Thứ Ba, 25 tháng 11, 2025

Mô hình giáo dục chuyển hóa: Thấu hiểu và yêu thương

Mô hình giáo dục chuyển hóa:
Thấu hiểu và yêu thương!

Nhi Đỗ, tác giả bộ sách “Giáo dục chuyển hóa – Ứng dụng trong hành trình nuôi dạy trẻ” tên thật Đỗ Nguyễn Yến Nhi, sinh ra và lớn lên trên vùng “đất thép” Củ Chi, trong một gia đình có truyền thống yêu nước.
Tuổi thơ Nhi Đỗ được người cha Cử nhân Đỗ Thắng Cảnh và người mẹ Cử nhân Nguyễn Thị Hiệp (*) truyền cảm hứng đạo người và khi trưởng thành, cha mẹ dìu dắt Nhi Đỗ từng bước trên từng nắc thang vào đời. Cũng phải nhận rằng, Nhi Đỗ thụ hưởng “môi trường sạch” của đại gia đình Đỗ Nguyễn hay Nguyễn Đỗ là một – trên thuận dưới hòa mà ở đó, ông bà ngoại – nhất là bà ngoại, giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Với trái tim nhân hậu, coi trọng tiếng lòng hơn tiếng cười, các cậu các dì cùng cha mẹ Nhi Đỗ chung tay góp sức thực hiện “Thương người như thể thương thân”(Tục ngữ), chữa bệnh cứu người – cậu Út Châu, tức Bác sĩ Nguyễn Văn Châu, người “đứng mũi chịu sào” vượt khó khăn trở ngại xây dựng chuỗi bệnh viện Xuyên Á.
Các cậu, dì và cha mẹ của Nhi đã chọn và thực hiện được ước vọng “chữa bệnh cứu người” còn Nhi thì sao? “Thì sao…?” hai tiếng vọng ấy, khiến trái tim nhân ái của người phụ nữ họ Đỗ ray rức khôn nguôi. Giáo dục? Tại sao không! Nhưng, giáo dục lứa tuổi nào? Có lẽ, giáo dục nuôi dạy trẻ vì với Nhi Đỗ “…một người mẹ – đã đi qua những tháng ngày hoang mang, thử nghiệm, vấp ngã và chuyển hóa trên hành trình đồng hành cùng con”(Q.1, tr.7). Vậy là, câu trả lời “Thì sao?” bật thành lối mở và lối mở đó, không gì hơn “trồng người tuổi mầm non”. Từ đậy, “trồng người tuổi mầm non” song hành cùng “chữa bệnh cứu người”.
Nhận thức sâu sắc vấn đề này, bộ sách “Giáo dục chuyển hóa: Ứng dụng trong hành trình nuôi dạy trẻ” (NXB. Đại học Sư phạm TP.HCM, 2025) của tác giả Nhi Đỗ không chỉ đánh giá đúng mức vai trò của trải nghiệm chuyển hóa – xây dựng mô hình giáo dục khoa học hiện đại: từ gia đình đến nhà trường, từ trẻ nhỏ đến phụ huynh và giáo viên. Với nhịp sống bộn bề nhiều áp lực, đây là công trình thật sự cần thiết cho môi trường giáo dục cấp bách hiện nay, bởi nền tảng của mô hình giáo dục chuyển hóa này: thấu hiểu và yêu thương.
Hành trình nhận diện, thấu hiểu để tỉnh thức
Ngay từ lời đề từ vào mô hình giáo dục chuyển hóa, tác giả Nhi Đỗ đã nhấn mạnh: “Giáo dục không chỉ là truyền đạt kiến thức, mà là một hành trình chuyển hóa của người lớn” (Quyển 1, tr.10). Cho thấy, tác giả đã nhìn nhận dưới góc độ triết lý đối với thực hành giáo dục và tập trung vào sự chuyển hóa mà giáo dục có thể mang lại cho người học. Bằng cách đó, công trình đã phóng tầm nhìn vào yếu chỉ của việc học, từ chỗ chưa biết trở nên biết, từ chỗ chưa hoàn thiện trở nên hoàn thiện cả chân thiện mỹ.
Trên hành trình đó, sự am hiểu là yêu cầu bắt buộc. Thực hành giáo dục khởi đi từ thay đổi nội tại. Sự thay đổi như thế bắt đầu bằng nhận diện để thấu hiểu, từ chỗ thấu hiểu để thức tỉnh; mà trước hết là thức tỉnh trong nhận thức của người lớn (giáo viên, phụ huynh, xã hội). Sau khi đã tỉnh thức, sự chuyển hóa mới được kích hoạt. Tác giả Nhi Đỗ nhấn mạnh: sự chuyển hóa và am hiểu trẻ là hai hành trình không thể tách rời.
Như vậy, mô hình giáo dục chuyển hóa trước hết khởi đi từ thấu hiểu, bởi hiểu rồi mới có thể thương. Như đã chia sẻ, tác giả Nhi Đỗ trước hết là một người mẹ. Tình thương của người mẹ (hay cả người dạy học) mà thiếu sự thấu hiểu có thể khiến cho thực hành giáo dục không hiệu quả. Không chỉ thấu hiểu đối tượng con trẻ và thế giới xung quanh mà trước hết là người mẹ (lẫn người dạy học) cần thấu hiểu chính mình. Đó là điều cần thiết để một người phụ nữ trở nên người mẹ. Nhưng hành trình thấu hiểu đó không đơn giản mà đầy gian nan.
“Tôi đã không chuẩn bị cho những gì đến sau đó. Thật nhanh chóng, niềm hạnh phúc ấy bị thay thế bởi sự hoang mang, sợ hãi và kiệt quệ. Những tháng ngày đầu tiên làm mẹ không phải là những ngày tràn ngập nụ cười và những cái ôm ấm áp như tôi từng hình dung. Tôi đã đối diện với hàng loạt những lời khuyên nhủ, đánh giá, phán xét từ những người xung quanh. Tôi bị choáng ngợp bởi những kỳ vọng, những tiêu chuẩn làm mẹ mà xã hội đặt lên vai trôi. Tôi dường như bị mất phương hướng và không còn nhận ra chính mình. Tôi không biết mình muốn gì, không biết mình cần làm gì. Từ một người phụ nữ hoạt bát, vui vẻ, tràn đầy năng lượng, tôi dần trở nên trầm lặng, ít nói và thu mình lại. Có lẽ số đêm tôi khóc một mình còn nhiều hơn số giờ tôi được ngủ. Có lẽ số lần tôi tự trách mình nhiều hơn những lần tôi thật sự mỉm cười. Mỗi sáng thức dậy, tôi khoác lên mình một chiếc mặt nạ, gồng mình lên để chứng tỏ với cả thế giới rằng tôi vẫn ổn. Không ai biết được sự thật là tôi không ổn một chút nào” (Quyển 1, tr.12-13).
Người phụ nữ khi trở nên người mẹ đã bước vào quãng đời mà thiên chức giao phó với những trách nhiệm nặng nề. Bấy giờ, người phụ nữ dễ vấp phải những áp lực vô hình; nhưng không phải vì vô hình mà nó không đáng bận tậm; ngược lại, chính những áp lực vô hình đó khiến cho nó trở nên nặng nề và để lại hệ lụy nghiêm trọng.
“Tôi yêu con hơn bất cứ điều gì trên đời. Ấy vậy mà, tôi không hiểu tại sao mình lại trở nên dễ cáu gắt, dễ nóng giận đến vậy. Khi đối mặt với áp lực, với những lời phán xét, trách móc ngoài kia, tôi lại vô thức trút hết những cảm xúc ấy lên con. Tôi đã từng bỏ đi khi con níu tay tôi lại, đã từng không lắng nghe con khi con cần tôi nhất. Tôi đã mắng con, quát nạt con, thậm chí có lúc nhốt con ngoài cửa chỉ để con sợ hãi mà im lặng. Sau mỗi lần như vậy, tôi đau đớn, ân hận đến tận cùng. Tôi biết con không đáng phải chịu những điều đó, tuy nhiên tôi không thể kiểm soát được chính mình” (Quyển 1, tr.13).
Lẽ đó, người phụ nữ cần sự chuẩn bị chu đáo cho giai đoạn này. Do đó, nhận thức và thấu hiểu dành cho hành trình chuyển hóa thành người mẹ là rất quan trọng. Minh chứng là nguy cơ trầm cảm sau sinh của phụ nữ 1. Cùng với đó, môi trường đời sống hiện đại nhiều thay đổi đã tác động trực tiếp đến thiết chế gia đình – tế bào của xã hội. Thiết chế gia đình thay đổi, môi trường giáo dục gia đình cũng đối diện nhiều thách thức. Trong đó, giáo dục gia đình phải đối diện với biến đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại, từ nền sản xuất nông nghiệp sang nền kinh tế thị trường và đặc biệt là sự phát triển ồ ạt của công nghệ số. Theo đó, đời sống gia đình bị tác động mạnh mẽ về cấu trúc, hình thái và cách thức2. Ở đô thị, những bữa cơm gia đình thưa nhạt dần; thời gian các thành viên gia đình ở bên cạnh nhau dần ít lại. Theo đó, môi trường giáo dục mà ông bà cha mẹ có thể đồng hành, hướng dẫn, dạy dỗ con cũng bị hạn chế. Cùng với đó, nhịp sống thay đổi khiến cho đường hướng nuôi dạy truyền thống cần được cập nhật cho phù hợp; tuy nhiên nhiều phụ huynh tỏ ra lúng túng trong phương pháp, kỹ năng giáo dục con cái. Do đó, việc nhận thức lại môi trường giáo dục gia đình và khả năng chuyển hóa tâm hồn con trẻ trong mái gia đình được nói đến trong công trình của tác giả Nhi Đỗ rất có giá trị, rất đáng cho các bậc phụ huynh quan tâm tìm hiểu.
Bên cạnh đó, là người trực tiếp tham gia vào môi trường giáo dục, các giáo viên cũng nên thực hành trình chuyển hóa trước khi có thể chuyển hóa trẻ nhỏ. Người dạy học chưa thể trao cho trẻ sự thấu hiểu và tình thương khi bản thân người dạy chưa thật sự thấu hiểu mình. Thực tế cho thấy, người dạy học cũng đối diện với nhiều vấn đề – chẳng hạn hội chứng suy kiệt. Không chỉ biểu hiện cục bộ, mà suy kiệt còn là hội chứng tâm lý, là kết quả của sự căng thẳng kinh niên tại nơi làm việc mà không được quản lý và hóa giải, dẫn đến trạng thái mệt mỏi, kiệt quệ về thể chất và cảm xúc; đặc biệt ở giáo viên mầm non và tiểu học 3. Như thế, mô hình giáo dục chuyển hóa cần thiết chú ý đến sự chuyển hóa ở người học cũng như ở chính người dạy. Người dạy đó ở trong mái gia đình là ông bà cha mẹ, ở trong mái trường là các thầy cô giáo.
Lẽ đó, việc nhận diện và thấu hiểu như tác giả Nhi Đỗ nói đến càng quan trọng và cần thiết hơn cho những ai bước đầu thực hiện thiên chức làm mẹ cũng như các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy. Bạn đọc sẽ nhận ra: thực hành giáo dục không phải từ lúc con bước chân đến trường, không phải từ lúc con biết nghe lời dạy dỗ của cha mẹ mà đã bắt đầu từ chính những giờ phút đầu tiên được hoài thai trong bụng mẹ. Và thực hành giáo dục đó đã khởi đầu từ chính nhận thức của mỗi người trong vai trò làm cha làm mẹ. Ngay từ giờ phút nhận ra thiên chức thiêng liêng đó, sự thực hành giáo dục chuyển hóa đã bắt đầu.
Hành trình tỉnh thức để chuyển hóa và lan tỏa yêu thương
Kỳ vọng của mái trường, cũng là kỳ vọng của quá trình giáo dục nói chung: chuyển hóa để tỉnh thức, tỉnh thức để yêu thương và lan tỏa tình yêu thương. Đó cũng chính là hoài vọng là trọng tâm của tác giả Nhi Đỗ trong công trình này. “Chúng ta không cần một ngôi trường hào nhoáng để kiến tạo môi trường chuyển hóa. Chúng ta chỉ cần những người lớn có cam kết sống tỉnh thức, một không gian nơi sự chân thực được chào đón, và một tầm nhìn chung về việc nuôi dưỡng những con người biết yêu thương chính mình và thế giới” (Quyển 1, tr.324). Đặc biệt, mối hoài vọng này, tác giả Nhi Đỗ không chỉ hướng đến người học, phụ huynh mà còn tất cả những người có tham gia vào môi trường giáo dục. Và tác giả còn kêu gọi “hãy nhớ rằng, bạn không cần trở thành ai khác để bắt đầu hành trình này. Chỉ cần bạn – với tất cả những gì đang là – chọn trở thành một con người chuyển hóa. Và chính bạn, bạn là người kiến tạo một môi trường chuyển hóa” (Quyển 1, tr.324). Hết sức đơn sơ, người mẹ cũng là cô giáo và cô giáo cũng như mẹ hiền. Bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu, dù ở nhà hay ở trường, cũng đều là môi trường giáo dục chuyển hóa.
Công này trình không đơn thuần chỉ là công trình khoa học, không đơn thuần là đường hướng giáo dục mà trước hết là tấm lòng của người mẹ. Nhi Đỗ không phải nhà khoa học mà là người mẹ khi tham gia vào môi trường giáo dục chuyển hóa. “Tôi – tác giả của bộ sách này – không phải với vai trò là một chuyên gia giáo dục nuôi dạy trẻ, mà chỉ đơn thuần là một người mẹ – một người mẹ từng lạc lối, từng kiệt sức, từng vô tình làm tổn thương đứa con mà mình yêu thương hơn tất thảy” (Quyển 1, tr.6). Tập sách như thể thủ thỉ sẻ chia những trải nghiệm của người mẹ trên hành trình nuôi dạy con và vì thế, mỗi phụ huynh, mỗi người đọc có thể tìm thấy sự an ủi, thấu hiểu và động viên khi đọc tập sách này. Như tác giả Nhi Đỗ động viên các bậc phụ huynh: “bạn là chuyên gia về con cái của bạn” (Quyển 2, tr.344). Đồng thời, các bậc phụ huynh cũng như thầy cô giáo có thể tìm thấy sự thấu hiểu để tỉnh thức và thấy được sự bình an nội tâm. Sau khi lắng đọng để chiêm nghiệm và tìm thấy sự bình an nội tâm, “mọi điều tôi chia sẻ ở đây đều đến từ chính trải nghiệm của tôi – một người mẹ đã đi qua những tháng ngày hoang mang, thử nghiệm, vấp ngã và chuyển hóa trên hành trình đồng hành cùng con. Từng câu chữ trong cuốn sách này là những chiêm nghiệm thật nhất, là những khoảnh khắc tôi đối diện với chính mình, những giây phút tôi nhìn lại hành trình làm mẹ của mình với tất cả những gì chân thực nhất” (Quyển 1, tr.7). Lúc đó, người đọc có thể hồi vấn để hồi chiếu tự thân. Lúc đó, sự chuyển hóa được kích hoạt. Tình thương được khởi sinh đồng thời.
Trong mô hình giáo dục chuyển hóa, theo Nhi Đỗ, người phụ nữ – không tự nhiên người xưa nói “con hư tại mẹ” vì người mẹ, gánh vác vai trò quan trọng và đặt những viên gạch đầu tiên. Trên bước đường nuôi nấng, dạy dỗ và học tập để trưởng thành của con trẻ, người mẹ phải là người học trước hết. Người mẹ trên hành trình nuôi dạy con liên tục phải đứng trước những thử thách và tự vấn. Như tác giả Nhi Đỗ từng tự hỏi lòng mình: “Tôi đã làm tất cả để con hạnh phúc, tại sao tôi lại thấy mệt mỏi đến vậy?” (Quyển 1, tr.14). Cũng chính lúc đó, tác giả tập sách nhận ra: phương pháp giáo dục không phải là điều quan trọng nhất. Những phương pháp giáo dục tiên tiến từ các nền giáo dục hiện đại trên thế giới, những bí quyết nuôi dạy con thông minh, những kỹ thuật xử lý tình huống với trẻ, … Nhi Đỗ nhận ra sự máy móc và hạn chế của những phương pháp đó, bởi không thể áp dụng rập khuôn cho mọi tình huống. Như thế, tác giả băn khoăn về mô hình giáo dục hoàn thiện hơn, phù hợp hơn. Và còn hơn thế, tác giả nhận ra thực hành giáo dục đó thiếu nền tảng vững chắc – một nền tảng nhân bản thuần khiết – để làm dưỡng chất nuôi nấng tâm hồn con trẻ. Chính suy nghĩ đó đưa Nhi Đỗ đến với ý tưởng về môi trường giáo dục mà ở đó con trẻ đều được sống trong “yêu thương – tôn trọng – hạnh phúc” (Quyển 1, tr.15).
Nhưng cũng chính suy nghĩ đó, tác giả họ Đỗ nhận ra: môi trường giáo dục không chỉ có đối tượng con trẻ và để con trẻ sống trong môi trường giáo dục lành mạnh, đầy yêu thương hạnh phúc thì những đối tượng khác (phụ huynh, giáo viên tham gia vào môi trường giáo dục ấy) cũng cần cảm nhận được sự yêu thương và hạnh phúc. “Tôi vẫn thấy đâu đó những tiếng thở dài, những gương mặt mệt mỏi của những giáo viên. Họ gồng mình trước những áp lực vô hình và loay hoay trong chính cảm xúc của họ. Phụ huynh cũng vậy – nhiều người đến đón con trong tâm thế tất bật, lo âu, vừa hoàn thành công việc ở công ty, vừa nghĩ đến việc nhà, việc cơm nước, việc học của con, … Họ thường ghé vào trường với nét mặt căng thẳng, vội vã” (Quyển 1, tr.16). Mô hình giáo dục chuyển hóa mà tác giả Nhi Đỗ hướng tới là nhằm kiến tạo môi trường giáo dục (yêu thương – tôn trọng – hạnh phúc) cho tất cả những ai tham gia. Như thế, mô hình giáo dục này cũng cần sự tham gia tỉnh thức để chuyển hóa và lan tỏa tình yêu thương từ cả giáo viên, nhà trường, phụ huynh, học sinh và xã hội.
Thấu hiểu, chuyển hóa và yêu thương, với đường hướng như vậy, Nhi Đỗ truy nguyên vào tận tâm hồn con người, không chỉ phụ huynh học sinh, con trẻ mà cả những giáo viên và những ai tham gia vào môi trường giáo dục. Bởi sự thấu hiểu và chuyển hóa đó phải bắt đầu từ nội tại tâm hôn. “Tôi nhìn lại hành trình của chính mình: tôi đem tất cả phương pháp giáo dục tôi đã được học hỏi, tiếp cận để tập huấn cho giáo viên và kỳ vọng họ thực hiện đúng quy trình. Tôi hy vọng mọi thứ sẽ trở nên hoàn hảo. Tuy nhiên, tôi đã quên rằng, nhũng áp lực, căng thẳng hay mệt mỏi của giáo viên, phụ huynh – và thậm chí của chính tôi – là thứ mà không phương pháp nào có thể giải quyết nếu con người chưa thật sự thay đổi từ bên trong” (Quyển 1, tr.17). Vì triết lý giáo dục, mô hình giáo dục, chương trình giáo dục, phương pháp giáo dục, … muốn thấm nhuần mỗi cá nhân; thì phải có sức tác động vào tận thẳm sâu tâm hồn con người. Sự chuyển hóa phải khởi đi từ đó. Để kích hoạt lòng trắc ẩn nhuần nhị trong tâm can mỗi con người. Chính ở điểm này, mô hình giáo dục mà Nhi Đỗ hướng đến có giá trị khác biệt, có tính bước ngoặt (không chỉ với chính tác giả mà còn với giáo viên và phụ huynh học sinh). “Có lẽ chính từ nỗi trăn trở này mà tôi dần tìm kiếm một hướng tiếp cận khác: không chỉ đổ dồn vào “cách dạy” và “cách làm”, quan trọng là cần đặt sự chuyển hóa của người lớn làm trọng tâm. Tôi nhận ra, khi bản thân tôi – hay giáo viên, cha mẹ – vẫn đầy bất an, căng thẳng, thì cho dù có giỏi phương pháp đến mấy cũng khó mang đến sự an vui bền vững cho các con. Đó có lẽ là mảnh ghép còn thiếu mà bấy lâu tôi vẫn loay hoay kiếm tìm” (Quyển 1, tr.17-18). Và, bạn đọc có thể cảm nhận mô hình giáo dục chuyển hóa của Nhi Đỗ không chỉ có tính hiện đại, khoa học mà hơn hết hướng đến tính bền vững.
Ở đây, người đọc cần có thêm thời gian để xem xét lĩnh vực nghiên cứu giáo dục (Educational Studies) và nghiên cứu tính bền vững (Sustainability Studies) hội tụ về lý thuyết và thực hành, cần thêm thời gian để nghiên cứu khả năng liên ngành giữa hai lĩnh vực nghiên cứu này; nhưng ta có thể nói ngay rằng, công trình của Nhi Đỗ – Giáo dục chuyển hóa – chính là biểu hiện của khát vọng về nền giáo dục hiện đại bền vững. Nền giáo dục đó, nhìn rộng hơn, chính là khả năng đáp ứng cho định hướng giáo dục phát triển bền vững (Education for Sustainable Development/ESD) mà UNESCO đang hướng tới 4. Trong nhận thức về giáo dục hướng đến phát triển bền vững (ESD) thì thực hành giáo dục được xem như chìa khóa để khai mở tiến trình thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu. Đó là nền giáo dục nhận diện, thấu hiểu, chuyển hóa và giúp các cá nhân đưa ra quyết định sáng suốt và định hướng hành động. Từ chỗ chuyển hóa cá nhân và tập thể, nền giáo dục đó chuyển hóa xã hội để bảo vệ các giá trị nhân bản và nhờ đó bảo vệ hành tinh. Xa hơn, nền giáo dục ấy trang bị cho mọi người ở mọi lứa tuổi kiến thức, kỹ năng, giá trị và khả năng giải quyết các vấn đề như biến đổi khí hậu, mất đa dạng sinh học, lạm dụng tài nguyên và bất bình đẳng ảnh hưởng đến hạnh phúc của mọi người và sức khỏe hành tinh. Có thể thấy, chuyển hóa để yêu thương chính là nền tảng bền vững cho phát triển.
Thương mình, thương người, thương đời và thương mọi tạo vật trên thế gian tươi đẹp nhiệm mầu; tình thương mang sức mạnh phi thường, đồng thời cũng có khả năng chuyển hóa và kiến tạo tâm hồn con người.
Tinh thần khoa học, hiện đại và nền tảng triết lý giáo dục
Đọc từ quyển 1 (Sự chuyển hóa) đến quyển 2 (Am hiểu trẻ), bạn đọc có thể thấy công trình của tác giả Nhi Đỗ được xây dựng một cách khoa học – rất khoa học: từ định hướng cho đến nền tảng lý thuyết và sau nữa là thực hành với các quy tắc rõ ràng. Nhà nghiên cứu Nhi Đỗ thận trọng trong việc xác định lập trường lý thuyết và sự phối hợp của các lý thuyết ấy, nhằm đánh giá đúng đắn cơ chế chuyển hóa ở trẻ và ở người tham gia vào thực hành giáo dục (giáo viên, phụ huynh, xã hội). Cụ thể, tác giả Nhi Đỗ đã xuất phát từ lý thuyết tâm lý tình dục của Sigmund Freud, lý thuyết tâm lý xã hội của Erik Erikson, lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget, lý thuyết học tập xã hội của Albert Bandura, lý thuyết gắn bó của John Bowlby, lý thuyết hệ thống sinh thái của Urie Bronfenbrenner (Quyển 2, tr.28-151). Đi vào thực tiễn giáo dục, công trình nêu ra một số quy tắc xây dựng môi trường giáo dục: quy tắc “một đội” – không mâu thuẫn trước mặt trẻ; quy tắc “thống nhất nguyên tắc, linh hoạt cách làm”; quy tắc “ba mẹ quyết định và ông bà được lắng nghe”; quy tắc “mỗi người đều có cách yêu thương riêng”; quy tắc “thay đổi bản thân trước khi mong đợi người khác thay đổi” (Tập 1, tr.317-319). Từ sự chuẩn bị về tinh thần đến thực hành trong giáo dục, từ người học đến các đối tượng tham gia trong môi trường giáo dục, bạn đọc có thể thấy nỗ lực của Nhi Đỗ trong việc xây dựng mô hình giáo dục hoàn thiện và toàn diện.
Thế nhưng, tính khoa học hiện đại trong mô hình giáo dục chuyển hóa mà tác giả Nhi Đỗ chia sẻ không phải bởi những thuật ngữ giàu hàm lượng học thuật. Mà tính khoa học của công trình này khởi đi từ chỗ tác giả đã nhận diện thực tiễn, nắm bắt thực tiễn để phát hiện bất cập và nhu cầu mà thực tiễn đề ra. Từ chỗ thấu hiểu khó khăn của bậc làm cha làm mẹ, khó khăn của giáo viên, khó khăn của xã hội, … tác giả Nhi Đỗ rà soát lại toàn bộ quá trình thực hành giáo dục.
“Tôi bắt đầu nhìn thấy những điều mà trước đây tôi đã bỏ qua. Tôi đã dành nhiều thời gian để nói về trẻ, về cách giúp trẻ phát triển và lại ít khi nói về những người đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và đồng hành cùng trẻ. Những người lớn bên cạnh trẻ – họ đang ở đâu trong hành trình này? Họ đang được chăm sóc ra sao? Họ đang cảm thấy thế nào? Họ đang phải đối mặt với những điều gì trong cuộc sống?” (Tập 1, tr.17).
Chính vì dựa trên thực tiễn nên mô hình này đáp ứng trực tiếp cho nhu cầu giáo dục của thực tiễn xã hội hiện nay. Từ bức thiết của thực tiễn, mô hình giáo dục chuyển hóa phản chiếu lại chính những lý thuyết giáo dục và kỹ năng giáo dục. Một nền giáo dục không thể thiếu vắng con người và tình người; như thế nền giáo dục toàn diện cần khởi đi từ thực tiễn đời sống con người và đáp ứng nhu cầu tinh thần tình cảm con người. Đó nên là mối bận tâm hàng đầu của nhà giáo dục, trước khi nghĩ đến thiết kế chương trình giáo dục, phương giáo giáo dục và tổ chức kiểm tra-đánh giá thực trạng giáo dục. Nền giáo dục dù tân tiến đến đâu hay đổi mới như thế nào đều không thể xa rời nền tảng nhân bản. Và, như thế, công trình của tác giả Nhi Đỗ như thể gợi nhắc ta về triết lý giáo dục đủ sâu sắc, toàn diện, khoa học, hiện đại, đậm bản sắc dân tộc và nhất là phải đậm đà giàu tính nhân bản.
Từ những gì trình bày ở trên, bạn đọc hẳn nhận ra tính khoa học của công trình không phải như lĩnh vực học thuật hàn lâm, bởi khả năng chia sẻ và đặt câu hỏi. Chính ở sự tự vấn, tác giả Nhi Đỗ đưa bạn đọc vào hành trình tư tưởng và hành trình của lương tri. Công trình mang chỉ dấu sâu rộng hàm lượng khoa học ở chỗ cô đọng và giúp bạn đọc nắm bắt những yếu tính của mô hình giáo dục chuyển hóa. Việc này rất thuận tiện cho những bạn đọc phổ thông, chưa có nền tảng chuyên môn về giáo dục học. “Đọng lại sau tất cả: – Người lớn không thể trao hạnh phúc cho trẻ khi chính mình không hạnh phúc. – Bình an và niềm vui của người lớn quan trọng hơn bất kỳ phương pháp giáo dục nào. – Giáo dục không chỉ là dạy trẻ mà là một hành trình chuyển hóa của người lớn. – Một môi trường giáo dục lý tưởng không chỉ dựa vào phương pháp mà phụ thuộc vào trạng thái tinh thần của người nuôi dạy trẻ. Câu hỏi dành cho bạn: Bạn có đang thật sự hạnh phúc và bình an không?” (Quyển 1, tr.18). Ở quyển thứ 2, tác giả Nhi Đỗ rút ra những nhận xét thấu đáo và bổ ích cho thực hành giáo dục của mỗi bậc phụ huynh và giáo viên đang trực tiếp giảng dạy. “Bạn biết không? Khi bạn thực sự hiểu trẻ, bạn cũng sẽ bắt đầu hiểu chính mình – hiểu những đứa trẻ bên trong bạn đã từng tổn thương, từng thiếu kết nối, từng khao khát được nhìn thấy. Nuôi dạy một đứa trẻ không chỉ là hành trình giáo dục – mà còn là hành trình chuyển hóa của người lớn. Bạn không cần trở thành một chuyên gia để đồng hành cùng trẻ. Bạn chỉ cần là một con người đang học cách yêu thương trọn vẹn – với trái tim chân thật và tâm thế không ngừng chuyển hóa” (Quyển 2, tr.343). Có thể nói, và cũng có thể khẳng định công trình của tác giả Nhi Đỗ phù hợp cả đối tượng bạn đọc chuyên sâu cũng như nhiều đối tượng độc giả ở nhiều lứa tuổi khác nhau.
Tinh thần khoa học hiện đại của bộ sách thể hiện ở chỗ tác giả định vị, định hướng rõ ràng về thực hành giáo dục và sau nữa, đi đến xây dựng mô hình giáo dục. Cụ thể, Nhi Đỗ xác quyết:
“Giáo dục chuyển hóa là một cách tiếp cận tập trung vào vai trò và sự hiện hữu của người lớn trong quá trình nuôi dạy trẻ, nhấn mạnh rằng việc nuôi dạy trẻ không chỉ dừng lại ở chỗ am hiểu sự phát triển của trẻ mà còn cần người lớn chuyển hóa chính bản thân. Bản thân mô hình này có hai trụ cột song song và không thể tách rời: (1) Sự chuyển hóa – nơi người lớn có năng lực kiến tạo những khả năng mới, có sự tự do thể hiện bản thân, và có sự bình an trong tâm trí và (2) Am hiểu trẻ – nơi người lớn hiểu được tâm sinh lý và nhu cầu của trẻ trong từng giai đoạn phát triển” (Quyển 1, tr.19).
Tuy nhiên, điểm vượt trội và +nổi bật trong mô hình giáo dục chuyển hóa của Nhi Đỗ đó là mở rộng khả năng chuyển hóa. Sự chuyển hóa trong mô hình giáo dục chuyển hóa (Transformative Education) trước nay vốn tập trung ở người học. Nhưng mô hình giáo dục chuyển hóa của Nhi Đỗ không chỉ hướng đến chuyển hóa người học mà còn hướng đến chuyển hóa các đối tượng khác cùng tham gia trong môi trường giáo dục. “không chỉ dừng ở chỗ am hiểu sự phát triển của trẻ mà còn cần người lớn chuyển hóa chính bản thân” (Quyển 1, tr.19). Thêm nữa, mỗi bạn đọc có thể nhận được nhiều giá trị từ công trình này, cụ thể: đó là bạn đọc sẽ nhận được sự đồng cảm sâu sắc, sự chuyển hóa từ bên trong, những công cụ thực hành mạnh mẽ, và một tầm nhìn mới về giáo dục (Quyển 1, tr.22). Bất cứ đối tượng nào tham gia vào thực hành giáo dục đều cần và đều được chuyển hóa. Sự chuyển hóa ở đây có thể hiểu như bước nhảy về tinh thần (bao hàm trong đó là quá trình đối diện và tự vấn nội tại, sự tích lũy dẫn đến bước nhảy chuyển hóa).
Trên thực tế, phương pháp đối thoại được sử dụng trong nền học vấn cổ đại đã cho thấy quan điểm về nền học tập chủ động và từ đó xúc tiến khả năng chuyển hóa người học. Ta đã thấy lối đối thoại này xuất hiện trong việc truyền thụ kiến thức ở Hy Lạp cổ (với Socrates, Platon, Aristotle, …); ở Ấn Độ thời kỳ Vệ Đà (với các Upanishad); ở Trung Quốc thời tiên Tần (với Lão Tử, Trang Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử, …). Đến thời kỳ cận-hiện đại, nền giáo dục phương Tây liên tục xuất hiện những quan điểm giáo dục khác nhau: từ giáo dục trải nghiệm của John Dewey, giáo dục khai phóng của Paulo Freire, và sau nữa có giáo dục chuyển hóa như lý thuyết được Jack Mezirow xây dựng từ khoảng cuối thập niên 1970[5]. Song nhìn chung các quan điểm giáo dục này đều tập trung vào người học và bối cảnh người học trung tâm; song sự đóng góp của Nhi Đỗ cho thực hành giáo dục chuyển hóa là đã mở rộng đối tượng và phạm vi chuyển hóa: di chuyển từ người học trung tâm đến đa đối tượng trung tâm trong môi trường giáo dục. Ngoài ra, Nhi Đỗ còn tích hợp các quan niệm giáo dục khác trong việc xây dụng bối cảnh-không gian giáo dục. Từ đó, vạch ra những cách thức cụ thể cho nhiều đối tượng tham gia vào thực hành giáo dục. Phụ huynh biết cách biến mái nhà trở nên mái trường; giáo viên biết cách biến mái trường thành mái nhà; và hướng đến lan tỏa toàn xã hội trở nên mái ấm nuôi nấng dạy dỗ tâm hồn con trẻ.
Đôi lời tạm kết:
Bộ sách “Giáo dục chuyển hóa: Ứng dụng trong hành trình nuôi dạy trẻ” của tác giả Nhi Đỗ nhằm “đồng hành cùng trẻ mà bỏ qua chính mình. Ngược lại, bạn cũng không thể chỉ chuyển hóa bản thân mà không có sự am hiểu về sự phát triển của trẻ. Bộ sách này không hướng đến việc dạy trẻ theo một khuôn mẫu, mà mời gọi người lớn bước vào hành trình chuyển hóa chính mình để từ đó, tạo nên một môi trường nuôi dưỡng đầy tình yêu thương và thấu hiểu”(Theo “Qũy giáo viên hạnh phúc”). Thực chứng, Nhi Đỗ với bao hoài vọng, ước mơ và tâm huyết đúc kết thành bộ sách “Giáo dục chuyển hóa: Ứng dụng trong hành trình nuôi dạy trẻ” tưởng rằng nhỏ nhưng rất lớn – rất đáng suy ngẫm giúp những người có trách nhiệm về giáo dục, cũng như những ai quan tâm đến thực trạng giáo dục con trẻ hiện nay. Bởi công trình đặt trên nền tảng nhân bản: chuyển hóa để lan tỏa tình yêu thương. Tình thương nền tảng của sự chuyển hóa đã nhuần nhuyễn vào trang nghiên cứu giàu hàm lượng khoa học và tinh thần giáo dục hiện đại; tạo mái trường là “Bà Mẹ hiền” trong gia đình an lành, yêu thương!
Để bạn đọc hiểu rõ thêm nguồn cơn về tác giả họ Đỗ và bộ sách “Giáo dục chuyển hóa”, người viết bài này sử dụng lời tự sự của Nhi Đỗ qua cuộc trao đổi tin nhắn, ngày 7.5.2025, rằng:
“Bắt đầu từ 2011, với những khát khao mong mỏi và trái tim yêu thương của một người mẹ về một ngôi trường cho những đứa trẻ được tự do như những cánh chim trời, được hòa mình vào thiên nhiên. Và hơn hết, các con được là chính mình, được thỏa sức sáng tạo, được tôn trọng và được yêu thương. Từ đó, tôi cũng các cộng sự tại ME School đã cùng nhau xây dựng chuỗi trường mầm non và theo đuổi sứ mệnh giúp trẻ khai phóng nhận thức và phát huy trọn vẹn tiềm năng của trẻ, để giúp trẻ nhận ra mình thật sự là một người đặc biệt và có ích cho xã hội. Trong hành trình đó, chúng tôi cũng đã gặp không ít khó khăn. Thử thách lớn nhất của chúng tôi không phải đến từ những đứa trẻ, mà chính là sự chuyển hoá của cộng đồng những người lớn xung quanh trẻ. Chúng tôi nhận ra rằng, ngoài các phương pháp giáo dục đang áp dụng trên thế giới thì điều quan trọng nhất và cốt lõi nhất để đồng hành cùng với trẻ là một môi trường chuyển hoá từ chính cộng đồng những người lớn xung quanh các con, từ chính những trái tim ấm áp và sự bình an của chúng ta dành cho các con. Với sứ mệnh này, từ năm 2023, ME School đã tiên phong về phương pháp “Giáo dục chuyển hoá” – xây dựng một cộng đồng người lớn chuyển hoá, cùng nuôi dưỡng những đứa trẻ bình an, tự do hiện hữu và tự do hành động”.
Và, không có chi ngần ngại khi nhận định bộ sách “Giáo dục chuyển hóa: Ứng dụng trong hành trình nuôi dạy trẻ” là bộ sách quý hiếm và đồng thời, tác giả Nhi Đỗ là nhà giáo dục nuôi dạy trẻ xuất sắc, tính đến hôm nay!.
Chú thích:
[*] Đỗ Thắng Cảnh, cử nhân Triết, trường Đại học Văn khoa và cử nhân Quản trị Tiếp thị Kỹ nghệ, trường Chánh trị – Kinh doanh, Viện Đại học Đà Lạt/ Đỗ 2 cử nhân cùng năm 1972. Nguyễn Thị Hiệp, cử nhân Kế toán Tài chánh (1974), trường Đại học Chánh trị – Kinh doanh, Viện Đại học Đà Lạt.
[**] Nhi Đỗ Đồng sáng lập hệ thống trường mầm non ME School và ME Green Đồng sáng lập Quỹ Giáo Viên Hạnh Phúc
[***] HANOI:
- Vuon Dao Campus – 679 Lac Long Quan, Tay Ho District
- Ho Tay Campus – 95-D5D, 677 Lac Long Quan, Tay Ho District
-  Kim Ma Campus – Villa 5B, Alley 455 Kim Ma, Ba Dinh District
- Quoc Tu Giam Campus – 67 Nguyen Thai Hoc, Ba Dinh District
- Quang An Campus – 215 Au Co, Quang An, Tay Ho District
HO CHI MINH CITY:
- Thao Dien Campus – 30A Tran Ngoc Dien, District 2
- Tan Dinh Campus – 13 Nguyen Van Mai, District 3
-  Hoang Van Thu Campus – A3-A4, 198 Hoang Van Thu, Phu Nhuan Diítrict
- Nguyễn Trọng Tuyển Campus – 350A Nguyễn Trọng Tuyển, Tân Bình.
-  CMT8 Campus – 658/23–25–27 Cach Mang Thang Tam, District 3
-  Tân Thuận Campus – 110 Nguyễn Văn Linh, Quận 7
-  Củ Chi Campus – 75A Nguyễn Thị Tiệp, Củ Chi.
[1] Nguyễn Quang Bắc & Nguyễn Văn Kỳ (2023). Thực trạng trầm cảm ở phụ nữ sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tạp Chí Y học Việt Nam – Tập 526, Số 2 (2023), tr.93-97. https://doi.org/.
[2] Nguyễn Thị Mai Hoa (2021). Giáo dục gia đình và những vấn đề đặt ra. Nghiên cứu Gia đình và Giới – Quyển 31 (số 2), tr.45-55.
[3] Trần Thị Minh Đức, Ngô Thị Thùy, Nguyễn Thành Đức, Phạm Thị Anh Đào (2021). Suy kiệt ở giáo viên và ảnh hưởng của nó tới trầm cảm, lo âu và căng thẳng. Tạp chí Tâm lý học – Số 8 (269) (tháng 8-2021), tr.3-19.
[4] UNESCO (2024). What you need to know about education for sustainable development. Last update: 23 October 2024. https://www.unesco.org/en/sustainable-development/education/need-know
[5] Jack Mezirow (1997). Transformative Learning: Theory to Practice. New Directions for Adult and Continuing Education – No. 74 (Summer 1997), pp.5-12. https://doi.org/10.1002/ace.7401
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Quang Bắc & Nguyễn Văn Kỳ (2023). Thực trạng trầm cảm ở phụ nữ sau sinh tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương. Tạp Chí Y học Việt Nam – Tập 526, Số 2 (2023), tr.93-97. https://doi.org/10.51298/vmj.v526i2.5516
2. Nhi Đỗ (2025). Giáo dục chuyển hóa: Ứng dụng trong hành trình nuôi dạy trẻ (Quyển 1-Sự chuyển hóa). TPHCM: Nxb. Đại học Sư phạm.
3. Nhi Đỗ (2025). Giáo dục chuyển hóa: Ứng dụng trong hành trình nuôi dạy trẻ (Quyển 2-Am hiểu trẻ). TPHCM: Nxb. Đại học Sư phạm.
4. Trần Thị Minh Đức, Ngô Thị Thùy, Nguyễn Thành Đức, Phạm Thị Anh Đào (2021). Suy kiệt ở giáo viên và ảnh hưởng của nó tới trầm cảm, lo âu và căng thẳng. Tạp chí Tâm lý học – Số 8 (269) (tháng 8-2021), tr.3-19.
5. Nguyễn Thị Mai Hoa (2021). Giáo dục gia đình và những vấn đề đặt ra. Nghiên cứu Gia đình và Giới – Quyển 31 (số 2), tr.45-55.
6. Jack Mezirow (1997). Transformative Learning: Theory to Practice. New Directions for Adult and Continuing Education – No. 74 (Summer 1997), pp.5-12. https://doi.org/.
7. UNESCO (2024). What you need to know about education for sustainable development. Last update: 23 October 2024. https://www.unesco.org/.
16/5/2025
Trần Bảo Định
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Bên triền sông gió vẫn thổi

Bên triền sông gió vẫn thổi Huy nhận điện thoại thoại mẹ mà ngậm ngùi: - Mẹ nghe trong đó dịch giã quá, con cố về với mẹ, rau cháo cũng qu...