánh xe rủ Vũ Khắc Khoan, Phạm Đình Chương đi ăn chơi, vì chúng nghèo đói, còn tôi nhiều tiền , sách bán loại best-seller) . Chẳng thế , sau này Nguyễn Đức Quỳnh viết potin trên nhật báo Dân Việt ( Thời kỳ Chu Tử thuê manchette) – gọi đích danh đàn em là bọn Sáng tạo hư sinh.
Thật ra bình diện văn nghệ miền Nam giai đoạn 1950-1957, chăng có nhóm nào ra hồn -chỉ là hình thức - kể cả Quan điểm ( cũ vì Nhóm này gồm một số trí thức tiểu tư sản có lập trường văn hóa văn nghệ, đủ khả năng tạo cho giai cấp một ý thức hệ. Nào Nghiêm Xuân Hồng, Nhuệ Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng, và người cầm cờ súy là cựu lãnh tụ Hàn Thuyên - Nguyễn Đức Quỳnh.
Nhóm Người Việt-Sáng Tạo, Mai Thảo với lối văn cảm giác ( style d’inspiration) - tuy chưa siêu như Nguyễn Tuân tiền chiến; thì lối văn cảm giác vẫn được coi là mới mẻ, độc đáo. Sự độc đáo ấy, nếu đạt được mức tuyệt chiêu như Ba Kim, Lỗ Tấn- đầu tiên cần có giữ bản thân có chỗ đứng độc lập tinh thần, vật chất không ngửa tay xin trợ cấp – thì điều này Mai Thảo chưa thể có được. Ở địa hạt văn nghệ, văn hoá- tự do đối lập- không đứng trong quan điểm phe thống trị- ở thế bị thống trị viết ra. Tất nhiên nhà văn không nên để phe cấm quyền, đảng phái suỳ tiền nắm đầu sai bảo. Chẳng hạn thế đứng Romain Rolland thời kỳ trước đại chiến I, được gọi là người có lương tâm xứng đáng đại diện Âu châu- conscience de l’Europe - lãnh tụ cộng sản Nga Lénine muốn lôi kéo làm phe đảng , mời sang thăm Nga Xô, ông từ chối-hoặc đảng phái, hiệp hội chính trị khác mời- ông cũng chỉ lắc đầu để giữ được sự độc lập cần thiết . Nhà văn Việt Nam, sở dĩ chưa thể có tiếng tăm lớn vượt khỏi biên giới, tôi cho rằng ngoài tài năng thiên bẩm ra, vẫn cần có một thái độ, một đường lối độc đáo, một bản sắc riêng như một Stephan Sweig , một Gheorghiu , hay trước đó một Romain Rolland . Đến như Ba Kim cũng , có một thời đoạn trở thành tay sai guồng máy chính trị, sau phản tỉnh lại bị nhóm tứ nhân bang đoạ đầy thân xác, hành hạ tinh thần. Vậy muốn tạo được thế đứng, hoàn thành sứ mệnh - Lỗ Tấn, Romain Rolland - đòi hỏi sự khổ công tu luyện. Còn khó hơn nữa khi nhìn vị thế Maxime Gorki, Dostoievski, Léon Tolstoi -hay gần đây André Malraux - làm công việc dung hòa tư tưởng chính trị, văn nghệ , cách mạng.
Và đó cũng là điều tôi muốn bàn đến sự liên hệ văn nghệ và chính trị.
KỲ III
Văn nghệ là vĩnh cửu, chính trị nhất thời. Trí thức Việt Nam đôi khi hiểu lầm, khi nói đến chính trị là nghĩ ngay nhà cầm quyền. Mà bất cứ nhà cầm quyền nào, tốt mấy đi nữa, vẫn ít được quần chúng hâm mộ toàn diện. Và phải hiểu được rằng chính trị không phải chỉ lên ghế chính quyền, và bản chất chính trị còn là học thuyết (doctrine) giáo điều ( dogmatisme) ,và cuộc cách mạng nào buộc phải có học thuyết, giáo điều, cơ cấu tổ chức tiến, thoái, hành động cai tr ị, đặt trọng tâm sinh hoạt tập thể rộng lớn. Xét vậy, cuộc cách mạng nào vẫn cần phải có đướng lối- đường lối ấy chính là học thuyết chính trị- người phổ biến học thuyết chính trị ( lúc chưa thành công) là chính trị gia. Và nữa, người phổ biến học thuyết cách mạng qua hình tượng sống chính là người làm văn nghệ.
Cuộc cách mạng cần có người văn nghệ, nhờ ở bàn tay, khối óc sáng suôt bén nhậy, biết sắp xếp rung cảm biến học thuyết thành thái độ, hành động, nhân vật sống hoạt động như cuộc đời thực , dễ tuyên truyền cương lĩnh , đường lối. Thời kỳ Lénine cai trị, kẻ được Đảng giao phó làm việc này là Maxime Gorki.
Lịch sử bất cứ nước nào, từ Đông sang Tây- một khi cuộc cách mạng thành công rồi- người văn nghệ biết thời thế, biết đạo xử thế hợp lý, hợp tình, phải biết tách khỏi cái vừa hoàn thành –đi tìm điểm tiếp nối diễn biến khác. Điểm cứ đối lập mới khác điểm vừa hoàn thành - tất nhiên cứ điểm mới phải vượt. Chẳng hạn Voltaire của Pháp , cha đẻ cuộc cách mạng chống vua, chúa, phong kiến hoàn thành, thi hào bỏ lại, đi hô hào, động viên dân chúng theo cái mới thích hợp hơn . Hoặc Maxime Gorki viết Người Mẹ (bản tiếng pháp: La Mère ở Capri-) trước giờ khởi điểm cách mạng Nga- có mục đích chống thành trì Nga hoàng (Tsar), và lãnh tụ Lénine đã từng ca tụng Gorki như một công thần đầu tiên, đưa cuộc cách mạng vô sản Nga thành công năm 1917. Khi thành công rồi, Maxime Gorki lại tách rời tạo một cái mới khác đó còn là một cách được gọi là nhân sinh phục vụ nghệ thuất. Với đồng đội chính trị, cách mạng thành công , ngồi trên ghế thụ hưởng -như hình thái trả công- còn đồng đội văn nghệ biết sống phải tách xa, hoặc đối lập. Họ cho rằng thành công rồi, tức khắc phải tạo cái khác thành công tiếp nối ,và cứ mãi như thế- đó là cách mạng thường trực, nói theo cách suy luận León Trotsky. Chỉ người đọc có tầm nhìn viễn kiến thì sẽ không bị ngạc nhiên- Phạm Lãi chẳng hạn. Văn nghệ sĩ phải biết tại sao sự ít bằng lòng với sự kiện đã hoàn thành rồi. Bởi vậy , nên có bạn đọc ngạc nhiên về lời tuyên bố: người văn nghệ say mê với sự sáng tạo lâu dài, chẳng hạn Khái Hưng từng tuyên bố quyển truyện hay nhất là quyển tuyện chưa viết ra- hay gần đây Vi Huyền Đắc cũng tin rằng vở kịch hay nhất là vở kịch chưa viết xong.
Trở lại cuộc cách mệnh 1917, đối với Lénine đã thành công -với Maxime Gorki chỉ mới hoàn thành một đợt và cần phải tạo nhiều đợt mới khác.
Nhà văn ý thức cách mạng theo cách mệnh thường trực , cho rằng chưa thành công-nên họ bỏ đi tìm cái mới hơn, hoặc ở ẩn, một khi bị đồng đội chính trị truy đuổi. Đó là họ đi tìm sứ tiến bộ liên tục, và muốn luôn luôn có sự thay đổi. Và đồng đội chính trị phải hiểu vậy, để không hạ sát công thần văn nghệ đối lập. Có lẽ Lénine đã hiểu được vậy, nên chỉ gửi khéo Gorki ra nước ngoài- lấy lý do nhà văn mệt mỏi cần được tĩnh dưỡng ở bên bờ biển Capri .
Nói đến văn hào Maxime Gorki, thì không thể quên được lối tả chân hiện thực mới hướng thượng . Gorki cũng như Dostoievski- tin có thần linh- con người không tin có thần linh chẳng khác gì con vật. Khi Dos. bị lưu đầy, luôn tự răn phải chịu đựng nhẫn nhục , gương đấng Christ đã chịu đựng, và có thế` mới thực hiện được tình thân tương ái Cơ đốc giáo. Và Gorki từng thể hiện giáo lý đấng Christ trong một số tác phẩm của ông - Lénine biết vậy, vẫn lờ đi, không chỉ trích. Có thể nói rằng Gorki và Dos. đã thể hiện tư liệu đời sống tự sự hoà nhập với đời sống xã hội đưa vào các tác phẩm tự sự hoá. Gorki viết Ma vie d’enfant ( tạm dịch: Thời thơ ấu của tôi) và En gagnant mon pain (tạm dịch: Kiếm sống) , một bộ truyện hiện thực đi lên, tả lại cuộc đời tác giả nghèo khổ buổi sinh thời vào thời kỳ làm công cho hiệu buôn. Đêm đêm, ông đã ăn cắp nến ( đèn cầy) để đọc sách, sáng hôm sau chủ nhà thấy hao nến tra hỏi ngưòi làm. Và Maxime Gorki vẫn cứ tiếp tục ăn cắp nến đọc sách ( nhân vật trong văn chương : Alexis Péchkov ) , không bao giờ nản chí, dù phải mang tiếng ăn cắp, để phục vụ cho lý tưởng đeo đuổi.
Những đoạn văn được tả lại ở giai đoạn khổ hạnh ấy đã phô bày trên trang sách, hình như rất ít tình tiết yêu đương đôi lứa được bầy tỏ cách thông thường như các tác giả khác; lại vẫn làm người đọc thú vị ( tất nhiên độc giả chọn lọc). Độc giả bị hoạn nạn, thất cơ lơ vận đến đâu, một khi đọc trang sách viết về cuộc đời Alexis Péckhov- hẳn nguôi ngoai ẩn ức, nhẫn nhục- để tìm một người bạn tâm đầu dìu dắt, dằn lại được khổ hạnh bản thân đang phải chịu đựng. Có lần Alexis Péchkov nhớ lại mang máng rằng, ngày xưa ông nội thường dặn bố: “Con ơi! Con phải tự lập, vì con không phải là chiếc mề đay mà lúc nào cha cũng đeo trên nẹp áo. Con phải ra đi khắp bốn phương trời “.
Thì nhân vật ấy vẫn chính là Gorki lồng trong vai Péckhov ra đời sớm hơn hết,và phải lam lũ kiếm sống, dành dụm tiền bạc lên Kazan học hành.
Không những Gorki viết truyện dài luận đề tư tưởng Người Mẹ rất hay, tự sự kể tiểu thuyết hoá cũng thành công rực rỡ. Chúng ta chưa thể quên tác dụng Người mẹ đối với độc giả, đọc xong rồi, đối tượng gia nhập đảng được ưu tiên xét. Và Gorki làm thơ, viết truyện kể (conte) rất độc đáo - Truyện một mùa thu chẳng hạn. Câu chuyện tác giả kể lại mẩu đời khổ sở, cực nhọc thuở hàn vi, đã một dịp gặp một cô nàng bị xã hội ruồng bỏ, đi lang thang trong đêm tối, vì giận chồng say sưa đánh đập vợ. Cả hai thông cảm nỗi buồn của nhau, vì họ đều bị gia đình, xã hội quên lãng, họ bị đói lại không ai biết tiếp tế cho ăn. Và cả hai đều phải lặn lội trong mưa gió tìm kiếm mẩu bánh thừa thãi trong thùng rác dằn bụng. Có được miếng ăn thừa rồi, họ ôm nhau co quắp lấy nhau nằm ngủ dưới trời lạnh giá cho đến sáng hôm sau. Khi tác giả trở dậy muộn hơn - ráo rác tìm bạn đồng hành đêm qua - thì Natacha đã mất tăm tích. Gorki bổ nhào tìm nàng suốt buổi sáng, và cả cuộc đời không bao giờ được gặp lại. Vậy tính cách chủ quan đãi lọc tác giả đạt tới mức nghệ thuật, đã biến một tình tiết khách quan (sự vật để nhìn, để nghĩ bên ngoài) vào truyện. Thái độ Natacha bỏ đi thật sớm , cử chỉ thật cao thượng, góp vào cách sống đẹp, khích lệ cuộc đời vẫn đáng sống- dầu đầy dằn vặt khổ đau, khắc khoải vô vọng.
Bàn đến cách mệnh luận trong văn chương Gorki chống Nga hoàng – nhiều khi thấy bình tĩnh quá đến vô tình- nếu không cảm quan bén nhậy sẽ không sao hiểu lý do nào tác giả viết chuyện kể như không có chủ đích - thật rac ẩn dụ chủ đích . Như truyện La petite fée et le jeune pâtre chẳng hạn ( tạm dịch: Nàng tiên nhỏ và chàng mục đồng) đã được dịch sang pháp ngữ trong tập Contes et poèmes de Maxime Gorki. Chuyện kể sự suy xụp cuả lính Nga hoàng , tinh thần yêu đuối đã đành, cả tình dục cũng bị kiệt quệ. Một buổi, một lính Cosaque gặp tiên và nàng sẵn sàng quan hệ- thì chàng lại tỏ ra kiệt sức- ám chỉ sự suy sụp quân lính Nga hoàng già cỗi, không còn sức sống cung ứng sự đòi hỏi bừng dậy dân tộc Nga- mà tác giả khéo lồng qua chuyện kể nàng tiên khao khát tình dục. Gorki quả là văn tài xuất chúng toàn diện- từ thi ca đến truyện kể, từ truyện dài luận đề tư tưởn g đến tự sự tiểu thuyết hoá. Tác giả không dấu diếm , từng chịu ảnh hưởng văn chương, tư tưởng không chỉ Pouckhine, và từ sự khởi đầu biết đọc tự sử kể tiểu thuyết hóa của Charles Dickens qua David Copperfield . Lúc sinh thời , Gorki chỉ nói , viết được tiếng Nga mà thôi, và Gorki đọc truyện của Dickens để viết En gagnant mon pain. ( Bản in sau này thay tựa sách - trước : Parmi des hommes) .Tác giả trẻ Gorki khi ấy đã nghiêng mình kính cẩn tài năng nhà văn cổ điển hiện thực nước Anh- thì trường hợp Gorki lấy đà từ Dickens mới được gọi là liên tưởng ( réminiscence).
Đành rằng viết tự sự đâu tiên phải có tư liệu sống - Alfred de Musset viết ở đầu sách Confession d’un enfant du siècle ( tạm dịch: Lời thú tội đứa con thế kỷ). Nhưng sống đã- mới chỉ là tư liệu cần và có để dựng một tự sự kể. Một tự sự kể hay còn cần phải cò bàn tay tài năng người ráp lại có nghệ thuật mới biến cải được một hòn đá quí thành viên ngọc giá trị. Vậy dùng tư liệu sống bản thân ( cơ hội, tình tiết có sẵn) – trường hợp một nông dân viế ra thì lại không hay- tại sao?- vì thiếu tài năng tạo thành tác phẩm nghệ thuật. Và vẫn tư liệu ấy trao qua tay bẩm sinh thiên phú Chateaubriand thì được lưu truyền muôn t huở. ( và người đọc quên mất tư liệu cung cấp là từ một nông dân cung cấp cho nhà văn). Nên quan niệm sống là viết được, cần phải xét lại, nếu không trở thành láo khoét. Nhất nhất, tự sự kể hoặc tự sự hoá tiểu thuyết vẫn cần có nghệ thuật dán dựng, bố cục và diễn tả. Cũng vẫn cần phải loại bỏ tình tiết thô ráp cái tôi đáng ghét ,để độc giả không nhìn thấy thiển kiến vụng về, tai hại- vì thấy tác giả sáng láng quá , thánh thiện quá , không vương tội lỗi nào- như thánh Thomas- hoặc biết trước được tương lai như J.J. Rousseau viết Les Confessions (tạm dịch: Lời tự thú)– hoặc như Ernest Renan quá đáng hơn nữa, tô điểm tất cả xấu thành đẹp hết trong tự sự tiểu thuyết hẳn là điều nên rút kinh nghiệm.
Ở nước ta, từ tiền chiến đến nay- dễ có mấy ai thành công viết tự sự kể có thể so sánh với tác giả tài danh nước ngoài?
Nào Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyên Hồng, Thiết Can, Mạnh Phú Tư… … với Nguyễn Đức Quỳnh có óc tưởng tượng rất phong phú- trong bộ ba tập tự sự luận đề Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình gần một ngàn trang sách- tập cuối cùng Thằng Kình chỉ cần trong 45 phút, tả sự kiện diễn tiến gần ba trăm trang sách- phải thừa nhận tác giả có khả năng thật sự. Đôi ba khuyết điểm nho nhỏ, nếu có mắc phải trong cách viết tự truyện luận đề vẫn coi như không đáng kể. Nguyễn Đức Quỳnh xây dựng một thiên truyện dài lâm ly kia, mục đích hướng tới giáo dục hoá thanh thiếu niên mai hậu biết thân lập thân, biết yêu bản thân, gia đình, xã hội, đất nước- theo quan niệm tả đối lập - chỉ tiếc một điều thiếu sự hấp dẫn cần đủ để thuyết phục người đọc hơn nữa.
Viết tự sự hay và tài ba như Constant Virgil Gheorghiu, chỉ qua L’homme qui voyagea seul (tạm dịch: Lữ hành đơn độc)- cuốn tự truyện tả một giai đọan đời tác giả, được sinh ra ở Moldavie ( phía bắc Rumanie ). Con trai một mục sư chính thống g iáo, ban đầu theo học trường thần học Heiddeger ở Bucarest- thủ đô Roumanie. Nhà nghèo tự kiếm sống, dành tiền lên thủ đô học hành rồi theo nghề báo, nghiệp văn thơ- xin ngủ trọ trong góc phòng nhỏ trường đang theo học. Sau bị động viên, trải qua ngày mật đắng- khi Roumanie ( Lỗ Mã Ni) và Nga giao tranh. Và tác giả được cử làm Ủy viên văn hoá bộ Ngoại giao ở Zabreg ( sau bị tù đày qua nhiều chế độ: Nga, Đức, Mỹ). Cuối cùng di tản sang Pháp, nơi sống, viết ,và chết tại Paris . Gheorghiu khi ấy đã nổi tiếng toàn cầu qua bộ truyện La vingt cinquième heures ( đã có bản dịch việt ngữ Giờ thứ hai mươi lăm của Lê Ngọc Trụ) –thời kỳ này Pháp vẫn hiềm thù Phát xít Đức- ông bị dư luận Pháp công kích kịch liệt- lên án tác giả từng ca tụng Đức là đồng minh Roumanie chống Nga, rồi sau trở cờ chống Phát xít Đức Tác giả bị rơi vào tình trạng cô lập- dân chúng Pháp ghét bỏ. Gọi là Dấu vết ô nhục , tác giả từng ghi lại vậy- phụ lục tiểu thuyết Chiếc roi ngựa ( bản việt ngữ : Đường Bá Bổn ) dân chúng Paris gặp tác giả đi cùng vỉa hè, thì bỏ đi sang vỉa hè bên kia . Sự chịu đựng dư luận dè bỉu quá sức chịu đựng- ngày cuối đời chết trong tấm áo mục sư chính thống giáo (tác giả cảm thấy như bị sống trong một hành tinh khác) . Sự độc lập tinh thần đối với tác giả, biết mình không tự bán đứng chính bản thân cho bất cứ thế lực, xu hướng chính trị nào- không tham gia chế độ chính trị nào mưu cầu cơm áo, địa vị - và thoát được điều này- tương tự tuồng tích vai Stendhal từng đóng – là món quà văn nghệ rất đắt giá ,kinh nghiệm chua chát cần cho nhà văn rút tỉa kinh nghiệm.
Virgil Constant Gheorghiu viết lối văn giản dị , dễ hiểu , qua các tác phẩm tiểu thuyết hoặc tự sự hoá tiểu thuyết, người đọc dễ được chia xẻ nỗi buồn chung nhân loại trải qua nhiều chế độ thư lại- từng làm nát tan tâm hồn, đày đoạ nhân phẩm con người thời thế chiến hai.
Trở lại Nguyển Đức Quỳnh (1909-1974 Sài Gòn) sau khi chết được xưng tụng, và được đánh giá là một tác giả tiền chiến rất quan trọng - chủ soái nhóm Hàn Thuyên được tạp chí Văn , (Sài Gòn 1974) in trọn số báo tưởng niệm- với các bài viết : Văn Quang, Phan Lạc Phúc, Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền, Phan Lạc Phúc, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương, Phạm Duy, Túy Hồng ( nữ) , Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Mặc Đỗ, Thanh Nam vv…
Với Mai Thảo (trước 1954 ở Hà Nội ký bút danh Nhị Hương - thường sinh hoạt văn nghệ với nhóm Hoa niên gồm nhà văn Băng Hồ, Hoàng Công Khanh, hoạ sĩ Mai Lân nhà thơ Song Nhất Nữ, Nguyễn Hoàng Quân,….) - thì Nguyễn Đức Quỳnh là Ngôi sao Hàn Thuyên - và tại sao vậy, chủ soái nhóm Sáng Tạo ( hậu chiến) biện giải:
“ … văn chương những người như Nguyễn Đức Quỳnh là một hành động khác thường. Nó huynh đệ với chí lớn, đồng nghĩa với vá trời lấp biển, đồng tính với cách mạng, trên một hình thái tiêu cực nhưng cũng hiểm nghèo và hào hùng như cách mạng thực sự. Và cũng khác thường luôn, trong suy diễn và tưởng tượng đơn giản của tôi, cái số người làm cái công việc khác thường đó .Trở lại với người vừa mất tôi đang nói tới. Người ta thường nói đến một từ trường Nguyễn Đức Quỳnh. Đến hiệu năng thu hút khác thường tưởng như có ma thuật ở nơi ông, đối với lớp nhà văn trẻ suốt hai thập niên vừa qua ở miền Nam… Nguyễn Đức Quỳnh ngày xưa và cuả Đàm trường viễn kiến gần đây là một. Một sức hút. Một từ trường…”
Và Thanh Tâm Tuyền - lại có cách đặt câu hỏi về sự chịu ảnh hưởng tư tưởng bậc thầy văn chương tư tưởng cách khác thường:
”…. Anh đã đọc Thằng Kình chưa? : Thằng Kình là quyển tiểu thuyết quan trọng đối với tôi. Đó là quyển sách đã vỡ lòng, đã mở mắt đã đưa tôi vào đời. Tôi đã đuợc nếm mùi sung sướng và vị đắng cay khi dọc quyển sách ấy. Tôi đã gặp ngọn lửa đốt cháy tôi- ngọn lửa của đời sống. Tôi không phải là người của một vài quyển sách. Trước và sau khi đọc Thằng Kình, Những ngày thơ ấu ( Nguyên Hồng) , tôi đã đọc hầu hết tiểu thuyết Việt Nam, tôi hiểu được giá trị, tôi cảm được cái hay của nhiều tác giả khác, nhưng chỉ có hai tác giả Nguyễn Đức Quỳnh và Nguyên Hồng gây được ở lòng tôi lòng ngưỡng mộ. Tôi không nói yêu, không nói phục, tôi nói ngưỡng mộ (…) Thằng Kình được viết năm 1942. Quãng gần mười năm sau tôi gặp nó. Trước khi gặp nó- cũng giống như Thằng Kình - tôi có bổn phận phải cố học, phải cố học giỏi-, học trong tinh thần ăn cướp – tôi đã đọc bất cứ cuốn sách nào rơi vào tay. Sau khi gặp, tôi đã tìm đọc tất cả các sách của Nguyễn Đức Quỳnh, các tác phẩm của Maxime Gorki, Principes élémentaire de l’économie politique của Jean Baby , Principes fondamentaux de la philosophie của Politzer, Plekhanov, Marx, Trostky…
Hôm nay thì tôi đã hiểu, một phần nào đó của Nguyển Đức Quỳnh rơi ở trong tôi với Thằng Kình…”.
Phan Lạc Phúc (Ký giả Lô Răng) phong tước ông Trùm Nguyễn Đức Quỳnh như ông trùm Vito Corleon The God Father cuả Mario Puzo ( ông Bố già của giới văn học, giới chính trị giới sân khấu, giới thương mại, giới linh mục, thượng tọa (miền Nam) . Bàn đến cái hấp lực chủ soái Nguyễn Đức Quỳnh thật mạnh mẽ, càng hơn như Corleon dầu nhắm mắt rồi vẫn làm cho kẻ thù run sợ.
Rồi nhà giáo-nhà văn Nguyễn Sỹ Tế ( viết bài ký Người Sông Thương ) gọi Nguyễn Đức Quỳnh giáo sĩ thành Đạt Ma đầy quyền uy trong giới văn chương học thuật miền Nam Việt Nam .
Ảnh hưởng văn chương Nguyễn Đức Quỳnh đến với hậu thế có một giá trị đích thực nhất định- nhất là bộ truyện ( ba tập): Thằng Cu So, Thằng Phượng và Thằng Kình. ( Thanh Tâm Tuyền) . Chỉ tiếc rằng bộ sách này viết với một kỹ thuật chưa đạt được mức hấp dẫn tiểu thuyết cần có - vì :
- tác giả chưa nắm được kỹ thuật làm thế nào để hấp dẫn được người đọc theo dõi say sưa với lối chuyện kể ( đối tượng độc giả thuộc thành phần nào?). Một khi nắm được kỹ thuật rồi thì mới nên bàn đến viết tự truyện. Văn tư tưởng hoặc tự sự luận đề, tiểu thuyết hóa- cũng như thơ triết học- một nhà văn bình thường không thể là tác giả văn phẩm có giá trị tư tưởng độc đáo được.
Cái vướng của Nguyễn Đức Quỳnh- chưa phân hạn đường ranh tư tưởng chính trị thực hành và sự nhận phận một người văn nghệ có tư tưởng độc lập không để chủ thuyết chính trị sai khiến, điều khiển.
V. Gheorghiu viết tự sự cho người đọc nhìn rõ hành động quá vãng, hiện tại, và tương lai diễn biến ra sao - với Nguyễn Đức Quỳnh ( NĐQ) mới chỉ là trình bấy, giới thiệu một cách bài bản chào khách, chưa giãi bày sự vui buồn cảm xúc chia được với người đọc. Và bàn đến tự sự kể luận đề tư tường, thì NĐQ mới chỉ tả cảnh tư tưởng, chưa đi sâu hình tượng sống tư tưởng , và luôn có mặc cảm giấu người đọc điều gì- mà khi viết tự truyện điều này thật cần thiết.
Giả thiết, nếu thấy rằng hậu thân mảnh đời muốn che giấu ( khoe cái tốt, che cái xấu) , thì chính trị tính điều khiển hướng đi tác phẩm-hay nói khác đi- tác giả là nhà văn không hề sao lãng chính trị , song khôn thể đứng hẳn trong tinh cầu chính trị.
V. Gheorghiu không cần tả chuyện tình bản thân tác giả ( chắc không thể không có) , nhường cho cuộc sống tư tưởng đầy tham vọng , tránh cho tác phâm đỡ bị loãng. Nếu đem so sánh hai tự truyện của hai tác giả: NĐQ và Gheorghiu- thì Gheorghiu không cần một vai Chiêu Quân ( Thằng Kình) diễn biến từ đầu đến cuối- Gheorghiu chỉ cần một người em vẫy tay từ giã - lúc này Marie đã yêu tác giả rồi, sau đi lấy chồng, tác giả biền biệt xa. Như vậy, Gheorghiu vẫn có tình cảm đôi lứa, và được giấu kín- hoặc lý do này, lý do khác- nhưng không thể tử bỏ . Vì lẽ đó, sau khi Marie lấy chồng, tác giả lại quen một người nữ Do Thái khác , khi Traian ( tác giả trong văn chương) đưa nàng đi lấy thức ăn, lúc giã từ không một lời giã biệt ,ngoài cái nhìn lưu luyến tỏ tình kín giấu, và đối tương cảm được!
Nói như vậy, tôi không có ý bài xích nhân vật anh, em - chỉ nhấn nhận vai trò người nữ tất nhiên phải có trong cuộc đời và trong văn chương. Sự dám hy sinh không tả lại nhiều hoặc ít trong văn chương Gheorghiu (khi thanh niên đến lúc về già) chỉ là trường hợp hãn hữu của loại văn chương tự sự kể ..
Kết luận truyện tự sự kể - thì Nguyễn Đức Quỳnh chưa đạt đỉnh nghệ thuật ,qua Thằng Kình (tiền chiến) đến Ai có qua cầu (hậu chiến –ký bút danh Hoài Đồng Vọng) - ông viết vẫn theo khuôn cách cũ ; thiếu hấp dẫn, khô khan. Bởi tác động nhân vật tiểu thuyết từ phía tác giả truyền đạt tới độc giả còn có khoảng cách xa chưa đạt được, nặng phần duy lý, suy tưởng, thiếu hình tượng sống - người đọc mang ấn tượng đọc tiểu thuyết chẳng khác gì đọc khảo luận văn chương .
Một tác giả khác chiụ ảnh hưởng lối viết Nguyễn Đức Quỳnh sâu đậm nhất, chính là Doãn Quốc Sỹ - ông cũng đưa tư tưởng, lý luận, suy tưởng vào tiểu thuyết ( mà tiểu thuyết cần hành động, thái độ sống thật như ngoài đời) – thì ông lại chưa có được kỹ thuật cần có để viết truyện ngắn Người sinh viên Budapest .( khô khan, duy lý ) thiếu lối viết mềm mại tiểu thuyết bậc thầy Nguyễn Đức Quỳnh thời hậu chiến viết truyện dài luận đề tư tưởng đăng từng kỳ Của Thời đại… ( viết đăng feuilleton).
Cái tai hại chung tự truyện Nguyễn Đức Quỳnh viết trong hậu chiến (Làm lại cuộc đời ký Hà Việt Phương ) chẳng khác bộ truyện Thằng Cu So , Thằng Phượng, Thằng Kình ( thời tiền chiến) là bao- tư tưởng chưa biến hoá thành rung cảm, hình tượng sống – ý nghỉ hoà hợp thiết yếu chung đụng trên hai mặt tư tưởng, và tác phẩm nghệ thuật đối chiếu với nhau cần phải đạt được mức tác phẩm tiểu thuyết thật sự.
Đáng lẽ ra cả hai điều này phải liên hợp làm một- một đơn vị chỉ rõ ý nghĩ ấy (identité) : chủ quan (ý nghĩ) , khách quan ( bên ngoài). Một khi nhìn thấy được rõ ràng tư tưởng là tập hợp được hai ý nghĩ hoà hợp thực sự- một chỉ về suy tư chủ động , một nữa, thể hiện sự vật hình thành (phù hợp,) tất cả hai chỉ đi cạnh bộ máy của con người có lý . (qu’elle est impossible sans un être raisonnnable ) – tức là con người có khối óc lý luận hợp lẽ.
Tất có người đặt vấn đề : Anh giải thích ra sao về thế giới hoàn vũ với sự vật thiên nhiên một khi không là ý nghĩ? - một khi đã đưa vào tiểu thuyết chỉ toàn ý chức năng tiểu thuyết nữa. Nói vậy, cũng là cách kết luận khác về nhân vật tự sự kể văn chương Nguyễn Đức Quỳnh. ( không ăn khớp với nhau; giữa suy tư nhiều má ít bộc lộ qua hình tượng, nếp sống con người- nhân vật xa lạ so với đời sống tác giả ngoài thực tại).
Đề cập Nguyên Hồng , nhà văn hiện thực tự sự- kể từ Những ngày thơ ấu , đã không những dám nói lên sự thức cuộc đời tác giả, gia đình trong một đẳng cấp không được xã hội thời ấy qúy trọng. Và tác giả còn mạnh dạn hơn, khi ráp đời sống bản thân, gia đình cùng bước song hành với bối cảnh xã hội. Tuy vậy, ông vẫn chưa giải quyết cho nhân vật có lối thoát hợp lý trong Những ngày thơ ấu.
Thời kháng chiến , Nguyên Hồng thay đổi hẳn lối viết tự truyện qua hiện thực mới (néo-réalisme) qua truyện Lò Lửa. (trong tập truyện Những ngày đông xám ) . Là một tác phẩm giá trị văn chương nhân bản rất cao, phân tích nhiệm vụ con người thời loạn, phản ánh được sự trở lại của thiên chức con người tưởng rằng đáng bỏ đi lại trở thành rất có ích trong xã hội mới.
Tâm trạng ấy là tâm trạng cải tử hoàn sinh của một người Nhật biết hối cải –lối viết này có thể gọi là cao nhất trong khuynh hướng truyện lãng mạn cách mạng đầy tính ch hiện thực nhân bản hướng thượng.
Truyện tự sự Mạnh Phú Tư cảm động, truyền cảm, có kỹ thuật, đó là nói về tác phẩm Sống Nhờ . Nhiều đoạn ghi lại tình mẫu tử giữa một người mẹ buộc đi bước nữa – và đứa con côi mất mẹ khiến cho độc giả không thể không cảm được lòng thương xót Dần. Cảm động nhất ở mẩu đời tả người mẹ nói dối con khi tái giá- và đoạn nhớ con quá, trở về cách vụng trộm thăm con. Nhiều mẩu đời được kể lại thật xúc động, chua xót có thể so sánh với mẩu chuyện cảm động nhất qua nhân vật David Copperfield Charles Dickens mô tả. Song bàn về giá trị tổng thể một cuốn truyện tự sự tầm cỡ quôc tế, thì Mạnh Phú Tư vẫn chỉ đóng vai một anh học trò trước ông thầy Dickens. Đoạn kết cấu truyện, Mạnh Phú Tư như không giải quyết, bỏ lửng, bố cục chưa chặt chẽ cho lắm, và sơ hở chủ quan quá nhiều khiến tác phẩm không biết bắt đầu từ đâu ,và kết thúc ở điểm nào? Mạnh Phú Tư viết Sống Nhờ hiện thực- điều này xác thực- nhưng thiếu hướng thượng- chưa giải quyết nhân vật có hướng đi cũng như Nguyên Hồng với truyện tự sự viết trong thời tiền chiến.
Thời hậu chiến có rất ít nhà văn dám đem cuộc đời bản thân làm tư liệu căn bản cho truyện tự sự. Gần đây là Nguyễn Văn Xuân ( 1921- ) tác giả này không phải Thiết Can-Nguyễn Văn Xuân nổi tiếng thời tiền chiến. Tác giả Nguyễn Văn Xuân ( tạm gọi Nguyễn Văn Xuân 2, sinh năm 1921) còn dùng bút hiệu Xu Văn Ân khi viết truyện ngắn. Truyện ngắn Xu Văn Ân rất độc đáo thường xuất hiện trên báo Văn Nghệ Mới vào 1955- xuất bản ở Huế- chủ nhiệm Võ Thu Tịnh). Lối viết hiện thực Nguyễn văn Xuân - truyện dài Bão Rừng mới chỉ là hiện thực thô thiển, tả đúng, tả thực ( sơ sài) chưa qua chủ quan đãi lọc: hiện thực hướng thượng. Tác giả tin vào duy vật biện chứng lại chưa thóát được, chưa hiểu cặn kẽ giáo điều- nên luẩn quẩn sinh ra một lối viết truyện lồng quan điểm biện chứng pháp hiện thực (sơ chế ) vào văn chương- để lại đó như một tàn tích định mệnh. ( đoạn con voi xông vào phá nhà của mẹ chủ đồn điền- làm cho anh em phu hả hê trút hận vào mụ chủ bóc lột thặng dư giá trị công nhân) . Một khi nói đến hiện thực biện chứng- đem lý thuyết giảng cho đối tượng ngoải đời hoặc đem lý thuyết kia dẫn lối chio hành động trong truyện dài Bão Rừng - tác giả cho rằng xã hội đoạ lạc được dùng làm bối cảnh tha hoá thì lại càng cần phải khuấy đục thêm lên, để rồi tứ đó mới sinh biến tạo được thế nổi loạn.
Với tác giả Nguyễn Văn Xuân, thật mà nói, ông như mơ hồ với vốn lý thuyết chính trị - đáng lẽ tác giả không được phép thương hại sự bóc lột a mẹ chủ đồn điền, mà cần phải cho con voi dày xéo lên nhà anh em phu thì sự căm thù đạt kết qu cao . Ở đây ngược lại, tác giả trút dằn vặt kiểu xì độc . Dầu sao đi nữa- thì Bão Rừng vẫn là một tác phẩm đặt bản lề văn chương hiện thực( hậu chiến) . Và tên tuồi Xu Văn Ân đã có chỗ đứng cần phải có- tuy mới chỉ mổi tiếng qua đôi ba trưyện ngắn xã hội- nó chưa có tính cách giải quyết vấn đề rộng lớn như truyện dài Bão Rừng - tác phẩm này tác giả chưa đủ tài sưc thực hiện nổi ư điều mong ước.
Một nhà văn khác nổi nhất truyện luận đề cách mạng , đó là Phạm Thái ( tên thật Nguyễn Ngọc Tân, sinh 1921 ở Vĩnh Long- xem thêm trong” Nhà văn hậu chiến 1950-1956”) -tác giả Truyện năm người thanh niên, biên tập viên nòng cốt báo Tự Quyết , đối lập mác xít trên mặt trận tư tưởng và văn chương( từ 1955 trở đi) - và trên tuần báo Đời Mới ở Sài Gòn ( chủ nhiệm Trần Văn Ân: 1900-2002) những năm 1953-1954, 1955, 1956- thì Nguyễn Đức Quỳnh chống ý thức hệ Mác xít bằng lý luận, phân tích rõ rệt phân hạn tư tưởng chuyển biến qua ý thức hệ cộng sản như thế nào? Trước khi phân tích truyện dài Phạm Thái, chúng tôi đã đặt lại văn nghệ kháng chiến – (tập 3 : Nhà văn kháng chiến chủ lực 1945-1950), phân tích nguồn gốc văn nghệ kháng chiên và giai đoạn phân hoá văn nghệ mác xít. Ở đây, chỉ nhấn mạnh vài nét đại cương nguyên nhân tại sao có cuộc kháng chiến để bạn đọc nhận dịnh được rõ hơn ..
Trước ngày tổng khởi nghĩa toàn quốc, sự thành lập một chính phủ Liên hiệp quốc gia là điều cần thiết- nhưng không có nghĩa phe mác xít độc quyền lãnh đạo.- còn nhiều đảng phái khác, đại diện Việt quốc có chân trong chính phủ liên hiệp và một số đại biểu trong quốc hội.
Ngày 19 tháng 12 năm 1946, tướng Leclerc đem quân đánh chiếm Hải Phòng- tất nhiên phe quốc gia không thể chống phe đứng cùng hàng ngũ , mà phải hợp lực chống đối kẻ thù chính yếu lúc đó là quân Pháp xâm lược. Nhìn vào thời thế chiến hai, lực lượng Đồng minh gồm Anh, Pháp, Mỹ, Xô viết , Trung hoa quốc gia đồng hợp lực từ năm 1939 đến năm 1945 chống Phát xít Đức- tất nhiên trong hàng ngũ ấy cũng có phe phái, cá nhân chống Xô viết. Và một khi Phát xít Đức, Ý, Nhật thắng thế toàn diện vào năm 1945- Đồng minh mới lên án Xô viết lăm le gây áp lực thế giới dân chủ tây phương.
Vậy trở lại với trường hợp kháng chiến Việt Nam do phe mác xít lãnh đạo- cũng cần minh xác đặt đúng vấn đề phân hạn văn nghệ kháng chiến đến giai đoạn mác xít hoá cho đúng hướng tiền đồ văn hoá nước nhà.
Và bây giờ chúng ta đề cập Phạm Thái và Truyện năm người thanh niên - một trong những người tiên phong phân tích kháng chiến và cộng sản trong cuốn truyện này. Với kỹ thuật viết tiểu thuyết bẩm sinh, Phạm Thái lồng nhân vật vào bôi cảnh xã hội thu nhỏ .Ông cho nhân vật tự nói ra –khoảng 1951- ai đó nói chống mác xít thì đồng bào miền Nam sẽ không thiện cảm , họ chưa hiểu mác xít khoác áo kháng chiến rất ư hấp dẫn đồng bào Nam bộ. Vậy nhân vật tiểu thuyết người quốc gia khi ấy tất phải chịu đựng lời giè bỉu buổi đầu- đồng bào chưa ý thức đâu là kháng chiến đâu là cộng sản. Thái độ này không chỉ riêng tác giả tiên phong Phạm Thái với Truyện năm người thanh niên phải chịu đựng- còn nhiều Phạm Thái khác nữa đủ can đảm lộ diện đề xướng mà thôi. Bởi lẽ vẫn phải cần có thời gian để dân chúng thức tỉnh- khi ấy những Phạm Thái sẽ là người tiên phong của tác phẩm chính trị luận đề hướng thượng.
Truyện năm người thanh niên được lồng một cách mệnh luận – phân tích tâm lý từng nhân vật mỗi đợt thanh niên thời đại- đưa ra nhân vật đại diện tư sản mại bản, cách mệnh chí hướng, cải cách viên, văn nghệ sĩ tiến bộ- tất cả phải bắt đầu nhận công việc có trách nhiệm, và phải thận trọng . Có nhà văn trọng nghiệp thì có người viết bán rẻ nghiệp- theo tác giả ,mang sứ mệnh quan trọng như kẻ kiếm củi ba năm tiêu một giờ. Tác giả nhấn mạnh thế độc lập tư tưởng, và cần một tinh thần vũng chãi , thaí độ tất yều cần phải có đối với người làm nghệ thuật tham gia đường lối cách mạng .
Vài ba năm sau- nhiều nhà văn dễ dãi đua đòi viết tiểu thuyết luận đề cách mệnh -như Nguyễn Thị Vinh với Hai Chị Em , Thương Yêu, Xóm Nghèo - không mấy thành công như Phạm Thái Truyện năm người thanh niên . Nhân vật làm cách mệnh Nguyễn Thị Vinh chỉ phảng phất qua một truyện đọc được là Bốc Mộ - còn hầu hết nhân vật khác giả tạo, đẫm một thứ triết lý nông cạn, thô thiển- đưa luận đề cách mạng vào chuyện như một tiêu đề cần có. Tác giả không là một người làm cách mệnh chuyên nghiệp, chỉ tham gia con đường ấy như cảm tình viên - có chăng nữa, chắp vá hình tượng người thân cận, bạn quen biết khi xây dựng nhân vật truyện làm cách mệnh - nên không dễ thành công. Mớ triết lý vụn vặt ở Tình Lụy - chẳng khác gì học sinh làm luận văn biết nối kết đề tài- và nội dung lại xếp đặt lộn xộn, thiếu mạch lạc. Chẳng hạn, tác giả cho con khỉ đực thoát khỏi ách người cầm giữ- sau không thể thoát được, vì cứ nghĩ đến không còn được gặp con khỉ cái- thì khỉ đực bị sa lấy thì kết thúc Tình Lụy chẳng đâu vào đâu? Thêm một lần , tác giả cho Nhân từng được chứng kiến - từ khi khỉ ra đi đến lúc bị sa lầy đành phải trở về- vì con khỉ đực muốn cứu bạn- chứ không phải luỵ tình . Tác giả muốn giáo hoá người đọc tin rằng đây có lập ý cao lập ý cao- đọc giả không biết kết cấu chưyện kết thúc? Cho cả hai cách giải quyết Tình Luỵ thế nào đi nữa, cả hai không thể gọi có chất sáng tạo.
Trở lại tiền chiến, nhà văn Tô Hoài đã thành công chuyện tả loài vật - đọc sáng tác nhận ra ngay sự phối kết thực tế và hư cấu rất nhịp nhàng , phong phú. Với Phạm Thái cũng vậy, sống trong môi trường cách mạng hoà bằng máu, hình nhục, căm hờn, hy vọng nhiều, thất bại không ít- một khi đưa vào tác phẩm sẽ dễ thành công hơn. Còn Nguyễn Thị Vinh tự nhận giai cấp tiểu tư sản nông thôn, sau biến thái cùng giai cấp thị thành- một khi tái hiện đời sống cũ ( nông thôn) không còn nữa- thì tai sao Nguyễn Thị Vinh ở giai cấp ấy lại không tả nếp sống vốn tích lũy - quay sang bước chập chững đi vào con đường ngụy bác ái, ve vãn lao động.
Cũng là nhà văn từng sống ở môi trường lao động, một khi tả về lao động sẽ khác nhà văn sống ở môi trường trưởng giả mổ xẻ nhân vật lao động, tất nhiên thất bại là đương nhiên .
Truyện Hai Chị Em tả chuyện xung đột giữa hai phe quốc, cộng- phê phán ý thức hệ mác xít qua hình tượng nhân vật được mô tả, lại chỉ là lời ca bà mẹ ru con giản lược công thức: Con thức giấc không thấy ba, vì ba con đi đánh Cộng quân. Thử xét tâm lý một người đàn bà xem có đúng như hành động thường thấy với hoàn cảnh ở ngoài đời không- cho dù người đàn bà ây có căm giận đối thủ đến mấy nữa, cũng không bộc phát lời lẽ ngô nghê nghèo nàn như vậy. Đề cập trường hợp Nguyễn Thị Vinh, riêng- và chung , với nhà văn tầm thường khác viết chuyện luận đề tương tự Hai Chị Em , bởi lẽ chỉ có khả năng viết truyện tình cảm. Đa số nhà văn mắc phải trường hợp này nhắc ở trên –Huy Sơn vời Trường Ca là một thí dụ .
Người cầm bút luôn luôn nhớ rằng kẻ thù rất nhiều: tư bản, đế quốc, phong kiến, mác xít hay những isme không phù hợp - nhưng không phải vậy , quá nệ lập trường, lúc nào nghĩ đến lại lảm nhảm: tôi chống đế quốc đây luôn miệng , coi như thế là tác dụng?
Nhớ đến người đi tiên phong chống ý thức hệ mác xít thời đoạn 1952. 53, 54 một nữ văn sĩ khác có sách in trong nhóm Phượng Giang , đó là Linh Bảo. (Phượng Giang: hậu thân Tự Lực văn đoàn- tương tự như NXB Đời Nay tiền chiến- vẫn làNhất Linh chủ trương ở hậu chiến).
Linh Bảo, nhà văn nữ sống xa quê hương nhiều năm, khi sống ở Hương Cảng (Hong Kong) đã khởi sự viết truyện dài đầu tay Gió bấc. Truyện tả một người sinh ra thời loạn lạc, sống qua nhiều chế độ chính trị , nhân vật tự sự hoá tiểu thuyết chính là tác giả. Linh Bảo , con gái một tổng đốc Nam triều , sinh trong gia đình phong kiến, và hiểu được phận gái không chỉ lấy chồng sinh con tròn bổn phận như mọi người nữ khác. Nàng có cơ hội , vụt sang Hong Kong , thân lập thân, kiếm sống, học tập, chịu đựng cam go hoàn cảnh mật đắng, bệnh xuyễn hoành hành-, tác giả không bỏ dở học hành, và giữa tình thế quốc cộng ở Trung hoa – Quốc dân đảng Tưởng giới Thạch rời lục địa, phe Mao trạch Đông lên nắm quyền bính tiếp thu trường đại học, nơi tác giả đang theo học. Bối cảnh xã hội chỉ có vậy, câu chuyện được viết lại rất giản dị, từ dàn bài, qua tình tiết chuyện được kể ra- lên án chủ nghĩa vô sản thật khách quan ,diễn biến đúng cuộc sống tác giả trải nghiệm. Có đọan tả một mẩu đời người làm cách mệnh việt lưu vong ở Trung hoa ( mẫu héros fatigué -anh hùng thấm mệt Nguyễn Hải Thần người đọc thấm buồn với kiếp lưu vong - hệt ý thơ tiêu dao Nguyễn Bính:
Hỡi ai đi gió về mưa
Có gây dựng nổi cơ đồ gì không?
Về tự sự kể Gió bấc - tác giả ghi sinh hoạt đi xuống bọn phong kiến quan liêu ngày tàn lụi qua ngày. Từ lối sống nhỏ nhặt thường ngày của người cha, người mẹ- người chị trong gia đình, khi còn sống ở nhà , và bệnh tật ra sao- Linh Bảo ghi thật tỉ mỉ, cảm động.
Bối cảnh xã hội ảnh hưởng tới người xung quanh sống tha hương, tác giả đưa vào chuyện nhịp nhàng hài hoà từng nếp sống của đủ hạng người. Bà sẵn có bút pháp vững vàng, biết phân phối điều tiết , hệ thống hoá- tạo thành cuốn truyện luận đề tư tưởng độc đáo. Gió bấc - nếu đem so sánh với tự sự tiểu thuyết hoá Les mandarins Simone de Beauvoir, thì Gió bấc chưa đủ tầm vóc đứng cạnh một tác phẩm lớn. Simone de Beauvoir , nhà văn nữ hiện sinh chủ nghĩa sống kề bên Jean Paul Sartre- văn nhân trí thức có thái độ sống rất cới mở, tôn trọng sự thật, dám xưng tụng thần tượng , và khi nhìn thấy thần tượng chỉ là đồ bỏ, thì dám quyết đoán từ bỏ không thương tiếc. Một số tác phẩm ban đầu của Sartre thỏa hiệp xưng tụng mác xít tiến bộ, đến khi Nga đưa quân đàn áp Hung ary(1956) , lập tức Sartre lên án mạnh mẽ cộng sản Nga là đế quốc thư lại mới.( báo Express 1956).
Trở lại Nguyễn Thị Vinh ban đầu viết truyện ngắn khá hay - truyện Đồng năm xu chẳng hạn. Rồi không hiểu sao từ đó đến nay ,tác giả lại mất hẳn hơi văn ấy! Và hai nữ văn sĩ này đều là giường cột của Tự lực văn đoàn ( nối dài), lại có hai cách viết khác nhau. Về truyện luận đề tư tưởng ,thì Linh Bảo thành công ,và truyện ngắn tâm tình xã hội - Nguyễn Thị Vinh xứng đáng đại diện- khi bà chuyển sang viết truyện luận đề chính trị thì Nguyễn Thị Vinh tụt hậu.
Kết luận hai nhà văn nữ hậu chiến – chỉ hai người này nổi trội- so với các nhà văn nữ khác, bà Tùng Long , Quỳnh Hương ( nữ). Truyện tâm tình bà Tùng Long viết theo kiểu xu nịnh thị hiếu độc giả, gợi tình tiết dục vọng thấp hèn con người ,chỉ có mục đích thương mại, sách , báo bán chạy, ( một nghề kiếm sống nuôi con, như lời tự bạch) độc giả giới nữ đeo bám mục Gỡ rối tơ lòng trên nhật báo bán chạy hàng đầu Sàigòn mới. - chủ nhiệm: bà Bút Trà.
Nước ta không là quốc gia thiếu nhà văn nữ có tài - tiền chiến Thụy An-Hoàng Dân, đã có một thời làm mưa gió trên văn đàn , qua tiểu thuyết tự sự hoá Một Linh Hồn- tác giả là một tiểu thuyết gia tài năng , tâm lý sâu sắc, biết điều tiết, hệ thống hoá thanh cuốn truyện phản ánh giai cấp thống trị đàn áp con người bị trị trong một xã hội nô lệ. Câu chuyện được lồng trong một khung cảnh hữu tình, và bà là nhà văn tiên phong văn đàn nữ giới tiên bán thế kỷ XX.
Như trên đã nói, bà chịu ảnh hưởng Thiên chúa giáo , và áp dụng hương cứu vớt tội nhân chúa Giê xu ( Jésus Christ) vào cuộc sống nhân sinh thực dụng- tuy chưa thoả mãn tất cả điều mong ước- chỉ có từng điểm tương kính hòa đồng thích hợp với người Á đông : nhẫn nại, trầm lắng nung nấu ý chí tranh đấu mãnh liệt.
Nhận xét về Thụy An-Hoàng Dân trong Nhà văn tiền chiến 1930-1945”, tôi từng kết luận :
... bà có một kỹ thuật viết tiểu thuyết cao, thoát, loại truyện luận đề hướng thượng..”
Ca tụng Một linh hồn, một tác phẩm với một bút pháp tân kỳ, phân tích tâm lý nhân vật mới mẻ, khám phá hình tượng nhân vật một thời đoạn sống điển hình- chẳng kém gì L’éternel mari ( tạm dịch: Người chồng chân thật) của Dostoievski vậy. Sở dĩ tiếng tăm cuả Dos . được nhiều người biết đến, tạo được một âm hưởng rộng lớn toàn cầu- không vì Dos. được sinh ra ở một nước lớn, và có một chuỗi tác phẩm nhiều lần gấp bội toả sáng ủa bó đuốc văn chương nhân loại - độc giả muốn hiểu đời sống giai cấp dân Nga sống ra sao vào thế kỷ XIX .thì chỉ cần đọc Dos . , thì đã như được đáp ứng . Còn Thụy An-Hoàng Dân sinh trưởng ở nước thuộc địa, và chỉ mới có một tác phẩm thành công, hẳn chưa dễ gì vết tích văn chương được loang rộng ngoài biên giới Bắc Kỳ - thời đất nước bị Pháp bảo hộ. Vũ Ngọc Phan, nhà phê bình văn học tiền chiến nổi danh- nhận định giá trị văn chương Thụy An-Hoàng Dân:
”… Tuy vậy, Một linh hồn cũng đáng kể là một tiểu thuyết xuất sắc nhất của một phụ nữ Việt Nam từ trước đến nay: tác giả đã giàu tưởng tượng, truyệb lại xây dựng một cách vững vàng, chắc chắn..” (Nhà văn hiện đại – quyển tư, tập hạ- sách đã dẫn).
KỲ IV
Bây giờ nói đến các nữ thi sĩ tiền chiến: Anh Thơ, Vân Đài, Hằng Phương… và ở đây tôi chỉ đề cập thi sĩ điển hình Ngân Giang.
Ngân Giang, một nữ sĩ đứng hàng đầu thơ tâm tình tranh đấu - tác giả Xuân chiến địa trích đoạn dưới đây , một bài thơ hay nói lên sự hòa hợp xã hội đi lên trong giai đoạn giao thời tiền chiến 1945:
“…Công chúa Ngọc Hân mơ Nguyễn Huệ
Bởi say sự nghiệp khách anh hùng
Em cũng mơ người trai đất Việt
Sẽ là những bậc Nguyễn Quang Trung
Đẹp gì chăn gối trong khi cả
Dân tộc sôi lên chí quật cường
Hãy gác tình riêng mưu nghiệp lớn
Để đong máu giặc dội biên cương
Ngày mai trọn phận người dân nước
Vó ngựa xin dừng trước mái gianh
Để ngắm ai xưa ngồi dệt lụa
Má đào còn thắm tóc đương xanh
Nếu sớm hy sinh nơi chiến địa
Chữ vàng chói lọi ánh vinh quang
Em kiêu hãnh như chồng em đã
Sống với thời gian vượt thế gian…”
(…)
Thi sĩ tiền chiến Tự lực văn đoàn, ngoài Thế Lữ -trưởng nhóm thơ , còn Huy Cận, Xuân Diệu, Anh Thơ … Và ngay bản sắc thơ độc đáo - vẫn cần có một chef de file- thì Thế Lữ chưa đúng là một trưởng nhóm ( thơ) - khi so sánh với thi nhân nước ngoài
Bài Nhớ rừng tưởng niệm thời oanh liệt nay còn đâu , chẳng có gì mới mẻ - mượn hơi tứ thơ Où sont les neiges d’antan ( Thời oanh liệt nay con đâu?” - hoặc Hai con hạc trắng bay về Bồng lai vay tượng hình thơ cổ Trung hoa. Sự liên tưởng này nếu có, chỉ là chắp vá – tuy nhiên phải thừa nhận Thế Lử có đôi chút tài mọn điều phối ý tưởng phù phép tạo được sự đồng nhất thành bài thơ nổi tiếng Nhớ Rừng, hoặc hai con hạc trắng điệu nghệ mơ mộng bay về Bồng lai. Thế Lữ đã biết mượn đà văn hoá phương tây làm của riêng - rất đáng cảnh tỉnh kẻ chỉ biết mượn ý tác phẩm trung thành người khác- hay nói khác đạo, sao chép tùy tiện đặt bút ký tên mình như sự hãnh diện tài năng sáng tạo. Một thuật ngữ epigone- phương tây dùng chỉ bọn bắt chước, sao chép thấp kém trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, thi ca, âm nhạc, triết học. ( epigone: an inferior imitator, especially of some distinguished writer, artist, musician, or philosopher).
Còn Xuân Diệu- thi sĩ nổi tiếng đô hội thanh xuân , với Yêu là chết ở trong lòng một ít - sao chép tư tưởng không ít : Partir , c’est mourrir un peu. Và trong thơ Huy Cận có hai câu, mới đầu đọc lên nghe thật hay , tư tưởng mới, ý thơ lại lý thú lại tân kỳ:
Thâu trong cái ngáp dài vô hạn
Hình ảnh lung lay vũ trụ tàn
tưởng là độc đáo riêng của chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm - hoá ra bắt chước sao chép tân ý Charles Baudelaire - Les Fleurs du Mal ( tạm dịch: Ác hoa ):
Et dans un baillement avalerait le monde.
Và thế giới thơ Vũ Hoàng Chương ngông nghênh, đôi khi chán chường lại chẳng biết tại sao chán chường, chẳng có lý do gì để biết tại sao? Mà có lý do đi nữa, đã mấy ai phi lý có lý do như Albert Camus đâu? Vũ Hoàng Chương vào văn nghiệp thơ- ban đầu rất mặc cảm tự ti vị nghệ thuật - cho rằng ý nghĩa art pour art phải sống khác người, riêng biệt, không cần hiểu đồng loại , quay mặt lại , như một kẻ từ hành tinh xa lạ đến hạ giới, vẻ kiêu kỳ. Ông được quyền khinh đời như phản ánh văn chương Nguyễn Tuân (Vang bóng một thời) , nhưng phải là trang bất tử văn học việt- vì trước đó tác giả là kẻ chán đời thực sự chân thành, sống trải kinh nghiệm máu xương, chán đời lại là yêu cuộc sống . Và một thanh niên mới bước ra khỏi lề trường học bày đặt chán chường nhân thế, hô hào đời phi lý t muốn nôn mửa - thì sự phi lý ấy sẽ được nhìn ra sao , và đối với kẻ mang trong huyết quản ba bốn, mươi năm đời chán mình , còn mình thì vẫn chẳng thương đời.
Với Vũ Hoàng Chương- chúng tôi thừa nhận có nhiều bài thơ ngang tàng phá phách, lại chưa có niềm kiêu hãnh lớn Nietzsche:
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh.
Qua Lưu Trọng Lư- nhà thơ chịu ảnh hưởng tây phương ít nhất, và nặng tình, ý đông phương- càng nhiều hơn sao chép ý tưởng thơ Nhật bản. Thơ ông có một ý vị trầm buồn, đôi khi tiềm tàng hùng ý. Hình ảnh , tứ thơ thời dĩ vãng phản ánh trong thơ thật tuyệt diệu, chẳng hạn một hình ảnh thơ nhớ mẹ thiếu thời lúc non trưa:
…Mỗi lần nắng mới hắt bên song
Xao xác gà trưa gáy não nùng
Lòng rượi buồn theo thời dĩ vãng
Chập chờn sống lại những ngày không…(*)
Một thi sĩ khác đã gạt ra ngoài hình ảnh yêu đương trong thơ văn xã hội tiền chiến. lấy yêu đương làm nỗi khuây khỏa chính đáng - thì độc nhất người ấy đi trên tình yêu lứa đôi tầm thường, hướng về suy tư hờn vong quốc Chiêm Thành- bóng gió nước Nam bị Pháp đô hộ. Người ấy là nhà thơ Chế Lan Viên:
... Tôi có chờ đâu có đợi đâu?
Mang chi xuân lại chỉ thêm sầu
Với tôi tất cả là vô nghĩa
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…
*( Bài thơ Nắng Mới này Lưu Trọng Lư đạo thơ Nguyễn Vỹ. Xem thêm trong Thư viết ở Sài Gòn của Thế Phong( NXB Văn Uyển, San José, California 2000 -chú thích năm 2000)
Rồi Hàn Mặc Tử, Trần Huyền Trân, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, T.T.Kh., Trần Trung Phương, Huyền Kiêu, Đoàn Văn Cừ, Đinh Hùng, Lan Sơn, Huy Thông, Hồ Dzếnh vv… danh nhân quen tên thời tiền chiến chưa hẳn gây được tăm tiếng lừng lẫy trong nền t hi nghệ tiền chiến Việt nam có đủ sức vóc đương đầu thế giới. Nhưng tạo được tăm tiếng cá nhân ngay ở trong nước, thì họ đã có một chỗ đứng vững vàng.
Vậy sự thất bại lớp thi sĩ tiền chiến bắt đầu từ đâu? Chính là họ đã sống trong một khung cảnh quá eo hẹp, nhỏ bé, khoảng không gian bó rọ bốn bức tường thành phố, cùng khai thác được một ít vốn sống thuở thanh thiếu niên thôn quê, chưa nhiều cơ hội đi sâu từng lớp sinh hoạt nhiều con người qua nhiều thành phố, làng mạc- nên không thể khai triển vốn sống có được - tóm lạ họ không tạo được cơ hội mà chỉ theo đuôi cơ hội sẵn có rồi làm mới lại.
Đa số văn thi sĩ tiền chiến bị bó giọ, thiếu tâm hồn sáng tạo ,và chẳng có một văn nhân nào dám hy sinh cả đời cho văn chương nghệ thuật. (trừ Hàn Mặc Tử) Thế giới văn chương tiền chiến chỉ có niềm kiêu mọn, đạt đỉnh văn chương thật hiếm hoi. Người làm cách mệnh thì nửa đời, nửa đoạn , khi bị gông xiềng, chống đối tiêu cực qua hình ảnh con hổ bị nhốt ở Sở Thú. (Nhớ rừng: Thế Lữ)
Còn nữa, tình trạng thâm nhập văn hóa ngoại quốc, đa số văn thi sĩ tiền chiến đã phỏng dịch, phóng tác-, mong nổi tiếng nhanh hơn. Trí hẹp, tham vọng mọn, ham muốn danh xuông ở nước nhà đã là đủ, nên không sao thể so bì với thế giới được! Xin ghi lấy nhận định này làm kinh nghiệm cho lớp sau.
Tình trạng văn nghệ nước ta giai đoạn 1930-1945 chẳng khác gì tình trạng văn nghệ và xã hội Nga vào thế kỷ XIX bao nhiêu? Gia đình khá giả đều cho con cái theo học trường Pháp, thanh niên thiếu nữ nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp ở ngoài xã hội—và đó là điều được mệnh danh thuộc gia tộc quí phái ( noblesse oblige ) . Nhìn sang văn nghệ ở Nga thời ấy, nhờ nhà văn dám hy sinh trọn đời cống hiến cho văn chương, như Dostoievski, Léon Tolstoi, Gogol, Tourgueniev…. mới được thế giới biết đến. Ở ta, không chỉ nghèo nàn về tác phẩm hay , một phần sao chép cái hay, cái đẹp văn chương nước ngoài, hẳn không thể có được tác phẩm nổi bật là lẽ đương nhiên. Thời kỳ chữ quốc ngữ phôi thai, danh từ thiếu thốn, chúng ta phải để nguyên văn ngôn từ Pháp - đến ngay một cuốn từ điển chỉ để giải nghĩa tiếng việt chuẩn mực cũng không. Tuy vậy, ở Nga thời kỳ ấy cũng chịu ảnh hưởng văn chương Pháp không ít, chẳng khác mấy so với ta.- tác phẩm văn chương Dos. Leon Tolstoi vv.. tiếng Pháp xen lẫn được in chữ nghiêng, en francais dans le texte.
Văn nghệ , xã hội, bối cảnh chính trị luôn tiến triển song hành với nhau. Có khi bối cảnh chính trị, nhờ biết được qua văn chương phản ánh, như trường hợp Voltaire, J, J, Rousseau ở Pháp hoặc nhà văn xã hội Nga Maxime Gorki chẳng hạn. Đôi khi chính trị đưa văn nghệ đi theo đà cách mạng như trường hợp kháng chiến 1945 ở Việt Nam. Cuộc kháng chiến làm bừng tỉnh thức giấc tâm trí nhà văn, nhà thơ t iền chiến –dài ngủ li bì trong đêm dài bị bảo hộ- bừng mắt dậy bựt đổi thay. Giấc mộng lãng mạn chủ nghĩa xưa kia chịu ảnh h ưởng phương tây được rũ bỏ, và coi như mình đã chót sống ê trệ. Có một điều lạ, chủ nghĩa lãng mạn classicisme châu Âu là catholisme văn nghệ. Khởi đầu từ giáo chủ triết gia Aristote lan sang Pháp , đến các nhà phê bình nghiên cứu văn học Boileau, Laharpe vv… dần dà lan tỏa sang kịch tác gia Corneille, Racine, Voltaire và các nhà văn nghệ khác nữa. Ông tổ thực hành chủ nghĩa lãng mạn cao độ phải kể J. J. Rousseau, Chateubriand - đem hẳn cuộc sống riêng tư hoà nhập đời sống t hường nhật xã hội - tạo thành một chủ nghĩa văn chương lãng mạn .
Và thế` kỷ XVIII là một thế giới lẫn lộn vàng thau, đạo đức giả, ru ngủ tâm hồn con người và là thế kỷ lộn xộn vô trật tự nhất. Rồi bước sang thế kỷ XIX ,thê kỷ tinh hoa chọn lọc mức độ hưng thịnh có kỷ cương.- nên được gọi là siècle romanesque ( thế kỷ lãng mạn ) . Ở Anh, Shakeaspear đã tung hoành bão tố, ở Nga Pouckhine cũng không kém. Thực ra ở Pháp ,Thụy Điển, Đan Mạch thời kỳ ấy cùng dấy lên phong trào văn chương lãng mạn cực thịnh. Riêng Pháp lại lao đầu vào cái mới với tất cả sinh động, mà chính cái cũ -chủ nghĩa lãng mạn cổ điển, tượng trưng đang có vị thế bao trùm- nền văn nghệ trẻ trung ấy vẫn bị dằng co cái cũ, nền móng cái mới chưa có căn bản vững chắc. Lướt qua sinh hoạt văn chương tư tưởng, từ trung cổ đến thế kỷ XVII, XVIII, ở Pháp chẳng có gì nổi bật đáng lưu tâm. Còn ở Anh, thì Walter, Scott đã từng lúng túng ban đầu, sau lại ngạc nhiên với tác phẩm được đưa vào chương trình giáo dục của Pope và Blair chẳng hạn, và cuối cùng thì cùng bước vào lãng mạn chủ nghĩa. Ở Pháp, người ta thấy Victor Hugo xuất hiện, theo đầy đủ bản năng thiên tài sự sung sức cao độ. Ở Ba Lan là Mickiewicz, ở Ý Mazani, ở Đan Mạch Oclensehaper và Thụy Điển là Tegner vv…
Phong trào lãng mạn mạnh nhất làm khởi điểm cho tất cả phong trào các nước khác, v2 một Đức quốc dẫn đầu . Còn phong trào lãng mạn cổ điển Pháp tràn sang nước ta , như một thứ phát tán chủ nghĩa sang nơi bị đô hộ, ban đầu đượccoi như hiện tượng mới lạ. Sự bắt chước hẳn là thấp kém, bao giờ thì chẳng vậy, học sinh thiếu căn bản dễ bị ảnh hưởng non nớt –sao vượt tư tưởng thầy truyền đạt, mà thực ra thì bậc thầy ấy chẳng tái cán gì cho lắm!
Nói chung, không riêng ta chịu ảnh hưởng phong trào lãng mạn , các nước chịu ảnh hưởng lẫn nhau- sở dĩ ta hấp thụ kém cỏi, bởi tâm hồn á đông chưa thích hợp trực diện nhận lãng mạn phương tây như họ nhận với nhau.
Riêng ở Nga, chỉ một mình Pouckhine đã tạo được một chủ nghĩa lãng mạn riêng biệt, khác hẳn romantisme thế giới giai đoạn ấy. Nhà văn Nga đưa ra một thứ lãng mạn rút ngay trong đời sống phóng khoáng bản thân , khi viết thơ trường thiên Eugene Oneguine . Tác phẩm điển hình chủ nghĩa lãng mạn rất ư riêng tư Pouckhine- đứa con tinh thần trong văn chương mà ông yêu nhất có đôi chút tân kỳ, phản ảnh hình tượng sống tác giả. Thế giới riêng biệt của lãnh tụ văn nghệ lãng mạn rất ư riêng tư ,và sự sống sung mãn cá nhân đồng rung cảm hoà đồng với xã hội ở mức độ cao đỉnh chóp của Pouckhine.
Ở ta, Tự Lực văn đoàn theo chủ nghĩa lãng mạn, duy chỉ Khái Hưng và Nhất Linh thành công hơn cả. Nếu Khái Hưng tả nhân vật lãng mạn không cần dựa vào hoàn cảnh sống riêng tư, xã hội, tập quán dân tộc- thì ông hư cấu vẫn tạo được tác phẩm văn chương lãng mạn- chẳng hạn tả hai người yêu nhau không lấy được nhau- tình tiết rất ư là nước mắt-thì phỏng theo Wuthering Heights (Đỉnh gió hú- đã được dịch sang việt ngữ) của Emily Bronte.Và Khái Hưng đã vượt được sự sao chép hình tượng lãng mạn chung ấy. Tôi muốn nhấn mạnh lối sống và kỹ thuật tả cảnh yêu đương đôi lứa của Khái Hưng rất độc đáo khác hẳn các nhà văn đồng thời- Khái Hưng đã nổi tiếng là điều không cần bàn cãi. Nhóm Tự Lực văn đoàn đã tránh được sao chép ảnh hưởng từ nội dung trung thành mà họ mượn, tiểu thuyết nhóm này đã thành công-- còn thơ thì trái lại, sao chép ý tưởng thơ phương tây quá trung thành, dầu tài như Xuân Diệu- đã có lần thoát dịch ý thơ tây , đọc thơ ta mà chẳng là thơ ta, thơ tây thì kém chât lượng thơ tây:
Lẫn với đời quay tôi cứ đi
Người người không thấu giữa lòng si
Cũng như xa quá nên ta chỉ
Thấy giấy yên như một miếng bìa…
Tới Huy Cận sao chép dịch ý thơ Charles Beaudelaire làm của riêng: Thâu trong cái ngáp dài vô hạn như đã nói ở phần trên.
Thời kháng chiến, bài thơ Trở về Xuân Diệu mới chính là của Xuân Diệu- không cần vay mượn ai khác nữa. Xuân Diệu tả mẩu đời thường nhật - một đất nước mới đang vươn mình, độc lập đang nẩy mầm:
… Tôi lại về vì khúc nhạc sau đây
Đập vang trời, mời cả nước cùng mây
Ai muốn ngủ thế nào cũng được
Như một sớm trên đường vang tiếng guốc
Như một trưa chim chóc réo mùa hè
Tiếng dũa rèn đập nắng chảy vàng hoe
Tiếng tia sáng múa vườm qua chiếc búa
Những bánh xe quay, những guồng máy lụa
Những bàn châm dậm những cánh tay nhanh
Tiếng cất nhà. Trời đất gõ lanh canh
Kêu thánh thoát trong khi thành cửa sổ
Những tia máy phì phì đang tập thở
Những con tầu đầy sức rúc huyên thuyên
Tôi phải về nghe dự nhạc đoàn viên
Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ
Việt Nam sau một thời lao khổ
Bây giờ cười như hoa nở….
Lại nhớ đến nhà thơ hậu chiến khác chịu ảnh hưởng Xuân Diệu- , qua bài Trở về - đây là liên tưởng làm tựa điểm -để Quách Thoại sáng tạo được Cờ dân chủ bứt đi xa hơn.
Có thể nói nhà thơ hậu chiến tài năng bậc nhất trong bình diện văn nghệ hậu chiến (miền Nam) . Thơ phản ánh hình tượng sống thực tiễn của chính nhà thơ Quách Thoại- khổ như con vật- ngược lại đời sống tinh thần lại thanh tao thánh thiện!
Những bài thơ hay của Quách Thoại, phải kể đến:: Cờ dân chủ ,Như Băng trường tình, Em bé mồ côi, Tôi phải về… Có thể gọi chủ nghĩa lãng mạn cách mạng trở lại như thác đổ trong thơ ông, qua lối nhìn rất ư tinh tế tới tủy, não, rung cảm, yêu, hởn, giận ghét, công phẫn, chịu đựng thầm lặng- sau Quách Thoại xuất thần viết được nhiều bài tuyệt bút. Chẳng hạn Như Băng trường tình:
…Như Băng! Như Băng! vì đâu mà lệ ứa
Ta khóc than nghĩ tủi phận đời ta
Một linh hồn lạc lõng giữa bao la
Một tình yêu chưa một lần trao gởi
Tim cô đơn chưa một lần ấm sưởi
Lạnh trong hồn thấu ở trong sương
Nghe đêm xuống tưởng buồn như tận thế
Lệ rất nhiều mà khóc chẳng ai lau
Ta một mình ôm tất cả đớn đau
Không dám nói bởi chưng rằng khó nói
Viết lời thơ thành lời kinh kêu gọi
Nào vơi chi sầu hận của nhân gian
Như Băng xin em ngó nẻo Thiên đàng
Để nguy hiểm ta sống đời địa ngục
Ta chỉ sợ rồi dây nơi nhà phước
Máu tai ương sẽ vấy tấm thân em
Lưỡi dao người sẽ cưa xẻ gót chân sen
Em sẽ chết dập bàn tay ngà ngọc
Rồi ta khóc đến tan tành trí óc
Như Băng em nào hiểu gì đâu?
Đã từng đêm ta nguyện với ta cầu
Lòng tự hỏi vì đâu đời khổ lụy?
Bởi vì đâu hỡi loài hoa cao qúy!
Mà hương thơm còn mãi đến ngàn sau
Nở chi đây phô sắc thắm nhiệm mầu
Đất sắp sửa nứt thành phun lửa
Như Băng em đơn thương là thế rứa
Bởi yêu em mà khóc mấy cho vừa
Đấy lệ tình ta em biết cho chưa?
Xác hồn ta chết đau gần quá nửa..! (…)
Theo tác giả tiết lộ, bài thơ viết được nhờ cảm hứng đem đến từ một Nàng thơ- ( con cô cậu ruột nhà thơ ữ ử nổi danh sau này :V.K.)
Sau Quách Thoại, không thể quên nhà thơ đại tá Hồ Hán Sơn. Con người có tài chỉ huy quân sự, soạn gỉả sách: Nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, Chiến tranh thứ ba bùng nổ-Việt Nam sẽ đi về đâu? còn làm thơ. Và thơ thì hay.Tác giả Hồ Hán Sơn nhiều tham vọng chính trị, thiếu thủ đoạn một chính trị gia mưu kế, hậu quả cuối đời bị tướng Cao Đài Nguyễn Thành Phương cho lệnh thủ tiêu, vứt xác xuống giếng ở trại quân Bến Kéo- Tây Ninh.( 1955) . Liên tưởng nhà văn Nga Tourgueniev từng liên lạc với một nhóm làm cách mệnh ở Luân đôn ( London) – thì bạn thân người Pháp - Prosper Mérimée, nhà văn Pháp - biết bạn mình non nớt lại ham muốn chính trị, tất sẽ thiệt thân, gửi thư khuyên răn. Bởi Merimée muốn Tourgueniev hãy chỉ là nhà văn thuần túy mà thôi. (un vrai littérateur). Prosper Mérimée từng làm quân sư vua Pháp, về già lánh mặt vua- tránh lưỡi gươm oan nghiệt giáng xuống đầu. Viết về sự chết bản thân sau này , nhớ cái chết tuyệt diệu loài mèo - giống mèo thường tìm một nơi chết kín giấu để chết t cách bí mật không cho tìm được vết tích – và trong thư có câu:
”…J’ai remarqué que les chats lorsqu’ils sont devenus vieux et malades, fuirent le monde et cherchent quelque trou pour y crever incongnito..”( Lettre de Mérimée à L’Empereur- Une amitiée littéraire của Maurice Laturier, Nxb Hachette,Paris 1952).
Và nhà quân sư ấy là tác giả truyện Carmen từng được tặng huy chương, lại chẳng màng kẹp ngù trên nẹp áo. Phải chăng lời khuyên Mérimée với bạn , vì biết Tourgueniev chỉ có khả năng làm nhà văn thâùn túy mà thôi. Như vậy , với trường hợp Hồ Hán Sơn, chúng ta vẫn thiếu một quân sư làm tư vấn thi sĩ đại tá ? Thật tiếc cái chết oan uổng Hồ Hán Sơn, nhà thơ tài ba , tác giả bốn câu thơ dưới đây: ( thiếp chúc tết Nguyên đán người viết vào năm 1955, trước khi tác giả bị thủ tiêu)
Ở Bắc đã lay cây rụng lá
Về Nam ngơ ngẩn áng mây sầu
Đất trời đang hẹn cơ vong quốc
Thơ kiếm xuân sang chúc bạn bầu
Hồ Hán Sơn, tác giả một số bài thơ hay ,gần như tuyệt bút: Hẹn Hò, Hương Tàn, Tình nghèo… tuy sáng tác thơ không nhiều- nhưng thơ đều hay – chĩ một bài Tình nghèo rung động tâm hồn một nhạc sĩ - Phạm Duy phổ thành ca khúc lưu danh. ( bài thơ đăng trên báo Việt chính, ký bút danh Trần Hồng Nam ).
Tứ thơ đẹp mô tả bức tranh quê thơ mộng, tình đôi lứa thủy chung, đặt tình yêu non sông đất nước trên hết, nếu chẳng may chàng bị thương nơi trận địa thì hãy cứ về- sự đắn đo bất trắc tương lai- dầu sao người đàn bà vẫn một lòng dạ trông chờ. Tình nghèo , một trong số bài thơ hay của Trần Hồng Nam- Hồ Hán Sơn :
“Nhớ thuở nào
Anh cày thuê
Em chăn trâu
Bóng mát dưới cầu
Quen nhau
Một cỗ trầu cau
Nên đôi chồng vợ
Túp lều tre nứa
Dựng cuối vườn làng
Hai mùa lúa chín ngô vàng
Chầy tre cối đất nhịp nhàng đã vui
Thế rồi
Mõ giục từng hồi
Giặc tràn mấy xứ
Lúa khoai mầu mỡ
Ai đi không tiếc ruộng đồng
Đường quê thiên hạ tiễn chồng
Em đưa anh ra lính
Giặc vào anh đánh
Giặc tan anh về
Làm sao đuổi hết giặc đi
Để cho cối đất chày tre nhịp nhàng
Bao giớ giặc chết trên ngàn
Giặc tan ngoài bể
Nhớ lời em nhé
Và cánh đồng quê
Ai chê người đuổi giặc
Ai ghét kẻ thương binh
Còn làng còn nước còn anh
Còn đồng ruộng cũ còn tình lứa đôi
Em vui
Nước nhà độc lập
Đường quê tấp nập
Trai tráng về làng
Hai mùa lúa chín ngô vàng hơn xưa..”
Hồ Hán Sơn đã chiến đấu ở Liên khu IV với Quang Dũng- nhà thơ tai hoa bậc nhất giai cấp tiểu tư sản ,tên thật Bùi Đình Diệm hoặc Dậu . Ông từng sang Tàu làm cách mệnh, tốt nghiệp Hoàng Phố. ( trường quân sự quân sự chính quy Trung hoa dân quốc).
Và tiện dịp nhắc chuyện nhà thơ Xuân Diệu mặc bộ đồ nâu hát thơ Tây Tiến của Quang Dũng ; một bài thơ hay hàng đâu kháng chiến ,thì cũng chẳng có gì quá đáng! Quang Dũng ,là nhà thơ trưởng thành cùng Tất Vinh, Hồng Nguyên, Yên Thao, Hoàng Lộc, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Hoàng Cầm, Trần Dần vv… Thơ Quang Dũng được đăng rải rắc trên các báo liên khu, hoặc được học thuộc ,truyền khẩu qua các chàng Vệ quốc quân trên các nẻo đường hành quân. Một bản sắc thơ riêng biệt, nhịp nhàng, mang tâm hồn sảng khoái, sống hào hoa, lời nhẹ nhàng bay bướm không là thơ sắt máu Tố Hữu thời tiền-kháng-chiến. Hình ảnh quê hương qua các nẻo đường chinh chiến- dưới gót chân Quang Dũng đi qua đều phản ánh trong thơ: Tây tiến, Tiêng chuông ban trưa, Lính râu ria, Đường dài, Buồn êm ấm, Cô gái Sơn Tây, Mẹ, Đôi bờ…..
Hình ảnh thơ có lá chuối phần phật reo, quán cơm nghèo bôc khói, chuối tiêu vàng dẻo quánh, tô riêu cua bốc hơi ấm áp, bắt gặp nàng thợ cấy duyên dáng trong bài Đi chẳng hạn- hoặc phơi bầy tâm tình nhẹ nhàng tế nhị, hình ảnh chiên sĩ hành quân tạt quán bên đường một trưa nắng: Tôi thương mà em đâu có hay! Hoặc hình ảnh hùng tráng đoàn quân lên miền việt bắc khói sương, lòng ngùi ngùi nhớ tiếc miền trung châu lưu luyến của g chàng Vệ quốc xa nhà từ dạo binh đao!
Nói đến Quang Dũng - không quên Vệ quốc quân Hữu Loan - dưới bài thơ chỉ ký một chữ Hữu hoặc Hữu Loan , mà đa số Vệ quốc quân học thuộc và truyền khẩu bạn bè .Thơ Hữu Loan khác thơ Nguyễn Đình Thi -từ nhịp điệu đến nội dung, nói về người lính xa nhà rất tế nhị, đi sâu vào lòng ngưòi đọc. Bài thơ hay như lời nói tự nhiên, đã chau chuốt rồi vẫn bình dị như lời nói. Hữu Loan thành công bắt đầu Mầu tím hoa sim qua Gác chuông, Người đi qua làng, Người quay tơ….
Còn hình ảnh thơ Quang Dũng tả Vệ quốc quân - chiến sĩ gục đầu trên mũi súng bỏ quên đời:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
thì trong Mầu tím hoa sim , Hữu Loan tả chiến binh trở về không còn được gặp vợ, bình hoa ngày cưới thành bình hương và bà má vợ gục đầu bên mộ con gái. Rồi nghe có tiếng than khóc, tiếc nhớ mà không ủy mị, lại rất tự nhiên:
…Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo cưới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giầy đinh
Bùn bết đất hành quân
Nàng cươi xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cuới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lây chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ
Bé bỏng chiều quê
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con
Đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hoa
Tàn lạnh vây quanh(*)
Bài thơ này trong thời kháng chiến chỉ được lưu truyền qua cửa miệng bộ đội này qua bộ đội khác, chưa đăng báo lần nào để có thể gọi là đầy đủ- do đó không một bài Mầu tím hoa sim nào được coi là đúng và đủ. Mãi cho đến năm 1957, khi Nguyễn Bính chủ trương báo Trăm hoa ở Hà Nội (1957) mới đăng trọn bài đầy đủ- và lần đầu tác giả được lĩnh 15 đồng bạc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà- (luơng công nhân bình thường 27 đồng/tháng) . Có hai nhạc sĩ (Việt Nam Cộng Hoà) phổ thơ: Dzũng Chinh và Phạm Duy- với tôi, ca khúc phổ thơ của Dzũng Chinh thật tuyệt vời!.(Chú thích: năm 2001)
Một bài thơ tuyệt bút- tác giả bị Hội Văn nghệ Việt Nam (Tố Hữu cầm đầu ) lên án bài thơ đề cao tiểu tư sản, thiếu mầu sắc nông dân vô sản (prolétarien) . Cúng lớp nhà thơ Vệ quốc bị chỉnh lý ấy, chúng tôi nhớ Yên Thao ( Nguyễn Bảo Thịnh 1923- ) -nhà thơ có danh từ riêng từ ngày khói lửa. Tác giả nhiều bài thơ hay, phản ánh giai cấp tiểu tư sản, như bài Nhà tôi chẳng hạn, cũng vẫn chỉ được truyền miệng ban đầu,dầu là bài thơ trác tuyệt.
Nếu một Hoàng Lộc chỉ cần một bài thơ Viếng bạn , và Hữu Loan một Mầu tím hoa sim, thì Yên Thao cũng chỉ một Nhà tôi là đủ. Còn gì đẹp hơn hình ảnh chiến binh đứng bên này sông nhìn về bên kia sông một buổi tối trời, làng đang chìm đắm mờ ảo dưới làn khói mịt mù chiến tranh- nhớ vợ trẻ, mẹ già, người thân - hy vọng một ngày mai trở về gỉải phóng quê hương mạnh mẽ như tin vào sức mạnh thép tôi già.. rồi sẽ lại được nhìn vườn hoa thiên lý hương, gặp lại vợ mới cưới tuổi đôi mươi, đôi gò má ửng hồng. Lòng tin thép tôi gìa ấy nắm được phần tất thắng ngay trước giờ xưất trận:
…Này anh đồng chí
Người bạn pháo binh
Đã đến giờ chưa nhỉ
Mà tôi nghe
Trại giặc đã tan tành
Anh rót cho khéo nhé
Không lạc nhầm nhà tôi
Nhà tôi ớ cuối thôn đồi
Có giàn hoa lý
Có người tôi thương…
Và buộc phải nhớ các nhà thơ nổi tiếng khác trong kháng chiến : Hoàng Cầm, Hoàng Lộc, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Văn Cao, Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Tất Vinh, Hồng Nguyên - hoặc chiến sĩ văn Minh Tiệp, Phùng, Hà Khang vv…thơ mỗi người mỗi vẻ trong bối cảnh kháng chiến khói lửa .
Bây giờ bước sang địa hạt bàn về nhà văn kháng chiến và chiến sĩ văn :
Nam Cao, Trần Đăng, Nguyễn Trinh Cơ, Đình Quang, Siêu Hải, Lưu Hương…
Nam Cao- nhà văn ngưỡng cửa tiền-kháng-chiến - như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Dân Giám, Nguyễn Khắc Mẫn… vv..
Nam Cao (1916-1951) trước khang chiến đã viết loại truyện Hoa Mai -chuyện nhi đồng cho nhà xuất bản Cộng Lực. Tác phẩm: Nửa đêm, Bẩy bông lúa nếp, Cười, Đôi lứa xứng đôi, và các truyện ngắn đặc sắc khác Thật ra câu chuyện không thành chuyện ấy dưới ngòi bút Nam Cao lại là chuyện đọc được và độc giả thích thú. Thiên tài văn Nam Cao ở chỗ có nghệ thuật viết chuyện kể hấp dẫn ( un vrai bon conteur) . Đọc Nam Cao qua Ở Rừng lại nhớ lối viết tài tình của Nguyễn Tuân Gió Lào - đó là hai nhà văn kể chuyện tài ba có hạng, ít nhà văn nào sánh kịp!
Ở Rừng, Nam Cao giới thiệu nhân vật Cô Vẩu- một cán bộ có tinh thần phục vụ đồng bào xả thân phục vụ mục đích , hy sinh vì lý tưởng dân tộc. Rồi vai họa sĩ , Nam Cao chỉ cần tả qua vài nét điển hình, đủ giới thiệu người đọc vai trò nghệ sĩ thời kỳ kháng chiến, sống nhiều ở nội tâm, phong thái trầm lặng, dầu c ó thất bại đi nữa ,hoạ sĩ không hề bi quan- nở nụ cười khì . Vai bà cụ Quán miền núi Cao Bằng giàu lòng bác ái, đối xử tốt với chiến sĩ trung châu lên núi làm việc nước. Nam Cao có một lối tả cảnh núi rừng thật đẹp, vẻ tĩnh lặng nghìn năm xưa còn đến hôm nay, dễ làm chao đảo lòng người đượm nỗi buồn man mác, trầm lặng. Với tác giả, từ miền rừng núi xa ,lại nhớ miền xuôi, nhớ vợ, mong con- Nam Cao ghi laị thật chân tình, không giấu giếm. Thể loại tạp văn dễ cảm động người đọc vì sự chân thành- đọc Nam Cao nhớ tạp văn Lổ Tấn, Ba Kim- thể loại văn cảm giác cô đọng sâu sắc, linh hoạt đầy nhân bản tính. Tác giả Ở Rừng tự sự kể rằng : chỉ viêt được vài mẩu chuyện đời vụn vặt, điều này chưa mấy hài lòng - ông có mộng ước lớn hơn viết được tác phẩm dài hơi ( longue haleine) đóng góp với đời.Nhưng đến khi qua đời, mộng ước ấy vẫn là mộng ước, ông không thể thực hiện được một tác phẩm văn chương dài hơi mong muốn. Và mộng lớn văn chương đành xếp lại ở tuổi ba mươi:
“…. Bao giờ đây, cuốn tiểu thuyết lớn không mấy đêm làm báo tôi không nghĩ đến mấy năm trời nay. Những tác phẩm mơ ước ấy, có phải đến tận bây giờ tôi mới phải gác nó lại đâu? Phần lớn thì giờ của tôi trước đây đều dùng vào việc viết những truyện ngắn, dài, truyện trẻ con, tôi không vừa ý chút nào ;nhưng nó giúp tôi moi được tiền của bọn buôn văn để đem về nuôi cái thân tôi và nuôi vợ con. Nước mình còn nô lệ thì tiếng mình còn bị chê khinh và bọn nhà văn còn bị rẻ rúng, bạc đãi…”
Nam Cao sống trong giai đoạn giao thời , Pháp, Nhật thống trị đến ngày kháng chiến bốn lăm bùng nổ- tất cả đều không có thời gian thuận lợi để Nam Cao viết cho mình một tiểu thuyết lớn ấp ủ. Và ngôi sao văn chương tài ba ấy đã vụt tắt trong một chiều kháng chiến khói súng còn nổ- và trang vănchương bất tử của Nam Cao sẽ còn sống mãi cùng thời gian.
Chung số phận Nam Cao là Trần Đăng, nhà văn chỉ còn lại danh xưng mờ nhạt, chết trẻ cùng tác phẩm chưa dầy. Nhắc Trần Đăng không quên Trận phố Ràng , tác giả tả trận đánh sôi xục nhiều tình tiết trận địa nóng bỏng vùng Cao Bắc Lạng.
Thời kháng chiến, không chỉ nhà văn chuyên nghiệp khai thác hình tượng chiến đấu –đến các chiến sĩ văn đóng góp không ít tác phẩm nhỏ ngắn hơi rất giá trị nhân văn.
Phần trên, chúng tôi nhắc Quang Dũng, Hữu Loan, Nam Cao, Trần Đăng, Hoàng Lộc, Yên Thao, Hoàng Cầm, Nguyễn Đình Thi vv.. tiếng nói chuyên nghiệp ,tất nhiên diễn tả điêu luyện hơn chiến sĩ văn nghệ . Nhưng chiến sĩ văn nghệ có phần trội nội dung, tư liệu sống thực hơn, bởi chính họ đã tham gia trận đánh, trải qua thực sự cảm xúc sinh tử , đã thoát hiểm từ kẽ tóc, sợi tơ, trải nghiệm đầy kinh nghiệm sống. Họ viết lại chưa dễ trở thành chuyên nghiệp, vì chưa viết được nhiều, chưa biết cách diễn tả siêu việt chuyên nghiệp- khởi sự bước đầu chữ nghĩa : báo tường, báo đội, …họ là chiến sĩ văn cách ngẫu nhiên.
Thế nào gọi là ngẫu nhiên ? Napoléon, César.. chẳng hạn- những vị này được Émile Henriot gọi họ là nhà văn ngẫu nhiên ( écrivain occasionnel). Có hai loại viết văn trong thời kháng chiến- một , nhà văn chuyên nghiệp tham gia kháng chiến - hai chiến sĩ tham gia kháng chiến gọi là chiến sĩ văn .
Sở dĩ nhắc phương danh chiến sĩ văn Nguyễn Trinh Cơ, Đình Quang, Lưu Hương, Siêu Hải, em Phùng , Minh Tiệp … vì chiến sĩ cầm súng có khả năng sáng tạo- và chỉ khi nào trải qua kinh nghiệm sống động, giác quan rung cảm sâu sác ấn tượng đặc biệt thì cầm bút viết. Họ ít hư cấu, cấu tạo hình tượng khác đưa vào tác phẩm của họ chưa có khả năng của cây viết chuyên nghiệp - coi ngành văn nghề chính ( littérateur - Nam Cao chẳng hạn. Cơ hội căn bản cộng chủ quan đãi lọc có nghệ thuật cùng tưởng tượng phong phú , bén nhậy- chẳng khác gì Dostoievski viết Người chồng muôn thuở (bản dịch tiếng pháp: L’éternel mari). Nhân vật chính truyện rút từ bối cảnh thực ngoài đời gia đình Zaleibine, và trong truyện được thay tên nhân vật là Ivanoff. Hoặc Léon Tolstoi từng sử dụng Pobieodinostesev làm mẫu nhân vật truyện trong tác phẩm Anna Karénine ( thời tiền chiến Vũ Ngọc Phan đã dịch sang tiếng việt: Anna Kha lệ Ninh ).
Trở lại chiến sĩ văn giai đoạn kháng chiến 1945-1950- họ cũng biết cách sử dụng lợi khí văn nghệ làm khí cụ diễn đạt rung động, tâm trạng qua mẩu truyện ngắn, hoặc bài thơ ngắn. Thời chiến đấu rất ít có thời gian viết truyện dài, thì truyện ngắn và thơ được chiến sĩ văn sử dụng nhiều nhất. Hẳn có sự khác nhau giữa nhà văn chuyên nghiệp và chiến sĩ văn :
“… Chúng ta nhận của những nghệ sĩ vĩ đại ấy không những là mấy học thuyết triết lý mà tất cả những say sưa, vui buồn, yêu ghét, mơ mộng, phấn khích , và biết bao nhiêu tư tưởng của từng câu thơ từng trang sách , bao nhiêu và biết bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ mà đáng lẽ chúng ta không nhận ra được hàng ngày ở xung quanh chúng ta : một ánh nắng, một lá cỏ, một tiếng chim, bao nhiêu bộ mặt con người; vấn đề mà ta ngạc nhiên là tìm ra ngay trong tâm hồn chúng ta một ánh sáng riêng không bao giờ nhòa đi, ánh sáng ấy từ bây giờ ta gặp làm cho sự thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta suy nghĩ. Những nghệ sĩ lớn ấy đem lời đến cho tâm hồn ta cả một thời đại họ một cách sống…”
(trích từ :Tiếng nói văn nghệ , Nguyễn Đình Thi )
Đây không phải tiểu luận nghiên cứu về chiến sĩ văn trong vai trò và khả năng làm chiến sĩ văn , chỉ là cách nhìn của một nhà văn chuyên nghiệp tham gia kháng chiến nhận xét tác phẩm cuả họ: mới lạ thì có - sâu sắc thì chưa nhiều .
Lấy thí dụ cách sống một người tù chính trị trong lao tù nẩy ra muốn diễn đạt xúc cảm hòng vợi nỗi khổ đau- sẽ linh động hơn tay chuyên nghiệp chưa từng sống cảnh ấy viết lại vậy nếu có tưởng tượng, chỉ là hư cấu . Nhớ lại truyện ngắn được viết ra từ một nông dân Pháp, khi văn sĩ chuyên nghiệp Chateubriand viết lại , thì truyện được đánh giá hay gấp bội. Cũng chẳng khác gì người tù chính trị mang tên Nguyễn Kim Thành chống thục dân, bị bắt tù đày , qua trại giam nổi tiếng Lao Bảo – anh tù khởi sự làm thơ , ghi lại kiếp sống tù đầy hòng vơi bớt thống khổ để có niềm an ủi tinh thần . Vậy là Tố Hữu ban đầu là một chiến sĩ văn có nghệ thuật, rung cảm cao độ sáng tác thơ trong bốn bức tường sà lim ngục tối, nghẹn ngào lê xích sắt : cơm nửa mo, cứt nửa bãi - tác giả sáng tác được những bài Trăng trối, Trong tù , Người về… thật ấn tượng!
Còn Tố Hữu sau 1954 chẳng khác gì thợ thơ Lissaueur . Thực ra, Lissaueur nổi tiếng cuả Đức quốc trước thế chiến nhất 1914-18, khi gây chiến với Anh quốc - Lisaueur sáng tác ca khúc thơ phong trào từ nhà nước đặt hàng. Có một bài được chọn : Tiếng hát căm thù Anh quốc ( bản dịch tiếng Pháp: Chant de la haine à l’ Angleterre) rất phổ biến được phổ thành ca khúc, 70 triệu dân Đức buộc học thuộc lòng. Ở đâu trong nước Đức cũng được loan truyền, và phổ biến hơn cả bài Wacht au Rhein. Sau khi Đức thất bại thế chiến nhất, bài hát tiêu tan theo .Và tác giả Lissaueur bị khinh thị qua con mắt nhìn đồng bào, đồng nghiệp – báo chí không đăng thơ Lissaueur nữa, vì nhớ tác giả bài thơ được phổ thành ca khúc Tiếng hát căm thù Anh quốc đã chết theo sự thất bại thua trận. ( theo Le Monde d’hier - tạm dịch Thế giới hôm qua, Stephan Zweig - Nxb Albin Michel, Paris năm? )
Trở lại Tố Hữu thập niên năm, sáu mươi, thơ phong trào cực hay, chẳng ai qua mặt tác giả Đời đời nhớ Ông được! (ông đây là thống soái Staline) :
“ … yêu biết mấy nghe con học nói
tiếng đầu lòng con gọi Xít-talin”
hoặc
“thương cha thương mẹ thương chồng
thương mình thương một thương ông thương mười”
chỉ có giá trị đến thời thống soái bị hạ bệ (1953) .
Thời kỳ ấy, một số văn gia bồi bút theo sau hít bã mía, ngậm ống đu đủ thổi phồng, hết mở hội thảo khoa học này đến hội thảo chuyên đề khoa học kia, hết sách này phân tích cái hay cái đẹp, cái khí phách thơ cách mạng tiền tiêu mang tính cách dự báo tầm xa thế kỷ, thơ mở lối soi đuờng nền thi ca cách mạng vô sản thế giới… vv… và vv…
Bây giờ chẳng còn một tiến sĩ khoa học này (phân biệt học vị chính qui) hoặc một giáo sư kia bình luận văn chương, kể cả tác giả không còn đủ khí phách dư thừa can đảm nhắc lại bài thơ Đời đời nhớ Ông trong tiểu sử trích ngang nữa - bởi nó đã bị đào thải theo thời gian - tưong tự Tiếng hát căm thù Anh quốc từ lâu rồi!
Văn chương chữ nghĩa là lợi khí để con người viết tiếp lịch sử tiếp nối qua nhiều thế hệ. Nền văn nghệ chủ lực giai đoạn 1945-50 có tới hàng trăm nghìn chuyện được viết ra, được học thuộc- vẫn chỉ tập hợp in được một Tập văn Cách mạng & Kháng chiến điển hình.
Có chiến sĩ chiến đấu trong ngành này, ngành khác, mỗi quân binh chủng có chiến sĩ văn nhiều vẻ, nhiều hình, nói tóm lại là ghi lại một mẫu chiến sĩ vệ quốc không tiếc thân cầm súng bảo vệ từng gang, từng tấc đất đai đang bị quân xâm lược chiếm đóng.
Đầu tiên, xin nhắc đến chiên sĩ văn Nguyễn Trinh Cơ. Là chiến sỉ trong ngành quân y, tác giả Em Ngọc - một mẩu truyện ngăn cảm động đề cao lòng yêu nước em bé liên lạc viên gan dạ chiến đấu bị thương buộc phải cưa tay. Tâm trạng em khi đưa đến bệnh xá là rất sợ bị cưa tay, em hỏi bác sĩ với thắc thỏm, lo âu. Không muốn cho bệnh nhân thất vọng, bác sĩ đành nói dối. Em không kêu ca đau đớn, sợ hãi bị cưa tay , hoặc làm nũng với bất cứ nữ cứu thương hoặc bác sĩ, tỏ ra thản nhiên như không. Nhưng đến khi mẹ em đến ,tâm trạng làm nũng trở lại đúng chỗ của một em bé vòi vĩnh mẹ:
“… Mỗi lần thăm em, tôi vẫn thấy em tươi tỉnh , ngoan ngoãn. Nhưng các chị cứu thương cho biết rằng nhiều lúc vắng người, em hay làm nũng bà mẹ, bà quạt và rót nước cho em uống luôn miệng. Mỗi lần ăn chính bà phải và vào miệng cho em từng miếng một…”
Nguyễn Trinh Cơ còn cho người đọc thưởng thức một đoạm văn linh động khác về em Ngọc, khi đã về đơn vị, đã dạy cho bác sĩ một bài học về sự bảo toàn bí mật quân sự. Tác giả là người ham học hỏi, dám chấp nhận bài học từ một em bé dạy dỗ. Với chúng ta, đây cũng thêm cơ hội nhận được bài học trường đời - không cứ gì người bằng, hơn tuổi - mà cả kém tuổi vẫn có thể ban cho một kinh nghiệm như bài học hữu ích- miễn biết chấp nhận . Hãy cúng chia sẻ với tác giả Nguyễn Trinh Cơ :
“… Tôi đi thăm các thương binh cũ của tôi. Lúc ra về vì muốn đến thăm Tiểu đoàn 3, từ xa chỗ đứng tôi hỏi vọng em Ngọc địa điểm tiểu đoàn. Không trả lời ngay, em Ngọc vội chạy lại chỗ tôi, lấy tay phải còn lại níu áo tôi xuống, nghển hai chân cổ vươn thân người lên. Tôi hiểu ý cúi người xuống kịp đón câu trả lời của em, câu trả lời nhỏ như tiếng cuả em thì thầm:” Tiểu đoàn 3 ở làng H.S.”. Tôi ôm chặt em bé vào lòng thành thật nhận lấy bài học kín đáo mà vô tình em đã dạy tôi…”
Văn phong truyện ngắn nhẹ nhàng, lập ý cao , diễn tả thành thật, tư tưởng hướng thượng có tính giáo dục thâm trầm kinh nghiệm sống. Còn nhiều đoạn văn khác tả tính chất thông minh em Ngọc được ghi lại thật cảm động trong truyện ngắn Em Ngọc .
Và trong cuộc kháng chiến trường kỳ năm năm, không chỉ riêng Nguyễn Trinh Cơ muốn nhắn nhủ với chúng ta , có nhiều em Ngọc thông minh, gan dạ trên con đường góp công cùng người lớn chiến đấu giành độc lập cho tổ quốc, thật đáng làm gương về trường hợp bí mật quân sự là điều rất cần thiết.
Sau Nguyễn Trinh Cơ là Đình Quang - tác giả truyện ngắn Một bàn tay. Ông thuật lại câu chuyện một thương binh bị mất một bàn tay. Tâm trạng anh thương binh kia thật bình thường, chẳng có gì khác khi viết chuyện thương binh cụt tay. Nhưng khác thường ở điểm ghi lại điều mong ước kín giấu của thương binh - tất cả đoàn người thăm viếng chẳng ai đem lại cho anh một bàn tay. Đoạn trích dưới đây nói lên con mắt sáng chiến sĩ văn Đình Quang :
“… Hôm nay các bà mẹ đem đến cho con một bàn tay đâu? Chỉ có một bàn tay, có lẽ họ cũng biết thế, nhưng không bao giờ họ dám bàn đến nó. Tôi thấy nó , chiếc bàn tay nát rồi, ở khắp mọi nơi, mọi lúc…”
Hình ảnh rung cảm thật sự làm xúc động người đọc, vì là nhu cầu thật cần thiết với thương binh bị mất bàn tay. Nay nhìn lại thấy nó không còn, và cảm được sự thiếu thốn này chẳng người nào đến thăm an ủi làm vừa lòng ! Nói lên cảm giác này, nếu ở thời bình hẳn không thể có - mà chỉ có thể xảy ra , khi đã là thương binh chiến đấu bị mất bàn tay trong cuộc kháng chiến – giữa trái tim kề bên họng súng, giưã trái tim tâm hồn mất mát – lại chẳng một ai đem lại sự an ủi lớn nhất cho thương binh đã chịu mất một bàn tay:
”… Một bàn tay ở khắp nơi… Anh vụt giơ tay cao lên. Anh ngừng nói. Một lát đưa chỗ thương mới khỏi xuống sát mặt , anh thở dài đút nó vào túi áo. Đâu cũng có nó nhưng không bao giờ được cầm lấy nó đỡ lấy một chút hơi nóng cuả nó truyền ra. Anh ơi! thế này mới bực nữa, anh xem đây này…”.
Còn bao nhiêu tác động khác được ghi lại về sư thiếu thốn một bàn tay. Ý tưởng này nếu không phải chính thương binh kể lại,hoặc được ai kể lại cho tác giả, thì dù nhà văn tài năng đến đâu cũng khó tưởng tượng a được:
…. ” Con ruồi đậu mà không còn bàn tay để đập nó..”, hoặc nỗi băn khoăn dày vò trong giấc mộng khi bắt gặp cánh tay co lại. Nếu cuộc sống là đề tài cần thiết làm bối cảnh tác phẩm, thì Đình Quang đã trả lời thật chính xác trong Bàn tay . Đọc Bàn tay để nhận được cảm nghĩ thực của thương binh mất một bàn tay, và Đình Quang rất thành công ở truyện ngắn có một không hai này.
Bây giờ là Lưu Hương. tác giả truyện có gịong văn liêu trai ( haleine magique) tả lại cuộc rút lui thần kỳ sau một trận giao chiến ác liệt với quân Pháp ở làng Pháp Cổ ( thuộc huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng- Liên khu 3) . Lưu Hương ghi lại rất tỷ mỷ từng thái độ, hành động chống trả của ba chiến sĩ sống sót đang lẩn trốn trong núi đa vôi. Qua mấy đêm chống lại sự đói khát, lại phải chui rúc lẩn lút tránh đường đi nước bước quân xâm lăng rình mò ở ngoài – An, một trong ba chiến sĩ bị Tây bắt được rồi - còn Trung và Phương thoát. Vào đêm cuối cùng, họ vượt sông về Thủy Nguyên – gặp một bà cụ già nấu cơm cho hai chiến sĩ ăn. Ông diễn tả lại sâu sắc, mô tả từng cử chỉ nhỏ nhặt sự xê dịch khó khăn khi thoát hiểm độc nhất vô nhị. Tả lại rét mướt trong hang núi, Lưu Hương có giọng văn kể chuyện thật tân kỳ:
“…Chợt một cơn gió lạnh ào tới. Tưởng như có thể đánh gập đôi người lại được, chúng tôi vừa thò mặt ra ngay đỉnh ngọn núi đã biết ngay mình bị lạc lối; vì hướng nam gì mà gió bấc lại đánh thẳng vào mặt. và từ đây gió bắt đầu hú từng hồi dài. Có lẽ trăng đã lên cao lắm…”
Lưu Hương nghe tiếng ca nông nhiều quá , nó đã đánh võng vào tai, và phản ứng tiếng súng chỉ còn giác ngủ vùi li bì:
“…Anh tính đánh nhau một ngày một đêm, người bị hơi đạn đánh võng làm quá mệt. Tôi đâm dạn với tiếng ca nông như dạn với tiếng em bé khóc ở nhà. Ca nông tha hổ mà giã bên tai. Quá lắm thì cũng chỉ giật mình chồm dậy một cái rồi lại nằm vật ngay xuống đánh thông một giấc…”
Kinh nghiệm chiến đấu các chiến sĩ không như con lừa được vỗ về ,báo hiệu sự sẽ phải thồ nặng - Lưu Hương ghi lại kinh nghiệm chiến đấu:
“…Chúng tôi nghe rõ tiếng ngụy binh dụ dỗ: “ Lên ngay đi quan lớn băng bó cho, đưá nào biết chữ tây thì quan lớn sẽ cho làm ở bàn giấy…”
An vốn tính nóng lại vừa bị thương, nên máu xôi càng hăng- anh chửi vung tí mẹt. Chúng nó lại chuyển sang dụ dỗ bằng một lô lựu đạn tung ra.
Hoặc:
“….Bên ngoài ngụy binh lại đánh mõ giục nhặng củ tỏi. Lên ngay đi thì quan lớn tha cho. Các quan lớn biết hết rồi. Có lên ngay không? Không thì quan lớn bắn chết!”
Song lời dụ dỗ kia chỉ là đòn vọt, và Lưu Hương có dịp lột mặt nạ đòn não tủy này để mua kinh nghiệm truyền lại anh em chiến đấu khác:
“…Cứ đứng ngaòi mà chõ mỏ vào cửa hang suả nhặng lên thế thôi. Y như nó đã đánh hơi thấy mình rõ mồn một vậy. Chỉ cón có đợi mình. Anh nào non gan chui ra ra là hết đời ngay…”
Lưu Hương lại dẫn chúng ta đến một đoạn đường gian khổ khác vô cùng tận:
”…Vậy trước khi leo lên ( núi) , hắn làm cho cốc cho bốc máu. Trung đứng ì ạch xi em nhưng khốn nỗi chỉ lách tách được vài giọt. Vì khát đã mấy ngày giời rồi, còn đâu nữa mà xi. Tôi xan cho Trung tạm gọi là được nửa cốc…”
và hành động cuối cùng đầy nước mắt mừng khởi của tình quân dân chiến đấu chống xâm lăng- còn hình ảnh nào đẹp hơn - một bà cụ già nước mắt ràn rụa tưởng rằng hai du kích kia đã chết rồi – mà đêm nay lại còn được nghe thấy tiếng chúng gọi cửa , và tay cầm chiếc dá run run vo gạo nấu cơm.
Đó là truyện vừa có tựa Một cuộc rút lui thần kỳ , tác giả viết hay, hấp dẫn, lôi cuốn như hơi văn Liêu trai- nhưng đó lại là câu chuyện đầy tính cách thực tiễn, đề cao sự chiến đấu gian lao, lúc lâm nạn phải kiên trì biến nguy kịch thoát hiểm.
Và bây giờ là Siêu Hải, tác giả truyện Voi đi . Câu chuyện ghi lại nỗi gian lao chiến đấu như truyện viết phản công địch của Sao Đỏ đánh vào phi trường. Một câu chuyện như trăm nghìn chuyện chiến đáu xảy ra trong kháng chiến, cốt truyện không có gì mới lại không cũ – và chỉ có tình tiết là mới lạ mà thôi.
Voi đi là chuyện đoàn quân vận chuyển khí giới, cỗ pháo quá nặng nên anh em chiến sĩ đều mệt mỏi . Khi qua các làng, bộ đội phải bọc khí tài chiến tranh để bảo toàn an ninh quân sự- tyránh sự dòm ngó, e ngại bị lộ bí mật. Anh em bộ đội nghĩ ra cách mướn trâu làm sức kéo thay người. Một chủ có trâu cho thuê nhận lời ngay, vì còn là cách nhờ bộ đội thuần chủng trâu bất kham. Con trâu bất kham đã kéo được khẩu pháo đến nơi, người giắt trâu ăn bữa cơm cuối giã từ bộ đội trở về nhà chủ, kêu ăn kham khổ quá! (đó là bữa cơm đàng hoàng nhất của bộ đội) - Siêu Hải không quên ghi lại cảnh người giắt trâu chưa no phải vào hàng ăn thêm mấy gắp chả thịt cầy. Chỉ một tình tiết rất nhỏ ,Siêu Hải vẫn biết bầy tỏ khi cần làm sáng điều nào lợi cho so sánh tình tiết truyệnm mổi bật (chẳng hạn đoạn tả con trâu bất kham muốn được bô đội thuần chủng giùm, vì bà chủ trâu nghĩ rằng cái gì bất kham đến đâu vào tay bộ đội cũng thành ích dụng cả) . Và trong ngụ ý này Siêu Hải còn nhăc nhở rằng dù người hay con vật bỏ đi rồi một khi đặt vào tay bộ đội cũng thành khả dụng. Siêu Hải , chiến sĩ văn hôm nay,và ngày mai có thể trở thành nhà văn tài ba, nếu ông tiếp tục chuyên rèn ngành văn sau khi xuất ngũ. Bởi qua lối nhận xét tinh tế và chịu nghiên cứu tìm tòi xây dựng nhân vật có cá tính văn chương riêng biệt. Dưới mắt quan sát, mọi sự vật đều được Siêu Hải nhận định tinh tường- cách chữa bệnh cho trâu khi kéo khí tài quân sự bị trầy da- muốn chỗ loét lở chóng mọc da non thì không gì tốt hơn là dùng phân trâu non của chính nó bôi lên vết sước ấy. Hoặc ông quan sát sự ngỡ ngàng của người miền quê thấy bộ đội che chắn khí tài quân sự trên đường , thì tác giả đánh lạc hướng, giải thích đây là bộ đội khiêng bộ phận tàu bay. Tâm lý người miền quê cầu mong nước nhà có tàu bay, xe tăng mới có thể chống trả được với giặc tây đầy vủ khí tối tân – hoặc cũng có thể là phản ứng hành động dồn nén, vì người dân sợ hãi tàu bay thả bom và bây giờ cầu mong có tàu bay để trả thù Pháp. Siêu Hải qua Voi đi nói lên sự chiến đấu cam go bộ đội kháng chiến sống cơ cực, vẫn chói sáng lý tưởng dẹp tan quân xâm lược bờ cõi.
Ở đoạn kết Voi đi chứng tỏ tài nghệ văn chương Siêu Hải – một lao công nhận xét sự việc thật khách quan ,lại là chủ quan định hướng, tránh được sơ hở chủ quan, nhân vật luôn luôn phải giải thích vì chưa đưa được hình tượng sống ngoài đời như đoạn kết truyện Em Ngọc Nguyễn Trinh Cơ. Bình luận anh hùng tính em Ngọc- khi đọc truyện Kim Lân giống hệt Nguyễn Trinh Cơ- với truyện ngắn Ở làng - mà tác giả Kim Lân tả lớp học bình dân ở lảng Đại Lịch ( huyện Trấn Yên- Yên Bái).
Những nhà văn thơ điển hình chúng tôi giới thiệu ở Nhà văn kháng chiến chủ lực: 1945-1950 gồm ba mươi nhà văn chuyên nghiệp và chiến sĩ văn - không kể nhà văn tiền chiến tham gia kháng chiến. Ở đây như các tập khác chưa đủ phản ảnh một bình diện văn chương rộng lớn giai đoạn kháng chiến 1945-1950- nhưng điển hình đủ nhà văn thơ có máu mặt nhất cuả miến Bắc chủ lực và miền Trung .
Còn nhà văn miền Nam (bổ sung) trong phần Nhà văn miền Nam thiết tưởng không cần phải nhắc lại nữa. Điển hình Lý Văn Sâm, Vũ Anh Khanh,B ình Nguyên Lộc, Bách Việt ( Mai Văn Bộ), Nguyễn Bảo Hoá, Việt Quang, Thẩm Thệ Hà, Nguyễn Bảo Hoá, Văn Nhân, Quôc Ấn, Hoàng Tấn, Hoàng Tố Nguyên, Sơn Khanh (Nguyễn Văn Lộc) , Dương Tử Giang, Ái Lan, Trúc Khanh, Tam Ích, Thiên Giang, Thê Húc…
KỲ V
Trở lại bình diện văn nghệ kháng chiến chủ lực, về thơ có: Quang Dũng, Hoàng Cầm Yên Thao, Tất Vinh, Hồng Nguyên, Hữu Loan, Yên Thao, Minh Tiệp, Phùng, Hà Khang, Hoàng Trung Thông, Trần hữu Thung, Phạm Hổ… về văn: Nam Cao, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Trần Dần, Phùng Cung, Đình Quang, Nguyễn Trinh Cơ, Hà Minh Tuân, Vũ Tú Nam, Siêu Hải, Kim Lân, Trần Đăng vv…. ( tập hai trong bộ Lược sử văn nghệ Việt Nam có hai phần: a) Nhà văn kháng chiến chủ lực 1945-50 và phần b: Nhà văn miền Nam 1845-50) .
Văn nghệ kháng chiến nói lên được khía cạnh mọi hình tượng sống mới cuả giữa lòng thế kỷ hai mươi. Tất cả vẻ đẹp, cái hay hào hùng, tuy cuộc sống vật chất thấp vẫn chỉ nuôi dưỡng cho một tinh thần cao trong thử thách cam go chiến đấu bảo vệ bờ cõi khi giặc Pháp đưa quân sang xâm lăng lần thứ hai.
Vậy tinh thần kháng chiến trong năm năm 1945 - 1950 có bị phân hoá không? Rõ ràng không thể trả lời là không. Chúng ta thiều một Léon Trostky viết Cuộc cách mạng bị phản bội ( bản dịch tiếng Pháp: La révolution trahie , gồm 3 tập, Victor Serge dịch). Cũng như ở Nga sau cuộc cách mệnh 1917, thì ở Việt Nam là sau 1950, phe Mác xít loại dần được phần tử Quốc gia, độc đảng này hướng dẫn vận mệnh dân tộc vào con đường phân hoá, cuộc kháng chiến mất hết thực chất. Một số đông lãnh tụ phe Quốc gia đã hồi cư trở về thành và bắt đầu bước vào mặt trận phản ý thức hệ Mác xít ( chủ nghĩa Staline ). Với tư cách một người cầm bút độc lập đánh giá theo nhận xét riêng khách quan, để sau này có tư liệu cho người sau định giá đúng một nền văn học kháng chiến đúng nghĩa. Và tất nhiên , tập Nhà văn kháng chiến chủ lực này chỉ đóng góp rất nhỏ - ngoài ra nếu một người ngoại quốc nào cắc cớ hỏi :
“ … cuộc kháng chiến chúng ta được đanh dấu bằng sự kiện văn học nào? trong văn chương có phản ánh không? nếu có thì ở đâu? thì chúng ta trả lời ra sao? “
và cũng để tránh tình trạng của Baron Brambeuss mai mỉa:
” … nước các anh có tác phẩm nào bất tử không? / Không, chúng tôi có nhiều đại văn hào / Thế ít nhất các anh cũng có một nền văn nghệ chứ?/ Không/ Chúng tôi chỉ có nhiều hiệu sách lớn mà thôi…”
Nhà văn kháng chiến miền Nam hiện nay ( thời đoạn sáu mươi ) còn Thậm Thệ Hà hoạt động tích cực. Bên cạnh là Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Bảo Hoá ( ký Tô Nguyệt Đình, Tiêu kim Thủy ). Riêng trường hợp Lý Văn Sâm và Dương Tử Giang vượt trại giam ở Biên Hoà vào 1956, chỉ một mình Lý Văn Sâm thoát được; còn Hoàng Tố Nguyên và Vũ Anh Khanh ra Bắc tập kết từ 1954. Chỉ một mình Thẩm Thệ Hà lập nhà Lá Dâu xuất bản vài cuốn tiểu thuyết mới viết và đôi ba cuốn truyện của Nguyễn Bảo Hoá ( ký Tiêu Kim Thủy ). Tiểu thuyết Đời tươi thắm lồng trong một luận đề luyến ái, một nhân sinh quan mới - chỉ cách phân tích tâm lý nhân vật thôi cũng chưa có gì mới đáng làm mẫu mực như tự truyện hoặc tiểu thuyết của các nhà văn ngoại quốc từng làm. Chỉ cần lướt mắt qua thôi, nhà văn Pháp ( gốc Nga) như Henri Troyat viết loại truyện tưong tự Thẩm thệ Hà- đó là tiểu thuyết La Mort saisit le Vif ( tạm dịch: Hết chết thì sống ) , thì loại truyện này ở bên ta kém cỏi, tụt hậu. Đây không chỉ nói riêng cá nhân làm văn chương như Thẩm Thệ Hà, cuốn truyện thứ hai thuộc loại giáo dục hướng dẫn Hoa trinh nữ đưa ra tư tưởng giáo dục được lồng vào chuyện tình nẩy nở trên ghế nhà trường, hướng dẫn mặt luyến ái quan của học sinh vào con dường định hướng. Nhưng trên thực tế chưa có gì báo hiệu tác phẩm này thành công cả, Thẩm Thệ Hà chưa vượt lên được nếu đem so với Người yêu nước tắt đi với lý tưởng kháng chiến đã mất trong ông. Còn nhà văn đồng thời với Thẩm Thệ Hà là Bình Nguyên Lộc, nhà văn có chân t đứng vững chắc trong lối văn cảm giác ( style d’inspiration) tuyệt chiêu. Đó là các truyện Lò chén chòm sao ( 1950), Đôi bạn mắc hoa vông(1955), Căn bệnh bí mật của nàng, Con Tám cù lần, Thèm mùi đất, Câu dầm … vv
Và Nguyễn Bảo Hoá từng là soạn giả Nam Bộ chiến sử lại quay sang viết tiểu thuyết dưới bút danh Tô Nguyệt Đình, Tiêu Kim Thủy ( Miá sâu có đốt, Tiếp và Bội ) hoặc sách khảo luận viết về Phạm Hồng Thái, Tàn phá Cổ Am. Như không có viết tiểu thuyết , nên chỉ có thể kết luận giá trị viết sử và khảo luận cuả Nguyễn Bảo Hoá trội hơn tiểu thuyết gia Tiêu Kim Thủy , tác giả Tiếp và Bội và Mía sâu có đốt. Nguyễn Bảo Hoá có quan niệm viết sử rất chuẩn xác, nhỡn quan dân nhược tiểu nhìn lịch sử tiến hoá theo chiều hướng tiến bộ.
Một nhà văn khác là Phạm Thái ( tên thật: Nguyễn NgọcTân, sinh 1921- ), tác giả Truyện năm người thanh niên xứng đáng được giải quán quân tiểu thuyết luận đề tư tưởng. Còn những cây viết khác như Phú Đức, Phi Long, Thanh Thủy, bà Tùng Long, Dương Hà, Tôn Ngô, Linh Giang …. chỉ là tác giả viết truyện chiều thị hiếu độc giả, sách bán rất chạy lại ít giá trị văn chương ( tiểu thuyết ba xu ). Trong số ấy có Trọng Nguyên, nhà văn có thể đi lên được, đã thể hiện qua truyện dài tình cảm lành mạnh đăng báo , và hiện nay tác giả đang mắc vào thế kẹt- nửa muốn chiều thị hiếu độc gỉả qua truyện tình gây cấn, hồi hộp, hấp dẫn mê ly để có tiền hút sách ( nhà văn này viết truyện dài feuilleton cho nhật báo bán chạy hàng đầu: Tiếng Chuông - chủ nhiệm : Đinh Văn Khai ) – nửa muốn tạo cho bản thân nhà văn có một chỗ đứng trong loại tiểu thuyết tình cảm lành mạnh.
Về sau này trên tạp chí Nhân loại đăng một số truyện ngắn của Lê Vĩnh Hoà như Chiếc aó thiên thanh - tả xen đá banh cuả dân Nam bộ trong một thôn xóm rất ấn tượng .
Về thơ thêm một Kiên Giang-Hà Huy Hà với lối thơ lục bát rất Nguyễn Bính- và thơ lục bát Nguyễn Bính hậu chiến rất đáng nể! Tuy vậy chưa vượt được bực thầy ( chẳng là thầy làm thơ tâm tình lãng mạn cá nhân bây giờ chuyển sang hoà đồng tổ quốc, xã hội vẫn hay- không kể đến một số bài thơ chính trị đạt hàng ) –và Kiên Giang-Hà Huy Hà với bài thơ Em ơi! đợi anh về ( Tuần báo Đời Mới 1953 ) so với Nguyễn Bính hậu chiến qua bài Tỉnh giấc chiêm bao ( báo Trăm hoa, Hà Nội 1956) - thì vẫn chỉ là một Khái Hưng tiền chiến của Nguyễn Thị Vinh hậu chiến. Chúng tôi nói thẳng ra , dầu Kiên Giang-Hà Huy Hà và Nguyễn Thị Vinh có dấn bước đến đâu chăng nữa, cũng không tài nào vượt nổi bực thầy cùng thể loại văn chương. Trường hợp bao trùm này một khi định riêng giá trị cá nhân với người đồng thời ( hiện tại loại văn, thơ cùng xu hướng ấy ít người bằng họ ) , họ có thể là nhà văn, nhà thơ giá trị. Nhưng một khi xét trên bình diện tổng thể cuả lích sử văn học diễn tiến không có đoạn ngắt, họ vẫn chỉ là một lớp rong trôi bám bè lớn đã có từ trước.
Một số nhà thơ điển hình hậu chiến tạo được một bản sắc riêng và còn có thể tiến xa hơn- như Phan Lạc Tuyên, Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền (ở đây nói giá trị tổng thể) , Tô Thuỳ Yên, Thanh Thuyền, Hoài Minh, Huyền Chi (nữ), Bùi Bình Hiếu (lúc đầu ký Hoàng Nguyên) ,Chế Vũ, Nguyễn Quốc Trinh ( ở lại Hà Nội từ 1954 đến nay bị chìm ), Hồ Hán Sơn, Quách Thoại…
Nói về sáng tạo khám phá con đường mới, dầu nay chưa có tiếng vang, hẳn kẻ đến sau còn tiếp nối, đó là trường hợp Tô Thùy Yên. Nhà thơ này đang muốn vươn lên tìm cho mình một bản sắc riêng biểu hiện bi thảm cuộc đời riêng cố gắng đưa vào thơ. Sở dĩ hôm nay còn khắc khỏai, vì ông chưa có rung cảm tổng thể cuả chìa khóa có thể mở đủ ngăn ( sống và trải nghiệm còn ít )- đôi bài thơ ý lạ, tân kỳ lại được tìm thấy ở đâu đó, sao chép mượn đôi ba ý người khác ( với Tô Thùy Yên tất nhiên là mượn của T.S Eliot ) . Còn đem cái duy lý vào thơ thì chưa có nghệ thuật, ý nghĩa suy tưởng chưa được đãi lọc, hình tượng thơ vụng về, non nớt- đây mới chỉ là ý nghĩ chưa hình thành toàn diện, hay nói khác đi chưa có một nét riêng cuộc sống và thể hiện một ngôn ngữ riêng cho bản sắc thơ cá nhân.
Song hành lớp người văn nghệ tiền chiến ( miền Nam sau 1954 ) chúng tôi chỉ còn thấy lơ thơ một vài nhà văn hoạt động. Trọng Lang ( Trần Tán Cửu) là một trong những cây bút còn hăng hái viết báo , và cạn nguồn khả năng sáng tác, thiếu sung sức một phóng sự gia tiền chiến tả xung hữu đột trên báo Ngày Nay của Tự lực văn đoàn. Xưa kia tác giả Làm dân xông xáo bao nhiêu, nay về hưu cả về tuổi tác lẫn sáng tạo, đành nhường sự đi lên cho lớp người viết mới. Một Hoàng Hải Thủy hôm nay chưa là một phóng sự gia xã hội điển hình ( chẳng hạn phóng sự hiện đang đăng báo như Vũ nữ - có sự bới móc đời tư quá lộ liễu, chưa gạt được cái hèn mọn hằn thù riêng, nặng để cao bản ngã ) , nhưng ông hiện là một nhà phóng sự độc nhất có chỗ đứng vững.
Còn một vài nhà văn tiền chiến khác như Đỗ Đức Thu, Đỗ Tốn… cũng bị chìm vào dĩ vãng. Nhắc tới một cuốn truyện được dự định tái bản ở Hà Nội vào 1957 của Đỗ Đức Thu- nói như Trần Dần- khi được mời đề tựa cuốn Đứa con cuả Đỗ Đức Thu - thì Trần Dần nói cách xấc sược với Nguyễn Hữu Đang : ” Tao lại thèm đội đít bọn Tự Lực xoàng sĩnh ấy lên à? ” ( tạp chí Văn nghệ Hà Nội số 12, chủ nhiệm: Đặng Thai Mai ).
Nhắc lại chuyện này chẳng phải đề cao Trần Dần hay giảm giá trị văn chương Đỗ Đức Thu - hiện có mặt bờ bên này -vĩ tuyến 17. Tác phẩm Đứa con ngày xưa là cuốn sách giá trị, với con mắt hiện tại so sánh đều khập khiễng .Thời đại đã qua rồi và không phải tác phẩm nào cũng có số phận tồn tại vĩnh cửu.
Một số nhà văn tiền chiến hôm nay còn sáng tác cũng không thể đem so sánh với tác giả Phạm Thái ( Nguyễn Ngọc Tân ) đáng là bậc thầy về nghệ thuật viết truyện luận đề tư tưởng ( Truyện năm người thanh niên ).
Hoặc nhắc đến Hoàng Công Khanh, tác giả Trại Tân Bồi, mô tả một xã hội mới hình thành , với có chín mươi phần trăm là nông dân độc lập tự quyết và chỉ có nông dân lãnh đạo , nhưng giá trị tiểu thuyết Hoàng Công Khanh được liệt vào hàng đầu qua Trại Tân Bồi . Một thế giới có chính nghĩa là thế giới trong đó gồm tình thương yêu cá nhân gia đình đồng thôn, xã, làng mạc, đồng loại xoá bỏ thù oán cá nhân để nghĩ đại sư. Trại Tân Bồi cuả Hoàng Công Khanh giá trị như cuốn tiểu thuyết đáng được ghi vào trang bất tử văn học hậu chiến- khi xét trên bình diện văn nghệ hướng dẫn quốc gia dân tộc tiến bộ. Nếu thừa nhận nên xây dựng nông thôn mới theo mẫu Trại Tân Bồi thì không mấy lúc trở thành một quốc gia có dân giầu thịnh vượng.
Tiếp đến Sao Mai- tự bạch như một nhà văn hiện thực biện chứng- lại chưa có hướng đi lên khi cho xuất bản tiểu thuyết Nhìn Xuống . Tác giả đưa biện chứng vào nhân vật hiện thực, lên án nhân vật ”… tiểu tư sản là phần tử khuynh ta khuynh hữu, khi bị bọn thống trị đè nén thì đứng về phe vô sản chống lại- đến khi không chung sống được cùng vô sản nữa lại đứng về phe thống trị đàn áp ..” Hẳn là tác giả đã khai thác triệt để Nhân sinh quan mới Du Minh Hoàng ( Trung hoa lục địa ) để thoả hiệp với giới lao động. Sao Mai mắc phải một tật - tự biết không thể hoà đồng giới lao động , lại vẫn giả vờ chung sống, ve vãn, đề cao xằng bậy. Người đọc có tri thức dễ nhận ra khe hở mị dân của tác giả vờ vĩnh và lại rất khuynh tả khuynh hữu hơn cả tả lẫn hữu . (tác giả khi ấy sống trong vùng Quốc gia) .Có những cảnh trí trong Nhìn Xuống tố cáo một xã hội thối tha, hậu quả của nền thống trị lập hệ thống chính quyền quốc gia bù nhìn. Ở những trang 24 trở đi,ông tả con Bốp ( chú chó) sung sướng hơn con người, hoặc thái độ của Phú Uyên ở trang 36 đối với chú chó- thì hình dáng phì nộn đáng ghét Phú Uyên ở trang 52; hoặc nhà văn mô tả ở những trang 80, 81 tặng người yêu quí nhất chỉ là tập thơ, trong khi Thùy ( vợ hai) đói rách chỉ cần tiền . Và nhiều xen tả luân thường đạo lý suy đồi- cháu bị chú cưỡng hiếp (trang 92, 93). Cảnh nghèo của nhà văn ảnh hưởng thật lớn lao đối với gia đình- Ngân, em gái chết vì bệnh lao xương, chỉ vì anh trai là Mạnh không muốn lao đầu vào nghề kém sạch sẽ kiếm tiền. Ông mô tả cảnh tượng thật chi tiết , đặc sắc là khác qua những trang mô tả Cả Bốp- lính partisan ( từ trang 145 đến 151), và tình yêu người vợ ở quê mặn nồng, tha thiết với chồng ( trang 18, 183).
Cốt truyện tả vai nhà văn tên Mạnh bị xã hội hắt hủi, với xã hội thì Mạnh như là không hiện diện. Mạnh lấy thêm vợ hai, là Thùy( mặc dấu Mạnh đã có Bưởi, vợ cả ở Lương Xá cũng đã có con. Mạnh và Thùy giắt nhau về ở xóm lá gần nhà Năng. Năng là người chăm sóc nuôi chó Bốp của Phú Uyên. Giữa Mạnh và Phú Uyên, họ có tình quen biết khi Mạnh đi tản cư. Năng thấy Mạnh nghèo, gia đình nheo nhóc nên đưa ra ý nhờ Phú Uyên giúp cho Thùy có một việc làm. Lúc đầu Mạnh trần trừ , sau nghèo túng quá đành lên ở nhờ nhà Phú Uyên, sau tên trọc phú này dã tâm quyến rũ Thùy. Con gái Phú Uyên bị chú ruột( Xâm) cưỡng hiếp. Sau Oanh được bố gả chồng như một phương tiện bán buôn trao đổi, Oanh tự tử hụt. Và Phú Uyên bị tù vì làm ăn lỗ lãi. Mạnh và Thùy lại trở về bên ngoại ở. Năng bị đuổi việc, vợ cả của Mạnh qua đời, vì căm giận chồng có vợ hai. Cuối cùng Mạnh bỏ nhà ra đi.
Cách đạo diễn, xây dựng nhân vật truyện Nhìn Xuống khá thành công ( gạt ra ngoài áp đặt tuyên truyền chính trị ) . Chính cái bố cục này là khuynh hướng nghệ thuật hoá nhân vật qua thực tiễn. Còn những pha vạch tệ đoan xã hội qua sự đàn áp của chế độ thoả hiệp giữa thực dân, tư sản mại bản, quốc gia bù nhìn; thì đối với một nhà văn nhược tiểu ( dựa trên nguyên tắc chốngxâm lược, giải phóng nhược tiểu dân tộc, liên kết đồng minh thể hiện đường lối xây dựng một quốc gia có chủ quyền ) thì nhà văn ấy vẫn phải dúng nhân vật Phú Uyên mạt sát đế quốc, tư sản mại bản và không thể chấp nhận sự chênh lệch giàu nghèo quá lớn. Sao Mai đã thành công thâu tóm hầu hết nhân vật điển hình trong ống kính chủ quan đãi lọc cuả tác giả. Chính ống kính ấy được đặt dưới sự điều khiển của nhà văn có lập trường siêu quốc gia này- nên vai Năng hỏng. ( lộ ra sự ve vãn giả tạo cho đúng lập trường ). Còn tâm lý Phú Uyên, Xâm đạt được kết quả mong muốn, trừ vai Mạnh( cũng hỏng như vai Năng). Nghệ thuật phô diễn một xã hội xuống dốc cuả Siêu Mai rất khôn khéo, phương pháp tân kỳ, biết lợi dụng mọi tình huống để phơi bầy một xã hội cuồng loạn, dâm dật, chủ nghĩa cá nhân lên tột đỉnh. Sao Mai châm biếm toà án Pháp nặn ra, làm gì có tư pháp độc lập , nhìn vào là biết có kiểm soát của chính quyền bù nhìn can thiệp – nên tác giả phiạ ra câu chuyện cổ tích để mai mỉa. Từ linh mục Giang hiền hoà đại lượng, bao dung đền Thanh trầm tư và tất cả đều không bao giờ dám tự ý giải quyết bất cứ công việc gì. Không phê phán Xâm ( chú), Phú Uyên ( bố) đối với Oanh ra sao? và tác giả mô tả nhân vật gái này sinh ra đời để làm phương tiện giải quyết dục vọng ( cho chú) , và phương tiện bán buôn ( bố gả bán) trên thân phận đứa con gái đáng thương ấy! Đến Bưởi ( vợ cả của Mạnh) người vợ hoàn tòan biết hy sinh cho chồng như vợ Tú Xương ngày xưa buôn bán ở mom sông, nuôi đủ con lẫn cả chồng lại bị bạc đãi, và Thùy ( vợ hai) nửa nghệ sĩ nửa đóng vai vợ hai cuả Mạnh. Cả Hốp ba hoa như một chú lính dõng ( partisan) làm tay sai cho thực dân bất cần ai. Tất cả nhân vật phản diện trong Nhìn Xuống , Sao Mai không bỏ sót. Có điều tác giả đã quá nặng phần áp dụng biện chứng pháp vào nhân vật truyện, để coi như tác phẩm làm món quà đái công chuộc tội của một người tự ý rời bỏ kháng chiến về thành. Sau 1954, ông ở lại Hà Nội và nhận lệnh đặt hàng viết cuốn sách lên án dân di cư vào Nam, còn ông luôn mang mặc cảm tội lỗi dồn nén, đưa ẩn ức vào tác phẩm và cho rằng như vậy trút sạch được ám ảnh (obession). Và tác giả viết Trại Pa Gô Đốt Hải Phòng ngăn đợt sóng di cư vào Nam năm 1954.
Cùng thời Sao Mai còn Nguyễn Minh Lang, Nguyễn Thiệu Giang, Thanh Nam, Huy Quang, Văn An,…. và Nguyễn Minh Lang lại khác Sao Mai – không đứng trong lập trường hiện thực biện chứng – lại đứng trong lập trường cách mệnh đi lên của dân tộc để ghi lại hình tượng đấu tranh tư tưởng giữa hai anh em ruột sống trong một gia đình . ( Cánh hoa trước gió) . Từ 1952 về trước, Nguyễn chỉ là một Lê Văn Trương viết nhiều, bố cục tiểu thuyết ly kỳ, gợi tò mò dục tính, kích dâm ( Nước mắt trong đêm mưa) . Loại văn chuơng khuê phòng đầu độc nam thanh nử tú, có một thời họ học tập làm tình và sống buông lỏng theo nhân vật tiểu thuyết của Tình tuyệt vọng, Biết nhau quá muộn, Lỡ một đời hoa ( Nguyễn Minh Lang ), và Chờ nhau kiếp khác ( Nguyễn Minh Lang & Thanh Nam viết chung)…
Từ 1953- 54, Nguyễn Minh Lang tuyệt giao với lối văn khuê phòng ướt át, ông đổi hướng đột ngột và thành công trong Cánh hoa trước gió ( tập I & 2- tiểu thuyết này ban đầu đăng feuilleton trên nhật báo Phương Đông (Saigon) với tựa Son Phấn ).
Bộ tiểu thuyết này Nguyễn Minh Lang đã chuyển biến xu hướng lãng mạn cách mệnh ( romantisme révolutuionnaire) – từ bỏ xu hướng lãng mạn rẻ tiền. Nhân vật đấu tranh truyện trong Cánh hoa trước gió chỉ tả mặt tâm tình, Nguyễn Minh Lang đã khéo léo hòa hợp được mức tiến không bước quá xa, và không tuyệt giao với lối văn tình ái lãng mạn cá nhân ( tài nguyên sở trường) . Nguyễn Minh Lang biết hoà hợp được cái vốn cũ và cái mới cải tiến. Nghệ thuật viết tiểu thuyết Nguyễn Minh Lang rất hấp dẫn, văn phong bay bướm. So với nhà văn khác cùng thời Nguyễn Minh Lang- Huy Quang mắc khuyết điểm lớn ở điểm này, hoặc Huy Sơn kém nghệ thuật khi từ truyện khuê phòng Trước mồ trinh nữ chuyển hướng sang viết truyện dài tranh đấu Trường ca - ở chỗ Huy Sơn không là nhà văn viết truyện luận đê tư tưởng thì không nên phô sở đoản , mà chỉ nên phô trương sở trường viết truyện khuê phòng (Trước mồ trinh nữ ) . Và Nguyễn Minh Lang khác với Huy Sơn, ở chổ viết Cánh hoa trước gió , chỉ khai thác mặt sau của nhân vật tranh đấu mà thôi. ( có nhân vật chết, nhân vật sống, nhân vật từ chối chấp nhân xã hội đương thời, có cả nhân vật Sở khanh lừa lọc, cũng có nhân vật có chí khí của một anh hùng. Tất cả được thu gọn trong bối cảnh quay cuồng từ 1945 khởi điểm cách mạngt đến giai đoạn hồi cư. Nói thế, không có nghĩa truyện Nguyễn Minh Lang ( nhà văn lãng mạn tâm tình ban đầu) nay đã chuyển hướng lối viết mới hoà nhịp tình cảm cá nhân điều hoà bối cảnh xã hội thời thế, năng tinh thần quốc gia dân tộc. Ông là nhà văn giàu tưởng tượng, tâm hồn phong phú, tình cảm bén nhậy, văn phong bay bướm , tân kỳ- có thể nói là điển hình bao trùm lớp nhà văn cùng thời: Thanh Nam, Vĩnh Lộc, Tô Kiều Ngân, Nguyễn Thiệu Giang, Huy Quang..vv.. ở Hà Nội . ( 1950-1954)
Không chỉ viết truyện dài Cánh hoa trước gió rất đặc sắc, Nguyễn Minh Lang viết truyện ngắn dã sử như Nàng Út trong Trăng sáng đồng quê - khá hay, bút pháp bay bướm, nhân vật truyện lịch lãm. Bàn về truyện ngắn viết hay, triển vọng, chúng tôi nhớ một truyện khác mang tựa Bến Cũ của Văn An .( xem thêm trong Nhà văn hậu chiến 1950-1956 của T.P).
Câu chuyện tình bỡn cợt tưởng chỉ là vui đùa, sau gây hậu quả tai hại chẳng khác gì một nhân vật truyện khác của Triều Đẩu - Đại qua lời bỡn cợt với cô bé gánh nước, để rồi cô giốc hết tiền dành dụm trong ống đem ra sắm quần áo đẹp , mong đợi lời khen cậu học trò ( truyện Ảnh và Hưởng trong tập truyện Lá thư Hà Nội ) Tuy nhân vật Đại không hoàn toàn giống hệt nhân vật truyện Văn An . Nhân vật Minh và Thơm cũng vậy- chỉ quen nhau qua một lần qua đò- Minh đã nắm tay Thơm trong túp lều trú mưa đưa đến hận tình. Hối hận đã muộn, hoài trăng rằm của một cô lái đò đẹp như mơ chính là Thơm, chứ không là Minh. Thơm , cô gái đẹp nhất làng, vì lời bông phèng của Minh qua đò bữa nào, Thơm tự tử không chết, cuối cùng nhận lấy làm vợ một tên phù thủy ( người cứu nàng khi Thơm nhảy sông tự tử). Rồi người chồng này chiếm được thân xác, không là con tim, biết vậy n ngày nào cũng hành hạ vợ). Minh biết được chuyện này sau mấy năm trrong một chuyến đò ngang qua nơi gặp cô lái đò năm xưa- người làng kể chuyện Thơm trở nên điên rồ sau buổi mưa to gió lớn ,ngẩn ngơ như kẻ mất hồn.Nào ai biết tình yêu a cô lái với ai ,sau chiều mưa năm ấy! Nếu không là khách qua sông vào một chiều cách đây mấy năm, thì không thể biết chuyện thầm kín của Thơm. Và có ai biết Minh yêu hoặc không để ý đến cô lái đò năm xưa? Và có ai biết câu chuyện bông phèng tình yêu, lời nói qua, tiếng đổi lại, bàn tay khách nắm lấy cổ tay cô lái vào chiều mưa gió, khi khách qua sông ngồi chờ đò? Và cô lái si tình yêu đơn phương tự hành hại . Rượu ái tình ngọt mà chua, chua lại có vị ngọt chăng ai có thể lý giải được! Ai buồn sầu hơn Minh khi đó?!
Đọc Bến Cũ của Văn An , người đọc nhớ một chuyện viết về tình yêu thuần nhất , truyện Chàng mục đồng và nàng tiên nhỏ của Maxime Gorki ( bản dịch tiếng Pháp : Le petite fée et le jeune pâtre) Tình yêu chàng mục đồng tả lại mối tình say đắm với nàng tiên cũng mỏng manh dễ tan biến như tình yêu giữa Minh và cô lái đò Thơm.
Văn An, nhà văn lớp sau Nguyễn Minh Lang, Thanh Nam,Nguyễn Thiệu Giang…, cbng thời nhà thơ Văn Thế Bảo, Vương Đàm, nhà văn Hiệp Nhân, Nhất Điệp vv.. trong số này chỉ một Văn An trội hơn cả. Nếu một Nguyễn Minh Lang điển hình bao trùm lớp trước, thì Văn An cho lớp sau.
Truyện ngắ n Văn An đặc sắc, thâm thúy, văn phong nhẹ nhàng. Nhà văn xuất đầu lộ diện vào khoảng 1952- 53, nhưng ít ai biết đến - hẳn các nhà viết điểm sách trên các trang văn nghệ Hà Nội ít lưu tâm đến tác giả ở xa thủ đô- như trường hợp Văn An khi ấy là công chức trông coi thư viện công cộng ở Hải Phòng. Đa số các nhà phê bình văn học có chỗ đứng như Thượng Sỹ ( lúc này cũng ở Hải Phòng) chỉ thường đề cao tác phẩm bè bạn hoặc viết điểm sách theo đơn đặt hàng. (và có một lần nhà phê bình này bị đòn thù, phải nhẩy xuống hồ Hoàn Kiêm đào thoát) .
Tiện đây cũng nhắc đến tình trạng biên khảo thời hậu chiến rất nghèo nàn. Thời tiền chiến là nhóm Hàn Thuyên tung hoành hoặc Đại học thư xã in các tác phẩm biên khảo hoặc nhà xuất bản Tân Việt chuyên trách in loại sách triết học phổ thông ( Nietzsche, Kant...cuả Nguyễn Đình Thi) Ở miền Nam ( khoảng trước và sau 1950) nhóm Chân trời mới cho xuất bản một loạt sách biên khảo giản lược ( kiểu loại sách Que sais je? của Pháp) , đề cao duy vật sử quan, hướng vể chủ thuyết Mác xít. Ngoài ra, có thêm một Nguyễn Hiến Lê , Triều Sơn…
Một số nhà văn học trẻ ít chịu nghiên cứu, và có,thì chưa tạo được căn bản bền vững .Lối viết nghiên cứu văn nghệ mác xít của Duy Sinh đăng trên tuần báo Việt Chính ( 1955) ( chủ nhiệm: Hồ Hán Sơn ) , sườn và khung của thân phụ , chủ soái Hàn Thuyên gà ý và tút văn . Sau đó, hiện diện Nghiêm Xuân Hồng với một số tác phẩm biên khảo giá trị xuất bản ( tự bỏ tiền in) - bắt đầu bằng tác phẩm Đi tìm một căn bản tư tưởng . Để làm sáng tỏ hơn về nhóm Quan điểm loại mới, Sáng tạo - xin được trích dẫn bài : Kịch tượng trưng, văn phi lý không lý do trong văn chương Việt nam hiện tại - Thế Phong ( Bán nguyệt san Giáo dục phổ thông, số 56 ra ngày 1/3/1960, Sài Gòn- chủ nhiệm: Phạm Quang Lộc - ) :
”…Mặc Đỗ cộng tác với thầy học cũ , chủ soái Hàn Thuyên Nguyễn Đức Quỳnh- thành lập Quan điểm loại mới , với thành phần: Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng, Trần Văn… và không có hai người trong Quan điểm ( cũ) : nhà văn Chấn Phong và luật sư Nguyễn Hữu Thống, bút danh Nhuệ Hồng.
Tạ Văn Nho, Vương Văn Quảng, Trần Văn, Nghiêm Xuân Hồng đều là kỹ sư canh nông, luật sư- riêng Vũ Khắc Khoan nhà văn kiêm kịch tác gia. Vũ Khắc Khoan , tác giả Thằng Cuội, Giao Thừa, Thành Cát Tư Hãn ( kịch)… cũng từng đạo diễn kịch trong nhóm Sông Hồng kịch xã ở Hà Nội trước 1954.
Khả năng về bộ môn kịch, nói chung- bố cục kịch lỏng lẻo chưa có cơ hội phát triển- tác giả chỉ là kịch tác gia có máu me kịch - chưa thể tạo cho bộ môn kịch một phong trào xôm tụ. Rốt cuộc, bình diện kịch , nói chung- vẫn chỉ là con số không to tướng trong những ngày Pháp chiêm đóng Hà Nội- từ những năm 1954 về trước- kéo dài ở miền Nam không khác hơn.
Tất cả vở kịch đã đăng báo, in sách, hoặc đã công diễn- hầu hêt kịch tượng trưng ( tôi bỏ qua một số vở kịch đặt hàng tuyên truyền hạ cấp) . Gọi là kịch tượng trưng ấy ,chỉ có tên gọi cho oai mà không có thực chất. Đã gọi kịch, tức là thái độ, hành động, tình cảm con người xử sự, hoặc tư tưởng được lồng trong vở diễn được diễn viên cho sống lại phải linh hoạt sống thực đời thường ( ít nhất cũng phải vậy) . Người đi xem kịch muốn được cảm thông với sân khấu đời qua kịch đang diễn trên sân khấu- ấy thế mà kịch tượng trưng lại chẳng có mẫu người diễn tả qua hành động thấy được nét tượng trưng, chẳng thấy mẫu người diễn tả bằng hành động; khiến người xem kịch diễn như đọc kịch luận thuyết thì chẳng phải là xem diễn kịch , mà chỉ tạo cho người xem kịch chán nản, mệt óc. Sự xuất hiện kịch tượng trưng phải là xem thế này mà hiểu được cách khác , mới được gọi kịch tượng trưng.
Trong văn chương còn có tiểu thuyết vị lai - như Anatole France viết Thế giới vị lai, nhân loại vào thế kỷ XII, năm 2270. (bản việt ngữ :Dương Tử Giang, xuất bản ở Sài Gòn - không thấy đề tháng, năm xuất bản).
Thế giới vị lai đưa ra giới thiệu- tiểu thuyết dã sử nói về thế giới cũ, người đọc lại thấy rõ như đang diễn ra ở hiện tại. Hoặc truyện Liêu trai Bồ Tùng Linh, tác giả viết trên bốn trăm chuyện liêu trai khác nhau đưa thế giới cũ vào sách, lại phản ánh rất rõ nét đời sống bây giờ , có nhiều điểm tương đồng. Mục đích tác giả phải có lý do, nguyên nhân chính việc trước tác không chỉ nói chơi, hoặc phiêu lưu mờ mịt. Nguyên nhân sâu xa mà Bồ Tùng Linh muốn đưa ra cho người đọc, là chán ghét xã hội thối nát, đoạ lạc, ê trệ, bất công, quan chẳng ra quan, vua hẳng là vua. Nói mai mỉa kiểu Tú Xương: sao được cho ra cái giống người ! Cảnh hiếp đáp, ăn trên ngồi trốc kia, khiến Bồ Tùng Linh lui vể ẩn, tập trung sáng tạo thành chuyện liêu trai, thần kỳ dễ mê hoặc được lòng người, lên án gián tiếp chế độ chính trị thối nát vua, quan Trung hoa- gọi là phúng thích chính trị cũng rất xác đáng. Mục đich mỗi chuyện liêu trai đưa ra để răn đời, từ thư sinh đến quan lại, đàn bà, con gái, chồng, vợ, vua chúa, bậc vương, cả trọc phú ti tiện- biết cách sống ra sao cho được là người!
Trở về kịch tượng trưng, thực chất kịch phải đưa ra được đề tài hẳn hoi, thức tỉnh ý niệm quần chúng- qua Thằng Cuội, Giao Thừa, Thành Cát Tư Hãn -Vũ Khắc Khoan chưa làm được. Vở kịch sau cùng từng đăng tải trên Kịch Ảnh ( chủ nhiệm : Quốc Phong) năm 1957,chưa thể gọi thành công, nếu không nói thất bại . Theo tôi, ông mắc hai khuyết điểm chính:
Một : tác giả thiếu nhận xét nội tâm của nhân vật kịch hiện đang sống trong hoàn cảnh xã hội có tính cách khuyên răn, đả phá, hướng dẫn. Vở kịch bày ra chưa thích ứng với rung cảm, suy tưởng của nhân vật được gọi là kịch đưa lên sân khấu, cũng chưa là vở kịch thành công đem trình diễn hấp dẫn được người xem. Nói vậy, ông chỉ trải ra được một phần ân ức nhỏ nhặt riêng tư cá nhân và tự cho là điển hình chống độc tài kiểu Thành Cát Tư Hãn.
Hai: Ông đã thất bại lại còn mang theo sự thua sút về khả năng sáng tác kịch. Hình như Vũ Khắc Khoan chưa bao giờ là nhà biên kịch viết kịch tượng trưng để diễn được – và ông vẫn huênh hoang, phét lác, tự nhận kịch tác gia đầu đàn miền Nam.
Nói vậy, tôi muốn nhắc tới kịch tác gia Hoàng Như Mai với Tiếng trống Hà Hồi- có lần Vũ Khắc Khoan đạo diễn cho trình làng ở Hà Nội trước 1954. Vậy tại sao Tiếng trống Hà Hồi là kịch tượng trưng thành công?
Trung tâm bối cảnh vở kịch Tiếng trống Hà Hồi- khi Pháp đang thống trị một số tỉnh thành, trong đó có thủ đô Hà Nội . Ở đây vớ kịch dùng nghệ thuật ôn cố tri tân gợi cho người xem hoàn cảnh quân Tàu do Tôn Sĩ Nghị đem quân đánh chiếm Thăng Long. Hai động tác chính yếu của xưa và nay, tác giả Hoàng Như Mai lồng vào trong vở kịch cho người xem cảm nhận được đủ tình tiết để so sánh Tôn Sĩ Nghị hồi nào hệt Pháp bây giờ. Người xem nhậ n được ngay Tàu xưa là Tây bây giờ, đều là phường xâm lăng, đem quân sang cướp đất làm thuộc địa, áp chế dân chúng. Thời vua Lê ChiêuThống cũng chẳng khác chính quyền Quốc gia là bao! Động tác thứ ba , phản ứng dân chúng phẫn uất, sẽ hướng về cách mạng- sự chán chướng của nho sĩ an phận cũng phải thức tỉnh khi nghe tin quân vua Quang Trung sửa soạn chiếm Thăng Long. Những Đỗ Trần, Khóa Vũ trong nội thị đang chờ hướng dẫn lực lượng kháng chiến chủ lực từ bên ngoài đang sửa soạn trở vể tái chiếmHà Nội, và dân chúng trong thành chờ được giải phóng. Đời sống vật chất của dân trong nội thị tùy thuộc vào sự phối hợp với lực lượng Pháp và chính phủ Quốc gia- nhưng tinh thần đa số hướng về sự lãnh đạo của kháng chiến.
Đợt cuối màn kịch ,những người có lý tưởng- phần tử cách mệnh sống, phần tử xâm lược: chết. Và vở kịch Hoàng Như Mai có một tác động vô cùng lớn lao cho loại kịch tượng trưng có luận đề, phản đề, tổng hợp. Hoàng Như Mai đã nắm được được kinh nghiệm chủ yếu ( expérience cruciale , theo cách nói của Bacon ) cung cấp người xem kịch biết hoà đồng với vở kịch đang công diễn là một. Đó là sự thỏa thuận vô hình người viết kịch được quyền ưu tiên hướng dẫn đoạn kết cho người xem kịch tin vào biên kịch đến hai phần ba của vở . Hơn nữ nghệ thuật viết kịch tinh vi của HoàngNhư Mai cho người xem kịch nhìn thấy thắng lợi hiển nhiên. Trong Tiếng trống Hà Hồi, vua Quang Trung thắng hai mươi vạn quân Thanh ở Đống Đa vào mùng 5 tết, thử hỏi rằng thành công của vở kịch mỹ mãn đến chừng nào ?!
Sự thất bại hay chưa thành công bình diện kịch miền Nam là như vậy. Không thể chối cãi, làm dở lại cứ được thừa nhận hay. Cũng chẳng riêng một Vũ Khắc Khoan chịu chung số phận hẩm hiu thất bại- đưa ông ra để làm mốc cho một lớp người khác đã thất bại về loại kịch tượng trưng ấy. Trở lại vai trò nhà văn Vũ Khắc Khoan- văn chương của ông cũng tượng trưng như lớp langvở kịch đã cho in thành sách hoặc đã đăng trên báo- chưa có gì là sâu sắc đáng nêu lên như một chủ đề nghiên cứu.
Qua hai vở kịch Thần Tháp Rùa và Nhập Thiên Thai, chỉ Nhập Thiên Thai được tạm cho là tượng trưng điển hình. Như mượn điển tích Lưu Nguyễn để mô tả lại sự hình thành của hai phe Quốc, Cộng đã từng cùng tranh đấu chống xâm lăng, dần dà dẫn đến phân hóa- phe làm mất thiên chức làm người , lại không là những người cùng chung hoàn cảnh chính trị với Vũ Khắc Khoan. Như Vũ Khắc Khoan kể lại, sau khi chán cảnh thần tiên, Lưu Nguyễn trở về quê hương đã quá muộn! Bởi Lưu Nguyễn chán cảnh sống chung với tiên nữ trong thiên đường, không có tình người, không có sự xâu xé cuả những kẻ làm người, không giống người và người xử sự với nhau, cho dấu là gian ác đi nữa. Cái tôi trong chuyện được kể lại mang tính cách điển hình con người được gọi là Quốc gia chán thiên đường giả tạo của những người Mác xít được coi như thần tiên chẳng còn tình người. Kỹ thuật viết già dặn, lập ý cao, văn biền ngẫu. Đó là điểm ông thường tự hào về bản sắc nhà văn, nhà viết kịch mang tên Vũ Khắc Khoan hãnh tiến . Thì cũng rất là chuẩn xác thôi.
Vì quá chú trọng viết lối văn biền ngẫu, nội tâm nhân vật truyện chưa được mổ xẻ, phân tích một cách sâu sắc. Bởi vì quá chú trọng làm văn biền ngẫu , cố tạo văn phong du dương, sao lãng nội dung.
Bây giờ điểm qua một nhà văn khác trong nhóm Quan điểm loại mới, đó là Mặc Đỗ.Tên thật Đỗ Quang Bình, sinh năm 1920, từng theo học trường Trung học Pasteur ở Hà Nội – thời kỳ giáo sư Nguyễn Đức Quỳnh dạy môn lịch sử. Ông bắt đầu viết văn vào thời đoạn nào thì không rõ, có lẽ vào năm 1950 ở Hà Nội , độc giả thường đọc bài đăng trên tạp chí Phổ thông , cơ quan Trường Luật Hà Nội . Vào Nam năm 1954, ít lâu sau cho xuất hiện cuốn tiểu thuyết Bốn mươi. Trước khi phân tích, bàn qua về lập trường, quan điểm nhóm này sau khi đổi mới. Một nhà văn trong nhóm y tuyên bố : tiểu tư sản trí thức ưu tiên hàng đầu - có nghĩa chủ soái Hàn Thuyên ( cũ) - nay với bút danh mới Hà Việt Phương, Hoài Đồng Vọng ( tác giả tâm bút: Ai có qua cầu ), Hoài Nam Hoài, Cung Phúc Chung…. Công khai giã từ hẳn con người tả đối lập ( HànThuyên tiền chiến) , đề cao giai cấp tiểu tư sản trí thức. Cả hai mặt đấu tranh trực tiếp ( đường lối) , tích cực kiến thiết vĩnh cửu ( triết học) của thế giới này đều do lớp người trí thức tiểu tư sản tạo thành. Chuá Giê xu, Cakamouni, Kark Marx, Engel, Einstein, Trostky, Oppenheimer… đều xuất thân từ giai cấp tiểu tư sản trí thức cả. Vì giai cấp tiều tư sản lả giai cấp đứng giữa hai lớp người: tư bản và vô sản - họ ở giữa hiểu rõ từ sinh hoạt vật chất, đến đường lối tinh thần , từ cách xử thế đến nếp sống thủ đoạn lọc lừa đều thông suốt. Có thể nói rằng Nguyễn Đức Quỳnh là người cầm cờ súy dẫn lối Quan điểm loại mới cũng không sai. Phe mác xít gọi giai cấp tiểu tư sản là phe trung gian ( couche intermédiaire) .
Bắt đầu, Nghiêm Xuân Hồng với Đi tìm một căn bản tư tưởng ( sách này lấy lại tựa đề bài tiểu luận trước kia cho đăng trên tạp chí Phổ Thông ở Hà Nội trước 1954 - nội dung nông cạn, vá víu, đầu Ngô, mình Sở. )
Bây giờ sách ra mắt ở thủ đô miền Nam như một quả bom về lý luận tư tưởng, triết học- thực ra vẫn là bình cũ rượu mới - có tay Nguyễn Đức Qưỳnh cất men . Tác giả Nghiêm Xuân Hồng gọi là nhận thức quan- điều này chuẩn xác, bởi đưa tư tưởng triết học này đặt nền móng cho giai cấp tiểu tư sản trí thức Quan điểm mới . Trong sách điểm qua các lý thuyết tả , hữu, cực tả, cực hữu , từ Aristote, Khổng Tử, LãoTử, Hégel, Marx, Sartre … đến hiện tại. Tóm lại cơ sở triết học nào đã tạo con người hôm nay phải gánh chịu ảnh hưởng để tồn sinh thì không thể bỏ sót. Cũng chưa thể căn cứ cuốn sách đầu tiên định giá trị đường lối nhóm- tuy nhiên xét đại cương thì hiểu được lập trường người viết ( phản đề) có hệ thống, tránh được kiểu ôm đồm hiểu biết ( étalage de connaisances) , có chủ quan đãi lọc, biết điều hòa khách quan và chủ quan định hướng, cũng như lề lối, lập luận đưa ra được dẫn gỉải minh chứng- bênh vực luận đề Nhân sinh quan tiểu tư sản trí thức nhóm Quan điểm loại mới cách vững chãi.
Về văn, Mặc Đỗ và truyện dài Bốn Mươi mới nhắc ở trên- đọc xong cuốn tiểu thuyêt này nảy ra nhiều ý nghĩ tương phản. Nhóm đề cao tiểu tư sản trí thức ( lý luận thì như rất vững) truyện như phản lại. Từ đó , luận ra mới hiểu được rằng đướng lối hiện sinh cuả Jean Paul Sartre đã thành công ghê gớm ,từ lý luận đến hình tượng cuộc đời ,qua văn chương triết luận của chính Sartre, cà Simone de Beauvoir… nữa.
Phi lý tây phưong giống sắc đẹp Tây Thi - khác hẳn vá víu của Mặc Đỗ - sự vá víu này giống hệt mụ nhà quê đất Hồ Nam làm đỏm bắt chước làm đẹp kiểu Tây Thi , hoặc trái quýt trồng ở Giang Nam thì ngọt, ở Giang bắc lại chua. Triết thuyết phi lý của Albert Camus thể hiện qua L’étranger, Le Malentendu, La Peste, La Chute, L’Exil et le Rouyaume, Le Mythe de Sisisphe.. (đã được dịch sang việt ngữ: Người khách lạ, Dịch tả …vv… ) đưa tác giả lên đài danh vọng, đoạt giải Nobel văn chương 1957. Vậy phi lý của Camus không phải giống như cách cóp nhặt phi lý của dân nhược tiểu Việt Nam ( đang muốn vươn lên độc lập toàn diện: quyền làm công dân thực sự và tự do tư tưởng) , tất nhân sinh quan có khác nhân vật truyện Camus. Nước Pháp thịnh trị lâu đời, nhìn khía cạnh phi lý, đấy chẳng qua là con người Camus có dòng máu Ả rập lại sống ở Bắc Phi, mỗi khi nhìn thấy nơi sinh trưởng bị xử thiếu công bằng giữa người và người ( da trắng, da đen) đưa ra nhân vật phi lý đòi bình đẳng là cần thiết và thỏa đáng. Sự lên án phi lý trong văn chương Camus, đó là mức độ lên án bọn da trắng đàng điếm, ê trệ tinh thần lại sung mãn vật chất- vậy phải nêu ra một nhân bản phi lý trong văn chương .Camus còn bênh vực lập trường kháng chiến Algérie trong nhân vật truyện L’ Hôte ( tạm dịch: Khách trọ - trong tập L' Exil et le Royaume . ) Theo tác giả, con người phải chấp nhận tù đày, lúc nào điều này cũng ám ảnh người nhược tiểu và cần phải biết chống đối. Camus và Sartre giống nhau về quan điểm nhân sinh nhật dụng. Với Sartre, tất phải dùng vũ khí sắc bén văn chương để chống đối, lên án, vì thế giới này nhớp nhơ quá. (Cette laideur du monde, Sartre reste à l’affronter – theo A. M. Albérès ). Đó còn là mục đích luận lý chủ nghĩa sinh tồn hiện sinh phi lý ( le but moral sartrien) để làm sống lại nhân vật tiểu thuyết tự sự hóa qua vai Roquentin ( protagoniste) . Nhân vật tự sự Roquentin đã trực diện sống theo nhân sinh quan luận lý kia . Hơn nữa, Camus đã biết dùng nghệ thuật khai thác phi lý đưa vào hình tượng văn chương, tư liệu sống từng được mục kích ở châu Phi đem vào truyện luận đề, lên án xã hội phi lý giữa người da trắng (chủ) và da đen ( nô lệ) ; rồi công bố huỵch toẹt cho toàn thế giới biết. Khác gì Sartre đặt con người buồn nôn khổ sở của tác giả thể hiện sắc sảo, sôi động trong văn chương , lấy không gian thành phố Bouville, khởi điểm đưa Jean Paul Sartre sau này trở thành nhà văn nổi tiếng muộn . Nên nhớ lại truyện đầu tay xuất hiện vào năm tác giả bước vào tuổi 31 - thì 36 đã nổi danh như cồn. Cuốn tự sự hoá tiểu thuyết ấy chính là La Nausée , diễn đạt cuộc sống bản thân rất thực, thành khẩn. ( Buồn nôn đã được dịch sang việt ngữ) . Trường hợp tương tự, một nhà văn Nga khác , Pouckhine từng nổi tiếng với cuốn Eugène Onéguine , tự tạo riêng cho mình một trường phái lãng mạn, do sự cấu tạo chủ yếu từ vốn sống riêng- và được V. Biélinsky hết sức ca tụng. ( xem Textes philosophiques , V. Biélinsky- Nxb Ngoaị văn Mạc Tư Khoa, Ed. en langues étrangères, Moscou 1950, từ trang 267 – 351) .
Và tiểu thuyết sinh tồn của Sartre còn là thí nghiệm sống rất thực và cần thiết cho những ai muốn hiểu đời sống trần trụi, băn khoăn, khắc khoải, chán chường, do dự, lúc nhập cuộc cho tới rã đám. Sống độc thân không cần vợ con, nhưng vẫn cần một người nữ sống già nhân ngãi non vợ chồng , ghen tuông dữ dội khi người tình bỏ theo người tình ở Hoa kỳ. . Không nhận giải văn chương trị giá triệu mỹ kim , vẫn thản nhiên ngửa tay xin mẹ ruột mười ngàn quan /ngày chi tiêu . Một sự phi lý trong phi lý rất riêng biệt chủ nghĩa sinh tồn hiện sinh phi lý .
R. M. Albérès, nhà phê bình văn học Páap cho rằng tiểu thuyết là một nghệ thuật tạo tác được nhiều bộ mặt: khiêu vũ, âm nhạc, từ một đơn khúc đến bản hoà âm . Nó sẽ bị ngụy tạo, nếu một khi tạo tác hình ảnh lu mờ không vượt sự thực. Tôi nhấn mạnh: thành khẩn diễn tả sự thực trong tiểu thuyết được đãi lọc theo chủ quan viễn kiến hướng dẫn.
Trở lại vấn đề Le Mythe de Sisisphe của Albert Camus, người ta gọi đó là một thứ Promothée ? Vậy Promothée là gì? , chỉ là huyền thoại thần Prométhée được gắn vào sự sáng tạo ra con người và sự xuất hiện nền văn minh và thế giới chúng ta đang sống trong thời đại. Đặc điểm chính là động cơ rung cảm bén nhậy cuả sự tưởng tượng phong phú của con người. Cũng chẳng khác gì người ta đặt khung cảnh chuyện vào một thế giới khác. Có thể là thế giới thần tiên không giống thế giới chúng ta, mà ở đó phát sinh rung cảm phi lý , và người ta tin được cảm quan bất biến ấy . Vậy ý tưởng suy luận lý thuyết phi lý ( théorie de l’absurde ) của Camus là phi lý cho đối tượng nào? Tại sao lên án phi lý? Và phi lý ấy bắt nguồn từ đâu ? Xin thưa ngay : phi lý mượn từ thuyết phi lý triết gia tiền bối Chestov - người chủ trương thuyết Irrationalisme - triết lý này coi lý luận chỉ là thứ yếu. (Léon Chestov: 1886-1938) , triết gia Nga chủ trương thuyết Irrationalisme - triết thuyết coi lý luận chỉ là thứ yếu trong phạm vi hoạt động tinh thần, đối kháng thuyết lý tính. ( opposée de la pensée rationelle) . Tác phẩm chính: được dịch sang pháp ngữ: L’Apothéose du Monde fondé . Cũng có thể xem thêm trong sách Histoire de la philosophie russe , N.P. Losski ( Nxb. Payot, Paris 1954).
Và một số nhà văn miền Nam trong Quan điểm loại mới, Sáng Tạo lao đầu vào con đường bắt chước phi lý văn chương phương tây , thì đã sang tay đến hai, ba lần, thiếu chính thống , cả căn bản sống cần có, thiếu cả đồng cảnh tạo ra được sự phi lý cần thiết. Và phi lý vay mượn kia tất nhiên chỉ là sự chắp nhặt vụng về, sai lạc. Thuyết phi lý Camus vừa phân tích trên mới đúng là phi lý có lý do , song tỷ dụ phi lý mà không lý do thì phi lý kia của Camus cũng chẳng hề hấn gì . Bởi con người đã trải qua ý thức làm người đúng nghĩa, sinh ra trong trái đất có quyền tự do sống hợp pháp , cùng tập hợp chung tiếng nói, phong tục, tập quán, lịch sử. Thí dụ, họ có ý nghĩ viển vông, phi lý không lý do đi nữa, thì sự phát sinh ý tưởng chán chường không có hại, mà còn bồi bổ một khía cạnh mới cho triết lý sống thêm đa diện, phong phú. Cũng vẫn bởi con người sống ở thế giới hôm nay đa dạng , muôn mặt, nhiều dáng vẻ khắc biệt
Còn nước ta, vừa trải qua ngót trăm năm bị thống trị, trước đó một nghìn năm tương tự. Con người sinh ra trong nước mất độc lập ấy, nghĩa là chưa làm đủ bổn phận con người trí thức có bổn phận cùng đồng chủng đi trên con đường tranh đấu đạt tới mức sống tự do, công bình, no ấm. Và một khi chưa thực hiện được vậy, một số nhà văn kia viển vông sao chép mô phỏng chán chường, phi lý- hẳn chưa ý thức được trách nhiệm, sao được gọi là trí thức tiểu tư sản , giai cấp hướng d ẫn tiền phong mà nhóm Quan điểm loại mới đề ra?
Điều dẫn giải văn chương phi lý tây phương đề cập trên kia cốt làm sáng tỏ văn, thơ phi lý không lý do của hai ông Mặc Đỗ và Thanh Tâm Tuyền , tác giả Bốn Mươi và Bếp Lửa.
Truyện Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền mô phỏng, sao chép tệ hại hơn nữa văn chương phi lý tây phương đưa vào nhân vật tiểu thuyết đầu Ngô, mình Sở, mũi tẹt da vàng, như đang sống ở thị thành Âu Mỹ. Càng không thể biện minh, mượn đà liên tưởng tạo một tác phẩm việt - tựa hồ Le Cid Corneille lấy đà từ Las Mocedades del Cil Guillen de Castro- gần hơn Thanh Tâm Tài Nhân đến Truyện Kiều Nguyễn Du.
Còn Mặc Đỗ tả nhân truyện trong Bốn Mươi , con nhà giàu gia thê du học có bạn gái Jacqueline. Vào tuồi tứ thập nhi bất hoặc ( bốn mươi) đã bày vẽ hưởng thọ ( sic ), đùa giỡn sa hoa, ăn chơi trác táng- như vậy có phải là cách sống phải đạo của một trí thức biết sống?!Và trong khi ấy đất nước của nhân vật Bốn Mươi đang là một xứ sở bị thống trị, dân chúng đầu tắt mặt tối tranh đấu tồn vong đất nước độc lập, tự do, và cơm áo, nghèo đói, bệnh tật đe dọa hàng giờ, sự tử vong lơ lửng trên đầu mỗi khi ngẩng mặt. Vậy còn có nhân vật tiểu thuyết ( trí thức việt ) trong truyện của mấy tay khóc mướn dằn vặt đau đớn tâm linh , chán chường vờ vịt, cơm no dửng mỡ, gái trai đàng điếm- rồi hô hoán xã hội này đầy phi lý hư không ?! Vậy thứ văn chương phi lý dởm này đích thực là sản phẩm tinh thần đấu độc thanh niên hãy quên đi trách nhiệm - chẳng khác thời Pháp thuộc- thanh niên được lùa vào bẫy trác táng, hoặc bị cuốn hút theo phong trào thể thao Ducroy cùng với rượu phông tên, thuốc phiện công quản. Tác giả có quyền đưa sinh hoạt trí thức trụy lạc, đàng điếm ( nếu cần thì đây chỉ là mặt phản diện) - nếu không vậy- Mặc Đỗ chỉ khai thác cảnh nhơ nhớp, sa đọa của bọn trí thức – có nghĩa không dùng văn chương để dĩ độc trị độc đẩy thanh niên vào đường tự hủy hoại.
Còn Thanh Tâm Tuyền chỉ là một thanh niên mới lớn lên ( 1936) , chưa kịp tham gia kháng chiến khi toàn dân chống Tây thuộc lần hai - chú bé ở vùng Atêka ( an toàn khu) khác vai trò những chú bé khác tham gia giữ nước. Tiếc cho ông! Bởi năm 1945 dân tộc vùng dậy chống Tây xâm lược, thì ông sống trong đô thị, gặp cảnh sống ê chề dân vùng tề, Pháp thống trị, thanh niên bị dồn nén , mặc cảm ẩn ức, dùng văn chương làm dáng như một cách có nghĩa khí đấu tranh đối với bản thân. Không thể xầm súng theo kháng chiến, vì nhiều lý do cản trở, lại không muốn bản thân hệt kẻ không biết thẹn, làm văn chương theo thuyết phi lý vay mượn : phi lý không lý do ấy dồn vào việc làm cách mạng văn chương trên không răng, dưới không khố. Cho rằng là vậy đi nữa cũng cần phải có rung cảm, khả năng sáng tác thật sự của mình. Đằng này lập dị làm ra vẻ khác người, bằng cách sao chép ý tưởng, thoát dịch tân ý thi ca tranh đấu của Éluard, Aragon…, rồi pha chộn thêm tính chất kỳ bí hóc hiểm Surréalisme, Dadaisme, Lettrisme… nhào nặn tổng hợp thành thi phẩm Tôi không còn cô độc (Sài Gòn 1956). Tác giả làm ra vẻ yếm thế bi quan thời thế, chán chường, bầy đặt tranh đấu phải thế này thế kia, tưởng niệm anh hùng, bi phẫn cầm súng hệt F. Lorca ra ngã tư đại lộ bắn sối xả vào đám đông, hoặc tranh đấu chính trị kiểu Aragon , phà hơi i thơ bí hiểm Picabia, tí chút nổi loạn phong cách Thằng Kình-Nguyễn Đức Quỳnh vv.. vv… Và thơ Thanh Tâm Tuyề thực chất sượng và sống , độc giả trẻ ít tây học dễ tin thơ tự do cách tân tuyệt tác. Cái gì chưa tỏ hiểu là vấn đề rắc rối thuộc phạm trù triết học . ( định nghĩa cho người đầu tiên nghe nói hai từ triết học) . Sản phẩm thơ tự do ấy không là rung cảm thực - thì chỉ có thể phỉnh phờ bản thân tác giả mà thôi )
Còn tự lừa dối cho mình siêu việt, đám thế nhân chưa hiểu nổi- André Gide bị đương thời khinh bạc thật, nhưng chính Gide biết chắc chắn bản thân có tài, và trong sách Les nourritures terrestres có câu bạn đọc xong sách ta có thề ném ra cửa sổ. Nhưng phải hiểu đó là sáng tác thiết thân một đời người dồn lại trọn vẹn, chứ không phải thuổng đưa lên đâu trang Tôi không còn cô độc –vênh vang, tự phong hoàng đế thơ tự do ! Tỷ dụ André Gide có bị đời ghẻ lạnh thật, ông vẫn tự tin bản thân có tài, hệt các tiền bối Holderlin, Kleist, Nietzsche vậy. Nietzsche từng mười năm ròng nằm trong khách sạn nhỏ, hẹp; không bạn bè viếng thăm mà không hề nao sờn- chứ đời ghẻ lạnh ông, và chính ông cũng không tin có thực tài ( mà tin làm sao được khi sáng tác không là máu xương rung cảm chân thành tạo thành) thì nước này chỉ còn tự treo cổ cùng Tôi không còn cô độc. Tác phẩm ra mắt rất ồn ào, ở trang cuối sách ghi đích danh hai , ba chục vị được tặng- như đồng minh hỗ trợ tinh thần- t rong số ấy có Trần Thanh Hiệp. Ông này đang miệt mài tập sự luật sư nơi văn phòng luật sư Lê Ngọc Chấn , được coi như Đinh Gia Trinh nhóm Xuân Thu Nhã Tập, ( bình giải ý thơ hay bạn bè trong nhóm) hô hào thơ tự do phải thế này, như thế kia mới hợp trào lưu . Trước tiên, mời đọc bài thơ tự do ba câu ba dòng của Trần Thanh Hiệp :
“… Cửa sổ
Cửa sổ
Cửa sổ …”
thì mấy chục năm trước , Louis Aragon từng viết:
“Persienne,
persienne,
persienne ..”
và thơ tự do ba câu ba dòng của Trần Thanh Hiệp đều không phải là rung cảm có thật của tác giả (giả). Vậy phải làm sao để tin rằng ý thơ kia trong sáng, tư tưởng siêu quần, có hướng đi tranh đấu , hưá hẹn một tương lai tươi sáng, từ nơi quí vị đề xướng?
Vậy chỉ có thể xếp vào loại thợ thơ có hạng, tài năng thượng thừa sao chép .Và Trần Thanh Hiệp từng lên án văn chương tiền nhân vô giá trị ( hội nghị bàn tròn phủ nhận giá trị Tự lực văn đoàn) - gián tiếp đề cao Sáng tạo – và hơn một lần bị lãnh tụ Hàn Thuyên gọi là văn chương hư sinh ( chữ Nguyễn Đức Quỳnh ám chỉ Sáng tạo đăng trên báo Dân Việt- 1964 )
Bàn tiếp nhân vật văn chương Bếp Lửa , tác giả cho làm cách mệnh ở nhược tiểu quốc giống hệt chú ngựa chứng và chàng dô kề đần độn . Nếu dô kề chỉ huy được thì ngựa cho cưỡi, nhưng ngựa phản kháng hất anh dô kề xuống đất, anh dô kề lồm cồm bò dậy tìm ngựa, định thưởng cho bài học thì ngựa đã chạy xa. Chúng tôi hiểu ý nghĩa tượng trưng ám chỉ làm cách nhược tiểu dân tộc chống đế quốc, vươn lên chớp nhóang đấy, rồi lại bi đế quốc quật lại ngay. Ý nghĩa ban đầu dễ ngộ nhận với kẻ bàng quan, bi quan, vì nhược tiểu quốc thường bị thất thế. Nhưng qua lịch sử minh chứng, lý luận chỉ đúng với kẻ thiếu chí khí, nhụt chí, chưa đánh đã thua. Riêng với ông, con người đầy mặc cảm tự ty lẫn tự tôn, và quan niệm cách mệnh không có thực, cũng như chán chường không hiểu sao chán chường, và nhận định kinh nghiệm làm cách mệnh của tiền nhân chỉ là số không. Lấy thí dụ cụ thể hơn, cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1946, ở Nam bộ dùng gậy tầm vông, miến bắc, miền trung, giáo mác dùng súng Mousqueton thô sơ làm sao chống lại vũ khí tối tân, xe tăng, máy bay thực dân – hay là chúng ta tự xin đầu hàng. Nếu vậy, tất cả nhược tiểu quốc sẽ đâu hàng cả sao, hệt tên dô kề đé quốc và ngựa nhược tiểu ?
Nhìn lại thử nghiệm người làm văn chương miền Nam- mượn triết thuyết phi lý tây phưong - buộc phải nhớ đến Xuân Thu Nhã Tập tiền chiến - Nguyễn Xuân Sanh với Người Xuân chẳng hạn. Bài thơ xóc chữ, nhồi ý theo lối bí hiểm kiểu Dadaisme, Lettrisme,Surréalisme… tí tí tây tí tí ta , tất chẳng ra gì rồi- tí ti tây tí ti ta .( theo cách dùng chữ tí ti l a mua, tí ti la hen Trần Dần). Một bài thơ ra đời như thế, chẳng làm ai cảm, hiểu được - và quân -sư -quạt- mo- văn -chương luôn đi bên cạnh bình gỉải - có lần phản ứng, tôi đã viết:
“…. Thơ Nguyễn Xuân Sanh phải có Đinh Gia Trinh đi bên cạnh giải thích cái hay ,cái đẹp- mà nghệ thuật lại phải có người làm thông ngôn bình giải thế nào là hay và đẹp tới nhiều lần nhiêu lần- mà người đọc vẫn chưa cảm được, hiểu thấu nổi - với tôi hẳn là nghệ thuật chưa đạt tới đích rồi! Thơ Nguyễn Xuân Sanh không phải chất thơ lịch lãm Đoàn Phú Tứ- chỉ từa tựa kiểu xóc chữ, nhồi ý - thơ bạch nga Nguyễn Vỹ mà thôi . Thời kháng chiến chống Pháp, Nguyễn Xuân Sanh không còn làm thơ kiểu xóc chữ, nhồi ý nữa ( bài Làng nghẹt trong rừng đêm), thì đúng tác giả có tố chất một thi sĩ đúng nghĩa. Ngoài Đinh Gia Trinh ra – còn Diệu Anh , cũng luôn nhảy vào vòng hỗ trợ giải thích cái điệu, cảm, đẹp , hay cuả thi ca qua nhóm Xuân Thu Nhã Tập..” ( Nhà văn tiền chiến 1930-1945 của T.P , tập 1 trong bộ LSVNVN) .
Trở lại phần nói về nhà văn miền bắc giai đoạn 1950-1954, hẳn còn phải nhắc hai nhà văn lãng mạn tâm tình điển hình nữa: đó là Thanh Hữu và Triều Đẩu.
Hầu hết truyện của tác giả Thanh Hữu đều dựa vào tư liệu trải nghiệm , vốn sống phong phú trong tiểu thuyết Đợi anh về. Truyện mô tả cuộc đời một nhà văn sống trong thời kháng chiến thật hào hùng ( trước) - sau kháng chiến thành khiến chán , trở về Hà Nội thì lại chán chường hơn theo cách khác. Cùng thời kỳ, Thanh Hữu sáng tác nhiều truyện ngắn khác , cho đăng rải rác trên các phụ trương văn nghệ báo Liên Hiệp ( chủ nhiệm : Soubrier-Văn Tuyên ) hoặc truyện dài từng kỳ ( feuilleton) trên báo Tia sáng ( chủ nhiệm: Ngô Vân). Từ đấy, Thanh Hữu rất quen thuộc độc giả Hà Nội , sau khi nhà xuất bản Tia sáng tung thêm nhiều tiểu thuyết ra mắt. ( Đợi anh về…)
Thanh Hữu còn được nhiều độc giả biết đến qua Chuyện tình người sinh viên, tình tiết câu chuyện rút ra từ tư liệu sống ngày đầu hồi cư, hình tượng riêng và bối cảnh xã hội phản ảnh sâu sắc trong tác phẩm. Sau 1954 vào Nam, một phần tư liệu đời sống nóng bỏng, lạ lẫm của một nhà văn di cư vào nam được viết lại trong tiểu thuyết Chồng tôi muốn sống. ( Sài Gòn 1955) . Trong văn tự sự đời riêng khổ hạnh nhà văn Thanh Hữu dường như phản ánh trung thực rất ít tính cách tiểu thuyết hóa.
Đúng là Thanh Hữu, một nhà văn lãng mạn tiến bộ- nhưng đôi khi nhân vật truyện của tác giả quá hằn học với cuộc đời trà đạp giáng xuống, nên văn đôi khi mang tính cách căm thù, độc ác, thâm thù sâu hiểm. Thanh Hữu còn làm thơ, và thơ hay- tuy vậy tiểu thuyết vẫn giữ vai trò chủ yếu. Cuộc đời là tiểu thuyết hoá tự sự như vừa phân tích trên kia, còn rất đúng khi nhắc đến tiểu thuyết Đợi anh về của ông.
Bàn về tự sự tiểut huyết hoá thời hậu chiến- hình như chưa nhà văn nào nói đến cái tôi hiện thực trần trụi thành khẩn như thời tiền chiến với Nguyên Hồng (cái tôi- chủ từ, nhân vật chính) ; dầu Thanh Hữu trong Đợi anh về đội lốt Thanh, và Triều Đẩu là Đại trong truyện Ảnh & Hưởng.
Triều Đẩu, nhà văn phóng sự xã hội nổi tiếng thời hậu chiến , mặc dầu một số bài viết của ông đã đăng báo từ thời tiền chiến. Triều Đẩu có giọng văn hài hước, châm biếm sắc sảo ( Trên vỉa hè Hà Nội , 1952). Thiên phóng sự tạp bút này gây được một dư luận văn ở thủ đô rất ồn ào. Ông còn là tác giả truyện dài Tranh tối tranh sáng, tuy nhiên không có gì xuất sắc , và ông còn viết điểm sách thì lại không trội, kiểu phê bình văn học theo quán tín , tự phát ( tạm gọi critique spontanée )- duy hồi ký tự sự đặc sắc nhất. Triều Đẩu viết điểm sách Đồi thông hai mộ với lối văn nhả nhớt, bỡn cợt, lại hời hợt, cảm tính được bộc lộ rõ nét. Với ông, ngoài phóng sự, tự sự hồi ký Ảnh & Hưởng thì chẳng còn gì nữa. Trên vỉa hè Hà Nội ra đời , đúng vào thời điểm xã hội cuồng loạn, nhốn nháo cuả đợt dân hồi cư, đủ tạp chủng. Người tản cư xa Hà Nội lục đục hồi cư, mỗi người một lối sống riêng, một phong cách, một dáng vẻ. Tình anh em bị co dãn, xáo trộn, khi qua cơn khủng hoảng thì ảnh hưởng luân lý không còn tác dụng răn đe, giáo dục. Tư tưởng gia huấn tan rã, chỉ còn tư lợi cá nhân phát triển. Có thể con người vừa trải qua tai hoạ chiến tranh, thừa chết, thiếu sống thì chỉ còn vun quén cho bản thân.
Cô Chính trong mẩu truyện Thiếu nữ lang thang , bị người anh hắt hủi, lê gót trên khắp ngả đường vô định. Một nhân vật người mẹ lúc còn là thiếu nữ bị lính viễn chinh cưỡng hiếp , Suzan dược chào đời, đưá con lai không biết bố là ai, còn mẹ chẳng bao giờ hé môi bầy tỏ. Rồi mẹ lấy chồng , con riêng lại bị bố dượng hành hạ. Hoặc một nghệ sĩ bị xã hội bỏ lửng, đời ghẻ lạnh, vợ lãng quên chồng vô tích sự- ai oán tự sỉ vả, trách móc- và thật đúng với lời than của một nhà văn trong truyện Ở Rừng của Nam Cao: “…Nước mình còn bị nô lệ thì tiếng mình còn bị chê khinh và bọn nhà văn còn bị khinh , rẻ rúng, bạc đãi, coi như một hạng người có cũngc hẳng thiệt thòi trong xã hội” . Thì Triều Đẩu cũng nhớ đến nhà văn ấy chung hoàn cảnh trong truyện Nhà tôi . Và Gái năm con , chồng chết lại tái giá, tự nguyện ký giao kèo để giải quyết sinh lý như đói cần cơm, khát cần uống. Tiếp Tình trưởng giả, câu chuyện hòa đồng giai cấp của một tình yêu gỉa tạo. Rồi truyện Chim bồ câu trắng, nhân quả, Người đi, Tết hồi cư… mỗi chuyện ghi lại cảnh sống diễn biến hỗn độn, tạp pí lù. Chuyện kể người hồi cư sống sót dinh tê cảm thấy ngày mai bất trắc, sống vội vàng, ăn sổi ở thì, giải quyết dục vọng theo nhu cầu chớp nhoáng. Đó là bối cảnh một thời đoạn sống Hà Nội 1950- 1954 được Triều Đẩu thu vào ống kính thật linh hoạt, sâu sắc. bây giờ bàn đến Triều Đẩu viết hồi ký tự sự. Tác giả rất thành công loại phóng sự và ở lối viết tự sự hồi ký cũng thành công trong Ảnh & Hưởng.:”… Để mình nhớ lại dĩ vãng như bài thơ, quãng đời vô tư linh động ngày xưa ấy như có phải đâu chỉ do kinh tế, tư lợi, danh nghĩa; thì con người khi qua tuổi ấy dễ mấy ai không nhớ lại…” Viết tự sự,Triều Đẩu đã sống lại qua nhân vật Đại. Tình tiết chuyện kể thành khẩn, linh hoạt, sâu sắc , cảm động và xứng đáng là tay viết tự sự kể tài năng của thời hậu chiến. Cũng nhìn thấy đôi khuyết điểm nho nhỏ, kỹ thuật tả mảnh đời thật bản thân, cần sự chừng mực , câu văn chững chạc; thì Triều Đẩu dùng lối văn biếm lả lơi, bỡn cợt nhả nhớt không thích ứng.; do đo làm giảm phần nào giá trị. Về truyện dài, Triều Đẩu bố cục lỏng lẻo, tìnht iết nhân vật truyện không ăn khớp, lại sử dụng văn châm biếm phóng sự ở chi tiết không cần châm biếm, hài hước –truyện dài Tranh tối tranh sáng chỉ nên coi cách viết thí nghiệm của tác giả mà thôi.
Nhắc Triều Đẩu viết phóng sự ngắn xuất sắc, không thể quên một Chấn Phong (viết tiểu thuyết phóng sự ở một môi trường khác trong Rừng Địa Ngục, bối cảnh: rừng cao su Nam bộ. ) nếu tả cuốc sống nghẹt thở của dân hồi cư ở Hà Nội ( thị thành) – thì Chấn Phong ghi chép hình tượng cuộc sống nhục nhã của lớp người được mệnh danh là phu đồn điền cao su ở Nam bộ.
Rừng địa ngục đưa ra một kết thúc kém thuyết phục, đáng lẽ tác giả phải hoà hợp theo chủ quan định hướng thì hợp lý hơn. ( Tôi muốn nói đến ý nghĩa ban đầu xây dựng cốt truyện liên hệ rất nhiều ở đoạn kết thúc, đầu và đuôi) . Vì tác giả muốn có một kết cấu ly kỳ, nên cho đoạn kết theo kiểu Tố tâm, Tuyết Hồng lệ sử - Cúc tự tử. Cách giải quyết theo tác giả là để chuộc tội- theo tôi – đó chỉ là một cách tự trói buộc của tác giả còn nặng ảnh hưởng luân lý phong kiến. Chết không phải là hành động cứu vãn tội lỗi đã mắc phải. Sự hối hận của nhân vật Cúc do xã hội và hoàn cảnh như tác giả dựng, và kết thúc giải quyết buộc cá nhân chịu đựng thì quá khe khắt!
Tuy nhiên Rừng địa ngục vẫn là cuốn truyện độc nhất viết về loại người- vật ở đồn điền cao su. Cách bố cục, sắp đặt cuốn truyện này gần như hoàn hảo . (trừ đoạn cuối cho Cúc tự tử) .
Sau nữa là Nguyễn Văn Xuân ( 1921- ) tác giả truyện dài Bão Rừng ( hai năm sau) với nội dung tương tự , viết về đời sống công nhân rừng cao su. Với Bão Rừng , Nguyễn Văn Xuân có một bố cục khá hoàn hảo, tình tiết chuyện đời thường công nhân rừng sao su tự nhiên hơn- tuy vậy nếu phải so sánh Rừng địa ngục của Chấn Phong và Bão Rừng Nguyễn Văn Xuân, tôi chọn cuốn đầu - giá trị văn chương bao trùm. Chấn Phong có chân trong nhóm Quan điểm ( cũ) và không còn đứng trong Quan điểm mới sau này. Nhắc Quan điểm mới , chúng tôi lại phải nhắc đến chủ soái Nguyễn Đức Quỳnh ( Hàn Thuyên tiền chiến), và bây giờ là cố vấn tư tưởng, văn chương Quan điểm mới.
Nguyễn Đức Quỳnh và Nhất Linh, lãnh tụ của hai nhóm Hàn Thuyên ( xưa) và Tự lực văn đoàn ( cũng xưa) – liệu hai chủ soái còn gây nổi cơ đồ gì không? ( cho nền văn chương hậu chiến ).
Các ông gây lại nhóm, hoạt động văn chương- vì như thế, chúng tôi có cơ hội được học hỏi thêm từ các bậc trưởng thượng đầy kinh nghiệm dẫn dắt. Tuy vậy, chúng tôi không thể yên tâm giao phó, hoặc bỏ qua thắc mắc cần phải đưa ra thảo luận , phê phán, tìm ra cho được cái haòn hảo nhất cho nền văn chương hậu chiến miền Nam.
Và từ dòng này trở đi, phần tổng luận chấm dứt- tiếng nói riêng tư bắt đầu lên tiếng.
Chúng tôi sinh ra đời trong tư tưởng Tự lực văn đoàn. Bố mẹ chúng tôi nuôi cơm, Tự lực văn đoàn nuôi dưỡng tinh thần từ bào thai ( chắc rằng cha mẹ chúng tôi thường đọc báo, tiểu thuyết, văn, thơ Tự lục văn đoàn) . Lớn lên cha mẹ chúng tôi ( nhất là cha) đã băn khoăn với tư tưởng cộng đồng tả đối lập Hàn Thuyên nuôi dưỡng. Rồi Tự lực văn đoàn mất lập trường ( 1941) trốn tránh, đầu hàng ( 1945- 46) , Hàn Thuyên ( 1945-46) tan rã, chúng tôi lạc lõng trong tâm trạng con bị đem bỏ chợ, kháng chiến trong tinh thần mác xít hun đúc. Sau 1950, may mắn hơn, tự giác một cách đột ngột, không phải tụ ý thức được lập trường- mà nhờ tinh hần luân lý gia đình – hoặc cha, anh chúng tôi là người quốc gia từng bị sát hại, bạc đãi, bị đưa đi chỉnh huấn không có ngày về ( vì họ theo lề lối sống tiểu tư sản nông thôn, thành thị). Chúng tôi có kinh nghiệm máu xương, mua cho mình một lối thoát bỉ ổi nhất, dinh tê về thành sống an vị bó gối chờ cơ hội mới được mở ra.
Tha thiết mong các ông hoạt động lại là còn đem lại lòng tin cho chúng tôi. Thực ra, khi các ông bỏ mác xít về ( ông Nhất Linh thì không kể, ông biết ít kinh nghiệm mác xít - sang Tàu từ 1946 sau khi 50 ghế đại biểu Quốc hội dành cho Việt nam Quốc dân đảng rút lui) . Còn ông Nguyễn Đức Quỳnh chính thức về thành cuối 1952 ( trước đó ông đã vào thành, nhưng tự khai công tác mật) . Tuy không hoạt động, sự có mặt của các ông khiến chúng tôi tin rằng phe mác xít sa lấy các ông rời hàng ngũ- và hôm nay, các ông sống trong bầu không khí tự do ở miền Nam .
Lần này, ông Nguyễn Tường Tam ra hoạt động lại, làm cố vấn văn chương Pen Club, với tinh thần vững chắc, kinh nghiệm có thừa, dư tài năng, thể nghiệm qua bao nhiêu năm lặn lội vì chính nghĩa ( tạm tin vậy) – sẽ tạo được một đường lối văn hóa, ( chung) có sự thủy chung như nhất. “Dans la défaite, instransigeance”( tạm dịch: trong thất bại, hãy kiên cường vững chí) mà chính khách nước Anh W. Churchill từng nói và mong ông nghĩ đến. Hãy định vị cho mình một vị thế lâu dài, tránh mắc chủ nghĩa cơ hội, không tự phản bội chính bản thân – là không phản bội chúng tôi, người chịu ảnh hưởng tinh thần mà các ông không biết đến. Các ông phải biết chịu trách nhiệm đường lối, trách nhiệm chung cho cả người theo tư tưởng đã gieo mầm trong văn chương, tư tưởng . Và hiểu rằng luôn theo dõi tư tưởng các ông từng giờ, phút, thái độ, hành động- mà các ông không cần biết đến chúng tôi là ai? Vì chúng tôi từng hấp thụ đướng lối các ông trong văn chương, từng ca ngợi hành động nhân vật Tự lực văn đoàn tiền chiến . Khi ông Nhất Linh ở trên Đà Lạt, sau khi rời Hà Nội vào Sài Gòn, tuyên bố với báo chí đất Ngàn năm văn vật ( trước sự soi bói của Tây) là không còn hoạt động chính trị. Chúng tôi hiểu đó là chiến thuật che mắt nhà cầm quyền. Con đường đi của ông đâu phải mong rằng khi trở về nước ra làm bộ trưởng ( bù nhìn) mong vinh thân phì gia, để rồi mai hậu người đời lên án như Phạm Quỳnh. Nói thế, không có ý trách móc những người từng ra cộng tác với Pháp, họ là một trong những quân cờ hy sinh, vì họ ít tài tự làm chủ mình, ham vật chất, hoặc vì lầm lẫn tưởng việc làm cũng ích lợi cho đất nước- trường hợp bác sĩ Nguyễn Văn Thinh chẳng hạn . Nhìn vào một thí dụ cụ thể, nước Pháp trong trận thế chiến hai không bị phá hủy toàn diện - nhờ ở Philippe Pétain. Thống soái Pétain đã thật lòng hy sinh để cứu vãn Pháp khỏi nanh vuốt tàn sát Phát xít Đức. Ngày nay dân Pháp khe khắt lên án Pétain đi nữa, cũng vẫn phải ghi ơn thầm kín. Vì nhờ Pétain nhiều nhất, không phải vật chất; mà nay đi vào cửa chính của lịch sử nước Pháp, đó là tướng Charles de Gaulle. Ai cũng hiểu Philiipe Pétain là thù địch kháng chiến quân Pháp ở Luân đôn ( London) , nhưng vấn đè chính trị , cách mệnh văn hoá, có cái gì không liên đới hỗ tương đâu? Sự hỗ tương cần thiết vô cùng, như phân hạn giữa xấu xa tên lưu manh để nhìn rõ hơn hành dộng quả cảm cao thượng của anh hùng.
Cũng nên nhắc qua tình hình chính trị Trung hoa ở thời kỳ tranh chấp giữa Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông. Tuy đảng Cộng sản Trung quốc giành thắng lợi vẫn phải gián tiếp nhờ Tưởng Giới Thạch. Không phải ở giai đoạn từ Trần Độc Tú đến Mao Trạch Đông toàn quyền điều động kháng chiến quân chống Nhật; hoặc sự thỏa hiệp giữa Quốc và Cộng sau khi Tôn Dật Tiên qua đời- mà vai trò đi xuống Tưởng Giới Thạch, của Trung hoa Quốc dân đảng đi đến thời kỳ cuối cùng suy vong, tham nhũng, hối lộ, sa đọa, giúp ích trực tiếp - MaoTrạch Đông và đảng Cộng sản Trung hoa làm chủ đại lục nhanh chóng cuối năm 1949.
Đảng Cộng sản Trung hoa đuổi được chính quyền Trung hoa dân quốc ra khỏi lục địa vẫn nhân danh nghĩa kháng chiến. Khi đã nắm chính quyền, phe lãnh đạo tuyên bố thành lập chế độ cộng sản, dân chúng thoả lòng với chế độ mới , bởi họ căm thù phe Quốc dân đảng thối tha chuyên quyền tham nhũng, cướp bóc, bất công . Ở nuớc ta cũng rơi vào trường hợp tương tự,danh nghĩa toàn dân kháng chiến bị loại , phe mác xít ra mặt chuyên quyền chính sách vô sản toàn trị.
Nhắc lại sự kiện này, vì ông Nguyễn Tường Tam là chính trị gia có hạng Việt quốc -bút danh Nhất Linh -người văn nghệ lão thành năm xưa , chủ soái Tự lục văn đoàn ra mắt đồng bào cùng giới văn chương. Người văn nghệ tuyên bố văn nghệ không có chính trị, thực tâm mà nói, mà hiểu , ông muốn minh oan rằng làm văn nghệ chứ không làm phương tiện cho chính trị quyền lực sai khiến. Tương tự, vào một lần gặp luật sư Nguyễn Hữu Thống ( bút danh : Nhuệ Hồng- sinh 1932- ) và học giả Nguyễn Đăng Thục trong một quán trà, tôi hỏi giáo sư: -Thưa anh, có phải hôm anh đăng đàn diễn thuyết văn hóa ở rạp Norodom, anh tuyên bố “Văn hoá không có chính trị, nhưng chúng ta phải chống Cộng sản?”
Giáo sư Thục chưng hửng trước câu hỏi bất chợt , chưa sẵn sàng câu đáp, và chỉ gật đầu suông .
Có lẽ giáo sư Nguyễn Đăng Thục sợ bị hiểu nhầm như nhà văn Nhất Linh chăng? Ngày khai hội Pen Club Việt Nam , lại được nghe ông Nhất Linh tuyên bố câu tương tự.
Thưa ông, chúng tôi không còn là độc giả nai của Phong hoá, Ngày nay? Làm văn nghệ, nói thật lòng mình như bóc bánh còn chưa ăn ai, huống hồ thỏa hiệp chính trị - vẫn nơm nớp sợ vòng kim cô quàng cổ thân phận làm tôi đòi .
Với các chủ soái Tự lực văn đoàn, Hàn Thuyên, tôi vẫn dành sự kính nể đối với bậc trưởng thượng dầy công vun đắp nền móng văn chương việt. Các ông có quyền tuyên bố lời lẽ trái ngược sự thật muốn bầy tỏ, để không ai dự tính được đường đi nước bước và sẵn sàng tôn phục các ông là thánh. Nhưng điều này có phần tai hại, vì chúng tôi cho rằng đó chẳng cao siêu, hay hớm gì , vẫn là chiến thuật mấy anh thợ nhuộm chào hàng nói thách cao gía. Tay thợ nhuộm đã có việc làm rồi bắt bí, đòi công cao hơn (tạm gọi có lý đi, vì nhuộm quần đàn bà - mà đàn ông ai lại chịu làm thế?!). Một khi chủ chiếc quần đen đưa nhuộm không ưng thuận trả công cao…. Than ôi! trời đã về chiều, chân đã mỏi, đường còn xa (ý thơ Tản Đà), vợ con chờ tiền đong gạo nên nhận nhuộm vậy. Mà làm sao các ông biết không? tự trọng con người phải ra tay chứ, lấy đũa cả khuấy quần đen đưa nhuộm vẫn như sợ vết nhơ quần đàn bà dính vào thân xác. Nếu còn đôi chút sĩ diện, khi nhận đồng bạc trả công, vẫn như tỏ thái dộ bất mãn kẻ chẳng mấy ham nhận đồng tiền.
Thưa các ông, dù có thể tôi chưa hiểu nổi hoặc vu oan các ông- sau này lịch sử bàn về văn chương sẽ có cơ hội định lại giá trị. Thời bình sinh, Nguyễn Du bị xúc xiểm, nỗi oan gia văn chương truyện Kiều làm vướng bận lòng tin- từ đó mới nẩy sinh câu: Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như - để tự trấn an bản thân tác giả. Hoặc Stendhal, tác giả Đỏ và Đen ( Le Rouge et le Noir) cũng bị điều ra tiếng vào buổi sinh thời , và trăm năm sau lại được phục hồi gía trị. Cả Nicholas Gogol thời Nga hoàng tăm tiếng lừng lẫy, khi nịnh bợ Nga hoàng ( tác phẩm nào có giá trị khi được Nga hoàng thừa nhận) , bị Biélinsky chỉ trích thậm tệ.
Biélinsky lên án Gogol- gián tiếp lên án người cầm bút đánh mất độc lập tư tưởng, bám vào quyền lực chính trị . Chẳng hạn câu chuyện kể dưới đây, đọc xong, liệu có rút được bài học nào không?
“….Cho rằng địa chủ bảo người dân quê rằng, các anh cũng là tín đồ của Chúa, vậy thì giứ chúng ta không ai làm nô lệ cho nhau. Nghĩa là làm người phải được quyền hưởng tự do hoặc phải trả tự do cho người đã bị tước mất. Và nếu một khi địa chủ rút bớt công việc đi, có nghĩa bớt sinh lợi, tất nhiên họ phải lĩnh kém tiền lại còn đòi họ chịu ơn chủ. Có phải đó là đạo đức giả giữa người và người..?”
Nổi tiếng như thi hào Lermontov - chỉ làm một bài thơ ca tụng anh hùng đại đế Pierre le Grand lúc đương thời ( người này rất đáng được tán thưởng) – mà còn bị điều ra, tiếng vào, và buổi sinh thời tác giả bị giảm uy tín phần nào. Huống hồ….!
Tư tưởng phản ánh trong tác phẩm Nicholas Gogol từng được coi như bó đuốc dẫn đường cho thanh niên Nga. Nhưng chỉ một sai lầm nhỏ, Gogol bị kết án tức thì. Nói vậy, muốn đề cập vai trò và trách nhiệm người hướng dẫn tinh thần phải sáng suốt, phải thận trọng trong hành động, từ một thái độ nhỏ ảnh hưởng xấu hoặc tốt, không phải chỉ riêng các ông mang hậu quả- mà còn đến người chịu ảnh hưởng tinh thần của các ông nữa. Các ông có thể phản đối, cho rằng vậy các ông không còn cá tính nữa sao? Đúng thế, con người xã hội không còn là riêng các ông nữa, con người gia đình thì không dám lạm bàn. Và hiển nhiên ông Nguyễn Tường Tam không thể không biết số phận Trần Khánh Giư, Hoàng Đạo gánh thay cái chết cho ông. Một thái độ, một hành động đều phải suy nghĩ chín chắn , ích lợi cho ai, cho bản thân, cho người thân thích, và cho cả những người chịu ảnh hưỏng tư tưởng Tự lực văn đoàn nữa.
Tôi muốn ông nghĩ đến lý do này, tại sao thái độ của nhà tư tưởng kiêm văn sĩ Romain Rolland được gọi là lương tâm châu Âu? ( conscience de l’Europe)-, như bó đuốc dẫn đường nhân laọi vào thế chiến thứ nhất thế kỷ XX.? Với chủ soái Nguyễn Đức Quỳnh, con người khôn ngoan và kinh nghiệm chính trị, tư tưởng già dặn đã tạo lập một Hàn Thuyên, với nhà văn tài ba Trương Tửu-Nguyễn Bách Khoa,Lê Văn Siêu, Lương Đức Thiệp, Đặng Thái Mai, Nguyễn Tế Mỹ , Lương Đức Thiệp vv… Và thời hậu chiến, chủ soái Hàn Thuyên (cũ) giúp cho một số nhà văn miền Nam trưởng thành từ cái nôi Đàm trường viễn kiến. (cuối thập niên 50 và đầu 60 ở Sài Gòn) Với ông- vào thời điểm này- tôi không muốn có dòng chữ nào kết luận về ông ở bây giờ chưa là một Nhất Linh rất non trẻ kinh nghiệm làm chính trị.
Tin khả năng chúng tôi, là tôi tin tôi, đồng lứa, đồng sàn cùng làm văn nghệ. Đã từng có đủ kinh nghiệm thời tây thuộc lần hai, qua kháng chiến, và ê trệ giai đoạn đầu chế độ Quốc gia sơ khởi; thì làm người văn nghệ, sống vì văn nghệ cũng nên chết cho văn nghệ trong sáng.
Còn các ông (nhà văn tiền chiến như hai vị vưà nêu danh) – một khi còn khả năng đi bên chúng tôi- là tạo thêm lòng tin và truyền kinh nghiệm văn chương, tư tưởng của người đi trước.
Còn tương lai văn nghệ hôm nay ư? Hẳn thuộc về nhà văn nghệ mới, vì thời đại các ông đã qua đi rồi. Hãy nói như Maiakovski: “Thời đại là cuả Ta, Chúng Ta”.
PHỤ LỤC:
HIỆN TÌNH VĂN NGHỆ MIỀN NAM: 1957-1961
Hiện tình văn nghệ miền Nam: 1957-1961- ThếPhong (34 trang khổ A4 in 50 ấn bản ronéotypé- Nxb Đại Nam văn hiến,Sài Gòn 1962). tác phẩm nhận định văn học riêng rẽ, không phụ thuộc bộ Lược sử văn nghệ Việt Nam: 1900-1956.
Tuy vậy, tập sách nhận định này vẫn có thể coi như phụ lục, bổ sung cho bộ sách phê bình văn học- làm sáng tỏ thêm tiến trình văn học miền Nam từ 1957 đến 1961. Sở dĩ tìm lại được tập sách nhỏ bé này- giáo sư Nguyễn Văn Trung ở Montréal copy một bản vào năm 2004, và nhờ Trần Thị Bông Giấy ở San José chuyển lại tác giả. Xin có đôi lời tri ân giáo sư Trung và nhà văn Trần Thị Bông Giấy.
Trước khi cho đăng tải trên web: newvietart.com, người viết đọc lại, có sửa chữa.
SàiGòn - Bà Rịa, cuối tháng 3 năm 1956
Thế Phong
Theo https://vietvanmoi.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Văn Cao, "Những mùa thay lá" XXXXX

Văn Cao, "Những mùa thay lá"… Hình tượng chiếc lá trở đi trở lại trong nhạc, trong thơ và trong họa của Văn Cao như ám ảnh về sự...