Vô đề
Mây ba mà u trên đường trời. Bầy chim trên chạc cây. Không
khí thở yếu; tuy vậy, trên mặt cỏ mềm vẫn có một và i chén sương mù lỏng như
cháo trắng. Xa xa, mặt biển tĩnh bơ, nhưng lòng biển chưa nguôi dục tình và cổ
họng biển ợ chua.
Mấy hôm sau, gió nín thổi, bầu trời trầm cảm...
Nước Mỹ sạch. Cỏ được cắt kỹ còn hơn tóc được hớt.. Cảnh đẹp
và cảnh trẻ.. Buổi mai mới tinh, hai người đà n bà Là o đi hái lá non từ sớm để
ăn mặc dầu cơm tị nạn vẫn có món rau hằng ngà y. Bầy chim cút ngửa mỏ hót, kêu
đòi niềm vui. Lòng-chậu Los-Angeles mát; lòng-chảo Điện Biên Phủ, nơi người
Pháp cạn tiền, nát tan danh dự vì Viên- ngọc Viễn Đông, không biết có nóng,
nhưng chắc chắn Sà igon thì không lạnh rồi đa. Đôi vú của Hồ Chí Minh city lắm
khi lên cỏn sốt khô sữa.
Tâm bôi chút phấn hồng trên hai gò má rồi đi ra xếp hà ng ăn
cơm sáng. Da Tâm trắng hơn ai hết trong đám người sắp hà ng một đứng đợi. Đôi
má Tâm trông hỏi lệch, bởi vì chỉ một bên có cái lúm đồng tiền thôi, nhưng bộ
ngực thì hai bên cân bằng trên cái bụng đẹp.
Chương trình cứu người vượt biển đã cho dân tị nạn ăn những bữa
cơm xinh xắn . Tâm cầm một bản tin vừa coi vừa ăn. Bài báo viết bằng tiếng Anh
đập và o mắt Tâm câu hỏi: " Mỗi ngày bạn ăn bao nhiêu mà u sắc?". Màu sắc, theo tác giả bài này là rau và qủa. Hãy ăn hết một mâm cơm đang tô sắc
thắm trước mắt bạn: Trái chuối mà u và ng diệp, cà chua đỏ choét, dưa leo màu
lam lục, cà rốt đỏ hồng, lá rau diếp xanh..Nhan sắc của một bữa ăn đang dậy thì
với từng miếng ngon tươi đẹp. Và hãy kiêng bớt thịt cá đa tình...
Tâm nhìn cơm, thầm nghĩ " sáng nay tôi ăn mà u trắng."
Tâm đặt tờ báo xuống bà n. Người đà n ông Mỹ cao to và trẻ,
phụ bếp không lương trong trại tị nạn, đến bên Tâm gợi chuyện:
"Tên tôi là Jeffrey. Cô cần giúp đỡ gì không?"
Tâm nói tên mình ra. Anh ta đưa cho Tâm mảnh giấy và bảo:
"Địa chỉ của tôi. Sau nà y nếu cô có điều gì cần tìm đến
tôi."
Trời nín mưa gần một tháng nay. Mặt trời ở Mỹ hình như nhỏ
con hơn mặt trời Việtnam nên tâm tính của thời tiết Mỹ ít nóng nảy. Sà igon đổ
mồ hôi hột hoà i.
Tâm cầm ly nước bước về trại, ngửa mặt bắt lấy sức nặng của
ánh sáng trên vừng trán chưa có vết nhăn.. Một gã tị nạn tiến đến trước mặt
Tâm, chà o:
"Tên tôi là Phan Văn Lương. Ngà y mai tôi rời trại. Đây
là điạ chỉ của tôi. Sau nà y nếu chúng ta có điều gì cần tìm đến nhau."
Tâm cũng khai tên họ mình ra.
Tâm sửa soạn đi học lớp Anh-văn dưới bóng cây. Giáo viên đến
dạy là một nhóm trí thức quốc tế và người tị nạn tha hồ đặt câu hỏi.
Dưới bóng cây, một ông thầy dạy sinh ngữ khuyên học trò:
"Quý vị nên ở lại tại đây cho đến ngà y nhổ trại để học
thêm Anh-ngữ, đừng nên xuất trại ngay.. trình độ còn qúa yếu kém; ra ngoà i,
quý vị chỉ có thể kiếm được những việc là m lao động mà ít lương như rửa chén
bát tại các nhà hà ng, hoặc cắt cỏ, hoặc săn sóc người già tại các viện dưỡng
lão, hoặc đổ rác, hoặc xối rửa cầu-tiêu..".
Một tị nạn già lo ra:
" Trở ngại nói năng.. Ông thầy ơi, già rồi, học tiếng
Anh không vô.. Nói chuyện cứ quen miệng chêm tiếng Pháp vô hoà i..."
Ông thầy cười, tiếp tục giảng bà i:
" Người di tản đừng bao giờ ước mơ trúng số đề ở Mỹ. Có
thể một hay hai lần gì đó, bạn ra đường nhặt được tờ giấy một dollar hoặc hai
dollar của ai là m rớt.. Nhưng, thần may-mắn chỉ có thể phù hộ các bạn chừng đó
thôi, bạn đừng hy vọng trúng những số tiền to hơn..vì ông cha của chúng ta
không ai hy sinh xương máu cho cái đại cường-quốc nà y cả nên chúng ta không được
tiền nhân của người Mỹ hậu tạ."
Ông thầy lại nói:
"Đi là dại.. Mình ở lại cũng chẳng ai là m gì mình hết..
Nhưng bây giờ cũng hãy còn kịp: Con tà u Thương-Tín đã chở 5 ngà n người hồi
hương. Những người hoảng hốt bỏ chạy đó, nay đã trở về nước mẹ. Các bạn nên
nghĩ lại.. Nước Viêtnam nay đã thống nhất, nhưng sao các bạn lại điên rồ cà -chớn
vượt biển. Mỹ mất tiêu một tỉ đô-la cho cái cục cưng chiến tranh Việtnam.. của
quý vị rồi".
Ông thầy phản chiến nhìn mấy tị nạn già , nói giọng xuống
đường:
" Bác đi, bỏ lại nhà cửa cỏ nghiệp.. Lúc khổ cực vì
chiến tranh thì bác ở, lúc sung sướng thống nhất có được một quê hương thênh
thang hai miền Nam-Bắc nhập một thì bác đi.."
Tị nạn bóp tay, hoặc bẻ ngón tay, máu gầm lên trong động mạch
nhưng cố tốt nhịn. Một tháng nay, riêng trong cộng đồng tị nạn người Viêṭ ở trại
A-san đã xẩy ra sáu vụ ẩu-đả, trong khi đó, cộng-đồng Miên và Là o được đà i
phát thanh ghi nhận không có đập lộn la-ó. Người xưa đã truyền miệng lại rằng Cụ
Mạc Đĩnh Chi đi sứ nghe người Tà u nói: " Dân An-Nam, vóc thì nhỏ, tầm thì
ngắn, nhưng khẩu khí rất hùng hậu khi phê bình đời tư của kẻ khác và mặc cảm tự
tôn qúa lớn. Ngà y hôm nay, sống chung trong trại tị nạn, người Việt Nam
dà o dạt một nguồn cảm hứng khi xoi móc nhau và tung tin đồn: Đà n ông Mít mình
sang Mỹ loãng xương long gối hết rồi, teo rồi chứ không to như hồi xưa nữa..Bậy
nà o, ai chứ tôi thì chẳng bao giờ móp méo cái cục cưng gì trơn.. Không tin cứ
thử đo coi cho biết.. Dù gì dẫu gì, thì đà n bà cũng là Thị-mẹt, Thị Mầu, thị Nở..
quý báu chi. Nghe tôi kể đây: Đầu tiên khi vừa đến Mỹ, đà n bà Vietnam mê Mỹ
qúa trời; nhưng sau đó, lại quay về với đà n ông Việtnam liền.. vì hạm-đội Mỹ
ngoà i khơi vớt hà ng chục thuyền-tà u vượt biển chở toà n vịt xiêm đực.. vì miền
Nam vụt mất qúa nhanh, lính phải bỏ chạy ngay không kịp về nhà lấy theo vợ con
nên cái xác thịt ngon béo của mấy Thị Mẹt, Thị Bẹp tại hải ngoại mới hấp dẫn
còn hơn món Đỉm-Sấm ở các tiệm Tà u. Một ông bác sĩ nà o đó mà phải lấy
một bà thợ may vì trống thừa mái thiếu. Vậy, tội đách chi mà ta phải lấy Mỹ khi
ta có thể dễ dà ng lấy một ông lớn Viêtnam.
Hai tuần sau, trại tị-nạn lại có tin mới: Đó đó, hãy nhìn cái
ông bác sĩ người Nam đó, người miệt vườn Bà -Rịa đó.. đà n ông mà lại rẽ đường
ngôi chính giữa cái đầu, đà n ông con trai phải rẽ đường ngôi một bên chứ ai lại
chia đầu tóc ra là m hai phần bằng nhau như cán cân công lý rứa.. Khi còn ở tại
Bà Riạ, khi ông ta vừa mới tốt nghiệp thì được một gia đình già u có kêu gả con
gái, hứa sẽ hồi-môn một phòng mạch với đầy đủ dụng cụ y khoa.. Mười ngà y sau,
cô gái về nhà cha mẹ và khóc i-ỉ, ông bà via mới hỏi tại sao, cô ta khai:
" Mười đêm nay,. anh ấy ngủ riêng đâu có đụng tới con.. vì.. vì trong cái
phòng mạch mà tiá-với-má là m của hồi môn cho con đó.. không có cái máy chụp
hình phổi tức là cái máy-rọi."...ừ ừ..đúng đa, mấy cha bác-sĩ là rứa đó..
cưới tiền mặt, cưới và ng là m vợ.. người Huế tui có câu nói: "Hai hạng
người ăn ở ác đức nhất là mấy ông quan toà và mấy ông y-sĩ.. con cái của họ rồi
sẽ mạt"..." Ôi thôi, dẹp chuyện mấy ông bác sĩ Huế và ông bác sĩ Bà
-rịa với cái máy-rọi lại đi.. Sang tới đây rồi thì đốc-tờ, tu-bíp..gì gì cũng bị
sung công là m việc từ thiện trong trại tị nạn hết.. Mỹ họ phát quần áo cho tị
nạn, phát toà n quần áo mặc ngoà i thôi, chớ không phát đồ- lót... thà nh ra mấy
thằng nhóc Cu tý Cu tèo Cu toét không có xì líp để mặc bên trong cáí quần tây..
Ui chao.. ngà y nà o cũng xẩy ra tai nạn kẹt chim và o cái phẹt-ma-tuya . Cha mẹ
của mâý thằng Cu tý,Cu Tèo, Cu toét đó phải bế chúng nó và o trại phát thuốc
xuýt xoa xin mấy ông bác sĩ là m ơn kéo con chim chân chính của chúng nó ra khỏi
cái phẹt ma tuya.. Thôi mà , chuyện mấy ông bác sĩ tham tiền là chuyện xưa từ đời
bà Rịa, bà Bầu, bà Hom, bà Hạc, bà Queọ, bà Tà -lơn.. chứ bây giờ trong trại tị
nạn nà y, bao nhiêu ông bác sĩ đang là m việc thiện nguyện khám bệnh cho đồng
bà o tị nạn."
Hai tháng rưỡi sau, nhiều cặp vợ chồng lục-đục bỏ nhau, một
bà vợ nói: " Anh mà yêu tôi ư? Anh quậy tôi thì có. Tôi đã
cảnh cáo trước với anh, anh ngỡ rằng tổ quốc trọng nam khinh nữ, anh nện kềnh
kềnh cái tấm thân thông minh nhất nam tử của anh để mà đè ép
tôi, tôi sẽ cắm cho anh một cái sừng... Ở đó mà đà n ông thông minh nhất nam tử"
Ông chồng cãi:
" Nếu các cụ ông nhà ta ngà y xưa mà không thông
minh nhất nam tử thì là m sao họ đa thê được? Họ phải là m được cái chi
đó ngầu lắm thì đà n bà , kẻ trước người sau mới chịu chui và o đời
và o đùi họ để mà đè nhau chơi chứ.. Đà n ông phải là kẻ đè đủ năm thê bảy thiếp
chứ không ông nà o chịu chơi với chỉ một bà mà thôi.. Các gia đình ngà y xưa, bốn
năm bà cùng lăn xả và o cho một ông đè, họ ghen tuông nhau, bà nà o cũng muốn một
mình ăn nguyên một cái chả-giò, một cái gơi-cuốn.. Tục lệ đa thê có được từ xưa
là do tại đà n bà , đà n ông đã chịu một tá tiếng oan.."
Một tuần sau trong giờ học Anh văn dưới bóng cây, thân cộng lại
kiếm chuyện:
" Việtnam thống nhất.. một phép lạ chưa từng có trong
lic̣h sử."
Mấy vượt biển độc thân đứng lên nạt:
" Vậy sao không cút về với Cộng sản đi.. ông cố nội.. Đứng
đó mà nói dại , chúng ông đập cho văng bựa ra trong quần bây giờ."
Sau khi thân cộng bỏ đi, một giáo viên khác đến dạy cách chia
động từ bất quy tắc và chép lên bảng bà i thơ nhỏ:
Roses are red
Violets are blue
But they don't get around
Like the dandelions do
Slim Acres.
Hoa hồng mà u đơ
Hoa "đừng-quên-em"mà u xanh
Nhưng chúng không mọc khắp nơi
Như hoa dandelion sắc vàng.
Giáo viên viết xong, nói:
"Bây giờ đến phiên cả lớp hãy hát tặng tôi một bà i ca
Viêtnam hay thật là hay đi nào."
Một lính đa tình đứng lên:
" Chúng ta hãy hát bài Viêtnam Viêtnam của Phạm
Duy. Trong bà i nà y, Phạm Duy quẳng và o bao nhiêu con chữ Viêtnam
Viêtnam, nên hát bài này Mỹ nó nghe nó hiểu được mấy chữ đó, chứ hát bà
i khác Mỹ nó đéo đếch hiểu. Phạm Duy sáng tác ra ca khúc ni là cốt để cho chúng
ta hát trong hoà n cảnh nà y."
Cả lớp hát xong, một học trò hỏi thầy giáo:
"Ra ngoài, người Mỹ có cho chúng tôi học Anh văn hay bắt
chúng tôi đi là m liền.?"
"Có ngân sách nuôi người tị nạn học English, học nghề.
Các bạn sẽ kiếm được việc là m.. sau đó để dà nh tiền mua nhà thực hiện.. giấc
mộng Mỹ."
"Kiếm việc là m ở văn phòng có dễ không? Ngà y còn ở
Saìgon tôi là thư ký đánh máy."
"Đánh máy chữ cũng giống như đi xe đạp.. nếu các bạn đã
biết từ trước, thì các bạn sẽ nhớ lại ngay sau một lúc ngồi và o"
Một nữ tị nạn hỏi:
"Chúng tôi đến từ một nước nóng..mà Hoa Kỳ thì qúa lạnh..
Chúng tôi không có tiền mua thịt bò ăn cho ấm, liệu chúng tôi có bị ho lao
không?"
Giáo viên vội cười :
"Người Mỹ lập quốc trên tuyết , đức tính chịu lạnh là niềm
tự hà o của họ, chúng ta nên tơ ra cho họ thấy rằng trời mùa đông
Washington cũng thi vị lắm chứ bộ.."
Tị nạn lại đặt vấn đề:
"Chúng tôi có đi hái dâu được không?"
Gíáo viên giảng:
"Hái dâu strawberry.. thì phải nằm.. cũng không phải là
nhà n.. Cây dâu thấp như người ngồi..nhưng gia chủ cấm không cho mình ngồi mà
hái mà phải nằm, vì họ sợ nếu mình ngồi thì bể đầu gối , họ phải chở mình đi
nhà thương điều trị tốn tiền của họ.. họ còn cấm mình không được đứng dậy đi,
mà phải nằm và bò lê bò lết từ bụi cây nà y đến bụi cây khác trong biển dâu rộng,
và mình phải hái lanh tay, vừa giựt vừa ngắt vừa vồ.. như ăn cướp, mình phải
mau thật là mau mới đúng với chỉ tiêu mỗi ngà y phải hái mấy trăm pound gì gì
đó."
Tị nạn cứ hỏi lung tung:
"Vậy thì chúng tôi đi hái trái cherry.. okay?"
"Hái cherry không phải là một nghề.. Trái cherry nhỏ mà
nặng, ai thấy cũng thèm. Bạn đợi đến giữa mùa, lúc đó, các tay nhà nghề đã hái
hết những quả to rồi, cherry chỉ còn lại những quả không to, bạn và o vườn hỏi
mua, gia chủ sẽ đưa cho bạn một cái túi nylon, bạn trèo lên cây, bạn vừa hái vừa
ăn ngay tại chỗ, và bạn cứ hái hoà i cho đủ một số lượng nà o đó, bạn có thể
hái cả ngà y, 50 hoặc 70 pound, gia chủ sẽ cân và bán cho bạn mỗi pound chỉ bằng
1/5 giá cherry bán ngoà i thị trường.. thí dụ , mỗi pound chỉ 50 xu."
Tị nạn lại thắc mắc:
" Chợ Tà u có gần đây không?"
Ông thầy tươi cười:
" Ngà y ra khỏi trại, các bạn nên là m và i phát chả-giò
Sà igòn đãi ân nhân bảo trợ. Ngay bây giờ, mấy bạn có thể đưa tiền nhờ tôi mua
giúp mấy bạn và i xấp bánh đa và bún Tà u.. Chợ Tà u ở rất xa đây."
Tị nạn về trại moi tiền đưa ra nhờ ông thầy mua hộ hai thứ
đó, không nghĩ rằng bánh sẽ mốc và bún sẽ mọc râu vì để lâu trong trại nóng. Tị
nạn tin chắc rằng: Sà igon còn mãi , và chả giò sẽ còn với Sà igòn, ta
đã quyết ra đi vì giấc mơ Mỹ, nếu ta nuôi mộng mua nhà thì ta ơi , sao
không là m trăm cái chả-giò bưng đến nhà thờ đãi bảo trợ ăn..
Hơn mười năm sau, thầy trò tình cờ gặp lại nhau trên đất
khách, ông thầy ôm lấy học trò, bảo:
" Chả-giò Sà igòn tuyệt lắm, ngon hơn chả-giò đương-đại
Trung quốc Chinese egg roll, beó hơn chả-giò Phi lumpia, bùi
hơn chả-giò Đà i Loan ."
Gia đình Tâm nằm vùng tại trại tị nạn cho đến ngà y đóng cửa
thì được một cơ quan truyền giáo bảo trợ ra ngoà i bao nuôi ăn ở trong một
apartment thuộc vùng phụ cận Los Angeles.
Sau khi dọn dẹp, kê bà n ghế, Tâm chải tóc bước xuống tầng lầu
dưới, gõ cửa một căn hộ.
Người đà n ông Mỹ mở cửa ra. Tâm ngậm câm một cục, nà ng đã
cho con mèo mượn cái miệng nên không nói được một câu. Đó là Jeffrey.. cao to
và hiền, phụ bếp ở trại tị nạn.
Một lát Tâm cố nói:
" Gia đình tôi mới dọn đến, ở lầu trên..không ngờ ông
cũng ở đây.. xin ông.. xin ông..."
" Xin cô cho tôi biết cô muốn hỏi tôi câu gì?"
" Xin hỏi ông gần đây có ngôi nhà thờ nà o không?"
Người đà n ông lạ ấy không phải đồng hương, khác quốc tịch,
khác mà u da, nhưng cùng chung một thế giới, một quả đất, một bầu trời, trả lời
chậm:
" Nhà thờ St.Humphrey chỉ cách đây hai block."
Chiều hôm sau, Tâm đi công chuyện về, mới vừa nằm xuống đọc
và i trang truyện dà i thì có tiếng gõ cửa. Tâm ra mở. Jeffrey dáng dà i, vai rộng,
̣đứng đó.
" Cô Tâm có cần hỏi tôi điều gì nữa không?"
Tâm không soạn bà i trước, không có sẵn câu hỏi. Chợ, chùa,
nhà thờ, nhà thương, nhà qùang, phòng mạch nha khoa, trường học, sở bưu điện..
đều biết cả rồi.
Jeffrey không đứng lâu, bỏ đi. Sáng Chủ nhật, người lạ ấy lại
đến và nói:
" Cô còn muốn hỏi tôi câu gì nữa không và cô có cần tôi
giúp cô cái gì không?"
" Xin cám ơn ông, gia đình tôi đang sửa soạn đi lễ nhà
thờ."
"Tôi xin đưa gia đình cô đi nhà thờ."
Trước giải phóng 75, một chiến sĩ tiền đồn về phép cưới Tâm
là m vợ được năm ngà y trăng mật, rồi đêm sau đó chà ng trở ra chết tại mặt trận
Bình Thuỷ; hiện tại Tâm sống cùng cha mẹ trong lòng chậu Los Angeles. Buổi sáng
ở đây, sương gió an là nh, chén cơm điểm tâm nà ng ăn pha mà u tươi đẹp như cuộc
đời nà ng sẽ là m lại.
Jeffrey hiện ra mỗi buổi chiều để trả lời những câu hỏi, để
giúp đỡ những điều cần. Chà ng đề nghị cùng Tâm đi shopping, và đi dạo để nắm
tay nà ng khi họ bước bên nhau dưới hà ng cây hiền là nh đứng bên bờ hồ ngó họ.
Tay chà ng khô và ấm và mềm, che chở bà n tay nhược tiểu của Tâm. Thật dễ tin rằng
chỉ một cái nắm tay của chà ng mà toà n thân thể Tâm xóc mạnh với hai ba cái
run...
Tâm không hề lên cân, nà ng nói trong mơ:
"Tình yêu thơm như nước mắm quê hương em. Cắn một miếng
nem rán, hay nhai một miếng bánh pizza, hoặc ăn Mcdonald, em cảm-tưởng như nghe
một tiếng pháo nổ nhỏ trong miệng."
Jeffrey trầm lặng, trông chà ng không lanh như đà n ông Việtnam,
Tâm tiếp:
"Và em sẽ cho anh ăn phở mãi đến hỏi thở cuối cùng của đời
em."
Rồi Tâm lãng mạn :
"Em thích đọc văn chương đủơng đại và truyện ngoại quốc
.Mỹ vừa mua của Phi-châu 25 ngà n con voi.. em muốn coi voi cười và nghe voi
hát.. Giọng voi hát trủ̃ tình hơn tiếng ca của chó, khúc ngâm của mèo và điệu
hò của cá dolphin."
Jeffrey trầm lặng, trông chà ng không lanh như đà n ông Việtnam,
Tâm tiếp:
"Em biết vẽ tranh tĩnh vật, nghĩa là vẽ những vật thường
thấy như hộp cá sardine, con thằn lằn , con kiến lửa, con gián."
Jeffrey cười hỏi:
"Vậy thì tranh động vật có phải là bức hoạ những con vật
nhúc nhích trên bưć tranh không em?"
Tâm giảng:
"Em không biết."
Tâm tiếp:
"Em có hai khuôn mặt.. một, để em nhìn cái đẹp và một, để
em nhìn bổn phận."
Và Tâm nên thơ:
"Em đổ bụi đời và o thùng rác. Em là m bếp. Em không cười
xuân, không hờn hè, không hoà i thu, không buốt đông, và không bao giờ em kêu
ba tiếng: em yêu anh..trong kiếp này."
Một tháng sau, hai người cưới nhau tại nhà thờ St.Humphrey, ước
mong một đời mãi mãi bên nhau trong ngôi nhà mùa đông chỉ mở máy sưởi 62 độ,
trong mùa hè mát, trong mức sống cao, trong hạnh phúc nhiều..vân vân.. Jeffrey
là công chức lớn của hãng điện thoại Verizon, thỉnh thoảng trực ca đêm để thanh
tra toà n bộ đường dây và kiểm soát nhân viên dưới quyền..
Những chiều cuối tuần, hai người cùng cởi già y bỏ dép ra, để
đi chân đất bên nhau trong nhà hoặc ngoà i vườn. Những ngà y trong tuần, buổi
trưa nà o Jeffrey cũng về ăn cơm nhà , Tâm nấu nồi cơm tình nghĩa: đong một
chén gạo nanh chồn, cởi bốn chiếc nhẫn hột xoà ng ra khỏi tay để vo cho sạch
cám. Tiếp theo,Tâm bắt son chảo là m ba món căn bản: xà o mặn canh. Đúng 12 giờ,
Tâm cắm nồi cơm điện. Nửa giờ sau, nồi cơm vừa chín tới thì Jeffrey về tới nhà
. Tôi cho chồng ăn hạt cơm vừa chín tới; tôi không bao giờ bắt chồng ăn cơm nguội
đem hâm nóng lại. Ngà y nà o tôi cũng nấu hai nồi cơm trinh trắng chứ không phải
chỉ một. Nồi cơm xới ra được bốn chén. Buổi điểm-tâm, tôi xay đậu nà nh là m sữa
uống ấm bụng.
Buổi cơm tối, gạo phải vo lúc 4 giờ chiều rồi ngâm nước lạnh.
Gạo phải ngâm trong nước mát đủ hai tiếng, giống như con trâu phải trầm mình
trong bùn hai giờ mỗi ngà y để khỏi phát điên lên vì cái cà y nặng và ông Trời
nóng. Buổi cơm tối phải ăn trước 7 giờ, nếu để muộn hơn mới ăn thì mới hơn 50
tuổi đã phải nhuộm tóc rồi.
Bà bạn người Huế lanh chanh nói:
"Rứa là sai công thức.. cơm vừa chín tới không dẻo, phải
để lâu hơn trên bếp điện một chút cho cơm ráo nước, dẻo và mềm hơn."
Nếu Jeffrey là m ca khuya thì ngà y đó, Tâm đổi giờ là m bếp:
Mười giờ đêm, Tâm nấu cháo hoặc xúp đậu-hũ. . Giữa khuya, Tâm mang tô cháo vừa
chín tới với đĩa đồ xà o và o sở.
Jeffrey cầm tay Tâm:
"Vợ cho gì, ăn nấy.. nhưng.. please..đừng bắt anh ăn
canh măng chua. Em đừng muối măng chua trong nhà và đừng mua măng muối chua ở
siêu thị đem về nhà ."
Đôi má da mà u, một thân hình không mập dù ngà y nà o cũng ăn
thịt với gạo thơm đầu mùa và một thoáng kiến thức về kinh Phật cùng sách Khổng
Mạnh.. Tâm còn chộp thêm một cái lộc khác trời thiên vị cho riêng
Tâm, là ai mới gặp nà ng lần đầu tiên cũng thích ngay. Muốn được thích như vậy,
người xưa dạy rằng phải thực tập, phải thao diễn chăm chỉ, phải học thuộc lòng
những lời hay ý đẹp, đừng bao giờ tơ ra lanh và khôn khéo vượt hẳn người khác
trong khi nói chuyện, mỗi đêm phải soạn bà i kỹ về phương châm xử thế để sáng
mai đem ra áp dụng: Muốn được yêu thì mình phải yêu trước đã, không giận, không
thù, không ghét bất cứ một ai, phải dễ chịu, dễ chơi, dễ thương, dễ mến.. Sau
chót, phải ra tà i gia chánh: nấu ăn ngon và nhanh, chịu khó đứng lâu trong bếp
để nấu phở Bắc, bún bò Huế, mì Quảng, chả giò Sà igon. Bếp thân thương và bếp
thơm phức.. đà n ông khoái ăn phở, đà n bà thích bánh bột lọc.
Jeffrey nhìn Tâm luộc bún, nói:
"Cuối tuần nà y, anh sẽ mời 51 người bạn đến nhà thưởng
thức món phở Bắc của Viêtnam.. Em nấu cho anh nồi phở gia truyền thơm mùi thuốc
đông-y nhé."
Tâm trả lời:
"Cái gì chứ nấu phở là nghề của nà ng mà ..
Chúng ta có vườn rộng đủ chỗ để tiếp khách."
"Em đang mang thai, cũng nên cử động chân tay chút
ít."
Tâm cười:
"Sức khoẻ em tốt lắm"
Nhưng Tâm rên thầm: " Cái giọt máu Mỹ sao mà nặng. Cái hột
giống Hoa Kỳ sao nó to như một trái mít Viêtnam. Nó đạp mạnh như bà o thai của
một con voi Phi châu, nó nhúc nhích hoà i như một con lươn chưa um xì dầu."
Rồi Tâm nói:
"Sao tôi lên cân chứ không sụt ký, sao tôi được uống thuốc
bổ thuốc bệnh.. tôi có xe hơi để lái đi là m tóc, tôi ở nhà lầu và thừa tiền gưỉ
nhà băng, tôi sức khoẻ có dư.. Còn chồng tôi thì là m việc đêm là m việc ngà y,
lao động tâm não mà mặt mà y không hề nhăn nhó."
Tiếng đồng hồ kêu tick-tick trên tường nghe như những mảnh vụn
thời gian đang rớt xuống quả đất cứ quay hoà i và u hoà i.
Tâm tiếp:
"Sao tôi không mệt phờ, sao tôi không hốc hác như anh
sau mỗi ngà y là m việc, và sau mỗi đêm thức trực ?"
Jeffrey hỏi:
"Em muốn đi du lịch Trung Quốc không?"
Tâm lắc đầu:
"Sống sung sướng qúa như em là có tội. Em không thiếu một
cái gì hết, đời em đầy đủ như cái tủ áo của em."
Jeffrey cương quyết:
"Anh bắt buộc em phải đi vacation nghỉ ngơi"
Tuần sau ,Jeffrey đưa Tâm đi Seattle chơi. Trên phi cơ, Tâm
chỉ nghĩ đến Saigon, nghĩ đến mấy thứ ngọc-ngà vùng Viễn-đông: Ngọc bích, ngọc
trai, và ngà voi nhiệt đới..
Nà ng bảo chồng:
"Sà igon vốn được gọi là Paris của vùng Viễn-đông, một
thà nh phố ngọt, một trung tâm du lịch sang trọng nhất châu Á. Mà u sắc của
trái cây là m da thịt Sà i-gon sáng óng lên.. nhưng mỗi một ngà y, Sà igon lại
đông nghẹt người và ùn ùn các loại xe gắn máy, xe đạp-điện, nên Sà igon bụi rác
và đổ mồ hôi hột và trong mồ-hôi Sà igon có mỡ béo, có muối i-ốt."
Sau giải phóng, đà n ông Sà igòn túa ra đường nhiều hơn đà n
bà , đại lộ mất qúa nhiêù khoảng trống, lề đường không còn thênh thang.
Tâm thương nhớ những con chó Saigon chạy theo sau những chiếc
xe ba bánh chở trái cóc và tráí chùm ruột. Tâm thâm thù và sợ hãi bọn người dã
man ăn thịt cầy, công khai đạp xe đi bắt chó ngoà i đường. Tâm khó chịu khi đọc
một bà văn sĩ Mỹ đã viết rằng người Viêtnam xưa kia vốn chỉ ăn nhái sống chấm với
ớt hiểm và để dà nh lửa trong cái sọ dừa khô. Nhà văn đó còn bảo rằng Việtnam
mang nặng ân tình bảo hộ của người Pháp trong cách kiến trúc nhà cửa và trên những
mảnh giấy viết thực thực-đơn kê khai món ăn. Bà n tay người Pháp đã sờ và vuốt
ve Viêtnam cho đẹp hơn lên. Với Việt Nam, thực dân cũng là ân nhân.
Buổi chiều đi chơi núi Rainier về phòng trọ, Tâm thấy quý vị
trong bộ biên tập toà báo Đất-Mới đứng bên ngoà i và một ông Mỹ say ngồi trên
ghế tay cầm ly rượu.
Chủ nhiệm báo Đất-mới chỉ tay và o căn phòng số 6B để giảng
cho Tâm hiểu:
" Đồng-hương mình tổ chức khiêu vũ ở bên trong, ông Mỹ
nà y tới đây đánh ghen vì vợ ông đang nhẩy đầm với Việt-kiêu trong ấy..Cả toà
báo Đất-mới bị ông ta lôi đi dự vụ bắt ghen nà y.."
Chủ-bút HQ im bặt ngay vì ông Mỹ say hét lớn:
" Tôi hạ lệnh cho tất cả những người có mặt ở bên trong
hãy đứng dậy ra về và từ nay cấm không được đến đây tụ họp nữa.. Nếu các ông là
người Đại-Hà n, người Là o, người Miên hoặc Tà u hoặc Nhật, Mã-lai, Indonesia,
Thailand vv...thì hãy đứng sang một bên, tôi không là m gì quý vị hết.. Riêng
các tên đà n ông Viêtnam thì hãy cởi già y dép ra, tụt vớ, tụt bít tất ra cầm ở
hai tay dong cao lên và quỳ xuống mà đi bằng hai đầu gối . Tôi tự giới thiệu
tôi có vợ Viêtnam sinh được một đứa con.. và một bà o thai hiện đang nằm tại chỗ
kín...
Khi tôi mở cánh cửa nà y ra thì quý vị Hà n-quốc, Trung quốc,
Là o, Miên, Mã, Xiêm, Hời .. cứ thong thả đi ra.,với thẻ căn cước hoặc bằng lái
xe cầm ở tay chứng thực quý vị là người nước nà o. Còn các tên đà n ông Việtnam
thì phải bò phải lết không được đứng dậy. Bỏi đà n ông Viêtnam đã dê vợ
tôi và dê những người đà n bà Viêtnam khác lấy chồng Mỹ. Tại sao vậy? Tại
sao đà n ông Viêtnam dê xồm vợ tôi và vợ của đà n ông Mỹ khác vậy?
Còn đà n ông Miên, Là o, Thailand, Tà u.. thì tôn trọng lễ giáo Khổng Mạnh, không
là m chuyện đó.? Tại sao đà n ông Viêtnam mắt la mà y liếc vợ Mỹ vậy? Tại sao
đà n ông Viêtnam cứ tìm cách gặp mặt vợ của người Mỹ hoà i vậy? Tại sao đà n
ông Việtnam cứ điện-thoại cho vợ tôi hoà i vậy? .Tại sao đà n ông Viêtnam cứ ưa
đớp vợ của người Mỹ vậy? Cứ nhè vợ của người Mỹ mà buông lời thư thi âm-
dương?.. Đà n ông Vietnam ..đêm đêm các ông ngủ với vợ nhưng lòng ngoại tình
nghĩ đến vợ của chúng tôi. Đây, tôi xin đưa ra một thí dụ điển hình nói về dục
tình của đà n ông Viêtnam mà tôi đã đọc trong một bản tin của hội thánh Tin Là
nh trong số báo ra ngà y 27 tháng chạp năm 1977, cách đây hai tuần lễ.:
"Một thuyền nhỏ bằng gỗ chở hai mươi bốn người Viêtnam
vượt biển vừa đến được Phi Luật Tân, trong số thuyền nhân đó có một người đà n
bà vừa có bầu được hơn một tháng rưỡi, khoảng tám tuần lễ..Người đà n bà nà y
vượt biển cùng với chồng và ba con, lênh đênh hơn hai tháng trời trên mặt nước
và đã mang bầu trong thời gian đó.
Uỷ ban bảo trợ lấy là m lạ là tại sao trong những giờ phút
nguy nan gần kề cái chết trên biển dữ như vậy, và trong một chiếc thuyền gỗ
nhỏ đông người chen chúc như vậy mà người chồng Việtnam lại có thể đè vợ ra là
m tình đến thụ thai."
Tên Mỹ hắc hắc cười:
"Vậy là hai vợ chồng nà y đã trần truồng trước bao nhiêu
cặp mắt và ..và đã là m tình mà không biết mắc cỡ trước những cái nhìn của trẻ
con...Đà n ông Viêtnam đúng là ..cứng hơn ai hết, cứng hoà i bất cứ lúc nà
o, nơi nà o."
Chủ bút báo Đất Mới cải chính:
"Ông hiểu lầm rồi. Người Việtnam vượt biển trên thuyền gỗ
nhỏ, đã gặp hải tặc Tháiland. Và những người đà n bà đẹp đã bị hãm hiếp, chồng
của họ phải nhận mình là cha của các bà o thai đã thụ trong thời gian vượt biển..
Thuyền gỗ nhỏ do người vượt biể̉n tự đóng lấy ra đi tìm tự do, không dá́m chạy
giữa bể khỏi sóng bổ vòi, mà phải dong gần bờ biển, men theo con nước cạn nên mới
gặp bọn chà i lưới Tháiland ."
Tên Mỹ say quay lại căn phòng số 6B réo vợ:
"Tôi hỏi con mụ đà n bà ghê gớm, tôi yêu mà y, bao nhiêu
tinh trùng trong người tôi dà nh hết cho mà y chưa đủ sao?.."
Tâm hỏi ông chủ báo :
"Anh dám đăng chuyện nà y lên báo Đất Mới không?"
Ông Vinh trả lời:
"Báo Đất Mới chả dám đâu..các cha nội sẽ kéo tới đập phá
cho hư cả hai cái máy chữ.. còn chi để đánh bà i..Tờ báo chỉ nhận một chút tà i
trợ của tiểu bang thôi..để in ra và phát hà nh, nên bất cứ hội họp ở đâu cũng bị
lôi đầu đến tham dự.. Cuối năm nay tôi sẽ thôi tờ Đất Mới để̉ cho Mai Thảo là m
chủ bút. Hắn ta vừa đến trại tị nạn Bi-đông."
Jeffrey kéo Tâm và o phòng, đóng mạnh cửa. Hôm sau Tâm thức dậy
sớm, ngoà i trời, đời sống vẫn chưa sáng.
Họ trở về Los-Angeles. Sau đó, Tâm sinh ra hai tí-nhau, là m
chủ ba ngôi nhà . Jeffrey hỏi:
"Em còn muốn có con nữa không; nếu không, anh đi bác sĩ
để cắt bỏ, hoặc cột lại.. Anh nghĩ rằng người chồng nên đoạn sản thay cho vợ vì
khi nà o muốn có con trở lại, người chồng sẽ đến nhà thương để tháo ra, hoặc gì
gì đó.."
Tâm dụi mặt và o ngực Jeffrey thầm cám ơn người chồng chịu để
dao kéo mổ xẻ đụng đến thân thể thay cho nà ng.
Một hôm Jeffrey bảo:
"Sáng thứ hai tuần tới, sở tổ chức bữa ăn sáng, anh cần
em là m cho anh ba khay cơm chiên lạp xường và tôm tươi để anh mang và o sở đãi
nhân viên."
Một người bạn kéo Tâm đến xin yết kiến Hoà Thựơng Thích Mãn
Giác tức Thi-sĩ Huyền Không nhân dịp Thầy đến Seattle là m Phật-sự và sau đó, hỏi
thăm tin một Phật-tử. Người nà y có một đứa con trai được chính phủ Hoa Kỳ trả
lương thật hậu để đi theo nhóm trí thức trở về nước phản tuyên truyền, trong thời
hạn 4 năm. Chiến dịch lạnh nà y do Mỹ đưa ra, bác lại chiến dịch lạnh ở Việt-Nam
khuyến khích dân chúng vượt biển của Cộng-sản.
Thầy Mãn Giác bảo Tâm:
" Chùa nghe nói chị Tâm và anh Phan Văn Lương sẽ cùng đi
với phái đoà n Phật giáo về Việt Nam phát chẩn gạo cho đồng bà o."
Một ngà y tuyêt́ tan, Jeffrey dẫn Tâm ra bờ hồ ngồi trên ghế
đá nhìn mấy con ngựa nhai tuyết, tụi ngỗng Canada tắm dưới hồ, một đoà n lục
bình run lạnh đứng xúm xít và o nhau. Bên cạnh Jeffrey, Tâm như nghe được tiếng
reo của sức khoẻ, như nếm được nhưạ sống, như hôn được cái đẹp của giống đực để
tình nghĩa phu thê bung nở với hy vọng vươn lên trong tiếng hát du ca.
Chà ng hỏi:
" Mỗi lần về Vietnam, em có chích ngừa không?"
" Không, tại sao em phải để mũi kim nhọn phập và o da thịt
em?. Chích ngừa là có lỗi với Sà igòn, là là m mất lòng đồng bà o đang ở lại với
Sà igòn dơ dáy và vi trùng."
Jeffrey nhẹ bảo:
"Luật quốc-tế nói rằng ai đến Nam Mỹ, Mexico, Châu Á ngoại
trừ Nhật Bản , Châu Phi và Bắc Âu ..đều phải chích ngừa ."
Việt-kiều naò về nước cũng chích ngừa đủ thứ: thương hà n,
tetanus, viêm gan, quai-bị, sưởi, iả chảy, ho gà , sưng phổi, lở đít.
Hảo, người Huế, cũng bảo Tâm :
"Phải chích ngừa cả mấy thứ đó, Tâm ơi, và phải ..ngừa
thai nữa"
Tâm cười:
"Chị lo ngừa thai cho cái thân chị đi."
Rồi Tâm nghiêm giọng:
"Lần nà y, em về Viêtnam với mục đích thăm mấy chà ng
thương-phế-binh, chị có đồng nà o bỏ ra để em đem về giao tận tay gia đình chị.
Chị còn lại bên quê nhà cả một đống chị em ruột thịt, máu mủ, xương da, dạ dà
y, lông tóc."
Hảo phụ hoạ:
"Tôi còn sáu chị em bị tôi bỏ lại không đem qua Mỹ.. Ai
sang Mỹ cũng đi cà y để mua được ít nhất một cái nhà ..tôi đã đánh mất tại Mỹ
sáu ngôi nhà đáng lẽ thuộc về tay sáu chị em tôi."
"Vậy thì lần nà y, chị phải gửi về cho gia-đình 200
dollars.. em bù thêm 800 đô cho đủ một nghìn."
Đang nói chuyện, Hảo nghe tiếng điện thoại réo ở đầu dây bên
kia, Tâm kêu vội:
"Em.. có người kêu viễn liên.. lát nữa ,em sẽ gọi lại chị"
Một giờ sau, Tâm gọi lại:
"Phan Văn Lương gọi em..Cha nội nà y em quen từ ngà y
còn trong trại tị nạn. Hồi đó, dân tị nạn ưa hỏi xin địa chỉ của nhau để sau
khi xuất trại sẽ tìm gặp lại nhau."
Tâm nói tiếp:
"Nhưng Lương là kẻ đến sau .. Jeffrey gặp em trước mất rồi."
Năm kia, Tâm thải ra một lô áo quần cũ để cứu trợ Hảo. Thân
hình Tâm cong như một cánh cúc gầy với hai trái ổi chín mềm nằm núp dưới áo dà
i.. còn Hảo thì ốm đói, khô rốc khô ráo như tôm khô ai về Việtnam cũng nhớ
mua.. nhưng lại to ngang nên quần của Tâm thải ra, Hảo mặc vừa.
Jeffrey lại nhắc:
"Anh không thể để em về Vietnam mà không chích ngừa."
Tâm cãi:
" Em về thăm quê-hương em, cho dù sẽ bị viêm gan A, em vẫn
không chích ngừa.. và em vẫn ăn rau sống xịt thuốc giết rầy..."
Jeffrey ngơ ngác , Tâm giỡn:
"Em về Viêtnam, ôi..em tiêu chảy..em nhiễm trùng, thấp
khớp, ho gà , hen suyển, lòi rôm... Nhưng em không chích ngừa.."
Tâm và Lương về Huế đúng và o một ngà y trời mưa kịch liệt.
Mưa Huế lúc Tâm về thật hung ác và bạo hà nh, gió Huế rống to căm tức trước khi
mưa bắt đầu khưng bố. Giọt mưa nhọn nỗi khùng đâm rách tà u chuối và xé lá chuối
xác xơ.. Huế lốc và Huế lụt. Mưa tấn công tới tấp và chừng hai giờ sau thì nước
sông dâng bốn bề, người Huế chỉ vừa kịp leo lên mái nhà . Phan văn Lương đèo
Tâm trên xe đạp chở đến nhà bà Phán Dần. Nhà văn Văn-Quang giới thiệu gần hai
chục thương-phế-binh đến gặp Tâm và Lương. Tâm đem về ba mươi chai dầu gió
xanh, hai chục chai Nhị thiên đường vạn ứng Nhị thiên dầu, sáu nghìn
dollars và hai va li đựng qùa vặt.. đủ để tổ chức một cuộc họp mặt văn nghệ.
Các chà ng thương-phế-binh nà y có người cụt hai giò, có người phải cắt bỏ một
tay, nhưng ai nấy thắm thiết chà o mừng Lương Tâm và vui nhộn gãy đà n thật điệu
nghệ , tà ì tử, oằn người đánh trống, trầm giọng hát ca, ngâm thơ, hò Huế, chỉ
một mình Tâm là buồn tái-tê..Thật quê một cục. Một chà ng biệt kích dù cụt hai
chân hát tặng Tâm bà i "Đèo Ba-Rền".
Tâm hỏi:
" Đèo Ba-Rền ở đâu vậy Lương.?"
" Quảng-Ngãi..một ngọn đèo sát nhân.. giết chết không biết
bao nhiêu chiến sĩ anh hùng.".. Chiều và ng lên đeò, quân hùng ca
reo."
Một chà ng lính biệt-động, sống sót sau hà nh quân Lam-Sơn
719 kể rằng một tiểu đoà n biệt kích đóng ở Khe-sanh.. vượt biên giới qua Hạ-Là
o, sau hai đêm giáp chiến với quân Bắc-Việt ở Tchepone, đã hoà n toà n bị tận
diệt.. 500 chiến sĩ rằn-ri mũ đỏ đã bị giết trong hai đêm.
Phan văn Lương đứng lên:
" Đừng nhắc đến chuyện bại trận nữa; bây chừ, thiên hạ
quên chiến tranh hết rồi, quên người lính miền Nam đã cam nhận cái chết và vui
nhận số phận sau khi được sống còn. Ơn trên không công bằng, chính quyền miền Bắc
nuôi quân đầy đủ cơm, cá, thịt, rau; chính quyền miền Nam cho lính ăn đồ hộp
C-ration, lính miền Nam bị táo bón và trĩ lòi rôm, đuối sức, sụt cân. Bất công
hơn nữa, dân chúng miền Nam, trước năm 1975, lại ưng hộ quân đội miền Bắc hết
mình. Từ cuối thập niên 1960 đến 27 tháng ba năm 1973, liên-quân Mỹ-Việt tại miền
Nam không hề thắng Cộng quân một trận nà o cả."
Chiều thứ bảy, Lương và Tâm đi thăm lăng Tự Đức. Bầu trời chất
đầy những đám mây đen nặng. Huế ơi sao Huế đau khổ vậy? Huế cứ mưa hoà i. Huế
ôm lấy dòng sông, cây cầu và những con đường áo trắng. Điệu hò Trước bến đã
dứt nhưng đôi tai gái Huế vẫn còn hát.
Sáng chủ-nhật, Lương và Tâm đi cửa Thuận..rồi sau đó chia
tay, mỗi người về một tiểu bang của nước Mỹ..
Tâm điện thoại cho Hảo:
" Trưa mai tui đón bồ đi ăn phở Hùng."
Buổi trưa mưa dứt, trời sáng nhạt, lá phong rụng ít nhiều
trên mặt đường ban đêm có người phu quét dọn và dãy núi nằm cong lưng ngủ.
Tâm húp một muỗng phở, chê:
" Phở tiệm thua xa phở nhà em nấu. Nồi nước dùng của em
không bao giờ qúa nhiều mùi thuốc Bắc và không bao giờ đắng mùi hồi."
Hảo kêu lên:
" Tôi xin thề từ nay không bao giờ nấu phở nữa , bởi vì
tôi là một kẻ không bao giờ thất bại trong tình yêu mà chỉ thất bại khi nấu phở."
Rồi hỏi:
" Phan văn Lương là ai rứa ?"
Tâm tươi cười:
" Một kẻ em quen từ khuya, khi còn trong trại tị nạn. Chị..
chị goá buạ..có thèm đà n ông lắm không?.. em nhường lại cho chị."
Hảo từ chối:
" Thôi cô giữ lấy để mà dùng.. Cô lấy chồng Mỹ nhưng
lòng vẫn còn ấm ức, vẫn còn nuối một người đà n ông Viêtnam, vẫn muốn có một
chút đà n ông ấy để ăn vụng."
Mùa đông sau đó, tuyết ngập đường phố cao tới nửa đùi. Hai trận
bão khốc liệt quét qua, kéo theo bao nhiêu cỏn mưa dà i. Hoa lilac nín nở, bồ
câu xếp cánh không bay. Thời tiết cũng xấu như lòng người, gây cảm tưởng bực
mình và khó chịu như đà n bà thấy tháng.
Tâm bỗng lên một cơn sốt không có triệu chứng báo trước, bị
đưa và o nhà thương cấp cứu, bị bác sĩ cắt đi một khúc dồi trường gần hậu môn.
Hết một tuần lễ nhập viện, Jeffrey chở Tâm về nhà , cõng Tâm
lên gác, bế Tâm bỏ và o giường, vuốt tóc, đắp mền lên tận cổ Tâm. Chà ng đặt một
cái chuông nhỏ cạnh gối vợ. Ban đêm, chà ng trải manh chiếu gon dưới
đất nằm cạnh giường nà ng.
Jeffrey xin nghỉ phép hai tuần lễ và hiền là nh nói:
" Anh đặt cái chuông gần cánh tay phải của em, anh nằm
dưới đất để em ngủ cho dễ. Em cần gì, rung chuông, có anh ngay, em đừng mở miệng
nói mà mệt."
Tâm ngồi lên định đi và o buồng tắm. Jeffrey bốc nà ng và o
đôi tay, bưng nà ng và o toilet.
Sau khi mạnh khoẻ, Tâm xin việc là m ở sở y tế Hồng thập tự,
thông dịch giúp bệnh nhân người Việt đi bác sĩ mà không nói được tiếng Anh.
Hai tháng sau, Tâm là m đám cưới cho con gái. Jeffrey bảo chà
ng rễ Mỹ:
" Không được quên sự có mặt của bà già vợ cậu đấy nhé. Cậu
phải là m rễ đúng theo phong tục Vietnam của bả. Cậu phải mặc lễ phục của triều
đình Vietnam: áo thụng xanh may bằng gấm Tà u dệt hình chữ thọ, đội
khăn đóng đen 5 và nh, mặc quần lót bằng vải Tà u tám trắng, mặc quần
dà i may bằng vải quyến thô, thứ vải bình dân mà cựu Tổng-thống Thiệu
đã mặc ngà y mồng một Tết hồi xưa, chân cậu không đủơc̣ mang vớ bỏi vì cậu phải
xỏ chân và o đôi già y hạ. Cậu phải ăn mặc y-chang một hoà ng tử của
triều đình Huế."
Tội nghiệp chà ng rễ Andy, ông già vợ chỉ đâu đánh đó. Mặt
chà ng ướm rịn mồ hôi vì lễ phục Viẹtnam mặc nóng qúa.
Cuối Tháng ba,Tâm lại sửa soạn mấy va-li nặng về thăm quê
hương Ninh Bình. Mấy mươi chai dầu gió xanh, chai Nhị thiên đường vạn ứng nhị
thiên dầu và tiền mặt. Jeffrey tiễn Tâm tận phi trường, cân hà nh lý và ngồi
bên nà ng cho đến khi Tâm xếp hà ng lên máy bay.
Phan văn Lương gặp Tâm ở sân bay Phú-Bà i. Một qủa cười
đa tình nở trên môi chà ng khiến Tâm nhớ tới thi sĩ Cao Tần đã là m bà i
thơ Một qủa cười đểu.
Lương bảo Tâm:
" Cô.. đau mới dậy.. nhưng trông vẫn đẹp như một MC đứng
trước đám đông khán giả..chắc cô sẽ bỏ nghể y-tá để là m xướng ngôn viên băng
nhạc.."
Lương đèo Tâm trên xe đạp điện đến nhà bà Phá Dần nghỉ qua
đêm. Tâm nằm bên cạnh bà Phán và tâm sự:
" Tại sao em lại lấy chồng nước ngoà i. Tại vì răng mà
em lấy Jeffrey? Nhiều khi gặp một người đà n ông Việtnam ngã ngựa, mất công
danh sự nghiệp, mất niềm tin, em cảm tưởng như mình là người có lỗi và có trách
nhiệm trong nỗi mất mát của người ta. Nếu em lấy một người chồng Vietnam thì có
phải bớt đi được một tâm hồn xa xứ cô đơn không?. một oan hồn bất mãn không? Em
bây giờ có muốn cưú ông nà o cũng chẳng được nữa mà phải tự cứu mình
mỗi ngà y, cứu tất cả đỗ vỡ trong lòng em."
Bà Phán Dần cười:
"Tôi quen năm bảy bà bạn lấy Mỹ, họ ghé thăm tôi mỗi lần
họ về nước. Họ bỏ bùa mê đà n ông Viêtnam một cách dễ dà ng..Theo tôi
nghĩ, bởi vì đà n ông Viêtnam từ ngà n xưa cổ tích, đã đa thê quen rồi, bây giờ
đổi đời, họ bị hạn chế một lấy một, nên họ ức..họ muốn đòi lại chủ
quyền, muốn giựt lại các bà từ tay thằng Mỹ."
Bà Phán Dần nói tiếp:
"Tôi nghĩ cô có tu từ kiếp trước: Khi đã qúa tuổi thanh
xuân, cô lại lấy được ông Mỹ trẻ chưa lập gia đình lần nà o, chưa có con riêng,
chưa có cháu nội ngoại..nên cô lấy được luôn cả tiền bạc và nhà cửa của ông ta.
Mấy bà khác lấy mấy ông Mỹ không ngon là nh như ông Mỹ của cô.."
Tâm nằm đông cứng không trả lời, bà Phán nói dai:
"Cô còn nhớ lần đầu tiên chúng ta gặp nhau, cô nói với
tôi rằng một ngà y nà o đó cô sẽ bán bớt một ngôi nhà lấy tiền giúp bà con, đồng
bà o nghèo .."
Sáng hôm sau đôi bạn ra sân bay sớm. Sau đó, họ đi xe về những
là ng xa nơi người dân quê khổ cực ngâm mình trong nước bùn đục để mò cua, bắt ốc,
lưới tép sinh sống từ trẻ tới già .
Rủ nhau xuống biển mò cua,
Đem về nấu qủa mỏ chua trên rừng.
Em ơi chua ngọt đã từng
Non xanh nước biếc ta đừng quên nhau.
Người dân bần-cố vươn mình đứng giữa thiên nhiên: một bên là
rừng, một bên là biển. Để nấu tô canh, họ lội xuống biển bắt còng rồi bước và o
rừng hái trái mỏ chua.
Khi Lương và Tâm quay lại Yên Bái, bà con giết một con mực
thiết đãi họ: thọc huyết lấy máu đánh năm đĩa tiết canh, nhóm ba cái bếp lộ
thiên để bắt lên ba cái thùng nấu con chó theo ba kiểu: một nồi cà -ri, một nồi nhựa mận, và
một nồi thịt hươu thềm luộc.
Bà con trải ba chiếc chiếu dưới đất, bưng ra mấy đĩa dồi, bốn
tô nhựa-mận, bốn tô cà -ri cay, và năm tô tiết canh. Cả đời Tâm chưa bao giờ gặp
cảnh ngộ nà y. Nước mắt ứa ra, nước mũi chưa hĩ đã thò-lò. Hai đầu gối gập lại
đánh cập và o nhau, khuỵ xuống, Tâm cố ăn rau sống thật nhiều nhưng bà con xúc
mấy thìa tiết canh, gắp thịt cầy và o đầy bát nà ng. Ai nấy chăm chăm ngó Tâm
không chớp mắt, cố mời và vui sướng bắt nà ng phải ăn cho được. Tâm gắp cục thịt
lên, rồi bỏ xuống, muốn ngất xỉu đi ngay lúc đó mà không được.. Cuối cùng, phải
đút cục thịt và o miệng ngậm lại và nhai và nuốt và nín ói.
Tâm nghĩ thầm nếu chồng con tôi biết tôi ăn thịt hươu thềm,
chắc sẽ từ mặt tôi, và nếu bạn bè tôi biết chuyện nà y, không ai thèm chơi với
tôi nữa..Tâm gục xuống như một cà nh lilac gãy dưới áp suất gió.. Tâm nhớ thời
gian đầu mới sang Mỹ, gia đình nà ng định cư ở Seattle, các nhà thờ Công giáo họp
mặt lớn, mời ban biên tập báo Đất Mới đến dự. Các ông cha và viên chức cao cấp
sở Welfare kịch liệt đả-kích người Hà n quốc, người Tà u , người Vietnam..ăn thịt
chó, họ bảo rằng ăn thịt chó là phạm một nửa tội ác sát nhân, trong tương lai sẽ
có phiên toà xử tội ăn thịt chó.
Bộ biên tập báo Đất Mới mắc cỡ qúa ngồi im; lát sau, nhà văn
Th.N. nói :" Chó Viêtnam xấu, chó Mỹ đẹp nên không bị ăn thịt. Ai
sinh ra với một sở thích và lòng thương yêu chó mèo thì, với người ấy, chó mèo
rất xinh đẹp, dễ thương. Ai sinh ra không có sở thích nà y thì, chó
mèo đến bên họ, họ đá cho một phát."
Khi hai người thoát khỏi mâm thịt chó thì trời rất tối. Họ đi
tìm một chỗ trọ tạm qua đêm. Phòng trọ êm vắng, không khí nhẹ nhà ng thở. Bà n
ghế mới lau, cà nh hoa cà -phê mới cắt đem và o cắm, cửa sổ có mà n che mỏng
trang trí gian phòng tăng thêm dương tính. Cái giường kê sát tường đúng với
nguyên tắc khoa học lao động: Cái giường thấp để dễ dà ng nằm xuống ngồi lên đứng
dậy.
Lương quay người, kéo Tâm và o bụng mình rồi cúi xuống hôn miệng
nà ng. Tâm gạt ra, bảo:
" Tôi biết thế nà o rồi cũng có cái mà n nà y. Một nhà
tâm lý nói : Vợ chồng là hai người bị Trời lấy dây trói lại bắt sống với
nhau, vợ chồng phải giữ hoà khí, không gây chiến, hai bên tương kính, không la
hét nhau. Jeffrey và tôi chung sống trên ba mươi năm đầm ấm, hắn nói với
tôi những lời tốt, những lời hiền... Lương, gặp lại Lương, tôi yếu mềm thương mến
Lương, nhưng trước giờ phút cám dỗ nà y..tôi xét lại cái tình nghĩa
giữa tôi và Jeffrey: giữa hai vợ chồng tôi, không có một lần nào gây lộn,
không nói với nhau một lời xấu; cho đến giờ nà y, giữa chúng tôi, chỉ thấy những
kỷ niệm tốt hiện ra..chỉ thấy cái đẹp hiện ra... Nếu, nếu một hình ảnh xấu nà o
hiện ra... thì... thì lúc này, tôi thuộc về Lương.
27/11/2008
Túy Hồng
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét