Phần Một
Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình Thiên Chúa Giáo. 1954 đất nước chia
đôi, biết trước rằng sẽ không sống nổi với Cộng Sản, thầy mẹ tôi dắt cả gia
đình di cư vào Nam. Hồi ấy tôi mới được một tuổi nên chẳng biết gì.
Theo lời nói của những người thời đó thì gia đình tôi thuộc đạo dòng. Chữ
"Đạo Dòng," luôn luôn được nói bằng một giọng hãnh diện, dùng để chỉ
những người sinh ra trong một gia đình đã là Công Giáo rồi, khác với chữ
"Đạo Theo", dùng để chỉ những người mới theo đạo.
Từ thuở chưa có trí khôn, tôi đã theo thầy mẹ đi tham dự thánh lễ. Khi có trí
khôn, tôi đi tham dự thánh lễ hàng ngày. Buổi tối, gia đình quây quần bên nhau
đọc kinh trước khi đi ngủ. Ngày Chúa nhật thì buổi sáng đi lễ, buổi chiều còn
đi chầu và tối đọc kinh lâu hơn thường lệ. Ngày lễ Giáng Sinh, tức này Chúa
sinh ra đời thì khỏi nói, gia đình chúng tôi bận rộn như một cái nhà dòng nhỏ.
Ngay lúc chưa có trí khôn, tôi đã được thầy mẹ mớm vào đầu một tư tưởng quan trọng:
"Làm linh mục là một tương lai, một chức phận cao quý nhất trên đời
này." Thật ra, thầy mẹ khỏi cần phải mớm thì tôi cũng biết việc này qua những
sinh hoạt hằng ngày của gia đình tôi. Trong nhà, những gì quý nhất, những món
quà đắc tiền nhất, những món ăn ngon nhất đều dành cho các linh mục. Khi có một
ông cha đến nhà chơi, thầy mẹ tôi luôn luôn đối đãi họ như những vị thượng
khách quý hoá nhất đời này.
Hàng ngày đi tham dự thánh lễ ở nhà thờ, nhìn các linh mục đạo mạo trong những
bộ lễ phục sang trọng và đẹp mắt càng làm cho tôi say mê muốn làm linh mục hơn
nữa...
Tôi không nhớ cái quyết định đến với tôi lúc nào nhưng khi tôi có trí khôn thì
cái tư tưởng muốn làm linh mục đã bốc rể trong linh hồn, trong đầu óc tôi. Tôi
nhất định phải làm linh mục.
Tôi muốn dâng hiến cuộc đời hèn mọn của tôi để phục vụ và vinh danh Thiên Chúa.
Năm 11 tuổi, tôi từ giã gia đình vào chủng viện để thực hiện giấc mộng lớn nhất
đời mình. Từ đó, cuộc đời tôi bước vào một thế giới khác, nằm trong bốn bức tường
của chủng viện Saigòn. Những gì xảy ra ngoài 4 bức tường chủng viện, tôi hoàn toàn
không biết tới. Ngay cả chuyện gia đình tôi làm ăn ngày càng khấm khá, trở
thành một trong những nhà xuất nhập cảng đồ phụ tùng xe hơi lớn nhất Việt Nam,
tôi cũng chẳng hề để ý đến. Tôi chỉ để ý một điều là nhà tôi cứ vài ba năm thì
lại đổi nhà một lần. Từ nhỏ cho đến lớn rồi đến lớn hơn nữa. Căn nhà cuối cùng
mà thầy mẹ tôi dọn vào là một căn biệt thự đồ sộ 25 phòng xây theo kiểu kiến
trúc mới do kỹ sư từ Hoa Kỳ về vẽ kiểu nằm trên đường Hồng Thập Tự, ngay tại
trung tâm thành phố Sài-Gòn. Theo lời người ta nói, căn biệt thự của nhà tôi là
một trong rất ít những căn biệt thự có trang bị hệ thống máy lạnh tối tân nhất
thế giới.
Chưa hết, trong căn biệt thự nguy nga đến choáng váng mặt mày này, xe cộ, toàn
là những loại xe mới tinh và đắc tiền, chở những người ăn mặc sang trọng, những
ông tướng tá ra vào thường xuyên. Họ là những người bạn của anh tôi, hồi ấy tôi
không biết đóng đến quan chức gì nhưng trên cổ áo có đeo đến mấy ngôi sao bạc.
Gặp anh, tôi thường đùa, bảo "nhìn thấy anh là em lại nhớ đến cây Noel lễ
Giáng Sinh."
Người ăn người làm trong nhà cũng nhiều hơn, đếm không xuể. Không hiểu tại sao,
tôi lại chẳng bao giờ để ý đến những thứ tiện nghi trần thế này. Trong nhà luôn
luôn có đầy những sơn hào hải vị chất đầy trong mấy cái tủ lạnh nhà trên nhà dưới
nhưng tôi chẳng bao giờ thích ăn những thứ này. Tôi thích ăn cơm với cà pháo,
cá chiên hoặc tàu hủ là những thứ mà hồi còn nhỏ tôi rất ghiền. Ở trong chủng
viện không có những thứ này nên tôi thích lắm. Chuyện ăn mặc cũng thế, tôi luôn
luôn giản dị, hàng gì cũng mặc được, không cần phải hàng nhập cảng như những
người cùng tuổi tôi thời đó say mê.
Nói tóm lại, có thể Chúa dựng tôi ra như thế để trở thành một đầy tớ của ngài
vì tôi sống rất đơn giản. Nhưng phải thành thực mà nói, sự giàu sang của gia
đình là một phần thưởng mà tôi không thể chối cải được. Hãy lấy một thí dụ như
nhà cửa mình ở. Trời Sài-Gòn buổi trưa nắng chang chang, bước ra ngoài đi một
vòng là mồ hôi đã đổ đầy người mà ăn trưa xong, được bước vào phòng ngủ có máy
lạnh ngủ một giấc thì không còn gì sướng hơn. Thỉnh thoảng, muốn giúp đở ai,
như bạn bè cùng lớp kém may mắn hơn tôi chẳng hạn. Tôi chỉ cần nói với mẹ tôi một
tiếng là người đưa ngay cho tôi một xấp bạc toàn giấy năm trăm đồng để giúp đỡ
cho bạn bè tôi. Dĩ nhiên là còn nhiều điều nữa nhưng tôi không thể nói hết ở
đây.
Sau tiểu chủng viện, tôi vào Đại chủng viện và sau nhiều năm trời học tập và thử
thách, năm 27 tuổi, tôi được thụ phong linh mục...
Buổi tối trước hôm chịu chức, tôi không thể nào ngủ được. Tôi quỳ trong phòng cầu
nguyện cho đến nửa đêm rồi bước ra ngoài, đi bộ một mình lang thang trong khu học
viện vắng lặng đang ngủ im trong màn đêm. Tôi đếm từng hòn đá, hỏi han từng bụi
cây quen thuộc, những vật vô tri giác mà tôi đã nhìn thấy mỗi một ngày suốt mấy
chục năm qua. Người sắp đi xa nhìn đi đâu cũng thấy toàn những kỷ niệm...
Tôi ngồi xuống một ghế đá gần tượng Đức Mẹ và suy ngẩm lại cuộc đời mình. Vừa
suy ngẩm tôi vừa lẫn chuổi đọc kinh cầu nguyện tạ ơn Đức Mẹ...
Mới đó mà đã 16 năm trời, mau thật. Mới ngày nào, tóc hãy còn xanh, 11 tuổi đầu,
tắm chưa sạch, chải đầu chưa thẳng nếp, tôi lễ mễ sách cái va li nhỏ và một gói
giấy đựng một chai nước mắm, một lon sữa ghi-gô chà bông, một cuốn sách kinh bước
vào cổng chủng viện, trong đầu không mơ ước gì hơn là được trở thành một linh mục.
Aáy thế mà 16 năm trời đã qua, cậu bé con ngày nào bây giờ đã trở thành một
thanh niên tốt nghiệp đại học và ngày mai, người thanh niên ấy sẽ được trở
thành một linh mục...
Thánh ý của Thiên Chúa quả thật là nhiệm mầu...
Tôi đứng lên, bước vào nhà thờ một mình, quỳ trước tượng Chúa và làm cái việc
mà tôi thích làm nhất trong đời tôi, đó là cầu nguyện. Tôi nhìn lên cao, khấn
nguyện với Thiên Chúa như sau: "Lạy chúa, con tự thấy mình chưa đủ sức để
làm linh mục để đem tin mừng nước trời đi rao giảng khắp thế gian. Nhưng Chúa
đã chọn con, con xin hết lòng phục vụ Chúa qua tha nhân. Con biết mình tối tăm,
nên xin Chúa ban cho con được sự sáng suốt. Con biết mình yếu đuối, nên xin
Chúa cho con được can đảm để chiến thắng những nghịch cảnh trong tương lai. Con
biết mình biếng nhác, nên xin ban cho con sự siêng năng cần mẩn. Con biết mình
hấp tấp, xin cho con ược sự kiên nhẫn để con thi hành được những gì Chúa muốn
giao cho con..."
Tôi cầu nguyện và cầu nguyện mãi cho đến giật mình quay lại thì thấy trời đã
sáng. Ông Từ nhà thờ bước vào và chúc mừng tôi. Tôi đón nhận lời chúc mừng và vội
vả trở về phòng thay đồ, chuẩn bị cho thánh lễ quan trọng nhất đời mình....
Như tôi đã biết trước, buổi lễ chịu chức thật là vĩ đại, sốt sắng và sau khi lễ
xong, tôi chẳng còn nhớ gì nhiều. Có lẽ vì khi tham dự buổi thánh lễ quan trọng
nhất đời mình, tôi đã cầm trí quá sức mình, cầu nguyện quá sốt sắng nên tôi chẳng
nhớ gì nhiều. Tôi chỉ biết rằng lễ xong, vì tối qua không ngủ nên tôi mệt quá,
mệt gần đến ngất xỉu, người nhà phải chở tôi về nhà để nghỉ ngơi.
Lúc tôi tỉnh dậy thì đã đến giờ đi dự tiệc. Buổi tiệc tổ chức tại một đại tửu lầu
trong Chợ lớn và tôi giật mình khi nhìn thấy có cả tổng thống VNCH, ông Nguyễn
Văn Thiệu (hình như cũng là một cựu tướng lãnh thì phải) và ông cựu phó tổng thống
Nguyễn Văn ... gì đó tôi không nhớ tên. Tôi chỉ nhớ một điều là ông này có một
bộ râu coi rất là... gớm ghiếc thô bỉ, ăn nói ào ào như một thằng say rượu
nhưng bà vợ thì rất xinh đẹp.
Bàn tôi ngồi gồm có bố mẹ tôi, Đức Tổng Giám Mục, Đức Giám Mục, Vợ Chồng ông Tổng
Thống Thiệu, anh tôi, vợ chồng của người bạn của anh tôi nghe nói cũng là tướng,
vợ chồng ông Thủ Tướng, vợ chồng ông đô trưởng Sài-Gòn Chợ Lớn. Gần bàn tôi là
ông cựu phó tổng thống có da mặt đen với bộ râu và những người khách quan trọng
khác. Lúc mới nhập tiệc, ông tổng thống và ông cựu phó tổng thống bắt tay nhưng
ông cựu phó tổng thống cứ gầm gự, làm như chỉ muốn oánh lộn với ông tổng thống.
Ông tổng thống, trái lại, không nói gì, chỉ cười cười mím chi, cái nụ cười cố hữu
mà người ta thường thấy trong mấy tấm bích chương.
Thành thật mà nói, được ngồi chung một bàn với những nhân vật quan trọng nhất
nước Việt Nam, tôi cũng lấy làm hãnh diện lắm, nhưng suốt buổi tiệc, tôi chỉ
mong sao cho tiệc chóng tàn để rồi còn về nhà cầu nguyện, tâm tình cùng Thiên
Chúa là người cha, người thầy, người bạn thân tình nhất đời tôi. Tôi cảm thấy
tôi chưa cám ơn Chúa được hết lời cho những gì tôi đã và đang được hưởng. Tôi tự
nguyện sẽ trở thành một linh mục tốt và sẽ làm tất cả những gì mình có thể làm
được trong cuộc đời tương lai để đền ơn Thiên Chúa...
Tiệc mới nhập chừng 15 phút thì Đức Tổng Giám Mục và Giám Mục đứng lên kiếu từ
đi về. Kể từ đó, bàn tiệc hình như ăn nói tự nhiên hơn...
Trong lúc mọi người ăn nói ào ào, bàn toàn những chuyện mà đối với tôi vô cùng
nhạt nhẽo như chuyện chiến tranh, chính trị, chuyện làm ăn buôn bán thì tôi chỉ
nghĩ đến cái thánh lễ đầu tiên trong đời mình mà ngày mai tôi sẽ được long trọng
cử hành...
Tôi chợt nhớ đến một bài thơ đã đọc hồi tôi con rất nhỏ của một linh mục nào đó
đã làm đăng trong báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp năm nào:
Thuở ban đầu một bài thơ linh mục
Không nói nhiều mà chan chứa làm sao
Bởi đã yêu và yêu tự thuở nào,
Tình Thiên Chúa biết làm sao nói được...
Chúa chọn tôi thuở tôi còn ngoại giáo
Lúc ra đi tôi chưa biết Chúa nhiều,
Chỉ biết rằng đi là bởi vì yêu
Không tính toán không đo lường giá cả...
Tôi đang ngồi suy nghĩ mông lung như thế thì bỗng dưng ông tổng thống Thiệu
đang nói chuyện với ai đó không biết liền ngưng và quay sang hỏi tôi bằng một
giọng thân mật:
- Cha sang Pháp học, nếu cha cần gì thì xin cha cứ ghé đến toà đại sứ Việt Nam
tại Paris, họ sẽ giúp đỡ cho cha. Con sẽ chỉ thị cho họ để giúp cha bất cứ việc
gì mà cha muốn.
Tôi giật mình ú ớ, chiếc nĩa đang cầm trong tay xém tí nữa thì rớt khỏi tay.
Tôi giật mình vì hai chuyện. Chuyện thứ nhất, lần đầu tiên tôi được gọi là cha
và xưng con. Mà người gọi này chẳng những đã lớn tuổi hơn tôi mà còn là đương
kim một vị nguyên thủ của một quốc gia. Chuyện thứ hai là tôi chẳng hề nghĩ và
chẳng hề biết mình sẽ sang Pháp đi học. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến tương lai của
mình sau ngày chịu chức linh mục, chỉ mơ hồ đoán rằng sẽ vâng lời tòa Giám Mục
đi xứ một họ đạo nào đó. Nào ngờ tương lai tôi đã được định đoạt trước, và tôi
tự hỏi ai đã quyết định tương lai cho tôi như thế. Ai vào đây ngoại trừ thầy mẹ
tôi?
Tôi chưa kịp trả lời, đưa mắt liếc nhìn thầy mẹ tôi và thấy mẹ tôi đang nhìn
tôi bằng một cặp mắt hãnh diện và mừng rỡ. Tôi trả lời ông tổng thống:
- Thưa bác, cháu nhỏ tuổi, bác cứ gọi cháu là con xưng bác cũng được.
Ông tổng thống sổ luôn một tràng nửa tiếng Việt nửa tiếng Pháp:
- Oh non, mon Pere, pas Moi. Je suis un Chretien et toujours Je serais un
Chretien. Con là một người Công giáo con ăn nói phải giữ gìn chứ.
Tôi nói tiếp bằng một giọng rất thành thật:
- Thưa bác, nói thật với bác rằng cháu chẳng hề biết mình sẽ đi Pháp học nên
cháu không biết phải nói gì cả.
Anh tôi nói thế cho tôi:
- Gia đình tôi xin cám ơn tổng thống. Chúng tôi sẽ nhớ công ơn này của tổng thống.
Ông Thiệu cười, vỗ vỗ vào vai anh tôi:
- Anh em mình là Huynh Đệ Chi Binh, cùng mặc áo lính với nhau, có qua có lại là
chuyện thường tình mà. Sao, cái quân đoàn 4 của toa lúc này thế nào?
Thế là ông tổng thống quên hẳn tôi, quay sang bàn chuyện chiến tranh với anh
tôi. Tôi quay nhìn mẹ tôi và chưa kịp hỏi thì mẹ đã lấy một cuốn Album lớn để
trước mặt tôi và nói:
- Mẹ muốn giấu kín chuyện này để làm một món quà bất ngờ cho ngày thụ phong
linh mục của con, nào ngờ bác Thiệu lại phỏng tay trên của mẹ trước...
Tôi nói:
- Công ơn cha mẹ dưỡng dục và nuối nấng con nên người, con chưa biết lấy gì đền
đáp, có đâu lại đòi hỏi những phần thưởng khác?
Mẹ tôi cười dễ dãi:
- Con cứ nói thế. Con nhìn xem trong đó là gì nào?
Nghe lời mẹ tôi đành mở cuốn album ra và nhìn thấy một căn villa xinh đẹp ở một
thành phố nào đó trong một nước hình như không phải nước Việt Nam. Tôi ngạc
nhiên hỏi mẹ:
- Cái nhà này là gì và ở đâu hở mẹ?
- Đấy là cái villa mà mẹ đã mua cho con cách đây mấy tháng, thành phố Vigny, một
thành phố nhỏ cách Paris chừng 75 cây số...
Tôi ngước mặt nhìn mẹ, ngạc nhiên vô cùng:
- Con đang ở Việt Nam, có cần gì một cái villa ở tuốt bên Pháp mà mẹ lại mua
cho con?
Mẹ tôi không trả lời, đưa tay lật tiếp sang trang thứ hai, chỉ vào một căn nhà
nhỏ hơn và tiếp:
- Mẹ cũng mua thêm căn nhà này cho con ở khu quận 5 Paris.
Tôi lắc đầu, chịu, không thể hiểu nổi. Mẹ tôi cười và bảo:
- Con đúng là nhà tu hành. Bao nhiêu người hễ nghe có nhà ở ngoại quốc và đẹp
như thế thì mừng chết lên được, còn con thì lại dửng dưng, chẳng coi ra gì cả.
Thật là tội nghiệp cho con tôi.
- Con xin lỗi mẹ, nhưng con không hiểu.
Bố tôi chen vào:
- Trè biên... Đã đến nước này bà nói cho anh ấy biết đi, cứ lơ lửng hoài.
Mẹ nhìn bố rồi nhìn tôi bảo:
- Bố Mẹ đã vận động để sau khi chịu chức linh mục, con sẽ được gởi sang Pháp học.
Tòa Giám Mục cũng đã ghi danh cho con đi học ở trường đại học Sorbone bên Pháp.
Căn nhà ở Paris gần trường là để cho con ăn ở và đi học. Vào những ngày nghỉ
hay ngày cuối tuần, con có thể đánh ô tô về Vigny để nghỉ ngơi và dưỡng sức...
Tôi không biết nên vui hay nên buồn. Thực ra thì đi du học phương xa là một điều
ai lại chẳng thích, nhưng tôi đã không chuẩn bị để đi học xa như thế. Tôi đã học
suốt gần hai mươi năm rồi, và đã nghĩ là đã đến lúc mình cần phải ra đời, dấn
thân để phục vụ Thiên Chúa và tha nhân. Hơn thế nữa, tôi vốn có tính tự lập,
tôi không muốn ai, dù người ấy là song thân của tôi quyết định tương lai của
tôi. Nhưng đồng thời, tôi vẫn biết mình phải giữ bổn phận làm con. Muốn làm một
linh mục tốt, mình phải bắt đầu làm người con hiếu thảo, một người con tốt
trong gia đình trước đã.
Bố tôi tiếp lời mẹ:
- Mông Pe... Tương lai của cha sáng lạng vô cùng. Cha học chừng dăm bẩy năm, lấy
một mảnh bằng tiến sĩ rồi về lại Việt Nam làm việc. Với bằng cấp cao như thế
thì thế nào cũng kiếm được một chân dạy học ở một đại học nào đó, khỏi phải đi
xứ cho mệt xác. Biết đâu chừng, nhờ thanh thế và tài giỏi, cha lại được cất nhắc
lên làm Giám Mục rồi đến Tổng Giám Mục. Giòng họ nhà ta sẽ được rạng rỡ vô
cùng. Văn võ Cha cố đều có đủ cả...
Từ nhỏ đến lớn, tôi ít khi gặp cha tôi nên tôi và người không gần nhau lắm. Và
những khi gần nhau thì ít nói chuyện gì nhiều. Những năm sau này, sau khi nhà cửa
đã khá giả, tôi có nghe những lời đồn đãi là cha tôi có đến hai ba bà vợ bé giấu
mỗi người một nơi ở đâu đó trong thành phố Sài-Gòn Chợ Lớn. Là một chủng sinh,
tôi không bao giờ để ý những việc gì xảy ra ngoài đời, nhưng thành thật mà nói,
trong lòng tôi có ý hơi khinh bố tôi. Bây giờ nghe bố tôi gọi tôi là cha và nói
về những chuyện như thế thì tôi bỗng cảm thấy bất mãn vô cùng. Tôi muốn làm
linh mục để phụng vụ Thiên Chúa, và theo tôi, đi xứ là một hành động tông đồ ý
nghĩa và cao cả nhất, tại sao bố lại bảo "đi xứ cho mệt xác." Rồi còn
cái vụ làm Giám Mục để rạng danh giòng họ nữa. Chuyện này thì tôi không thể nào
hiểu nổi.
Bất mãn, nhưng tôi ngồi yên không nói gì, chỉ thầm cầu nguyện, xin Thiên Chúa
tha tội cho những con người ngu dốt, tham lam và háo danh này. Họ chẳng biết việc
họ làm.
Mẹ tôi lại hỏi:
- Người ta ai cũng muốn được đi du học còn con thì có bộ tịch như không thích
đi Pháp. Bố mẹ chạy cả chục triệu đồng mới được đấy con ạ.
Tôi cúi đầu nói khẻ, dối lòng mình và dối luôn cả mẹ:
- Thưa mẹ con thích chứ. Con cám ơn mẹ.
Ngay lúc ấy, có một người lớn tuổi, tóc bạc phơ, ăn mặc một bộ đồ vét nhăn nhúm
có vẽ rất cũ, tiến tới bàn tiệc chúng tôi.
Liền lập tức, hai người mặc đồ vét rất to con đang đứng sau lưng ông Thiệu liền
tiến ra. Họ cử động nhanh nhẹn như hai mũi tên Một người đưa tay cản ông già
này lại, một người đưa tay xoa khắp người ông già để tìm vũ khí...
Bố tôi nhìn thấy và reo lên ngay một cách vui mừng như một thằng bé con:
- Mông Dơ... Ô, lạy Chúa, thầy Thái Sơn. Thầy Thái Sơn. Có thầy đến đây thì
chúng ta thật là may mắn...Trè biên mông dơ...
Tất cả mọi người trong bàn tiệc từ ông tổng thống cho đến anh tôi cho đến những
bà vợ và dĩ nhiên, ngoại trừ tôi, nghe đến mấy tiếng Thái Sơn thì mặt mày ai nấy
cũng tươi rói lên, vui mừng khôn tả.
Tôi đoán rằng thầy Thái Sơn phải là một giáo sư rất giỏi và rất nổi tiếng nên mới
được trọng vọng như thế. Nhưng không lý thầy lại dạy hết từng này người sao,
tôi tự hỏi? Khó hiểu hơn cả, tôi biết bố tôi học vấn chẳng có bao nhiêu (nhưng
lại thích nổ... tiếng Pháp trong những câu nói của mình), hình như chưa đậu được
bằng tiểu học đã phải ra đời đi gặt lúa mướn rồi, làm sao học thầy Thái Sơn được.
Tôi chịu, không thể hiểu được thầy Thái Sơn dạy môn gì, dạy lúc nào và dạy những
ai.
Ông tổng thống Thiệu ra lệnh cho mấy người ấy:
- Mời thầy vào đây ngồi với chúng tôi...
Bố tôi quay sang hối người hầu bàn bằng một thứ tiếng Tây bồi:
- Ông phô tây, tú xuỵt, tú xuỵt. A lê vu dăng.
Tội nghiệp anh bồi, không hiểu được thứ tiếng Tây quá cao siêu của bố tôi liền
đứng đực ra đó nhìn bố một cách sợ hãi, mặt tái xanh lại. Bố tôi lại quát:
- Không hiểu tiếng Pháp à? Sao dốt thế mà cũng làm... bồi được. Ông phô tây là
một cái ghế. Tú xuỵt là nhanh lên, gấp gấp... còn A lê vu dăng là... là ... là
cái gì ông quên mẹ nó rồi nhưng đại khái là nhanh lên. Tú Xuỵt... Chậm như
bò...
Anh bồi cúi đầu dạ một tiếng thật lớn rồi chạy đi ngay...
Bây giờ thì mọi người, dĩ nhiên là ngoại trừ tôi, tranh nhau mời thầy ngồi. Thầy
không trả lời ai mà lại nhìn tôi cười thân thiện. Tôi kính cần cúi đầu đáp lễ
thầy. Tôi nghĩ chắc thầy phải dạy toán vì nhìn con người thầy tôi thấy khô cằn
quá, trông như một cây tùng già thiếu nước. Tôi để ý thấy tất cả những giáo sư
dạy toán thường là khô cằn như thế...
Ông tổng thống mời thầy một ly rượu và nói vài câu chúc mừng. Mọi người im lặng
để nghe tổng thống nói. Ông Thiệu quay nhìn thầy rồi quay sang bố tôi nói:
- Thầy Thái Sơn quả thật là một quỷ cốc tiên sinh. Bác có biết không, hồi ấy
cháu mới đeo lon Trung tá, gặp thầy ở một tiệm phở ở Mỹ Tho. Thầy chạy đến gặp
tôi và nói liền:
- Chỉ trong vòng không tới 5 năm nữa, ông sẽ trở thành một vị nguyên thủ quốc
gia...
Mọi người im lặng. À, thì ra đây là một ông thầy bói chứ chẳng phải thầy dạy gì
cả, tôi quả thật là một người ngây thơ. Gần hai chục năm giam mình sau mấy bức
tường chủng viện quả có làm cho tôi chậm rãi hơn người.
Ông Thiệu cười, cái trán bóng loáng xoay qua xoay lại. Tôi để ý là ngay cả lúc
ông ta cười, cặp mắt của ông không đứng yên một chỗ được, cứ liếc ngang ngó dọc
như muốn tìm kiếm ai. Mãi sau này, tôi mới biết cặp mắt đó là cặp mắt của những
người gian.
Ông tiếp:
- Bà con nghĩ coi, hồi ấy tôi chỉ là một ông trung đoàn trưởng quèn, chưa chắc
đã dám mơ làm tới tư lệnh sư đoàn, hay tỉnh trưởng, nói gì đến chuyện làm tổng
thống một nước... Vậy mà chỉ mấy năm sau, thời thế xảy ra, đảo chánh lên đảo
chánh xuống, tôi được anh em đề cử lên lãnh đạo quốc gia...
Mọi người vỗ tay tán thưởng. Mấy bà tướng coi yếu người nhưng lại vỗ to hơn hết.
Ông thầy bói đưa hai tay lên trời, ra dấu cho mọi người im lặng, có vẻ như
không muốn được tâng bốc. Ông nói bằng một thứ giọng Huế rất nặng, nếu không
nghe kỹ thì không hiểu nổi:
- Tôi có tài chi mô, hễ thấy mặt mũi ra răng thì nói ra rứa thôi. Có trúng thì
tốt còn không trúng thì bà con đừng có để bụng hỉ?
Tiếng "hỉ" của ông nghe rất chân thật và ấm cúng.
Mọi người trong bàn liền oai oải lên, từ các bà đến các ông, ai cũng muốn nhờ
ông coi "mặt mũi ra răng thì nói ra rứa" thôi nhưng ông không coi cho
ai cả. Ông lại nhìn tôi và hỏi:
- Rứa cha có nhớ lão già ni không hè?
Tôi mỉm cười, trả lời liền:
- Thưa bác, cháu không nhớ. Cháu xin lỗi.
- Nói rứa thôi chứ răng mà nhớ cho nổi hè? Hồi nớ cha còn trẻ lắm ru...
Thầy vừa nói xong thì bố tôi đã xen vào với cái tật cố hữu là câu nói bắt đầu
luôn luôn phải có tiếng Pháp đệm vào. Tôi nhớ suốt đời bố tôi, hình như nếu lâu
lâu người không được sổ ra vài câu tiếng Pháp thì người ăn ngủ không được:
- Trè bông, trè bông... Xin maitre cho tôi nói. Xin cho tôi nói. Xin vúp le..
Xin vúp le...
Mọi người tò mò quay sang nhìn bố tôi trong lúc thầy Thái Sơn ngồi im rung đùi,
nhường sân khấu lại cho chủ nhân ông buổi tiệc buổi tối hôm ấy. Người nói:
- Trè bông... Hồi cha Lịch nhà tôi còn bé, tôi có mời thầy đến chơi. Tôi hỏi thầy
về tương lai của các con, thầy đoán trúng vong vóc. Thầy bảo thằng cả sẽ làm đến
tướng tư lệnh quân khu, quả đúng như thế. Thằng kế sẽ làm luật sư tài giỏi, quả
đúng như thế. Đến cha Lịch, tôi hỏi, Chúa có chọn nó làm linh mục không, thầy gật
đầu bảo liền: "Nó sẽ là trở thành một linh mục một cách dễ dàng. Trong lớp
nó, có nhiều người nhưng chỉ có mình nó được làm linh mục. Nó sẽ trở thành một
linh mục xuất sắc và sẽ làm được nhiều chuyện lớn"...
Bố tôi ngừng ở đó, đưa mắt nhìn tôi một cách hãnh diện. Mọi người trong bàn kể
cả ông tổng thống Thiệu vỗ tay tán thưởng. Tôi mắc cỡ quá, không biết nói gì,
chỉ cúi đầu trốn cặp mắt của mọi người đổ dồn về phía mình. Trong lúc đó, một
bà nào đó trong bàn tiệc mà tôi không biết mặt liền buộc miệng nói:
- Cha Lịch đẹp giai và thông thái quá. Giá cha mà không đi tu thì con nhất định
phải gả con gái cho cha.
Mọi người cười ồ. Mẹ tôi chống chế yếu ớt:
- Chị cứ nói thế, Cha Lịch đã đi tu, sao lại cám dỗ Cha làm gì? Tội lớn lắm đấy
nhé.
Bà ấy trả lời:
- Nói đùa thôi chứ Cha Lịch hiền lành và học giỏi như thế, hễ cám dỗ mà được à?
Bố tôi lại hắng giọng một phát, muốn nhắc lại cho mọi người biết là bố nói chưa
xong:
- Trè bông, trè bông... Sau tôi mới hỏi đến cá nhân tôi. Hồi ấy nhà còn nghèo lắm,
thằng cả đi học về còn phải ra tiệm coi hàng phụ bố. Mẹ chúng nó còn phải nấu
chả giò trong nhà đem bỏ tiệm để phụ với gia đình. Nghèo như thế mà thầy lại bảo,
chắc chắn như đinh đóng cột là "trong vòng 10 năm, ông sẽ thành tỉ
phú" thì có chết tôi không chứ? Ấy mà bây giờ tôi không dám tự khoe mình
là tỉ phú, chỉ dám thưa là tài sản tạm đủ dùng cho con cái về sau...
Mọi người lại nhao nhao lên khen ngợi. Bố giả vờ từ khước nhưng mặt mày nở phỡn
ra, sung sướng không thể giấu được. Một bà nói:
- Em chỉ mong gia tài nhà em được một phần trăm cái đủ dùng của anh thì em cũng
mãn nguyện suốt đời...
Một bà khác:
- Nhà em chỉ mong được chết như anh mà chết không được.
Mọi người lại cười ồ. Bỗng dưng, thầy Thái Sơn lại mở miệng buông một câu:
- Rứa còn cái câu chi tôi đoán cho ôn không biết có trúng không mà không nghe
ôn nói hỉ?
Mọi người im lặng, thắc mắc về câu hỏi. Bố tôi cũng ngạc nhiên hỏi:
- Câu gì thưa thầy? Két sơ cờ sa mông xừ?
- Tôi nói là ôn trước sau phải có 4 mụ vợ bé, không biết tôi đoán có đúng không
hỉ?
Mọi người bật cười lên sằng sặc, ngoại trừ mẹ tôi và tôi. Lạ một điều là bố
cũng cười được và cười rất to, rất thích thú giống như mọi người. Rồi người lắc
đầu, vừa cười vừa nói:
- Mais non, c'est pas vrais. Thưa thầy câu đó thì thầy đoán trật hoàn toàn. Tôi
chỉ có một vợ là nhà tôi đây, ngoài ra chẳng có ai cả.
Cả bàn im lặng và cúi đầu xuống vì một lý do nào đó tôi không hiểu được. Anh cả
tôi và ông tổng thống Thiệu trao đổi nhau một cái liếc rồi cùng tảng lờ đi. Mẹ
tôi cúi đầu không nói gì. Không khí đang vui nhộn bỗng trở nên căng thẳng một
cách khó hiểu.
Bố lại tiếp tục:
- Dơ trà vai tú dua... tú dua lơ tăng... Tôi làm ăn buôn bán khổ cực lắm thầy
ơi. Nội một cái cửa hàng xuất nhập cảng xe hơi là đã làm tôi muốn điên lên rồi.
Chưa nói đến cửa hàng nhập cảng thuốc Tây, bốn cái pharmacy, rồi cái hãng xuất
nhập cảng xi măng, rồi hàng chục công trình xây cất khắp mọi nơi. Tôi làm việc
20 tiếng đồng hồ một ngày, thì giờ đâu mà vợ bé với vợ lớn. Thầy đoán trật lất
rồi.
Mọi người cười cười nhưng không ai nói gì. Tôi thấy những nụ cười này còn nhọn
hơn cả những vết dao đâm vào người bố tôi và không hiểu sao tôi cảm thấy thương
mẹ tôi quá đi. Giàu sang để làm gì hở mẹ?
Thầy Thái Sơn lại nói:
- Tôi nói rứa mà ôn nói trật thì là ... trật thôi. Ai mà biết hết sự đời đâu,
phải không nà?
Rồi thầy lại quay nhìn tôi, cất giọng nói:
- Hôm nay là ngày vinh hạnh của cha, tôi muốn nói một điều ni, cha cho phép hỉ...
Thầy ngừng ở đó làm cho mọi người hồi hộp. Mẹ tôi sửa lại thế ngồi, cặp mắt lo
sợ dán vào người đàn ông nhỏ bé, áo quần nhàu nát. Mãi cho đến lúc ấy, tôi mới
để ý thấy là trán bố tôi toát đầy mồ hôi và mặt mày bố tái nhợt. Tôi tính hỏi bố
có sao không nhưng thầy Thái Sơn đã uống xong một ngụm rượu rồi nói:
- Ông Cha ni coi thông minh hiền lành như rứa nhưng mà tiếc quá, không có căn
tu mô. Mà trong trời đất, hễ mình không có căn tu thì mần răng mà đi tu lâu được.
Tiếc quá hỉ, tiếc quá hỉ...
Bố mẹ tôi há hốc mồm ra như bị ai tát một cái tát tai. Buổi tiệc trọng đại
trong cái ngày đầu tiên của con được làm linh mục mà nghe thầy bói nói một câu
tàn bạo như thế thì không há hốc mồm ra sao được?
Dĩ nhiên, tôi thì chẳng coi lời nói này ra gì vì tôi không bao giờ tin chuyện
bói toán nhí nhảm. Tôi chỉ thắc mắc không hiểu tại sao trong một xã hội văn
minh như bây giờ mà vẫn còn có nhiều người, kể cả ông tổng thống, thích đi nghe
lời một ông thầy bói như thế. Nhưng nghĩ đi thì phải nghĩ lại. Thế còn những lời
đoán về tương lai ông tổng thống Thiệu và bố tôi hoàn toàn đúng thì phải cắt
nghĩa như thế nào đây? Tôi quyết định đó chỉ là một sự may mắn tình cờ mà
thôi...
Tôi chẳng coi những lời nói thầy Thái Sơn ra gì nhưng mẹ tôi thì bất mãn thấy
rõ. Vẻ đau khổ và thất vọng hiện rõ trên khuôn mặt người. Mẹ tôi cất tiếng, giọng
nói chẳng hiền lành gì:
- Thưa thầy, con dốt nát nhưng xin hỏi thầy, thầy nói như thế nghĩa là làm sao ạ?
Thầy nói con tôi thế nào?
Thầy Thái Sơn nhìn mẹ tôi, cười dễ dãi rồi nói:
- O đừng buồn tôi hỉ. Trời đất thiên địa mang mang, mình mần răng mà biết được
ý trời...
Mẹ phản đối bằng một giọng khá gay gắt:
- Thưa thầy ý Chúa chứ không phải ý trời.
Thầy Thái Sơn lại cười:
- O muốn nói rứa cũng được thôi... Ừ thì ý Chúa... Trời đất thiên địa mang mang
ai mà biết được ý trời... Ô, xin lỗi hỉ, ý Chúa, xin lỗi o hỉ. Ý Chúa.
Mọi người lại cười. Thầy nói
- Tui thấy ra răng thì nói ra rứa, o đừng buồn tôi hỉ. Tôi già rồi, còn sống
lâu mô mà ăn nói chi bậy bạ cho người ta buồn hỉ...
Thấy mẹ tôi giận quá, tôi liền nói:
- Mẹ, thầy nói cho vui, mẹ để ý làm gì?
Bỗng dưng thầy Thái Sơn lại quay nhìn tôi và nói:
- Ông cha ni coi hiền lành rừa mà rồi đây sẽ dám làm những việc mà không ai dám
làm. Tốt lắm, tốt lắm. Con người chí khí, cương trực, không biết sợ là chi
mô...
Mẹ tôi muốn nói gì thêm nhưng bố đã làm dấu cho người im lặng. Ông tổng thống
Thiệu bỗng dưng hỏi:
- Thế thì thầy coi dùm tôi. Tôi làm tổng thống được bao lâu nữa?
Thầy Thái Sơn chưa thèm trả lời vội, làm một ngụm rượu rồi mới quay sang nhìn
ông tổng thống Thiệu, nói:
- Mới làm tổng thống nhiệm kỳ 2, còn 4, 5 năm nửa mới hết ngai vàng, lo lắng
chi mà hỏi sớm rứa hỉ?
Ông tổng thống cười nhẹ, cặp mắt liếc ngang liếc dọc thật nhanh:
- Tôi còn nhiều việc muốn làm cho đất nước và tổ quốc mà thì giờ quá ít nên mới
hỏi thầy.
Thầy Thái Sơn bỗng dưng thở dài ra một cái, cất giọng buồn buồn:
- Vài năm nữa là xong hết, còn có chi mô mà lo làm chi cho mệt hỉ?
Ông Thiệu giật nẩy mình lên, cái ống píp trong tay rớt xuống bàn. Mọi người
trong bàn tiệc, từ ông tổng thống Thiệu cho đến mấy ông tướng, đến anh tôi và
thầy mẹ tôi đều tái mặt lại hết. Ông Thiệu cất giọng run run, hỏi, giọng nói
không ra hơi:
- Thầy nói vài năm nửa là xong hết là sao? Nghĩa là tôi không còn làm tổng thống
à?
- Trời đất thiên địa mang mang ai mà biết được ý trời... Ô, xin lỗi hỉ, ý
Chúa... xin lỗi o hỉ...
Ông Thiệu không buông tha, cái trán bóng lộn bây giờ đã bắt đầu lấm tấm những
giọt mồ hôi:
- Nếu tôi không còn làm tổng thống thì ai sẽ thế tôi làm tổng thống nước Việt
Nam?
Thầy Thái Sơn lắc đầu, lại thở dài:
- Khó nói lắm ru, trời đất thiên địa mang mang ai mà biết được ý trời... Nhưng
ông tổng thống đừng lo làm chi. Không hiểu răng mà tui không thấy ai hết?
Ông Thiệu thở nhẹ ra một cái, suy nghĩ một chút rồi hỏi:
- Thầy nói tôi không còn làm tổng thống mà không có ai thế tôi được à? Xin lỗi
thầy, tôi thấy thầy hơi vô lý...
Thầy Thái Sơn lắc đầu, lại tiếp tục câu nói cũ. "Trời đất thiên địa mang
mang ai mà biết được ý trời..."
Ông Thiệu bỗng dưng mở miệng, cặp mắt long lên, nhìn sang hướng bàn của ông tướng
có bộ râu dê mà tôi không biết tên:
- Thế có phải thằng cựu tướng râu cà chớn chống xâm lăng kia không?
Thầy Thái Sơn quay sang nhìn về phía cái bàn bên cạnh, chớp chớp mắt rồi lắc đầu
hỏi:
- Ai rứa? Tôi già rồi, có thấy chi mô?
- Nguyễn Sơi Kít.
Nghe như thế thì thầy Thái Sơn nhăn mặt lại, rồi điểm một nụ cười mà nói:
- Ai thì ông lo chứ thằng đó thì mần chi mà phải lo cho mệt xác. Hắn chỉ là một
con chó nhẩy bàn độc, gặp thời thế tốt nhảy một phát từ thằng tài xế lên làm thủ
tướng thôi nhưng tài cán không có thì có làm được chi mô? Hắn nhảy đầm hay, uống
rượu giỏi chứ trong bụng không có mưu mẹo chi mô, đầu óc rỗng tếch, chỉ nhớ đến
rượu và gái, ông đừng lo hắn. Cứ cho tiền hắn uống rượu và nhảy đầm hàng ngày
thì ông không có chi phải lo cả.
Bấc giác, ông Thiệu đưa mắt liếc nhìn anh tôi. Anh tôi cũng bất ngờ đưa mắt
nhìn ông Thiệu. Hai ánh mắt đụng như không có tiếng nhưng sao tôi thấy dường
như muốn như tóe lửa ra.
Ông Thiệu hỏi:
- Thế thì tôi phải lo ai?
Thầy Thái Sơn chưa kịp trả lời thì anh tôi đã lên tiếng, giọng như sắp khóc:
- Ai thì lo chứ tổng thống đừng lo tôi. Tôi đã thề là sẽ trung thành với tổng
thống cho đến giây phút cuối cùng. Đứa nào muốn ho he đảo chánh phải bước qua
xác tôi.
Ông Thiệu không nói gì, có vẻ suy tư. Thầy Thái Sơn bảo:
- Ông tướng quân khu nói đúng, ôn đừng lo hắn mà tội nghiệp cho hắn. Hắn là
ngươi trung thành, có thể xài được về lâu về dài? Hắn không phản ông mô.
Ông Thiệu gật gù cái đầu, có vẻ an tâm. Nhưng ông lại hỏi:
- Nhưng thầy nói tôi không còn làm tổng thống thì ai sẽ làm?
Thầy Thái Sơn lại lắc đầu rồi thở dài lên một tiếng rất ảo nảo:
- Trời đất thiên địa mang mang ai mà biết được ý trời... Tôi không biết mô,
nhưng tôi thấy sau ông thì không ai thế ông cả... Trời đất thiên địa mang mang
ai mà biết được ý trời...
Bố tôi nảy giờ im lặng bây giờ bỗng chen vào:
- Thế còn tôi thì sao, thầy? Tôi vẫn là... là tỉ phú như báo chí nói chứ?
Thầy Thái Sơn nhìn bố tôi rồi cũng lắc đầu giống như lúc nãy:
- Không đâu. Sự nghiệp của chìm của nổi của ôn rồi cũng chìm xuống biển hết,
không còn chi mô...
Mẹ tôi hứ lên một tiếng rồi đưa tay bụm miệng, khóc ngon lành ngay giữa bàn tiệc.
Tôi bắt đầu nghĩ giá mình đừng đi ăn buổi tiệc này thì tốt hơn.
Thầy Thái Sơn tiếp:
- Nhưng mà ôn cũng không sống trên quê hương mình được mô. Ôn phải đi xa, sẽ sống
lưu vong. Lưu vong nhưng mà cũng còn chút ít tiền xài cho tuổi già...
Sau bố tôi, nhiều người khác bắt đầu nhao nhao lên, nhưng thầy Thái Sơn đã vịn
ghế lựng khựng đứng lên. Thầy nói:
- Mấy bà con cho tui xin lỗi hỉ. Tui già rồi, mới uống chút rượu là phải đi
...đái... bậy quá hỉ... Chà chà, không biết cái cầu tiêu nằm nơi mô hỉ?
Một bà nói:
- Thầy đi tiểu xong thầy ra nói chuyện với tụi con.
Thầy Thái Sơn lắc đầu:
- Xin phép bà con cho tôi đi về. Lớn tuổi rồi, nói bậy bà con tha tội cho tui hỉ...
Ông Thiệu quay ra sau nói gì đó với một người ở phía sau. Người này liền móc ra
một phong thư dày cộm tới bên thầy Thái Sơn và bỏ vào túi áo vét thầy. Thầy chắp
tay hướng về phía ông tổng thống lạy nhẹ một cái.
Mọi người đứng lên bắt tay thầy, nhưng tôi vẫn ngồi im, không nhúc nhích. Không
phải vì tôi khinh rẻ ông thầy, tôi chỉ thấy việc làm đó không cần thiết cho một
linh mục như tôi. Tôi không tùy thuộc vào cái xã hội bệ rạc, đầy dẫy những chuyện
nhảm nhí như chuyện bói toán này.
Nhưng bắt tay mọi người xong, thầy lại đến chỗ tôi ngồi và bắt tay tôi. Thành
thật mà nói, cử chỉ của thầy làm cho tôi cảm động. Tôi bèn đứng lên, nói:
- Thưa bác, cháu xin cám ơn bác.
- Cám ơn chi, thưa cha. Chúc cha may mắn hỉ?
- Cám ơn bác...
- Tiếc quá hỉ. Tiếc quá hỉ. Đẹp trai, thông minh tài giỏi như rứa mà không có
căn tu mô. Thôi thì ráng lên cha hỉ. Mần chi cho tốt là được rồi.
Tôi chỉ cười cười không nói gì nhưng mẹ tôi thì căng mắt gườm thầy một phát làm
như chỉ muốn xông tới xé xác ông thầy bói.
Thầy Thái Sơn vừa bước đi được mấy bước thì có tiếng gọi từ bàn của ông tướng
râu, giọng nhừa nhựa của một kẻ say rượu:
- Ông thầy Thái Sơn kia, đi đâu thế, sang bàn tôi nói chuyện chút được không? Bố
khỉ, tổng thống chó gì thì cũng là khách của ông Hiếu thôi.
Tổng thống Thiệu nhăn mặt lại. Anh tôi kề vai ông Thiệu, nói nhỏ, người trong
bàn không ai nghe được nhưng tôi nghe được không thiếu một câu:
- Thằng khốn nạn hỗn quá. Tổng thống muốn tôi giết nó không? Tôi chỉ cần ra hiệu
là trung đội trinh sát của tôi ở dưới lầu sẽ ập vào đây lôi nó đi như lôi một
con chó.
Ông Thiệu lắc đầu:
- Như thầy Thái Sơn nói, thằng Việt gian đó chỉ giỏi uống rượu nhảy đầm chứ chẳng
làm gì được khác hơn. Giết nó chẳng khác gì giết một con chó, nhưng tụi Mỹ
chúng nó sẽ làm ùm lên, bảo chính phủ mình chia rẻ. Nên quên nó đi thì tốt hơn.
Coi nó như một con chó sủa càng, sủa bậy.
Anh tôi gật đầu, nhưng lại nói:
- Tôi vẫn biết thế, thưa tổng thống. Nhưng mà, nói thật, nhiều khi ứa gan quá
không chịu được.
- Quên chuyện thằng Sơi Kít đi. Nhưng những gì thầy Thái Sơn nói làm cho tôi phải
suy nghĩ. Ông thầy này nổi tiếng nhất Việt Nam, không bao giờ coi trật. Không
nói thì thôi nhưng nói là luôn luôn trúng. Ổng nói tôi không còn làm tổng thống
nữa trong vòng vài năm. Nếu tôi không làm tổng thống thì ai sẽ làm tổng thống.
Tôi muốn biết...
Ngừng một chút, ông tổng thống Thiệu lại tiếp:
- Tôi muốn anh điều tra xem thử có âm mưu gì đảo chánh tôi không? Nếu tìm ra
thì mình phải ra tay trước. Tôi không muốn trở thành Ngô Đình Diệm thứ hai.
- Ngày nào tôi còn cầm quân trong tay, còn đeo sao làm tư lệnh vùng thì Tổng thống
khỏi phải lo chuyện đó. Nhưng có điều, tôi làm tư lệnh vùng 4 Chiến Thuật, muốn
kiểm soát về những gì xảy ra ở vùng 3 Chiến Thuật cũng hơi khó. Hơn nữa, nếu có
chuyện gì tôi sợ không kéo quân về cứu giá kịp.
- Anh nói đúng. Tôi để cho thằng Toàn làm tư lệnh vùng 3 vì bên vợ nó thân với
vợ tôi. Nhưng nghĩ lại thì thằng Toàn cũng khó mà tin được. Hơn nữa, nó có quá
nhiều tật xấu. Nghe nói nó hiếp dâm tùm lum. Đàn bà con gái đẹp gặp nó là chết
hết. Báo chí và dân chúng ta thán quá nhưng tôi chưa biết phải giải quyết như
thế nào. Chắc rồi cũng phải lột lon nó và đưa nó ra tòa thôi...
Anh tôi gật đầu nói:
- Tổng thống quyết định như thế rất phải. Những thằng như thằng Toàn cần phải
được trừng trị để làm gương cho người khác.
Tổng thống Thiệu lại nói:
- Bây giờ như thế này, ngày mai tôi sẽ đem anh về làm tư lệnh vùng 3 Chiến Thuật,
tôi cho anh coi luôn cả Biệt Khu Thủ Đô luôn. Anh làm hai chức một lần, có kham
nổi không?
Anh tôi gật đầu thoả mãn, mặt tươi lên như hoa:
- Trình tổng thống, ngày nào tôi còn ở đất Sài-Gòn này thì ngày đó tổng thống
khỏi phải lo chuyện đảo chánh...
Trong lúc đó, thầy Thái Sơn đã ngồi xuống với ông tướng râu phía bên kia. Những
lời trao đổ ở phía bên ấy, dù tôi không muốn nghe nhưng phải bị nghe vì giọng
ông tướng Nguyễn Sơi Kít khá lớn, lại say rượu rồi nên chẳng coi ai là ai cả.
- Thầy Thái Sơn, dô với mỏa một ly xem nào?
- Cám ơn hỉ, nhưng tôi say rồi, xin cho miễn hỉ. Tui mắc đái quá, cho tôi đi
đái chút đi hỉ?
- Mẹ kiếp, ngồi im, không có đái ỉa gì cả...
- Tui già rồi..
- Toa vừa coi tướng cho thằng Thiệu và mỏa ngồi ở bàn bên này nhưng mỏa có
nghe. Toa bảo thằng Thiệu sắp hết làm tổng thống. Ha... ha, một tin đáng mừng.
Như thế thì ai sẽ thế nó?
- Tui say rượu nói bậy bạ thôi mà, mần răng mà ông để ý rứa.
- Toa coi xem mỏa có làm tổng thống được không?
- Trời đất thiên địa mang mang ai mà biết được ý trời, ông làm quan tể tướng
triều đình hai năm là vinh hạnh tột đỉnh của giòng họ rồi. Tri túc, tiện túc hà
thời túc hỉ... Người xưa có nói như rứa.
- Nhưng mỏa muốn làm tổng thống.
Một thoáng im lặng rồi tiếng ông thầy Thái Sơn dõng dạc:
- Ông nói rứa thì tôi xin nói điều ni, ông đừng buồn tôi hỉ.
- Nói đi.
- Một con người bất tài vô dụng như ông, gia đình của ông mà ông còn lo không nổi
thì mần răng mà cứ đòi làm nguyên thủ một quốc gia, làm chúa tể một nước hỉ. Bỏ
uống rượu đi, bỏ chơi gái đi, bỏ cờ bạc đi rồi mới nói đến chuyện trị quốc. Dân
chúng Việt Nam lầm than khổ cực lắm, cần phải có những bậc minh quân mới cứu
dân được...
Một bầu không khí im lặng nặng nề bao phủ xuống bàn phía bên kia. Ở bàn phía
bên này, ông tổng thống Thiệu và anh tôi cùng mấy ông tướng bật cười lên thích
chí.
Bỗng dưng, tôi nghe lên một tiếng quát "Địt mẹ thằng hỗn" rồi một tiếng
thình to lớn vang lên, dấu hiệu của một người bị đấm. Tiếp theo đó, tiếng bàn
ghế chén đũa rớt loảng xoảng, và, trộn lẫn trong những thứ âm thanh đó là tiếng
la thất thanh của thầy Thái Sơn...
Mọi người, dù không muốn để ý chuyện xảy ra ở bàn bên kia nhưng nghe như thế
thì ai cũng phải quay lại để nhìn. Những người cận vệ phía sau lưng ông tổng thống
Thiệu và anh tôi đồng loạt tiến tới trước để chuẩn bị can thiệp...
Thì ra, ông thầy Thái Sơn vừa bị ông râu đấm một quả vào mặt, té lăn cù. Những
tiếng ồn ào là do những người ngồi cùng bàn đứng lên cản ông râu.
Anh tôi lắc đầu, bảo:
- Mẹ, uống rượu say vào rồi lại đi đánh một ông già. Tởm thật.
Bà vợ ông râu khóc, nói lớn lên giữa bàn tiệc:
- Tôi đã bảo với anh là hễ anh uống rượu vào là có gây gỗ tầm bậy tầm bạ mà anh
cứ uống. Ông thầy Thái Sơn có làm gì mà lại đấm ông ta như thế?
Ông râu trợn mắt, quát:
- Con đĩ biết gì, có im mồm đi không?
Nghe như thế thì bà vợ ông ta sửng cồ lên liền:
- Này, này, mày nói tao là đĩ, thế thì mày lấy đĩ về làm vợ để con đĩ này nó
đào mã ba bốn đời nhà mày lên à?
Tôi cảm thấy kinh hãi rụng rời, muốn bịt tai lại nhưng không kịp nữa rồi. Không
ngờ một người đàn bà đẹp như thế là mà lại ăn nói được những câu ghê gớm như thế.
Ông râu nghẹn họng, không trả lời được. Bà vợ ông râu liền đứng lên, quẳng cái
khăn bàn vào người chồng, rồi không nói một tiếng, xoay người bước ra ngoài. Những
tiếng khóc thút thít của bà trộn lẫn vỡi những tiếng cộp cộp phát ra từ đáy của
đôi giày bốt cao gót của bà làm thành một thứ âm thanh kỳ lạ.
Tổng thống Thiệu và anh tôi cùng ra hiệu cho mấy người lính cận về trở về chỗ
cũ.
Người ta cũng nâng ông thầy Thái Sơn lên, cho ông ta ngồi xuống ghế. Rất may,
chẳng thấy ông bị thương tích gì.
Ông chỉ mặt ông râu mà mắng:
- Răng mà mi lại du côn như rứa hỉ? Mi có ngon thì mi đi ăn thua với mấy người
ngồi bàn bên kia kìa, mi đánh một ông già thất thế như tau thì có khác chi mi
đánh một con chó? Sao mi hèn rứa hỉ..
Một người to con mặc thường phục đến vuốt ngực ông thầy Thái Sơn và nói:
- Thôi, để con dìu thầy đi về. Thầy đừng chấp mấy người say làm gì. Ông ấy say
rồi..
Người ấy dìu cho thầy Thái Sơn đứng lên rồi khập khểnh đưa thầy đi. Ông râu
chưa đã tức, chửi vọng theo:
- Đúng là lão già cuồng. ĐM, hôm nào thằng Thiệu xuống chức và ông lên làm tổng
thống thì hạng như chúng mày ông cho ... bắn bỏ. Đèo mẹ bắn bỏ hết...
Bố tôi lườm anh tôi, bảo nhỏ, và không quên chèm tiếng Pháp:
- Mẹc Xà Lù... Mẹc... bố nhà anh. Tại sao anh lại mời cái thằng say rượu cao bồi
đến đây làm gì để nó làm hỏng buổi tiệc như thế này?
- Con đã tính không mời, nhưng thấy nó tội nghiệp quá, nghĩ tình chiến hữu nên
con mới mời. Nào ngờ nó lại mất nết như thế.
Bố tôi lắc đầu:
- Ồ mông Dơ... Thật chẳng còn phép tắc lễ nghĩa và thể thống gì cả. Lần sau
không được mời nữa. Da me... Da me...
Nghe như thế thì tôi muốn phì cười. Tôi đâu có chịu chức linh mục lần thứ hai
đâu mà bố phải dặn như thế. Từ đó, tôi ngồi im không nói gì cho đến gần hết buổi
tiệc. Khi nhìn thấy bố tôi bắt đầu say, bắt đầu lớn tiếng, tôi xin kiếu từ đi về.
Ngồi trên xe tôi cứ suy nghĩ mãi về những gì vừa xảy ra. Nếu biết mọi việc như
thế này thì tôi đã không đi dự tiệc. Chẳng được gì lại còn thêm bực mình. Rồi
tôi lại nghĩ, hóa ra đây là một buổi sinh hoạt của người đời hay sao? Uống rượu,
tính toán chuyện làm ăn, coi bói toán, tâng bốc lẫn nhau, đòi giết nhau, âm mưu
với nhau và cuối cùng thì gây gỗ oánh lộn rồi đi về...
Xã hội này rồi sẽ đi về đâu với những chuyện như thế nhỉ?
Rồi tôi lại nghĩ đến chuyến đi Pháp sắp đến của tôi. Tại sao đi học mà lại cần
phải có đến hai căn nhà? Quan trọng nhất, tại sao người ta quyết định giùm
tương lai của tôi mà không hỏi ý kiến tôi? Rồi lại nghĩ đến chuyện bố tôi.
Không biết ông thầy nói có đúng không nhưng những lời đồn đãi thì tôi có nghe.
Và mẹ tôi chắc phải buồn tủi đau khổ lắm. Tiền bạc đem về chất trong nhà một
núi để làm gì nhỉ nếu mình không có được sự an bình tối thiểu trong gia đình,
trong tâm hồn. Tôi nhớ đến những ngày hàn vi lúc mới di cư vào Nam. Nhà tôi
không giàu có sang trọng nhưng buổi cơm nào cũng vang vang tiếng cười, tiếng
đùa giỡn thân yêu, tối nào cũng vang vang tiếng cầu kinh ấm cúng. Sống như thế
có hạnh phúc hơn không?
Tự nhiên, tôi cảm thấy cần cầu nguyện vô cùng. Tôi cần tâm sự với Chúa, cần
Chúa an ủi và khuyên bảo tôi. Tôi bảo người tài xế:
- Nhờ anh làm ơn chở tôi đến nhà thờ Đức Bà. Tôi muốn tìm một nơi thanh vắng để
cầu nguyện ...
- Thưa Cha, đến nơi nào thì thanh vắng chứ nhà thờ Đức Bà thì ồn ào lắm...
Một đề nghị vô tình nhưng không phải không có lý. Bỗng dưng, tôi nhận ra lời
nói của người tài xế có vẻ quen quen. Tôi nhìn vào mặt anh ta trong kính chiếu
và càng cảm thấy quen hơn nữa. Tôi nói:
- Xin lỗi, tôi thấy anh là ai mà thấy hơi quen quen...
Anh tài xế quay lại nhìn tôi, cười:
- Thưa cha, con là thằng Bình, hồi nhỏ hay chơi với Cha đấy mà...
- Trời đất, Bình đấy hả, sao mà như thế này...
Thằng Bình, đúng hơn, phải nói là anh Bình vì hắn lớn hơn tôi vài tuổi, là người
bạn cùng trại di cư với tôi. Thuở bé, chúng tôi thường hay chơi đá banh và nô
đùa với nhau. Chơi với nhau cho đến lúc tôi vào chủng viện rồi xa nhau. Mùa hè,
khi tôi về nghỉ, thỉnh thoảng vẫn còn gặp Bình nhưng chúng tôi không còn thân
thiết gần gũi nhau như xưa nữa. Sau đó, một thời gian tôi không còn gặp Bình và
nghe nói là Bình đã đi lính. Từ đó, tôi không còn bao giờ gặp Bình nữa, mãi cho
đến ngày hôm nay.
Tôi đưa tay ra phía trước, bóp lấy hai vai Bình:
- Ông Bình ơi, xin ông đừng gọi tôi là Cha nữa có được không? Chúng mình là bạn
ngày xưa với nhau mà.
Bình lắc đầu, nói:
- Thưa Cha không được ạ. Ngày xưa cha con mình là bạn nhưng bây giờ cuộc đời đã
thay đổi, cha là một linh mục có một sứ mạng cao cả của nước trời, con là một
giáo dân, con phải biết giữ lễ, giữ đạo.
Tôi nhớ tay Bình này ngày xưa cũng là một tay du côn có hạng, trên chẳng sợ trời,
dưới chẳng sợ đất, không hiểu sao bây giờ lại khúm núm và hiền lành như thế.
Tôi hỏi:
- Ngày xưa anh cũng chẳng hiền lành gì, sao bây giờ lại phép tắc lễ nghĩa như
thế.
- Trình cha, quân đội dạy cho con như thế?
- À, tôi quên, anh có đi lính.
- Đúng thế thưa cha. Con chẳng hiền lành gì nên mới đi thứ lính chẳng hiền lành
gì là lính nhảy dù. Trước khi vào lính, con nghĩ mình chẳng hiền lại đi lính dữ
thì mình sẽ thành tinh. Nào ngờ, vào trong lính con mới học được để biết thế
nào là kỷ luật quân đội, thế nào lào là tôn trọng cấp trên, thế nào là làm tròn
bổn phận...
- Nếu thì đi lính cũng có cái tốt đấy chứ nhỉ.
- Vâng.
- Anh có thể kể sơ lại cuộc đời đi lính của anh cho tôi nghe xem. Tôi muốn biết
tại sao bây giờ anh lại về lái xe cho bố tôi.
- Thưa cha con vào trường Đồng Đế, ra Trung Sĩ rồi gia nhập lính nhảy dù. Con bị
thương nhiều lần và cuối cùng thì bị mất một lá phổi, được giải ngủ, thương phế
binh loại 2. Con thất nghiệp, gặp ông cố, ông nhớ đến con và mướn con vào làm đủ
thứ việc lặt vặt trong nhà, từ lái xe cho đến làm vườn, cho đến đi mua phở, đủ
thứ chuyện cha ạ.
Anh ta ngừng một chút rồi tiếp:
- Con chở cha đến nhà thờ dòng Đa Minh, ở đấy thinh lặng hơn để cho cha cầu
nguyện...
Tôi lắc đầu:
- Thôi, anh chở tôi về nhà. Tôi lên sân thượng cầu nguyện cũng được.
Trên đường về, chúng tôi trao đổi với nhau nhiều thứ chuyện. Cuộc đời tu trì của
tôi bình lặng, chẳng có gì để chia sẽ nhưng cuộc đời của Bình, một người lính
nhảy dù Việt Nam thì có quá nhiều gây cấn, hào hứng, đau đớn và nhiều khi thê
thảm nữa.
Tôi đâu ngờ và không biết là đất nước quê hương mình lại đau khổ và quằn quại
như thế. Mỗi một ngày, không biết có bao nhiêu người trai trẻ cùng lứa tuổi với
tôi đã âm thầm chết đi, nằm xuống lặng lẻ và cô quạnh một mình ở một nơi nào đó
trên lãnh thổ này, để lại không biết bao nhiêu là thương nhớ cho vợ con, cha mẹ,
anh em...
Đêm hôm đó, tôi cầu nguyện cho đến sáng. Tôi không cầu nguyện cho mình mà cầu
cho tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Tôi cũng không quên cầu nguyện cho những người
lính Việt Nam khốn khổ nữa.
Tuần lễ sau hôm lễ chịu chức linh mục làm một tuần lễ bận rộn vì những chuyện
mà theo tôi lỉnh kỉnh và chẳng quan trọng gì. Tôi phải mặc áo chùng đen, theo bố
mẹ đi thăm hết chỗ này đến chỗ nọ, hết nhà này đến nhà kia. Đi đến đâu, tôi
cũng được long trọng tiếp đón như là một ông hoàng. Tôi tự cảm thấy mình không
xứng đáng được tiếp đón như thế vì tôi thấy tôi chưa có làm gì được cho Giáo Hội,
chưa đóng góp gì được trong việc rao giảng tin mừng Phúc Âm mà lại được trọng vọng
quá đáng. Mỗi một lần như thế, tôi hết lời cám ơn và nguyện với lòng mình là sẽ
không phụ lòng của những người đã tin tưởng nơi tôi...
Đúng một tuần lễ sau, một buổi sáng, thầy mẹ dắt tôi đến yết kiến Đức Tổng Giám
Mục. Văn phòng ngài tọa lạc trong một biệt thự đồ sộ, nguy nga, trông cứ như một
tòa lâu đài thời Trung Cổ. Trước hết, chúng tôi được mời vào gặp vị linh mục Tổng
Thư Ký. Ngài mời chúng tôi vào văn phòng ngài, ngồi trước bàn giấy rồi lấy ra một
xấp hồ sơ khá dày, để lên bàn và nói:
- Đây, tất cả giấy tờ của cha Lịch tôi đã có sẵn đây. Trường đại học Sorbone đã
nhận đơn xin nhập học của cha và cha sẽ bắt đầu nhập học vào mùa thu này. Chúng
tôi cố gắng nhét cha vào niên học mùa xuân nhưng trường đã hết chỗ, cha phải chờ
đến mùa Thu vậy.
Tôi không nhớ là mình đã điền đơn xin gia nhập trường đại học Sorbone lúc nào
nhưng không hỏi, không phản đối. Người ta đã lo liệu cho mình như thế thì mình
cứ theo như thế...
Cha Tổng Thư Ký lại tiếp:
- Từ bây giờ đến đó còn hơn sáu tháng nữa, nếu cha muốn sang đó trước để nghỉ
ngơi hoặc học hỏi thêm về cuộc sống bên Pháp thì cũng là một điều hay và tốt,
chúng tôi thấy chẳng có gì trở ngại cả. Nghe nói hình như ông bà đã mua nhà cho
cha bên Pháp rồi.
Bố tôi nói liền, giọng đầy hãnh diện và dĩ nhiên, luôn luôn là phải mở đầu bằng
một câu tiếng Pháp:
- Biên suy mông Pe.... Không phải một căn mà đến hai căn villa. Một cái ở trung
tâm thành phố Paris, cái kia ở cách Paris 75 cây số...
Tôi cảm thấy thật là mắc cỡ vì cái thật thích khoe khoang của của bố mình,
nhưng linh mục Tổng Thư Ký lại cười dễ dãi:
- Như thế là cha may mắn lắm đó. Hồi tôi đi du học bên ấy, tôi phải ở trong cư
xá công cộng. Có một năm, hệ thống sưỡi bị hư thế nào không biết mà chúng tôi
không có sưỡi cả tháng trời, lên giưỡng mặc 5, 6 lớp áo mà vẫn còn lạnh. Chỉ
vài tuần là anh em chúng tôi ngã bịnh hết. Bây giờ nhớ lại còn thấy rùng
mình...
Bố tôi nói:
- Mẹc xà lù cái anh Gô loa. Cái anh ... chính phủ Paris làm việc lăng nhăng, chẳng
ra gì. Chính thế mà tôi phải gởi tiền qua gấp để mua nhà cho Cha Lịch. Gần 300
ngàn đô la đấy chạ ạ, chẳng rẻ đâu. Beaucoup de ... đô la.
Mẹ tôi thêm vào:
- Thì người ta biết mình thương con cần nhà cho nên người ta bóp chẹt như thế,
chúng con cũng đành chịu thôi. Theo con biết thì giá thị trường chỉ chừng 250
ngàn đô la thôi. Nhưng cũng may là nhờ ơn Chúa cho làm ăn được khấm khá nên
chúng con cũng xoay sở được. Thật tạ ơn Chúa.
Bố tôi phụ họa:
- Tạ ơn Chúa. Đề ô Grát Xi át. Mẹc xi mông dờ...
Trong lúc mọi người nói chuyện với nhau như thế thì tôi lại nghĩ đến một việc
khác. Nếu tôi có 6 tháng rảnh rổi và được phép chọn thì tôi muốn xin ở lại Việt
Nam, ở lại quê hương tôi để tôi có dịp tìm hiểu thêm cái đất nước của mình, đồng
bào của mình. Dù năm đó đã 27 tuổi, tôi chưa biết gì nhiều về đất nước tôi, dân
tộc tôi.
Tôi nói:
- Thưa Cha, nếu được, con xin phép được sống 6 tháng còn lại ở Việt Nam. Con muốn
có dịp tìm hiểu thêm về đất nước, quê hương mình.
Mẹ tôi cũng nói ngay:
- Đúng đấy anh ạ. Tôi chẳng muốn xa anh. Anh ở gần tôi ngày nào thì tôi đội ơn
Chúa ngày ấy.
Bố tôi cũng gật đầu, nói một câu mà tôi không hiểu là tiếng Pháp, tiếng Việt,
tiếng Tàu hay tiếng Anh nên không viết ra đây được.
Linh mục Tổng Thư Ký nói:
- Cái đó là tùy nơi cha Lịch và ông bà, đối với toà Giám Mục thì sao cũng được.
15 phút sau, chúng tôi được mời vào yết kiến Đức Tổng Giám Mục. Ngài không nói
nhiều, chỉ chào hỏi, bắt tay qua loa rồi trao đổi qua lại vài câu vô thưởng vô
phạt. Chỉ sau vài phút đồng hồ, ngài đứng lên bắt tay ba tôi để đuổi khách. Tôi
biết đã đến lúc chúng tôi phải ra đi, nhưng tôi có một điều muốn hỏi ngài.
Lúc ngài bắt tay tôi, tôi nói:
- Kính thưa Đức Cha, con muốn xin Đức Cha một ân huệ.
Đức Tổng Giám Mục ngạc nhiên, nhìn tôi hỏi:
- Cha có gì xin cứ nói.
- Con còn ở lại Việt Nam hơn 6 tháng nửa mới đi du học, trong giai đoạn này,
con muốn tình nguyện vào giúp một nhà xứ nào đó để con học hỏi thêm chút ít
kinh nghiệm cũng như sự khôn ngoan của các cha xứ...
Ngài ngồi xuống ghế trở lại, suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Tất cả những họ đạo trong giáo phận chung quanh đây đã có quá dư người rồi.
Lý do là trong những vùng chiến tranh, khi có một họ đạo bị giải tán, tôi cho
đem hết các cha xứ về đây để chờ xây dựng lại. Nhưng chiến tranh càng ngày càng
lan rộng, các nhà xứ bị giản tán nhiều mà không dựng giáo phận mới được, cho
nên tôi có dư một số đông linh mục.
- Thưa Đức Cha, con không muốn nhất thiết phải đi xứ ở trong giáo phận này, con
muốn đi đâu cũng được. Con chỉ muốn phục vụ tha nhân và phụng sự Thiên Chúa.
Đức Tổng Giám Mục quay sang nhìn bố mẹ tôi như để dò hỏi sự đồng ý. Hai người
không nói gì. Tôi tiếp:
- Con chỉ có mấy tháng thôi thưa Đức Cha. Con nghĩ con đi đâu cũng được...
Đức Tổng Giám Mục lại ngã người ra sau, suy nghĩ một lúc rồi nói:
- Được, nếu cha nói thế thì tôi sẽ nhớ. Xin ông bà cho tôi số điện thoại, nếu cần
tôi sẽ gọi...
Trên đường về, trong lúc chiếc xe Mercedes chở chúng tôi đang đi trên đường
ngon lành thì bị một chiếc xe của quân cảnh chớp đèn chận lại ở một ngã tư. Tôi
chưa hiểu chuyện gì thì đã thấy một đoàn xe GMC nhà binh chạy qua, trên xe là
những chiếc quan tài. Ngồi ở hai bên thành ghế là những người đàn bà mặt mày bơ
phờ, tóc tai rủ rượi, chít những chiếc khăn tang trắng coi rất là thê lương thảm
thiết. Có chiếc xe còn có cả mấy đứa con nít nữa.
Trông họ như những người mất hồn và những cặp mắt mới thật là buồn thảm đau đớn
làm sao. Suốt đời tôi, tôi không thể nào quên được những cặp mắt này.
Tài xế Bình lắc đầu, than:
- Mới đụng lớn ở vùng 3 chiến thuật. Chết nhiều lắm.
Bố tôi tiếp tục phì phà điếu thuốc, chẳng nói gì, chẳng có phản ứng gì. Mẹ tôi
ngồi dán mắt vào cuốn catalog của hãng Sear, cũng chẳng chú ý gì những lời tài
xế Bình vừa nói. Tôi nhắm mắt lại, âm thầm cầu nguyện cho những người chiến sĩ
đã hy sinh cho đất nước và cho tương lai những người quả phụ xấu số kia và con
cái của họ.
Tôi tự hỏi, nếu nhà tôi nghèo và tôi không đi làm linh mục, tất nhiên tôi phải
đi lính. Và nếu tôi bị chết giữa xa trường thì chính mẹ tôi hay bố tôi sẽ là những
người đang ngồi trên những chiếc xe GMC nhà binh ấy chở xác tôi. Không hiểu
sao, nước mắt tôi tự nhiên ứa ra. Tôi thấy thương cho những con người hèn mọn
nghèo khổ kia quá. Ngày mai đây, không biết những bà vợ sẽ xoay sở như thế nào
khi vắng bóng người chồng. Không biết những đứa con thơ mất cha sẽ nghĩ gì về bố
chúng nó...
"Lạy Chúa, xin hãy đoái thương dân tộc con, đất nước con." Đó là lời
cầu nguyện của tôi trước khi xe chạy...
Những ngày sau đó thật là thừa thải. Thừa thải đến chán chường. Buổi sáng tôi
đi hành lễ ở nhà thờ gần đó rồi về nhà, đọc sách, suy nghĩ, Vì không có gì để
làm cho nên tôi tiếp tục cầu nguyện...
Một tháng trời nhàm chán trôi qua, không thấy tòa Giám Mục nói gì cả đến việc
xin đi xứ của tôi, tôi nghĩ ra một việc. Thế là tôi lái xe lên nhà thờ Ba
Chuông xin một chân dạy học để giết thì giờ. Cha xứ hớn hở chấp nhận ngay nhưng
nói:
- Thưa Cha, tôi chỉ cần giáo sư dạy toán đệ nhị cấp, không biết cha có dạy nổi
không.
Tôi gật đầu:
- Thưa Cha, con tốt nghiệp Thần Học nhưng rất giỏi toán. Cha cứ đưa sách cho
con, con sẽ dạy được...
Thế là mỗi sáng, anh Bình đánh xe Mercedes chở tôi lên nhà thờ Ba Chuông dạy học,
chiều đón tôi về. Tôi có khiếu ăn nói nên chẳng bao lâu, học sinh học tiến bộ rất
nhanh. Tôi cũng thấy hài lòng vì ít nhất cũng làm được một việc hữu ích để giúp
Giáo Hội.
Sang đến tháng thứ ba, một buổi chiều, tôi vừa đi dạy về thì mẹ tôi bảo:
- Tòa Giám Mục muốn cha ngày mai lên gặp Đức Tổng Giám Mục gấp.
Tôi mững rỡ, biết là sẽ được đi xứ. Nhưng mẹ lại nói:
- Nếu Đức Tổng Giám Mục có cho cha đi xứ thì nhớ từ chối nhé. Còn mấy tháng nữa
là đi Pháp rồi, đi xa nhà làm chi.
Tôi không nói gì, vào phòng thay quần áo.
Ngày hôm sau, 7 giờ rưỡi sáng, tòa Giám Mục chưa mở cửa thì tôi và Bình đã đậu
xe ở bên ngoài, háo hức chờ đợi. Mãi cho đến gần 10 giờ, tôi mới được yết kiến
linh mục Tổng Thư Ký. Ngài bảo:
- Đức Tổng Giám Mục có chuyện đi xa, nhờ tôi nói với cha chuyện này.
- Thưa, xin cha cứ dạy.
- Có một cái làng tên là làng Mỹ Thanh ở miền Trung Việt Nam, cách thành phố
Tuy Hòa khoảng 150 cây số về hướng Bắc...
Linh mục Tổng Thư Ký ngừng ở đó, mặt có vẻ suy tư và đưa mắt nhìn tôi như muốn
dự đoán phản ứng. Tôi chẳng biết Tuy Hòa ở đâu và cũng chẳng cần biết. Tôi
không nói gì. Cha tiếp:
- Chuyện này không quan trọng, nếu cha thấy muốn đi thì đi, còn không thì tôi,
chúng tôi không ép vì chúng tôi biết cha chỉ còn mấy tháng nữa là đi Pháp du học
rồi. Chính Đức Tổng Giám Mục bảo thế.
- Thưa cha, chỉ còn mấy tháng nữa thôi nên con càng muốn đi hơn nữa.
- Chuyện hơi dài, tôi không biết phải bắt đầu như thế nào... Nhưng đại khái như
thế này. Làng Mỹ Thanh là một làng đánh cá và trồng trọt nhỏ, nằm giữa một khu
vực mất an ninh có khoảng chừng trăm nóc gia. Cách đây nhiều năm, đó là một họ
đạo trù phú nhưng khi chiến tranh lan rộng thì nhiều người bỏ đi. Họ đạo cứ nhỏ
dần đi.
Ông cha lại ngừng như để suy nghĩ tìm lời nói rồi tiếp:
- Cha xứ ở đó tên là Trọng, Giu-se Nguyễn Văn Trọng. Một ông già...
Linh mục Tổng Thư Ký ngừng một chút như để lựa lời rồi nhăn mặt nói, làm như rất
đau khổ khi phải nói ra những lời này:
- Cha Trọng là một ông già khó tánh, hơi khùng khùng...
Cha Tổng Thư Ký mồi một điếu thuốc lá, nói tiếp:
- Đấy chỉ là những lời đồn đãi thôi, tôi không biết vì chưa bao giờ gặp ngài.
Cha Trọng đáng lý đã về hưu từ lâu nhưng vì một lý do nào đó ít ai hiểu được, cứ
xin ở lại với con chiên. Tôi phải nói trước cho cha biết vùng ấy là một vùng mà
người ta gọi là vùng xôi đậu, nhiều nguy hiểm. Ban ngày thì quốc gia làm chủ,
và ban đêm thì thuộc về Việt cộng. Nghe nói cha Trọng đã bị họ bắt đi mấy lần
nhưng nhờ ơn Chúa, lần nào ngài cũng trở về được...
Cha Tổng Thư Ký im lặng, đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ rồi tiếp:
- Sỡ dĩ Đức Tổng Giám Mục nghĩ đến cha là vì nghe nói cha đang dạy học ở trường
Nhà Thờ Ba Chuông và dạy rất thành công, các cha rất khen.
- Thưa cha thì con chỉ cố gắng, không biết có được khen như thế không.
- Cha Trọng có một ngôi trường nhỏ và ông hiệu trưởng kiêm ông thầy dạy toán bị
bắt đi lính nên ngài cần một người phụ để coi sóc trường học. Thêm vào đó, cha
Trọng cũng cần phải về Sài-Gòn vài chừng tuần lễ để gặp và nói chuyện với Đức Tổng
Giám Mục về tương lai của ngài. Tôi nghĩ chắc Đức Tổng Giám Mục sẽ cho ngài về
hưu. Ngài già lắm rồi. Nếu cha đi được Mỹ Thanh thì quá tốt, vừa giúp cha Trọng
coi sóc ngôi trường, vừa phụ coi xứ lúc cha Trọng về Sài-Gòn.
- Thưa cha, con sẵn sàng đi giúp cha Trọng. Phải nói rõ hơn là con rất thích.
Xin cha cho phép con đi ngay...
Ông cha Tổng Thư Ký lại đưa mắt nhìn tôi, như muốn đo lường sự thật trong câu
nói:
- Vấn đề là, không biết ông bà cụ có muốn cho cha đi không cho nên Đức Tổng
Giám Mục cứ áy náy mãi.
- Thưa cha, con đã chịu chức linh mục, đời con đã thuộc về Giáo Hội, và con có
bổn phận để thi hành, Đức Tổng Giám Mục chẳng có gì phải áy náy cả.
- Cha nói được như thế thì tốt quá, tôi sẽ trình lại Đức Tổng Giám Mục.
Ông lấy ra một phong thư đưa cho tôi:
- Đây là lá thư giới thiệu của toà Giám Mục. Cha có cần gì thêm thì nói cho
chúng tôi biết.
Tôi nhận lá thư, hỏi:
- Thưa, chừng nào thì con phải đi ạ?
- Cứ từ từ, vài ba ngày nữa cũng được.
- Thưa cha, con muốn ngày mai đi liền.
- Không sao, để tôi bảo thư ký mua vé máy bay cho cha. Cha sẽ đáp xuống phi trường
Qui nhơn rồi đón xe đò về Tuy Hòa. Từ Tuy Hòa, cha sẽ đón xe lam đến Quận Nam
An. Tại đây, cha có thể đi Honda ôm vào làng Mỹ Thạnh.
Tôi suy nghĩ một lúc rồi nói ngay:
- Như thế thì rắc rối quá. Con có thể dùng xe nhà được không ạ? Con muốn tiện dịp
này coi phong cảnh quê hương mình luôn.
- Nếu cha muốn thế thì rất tốt. Cha còn cần gì nữa không?
- Chỉ xin cám ơn cha và Đức Tổng Giám Mục đã tin tưởng con.
- Tốt. Sau khi cha Trọng gặp Đức Tổng Giám Mục và về lại Mỹ Thạnh, cha có thể
lên đường về lại đây để chuẩn bị đi Pháp.
- Con xin cám ơn cha...
Tôi cầm phong thư giới thiệu bước ra khỏi tòa Giám Mục mà thấy lòng vui như mở
hội. Trước khi đi Pháp du học, không còn gì quý hơn là được đi xứ một vài tháng
ở một xứ đạo hẻo lánh nằm trong một góc nào đó của quê hương đất nước mình. Tôi
biết là bố mẹ tôi chắc chắn sẽ không thích chuyện này nhưng tôi phải đi.
Tôi phải đi vì tôi là linh mục.
Vào ngồi trong xe, tôi hỏi ngay Bình:
- Anh có nghe cái tên Tuy Hòa chưa?
Bình rồ máy xe, cũng háo hức vì thấy tôi yêu đời vui vẻ:
- Thưa có. Đó là một thành phố nghèo nơi ven biển ở miền Trung. Cha được cử đi
xứ ở Tuy Hòa à?
- Không, tôi đi dạy học ở làng Mỹ Thạnh, cách Tuy Hòa chừng 70 cây số.
- Con chưa bao giờ nghe đến làng Mỹ Thạnh.
- Anh có muốn lái xe chở tôi đi Mỹ Thạnh không?
- Cha muốn đi đâu con chở cha đến đó. Bổn phận của con mà. Nhưng nếu đi lên miền
Trung thì phải đổi xe, đổi xe Jeep mà đi để khỏi bị lún dọc đường. Đường xá miền
Trung xấu và gập gềnh lắm...
- Tốt. Thế thì anh về chuẩn bị quần áo để ngày mai lên đường với tôi.
- Xin vâng...
Về đến nhà, tôi vừa bước xuống khỏi xe thì mẹ tôi đã chạy ra, hỏi:
- Thế Đức Tổng Giám Mục nói gì thế con?
- Ngày mai con lên đường đi dạy học ở một cái làng tên là làng Mỹ Thạnh.
Mẹ tôi biến sắc, hỏi dồn:
- Ối giời, Mỹ Thạnh ở đâu hở con?
- Một làng đánh cá nhỏ gần Tuy Hòa.
- Lạy Chúa, Tuy Hòa miền Trung à?
- Vâng.
Mẹ tôi òa khóc. Tôi dìu người vào nhà và dỗ dành, cắt nghĩa đủ điều cho mẹ tôi
hiểu. Tôi chỉ đi một tháng rồi về chứ không đi luôn.
Buổi chiều và tối hôm đó, bố tôi bận việc không về nhà nên tôi không có dịp
chào người trước khi đi xa. Nhưng nghĩ cho cùng, tôi chỉ đi có vài tuần rồi về,
chẳng đáng để nghĩ đến.
Sáng hôm sau, Bình và tôi cất hành trang vào sau chiếc xe Jeep rồi lên đường. Mẹ
tôi ra tận xe tiễn đưa chúng tôi. Xe đi xa rồi, tôi còn nhìn thấy Mẹ vẫy tay
nhiều lần.
Chúng tôi thay phiên nhau lái xe đi theo hướng Bắc, qua Phan Thiết, Phan Rang,
Nha Trang, và cuối cùng thì Tuy Hòa. Chưa bao giờ được đi trên con quốc lộ cho
nên tôi thấy phong cảnh đẹp vô cùng. Nhất là khi đi ngang qua một thị trấn nhỏ
tên là Sông Mao, phía Bắc của Phan Thiết. Phong cảnh hùng vĩ và đẹp đến nổi
chúng tôi phải dừng xe rồi cắm trại ở bờ biển một đêm, sáng hôm sau đi tiếp.
Cứ như thế, gặp chỗ nào vui thì chúng tôi dừng xe nghỉ ngơi rồi sau đó tiếp tục.
Đến sáng hôm ngày thứ ba, chúng tôi dừng chân ở quận Nam An. Đây là một quận nhỏ,
cũng nằm gần ven biển. Chúng tôi hỏi đường và một tiếng đồng hồ sau, chiếc xe
Jeep mò vào một cái làng nhỏ bé, nghèo nàn, trơ trọi nằm gần ven biển.
Tôi nhớ linh mục Tổng Thư Ký nói làng Mỹ Thạnh có cỡ chừng trăm nóc gia nhưng
theo tôi thì ít hơn. Lúc ấy vào khoảng 9 hay 10 giờ sáng, con nít đi học, người
lớn đi làm cho nên làng mạc vắng hoe. Cái làng, đúng hơn chỉ là hai hoặc ba lớp
nhà nằm hai bên một con đường đất đỏ, chỗ được trải sạn, chỗ lót gạch đỏ, chỗ
thì chỉ có đất. Đó đây, những con gà đi bới móc tìm thức ăn, những con chó nhỏ
nằm ngáp vặt một cách lười biếng ở những căn nhà mái tranh chỉ có những cánh cửa
khép hờ...
Sinh ra và lớn lên trong thành phố, tôi bao giờ nhìn thấy một nơi chốn nghèo
nàn và trơ trọi như thế...
Một điều quan trọng khác nữa là tôi không hề nhìn thấy một cái nhà nào giống
cái nhà thờ cả. Nếu đây là một xứ đạo thì phải có nhà chứ...
Cuối cùng, chúng tôi dừng xe ở một cái sân rộng nơi có một dãy nhà nửa tôn nửa
tranh nằm thành một đường dài bên cạnh một cái sân lớn.
Chiếc xe vừa ngừng thì trong dãy nhà tôn một đám chừng vài chục đứa trẻ, nước
da đen bóng, tuổi từ 6,7 đến mười mấy chạy ùa ra. Tôi để ý là chúng nó nhỏ con
nhưng thân thể rắn chắc, mặt mũi khôi ngô rất là dễ thương.
Chúng nó chạy tới gần cách chiếc xe chừng 10 thước thì đứng lại, không dám tiến
thêm, có vẻ vì sợ người lạ. Tôi và Bình bước xuống xe.
Nhìn thấy chiếc áo chùng đen của tôi, chúng nó cùng vòng tay và cúi đầu chào,
nói:
- Lạy Cha ạ.
Tôi hỏi:
- Chúng con có biết cha Trọng đâu không?
Một thằng bé chừng mười tuổi, mặt mũi khô ngô tuấn tú bước ra và mạnh dạn trả lời:
- Thưa cha, ông cố chắc đi phố ạ.
Tôi hơi ngạc nhiên:
- Ông cố?
- Thưa cha, bố mẹ gọi ngài là Cha còn chúng con phải gọi là ông cố ạ.
- À, thế thì ông cố đâu rồi.
- Hôm nay ông có không đi biển, không ra đồng, lại không có trong nhà thờ,
không có trong trường thì ông phải đi phố rồi ạ.
Tôi đang nói chuyện như thế thì đám trẻ còn lại đã bu quay chiếc xe Jeep. Có lẽ
chưa bao giờ nhìn thấy chiếc xe Jeep dân sự màu xanh cho nên chúng nó vây quanh
chiếc xe. Có đứa thò tay cạo cạo vào thành xe. Có đứa lại gõ gõ vào tấm bạc chiếc
xe. Có một thằng lại nhặt một khúc cũi và đánh vào bánh xe nghe binh binh rồi
cười với nhau thích thú.
Tôi hỏi:
- Ông cố đi phố nào?
- Thưa con chẳng biết nhưng con có thể chỉ cho cha.
Nó quay sang đám con nít, nói như ra lệnh:
- Chúng mày vào lớp, tao dắt cha đi kiếm ông cố...
Tôi quay sang tìm Bình nhưng không thấy hắn đâu cả. Nhìn xa hơn một chút thì
tôi thấy Bình đang ngồi giữa một đám trẻ khác, dơ tay dơ chân như đang kể chuyện
gì đó. Tôi quyết định khỏi phải làm phiền hắn và đi một mình. Tôi bảo:
- Con lên xe cha chở đi...
Thằng bé phóng lên xe nhanh hơn cả một con sóc, mặt mày hí hửng. Nó bảo:
- Lần đầu tiên con được đi ô tô đấy cha ạ.
- Tên con là gì.
- Thưa con tên là Rệp.
Tôi không giấu được tiếng cười:
- Không, tên thật của con kìa.
- Con cũng chẳng nhớ, hình như là Xuân hay là Hòa gì đó. Ở đây người ta cứ gọi
con là rệp. Cha quẹo vào đường này đi...
Tôi quẹo xe, bắt đầu cảm thấy thích thằng bé. Nó có cái trán dồ ra phía trước một
cục giống như cái trán của tôi hồi còn nhỏ.
Thằng Rệp xuýt xoa:
- Đi ô tô sướng thật. Sướng quá.
Tôi hỏi:
- Cha Trọng đi phố bằng gì.
- Ông Cố chứ không phải cha Trọng.
- Ừ thì ông Cố. Ông Cố đi phố bằng gì?
- Honda. Cha quẹo vào con đường này.
Tôi nhìn theo hướng thằng bé chỉ và nhận ra một con đường đất khá lớn. Không hiểu
sao lúc nãy hỏi đường, người ta không chỉ con đường này mà lại chỉ một con đường
khác đi rất gồ ghề. Nhưng sự suy nghĩ qua nhanh.
Thằng Rệp chợ hỏi:
- Cha phóng nhanh hơn tí nữa được không cha?
Tôi vừa trả lời vừa nhấn thêm ga:
- Được chứ.
Thằng Rệp cười lên sằng sặc, khoái chí:
- Chao ôi, sướng rên người, sướng quá.
Thấy nó sướng như thế, tôi càng thêm nổi hứng, nhấn ga sâu hơn nữa. Chiếc xe
Jeep tăng tốc độ, phóng nhanh như một mũi tên...
Thằng Rệp càng cười lớn hơn nữa:
- Cha thật là ngon lành chịu chơi. Con đi với ông Cố, ông Cố chẳng bao giờ dám
như thế... Ông cố cũng chẳng bao giờ dám đi con đường này..
Câu nói của thằng bé làm cho tôi phải giật mình suy nghĩ. Tại sao lúc nãy người
ta không chỉ con đường ngày cho tôi đi và bây giờ thì thằng bé lại bảo ông Cố
chẳng bao giờ dám đi con đường này...
Nhất định phải có chuyện gì bí ẩn đây...
Suy nghĩ như thế và tôi toan nhả chân ga thì bỗng kinh hãi nhìn thấy phía trước
mình một cái hố thật lớn...
Tôi hoảng hốt buông chân ga và đạp thắng nhưng không kịp nữa rồi. Chiếc xe bay
qua lưng chừng miệng hố rồi rớt xuống và tưng lên cao rồi bay tuốt sang miệng hố
bên kia...
Chiếc xe nghiêng qua bên trái, chỗng hai bánh bên phải lên trời rồi lại rớt xuống,
nghiêng qua bên phải và chổng hai bánh phía bên kia lên trời. Nhất định là chiếc
xe này sắp lật rồi...
Tôi không biết phải làm gì, chỉ gò cứng tay lái và cầu nguyện, xin Chúa cứu cho
tôi thoát chết.
Và Chúa nhậm lời tôi. Chiếc xe lắc lư một khúc nữa rồi ngừng lại. Mãi cho đến
lúc đó, tôi mới nghĩ đến thằng Rệp...
Tôi quay sang nhìn và kinh hoảng nhận ra là thằng Rệp không còn ngồi trong xe nữa.
Tôi quay nhìn phía sau cũng không thấy nó. Lạy Chúa, nếu thằng Rệp có mệnh hệ
nào thì tôi không thể nào tha thứ cho tôi được.
Tôi chưa biết phải làm gì thì có tiếng vỗ vỗ vào thành xe. Tôi nhìn ra và thấy
thằng Rệp đang cười toét miệng:
- Vui quá, vui quá...
Tôi mừng quá nhảy xuống xe và nhấc bổng thằng bé lên, hỏi:
- Con có sao không?
- Không, con bị văng ra ngoài, rớt ngay trên miệng hố. Còn nhìn thấy cha mà con
không nhịn cười được...
Tôi bỏ nó xuống:
- Con có biết là cha con mình vừa thoát chết không?
- Cha là người của Chúa, làm sao mà chết được.
- Con đó đức tin manh như thế thì rất tốt nhưng không phải hễ là người của Chúa
thì bất tử...
- Con luôn tin như thế.
Tôi nhìn quanh và bỗng nhìn thấy xác một chiếc xe GMC nhà binh nằm chỏng gọng ở
bên đường. Cỏ mọc cao nên nếu không để ý thì không thể thấy được...
Tôi chỉ chiếc xe, hỏi thằng bé:
- Chiếc xe GMC đó làm sao mà nằm một đống ở đó như thế.
Câu trả lời của thằng bé làm tôi muốn rụng rời tay chân:
- Chiếc xe đó bị mìm nổ tháng trước. 3 ông lính bị chết đấy cha ạ.
Tôi muốn toát mồ hôi hột. Thằng bé chỉ cái hố, tiếp:
- Cái hố đó là cái hố mìn đấy cha ạ. Mấy anh Giải Phóng bảo mấy anh ấy chôn
mình để Mỹ Ngụy không tiến vào làng ta được.
Tôi rú lên một tiếng rụng rời:
- Mấy anh Giải Phóng là ai?
- Là Giải Phóng quân, là bộ đội Cách Mạng đấy. Mấy anh hay đánh nhau với lính Cộng
Hòa.
- Con nói mấy anh Việt cộng?
- Vâng. Người ta thường gọi Việt cộng nhưng chúng con không gọi thế. Mấy anh Giải
Phóng bảo chỉ có Mỹ Ngụy mới gọi thế.
- Để cha hỏi con, con biết đường có chôn mìn, sao con không nói cho cha biết mà
lại chỉ cha đi vào con đường này. Nếu xe mình cán phải mìn thì hai cha con mình
chết thì sao?
Thằng Rệp trả lời tỉnh bơ:
- Cha chỉ lo xa. Mấy anh Giải Phóng bảo mìn gài bằng sức ép, chỉ có xe GMC nhà
binh hay xe tăng cán phải mới nổ. Xe gắn máy hay xe díp của cha không sao cả.
Thằng bé sinh ra trong chiến tranh quả biết nhiều hơn những người lớn lên ở
thành thị như tôi. Tôi không hề biết chuyện mìn bẫy nổ bằng sức ép, thế mà thằng
bé này biết hết. Tôi hỏi:
- Nếu thế thì sao ông Cố không đi đường này?
Thằng Rệp cười:
- Tại ông Cố nhát gan. Ông cố lo sợ đủ thứ.
Tôi lắc đầu:
- Không phải thế đâu. Ông Cố không đi đường này vì ông cố sợ cán phải mìn.
Vừa nói, tôi vừa nhìn quanh quất và suy nghĩ đến chuyện không biết làm cách nào
để trở về làng an toàn. Người có nhiều kinh nghiệm nhất để đối phó với những
chuyện chiến tranh đạn dược này là Bình thì hắn lại không có mặt ở đây.
Và tôi tìm ra một giải pháp ngay. Người ta chôn mìn ở trên đường cái để chống
xe chứ không chôn ở hai bên vệ đường. Quyết định như thế, tôi bảo Rệp:
- Bây giờ cha con mình phải để xe đây và đi bộ về. Cha đi theo trước, con đi
theo cha. Đừng có bước bậy bạ mà đạp vào mìn là toi mạng cả hai người.
Thằng Rệp cười:
- Cha nói chuyện giống ông cố quá.
- Giống chỗ nào?
- Ông cố cũng hay dùng chữ "toi mạng" hì hì...
- Đừng có vớ vẩn nữa, đi theo cha.
- Con xin vâng.
Từng bước một, chúng tôi bước ra tới bên mé đường. Cho chắc ăn, tôi đi thêm một
khoảng nửa rồi lấy hướng đi trở về làng. Nửa tiếng đồng hồ sau, Bình cũng đang
đi tìm tôi và nhìn thấy tôi cùng thằng Rệp đi bộ về thì hắn hốt hoảng:
- Chết chửa, con ham chơi bỏ cha đi một mình. Thế thì xe đâu rồi. Cha có sao
không?
Tôi vắn tắt kể lại những gì vừa xảy ra cho Bình nghe rồi kết luận:
- Bây giờ anh có cách nào để lái xe về không?
Bình gật đầu:
- Thằng bé nói đúng. Chúng nó chôn mìn để chống xe lớn, xe díp mình nhỏ và nhẹ
nên không đến nổi nào, nhưng cũng không thể dùng con đường ấy được vì mình
không bao giờ biết những chuyện gì có thể xảy ra.
- Thế thì phải làm thế nào?
- Chẳng khó gì, lái xe xuống khỏi đường rồi đi theo đường tắt đi về.
Nửa tiếng đồng hồ sau, tôi, Bình và thằng Rệp đã ngồi trên xe theo con đường cũ
trở lại quận Nam An.
Quận chỉ có mấy con đường, một đồn lính nghĩa quân, một trụ sở hành chánh, một
con phố, một cái chợ và cuối cùng, một sân vận động nằm chơ vơ gần chợ. Cả phố
chỉ có độ dăm chiếc xe hơi, toàn là xe nhà binh, vài chục chiếc xe gắn máy, còn
đa số là xe đạp.
Bình lái xe chầm chậm giữa phố trong khi chúng tôi đưa mắt tìm kiếm Cha Trọng.
Tôi để ý một điều là nơi này có khá nhiều kẻ nhàn rỗi. Họ ngồi thành từng nhóm
bên cạnh những chiếc bàn nhỏ, trong những bộ đồ thường dân cũng như những bộ đồ
lính, và hầu như người nào cũng có một điếu thuốc trên môi.
Tôi tự hỏi, trời còn sáng, họ không đi làm, không đi học, không làm gì cả như
thế thì lấy tiền đâu mà ngồi cà phê thuốc lá suốt ngày được.
Lái hết vòng thứ hai, Bình dừng xe trước một thùng bán thuốc lá bên vệ đường, hỏi
cô bán hàng:
- Xin lỗi, cô có biết ông Cha Trọng đâu không ạ.
Cô bé nói ngay:
- Cha đi vào Chùa thầy Tịnh Đức rồi...
Tôi và Bình cùng giật mình. Bình ú ớ hỏi lại:
- Cha đi vào... Chùa?
- Phải. Cha đi thăm bạn cha là Thầy Tịnh Đức. Chắc có quà gì cho Thầy.
Bình nhìn quanh quất để kiếm một ngôi chùa nhưng không thấy. Tôi hỏi:
- Thế thì Chùa ở đâu, thưa cô.
Em bé nhìn thấy bộ áo chùng đen của tôi, liền cười nhẹ và nói:
- Thưa cha, cha cứ gọi con là con.
- Ừ, thế thì chùa ở đâu...
Con bé chỉ tay:
- Cha đi hết con đường này, gặp cái mã ông Tây, cha quẹo trái, lên một ngọn đồi
nhỏ. Chùa Thầy Tịnh Đức nằm trên đó.
- Cám ơn con. Mình đi, Bình.
Chúng tôi theo lời em bé chỉ. Tôi hỏi thằng Rệp:
- Con có biết thầy Tịnh Đức không?
- Biết chứ. Thầy hay xuống xóm đạo mang chuối cho ông. Ông cố hay mang bánh mì
cho Thầy.
Lại thêm một chi tiết lạ lùng nữa của Cha Trọng. Tôi chưa bao giờ được gặp cho
Trọng nhưng cứ theo nhận xét của những gì tôi nhìn thấy thì Cha nhất định phải
là một nhân vật lạ lùng...
Xe ra khỏi quận lỵ chừng 10 cây số thì chúng tôi gặp một cái mã khá lớn có mộ
bia bằng tiếng Pháp và có hàng rào bao bọc chung quanh. Bình quẹo trái và toan
đi lên nhưng chiếc xe lọt vào một cái hố nhỏ, nghiêng sang một bên. Bình de tới
de lui một lúc mới ra được khỏi hố. Hắn lùi xe lại rồi lắc đầu:
- Thưa Cha, con sợ mình lên không nổi.
- Tôi cũng sợ như thế.
- Đường nhỏ, xe gắn máy đi được nhưng xe díp này sợ lên không nổi, nhỡ lọt hố
thì không khéo phải bỏ xe ở lại đây.
- Thế thì mình xuống xe đi bộ.
Ba người chúng tôi xuống xe và leo dốc đi lên...
Ngọn đồi nhìn từ phía ngoài không cao lắm nhưng sao đi mãi, mồ hôi mồ kê nhễ nhại
mà vẫn chưa lên được tới đỉnh. Khoảng nửa tiếng đồng hồ sau, mồ hôi mồ kê nhể
nhại, chúng tôi bằng đầu nhìn thấy một ngôi chùa mái đỏ nằm giấu mình sau những
cây chuối và những cây ăn trái khác rất làm xum xuê...
Thằng Rệp phóng mình tới trước và biến mất trước khi tôi có thì giờ để cản nó lại...
Chúng tôi đi một quảng nữa thì thằng Rệp lại xuất hiện, đem về mấy quả mảng cầu.
Tôi toan dạy cho nó một bài về việc hái trái cây không xin phép nhưng mệt quá,
nói không ra hơi.
Tôi và Bình ngồi trên một hòn đá để nghỉ ngơi. Bình bốc võ quả mằng cầu, đưa
cho tôi. Tôi ngần ngừ một chút rồi cầm lấy.
Trên đời, chưa bao giờ tôi được ăn một quả mằng cầu ngon như thế bao giờ. Có lẽ
vì khát nước, có lẽ vì mệt, và cũng có lẽ vì mẳng cầu tươi, hái từ trên cây xuống...
Chúng tôi đang ngồi ăn ngon lành như thế thì bỗng nghe được một tràng cười
khoái trá từ phía sau cất lên:
- Ha ha.... ăn cắp mẳng cầu của Chùa rồi ngồi ăn ngon lành như thế thì chỉ có
cha con dân làng Mỹ Thạnh...
Tôi giật mình hốt hoảng quay lại, vừa kịp nghe thêm một giọng nói khác:
- Ha... ha... đúng lắm thầy ạ. Ăn cắp của Chùa là tội nặng lắm, theo thầy thì
mình phải phạt những người này như thế nào đây?
Sau lưng tôi là hai ông già khoảng trên 60 tuổi. Một người, dĩ nhiên, trọc đầu
trong bộ áo cà sa, người kia, ốm tong ốm teo và mặc áo chùng đen đã sờm rách. Cả
hai đều có những nụ cười trung hậu và đặc biệt nhất, những cặp mắt sáng như
sao.
Tôi lúng túng:
- Thưa... thưa... thầy Tịnh Đức và Cha Trọng phải không ạ?
Hai người gật đầu. Tôi nói:
- Lỗi của con đấy Thầy và cha ạ. Thằng Rệp chạy đi con không cản kịp....
Thầy Tịnh Đức xua tay, cười hiền:
- Mô phật. Tôi chỉ nói đùa thôi, cha khỏi phải cắt nghĩa làm chi.
- Xin cám ơn thầy....
Tôi quay sang cha Trọng:
- Thưa cha, chúng con đi kiếm cha.
- Cha khỏi cần nói thì tôi cũng biết rồi. Vào đây uống một ly trà với thầy Tịnh
Đức, nghĩ ngơi một chút rồi mình đi về...
Cha quay sang thằng Rệp:
- Rệp. Sao con không đi học.
- Thưa ông, con phải chỉ đường cho cha mới.
- Lần này ông tha. Lần sau là bi phạt đấy nhé.
- Con cám ơn ông.
Ở phía sau chùa là một cái vườn nhỏ trồng những cây cảnh được cắt gọn gàng
trông đẹp như trong một bức họa. Giữa vườn là một cái bàn đá với mấy cái ghế đá
chung quanh.
Chúng tôi chia nhau ngồi vào ghế, thầy Tịnh Đức hối chú tiểu đi bắt nước nóng.
Thằng Rệp lại biến mất với mấy chú tiểu của chùa.
Lợi dụng lúc thầy Tịnh Đức bận rộn, cha Trọng hỏi tôi:
- Tòa Giám Mục gởi cha lên đây để dạy học à?
- Thưa vâng.
Tôi nói, thò tay móc ra lá thư giới thiệu để trình cho ngài. Cha Trọng cầm lấy
nhưng không mở ra xem, lại bỏ lên bàn. Rồi ông lắc đầu, nhăn mặt lại:
- Đây là cái trường làng với dăm ba đứa con nít, tôi đâu cần một linh mục đẹp
giai tài giỏi như thế này. Tôi chỉ cần một ông giáo quèn thôi mà.
Tôi không biết đây là một lời khen hay chê, tại sao lại khen tôi là đẹp giai
tài giỏi. Và tôi càng không hiểu được sự khó chịu của cha Trọng khi được một
người giúp đỡ. Tôi trả lời:
- Thưa, con đang chờ đi Pháp, có chút ít thì giờ rảnh rỗi nên xin đi xứ giúp
cha. Nghe nói đức Đức Tổng Giám Mục cũng muốn gặp cha để bàn chuyện gì đó...
Cha Trọng nhíu mày:
- Cha đang chờ đi Pháp?
- Thưa cha vâng. Mọi sự đều đã được sắp đặt trước, con chẳng biết gì.
Cha Trọng nhíu mày suy nghĩ một lúc rồi hỏi:
- Cho phải cha là con của ông tỉ phú Nguyễn Trọng Hiếu và là em ruột của tướng
Nguyễn Trọng Thanh, tư lệnh vùng 4 chiến thuật.
Tôi bối rối:
- Thưa cha phải. Sao cha biết?
Cha Trọng cười:
- Sao lại không biết? Cả nước này, có thể nói, cả thế giới này biết. Tiệc thụ
phong linh mục của cha có ông tổng thống Thiệu đến tham dự, rồi truyền thanh và
truyền hình đều chạy tin hàng đầu, báo chí đăng tải cả mấy ngày chưa hết, tại
sao tôi không biết được.
Tôi không biết phải nói gì.
Bỗng dưng, cha Trọng đập tay xuống cái bàn đá một phát và gằn giọng:
- Thật là ngu xuẩn.
Tôi chới với, không biết phải nói gì và không hiểu tại sao lại là ngu xuẩn. Cha
Trọng lắc đầu:
- Tôi giận là vì tôi không hiểu tại sao người ta lại gởi một nhân vật quan trọng
như cha xuống đây...
Tôi không hiểu tại sao tôi lại là một nhân vật quan trọng. Chuyện này thì tôi
chịu, không thể nào đoán được. Cha Trọng có lẽ hiểu được sự thắc mắc của tôi,
liền cắt nghĩa tiếp:
- Cha phải biết, làng Mỹ Thạnh là một làng sôi đậu. Ban ngày thì chính phủ VNCH
mình làm chủ, ban đêm Việt cộng về quấy nhiễu. Cha là em ruột của một ông tướng
vùng, nếu Việt cộng chúng nó biết chuyện này, chúng nó bắt cóc cha đi thì có phải
là khổ cho gia đình cha và cho cả chúng tôi không? Thật là ngu xuẩn.
Bây giờ thì tôi mới hiểu ra những gì cha Trọng nói. Thành thật mà nói, lúc tôi
xin đi giúp xứ làng Mỹ Thạnh, tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện này. Và tôi
nghĩ tòa Giám Mục cũng có cùng một ý nghĩ như tôi, không hề nghĩ đến những chuyện
oái ăm này. Chúng tôi là dân tu hành, đâu phải dân trần tục, đâu phải là những
người sinh ra và lớn lên trong khói lửa nên làm sao nghĩ đến chuyện này được.
Càng nghĩ sâu hơn thì tôi càng thấy cha Trọng nói đúng. Nếu bọn Việt cộng bắt
cóc tôi và đòi hỏi một chuyện gì đó để chuộc tôi thì thật là một khó khăn không
những cho gia đình tôi mà còn cho cả tòa Giám Mục và chính phủ VNCH.
Tôi ngồi thừ ra, không nói được một lời.
Cha Trọng móc trong túi ra một gói thuốc, đốt một điếu. Tôi ngạc nhiên vô cùng.
Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một linh mục hút thuốc lá.
Cha phì khói, nói:
- Tôi không ngạc nhiên lắm. Từ lúc tôi chịu chức linh mục đến bây giờ, tôi chưa
bao giờ nhìn thấy tòa Giám Mục làm điều gì hữu lý. Toàn là những chuyện vô
lý...
Tôi góp ý kiến:
- Theo cha thì bây giờ con có thể làm gì để cải thiện lại tình thế?
- Theo tôi thì cha có thể lên xe phóng trở về lại Sài-Gòn liền.
Tôi lắc đầu, dõng dạc trả lời:
- Thưa cha, tòa Giám Mục đã gởi con đến đây, nếu con trở về mà không có phép
tòa Giám Mục thì con không làm tròn bổn phận. Hơn nữa, biết đâu chừng tòa Giám
Mục còn có một ý gì khác khi gởi con xuống đây. Con nhất định không muốn như thế.
Cha Trọng không nói gì, cặp mắt lim dim nhìn xuống phía dưới đồi. Tôi tiếp:
- Thưa cha, theo ý con thì con phải gởi một lá thư gởi cho tòa Giám Mục trước,
trình bày những gì mình vừa bàn với nhau và xin phép tòa Giám Mục cho con được
trở về lại Sài-Gòn.
Cha Trọng nhìn tôi bằng một cặp mắt khác lạ một lúc rồi nói:
- Đến chừng lá thư về đến Sài-Gòn và trở lại thì đã đến thời hạn cho cha trở về
để chuẩn bị đi Pháp.
Cha Trọng trầm ngâm một lúc rồi nói:
- Bây giờ thế này. Đằng nào thì cha cũng đã xuống đây rồi, vấn đề quan trọng
bây giờ là mình phải giữ bí mật tông tích của cha. Bọn Việt cộng ở đây ít khi đọc
báo chí, chúng nó không biết cha là ai đâu. Nếu mình không nói thì chẳng ai biết
được.
- Con đồng ý với cha.
Chúng tôi nói chuyện thêm một lúc nữa thì thầy Tịnh Đức đã trở lại với một bình
trà và mấy cái tách. Chú tiểu đi theo thầy bưng một dĩa hoa quả đầy những mảng
cầu và chuối.
Thầy Tịnh Đức nói:
- Mời hai cha và anh đây uống trà.
Tôi cúi đầu chào thầy. Thầy Tịnh Đức bỗng dưng nhìn tôi bằng một cặp mắt hơi
khác lạ nhưng rồi xoay mặt đi, không nói gì. Tôi cảm thấy hình như là thầy Tịnh
Đức đã biết tôi là ai.
Cha Trọng nói:
- Làng Mỹ Thạnh có chừng chục gia đình theo đạo Phật, thỉnh thoảng thầy cũng về
làng để thăm phật tử của thầy nên tôi và thầy quen nhau....
Thầy Tịnh Đức cười:
- Quen nhau và quý mến nhau như anh em ruột trong nhà.
Cha Trọng trả lời:
- Đúng thế...
Tôi đi từ một ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Trước hết, theo sự hiểu biết
của tôi thì làng Mỹ Thạnh là một làng Công Giáo, tôi không hề nghe có gia đình
Phật Tử nào ở trong này. Thứ hai, tại sao làng Mỹ Thạnh lại chứa chấp những gia
đình không phải là Công Giáo trong làng của mình. Chuyện này tôi chưa hề nghe.
Còn chuyện cha Trọng thân thiết với thầy Tịnh Đức như anh em trong nhà thì cũng
là một chuyện bình thường rất có thể hiểu được.
Thầy Tịnh Đức hỏi tôi:
- Cha về đây chắc là để thay thế cha Trọng sắp sửa về hưu?
Sau khi nghe cha Trọng dặn tôi phải giữ kín tông tích mình, tôi không biết phải
trả lời như thế nào. Nhưng cha Trọng đã đỡ lời cho tôi, rất thành thật, chẳng
có gì phải dấu diếm cả. Làm y như cha rất tin tưởng nơi thầy Tịnh Đức.
- Không, thưa thầy. Cha Lịch chỉ đến giúp tôi một tháng để dạy học. Cha sắp đi
Pháp học.
Thầy Tịnh Đức nói:
- Hay quá. Thế thì cha tính học gì...
Tôi trả lời. Chúng tôi nói chuyện qua lại một lúc rồi cha Trọng đứng lên xin kiếu
từ. Thầy Tịnh Đức tự tay khiêng một bao bố trái cây ra trước chùa, nơi có một
chiếc xe gắn máy hiệu Honda đang đậu. Hai người, cha Trọng và thầy Tịnh Đức lễ
mễ cột gói trái cây vào phía sau chiếc xe Honda, dùng dây thun ràng lại chắc chắn.
Nhìn hai ông già lệ khệ giúp nhau làm việc, lòng tôi bỗng nhiên dậy lên một niềm
kính trọng vô tả.
Tôi chưa bây giờ quen biết cha Trọng và thầy Tịnh Đức, nhưng vừa gặp thầy và
cha thì không hiểu tại sao lòng tôi dâng lên một niềm kính phục khó mà diễn tả
được ở đây. Tôi thấy cả hai người đều chân thật, hiền hòa, và luôn luôn nở một
nụ cười nhân hậu. Một nụ cười mà ngay cả ma quỷ nhìn thấy cũng phải chịu là
nhân hậu.
Hai ông già bịn rịn cầm tay nhau lúc chia tay. Thầy Tịnh Đức đưa hai tay cầm lấy
tay cha Trọng, nói với cha bằng một giọng thân thiết và với một vẻ mặt mà tôi
ít khi nhìn thấy ở ngoài đời, kể cả giữa hai người bạn thân với nhau:
- Cha có tuổi rồi, nên giữ gìn sức khỏe, đừng lo chuyện gì nhiều quá nhé. Những
khó khăn của cha bây giờ là những khó khăn chung của chúng ta. Cha phải giải
quyết làm sao để có lợi cho làng của cha. Mình mà nhưỡng chúng nó một thì chúng
nó sẽ đòi hai, mình nhượng hai thì chúng nó sẽ đòi bốn. Cha phải nhớ như thế.
Cha phải nhơ rằng cha không chiến đấu cô đơn một mình. Chúng tôi đứng sau lưng
cha, yểm trợ cha.
Cha Trọng liếc nhìn tôi rồi nói:
- Bây giờ tôi có thêm một người nữa thì đỡ cô đơn hơn nhiều rồi. Cám ơn thầy
nhiều lắm.
- Cha có cần gì, tôi sẽ giúp cha hết lòng, và điều quan trọng là, chúng ta phải
giữ liên lạc với nhau. Nếu cần gì, tôi gởi chú Phong đến gặp cha. Cha cần tôi
thì cha cũng gởi người lên gặp tôi liền nhé.
- Cám ơn thầy.
- Mong trời phật phù hộ cho cha.
- Phần thầy ở đây cho vui vẻ, đừng lo cho tôi. Có cha Lịch đây thì chắc vài tuần
nữa tôi về lại Sài-Gòn. Nhưng hy vọng họ không bắt tôi về hưu. Tôi không muốn rời
khỏi nơi này.
- Tôi biết thế...
Cứ nói qua rồi nói lại như thế, phải mất gần 15 phút sau chúng tôi mới chính thức
từ giã thầy Tịnh Đức...
Trước khi lên xe, cha Trọng cúi người, nhét mớ áo chùng đen vào lưng, để lộ một
bộ giò khẳng khiu đen đủi. Đôi giầy của cha là một loại giày lính nhưng cũ mèm.
Chiếc vớ bên trái của ngài màu đen, cái bên phải màu nâu, và chiếc bên phải bằng
len, chiếc bên trái bằng nỉ.
Tôi thật chẳng muốn nhìn, sợ cha mắc cỡ nhưng cha Trọng chẳng lấy thế làm quan
trọng. Cha đeo kính đen vào và hỏi:
- Cha cứ lái xe theo tôi. Vào phố, mình ghé tiệm mì Hưng Phát ăn mì. Mì ở đấy nổi
tiếng nhất miền này...
Tôi gật đầu, không nói gì. Cha Trọng tiếp liền:
- Ấy, Cha người Sài-Gòn thật nhưng xin đừng có coi thường cái quận Nam An này.
Mì Sài-Gòn chưa chắc ngon bằng mì Hưng Phát. Cha phải ăn thử một tô rồi thì mới
chịu nhận là tôi nói đúng. Tôi chẳng nói ngoa bao giờ.
Thằng Rệp đòi ngồi phía sau xe Honda với cha nhưng ngài gạt đi, bảo đường xuống
núi nguy hiểm, nó phải đi bộ với chúng tôi.
Cha Trọng lên xe, co cái bàn chân khẳng khiu lên, đạp máy. Điều làm cho tôi ngạc
nhiên là cha Trọng đã lớn tuổi, cặp giò coi ốm yếu như thế mà cái đạp rất là mạnh,
chính xác, chẳng thua trai trẻ chút nào. Đạp đến cái thứ ba, máy nổ. Cha vặn
ga:
- Tôi chờ cha ở dưới đồi nhé...
Đi bộ xuống đồi dễ hơn khi đi lên nhiều. Chỉ chừng 5 phút là chúng tôi đã xuống
đồi và leo lên xe, lái theo cha Trọng. Người dừng xe ở tiệm mì gần chỗ cô bé
bán thuốc lá lúc nãy chỉ đường cho chúng tôi.
Cha Trọng xuống xe, cúi người gỡ áo chùng thâm xuống, rồi bỏ kính dâm vào túi,
cùng chúng tôi bước vào.
Trong quán, cũng giống như lúc nãy, đa số là những người mặc quân phục và thường
phục ngồi hút thuốc, uống trà và tán chuyện. Nhiều người chào cha Trọng bằng một
cữ chỉ kính trọng khi chúng tôi bước vào. Hầu như ở quận này, ai cũng biết cha.
Chúng tôi chia nhau ngồi. Khi người hầu bàn đến, Cha Trọng bảo:
- Cho cha 3 tô mì thập cẩm lớn, một tô thập cẩm nhỏ.
Cô hầu bàn gật đầu, hỏi:
- Cha uống gì.
Cha Trọng nhìn chúng tôi:
- Ai uống gì thì gọi đi.
Tôi và Bình uống nước Chanh, thằng Rệp uống Xá Xị. Đến phiên ngài, cha Trọng
buông một câu làm tôi muốn... rụng rời:
- Cho cha một chai bia.
Cô ba Tàu hỏi:
- Bia lớn hay bia nhỏ hả... ông cha?
- Hôm nay gần hết tiền rồi, bà chủ cho chai bia lớn.
Rồi ngài cười, tự phê bình lấy:
- Gần hết tiền, uống bia lớn cho đỡ hao.
Tôi đi từ một ngạc nhiên này đến một ngạc nhiên khác. Theo chỗ tôi biết, bia rượu
là một thứ mà những người tu hành như tôi và cha Trọng cần phải tránh, không biết
tại sao cha lại gọi bia uống tự nhiên như thế.
Bia được mang ra, cha rót vào ly đá, thò một ngón tay ra quậy đều như một tay bợm
nhậu chính hiệu. Ngài nhìn ly bia xủi bọt bằng một cặp mắt hãnh diện. Nhưng
ngài chưa uống vội. Cha Trọng lấy bao thuốc ra, mồi một điếu, thở khói, rồi mới
chiêu một ngụm bia.
Ngài khà lên một tiếng khi đặt ly bia lên bàn, nói thản nhiên:
- Hôm nay bận quá và có khách mới nên chỉ uống được một chai. Trời nóng như hôm
nay thì phải 3 chai mới đã...
Tôi và Bình đưa mắt nhìn nhau, không ai biết nói gì. Hút nửa điếu thuốc, Cha hỏi
tôi:
- Chắc cha ngạc nhiên lắm khi thấy tôi hút thuốc và uống bia hả?
Tôi lúng túng gật đầu. Cha Trọng quay nhìn ra ngoài cửa sổ, cười nhẹ, nói:
- Cách đây 35 năm, lúc mới đặt chân xuống cái làng này, tôi cũng giống như
cha...
Ngài lại hút thuốc, thở khói ra rồi tiếp:
- Cha có biết cái lạng Mỹ Thạnh này chịu bao nhiêu cơn bão 35 năm qua không?
Tôi lắc đầu.
- Năm trận bão. Trung bình 7 năm thì làng Mỹ Thạnh bị một cơn bão giộng vào. Và
cứ sau mỗi một cơn bão như thế, làng bị tàn phá sạch sành sanh, không còn gì cả.
Cha ngừng ở đó một chút rồi tiếp:
- Cách đây 35 năm, tôi đặt chân xuống lãng Mỹ Thạnh này, lúc ấy còn được một
ông cha người Pháp cai quản. Hồi ấy đất nước còn thanh bình và làng Mỹ Thạnh là
một làng bình yên trù phú với khoảng vài trăm nóc gia. Mùa lễ Giáng Sinh, mùa Tết,
làng tưng bừng vui vẻ, mọi người vui vẻ ấm no...
Cha Trọng ngừng một chút như muốn trở về dĩ vãng. Cặp mắt cha buồn buồn:
- Tôi đến đây hoàn toàn do một sự tình cờ. Hồi ấy tôi khăn gọi trên đường từ Hà
Nội vào Nam bằng đường xe lửa xuyên Việt. Tôi được nhận được công tác đi xứ ở một
xứ miền Tây Việt Nam. Nhưng xe lửa đi ngang đến Tuy Hòa thì phải dừng lại vì đường
rầy bị hỏng. Chờ đến hai ngày, người ta bảo phải mất cả tuần lễ mới sửa được.
Hôm ấy lại nhằm ngày Chủ Nhật, tôi phải móc hết hầu bao, mướn một chiếc xe đi
tìm một nhà thờ để xem lễ. Người đánh xe chở tôi đi là một người Chàm, nói tiếng
Việt không rành. Tôi bảo anh ta chở tôi về nhà thờ chính Tuy Hòa, không hiểu
nói năng thế nào, anh chở tôi thẳng vào làng Mỹ Thạnh. Một bất ngờ, ông cha cố
đang bị sốt rét nặng nằm liệt giường, tưởng không qua khỏi. Ngài hỏi tôi có thể
giúp ngài cử hành thánh lễ Chủ Nhật không. Tôi vui vẻ nhận lời. Sau đó, tôi ở
thêm một tuần để giúp xứ, rồi kéo dài một tháng, rồi vài tháng...
Cha Trọng ngừng nói và khi nhìn thấy người bồi mang những tô mì thơm phức ra,
ngài kết luận:
- Thánh ý Thiên Chúa thật là nhiệm mầu, biết làm sao nói được... Thôi để hôm
nào kể tiếp, bây giờ chúng ta phải cùng nhau thưởng thức những tô mì này...
Chúng tôi làm dấu đọc kinh rồi cùng nhau ăn uống. Và tôi phải ghi nhận, những lời
nói của cha Trọng quả là không ngoa. Tôi đã được đi ăn nhiều tô mì ở nhiều nơi,
kể cả những đại tửu lầu trong Chợ Lớn nhưng so với tô mì này thì thua xa. Thua
xa nhiều bậc. Tôi không biết có phải nhờ loại thịt heo đồng nội, nhờ loại nước
súp địa phương, hay không biết nhờ gì nhưng tô mì tôi vừa ăn là một tô mì ngon
mà suốt đời tôi chưa bao giờ được ăn.
Chúng tôi vừa ăn xong thì có một người mặc đồ lính, trên cổ có hai hoặc ba cái
mai vàng bước vào. Tôi thấy anh ta cao ráo, trẻ tuổi và có vẻ có học thức. Anh
ta đến bắt tay những người khác rồi tiến tới bàn chúng tôi.
Cha Trọng nhìn thấy anh ta thì tươi mặt lên ngay:
- Ồ, ông trung úy Khải. Đang tính đi tìm ông thì ông lại đến đây. Thật là đỡ
quá...
Cha quay sang giới thiệu tôi:
- Đây là cha Lịch, lên đây chơi chừng vài tuần rồi đi về.
Chúng tôi bắt tay nhau. Ông trung úy Khải ngồi xuống rồi nhập đề liền:
- Thưa cha, con muốn thông báo cho cha biết là Chi Khu từ chối không chịu cấp
xe GMC chở gạo cho làng Mỹ Thạnh nữa. Con nghĩ chắc cha cũng hiểu vì sao.
Cha Trọng nghe như thế thì đưa tay lên vuốt trán, mặt nhăn lại:
- Tôi hiểu chứ. Thế thì số gạo tháng trước còn cũng không chở được à?
Trung úy Khải lắc đầu:
- Thưa cha, lệnh của ông tỉnh trưởng là chúng con không được chở bất cứ một cái
gì cho làng Mỹ Thạnh nữa cho đến khi nào có lệnh hành quân để giữ an ninh trục
lộ về làng Mỹ Thạnh...
Tôi ngồi nghe hai người nói chuyện với nhau như vịt nghe sấm, chẳng hiểu chuyện
gì xảy ra. Cha Trọng quay sang tôi, cắt nghĩa:
- Số là làng Mỹ Thạnh mỗi tháng được chính phủ trợ cấp cho 5 tấn gạo và thịt hộp
trong chương trình bình định của chính phủ. Cách đây hai tháng, chiếc xe GMC của
nhà binh chở gạo đến làng Mỹ Thạnh bị giật mìn, giết hết hai người lính. Thế là
bây giờ họ không chịu chở cho mình nữa.
Tôi nhớ lại cái hố mìn mà chiếc xe díp mình đã bay qua xém bị lật và xác chiếc
xe GMC nằm bên vệ đường. Đó chính là chiếc xe chở gạo cho làng Mỹ Thạnh.
Cha Trọng quay sang ông trung úy:
- Tôi cũng thông cảm với mấy ông, không thể trách mấy ông được. Nhưng nếu mấy
ông không chở giùm thì tôi biết lấy xe gì để chở gạo về cho dân làng đây?
Ông trung úy xoay người tránh cái nhìn của cha Trọng, cất giọng buồn buồn:
- Thưa cha con cũng thấy như thế nhưng thưa cha, con rất tiếc, lệnh trên đã xuống
như thế, con không thể làm gì được...
Anh ngừng một chút rồi tiếp:
- Cha có thể lên gặp ông tỉnh trưởng, xin ông ấy mở lệnh hành quân, mở đường ra
Mỹ Thạnh thì may ra chúng con đi được....
Cha Trọng lắc đầu:
- Tôi ở làng này 35 năm, qua bao nhiêu triều đại... tỉnh trưởng rồi, tôi biết.
Mấy ông mở đường làm rầm rộ, xe tăng chạy ầm ầm dưới đất, máy bay bay ù ù trên
trời. Nhưng được bao nhiêu lâu? Chừng vài tuần lễ mấy ông rút về thì làng Mỹ Thạnh
vẫn chỉ là làng Mỹ Thạnh. Một làng nhỏ âm thầm, cô đơn, hẻo lánh, xa ánh mặt trời,
xa khỏi sự che chở của chính quyền.
Cha Trọng lắc đầu, rít một hơi thuốc lá rồi ném cái tàn xuống đất, mặt buồn rũ
rợi:
- Ấy là chưa nói đến chuyện nếu có anh Việt cộng nào trốn trong làng bắn ra một
quả cà nông thì chúng tôi chỉ còn biết bỏ làng mà di cư, chờ cho đến khi mấy
ông đi rồi thì mới trở về nếu không muốn chết... Vì thế, tôi không bao giờ muốn
mấy ông hành quân mở đường.
Ông trung úy an ủi:
- Thưa cha, con cũng sinh ra và lớn lên trong một cái làng nhỏ, con hiểu hết những
chuyện cha nói. Theo ý con thì cha nên mướn xe hàng, chúng con sẽ đổ xăng cho
cha. Cha muốn bao nhiêu xăng con cũng đổ cho cha hết.
Cha Trọng gật đầu, bắt tay ông trung úy:
- Cám ơn anh lắm. Để tôi liệu rồi tôi sẽ liên lạc với anh.
Trung úy Khải bắt tay cha Trọng rồi không hiểu một lý do gì đó, anh ta nhìn
ngang nhìn ngữa rồi kề tai cha Trọng lí nhí những gì rất nhỏ không ai có thể
nghe được. Cha Trọng nghe, lúc thì gật đầu, lúc thì lắc đầu và cuối cùng thì
nói:
- Chuyện đó ông trung úy để tôi coi lại. Nguy hiểm lắm nhưng tôi sẽ cố gắng dàn
xếp. Tôi hứa sẽ cho ông trung úy biết sau. Cám ơn nhé.
- Không, con mới là người phải cám ơn cha kìa. Con xin phép cha con đi...
Ông trung úy cúi đầu chào cha rồi xoay người bước đi. Cha Trọng nhìn theo, gật
gù cái đầu:
- Một con người tốt. Tốt nhưng không đủ phương tiện.
Quay sang tôi, cha nói:
- Làng không có đủ gạo mà ăn, tôi đi xin mãi chính phủ mới chấp thuận trợ cấp mỗi
tháng mấy tấn gạo. Ông trung úy Khải tốt bụng, thấy tôi không có phương tiện
chuyên chở, liền giúp cho mỗi tháng một chiếc GMC chở gạo về làng...
Cha ngừng ở đó, nhăn mặt, lắc đầu:
- Chẳng ngờ, mấy ông lại không thích cái chuyện này. Mấy ông bảo tôi không được
nhận đồ của Mỹ Ngụy nhưng tôi không nghe lời. Thế là mấy ông cho gài mìn, nổ
banh xác một chiếc GMC, giết chết hai người lính vô tội. Thật là đáng buồn quá
sức...
- Thưa cha, mấy ông đây tức là mấy ông ... Việt cộng?
Cha Trọng gật đầu, nhìn quanh một vòng:
- Đúng thế. Nhưng ở đây cha không được gọi như thế, phải gọi là mấy ông hay khi
gặp mấy ông thì phải gọi là cán bộ hay là lính giải phóng. Nhớ như thế.
- Vâng, con xin nhớ.
Cặp mắt cha nhìn ra xa xa, giọng buồn buồn:
- Vấn đề là, làng Mỹ Thạnh nghèo quá, nếu không có gạo trợ cấp của chính phủ
thì chắc phải chết đói. Mà mình chỉ nhận gạo bố thí, mình đâu có làm tay sai
cho ai đâu, đâu có đụng chạm gì đến mấy ông mà mấy ông vẫn không chịu cho mình
mới chết chứ...
Tôi hỏi:
- Thế thì cha tính thế nào?
Cha Trọng không trả lời mà lại đưa mắt nhìn vào chiếc xe díp của tôi, rồi quay
lại nhìn tôi, cặp mắt tự nhiên lại sáng trưng lên như hai ngọn đèn pha. Tôi biết
cha nghĩ gì trong đầu nhưng chưa kịp nói thì cha đã hỏi:
- Xe của cha có... tốt không?
- Thưa xe mới đấy ạ.
- Tôi vừa nghĩ ra một chuyện, không biết cha có chịu không?
- Cha cứ dạy.
- Ở nhà tôi có một cái rờ-mọt nhỏ, thường dùng để chở cá, chở nước mắm, nếu
mình mượn xe của cha, kéo cái rờ-mọc thì chỉ vài chuyến là mình chở hết 5 tấn gạo.
- Thưa cha con sẵn sàng. Chừng nào mình bắt tay vào việc?
Cha Trọng đứng lên, mặt mày hí hửng như con nít được quà:
- Ngày mai... Ngày mai, vào lúc sáng sớm. Bây giờ mình đi...
Anh Bình nói:
- Con đã trả tiền xong hết rồi, mình đi được cha ạ.
Cha Trọng không trả lời, đứng lên và lẩm bẩm như nói với chính mình, mặt nhăn
nhúm lại một cách rất đau khổ:
- Tháng này thì may có cha, không biết tháng sau thì đào đâu ra xe xể chở đây
nhỉ?
Chúng tôi bước ra, ngài lại nói, một nửa như nói với tôi, một nửa như nói cho
chính mình nghe:
- Cha sinh ra và lớn lên ở thành thị, chắc chẳng bao giờ biết những chuyện rắc
rối như thế này. Dân ở đây nghèo lắm và khổ lắm. Nhất là những năm bị bão hành
thì càng kinh khủng hơn nữa. Lạy Chúa, con không biết phải cầu nguyện cho đến
lúc nào làng con mới thoát cành lầm than đây hở Chúa?
Tự dưng, tôi hỏi:
- Thưa cha, nếu làng nằm vào một chỗ xôi đâu nguy hiểm như thế, lại bị bão táp
triền miên thì sao cha không xin phép dời làng sang chỗ khác mà ở?
Đang bước đi, cha Trọng bỗng dừng chân. Ngài quay lại nhìn tôi, cặp mắt trở nên
sâu thẳm:
- Mới đầu, tôi cũng nghĩ thế. Và tôi nhớ, sau cái năm bị bão đầu tiên, nhìn những
căn nhà mới ngày hôm qua là những mái nhà ấm cúng với đầy đủ bếp núc bàn ghế mà
giờ chỉ còn trơ lại những nền xi măng lạnh lẽo trắng xóa, tôi đã đề nghị với
dân làng như thế. Ngay lập tức, tôi liền bị coi như là một người lạ ngay. Họ bắt
đầu tìm cách tránh xa tôi, không mời tôi vào sinh hoạt của làng, đi đánh cá
không cần gọi tôi giúp, đến mùa gặt không gọi tôi ra phụ. Tôi đã trở thành một
ngoại nhân chỉ vì đề nghị với họ như thế...
Tôi ngạc nhiên:
- Vì sao thế ạ?
- Cha là người Việt Nam nhưng chưa biết người Việt Nam nhiều. Người Việt Nam có
những lối sống, những phong tụp tập quán mà ngay cả người... Việt Nam cũng
không thể hiểu được. Tóm tắt lại là dù bao nhiêu thiên tai thảm khốc, không bao
giờ có một ai lại mang tư tưởng dời làng đi nơi khác trong đầu mình...
Cha Trọng nhìn ra xa xa:
- Họ sinh ra làm người trên mảnh đất này, thì họ sẽ gắn bó với nó, chia sẽ với
nó mỗi một niềm vui cùng nổi khổ suốt cuộc đời của họ. Cho đến một ngày nào đó
không còn sức lực nữa, họ sẽ nằm xuống với nó, trong lòng nó, để thịt xương
mình trộn lẫn với nó. Đơn giản như thế mà thôi.
Cha Trọng lại cúi người vén áo chùng lên vắt vào bụng mình. Một lần nữa, tôi lại
được nhìn thấy cặp giò không thẩm mỹ cùng đôi vớ ... Bắc Nam không bao giờ liên
kết của cha.
Cha Trong hạ chiếc xe Honda xuống, ngồi lên. Nhưng cha chưa đạp máy mà quay lại
bảo:
- Đi theo tôi nhá, mình không đi đường chính vì đường chính bị gài mìn đầy dẫy...
Tôi buộc miệng nói:
- Thưa con biết. Lúc nãy xém tí nữa thì con và thằng Rệp bị tai nạn rồi...
Nghe như thế thì cha Trọng tròn mắt lại, dựng chiếc xe Honda và bước xuống, gay
gắt hỏi:
- Cha suýt bị tai nạn như thế nào?
Tôi kể sơ cho cha nghe. Cha Trọng lắc đầu, ngước mắt lên nhìn trời, khấn nhỏ:
- Thật con xin cảm tạ ơn Chúa. Nếu cha và thằng Rệp có chuyện gì thì làm sao
con tha thứ cho con được...
Cha quay sang tôi, đưa mắt nhìn chung quanh một vòng rồi kề tai tôi nói nhỏ:
- Có nhiều chuyện tôi muốn bàn với cha nhưng lúc nãy trong quán đông khách quá,
sợ ai vách mạch rừng nói không được.
- Con hiểu.
- Làng ta đang gặp rất nhiều khó khăn. Chẳng qua cũng chỉ vì mấy ông không để
cho chúng mình yên thân mà thôi. Khổ quá, tôi đã làm đủ cách nhưng không thể
nào làm vui lòng mấy ông được...
Cha lại đưa mắt nhìn quanh một vòng như sợ có ai nghe rồi tiếp tục nói:
- Tối nay tôi có một cuộc họp quan trọng với mấy ông. Không ai biết được, chỉ
có tôi, thầy Tịnh Đức, ông từ nhà thờ và cha biết mà thôi. Trong buổi họp tối
nay, một là mình sẽ giải quyết được toàn bộ những chuyện khó khăn, hai là mình
sẽ đụng độ với họ...
Tôi mới chịu chức linh mục, lại chân ước chân ráo xuống đây, chả biết gì nên
không biết phải trả lời như thế nào. Làm sao một ông linh mục lại có thể dám đụng
độ với những người quân phỉ gọi là Việt cộng được. Mà không hiểu cha nói đụng độ
nghĩ là gì. Có thể là cãi lý. Nếu thế thì tôi có thể tham dự được.
Nhưng hình như cha Trọng không chờ để nghe tôi trả lời. Ngài quay người bước
đi, vừa đi vừa nói, không biết cho tôi nghe hay cho chính mình ngài nghe:
- Cũng may mà cha xuống đây vừa đúng lúc. Thánh ý Thiên Chúa quả thật là nhiệm
mầu...
Rồi cha Trọng bỗng lại dừng bước, quay nhìn tôi và nói:
- Cha đúng là một phép lạ của Thiên Chúa gởi xuống cho làng Mỹ Thạnh đây...
Tôi đứng ngẩn ngơ, không biết ngài nói thật hay nói đùa. Trong thâm tâm, tôi biết
tôi có thể là một gánh nặng cho làng Mỹ Thạnh chứ không thể nào là một phép lạ
được...
Trường Sơn Lê Xuân Nhị Theo https://vietmessenger.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét