Thứ Năm, 27 tháng 11, 2025

Mười hai nhà thơ miền Nam những năm sáu mươi

Mười hai nhà thơ miền Nam
những năm sáu mươi

DẪN NHẬP
Giới thiệu 12 nhà thơ mới nhất hôm nay của Miền Nam trong khoảng thời gian 1955 đến 1960, tôi không làm công việc phê bình mà chỉ ghi lại cảm tưởng riêng khi nhìn họ qua thơ trong giai đoạn bắt đầu - dù nhiều tác giả đã xuất bản thơ, như Hà Phương, Hà Yên Chi, Diễm Châu… và có tác phẩm đăng nhiều trên tạp chí, sách báo, đích thực đã là nhà thơ nổi tiếng với giới thi ca vào giai đoạn này.
Trước khi tập hợp một số bài báo thành cuốn MƯỜI HAI NHÀ THƠ MỚI NHẤT HÔM NAY (in ronéotypé trong Loại Sách Đại Nam Văn Hiến, Saigon 1961), những bài viết nói về các tác giả Cao Mỵ Nhân, Diễm Châu, Đào Minh Lượng, Hà Phương được đăng tải trên tuần báo Tân Dân, chủ nhiệm Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, vào những năm 60-61, ký Đường Bá Bổn.
1961
(*) Sách in lần này mang nhan đề: MƯỜI HAI NHÀ THƠ MIỀN NAM NHỮNG NĂM SÁU MƯƠI ký Thế Phong.
1- CAO MỴ NHÂN
(1939 - )
Khoảng 1952 trên nhật báo Giang Sơn, Hà Nội (Chủ nhiệm: Hoàng Cơ Bình) có Trang Học Sinh do Thy Thy Tống Ngọc phụ trách, tôi gặp bút danh Cao Mỵ Nhân qua những bài thơ nhỏ, đó là tiếng nói thơ của trẻ thơ như lần nào đọc thơ Trần Trung Phương. Nhưng hồi ấy, tôi không mấy lưu ý vì thế giới trẻ thơ của Cao Mỵ Nhân không nổi bật. Lại nữa, những tác phẩm nói về trẻ thơ của người phụ trách Trang Học Sinh ào ạt xuất bản, qua Cu Tý, Khúc Ca thơ Ấu.
Bẵng đi một thời gian, tôi gặp lại Cao Mỵ Nhân ở Sàigòn qua những bài thơ đăng trên nhật báo Quốc Gia (1955), Văn Nghệ Học Sinh (1957), nhất là trong một bài tựa đề Dậy Thì - lúc bấy giờ tôi mới chợt nhớ lại hình ảnh những năm xưa còn ở Hà Nội; Cao Mỵ Nhân, tác giả bài văn thơ nhí nhảnh, đôi khi có giọng mỉa mai, đùa cợt, dầu là còn trong tuổi học trò.
Cao Mỵ Nhân làm rất nhiều thơ, đủ các thể loại nhưng rất ít đăng báo mà chỉ chép lại cho bạn bè, thân thuộc hoặc quay ronéo tặng anh chị em Hướng đạo sinh (cô là đội viên nữ). Trong số những người con gái làn thơ hôm nay vào loại tuổi hai mươi hai, hai mươi ba… Cao Mỵ Nhân và Hà Phương là đáng kể hơn cả. Riêng người thơ thứ hai này, cũng là một nữ sinh, nhưng đã xuất bản hai tập thơ Giòng Thơ Sang Mùa và Buồn Hoang Thế Kỷ. Thi phẩm đầu tay của Hà Phương mang nét suy tư già dặn và điêu luyện. Tôi sẽ trở lại với Hà Phương trong kỳ tới (bài nhận định đăng từng kỳ trên tuần báo Tân Dân khi ấy), qua nét phác họa, qua vóc dáng thơ phản ánh trong hai thi phẩm của cô.
Trở lại với Cao Mỵ Nhân, cô thường làm thơ bẩy chữ, lục bát - có nghĩa là làm thơ mới theo lối thơ tiền chiến. Nhưng cô cũng làm thơ tự do theo lối thơ tự do hôm nay. Qua những bài thơ được đọc, tôi nhận thấy tài diễn tả của cô quen với lối thơ bẩy chữ hơn cả. So sánh với các nhà thơ nữ đi trước (tuy khoảng cách thời gian không nhiều) như Huyền Chi thì Cao Mỵ Nhân không đưa vào thơ mình, ám ảnh cuộc sống rộng lớn mà chỉ bày tỏ cảm tưởng nhỏ qua chặïng đường cô hiện đang sống. Lối thơ diễn tả nỗi sầu man mác xót sa đời của Huyền Chi trong Cởi Mở cho người đọc nhận rõ được hình ảnh người con gái bước vào đời đầy khói lửa, gia nhập đời sống bằng kinh nghiệm chát chúa, buồn buồn một lối thương đau riêng. Chẳng hạn như :
… Bơ vơ quá giữa kinh thành
Có ai may áo viễn hành nữa đâu?
Lạc loài từ độ xa nhau
Đừng phai dấu cũ nhạt màu thời gian.
(Huyền Chi, Bơ Vơ)
Hiện cảnh thời cuộc vào 1952 diễn lại trước mặt một thiếu nữ khoảng trên hai mươi tuổi chống tay nhìn ra trời, gió heo may thổi, vọng về từ nơi những người anh chiến đấu và buồn cho hoàn cảnh mình ở lại trong lồng son chính trị Liên Hiệp Pháp. Với Cao Mỵ Nhân hồi ấy, chắc mới chỉ là cô bé mười lăm tuổi nên không có dịp may mắn như đàn chị, không được chứng kiến cuộc kháng chiến và chẳng thể có quan niệm chứng tỏ đối với đời sống bạo hành dưới ách thực dân thống trị. Cho đến khi cô có khả năng đem hình ảnh đời sống vào thơ, đánh dấu sự trưởng thành của mình thì lúc này Cao Mỵ Nhân lại sống với nội tâm, bày tỏ lòng mình chân thành nhất - mà còn gì ngoài tình yêu:
Trắng vai hai đứa còn bơ vơ
Còn đứng nhìn nhau thay dặn dò
Mà dặn dò chi dang dở lắm
Em thương giấc mộng ép trong thơ…
(Chuyện vừa qua của Mỵ)
Trong cái đinh vỏ ốc xoáy tròn tình yêu ấy, đôi khi cô có giọng thơ mai mỉa cuộc đời, bắt đầu yêu lại khi gặp đời man trá, trò lửa cuộc đời lăm le thiêu đốt. Có những vần thơ rất táo bạo:
Nhưng cười ròn vỡ tan gian nhà chật
Nở lòng thương ta khẽ nhủ: thật thà yêu
Chân thành lắm, cho nên đời phỉ nhổ
Phải không em? Dù chúng mình yêu nhau!
(Bắt đầu yêu của Mỵ)
Thế giới yêu của Cao Mỵ Nhân đôi khi được lồng vào ngoại cảnh, pha chế vào những dáng lá cây xanh, núi non, giấu vào trong đợt sóng biển. Có những hình ảnh đẹp được tô lại rất mạnh bạo - nhất là với người con gái nhìn vòng tay ôm ấp mà lại nhớ đến Trường Sơn và Thái Bình Dương:
Trường Sơn chỉ cách Thái Bình Dương
Có một vòng tay xiết gọn gàng
Đèo Cả, người ơi lên diệu vợi
Tình yêu non nước ngát muôn hương!
(Chiều trên Đèo Cả)
và rất điêu luyện ở cách so sánh tình yêu với đường tàu:
Một đôi đường sắt chạy song song
Đường nối tình em tới bạn lòng
Đường nối ga đời xa héo hắt
Anh về, em khóc, thế thôi xong.
(Tức Tủi)
Khoảng 1959, Cao Mỵ Nhân cho đóng tập bản thảo Cuối Một Đường Vòng (bản đánh máy) gồm hơn mười bài thơ nhận diện cuộc đời hoà hợp với đời mình ra sao? Có những câu thơ tức tủi, như bị hắt hủi, như bị lừa dối, Cao Mỵ Nhân đem ý tưởng chán sống vào thơ. Qua Với Linh Hồn, Mất Đất, Xin Ánh Sáng, Mở Mắt, Ngửa Mặt, Xốn Xang v.v… đều hướng về Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, măïc dầu cô chưa là tín hữu của Chúa. Cô chỉ học Trường Xã Hội Trợ Tá do các nữ tu dạy. Cao Mỵ Nhân tin vào vẻ cao đẹp mầu nhiệm của Đức Mẹ, đem lối thoát tâm linh cho tác giả - cũng như thi sĩ Quách Thoại một lần ở Như Băng Trường Tình. Phải chăng người yêu của nữ sĩ là tín hữu Thiên Chúa Giáo hay là người lương sống trong xóm đạo - để tác giả ngẫu hứng viết trong thơ, có những câu như:
Buổi sáng chạy vòng quanh nhà thờ
Tôi quên tìm mầu mây mặt trời
Như thấy sương mù cắt ngang tháp chuông
Như thấy chia đôi cuộc đời
Tôi lại cắm đầu chạy vòng quanh nhà thờ
Bộ áo tu hành sóng sượt chẩy xuôi
Có ai nhìn nên nóng gáy nóng vai
Có ai sầu nên lòng buồn rời rợi.
hoặc trong toàn bài Xốn Xang:
Bỗng dưng muốn khóc lên như trẻ nhỏ
Chán cuộc đời nên chán cả làm thơ
Bước vào hồn, định hát khẽ say sưa
Mà lại vội quay đi, sầu muộn nở
Tay chứa đầy nhớ thương và thương nhớ
Không nói gì nhưng cũng đủ ưu tư
Thế là buồn là tiếc những năm xưa
Người yêu bỏ niềm tin tôi cũng bỏ
Tôi viết vội bài thơ mà khiếp sợ
Viết cho Người hay cho tôi hôm nay
Viết cho Người sao thấy vấn vương đây?
Viết cho tôi thì có nhiều xấu hổ?
Bỗng dưng buồn mà má hồng lên sắc đỏ
Mấy mươi lần thét gọi lại băn khoăn
Nhưng hỡi Nhưng? Ngàn thuở vẫn phân vân
Bừng thức giữa hồi chuông nhà thờ đổ.
và thêm một bài Nhắn Nhủ:
Trong phút chốc linh hồn chìm đi
Những mảnh hình hài theo nhau tan biến
Chép đều tay tên một người chợt đến
Thánh ngự trị trên vai
Thoáng tiếng chuông buồn
Thoáng đoán cuộc đời
Tôi khẽ hỏi
Phải chăng ngày mai?
Có cả tôi hôm nay
Những chiên lành nằm dài giữa cỏ
Tôi đứng dậy để tập quên tập nhớ
Và ghi tên kẻ phản Chúa năm xưa
Bước lang thang tôi đến sau nhà thờ
Vụng trộm nhìn hành lang
Rồi khổ sở nhắc mình
Chắp tay để cầu xin phù trợ.
Như đã nói, thơ Cao Mỵ Nhân hoàn toàn nói về tình yêu. Được yêu, người thơ vẫn cảm thấy lo sợ; làm như bóng hạnh phúc luôn luôn bị đe dọa. Chợt thức giấc là bị phản bội, người thơ có lời thơ nguyền rủa chua chát. Nhưng bao giờ thơ cũng dễ yêu, dễ cảm, dễ khiến người đọc thơ mến phục nét ngang tàng, bướng bỉnh; đôi khi rất-không-cần-đời của cô. Dưới đây là bài thơ Trăng soi đường đèo trích trong tập thơ bản thảo mang tên Sóng dội chân tường (1960) là một bài thơ của nữ sĩ ghi lại giai đoạn được yêu rồi em dấu tận trong cung (thơ Mai Đình) nhưng bên ngoài vẫn đề cung cấm :
Nhìn tôi người thở than rằng
Đèo hoang, trăng đuổi mây rừng về xuôi
Ngày mai xa cách nhau rồi
Biển buồn nổi sóng, chân trời nhớ nhung
Tôi về bãi rộng mênh mông
Vấn vương ở lại thì không thể nào
Tuổi còn mộng mị trăng sao
Nên còn ngần ngại, hồn nao nức sầu.
Đường khuya trăng giữa đỉnh đầu
Thời gian chạy trốn nơi đâu thế này?
Từng cơn gió tạt đôi vai lạnh lùng
Định về sao vẫn lang thang
Dìu nhau đi kiếm thiên đường ngày mai
Ngập ngừng môi sát vào môi
Rất thân tôi mới mỉm cười quay đi
Chưa bao giờ nghĩ biệt ly
Không cần biết cả đường đi lối về
Đèo trăng rực rỡ lê thê
Bóng dài ôm ấp, niềm vui chợt buồn
(Trăng soi đường đèo)
Mặc dầu Cao Mỵ Nhân có lối gieo vần dị loại, thơ cô vẫn không có gì mới lạ lắm, nhưng cũng không cũ. Tôi nghĩ rất nhiều đến trường hợp độc đáo của một nhà thơ có bản sắc - ngoài thiên phú ra - còn phải gia nhập cuộc đời, nói một cách khác là dấn thân, mới nắm trong tay nhiều hình tượng cuộc sống. Khi ấy mới có thể nói đến một ngôn ngữ đặc thù trong bảøn sắc chỉ riêng mình có. Với tài tưởng tượng phong phú, Cao Mỵ Nhân hiện nay có sẵn trong tay mấy trăm bài thơ - song chưa một lần nào xuất bản (§). Làm thơ chỉ để ghi lại cảm tưởng đời mình sống trải, giải thoát tâm tư của người thơ đối với trục đời xoay. Cô đã nổi tiếng trong nhóm thơ văn; bạn đồng thời với cô như Trần Dạ Từ (lúc ấy ký Hoài Nam), Viên Linh (văn và thơ), Dương Nghiễm Mậu (văn) … hy vọng rồi ra Cao Mỵ Nhân qua tiếng thơ còn vang dội nhiều hơn trong đám quần thoa thi sĩ hôm nay: Hà Phương, Tuyết Linh, Thanh Nhung, Như Lan, Hà Yên Chi v.v…
© Trích thơ CAO MỴ NHÂN:
GIẤC NGỦ CỦA NGƯỜI GIANG HỒ

Người khách giang hồ
bước đi giữa đêm đen giá lạnh
con đường dài đại lộ
khuất cuối trời sương
một chút bơ vơ ghế đá chân tường
nghe sóng dội điệu buồn vô hạn thuở
Lang thang một kẻ trên bờ đau khổ
bến đuổi thuyền xa, lửa lập lòe
ghế đá âm thầm
chân tường ai đứng nhìn theo nhung nhớ
người khách giang hồ không bao giờ tâm sự
dù rất thương cô bạn nhỏ
đôi mắt ướt sầu ướt lệ đỏ hoe
người khách giang hồ khói thuốc đam mê
thù hằn trần gian nức nở
Ba trăm đồng dùng cho hai đêm thuê phòng ngủ
định ngả lưng một đêm
chìa khoá bỏ quên
thánh đường buổi tối vắng đàn chiên
người khách giang hồ ngả lưng trên đó
Sáng hôm sau khách vô tình đạp chân lên chìa khóa
con số 25 giận hờn nhắc nhở (1)
ba trăm đồng lang thang một giấc ngủ
chìa khoá trên tay khách ném sang vệ đường
“ - Anh cho em một căn buồng
tráng lệ như cung hoàng hậu
đêm qua anh ra ngủ đậu
nhà thờ, bậc chót lang thang ”
Cô bạn trung thành nhặt chìa khóa yêu đương
tủi thân, ép giữa đôi bàn tay nhẫn nhục
người khách giang hồ cười ngờ vực
“ - Thả cho anh xuống biển Đông ”
Giấc ngủ đêm qua làm bê tha người giang hồ
còn đêm qua cô bạn nhỏ ngây thơ
“ - Thấy mình sung sướng hơn Công chúa
mộng suốt đêm dài ngủ quá trưa .”
Cap St Jacques 1960
(trích Giai Phẩm Văn Mới 1962)
CAO MỴ NHÂN
(1) Chìa khóa phòng số 25 - Chú thích của CMN.
Tiểu Sử Cao Mỵ Nhân
Sinh tại Chapa, Hoàng Liên Sơn. Học nữ tiểu học Lệ Hải, Hải Phòng. Di cư vào Nam 1954. Học nữ trung học Trưng Vương Sàigòn. Học nữ cán sự Xã Hội tại Centre Caritas thuộc dòng Nữ Tử Bác Ái Sài Gòn. Sĩ quan VNCH (cấp bậc và chức vụ sau cùng: Thiếu Tá Trưởng phòng xã hội, bộ tư lệnh quân đoàn I và quân khu 1). Sau 1975, bị bắt đi học tập. Từ cuối năm 1991 định cư tại Los Angeles California .
Viết truyện cổ tích và làm thơ từ nhỏ, những bài đăng đầu tiên trên các báo Liên Hiệp, Giang Sơn ở Hà Nội từ 19.3.1953. Ðã có bài trên nhiều tuần báo, nguyệt san, bán nguyệt san...trong nước cũng như tại hải ngoại liên tục trong năm thập niên qua,
Tác Phẩm Đã Xuất Bản:
* Hoa Sao (thơ,1958)
* Thơ Mỵ 1 (1961)
* Thơ Mỵ 2 (1997)
* Chốn Bụi Hồng 1 (1994)
2- DIỄM CHÂU
(Phạm Văn Rao, 1937 – 2006)
Tập thơ đầu tay gồm hai tác giả in chung (hai tập thơ của hai tác giả in chung trong một tập), phân chia rất rõ ràng. Tôi xin lỗi bỏ qua tập đầu của Đỗ Quí Bái (theo tôi, chưa thể là một tác-giả-thơ) chỉ phân tích tập sau, ký Diễm Châu. Một dịp nào tiện, và thơ của Đỗ Quý Bái còn tiếp tục xuất bản, bàn đến hẳn chưa muộn.
Tôi chỉ nói đến Hạnh Hoa của Diễm Châu (tên thật là Phạm văn Rao, sinh 1936). Ở ngoài đời, anh tự nhận tên là Phạm Ngọc Dao, không hiểu vì lý do nào anh không thích tên thật do cha mẹ đặt cho. Dường như anh tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm khoá đầu, vào 1960.
Hạnh Hoa gồm hơn ba chục bài, chia làm ba khu vực : Hạnh Hoa, Hàm Tiếu, Vực Sâu, Triền Mộng, Triền Cầm, Xuất Thế và một bài thơ khép Hạnh Hoa Mãn Khai. Ai đọc thơ cũng dễ thấy rõ ý định của Diễm Châu: bài cuối mới là đợt mở đầu của mãn khai, còn phần trên chỉ là tình-cảm-thơ của một người mới làm quen với thi ca. Con đường nào đi xuống, theo tác giả, dưới kia là vực sâu, băn khoăn với con đường đi qua không ánh sáng, đầy tối tăm. Có một bài mang tựa đề Nửa Đường làm tặng Thế Phong, giai đoạn anh đọc Nửa Đường Đi Xuống của tác giả khi còn là bản thảo. Thơ anh lời lẽ chau chuốt, vun quén ngữ từ, gieo âm thanh dị loại, anh muốn tạo cho mình một bản sắc không thể lầm lẫn với ai khác, nói khác đi, độc đáo trong bản sắc thơ Diễm Châu. Nhưng không hiểu rằng anh muốn tạo cho mình có bản sắc độc đáo rất riêng ấy đã đạt được chưa, thì còn phải chờ! Mặc dầu anh hiểu rằng lớp nhà thơ mới đi trước sống trong cuộc sống nhỏ hẹp mà thơ đầy từ ngữ vang xa - nhưng phần nhiều ý tưởng rỗng tuếch. Họ đã thất bại rồi. Hãy nhìn nhóm Xuân Thu Nhã Tập tiền chiến, thơ Nguyễn Xuân Sanh một bước đi, một lời giảng bình ; mà chưa chắc tác giả có hiểu được đúng giảng bình kia là đúng với ý của mình diễn đạt (kể cả đối với chính tác giả)? Tôi vẫn giữ vững: thơ hay phải độc đáo, không thể nào sống không sâu sắc với thế giới sống của riêng mình mà thơ có bản sắc độc đáo được? Như có lần nhà thơ R.M Rilke nói lên quan niệm thơ của thi sĩ: ngoài sống ra, còn phải biết cả đường đi lối về của một loài kiến hoặc cất cánh như thế nào ở một loài chim? Như vậy, thi hào Đức kia nhấn mạnh: ngoài việc nhà thơ sống sâu, trải rộng đời, còn phải biết quan sát, nhận diện đời sống muôn mặt ở xung quanh ta nữa. Chúng ta đã nhìn thấy lớp thi sĩ tiền chiến làm thơ hôm nay, thì quanh đi quẩn lại, vẫn ăn bám vào hình tượng, rung cảm cũ, như lối mòn của đường quay chiếc cối xay. Nào là thế giới siêu thực, hay tượng trưng, triết-học-đau-khổ như thơ có âm thanh dị loại của Hàn Mặc Tử có ảnh hưởng trực tiếp đến thơ Diễm Châu không; phải nhận ngay là có, có nhiều nữa trong vần thơ đầu của anh. Chúng ta nên nhớ Hàn Mặc Tử không bị gọi thơ hay mà rỗng tuếch tư tưởng, vì đời sống tình cảm có chiều sâu của ông làm đầy trong thơ, không thơ ai giống ông, hoặc thơ ông không giống bất cứ ai, nên Hàn Mặc Tử trở nên có ý nghĩa độc đáo. Trái lại, trong thơ Diễm Châu, như dưới đây, có ý nghĩa khác:
Một son gót ấm lầu chong lạnh
Nửa ngà bóng nõn mực hong lành
đọc lên, quả là hai câu trích trong Men Thơ; cũng như ba đoạn tiếp theo có hình ảnh bàng bạc lối gieo vần dị loại; mà tư tưởng rỗng tuếch! Mặc dầu thơ Diễm Châu cố làm ra mới lạ, khác thường.Đến bài Nửa Đường cũng chưa lột tả nổi cảm tưởng gần gũi nhất với tác giả Nửa Đường Đi Xuống (§) qua câu duy nhất tạm có ý nghĩa:
Nửa đường trông tới chiều mê loạn
(trang 79)
Không có ý trách hay phân tích gắt gao thi phẩm đầu tay của Diễm Châu hay nói khác, nghiệt ngã, vì chính thế, hôm nay tôi nhắc lại ở đây cảm tưởng này, là một phần chính yếu trong một đêm hai chúng tôi tranh luận về Hạnh Hoa. Tôi cũng vô cùng tiếc là không được đóng góp bài viết về tập thơ đầu tay của anh, dù anh muốn tôi có trong đó. Tôi đành lòng từ chối; như với chính tập văn thơ của tôi phải bỏ đi, không thể cho ra mắt người đọc, vì đọc lại thấy tôi còn ấu trĩ về tư tưởng, non nớt về nghệ thuật, nông choèn về lập luận (§). Đến thơ lục bát của Diễm Châu, phải thành thật nhận, theo tôi, một đôi bài rất trội, với những câu thơ đẹp:
Rong rêu mình cỏ lướt nhanh
Ngàn trùng trở mộng một thềm hạnh hoa
Cũng là gió táp mưa sa
Nghìn xưa sau vẫn là ta với mình
hoặc ở trong một bài khác:
Nghìn xưa sau có còn ta?
Nghìn xưa sau biết còn ta với mình?
Hạnh hoa trổ lạnh thềm huỳnh.
như bài thơ gieo vận sáu rất đẹp của Nguyễn Bính trong Mười Hai Bến Nước, qua câu gieo vận chót: Sáu:
Chiêu Quân lên ngựa mất rồi.
người đọc xong câu thơ trên cảm thấy mênh mang buồn cho kiếp người con gái bị đưa sang cống đất Hồ; ôi lạc lõng biết là bao! Ở đây, Diễm Châu, với lập ý cao trong thơ anh, nhìn về đời sau của mình và của đời, nói chung - đem theo một ý chân thành vọng tưởng đến ngàn sau.
Nói về lối làm dáng trong thơ Diễm Châu: lời đẹp, âm thanh dị loại, nhưng vô nghĩa, đôi khi tôi sợ cho anh như nhìn vào di sản còn lại như nói ở trên, nghiệp thơ không âm vang của Nguyễn Xuân Sanh.
Kết lại, tập Hạnh Hoa, tập thơ đầu tay nhiều làm dáng hơn thực chất thơ có; tập thơ mang sự che giấu nửa chừng, không dám bộc lộ thành khẩn về ý tưởng thơ qua đời sống cảm nhận, như là sợ hãi; như là sợ có một đe dọa nào đó đang bủa trên đầu mình; ôi thật là phức cảm! Với tôn giáo, anh cũng chỉ là kẻ đứng bên lề mà nói đến trong thơ; kể cả với tình yêu cũng vậy - tuy nhiên ở khiá cạnh này đôi khi ló dạng rất đáng yêu:
Sáng ơi còn nhớ chiều hôm ấy
Đưa mình về tắp tít nẻo xa
Hoàng hôn rủ sắc mây hồng dậy
Phút chốc là đêm xuống mọi nhà...
Chiều nay, nhìn khói nhà ai bốc
Trạnh nhớ chiều nao mộng với mình
Chiều nao tình ngủ bên người ngọc
Mắt Sáng dồn tia nước mộng xinh (§)
(Sáng, trang 88)
Ý thức trong đời sống có, nhưng thiếu vốn sống - đó là thế giới thơ anh. Đôi khi anh còn ngập ngừng khi phải nhận diện cuộc đời riêng tư của mình và xã hội, vì e ấp thẹn thùng, chưa dám có thái độ dứt khoát: chìa khoá bản sắc thơ độc đáo từ đấy bị hụt hẫng. Tôi tin với thời gian, với ý sống thâm hậu thèm yêu, thèm sống, qua con mắt khá tinh sảo để đem ý tưởng, đời sống vào thơ mãnh liệt - hẳn thế giới thơ Diễm Châu không còn vật vờ như hôm nay ở tập thơ đầu Hạnh Hoa.
© Trích thơ DIỄM CHÂU:
TRÊN QUỐC LỘ 4

Tôi băng trên con đường lỗ chỗ
về miền Tây vựa lúa nước tôi
những cánh đồng mênh mông như lời mời gọi
Những lạch sông rực ánh mặt trời
những cây cầu chênh vênh
những chuyến phà lộng gió
những món quà đượm hương thơm đồng nội
những mẹ hiền và thiếu nữ ngây thơ…
Tôi đi mãi vào miền hy vọng ấy
tưởng chừng như nhịp gót chân tôi
cả trăm vạn người xưa cùng bước
bàn tay nào mở mang bờ cõi
bàn tay nào dựng nước dựng nhà
khi khói lên xanh trên hàng dừa thẳng tắp
khi cá về đầy ắp những bến sông
và lúa vàng rào rạt trổ bông
tôi biết rõ là hơi thở ấy
đã thổi vào lòng đất quê hương
tôi biết rõ những giọt mồ hôi ấy
đã làm sương phủ khắp cánh đồng
và tiếng chim kêu trên bờ lau
nhắc tôi tới những ngày nào đơn độc
cánh tay trần chống trả với thiên nhiên
con cá lội ngu ngơ giữa hai dòng nước biếc
mở cho tôi cánh cửa bình yên
của lao tác hiền hòa của kiên cường bất khuất.
Tôi kiêu hãnh nhìn quê hương lớn mãi
với giấc mơ một dân tộc anh hùng
tôi nghe tiếng người xưa thầm gọi
trong miên man triều sóng biển khơi
và tôi hiểu là đời tôi không thể
ở yên như núi xa
ở yên như dòng sông lặng lờ trôi cùng lục bình
tưởng nhớ.(§)
1961
(trích Đất Nước 1970)
DIỄM CHÂU
3- ĐÀO MINH LƯỢNG
(1936 - )
Claude Blesnay (§) viết về cuộc đời nhà văn lớn Pouckhine, thi sĩ tài ba số một nước Nga, cho rằng: Chàng là kỵ mã của Công lý. Ngoài đời hôm nay, Đào Minh Lượng là chàng kỵ mã của công lý mà còn là thi sĩ từ trước đó. Tên thật dùng làm bút-danh-thơ, sinh năm 1936 ở miền Bắc. Tác giả những bài thơ thuở còn đi học Trường Quốc Học Huế, là bạn học cùng trường với nhà thơ Huy Trâm. Năm 1954, có thơ đăng trên tuần báo Đời Mới (Saigon), qua bút danh Minh Lượng. Năm 1960, làm thẩm phán và cũng là năm anh cho xuất bản tập thơ VÔ CÙNG do Sùng Chính Viện (Uyên Thao chủ trương), in ronéo, tập thơ gồm 118 bài, ba đề mục : Vô cùng, Trong thành phố và Bài thơ yên nghỉ.
Một vài nét mới lạ về tập thơ này, Uyên Thao nhận định về sinh hoạt thơ văn trong năm 1960 (§§). Hơn một trăm bài thơ, chỉ có một bài lục bát, đó là bài Bài thơ yên nghỉ. Những bài còn lại đều viết theo thể thơ tự do.
Viết Tân (một bút danh khác của Hồ Nam) đã phê bình tập thơ ấy (§§§) ngoài sự biểu dương khen tặng còn nêu ý kiến chung cho tập thơ: đại để cho rằng thơ Đào Minh Lượng nói riêng, và thơ tự do nói chung, làm cho độc giả mệt vô cùng!
Ở đây cũng cần nói rõ hơn, thơ tự do mang tính chất như Viết Tân nhận định không lấy gì làm lạ. Bởi, cuộc sống hôm nay cần phải có một lối diễn tả mới cho đời sống mới ấy. Ăn theo thuở, mặc theo thì! Nhất là cuộc sống hiện tại chứa chấp nhiều băn khoăn, nói như Doudintsev, thời đại này không phải chỉ sống bằng bánh mì - một vế trên của câu này được trích ra từ một câu trong Thánh Kinh, người ta còn sống theo lời Chúa, mà nhà văn Nga trên không nói ra. Đi ngược lại, thời bình trước chiến tranh, xa hơn nữa, thế kỷ trước, cuộc sống bình thản hơn nhiều. Có lẽ vì thế, phong trào thi ca lãng mạn nước ta bành trướng đầy vần thơ du dương, âu yếm nhiều hơn hết. Định nghĩa về lối thơ mới ở trước chiến tranh cũng còn là trả lời cho số người làm thơ hủ lậu đề cao thơ là phải có vần điệu, thơ phải làm cho người ta thuộc, nhớ - nhớ và thuộc đó cũng chưa gây được một biến động nào xoay chuyển tâm hồn? Với tôi, khi viết vào đề (một cách nói thay viết tựa) cho ba nhà thơ hôm nay (§) có định ý như sau: một câu thơ hay, một bài thơ hay, đã có một tác động lớn lao chuyển được biến động lớn.
Trong thế giới thơ Đào Minh Lượng, tôi tìm thấy nhiều lẽ siêu hình mà trong thơ của các người thơ khác không có. Nó mở ra trước mắt tôi nhiều hình tượng mới chưa bao giờ khám phá trong mỗi bài thơ được đọc, chịu nỗi mệt nhọc, nỗi băn khoăn thắc mắc không thôi kia - một chân trời mới nấp sau hàng chữ thơ. Phần đầu trong 29 bài Vô Cùng, lối nhìn đời, tác giả chịu ảnh hưởng trực tiếp J. Prévert, P. Eluard.
Ai từng đọc Paroles, hẳn không quên Barbara, hoặc một bài khác, trong đó có câu: Anh ra chợ nô lệ tìm mua / nhưng không có gì mua tặng em, kết quả sau bao nhiêu lần người đàn ông tìm mua quà tặng người yêu. Thật hàm xúc, bao gồm ý nghĩa yêu đương được xếp đặt tuyệt đích của độ yêu tuyệt đối. Và, ai từng quen thuộc với thế giới thơ P. Eluard, chẳng lạ gì với Poème ininterrompue (lối thơ kéo dài từ đoạn này qua đoạn khác, tuy là phân chia đoạn, nhưng bao giờ cũng liên tục ý tưởng với nhau). Ở Vô Cùng có điều quen thuộc đó. Còn nữa, ai từng không lạ lẫm với thơ tuyên ngôn, nào có xa lạ gì khi đọc đoạn thơ này:
- Nếu
các anh lựa chiến trường lên anh hùng chiến sĩ
Có nhiều người tô tên anh chữ hoa
Các anh nêu lý tưởng miệt mài chạy đuổi
Và các anh an ủi
Kiếp làm người mang nhãn hiệu tự do
Chưa bao giờ hở môi thú thật
Thì tôi
Nhân danh đứa con khốn khổ tối tăm
Tôi chọn tình yêu làm lá làm hoa
Như âm nhạc chảy xuống chiều khắc khoải.
(Vô Cùng, khúc 1)
Tôi càng chiêm nghiệm và thấy đúng hơn nữa, trong thơ Đào Minh Lượng thuộc lớp người chỉ sống bằng con mắt gia nhập cuộc đời, thiếu hẳn kinh nghiệm xương máu. Cho nên, truờng thơ hôm nay của anh chỉ bàng bạc nói về hình tượng sống mà tràn ngập tình cảm yêu đương - cái vốn hiện tại anh có. Ngôn từ sau này đè trĩu hầu hết nội dung tập thơ, tình yêu lại diễn biến tới trăm nghìn lần, qua trăm vạn cảnh tượng khác nhau. Vì thế, đôi lúc làm cho người đọc kỹ tính, thấy tác giả nhai lại cảm giác, rung cảm, diễn đạt bề bộn khắp nơi.
Loại trí thức thanh niên dưới 30 này không tham gia Ngày Lớn như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Đào Minh Lượng … một khi nhìn thấy ảo tưởng đời phi lý - thì những người thơ ấy bao giờ cũng dễ xét nét bi quan, chưa đánh đã bỏ cuộc - khi mổ xẻ một vấn đề và tìm lối thoát:
Tôi không biết mình có hay không
Để kêu lên tiếc hoài
Đánh mất
Trống rỗng vòng tay
Bóng tối nặng nề xõa tóc chàng
khắc khoải
Giữa thời gian phiến loạn
Quá khứ chuyện thần tiên
Bi kịch mở màn vào giờ thức dậy
Tôi sẽ không chọn một
Hai đường đều buồn tối
(Vô Cùng, 5)
Thơ có giọng khắc khoải, đôi khi rất tối tăm, tất lý kể cả người làm thơ đọc thơ không thể hiểu tại sao mình lại có độ cảm hứng như vậy? Theo các nhà phê bình văn học Âu châu, lối đó gọi là obscurantisme(§), thực mà nói ở Đào Minh Lượng ít hơn Thanh Tâm Tuyền. Nên cả người thơ tác giả Vô Cùng muốn đem sức mạnh của mình ra chiến đấu, tòng quân, khởi và kết cuộc cũng chỉ có thể đi tới mức này là cùng (tôi trích dưới đây). Vì thế, lớp thi nhân trí thức tôi vừa nói ở trên, nặng về siêu hình tối tăm nhiều hơn - nếu khi phải ló dạng hình tượng nào thuộc về loại gia nhập đời sống bằng thơ vẫn là hình tượng nghiên cứu thơ:
Tôi muốn tòng quân cho Tưởng Giới Thạch
Đoàn quân xung phong…
Để nói rằng đời người đầy ý nghĩa
Và mỗi lần tôi xả súng bắn miên man
Tiếng quý kim rung cười gờn gợn
Nghĩa là tôi đi đánh nhau thuê
Những ngày nghỉ hành quân về phép
Tôi đi vào ngõ tối hắt hiu
ôm giấc mơ riêng tư
Ngủ giữa lòng người gái lạ.
Áo rách lên đùi
Thương người lính trẻ
(Vô Cùng, 7)
Đến khi đem hình ảnh xã hội vào thơ tranh đấu, Đào Minh Lượng không sao làm hơn được cách thương mà nói đến,thương mà ghi lại, tất chỉ vì thương mà tranh đấu. Nó không sao lấp được sự lộng giả thành chơn:
Hôm nay trời mưa trẻ nhỏ nhà nghèo
Hứng mái trước hiên
Cánh tay khẳng khiu múa may tiếng cười
Vô tư
Thách đố
Hôm nay trời mưa và còn mưa nhiều như hôm nay
(Vô Cùng, 8)
Qua con mắt bình thường, hình ảnh trên đây đẹp lắm! Cũng như Les Conquérants của André Malraux chỉ có một Lev Davydovitch mới dám phê bình thẳng vào mặt A.Malraux rằng: “Ông không phải là nhà cách mạng thực sự, tuy nhiên văn phong ông bay bướm, lịch duyệt”.
Những phiên khúc tình yêu (hầu hết trong tập Vô Cùng) mang một ý nghĩa lý thú, qua những câu thơ đẹp, từ lựa chọn âm thanh, tiết tấu (hay nói cho rõ hơn, nhạc điệu rất riêng biệt - xem Vô Cùng 15, 17, 19):
Yêu là chết đi không ngừng
Và yêu là được phục sinh
Vì chết đi trong tôi là sống lại trong em
(Vô Cùng, 17)
đó là một bằng chứng - bậc thầy của loại thơ tình kiểu: bàn tay trắng ngọc vuốt dài gãi lưng anh - tôi cho một thành ngữ chung như vậy để chỉ bản chất thơ đúng nhất về Nguyên Sa.Thơ tình Đào Minh Lượng đẹp như luồng gió mát trùng dương lùa vào khe cổ mồ hôi tóc xõa:
Khi chết đi tôi làm ngôi sao thủy tinh
Một ngôi sao xa xôi nhìn xuống trùng dương
Để thủy thủ đi đêm không biết
Một ngôi sao bé nhỏ vô cùng
Ôm giấc mơ riêng tư chập chờn mắt khép
Khi chết đi tôi làm cây thùy dương
Nằm gần sóng vỗ
Những đêm bão biển không người
Tôi ru người yêu ngủ.
(Vô Cùng, 25)
Và dầu có là Pouckhine, hơn một trăm nhân tình chính thức, còn có lần bị mal d’amour, huống hồ một nhà thơ nâng giấc tình yêu mà nhiều lần phải thốt:
Em không yêu tôi không còn yêu tôi
Một hai ba… trăm vạn lần nhắc thế
Không được một lần tê tái
Ghế đá sương đêm
Con tàu thành khói
Tượng văn nhân cô độc giấc ngủ say.
(Vô Cùng, 26)
Sang phần hai tập thơ: Trong thành phố gồm 41 bài. Đào Minh Lượng có nỗi buồn đơn bóng, của ngày đêm dạo gót vỉa hè khuya. Mang theo một lối diễn tả riêng biệt, đề cao tình yêu như báu vật trong đời. Tôi không thể dự đoán nổi khi nhà thơ trên ba mươi còn đam mê tình yêu, như có lần nào P. Mérimée cho : sau tình yêu, văn chương mới chiếm được một chỗ quan trọng. Hay, anh sẽ ít nói về tình yêu, sau tuổi thành gia thất. Bây giờ, hãy đọc nỗi thầm kín tình yêu của nhà thơ hai mươi lăm tuổi:
Tôi muốn viết bài thơ lục bát
Của Whitman của Pasternak về già
Và thay biển tím ngã tư thành phố
Bằng tên người yêu
Của các anh và những người con gái
Tôi rất yêu
Không tài nào không một ngày xa lánh được.
(Trong Thành Phố của Saigon)
Và đôi khi chịu ảnh hưởng trong văn La Peste của Albert Camus, về những hình-ảnh-thơ-buồn-đẹp:
Mỗi khi tôi đóng cửa nhà
Như bệnh dịch lan tràn trong ngõ
Bạn bè xa vắng chiều xiên từ cửa sổ
Vào giường ngủ
Màn chăn xô lệch
Tình buồn ru ngã xuống vai.
(Trong Thành Phố, 3)
Và thế giới tĩnh vật - dù là động vật được soi dưới cặp mắt đốm sâu nhìn đến, nó tĩnh quá, buồn và thảm, lặng lẽ như trong cung phòng ẩm ướt. Tiếng thơ như sặc mồ hôi thau đồng lạnh như tiền:
Hãy ra xem những đứa trẻ rãy rụa ngoài đường
Người ta vất ra khỏi mái nhà lòng mẹ
Môi còn hoi sữa con nai tơ bánh ngọt
Nó rãy rụa bánh xe đường đá răm
Mắt còn ngước nhìn về phía cửa.
(Trong Thành Phố, 7)
hoặc rất tối nghĩa và tầm thường như:
Tôi đã biết những người bị cầm tù
Từ lâu
Trong tháp cao lâu đài
Bên dưới cỏ xưởng máy mật đường
Và chung quanh
Động cơ xe ngựa tiếng reo tiến bộ
Nền văn minh khói thoát lên nền trời
Đặc xệt bụi than ăn mứt kẹo rượu thịt ứa đầy
Tôi biết lắm
Những người rạo rực đứng ngồi
Làm sao tin được những người lính canh
Võ trang mẹ xẹo đường mòn
Và ban ngày tạp dịch nhà máy
há miệng động cơ nuốt chửng.
(Trong Thành Phố, 6)
Trong đề tài Thơ Thành Phố, mỗi bài đều mang một ý nghĩa, có bài khá sâu sắc, có bài tối nghĩa tầm thường. Có một phiên khúc Trong Thành Phố 13, 18, 33, 35 rất lạ:
Tôi thương người con gái Paris
Chịu nhục hình làm dao trồng người giữa ngực
âm thầm kháng chiến
Tôi thương trẻ con Hanoi
Vất bỏ ngoài công trường thèm hơi người mẹ
Tim nhiễm độc
Tôi thương kẻ đi đường
Không nhà mồi thơm cho tật bệnh
Tôi muốn ôm vào lòng
Chúng ta nức nở
Và thương tôi
Ngại câu đập mạnh vào cửa sổ.
(Trong Thành Phố, 18)
Và trong toàn bài Trong Thành Phố 40:
Trả chúng tôi vô cùng tự do và tự do tuyệt đối
Chúng tôi uy quyền và sức mạnh vô biên
Mà luật lệ ước nghi làm cỏ rối
Làm nhà tù dùng kẽm gai làm vũ khí
Chúng tôi đi đến
Ôi tình yêu cao cả như tâm hồn
Ôi tình thương như biển khơi
từ ngày nào cho tới ngày nào
Chúng tôi đi đến
Trong chiến tranh trong nổi dậy trong sát nhơn
Bằng đói khổ lo âu sợ hãi
Bằng ngã tư bóng tối có dao găm
Bằng hô hào phục kích
Trả chúng tôi tự do nguyên thủy
Và tình người cho trái đất
Và tình yêu cho lứa đôi.
Còn nữa, một bài thơ lục bát rất đẹp, đầy ngôn ngữ riêng của Đào Minh Lượng, Bài Thơ Yên Nghỉ 22:
Thủy tinh yên lặng ngoài đường
Rùng mình mùa lạnh còn vương vào trời
Mười ba muời tám hai mươi
Bàn tay khô có khẽ cười nghiêng môi
Bàn chân bước nhẹ của ai
Thời gian không nhỏ ra ngoài giấc mơ
Tình yêu không cháy bơ vơ
Ngày mai không gọi tình cờ mây trôi
Hãy cho tôi khóc trên môi
Hãy cho tôi rẽ đường ngôi tóc buồn
Hãy cho nức nở tình thương
Không gian vẫn chết ngoài đường nằm im
Thì thầm gọi nhớ vào tim
Thì thầm gọi khẽ tên em vào trời
Xin cho hơi thở loài người
Trán hoang chết đuối trên đồi mây hoang.
Không phải loại commissaires priseurs, nên tôi chỉ thích và ưa cái đẹp chốc lát trong thơ anh mà không nhớ lâu! Một hương bông hoa thoảng đi rồi, tôi chỉ còn phảng phất nhớ, đó là cái thú riêng tôi thưởng thức thơ khi vào đề và giới thiệu tập thơ đầu của anh. Có thể anh là một trong những người bạn thân ngoài đời, cũng như có thể chỉ là vợ tôi (nếu vợ tôi làm thơ), tôi còn được quyền nhớ thơ người khác hơn - hay nói thực hơn - tôi quên chính cả thơ tôi.
Thơ Đào Minh Lượng lạnh quá, cảnh mồ hoang nơi nghĩa trang, phơ phất một vài tiếng dạo đàn bên hàng liễu rủ, nhạc phi lao - không sao cứu vãn nổi lòng mong ước nhóm lửa trong tim tôi. Nếu tôi nhận giá trị lạnh đồng của nghĩa trang là nơi an nghỉ cuối cùng của con người, bất phân xấu tốt, anh hùng, lưu manh… có thể cả chính tôi - lý do ấy rất liên quan đến điều tôi nói ra đây: thơ Đào Minh Lượng có một điểm rất nhỏ, trong bài Vô Cùng 9 nói về con mèo hoang. Một người quí mến con mèo như họa sĩ Foujita, rồi con mèo chết, kẻ trộm lượm đi. Và ngày đó con mèo đã nằm trên bàn ăn cửa hiệu nào đó, chính trong bữa ăn đó, tôi nếm món civet lapin - chính lại là món civet-matou yêu dấu!
Kết luận về thơ anh, thơ siêu hình của Đào Minh Lượng chỉ mới làm thỏa mãn tôi ở đôi phút thăm cảnh đẹp nội tâm nghĩa trang - mà không phải bây giờ còn sống mà ở lại đó lâu - để hiểu sâu ý nghĩa cuộc đời:
Tôi có một con mèo hoang ban đêm
thường leo vào cửa sổ
Ngồi nép dưới chân tôi
Gối đầu lên mũi giầy gấu quần thiêm thiếp ngủ
Bên kia ngoài trời
Những người tự do
Đẹp nằm mơ
Con mèo của tôi hôm nay đã chết
Một kẻ trộm đi khuya như mụ phù thủy già
Và ngày mai tôi ra ngồi quán
Thịt con mèo là thịt thỏ
Con mèo của tôi
Con mèo hoang đã chết
Tôi không còn ngồi đợi
Và không còn tiếng chân đi vào ô cửa
vào trăng sao
Buổi trưa
Tôi vào quán
Người lạ mặt
Mẩu bánh mì
Thịt thỏ
Chiếc dĩa con dao…
ĐÀO MINH LƯỢNG
4- HÀ PHƯƠNG
Khoảng đầu năm 1957 tôi đến tòa soạn Văn Nghệ Tiền Phong tìm gặp Tử Vi Lang. Nhà báo đang chọn thơ bạn đọc. Anh giới thiệu với tôi trong số ấy, có một học sinh làm thơ, thơ của cô bé này giội mạnh vào tâm hồn anh. Đó là Hà Phương. Sau, anh đưa cho tôi xem một ít bài, kèm theo lời giới thiệu thơ Hà Phương rất hay. Sau này, tôi nhớ lại lời giới thiệu ấy của Tử Vi Lang, khi D.Ch. đưa cho mượn tập thơ Giòng Thơ Sang Mùa, cũng với nhận định về thơ Hà Phương rất lạ về ý và đây là tập thơ đáng đọc. Khi đó, áo cơm làm bù đầu kẻ này, tôi đưa tập thơ của Hà Phương cho Uyên Thao. Đọc xong, anh có lời khen tặng tương tự hai người bạn trên, rồi anh viết bài điểm sách biểu dương nhà thơ còn là nữ sinh ấy. Hai năm sau, 1959, Hà Phương lại cho xuất bản tập thơ thứ hai: Buồn Hoang Thế Kỷ. Quả người thơ chứa chan ý thơ nói về nỗi buồn hiện tại với ý tưởng rất độc đáo, có bản sắc của một thi nhân tài ba.
Giòng Thơ Sang Mùa cũng như Buồn Hoang Thế Kỷ do chính tác giả bỏ tiền in,vì thời loạn lạc hậu chiến, lòng người xáo động nhiều, ít ai còn tha thiết đọc thơ như xưa. Cũng chẳng mấy ai dỗi dãi, nhàn tản mua một tập thơ để đọc, để bình, để ngâm. Người yêu thơ chỉ đọc thơ trên các báo ngày, báo tuần, báo tháng mà thôi. Tất nhiên là vậy và cũng tất nhiên kẻ bị thiệt thòi là người làm thơ còn phải có tiền, có vốn bỏ ra ấn loát thơ mình.
Giòng Thơ Sang Mùa gồm hai mươi bài thơ, phần nhiều viết theo lối thơ mới và lục bát. Cũng có bẩy chữ, sáu không vắng, sáu tám, đôi bài rất già dặn cả tư tưởng và kỹ thuật - cách diễn tả mang nhiều phong cách thơ Nguyễn Bính - nhẹ nhàng mà mai mỉa, đùa cợt - coi cuộc đời chẳng có nghĩa gì. Điều sau này đối với Hà Phương cũng dễ hiểu, cô chỉ mới nhìn vào đời, chưa gia nhập cuộc đời nên thơ phản ảnh chưa buồn chát chúa, nỗi đớn đau thấm lòng như thơ Nguyễn Bính. Ngôn từ trong thơ cô phơi bày vẻ ngây thơ lại ranh mãnh của người con gái đang ở tuổi dậy thì mà còn làm nũng mẹ:
Năm tháng êm đềm vẫn cứ trôi
Chị 17 tuổi đẹp quá thôi
Má hồng duyên dáng đôi môi thắm
Mẹ bảo cùng em “ chị lớn rồi”
(Tiễn Đưa)
và trong bài thơ về tâm trạng người chị đi lấy chồng, cũng sang sông, cũng khói pháo - thực tâm mà nói vẫn sáo và cũ. Như : Gió buồn đưa tiễn theo màu áo / Khói pháo cay cay ướt má hồng. Nói theo kiểu Nguyễn Bính, chị sang nhà người ta ở, chị lại dặn dò em ở lại nhà, tuy không có vườn dâu em đốn, mẹ già em trông, song thơ Hà Phương hãy còn chạy theo lối mòn dặm cũ:
Ở lại nhà em nhe
Thay chị trông đàn em
Cha mẹ già phụng dưỡng
(Ra đi mai chị về)
Đời sống thường nhật của ông, cha, chú, bác, cô, dì chẳng khác gì đời sống chúng ta hôm nay, hàng ngày vẫn ăn, uống, may mặc - lớn lên có gia đình, con rồi cháu, họ hàng, bạn bè, lân bang. Nhưng cái khác là lề lối sống, cảm nghĩ, đời sống vật chất, tinh thần phải biến cải theo lối hiện tại - thì người thơ không thể nào sống ở hôm nay mà diễn tả theo cảm nghĩ hôm qua. Một thời có sự sống một thời khác nhau, sao người thơ nỡ quên điều quan thiết đó.
Thế giới thơ của những người con gái làm thơ hôm nay có một điều giống nhau quá lắm! Là vẫn không nỡ từ bỏ lối truyền cảm qua cách diễn đạt phỏng theo người thơ tiền chiến. Thí dụ tả một người con gái đi lấy chồng luôn luôn dùng ngôn từ sang sông, em ở lại nhà phụng dưỡng, khói hương, nước mắt cay cay… Hình tượng thơ rỗng, sai sự thực. Thời đại của chúng ta nói về mộng mị vẫn dùng giấc mộng vàng son, đèn chong lạnh, sầu hư ảo. Nhìn vào thơ một số nhà thơ tiền chiến như Vũ Hoàng Chương chẳng hạn, hôm nay bất lực làm mới chính bản thân, nên vẫn dùng ngôn từ xưa, cảm nghĩ cũ - hẳn không thể trách cứ - nhưng người thơ trẻ trên dưới hai mươi không thể vô tình giết chết ý tưởng mới của hình tượng thơ chính mình đáng lẽ đang phát triển để chui vào âm thanh, ý tưởng của lồng son cũ. Đọc thơ Hà Phương thật rào rạt tình cảm, xúc động, nhưng nếu điều gọi là sáo, cũ kia tránh được chắc người đọc thơ cô còn xúc động hơn nhiều. Bởi lẽ cô chưa bộc lộ cảm xúc tận cùng của mình có, mà khả năng cô làm được - diễn tả theo cái cũ sẵn có đưa tới sự ép vướng như một dây tròng tự nhiên thắt họng mình cộng với ngôn từ tân kỳ để diễn đạt cảm xúc thơ của đời sống hiện tại. Hãy lấy một thí dụ : tả mối sầu não thế này, liệu có còn gì được gọi là sầu:
Tôi viết bài thơ vạn cổ sầu (tr.1)
Nhiều người thơ hôm nay đã khô họng hét và cho rằng thế hệ hôm nay buồn quá! Bất cứ câu nào, bài nào cũng có thể bắt đầu bằng Tôi viết bài thơ nhỏ gửi em hoặc Chép bài thơ gửi khắp muôn phương. Do đó trở thành cái dịch bệnh Tôi viết bài thơ. Như vậy có cũ và tầm thường không? Như trong thơ của Hà Phương còn có những câu:
Tôi viết bài thơ ngắn (tr.32)
Chép bài thơ gửi khắp (tr.30)
Dưới đèn tôi viết bài thơ nhỏ (tr.20)
Tập thơ đầu, nói về kỹ thuật làm thơ của Hà Phương phải nhận khá điêu luyện. Còn sầu đời à la mode, diễn tả tất cũng à la mode, ít phản ảnh tân cảm chân thành. Nên ít điều mới lạ. Tuy thế, triều thơ của những người con gái làm thơ hôm nay thì Hà Phương rất được biểu dương, khen tặng. Theo tôi, qua tập thơ này, Hà Phương cũng có những đoạn thơ riêng biệt, từ lối cảm nghĩ đến nghệ thuật diễn tả:
Chẳng buồn đâu em ơi
Phấn hồng tô má thắm
Từ nay yêu cuộc đời
Em ơi đừng khóc nữa
Cho gió đừng hắt hiu
Cho ngày đi của chị
Đừng có mưa rơi nhiều
Sáng có người qua ngõ
Buồn héo hắt đôi môi
Em ơi ! Giùm nhắn nhủ
Chị tôi lấy chồng rồi.
(Ra đi mai chị về)
và trong bài Khắc Khoải, một vài đoạn bộc lộ chân thành, rung động đưa người đọc đến nỗi buồn cao độ:
Hãy quên đi bao ý nghĩa cuộc đời
Đừng mở mắt hồng trần chua chát lắm
Hồn xa vắng, nghe buồn rơi chầm chậm
Sương đục ngầu là mắt của đêm sâu
Nói làm sao một nỗi niềm tha thiết
Đêm buồn ơi ! vùi tất cả giùm tôi
Vì nói ra thì cũng đã muộn rồi
Trăng sao chết trời đêm nay tối quá!
(trang 37)
Buồn Hoang Thế Kỷ gồm 25 bài. Cả 25 bài nằm trong một đề mục : nói về tình yêu và tâm hồn lạc lõng trước cuộc đời. Vì Hà Phương là phái nữ, cho nên bước khởi hành đầu tiên vào đời (trong Giòng Thơ Sang Mùa), cô còn lạc quan vui tươi. Nếu có buồn chăng nữa vẫn chỉ là nỗi buồn à la mode như đã nhắc. Ba năm sau - chỉ cách ba năm thôi - giọng thơ của cô đã nhuốm phần buồn chán tuy chưa sâu sắc lắm, nhưng ở một phương diện nào của lò lửa cuộc đời, cô phải thốt lên giọng buồn cao độ, chan chán đời nhiều hơn để rồi cuối cùng lăn vào lòng mẹ khóc ròng. Cứng dắn cũng là phái nữ, nhưng mềm lòng nhất cũng vẫn là phái nữ (Bài thơ trở về). Nói về khía cạnh tình yêu của người con gái hai mươi, trong, ngoài đó, Hà Phương tha thiết giãi bầy lời thơ yêu tha thiết. Nhưng chắc gì ai cũng có tình yêu tha thiết - có, mà còn tùy trao cho đối tượng, nên ở đây mới có đi mà chưa có lại. Thế giới hôm nay tất cả như đâm chồi nẩy lộc rất mau, kể cả cỏ cây. Nên ngay cả trong tình yêu cũng phát khởi sớm. Một người nữ ở thế hệ trước, có cách xa bao nhiêu năm đâu, thì còn e lệ, người con gái hai mươi này đã hiểu cuộc đời rất cặn kẽ, vuông vức.Với Hà Phương cùng trong trường hợp tương tự.
Thế giới yêu đương của Hà Phương diễn tả tâm trạng ở tập thơ sau này còn phảng phất một đôi ý có ngôn từ thơ Nguyễn Bính. Nói thế, tôi nhận gián tiếp thơ Hà Phương đã mang ngôn ngữ với một phần, không vay mượn hầu hết ngôn từ thơ tiền chiến. Ở đây là không khí thơ Nguyễn Bính còn sót:
Tương tư là chuyện của lòng
Hoa pensées có hay không hở Người?
nào khác gì thơ Nguyễn Bính có câu:
Gió mưa là bệnh của trời
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
và phảng phất đôi nét cuồng si rất Tây của Xuân Diệu, song non tay hơn, ý vụng hơn (Tình Lạnh, Tự Tình):
Mà người đi, chỉ vì tôi rất lạ
Chỉ đi yêu người đã có người yêu
Rồi tương tư nhặt gió sớm mưa chiều
Để kết lại xây mộ phần im lặng
Giòng đời trôi nghe thời gian đọng lắng
Soát lại lòng chỉ có mấy hàng ghi
- Toàn là tình cô thừa nhận cuồng si
Đến rất thong thả đi không ràng buộc
(Tình Lạnh)
Cùng trong bài ấy, Hà Phương có một nét phác họa, nhìn nội tâm phản ánh: đẹp một cách rất thơ:
Sầu không mướn cũng vào tim nằm trọ
Lòng tôi ơi! Sao cứ mãi bâng khuâng
Sao đã yêu trăm bận, nhớ trăm lần
Mà vốn liếng chỉ toàn thơ tuyệt vọng?
Như nói ở trên, tâm hồn phái nữ cứng dắn thật cứng dắn, yếu mềm cũng thật yếu mềm, lả lướt càng hơn. Ở đây, Hà Phương trong bài Thư cho Chị nồng nặc không khí thơ T.T.Kh trong Đan Áo:
Bây giờ biết nói làm sao
Bởi em trót khổ để đau một người
Mơ điên khóc giữa tiếng cười
Mười đêm là mộng đủ mười, chị ơi!
Đã nhiều lần đọc thơ tình kiểu T.T.Kh, tôi hết sức chống đối với chính bản thân - nhưng có lần tôi bị thơ lả lướt cuốn theo. Song bao giờ cũng vậy, thơ lả lướt liễu rủ kia, kể cả bậc thầy, tôi chưa hoàn toàn biến chuyển nơi tâm hồn sâu đậm cao độ và lâu bền cả. Nên tôi không trách Hà Phương phỏng ý, mượn ngôn từ T.T.Kh, dầu sao Hà Phương cũng chỉ là em chỉ là người em gái thôi (con gái đúng với ý của tôi nghĩ hơn).
Phẫn nộ trước cuộc đời sóng gió, nhất là hôm nay, mấy ai câm lặng nổi khi người ấy có tâm hồn văn nghệ? Với Hà Phương, cô ghi cảm xúc ấy trong bài thơ Tôi sẽ buồn. Tiếng thơ Hà Phương chân tình, nhưng táo bạo. Táo bạo mà không làm cho người đọc thơ phải đỏ mặt, nhưng lời đối-thoại-thơ đánh thức, rồi tự hỏi, làm người ai chả có lần như thế! Bài thơ này là một trong ba bài: Trước giờ lâm hành, Hãy để tôi đi gần như vần thơ tuyệt bút của Hà Phương:
Tôi sẽ buồn không là cô độc
Vì đêm đêm cứ phải ngủ một mình
Mà buồn vì người chẳng biết làm thinh
Khi tôi đến thăm giữa trời mưa nhỏ
Tôi sẽ buồn với loài người không có
Một cơn say sóng như trùng dương
Để hiểu rằng tình chẳng có biên cương
Không tổ quốc mà cũng không thần thánh
Tôi sẽ buồn nếu người thương diệu vợi
Nẻo hồng trần người chẳng đến gặp tôi
Rồi suốt cuộc đời có một kẻ mồ côi
Trong sa mạc cứ mơ hòn ốc đảo
Tôi sẽ buồn nếu khung trời ảo não.
Phiá sau đám mây xanh, hẳn có cả một thế giới mà không sao ta khám phá nổi hết. Hẳn rằng có một lần mình đã ngắm mây bay, để rồi cũng nghĩ như thế! Đọc thơ văn của những thi nhân, văn sĩ mình ưa thích, mình phục tài họ, qua giòng chữ in, đó là một thái độ liên tài. Nhờ đó, mình hiểu rộng thêm thế giới kỳ bí của trái tim mà chưa biết, rồi càng khám phá càng thấy xôn xao. Thì thơ Hà Phương có một phần như vậy:
Xin thưa rằng lòng người còn hẹp lắm
Thương cuộc đời tôi viết một bài thơ
và rất chân tình qua những giòng thơ sau, cô ghi lại được hình tượng, vóc dáng suy tư của người nữ hôm nay nhiều cảm giác lạ:
Người hãy nói đi ngậm ngùi chưa tắt
Giấc mơ nào không vẹn nét trinh nguyên
Mà chiếc hôn không xoá nổi ưu phiền
Vòng tay ấm không xiết tâm hồn giận?
Mai tôi đi rồi, người yêu luyến mến
Và chúng mình muôn thuở đành xa nhau
Ôi! bài thơ tình thương mến làm sao!
(Ngậm Ngùi)
Rất bâng khuâng cho số phận người con gái được đem so sánh với thân phận người đàn bà - dù dọc ngang - sau cũng chỉ là:
Tìm qua muôn dặm nghìn trùng
Tâm tư rồi cũng cuối cùng làm ga
(Đường Về)
Một số bạn trai đồng tuổi với Hà Phương khi viết nhận định về thơ Hà Phương, hình như họ phản đối nàng thi sĩ học trò thì phải? Lập luận của họ tuy hơi khe khắt (§) cho thơ Hà Phương mang ngôn từ cũ rích, bắt chước hoàn toàn thơ tiền chiến, thiếu bóng dáng thơ hôm nay. Tôi nhận thấy điều này chỉ đúng một phần nhỏ, mà không riêng chỉ nói về thơ Hà Phương đâu - còn phải kể đến Cao Mỵ Nhân, Hà Yên Chi, Phương Duyên, Thanh Nhung, Tuyết Linh, Như Lan….
Cũng không thể quá khe khắt như thi-triết-gia Nietzsche, nhưng phải đồng ý rằng ngưiời nữ có từ thuở bà Eva đến giờ, có ai làm được gì thật mới lạ đâu? Bởi lẽ, vẫn theo Nietzsche, đừng đánh giá trị đàn bà so với đàn ông, về cả tài năng, cả sự phán đoán và cả trong nghệ thuật. Có tài như nữ văn sĩ Pháp Simone de Beauvoir, qua cuốn tiểu thuyết Les Mandarins, tính đàn bà cynique như là đàn ông cứng dắn cũng vẫn chỉ là Anne. Một con chim làm đẹp mắt chúng ta, qua bộ lông cánh, tiếng hót lanh lảnh làm cho ta vui, buồn theo chốc lát, như thế là đủ rồi! Đừng đòi hỏi nhiều và không nên ghen với đàn bà, khi họ có thân hình, vóc dáng mềm mại, quyến rũ! Ghen với đàn bà ở tài năng như các bạn trai làm thơ đồng lứa với Hà Phương lẽ tất cả còn quá trẻ, nhận diện nghĩa lý sống thật mãnh liệt, mà thiếu kinh nghiệm chín chắn ở chiều sâu, cộng thêm kiến thức chưa rộng, nhận định còn thiếu cái nhìn tổng hợp!
Tôi chọn một bài thơ hay của Hà Phương làm điển hình (§) mang theo một tạm kết luận về thơ Hà Phương : một nữ thi nhân cần, rất cần để đóng góp vào vận hội tài hoa trong số các nhà thơ trẻ hôm nay - trong đó có Cao Mỵ Nhân, Hà Yên Chi, nói chung những nhà thơ được đề cập chung trong cuốn sách nhỏ bé này.
© Trích thơ Hà Phương:
TRƯỚC GIỜ LÂM HÀNH

Trời trở lạnh bỗng dưng buồn ngây ngất
Buồn như là thiên hạ mất người yêu
Buổi hôm nay bươm bướm chẳng dạo nhiều
Tôi đã gọi tên người sao không gặp?
Sầu hoàng hôn mây trời trôi tăm tắp
Gió tha hương lá rụng ngập vườn hồng
Cố nhân còn biết có nhớ nhau không?
Và xác bướm hồn hoa về ươm mộng
Tôi mải miết điên cuồng đi đuổi bóng
Thích bạc tình mà cũng luyến yêu đương
Quá kiêu căng nên đã quá tầm thường
Lắm tham vọng nên càng nhiều thất vọng
Qua 18 tuổi đời đi lạc lõng
Mà ân tình vạn nẻo vẫn bơ vơ
Bởi vì tôi thì mộng rất đơn sơ
Mà thực tế, chao ôi, kiêu kỳ lạ!
Tôi ca ngợi mùa xuân trên tàn tạ
Đem mặt trời về ngự giữa sương đêm
Bắt lá ngậm trăng khóc nắng bên thềm
Quyến rũ Thiên Thần nửa đêm họp chợ
Đời chỉ một: Huy hoàng, hai: Tắt thở
Không âm thầm ngờ ngợ sống vô danh
Một phút quyền uy rồi vỡ tan tành
Không để lại chút di hài thời cũ
Và người ơi, nếu vẫn còn vũ trụ
Vẫn còn tôi kiêu hãnh nhất hồng trần
Hãy đề tên tôi vào bậc Thánh Nhân
Của đạo giáo vỡ lòng môn khinh bạc
Tôi sẽ làm thơ cho đời ngơ ngác
Rồi sẽ đi cho kịp chuyến lâm hành
Giờ tôi đi, Anh đừng khóc, nghe Anh!
(trích Buồn Hoang Thế Kỷ)
HÀ PHƯƠNG
5- HÀ YÊN CHI
Lần đầu đọc thơ Hà Yên Chi trên tuần báo Văn Nghệ Học Sinh (chủ nhiệm: Lê Bá Thảng) khoảng 1956-1957, tôi thích thơ của tác giả này. Tâm hồn nhà thơ thật thơ ngây lại tế nhị, hồn thơ sống động. Người ta đều bảo tôi đó là văn chương của một nhà thơ đang là học trò. Tôi vẫn chưa mấy tin, nhưng thực đúng là vậy. Từ trước đến nay, nhiều người làm thơ thường ẩn danh là nữ sĩ để viết cho người yêu mình và người mình yêu chăng? Trở lại với Hà Yên Chi, qua những bài Bầy Chiên Trắng, Ai Biết?, Những Nàng Tiên, Cảnh Đẹp Đà Lạt …hoặc Ai Chơi Xuân? cộng thêm vài tùy bút đăng trên báo, gần đây trên tạp chí Sống (Chủ nhiệm Ngô Trọng Hiếu). Riêng đối với Hà Yên Chi, tôi được Cao Mỵ Nhân xác định rõ về thân thế nên tôi không còn nghi ngờ gì bút danh có thể là nam giới cũng được - nhưng lại là nữ giới - tôi chợt nhớ đến trường hợp Trần Thy Nhã Ca (chính là cô Thu Vân trước đây đăng thơ trên Văn Nghệ Tiền Phong (Chủ nhiệm Hồ Anh-Nguyễn Thanh Hoàng) thì rất tồi. Từ ngày ở bên cạnh chồng, Trần Dạ Từ, thơ Trần Thy Nhã Ca khá lên vượt bực. Lần này thơ Hà Yên Chi thật chau chuốt, làm xúc động lòng người thực sự, nhưng tôi cũng chưa kịp viết về nhà thơ nữ này!
Ít ra có hai loại thi nhân - một loại làm văn chương mà Pháp gọi là làm văn chương (faire la littérature) và một loại sáng tạo văn chương (créer la littérature). Loại thứ nhất thích gọt rũa văn tương tự văn chương của thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Có người gọi là thợ gọt rũa văn chương - cũng na ná như thơ Vũ Hoàng Chương hậu chiến chẳng hạn. Họ rất giỏi về kỹ thuật thơ, như một người thợ chạm trổ tài tình, song nội dung, ý tưởng rỗng tuếch - nên không còn gọi là sáng tạo văn chương được. Hiện nay loại nhà thơ điêu khắc chạm trổ này rất nhiều. Nói về văn, thì đúng với tương lai văn và kịch của Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sỹ Tế… thầy dạy văn học trò trung học, bắt vào khoan thai, dáng điệu mà đòi cho mình có những văn thi phẩm bất hủ được sao?
Nổi tiếng là gì, được nhiều người biết đến đã là tốt, nhưng tất cả hiểu được hẳn là tốt hơn nhiều(§) như Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sỹ Tế vv… Các ông dạy học trò ở các cấp trung học phổ thông và chuyên khoa, hẳn điều này đã tạo cho các nhà văn trường ốc đạt được mục đích: có một danh tiếng nào đó. Như lối văn Vũ Khắc Khoan chẳng hạn, văn chương cũng có đôi chút tâm hồn, nhưng nhiều hơn lại là khệnh khạng, khéo tay chạm trổ đua đòi lối văn biền ngẫu Nguyễn Tuân tiền chiến, tư tưởng được chăm dắt bú mớm từ bậc thầy Nguyễn Đức Quỳnh - nên văn chương của Vũ Khắc Khoan tạm gọi có tư tưởng đấy chứ. Còn về thơ, Vũ Hoàng Chương được giải thưởng thơ (Hoa Đăng) có phải chỉ vì lý do kỹ thuật không? Tất là không - nhưng được thưởng vì lý do có lập trường phục vụ cho đường lối chính trị nhất thời (tôi không nói đến thơ Vũ Hoàng Chương trong giai đoạn tiền chiến). Thực mà nói, tôi đọc thơ Vũ Hoàng Chương bây giờ không thể cảm động nổi! Tôi so sánh lối làm văn, thơ của quí vị chỉ là khéo tay hay thơ - như hoa văn trên bát kiểu đắt giá được trang trí khéo tay, đẹp mắt mà thôi. Thơ không mới, không gây được biến động tâm hồn người đọc, không tạo được xúc cảm người thưởng thức, hẳn không là thơ hay. Trường hợp thơ Đỗ Phủ minh chứng cho điều tôi vừa trình bầy. Tóm lại, đọc thơ văn quí vị - lối thưởng thức tách trà nóng, thơm ngon, hảo hạng - mà điều này hoa văn trên tách ấy chính là lối xử dụng ngôn từ thơ văn quí vị. Nước trà ngon không nhờ tách mà là chất ngon (nội dung) trong tách.
Trở lại với Hà Yên Chi, hẳn không thuộc vào loại người thơ hạng đầu. Cô phải thuộc vào loại người sáng tạo thơ, tất nhiên ban đầu chưa hoàn toàn hay được, còn đôi chút vụng về. Thế giới thơ của cô khác hẳn với thơ lớp người đồng tuổi. Riêng với Hà Yên Chi, tình yêu rất ít ló dạng, nếu có cũng man mác, phảng phất và hoà lẫn trong vẻ đẹp của thiên nhiên, cây cỏ với một hoài vọng khác. Nói rõ hơn, tình yêu tuổi đầu đời của cô không thuần triết như các nhà thơ nữ khác. Một điểm ấy thôi đã làm người đọc chú ý - huống hồ những bài thơ của cô hướng về tuổi thơ thần tiên, đọc lên rất xúc động, có hình tượng sống của sự sống một thời. Thế giới thần tiên thi vị hoá cuộc đời vật lộn hôm nay làm cho người đọc nhớ tiếc một thời đã mất! Thời kỳ thơ ngây, hồn nhiên, yêu đời không thôi, chưa vướng vào vòng danh lợi kiềm tỏa, có thể gọi là tình yêu mật đắng - dầu là đẹp vẫn không giấu nổi giọt nước mắt thầm vương nơi mí mắt. Hà Yên Chi không có ý định đi tìm ngôn từ, gọi là sự khám phá tân kỳ như nhà thơ Trần Dạ Từ, Viên Linh gần đây, nghĩa là thích ngôn từ mới sáng tạo (tôi sẽ nói rõ hơn ngôn từ thi ca của hai nhà thơ trên là mới hay cũ - thành công hay đua đòi - hoặc bắt chước?). Thơ Hà Yên Chi không giống thơ tình tha thiết, mạnh bạo tuổi trẻ như thơ Thanh Nhung, không e ấp thẹn thùng như Tuyết Linh, không tỏ bản sắc đi lên cuộc đời rồi bi quan nhìn xuống như Hà Phương, cũng chưa gieo vần dị loại, nắm chắc nghệ thuật thơ như Cao Mỵ Nhân.
Nếu nói về tương lai, thơ Hà Yên Chi còn tiến bộ đến đâu, tôi sẽ trả lời ngay rằng thơ cô sẽ chững lại, không còn chiều đi lên nữa - sẽ không còn khám phá, ngôn từ mới - mà chỉ khai triển chiều sâu của thế giới hoài cảm tuổi thơ, ôm ấp thế giới trẻ thần tiên như thơ hiện Hà Yên Chi đang đeo đuổi.
Hai bài Ai Chơi Xuân, Cảnh Đẹp Đà Lạt trích dẫn dưới đây khiến tôi nhớ đến thế giới thơ Nguyễn Nhược Pháp - nhất là Hà Yên Chi chịu ảnh hưởng Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, nhưng là một ám ảnh âm hưởng tạo đà tiến cho thơ Hà Yên Chi mà thôi. Trường hợp này gọi là réminiscence cũng đúng, như với Quách Thoại đọc bài Trở Về của Xuân Diệu để liên tưởng sáng tạo bài thơ Cờ Dân Chủ - và với Hà YeÂn Chi đọc Đi Chùa Hương để có Ai Chơi Xuân.
Tôi rất mê thế giới thơ Hà Yên Chi, thế giới hoài vọng tuổi xuân trong Ai Chơi Xuân, cả những ý tưởng rất ư khác lạ, mới mẻ, cả trong loại tùy bút của Hà Yên Chi, vì nó không chung chung như hầu hết thơ tình yêu của nhà thơ cùng lứa tuổi. Riêng với Hà Yên Chi, tôi không phải bực mình khi đọc thơ làm dáng, và đúng Hà Yên Chi là một nhà thơ có những bài thơ đầy ý tưởng chân tình, dễ cảm, dễ rung động, làm xúc động tâm hồn nhân bản. 
Trích thơ Hà Yên Chi ©:
AI CHƠI XUÂN

Bảo rằng em mến em yêu
Vẫn đá xanh xanh rộn cả lòng
Tuyết trắng đâu bằng sương trắng
Ngoan như cô tú nẻo rừng thông.
Năm ngoái lên Đà Lạt
Ăn Tết với thầy me
Em vui và nhớ mãi
Không bao giờ quên đi
Sáng sớm mùng hai Tết
Em đòi đi du xuân
(Cao nguyên mờ sương ấy
Em lên chơi một lần)
Em soi gương chải đầu
Áo dài xanh bảnh bao
Sa tanh quần trắng toát
Đôi giầy da nâu nâu
Em đi cùng với me
Ba người ra gọi xe
Đường đi sao dốc quá
Cao như là con đê
Me bảo đi thăm thác
A thác sướng mê rồi
Chắc rằng trong trắng lắm
Em chưa từng đi coi
Xe đi vòng mấy lượt
Bên đường thông ngát xanh
Reo rì rào rủ rỉ
Nghe như buồn mỏng manh
Ba mẹ con cùng bước
Nhẹ gót lại bên bờ
Ai chà! Sao đẹp thế!
Lòng em rung như tơ
Em lấy tay té nước
Bắn tung lên lưng trời
Rồi em vui hớn hở
(Vũ trụ đời thảnh thơi)
Chán rồi em đứng dậy
Ngảnh lại phía đằng sau
Mẹ em và chị nữa
Đang quay nhìn đi đâu
Nhưng sao em thèn thẹn
Có ai đang nhìn em
Một cô, không bà chứ
Mãi đứng mỉm cười xem
Nhưng rồi em chả ngại
Rón rén lại chào đi
Toan bước qua dòng nước
Sang đến bờ bên kia
Ối trời ơi em trượt
Trơn quá! Khổ mình chưa?
Thế là thôi ướt sũng
Quần lên đến áo lơ
Trời ơi! em ngượng quá
Nhỏm dậy đứng nhìn quanh
Ai đang cười khúc khích
Ai đang cười tinh ranh
Me em vừa ngó thấy
Quay bảo chị : Này Vân!
Ra xem Chi nó ngã
Mau chạy xuống mà nâng.
Chị em nhìn nhíu mắt
- Thây kệ cái con ranh
Ai bảo chèo leo lắm
Ráng chịu ướt một mình
Thôi me, me kệ nó
Cho nó biết thân đi
Lần sau thôi nghịch ngợm
Ê chưa? Ơ kìa, Chi!
Trời ơi, em ngượng quá!
Bao người đang ngó em
Không ai thèm đỡ cả
Em run, càng run thêm
Me em tủm tỉm cười
Chị Vân nháy nháy hoài
Em nhìn quanh không hiểu
Biết chị nháy cùng ai?
Chị vừa mắng lúc nãy
Se sẽ nhủ thầm em
- Ra đây chơi với chị
Cho khỏi các người xem
Hân hoan em vâng liền
Tay chị dắt kề bên
Song song chân cùng bước
Dẫu lạ cũng thành quen
Em không cần ai nữa
Em cũng đủ vui rồi
Em nhìn lên phía chị
Chị đang tủm tỉm cười
Chị hỏi em tên gì?
-Thưa chị, tên là Chi
Thế còn tên của chị
Chị bảo cùng em đi
Chị cười: Em láu quá
Thưa rồi, lại hỏi tên
Nhưng không, nào chị nói
Nghe nhé, chị tên Huyền
Hai chị em hớn hở
Nhưng sau chẳng nói gì
Tay cầm tay xiết chặt
Chân vẫn rảo đều đi
Đường đi lên thêm dốc
Tiến thẳng trong đồi thông
Cành cao vời xanh rợp
Thăm thẳm trên từng không
Nắng hồng buông thoai thoải
Qua kẽ lá, tùm cây
Chan hoà trong thinh khoáng
Lơ lửng mấy vòm mây
Thân thông cằn cỗi vỏ
Lá biếc tủa thành tua
Mầu xanh trên bằng bạc
Như tiên cảnh ngày xưa.
Hai chị em đi mãi
Đi hoài không mỏi chân
Em yêu … yêu chị quá
Yêu hơn là chị Vân
Chị bắt đầu hỏi chuyện
Hỏi tuổi em bao nhiêu
Năm nay học lớp mấy
Ngoan ít hay ngoan nhiều
Nhỏ nhẻ em thưa chị
Nhưng chẳng dám khoe tài
Em kêu mình dốt lắm
Chỉ bị thầy beo tai
Chị xoa đầu em mãi
Hỏi em lên bao giờ
Saigon vui lắm nhỉ
Em bao giờ lại “giô”?
Ngạc nhiên em hỏi chị
Ơ sao chị lại hay
Rằng em người dưới ấy
Ăn Tết mới về đây
Chị cười như bí mật:
- Rồi đây em sẽ hay
Bây giờ thôi để đấy
Này, em hãy tới đây
Em nhìn ra phía trước
Có bác thợ chụp hình
Chị bảo em: Chụp nhé!
Nhè nhẹ em vâng nhanh
Xong rồi em lại bước
Chợt thoáng nhớ trong đầu
- Chị này, me em nhỉ
Biết rằng em đi đâu?
Chị cười nhưng chẳng đáp
Ra ngồi bên gốc thông
Kéo em ngồi xuống nốt
Em băn khoăn lạ lùng
Em ngồi trong lòng chị
Mơ màng trông ngửa lên
Chị sao hiền hậu quá
Trong như một nàng Tiên
Trên cao trời xanh ngắt
Qua những kẽ cành thông
Những chùm xanh thưa thớt
Lơ thơ đám mây hồng
Chị vuốt lên làn tóc
Thủ thỉ nói cùng em
Hỏi em nhiều thứ lắm
Bây giờ em đã quên
Em mơ say đắm quá
Em yêu chị nhất đời
Chị chiều, yêu, quí mến
Chị thôi, mình chị thôi
Chị cùng em đứng dậy
Áo quần nay đã khô
Thong dong cùng trở lại
Me chắc vẫn đang chờ
Lát sau về chỗ cũ
Ngơ ngác em tìm me
Thấy me ngồi với chị
Ăn gì trong quán kia
Chị Huyền theo em đến
Me vừa quay ra trông
Nhìn em cười tủm tỉm
Em thấy hớn hở lòng
Em vừa toan giới thiệu
Chị Vân đã gạt liền
Me em cười lên tiếng
Kéo lấy tay chị Huyền
- Thế ra me với chị
Trước cũng quen nhau rồi
Me cười: Ai lạ nữa
Chỉ có “cô”đấy thôi
Thấy em còn ngơ ngác
Me nói rõ ràng hơn:
- Chị Huyền ngay trước cửa
Đêm đêm vẫn dạo đờn
Chị trọ trên Đà Lạt
Chỉ có một mình thôi
Ngày ngày khi rỗi rãi
Vẫn chạy sang nhà chơi
Chị yêu em nhỏ lắm
Lại chẳng có người em
Cho nên hồi nãy đó
Mới chạy nâng mày lên.
Bây giờ em mới biết
Phụng phịu ngước đầu lên:
- Thế mà sao lúc nãy
Chị cứ giấu em hoài
Chị nhìn tủm tỉm cười
Âu yếm nói làm lành
- Thôi mà, em gái chị
Ngúng nguẩy đến là xinh
Từ nay em nhớ chị
Mong chị hãy về đây
Cùng em nghe truyện trước
Cùng em cười ngất ngây.
1957
HÀ YÊN CHI
6- KIỀU THỆ THỦY
(Nguyễn Ngọc Ánh, 1939 - 1989)
Tháng 10.1960, một sự rất tình cờ, tôi gặp được tác giả ở Vũng Tàu. Thoạt tiên, ở một sạp báo góc đường Trưng Nhị, có một thanh niên lạ đến phía tôi, bặt thiệp lên tiếng: “... Thưa ông, có phải ông là Thế Phong?” Hồi ấy tôi đang bị xáo loạn qua nhiều bất trắc đe dọa. Tôi trù trừ dăm ba phút rồi người thanh niên ấy hỏi lại lần thứ hai, tôi mới nhận tôi là tôi. Và, rất vui mừng, khi biết người thanh niên ấy là nhà thơ Kiều Thệ Thủy - một nhà thơ trẻ góp mặt trong thi tuyển Hoa Mười Phương (tập thơ xuất bản chung với nhiều người - Trường Giang xb, Saigon 1959). Kiều Thệ Thủy là người làm thơ trẻ xứng đáng đứng hàng đầu trong những người làm thơ có mặt qua tập thơ trên.
Năm 1957, trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, xuất hiện một số thi sĩ mới nhất hôm nay. Khởi điểm của họ là nhờ ở mảnh đất kia. Tôi cũng rất ngạc nhiên, vì quán trọ kia là đất dụng văn của họ khởi điểm - mà không bao giờ ngờ rằng chiêu-anh-quán lại là vươn thơ Văn Nghệ Tiền Phong. Xin đan cử ra đây những nhà thơ hôm nay có đủ lông cánh như Trần Dạ Từ (khi đó đăng thơ mang bút danh Hoài Nam), Viên Linh, Thanh Nhung, Kiều Thệ Thủy, Hà Phương vv… hơn một lần có thơ đăng và hơn một lần tôi phải tìm lại nguồn cảm hứng thơ ban đầu của họ trên báo ấy. Riêng với Kiều Thệ Thủy, những bài thơ như Duyên Mùa Hoa Phượng, Bài thơ trước khi vào thu, Ước hẹn v.v… nếu không nói là tồi thì cũng chẳng mấy ai chú ý - nếu sau này không có những bài thơ đóng góp trong tập Hoa Mười Phương. Tôi chỉ xin nói đến giai đoạn thơ tiêu biểu của Kiều Thệ Thủy. Uyên Thao trong một bài điểm sách (§) về thi phẩm kia có chê kiểu làm thơ lập dị, có vẻ làm dáng trí thức của Kiều Thệ Thủy. Tôi cũng đồng ý điều này đúng, nhưng qua năm bài sau: Triển Lãm, Chân Dung Tôi, Bài Thơ Tình của Chúng Mình, Kinh Điển, Độc Thoại, nhiều lần đọc lại, sự cố ý lập dị của Kiều Thệ Thủy không đáng chê trách cho lắm. Sự biện bạch này là: tôi nhận thấy tác giả non tay trên con đường tìm nét độc đáo về ngôn từ mới trong thi ca. Mà mấy ai ban đầu chẳng vấp ngã? Tác giả muốn có ngôn từ mới, chữ lạ, âm thanh dị loại cho thơ anh sẽ không giống bất cứ thơ ai, chẳng hạn thế! Nhưng, bước đầu, anh chưa thể có ngay một bản sắc thơ riêng biệt được, ở góc độ cuộc sống - nên còn phải mượn ngôn từ sẵn có một cách chung chung, vay cú pháp người đi trước vậy. Thơ có ngôn từ mới cũng không khác chi triết học, đầu tiên phải có cuộc sống riêng biệt, từ đó mới phát sinh ngôn từ mới để tạo cho mình không giống những người đi trước mình. Bài Kinh Điển của Kiều Thệ Thủy sặc sụa âm thanh thơ Hàn Mặc Tử, như búng ra huyết:
ngực vi trùng trán hoàng hôn
búng đau thương đỏ loét tứa ra mồm
người yêu thương hắt hủi
buổi chiều sầu linh hồn
- vì sao Sartre buồn nôn
Bởi vì, tôi tìm thấy chất liệu mượn từ Jean Paul Sartre trong phiên khúc nhỏ này mang tính chất làm dáng, giả tạo - chẳng nói lên điều gì - nó thiếu hẳn cảm nghĩ chân tình, thực mà nghĩ, thực mà trình bầy như câu gọi Picasso mà khóc cũng giống như câu vì sao Sartre buồn nôn.
Sau này Kiều Thệ Thủy có tìm được ngôn từ mới trong thơ của anh không? Từ 1958 trở lại đây, qua 6 bài tác giả trao cho tôi, hầu hết là thơ tự do, một hai bài lục bát cũng vẫn chỉ là bình cũ mà rượu chưa mới.( §§) Tôi phải xin lỗi để nhắc lại ở đây, thơ tự do muốn đạt được tới mức cao tuyệt độ, cần phải có nội dung sâu nhiệm hơn nữa, vốn sống trải rộng, cảm xúc đau khổ thực sự có hơn nữa, như nhà thơ Max Jacob của Pháp thời kỳ kháng chiến 1945, chiến đấu thật sự, xúc cảm thực sự mới viết nổi bài thơ Reportage, bài thơ mang nỗi buồn chán tột đỉnh và sẵn tài năng của thi nhân, Reportage (Tường Trình) của Max Jacob bất chiến tự nhiên thành. Nếu không vậy, hoặc chưa đạt được lý lẽ: cầm bằng ý nghĩa cuộc sống trong chùm chìa lủng lẳng trong tay - tất nhiên sự mang lại kết quả trong thơ tự do chỉ có thể lượm được một số ý thơ mới lạ, và hay, hoặc nhiều hơn một vài ba câu hay - còn lại, mang ý tưởng ngẩn ngơ, chất liệu thơ ngây ngô, xuẩn động, bí hiểm và tối tăm. Riêng về thơ Kiều Thệ Thủy hiện nay đang muốn chuyển sang thơ tượng trưng - trường thơ này cần súc tích và phong phú hơn nữa. Như bài Người khách ngả đầu điển hình trích dưới đây chỉ được một hai câu hay nhất: đĩa nhạc không ai quay đĩa nhạc đen và rồi chết với niềm đau đớn mới :
1 cái bàn đầu anh ngã xuống
1 người cũ mù theo hồn này
thấy linh hồn đã lụi
em lãng quên căn nhà kỷ niệm chưa em?
buổi chiều nước sông lớn mãi
giữa thành phố không còn hoang vu
ôi em còn ngây thơ còn ngây thơ
đội mũ lên đầu chào anh giấc chết
người mẹ đưổi cuộc tỉnh thời con gái đi
anh dìu anh biệt đường tàu, đồng không
mông quạnh
anh dìu anh biệt cồn hoang gò mả
trái tim chín cây chờ rụng
em hoảng hốt chưa em?
người lãnh đạm chưa người?
thôi, đầu anh ngửng nhìn sự vật
bàn ghế cô đơn là thi thể em
phà những hơi thở, trên mẩu thuốc tàn
bay đi ôi anh cười ngất
đĩa nhạc không quay đĩa nhạc đen
giờ anh từ biệt cái bàn 3 màu, ngấn nước
vết hôn
rồi chết với niềm đau đớn mới.
(Người khách ngả đầu)
Trong chúng ta, ai mà chẳng đọc thi ca Pháp, ít hay nhiều thôi, hẳn sao quên được Charles Baudelaire, A. Rimbaud, những thi tài của phái thơ tượng trưng đấy! Đến nay, chúng ta mới theo trường thơ kia, ít nhất phải vượt qua được thơ tượng trưng cũ ấy có - thì mới nói đến tân tượng trưng của nền thi ca mới, hay một cái tên gì khác nữa, song kết cuộc phải mới hẳn hơn cái cũ đã có. Tôi xin nói, lối thơ trên, giai đoạn tiền, kháng chiến nước ta đã có Văn Cao, cả Nguyễn Bính (thời kỳ 1956-57), nhất là nhà thơ Trần Dần có thể gọi là một chef de file của loại thơ symbole équivoque. Ở Ba Lan, thi sĩ nổi danh bậc thầy, đó là Adam Wazyk, hoặc Antoni Slorimski trong bài thơ Au fils de mes amis hoặc Miezyslaw Jastrun trong Entretien avec un écrivain và Le Diable (§). Thơ tượng trưng của những nhà thơ trẻ hôm nay như Viên Linh, lại cố tình làm mới bằng cách bắt chước lục bát cổ kính gieo vần Cung Trầm Tưởng, vốn thơ CTT đã sẵn mang màu sắc thơ hoang lạnh. Đọc thơ xong, lời thì đẹp, âm thanh thì chau chuốt đấy, nhưng vẫn không đủ làm cho người đọc nhớ lâu, vì đó là thơ biền ngẫu, mà loại thơ này khó qua mặt được thơ Ôn Như Hầu, Bà Huyện Thanh Quan … Sự thất bại của một số nhà thơ trên, cũng chẳng khác gì Thanh Tâm Tuyền hay nhóm Sáng Tạo, thơ không cảm không làm mấy ai rung động sâu sắc, vì bản chất thơ mà thiếu souffle thì khó tạo được isme mới! Hậu quả thơ của Sáng Tạo truyền lại cho lớp người thơ đi sau tạo thành một lối thơ tượng-trưng-nghiên-cứu (tạm gọi là surréalisme en spéculative), thơ không có hình tượng sống mới của sự sống một thời - từ cảm giác, rung động, tư tưởng, ngôn từ, hẳn thơ sẽ được coi như phù phiếm, ảo tưởng, thơ mình lại tự đánh lừa mình (style apocalyptique). Đọc thơ Adam Wazyk, M Jastrun (qua bản dịch Pháp văn), Trần Dần, Văn Cao (nhà-thơ-nhạc-hoạ-kịch hay kén chữ, chọn âm từ), người đọc thơ tiếp được nguồn cảm hứng ngay, bởi chất liệu thơ là chất sống rất động, rất hăng hái, nhiệt tình, hào hùng… Còn với người thơ mới chỉ có vốn sống nửa vời, chưa sầu đã kêu não nuột, chưa đớn đau đã la to quá khổ nàn, chưa hiểu ngọn nguồn thế nào là phi lý lại kêu to hơn hết là phi lý - tất cả, bao giờ cũng bắt đầu bằng bi quan yếm thế, chán chường giả hiệu để phê phán đời sống rồi lấy đó làm khởi điểm - đó là bi quan nửa vời. Nên những bài thơ như Hạ huyền của Ánh, Bài giảng Thánh số 1 hoăïc Vũng Tàu bis của Kiều Thệ Thủy có hình ảnh thơ đẹp, chọn lựa âm thanh từ ngữ phải kể khá tài tình; nhưng vẫn thiếu vắng động lực chính: sự rung động chân tình, sâu sắc và không có souffle thơ, khả dĩ làm cho người đọc thơ mình phải chuyển lay, xao động. Đọc thơ xong bình thản như khi chưa đọc, còn gì là động lực tính của thơ!
Bài Vũng Tàu bis chỉ có hai câu cuối là đẹp nhất (vẫn theo tôi), phải nói là thật tài tình, hào phóng, sảng khoái. Tôi kỳ vọng rất nhiều ở nhà thơ trẻ đang sung sức, đó là Kiều Thệ Thủy (§)
© Trích thơ Kiều Thệ Thủy:
BÀI VŨNG TÀU BIS

bên kia lảng vảng sương mù
Ngói san cũng chất hoang vu núi rừng
nghe là bãi vía vòng cung
bao nhiêu tiếng hét buốn cùng muôn xưa
ngọn cờ đen chiụ tang ma
phận anh sóng vỗ gió đùa đấy thôi
triền đêm xuống hết tương lai
trông vời một ít cảnh đời tối theo
cỗ xe trở mặt trời chiều
đi chưa thấy đến lưng đèo, trút hơi
ngựa im bờm ngó biển khơi
này em, anh đã tự vùi hào hoa.
KIỀU THỆ THỦY
7- NHỊ THU
(Ngô Xuân Nhị, 1938 -)
Năm 1957, chúng tôi ở chung với nhau trong một căn nhà thuê xây trên sông khu Đoàn Thị Điểm nối dài (Saigon 3). Hồi ấy, Nhị Thu thường hay lại thăm Uyên Thao. Do đó, tôi biết anh còn làm thơ. Bẵng đi một dạo, vào năm 1960, Uyên Thao chủ trương nhà xuất bản Sùng Chính Viện (in ronéo), anh hỏi ý kiến tôi sau khi trao cho tập thơ Mây Hà Nội của Nhị Thu. Đọc xong, tôi rất thích thơ anh, nhất là thơ người nam mà lại rất nữ ấy - từ âm điệu đến ngôn từ; chỉ khác là giọng thơ ngông nghênh, không cần gì đời của anh. Nên gọi thơ anh có hơi hướng của một kẻ phản kháng thì cũng đúng, luôn luôn muốn đổi mới tất cả, kể cả con người tác giả và tất nhiên trong đó có thơ anh. Tôi viết Vào đề tập thơ ấy, một bài chung cho cả ba tập thơ: Nhị Thu, Đào Minh Lượng và Cao Mỵ Nhân.
Khi tập thơ Mây Hà Nội của Nhị Thu xuất bản, Viết Tân (một bút danh khác của Hồ Nam) viết một bài điểm sách (§) biểu dương thơ Nhị Thu hết mình. Viết Tân cho lối thơ năm chữ của Nhị Thu chịu ảnh hưởng Hoàng Tố Nguyên và Nguyễn Hoàng Linh (§§). Một số bài thơ như Xám, Tha Thiết trong tập Mây Hà Nội đã đăng trên tạp chí Sinh Lực từ 1959 (§) Phải thẳng thắn nói rằng thơ Nhị Thu cũng có phần chịu ảnh hưởng Nguyễn Bính ở thơ lục bát, như bài Tha Thiết chẳng hạn - nhưng không vì thế mà thơ anh thua sút bản sắc.Cộng thêm lối diễn đạt nhẹ nhàng, có kỹ thuật cao, từ âm thanh, ngôn từ, âm điệu, tỏ ra là người thơ có bản sắc riêng, có tâm hồn, hào hoa và lịch lãm. Một, ba, bốn câu dưới đây còn có một ít ngôn từ sáo cũ của tiền chiến như vạn chuyện sầu thế nhân vv…:
Nửa đời một kiếp lênh đênh
Tóc xanh, mắt biếc cho mình bơ vơ
Tôi chưa dừng bước giang hồ
Rượu đào uống mãi, bây giờ chưa say
(Tha Thiết)
Không phải tôi cố ý nói lên những khía cạnh: như chịu ảnh hưởng này nọ, ngôn từ cũ, có hầu hết trong các nhà thơ trẻ nhất hôm nay - để ý dìm họ hoặc có lý do chê bai. Tôi chỉ muốn tìm rõ khởi điểm con đường thơ mà những người thơ trẻ đang đi - bắt nguồn từ đâu - rồi họ sẽ tiến ra sao? Đấy là điều tôi cần biết và trình bầy. Chẳng ai còn lạ gì đọc văn chương của A. Gide - ông chịu ảnh hưởng rất nhiều từ nhà văn Nga F. Dostoievski và F. Nietzsche (nhất là cuốn Immorale) để trong văn chương, André Gide có quan niệm muốn nối chí hướng của thi-triết-gia F. Nietzsche khi Gide viết truyện Immoraliste. Cuối cùng, bản sắc của André Gide vẫn lưu danh bất tử trong văn chương Pháp hiện đại. Hẳn như vậy thì ở đây Nhị Thu từng có dạo say mê thơ Nguyễn Bính và Trần Huyền Trân…, nội tâm buồn chán khởi nguồn lục bát Nguyễn Bính cộng thêm chất liệu không cần gì đời, nhìn qua cặp mắt khinh bạc kiêu sa của Trần Huyền Trân ngưỡng cửa tiền chiến để tạo thành một Nhị Thu hôm nay. Thơ Nhị Thu lời đẹp, dịu dàng, chau chuốt.Người đọc thơ anh thấy được an ủi, có cảm tưởng như một lần dạo trên đồng cỏ xanh lì. Nhưng cũng có khi bị vướng gai nhọn làm đau bàn chân:
Những bàn tay ghẻ lở
Nắm chặt những bàn tay
Tôi thấy đầu choáng váng
Như vừa uống rượu say
Giữa trưa ấm nắng hồng
Không buồn sao nhớ nhung
Bước vào trong cửa tối
Đèn hoa sao sáng trưng?...
Bàn tay dầy cồm cộm
Vẫn nằm im nơi đây
Buổi chiều đi dạo phố
Nhìn tà áo bay bay
Đường về mưa bất ngờ
Núp tạm gần khám lạnh
Có một chùm hoa nở
Rực rỡ bên nhà tù
(Những Ngày Những Tháng)
Rằng bao hàm ý nghĩa, hẳn người đọc không chối cãi được khi đọc đoạn thơ cuối - nhưng tôi chưa hoàn toàn bị tác giả mê hoặc, lại càng không nữa, khi đọc bài Xác Định - tôi nhấn mạnh toàn bài, ở đây chỉ trích dẫn đôi ba câu:
Tay anh muốn níu thời gian
Dù tóc anh xanh hay đã úa vàng
Hay ngày mai bạc trắng
Anh vẫn làm thơ và vẫn làm cách mạng
Cho đời hết nghĩa cỏ cây
Theo tôi, đoạn thơ chỉ là bầy tỏ thái độ cố níu, có lời tuyên bố suông cho hợp snobisme, đúng với cách làm dáng của thanh niên tỏ ra mình có tranh đấu cho một đường lối để đổi đời hết nghĩa cỏ cây. Đọc thơ lên, người đọc chưa xúc động thực sự. Nhị Thu còn làm một bài thơ ba tiếng, chịu ảnh hưởng bài thơ cũng có ba tiếng của Tố Hữu. Xin trích đoạn cuối bài Xác Định:
Anh đã sống như anh hằng tự nhủ
Yêu thương hôm nay cho ngày mai
Như ngày xưa hét lớn anh cười
Ba tiếng đầu tiên
Và cũng là ba tiếng cuối cùng
Kể từ phút sơ sinh
Cho đến giờ nhắm mắt.
Lối thơ được mệnh danh là thơ tự do, tôi không thích ngôn từ dao to búa lớn trong thơ anh mà không có hình tượng sống, cảm nghĩ thực có mà anh ấp ủ. Nên đọc xong, chỉ thấy đó là sự múa may không hơn không kém. Bước qua một bài thơ khác của Nhị Thu trích dẫn dưới đây, đọc thơ anh có chất thơ làm cảm động người đọc. Tỉ dụ như bài Chiều Đô Thị chẳng hạn:
Không hẹn nhưng lòng tôi vẫn đợi
Người ơi, người ơi, mưa chiều nay
Tôi viết bài thơ lên mái phố
Cho ấm lòng chiều khi gió bay
Người ơi về nhé xin đừng ngại
Tôi vẫn chờ đây vẫn đứng đây
Góc phố dù mưa tuôn ướt áo
Nghiêng vai cho đỡ lạnh vai gầy
Những ngọn đèn đường đã thắp lên
Mà sao hồn tôi vẫn im lìm
Có ai tha thiết lời tâm sự
Tôi khóc hay là tôi gọi em?
Sao chẳng ai về ai nhớ không?
Có ai thầm khóc ở trong lòng
Lòng tôi trăm ngả như lòng phố
Mở đón ai về trong nhớ mong
Và mưa và gió và hoang lạnh
Phố vắng chiều nay tím một màu
Tôi đi lòng thấy bơ vơ quá
Chẳng tiễn ai mà cũng đớn đau.
Hoặc trong bài thơ Xám, có một vài hình ảnh có ý định làm mới cuộc sống, hoặc như bốn câu cuối trong bài thơ Đợi, hoặc rõ nét hơn trong toàn bài Tiễn Biệt. Và ở Xám thì :
Tôi chẳng còn chi nữa
Tình yêu không, ngày mai
Bởi tôi là thi sĩ
Nên rất ghét đêm dài
Những bài thơ vẫn viết
Và thời gian cứ bay
Tôi nghe đời đang chết
Và sẽ chết hôm nay
Hồn thơ của tác gỉa diễn tả lại cho tôi là người đọc thật nhiều ý tưởng nói về hình tượng cuộc sống - có thể đang hấp hối - đó là sự buồn chán từ tâm hồn đến sự hòa nhập lò lửa cuộc sống - rồi từ đấy đi đến kết luận riêng. Còn nữa, trong bốn câu cuối bài Đợi, tôi lại cảm được tâm trạng tác giả đầy hoang lạnh trống trải ở chiều sâu tâm hồn, mang nặng nỗi niềm. Như:
Anh đợi chờ mà se sắt trong tim
Anh đợi chờ hay chẳng đợi chờ em
Vì đêm tối đang chùm lên thế kỷ
Anh sẽ khóc vì anh là chân lý
Stefan Zweig khi bàn về Holderlin đã chân tình nhận chân giá trị to lớn mà ông tìm thấy trong thơ của thi-triết-gia Holderlin tài hoa kia, so sánh như thế này: …”Thơ của Goethe mới chỉ là nói lên hình ảnh cuộc đời song chưa đạt được đỉnh cao cuối cùng, vì thơ mới chỉ là đạo…” (§) Tôi hân hạnh được cùng thời với các anh và nghĩ rằng liệu các anh có phải chung số phận hẩm hiu như thế này không? Là giá trị chỉ được truy tặng, phục hồi đúng vị, sau khi các anh không còn có mặt? Tôi tin ý nghĩa này hoàn toàn đúng, nhưng lẽ nào tất cả đều như vậy cả sao? Một lẽ, một phê bình gia tài ba, sắc sảo như Biélinsky chưa bao giờ nỡ giấu một tài năng nào mà ông khám phá được! Hoặc ông bỏ qua khi chính tác giả còn sống. Nếu vậy, hẳn không bao giờ có F. Dostoievski, Maikovsky… nếu ta nhớ lại những nhà văn, thơ tài ba ấy do chính Maxime Gorki khám phá ra và khích lệ bước đầu văn nghiệp.
Với Nhị Thu, như hầu hết các nhà thơ trẻ những năm sáu mươi mà tôi nói đến ở đây - tất cả - họ mới cho tôi nhìn thấy đôi nét phác hoạ tài hoa mà họ mô tả lại ở khía cạnh tâm hồn của bước đầu, rồi ra với thời gian và tác phẩm, cộng với sự rèn luyện tô đậm vóc dáng mỗi người, họ sẽ thành công. Sau cùng, bàn về thơ Nhị Thu, tôi trích dẫn toàn bài thơ Tiễn Biệt, để một lần nữa, đối với người đọc, thơ anh đẹp, chau chuốt, ý thơ phản ánh đời sống và khát vọng làm đẹp cuộc sống. Chỉ một điều nhỏ, đọc thơ Nhị Thu tròn trĩnh quá, đôi khi khéo tay quá - rồi có thể điều này làm cạn đường cho sự vỡ luống trong thơ của anh ở ngày mai.
© Trích thơ Nhị Thu:
TIỄN BIỆT

Tôi tiễn đưa người đi tối nay
Mà như đưa tiễn tự bao ngày
Sao tôi muốn khóc lòng không khóc
Lòng lạnh như là mưa gió bay
Cớ sao người đi trong đêm mưa
Tháng, năm hay mãi chẳng bao giờ
Ngày nao? Biết hẹn ngày nao nhỉ
Hay hẹn ngày nao thôi gió mưa
Nhưng lòng tôi vẫn gió mưa hoài
Như những ngày thu mưa gió bay
Tôi tiễn đưa người về nẻo ấy
Ngày nào ai kẻ tiễn tôi đây
Tôi biết người đi không nhớ nhung
Thị thành lê bước mãi chân chùng
Áo cơm thì cũng là hư ảnh
Son phấn nào tô đẹp núi sông
Ta còn ở lại đến bao giờ
Năm tháng buồn hơn chuyện gió mưa
Tuổi xanh như một vì sao rụng
Và chuyện ngàn năm như gió đưa
Biết gửi vào đâu lời hẹn ước
Nắm đây tháng rộng tiếp năm dài
Bài thơ thương nhớ thêm thương nhớ
Để khóc riêng mình hay khóc ai?
(trích Mây Hà Nội)
NHỊ THU
8- NHƯ LAN
(Nguyễn Thị Như Lan, 194?)
Một người con gái nữa làm thơ ở tuổi ngoài hai mươi, khi cô đang còn ngồi trên ghế Nữ Trung Học Gia Long. Rồi giã từ tuổi hoa học trò làm cô giáo, gần gụi với lớp người măng trẻ ngây thơ. Tôi không được đọc tiếp những bài thơ vào tuổi đã ra đời của cô - mà ở đây chỉ giới thiệu những bài thơ khi cô giáo còn là học trò. Như Hoài Niệm, Màu Hoa Thương Nhớ, Lối Cũ, Trên Sóng Hoàng Hôn, Trở Về, Ngày Xưa. Riêng bài cuối này, in trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong vào năm 1960. Có lẽ đó là bài thơ mới nhất mà tôi được đọc của Như Lan.
Với tôi, một người con gái trẻ làm thơ quả là đáng quý trọng - hơn nữa lại là thơ mang một tâm hồn dung dị từ quê hương sông nước Đồng Nai.
Tôi đang sống ở Miền Nam, cảnh đẹp nơi này nhiều lần làm tôi say mê. Một rặng dừa xanh tốt lớp lớp kéo dài trên con đường thẳng tắp dài hàng mấy chục cây số đưa đến Kiên Giang. Cảnh sống thật êm đềm, nhìn từ phía ngoài vào, thật xúc động nóng hổi, nhưng hối hả và êm đềm phiá trong. Một khu rừng già ở Biên Hoà, một cảnh sông nước đẩy đưa cảnh chiều buồn Tân Uyên đầy bí hiểm. Tất cả linh hồn sống của đất nước Miền Nam, nhiều lần khiến tôi quên được cảnh vật lộn cam go cuộc sống. Chán chường với cơm áo hàng ngày - huống hồ bây giờ lại biết đến, có những chuyển biến tâm hồn của thơ phản ánh trong thơ Như Lan.
Thế giới trẻ thơ của Như Lan còn mang nhiều hình ảnh quê hương, nơi tác giả sống, miền Tân Uyên như có lần người đọc tìm thấy trong văn Lý Văn Sâm, qua tác phẩm Kòn Trô.
Và là người nữ, mấy ai không nói đến tình yêu! Tình yêu của Như Lan ở đây man mác trong thơ, hòa hợp với rặng cây xanh, nơi rừng chiều âm u khép kín. Nhất là một người nữ trẻ chưa thể bị đồng hoá với nếp sống toàn diện của đô thị, ồn ào tiếng động cơ, cơ hội làm lấm bùn bao tâm hồn ngây thơ, trong sáng.
Lối Cũ, bài thơ của Như Lan, nói lên sự thèm thuồng của một tâm hồn trong trắng đã mất đi - nghĩa lọc lừa biến đổi. Cô không dùng ngôn từ bay bướm, chau chuốt đậy che - nhưng chân tình bộc lộ:
Mà mấy năm rồi xa chị
Thiết tha nhớ bưởi Biên Hoà
Nhớ rừng Tân Uyên nắng xế
Nhớ đêm tắm ánh trăng ngà
Đô thành người ta lừa lọc
Đô thành người ta sa hoa
Chị ơi, từng đêm gục khóc
Bao ngày thơ cũ xoá nhòa.
Tôi không nói đoạn thơ này thật hay - nhưng tôi tin chiều sâu ẩn ức tâm hồn thơ muốn bày tỏ niềm chán chường đô thị - cầm bằng ngôn từ thơ nghiêng tay. Đó cũng là khuyết điểm chung của người mới làm thơ hay dùng hình ảnh sáo mòn.
Đến bài thơ Màu Hoa Thương Nhớ, Như Lan không làm dáng qua thơ như Thanh Nhung, hoặc điêu luyện súc tích như Cao Mỵ Nhân, hoặc chưa thể nhìn đời qua cặp mắt khinh bạc kiêu sa Hà Phương - mà trong thơ Như Lan, như tôi nói, lối thơ nhẹ nhàng, mang nội dung khắc khoải, bồn chồn, có mai mỉa cũng chỉ mỉa mai nhẹ nhàng, nhưng bao giờ cũng luyến mến tuổi thanh xuân mình đang có. Nếu toàn bài thơ trên có điều nào đáng trách cứ, theo tôi là điều này: lối xử dụng ngôn từ chưa mấy đúng chỗ nên bài thơ thiếu sự đồng nhất. Nói như văn hào Lỗ Tấn (Trung quốc), đó là mẫu mực, cơ hội ráp lại của sự lai căng, thiếu đồng bộ. Chẳng hạn như một người ăn mặc theo cách thức của tỉnh Hồ Nam, nói giọng Sơn Tây, xử thế theo lối Hồ Bắc. Với Như Lan, bài thơ mang khung cảnh miền Nam, tâm sự miền dừa cội nhưng lại có ngôn từ “mần răng” của quê hương xứ sở thân gầy. Dưới đây là một bài thơ rất gợi cảm của Như Lan:
Dửng dưng một buổi về đô thị
Lạnh những bàn chân bước nhịp buồn
Nắng đổ dặm dài thương cố lý
Mấy mùa sương gió ắp cô đơn.
Chân bước lê trên mộng úa nào
Như trên lá úa rụng chiều nao?
Tuổi thơ ngây chết bao giờ nhỉ
Và tại vì đâu mình xót đau
Cúi mặt mình đi giữa phố phường
Nắng mùa năm cũ hãy còn vương
Cành hoa thương nhớ loang màu máu
Tức tưởi sau nơi mỗi cổng trường
Xa biết bao nhiêu những chuỗi ngày
Tóc còn ươm mộng xoã ngang vai
Mắt xanh lưu luyến phương nào nhỉ?
Hoa đẹp bình minh cũng thở dài
Rồi giữa ngày xuân khóc giã từ
Xa thầy xa bạn khóc ưu tư
Để cho năm tháng tuy tàn tạ
Mà những ngày xưa chẳng xóa mờ
Chân dạn dầy trên mấy dặm đời
Nghe lòng thêm nhớ những niềm vui
Nắng không về áp hương trần thế
Mà tháng ngày phong những nụ cười
Màu đỏ lay hoang sắc phượng buồn
Màu hoa thương nhớ thuở nào vương
Để nghe lắng nhịp thời gian chuyển
Và đếm sân trên nẻo phố phường.
(trích trong Hoa Mười Phương)
Thơ lục bát của Như Lan xử dụng ý và lời Nguyễn Bính, cộng thêm đời chưa đắng cay của riêng cô - thứ cay đắng mà Trần Độc Tú (Trung quốc) chủ trương bát bất - gọi là thứ cay đắng chưa trải mùi đời cho lắm. Nhưng lời thơ có đoạn khá chau chuốt, tài hoa trong bài thơ Hoài Niệm, chứng tỏ tác giả khá dầy công phu luyện thơ cho riêng mình. Có những câu:
Tâm tư nghiêng ngả về chiều
Thư hồng đã viết những ngày vào thu
Mênh mông hồn mộng vu vơ
Mỉm cưởi đọc những lời thơ ngọc ngà
Nhưng mà mây nước gió đưa
Biết bao nhiêu chuyện hững hờ riêng tây
Sầu hoang đọng đắng đôi môi
Mênh mang mây nước, màu trời cô liêu
Tâm tư nghiêng ngả về chiều
Mộng hồn đã vỡ ít nhiều cố nhân.
Một đến hai đoạn trong bài thơ Màu Hoa Thương Nhớ ở trên, Như Lan hoài niệm về những ngày thơ ấu. Ôi! một ngày xa xưa ấy đã làm bao kẻ bỏ trường để mai này nhớ lại - sau nhiều lần vật lộn với sự sống cuộc đới cay nhục, thì mỗi lần đi qua mái trường xưa bồi hồi xúc cảm nhớ thương! Thơ Như Lan luyến mến mái trường xưa thật cảm động, khác hẳn thơ Hà Yên Chi chỉ ca tụng thế giới thần tiên hoặc thiên về hoài vọng tuổi xuân nhẹ nhàng theo lối thơ riêng biệt Hà Yên Chi. Tôi còn rất yêu đoạn thơ dưới đây của Như Lan :
Để chiều nhặt lá mùa thu
Kết thành mũ miện giả như bà Hoàng
Bà Vua không có giang san
Triều thần là những bướm vàng bơ vơ
Ngày xưa thơ hãy còn thơ
Sắc xanh đẹp tuổi học trò ngây ngô
Bao nhiêu tâm sự hững hờ
Chừ đây vọng nhớ người xưa mà buồn
(Ngày Xưa)
Những câu thơ này mang không khí thơ, ý tưởng là lạ, dễ mến, dễ cảm, dễ xúc động. Như một lần tôi yêu thơ Nguyễn Bính, có câu:
Em ạ, ngày xưa Vua nước Bướm
Kén văn tài mở Điệp lang khoa
Vua không lấy Trạng, Vua thề thế
Con bướm vàng tuyển đậu Thám hoa.
mang theo không khí của một triều đại đã mất, nửa hư mà nửa thực, khiến người đọc nhớ hình bóng cũ, liên tưởng tới truyền tộc dân mình, thơ thật hay! Mà cũng vẫn chỉ bằng hai câu thơ của Như Lan thôi:
Bà Vua không có giang san
Triều thần là những bướm vàng bơ vơ
Điều mơ ước nhất của tôi hôm nay: cầu chúc một Như Lan này cũng như nhiều Như Lan khác; sẽ triển khai đời sống thơ nội tâm thật sâu rộng, súc tích hơn nữa. Không ai có thể làm hơn Như Lan khi cô nói về tâm hồn của riêng cô suy cảm, kể cả quê hương cô sinh ra và lớn lên. Mỗi người trong chúng ta có một quê hương và chung một tổ quốc, thế là có một thế giới tâm hồn thơ yêu mình, yêu đất nước mình hết sức riêng biệt.
Mở rộng cánh cửa đời sống quê hương Miền Nam yêu dấu, Như Lan là bàn tay xây dựng dòng thơ quê hương sông nước mến yêu đáng tin cậy mà trước Như Lan, Vân Trang (§), Ái Lan vv… và trước nữa là Sương Nguyệt Anh chẳng hạn vậy.
9- THANH NHUNG
(Công Huyền Tôn Nữ Nha Trang, 1941)
Lớp nhà thơ cùng thời với Như Lan, Hà Phương, Tuyết Linh là Thanh Nhung ở Nha Trang. Cô góp mặt trong các tuyển tập thơ Hoa Mười Phương, Tiếng Thơ Miền Trung và đăng thơ rải rác trên tạp chí Phổ Thông của Nguyễn Vỹ, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong của Hồ Anh. Tổng quan mà xét, thơ cô không có gì thật mới lạ, chung chung trong khía cạnh thơ trữ tình, nhưng thơ có nét mạnh bạo về tư tưởng, hình tượng mới. Nếu so sánh thơ Thanh Nhung với thơ Hà Phương, thơ Thanh Nhung chưa đạt được tầm cỡ, kể cả tư tưởng và cách diễn đạt thì chưa bằng Cao Mỵ Nhân. Nhưng thơ Thanh Nhung có một sức sống đang bừng dậy.
Những bài thơ mang tên U Hoài, Hoang Dại, Giận Hờn, Cánh Chim Bằng, Mùa Xuân Thiếu Nữ, Chớm Mộng, Tưởng Niệm vv… rất súc tích ngôn từ thơ của thiếu nữ đến tuổi dậy thì, yêu đương, nhưng người thơ hơn được người khác là biết gieo vần, đặt cú pháp, ráp ngôn từ, lựa âm điệu để thành thơ. Hẳn sao thoát được hơn một lần chịu ảnh hưởng người thơ đi trước, như Nguyễn Bính, T.T.Kh, Vũ Hoàng Chương, Xuân Diệu… tôn làm thầy ở những bước đầu.
Trong Chớm Mộng, Giận Hờn, diễn đạt thơ theo kiểu cách làm nũng như thơ Giận Nhau của Nguyễn Xuân Huy, ở Đầu Mùa, ngôn từ thơ Xuân Diệu, nhưng non tay, ý dại. Và hương xuân thơ Xuân Diệu còn hoài ám ảnh trong thơ Thanh Nhung, nhất là Mùa Xuân Thiếu Nữ đời mình.
Hẳn tôi chẳng cần phải dài dòng thêm nữa! Hẳn đứt như thế rồi, vì độc giả có thể đặt câu hỏi: Sao tôi còn nói là triều thơ đang bừng dậy?, bởi lẽ trong sự chịu ảnh hưởng qua lại kia, vốn thơ đời riêng của Thanh Nhung phải nhận là có và đang có dáng dấp đi lên. Thêm một cách nhìn đời qua thơ kiểu à la mode Xuân Diệu, rất Tây phương mà lại hoá ngây ngô:
Khóc suốt đêm nay bởi nhớ thương
như Xuân Diệu có lần cũng rất ngây ngô viết:
Cũng như xa quá nên ta chỉ
Thấy núi yên như một miếng bìa
Bây giờ bàn đến toàn bài thơ Tưởng Niệm của Thanh Nhung - làm thơ để có thơ nghĩa là làm thơ cho có, không cần từ cảm hứng nào đưa tới, nôm na là trước và sau làm thơ vẫn chưa làm gì cả. Bằng chứng đại loại như bài thơ dưới đây:
Mưa xuống trong lòng đêm vắng lạnh
Đường xa hun hút gió căm hờn
Ngẩn ngơ hương khói tìm hư ảnh
Khóc suốt đêm nay bởi nhớ thương
Mấy trang thư cũ còn nguyên đó
Ý tưởng mười lăm trắng ngọc ngà
Người viết đã vào trong nấm mộ
Hồn trăng chừ đặt đâu phương xa
Đây cành hoa huệ tươi thanh sắc
Đây khói trầm hương dáng não nùng
Và cả lòng tôi đầy nước mắt
Mời hồn bạn cũ đến vui chung
Chập chờn dư ảnh ngày thơ ấu
Tưởng bóng người xưa đứng cạnh mình
Mái tóc sông Hương buồn diễm ảo
Mắt hồn nghiêng một mảnh trời xanh
Chưa nắm tay nhau mà han hỏi
Rưng rưng mắt nên sầu nhang khói
Kêu khẽ trong lòng Hạnh của tôi...
1960
(trích tạp chí Phổ Thông)
Tôi đọc xong, thú thật chẳng một chút xúc động và tự hỏi có phải đây là cách xếp ngôn từ, ráp vần, nhịp điệu để có một bài gọi là thơ chăng? Một đoạn văn vần tầm thường không có ý tưởng, thương khóc đầy giả tạo, làm cho người đọc không thương cảm cùng. Cùng một nghĩa, khi đọc đến một loạt bài thơ như vậy, cần phải kể đêùn Hoang Dại, Giận Hờn. Dưới đây là một đoạn thơ điển hình cho điều nói trên, trong bài Hoang Dại:
Miền xa nắng đẹp
Tóc óng chiều sương
Màu hoa tim tím u buồn
Buộc hồn lữ khách ngàn phương đi rồi
Nỗi buồn, cảnh sầu, vẻ đẹp ban chiều, màu sim tím sẽ không làm ai chung cảm được với tác giả, vì lẽ Thanh Nhung nghèo nàn hình ảnh, ít cảm xúc, lại thiếu ngôn từ chứa đựng nội dung muốn bày tỏ. Chẳng hạn nói về một người đau khổ, không thể bật tiếng cười khoái trá, vỗ tay bảo bạn: Tôi đang buồn lắm đây. Nếu tin được vậy là buồn, quả nỗi buồn trở thành khôi hài, vô vị. Nếu muốn bạn tin mình buồn thiệt, phải cần có cảm xúc buồn đau thoát lộ trên mắt, môi, trong dáng điệu, cử chỉ. Nếu là động tác kịch cũng cần phải có nghệ thuật làm cho người xem tin là thật, huống hồ thơ - càng phải gây nhiều xúc động lâu bền, sâu sắc hơn - còn khẩu từ suông có làm ai cảm động thực bao giờ?
Đại để thơ của các nhà thơ trẻ hôm nay là bắt chước buồn đau mà thực chẳng mấy đau buồn! Thú thật, tôi phải đọc tiếp dăm bài của Hà Phương như vậy, hẳn tôi đã phải kêu lên: Thiên tài ở đâu, sao không hiện dưới mắt trần tục này, để ta mỏi mắt tìm mà không thấy! May mà tôi gấp lại và còn một lần nào đó, có hứng cảm lại đọc tiếp. Có lẽ không còn nhớ rõ một lần nào, nhưng thoáng tìm được tứ mới, cảm nghĩ chân tình của người thơ giội vào tâm hồn tôi. Còn nữa, một đôi ý tưởng trong thơ Thanh Nhung khá mạnh bạo:
… Tôi biết ngày xưa đã mất rồi
Hương yêu lịm chết giữa bờ môi
Chiều nay trong gió sầu hoang lạnh
Mộng cũ bơ vơ mấy nẻo trời
Trở mạnh xua tan những tủi hờn
Mà sao lòng vẫn thấy cô đơn
Thành kinh thiên hạ yên vui nhỉ
Nghe nỗi niềm đau rụng xuống hồn.
(U Buồn)
Thì ra Ai chiến thắng mà không từng chiến bại/ Ai đã khôn chẳng dại đôi lần (§) đúng một phần nào ở kinh nghiệm cuộc sống tác động vào tâm hồn Thanh Nhung để thành thơ. Giọng thơ có vẻ thấm đắng cay rồi đó, nó không còn nhơn nhơn (§§) nữa. Thêm một bài thơ thấu nghĩa đời, khá cảm động là bài Đầu Mùa:
Gió khẽ than van cùng lá biếc
Ngại ngùng chim nép cánh run run
Mưa đầy lối nhỏ lời da diết
Buồn cả trời mây, lạnh cả hồn
Một mảnh trời xưa trĩu nghẹn ngào
Dòng sông tình cảm phớt lao đao
Hồn mê mẩn rứt niềm cay đắng
Trời đoạ đầy tôi đến xứ sầu
Còn nhớ hôm nao cây lá xanh
Rèm thưa sương tỏa, khói xây thành
Tôi hồn dệt mộng - đời thơm ngát
Chắp cánh yêu thương lại xứ tình
Thuở ấy lòng hoa chửa vương sầu
Sương chiều đánh đắm ngọc trân châu
Nắng mơ làm thẹn màu nhung gấm
Triều đại thần tiên: giấc mộng đầu
Rồi mộng đầu theo mây viễn phương
Mỗi năm hoa lá rụng ven đường
Mỗi năm mùa cũ về ray rứt
Là một lần nghe tiếng đoạn trường
Thôi đã về đây mùa lạnh cũ
Tình thơ mờ nhạt bóng thương yêu
Gió mưa vội khép trời tương ngộ
Trời hỡi! Lòng tôi khổ rất nhiều.
1960
(trích tạp chí Phổ Thông)
Tâm hồn rất ư là người nữ, rất ư là Nguyễn Xuân Huy trong Nắng Đào, đọc thơ cảm được nét ngây thơ rất đáng yêu của Thanh Nhung, của những cô gái đến tuổi yêu:
Mọi người trêu em mãi
Thẹn thùng em bước đi
Em biết mình thôi dại
Bởi chưng đã dậy thì
Em trở nên mơ mộng
Trần gian đẹp bao nhiêu
Tâm hồn nghe rung động
Dâng rạt rào tình yêu
(Chớm Mộng)
Như bao người thơ nữ trẻ hôm nay, Thanh Nhung hướng dòng thơ về tình yêu. Ngoài tình yêu ra, không còn tìm thấy khía cạnh nào quan trọng khác! Yêu rồi đau khổ, rồi than vãn, luyến mến, sầu bi, tiếc nguồn yêu dấu khi xa nhau, thơ lãng mạn khổ đau. Nhưng thi tứ chưa mới, ngôn từ cũ mượn sầu đau, khóc lóc của người thơ tiền chiến. Thời đại này, hẳn không cần xác pháo nhiều để tiễn chân em, như mỗi lần người nữ đi lấy chồng, gọi là sang sông, sang ngang, hãy nên trả lại cho Mười Hai Bến Nước của Nguyễn Bính trước 1945. Như vậy, tính chất thời đại của văn chương hôm nay khỏi bị khuất lấp:
Đời thơm phức hương xuân mê mải
Ngắm dung nhan xao xuyến bản đàn lòng
Nghe rộn ràng như những chuyến sang sông
Mà lấy pháo làm tê môi thắm
Nội tâm lòng mình, đó là cả một kho tàng vô cùng phong phú, chỉ riêng mình có - lòng mình - cũng vẫn cần phải có chìa khoá mở vào để hiểu sâu hơn. Thiên tư thi nhân là phải tìm cái mới, cảm giác mới, rung động mới, tất nhiên phải dùng ngôn từ mới diễn đạt. Chúng ta làm người, có ai giống ai từ khuôn mặt, giọng nói, tính tình, như vậy mỗi người có một tâm hồn riêng biệt. Sao chúng ta không căn cứ từ khởi điểm này để khai triển cái riêng mà ta sống, nghĩ, cảm - chỉ riêng ta, ta có, riêng ta, ta mang. Tôi tin khi tâm hồn rung động phong phú gồm nhiều hình tượng sống mới dễ chấp nhận. Chúng ta không cần vắt lại rung cảm của bầu sữa cạn nguồn thơ tiền chiến. Hãy xa đi, mà chỉ nhìn đó như cái gương thôi, đừng bắt mình, hình dáng, cảm nghĩ mình từ hình dáng cảm nghĩ cũ đã qua rồi! Có thế mới có một nền văn chương hiện đại, mới ghi được sự sống một thời mới, điển hình cho một trào lưu mới - mà sự hiện diện chúng ta đúng là một may mắn nhất. Hãy đừng khóc như nhà thơ tiền chiến Vũ Hoàng Chương: Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ rồi sống bây giờ mà mượn bóng dáng, hình ảnh tâm tưởng, ngôn từ cũ để diễn tả lại cái mới của chúng ta. Đó là sự thiệt thòi, nói chung và cả nói riêng đối với Thanh Nhung. Tin tưởng rằng sẽ có một Thanh Nhung mới mẻ - nên những bài thơ khen và không khen trên đây, với người nữ Thanh Nhung chỉ là một cái đà bước tới.
10- TUYẾT LINH
Tuyết Linh là một trong ba người nữ có in hình chân dung trong tập thơ Hoa Mười Phương. Dáng người như dáng thơ rất là nữ tính, có những nét mềm mại, thơ tâm sự buồn thoảng, gợi lên từ đôi mắt mây thu. Trước khi góp mặt vào thi tuyển trên, cô đã có một số bài thơ đăng trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, tạp chí Giáo Dục Phổ Thông vào những năm 1958, 1959 như : Buồn, Cầu Khẩn, Riêng Tư, Vào Thu, Chiều, Thổn Thức, Chiều Ơi Tâm Sự vv… Tuyết Linh chưa tạo cho mình một trường thơ riêng, song trong thơ có bút pháp tân kỳ, tài hoa đầy triển vọng - đúng là một nhà thơ nữ có tâm hồn! Tôi giới thiệu để không muốn đời vô tình quên Tuyết Linh ngay từ bước đầu vào làng thơ hôm nay.
Hẳn tôi có đôi chút khắt khe, xét nét với người thơ được giới thiệu - nhất là nữ, đối với chính bản thân tôi, người thân, bè bạn gần gũi. Nếu một người thơ nam có khả năng, nghệ thuật thơ tầm cỡ như Tuyết Linh, chắc chắn tôi đã tự buộc tôi nhường đất cho một nhà thơ khác được đề cập đến. Lẽ dĩ nhiên sẽ không giống như hiện tôi đang làm việc giới thiệu như bây giờ.
Nói vậy, hẳn nam giới, có bạn cho tôi đặt cảm tình nghiêng về nữ giới nhiều hơn. Tôi không chối cãi hoàn toàn, nhưng không phải hẳn vậy đâu, lẽ là thân con gái đáng quí, càng quí hơn là có tâm hồn thơ (vì hiện nay con gái mất nết nhiều như thế này!), Tuyết Linh lại có tâm hồn của một người thơ nữ nhậy cảm, nên tất nhiên càng không thể khe khắt. Trong bất cứ ngành nào, người nữ vẫn cần được khích lệ, quí hoá, đặt lên ngôi vị cao. Như ca dao đề cập đến thuở nào: Ba trăm một vị đàn bà, còn đàn ông thì ba đồng một chục đàn ông. Nên có ai trách cứ, tôi vui lòng; cho rằng đây là quan niệm lạc hậu, tôi cũng xin vâng, kể cả không đặt vấn đề nam nữ bình đẳng. Vì thế, với nhà văn nữ tài danh của Pháp, như Simone de Beauvoir qua Les Mandirins được nhắc ở trên kia chẳng hạn, tôi cho là hay - nhưng nếu là phái nam; chưa hẳn tôi đã cho là đáng nói đến! Cũng vẫn viện lẽ đó, tôi thừa nhận những bậc tài hoa lập quốc, hoặc lập thuyết từ xưa đến nay- nếu có - chắc không phải do người nữ tạo nên hết cả.
Trong ngành văn chương, tiếng nói người nữ còn là một điều tối ư cần thiết, không ai hiểu phụ nữ hơn là phụ nữ, khi chính họ có tài năng bầy tỏ về mình. Với Tuyết Linh, tình yêu vẫn là chính yếu, qua hầu hết những bài thơ mà tôi đã đọc hoăïc đăng trên báo chí, thì lớp người nữ trên dưới hai mươi này, chẳng mấy ai có thể nói khác qua thơ tình yêu, tuổi trẻ, và khác cái tôi (xin hiểu khác: đây là quốc gia xã hội, đồng loại) mà vẫn chỉ thêm một cái phụ thuộc khác mình cùng hoà đồng - là thanh niên, người yêu bên cạnh. Như ở đây:
… Ồ như có gió lâm hành
Có cây thóc mách rằng mình bâng quơ
Để mình mình lại vu vơ
Để mình mình lại bơ phờ dại chưa?
Quả là tâm hồn người nữ bầy tỏ thực sự, ý thơ mang một đôi nét nhõng nhẽo mà ta chỉ tìm thấy trong tâm hồn người nữ khôn ngoan, sắc sảo, nhưng cũng không loại bỏ sự dại khờ! Thơ Tuyết Linh không phải là có ngôn từ mới hoàn toàn đâu, nhưng người đọc vẫn muốn nghe, vẫn muốn được biết chắc chắn lời thơ kia thốt trong chính hàm răng ngà ngọc, của đoá môi hồng mấp máy, của trái tim hồng máu nóng. Còn nữa, hình ảnh đầy vóc dáng mềm mại qua lối so sánh thơ rất ngây thơ, lại rất có duyên:
… Toa lòng nên chẳng hẹn ga
Gặp người mới một chuyến mà vấn vương
Mây chiều chở gió ngàn phương
Ngẩn ngơ tôi đếm phong sương cuộc đời
Mới hai mươi mốt tuổi trời Mà trong hồn lắm ngậm ngùi đi qua …
Chính tôi, người đọc cũng cảm nhận ngay được rằng, lời thơ đó thực tình lắm, một người thơ nữ tỏ bầy tình cảm mình đang bị nỗi niềm yêu đương vò xé rất thầm kín, rất bâng quơ - mà chẳng thể dối lòng mình đã xúc động, đó là thơ hay.
Và, Tuyết Linh rất nhẹ tay trách móc qua những vần thơ dưới đây, cô chịu ảnh hưởng không ít ngôn từ, âm thanh, vần điệu của Hàn Mặc Tử, hay là Huy Cận. Lối nhìn đời của cô có nét sầu cổ độ, chán chường kiểu Huy Cận tiền chiến, đúng hơn:
… Ai ai đó! Tôi cúi đầu cầu khẩn
Này giùm đi thôi, lòng tôi quá nặng
Bởi sầu đau, bởi vị đắng cay chua
Của trăm ngày, vỡ lở mộng tình say
Hồn lưu lạc chưa hẹn về một bữa…
Nó mang cảm nghĩ của Ai chết đó nhạc sầu chi lắm thế! (Huy Cận) hoặc đôi chút hình ảnh thơ Hàn Mặc Tử khi đối đáp với Mộng Cầm, pha đôi chút nhỏ nhoi tình chết cuồng si Xuân Diệu. Kể ra khi lý luận, so sánh thơ Tuyết Linh cũng thấy được thơ cô có một không khí thơ là lạ, nhưng đúng ra là thơ còn non tay nên phảng phất sự ngây ngô, chẳng đến độ khổ đau như thực có, để chưa phải cầu khẩn đã khẩn cầu, vì tình kia chưa góp về một mối. Thơ cô vẫn chưa hết chịu ảnh hưởng hương thơ Xuân Diệu ngày xưa, gió hôn lá, mây theo trăng và vơ vẩn cùng mây / bươm bướm vàng về qua hoa lá (?) kiểu Nguyễn Bính; nhưng thơ khinh bạc của Tuyết Linh lại vẫn chưa vượt Hà Phương, ngưới thơ đồng lứa tuổi:
… Nhẹ nhàng gió lại hôn trên lá
Lá giận buông mình sương rụng lây
… Bươm bướm từ mô tản mạn về
Chập chờn hướng mộng áo nhung khoe
… Qua vườn cũ ai nỡ làm thơ nhỉ?
Ai nỡ đầy hoa đến xứ hờ?
Cũng vẫn chưa não nùng sầu thảm thực sự như thơ T.T.Kh, chưa gieo vần già dặn lão luyện như thơ Ngân Giang, và cũng chưa triết lý bằng Mộng Sơn:
… Thôi đã hết rồi tuổi biết nhau
Đã xa xôi hẳn buổi ban đầu
Thì ai còn nhớ người năm trước
Mà giết giúm tôi những khổ sầu
Rồi có khi nào người nhớ tôi
Nhớ tình duyên trước đã xa xôi
Nhìn mây trắng lạnh bên thềm gió
Nhưng bảo tình ta đã chết rồi! …
Xã hội hôm nay, kể cả tình yêu cũng bị so kè, tính toán chi ly, chẳng cứ gì người nữ mà thôi, cả đến người thơ nam còn tính toán, so kè gấp bội! Thì yêu chỉ là khoảnh khắc, có dăm ba người tình rồi lại giã từ cho là lẽ tất nhiên, nhưng lại nói là tình cờ, bỏ bê không lý do… nghĩa là, tất cả đều mất hết ý nghĩa trung thực, đam mê, thử hỏi rằng xã hội, trong đó có những câu thơ tình được gọi là tha thiết, thủy chung, tin cậy, hẳn làm sao có được! Khung cảnh lá hoa dầu đẹp, đáng mộng mơ chừng nào cũng vẫn chỉ là màn kịch đang diễn trên sân khấu, nó thực đấy mà thật ra không thực đấy, lại có thể thực hơn là thực:
… Là thuở tình ta mê say lắm
Yêu một người và tính chuyện thủy chung
Ta đâu biết tình ta là cơn gió thảm
Lọt qua hồn cho mộng đẹp lao lung
Nên một bữa người chưa gần vội
Lìa xa ta không một tiếng giã từ
Đường xa mà người đi không ngoảnh lại
Mộng bàng hoàng rõ nhẹ mấy âm dư
Tất cả đều giả tạo, chân thành man trá, thương đau hững hờ, sầu ngoài chân tóc, trái tim. Trong cái xã hội đầy sự chung chung đó, làm sao Tuyết Linh thoát ra cho được:
… Và tuổi trẻ vội đi tìm vị trí
Xếp tàn phai theo ngày tháng lớp lang
Xuân vẫn đẹp nhưng lòng ta đã xế
Vui dửng dưng chờ lúc đến thiên đàng…
Thơ của cô chưa có một ngôn từ riêng biệt, bản sắc độc đáo, nên đành xin ngưng lại. Người viết mang một hy vọng tầm thường ở hàng chữ này: Tuyết Linh có vóc dáng thơ mềm mại, tâm hồn đa cảm, thơ cũng khá rung động - tuy chưa hẳn hoàn toàn sâu sắc hết!
11- TRẦN DẠ TỪ (Lê Hà Vĩnh, 1940 - )
Bắt đầu vào làng thơ bằng bút hiệu Hoài Nam, và có tên thật là Lê Hà Vĩnh, sinh 1940 ở miền Bắc. Những bài thơ viết theo lối thơ mới có, bảy chữ có, lục bát cũng có. Một điều đặc biệt là thơ Hoài Nam ban đầu rất ư là Nguyễn Bính, thường đăng trên Văn Nghệ Tiền Phong, từ 1957. Thời gian sau, thơ Hoài Nam lại chịu ảnh hưởng một nhà thơ khác, Hữu Loan, nhất là bài Màu Tím Hoa Sim, gần như Hoài Nam sao lại hình-tượng-ý-thơ-đời-sống từ lớp người thơ kháng chiến. Có thể đây là một cách lấp trống thiếu hụt trong thơ của người trẻ trên dưới hai mươi bây giờ chăng? Bài thơ bảy chữ như Trông Lại, tư tưởng và kỹ thuật rất thấp, cứ cho là khởi điểm không thể cao hơn đi - nội dung thơ lại lãng mạn rẻ tiền, thơ chắp vá. Qua giai đoạn khác, Hoài Nam làm thơ tranh đấu kiểu tuyên truyền lại càng thấp hơn, đem ngòi bút làm thơ cho có lập trường chính trị để nuôi thân (thời kỳ 1958, Hoài Nam đăng thơ trên báo quân đội Cây Mai vv… chẳng hạn). Đến 1959,60,61 Hoài Nam thay đổi bút danh là Trần Dạ Từ, loại bỏ hẳn thời kỳ ấu trĩ Hoài Nam và tạo lập cho mình một đời thơ nghệ thuật. Thái độ can đảm này như người đọc đã nhận thấy, anh từ bỏ chặng đường thơ đặt hàng có lập trường, để coi nghệ thuật là cứu cánh cho sự nghiệp của anh hình thành. Từ giai đoạn này, Trần Dạ Từ tạo cho mình một chỗ đứng, thơ chuyển sang hiện sinh nhưng là lối bắt chước hiện sinh Tây phương - đối với Trần Dạ Từ lại là hiện sinh nửa vời, phi lý không lý do, công thêm lối thơ dadaisme, utopisme, obscurantisme của Pháp đầu thế kỷ này. Sau, qua những đợt thơ bị tiêm nhiễm, chưa biết con đường thơ của Trần Dạ Từ đi về đâu?
Tôi lược bỏ giai đoạn một, hai của thơ Hoài Nam. Đi ngay vào phần phân tích thơ có mục đích tạo sự nghiệp thơ nghệ thuật của Trần Dạ Từ . Anh làm thơ rất nhanh, nhiều, dễ dàng. Sự tự phong cho anh có niềm kiêu hãnh, ai mới vào nghề cũng phải trải qua. Ngày xưa Nguyễn Bính từng được nhắc nhở như là một nhà thơ học thức kém, nhưng sống nhiều mặt của cuộc đời, giầu kinh nghiệm, tình yêu, tình đời và có nghệ thuật thơ nên thơ Nguyễn Bính làm mê đắm người đọc, nhất là giới bình dân. Nhưng từ 1945, Ngày Lớn bùng nổ, làm Nguyễn Bính có thay đổi cả đời và thơ, nhưng lối thơ diễn tả vẫn là lục bát nhiều hơn.
Trở lại với Trần Dạ Từ, một số bài thơ đăng báo hôm nay rất điêu luyện, ý dồi dào, tứ mới lạ, nhưng thơ rất ẩm ướt chốn khuê phòng, cũng như lối thơ gọi là tranh đấu nhưng vẫn chưa hết tâm trạng được đăït hàng qua một số bài thơ có mặt trên báo chí. Hiện tại, như tôi trình bày ở trên, Trần Dạ Từ bị tiêm nhiễm bởi hiện sinh Tây phương, chứng tỏ người thơ có trình độ trí thức, nên thơ anh sặc mùi nôn mửa hiện sinh, theo chân những người thơ đi trước làm thơ đăng trên tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo. Cái lối hiện sinh theo đuôi, không có kinh nghiệm, tư tưởng của chính bản thân mình thoát thai, cứ như triết gia văn sĩ J. P. Sartre đi - còn chấp nhận được - nhưng ở đây là hiện sinh theo đòi, chỉ là một lối snobisme. Tôi không hiểu rằng đó có phải là một lối-thoát-bế-tắc nên giả tạo, đầy ảo tưởng, mà sau mỗi thời kỳ chiến tranh, sự chán chường nửa vời kia, vì không có lý tưởng thực sự đeo đuổi, đành phải bám vào để tự che giấu chính mình, làm bảnh với chính mình trước, để có thể sống cho là hiên ngang bề thế! Cái lối hiện sinh, tạm gọi là theo đuôi kia liệu còn kéo dài cho anh nương tựa được bao lâu? Ấy là tôi chưa kể đến nội dung thơ buồn nôn nửa chừng, chán yêu bằng nửa đốt tay, tạo cho họ chỗ đứng nào thực sự trong văn học, nhưng trước mắt tạo một tiền lệ hư xấu cho lớp sau, cùng họ bám víu vào đấy để kéo dài sự vinh quang giả tạo, điên cuồng! Các tạp chí nào đã đăng lối thơ phi lý hiện sinh ấy? Xin thưa, đó là tờ báo của mấy ông nhà văn sống thì so đo, chiu chắt từng đồng viện trợ, chia xẻ rất ít cho anh em (tôi nói đến cách họ đối xử với nhà thơ Quách Thoại được rêu rao là cùng băng nhóm, sống chết có nhau), nhưng trong văn chương lại tỏ ra lý tưởng hão, nửa vời, đầy tính hung hãn phá phách kiểu hiện sinh, sống hôm nay biết hôm nay, mai chết bỏ, dầu là bỏ ở ngoài đường.
Ấy, hiện sinh nửa vời ở Việt Nam (Nam) là như thế! Trần Dạ Từ cùng một số lớp trẻ như anh, chập chững theo đi làm văn thơ, đẽo gọt ngôn từ cho kêu, tiện dũa âm thanh hóc hiểm, ý tưởng hũ nút, chỉ nói đến thơ lục bát của anh bắt chước âm thanh ma qúai học đòi từ Cung Trầm Tưởng. Trần Dạ Từ chịu rất nhiều ảnh hưởng thơ lục bát C.T.T nên khi đọc thơ dễ nhận ra ngay sự chắp vá, tí ti hiện sinh, tí ti cách mạng, xin xỏ đấu tranh kiểu cải lương, theo đòi vô chính phủ kiểu André Breton ( cũng là người đi sau tiếp nối gót Thanh Tâm Tuyền, dịch thơ Breton trước lấy ý; làm bài thơ thứ hai là của riêng). Như vậy từ thơ André Breton qua Thanh Tâm Tuyền rồi đến Trần Dạ Từ đã qua tay ít nhất tới hai lần rồi (§)
Vốn văn hoá Tây phương của anh rất mỏng, trước họ lớp ba mươi, đa số cũng đã mỏng rồi! Không trách vốn học thức thấp hay cao, nhưng trách ở chỗ thấp mà làm ra cao, tư tưởng thấp như ngọn cỏ, lại tưởng chừng cao trên ngọn cây to, hãy nhìn thi ca của họ đăng trên Sáng Tạo, Thế Kỷ 20 thì rõ. Nhớ lại một họa sĩ, anh Ngọc Dũng, cũng làm thơ chiêm bao: nào là hơi thở vẫn rì rào đến buổi chiều ấy bơ vơ như gạch ngói, đúng là quái thai thơ! Nếu nói là hiện tượng voyou thì quá! Họa sĩ Duy Thanh qua tập truyện ngắn Thằng Khởi cũng không hẳn là quái thai song văn chương tạo được một hiện tượng được coi là lạ! Thơ Ngọc Dũng, văn Duy Thanh, theo tôi, nên coi là vắng; vì họ sinh ra chỉ để Ils sont nés pour la peintre, chứ khó là một Văn Cao thực sự tài hoa cả nhạc, họa, thơ, kịch - trường hợp Văn Cao mới đúng là hiện tượng spectaculaire !
Tôi rất quí và trọng tài họa của Ngọc Dũng và Duy Thanh, cũng như đối với thơ Trần Dạ Từ, thơ của chính rung cảm đời thơ của anh thật đáng phục, nhưng bắt chước thơ lục bát Cung Trầm Tưởng (cách diễn đạt, âm thanh, ngôn từ, tiết tấu) nói như một bạn văn khác, gọi C.T.T là một Bà Huyện Thanh Quan mới của lục bát. Thực ra, thơ lục bát của C.T.T đôi câu rất lạ, rất hay, rất cảm, nhưng với Trần Dạ Từ trở thành non tay, vụng ý, làm dáng văn chương nhiều hơn là sáng tạo! Âu đó cũng là sự đua đòi bắt chước và đó không phải là réminiscence đối với Trần Dạ Từ. Đọc một hai câu thơ lục bát của Trần Dạ Từ như:
… Cây ngùi bóng cả đôi hiên
Chiều vơ ngõ lụn, tay phiền giấc trưa (§)
Thực chất thơ Trần Dạ Từ, theo tôi, một số bài như Thơ Tình Tháng Sáu, Nhã Ca… và một vài bài ký tắt T.T.N.C (§) đăng trên tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa. Đấy chính là bản sắc thơ độc đáo của Trần Dạ Từ, điều này chứng tỏ, sau một thời gian thử nghiệm, anh đã tìm cho mình một bản sắc thơ độc đáo. Dưới đây trích dẫn hai bài thơ hay của Trần Dạ Từ.
© Trích thơ Trần Dạ Từ:
I- NHÃ CA

bây giờ ngày đã hết
ban đêm đương bắt đầu
chỉ còn lại mình anh
và trái đất cằn khô
bây giờ tháng đã hết
mùa đông đương bắt đầu
chỉ còn lại mình anh
và tiếng nói hư vô
bây giờ năm đã hết
thời gian đương bắt đầu
chỉ còn lại mình anh
và nốt nhạc cô đơn
bây giờ thôi đã hết
lãng quên đương bắt đầu
chỉ còn lại mình anh
và nỗi nhớ nhung đen
II- THƠ TÌNH THÁNG SÁU
Mộng sẵn sàng rồi lòng trong sạch đó
Em ngồi đây coi giùm anh giấc ngủ
Chiều hôm nay, trời sực nức hương thơm
Lá biết dong chơi, cây biết giận hờn
Đôi cánh ăn năn dịu dàng khẽ vỗ
Bỗng nhiên thôi từng ấy lượt đi về
Tóc đã dài hẹp trán say mê
Thân đã duỗi quá xa tầm vóc cũ
Em ngồi lại coi giúm anh chút nữa
Ôi những ngày không viết một bài thơ
Bao nhiêu đêm nằm với ngực mơ hồ
Bao nhiêu sáng dậy nghe đời xế lụi
Vâng lòng tôi đấy, dại khờ bé bỏng
Bấy nhiêu ngày, ăn chửa hết cô đơn
Bấy nhiêu thơ, không nói, để trong hồn
Bấy nhiêu đó, không ai nhìn thấu cả
Em ngồi đây, ngồi sát nữa, người thương
Kìa những ngày thơ rụng đổ chân tường
Em vẫn sống như những chiều bãi biển
Anh vẫn đẹp như những giờ em đến
Thơ có đầy vơi vẫn đủ nuôi sầu
Tay có khổ mình vẫn vuốt ve nhau
Xếp giùm trán, hôn giùm môi và hát
Nỗi vui đó anh chờ em sắp đặt.
TRẦN DẠ TỪ
12- VIÊN LINH
(Nguyễn Nam, 1938 - )
Cũng vào khoảng 1956-57, sự xuất đầu lộ diện của một số người thơ trẻ Saigon, có thể nói là điển hình, thì vào thời gian ấy, họ góp mặt trên thi đàn, đăng thơ trên báo Văn Nghệ Học Sinh của Lê Bá Thảng, Văn Nghệ Tiền Phong của Hồ Anh và một vài tờ báo khác nữa. Hoài Nam buổi đầu vào làng chịu gục đầu khuất phục lục bát Nguyễn Bính bậc thầy thì VIên Linh làm bài thơ Mây Giăng (1957) mang ý thơ Nguyễn Bính (cả giọng thơ và cách kết cấu bài thơ). Như Chắt Chiu (1958) sẽ trích ở cuối bài. Đây là một đôi dòng :
Mai về Ba Động cùng anh
Cho mây vàng nắng cho xanh ân tình
Cho anh sang cưới cô mình
Cho bươm bướm cũ tự tình dưới hoa
hoặc bài thơ Bài Ca Thư Sinh mượn ý Thâm Tâm, hoặc Tăm Tắp 10 Ngàn Chín Trăm cũng chưa phải là thực chất mang bản sắc thơ Viên Linh.
Viên Linh có tên thật là Nguyễn Nam, sinh 1938 ở Hà Nam (Miền Bắc). Anh có khác Hoài Nam (hay Trần Dạ Từ về sau) là không làm thơ đặt hàng ca tụng chế độ, đúng lập trường, dễ đăng và dễ nổi hơn. Có lẽ, Viên Linh nhờ có gia đình đùm bọc, đúng hơn, anh có bản năng tự trọng trong ý thức đời sống làm văn nghệ hơn Hoài Nam. Khoảng thời gian từ 1959 đến 1961, Viên Linh làm thơ lục bát, mô phỏng cách diễn đạt lục bát Cung Trầm Tưởng. Nhưng trong thơ Viên Linh cũng có những câu thơ đẹp, từ hình ảnh, tứ thơ, ngôn từ, như: Anh đi gió núi mưa đời ru em/ nửa chì nửa đục nửa băng đá hờn (Tình Ca 2 và Ngoại Ô của Cung Trầm Tưởng) sang đến thơ lục bát, âm thanh, từ ngữ tân kỳ lạ tai, nhưng chưa thoát được ý non dại bước đầu - bởi cái chính: ý thơ khô không phải của chính tác giả. Chẳng hạn, hầu hết thơ lục bát của Viên Linh, như bài số 73 là điển hình:
Thôi tôi giao lại cho người
Ga đêm lẻ đợi bến vui nằm chờ
Cây rù bóng tối đi đo
Buồn thanh niên đứng co ro phố dài
Thời gian đón tiếp tương lai
Đêm đang rời rã bên ngoài hành lang
Với chim di rét từng đàn
Tôi đi nốt cuộc truy hoan buồn buồn
Biển nằm dỗ mộng thùy dương
Non cao lộ nhỏ dừng cương muốn về
Ở câu 3 và 4 bài thơ trích dẫn trên đây, ý thơ ngây ngô, gượng gạo, chỉ vì cố tìm ngôn từ mới, âm thanh lạ để ghép vần - thơ trở thành chắp vá cho đúng niêm luật - đó là sự vô nghĩa tòan diện, cả bài thơ có nói lên được điều nào cho ra điều nào đâu? Chất thơ xây cất bằng vật liệu ngụy tạo, nôm na hơn là thiếu rung cảm thực của tác giả, thơ chưa đủ độ chín làm rung động người đọc và chính tác giả nữa! Nếu ta quan niệm thơ là động lực tác động làm rung cảm con người thì điều này không có trong bài thơ này.
Xét về mặt tứ thơ, chẳng có gì gọi là mới mẻ, xét về cách kết cấu từ nhạc điệu, tiết tấu, ngôn từ toàn bài chưa có gì gọi là chỉnh bị một bài thơ vượt người đi trước mà anh mượn đà (CTT và lục bát Tình Ca 2 và Ngoại Ô) và xét về ý khinh bạc, chỉ đạt được một phần rất nhỏ cái ngông nghênh của kẻ giang hồ vặt. Cũng nói thêm, đôi chút âm thanh lạ tai nhưng chưa đồng nhất, thành thử âm thanh lạ tai kia bị nghe với cảm giác rất ngái!
Tôi chưa rung động khi đọc lục bát của Cung Trầm Tưởng, mới chỉ cảm được thơ anh đẹp như một bóng mây thoáng qua, hay như một cánh chim lượn trên không trung với niềm vui thoảng - cuối cùng chẳng còn giữ được nhiều trong lòng, kể cả say mê!
Như vậy với thơ Viên Linh, người mô phỏng theo thơ lục bát Cung Trầm Tưởng, hẳn không tạo được một sự rung cảm. Bây giờ bước qua lối thơ được gọi là tượng trưng, tôi cố tìm bản sắc thơ tượng trưng của anh, nhưng vẫn chưa thấy, mà ở thơ Trần Dạ Từ, tôi còn thấy phảng phất qua nhiều bài như Thơ Tình Tháng Sáu, Nhã Ca. Với Viên Linh, qua Dạ Khúc 2, Khi Người Chết, Một Hồi Sau, Kết Cuộc, Lớp Học, Tháng Soan Tây… chưa mang lại cho tôi một hồi cảm về cái gọi là thơ tượng trưng của Viên Linh. Phải nói là không phải tôi chỉ đọc thơ một lần, mà rất nhiều lần, của nhiều lúc khác nhau. Chất thơ tượng trưng của anh phảng phất buồn một cách bàng bạc, mơ hồ, lờ mờ. Đó là giai đoạn thơ Viên Linh cho đăng từ 1958 đến 1961. Tôi trích bài thơ Kết Cuộc, nhưng nếu phải tỏ bầy về cảm tưởng, thì chưa phải lúc, kể cả dự đoán tương lai nhà thơ Viên Linh, với tôi, cũng vẫn là chưa.
Nói cho rõ hơn, tại sao tôi lại đề cập đến nhà thơ này trong số 12 nhà thơ trẻ tài hoa? Xin thưa, tâm hồn thơ Viên Linh chưa vỡ luống, anh có phong độ một nhà thơ lớn chưa hoàn hảo, còn nghệ thuật thì chưa làm rõ nét bản sắc, nhưng đúng anh là một thi nhân có tài. Chỉ có một điều, hiện nay, Viên Linh chưa phô bầy được cái tài mình có, rất có thể vốn sống chưa đủ sâu sắc, hay là chưa kịp chín nhịp độ cao để triển khai cảm nghĩ - và giờ này thơ anh chưa đủ sức mạnh đứng đầu gió, nhưng phải tin là sẽ có ở một ngày nào đó ở ngày mai. Viên Linh khi ấy hẳn là một nhà thơ có bản sắc riêng, độc đáo.
Toa tầu thơ thì nhiều, thiếu đầu máy kéo rúc chạy, chuyển bánh khởi hành. Tôi còn yêu Viên Linh qua một truyện ngắn mới đăng trên báo chí, truyện nói về đời sống một nhà giáo bất đắc dĩ, với ngôi trường xây dựng trên miền đất đỏ Ban Mê Thuột. Ở khía cạnh này, tôi tin Viên Linh sẽ là nhà văn nổi tiếng hơn thơ hôm nay.
© Trích thơ Viên Linh:
I- CHẮT CHIU

Gặp mình trên biển Nam sang
Buồn cao ngun ngút qua ngàn dâu xanh
Ngày xưa sao cũng xin đành
Mình đi thì để một mình mình vui
Nhìn nhau không nói không mời
Chắt chiu mười mấy năm rồi mình ơi
Tôi đi cùng 9 phương trời
Tôi mang theo một phuơng trời có em
Có sân trường lúc gió lên
Có người xưa ở trên thềm giải ranh
Vàng chiều xao xuyến bay quanh
Ngừng tay vơ sỏi nhiều nhanh lên mình
Mình mời cho gió mênh mênh
Cho hồn tôi cũng mênh mênh quá ngàn
Hết ô mình lại ăn quan
(Có 5 ao cá thua nàng cả 5)
Hết quan thì tàn đến dân
Tôi thua xin để tôi cầm bàn tay
Nợ nần chưa trả đã vay
12 năm ấy hôm nay gặp nàng
Sầu chiều lên bến Nam sang
(Người xưa giờ đã con mang con bồng)
Mùa xuân rượu đỏ pháo hồng
Mình đi pháo tỏ cho long xác chàng
Gặp mình hoa võng hôm nay
Thì xưa cho chuộc bàn tay đã cầm
Hết quan thì tàn đến dân
Có 5 ao cá đã cầm cả 5
Gói khăn lên núi tôi nằm
Nửa đêm giở giấc xin trăng gió về
Mai chiều in bóng em đi
Trối trăn thì có ra gì phải không?
Để mình nay bắc mai đông
Tấp tênh lên mái cửu trùng tiễn ma
Tháng giêng tôi bước lên chùa
Trông lên 9 bậc xem ma yêu mình
Vua yêu vua mới trao quyền
(Vua yêu vua để cả tiền mình tiêu)
1958
II- KẾT CUỘC
Sự tầm thường như sóng biển nô đùa
trên bãi hoang liêu những mùa nước lớn
một con chim nhỏ lỡ quá ra khơi
đáp xuống nơi nào yên thân nằm lại sức
tôi hằng lẩm bẩm những khi tối trời
sự sợ hãi và lo âu tới đó
ngày rên rên du những cánh tay
Khép nhỏ vòng ôm rút lần hy vọng
cho tới xế buồn khi cho tới cuối đời
hai tay mình ôm thân mình thôi
những đốm thuốc đỏ thắp đêm khuya
âm ỉ cháy đốt thêm ngày tháng nữa
thời khắc ghi bằng tiếng trống khua
và hồi âm những đớn đau cầm canh một kiếp
điều tri thức nào kết bền chứng tỏ
tôi chẳng đáp xe đò lên thị trấn tôi
và công chuyện bắt đầu như thường lệ
bỏ lại đàng sau niềm vui mới truy hoan
quên quên hết hoặc giả đò quên hết
rồi ngày mai tiếp tục sự luân lưu
sách vở chỉ là kẻ nhắc tuồng quá lố
khi cuộc đời tôi là tấn kịch cương
con chim có cánh thì đã bay lên
và mảnh ván thân tầu kia trôi băng theo dòng nước lên.
6/1960
(Trích tạp chí Thế Kỷ 20)
VIÊN LINH
Đường Bá Bổn
Theo https://vietvanmoi.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Truyện cái giường

Truyện cái giường Tôi là một cái giường hư bỏ trong nhà chứa đồ cũ. Tôi buồn lắm. Cái nhà nhỏ như một cái hộp lớn, tồi tàn, dơ bẩn, bụi đâ...