Bên kia bờ ảo vọng 1
Phần I
Người đàn bà thầm nghĩ: “Tại sao mình đã yêu Nguyên đến thế?”…
Cô chăm chăm nhìn anh qua làn ánh sáng xanh tái của rạng
đông. Anh còn đang ngủ say, vừa hiền vừa xa lạ, như một hình nhân bằng sáp.
Gương mặt, gờ cong trên sống mũi, vành tai… Vẫn con người ấy, da thịt ấy, trước
kia anh là vầng hào quang ở trong cô. Giờ, không còn toả ra hơi ấm của tình yêu
và niềm vui sống.
Người chồng xoay mình nằm nghiêng, những sợi râu ở cằm anh khẽ
cọ vào má vợ. Một cảm giác ghê tởm và cách biệt khiến người đàn bà ngồi nhổm
lên:
“Quái lạ, sao râu anh ta thưa vậy?” Cô nhìn chồng lần nữa, tựa
lưng vào tường, thờ thẫn.
Ngoài hành lang, có tiếng chân bước rồi ai đó đánh rơi chiếc
xô loảng xoảng.
- Làm gì mà ầm ĩ lên thế, vừa mới bảnh mắt ra?...
Giọng đàn bà oang oang. Đó là tiếng quát của mụ Tòng, một người
đáng khiếp sợ trong khu nhà. Đáp lại tiếng mụ, một giọng đàn ông nhỏ nhẹ, hốt
hoảng:
- Xin lỗi chị, cái quai xô bị tuột lúc nào tôi không hay.
Không thấy mụ Tòng nói gì thêm. Giáo sư Lê, người đàn ông vừa
đáp lời đã đi xuống cầu thang, tiếng dép lệt sệt vọng xa dần. Rồi không gian
hoàn toàn yên tĩnh. Lúc ấy khoảng bốn giờ, thành phố còn chưa thức giấc nhưng
ánh sáng đã lan toả trên vườn tược, phố xá và lọt qua khe cửa mỗi căn phòng. Đó
là thứ ánh sáng độc địa, trộn lẫn sương mù với nắng ấm cuối xuân. Người đàn bà
rùng mình, vì cô chợt thấy cái đầu chồng nhô trên tấm chăn giống như đầu tượng
gỗ trong phòng bảo tàng, xa lạ làm sao, dưới làn ánh sáng xanh tái đang chuyển
dần sang màu thiếc loãng. Một tiếng kêu vụt dậy trong cô:
“Kẻ dối trá ti tiện… đã có thời mình yêu anh ta như một kẻ cuồng
si”.
Ngày đầu tiên cô gặp anh là một sớm oi nồng tháng sáu. Lúc
đó, Linh là nữ sinh trường đại học năm thứ hai. Giáo viên bộ môn phái Nguyên xuống
phụ đạo cho lớp học văn của cô. Đa số học viên là nữ. Các cô gái sớm hiểu biết,
giàu mộng mơ và biết giá trị của mình. Các cô tò mò phỏng đoán về anh chàng
giáo sinh trẻ tuổi, nổi tiếng là thần đồng, cô nào cô nấy nuôi hy vọng về một mối
thiện cảm sẽ nảy sinh. Và Nguyên xuất hiện, trong bộ quần áo xoàng xĩnh bằng vải
thô không se sợi, người tầm thước, mắt sáng, tóc đen nhánh, giọng nói đầy tự
tin. Khiêm nhường nhưng lạnh lẽo, anh không nhìn tới bất cứ cô gái nào trong lớp
- một lớp nổi tiếng về các cô gái xinh đẹp nhiều tài lẻ trong toàn trường. Những
bụi phấn trứng bám trên ngón tay anh, và những hạt gầu rơi xuống vạt áo. Chiếc
khuy áo cổ bị đứt và vết mực dây trên cửa tay… Anh hấp dẫn mọi người bằng vẻ
say mê nồng nhiệt những cao vọng tinh thần. Anh nói về văn hoá Phục hưng, các
nhân tố tiến bộ của xã hội tư bản mới, những dao động thời đại và điểm xung yếu
của nền móng xã hội cũ, lòng khát sống và sức mạnh của cá nhân đòi phát triển -
động lực vĩ đại đã đẩy lùi bóng tối Trung cổ, đưa con người bước lên những bậc
thang rực rỡ của nhân văn… Kiến thức sắc bén và toàn diện của anh khiến cô kinh
ngạc. Vẻ ơ hờ của anh như một thứ etxăng mầu nhiệm tưới lên ngọn lửa si mê của
cô ngay từ phút đầu tiên. Hồi đó, cô mười chín tuổi. Xinh đẹp và dịu dàng, cô
khiến cho đám thanh niên nghiêng ngửa ở bất cứ nơi nào cô đặt chân tới. Trước
đó một năm, cô hứa hôn với anh chàng hàng xóm, theo gợi ý của bà dì ruột, người
đã nuôi cô thuở còn thơ tới lúc trưởng thành. Anh chàng này mê mẩn Linh từ năm
cô mười sáu, một mối tình cuồng nhiệt và ngưỡng vọng. Anh ta đẹp trai, ăn nói
ngọt ngào, biết chiều chuộng cô và biíet mọi nhẽ lo toan cho đời sống. Giá
không gặp Nguyên, mọi sự sẽ xuôi dòng… Nhưng cô đã gặp anh, và cô đã gánh chịu
sự ruồng bỏ của cả gia đình, những lời đàm tiếu mỉa mai khinh miệt của dân phố,
sự căm ghét và những nhục mạ của người yêu cũ…
“Trời ơi, mình đã yêu Nguyên hơn cả cuộc sống của mình…”
Giá như cô không yêu anh đến thế? Một cuộc sống dừa thừa đã
chờ đợi cô. Vị hôn phu của Linh chỉ còn mong tới ngày cô ra trường để làm lễ cưới.
Gia đình lo cho anh ta một ngôi nhà khang trang, các thứ đồ gỗ đắt tiền và những
tiện nghi sang trọg mà người đương thời mơ ước. Chiếc xe máy anh ta đưa đón
Linh luôn luôn thay đổi và bao giờ nó cũng là loại đắt tiền nhất. Áo quần anh
ta mặc và may sắm cho người yêu là trang phục thời thượng. Hấp lực của đời sống
vật chất không phải không mạnh mẽ đối với con người. Sau khi từ hôn, Linh đã thức
đêm hàng năm ròng máy quần áo thuê kiếm tiền cho bà dì giả lễ. Cô đã ngủ gục
trên giảng đường, giữa hai giờ học hoặc trong cuộc chuyện trò của đám bạn gái.
Cô thèm một bát vằn thắn hay một miếng bánh mì kẹp chả vào những buổi tối mùa
đông cóng rét, khi bài học chưa xong. Cô đã chờ đợi anh, thay vì được đưa đón.
Và cô đã nhẫn nại chịu dựng cảnh sống tùng tiệm rau muối trong những năm chung
sống đầu tiên…
“Phải, mình đã yêu anh ấy với tất cả tình yêu mà người đàn bà
có thể có…”
Những hàng ghế trống vắng nơi giảng đường, buổi chiều nào đó
họ đã hò hẹn nhau. Một vòm cây giữa trưa hè, toả bóng xuống sân cỏ, anh đã giảng
cho cô nghe “Thần khúc” của Đăng tơ, với một âm điều thâm trầm phía sau giọng
nói:
- Sao em cứ luôn ngạc nhiên trước các dữ kiện của đời sống và
những biến cố của các cá nhân trong xã hội?... Đừng nhìn họ như những vị thánh.
Thần thánh chỉ sống trong trí tượng của loài người thuở sơ khai. Bây giờ, con
người đã đủ khôn để hiểu rằng vĩ nhân nào cũng có ba mươi phần trăm sự siêu
phàm còn bảy mươi phần trăm kia dành cho kiếp sống trần tục. Bởi lẽ đó họ cũng
sẽ giật mình khi gió dông sấm sét, sẽ đau đớn dày vò khi mất mát quyền lợi
riêng, sẽ có những ngộ nhận và lầm lẫn…
Anh đã ném ra khỏi bệ thờ những thàn tượng ở trong cô nhưng
chính anh lại biến thành một thần tượng mới. Anh thường mỉm cười nhẹ nhàng ẩn
chút giễu cợt ở khoé môi anh Linh tìm thấy sự vững vàng. Trong ánh mắt diệu vợi
của anh cô thấy những kinh nghiệm sống và một tâm hồn trắc ẩn. Người đàn bà run
lên vì những hồi ức yêu đương cuồn cuộn chảy trong tim. Buổi tối ấy, trong bóng
tối rạp chiếu bóng, anh đã vuốt ve những ngón tay cô. Họ đang xem cuối phim màu
“Rôbinxơn”. Cô bị cuốn hút vào các giai điệu, còn anh anh ghé sát bên cô thì thầm:
“Âm nhạc là thứ nghệ thuật dễ lôi cuốn hơn cả. Vì thế nó dễ lừa
mị con người. Em biết không, Rôbinxon là hình ảnh con người hùng của thời trước.
Làm người hùng thời nay khó hơn nhiều. Không cuộc đấu tranh nào phức tạm và hiểm
nguy hơn cuộc đấu tranh của con người với chính con người…”
Lúc ấy, cô đã sửng sốt nhìn anh. Và trong bóng tối đôi mắt
anh rực lên, vừa dịu dàng vừa xa vắng. Vẻ đẹp trí tuệ nở bừng trong đôi mắt đó,
những những đoá hoa thần bí trồi lên trên sóng nước. Cô xiết chặt tay anh, muốn
hôn lên bàn tay ấy, muốn nói với anh ngay tức khắc, rằng cô mãi mãi yêu thương
và tôn thờ anh…
Họ đã sống những tháng năm tuyệt đẹp. Cho đến lúc cô phát hiện
được những bài báo dối trá của anh, vẻ khinh khi của đồng nghiệp, những lời đàm
tiếu sau mỗi chuyến đi, mỗi lần thăng lương, thăng chức. “Không cuộc đấu tranh
nào phức tạp và hiểm nguye hơn cuộc đấu tranh của con người với chính con người…”
Kẻ nói lời nói đó đã thoả hiệp. Con người có đôi mắt rực sáng và vẻ ưu tư dịu
dàng kia đã cúi nhìn xuống đất… Anh đã tước bỏ mọi niềm tin của cô. Như thế,
anh cũng tiêu diệt luôn tình yêu đi cùng với nó…
“Tại sao, tại sao…”
Linh không thể cắt nghĩa. Tâm trạng cô rối loạn vì hối tiếc
tình yêu đã mất, vì hoảng hốt trước những đổ vỡ đe doạ tương lai, vì một hy vọng
âm thầm và mãnh liệt níu kéo đời sống yêm ấm cũ, nhưng đồng thời con người tỉnh
táo của lý trí lại mỉm cười chế giễu và chỉ cho cô biết rằng trái tim cô đã lìa
bỏ Nguyên, rằng đôi mắt cô đang nhìn anh với cái nhìn lạnh lẽo và sự khinh khi,
căm ghét đã khiến những sợi râu anh chạm vào da thịt cô cũng gợi nên sự nhờm tởm.
Người đàn bà nghĩ:
“Kẻ dối trá ti tiện. Lẽ ra, mình không thể nằm chung với anh
ta trên một chiếc giường...”
Lúc đó, Nguyên lại trở mình, anh vươn vai, ngáp. Linh trân
trân nhìn chòng: Thật kinh sợ cái giây phút người ta chợt nhận thấy ngôi nhà
mình trú ngụ tồi tàn, dơ dáy, cây hoa trướ cửa chìa đám lá bụi bặm, một thần tượng
từ bóng tốiliêng thiêng của đền đài bị ném ra dưới anh mặt trời chang chói, hiện
nguyên hình là khúc gỗ mốc meo...
- Phương Linh, trời sáng chưa em?
Nguyên cất tiếng hỏi, giọng ngái ngủ.
- Có lẽ trời sáng rồi.
Linh đáp.
Nguyên mở mắt, mỉm cười.
- Lại định gây sự phải không, cô bé rắc rồi?
Đôi tay ấm nóng của anh vươn rộng ra, ghì đầu vợ vào ngực
mình:
- Bỏ em ra nào.
- Sao thế?
- Không sao cả, nhưng em muốn trở lại câu chuyện tối qua.
- Lại chuyện tối qua?...
Nguyên mở mắt, nhìn vợ với nụ cười độ lượng: đừng trở lại câu
chuyện ấy làm gì. Thời cuộc, chiến thắng, chiến bại, chân lý, nguỵ lý... Tất cả
những thứ ấy hãy đặt ngoài cánh cửa căn phòng này. Ở đây chỉ có em và bé Hương
Ly là tồn tại với anh.
Nguyên ôm choàng lấy Linh, dụi đầu vào ngực cô. Tóc anh đã có
sợi bạc.
“Tại sao người ta có thể bạc tóc ở tuổi ba mươi hai?...”
Linh băn khoăn nghĩ. Bố mẹ Nguyên đã về hưu vài ba năm nay, sống
ở một ngôi nhà khá đẹp với khu vườn rộng ngoại ô. Cả hai cụ đều chưa bạc tóc. Hồi
Linh yêu Nguyên tóc anh đén có ánh xanh như lông một loài chim. Mỗi khi có món
tóc xoà xuống trán, Nguyên đưa tay chậm rãi vuốt ngược lên. Linh yêu cử chỉ ấy
của anh. Biết bao lần chờ cô trước cổng trường, anh đã đưa tay vuốt mái tóc đẹp
đẽ ấy...
Nguyên vẫn ôm vợ nồng nàn. Tình yêu của anh nhân lên với
quãng thời gian chung sống. Đó không phải là một thông lệ.
- Con người cần gia đình như con thú cần hang ổ - Anh nói –
Em có nhớ đời sống của loài gấu không?... Suốt mùa đông, nó trốn rét trong
hang, chỉ gặm mỡ lòng bàn tay mà sống. Chúng ta cũng chỉ là một loài gấu. Chúng
ta cần nơi trú ngụ, nơi trốn tránh mùa đông với những bão dông. Chỉ cần khép cửa
phòng lại, ôm em với Hương Ly trong vòng tay, anh quên hết mọi khắc nghiệt của
cuộc đời...
Nguyên ngừng lại, áp tay lên môi vợ. Lúc đó, Linh thấy thương
anh, nhưng đồng thời cô cũng nhăn mặt vì ghê tởm. Gương mặt anh cũ kỹ, thảm hại
làm sao?...
Người đàn bà vội nhắm mắt để xua đuổi ý tưởng ấy. Cô vội vã hỏi:
- Sao anh nóng thế, sốt à?
Nguyên đáp:
- Không. Anh khoẻ như một con gấu và anh yêu em.
Linh gạt tay chồng, nhưng anh đã ghì lấy cô, cuồng nhiệt.
- Thôi đi anh, trời sáng rồi kìa.
- Không có sáng và cũng không có tối. Căn phòng này là thế giới
riêng biệt của chúng ta.
- Không.
Người đàn bà bật lên một tiếng kêu ngoài ý muốn vì những sợi
râu thưa thớt của anh lại đâm vào má cô một lần nữa, và lần này, cảm giác xa lạ,
nhờm tởm gia tăng tới mức cô không sao chịu nổi. Tiếng kêu đó khiến Nguyên bừng
tỉnh. Anh ngẩng lên nhìn gương mặt nhợt nhạt của vợ, hỏi:
- Có chuyện gì thế em?
Linh không đáp, nhưng bỗng dưng nước mắt ứa quanh bờ mi chảy
ròng rờng trên má. Từ ngày họ yêu nhau chưa bao giờ cô khóc. Nguyên nghĩ:
“Không ngờ cơ sự đến nỗi này”
Anh tung chăn, đứng đậy mặc áo và kéo tấm màn che cửa sổ. Bầu
trời mùa xuân lồng lộng hiện ra.
- Đừng dẫm chân xuống đất thế, anh lại viêm họng mất thôi.
Đôi dép cói em để dưới gầm bàn kia kìa
Dù đang khóc, Linh vẫn kêu theo thói quen. Nguyên quay lại
nhìn vợ: Gương mặt cô tràn ngập tâm hồn anh. Ngày cưới, gương mặt ấy cũng trẻ
trung xinh đẹp như bây giờ. Một gương mặt không chịu khuất phục thời gian.
Anh ngồi xuống ghế, tìm bao thuốc:
- Nói đi em.
- Em ghê sợ anh, sau câu chuyện ấy.
Nguyên châm thuốc, Linh nhìn anh, rồi nhắc lại:
- Em ghê sợ, anh hiểu không?
- Anh hiểu.
- Nhưng chính em, em không hiểu. Chưa bao giờ em rơi vào trạng
thái này. Anh làm em sợ hãi.
Nguyên gạt tàn vào chiếc vỏ ốc, chậm rãi nói:
- Nói đúng hơn là em khinh bỉ anh.
- Không.
- Anh biêt
- Không. Không...
Linh kêu to, nhưng cô hiểu rằng anh nói đúng và cô oà khóc.
Nguyên ném mẩu thuốc, định an ủi vợ nhưng anh sực nhớ rằng cử chỉ đó giờ đây
không có ý nghĩa gì. Anh lại ngồi xuống, châm điếu thuốc thứ hai:
- Nín đi em, cần bình tĩnh chuyện trò. Anh đã phấp phỏng từ
lâu tai hoạ này. Đối với một người nhe em, không chóng thì chầy cái ngày hôm
nay cũng sẽ đến…
- Anh đổ lỗi cho em?...
Linh cao giọng. Nguyên lắc đầu, nhưng anh chưa kịp nói, cô đã
tiếp:
- Không, không… đừng đổ lỗi… Anh hãy nghe đay, từ khoảng mùa
hè năm ngoái trở lại, người ta đã nói đến tai em những lời to nhỏ về anh. Không
phải anh Trọng, không phải anh Nam, cô Tâm hay anh Phúc… Những người anh không
ngờ tới, do những mối liên quan bên ngoài mà em biết được. Họ đàm tiếu về những
bài báo anh viết, về mối thân tình giữa anh và tổng biên tập, về những chuếyn
đi Châu Âu và Đông Âu của hai người, về những buổi tiệc tùng đón rước linh đình
ở khắp các thành phố và tỉnh lỵ các anh đặt chân tới. Em không phải là một cô
bé đeo khăn quàng, em cũng hiểu lòng đó kỵ và sự độc ác của con người đối với
nhau, em đã dò hỏi nhiều nguồn tin và đôi lúc trò chuyện với anh để tìm hiểu sự
thực hoặc có lúc anh im lặng để biểu lộ lòng khinh thị… Chỉ cần một cái lắc đầu
của anh, chỉ cần anh xua tay hay nhíu tràng mày, em sẵn lòng quên hết mọi lời đồn
thởi. Chỉ cần nhìn khoé môi anh nhếch lên, em tin rằng đám đông kia thấp hèn,
nhảm nhí, và con người chính trực như anh thật khốn khổ khi phai chịu đựng họ…
Em đã tin anh đến thế…
Linh ngừng lại, cô nấc lên và nước mắt chan hoà chảy trên
gương mặt. Nguyên cúi đầu, gạt tàn vào chiếc vỏ ốc. Những ngón tay run run. Anh
nói:
- Anh xin em bình tĩnh. Anh biết mình có lỗi. Nhưng nói cho
công bằng hơn, có một phần lỗi của cuộc đời.
- Anh đừng đổ lỗi cho cuộc đời. Đó là lối thoát hèn kém nhất.
Anh hãy nói đi, tại sao anh đã hành động như một… - Người đàn bà ngừng lại,
khoé mép hằn sâu xuống, cô chưa tìm được lời diễn đạt. Nguyên vẫn rít thuốc,
anh cúi nhìn một con bọ rùa bị lật ngửa đang quay tròn trên nền đá hoa:
- Linh này, anh sẽ nói hết mọi chuyện. Không phải để tìm sự
tha thứ của em, nhưng để em khách quan hơn trong việc nhìn nhận con người…
Người đàn ông ném mẩu thuốc cuối cùng vào cái gạt tàn, ngẩng
lên. Vợ anh nhìn anh chăm chú, chờ đợi. Cặp mắt nâu rọi những tia sáng trong và
lạnh như thuỷ tinh. Dưới đôi mắt ấy, hai gò má mịn hồng. Một vẻ đẹp nghiệt ngã
và thơ ngây. Nguyên rùng mình, anh khẽ dẫm chân lên con bọ rùa vài giây rồi
nói:
- Anh sẽ không bào chữa như tối hôm qua. Xưa nay, anh vẫn yêu
cầu đám bạn đồng nghiệp không được nói chuyện công việc trước mặt em, vì anh
không muốn em làm quen với những thứ em không quen được. Nhưng bây giờ, điều ấy
không cần nữa…
Con bọ rùa ngọ nguậy. Nguyên bỏ chân ra, nó lại quay tròn, cố
lật bụng xuống:
- Em có hiểu được tâm lý của một người đàn ông, kẻ chèo lái
con thuyền đời sống trong gia đình?
- Tâm lý học không dính líu gì tới những bài báo dối trá cả.
- Trước ngày cưới, anh là một chàng sinh viên tự do, ngoài những
giờ ở bên em, anh có thể gặm bánh mì suông tuần này qua tuần khác mà đọc
sách..., nhưng, có em rồi có Hương Ly, đời sống vui thú hơn nhưng cũng nặng nề
hơn. Anh, kẻ chèo lái con thuyền gia đình, đã kinh hãi nhìn những con thuyền
khác chìm dần xuống đáy nước.
Anh ngừng lại, trán hằn rõ nếp nhăn.
- Anh không muốn em thiếu một tấm áo mới, anh không muốn con
thèm một đôi giày.
Vẻ đau đớn hiện trong khoé mắt anh khiến cô phải quay đi. Sống
mũi cô cay xè. Nguyên nói tiếp:
- Hồi mới ra trường, anh đã hăm hở như chàng kỵ mã vừa lên
lưng ngựa. Không quá bòng bột như em, nhưng anh cũng bị thiêu đốt bởi ước muốn
làm một con người chính trực. Con người ấy dùng ngòi bút để đấu tranh cho cách
mạng, giành quyền năng cho công lý, ca ngợi tiến bộ, phanh phui những xấu xa,
ti tiện còn tồn tại trong đời sống... Không riêng anh, nhiều đồng nghiệp của
anh cũng chung ý tưởng đó. Nhưng dần dà, anh hiểu rằng ước muốn của con người
luôn cách biệt bởi một khoảng thời gian và không gian quá dài rộng so với lòng
kiên nhẫn của chính họ. Anh được phân công đi nhiều nơi. Nơi nào, người ta cũng
được dặn dò trước để cư xử với phóng viên thật tốt, để trình bày những báo cáo
tuyệt hay. Ở đâu, họ cũng thích thổi phồng thành tích và giấu diếm những khiếm
khuyết. Đó là căn bệnh phổ biến. Chủ nghĩa thành tích khoả lấp những mối hiểm
nguy và tô vẽ lên hiện trạng thật của xã hội. Nó tạo cho con người niềm vui mù
loà cũng như trạng thái bình an giả tạo, một mặt đất phẳng che đậy những rạn vỡ
âm thầm dưới đáy sâu... Cố nhiên, mọi người đều hiểu rõ điều ấy sẽ đưa đời sống
chung của cộng đồng tới đâu. Nhưng ai có can đảm để chống lại mọi thói quen đã
ngự trị ở mọi nơi, mọi lúc?... Ở một xã hội mà quyền năng của mỗi cá nhân chưa
được xác quyết, tất thảy hành động của chúng ta tuỳ thuộc vào dòng chảy chung.
Nguyên dừng lại, đốt tiếp điếu thuốc. Bé Hương Ly trở mình lầm
bầm nói mê. Linh cúi xuống vỗ con cho nó ngủ tiếp. Trong khoảng thời gian ấy,
tiếng chim bên ngoài lảnh lót vọng vào.
- Những năm đầu, anh day dứt, băn khoăn, đã bất bình, phản
kháng. Sau anh hiểu rằng chỉ nghĩa thành tích kia không chỉ là một thói quen vô
thức của người đời. Nó gắn liền với lợi ích của một số cá nhân và vì thế nó sẽ
được nuôi dưỡng trong thói giả dối, tàn nhẫn và sự vô liêm sỉ... Người ta gặt
thêm cho mình một món lợi tức, nghĩa là đẩy tình trạng chung của xã hội thêm một
bước tới bờ vực hiểm nguy. Nhưng để tiêu diệt những dục vọng xấu xa ấy, phải là
một viên tướng có tên lửa và thiết giáp trong tay. Nhưng anh, anh chỉ là một
tên lính bộ binh quèn với khẩu CKC và vài viên đạn bắn lẻ...
Nguyên nhếch môi, hình như anh định cười nhưng nụ cười không
tới. Linh vẫn im lặng nhìn chồng. Nguyên nói tiếp:
- Sau rồi, anh cũng quen dần với tình trạng ấy. Còn gì hơn thế
được?... Mình là một trí thức, nhưng đồng thời cũng là một viên chức của nhà nước.
Là viên chức, anh hoàn thành cái phần việc cơ quan đã giao để tháng tháng có
quyền lĩnh đồng lương. Vả chăng, đời sống có bao giờ hoàn thiện? Cái hôm nay ta
thấy đúng ngày mai đã lại sai. Con sông hôm nay, mai hoá những bãi bồi. Người đời
cũng vậy, ai dám xác nhận giá trị thật của họ? Tốt hơn hét, hãy nói những lời
người ta muốn nói.
Linh ngắt lời chồng:
- Anh tự an ủi tài tình thật. Nhưng xưa nay em có nghe giọng
điệu đó đâu?
- Đúng thế, chính vì em!...
- A, lỗi lại thuộc về kẻ khác?
- Đừng nói to đi Linh – Nguyên cau mày - Người ta nghe thấy đấy.
Xưa nay, gia đình mình vẫn êm ấm nhất trong khu nhà này... Anh không ngoa đâu,
Anh yêu em và muốn chiều chuộng em. Mà em lại là một cô bé học trò, không chịu
chấp thuận bất cứ sự thực nào ngoài những dòng chữ tím, không tha thứ ch bất cứ
ngoại lệ nào. Em thơ ngây như đứa trẻ nhưng lại ương bướng như bà hoàng. Bởi lẽ
đó, anh không muốn cho em biết...
- Những sự thực thế thói gian dối của anh?
- Có hai sự thực: Một sự thực trần trụi và một sự thực con
người mong muốn.
- Cái gì tồn tại trong lòng mong muốn thì được gọi là ước mơ.
Một người làm báo chân chính không thể chơi cái trò phù thuỷ đánh tráo ước mơ với
hiện tại.
- Nhưng nếu cái trò ấy làm đẹp lòng cả hai phía?
- Đừng sống vì muốn làm đẹp lòng người này hay kẻ khác. Anh
phải giữ niềm tin và lòng chính trực của anh.
- Nhưng anh không phải là ông chủ báo, và Linh quên rằng...
Linh nhìn chồng chằm chặp, không lời, hai má đỏ bừng vị giận giữ. Nguyên bóp vụn
mẩu thuốc trong tay hạ giọng:
- Ngay trong đời thường, đã mấy ai dám nói lên những sự thực
khắc nghiệt. Cả khu nhà này, ai cũng biết con chị Hồng là một đứa trẻ dị hình,
xấu xí. Vừa sứt môi vừa thừa ngón tay, cái đầu lại qúa to trên cái cần cổ vặn vẹo.
Nhưng đối với chị ấy, nó là tất cả vàng bạc trên thế gian. Một người trung thực
đến tàn nhẫn như em, em có can đảm bảo chị ấy rằng: Con chị là một thằng tàn tật?...
- Nhưng đứa con không phải là một thành phần công nghiệp hay
nông nghiệp. Cũng không phải là kết quả của một phương thức sản xuất hay cách
làm ăn.
- Đối với người đàn ông, cái gì họ đã đặt vào niềm tin, danh
dự và khát vọng, nó sẽ ngang bằng với cuộc sống của chính họ. Đôi khi nó còn
cao giá hơn những đứa con.
- Anh nói dối… Điều ấy ghê tởm quá…
Linh gần như hét lên. Nguyên định nói điều gì đó nhưng lại
thôi vì đứa con choàng dậy, ngơ ngác nhìn bố mẹ. Và sau đó vài giây, một giọng
nói thô lỗ vọng vào:
- Hôm nay đến phiên nhà anh Nguyên quét cầu thang. Quét xong
nhớ trả bảng trực nhật cho cô Hồng.
Phần II
Mưa kéo những sợi chỉ bạc ròng qua khung cửa. Cuối xuân, có
những cơn mưa lạ lùng như cuộc hôn phối giữa thứ mưa phùn ngày Tết Nguyên Đán
và những cơn mưa rào hối hả đầu hè. Hai vợ chồng Nguyên ngồi đối diện nhau ua
chiếc bàn làm việc. Bé Hương Ly đã được gửi về ông bà nội chiều qua. Cả hai đều
im lặng. Họ đã nói với nhau nhiều ngày đêm, chẳng còn điều gì để nói thêm,
nhưng cũng chưa đi đến sự ngã ngũ cuối cùng.
Người chồng đã vun đầy một đống tàn thuốc. Ngón tay anh thâm
xì, đầu lưỡi đắng nghét không còn cảm giác mùi vị. Anh lắng nghe mưa rơi, lần
trở lại mùa mưa dầm trước ngày cưới... Ngày đó ngâu kéo dài tuần nọ qua tuần
kia. Đường lầy khủng khiếp. Khu học xá lại càng tồi tệ hơn. Vậy mà anh chẳng có
lấy một chiếc ấo mưa cho ra hồn. Đi đón Linh, anh trùm một tấm ni lông rách
mép. Dạo đó, họ còn quá trẻ, và tình yêu xoá đi hết thảy những khó khăn. Chỉ cần
vài chiếc bánh bao không nhân cũng đã là một bữa tiệc ngon lành. Linh may quần
áo gia công để bà dì trả lễ cho gia đình chàng hôn phu cũ. Cô dành dụm được ít
tiền, nhưng lại bị mất cắp trước ngày cưới vài tuền. Mất món tiền, Linh lao vào
làm ngày làm đêm đến mức lăn ra ốm.
“Nấu cháo hoa cho em ăn với đường. Mẹ em còn sống thích nhất
là cháo trắng...”
Linh bảo anh như thế. Cô nằm trên giường, gương mặt trắng như
mỡ đông. Nguyên se lòng, anh tìm cà mèn, gom nhặt tiền đi mua phở cho cô. Lúc
đi, anh quên đem ni lông theo. Nửa đường, trời đổ mưa to. Khi chạy được tới cửa
hàng, người anh ướt như chuột lột. Hàng phở ấy treo một tấm gương, tuy đã ố
nhưng còn soi khá rõ hình ảnh đám khách ăn trong đó. Vô tình, Nguyên nhìn thấy
mình giữa bọn họ. Một chàng trai gày còm, trắng xanh, bận quần vá đúng và áo sơ
mi lỗi mốt. Từng món tóc ướt bết vào trán anh, nước nhỏ ròng ròng. Anh móc nắm
tiền lẻ, đếm mãi. Lão chủ quán hất hàm: Bỏ cả mèn ra... Cái nhìn của gã khinh
thị. Mặt Nguyên nóng ran, anh bỏ cà mèn xuống. Bọn người xung quanh không để ý
tới anh, họ đang mải ăn xì xụp. Tuy nhiên, Nguyên có cảm tưởng rằng hàng chục cặp
mắt mọc phía sau gáy họ đổ dồn vào nhìn mình. Đám người ấy đều béo tố, ăn mặc bảnh
choẹ hơn anh. Đấy là khoảnh khắc đầu tiên, anh hiểu được nỗi đau đớn của sự
nghèo nàn. Và anh đã ra lệnh cho mình: Không bao giờ được lâm vào cảnh nghèo
túng... Anh đã cố gắng, đã làm hết sức mình để kiến tạo cái tổ ấm êm này... Làn
da mịn màng kia, đôi má hồng hào tươi mát kia, làn tóc óng ả kia... cả cái dung
nhan ngời ngợi của cô, anh đã cố công gìn giữ... Giờ đây tất cả trôi tuột khỏi
tay anh, cũng chính bởi sự gắng gỏi đó. Tại sao đời sống lại hàm chứa những bất
công tàn bạo như thế? Tại sao niềm hạnh phúc nhỏ nhoi của con người lại tạo dựng
lên trên những nghịch lý không thể dung hoà?... Trời ơi, giá như anh cứ cam chịu
tuân theo cái nguyên tắc đã thờ phụng hồi còn trai trẻ?... Anh có thể làm những
gì? Chỉ là những mẩu đưa tin vắn tắt, chung chung, nhạt nhẽo. Thỉnh thoảng mới
có thể đưa vào đó một bài in có chất lượng: Sự trung thực cho phép. Phải tới một
giai đoạn nào đó, người ta mới chấp nhận được những bài báo loại đó. Và tới
giai đoạn ấy, đời sống của anh, của cả gia đình anh sẽ trôi dạt tới đâu?...
Không, không, anh không thể đơn độc tồn tại, anh không thể tuân theo lý tưởng một
cách mù loà. Một con người làm sao có thể tách khỏ quá trình vận hành chung của
xã hội...
Linh quá tàn nhẫn và bất công đối với anh. Ngày họ mới cưới
nhau, khi Nguyên còn là một phóng viên quèn, cả hai vợ chồng chỉ có ba chiếc áo
và đò vật duy nhất trong căn phòng này là chiếc chạn đựng thức ăn bằng gỗ thùng
ghép lại. Linh không đòi hỏi gì anh, cố vui vẻ với những bữa cơm chan nước lọc
và dăm quả cà muối. Cô bòn nhặt tiền mua vải vụn may quần đùi cho chồng và lấy
phần từng điều thuốc lá quấn cho Nguyên trong những buổi họp liên hoan. Linh
chưa bao giờ ngỏ với anh một lời ước muốn: dù là một đôi dép, một tấm áo hoa
hay một chiếc quần kiểu mới. Trang phục cũ kỹ đối nghịch với dung nhan lộng lẫy
của cô. Sinh hoạt tằn tiện làm màu má hồng của cô nhạt dần xuống. Nguyên đã nhận
thấy điều ấy rõ nhất khi cô mang thai bé Hương Ly... Anh xót xa, anh không thể
viết mãi những bài báo không được duyệt. Anh đầu hàng đời sống, tuân thủ các ước
lệ và khi đó, chỉ cần một phần ba trí thông minh sẵn có, anh đã dễ dàng thành đạt...
Cuộc sống vật chất của họ thay đổi nhanh như có phép màu. Linh đón nhận cuộc sống
đó cũng hồn nhiên như cô đã từng chịu cảnh sống eo hẹp cũ, không mảy may đắn đo
ngờ vực. Cô tin anh, nhưng anh đâu phải một vị thần có phép cải tử hoàn sinh, một
siêu nhân có khả năng xoay chuyển những thói quen đang ngự trị trong xã hội?...
Co vừa cao thượng và thông minh nhưng lại vừa giản đơn đến lạ lùng và tàn bạo.
Giờ đây, cô khinh bỉ và kết tội anh, làn môi hồng như môi con trẻ và đôi mắt
nâu trong vắt, rọi những tia sáng mê dại lòng người...
Người đàn ông nhìn vợ, thấy ngọn roi bỏng rát quất lên tim.
Cô cũng vừa đưa mắt nhìn lại anh, giận dữ và khinh thị. Còn anh, anh yêu cô cồn
cào điên dại, yêu từ ngàn xưa và ngay chính khoảnh khắc này...
Linh cũng im lặng suốt cả buổi sáng như Nguyên. Họ đã thức gần
trọn đêm qua, nhưng cô không muốn ngủ. Nỗi lo sợ mạnh mẽ hơn, chiếm lĩnh cả con
tim lẫn khối óc người đàn bà. Từ lúc nhận ra rằng tình yêu với Nguyên đã chết,
Linh cũng thấy ngay một khoảng trống heo hút trong lòng: một ngôi nhà vừa đổ sụp
sau cơn bão, một cùng đất sụt lở chỉ còn để lại vực sâu. Thế giới tâm linh của
cô như một thành trì đâu đâu cũng có dấu vết của anh. Từ viên đá lát đường tới
cây trụ chính, từ mỗi hành lang bí ẩn tới những ụ châu mai... Bố mẹ cô qua đời
lâu rồi. Họ chỉ còn là những ảnh hình lãng đãng trong sương mù quá khứ. Cả những
niềm ưu ái, cả những nỗi nhớ nhung họ gợi lại trong cô cũng xa xôi như ánh nắng
cuối chiều. Còn anh, anh đã sống trong cô, tràn đầy và vang động. Mỗi ánh mắt của
anh khiến cô run rẩy, mỗi lời nói của anh, tâm hôn cô vọng lại những hồi âm như
vách núi ném vào thung lũng tiếng hú gọi của rừng sâu.
- Đời sống có thể là tất cả đối với con người nhưng cũng có
thể là những giá trị phù ao. Ngay lúc gã trọc phú say sưa vì ruộng vườn, nhà
cao, sân rộng thì cây gậy thần định mệnh đã chỉ ra cái ngày chúng biến thành bụi
cát phù du. Không có vương quốc sang giàu nào tồn tại được lâu bèn cũng gió bão
của thời cuộc. Và bởi vậy, sự nỗ lực xoay xoả của con người với các tiện nghi vật
chất thật tầm thường. Khi đã ý thức rõ điều đó, chúng ta có thể yên tâm với một
cuộc sống trọn vẹn, đúng với ước nguyện và lương tâm mình...
- Anh chưa bao giờ tìm cách tự thổi phồng mình trước con mắt
mọi người cũng như trước mắt em. Anh không thể đem lại cho em cuộc sống sang
giàu, anh cũng không thể đảm bảo cho em những an nhàn thư thái. Đời sống vận động,
và tất cả sẽ vận động theo. Nhưng anh sẽ cố gắng để em đặt niềm tin vào lời hứa
này: tình yêu và lòng tự trọng...
Trong bóng mát của giảng đường, cô ngả đầu vào vai anh tin cậy.
Khoảng không gian và thời gian dài rộng trên cõi đời không còn lạnh lẽo, mênh
mông từ ngày cô gặp được anh. Anh, vừa là bến cho thuyền cô thả neo, vừa là đỉnh
non cho cô trèo tới. Cái thế giới đẹp đẽ của cao vọng tinh thần anh đã dựng lên
trong cô vĩ đại quá, trùng điệp quá. Và bởi vậy, khi đổ vỡ nó cuốn hút một phần
đời cô xuống tận đáy sâu...
“Thật điên rồ, mình đã yêu Nguyên đến thế...”
Cơn giận dữ làm sôi sục máu huyết trong tim cô. Nhưng lúc ấy,
cô chợt thấy làn gió cuốn lên tấm rèm che cửa và khoảng trời xanh lơ hiện ra,
vói làn mây trắng nõn nà. Cái hình ảnh dung dị ấy khiến người đàn bà dịu đi. Tấm
rèm cửa lại bay lên cuốn vào song cửa. Tấm rèm ấy, Nguyên mua ở Buycarét, trong
một kỳ họp ngắn ngày. Chất vải mịn, màu cẩm thạch, nổi những vân hoa óng ánh
như bọt nước. Căn phòng của họ thật thanh lịch với những bức tường cao, quét
vôi xanh dịu và tấm thảm rộng trải nền, nổi lên những bông hồng. Chiếc tủ buýp
phê lót kính, phản chiếu các viền vàng trên miệng bát, chén, màu duyết dụ của
những chiếc cốc pha lê chuyên dùng uông vang, con búp bê Nhật Bản tóc kết hạt
cườm, chiếc chìa khoá mạ vàng cắm vào vòng tròn của hộp đồng hồ báo thức... Tất
cả những thứ đồ vặt vãnh ấy được đắp đổi dần dà trong một cuộc sống ngày càng
trù phú, giống như những hạt phù sa bám vào bờ đất, cho tới lúc nào đó người ta
mới nhận ra. Linh giật mình: có lẽ, chính ta thờ ơ quá... Có lẽ, đời sống ngặt
nghèo và tăm tối hơn những lý tưởng sẵn có trong bản thân ta... Chiếc đồng hồ
treo tường buông hồi chuông thánh thót, con hoạ my thả một tiếng hót dài tiếp
theo hồi chuông. Và sau đó, căn phòng lại trở nên yên tĩnh. Người đàn bà ngước
nhìn chiếc đồng hồ treo tường cổ mà chồng cô đã đem về sau một chuyến đi Nga. Rồi
ánh mắt cô lại lướt qua tấm vải phủ máy thu hình có những hình thêu Udơbếch,
qua chiếc cátsét 555 đặt trên nóc tủ sách, qua bức tượng thần Vệ nữ Milô... Dường
như tất cả những đồ vật ấy cùng lúc nhìn cô với con mắt chế nhạo và buồn bã:
“Thưa bà, cho đến hôm nay bà mới lần tìm xứ sở của chúng tôi.
Thưa bà, chắc chắn người ta không thể kiếm chúng tôi như nhặt
mấy mảnh vỏ sò trên bờ biển. Thưa bà...”
Linh thấy lòng se lại vì xót thương. Phải chăng cái tổ ấm này
được tạo dựng chính vì cô, và bé Hương Ly? Nguyên đâu phải thứ đàn ông bị những
ham muốn tầm thường chế ngự?... Bao năm gần gũi anh cô hiểu rằng trong cõi đời
loại đàn ông như anh không phải là dễ kiếm. Chưa lần nào cô nhìn thấy gương mặt
anh nở nang, mãn nguyện trước một chiếc xe máy, một chiếc đài truyền hình tối
tân hay một bữa tiệc sang trọng dư thừa... Không, tất cả tiện nghi của cái đời
sống này đối với anh chỉ là phương tiện, anh cần có chúng để tìm được tiếng cười
của cô, để giữ màu hồng trên má cô, để tiếng reo đùa của đứa con nhỏ vang lên
ròn rã... Cô hình dung lại những lần anh trở về, sau các chuyến đi xa, nụ cười
dịu dàng trìu mến của anh, dáng vẻ điềm tĩnh có đôi phần mệt mỏi khi anh trao
cho cô những quà tặng... đó là dáng vẻ của một con chim mẹ tha mồi về tổ. Thật
độc ác và bất công nếu cô kết tội con người vị tha ấy...
Những cơn nức nở âm thầm dâng. Nước mắt trào qua mi người đàn
bà, lặng lẽ rơi từng giọt.
Nguyên buông điếu thuốc vừa rút chưa kịp châm, tới bên vợ:
- Nín đi Linh, em muốn gì?
- Em không biết.
- Em từ bỏ anh?
- Không, nhưng em không còn yêu anh nữa.
- Vậy chúng ta sẽ sống ra sao?
-...
- Anh yêu em. Bao giờ anh cũng yêu em.
- Nhưng em không còn yêu anh được.
-...
- Từ bây giờ, chúng ta chỉ có thể coi nhau như những người
quen.
- Còn con?
- Nó sẽ ngủ với em. Mẹ con em trải chiếu ở góc phòng.
- Không, anh sẽ ngủ ở đó. Mẹ con nằm trên giường.
- Em không ngủ trên chiếc giường mua bằng những đồng tiên dơ
dáy.
Nguyên âm thầm nhìn vợ nghĩ:
“Em là kẻ cuồng tín. Em là tín đồ trung thành và quyết liệt của
những lý tưởng thời niên thiếu, không tha thứ, không khoan nhượng bất kỳ ai...”
Anh thu dọn đồ đạc, trải chiếu vào góc nhà. Xong anh kéo tậm
nệm trên giường xuống. Nhưng cô đã bảo anh:
- Bỏ tấm nệm đó ra, em không cần.
Giọng nói nghiệt ngã của cô khiến anh tái người. Nhưng ngay
lúc đó, anh cũng biết rằng anh yêu cô cuồng dại. Đặt hai chiếc gối xuống chiếu,
anh xoa tay đờ đẫn. Anh nhìn cặp đùi tròn đầy, đều đặn của Linh dưới làn lụa mỏng.
Anh thèm được gối đầu lên đó, tìm cảm giác thanh thản và ấm áp của người thuỷ
thủ bị đầy ra hoang đảo vừa được trở về...
Bà giáo Phượng, cô ruột Linh, thường quảng cáo quán bún ốc ở
phố Lý Quốc Sư ngon nhất Hà Nội. Bà đã đưa cô tới đó vài bận. Tấm biển ghi nguệch
ngoạc hai chữ: “Ốc nóng” trước ngôi nhà nhỏ. Không có gì sang trọng hơn. Bàn ghế
khấp khểnh, cái thấp cái cao nhưng bún trắng và ốc béo tuyệt trần. Thứ nước dấm
chưng ớt mỡ cay sè lưỡi hấp dẫn các bà các cô khắp thành phố. Nhưng hôm nay,
hai người không gặp may. Nhà hàng đã treo biển “hết” từ lúc chín giờ sáng.
Bà Phượng bảo:
- Giờ cháu muốn tới đâu?
Linh đáp:
- Đâu cũng được cô ạ. Cháu không đói.
- Thế thì uống một ly ca cao nóng vậy. Có một quán cô quen...
Họ đạp xe song song trên đường. Trời lạnh. Đám con gái choai
choai cố trưng diện lần lữa những mốt áo vừa được ném ra hồi mùa đông. Bà Phượng
cười mỉm, bảo cháu gái:
- Xem cái lũ công ngu ngốc chưa kìa? Thời cô, người ta cũng
đã mặc kiểu áo ấy.
- Vâng.
Linh đáp theo thói quen. Óc cô trống rỗng.
Bà Phượng liếc nhìn Linh:
- Cháu làm sao vậy?
- Thưa cô, không.
Những chiếc lá sấu già rơi xuống. Một thằng cà lơ trạc mười
tám mười chín đạp xe vượt lên:
- A, bà già trông cũng còn tươi ra phết. Còn cô em thì xinh
tuyệt. Sao nhìn anh lạnh lẽo thế em?...
Linh im lặng. Thằng ranh con ngượng ngùng lẩm bẩm gì đó rồi
phóng xe đi. Bà Phượng than thở:
- Thời buổi quái gở, lũ trẻ ranh mất nết nhan nhản đầy đường.
Họ rẽ qua một ngã tư nữa, tới tiệm càphê. Không có biển quảng
cáo, cũng không có mũi tên làm tín hiệu. Bà giáo dẫn Linh qua một ngõ hẹp, qua
vài quán nước chè, nới túm tụm đám dân ápphe của thành phố. Sau đó họ chui qua
cái cổng thấp lè tè kiểu cổ để leo lên một cây cầu thang nhỏ, chênh vênh.
- Vào đây, khéo không ngã.
Bà Phượng gọi. Linh đang đứng trước hành lang. Làn khói xám mờ
mờ khiến cô ngạt thở. Khoảnh khắc sau, cô mới quen bầu không khí đậm đặc khói
thuốc và khói càphê. Phòng trà này không rộng, nhưng độc đáo. Bàn ghế được thay
bằng những gốc cây đánh xi bóng loáng. Bình đựng tàn thuốc rặt một thứ khổng lồ,
tráng men nâu. Một tấm tranh sơn dầu trường phái Barôc, rực rỡ man dại. Một đầu
nai khô, giương đôi mắt thuỷ tinh lồi nhẵn bóng nhìn thế gian. Hai lọ thuỷ tinh
hình bán nguyệt treo áp tường, đối diện qua chiếc đầu nai, trồng vạn niên
thanh. Linh ít vào các quán, cô có đủ các thứ nước giải khát trong nhà. Lâu dần,
cô có cảm giác ghê sợ khi bắt buộc phải rẽ vào đâu đó để uống một cốc nước
chanh hay ăn một tô phở, Linh sợ thiếu vệ sinh, sợ cả cái không khí thường trực
ở những nơi người ta tìm đến để trốn tránh cuộc sống gia đình.
- Quán cà phê này có tiếng trong thành phố. Ở đây cháu sẽ gặp
những người có tên tuổi.
Bà Phượng ghé tai Linh, thì thào. Rồi bà quay sang tươi cười
chào chủ nhân.
- Bà Phượng dùng gì ạ?
Chủ quán tì tay lên tủ kính, nghiêng đầu hỏi. Ông ta trạc tuổi
năm mươi, da đen bóng, mắt tinh ranh.
- Xin ông hai tách cacao nóng, thứ kèm bơ.
Chủ quán gật dầu, đoạn quay vào buồng trong:
- Lan.
- Dạ.
- Hai cacao béo.
- Vâng, năm phút nữa sẽ có.
- Bà lấy bánh chứ? – Ông ta hỏi bà Phượng.
- Vâng.
- Vẫn thứ bánh như mọi khi.
- Thứ đó, nhưng bơ có tươi không?
- Bánh hàng tôi bao giờ cũng ngon nhất Hà nội.
Người đàn ông đáp, và thêm:
- Ông bạn của bà vẫn dùng loại bánh đó. Có lẽ, lát nữa ông ấy
cũng tới đây.
- Thế à...
Bà Phượng đáp, cổ và hai tai đỏ lựng lên. Lúc đó, cô bé tên
Lan vừa bưng ra hai tách cacao bốc khói:
- Cháu uống đi cho nóng – Bà Phượng hối hả giục – Mùi cacao
thật dễ chịu.
Chủ quán nói:
- Để có được mùi thơm ấy tôi phải giữ gìn rất công phu. Loại
hộp cacao nhôm ngày xưa còn khá. Bây giờ, người ta làm bằng giấy nến, chểnh mảng
một tí là mốc, mất mùi ngay. Cứ gì nước ta, cả thế giới này mỗi ngày một phú
quý giật lùi.
Bà Phượng cười:
- Chỉ riêng ông là chẳng phú quý giật lùi thôi, đúng không? -
Chủ quán cười, vừa đắc ý, vừa giễu cơt.
Một người khách nữa bước vào. Y trạc tuổi chủ quán những còm
cõi thất thểu. Bận bộ đồ xơ xác, lem nhem gương mặt dầu dãi, trông y hệt một kẻ
quen ngủ trên ghế công viên và ngồi uống bia quanh những mẹt mực nướng, nem chạo
đầu chợ.
- A, chào ông bạn.
Y chào chủ quán, ném chiếc tủi thổ cẩm đeo vai xuống sàn và
chọn một chiếc ghế sát tường để lấy chỗ tựa.
- Ông chưa đi Sàigon à?
Chủ quán hỏi.
- Chưa. – Y đáp.
- Sao vậy?
- Chán. Không có lý do nào hơn… Mà lạ thật, ai cũng háo hức
đi Sài gòn. Chỉ tôi là không. Từ ngày giải phóng tới nay tôi đã đi năm lượt.
Quá đủ rồi.
- Nhưng dù sao Sài gòn cũng đẹp gấp trăm lần Hà Nội.
- Ờ, có thể… Nhưng cái đẹp còn tuỳ thuộc vào cảm quan của mỗi
người. Ví như cái bình đất nung này ông đặt trên những cái bàn xù xì bằng gốc
cây thì tuyệt đẹp, và trong căn phòng này nữa, với những hàng sấu sum xuê ở
ngoài kia… Nhưng nếu nhắc chúng sang một chiếc bàn tròn sang trọng của phòng
khách nào dó trọng một khách sạn ở Sài gòn thì tức khắc sẽ trở thành lố bịch.
Con người cũng thế thôi, cần phải tìm một khung cảnh thích hợp cho mình.
- Tôi như ông, tôi chọn quách Sài gòn làm đất sống. Cả một biệt
thự ba tầng. Ở ngoài này, có ngủ mê cũng không thấy.
- Chính thế, người anh em ạ. Với người khác, tôi là một thằng
điên. Với tôi, họ là những kẻ khờ. Sài gòn không phải là đất gốc của tôi. Đấy
là nơi tôi đến chơi chứ không phải đến ở. Cuộc sống con người không giống con
chim định cư. Con chim chỉ cần cái tổ. Con người không thể chỉ cần một căn nhà,
dù đó là biệt thự hay lâu đài chăng nữa… Thôi, ông bạn hãy đem quyển sổ nợ của
tôi ra đây… A ha, một ngàn tám trăm đồng chẵn… Hôm nay, ghi thêm cho tôi một
bao Samít và một chén cà phê đen…
Y bóc bao thuốc, châm một điếu và lim dim nhả khói. Chợt y
nhìn thấy Linh, mắt y chợt bàng hoàng. Linh cảm thấy điều đó, cô cúi xuống. Lát
sau, khi Linh ngẩng lên, có hai người khách nữa bước vào. Một người đàn ông cao
lớn, rất khó định tuổi. Có lẽ ông ta năm mưoi, hoặc hơn nữa. Nhưng cũng có thể
ông ta mứoi chỉ ngoài bốn mươi. Cả vẻ mặt lẫn dáng điệu người khách lạ đều biến
đổi mau lẹ và đường đột. Ông ta đi với một thiếu phụ trẻ nhưng đã xồ xề, mặt
trát đầy phấn, lông mày kẻ chì dài chót thái dương. Vừa bước qua ngưỡng cửa, thấy
bà Phượng, người khách lạ sượng sùng dừng lại:
- Phượng, Phượng…
Ông ta lắp bắp:
- Phượng có khoẻ không?
- Cảm ơn, tôi vẫn thường thường.
Bà Phượng đáp lại bằng một giọng nhã nhặn nhưng đầy ẩn ý. Mắt
bà lia như chớp, lục soát người đàn bà trẻ đứng trước mặt mình. Từ đôi guốc hia
dưới những móng chân sơn đỏ tới chiếc túi khoác vai, từ cặp đùi ngắn dưới lớp vải
bò tới cặp môi tô son vụng về nằm giữa gương mặt vuông và ngắn… Môi bà nhếch
lên:
- Còn anh? Chắc chắn còn khoẻ chứ?
- Cảm ơn Phượng…
- A, trông anh còn thịnh vượng lắm. Kìa, giới thiệu người
quen với chúng tôi đi.
Bà Phượng tươi cười, mắt bà rực lên một thứ ánh sáng lạ lùng.
Quay sang Linh, bà tiếp:
- Đay lầ Phương Linh, cháu con ông anh cả tôi. Đây là nhạc sỹ
Trần Phương, tác giả những bài hát mà cháu vẫn thích…
Linh giật mình, ngước lên: Té ra đây là con người lừng lẫy,
tác giả những bức tranh sơn mài cả châu Á biết tên và những bài hát nổi tiếng.
- Cháu… chào chú.
Cô khẽ nói. Vì từ lúc vào phòng trà người khách lạ cứ cuối đầu
nên tới lúc đó ông ta mới nhìn thấy Phương Linh. Gương mặt ảm đạm chợt loé lên.
Nhưng rồi lại chìm xuống sau lớp mù vây bọc. Mắt ông ta đẹp, mày rậm, mi dài.
- Chào cô.
- Nhạc sĩ đáp với giọng êm dịu, gần như nhút nhát.
Ông ta chưa kịp nói gì thêm, người đàn bà trẻ đi cùng đã kéo
tay áo nhạc sĩ, tự giới thiệu:
- Tôi là Ngọc Minh, phóng viên tạp chí nghiên cứu âm nhạc.
Xong, cô kéo ghế ch nhạc sĩ và cho mình. Trần Phương ngoan
ngoãn ngồi xuống.
- Nào, cho chúng tôi một bao ba số và hai càphê. Cô phóng
viên quay lại bảo chủ quán – Sao hôm nay ông lừ đừ như say thuốc lào thế?...
Này, tôi mới phát hiện ra một hàng bánh ngọt tuỵêt hảo ở Hàng Bông Nhuộm, ông
nên tới đấy mà đặt. Trên tài bánh ở dây. Tất cả những ai được quảng cáo đã nếm
bánh và cảm ơn tôi rồi đấy.
- Vâng, tôi sẽ cảm ơn cô cả trăm lần.
Chủ quán đáp, đích thân bưng càphê với thuộc lá ra. Trần
Phương quay ra cửa sổ, nhìn những vòm lá sấu chắc chắn để khoả lấp nỗi ngượng
ngùng. Khi nhìn nghiêng hai viền mi ông ta như có màu tím thẫm, và dưới viền mi
ấy, rọi chiếu một thứ ánh sáng thăm thẳm cô đơn.
Linh chợt ái ngại: Hẳn ông ấy chẳng vui thú gì khi nghe người
đàn bà trát bự phấn son kia thao thao bất tuyệt. Hẳn con người không may mắn
này chứa nặng những ưu tư. Cô muốn nói một lời nào đó với ông:
- Cháu thuộc rất nhiều bài hát của chú.
- Cám ơn cô, có đáng gì vài ca khúc bình thường.
Nhạc sĩ đáp, vẻ khiêm nhường. Ông cúi xuống, thận trọng gạt
tàn thuốc vào bình. Linh nói tiếp:
- Cả những bức tranh của chú nữa, mặc dù cháu không hiểu biết
nhiều về hội hoạ.
- Vâng, mấy bức đó tôi vẽ đã lâu rồi. Nói cho công bằng, xem
cũng tạm được…
Trần Phương đáp và nở nụ cười biết ơn. Khi ông ta cười, hai
hàm răng đều đặn, trắng như men sé ánh lên khiến người ta ngỡ ông còn là một
chàng trai. Bà Phượng không rời mắt nhìn ông:
- Cô cháu tôi và đám thiếu nữ mộ tài của ông lắm. Chắc chắn
ông còn gặp nhiều may mắn.
Nhạc sĩ im lặng, hai gò má ửng lên, da mặt ông màu nâu, cạo
nhẵn.
Bà Phương bất chợt bảo:
- Tôi còn giữ được một số ảnh lưu niệm ngày trước. Anh nhớ cô
bạn Hảo của chúng tôi không?
- Có nhớ, Phượng ạ - Trần Phương đáp nhẹ nhàng – Khi nào gặp,
Phượng cho tôi gửi lời thăm Hảo. Chị ấy quả là một con người có ý chí.
- Anh cũng là một người có ý chí đấy.
- Không, tôi chưa dám tự nhận một phẩm chất quý báu như vậy.
- Nhưng anh đã nhận những phẩm chất còn cao quý hơn, phải
không?
Bà Phượng nói lấp lưởng, rồi cất tiếng cười. Trần Phương im lặng.
Ông có vẻ chịu đựng người đàn bà kiêu kỳ và chao chát này. Phương Linh bỗng
dưng khó chịu với cô ruột của mình, cô buột miệng:
- Hôm nay cô lạ thế? Chú Trần Phương hiền thật.
Bà Phượng cười chế nhạo. Nhưng Trần Phương quay sang nhìn
Linh với cặp mắt đen dông bão:
- Cô bé thật tốt bụng... Cảm ơn cô.
Nhạc sĩ nói. Lúc ấy, bà Phượng thẫn thờ nhìn cháu. Niềm linh
cảm lo âu khiến mắt bà đờ dại:
- Ta phải về thôi cháu... Cô có việc phải đi.
Bà lắp bắp bảo Linh rồi tới trả tiền chủ quán. Góc tường bên
kia, người khách đeo chiếc túi thổ cẩm bẩn thỉu rít từng hơi thuốc lớn. Y nhìn
Linh với nỗi buồn không che giấu. Cô phóng viên đi đi lại lại trong phòng, hai
tay thọc vào túi quần bò, cô đọc:
- Hết ngày dài tới đêm thâu. Chúng ta đi trên đất Phi Châu…
Tuyệt thật. Anh Phương, anh có nhớ những câu thơ trong vở Hòn đảo Thần Vệ nữ
không?...
Trần Phương không trả lời.
Phần III
Cuộc sống gia đình có thể là thiên đường, cũng có thể là địa
ngục. Từ ngày Linh biết Nguyên đã tiến thân bằng những bài báo ít lương tâm nghề
nghiệp, quan hệ giữa họ như viên sỏi lăn trên bờ dốc không dừng lại được.
Nguyên cố gắng chịu đựng vẻ lạnh nhạt khinh khi của vợ. Anh cần cù làm tất cả
những công việc anh có thể làm được để giúp Linh. Đứa con ngủ với mẹ, nhưng suốt
ngày quanh quẩn bên bố. Bữa cơm nó ngồi giữa hai người bi bô trò chuyện. Cặp vợ
chồng cố giữ không khí êm đềm giả tạo, nhưng đôi khi nỗi nhục nhã dâng lên khiến
Nguyên nghẹn họng và khiến Linh tự sỉ nhục mình. Tuy nhiên, điều ấy cũng không
đau xót bằng những phút giây hồi ức yêu đương chợt quay lại như ngọn lửa bùng
lên trong than tro của thời gian sống đã qua.
Sáng hôm ấy, thay vì viết một bài báo theo chỉ thị của tổng
biên tập, Nguyên xuống chợ Đồng Xuân mua cua bể về làm nem, xào miến. Khi việc
nội trợ vừa xong, Linh ở trường về. Bé Hương Ly cầm chiếc càng cua chạy tung
tăng:
- Mẹ, mẹ ơi rửa mặt mau lên. Hôm nay cơm ngon lắm.
Linh bảo con:
- Đi ăn với bố, mẹ không muốn ăn bây giờ.
- Ứ ừ, mẹ phải ăn cơ. Không ăn, ở lớp con không được phát phiếu
bé ngoandddấy.
Linh ôm con, vuốt mái tóc tơ của nó. Con bé thông minh và có
trí nhớ ghê gớm. Mới năm tuổi, nó đã thuộc nhiều đoạn trong truyện Kiều:
- Mẹ rức đầu. Đã có bố cùng ăn với con rồi mà?
- Mẹ ngốc thế? Bố là bố, mẹ là mẹ chứ. Bố ngồi một bên, còn mẹ
phải ngồi một bên. Con chia cho mỗi người một cái càng cua nhé?
Con bé dỗ dành, mắt đau đáu nhìn sang mẹ. Sống mũi người đàn
bà cay xè. Cô thương con và thương thân.
- Linh ăn đi kẻo ốm mất.
Nguyên nói, và thêm:
- Sao mấy hôm nay, má em…
Anh không nỡ nói hết câu. Đến tuần nay, Linh gày tóp hai má lại.
Người đàn bà rùng mình, không đáp lời chồng, cô im lặng ngồi vào bàn ăn cơm. Ăn
xong, Linh mở tủ lấy cam bổ rồi nhìn những miếng cam xếp hình nan quạt trên
đĩa.
Nguyên bảo vợ:
- Em ăn trước đi.
Linh cầm miếng cam ăn như cái máy. Thậm chí cũng không lột vỏ
cam cẩn thận như thường lệ. Bất chợt, cơn dông mùa xuân giật tung hai cánh cửa
khiến người đàn bà bừng tỉnh. Cô ném mảnh vỏ cam vào chiếc sọt đựng giấy vụn
góc phòng rồi ngồi xuống ghế, nhìn mảnh trời tối thẫm bên ngoài. Những vì sao
li ti đã mất. Đợt mưa đầu tiên rắc xuống, tạt chéo qua ánh điện giống như những
sợi thuỷ tinh. Chớp loé lên, viền sáng vòm lá, rồi sau đó là tiếng sấm rền vọng
từ phía cuối chân trời:
- Hình như Linh mệt. Ngủ trước đi rồi anh cho con ngủ sau.
Nguyên dè dặt nói với vợ. Anh đã tự xác định rằng phải chịu đựng
cuộc sống lạnh lẽo này cho tới lúc Linh hồi tâm. Dù một năm, hai năm, ba năm hoặc
lâu hơn nữa. Anh vẫn hy vọng vãn hồi được hạnh phúc của mình.
Linh không trả lời Nguyên, cô lẳng lặng đánh răng rồi xuống
chiếu nàm. Tiếng mưa gõ đều đều ru người đàn bà vào trạng thái nửa tỉnh nửa mơ.
Cô vẫn thấy tiếng xào xạc của cơn dông bên ngoài lẫn tiếng hát lanh lảnh của một
nữ ca sỹ qua máy truyền thanh. Nhưng cô lại thấy phố xá, ánh đèn nhà cửa, những
gương mặt thân quen chìm vào làn sương dày đặc. Có ai đó thầm thì nhưng không
rõ lời. Một con đường trải rộng dưới chân. Ven đường mọc đầy những dây leo xanh
lá lám tấm màu huyết dụ…
- Em sốt phải không?
Giọng Nguyên từ nơi nào xa xôi vẳng tới. Bàn tay ai đặt trên
trán cô, giống bàn tay mẹ trước khi bà bị cơn sốt thương hàn cướp đi sự sống.
Năm đó, Linh bảy tuổi. Hai năm sau, ba cô cũng chết theo. Ông yêu vợ quá nên
không còn tình thương dành cho Linh nữa. Ông đã bỏ cô để đi theo bà…
- Linh…
Ai gọi cô bằng giọng trìu mến ấy?... À Nguyên… Anh đứng bền
ngoài cửa sổ khu học xá, dúi vho cô chiếc bánh mì nóng kẹp patê. Trời rét tám đọ,
xuất cơm chiều hai bát, mới bảy rưỡi đã tối đã hết veo. "Cô bé mắt nâu của
anh…". Chỉ có tình yêu mới dạy con người những lời lẽ ấy… "Chết thôi,
tay em đứt rồikìa. Làm gì mà vội vã thế? Đưa đây anh buộc lại cho…" Mắt
anh xót xa như mắt mẹ ngày xưa. Anh, tình yêu đầu tiên của cô, một chút ấp ui của
người mẹ đã khuất, một chút quyền uy của người cha không còn, một chút tình
tương thân huynh đệ… và khao khát của tuổi hai mươi.
Linh choàng tay qua cổ chồng, trong trạng thái mơ màng.
Nguyên quỳ xuống, hôn tới tấp lên mặt vợ. Ánh đèn soi rõ từng sợimi trên mắt
cô, nhưng anh vẫn bàng hoàng. Cô đã tha thứ cho anh chăng? Con người quyết liệt
và khe khắt?... Hơi ấm từ quãng thời gian yêu đương sâu thẳm toả vào máu huyết
họ niềm vui sướng. Và sự gần gũi đã thành thói quen dẫn họ cùng đặt chân lên một
lối mòn, Nguyên tắt đèn, lúc đó, một tia chớp loé sáng ngoài khuôn cửa. Và tấm
màn che gió phồng lên…
Khoảng ba giờ sáng, tiếng còi xe lửa từ ga Hàng Cỏ vọng tới,
Linh bừng tỉnh. Cô vươn vai. Cánh tay chạm vào bộ ngực trần ấm nóng của Nguyên.
Giật mình, người đàn bà ngồi nhổm dậy. Nguyên ngủ say, tóc xoã trên gối. Hơi thở
anh phảng phất mùi thuốc lá rẻ tiền. Bao giờ, anh cũng tiết kiệm dành dụm cho vợ
con. Linh nhớ lại mọi chuyện và nỗi hổ thẹn khiến cô nóng ran người. Mình đã
chung đụng với Nguyên không vì tình yêu mà bởi thói quen. Một phút buông thả
trong bóng tối. Chỉ có những con thú mới tìm đến với nhau vì tiếng kêu khác giống
và chỉ những kẻ ngu muội mới cúi đầu tuân thủ thói quen và những ước lệ…
Khi Nguyên thức dậy, anh thấy vợ ngồi vò võ trong ánh chập
choạng của rạng đông. Cô nhìn anh với cặp mắt thâm quầng. Nguyên thông minh,
anh hiểu tất cả:
- Anh xin lỗi em.
Cô không đáp.
Anh ôm gối trở lại giường mình. Nhưng đôi mắt trống rỗng và
nhức nhối của Linh vẫn đuổi theo anh. Nguyên tìm bao thuốc rồi trở lại ngồi bên
vợ, với chiếc gạt tàn bằng vỏ ốc:
- Nếu em muốn, anh sẽ không bao giờ tới gần em.
Anh nói.
Linh dường như chẳng chú ý tới lời nói của anh, cô thì thầm:
- Em khinh anh. Bây giờ, em khinh cả chính mình.
- Đừng nói thế. Chẳng có gì nghiêm trọng như em tưởng. Em là
người đàn bà quá giàu suy tưởng và khe khắt.
- Đúng. Với mọi người chẳng có gì là nghiêm trọng.
Linh biết chồng nói chính xác: Chẳng có gì nghiêm trọng thật.
Khu nhà này ai cũng kính trọng Nguyên. Một trí thức trẻ giàu hiểu biết, sống
nghiêm túc và độ lượng với mọi người. Một người chồng yêu vợ thắm thiết và một
người cha mẫu mực. Anh đã dẫm chân lên cái bục dành cho những người có uy tín
trong xã hội quá sớm so với tuổi của anh… Có lẽ, mình là một người đàn bà quá
quắt. Có lẽ, cuộc đời thật bao hàm nhiều bóng tối và bụi bặm hơn ta tưởng. Một
thành phố biển chẳng hạn… những con đường sạch sẽ rợp bóng dương, những kiốt
bán đồ lưu niệm, con tàu và những bầy chim trên mặt nước màu lam… Nhưng nếu ta
trở lại nơi ấy vào lúc mùa nghỉ mát đã qua. Ta đã thấy trên cảng lớp nước đầy
rác rến lẫn váng dầu. Những bãi cát nhớt nhát rong biển và vây cá. Mùi tanh
chài lưới và mùi hôi những con tàu cọ rửa bốc lên… Hãy tha thứ cho Nguyên…
Người đàn bà nhìn chồng. Anh đang châm thuốc. Mấy nếp nhăn nhỏ
hằn trên trán. Vài hạt gầu trắng rơi trên vai. Một người đàn ông thật sự sống
vì công việc. Nhưng công việc ấy để làm gì? Linh lại thấy nỗi uất tức dâng tới
cổ khi cô nghĩ tới những bài báo dối trá của anh. Anh thông minh nhưng không đủ
lòng can đảm để sống đúng với mong muốn của mình. Anh đã thoả hiệp để kiếm được
một chỗ đứng vững vàng trong xã hội và thu về những mối lợi cho bản thân. Căn
phòng này, những bông cẩm chướng rực rỡ trong bình pha lê. Tấm thảm len nổi những
bông hồng lớn. Những đồ gỗ bóng lộn kia… Các tiện nghi… Và cả tấm áo ngủ sang
trọng cô đang mặc trên người. Được những thứ sang trọng ấy, anh đã đánh mất vầng
hào quang ngày trước.
Linh thuộc lớp người sinh ra sau cách mạng, và ngọn gió của
nó đã thấm đãm tâm hồn cô, những ý tưởng tốt đẹp của nó đã thống trị tinh thần
cô từ thời thơ ấu, không một dao động nào của đời sống có thể dập xoá được. Bản
tính quyết liệt và trung thực, cô không chấp nhận sự thoả hiệp. Mặc dù, về
phương diện lý trí, cô đã thấy những phức tạp của cuộc sống sinh tồn và tha thứ
cho Nguyên, nhưng trong tâm linh, làn ánh sáng rực rỡ của những ý tưởng thời
niên thiếu đốt anh thành tro tàn dĩ vãng. Tình yêu của cô với anh đã chết,
không thể vãn hồi.
- Em sẽ đi khỏi đây.
Linh nói, sau hồi lâu im lặng.
- Anh xin em. Chúng ta cần phải giữ gìn danh dự cho chính
mình và cho bé Hương Ly. Anh thề rằng anh sẽ không đụng tới một sợi tóc em khi
nào em chưa cho phép.
- Nhưng em không muốn nhìn bộ mặt của một người dối trá.
- Linh này, có lẽ với những người đàn bà khác, sự trung thực
tối cao mà họ cần có ở người chồng là trung thực với tình yêu. Anh trung thành
với em ngay cả trong ý nghĩ. Chẳng lẽ điều ấy không đủ cho em…
- Nhưng anh đã không trung thành với chính phẩm giá của mình.
Em không thể yêu một người đã đánh mất phẩm giá…
- Em khắc nghiệt quá. Em tưởng rằng anh không nghĩ ngợi,
không cay đắng vì điều đó sao?... Đã nhiều lần… và nhất là chuyến đi miền Trung
vừa rồi. Khi anh nhìn những người đàn bà gày gò xanh xao vờ cào cỏ ruộng khoai
để các phóng viên thu hình ruột anh thắt lại. Là đàn ông, không lẽ anh lại
khóc. Anh đuổi cậu nhiếp ảnh đi, tới bên một bà già hỏi:
- Bác cào cỏ khoai của đội hay của nhà?
Bà ta quay lại, gượng mặt võ vàng lầm lụi:
- Khoai nào của bầy tui? Của hợp tác bên tê.
Anh lại hỏi:
- Sao các bác lại tới đây cào cỏ?
Bà ta ném cây cuốc xuống, ngồi thở hổn hển và đáp:
- Mấy ông lãnh đạo xã bảo tới đây làm cho báo chí chụp phim.
Ruộng bầy tui nứt thụt ống chân, có giọt nước mô mà trồng khoai cấy lúa. Hai
tháng nay nỏ có hột cơm vào bụng. Bữa diếp nghe có đoàn các chú về, hợp tác lên
huyện xin nếp về chia cho mỗi nhà hai cân với ba lạng thịt heo… Nói xong, bà ta
lau mồ hôi giục: "Chú có hình nhanh lên cho bầy tui về. Nhọc quá".
Lúc đó, anh không nghĩ được gì hết. Mắt anh nhoè đi. Anh định bảo những người
đàn bà tội nghiệp ấy về nhà. Nhưng vừa định mở miệng, một trở lực âm thầm đã buộc
anh phải ngừng lại. Rồi ý thức của một viên chức buộc anh gọi cậu nhiếp ảnh kia
trở lại chụp hình. Cậu ta thì thào: "Dân đói quá anh ạ. Em không dám ghi
hình rõ phải làm mờ đi. Tại sao người ta lại bảo mình rằng huyện này làm ăn tấn
tới lắm?..." Anh không trả lời cậu ta nhưng anh biết rõ bí thư huyện là một
kẻ dốt nát. Do một vài thành tích, nói đúng hơn là may mắn, ông ta được cất nhắc
từ một xã phía bắc lên vũ đài chính trị. Ở đó, ông ta tự thấy mình là một vĩ
nhân, có sứ mạng dẫn dắt dân chúng làm cách mạng triệt để. Và ông ta quyết biến
huyện của mình thành ngọn hải đăng của toàn quốc!...
- Tại sao người ta lại tin dùng một kẻ dốt nát và hám danh
như thế?
- Sự cất nhắc người này, tấn phong người kia nhiều khi phụ
thuộc vào hàng loạt những yếu tố ngẫu nhiên mà ta không giải thích được. Em đừng
ngắt lời, anh sẽ kể tiếp nhân vật đó. Với ảo vọng trở thành ngọn cờ đầu cho cả
nước, ông ta bắt tay vào thực hiện hàng loạt các công trình cải tạo sản xuất,
xây dựng hệ thống thuỷ lợi, quy hoạch lại ruộng đồng và các công trình kiến thiết
cơ bản. Việc cấu trúc nền kinh tế bao giờ cũng là việc hệ trọng nhất của một xứ
sở hay một quốc gia. Lẽ ra, nó phải được giao cho những bộ óc vĩ đại, đầy đủ kiến
thức khoa học và kinh nghiệm xã hội. Nhưng ông bí thư huyện uỷ kia chỉ mới học
qua bậc tiểu học. Với một kiến thức như thế, lẽ ra ông ấy chỉ nên làm thủ lĩnh
một gia đình gồm một bà vợ và bảy tám đứa con, thiết lập nền kinh tế trên hai mẫu
ruộng với vài sào vườn chứ không thể tổ chức đời sống cho hàng triệu con người
trên một địa dư phức tạp. Tham vọng lớn, quyền hành trong tay, đương nhiên ông
ta sẽ đưa ra những công trình phiêu lưu, những kế hoạch cảm ính không có cơ sở
khoa học bảo đảm. Ông ta bắt dân chặt rừng thông để trồng lúa. Nới xưa kia trồng
lúa ông buộc họ trồng mầu. Năm vạn người được huy động làm một công trình thuỷ
lợi mà sau đó những cánh đồng thuần hoá trở thành khô cạn, đất nứt lọt chân
trâu. Những cánh đồng khác lại chìm trong nước úng. Thật là khủng khiếp khi
tham vọng và quyền lực được đặt vào một bộ óc tối tăm. Lúc đó sự tàn phá sẽ xảy
ra, trên một bề rộng và trong một chiều sâu mà sự huỷ diệt của đạn bom cũng
không sánh nổi.
- Nhưng nếu ông ta là người trung thực? Có thể tha thứ cho một
kẻ thành thực nhưng ngu dốt chứ?
- Cái đó tuỳ em… Nhưng nếu như người ta luôn luôn tha thứ cho
những người tốt bụng và làm hỏng việc thì kết cục xã hội sẽ tàn lụi. Còn vị bí
thư huyện này thì không thành thực lắm đâu. Một người thành thực không thể nghĩ
ra cái mẹo phát gạo nếp với thịt lợn cho dân trước khi các đoàn khách trung
ương về. Mùi xôi và mùi thịt sẽ đánh lừa cấp trên và làm hoa mắt đám cán bộ
tuyên truyền. Đấy là cái mánh của dân tiểu thương.
- Thế những người làm báo? Chẳng lẽ họ dễ bị lừa đến thế?
- Chẳng có ai bị lừa cả. Người ta nhìn thấy ngay sự thật.
Nhưng có một sự thật mạnh mẽ hơn chế ngự họ: Ấy là cỗ máy đã vận hành, đừng dại
dột mà cản lại nó. Em đã đi xe, em biết, Má phanh và dây phanh là hai thứ luôn
luôn phải thay vì hao mòn hư hại. Công việc cũng thế thôi. Khi tổng biên tập
báo gọi anh tới và bảo rằng: Huyên Y khálắm, lá cờ đầu của phong trào. Cậu hãy
tới tìm hiểu và viết ngay một bài báo cho kịp đăng số đầu tháng. Nhanh chân lên
kẻo các báo khác chớp mất thời cơ. Nghe đâu Hội đồng Bộ trưởng đã có quyết định
tăng huân chương cho họ rồi đấy… Sau khi nhận một cái lệnh như thế, anh lên đường.
Và rồi anh chứng nghiệm cái sự thực cay đắng kia. Nhưng anh chỉ nhận biết chứ
chưa thể nắm được toàn bộ các cứ liệu xác thực về nó. Mà người ta cũng không
bao giờ muốn anh nắm được các cứ liệu về sự thất bại tồi tệ của chính họ. Liệu
anh có dám tự biến mình thành viên đá ném vào cỗ xư đang chạy kia không?... Nó
sẽ nghiền nát anh như chơi. Mà người ghét bỏ anh trước tiên có khi lại chính là
ông tổng biên tập thân thiết ấy. Ông ta đang muốn báo có những cơ hội tốt để cấp
trên chú ý và gây được tiếng vang. Giờ, anh lật lại vấn đề, phủ nhận một sự thực
đã được công bố, khẳng định những xét đoán của cá nhân anh… Việc đó hoàn toàn
giống việc ta tự biến mình thành viên đá nhảy vào cỗ xe: Cho dù xe có thể chạy
chậm đi chút ít, số phận viên đá sẽ thế thôi: hoặc nát vụn hoặc vỡ thành dăm bảy
mảnh…
- Anh đã chọn phương án ít hiểm nguy nhất với mình. Chính thế
những hiểm nguy và đau khổ đã dồn xuống vai những người nông dân héo hắt kia. Ở
một vùng xa xôi thế, khi những người có trách nhiệm hiểu ra sự thực, bao nhiêu
thất thiệt sẽ xảy ra.
- Đấy là điều đáng tiếc, nhưng không ai tránh được.
- Ở nơi nào còn những trí thức tồi tệ như anh, ở đó còn tội
ác. Có lẽ, nếu anh ngu dại hơn người ta còn có thể ta thứ cho anh được. Nhưng
anh tinh khôn quá, sâu sắc quá. Anh giống một tên tội phạm giết người không phải
vì mắc bệnh thần kinh, không phải vì trạng thái thương tổn của tâm linh mà vì y
có ý thức cặn kẽ về việc phải làm.
- Em điên đấy à? Sao lại hét lên thế?... Em phải hiểu rằng giả
sử anh làm ngược lại cái guồng quay đang chuyển động cũng không có một hiệu quả
gì hết. Đó là sự thực vô cùng đơn giản mà em không chịu hiểu.
- Nhưng đã bao giờ có giả sử đó đâu.
Linh vẫn khăng khăng hét lên như vậy, hai má đỏ bừng. Nguyên
thở dài, hạ giọng:
- Anh chỉ là một hạt cát, Linh ạ. Nếu độc thân, anh có thể liều
lĩnh. Nhưng đã có em và có con…
- Em không ăn miếng cơm của anh nữa. Em sẽ đi khỏi đây ngay
bây giờ…
Cô vùng đứng lên. Nguyên đứng lên theo, với vẻ tuyệt vọng:
- Anh nghĩ rằng anh nói với em tất cả mọi chuyện để…
- Anh nhầm…
Cô mở tủ, lấy quần áo xếp vào chiếc va ly nhỏ mà bà dì đã mua
cho cô hồi được tin cô trúng tuyển vào Trường Đại học. Đã mấy năm nay, chiếc va
ly đó dùng chứa những thứ đồ cũ không dùng tới: Chiếc màn cá nhân. Tấm vỏ chăn
hoa thời nữ sinh và những tấm áo ngắn cũn cỡn cô còn giữ làm kỷ niệm. Linh mở nắp
valy, mùi băng phiến bay lên lẫn mùi ngái của quần áo cũ. Cô tần ngần lật từng
thứ lên xem.
Nguyên đứng ở góc phòng, liên tục rít thuộc. Tay anh run bắn.
Anh không dám nhìn Linh. Gió lùa vào phòng, thổi tàn thuốc rơi xuống nền đá
lát. Mấy bông cẩm chướng rụng đầy mặt bàn. Có đến tuần lễ nay Linh không thay
hoa. Cô là linh hồn của gian phòng này. Cô là linh hồn của chính anh. Nếu cô ra
đi, cuộc sống thức của anh cũng sẽ đi theo. Nhưng làm sao níu kéo được?
Những sợi tóc sau gáy cô óng ả quá. Cả vòng hông nở nang kia.
Cô có một thể chất đầy quyến rũ. Nhưng tâm hồn cô còn quyến rũ hơn. Nó là kim
cương, cứng và sáng chói. Nó cắt đứt, rạch vỡ bất kể thứ kính nào. Cô không biết
tha thứ cho mình và cho bất cứ ai…
“Giá có thể cầu xin được?...” Nguyên nghĩ – Anh cs thể quỳ xuống,
không hổ thẹn, xin cô hồi tâm. Nhưng anh hiểu điều đó không ích gì nên đành đứng
im rít thuốc. Một con cánh cam bay lọt vào phòng, vè vè bay lượn. Bé Hương Ly bị
tiếng đập cánh của nó làm thức giấc. Con nhỏ ngồi nhổm lên:
- Mẹ ơi.
- Mẹ đây.
Linh quay lại. Hương Ly nhìn chiếc valy chất đầy áo quần:
- Sao mẹ lại cất quần áo vào valy?
- Mẹ mang tới nhà bà.
- Để làm gì cơ?
- Mẹ ở đó.
- Thế còn quần áo của con đâu?
- Trong tủ. Con ở lại đây với bô.
- Không, con cũng đi cơ...
Con bé kêu, chạy nhào tới ôm cổ mẹ:
- Con ứ ở đây. Con cũng đi với mẹ.
- Nhưng nhà bà chật lắm. Còn các cậu, các dì, rồi em Hưng, em
Bảo...
- Thế thì ở lại nhà mình. Con ứ cho mẹ đi đâu.
Bé Ly kêu lên. Nó quay lại nhìn bố, và dường như thấy không
khí yên ắng một tai hoạ nào đấy sắp tới, nó khóc oà lên:
- Mẹ ở đây cơ, mẹ ở đây...
Con bé khóc to quá, Linh vội vã bịt miệng nó lại:
- Hương Ly, im đi nào, im đi chóng ngoan...
Đám tóc mềm mại của đứa con phủ lên mặt người đàn bà như một
lớp tơ hiền dịu. Da thịt nó xộc vào mũi cô một mùi hương non nớt xé lòng...
- Nào nín đi con gái ngoan của mẹ... Nín đi...
Nguyên mở cửa, bước ra ngoài. Anh đi tới cuối phố, tha thẩn
quanh mấy hàng thuốc rong, đốt hết cả một bao Sông Cầu. Khi anh trở về, mẹ con
Linh đã ôm nhau ngủ. Trên má họ còn ngấn nước, Nguyên quỳ xuống hít mùi thơm từ
mái tóc vợ toả ra và hưởng cái cảm giác gần gụi với gương mặt anh thờ phụng.
Lúc ấy, Linh bắt đầu ngủ say. Cô đắm vào một giấc mơ nặng nề. Cô thấy mình bị một
con thú lạ rượt đuổi trên đồng. Con thú tựa như con bò, nhưng cao lớn hung tợn
hơn. Đầu nó vừa giống loài bò vừa giống sư tử, với bộ long sơn dương hung hung
tía. Hai mắt con thú lồi ra, đỏ và bóng như thuỷ tinh. Cánh đồng khô nẻ và những
vết nứt ngoằn nghèo chia cắt. Thỉnh thoảng, Linh lại thụt chân xuống kẽ nứt và
cô phải nghiến răng để rút bàn chân đã tuột hết da lên để chạy tiếp. Con thú mỗi
lúc một gần. Không thể cất được một tiếng kêu. Mặt trời bỏng rát trên đầu. Mồ
hôi nhễ nhại tràn vào mắt, xót muốn loà. Bỗng nhiên, một ngôi nhà mọc lên trên
khoảng đồng quạnh quẽ. Linh định náu vào trong đó nhưng hai cánh cửa sập lại. Rồi
phía trước bức tường quét vôi trắng loá, những người đàn bà xuất hiện. Họ trùm
khăn đen, mặt héo úa võ vàng, mắt họ nhìn ớo loang loáng dưới vành nón lá.
- Tôi không có lỗi... Xin đừng nhìn tôi như thế...
Linh muốn hét lên nhưng lưỡi cô đã dính chặt vào hàm. Mấy người
đàn bà im lặng giờ cào cỏ lên. Mặt đất khô nẻ trải dài tới chân mây. Gió ào ào
chạy qua, tung bụi. Linh ngã vật xuống. Nhưng cùng lúc ấy, con thú cũng biến mất
và một đôi mắt đắm đuối nhìn cô qua lớp khói thuốc:
- Cô bé tốt bụng quá... Xin cảm ơn cô...
Phần IV
Sau những cơn mưa ngắn, trời nắng. Mây trong suốt, màu lam thẫm
khiến ta phải nhớ lại câu thơ của Josep: “Mẹ khuấy lơ xanh giữa sắc trời...”.
Các vòm lá được rửa sạch lấp lánh như vàng diệp giữa ban ngày. Thi thoảng, một
bông phượng nở quá sớm, chấm phá không trung nụ hôn đỏ chót. Nhạc sỹ Trần
Phương mê mải ngắm cây cỏ.
Buổi sáng, ông thích tới đây, ngắm mảnh vườn xinh xắn trên
cái sân hình bát giác và nghe rặng trúc vàng rì rào trong gió. Ở đây, ông gặp
những nhạc sỹ mới vào nghề hồi hộp cầm tới những ca khúc đầu tay. Những nữ ca sỹ
xinh tươi sống áo rực rỡ sà xuống như bầy chim mùa lúa chín. Họ ngưỡng mộ tài
năng của ông. Họ yêu ông vì vóc dáng đường bệ, vì đôi mắt vừa đắm đuối, vừa lạnh
lẽo, vì gương mặt vừa kiêu sa, vừa u uất đắng cay. Nhiều khi, chính Trần Phương
cũng ngạc nhiên. Ông không hiểu vì sao mình đã chinh phục đàn bà dễ dàng đến
như vậy?...
Giờ, ông ngả lưng trên ghế đá, ngắm nghía cảnh trời. Cô thư
ký Hội đi tới:
- Thưa anh, Hội nhạc sỹ Liên Xô gửi công văn mời anh sang dự
Hội nghị âm nhạc Phương Đông.
Trần Phương định cầm phong bì, nhưng ông lại thọc tay vào túi
áo, lơ đãng trả lời:
- Cảm ơn. Nhưng cô nói với các anh trong Hội là tôi đang mệt.
Cử ai đi cũng được.
- Thưa anh, công văn mời đích danh. Cô thư ký đáp.
- Thế à?...
Trần Phương hỏi với nụ cười nửa miệng. Rồi ông hờ hững cầm
chiếc phong bì, bỏ vào túi. Một tốp nhạc sỹ trẻ vừa đi qua sân, cúi đầu kính cẩn
chào ông. Đối với họ, ông là một trái núi. Đối với ông, họ là một lũ người đáng
thương hại.
Tốp nhạc sĩ trẻ vừa lên, người lái xe đã đi xuống. Anh ta nổ
máy, chờ đợi. Một người đàn ông lạ mặt, có lẽ là khách từ phía Nam ra, bước lên
xe. Cánh cửa sập lại và chiếc xe bon ra cổng. Trần Phương ngồi lặng hồi lâu. Đầu
óc ông hoàn toàn trống rỗng. Chiếc xe đó xưa kia đã từng đưa đón ông. Và gã lái
xe đã từng nổ máy, mở sẵn cánh cửa chờ.
“Phù du”
Nhạc sĩ tự bảo mình. Nhưng lòng ông đau nhói. Vết thương chưa
kịp kín miệng. Nhạc sĩ đứng lên, đi đi lại lại để xua đuổi cơn ám ảnh. Ông đếm
lại những bước đi học theo chiều dài của khoảng sân phụ và lắng nghe tiếng
dương cầm từ hội trường tầng hai đổ xuống. Đột nhiên, ông thấy bóng một người
con gái lướt qua cổng ngôi nhà. Tim ông đạp lồng lên. Ông phải cố gắng để khỏi
chạy ra đường. Ông nhận ra người đã làm ông sững sờ ngay giây phút đầu tiên,
trong quán cà phê mịt mù khói thuốc. Ông đứng lại, nhìn qua bức tường rào để
xác định hướng đi của cô rồi trở lại nhà chứa xa, lấy chiếc xe Honda 50 của
mình, phóng ra cổng.
Phương Linh dắt xe, thong thả đi học theo hè phố. Xe cô vừa bị
xẹp lốp vì găm phải chiếc đinh; Cô đưa xe tới nhà một người quen nhờ vá. Đang
đi, chợt Linh cảm thấy có ai đó đang nhìn từ phía sau lưng. Cô quay lại:
- A a a...
Người đàn bà bất giác buông tiếng kêu ngạc nhiên. Đáp lại lời
cô là một nụ cười trìu mến:
- Chào cô bé tốt bụng... Tôi vẫn nhớ cô từ hôm ở quán cà phê.
Khi tôi chịu ơn ai, tôi nhớ người ấy mãi.
Mặt Linh cứng đờ, phải vài giây sau, cô mới trở lại bình
tĩnh:
- Chào chú, chú đi đâu ạ?
- Tôi tới cơ quan có chút việc. Xe cô hỏng lốp à?
- Vâng.
- Xe tôi cũng bị mất lửa. Tiện đường, cùng đi với cô.
Trần Phương nói nhẹ nhàng, giản dị. Giọng ông ấm. Và đôi mắt
ông thật đẹp. Linh chưa gặp người đàn ông nào có đôi mắt đẹp như thế.
- Cô có mỏi không?
- Dạ, không.
- Sắp tới cửa hàng chữa xe rồi chứ?
- Vâng.
- Hôm nay trời dễ chịu thật. Nhưng chỉ vài tuần nữa là sẽ
nóng gay gắt.
- Vâng.
- Hà nội chật hẹp quá, đúng là một thành phố thực dân cổ lỗ.
Không biết đến bao giờ nó mới có thể trở thành thành phố văn minh theo tiêu chuẩn
của thế kỉ hai mươi?... Cô Linh sinh ở đâu nhỉ?
- Dạ, ở nhà thương Hàng Gà.
- Một cô bé Hà Nội chính cống. Cô đã ra nước ngoài lần nào
chưa?
- Chưa ạ, mà có lẽ cũng chẳng bao giờ.
Trần Phương lắc đầu, họ đã tới cửa hàng chữa xe Linh quen.
- Cô bé cho xe vào đây chứ?
- Thưa… vâng… chú…
Tự dưng, Linh bỗng ngượng ngùng khi gọi Trần Phương là chú.
Nhất là khi bà giáo Phượng không có ở đây và giữa hai người chưa có mối liên
quan nào được xác định. Nhạc sĩ nhìn cô, nheo mắt cười:
- Thôi đi cô bé. Đừng xưng hô như thế nữa. Em cũng đã khá lớn
và tập làm người trưởng thành vài ba năm rồi, phải không? Hai má Linh nóng bừng,
môi máy động. Cô chìm vào cảm giác ngây ngất như lần đầu tiên trong đời, mẹ cho
cô ăn rượu nếp.
Họ vào quán cà phê gần đó.
Trần Phương lấy ghế cho Linh ngồi, giúp cô treo túi lên tường
rồi bảo bà chủ quán.
- Bà có thể cho tôi nghe vài đĩa nhạc chứ.
Bà chủ gật đầu:
- Dạ, tôi sẽ bảo cháu ngay.
Trần Phương ngồi xuống bên Linh
- Em thích nghe gì?
- Em không biết. Tuỳ… ông…
Cô đáp lời, thành thực và có đôi chút ngượng ngùng.
- Bà cho tôi bản Chèo thuyền của Menđensen… Ở đây yên tĩnh,
mình nghe bản nhạc đó là thích hợp nhất.
Ông đứng lên, bước những bước dài khoát hoạt với dáng điệu một
lãnh chúa bước trên vùng đất của mình.
- Em yêu âm nhạc chứ?
- Vâng.
- Âm nhạc khiến loài người trong sạch hơn và lương thiện hơn.
Từ xưa, nhifu triều đại đã dùng lễ trị và nhạc trị. Đó là cách thức điều khiển
con người êm dịu nhất. Em đã xem lễ giáng sinh ở nhà thờ chưa?
- Cũng có một lần… Nhưng hồi đó, vì nhỏ quá nên em không còn
nhớ nữa.
- Tiếc thật…
Trần Phương nheo măt lại. Giữa hai làn mi, dâng lên ngọn thuỷ
triều tối sẫm. Linh im lặng nhìn ông.
Trong các giá trị tinh thần loài người đã tạo ra, âm nhạc là
một giá trị đáng kể. Nó phổ biến và có tinh nhân loại sâu xa. Chính vì thế mà
tôi đã chọn…
Linh biết những bức tranh của Trần Phương rất nổi tiếng,
chúng được in đi in lại ở các nước Á châu. Ngân hàng nhà nước đã đề nghị xây
cho ông một biệt thự bằng số ngoại tệ thu được nhờ tác phẩm của ông.
- Em uống càphê đi chứ.
Trần Phương đẩy tách càphê về phía Linh, tay ông chạm vào tay
cô và trong tích tắc niềm giao cảm báo cho cả hai người biết rằng họ đã thuộc về
nhau, người đàn bà cúi xuống. Nhạc sĩ chăm chú nhìn cô. Gương mặt tươi mát quá.
Một làn da rực rỡ không son phấn. Đôi mắt nâu mở rộng với những tia nhìn trong
như nước mùa thu. Sau đôi mắt ấy là một tâm hồn thơ trẻ. Cô chưa hề có vũ khí
tuỳ thân… Trần Phương kiểm lại những người đàn bà sà vào tay ông. Các màu áo sặc
sỡ của họ, những thứ son phấn họ trát lên mặt và mùi nước hoa hút đàn ông như
nam châm hút sắt. Những điệu bộ họ diễn trước ông: Nhún vai, nghiêng đầu giả bộ
kiêu sa hay ngây thơ nhí nhảnh. Đột nhiên, cả mớ thức ăn đã tiêu hoá đó khiến
ông muốn buồn nôn. Đã bao nhiêu năm nay, ông mới gặp một người đàn bà lành mạnh
như cô giáo trẻ này:
- Em chính là âm nhạc.
- Ông nói gì cơ ạ?
- Em có tâm hồn âm nhạc. Em lại là một cô giáo. Cả hai điều
đó đều vô giá.
- Ông… quá khen…
Linh cố thốt ra vài tiếng rời rạc.
Trần Phương đứng dậy, tìm phích nước sôi pha thêm. Linh thấy
bộ râu quai nón xanh biếc bao quanh hàm nhạc sỹ. Nó khiến gương mặt ông càng đẹp
hơn.
- Em xem đã vừa độ ngọt chưa?
- Dạ, cảm ơn… anh…
Những âm thanh trầm bổng như du đẩy mạn thuyền, tiếng rì rào
bất tận của sông nước, và vầng trăng soi trên cánh buồm phiêu bạt…
Trần Phương ngồi xuống bên cô, khuỷu tay tì trên mặt bàn: -
Em có thể ngồi thêm một lát với tôi?
- Vâng.
- Hôm nay, thật là một ngày thần tiên.
- Em tưởng rằng một người được ngưỡng mộ như anh…
- Tôi là một kẻ cô đơn.
- Cô em nói rằng, một người danh tiếng như anh, lúc nào cũng…
- Con người có nhiều nỗi cô đơn. Nhưng nỗi cô đơn ghê rợn nhất
là cô đơn giữa đồng loại của mình…
Nhạc sĩ gục đầu vào bàn tay, mảng tóc đen xổ xuống trán. Giây
lát, những nếp nhăn hiện trên gò má và ánh mắt ánh lên nỗi buồn. Linh thấy lòng
đau nhói. Cô biết ông đang nghĩ tới những thua thiệt. Gương mặt của kẻ bị đoạ đầy.
Một tình thương gần giống tình mẫu tử khiến người đàn bà dậy lên ước muốn điên
cuồng: ôm ấp, vỗ về và che chở cho ông.
- Bao giờ anh lại được gặp em?
Trần Phương khẽ hỏi.
- Em không biết… tuỳ anh.
- Ba giờ chiều mai nhé, và tại đây?
- Vâng.
Nắng đã liếm hết hàng gạch đầu tiên của phòng trà. Linh hối hả
đạp xe về. Nhạc sĩ đứng nhìn theo cô cho tới lúc co khuất sau ngã rẽ. Ông chợt
thấy không gian trống vắng.
- Ba giờ chiều mai…
Đã lâu lắm ông mới bồn chồn vì một cuộc hẹn. Nỗi bồn chồn chỉ
có ở những chàng trai hai mươi… Co bé trời cho ta. Thật lạ lùng. Cặp mắt nâu mở
trước ông cả một khoảng trời ngập tràn ánh nắng...
- A, Anh Phương, anh Phương… Tìm anh hết cả hơi.
Trần Phương đang đi, chợt nghe cô Ngọc Minh oang oang gọi. Phố
đông, người qua lại tò mò đưa mắt nhìn. Trần Phương ngượng tím mặt lại. Thấy
người đàn bà sặc sỡ như con vẹt trước mặt mình, ông những muốn quay đi. Nhưng rồi
ông sực nhớ rằng cô là kẻ ham mộ tài năng của ông nồng nhiệt nhấ. Cô đấu tranh
cho ông ở tất cả mọi nơi, kêu gọi sự ủng hộ của tất cả mọi người, chạy chọt
thuyết phục cáp trên trả lại cho ông cương vị cũ. Giống như một con hổ cái, cô
lên mọi diễn đnf, và những bài báo choang choang của cô khiến những ai nhút
nhát phải sởn gai ốc…
- Khiếp, tìm anh ở tất cả các xó xỉnh đều không thấy. Đưa
ngay cho em tấm ảnh của anh năm mười tuổi.
- Sáng mai nhé?
- Không, ngay bây giờ.
- Thế thì phải đến nhà tôi.
- Xong ngay thôi, nếu vợ anh không giở trò ghen tuông.
Ngọc Minh cũng đi Honda 50, nói xong cô phóng vọt lên phía
trướ. Những tấm dây sặc sỡ đính trên hai vai áo bay phấp phới khiến cô giống
như một diễn viên trong trang phục múa Rôngchiêng. “May mà cô ta không đi sóng
vai với mình ngượng ê mặt”. Trần Phương thầm nghĩ. Khi ông dắt xe qua cổng, Ngọc
Minh đã đứng dưới chân cầu thang, chờ.
- Cô hiểu cho tôi nhé, bà ấy đang ở nhà…
Nhạc sĩ nhăn nhó bảo cô phóng viên rồi trèo lên cầu thang. Vợ
chồng ông ở cả ba căn phòng trên tầng hai biệt thự này. Cây cầu thang gỗ, xoáy
hình trôn ốc, đã lúc lay mà Sở nhà đất thành phố chưa chịu cho người đến chữa.
Khoảng mười lăm phút sau, Trần Phương cầm tấm ảnh xuống:
- Cô tha lỗi cho tôi, tấm ảnh này kẹp giữa những bản nhạc viết
cách đây hai chục năm nên tôi phải mày mò mãi.
- Anh sợ đến mức không dám mời em lên uống một tách trà sao?
Nhạc sĩ không trả lời, mặt ông nhăn lại.
- Đùa anh một chút thôi…
Cô phóng viên nói rồi ngửa mặt lên cười sằng sặc. Hết tràng
cười ngạo nghễ, cô nhảy lên xe phóng đi.
Trần Phương nhìn làn khói phút từ ống xả và những dây vải sặc
sỡ trên vai cô phóng viên, bỗng dưng buồn nẫu ruột. Ông ngần ngại nhìn cầu
thang rồi đứng yên. Có gì chờ đợi ông tren đó? Một người đàn bà mà ông đã chán
ghét hai mươi năm nay… Nhạc sĩ đặt tay lền thành tựa cây cầu thang cũ kĩ. Đó là
thứ kiến trúc dành cho những bà chúa mặc áo nhiễu màu lam và những ông hoàng
búi tó. Các bậc thang bằng gỗ phiến mỏng, đen bóng như sừng. Thanh vịn chỉ lớn
hơn cây đòn gánh chút ít, cong xoắn lại. Giá gỗ đỡ chân thang hình trụ, lì như
đá chưa hề có một vết nứt. Các bộ phận cấu thành cây cầu thang đều nguyên vẹn
nhưng mối liên kết giữa chúng đã rã rời. Nó xui ông nhớ tới một cái gì đó đã
tàn tạ, trong quá vãng nhưng còn lay lắt tồn tại tới bây giờ. Không ai qua lại
và thấy gương mặt thẫn thờ của nhạc sĩ lúc đó. Gió nhè nhẹ hút vào khoảng trống,
mùi bụ ở các góc tường thiếu nắng lan trong không khí đánh thức những cảnh tượng
một gánh hát rong trong trí nhớ người đàn ông. Hồi nhỏ, ông mê xem cải lương
như một kẻ hiếu sắc mê gái đẹp. Các đoàn cải lương thỉnh thoảng lại tạt qua cái
tỉnh lị quê ông, trên một cô xe ngựa cọc cạch hoặc dăm chiếc xe tay. Chừng ba
giờ chiều mấy cô đào trẻ và xinh nhất gánh tô son trát phấn ngồi trên xe tay diễu
quanh thị trấn. Sau họ, một chiếc xe khác chở biển quảng cáo:
Xin chú ý đón coi:
Đoàn cải lương Lệ Thanh đêm nay trình diễn vở Hận tình không
trả.
Tấm bảng lớn vẽ hình trái tim bị lưỡi gươm xuyên qua. Núp sau
tâm bảng đó, một gã kép gày gõ thu mình như con mèo ốm, tay gõ trống liên tục:
Tùng tùng tùng… Dân tỉnh lỵ từ sau các bức mành xô ra nhìn. Lũ trẻ con cuống cuồng
chạy theo, vừa hò reo, vừa đánh trống miệng. Trong đám trẻ con ấy, bao giờ cũng
có ông. Bố mẹ Trần Phương có cửa hiệu làm bánh ngọt, thuộc loại khá giả trong tỉnh,
không bao giờ cho cậu con trai đích tôn thừa tự đi xem hát hoặc đi câu: những
trò họ coi là nhảm nhí. Nhưng Trần Phương nhờ ơn huệ của bà nội. Bà to lớn, xồ
xề, trông dữ tướng nhưng chiều cháu rất mực. Nhờ cái túi tiền căng phồng già
kim băng của bà mà cậu bé Phương được hưởng mọi niềm vui thú. Chiều dó, cậu xin
tiền bà ăn phở rồi lẻn tới rạp hát. Giưa các dãy ghế lở sơn, khấp khểnh, cậu ngồi
thui lủi nhnf bầu đoàn thê tử gánh hát rong. Khi không to son trát phấn, không
đeo hạt thuỷ tinh hay kim sa, kim tuyến, họ chỉ là một đám người vàng vọt, héo
úa. Da dẻ họ nhăn nhúm, áo quần họ nhàu nát. Họ ngồi ăn quanh một cái kệ gỗ
thay mâm. Mấy miếng đậu kho hành với đĩa rau muống luộc. Vài cô đào chửa bụng
phưỡn ra dưới vạt áo cánh. Anh kép đánh trống ban chiều mặc quần đùi để lộ hai ống
chân khẳng kheo. Cái rạp hát rẻ tiền bốc lên mùi khai của nhà về sinh phía sau
và mùi cột trầu khô của đám dân buôn nhổ xuống góc tường. Chú bé Phương đã ngắm
nhìn khong chán mắt, với nỗi tò mò kinh sợ, vẻ tàn tạ, túng quẫn của kiếp sống
lang bạt… Nhưng vài giờ sau, khi đêm xuống và những ngọn đèn được thắp lên rọi
sáng sân khấu. Đám người hẹn mọn quanh đĩa rau muống luộc và đậu kho hành kia
biến mất. Dưới ánh sáng trắng loà, hiện lên các hoàng tử mắt như sao, các tráng
sĩ oai vệ, các nàng công chúa kiều diễm. Đời sống như những nàng tiên cá nhô
lên, trên ghềnh đá của đại dương thần bí và rực rỡ. Ông, chú bé lên sáu tuổi, bị
lôi cuốn bởi phép màu nhiệm ấy. Ông nín thở khi họ giờ lên cây kiếm gỗ quét nhũ
hoặc cái đầu lâu gỗ lăn công cốc dưới sàn. Ông mở tưởng những nữ vương má hồng,
mắt đen, xiêm y lộng lẫy. Ấn tượng vè kiếp sống bờ bụi của gánh hát rong và mảnh
đời chói lọi của họ dưới ánh đèn đã nhiễm vào máu ông, cái giả và cái thật trộn
vào nhau, không có ranh giới mà chỉ có những điểm dừng chuyển tiếp. Nó chế ngự
ông như quy luật của đất trời ngàn xưa chế ngự muông thú, cỏ cây. Kể từ năm mười
sau tuổi, cho tới bây giờ Trần Phương khong hề ý thức rằng liều độc dược kia đã
điều khiển ông như một Thái hậu quyền uy điều khiển quốc gia sau tấm màn… Giờ
đây, khi cô phóng viên đã đi khuất, đứng lặng trong bóng tối ẩm và lạnh cảu cầu
thang ông mới cảm thấy mệt mỏi, chán chường như anh hát chỉ ăn rau muống và đậu
kho hành mà phải múa kiếm ba màn liền trên sân khấu.
- Thật ngán ngẩm. Lẽ ra mình nên lờ cô ta từ ngoài phố…
Nhạc sĩ lẩm bẩm, nặng nhọc trèo lên từng bậc thang. Ông thèm
ngủ. Vừa mở cửa, ông đã cởi áo ngaòi, ném lên ghế rồi tới giường nằm:
- Anh Phương, xem cho em kiểu áo này có hợp không?
Bà Hoa, vợ ông gọi ông phía sau tấm màn che gió. Bà mới may một
chiếc sơmi mới bằng xoa cát màu hồng để dự buổi lễ tân.
- Kiểu ấy hợp với em lắm.
Trần Phương đáp, mắt vẫn nhắm nghiền.
- Anh có nhìn đâu mà biết hợp? Sao anh thiếu lịch sự đến thế
nhỉ?
Bà cao giọng trách móc. Nhạc sĩ nghe vợ xô ghế ầm ầm. Cơn
điên tức trào lên khiến ông muốn giáng cho vợ một cái tát. Nhưng ông lại năn nỉ:
- Anh đã nhìn trước rồi mà. Cho anh nghỉ một lúc.
- Anh vô tình lắm, chẳng bao giờ anh thèm để ý tới em.
Bà Hoa tấm tức:
- Với những người chồng yêu vợ, một tấm áo mới là niềm vui
chung.
- Biết rồi, biết rồi, khổ lắm…
- Em là một người đàn bà bất hạnh.
Bà Hoa ngồi xuống ghế, nước mắt chảy ra và bà bắt đầu kể lể:
- Em đã tin cậy anh, em đã nhầm lẫn. Trước kia thiếu gì người
tài giỏi, đẹp đẽ yêu thương…
Trần Phương nhắm mắt. Lạy trời, cái điệp khúc quen thuộc hai
mươi năm nay lại bắt đầu. Hơn hai mươi năm trước, ông đã gặp bà tại một quán giải
khát vùng tự do. Lúc đó đội văn nghệ lên tiền duyên phục vụ bộ đội. Ông sốt, phải
nằm lại cửa rừng, chăn quấn tới cằm, khuôn mặt võ vàng hốc hác. Bà chủ quán đem
cho ông bát cơm nóng với măng xào ớt. Ăn xong, ông uống vài viên ký ninh rồi tựa
lưng vào vách nứa, nhìn mưa rơi. Những cơn mưa rừng dầm dề quất lên cây lá một
âm điệu buồn tẻ. Gió ràn rạt lùa các hẻm núi và thi thoảng, tiếng nai lạc lõng
vọng qua màn nước vang tới. Trần Phương chưa bao giờ rơi vào cảnh sống nhàm
chán ấy. Chính lúc đó, ông đã gặp bà. Một khuôn mặt bèn bẹt, ửng đỏ. Sống mũi gẫy
và mái tóc ngắn cũn. Dù đang tuổi thanh xuân, cái tuổi bất cứ người con gái nào
cũng trở nên đáng yêu, bà vẫn không gợi cho ông được mảy may cảm xúc về cái đẹp.
Nhưng bù lại, bà có một ngôi nhà ấm áp ngay cạnh quán càphê. Mẹ bà tần tảo nuôi
gà, trồng rau, buôn bán hàng xén để bán cho dân phố cửa rừng và đám chiến sỹ
qua lại. Hai mẹ con bà đón ông sang, chăm bẵm như chăm bẵm một đứa trẻ và quý
báu như quý báu một ông hoàng. Ông, con người quen được nuông chiều mắc vào tấm
lưới ấy. Khi ông thức tỉnh thì đã muộn. Vả chăng, bà có một ông chú, giữ cương
vị tối quan trọng trong Nhà nước. Cái cây đó sẽ toả bóng mát xuống đầu ông…
- Thôi, đừng khóc nữa…
Trần Phương bảo vợ.
- Anh vô tình lắm. Em là một kẻ bất hạnh…
Vợ ông vẫn kể lể, sụt sịt. Những giọt nước mắt lăn trên hai
gò má đỏ rực của bà.
- Tôi xin cô, cho tôi nghỉ một lúc. Đừng vẽ chuyện ra…
Người đàn ông nói gác cánh tay lên trán để nén bực dọc.
Đêm tân hôn, khi đám cưới vừa tan. Bà mẹ vợ tắt đèn hoa đăng
chỉ còn để cây đèn hoa kỳ. Dưới ánh lửa chập chờn, ông đã nhìn khuôn mặt bèn bẹt
của bà với cặp mắt hầu như không có lông mi, và nỗi ghê sợ trỗi dậy trong tâm
trí ông. Cảm giác ghê sợ ấy theo đuổi ông suốt khoảng thời gian họ chung sống,
len lỏi giữa những giờ ái ân và những ngày lạnh nhạt, dai dẳng như căn bệnh mãn
tính. Giờ đây, nó hoà nhập với lòng căm ghét khiến ông điên lên, muốn chấm dứt
tức khắc cuộc sống giả trá nặng nề… “Bà ấy chết hoặc chính mình chết đi cũng được…”
Người đàn ông nghĩ. Mọi sự sẽ nhẹ nhõm hơn. Nhưng sau ý tưởng ấy, ông chợt thấy
chiếc Moscovic trắng lao qua mảnh sân hình bát giác, và gã lái xe mở sẵn cánh cửa
chờ, theo thói quen. Tim ông quặn lên. Và một tiếng nói từ bên kia ngọn triều
đen thầm vọng tới:
- Không.
Con người có thể bị áp đảo bởi những tham vọng rất khác nhau.
Một gã hà tiện quáng mắt trước những đống vàng ra sao thì Phương Linh cũng
quáng mắt trước tài năng và dáng vẻ cao thượng của nhạc sĩ Trần Phương như thế.
Đang loạng choạng bước dưới đáy sâu thất vọng, tình yêu mới đã dắt cô lên. Hình
ảnh con người kiệt xuất kia đã chiếm lĩnh trái tim cô đến mức thế gian chỉ còn
tồn tại mờ nhạt như những bức tranh trong đáy nước. Ở đâu, lúc nào cô cũng chỉ
nhìn thấy ông ta: Bên kia mái tóc mềm của đứa con, giữa hai bải giảng, hoặc
trên con đường đậm đặc bóng cây đưa cô tới trường…
“Trần Phương… Trần Phương…”
Bất chợt, cô lại gọi tên ông thầm thì. Dáng vóc đường bệ và
những bước đi của một lãnh chúa trên vùng đất trị vì, đôi mắt đen mênh mông,
hàm râu xanh biếc… Trước vầng hào quang ấy, Nguyên chỉ là một anh ký giả quèn,
thảm hại, ti tiện và giả trá. Từ lần gặp gỡ đầu tiên tới cuộc hẹn hò sau, hai
mươi bảy giờ đợi chờ là nỗi khắc khoải. Người đàn bà đếm từng phút một, ngay
trong giấc ngủ chập chờn. Thậm chí, cô cũng không biết tới điều giản đơn này:
người đàn bà khôn ngoan trong tình yêu phải bắt tình nhân chờ đợi… Bởi thế, ba
giờ chiều hôm sau, khi Trần Phương bước vào quán giải khát. Linh đã ngồi đó với
gương mặt tái nhợt:
- Em đấy à?
Ông hỏi, mắt rực lên.
- Vâng.
Cô đáp, giọng lạc đi. Ngọn lửa tinh quái trong người đàn ông
chợt tắt khi ông nhìn vào đôi mắt nâu chân thực của cô. “Đúng là một cô bé vừa
cởi khăn quàng”. Ông nghĩ. Tất cả những kinh nghiệm dạn dày của mình trong đời
sống tình ái sẽ trở thành tội ác với người đàn bà này. Chưa ai yêu mình với một
tâm hồn thánh thiện đến thế… Ông bỗng nhớ tiếc tuổi hai mươi, nhớ tiếc chùm hoa
cam nở trong khu vườn tỉnh lỵ, tiếc nụ hôn đầu tiên đã đặt lên môi người đàn bà
không yêu nhưng ham muốn, tiếc những tháng ngày dài dặc đã qua - với cuộc hôn
nhân lầm lạc và những cuộc tình vụng trộm, những người đàn bà hoặc ngu ngốc cuồng
si, hoặc trơ tráo vì dục vọng… Giá như dĩ vãng tan biến đi như làn khói và cuộc
đời ông lại bắt đầu, ông sẽ đem tuổi trẻ của ông tới cho cô, với chùm hoa cam
thơm ngát, với những run rẩy tuổi hai mươi.
- Xin lỗi em…
Ông vừa nhìn cô đăm đăm, vừa nói.
- Sao lại thế? Anh có lỗi gì đâu?...
Linh ngơ ngác hỏi lại. Trần Phương thầm lén bóp chặt tay cô
trong tay ông và đáp:
- Anh có lỗi, vì anh không còn tuổi trẻ để đem tới cho em.
Mặt Linh đỏ lên, cô lắc đầu:
- Không…
Và nghĩ một vài giây, cô lắc đầu quả quyết: - Không cần.
Bà chủ quán rượu bưng ra hai tách càphê. Bản “Chèo thuyền” của
Menđensơn lại vang lên. Họ ngồi im lặng nhìn nhau qua những bông hoa đồng tiền
đỏ. Họ có thể ngồi như thế mãi, nhưng quán trà đã có thêm khách mới: Một hạ sỹ
công an dẫn hai thanh niên vào. Cả ba người đều nhễ nhại mồ hôi. Hẳn là họ vừa
đi bộ một quãng đường dài. Anh hạ sĩ công an hất hàm bảo hai gã trai đi cùng ngồi
xuống, đoạn quay vào gọi:
- Cho mấy cốc chanh đá bà ơi.
Xong, anh lật mũ ra quạt, tóc bết mồ hôi. Lúc đó, Linh mới thấy
hai thanh niên bị xích chung bởi một sợi xích. Một gã trạc hai mươi nhăm tuổi,
gã kia trẻ hơn. Cả hai đều ăn mặc tươm tất. Có lẽ chúng vừa bị bắt và trên đường
trở về phòng giam. Gã lớn tuổi có đôi mắt dài, một mí, sống mũi thẳng và hàng
ria con kiến. Gã kia trắng trẻo, thấp bé hơn, môi đỏ và tóc vuốt dài như kép
hát. Chúng không có gương mặt của kẻ sát nhân bẩm sinh. Người ta có cảm giác rằng,
vừa mới đây chúng còn chìa tay xin mẹ tiền để mua đôi giày mốt mới.
- Tội phạm gì thế, đồng chí công an?
Nhạc sĩ hỏi, chìa bao thuốc mời anh hạ sĩ. Anh ta quay lại, mắt
tròn xoe. Rồi đột nhiên, anh ta reo lên:
- Đúng rồi, bác là nhạc sĩ Trần Phương?
Người đàn ông nheo cười, mắt nheo lại:
- Tôi gặp anh ở đâu nhỉ?
- Bác không nhớ cháu à? Cháu ở trại 27, năm ngoái thủ trưởng
mời bác lên thăm trại và nói chuyện với anh em. Có mấy cô ca sĩ lên theo biểu
diễn…
- Xin lỗi, trí nhớ tôi tồi thật.
- Thế nào bác cũng lên thăm trại nữa nhé… Ở trại, nhiều đoàn
báo chí tuyên truyền lên tham quan nhưng chưa ai nói chuyện hay như bác. Chúng
cháu thèm nghe chuyện lắm, coi giữ tù nhân, mình cũng gần như bị tù, quanh năm
không nhìn thấy phố xá…
Nhạc sĩ bật lửa, châm thuốc cho chàng trai. Ông mỉm cười vì vẻ
bồng bột không thích hợp gì mấy với nghề nghiệp của anh ta. Quay sang hai gã bị
xích, ông hỏi:
- Khách mới của trại à?
Lúc đó, anh hạ sĩ nhớ ra nhiệm vụ của mình, đứng lên:
- Thôi, chào bác nhé. Cháu phải đưa bọn này đi. Tù trốn trại,
can án hai lần, tổ chức móc hàng trong nhà nước tuồn cho gian thương.
Hai gã tù quay đi, không còn giữ vẻ nhâng nháo ban đầu. Hoạ
sĩ ngồi xuống, trầm ngâm hút thuốc. Linh nhìn theo đám người vừa ra khỏi phòng
trà, nói:
- Trông họ tử tế đấy chứ? Lòng tham biến con người thành quái
vật. Giá như ta tiêu diệt được mọi dục vọng, xã hội sẽ tốt đẹp bao nhiêu?...
Trần Phương ngẩng lên nhìn Linh, cười. Mắt ông ánh lên những
tia cười cợt và chế giễu khiến cố đỏ bừng hai má:
- Tại sao anh cười em?
Thay vì trả lời, ông im lặng nhìn cô với đôi mắt trìu mến, đắm
đuối hơn.
- Anh nhìn em như nhìn một đứa bé miệng còn hơi sữa?
- Chính thế, cô bé ạ - Ông đáp thong thả, và xiết chặt bàn
tay cô trong tay mình – Anh không nghĩ rằng em ngây thơ đến thế. Em tin rằng
tiêu diệt mọi dục vọng thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn ư?... Đó là một ý tưởng sai lầm
về nguyên lý. Xã hội là guồng máy vĩ đại mà động cơ thúc đẩy nó vận hành là sự
liên kết của các dục vọng cá nhân. Tiêu diệt dục vọng của con người tức là tiêu
diệt động cơ thúc đẩy xã hội tiến bộ.
- Nhưng chính tham vọng cũng đẩy con người vào vòng tội lỗi.
Linh rụt rè đáp lại.
- Tất nhiên, tất nhiên… Mọi sự vật đều bao hàm hai mặt đối lập
đen và trắng, sáng và tối… Điều quan trọng hơn cả không phải là tiêu diệt dục vọng
của con người mà phải là tổ chức hợp lý để nó đem lại lợi ích cho cá nhân cũng
như cho cả cộng đồng, để quyền sống của kẻ này không tiêu diệt quyền sống của
người kia, và các xung động của dục vọng trong xã hội hướng vào các mục tiêu tốt
đẹp. - Trần Phương ngừng lại, khe khẽ thở dài:
- Nhưng đó chính là điều khó khăn nhất mà loài người tìm kiếm
rất lâu, và sẽ còn phải tiếp tục tìm kiếm nữa.
Những lời lẽ ấy, nếu Linh để tam, hẳn cô đã nghe được nhiều lần
trong các cuộc chuyện trò giữa Nguyên với đám trí thức trẻ. Nhưng giờ đây, đặt
vào miệng của người đàn ông cô đang mê đắm, nó bỗng trở thành những kiến thức
siêu việt và mới lạ. Cô im lặng nhìn ông, với ánh mắt tràn ngập niềm ngưỡng vọng
và tôn kính...
Thuyền từ từ ngược dòng. Từ đầu cầu Bắc Giang tới đây chừng
vài cây số đường chim bay mà phải đi mất hơn hai giờ. Chủ thuyền không vội vã,
vừa ngắm sông nứoc vừa sải mái chèo hệt như một tài tử. Trọng, phóng viên trong
tổ của Nguyên ghé tai anh, bảo:
- Tụi mình vớ được lão lái thuyền ngất ngư quá. Chắc kiếp trước
lão là con một gã thượng thư.
Nguyên đáp:
- Kệ. Mình cũng chẳng vội vã gì. Sớm muộn ngày mai cũng sẽ tới.
Hai người nhận nhiệm vụ viết một bài báo dài đăng ba số liền
về cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa Thám. Đi tàu hoả tới ga Bắc Giang, họ
rẽ vào Ty văn hoá xin một số tài liệu và giấy giới thiệu để làm việc với phòng
văn hoá huyện. Phó trưởng ty phụ trách bảo tàng nói rằng ông đã gọi điện thoại
xuống huyện. Khi họ tới Bố Hạ sẽ có người tới đón. Hai phóng viên từ biết ông
phó ty, rẽ vào chợ ăn cơm đầu ghế. Đó là lối ăn tốt nhất đối với nghề làm báo.
Một đĩa cơm trắng, gạo thơm mùi lúa, hai bìa đậu rán bằng nửa bàn tay, vài lát
thịt kho tàu trong suốt với ít dưa muối xổi. Một bữa cơm lý tưởng khi anh xa
nhà mà túi tiền không chặt. Lúc hai chàng phóng viên thưởng thức bữa cơm bình
dân với vẻ hài lòng thì trong các quán cơm tư nhân gần đó, cánh lái xư, đám chạy
vật tư công trường, dân buôn chuyến kêu bia chai, bia hộp, gà quay ầm ĩ.
Trọng bảo:
- Chúng ta phấn đấu đến bao giờ mới đạt tới mức sinh hoạt của
mấy gã lái buôn kia?
- Đừng thắc mắc chuyện ấy – Nguyên trả lời – Chúng ta là những
chi tiết bị đóng chặt vào một cỗ máy. Cỗ máy ấy lăn tới đâu, chúng ta tới đó.
Còn đám dân kia là phần tử tự do. Họ chuyển động theo các lực hấp dẫn khác. Đừng
buồn phiền, trong cuộc đời mỗi người có một cách lựa chọn, được thứ này thì đừng
tiếc thứ kia.
- Lý thuyết của anh cùn bỏ mẹ.
- Tớ không được tân tiến như các cậu.
- Xì, không tân tiến nhưng anh khôn ngoan nhất báo. Tụi tôi
có được các anh cũng phải mòn dăm bảy đôi giày.
Nguyên mỉm cười im lặng. Anh thường biết im lặng đúng chỗ.
Hai người uống nước rồi ra bến xe. Khoảng hai giờ sẽ có xe ngựa lên Bố Hạ.
Nhưng Nguyên nảy ra ý định đi đò dọc vì bến xe đông khách quá và vì anh đã nghe
nói tới cái thứ này nhiều lần trước. Trọng tán thành ngay. Anh ta béo, ngồi đợi
ở bến xe nóng nực này đến chảy mỡ ra mất.
- Đi đi thôi, tốn kém hơn chút ít cũng không sao. Anh chàng bảo
Nguyên – Còn ở bến xe này chắc tôi chết ngạt.
Họ nhảy lên xích lô, xuống bến đò sông Thương thuê đò. Con
đò, nhổ neo lúc mặt trời vừa ngả… Người chủ đò chèo đò chậm rãi. Đầu khoang đằng
kia vợ ông ta lúi húi đánh vẩy một con cá trắm nặng tới hai kilô. Đứa con gái
chừng mười hai, mười ba tuổi, đen như cháy, ngồi rang lạc. Hai chàng phóng viên
dán mắt vào cánh tay lực lưỡng của người đàn ông đặt trên cây dầm chèo. Các vồng
thịt nổi lên, săn như rễ cây, bóng loáng. Phía trước họ, mặt trời hoàng hôn tãi
vàng trên sóng. Hai bờ cát viền cỏ như phủ một lớp bụi mịn màng. Vài con bò vục
mõm uống nước khiến mặt trời chiều vỡ tan thành những mảnh vụn. Hai cánh tay
người chủ thuyền dần dần ngả sang màu đen thẫm trên mặt nước đỏ tía. Mỗi khi
mái chèo khuấy nước ta lại có cảm giác như gợn máu của một con vật tế lễ ướt
loáng lên. Rồi các ráng đỏ phía tây tắt hẳn và mặt nước hoá tím như cánh bèo.
Người đàn bà lom khom chiu qua khoang thuyền, gọi:
- Cơm đã xong. Bố nó ra mời.
Người chủ thuyền không quay lại, đáp:
- Mày với con cái Thu ăn trước đi, rồi ra chèo thuyền cho
tao.
Chị vợ nín lặng, lom khom chiu trở lại phía sau. Ở đó, trong
bóng tối, hai mẹ con lúi húi ăn cơm. Nguyên nghe tiếng bát đũa lanh canh, tiếng
họ thì thào:
- Mẹ ăn thêm bát nữa, con xới?
- Thôi.
- Trưa mẹ bỏ cơm cơ mà?
- Ăn vừa cho nhẹ bụng còn chèo. Kẻo bố mày chửi.
Chị ta nhẹ nhàng lần theo mui thuyền, như cái bóng tới sau
lưng chồng:
- Xong rồi, bố nó ra mời cơm kẻo nguội mất.
- Có lạc rang cho tao không đấy?
- Có. Tôi bảo con Thu ủ trong ấm tích. Còn chai rượu gác ở
cái góc sạp như mọi khi.
Người đàn ông đứng dậy, đưa mái chèo cho vợ:
- Chèo thong thả thôi, nghe chưa… Con nước đang dâng đấy.
Sau khi dặn vợ bằng cái giọng quyền uy đó, ông quay sang mời
hai người khách:
- Hai bác nhắm với tôi chén rượu?
Họ cảm ơn và từ chối. Chủ thuyền đi về phía sau khoang thuyền
ăn cơm. Mùi rượu nặng lan trong gió. Cái bóng đen đúa của ông ta in lừng lững
trên trời đêm. Tiếng gạt nước gieo vào không gian đều đặn. Phía tây, trên nền
lam thẫm, ngôi sao đầu tiên đã mọc. Nguyên ngửi thấy mùi mồ hôi chua chua của
người đàn bà trong gió.
Anh bảo Trọng:
- Cậu biết chèo không? Chèo đỡ chị ta một lúc.
- Không, đến bơi tôi cũng không biết nữa là.
- Tiếc thật. Tôi cũng không biết chèo.
Gió từ thượng nguồn thổi mạnh hơn. Con thuyền ngược dướn lên
theo mỗi nhịp chèo nặng nhọc. Giữa tiếng gió, tiếng mái chèo quạt nước, nghe rõ
tiếng thở hổn hển của người đàn bà trẻ. “Khoảng ba mươi tuổi là cùng… Có thể là
chưa đến…” Nguyên nghĩ. Ban chiều, anh ta đã thấy gương mặt chị. Không thể gọi
là xinh đẹp nhưng đậm đà, với nước da nâu sậm, đôi mày cong đen nhánh trên cặp
mắt lá dăm. Thứ nhan sắc mộc mạc ta đã gặp trong các điệu chèo cổ và một nẻo đường
tít tắp giữa vùng quê. Chị ta chỉ hơn Linh vài tuổi nhưng phải sống với một ông
chồng đã ngoài năm mươi, cục cằn, thô lỗ. Người đàn bà này mơ ước gì? Phải
chăng chị tơ tưởng đến một lời nói dịu dàng, một tấm khăn hay một chiếc áo mới
khi mùa xuân tới? Trong cuộc sống buồn tẻ lênh đênh trên sông nước, tháng ngày
vật lộn với mưu sinh, có niềm vui nào thắp sáng lên chuỗi ngày đơn điệu của chị.
Có hy vọng nào khiến chị thức tỉnh niềm vui sống?... So với người đàn bà dã man
này, vợ mình là một bà hoàng. Một bà hoàng ích kỷ, gàn dỡ và tàn nhẫn… Cô ta
còn muốn những gì nữa ở mình. Một người chồng tận tuỵ, trung thành, đủ sức néo
giữ con thuyền gia đình giữa thời gian khó. Mình đã hy sinh những thú vui của một
thằng đàn ông để mẹ con Linh được sung sướng: Một chai rượu Tây, một gói thuốc
ngoại hạng, những cuộc bù khú với đám độc thân để có thể gặp gỡ những người đàn
bà ưa phiêu lưu tình ái… Vậy mà cô ta không tha thứ… Linh, em là kẻ cực đoan nhất
trong những kẻ cực đoan ở trên dời. Em không bao giờ chịu thấu hiểu đời sống.
Em chỉ một mực thờ phụng những thánh nhân của thời thơ dại; những mẫu người lý
tưởng đã được vẽ ra. Trước kia, thần tượng đó là mình. Nhưng mình làm sao tồn tại
được, nếu chỉ là một cục thuỷ tinh như em mong muốn?
- Ta mượng chủ thuyền manh chiếu - Trọng bảo Nguyên - Ngồi
mãi mỏi lưng lắm… Nghĩ ngợi gì mà thần người ra thế?
Nguyên ngoái cổ vào trong khoang gọi chủ thuềyn. Ông ta vẫn
ngồi im như tượng phía mũi, chai rượu đặt một bên. Nghe Nguyên hỏi, ông ta bảo
đứa con gái:
- Thu, đem mảnh chiếu buồm trải lên cho các bác nằm.
Đứa bé từ bóng tối của khoang thuyền nhô lên, cắp chiếu bên
nách. Nó trèo lên mũi, thoăn thớt đi tới sau lưng mẹ, trải tấm chiếu cói xuống.
Rồi, vẫn im lặng như thế, nó trở lại mũi thuyền đằng kia, tụt xuống khoang. Hẳn
nó chui giữa những bì sắn khô mà ngủ. Không chờ bạn, Trọng nằm kềnh xuống trước:
- Mát quá Nguyên ạ… - Anh ta kêu lên – Mà trăng đẹp chưa kìa.
Không ngờ chuyến đi này thú thế.
Nguyên nằm xuống bên cạnh, cảm thấy bầu trời xa xôi hơn, đe
doạ hơn khi nhìn chúng từ phía dưới. Khoảng không gian lồng lộng và cách với
như chứa đựng những thiên thạch, bụi tinh tú, sẵn sàng ném xuống đầu ta. Một
đám cháy giữa thinh không kia rất có thể bùng nổ và lúc ấy mấy con người bồng bềnh
trên chiếc thuyền này sẽ giống mấy hạt bụi lửng lơ giữa khoảng không nghiệt ngã
của tai hoạ:
- Nghĩ gì mà im lặng thế Nguyên?
Trọng lên tiếng:
- Hồi nhỏ, tôi thích đọc văn Thạch Lam. Cảnh tượng đem nay
cũng giống như văn chương của ông ta miêu tả: một con đò lững thững trôi, với
hai con người mơ mộng.
- Trước đây, tôi không nghĩ rằng cậu lãng mạn thế. Nhưng đêm
nay, trăng đẹp thật.
Nguyên tán đồng.
Trăng đã lên trên dãy núi cuối chân trời. Từ dãy núi đó tới
dòng sông là dài đồng bằng hư ảo. Hai bờ, giờ đây không còn là bãi cát hay viền
cỏ mà là những rặng tre dầm chân trong làn nước. Bóng tre đan già vào nhau như
tấm rèm trăng khiến con thuyền trôi qua một ảo động được tạo bằng trò chơi của
đêm đen và mặt nguyệt. Vợ chồng chủ thuyền không chèo nữa mà dùng cây sào đẩy
thuỳen đi dưới các lùm tre khiến lũ chim ngủ đêm trong đó bay tán loạn. Một con
quáng mắt rơi xuống thuyền. Trọng đưa tay chụp nhưng nó đã vọt qua bàn tay hộ
pháp của anh.
- Đẹp thật.
Nguyên nhắc lại. Nhưng phía sau vầng trăng anh lại nhìn thấy
ánh sáng của thành phố. Căn phòng có những bông cẩm chướng úa héo và tấm màn
gió màu xanh. Buổi sáng cuối xuân, Linh đã tuyên bố rằng cô không còn yêu anh nữa…
- Liệu sáng mai đã đến Bố Hạ chưa Nguyên?
Trọng lại cất tiếng hỏi. Người đàn bà rút cây sào rồi đáp lời
thay:
- Cùng lắm mười giờ sáng thôi, bác đừng sốt ruột.
- Chúng tôi còn phải lên Cầu Gỗ.
Trọng giải thích.
Người đàn bà cúi rạp xuống để luồn qua một vòm trúc, rồi nói:
- Bác đừng lo. Từ Bố Hạ lên Cầu Gỗ chẳng mấy chốc. Thỉnh thoảng
em vẫn lên đấy mua than. Chạy bộ cũng chỉ vài giờ, các bác có xe lo gì?...
Nguyên hỏi:
- Chị đã vào nhà bảo tàng ở đây chưa?
- Nhà thờ cụ Đề ấy ạ?... Có chứ. Dân chúng em ở đây mỗi năm
giỗ cụ một lần.
- Ai đặt ra cái lệ ấy?
- Không ai đặt ra cả. Từ thời cụ tổ em đã có ngày giỗ ấy rồi.
Cái kiếp dân mình khổ, thờ cụ để cụ độ trì cho. Ngày đánh Pháp, cứ trận nào có
người ở đây cầm quân là thắng cả. Nói có Trời có Phật, cụ Đề thiêng lắm.
Chị ngừng lời, dún con sào thật mạnh. Thuyền lao khỏi vòm
trúc, vọt ra giữa dòng nước. Từ đây trở đi, haibờ không còn cây lá, dãi đầy ánh
trăng. Nguyên thấy tấm chiếu mát lạnh, bảo Trọng:
- Sương xuống ướt cả chiếu. Cậu có buồn ngủ vào khoang mà nằm.
- Không. Lạ thật, chẳng buồn ngủ chút nào hết. Mọi tối, gà
lên chuồng là tôi díp mắt lại. Vợ tôi cứ gọi tôi là Trí ngủ...
- Mình cũng thế, mắt ráo hoảnh.
- Mấy giờ rồi.
- Tám giờ bốn mươi hai phút.
- Ở thành phố, ngày dài hơn.
- Ừ, ở đây đêm dài hơn. Càng xa các thành phố lớn, nhịp điệu
của đời sống càng chậm. Năm ngoái tôi đến một xã miền biển. Một xã có vài ngàn
dân mà nằm trên ba hòn đảo nhỏ. Người ta đi lại bằng thuyền. Những con dê bơi
nhung nhăng từ đảo này sang đảo khác. Ở đấy, cậu có tưởng tượng được không, hầu
như các gia đình đều dùng nồi đất. Ngay cả muôi và thìa múc canh của họ cũng bằng
đất nung mộc. Hỏi ra, hợp tác xã mua bán chỉ chở ra đảo dầu hoả, kim chỉ và giấy
học sinh...
- À, tại vì mình thiếu xăng. Sự giao lưu tư tưởng và văn minh
vật chất quyết định bảy mươi phần trăm sự phát triển xã hội... Mà anh Nguyên
này, anh đã mua được cuốn truyện ngắn của Pautôpxki chưa đấy?
-...
- Sao anh im lặng thế?
- Tôi nghĩ tới anh và những chuyện khác phía anh.
- Tới tôi? Tôi có chuyện gì vậy?
- Tại sao đang từ chuyện phát triển xã hội anh lại nghĩ ngay
đến Pautôpxki?
- Tôi chẳng biết. Nhưng điều đó có quan hệ gì?
- Có chứ. Từ lâu tôi đã để ý rằng chúng ta không có thói quen
nghĩ điều gì đó cho đến đầu đến đũa. Giống như kẻ vừa xới lên một mảnh đất,
chưa kịp trồng trọt gì đã bỏ sang vùng đất khác. Nó chứng tỏ chúng ta thiếu khả
năng tư duy sâu sắc và triệt để, mà thiếu khả năng đó, thì đừng hy vọng có được
thành công trong bất cứ một lãnh địa nào. Thói quen hời hợt và nông nổi sẽ đưa
chúng ta tới nhiều lầm lẫn và thua thiệt trong đời sống... Còn Pautôpxki, anh
thích ông ta lắm phải không?
- Rất thích.
- Đã có một thời, Pautôpxki là tác giả gối đầu giường của tôi
cũng như của những người cùng thế hệ chúng ta. Tôi đã đọc đến thuộc lòng Bông hồng
vàng, Bình minh mưa, Naxlia cô gái làm ren... Ngay bây giờ, nhắm mắt lại tôi
cũng có thể tả cho anh nghe các ngôi nhà gỗ ven rừng Nga, mùa thu vàng trên thượng
lưu sông Oka, những nẻo đường sương mù giá băng phương Bắc, bụi tử đinh hương lấp
loáng dưới bụi mưa, và những căn phòng treo tranh của Matixơ, của Rêpin, nơi tà
áo dài phụ nữ sột soạt và mùi nước hoa khiến ta mê mẩn... Pautôpxki là nhà văn
của các cảm xúc học trò, giấc mơ đầy hoa táo và uất kim hương, những niềm ưu ái
dễ dàng, những may mắn kỳ diệu mà người ta có thể nhặt chúng dễ dàng như nhặt
những quả dẻ trên đồi Nhã nam vào mùa thu... Không, tôi không thể còn yêu
Pautôpxki được nữa. Anh sung sướng hơn tôi vì anh còn ngưỡng mộ được ông ta khi
ba mươi lăm tuổi đời. Anh đúng là một chàng thiếu niên nặng sáu mươi tư cân rưỡi.
- Anh bao nhiêu tuổi nhỉ?
- Nói ra anh sẽ không tin đâu... Ba mươi hai...
- Đúng là không thể tin được.
- Tôi nói tiếp ý nghĩ của tôi về những chuyện này. Đã lâu lắm,
tôi có ý định nói với anh là thói quen không đẩy tới tận cùng một suy tư sẽ dẫn
chúng ta tới một lối sống cạn cợt. Nếu rất nhiều người nhiễm thói quen ấy, thì
điểm yếu kia sẽ trở thành đặc tính của một nhóm lớn trong xã hội hay của cả cộng
đồng. Dân tộc nào cũng có những ưu điểm kèm theo những khiếm khuyết. Nhưng một
dân tộc mạnh là một dân tộc biết nhìn thẳng vào những khiếm khuyết của chính
mình. Bởi lẽ, sự khai tử sẽ xuất hiện ở chính nơi nào có chứng bệnh viên mãn. Một
bác học vĩ đại huỷ diệt quãng đời sáng tạo kể từ lúc ông ta nghĩ rằng tư tưởng
của mình đã hoàn thiện hành trình tư duy của nhân loại. Một nhà căn sẽ đánh mất
bản thân khi ông ta nghĩ rằng tác phẩm của mình là ở chót vót các đỉnh cao. Một
viên tướng sẽ không còn cầm quân được khi không nghĩ nổi một điều gì mới mẻ hơn
là say sưa về những chiến công oanh liệt cũ. Chỉ còn sống bằng quá có nghĩa là
đã chết. Ngạn ngữ Pháp đã có một câu rất hay. "Đừng khua động tro tàn của
các hài cốt...“ Thế đấy, tôi muốn nói với anh rằng chính chúng ta, những trí thức,
sứ mạng của chúng ta không phải là vuốt ve lòng kiêu hãnh mà là nhìn cho thấu
những nhược điểm của dân tộc sớm hơn tất cả mọi người...
Nguyên dừng lại. Anh chợt nhận ra rằng mình đã nói qua nhiều.
Trọng sững sờ nhìn Nguyên.
- Trời ơi, con người lạ lùng này...
Anh thốt lên trong óc não: "Anh ta có những ý tưởng thật
sắc bén và cao quý. Trong khi đó, anh ta lại hành động như một kẻ làm công
ngoan ngoãn. Và quái gở hơn, cam chịu cuộc sống tồi tệ của một kẻ bị cắm sừng.
Ít nhất, cũng nửa thành phố biết rằng vợ anh ta là người tình mới mẻ nhất và
say mê nhất của nhạc sĩ Trần Phương".
Phần V
Anh yêu em.
- Vâng.
- Em có hạnh phúc không?
- Vâng...
Người đàn bà trả lời, nhưng mắt nhìn về phía khác. Trần
Phương không để ý tới thái độ của người yêu, ông có vẻ hoàn toàn mãn nguyện.
Ông khẽ huýt sáo giai điệu quen thuộc của bài Thiên Thai. Rồi bất chợt ông cao
hứng cất thành lời:
"Thiên thai, chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
Ái ân thiên tiên em ngờ phút mơ cuồng có một lần...“
Linh lắng nghe lời hát, nỗi tủi hổ tràn ngập trái tim. Sự gần
gũi đầu tiên không đem lại cho cô chút hạnh phúc cỏn con nào. Trong gian phòng
xa lạ ngoại ô, nơi có thể nhìn rõ những vạt ngô chạy theo đường chân trời và
vài cánh buồm lãng đãng, cô cảm thấy mình trơ trọi, lạc lõng. Một mặc cảm về sự
bất an lơ lửng trong bầu không khí bao quanh. Một mặc cảm khác về tội lỗi nhoi
nhói như chiếc kim găm trong một góc thầm kín của tâm hồn... Ánh mắt, làn môi,
hơi thở của Trần Phương, khi sát kề, gợi cho cô nỗi lo âu, ngại ngần như những
thám hiểm viên đặt chân lên một hòn đảo lạ. Có lẽ, tình yêu cần có những cung bậc
và không thể nào đốt cháy thời gian. Linh nhớ những phút giây đầu tiên trong cuộc
sống chung với Nguyên. Những giây phút hạnh phúc trọn vẹn cả tinh thần và thể
xác ấy in vào tâm khảm con người tựa như ánh nắng, khí trời tươi lành, cây cỏ
mùa xuân và nước giữa non cao. Những giây phút ấy tựa bông hoa ở trong khu vườn
thoáng đãng, ấm áp. Còn ở thời khắc này, niềm xúc cảm u ám bao phủ tâm hồn cô.
Người đàn bà ngờ rằng mình đã bị dòng lũ đục ngầu của những phút buông thả lôi
cuốn.
Trần Phương vẫn hát, khẽ nhưng say sưa. Hai má ông rực lên,
màu mắt dường như biến đổi trong niềm sung sướng. Ông hoàn toàn vui vẻ, vô tư.
Tại sao?... Linh thoáng nghĩ rằng ông đã thích nghi với những cuộc tình vụng trộm,
rằng ông không suy tư gì nhiều lắm trong cảnh sống đó và có lẽ cô cũng chỉ là một
trong vô số người đàn bà đã sa vào tay ông. Trước cô, hẳn đã có và sau cô, chức
cũng lại sẽ tiếp nối... Niềm tủi hổ trong giây lát mau lẹ biến thành cơn ghen
hung dữ. Từ trong vô thức, lòng căm uất vụt loé lên, người đàn bà không kịp
ghìm giữ:
- Anh Phương.
Nhạc sĩ đang mơ màng nhìn những bãi ngô xanh biếc ngoài sông
Hồng, ông giật mình quay lại. Tiếng gọi của Linh thảng thốt và ghìm nén nỗi hờn
oán mà ông mơ hồ đoán biết. Ông tới gần ô, dịu dàng cầm đôi tay ấm nóng của cô:
- Có chuyện gì thế em?
- Chắc rằng... Chắc rằng...
Linh lắp bắp, cô vừa bị cơn ghen thiêu đốt vừa bị lòng tự ái
chế ngự. Lúng túng hồi lâu, cô mới tìm được lời:
- Em chắc rằng anh cũng đã quen... Và những người đàn bà trước
em... Trong chuyện này...
Trần Phương cười hiền, ông hiểu sự tình. Ông ngả đầu, nhìn
sâu vào mắt cô độ lượng, buồn rầu cất tiếng:
- Đã có nhiều người đàn bà đến trước em, đó là một sự thật.
Chúng ta đừng chối bỏ sự thật, bởi vì chối bỏ nó là kẻ hèn yếu và dối trá. Những
người đàn bà ấy đã tự tìm đến anh. Có lẽ, nói điều ấy là khiếm nhã, nhưng xin
em thứ lỗi, trên đời có khá nhiều thứ đàn bà tầm thường. Có người, anh đã chấp
nhận họ vì lòng thương, vì buồn chán và thất vọng trong cuộc sống. Nhưng chỉ có
riêng em, em là tình yêu của anh, em là người đàn bà đầu tiên anh gọi tên, anh
tìm kiếm. Xin em hãy nhớ cho điều ấy, dù bao nhiêu biến cố sẽ tới, bao nhiêu trắc
trở sẽ xảy ra, anh vẫn chỉ nói một lời: em là người anh yêu, chính em...
Trần Phương ngừng lời. Linh vẫn ngồi im, mắt nhìn xa vắng, rầu
rĩ. Nhạc sĩ chợt hiểu rằng đôi mắt rầu rĩ kia đang che giấu những mặc cảm, và sự
toại nguyện mà ông tìm được mau lẹ lại trở thành nỗi dày vò khó nhọc của cô.
Ông kéo cô vào người mình vuốt ve mái tóc:
- Đừng buồn đi em. Con người bị trói buộc vì nhiều thứ xích
xiềng. Nhưng những xiềng xích ấy vô hình vô ảnh. Vi thế, cái khó nhất là ta cần
nhìn ra chúng phía sau phép tàng hình và phá bỏ đi tất thảy. Anh yêu em và em
yêu anh, đó là cái thực tế lớn nhất, là lẽ phải lớn nhât. Không có gì đáng kể,
ngoài điều ấy.
Linh im lặng buông một tiếng thở dài. Trần Phương thấy cô khẽ
rùng mình, nhắm mắt lại. "Cô bé vẫn còn day dứt, đau đớn... Tội nghiệp“.
Ông nghĩ, và lòng ông dâng lên niềm thương xót. Khoảnh khắc đó, ông hoàn toàn
coi cơnh một đứa bé yếu ớt, như con chim gãy cánh rớt xuống vườn cam thời thơ ấu
- hồi ấy, ông đã chăm chút con chim mãi. Một tuần sau, khinó chết, ông đem chôn
dưới gốc cam và khóc hết một buổi chiều...
Khi họ chia tay, mặt trời đã ngả sang khung trời phía Tây.
Cây lá phản quang, sáng loá. Dọc đường, thỉnh thoảng một chú bé lại chìa xâu cá
ra mời. Linh ghé qua chợ mua thức ăn, cô sự nhớ rằng thức ăn dự trữ trong nhà
đã gần hết. Còn thiếu lọ thuốc nhỏ mũi cho bé Hương Ly. Sáng nay, ông nội nó đã
lên đón cháu về chơi, dù con bé chưa hoàn toàn khỏi cúm. Khi Trần Phương đã rẽ
sang đường khác, Linh đạp xe tới Hàng Buồm, tìm mua một lọ thuốc nhỏ mũi của một
mụ phe béo ị.
- Chỉ một lần nhỏ là dứt ngay, chỉ một không tới hai, tôi bảo
đảm với mợ như vậy...
Mụ nói rẽ rọt, tay nhét tiền vào túi. Một ông già tóc bạc đứng
cách đó năm thước nhìn Linh. Khi cô dắt xe đi ngang, ông khẽ nói:
- Cô chớ nhỏ thứ nước ấy vào mũi mà thêm bệnh. Tôi không muốn
dây với bọn phe.
Linh dừng lại, nhìn kĩ mảnh nhãn dán trên lọ thuốc. Ông già
nói đúng, tất cả những dòng chữ in trên đó là thứ chữ khắc tay vụng dại. Cô ném
lọ thuốc giả xuống hè, bực bội, ân hận. Giá sáng nay cô ghé qua hiệu thuốc thì
chẳng đến nỗi... Người đàn bà hình dung thấy đôi mắt hạt nhãn của đứa con nhìn
cô như trách móc... "Mẹ ơi, sao mẹ đi chơi lâu thế?... Con muốn đi với mẹ
cơ, ở nhà ông bà lâu lắm rồi, con thèm mẹ lắm...“ Một màn sương mờ và tối
choàng lên mặt Linh. Cô vào tiệm bánh, mua tới tấp cả túi các loại bánh ngọt
cho bé Hương Ly. Sau đó, cô đạp xe về nhà, với ý định bỏ thức ăn và bánh trái
vào tủ lạnh rồi đến nhà bố mẹ chồng đón con bé. Mở cửa buồng, Linh đã thấy
Nguyên bế con đứng dưới ngọn đèn trần. Tóc anh ướt rượt, quần áo mới thay. Chắc
anh vừa tắm gội. Cả bé Hương Ly cũng đã thay quần áo khác. Thấy Linh, nó kêu
to:
- A... a... Mẹ đã về...
Tiếng kêu nhói lên trong người đàn bà như mũi kim đâm. Linh cố
đáp lời bình thản:
- Con đấy à, mẹ đi rửa mặt rồi mẹ vào bế con. Đừng, đừng ôm
hôn mẹ bây giờ, mặt mẹ còn nhiều mồ hôi, chua lắm...
Cô vội vã xếp đặt thức ăn, vào buồng tắm rửa mặt. Không phải
vì bụi đường hoặc mồ hôi mà vì nỗi hổ thẹn như thứ nhựa vô hình đang dính trên
gương mặt cô, vì xót xa đang dày vò trái tim cô. Người đàn bà thấy mình hèn mọn,
nhỏ bé ngay trước mặt đứa con mình. Trong buồng tắm, tiếng nước chảy ồn ĩ đã
khoả lấp tiếng khóc, những cơn nức nở bị ghìm nén. Rất lâu Linh mới bình tĩnh
được. Cô bước ra, nhưng đôi mắt đỏ hoe. Nguyên trao bé Hương Ly cho vợ, tránh
không nhìn vào mắt cô:
- Em chơi với con, anh nấu cơm cho.
Anh nói, giọng bình thản như thường lệ.
Linh đáp lại, yếu ớt:
- Không, lát nữa em sẽ nấu.
Ngoài bếp, nồi sườn ninh vẫn đang sôi, toả khói thơm vào cả
phòng. Nguyên lấy khoai tây, đem vào gọt. Một món tóc xoã xuống trán, anh giơ
tay vuốt ngược lên. Cử chỉ ấy chậm rãi, quen thuộc. Người đàn bà nhìn những
ngón tay mềm mại của chồng. Phía sau những ngón tay ấy là cánh đồng mua thu
vàng óng, những ngả đường mòn, khung trời bình yên trong vắt và nếp núi màu lam
in tới tận chân mây... Anh là tất cả cuộc đời êm ấm của cô. Sao bỗng dưng anh đẩy
cô vào vực thẳm chênh vênh này?... Hãy tha thứ cho anh và hãy quên đi...
Nhưng những nụ cười khinh mạn khác đã hiện ra trước mắt:
- Phải, anh ta là hình mẫu của loại người thành đạt. Một bộ
óc đủ thông minh để làm vừa lòng thượng cấp. Một tâm hồn vừa đủ nồng nhiệt để
ca mấy điệu cải lương.
- Tôi cho rằng Nguyên khá, vì anh đã tự tạo cho mình nghệ thuật
siêu đẳng của sự nhẫn nhịn. Cái vụ Thác bà ấy, cậu có nhớ không?... Chỉ có một
câu nói của Tổng biên tập là đủ dội tắt cả ngọn núi lửa căm tức đang cháy rừng
rực trong lòng…
- Vâng, tôi nhớ. Cả Nguyên, cả Trọng, cả anh và tôi. Chính
Nguyên là người tức giận nhất và đã rắp tâm làm cho ra nhẽ.
- Sự đời là thế… Không có cái lẽ phải và thứ lương tâm nào mạnh
hơn những quyền lợi của con người…
Không, không thể nào quên được. Giá như đột nhiên cô mắc bệnh
tâm thần và mất hoàn toàn trí nhớ. Giá có thứ thuốc thần kỳ nào đó chỉ lưu giữ
những ký ức tốt đẹp về tình yêu của họ mà xoá đi cả cái sự thực xót xa của thời
gian vừa rồi?... Nhưng Linh biết rằng những ý tưởng ấy chỉ là giấc mơ viển vông
ngắn ngủi. Trí nhớ của cô không dập xoá được, cô không thể cố gắng quên lãng và
trở lại yêu Nguyên. Không thể cố gắng, không thể tự thay đổi mình…
°
Khi Trần Phương về tới nhà, ông thấy cô Ngọc Minh đang đối
thoại với bà vợ. Cô tô son trát phấn khá nhiều, bận tấm áo đỏ thêu rồng trước
ngực. Chiếc quàn Jean nhung trắng bó chặt cặp đùi. Đôi guốc lênh khênh sơn nhũ
trắng. Cô kêu to:
- Anh Phương, chờ anh nửa giờ rồi đấy nhé.
Nhạc sĩ đáp:
- Xin lỗi, tôi bận chút việc.
Ông vào phòng thay áo để tránh cảm giác khó chịu và cáu kỉnh
rất vô lý. Ngọc Minh là một trong những người đàn bà nổi tiếng khắp thành phố
vì ưa thú phiêu lưu tình ái. Lúc nào cô cũng thích có nhiều đàn ông hầu hạ, dù
đó là mọt giáo sư già khú đế hay một thằng lõi con ngày ngày xếp hàng chờ đánh
vài séc bóng ở câu lạc bộ. Tình ái của cô không tuỳ thuộc nguyên tắc nào. Cô
tin rằng mình trẻ trung, tài ba, xinh đẹp. Chính niềm tự tin bất thường ấy khơi
gợi nỗi tò mò ở đàn ông. Giống loài cỏ dướn bập bềnh giữa dòng nước, làm dấy
lên một khúc mắc trong lòng họ: Cần phải lôi ra xem đó là thứ cây gì?... Trần
Phương không thiếu những người đàn bà xinh đẹp si mê. Vả chăng, đã quá từng trải
nên ông không còn tò mò như đám đàn ông khác. Nhưng ông muốn duy trì thêm một
trong số những người ngưỡng vọng mình. Vả chăng, hơn niềm vui thú ấy, cô là người
đang tranh đấu quyết liệt cho ông được trở lại cương vị cũ.
Nhạc sĩ cài khuy áo pijama, trở lại phòng khách. Ngọc Minh ngẩng
lên nhìn ông:
- Em vừa bàn với chị Hoa, về việc của anh.
"À ra thế…“ – Ông nghĩ – "Bà ấy có thể bình tĩnh tiếp
chuyện cô ta được“
- Mọi việc đúng nhe em dự đoán, mà còn có thể lạc quan hơn. Lẽ
ra, chiều nay anh phải ở nhà trổ tài nội trợ để phục vụ vợ và khách quý.
Bà ngoẹo cổ nói với cô phóng viên:
- Cả ngày hôm nay anh ấy bắt chị ăn xôi trắng với lạp xường.
Em xem có tệ không?
Trần Phương quay mặt đi để khỏi nhìn thấy nụ cười của vợ:
- Tôi làm sao mà biết được?
- Anh Phương này – cô Ngọc Minh sốt sắng nói - Những gì phải
làm cho anh em đã làm hết. Bây giờ, có một việc cần tới chính anh: ah có thể gặp
anh Lưu vào đầu tuần tới được không?
- Ai? Lưu hả?...
Nhạc sĩ hỏi với giọng khinh miệt. Đấy là anh chàng thư ký cho
vị lãnh đạo trước kia đã từng là bạn ông. Khi cả ông ta và ông đã là các cán bộ
đại đội, đeo súng ngắn ngang hông dẫn các đoàn văn nghệ xung kích lên tiền
duyên phục vụ mặt trận, thằng cha Lưu này còn là một cậu bé gầy guộc, ghẻ lở đầy
người, mũi rãi tanh lợm, suốt ngày quanh quẩn trong bếp cậy cháy và nướng sắn
ăn. Lưu là đứa con nhặt đợc của một chiến sĩ. Trong trận càn, bố mẹ nó chết hết
nên anh đưa nó đi theo. Dọc đường ra mặt trận, anh phải gửi cậu bé mồ côi vào
cơ quan tuyên huấn. May gặp chị cấp dưỡng goá bụa, Lưu được nhận làm con nuôi.
Cái thằng bé Lưu ấy giờ đây trở thành thư ký của vị lãnh đạo
vốn là bạn đồng nghiệp với ông. Nó cần nói chuyện với ông. Và ông phải lên gặp
mặt nó...
Cảm giác phẫn uất khiến nhạc sĩ nghẹn họng, mắt ông tối sầm.
"Đáng lẽ chính anh ta phải tiếp chuyện mình, thay vì cử thằng nhãi con lên
chiến khu chưa biết hết mặt chữ cái...“. Lòng ông đầy ứ căm tức, nhưng ông nhếch
môi cười:
- Cám ơn.
Cô phóng viên nhìn ông, gặng:
- Thế nào anh?
- Cảm ơn cô.
- Anh gặp Lưu nhé?
- Tôi sắp đi các tỉnh phía Nam
- Các tỉnh phía Nam đi lúc nào chẳng được - Vợ ông chen vào –
Anh làm mất công của cô Minh. Cô ấy lặn lội…
- Xin lỗi, tôi bận.
Trần Phương cắt ngang lời vợ với vẻ mặt lạnh lùng. Rồi ông đứng
lên, tìm cốc rót nướcl ạnh uống. Hai người đàn bà im lặng nhìn nhau. Cô phóng
viên rút trong sắc ra một gói hạt dưa, cắn tí tách. Vợ ông đến tủ chè, gắp mơ
ngâm từ lọ này sang lọ khác – cái công việc bà đã làm không mệt mỏi từ sảu bảy
năm nay. Uống nước xong, nhạc sĩ quay lại bàn ngồi. Cô phóng viên nhìn ông với
đôi mắt tô vẽ, đờ dại:
- Anh cứ gặp anh Lưu đi – Cô nài nỉ - Chỉ cần một buổi sáng
thôi, mọi việc sẽ tốt lành, em đảm bảo với anh là như thế. Ở đời, đôi khi người
ta cũng phải hạ mình một chút chứ! Em ngỡ rằng anh từng trải hơn em?...
Vợ ông cũng ngoái cổ lại, chêm vào:
- Làm sao có thể chọn tất cả những người cộng sự theo ý mình?
Hoạ chăng có là kén vợ, kén chồng.
Trần Phương cúi đầu, một ý nghĩ gầm thét trong óc não:
“Chính cô, cô là sự kén chọn tồi tệ nhất mà số phận đã gieo
xuống đầu tôi. Cô là sự nhầm lẫn kinh khủng nhất trong đời”
Bà Hoa không biết những ý nghĩ đang thầm lén nảy sinh dưới bộ
tóc đen như lông quạ của chồng, bà tiếp tục thuyết phục ông:
- Anh thiếu lòng kiên nhẫn. Trong nghề ngoại giao, kiên nhẫn
là đức tính số một. Không có điều kiện tiên quyết ấy không thể làm được việc
gì. Hãy nghe em, đi gặp cậu Lưu đi. Tuần sau, người khoẻ hơn em sẽ lên gặp chú.
Cô phóng viên chìa tay ra:
- Đấy, anh xem: lực lượng ủng hộ anh mạnh mẽ thế cơ mà… Đừng
cố chấp mà hỏng việc. Chỉ cần mềm dẻo chút xíu thôi, anh sẽ thắng.
- Cảm ơn cô, tôi bận.
Nhạc sĩ đáp, vẻ chán ngán lạnh lùng. Cô Ngọc Minh ngồi im lặng
vài phút nữa rồi cáo từ. Trần Phương đứng dậy, tiễn cô xuống cầu thang. Giữa những
bậc thang cót két, ông chợt thấy tim nhói lên đau đớn, nuối tiếc vật gì đó vừa
tuột khỏi tay. Một con cá tươi rói quẫy xuống ao, một bông hoa rớt xuống dưới
bánh xe, một cô gái đẹp bị tước đoạt... Cảm giác nuối tiếc xa xót tăng dần theo
mỗi bậc thang đi xuống. Trần Phương dường như nghẹt thở. Một làn gió thốc từ dưới
sân lên khiến ông rùng mình. Rồi ông chợt liên tưởng tới làn gió lạnh lẽo của
phương Bắc mùa đông. Mình già rồi chăng?... Ý tưởng ấy nảy sinh như tia chớp, rạch
nát cả bầu trời tâm tưởng. Và cùng với nó, niềm hối tiếc cuồng dại chồm lên như
ngựa trong ông, hí những tiếng dài man rợ. Không, con tuấn mã đời ông không thể
từ giã núi non sông hồ, đồng cỏ trong im lặng. Và ông không thể chìm trong bóng
tối của lãng quên nhẫn nhục như thế này. Một lần nữa, chiếc Moscovic trắng lại
lướt qua mắt ông. Gã lái xe mở sẵn cửa chờ. Bộ mặt gã khiến ông muốn điên lên: Nó
trơ trơ, ù lì không sắc thái...
Tới chân cầu thang, cô phóng viên chợt thấy bàn tay nhạc sĩ đặt
trên vai mình:
- Cô hãy thông báo cho cậu Lưu. Thứ ba, tôi sẽ lên.
Ngọc Minh ngoái lại nhìn ông, dường như ngờ vực. Khi đã hiểu,
cô chụp lấy hai bàn tay ông mà lắc:
- Có thế chứ, không lẽ anh lại làm em toi công.
Trần Phương cười khẽ nói:
- Tôi quý cô, cô Minh ạ...
Rồi ông đứng đó, chờ cô đẩy chiếc Honđa 50 khỏi sân, nổ máy.
Chiếc xe chở cô phóng viên cua nửa vòng tròn, rẽ ra đường. Trong nháy mắt, nó
hoà lẫn vào dòng người đông đúc của phố xá. Tối nay là tói chủ nhật... Ông nghĩ
vơ vẩn. Nhưng những ý nghĩ lông bông ấy không làm ông quên được nỗi hèn mọn vừa
nhen lên.
- Mình làm sao thế này?... Thật ngớ ngẩn... Cái thằng Lưu ấy
chỉ là một hòn sỏi dọc đường đi...
Nhưng ông vẫn bứt rứt, trạng thải của một khung trời chồng chất
mây dông mà chưa tới lúc đổ mưa....
°
Bà Tòng là nhân vật quan trọng số một trong khu nhà này. Chẳng
ai rõ bà ta từ đâu tới nhưng những chủ nhân đầu tiên của căn nhà này đều nói rằng
bà ta đã tới ở đây sau họ vài ba tuần.
Ngày giải phóng thủ đô, toà biệt thự bỏ không được chia cho
các cán bộ tiếp quản. Từ tháng đầu tiên, cô Tòng đã chiếm cứ căn phòng đầu hành
lang. Lúc đó cô Tòng đã ba mươi mốt tuổi, cao một mét sáu mươi lăm và nặng bảy
mươi ba cân. Hồi ấy, với chiều cao và sức nặng như thế, cô trở thành một con
quái vật trước mắt lũ thanh niên. Dù là thứ trai ngổ ngáo nhất hay loại đàn ông
dạn dày liều lĩnh nhất cũng phải đi qua mặt cô, len lét kinh sợ. Cô Tòng biết vậy,
nên cũng không hoài hơi làm duyên, làm dáng với ai.
Năm qua tháng lại, chẳng mấy chốc cô Tòng đã tới tuổi về hưu.
Cô vẫn khoẻ như vâm, nhưng ánh mắt trở nên đờ đẫn, hoang hoải. Bà Tòng mở hàng
bán dưa cà muối, tương ớt, dấm, xì dầu. Buổi tối, bà rủ đám con nít chơi bài. Nếu
thua, bà cho chúng vài hạt bỏng ngô, nếu thắng, à bắt chúng chơi nữa. Tuy
nhiên, người ta vẫn thấy phía sau người đàn bà hùng dũng hai tay xách hai xô nước
đi veo veo lên cầu thang kia ẩn náu một thứ cỏ yếu mềm, trơ trọi, một nỗi buồn
ngơ ngác như nỗi buồn của một con thú lẻ bầy trên sac mạc không hiểu mình sinh
ra trên cõi đời để làm gì?... Giáo sư Lê là người đầu tiên nhận thấy điều đó.
Ông bàn bạc với cán bộ khu phố, gợi ý mọi người bầu bà Tòng làm tổ phó phụ
trách vệ sinh lẫn an ninh. Mọi người tán thành. Từ đó bà Tòng trở thành một
nhân vật quyền thế số một của khu nhà. Bà phụ trách điện đóm, nước nôi, điều phối
người trực nhật, đứng lên quyên góp tiền sửa sang công trình vệ sinh chung khi
cần thiết… Mọi người càng ngày càng nể vì người công bộc sốt sắng hiếm có ấy.
Lâu dần, họ đâm sợ hãi bà, kể cả giáo sư Lê. Không ai dám từ chối, trì hoãn,
quên lãng việc trực nhật khi bà hộ pháp lừng lững tới trước cửa, chìa tấm bảng
ra:
- Hôm nay đến phiên anh chị làm vệ sinh rồi đấy.
Trong kiếp sống đơn côi của bà, bé Ly là kẻ duy nhất rót vào
tai bà những lời lẽ thơ ngây thỏ thẻ. Nó là kẻ duy nhất đưa bàn tay lên vuốt ve
đôi má dăn deo và cái đầu to kỳ dị của bà. Vợ chồng Nguyên thường gửi bé Hương
Ly cho bà trước khi họ đi làm. Cả hai người vẫn cố giữ một cuộc sống êm dịu với
các gia đình xung quanh. Tấm rèm xanh cẩm thạch lọc một thứ ánh sáng tươi mát.
Những bản nhạc du dương từ sau tấm rèm đó vọng ra. Và họ vẫn nói với nhau những
lời trân trọng, ngọt ngào…
Nhưng hôm đó, khoảng mười một giờ đêm, bà Tòng mắc màn ngủ.
Theo thói quen, bà tìm hai chùm chia khoá cùng chiếc bật lửa ga để dưới gối
phòng sự bất trắc. Lúc ấy bà mới nhớ rằng một chùm khoá đã đưa cho bé Hương Ly
chơi. Con bé hẳn đã bỏ vào túi quần và khi Nguyên tới đón nó, đã quên trả. Lập
tức, bà chạy tới cửa phòng Nguyên:
- Cộc cộc cộc… Mở cửa cho tôi nào.
Tay gõ, miệng gọi. Vợ chồng Nguyên cùng nhỏm dậy:
- Vâng, cháu ra ngay đây…
Linh ngủ dưới chiếu, ngay sát cửa nên cô chạy ra trước mở cửa.
Bà Tòng bước vào:
- Tìm cho tôi chùm chìa khoá. Chắc con bé bỏ trong túi.
- Vâng, bà chờ cháu một tí – Linh trả lời – Anh Nguyên, quần
áo con vừa thay anh để đâu?
Nguyên ngồi trên giường, giữa chăn nệm thênh thang:
- Hình như… hình như anh bỏ trong chậu tắm…
Đôi mắt tọc mạch của người đàn bà độc thân đã nhận ra ngay điều
đó. Bà liếc nhìn Nguyên và hỏi:
- Giường rộng thế sao không cho mẹ con nó ngủ chung?
- Dạ… dạ…
Nguyên bối rối, trong phút bất thần, anh không sao tìm được một
câu trả lời phù hợp tình thế. Bà Tòng tiếp tục:
- Trẻ con non nớt lắm, để ngủ dưới đất thế này nhiễm chứng
sưng phổi là mất cả một đống tièn đấy. Tôi báo cho anh biết…. Lúc đó, Linh đã
tìm được chùm khoá, trở lại phòng:
- Mẹ con cháu thích ngủ riêng cho dễ thở.
Cô đỡ lời chồng. Người đàn bà độc thân ném một tia nhìn mù mờ
về phía Linh và nói:
- Thích gì lạ thế cô?... Dễ người ta điên mà bỏ ra một đống
tiền đóng giường, đóng phản… Thôi, tôi về đây…
Bà cầm chùm khoá ra về. Khi tiếng chân thình thịch xa dần rồi
tắt hẳn trên hành lang. Nguyên và Linh mới dám nằm xuống. Họ không ngủ được. Mỗi
người theo đuổi một ý nghĩ nhưng cả hai đều hiểu rằng họ sẽ không còn duy trì
được cảnh sống vừa qua.
Đúng thế. Sáng hôm sau, bà Tòng bắt đầu mở cuộc điều tra qua
bé Hương Ly:
- Sao cháu không ngủ trên giường với bố?
- Mẹ Linh cấm.
- Tại sao mẹ cấm?
- Cháu không biết.
- Mẹ nói gì?... Nhớ lại đi rồi bà mua cho thật nhiều bỏng.
- Mẹ bảo: Muốn ngủ với mẹ thì ngủ dưới chiếu này.
- Còn gì nữa?
- Rồi mẹ khóc.
- Khóc à?...
Bà Tòng nghĩ: Chắc chắn có chuyện. Thế mà họ kín thật. Nhưng
cái kim trong bọc sẽ có ngày lòi ra. Một niềm háo hức không cắt nghĩa được khiến
người đàn bà độc trở nên lanh lẹn và tinh quái. Bà quyết khám phá cho được sự
bí mật. Nghĩ đi, nghĩ lại hai hôm, bà tự nhủ:
“Trăm sự trong nhà do đàn bà mà ra cả. Ta xộc tới trường cô ả
có khi tìm ra ngay cái tổ con chuồn chuồn…”
Sáng thứ hai, bà mặc bộ quần áo chỉnh tề nhất: Quần sa tanh
đen vưói áo vét khuy bọc vải, cổ cán nhạn lai. Chiếc quần rộng bằng chất lụa mềm
trơn và óng khiến bà giống đàn bà hơn chút ít. Nó che giấu cái vóc dáng đàn ông
và cặp đùi hộ pháp rắn như sành. Bà búi tóc cẩn thận và đeo cặp kính lão chỉ
dùng khi tính toán tiền nong, sổ sách. Xong, bà gọi xích lô, chễm chệ ngồi đi
thẳng tới trường.
“Bà Tòng đi đâu mà oách thế nhỉ?...”
Dân trong khu nhà thì thào hỏi nhau, nhưng không ai trả lời
được.
Chiếc xe tiến thẳng tới trường phổ thông X, nơi Linh dạy. Vì
hôm đó là sáng thứ hai nên tiết học đầu tiên các giáo viên phụ trách lớp cùng học
sinh lên hội trường chào cờ, nghe hiệu trưởng tổng kết tình hình tuần qua và nhắc
nhở những việc cần chú ý vào tuần tới. Chiếc xích lô chở bà Tòng đỗ trước cổng
trường. Bà Tòng bước thẳng vào phòng thường trực:
- Đồng chí cho tôi gặp hiệu trưởng.
Bà nói với người gác cổng bằng một giọng oai nghiê như chủ tịch
quận nói với các cơ quan phụ thuộc.
Ông già gác trường vốn là người hiền lành, suốt đời chăm sóc
vườn ươm cây cảnh cho Sở công viên thành phố vừa được về hưu và nhận chân thường
trực ăn lương hợp đồng. Thấy một bà cao lớn, lừng lững như cái núi tiến đến,
nói giọng vịt đực khàn khàn, và liếc nhìn mình qua gọng kính trắng, ông hoảng
lên. Đoán chắc rằng trường vừa xảy ra một việc gì đó quan trọng lắm, và đây là
nhân vật có quyền thế từ cấp trên cử xuống làm việc nên ông vội vã kéo ghế ngồi:
- Xin bà ngồi chơi ạ. Tôi sẽ đi gọi cô hiệu trưởng.
Bà Tòng ngồi xuống ghế, bắt chéo hai chân lại, và lập tức
nghĩ rằng chính bà là một nhân vật quan trọng, đang làm một công việc quan trọng
mà bà chưa làm được hết. Lúc đó ông già gác trường đang băn khoăn, đang giờ
chào cờ, không lẽ vào gọi cô hiệu trưởng?... Ông xúc ấm, pha bình trà mới, tìm
kế hoãn binh:
- Mời bà xơi nước.
Bà Tòng hài lòng: ông già bưng tách nước bằng cả hai tay, cẩn
trọng đặt trước mặt bà. Xưa nay, chưa ai mời nước bà bằng cái vẻ cung kính như
thế.
- Dạ, bà chờ cho ít phút thì quý hoá quá…
Ông già gác trường gãi tai:
- Trường chúng tôi đang giờ chào cờ. Cô hiệu trưởng bận.
- Được, tôi chờ được.
Bà Tòng đáp.
- Xin bà thông cảm.
Ông gác trường mừng rỡ nói thếm.
- Được, tôi thông cảm.
Bà Tòng bưng chén nước lên uống, đầu gật gù. Rồi, ngả người
ra phía sau, chờ đợi. Ông già đi lại, thắc thỏm xem đồng hồ.
- May quá, hết giờ chào cờ. Mời bà ngồi chơi để tôi đánh trống
rồi đi mời cô hiệu trưởng.
Ông hối hả đi ra. Tiếng trống vang lên. Lát sau, ông quay lại
với nụ cười vồn vã:
- Mời bà ạ, cô hiệu trưởng mời bà lên văn phòng.
Bà Tòng đứng dậy, đi theo ông. Họ qua mảnh sân rộng, nơi lũ học
trò nghịch ngợm, hò hét như bầy quỷ sứ. Sau đó, ông gác trường đưa bà qua thang
gác lên tầng hai:
- Ngay phòng đầu, xin mời bà vào.
Ông nói, rồi quay xuống ngay. Bà Tòng sững lại một giây, rồi
bước đi với dáng tự tin, hùng dũng thường ngày. Cánh cửa phòng mở rộng, hắt
sáng loang loáng. Một thiếu phụ ngồi phía sau bàn làm việc đứng lên.
- Chào bà.
Chị nói, miệng nở nụ cười khiêm nhường.
- Chào cô.
Bà Tòng gật đầu chững chạc. Rồi không đợi mời, bà ngồi xuống
ghế:
- Tôi công tác chính quyền.
Bà từ giới thiệu:
- Tôi tới đây vì chuyện gia đình cô Linh.
Nét mặt chị hiệu trưởng hiện lên vẻ bối rối. Người đàn bà độc
thân thấy ngay điều ấy: Chắc chắn cô ả có chuyện rồi. Họ định bao che cho nhau.
Trong đáy mắt bà chợt loé lên những tia sáng tinh ranh:
- Tôi biết cô cũng nghĩ như chúng tôi: Mọi người đều có nhiệm
vụ giữ gìn phẩm chất cho các cán bộ cách mạng.
- Vâng.
Chị hiệu trưởng đáp một cách máy móc. Bà Tòng nhìn chị chằm
chằm và nói thêm:
- Gia đình cô Linh có những hiện tượng chính quyền phải quan
tâm. Tôi đề nghị cô cho biết ý kiến?
Những lời lẽ cứng rắn của bà Tòng khiến chị hiệu trưởng hoang
mang: Chị đã từng tiếp xúc với những người đàn bà giống như bà: Những người đàn
bà có một lô kẹp sáng loáng trên đầu, mở miệng là nói chuyện chính trị hoặc đạo
đức, luôn luôn muốn rèn giũa, giáo dục người khác. Kinh nghiệm cho chị thấy đám
đàn bà này thiếu tri thức nhưng lại thừa lòng ham muốn uy quyền. Khi định làm
điều gì đó họ sẽ làm điều đó cho được, dù phải dùng những biện pháp phi lý và sự
tàn nhẫn. Chống lại họ tức là húc đầu vào đá.
Kim Anh yêu Linh, Linh trung thực, cô bộc cộ cả những yêu điểm
lẫn những khiếm khuyết của bản thân hồn nhiên tới mức không một bạn đồng nghiệp
nào nỡ hằn thù, đố kị. Mặc dù cô là giáo viên dạy văn nổi tiếng toàn khu vực, từ
tay cô rất nhiều học sinh giỏi đã đoạt về cho trường những giải thưởng của
thành phố và toàn quốc. Sự trục trặc giữa vợ chồng cô, và mối tình giữa cô với
nhạc sĩ danh tiếng Trần Phương, mọi người đều biết. Có người khuyên giải cô
bóng gió, có người im lặng một cách thận trọng, nhưng không ai nỡ bêu riếu hoặc
xỉ mắng Linh. Người ta không thể hiểu nguyên do nhưng họ tin rằng mọi hành động
cũng như lầm lỗi của cô không bao giờ bắt nguồn từ những dục vọng tăm tối...
Tuy nhiên lúc này, trước những lời lẽ gang sắt của một người
đàn bà chưa hề quen biết, Kim Anh bối rối.
- Thưa bà, bà muốn yêu cầu chúng tôi điều gì?...
Kim Anh vừa hỏi vừa nghĩ cách đối phó.
- Muốn các đồng chí tìm hiểu rõ sự thật để giúp đỡ cô Linh.
Kim Anh di ngòi bút trên trang giấy. Chị chợt nghĩ: Bà ta là
ai nhỉ? Bà ta có chức trách gì? Và cớ sao mình lại phải thoả mãn những đề nghị
đó?... Nhưng nhìn đôi mắt gườm gườm của mụ sau cặp kính, chị lại không cất được
lời. Nghĩ một lát, chị đáp:
- Chúng tôi biết gia đình anh chị Nguyên có mắc mớ nhưng chưa
rõ nguyên nhân nên chưa thể kết luận. Theo tôi, còn phải có thời gian theo dõi.
Nói xong, chị thấy đó là cách trả lời khôn ngoan nhất. Chị
nói thêm, nhấn từng chữ:
- Trách nhiệm với sự hiểu biết chỉ cho phép tôi nói với bà
như thế thôi.
Bà Tòng ngồi vài giây, im lặng nhìn cô hiệu trưởng. Sau đó,
bà đứng lên, buông thõng một tiếng:
- Được rồi.
Đoạn, không cần chào cô hiệu trưởng, bà quay đi.
Tối hôm ấy, sau khi ăn xơm xong, bà tới gõ cửa phòng vợ chồng
Nguyên:
- Cho tôi vào nào.
Nguyên và Linh vừa ăn cơm xong, chưa kịp dọn bát đũa. Họ vừa
hối hả thu vén, vừa pha nước. Bà Tòng cất tiếng hỏi:
- Con bé đâu rồi.
- Cháu xuống ông bà ngoại.
Nguyên đáp.
- Ờ… ờ… ông bà ngoại nó ở đâu nhỉ? Lâu nay tôi không hỏi.
- Ông bà ngoại mất từ khi mẹ cháu còn nhỏ. Nhưng ông bà trẻ ở
dưới chèm.
- Ờ…
Bà Tòng gật gù, đặt hai tay lên bàn. Vài giây sau, bà bất chợt
chuyển giọng:
- Anh Nguyên, chị Linh này, tôi có chuyện muốn nói với anh chị.
Nguyên đang lúi húi rót nước. Linh rửa tay ngoài phòng tắm. Họ
bắt đầu khó chịu vì cái giọng quyền uy của người hàng xóm nhưng vẫn tới bàn ngồi.
- Gia đình anh chị đang có chuyện bất hoà. Khu nhà này xưa
nay là khu nhà kiểu mẫu trong khối phố, được nêu gương gia đình văn hoá mới và
nhận cờ luân lưu của Uỷ ban thành phố tặng. Việc xảy ra trong gia đình anh chị
nhất định rồi sẽ ảnh hưởng tới thành tích chung. Vì thế, tôi muốn anh chị
nghiêm khắc đấu tranh với những sai lầm của nhau để…
Khi bà Tòng bắt đầu nói, Nguyên chăm chú nhìn vào bộ mặt rắn
như đá của bà. Nhưng lúc đã hiệu mọi chuyện, mắt anh bỗng dưng vằn lên. Một nỗi
tức giận không cắt nghĩa được ập tới, Nguyên không giữ được sự bình tĩnh vốn có
ngày thường, anh đứng phắt dậy, phác một cử chỉ mạnh để cắt ngang lời người
hàng xóm:
- Không có chuyện gì xảy ra trong gia đình chúng cả. Và không
có ai có quyền yêu cầu chúng tôi điều gì hết.
Bà Tòng ngồi lặng. Bà không tìm được phản ứng. Chóp mũi sưng
tía lên, người đàn bà ưa quyền uy cảm thấy uất ức vì sự bất lực của mình, vì
lòng từ ái được ve vuốt lâu nay bị xúc phạm và cả vì nỗi hoảng sợ trước một sức
mạnh mà bà không thể khuất phục.
- Tôi… tôi làm mọi việc vì lợi ích chung…
Sau một lát lúng túng, bà cất tiếng nói lắp bắp và đứng lên,
Nguyên cũng đứng lên chờ đợi người hàng xóm ra về, mắt anh lạnh như nước đá. Bà
Tòng ra khỏi phòng, nện những bước chân vĩ đại trong hành lang. Những âm thanh
nhỏ dần, ròi tắt hẳn sau tiếng sập cửa.
Căn phòng trở lại yên tĩnh. Nguyên quay lại, những thớ thịt
hai bên gò má run run:
- Thế nào, cô đã sung sướng chưa?
Người đàn bà im lặng nhìn chồng.
- Thế nào?
Nguyên nhắc lại, giọng đay nghiến. Anh nhìn vợ vừa đớn đau, vừa
hờn tủi và xa xót. Và phía sau tất thảy những tình cảm đó là lòng ước muốn âm
thầm: Hãy trở lại với anh, anh tha thứ và chờ đón em bất cứ lúc nào. Đối với em
- cuộc đời còn dông gió nhiều lắm – đưng phiêu lưu nữa, hãy trở về mái nhà ấm
áp của chúng mình…
Giá như Linh có thể đọc được những ý nghĩ của chồng. Nhưng cô
đã trân trân nhìn lại anh, không run rẩy, khôg bối rối, không chút mặc cảm tội
lỗi. Đôi mắt nâu lộng lẫy của cố gắng chói lên, hằn học và khinh bỉ. Nguyên bị
gắn chặt vào đôi mắt ấy, anh thấy rõ từng cái rung động khe khẽ của làn mi. Anh
thấy cặp má mịn màng với vài nốt tàn nhang li ti, món tóc bên tai trái và mụn
ruồi nơi chân tóc… Những hình ảnh quen thân ấy khua động tình yêu bị vùi lấp ở
trong anh - một tình yêu cuồng si cả ức não cùng thân xác. Tình yêu ấy của một
chàng trai hai mươi, của một người đàn ông từng trải và dạn dầy nhẫn nhịn, của
cả một ông già sáu mươi tám tuổi mai sau - người đã mất hết mọi dục vọng lẫn những
khả năng tìm đến dục vọng. Cái tình yêu đa diện ấy gào thét trong anh, sau ột
quãng thời gian trống vắng, sau nhiều đêm hy vọng mỏi mòn, sau nhiều ngày chờ đợi…
- Tôi căm thù cô.
Anh gầm lên trong cổ họng. Rồi ghé sát miệng vào tai Linh,
anh trút những lời độc địa:
- Nếu tôi lấy một người đàn bà khác, tôi sẽ hạnh phúc bao
nhiêu?
Giây phút ấy, hình ảnh người đàn bà chèo đò dọc sông Thương
hiện lên trong trí não anh, với tiếng mái chèo nhẫn nại quạt nước, với dáng vẻ
và những lời lẽ khiêm nhường…)
- Nếu tôi lấy một người đàn bà khác…
Nguyên nhắc lại, gần như nghẹn ngào:
- Người ta cần gì ở tôi cơ chứ?... Tôi có phải là một người
chồng chung thuỷ không? Tôi có gánh vác gia đình và làm tròn mọi bổn phận
không? Tôi có biết tu thân, sống nghiêm chỉnh và cư xử tử tế với những người
xung quanh không?... Cô còn muốn những gì?
Linh hất tóc, cô giận dữ đẩy Nguyên ra và đáp lại với anh một
giọng không kém phần tàn nhẫn:
- Anh là một kẻ dối trá. Kẻ dối tra có ý thức và vì lợi ích
cá nhân còn đáng khinh bỉ một trăm lần hơn những người nói dối vì mắc thói
huênh hoang hay sĩ diện. Anh có thể lấy bất cứ người đàn bà nào thích hợp với
anh. Tôi không hề có ý định cản trở.
Cô mở ngăn kéo, lấy tờ giấy trứng, cây bút bi:
- Kết cục ắt hẳn sẽ như thế này. Tôi chưa hề dối anh điều gì
cả. Tôi đã nói từ lâu rằng tôi không còn yêu anh nữa và không muốn sống ở đây.
Nhưng chính anh cầu xin tôi ở lại...
Cô đặt bút viết rất nhanh dòng chữ: Đơn xin ly hôn...
Nguyên đứng lặng đi. Cơn điên giận đã rút xuống như thuỷ triều
buổi sớm. Anh nhìn dòng chữ nghiêng trên tờ giấy trắng, lòng giá lạnh. Và ngay
tức khắc anh nhìn thấy cảnh hai bố con côi cút sống trong căn phòng thênh thang
này, nơi mỗi viên gạch men xanh hoặc men trắng đều nhắc nhở đến bàn chân Linh,
đến màu quần cô mặc, mỗi chiếc đinh đóng trên tường đều gợi lại từng kiểu mũ
cói cô thường đội, một chiếc ghế tựa cũng sẽ khiến anh nhớ lại chiếc áo rét có
đai rộng kèm theo hai dãy khuy trước ngực hoặc chiếc blouson màu mận chín, khu
trắng óng ánh như ngọc tria. Rồi những bữa cơm buồn tẻ, vội vã. Rồi những ngày
chủ nhật dằng dặc trôi qua... Có ghĩa gì một cuộc đời như thế. Có nghĩa gì chuỗi
ngày đơn điệu, chán ngắt, những cuộc giao tiếp mệt mỏi... Nếu không có cô, ánh
đèn xanh lọc qua tấm rèm kia sẽ chẳng còn chút quyến rũ nào với anh sau những
chuyến đi. Nếu không có cô, hay nói đúng hơn là hy vọng vãn hồi tình yêu của
cô, sẽ chẳng còn gì thúc đẩy anh khi mỏi mệt, chẳng còn gì tựa đỡ khi anh loạng
choạng trên những con dốc trơn trượt của cuộc đời. Xét cho cùng, Linh vẫn cứ là
cái phần tốt đẹp nhất mà anh hình dung được, cái điểm lấp lánh mà người ta
không ngừng ngưỡng vọng vì nếu mất nó - tất cả sẽ còn là màn sương huyễn hoặc
thả khói mù xuống cánh đồng mỗi ban mai. Anh hiểu hơn ai hết, cái chất pha lê
đã cấu tạo nên tâm hồn người đàn bà đó. Anh cũng hiểu rằng cô say mê Trần
Phương cũng vì muốn tìm kiếm những khát vọng tinh thần... “Nhưng em sẽ thất vọng
thôi, cô bé thơ ngây và tàn nhẫn ạ... Giá mà em được nghe những chuyện cô Phượng
đã nói với anh. Giá mà em...” Nguyên thầm nói. Trong khi Linh viết hết dòng này
tới dòng kia. Trang giấy đã gần kín hết chữ. Tay Linh không hề run rẩy, cô đẩy
những nét bút như người xới cỏ dại trong vườn. Nhưng khi hết trang giấy, cô bỗng
ngước mắt lên. Và anh thấy đôi mắt cô đầy nước. Người đàn ông lại nhìn thấy cơn
đau nhói lên, như lưỡi dao đâm từ cuống phổi xuống tận mạn sườn. Nỗi đau nhục
thể ấy làm anh ứa nước mắt:
- Đừng viết nữa đi em.
Anh kêu gọi, nắm tay cô lại. Linh ném cây bút xuống bàn, gục
đầu khóc. Nguyên ngồi xuống bên vợ, lặng lẽ khóc theo. Nước mắt lặng lẽ tràn
vào khoé miẹng anh, mặn như muối. Trong khoảng thời gian ấy, những tiếng động
phố xá ùa vào căn phòng. Tiếng lũ trẻ cười cợt, tán róc và văng tục. Tiếng gõ
túc tắc của hàng quà rong đêm, tiếng rì rào của những vòm cây đang thời xanh
lá... Những âm thanh dịu dàng, mời mọc con người yêu thương nhau, tha thứ cho
nhau và khơi gọi quãng đời yên ấm. Những âm thanh xui khiến một người đàn bà
tìm lại những kỷ niệm thời con gái và khiến cho những kẻ sắt đá cũng mềm lòng.
Nguyên gục đầu xuống vai Linh, nước mắt anh thấm vào áo cô ướt lạnh:
- Ở lại với anh.
Người đàn bà nức nở. Nhưng hồi lâu, cô đứng lên rút khăn lau
nước mắt:
- Em phải đi.
- Đừng.
- Tình thế này em phải đi thôi... Mà rốt cuộc, kết cục sẽ phải
như thế.
Nguyên nắm chặt tay vợ. Cô nhìn thẳng vào mắt chồng. Từ ngày
tình yêu mất đi, đấy là lần đầu tiên cô nhìn vào mắt anh với vẻ bình thản lạ
lùng như thế: Không hờn oán, không thù ghét, không khinh khi, chỉ có một nỗi buồn
mênh mông và trong đó người ta thấy rõ một thành trì đã đổ vỡ, đã tàn lụi,
khôgn còn xây lại được...
- Thôi, để cho em đi.
Cô nhắc lại, khẽ khàng rút tay khỏi bàn tay Nguyên.
- Mặc kệ thiên hạ, ở lại đây với con.
- Em thương con, nhưng em cũng không thể chịu đựng một cảnh sống
giả trá, để người ngoài khinh khi, dị nghị.
Im lặng, Nguyên không đáp. Linh nhắc chồng:
- Anh ký vào đơn cho em.
- Không.
Nguyên đột ngột gầm lên trong họng. Mặt anh trở nên hung dữ,
cau có:
- Anh không phải là một người ưa phiêu lưu tình ái. Anh không
thể mất em.
- Nhưng em không thể yêu được một người đàn ông em không còn
kính trọng.
Nguyên ngẩng đầu lên:
- Thế em tìm thấy những gì đáng kính trọng ở cái ông nhạc sĩ
hơn em hai mươi bốn tuổi đời?
Linh quắc mắt lên. Giống như con gà mẹ xù lông ra bảo vệ bầy
con, cô lồng lên để bảo vệ người tình của mình:
- Anh không có quyền đụng tới ông ấy. Ông ta không phải thứ
người bán rẻ lương tri và phẩm cách vì niêu cơm của mình như anh và các đồng
nghiệp của anh.
Nguyên bỗng nhăn nhở cười:
- Đúng rồi, tát cả mọi người đều không thể so sánh với vị
thánh, với vị anh hùng trong tim em, phải không?
Anh nói như một tay kép cải lương đọc vở. Linh nhìn trừng trừng
vào anh, gần như hét lên:
- Ganh ghét là thói đê tiện nhất của con người.
Nguyên nhìn gương mặt rừng rực căm uất của vợ, anh thấy cô
còn nguyên vẹn cái vẻ nồng nhiệt của một thiếu niên mười sáu và bởi thế, vẻ đẹp
của cô càng mãnh liệt hơn. Anh thôi cười nhạo báng, hạ giọng:
- Linh, anh xin em. Đừng ảo tưởng vào bất cứ thần tượng nào.
Anh là đàn ông và anh hiểu tim đen của tất cả những gã đàn ông.
Những lời lẽ nhiệt tình của anh khôg còn mảy may giá trị nào
vào lúc đó. Ngược lại, nó nhấn anh thêm lần nữa vào vũng lầy của sự khinh ghét
trong Linh. Cô nhếch mép cười:
- Anh hèn lắm.
Nguyên đau, nhưng anh cố nói thêm câu nữa:
- Thế hình ảnh đích thực của ông nhạc sĩ ấy là gì?
Linh nhìn thẳng vào mắt chồng, ngạo nghễ và kiêu hãnh buông từng
tiếng một:
- Ông ấy là một kẻ sĩ của thời nay.
- Ha ha ha…
Nguyên bật cười. Và chợt nhớ rằng âm thanh ấy khiến người
xung quanh dị nghị, anh đưa tay lên che miệng. Gương mặt anh chìm vào bóng tối.
Trong lúc những tia lửa của lòng căm giận, của nỗi cay đắng không thể xoa dịu
và cứu gỡ, của tình yêu bị chà xát và dồn nén bùng lên trong đáy mắt.
Lẽ ra, Linh phải tìm hiểu nguyên nhân do tiếng cười ấy, phải
ngờ vực trước những hành động dị thường ở một người đàn ông vốn trầm tĩnh như
Nguyên... Nhưng cô đang yêu, đang mù loà và bất công tột độ vứoi anh. Bởi thế,
tiếng cười của anh chỉ gây cho cô một phản ứng tồi tệ, giơ tay lên, cô phác một
cử chỉ khinh miệt và nói:
- Thằng điên.
Rồi xếp quần áo vào valy, cô đi ngay. Lúc ấy, đồng hồ chỉ mười
một giờ ba mươi lăm phút.
Nguyên nghe tiếng chân Linh tắt dần ngoài cầu thang. Cái tiếng
động tiêng biệt từ nhiều năm đã in vào trí nhớ thính giác anh, cái phần nhỏ
không thiếu được để tạo nên cuộc đời. Người đàn ông đốt một điếu thuốc hút. Thuốc
cũng đắng ngắt. Vô nghĩa quá... Anh đi lòng vòng quanh phòng và cuối cùng, lại
ngồi xuống chiếc ghế còn ấm. Nước mắt tràn qua mi, lặng lẽ lăn qua đôi gò má,
nguôi dần rồi bò xuống cằm... Tại sao Linh tàn nhẫn thế với anh? Kẻ cuồng tín
bao giờ cũng độc ác và tàn nhẫn. Linh đã dựngl ên một thần tượng trong anh và
cô chỉ yêu thần tượng ấy thôi. Khi họ yêu nhau, cô hay mặc chiếc sơ mi lụa trắng,
cổ lá sen tròn có đính nơ. Mắt cô ngước nhìn anh giống như mắt nằng Têrễa hay
Anna xứ đạo ngước nhìn cha bề trên. Lúc phát hiện những khiếm khuyết trong anh,
cái thần tượng rơi xuống sàn xi măng vỡ tan và cô đã quay lưng đi không cần suy
nghĩ... “Có lẽ, yêu một người đàn bà như cô là tai hoạ. Có lẽ, cô không có những
khả năng cần thiết để đem tới hạnh phúc cho một người đàn ông bình thường và sự
chia rẽ hôm nay là tất yếu...” Nguyên nghĩ... Nhưng chính trong lúc ấy, anh thấy
đôi mắt nâu long lanh của cô. Anh biết rằng Linh đã và sẽ không bao giờ phạm phải
những thói tật mà những người đàn bà khác thường mắc: Cô chưa bao giờ sử dụng
nhan sắc để vụ lợi, cô không biết gian dối, vụng trộm, không biết che giấu bất
cứ khuyết tật nào, không biết đóng bất cứ một thứ trò gì để đạt tới mục đích -
thứ tính khả ố nhất trong các tính xấu của đàn bà... Điều khủng khiếp nhất là
anh vẫn yêu cô. Nói đúng hơn, yêu dữ dằn tha thiết hơn, như nhân loại yêu mặt
trời trong những ngày gió bão.
Nguyên tì cằm vào lòng bàn tay. Anh thương tân. Hồi nhỏ, anh
là một chú bé nhút nhát, yếu đuối. Trên anh, có hai người anh trai và dưới anh
có hai cô em gái. Anh không phải là đứa con lớn để bố mẹ nể vì, tin cậy cũng
không phải là đứa con nhỏ để được hưởng sự chiều chuộng trong gia đình. Anh là
con số trung bình trong cái cộng đồng bé nhỏ ấy. Mỗi lần được chia quà, anh thường
nhấm nháp dè sẻn. Bao giờ, anh cũng là đứa cuối cùng còn lại miếng bánh đa, vài
cái kẹo đã bắt đầu chảy trog lòng tay hoặc nắm lạc luộc. Lúc ấy, hai ông anh
trai vừa tới gạ ăn vừa giơ quả đấm. Nếu không, cô em út gào lên đòi. Và mẹ anh,
bù đầu vì trăm thứ việc, liền quát:
- Thôi, nhường cho nó...
Cái mặc cảm về sự thiệt thòi ấy theo đuổi Nguyên từ bóng tối
xa xăm của thời thơ ấu, khi mọi ý nghĩ chưa hình thành. Trở thành một chàng
trai, anh đã chiến thắng nó bằng nghị lực của chính anh. Những thành công sớm tới
trên đường danh vọng đã xoá đi, suốt một thời gian dài, hình ảnh chú bé lên năm
bị tước đoạt quyền lợi đứng dưới gốc ổi cằn mà khóc. Những dòng nước mắt tuổi
thơ bao giờ cũng nóng và mặn hơn thứ nước mắt kẻ đã thành niên. Nó để lại trong
trí nhớ ta những xót xa. Giờ đây, nỗi xót xa ấy trở lại với anh. Nguyên lại thấy
mình là đứa bé trơ trọi, bị cướp đi miếng bánh trên tay, bị bỏ rơi giữa bốn bức
tường lạnh lẽo này... Và rồi, anh bỗng dây lên một ước muốn điên cuồng: Anh muốn
được trở thành đứa bé chập chững men theo thành giường. Lúc đó, mẹ sẽ yêu
thương, bù trì cho anh nhiều nhất. Bà sẽ dành cho anh lời hát ru chứ không phải
những cái gắt gỏng, bà sẽ ve vuốt, sẽ hôn hít mái tóc anh, sờ nắn không chán cặp
chân anh mỗi lần anh vấp ngã và bồng bế giờ lâu lúc anh nhíp mát lại vì buồn ngủ.
Cái ảo giác thắm thiết, dịu dàng đó lôi cuốn người đàn ông. Anh vùng đứng dậy,
lấy xe đạp, ra hành lang. Sau khi khoá cửa, anh đạp xe tới nhà bố mẹ đẻ.
Nhà Nguyên ở ngoại ô, phải hơn một giờ sau anh mới tới. Các cụ
đã đi ngủ, lại lục tục trở dậy bạt đèn, đun nước pha trà uống. Tuy năm đứa con,
lúc về già cũng chỉ hai ông bà sống với nhau. Các con đều đã có gia đình riêng,
ở cách nhau vài ba trăm cây số. Cuối cùng, chỉ còn Nguyên ở lại Hà nội và bé
hương Ly là đứa cháu gần gũi nhất với ông bà.
- Hương Ly ngủ say lâu rồi, con đã ăn cơm chưa?
Bà mẹ nhìn đôi mắt thâm quầng của con trai, và cất tiếng nói.
- Con ăn no rồi mẹ ạ
Nguyên đáp, giọng khàn khàn. Lúc đạp xe tới đây anh nghĩ rằng
anh sẽ nhào vào lòng mẹ, sẽ gục đầu lên vai bà, sẽ nức nở nói với bà những thua
thiệt đớn đau anh phải gánh... Nhưng bây giờ, anh hiểu rằng anh không thể làm
như thế. Một sức mạnh vô hình nào đó ngăn trở anh. Cái sức mạnh vô lý của thói
quen, của sự xơ cứng những cảm xúc mà người ta đã nhiễm phải từ khi từ giã tuổi
thơ.
- Vào nhà đi con, rồi mẹ lấy hồng xiêm cho mà ăn. Dạo này,
sao mày hốc hác thế?...
Không sự trớ trêu nào hơn một đứa con thèm muốn ngả đầu vào
lòng mẹ mà không dám thực hiện. Nguyên cứ đứng đờ dại trước khuôn cửa, nhìn mẹ
xăng xái pha nước, gọt hồng xiêm cho anh. Và lúc đó anh mới thực sự hiểu rằng nỗi
tiếc nuối tuổi thơ thật xa xót và da diết. Tuổi thơ của con người cũng giống
như tình yêu của họ. Nó là lâu đài bằng pha lê, khi đã vỡ không bao giờ còn hàn
chắp được.
Mặt trời giống như quả cầu bạc treo lơ lửng giữa đường rèm
xanh của núi non với những đám mây. Vào dịp này, những đám mây trắng tuyệt đẹp
thường lững thẵng trôi qua không gian, để cánh chim bay trở nên huyền ảo và
trái tim con người trở nên xa vắng. Gió dường như nặng hơn, ấm mùi vị phù sa.
Trần Phương ngắm nhìn khung cảnh quen thuộc, vui vẻ và trống rỗng. Ông không
nghĩ gì hết. Cảm giác ngọt ngào làm tràn đầy tâm hồn ông. Cầm bàn tay người
yêu, ông nói:
- Gia đình anh là địa ngục. Chỉ những phút gần gũi em anh mới
được sống cuộc sống thực sự của con người.
Linh im lặng.
Nhạc sĩ ve vuốt những ngón tay khác.
Những chiếc móng được tỉa tót, hình hạnh nhân hoặc hình trái
đào, sơn hồng hoặc sơn nhũ đỏ, tím sen hay da cam?... Linh không giống bọn họ.
Cô không hề có ý thức vè sức mạnh đàn bà của bản thân, cô không mài giũa nó như
thợ kim khí chuốt nhọn lưỡi dao để hạ địch thủ ngay từ phút đầu tiên. Những ảnh
hình của họ xoá nhoà bởi gương mặt xinh đẹp tươi mát của Linh. Cô là sứ giả của
những vườn hoa cam thời trai trẻ, ngọn gió trong lanh chưa nhuốm những hằn thù,
thất vọng và chua cay.
- Anh muốn viết một bản nhạc tặng em.
- Không, không...
Cô từ chối, mặt đỏ bừng vì hổ thẹn. Sao lại có một người đàn
bà khiêm nhường như thế?... Những người đàn bà đã đi qua đời ông giống như một
bầy thú ranh ma và tham lam. Tất thảy đều đòi phần của mình: “Anh viết cho em một
bản nhạc nhé... Thật hay vào cơ...” Tất cả đều muốn leo qua bẩy nốt nhạc của
ông để tới cây cầu thang danh vọng. Tất cả đều hám danh tới ngu độn... Ông đã hứa
hẹn, và ông đã viết cho họ những bản nhạc, những bài hát tởm lợm đến nỗi chính
ông lại muốn xé chúng đi tống vào sọt rác. Còn Linh, tâm hồn thơ ngây và bản
tính khiêm nhường của cô khiến ông lay động giống như buổi ban mai, khi ông
quên đi mọi cay đắng, mở khuôn cửa để nhìn những cành roi trắng xoá in lên
khung trời, để chìa tay hứng những giọt nước mát lạnh rơi xuống, nghe muôn vàn
âm điệu xôn xao như tiếng chim hót từ một khe núi xa vẳng tới. Từng lớp âm
thanh xô đến, trùm phủ ông như ngọn thuỷ triều. Ông đã gần như ngạt thở dưới sức
nặng của nó. Mắt ông mờ đi và toàn bộ các giác quan của ông chỉ còn cảm nhận được
những sóng âm đang chuyển động, giống như bầy chim đa sắc giữa sương mù, mỗi
lúc một rõ dần dưới ánh sáng rạng đông. Các giai điệu đã hình thành, và ông cần
được giải thoát khỏi sức nén của ngọn thuỷ triều thần bí ấy.
Linh thấy Trần Phương vùng đứng lên, ngạc nhiên hỏi:
- Anh làm sao thế?
Ông hôn nhẹ lên trán cô:
- Anh muốn tặng em một món quà.
- Không, em không cần - Người đàn bà phản đối – Em chỉ muốn
bù lại những thua thiệt cho anh.
Nhạc sĩ nao lòng, ông dừng lại chăm chú nhìn cô hồi lâu và
nói:
- Em tốt quá, trên đời này chỉ có em thương anh đến thế... từ
ngày mẹ và bà nội anh mất đi...
Đôi mắt ông tối sầm lại, làn môi tái nhợt. Trong giây phút,
gương mặt ông hiện lên nỗi sầu thảm của đứa bé bị đầy ải, lẻ loi đi giữa cuộc đời.
Thời gian trôi êm ả trong im lặng. Ngoài ô cửa, những cơn gió
ào tới đem theo hương vị sông Hồng. Mùi phù sa, mùi những thân ngô vừa cắt, hơi
nước mát... Họ cùng nhau nhìn thấy một cánh buồm nhỏ trên viền diệp lục, lặng lờ
trôi.
Trần Phương bảo Linh:
- Chúng ta chỉ còn nửa giờ sung sướng nữa ở vùng ngoại ô này.
Nhưng anh xin em chờ anh một lát. Chúng ta sẽ có một kỉ niệm đẹp cho ngày hôm
nay...
Ông ngồi xuống bàn, và bắt đầu viết như lia những nốt nhạc
trên khuông nhạc kẻ tay ngoằn nghèo. Mười lăm phút sau, nhạc sĩ đứng dậy:
- Chúng ta trở về, anh muốn thử hiệu quả trên đàn dương cầm.
Mặt ông tái nhợt vì xúc động. Rồi họ cùng nhau trở về thành
phố, quên rằng mình là những tình nhân vụng trộm. Ông, vì say sưa với tác phẩm.
Và cô, vì kiêu hãnh bởi tình yêu. Họ về vừa lúc thành phố lên đèn. Mảnh sân vắng
ngổn ngang lá rụng. Ông già thường trực đang ăn cơm, nghe Trần Phương gọi vội đặt
bát cơm xuống mâm, lên mở cửa phòng biểu diễn. Khi cánh cửa vừa mở, nhạc sĩ lao
vào phòng, quên nói với người lao công một lời cảm tạ. Ông đàn cho cô nghe. Tiếng
dương cầm thánh thót tràn ngập căn phòng, làm rung động các tấm cửa kính và những
rèm che gió bằng nhung đỏ. Có lẽ, đó là bản nhạc hay nhất trong mười năm sáng
tác của nhạc sĩ. Khi hợp âm cuối cùng rung lên rồi dần tắt, ông sững sờ hồi
lâu. Và ông quay lại:
- Em là ân nhân của anh. Nhờ em, anh viết được bản nhạc này.
Linh im lặng.
Nhạc sĩ bước tới, quỳ xuống hôn đôi chân nhỏ và cặp gối tròn
đầy như gối một đứa bé. Da thịt ấm nồng và thân thiết của cô toả mùi thơm dịu
nhẹ. Người đàn ông nhắm mắt lại, tận hưởng giây phút thần tiên. Chợt, cánh cửa
phòng xịch mở, ông già thường trực bê lên một ấm trà nóng với hai chiếc tách nhỏ.
- Mời thủ trưởng xơi nước.
Ngay tức khắc, Trần Phương đứng phắt dậy, phác một cử chỉ quyền
thế:
- Để đấy cho tôi, cảm ơn bác.
Rồi quay lại nhìn Linh, ông hỏi bằng một giọng thản nhiên, đầy
vẻ bề trên:
- Như thế đấy, cô đã hiểu hết tinh thần bản nhạc chưa?
Phương Linh đờ người. Có lẽ cô chưa bao giờ lâm vào tình trạng
đó, cũng chưa bao giờ cô ngờ rằng có lúc ông xử thế với cô như vậy. Linh lắp bắp
mãi không thành lời. Nhạc sĩ đã rảo bước trong phòng, với dáng đi của một lãnh
chúa, đầu ngẩng cao, buông từng tiếng:
- Cô phải nhớ kỹ tinh thần bản nhạc. Tôi sẽ không dễ tính với
bất cứ người nào cẩu thả và kém thông minh trong nghệ thuật...
Cô im lặng. Và sau một tích tắc, ông nhấn mạnh:
- Sao, tôi có cần nhắc lại không?
Đến lúc này, Linh đã đủ tỉnh táo để hiểu màn kịch, cô đáp:
- Vâng, nhớ rồi ạ...
Ông già thường trực dường như không chú ý tới mọi việc quanh
mình. Ông lau kỹ bàn nước với mảnh giẻ gài phía sau tấm tranh sơn dầu treo tường.
Sau đó, ông đặt bộ ấm chén, rót nước sẵn ra hai chén rồi lầm lũi đi ra. Khi tiếng
chân ông ta hoàn toàn tắt hẳn trong cầu thang, Trần Phương đi tới bên Linh, đặt
tay lên vai cô:
- Em tha thứ cho anh nhé. Chuyện vặt trong đời.
- Vâng.
Cô đáp. Nhưng nỗi buồn thoáng lên qua tâm trí: Sao ông đóng kịch
thành thục thế? Không một giây bối rối… Và khi nghiêm nét mặt nhướng đôi mày
dài rậm lên, trông ông tàn nhẫn quá. Một người có thể có nhiều vẻ mặt. Nhưng
hình như ông mang nhiều gương mặt trong một khoảnh khắc. Hình như, có luồng
sáng đa sắc ở nơi thẳm sâu nào đó trong ông, rọi chiếu lên ánh mắt, nụ cười và
biến đổi ông như màu sắc của ngọn đèn xoay iến đổi cảnh trí trên sân diễn.
- Chết thật, bẩy giờ bốn mươi lăm phút rồi…
Nhạc sĩ xem giờ và bất chợt kêu lên. Họ dự định chia tay vào
lúc sau rưỡi… Người đàn bà, trong cơn buồn chán, bỗng nhiên cáu giận:
- Vậy, anh về trước đi.
Nhạc sĩ nhìn cô cười, mềm mỏng:
- Em đừng giận dỗi, anh lo cho em thôi. Còn anh…
Ông nhún vai, phác một cử chỉ bất cần. – Anh có còn gì nữa
đâu? Anh là một phế nhân của lịch sử!
Phương Linh nhìn đôi mắt tối sầm của ông, và lần này nữa,
lòng xót xa dâng lên, cô tha thứ cho ông tức khắc. Bất luận điều gì, ông cũng
là con người đáng yêu nhất, đáng thương nhất, đáng được ngưỡng mộ nhất trên thế
gian…
Phần VI
Ở quán cà phê đặc biệt mà bà Phương đã dẫn Linh tới, vào hồi
chín giờ sáng hôm nay chỉ có gã đàn ông đeo chiếc túi thổ cẩm bẩn thỉu ngồi ngất
ngưởng. Cô bé phục vụ mũm mĩm tên Lan bưng cho y một đĩa bánh chả và một bao
Samít.
- Ông còn lấy gì nữa không ạ?
- Cảm ơn cô, đủ rồi.
Gã đàn ông rút trong túi một cuốn sách bìa da, ngồi đọc. Y đọc
được hai trang, chủ quán về. Ông ta đập đôi guốc mộc cốc cốc ngoài cầu thang rũ
đất. Người khách bỏ cuốn sách, quay ra:
- Xin chào.
Chủ quán ngẩng đầu, sửng sốt:
- ơ hay, ông còn ở đây cơ à?
- Còn chứ… Tôi nhớ rằng tôi nợ ông một món.
- Không, không phải vì món nợ ấy, nhưng tôi tưởng ông đã đi
Canađa? Họ bảo với tôi rằng bà cô ông nhất quyết bảo lãnh cho ông đi cùng.
- Có chuyện ấy thật.
- Nhưng ông từ chối?
- Tất nhiên. Nếu không sao tôi còn ngồi trò chuyện với ông ở
cái đất Hà thành cổ lỗ này… A, ông bạn, tôi còn nợ ông bao nhiêu nhỉ? Giở sổ ra
xem sao.
- Không cần. Trí nhớ của tôi còn đáng tin hơn sổ sách. Trước
khi đi Sàigòn, ông thiếu tôi ba nghìn bảy trăm tám mươi lăm đồng. Gã khách móc
trong túi ra một xếp tiền, ném lên bàn:
- Có một người bạn như ông thích thật đấy. Nếu không cánh tôi
đến nhịn thèm thuốc lá, cà phê lúc rỗng hầu bao. Chủ quán cầm xếp tiền, tủm tỉm
cười:
- Đưa làm gì lắm thế?... Năm ngàn cơ à?... Thôi được, tôi sẽ
giữ cho ông bạn uống cà phê dần. Chắc kỳ vừa rồi ông bán được nhiều tranh?
- Có đâu. Gã cười – Tôi chỉ nhậu và lên Đà lạt xem phong cảnh
chơi thôi. Chờ tới mùa khô, tôi sẽ trở lại vẽ tranh sơn dầu. Tiền này của bà cô
tôi thuê.
- Thuê ông? Để làm gì cơ?
- Thuê tôi ăn chơi nhảy nhót cho thoả để cùng bà đi Canađa.
Cô tôi không có con. Bố tôi là trưởng tộc mà chỉ có một mình tôi nên tôi là kẻ
đích tôn thừa tự nối dõi tông đường của cả dòng họ.
- He he he… Chủ quán cười, tay vê hàng ria mép. Có một ông
đích tôn thừa tự như ông thì cũng khổ.
Gã khách cười theo, thú nhận:
- Khổ thật đấy. Ông có tưởng tưởng được rằng cái thằng đàn
ông bốn mươi sáu tuổi tròn, bẩn thỉu như con cóc mà bước chân vào Sài gòn được
đón tiếp như thế nào không?... Khi tôi vừa bấm chuông, bà già phục vụ cô tôi ra
mở cửa nhìn thấy là đã kêu lên ngày giữa sân: "Nam mô a di đà phật, cậu
vào, cậu vào, bà ơi i i..."
Ngay lúc ấy, cô tôi đang tụng kinh trên gác bốn. Cả lũ em gái
họ ở các buồng cũng đổ ra. Rồi họ tíu tít pha nước cho tôi rửa mặt rửa tay. Rồi
họ hối hả nấu miến, nấu xúp cho tôi ăn tạm với bánh mì. Sau đó, họ lột những tấm
giẻ bẩn thỉu trên người tôi ra, đẩy tôi vào phòng tắm. Ở đó có sẵn nước nóng,
nước lạnh với xà phòng thơm hảo hạng – cái thứ hàng xa xỉ mà ở miền Bắc này,
quanh năm tôi không sờ đến. Tôi buộc lòng phải khoác lên người những thứ quần
áo sang trọng. Khi tôi từ phòng tắm bước ra, cả nhà nhìn tôi sung sướng như tôi
vừa đem lại cả một kho vàng cho họ hoặc vừa cứu vớt gia đình khỏi một nỗi nguy
nan. Bấy giờ mới bắt đầu bữa cơm chính. Bà cô và lũ em nhồi nhét cho tôi thiếu
mức biến tôi thành con vịt của mấy mụ lái buôn chợ Đồng Xuân. Họ nhìn tôi xót
xa như tôi vừa từ hầm tối của một nhà tù nào đó bước ra, sau những năm ròng rã
đói khát. Nào cháu chịu ăn chút nữa. Thứ này mau lại sức lắm… Nào, anh ăn thêm
chút xíu lấy sức khoẻ cho mọi người nhờ…
Chủ quán phá lên cười, hàm răng ám khói phô ra. Gã khách nhìn
ông ta với đôi mắt lấp lánh vui vẻ như mắt con ngan mới nở và kể tiếp:
- Rồi, họ bắt tôi ăn mặc bảnh bao, tới nhà này nhà khác thăm
hỏi. Trong tay họ, tôi trở thành một công tử lịch thiệp hào hoa. Thế mà, vừa mới
rời tay họ ra, tôi đã thế này đây…
Y đứng lên, xoay người lại để chủ quán có thể ngắm nghía y đủ
mọi phía. Chiếc quần nhung hảo hạng lấm lem vệt dầu và những vết bùn hoặc xôi
dính đã khô. Chiếc áo sơmi bằng loại vải mịn kẻ ô nhã nhặn, bẩn tới mức như vừa
được xoa lớp nhựa nâu loãng. Rồi y chìa hai bà tay, những ngón tay đẹp nhưng
vàng sẹm khói thuốc và mười móng tay đóng ghét đen sì. Chủ quán cười rũ rượi,
ho từng tràng dài, nước mắt ứa ra. Gã khách cười theo, nhón một chiếc bánh chả
nhai tóp tép. Kể ra, gã cũng xinh trai, nói đúng hơn gã có một gương thiện và
thông minh. Nhưng gã để râu tóc xồm xoàm và ăn mặc lôi thôi tới mức trở thành một
kẻ lập dị. Khi đã hết cơn cười, chủ quán nhìn đĩa bánh chả, hỏi:
- Sao không lấy bánh kem hay gatô mà lại ăn thứ bánh trẻ con
này?
- Tôi thích.
Gã đáp gọn lỏn, nhắm mắt rít thuốc nghiến ngấu. Chủ quán ngồi
xuống bên gã:
- Này.
- Sao cơ?
- Tôi vẫn không thể hiểu được.
- Cái gì nhỉ?
- Trước kia ông từ chối vào Sài gòn, tôi đã băn khoăn. Giờ
ông lại từ chối đi Canađa, vô lý?... Những kẻ không có giấy bảo lãnh còn liều mạng
ôm thuyền vượt biển. Vậy mà ông cười cợt như không. Bữa trước, có một tay bác
sĩ tâm thần tới đây với môt nhà văn. Họ trò chuyện khá lâu, và tôi nghe họ nói
rằng cái nghề nghiệp của các ông thường dễ mắc chứng bệnh tâm thần...
- Ha ha ha… Nghệ sĩ gần với người điên – gã cười phá lên, vui
sướng - Rất có thể tôi sẽ mắc bênh tâm thần như Vangôc... Nhưng mà ông, ông đã
thấy tôi điên chưa?...
- Chưa.
Chủ quán đáp thật thà. Ông ta có vẻ bối rối khi gã khách soi
cái nhìn tinh quái về phía mình. Vẻ sưọng sùng của chủ quán làm gã càng thích
thú. Nghiêng đầu rít thuốc, gã mơ màng nhìn xuống phố. Những vòm lá xà cừ ngoài
khuôn cửa soi vào mắt gã thơ trẻ, dịu dàng. Sau một lát im lặng, gã quay lại
nói:
- Này ông bạn… tôi quý ông. Ông là người biết cư xử. Những gã
chủ quán bình thường, nghe tin tôi đi Canađatrong khi còn mắc vài ngàn bạc nợ
chắc chắn sẽ lồng lên, tới cơ quan kiện tụng. Nhưng ông… Gã vỗ vai chủ quán:
Ông khác đấy. Ông biết trọng những thứ ở phía trên đồng tiền. Chắc hẳn, ông tin
rằng cái thằng tôi không phải thứ người hèn hạ đi quỵt nợ bất cứ ai, đúng
không?
- Đúng - Chủ quán xác nhận - Vợ tôi đã làm ầm lên, đòi tôi viết
thư vào Sài gòn, nhưng tôi gạt đi. Tôi cũng nghĩ rằng ông đã đi rồi, và vì với
một chuyến đi như vậy, người ta phải lo toan trăm ngàn thứ viẹc nen dễ quên đi
một món nợ còm.
- Chính vì ông biết nghĩ đúng về tôi, nên tôi sẽ nói chuyện với
ông. Với kẻ khác, tôi sẽ không bao giờ phí nước bọt. Ông biết tính tôi rồi, đám
chúng sinh có đáng tôi phải quan tâm đâu? Họ ca ngợi tôi là thiên tài hay chửi
tôi là thằng khốn nạn cũng đến vậy thôi. Tôi vẫn sống, vẫn đến quán này uống cà
phê và vẫn vẽ tranh. Giống như mỗi sáng, mặt trời vẫn mọc…
Y ngừng lại để ném mẩu thuốc vào bình, và tiếp:
- Ông có biết mười tám năm nay tôi sống thế nào không? Tôi ở
trong một gian gác rộng chín mét vuông rưỡi, dưới lát gạch đã long, trên mọc từng
chùm nấm xanh nấm trắng. Ở đấy, tôi vừa ăn cơm, vừa mời bè bạn tới uống rượu,
nơi tiếp đãi những người làm mẫu, nơi tôi vẽ và viết bài giảng. Thậm chí cũng
là nơi tôi tắm và làm vệ sinh những lúc đau ốm… Thủ trưởng của tôi là kẻ dốt
nát. Thời xưa, ông ta thi ba năm liền mà không giật nổi một mảnh bằng tiểu học.
Về nghề nghiệp, nói chung ông ta chỉ ngang hàng với những tay vẽ truyền thần hoặc
quảng cáo ở tỉnh lỵ. Nhưng vì trong lóp hoạ sĩ cùng thời, ông ta được vào Đảng
trước nên được tin vậy và giao trách nhiệm. Mặc cảm về sự ngu dốt thường đi đôi
với lòng ham muốn thống trị và đàn áp người khác. Tay thủ trưởng của tôi thừa
hiểu những ánh mắt giễu cợt, những khoảnh khắc im lựng lãnh đạm che giấu sự
khinh khi của đám cán bộ dưới quyền. Và ông ta đối phó lại bằng mọi thủ đoạn
hèn kém. Một nhân viên hành chính có thể được chia ngay nhà ở nhưng những giảng
viên quan trọng phải trầy trật xin xỏ, đấu tranh. Với các lý do hợp lý, ông ta
hành hạ đám người có năng lực, làm họ mệt mỏi, bạc nhược vì những nỗi lo cơm
áo, nhà cửa, khiến họ tan rã yếu hèn. Nhiều người phải đầu hàng. Số khác chạy
đi chạy lại các cửa, kiện tụng để giành giật một căn phòng, một chuyến tham
quan nước ngoài, một góc trưng bày trong phòng triển lãm. Cần phải cảm thông với
họ. Cuộc đời đâu phải miếng bánh ga tô ngon ngọt bày trong tủ kính của ông?...
Ông có còn nhớ tay Huỳnh không?
- Nhớ cái ông to béo thường đòi uống sữa đá vì không thích cà
phê.
- Tay ấy bị áp huyết cao, khôg được uống các chất nước kích
thích.
- Dạo này không thấy ông ấy tới đây.
- Còn đâu nữa mà đến? Anh ấy đã chết vì đứt mạch máu não, sau
vụ xung sát với tay thủ trưởng.
- Ông thì xung sát vì lý do gì? Cũng như mấy ông bạn đồng
nghiệp hay sao?
- Không, xưa nay tôi phớt ăng lê. Một mình, một thân, nhiều
nhặn gì ham muốn để mà đấu tranh. Nhưng tôi không chịu được khi các chiến hữu bị
đàn áp. Chính bởi vụ anh Huỳnh, tôi đã nhảy vào. Tay thủ trưởng trù tôi. Nhà
không cấp, tôi chẳng cần. Cắt xuất tham quan nước, ngoài, tôi lờ như không. Tới
khi đích danh tôi được mời đi nhận giải một cuộc thi quốc tế, hắn cất giấy mời
quá hạn năm ngày, tôi mới làm ầm lên. Cóc mở miệng là chuyện không yên. Bao
nhiêu người hưởng ứng cuộc đấu của tôi. Hắn đành mời tôi lên mặc cả. Mồi treo
là một căn hộ lắp ghép và một chuyến thực tập ở châu Âu. Nhưng mà ông biết
không, tôi đã từ chối...
- A tôi nhớ ra rồi… Chủ quán gật đầu xác nhận: Hồi ấy các ông
thường đến đây với tay Đào Hùng sứt răng. Hình như anh ta đang si mê một cô bé
gầy gầy xanh xao tên là Kim Cúc...
- Đúng rồi... Trong tình thế ấy, Sài Gòn giải phòng – Gã tiếp
tục kể với giọng đều đều. Ai cũng chắ tin rằng tôi vào trong đó. Trước hết, để
khỏi nhìn thấy bộ mặt đê tiện của gã thủ trưởng. Sau đó, tôi sẽ tha hồ rủng rỉnh
tiền tiêu. Cả một biệt thự ba tàng, mười bốn phòng thuộc về mình, đó là điều có
ngủ mơ cũng không thấy. Nhưng tôi đã lắc đầu. Mọi người bảo tôi điên. Đúng rồi,
tôi có cái lý của thằng điên. Con người cần nhiều thứ lắm, ông bạn ạ: Cơm áo,
bún phở, từ các món sơn hào hải vị đến đĩa dưa muối chấm tương rồi cà phê, thuốc
lá… Tất thảy những thứ đó cũng chỉ là một phần những yêu cầu của đời sống thật
sự, của sự tồn tại thật sự cho mỗi chúng ta. Giờ đây, lại tới lúc người ta hỏi
tôi: tại sao không đi Canađa, tại sao bỏ lỡ một cơ hội trời cho như vậy? Tại
sao và tại sao?... Đời nhiều lý lẽ thật. Có bao nhiêu con người, sẽ có bấy
nhiêu thứ lý lẽ. Tôi, một thằng lãng tử có trong huyết quản chín mươi phần trăm
máu phiêu lưu mà lại từ chối sang Tây bán cầu?... Nghịch lý của cuộc đời là thế.
Tôi đã từng ngắm tuyết trên đỉnh Hoàng Liên Sơn và đã uống rượu thịt rắn nướng
với những ông già Đồng Tháp. Đã ngồi câu cá ở đảo Cô tô với lính hải đảo và ăn
mòn răng cơm nếp của dân Lào. Lẽ nào tôi lại không muốn hưởng cái thú du lịch,
ngoại trừ việc đương nhiên sẽ có một cuộc sống cực kỳ đầy đủ… Hai mươi năm nay,
tôi là người duy nhất trong cơ quan không một lần được gọi đi làm hộ chiếu để
đi nước ngoài, dù chỉ đi họp mười ngày hay một tuần lễ… Lòng khao khát hiểu biết
là đặc tính tự nhiên của con người, đặc biệt với những ai làm nghệ thậut. Nhưng
niềm khao khát đó khác xa một sự đánh tráo hay đổi giá...
Y ngừng lại nhém tia nhìn lơ đãng xuống mặt đường. Chủ quán đứng
dậy, bưng ra chiếc giành tích nhỏ, có nắp nhồi bông và hai chiếc chén viền chỉ
vàng:
- Ta cùng nhau uống thử ấm chè sen tôi vừa mới ướp.
Gã khách gật đầu. Sau khi uống cạn một chén trà, gã tiếp:
- Giá bây giờ, có người nào đó đày quyền uy gọi tôi lên và bảo
rằng: Nhà nước sẽ cho anh đi du lịch nhưng chỉ được lĩnh thực phẩm hàng ngày đủ
sống và không có của cải mang về… Tôi sẽ kí hai tay ngay. Tiền đối với tôi
không đến nỗi thiêng liêng như với nhiều người khác. Ông có biét mấy tuần lễ ở
Đà Lạt tôi đã nướng của bà cô tôi bao nhiêu tiền không?... Bốn mươi lăm ngàn,
tính ra vàng là trên hai mươi lạng. Chỉ mấy hôm nữa thôi, rất có thể tôi sẽ lại
tới đây uống cà phê ghi nợ ở quán ông, và mỗi sáng tôi sẽ lại tới đây uống cà
phê ghi nợ ở quán ông, và mỗi sáng tôi sẽ lại ra hàng xôi ngôi mua một gói năm
đồng. Đời như dòng nước, nó sẽ cuốn đi cả sự giàu sang lẫn nỗi khốn cùng, cả những
vinh quang lẫn những hèn mọn… Nhưng điều có thật đối với một thằng nghệ sĩ, là
mỗi rạng đông, khi mặt trời lên, nó sẽ phải nhìn thấy hình ảnh của chính mình.
Dù chân dung của nó được soi vào tấm gương pha lê hảo hạng hay vũng nước tù
cũng thế. Điều quan trọng hơn cả là nó sẽ tự hỏi mình khi nhìn vào chân dung ấy:
mày là ai?... Nếu tôi sang Canađa, mỗi buổi mai tôi sẽ thấy bộ mặt râu ria này
trong gương, và tôi sẽ tự hỏi, tự trả lời tôi như thế nào?... Chắc chắn tôi sẽ
phải đáp lại tôi rằng: mày là kẻ làm thuê, kiếm cơm xứ lạ… Đã đi làm thuê thì
nên khâu giày hay quét tuyết, cùng lắm làm thư ký hay gia nhân chứ đừng làm nghệ
thuật. Có lý gì tôi không vẽ những cây liễu ở Hồ Tây hay những cánh đồng Bắc
Ninh mà tôi lại đi vẽ những cây tùng ở Môngréan hay cái tỉnh Quêbếch nào đó?...
Tôi làm sao có thể vẽ được một cây thông hay cây tùng khi lúc mở mắt tới lúc thở
hắt ra tôi chỉ quen nhìn cây chuối, cây tre?... Không, không thể đổi cái thu
phiêu lưu lấy một cuộc đời ở ngoài mình… Vả lại, tại sao tôi lại phải làm như
thế?
Gã bỗng dưng nắm tay lại, đám xuống mặt bàn khiến những chiếc
tách nẩy lanh canh trên đĩa:
- Tại sao tôi lại phải sang Canađa để tránh mặt một thằng đê
tiện? Tổ quốc không phải của những thằng đê tiện ấy. Tổ quốc là của tất cả
chúng ta...
Gã ngừng lại, hai má đỏ ửng lên. Mắt gã lonh lanh và nước mắt
ứa quanh tròng.
Chủ quán rót tuần trà thứ hai ra chén:
- Uống nữa đi ông.
Đoạn quay vào nhà, ông cất tiếng gọi:
- Lan, đem một đĩa bánh dừa lên nhé.
- Vâng, có ngay đây ạ.
Tiếng đáp vọng ra. Chủ quán nói:
- Tôi mới đặt thử loại bánh dừa thơm ngon lắm. Tôi sẽ đãi ông
trước khi bán.
Cô gái mũm mĩm đem ra chiếc đĩa sứ trắng đựng đầy tràn thứ
bánh tròn như bánh trứng nhện ngày xưa, lăn tăn những mảy dừa vàng sẹm và những
hạt đường lấp lánh. Chủ và khách ăn bánh với nước trà nóng, không ai nói với ai
một câu. Lúc đó, Trần Phương đưa Linh vào. Chủ quán quay ra:
- Chào nhạc sĩ.
Trần Phương cười, gật đầu. Ông ta đưa Linh tới chiếc bàn kê
sát cửa sổ. Gã khách ngước nhìn cô gái, mắt gã như mờ đi. Gã vơ chiếc túi thổ cẩm
và nói:
- Tôi về đây.
°
Linh đã nhiều lần nói với Trần Phương rằng cô không muốn giấu
giếm tình yêu của mình:
- Em không muốn mình trở thành một kẻ khuất tất. Nếu anh còn
yêu vợ anh, chắc chắn anh sẽ không yêu em. Vậy thì cớ sao chúng ta cứ phải trốn
tránh chui lủi như những con chuột ngày?
Nhạc sĩ mỉm cười:
- Em lại thơ ngây rồi. Cái bí mật của bóng đêm có sự huyễn hoặc
và lôi cuốn của nó chứ!
Mắt ông khép lại, ẩn giấu ngọn lửa đen. Người đàn bà lờ mờ cảm
thấy một vực sâu đồi truỵ phía sau ngọn lửa ấy. Cô to tiếng:
- Em không chịu được cái thú vị của kẻ ăn trộm.
Trần Phương thấy cô nổi nóng, vội vã đấu dịu:
- Cô bé ơi, bình tĩnh lại. Xin em đừng giận dỗi. Anh biết làm
gì cho em bây giờ? Anh là một kẻ bị chết kẹt giữa cây búa và chiếc đe. Một bên
là tình yêu, một bên là lòng nhân đạo. Nếu em mong một, chắc chắn anh phải mong
mười ngày chúng ta được đàng hoàng chung sống với nhau. Em còn tươi trẻ, còn
nhan sắc, còn tất cả cuộc đời phía trước. Anh có gì nữa đâu. Người ta đã hất
chân anh khỏi mảnh đất anh đang đứng, người ta ném tấm áo anh mặc vào lửa, những
gì anh đã xây đắp bằng cả tuổi thanh xuân và bao nhiêu năm nhẫn nhục giờ tan
như bọt xà phòng… Anh là kẻ trắng tay…
Những lời cuối cùng, ông hạ giọng thầm thì rồi chìa bàn tay
trước mặt Linh. Người đàn bà nhìn thấy một bàn tay trắng như đá, với những ngón
tay thuôn dài và những đường chỉ rối ren. Cô bỗng thấy thương ông. Cô úp bàn
tay mình vào đó. Nhạc sĩ hất món tóc đen như lông quạ và tiếp:
- Bao nhiêu năm nay, có gì gắn bó anh với mụ ấy? Một người
đàn bà xấu xí và tai quái như trẻ ranh… Nhưng nếu anh cương quyết ly hôn, kẻ
tuyệt vọng ấy có thể tự vẫn. Lúc ấy chúng ta làm sao sống được khi búa rìu dư
luận trút xuống đầu? Một tên tội phạm bình thường mãn hạn tù có thể tìm lại được
cuộc sống yên ổn, nhưng chúng ta, một khi đã bị đặt trước vành móng ngựa của
công luận, chúng ta sẽ không thể nào trốn thoát.
Ông ngừng lại tì cằm vào lòng bàn tay, vẻ mặt u ám. Linh bỗng
thấy chính cô là người có tội. Cô đã gieo thêm đau khổ vào cuộc đời đau khổ của
ông và thúc đẩy ông vào ngõ cụt của sự bế tắc tinh thần. Lẽ ra, cô không nên hối
thúc ông đi tới một cuộc hôn nhân tầm thường như mọi người đàn bà tầm thường
khác.
Nhưng không lẽ, mãi mãi cô phải dấn thân vào một tình yêu vụng
trộm và vô vọng?... Những kỷ niệm nhục nhã theo đuổi, ám ảnh cô như chiếc bóng
đuổi bước chân người những đêm trăng.
Họ ngồi im lặng giờ lâu, rồi Linh bật hỏi:
- Chẳng lẽ chúng ta cứ sống trong tình trạng mãi sao?...
Nhạc sĩ im lặng quỳ xuống, úp mặt lên gối người yêu. Lúc đó,
họ đang ở trong căn phòng ngoại ô thành phố. Qua khuôn cửa sổ mở rộng, người ta
có thể nhìn thấy bờ đê xanh ngát, những cánh buồm trôi lừ đừ trên đồng ngô và bờ
bên kia sông Hồng kéo một vệt phù sa đỏng đảnh ngang đường chân trời.
- Anh chịu ơn em - Trần Phương nói – Anh hiểu rằng yêu anh,
em đã phải chịu những đau khổ thiệt thòi mà không người đàn bà nào muốn hứng chịu.
Nhiều lúc, anh đã tự buộc mình phải trả lại cho em quyền tự do, để em tìm được
một hạnh phúc tương xứng với tuổi trẻ, nhan sắc và vẻ đẹp của tâm hồn. Nhưng
anh đã không đủ can đảm để làm được điều đó… Tha lỗi cho anh…
Đúng ra, chưa bao giờ ông nghĩ tới việc từ bỏ cô. Nhưng khi
nói ra điều đó, nỗi tiếc nuối đã ào tới, cồn cào, mắt ông long lên, gương mặt
ông tràn đầy vẻ si mê cuồng nhiệt. Rồi những giờ ân ái sau đó, ông hệt như kẻ bị
thúc hối bởi một đam mê man dại và cái trạng thái đó khiến cho Linh cảm thấy rằng
có một ngọn thác mãnh liệt đang lôi cuốn, một tình yêu ghê gớm và sâu xa đang
nhấn chìm ông trong những đắm chìm của nó – Mà ông, một người tài ba, danh tiếng
đến như thế và cô, một cô giáo bình thường trong ngàn vạn cô giáo bình thường của
thành phố này. – Cô tự hào về tình yêu của ông, tự khinh bỉ mình vì những thúc
hối và đau khổ để đi tới một cuộc hôn nhân tầm thường khác, tự thấy mình tồi tệ,
thấp hèn… Và vừa ôm người tình cô vừa khóc:
- Em xin lỗi anh. Em cũng chỉ là một người đàn bà trong ngàn
vạn những người đàn bà tầm thường khác.
- Không, không… đừng nói vậy…
Trần Phương xiết chặt Linh trong vòng tay, ve vuốt dỗ dành. Một
ngọn lửa tinh quái cháy lên trong đáy mắt ông: Em lại thuộc về tôi rồi… Em vẫn
còn là của riêng tôi…
Linh là người đàn bà trung thực. Cô không tìm đến ông để chơi
trò phiêu lưu tình ái như nhiều người đàn bà khác. Khi yêu, cô muốn đi đến tận
cùng con đường tình yêu như loại đàn bà thích đời sống êm ấm và có chừng mực.
Cô không chơi trò ú tim trong bóng tối như nhiều người đàn bà đã chơi trò đó
cùng ông. Họ đã thể nghiệm nỗi thích thú hồi hợp trong những đợi chờ, dưới bóng
cây cổ thụ hay ở một tiệm càphê, trước một quán cơm vắng khách hay nơi ngã ba
đường… Những người đàn bà tô son dồi phấn, mắt long lanh thèm khát thú phiêu
lưu tình ái, dạn dày và từng trải trong trạng thái sẻ chia những nỗi sợ hãi và
lòng ham muốn…
Trần Phương giấu nụ cười trong mái tóc thơm ngát của người
yêu:
- Anh cảm ơn em suốt đời.
Rồi với giọng nhẹ nhàng, đượm nỗi buồn thấm thía, ông tiếp:
- Chúng ta cần có thời gian. Anh không phải là một con người
độc ác nhưng em thừa biết rằng bà Hoa bệnh hoạn cả thể xác lẫn tâm hồn. Thần chết
không ban bố lòng nhân đạo cho bất kỳ ai. Sẽ tới lúc nó đem bà ta đi, theo quy
luật tạo hoá… Thời gian là người bạn đồng hành của nhân loại, em đã nghe câu
nói đó bao giờ chưa?
Nhiều tháng sau, Linh còn phải ngẫm nghĩ tới câu nói đó của
ông:
“Khủng khiếp quá, mình phải chờ đợi bà vợ ông ấy chết đi để
làm cuộc hôn nhân. Một hạnh phúc đặt nền móng trên sự tử vong của kẻ khác. Có
cái gì tàn nhẫn và gớm ghiếc trong sự sắp đặt ấy…”
“Nhưng làm gì có một biện pháp tốt đẹp hơn, đối với người đàn
bà thiếu tự trọng như vậy?...”
Lý lẽ của trái tim cuối cùng đã thắng. Và Linh tin rằng mọi
hy sinh của cô cho tình yêu là sự hy sinh của các tín đồ trên đường hành hương
tới mảnh đất đã sinh ra chúa Jêsu… Từ ngày xách valy ra đi, Linh đã thay đỏi chỗ
ở ba lần. Đêm đầu tiên, cô đáp tàu điện ra ngoại o, sống với bà dì ruột mà bé
Hương Ly thường gọi là bà ngoại. Dì cô thương cháu gái, nhưng bà lại có tới sáu
đứa con. Căn nhà ba gian cả thảy ba mươi hai thước vuông. Một mảnh vườn nhỏ trồng
hương nhu, tía tô với mùi tàu cũng chỉ trọng hai mươi mét nữa. Sáu đứa con của
bà đều đã thành gia thất, nhưng chỉ hai đứa có nhà, còn bốn đứa kia dắt díu vợ
chồng con cái về tụ họp trong khoảng không gian ấy. Các tiểu gia đình ngự trị
trên những chiếc giường và các vương quốc được kiến tạo bởi những tấm rèm ngăn.
Chỉ cần một cơn gió mạnh là cắc cặp vợ chồng trẻ có thể nhìn nhau cười trừ. Mùa
đông, họ có thể bước một bước từ vương quốc này sang vương quốc kia để chơi một
ván cờ, hay một chầu tam cúc. Nếu bà mẹ rang ngô, tất cả có thể thò tay bốc
chung một rá. Cảnh sống ấy, mùa đông còn tạm vui thú, nhưng lúc mùa hè tới, thạt
khó khăn. Lũ em Linh cảm thông và yêu quý chị Linh, nhưng dù sao, cô cũng chỉ ở
được tới ngày thứ ba là lại phải xách valy đi tiếp. Lần này, Linh tới ở với người
bạn gái cùng lớp thời sinh viên. Cô này, không tốt nghiệp nên đã xin vào một lớp
đánh máy ngắn hạn. Khi đã có nghề, chú ruột cô xin cho cô vào làm việc tại một
viện nghien cứu khoa học. Ở đó một chàng phó tiến sĩ hiền lành tốt bụng đem
lòng yêu thương cô và họ đã thành vợ thành chồng thật chóng vánh và dễ dàng. Cưới
được hai năm, anh được cử sang nước ngoài công tác. Rồi sau đó, đi đi về về,
liên miên xách valy sang các sân bay quốc tế, khi thì dẫn một phái đoàn đi tham
quan, khi trợ lý cho một cấn bộ cao cấp đi ký kết các chương trình hợp tác, yên
trí để đứa con nhỏ ở nhà với cô vợ trẻ. Linh ở nhà bạn được hai ngày, và lập tức
hiểu rằng mình đã sai lầm. Cô bạn hoàn toàn không cô đơn buồn bã chút nào như lời
co ta nói. Ngược lại cô có quá nhiều cuộc hẹn hò để lấp đầy cái khoảng trống thời
gian mà cô than phiền là heo hút. Linh chợt nhớ rằng cô nghờ nghệch trong mọi mối
quan hệ. Cuộc sống hạnh phúc xưa kia như chiếc tổ kén vây bọc cô giữa những êm ấm,
ngọt ngào, giờ đây, cô nhìn được những rác rến của đời sống. Linh xách valy vào
trường. Bà thủ thư của nhà trường nghỉ dài hạn nằm điều trị chứng ung thư dạ
con, trong bệnh viện. Kim Anh bảo Linh tới phòng trực thư viện ở tạm. Đó là một
gian buống xép rộng mỗi bề chừng hai mét bảy mươi phân, tối và ẩm, luôn luôn
lưu cữu thứ ánh sáng của những ngày đông thiếu mặt trời. Linh đã bỏ ra hai ngày
trời để quét dọn, lau chùi, tô điểm. Cô lau chùi các cánh cửa và bậu cửa tới
bóng lên. Nên gạch xi măng được phủ bằng những tấm chiếu cói rực rỡ. Cô cũng
mua một chiếc lọ cắm hoa thuỷ tinh hồng để cắm vào đó những bông xuxi và những
bông đồng tiền tươi rói. Bà thủ thư để lại chiếc bếp điện tự chế, Linh mua thêm
bếp dầu cùng ít xoong nồi bát đũa mới… Hết giờ họp ban giám hiệu buổi chiều,
Kim Anh tới thăm. Chị thấy căn buồng nhỏ biến đổi như có phép lạ. Ngay cả chiếc
giường cá nhân cũng được trải tấm vải thêu lộng lẫy:
- Đẹp quá.
Chị thốt lên tiếng kêu và ngồi xuống giường. Linh vừa tắm gội
xong đang chải tóc. Cô quay lại mỉm cười, gương mặt rạng rỡ. Kim Anh chăm chú
nhìn Linh:
- Thế nào đây cô?
Chị hỏi.
- Chị bảo gì em cơ ạ?
Linh đáp, cô ngỡ ngàng nhìn hiệu trưởng. Kim Anh đưa mắt nhìn
đám xoong nồi bóng loáng đặt trên bếp dầu, những chiếc bát đũa mới, chiếc gương
bỏ túi và lọ cắm hoa nhỏ xíu đặt trên bậu cửa… Tất cả những thứ đó gợi lại thời
thiếu nữ, gợi lại cuộc sống lưu trú của các nữ sinh. Khi đã là đàn bà, người ta
phải dùng những thứ xoong chảo lớn hơn, những bát đĩa đẹp hơn, những thìa dao,
nĩa, khăn lau bàn và trăm thứ đồ tỉ mỉ khác cần cho đời sống của một gia đình.
Ví như chiếc dạo nạo khoai tây gọt bí gọt mướp, những bàn nạo đu đủ, hoặc máy
xay cua, những nồi hầm, chõ đồ xôi hoặc nồi chưng cách thuỷ… Chưa kể tới các loại
cốc chén, cối xay sinh tố hoặc lò nướng điện mà các bà nội trợ thường mơ tưởng.
Kim Anh biết rằng Linh đã có tất cả những thứ ấy. Gia đình cô là một gia đình
người ta khao khát cả về sự êm thấm lẫn những tiện nghi. Bây giờ, co lại bắt đầu
trở lại cuộc sống độc thân của nữ sinh, với chiếc bếp rẻ tiền, vói những đồ đạc
tầm thường và xoành xĩnh. Kim Anh mủi lòng. Linh hoàn toàn không hiểu những ý
nghĩ của chị, cô đang thoả mãn vì tìm được nơi cư trú tươm tất.
- Chị bảo em gì cơ?
Linh nhắc lại. Cô ngồi xuống bên chị hiệu trưởng. Kim Anh
không trả lời chị, nhìn những bông hoa tươi còn long lanh nước:
- Hoa đẹp quá. Cô thích đồng tiền kép không?
- Trước kia thì không – Linh đáp – Nhưng bây giờ có.
Cô không thể nói với Kim Anh rằng ở trong quán cà phê quen
thuộc của Trần Phương, ơi bất cứ lúc nào cô cũng được nghe bản “Chèo thuyền” của
Menđénon có cắm những bông hoa ấy.
Bất giác, Kim Anh cất tiếng thở dài. Rồi sau hồi lâu im lặng,
chị hỏi:
- Cô có sung sướng không?
Linh nhìn Kim Anh, im lặng. Làm sao cô có thể trả lời câu hỏi
đó. Giờ đây, cô vừa là người sung sướng vừa là kẻ bất hạnh. Trong mọi niềm vui
đều có chứa những hờn tủi, buồn phiền. Không bao giờ cô còn tìm được những thời
khắc vô tư như trước. Cô nhìn lại thời cô sống hạnh phúc cới Nguyên như người
ta nhìn bầu trời qua cơn mưa bóng mây. Ở bên này những hạt nước nóng là cuộc đời
trần trụi. Bên kia những hạt nước ấy là hạnh phúc mong manh, sáng chói. Chị hiệu
trưởng nói chậm rãi:
- Cô biết rằng về nguyên tắc đang hiện hành trong đời sống của
chúng ta, tập thể phải lên án cô từ lâu.
- Vâng, em có biết.
- Mọi người không ai nỡ làm thế, cả tôi cả những người không
thân thiết lắm với cô. Nhưng chúng tôi không hiểu được, vì sao lại như thế?
-...
- Cô mê tài của ông nhạc sĩ?
- Em đã ly thân với Nguyên từ trước khi gặp mặt ông ấy.
- Vậy là tại Nguyên?
- Em không biết.
- Tôi không tin Nguyên phản bội cô. Cậu ấy luôn yêu cô và bản
tính nghiêm túc.
- Vâng, điều đó hoàn toàn đúng.
- Vậy vì lẽ gì? Hay tính cô cả thèm chóng chán?... Nếu vậy cô
đã hư hỏng trước khi gặp ông Trần Phương. Tôi nhớ tất cả những trường hợp cô có
thể sa ngã. Tôi nhớ tất cả đám người hào hoa đẹp trai đã từng si me cô. Đối với
họ, Trần Phương chỉ là một ông già. Dù tài ba, ông ta vẫn cách biệt cô hai thế
hệ.
- Không phải thế.
- Vậy lý do nào, nguyên cớ nào đã đẩy tới tình trạng này? Ít
ra, cô cũng phải nói thật với tôi.
- Trước đây, em luôn luôn nghĩ tới Nguyên như một người có lý
tưởng sống, trọng tư cách và có tam hồn cao thượng. Dần dần, em phát hiện được
những giả trá vô lương. Và em hiểu rằng em đã lầm.
- Thế rồi cô căm ghét cậu ấy?
- Không tới mức căm ghét, nhưng không còn coi trọng. Đối với
em không trọng được có nghĩa là không còn yêu được.
- Nguyên biết điều đó?
- Vâng.
- Cậu ấy không nói gì?
- Anh ấy xin em cứ ở lại với bé Hương Ly nhưng em không thể.
- Tôi hiểu chuyện đó... Nhưng còn Trần Phương. Ông ta là người
thế nào?
- Ông ấy là một tài năng bị vùi dập. Em sẵn sàng chịu hy sinh
để san sẻ những khổ đau thua thiệt mà ông ấy đã phải chịu.
Kim Anh ngồi lặng lẽ hồi lâu, rồi đứng lên,mở nắp chiếc thùng
nhôm đặt trong góc phòng:
- Cô chưa mua được gạo à?
- Vâng, chiều nay em ăn bánh mì. Chị ở lại với em nhé?
Kim Anh lắc đầu, chị rút trong túi chiếc phong bì
-Người ta vừa thưởng cho tôi đấy. Chắc cô hết tiền rồi, cầm lấy
mà tiêu tạm.
Người đàn bà nhìn lại lần nữa căn phòng vừa được chuẩn bị cho
một đời sống độc thân:
- Tôi về nhé.
Chị bước ra khỏi căn phòng. Sân trường đã tối ôm. Xa x, những
chùm đèn toả thành từng quầng sáng.
"Nếu bây giờ đột nhiên mình phát hiện ra một khuyết tật
nào đó ở chồng mình - Chị nghĩ – Ví như thói nịnh bợ, tham lam hoặc gian dối.
Ví như sự hèn hạ hoặc thói trăng hoa… và mình không còn chung sống được với anh
ấy nữa…"
Kim Anh bất giác rùng mình, ghê sợ quá. Lúc đó, mọi sự tan vỡ
và sẽ lại bắt đầu. Những chiếc ly thuỷ tinh Đức, bồ bạn ghế, bộ tách uống trà vừa
sắm được, chiếc bình sứ đựng đường có nắp lá nho, và chiếc máy xay sinh tố… Tất
cả những đồ vật ấy mất đi sẽ đem theo một giá trị lớn hơn giá trị thật sự của
chúng rất nhiều, bởi lẽ nó gợi cho người ta cuộc sống êm ấm và sung mãn của một
gia đình, nó là những viên gạch của thành trì hạnh phúc.
"Nhưng giả như chồng mình là một kẻ bất lương, cứ đặt ra
giả thiết ấy. Biết chắc chắn như vậy, mình có còn can đảm và tình yêu để tiếp tục
chung sống với anh ấy không?... Không, không… Chắc chắn lúc đó, mọi đồ vật sang
trọng đều trở thành vô nghĩa. Mình cũng sẽ phải tìm một xó trú than và mua chiếc
bếp dầu rẻ mạt bằng sắt tây. Vì không còn tình yêu, người ta có thể phải từ bỏ
một vương quốc, một lâu đài để tìm cuộc đời dân dã. Lịch sử đã đầy rẫy những
chuyện như thế… Nhưng đó là thời xửa thời xưa, ngày nay, con người thực dụng
quá, và người ta cân đong đo đếm tình yêu bằng những điều kiện sinh tồn…"
Những ý nghĩ miên man xô đẩy, chồng chéo nhau trong óc não
người đàn bà. Khi dừng lại trước khuôn cửa quen thuộc, Kim Anh nghe tiếng đứa
con trai reo:
- Bố ơi, mẹ về, mẹ về… đi ăn cơm thôi.
Người đàn bà hết cơn nghĩ ngợi, trở nên bàng hoàng. Chị đứng
thần ra. Chồng chị ra dắt xe vào cho vợ:
- Có lý do gì mà bắt bố con tôi chờ cơm lâu thế?
Anh hỏi chị, nụ cười trìu mến sáng bừng trên gương mặt.
… "Không, không, anh ấy không bao giờ là một kẻ đê tiện,
một tên ăn cắp hoặc một gã đàng điếm lẳng lơ…"
Ý tưởng ấy lướt qua óc não rất nhanh, khiến chị bình tĩnh lại
giống như kẻ vừa ngồi trên con thuyền chòng chành được đặt chân xuống bến. Niềm
vui trào đến ngay tức khắc, sau cơn thảng thốt, chị bất giác ôm choàng lấy anh.
- Có chuyện gì thế em?
Người chồng lo lắng hỏi.
- Suýt nữa em chết kẹp ô tô.
Chị buột miệng đáp hết sức trôi chảy, tự nhiên và mừng rỡ như
vừa trải qua con hiểm nguy đó thật. Chồng chị nắm chặt tay vợ. Họ vào mắt nhau
rưng rưng cảm động, dường như họ vừa thoát được một tương lai bất hạnh. Hai còn
người ấy mới chỉ nghĩ tới sự thiếu vắng nhau trong cõi đời là đã lạnh xương
lưng…
Nhưng thôi ta hãy chúc cho cặp vợ chồng hạnh phúc đó những điều
may mắn. Giờ, trở lại căn phòng chật hẹp của Phương Linh. Sau khi Kim Anh đi,
cô lấy bánh mì ra ăn với nước muối, uống một cốc nước đường rồi đi ngủ. Nhưng nằm
mãi không nhắm mắt được. Thoạt đầu, Linh cứ tưởng cô lạ nhà. Chưa bao giờ cô ở
một mình trong gian buồng, dù chật hẹp tới đâu nó vẫn là khoảng không gian trống
vắng và nơi đó, người ta thấy hiểu cặn kẽ nỗi cô đơn. Không cần quan tâm tới một
ai và không một ai quan tâm tới mình. Chỉ có đồ vật. Ngay những bông hoa rực rỡ
kia cũng lạnh lẽo, vô tri vô giác. Vài con gián từ kho sách bò sang, chậm chạp
dạo quanh mép tường. Một con thạch sùng bé xíu, đen thui kiếm mỗi quanh bóng điện.
Tiếng tặc lưỡi của nó nghe rõ mồn một. Linh với quyển: "Thằng gù ở nhà thờ
Đức Bà" của Huygô đọc, nhưng những dòng chữ cứ bập bềnh như đám rác giữa
nước xoáy. Cánh tay cô vòng sang một bên theo thói quen đã rơi xuống chiếu.
Không có bé Hương Ly ở đấy. Người đàn bà ném quyển sách lên bàn. Cô kéo cuộn
chăn lên ôm cho bớt cảm giác lạnh lẽo. Nhưng ngay cách lừa dối ấy cũng không
giúp cô dằn được nỗi nhớ đang cuộn lên như lũ, mỗi lúc mỗi bạo liệt. hai cánh
tay Linh tì trên chiếu lạnh, cảm giác tiếp cận với những sợi cói trơn láng, với
lớp vải lanh vở chăn, với mền gối bông xốp cùng lúc gợi cho cô mùi thơm và hơi ấm
của da thịt đứa con. Mùi hương ấy, hơi ấm ấy như một niềm vui sướng ngất ngây
lan toả trong tâm hồn cô ngày ngày, thân thiết và bền vững. Con bé thường gác cả
hai đùi lên bụng mẹ, đầu nó rúc vào nách mẹ và đám tóc tơ mềm mại khiến Linh thấy
vừa nhột nhột vừa êm ái. Giờ đây thiếu vắng tất cả. Cả tiếng bi bô và những câu
hỏi ngớ ngẩn, cả những câu nói khôn ngoan lọc lõi, những câu chửi bậy bạ, những
trò đùa ranh ma mà con bé học được ban ngày… Vợ chồng Linh thường răn dạy con
vào lúc ấy, trước khi giấc ngủ kéo đôi mi dài cong vút của nó sập xuống. Trong
khoảng thời gian long đong tim nơi cứ trú, mối lo toan thường trực, những toan
tính và đối phó với hoàn cảnh đã khiến Linh quá mệt nhọc và nguôi nỗi nhớ.
Nhưng chính vào lúc cô đã tạm thu xếp được một khoảng không gian nhỏ bé cho
riêng mình, nỗi nhớ ấy quay trở lại, dội thêm lên vì khoảng thời gian xa cách,
quặn thắt trái tim người mẹ khiến cô đau. Linh nằm im, nước mắt bò từ từ qua
thái dương vào đám tóc. Không chịu nổi, cô ngồi dậy vòng tay qua gối. Ánh đèn
nhảy rỡn trong vòng sáng của nước mắt đọng trong mi. Người đàn bà như bị chìm
lút giữa quầng sáng của chất muối cay xót… "Giờ này con bé làm
gì?..."
Cô hình dung ra căn phòng xưa cũ, nơi hạnh phúc đã ngưng đọng
giữa bốn bức tường và đã tan như đám khói mùa thu. Lúc này, con cô đang ở nơi
đó với Nguyên. Cõ lẽ anh ấy đã tắm rửa thay quần áo xong cho nó và hai bố con
cùng ngồi ăn cơm. Có lẽ, anh đưa nó ra hiệu ăn phở và lúc này họ cùng nằm khểnh
trên giường. Có lẽ Nguyên bận dịch tài liệu và bắt con bé ngồi xếp đi xếp lại hộp
trò chơi khai trí… Tất cả những tình thế ấy đều hiện ra trong óc não Linh, với
cảnh côi cút thảm sầu. Nguyên cô đơn và con gái cô càng cô đơn hơn. Nó vẫn gắn
bó với cô là chính. Đành rằng, bé Hương Ly yêu bố và Nguyên là người đàn ông tận
tình tận nghĩa với con, nhưng dẫu sao anh cũng vẫn là đàn ông, anh không thể iu
ấp dịu dàng, không thể chiều nựng tỉ mỉ và cặn kẽ như người đàn bà thực thụ. Rốt
cuộc, chỉ có đứa bé thiệt thòi nhất. Trong lúc nhớ mẹ, nói không thể đốt một điếu
thuốc lá hay nhâm nhi môt ly rượu cho khuây. Nó chỉ có thể âm thầm nhìn những đứa
trẻ khác mà thèm khát. Nó chỉ có thể lặng lẽ khóc trong giờ, để nước mắt đọng
hoen gối. Hoặc nó chỉ có thể gọi tên mẹ trong giấc mơ… Những ý tưởng đó khiến
Linh nấc rung lên từng đợt. Nước mắt tràn trên má, ngấm vào môi vừa ấm vừa mặn.
Người đàn bà đứng dậy, lau mặt, tìm chiếc áo khoác rồi đạp xe ra phố, không kịp
nghĩ ngợi, đắn đo. Dường như một thúc hối từ cỗi âm u của vô thức xua đẩy cô chạy
khỏi căn buồng quạnh quẽ.
Lúc ấy, dường như phố đã vắng. Thỉnh thoảng, mới có một cặp
tình nhan nép dưới bóng cây. Linh thấy trán nóng bỏng còn hai má lạnh toát như
đồng. Một cảm giác chênh vênh mơ hồ trấn ngự trong cô dường như cô đang vượt
qua một cây gỗ bắc qua vực, bên dưới là bóng đêm và gió lạnh, bên kia cầu là
cái quầng sáng nhỏ xíu ẩm ướt và mịn màng của gương mặt đứa con. Lúc Linh leo
lên cầu thang, chuông đồng hồ báo thức nhà chị Hồng gõ mười tiếng. Linh dừng lại
trước khuôn cửa sổ đang toả ra ánh sáng xanh mờ, ánh đèn chụp lụa xanh Nguyên
dùng đọc sách ban đêm. Chắc chắn con bé đã ngủ rồi, và người đàn bà chợt nhận
thấy tình trạng trớ trêu của mình.
"Chỉ cần ôm con một chút thôi, hoặc nhìn mặt nó cũng được.
Cho tới lúc, mình có thể đón bé Hương Ly theo…"
Đấy là một hy vọng, nhưng cô không dám bày tỏ vì dẫu sao,
Nguyên đơn chiếc và đau xót hơn. Anh lầm lũi nuôi con, lầm lũi chờ đợi một kết
thúc quá mỏng manh, và nghiến răng chịu những nỗi đau cay độc. Trong thâm tâm,
Linh vẫn hiểu anh thiệt thòi hiểu anh nhẫn nhịn và vị tha…
Giữa lúc phân vân, người đàn bà va phải cánh cửa sổ. Cánh cửa
đạp cạch một tiếng vào tường. Cô giật mình, tim đập thon thót. Nhưng cô đứng
im. Trong nhà, Nguyên đã rời quyển sách, thong thả ra mở cửa:
- Ai đấy?
Anh hỏi khẽ, có phần hơi ngạc nhiên vì tiếng gõ lúc khuya khoắt.
Tiếng nói tắt ngấm khi anh nhìn thấy gương mặt trắng như đá của
Linh.
- Hương Ly…
Người đàn bà lắp bắp. Mắt cô nhìn anh như lạc đi trong bóng tối.
Nguyên mở rộng cánh cửa, khẽ dùng vai ẩy vợ vào, anh khép chặt cửa lại, đứng
đó, tựa lưng lên như muốn mãi mãi khoá chặt người đàn bà yêu dấu của anh trong
căn phòng. Linh đã lao tới giường, không còn cẩn trọng ghìm giữ được tình cảm:
- Hương Ly, con gái của mẹ, con gái mẹ…
Cô hôn như điên dại, hôn chi chít lên mặt đứa bé, ghì chặt đến
nỗi nó tỉnh giấc. Không mê ngủ, không kinh ngạc, con bé ngồi nhỏm dậy và nhoẻn
nụ cười tuyệt đẹp:
- Mẹ đấy à, sao mẹ lâu về thế?... Nào, chià má ra, tới lượt
con thơm mẹ phải không?...
- Mặt mẹ ướt quá, mẹ vừa tắm xong hả mẹ? Bà ngoại vẫn dặn mẹ
không được tắm đêm cơ mà?... Mẹ vào ngủ với con nhanh lên kẻo mai con còn phải
tới lớp...
Linh không nói được. Cô chìm đắm trong trạng thái của cơn sốt
yêu thương và tủi hờn. Rồi ôm chặt đứa bé kêu:
- Mẹ phải mang con đi theo, nhất định mẹ phải mang con đi...
Tiếng kêu ấy nghe như tiếng hét trong giấc mộng. Nguyên rời
cánh cửa, tới sau Linh và lặng lẽ đặt tay lên vai cô:
- Khẽ chứ em, khuya rồi.
Linh sực tỉnh. Cô nhìn anh, nước mắt đầm đìa:
- Em không thể xa Hương Ly được. Em phải mang con theo.
Lúc ấy, bé Hương Ly đã nằm xuống lại ngồi nhỏm dậy. Đôi mắt
đen tinh khôn của nó hết nhìn người này tới người kia. Nó thỏ thẻ nói:
- Bố cho con đi chơi với mẹ, bố nhé?... Rồi đến chủ nhật con
lại rủ mẹ về nhà mình...
Nguyên đặt con bé nằm xuống giường...
- Con ngủ đi.
Rồi anh ngồi xuống mép giường, lặng lẽ. Trong khoảng thời
gian ấy, tiếng tắc kè từ vòm cây phía trước vọng vào, rõ mồn một. Chưa bao giờ,
tiếng tắc kè vang động và buồn đến thế. Người đàn ông đăm đăm nhìn vợ, đáp:
- Được, Linh ạ.
Phần VII
Bà Phượng là người đầu tiên ngửi thấy mùi tai hoạ trong gia
đình Nguyên. Ngay sau buổi đưa Linh tới quán cà phê gặp Trần Phương, bà đã dự cảm
được tất cả những biến cố sẽ đến với người cháu gái sau cái nhìn đầy ma lực của
người tình xưa. Bà tới bảo chàng cháu rể phải đề phòng những hiểm nguy có thể xảy
tới trong mọi gia đình. Nguyên hiểu ý bà cô, nhưng chính anh cũng không ngờ
Linh đã bị ông nhạc sĩ kia chinh phục nhanh chóng đến thế. Một tình yêu tự nó kết
thúc bao giờ cũng chậm chạp, khó khăn. Nhưng khi có một tình yêu khác thay thế,
nó sẽ bị treo cổ mau lẹ không thương tiếc. Bằng kinh nghiệm bản thân, bà Phượng
hiểu tình cảnh cô cháu gái và ân hận vì dù sao bà cũng phải gánh chịu một phần
trách nhiệm khi Linh lâm vào tình cảnh ấy.
Một buổi sang, bà tới tìm Trần Phương:
- Tôi mời anh đi uống cà phê nóng, được chứ?
Ông đáp lại bằng một nụ cười im lặng và hiền dịu. Họ cùng
nhau bước tới một tiệm cà phê nhỏ gần ngã tư. Trong tiệm, co Ngọc Minh đang ngồi
đấu hót với một gã gầy gò, ông chân như ống xì đồng bó trong ông quần Jin
nhung… Khuôn mặt vuông của cô trệt phấn màu cam và đôi mày kẻ chì đen kéo tới hết
thái dương. Khi Trần Phương bước vào, cả hai vội quay lại, chào con người danh
tiếng. Cái vẻ thân quen, bả lả mà họ cố bộc lộ trước mặt đám khách khiến bà Phượng
nhếch môi cười. Bà bảo Trần Phương:
- Ông nên lùi vào góc nào đấy thì hơn. Kẻo cô phóng viên xinh
đẹp kia biến ông thành kép hát trước mặt mọi người.
Nhạc sĩ tìm một bàn khuất sau cây đinh lăng của chủ quán. Ông
ngượng ngùng thanh minh:
- Phượng thông cảm cho, tôi đâu muốn thế?
Bà gọi hai tách cà phê nóng, rồi châm thuốc cho ông:
- Đã có một thời, ngày nào tôi cũng châm thuốc cho ông.
Ông lặng im, và bà nói tiếp:
- Ngày ấy, ông thường đội mũ nồi da nâu, và mùa hè ông thường
mặc sơ mi trắng. Tôi đã đan cho ông một chiếc áo len màu ghi sáng, cổ thuyền,
ông còn nhớ không?...
- Xin lỗi Phượng - Trần Phương đáp ngập ngừng – Tôi đã cho một
anh bạn. Anh ấy bị mất cắp cả valy quần áo.
Bà Phượng cười:
- Không phải một anh bạn, mà là cậu em họ của bà Hoa. Tên hắn
là Tư, trước đây làm trong Sở ươm cây thanh phố nhưng đã xin về hưu non để làm
pháo và ươm cây non bán. Nhà hắn trên Bưởi, có người đã đưa tôi tới đấy mua cây
cảnh và tôi đã nhận ra…
Mắt bà nheo lại tinh quái và giễu cợt. Trần Phương không đáp,
miệt mài nhả khói thuốc. Gương mặt ông lúc đó dửng dưng. Lát sau bà Phương quay
sang nhìn vào mắt ông, và đổi giọng:
- Anh hãy buông tha con bé ra.
Người đàn ông ngước mắt lên:
- Phượng muốn nói gì?
- Tôi bảo anh tha con bé cháu tôi ra.
Bà dằn giọng, đập vào tay Trần Phương, một cử chỉ lỗ mãng
khác hẳn với vẻ mặt và dáng dấp đài các của bà:
- Giữa tôi và anh không cần màn kịch đó. Cháu tôi chỉ là một
cô bé học trò. Nó mồ côi cả cha lẫn mẹ từ thuở nhỏ. Anh hãy tha cho nó… Hay anh
muốn tôi chắp tay lạy?
- Phượng đừng nặng lời - Trần Phương vẫn nhẹ nhàng, bình thản…
- Linh đã là một thiếu phụ chứ không còn ở tuổi quàng khăn đỏ. Tôi có bao giờ
cưỡng ép, thúc hối tình cảm của ai đâu?
- Tất nhiên anh không thể cưỡng ép, nhưng anh quyến rũ và hứa
hẹn đàn bà tài tình nhất thế gian này.
Bà nói giọng căm uất.
Trần Phương nhún vai, thở dài:
- Đó có phải lỗi của tôi đâu?
Bà Phượng nhìn vào mắt ông:
- Những lời hứa hẹn của ông nhiều như vỏ sò mà nhẹ như gió ấy.
Lại một lần nữa, nhạc sĩ nhún vai nhưng ông không trả lời. Và
vẻ mặt hiền lành vô tội của ông khiến người đàn bà càng sôi sục:
- Đừng bắt tôi nói nhiều. Ông anh cả tôi là người hiền lành tội
nghiệp nhất trong nhà, và con bé Linh cũng không khôn hơn bố mẹ nó. Cuộc sống của
nó đang êm ấm, bình ổn. Anh hãy buông tha nó ra…
Trần Phương nhẹ nhẹ khép mắt lại, và thong thả nói:
- Phượng đừng giận tôi, bao giờ tôi cũng biết ơn những người
đàn bà đã dành cho tôi một phần tình yêu của họ, dù tình yêu đó chỉ nhẹ như một
chiếc lông chim… Tôi vẫn nhớ. Ông hạ giọng, thì thầm - Những ngày ngọt ngào êm
ái mà Phượng đã đem tới. Tôi biết ơn Phượng, dù bao nhiêu năm nữa, tôi cũng sẽ
còn rung động vì những ngày sung sướng của chúng ta…
Bà Phượng hằm hằm nhìn ông. “Đồ đểu”. bà bật lên những tiếng
rủa thầm trong óc não nhưng bà không thể cất thành lời, và một xúc động mơ hồ
nhè nhẹ lên trong tâm hồn lâu nay hoang vắng. Trần Phương đặt tay lên vai người
tình cũ, khẽ bảo:
- Chúng mình về đi, tôi sẽ đàn những bản nhạc ngày xưa Phượng
thích…
- Không, không…
Bà gạt đi những lời chống đỡ đã ỉu như bánh đa nhúng nước, Trần
Phương không đáp, đứng lên thanh toán tiền với chủ quán rồi đi ra trước. Buộc
lòng bà Phượng phải đi theo ông.
“Mình nghe theo lời hắn ta làm gì? Hắn không ngoan quỷ quyệt
lắm”. Bà nghĩ, nhưng chân vẫn bước đi như cái máy. Khi học đi qua gốc một cây cổ
thụ, bà vấp phải rễ, Trần Phương thốt tiếng kêu sợ hãi rồi ông bảo bà:
- Phượng cẩn thận kẻo ngã.
Người đan bà không trả lời nhưng nỗi xao xhuyến từ lâu bị
chôn vùi chợt thức dậy xốn xang trong tim bà mỗi lúc mỗi cồn lên như sóng. Trần
Phương dừng lại trước cửa phòng biểu diễn:
- Chỗ này nhiều người ngã rồi đấy, nào, đưa tay đây…
Ông nắm tay bà, dắt qua ngưỡng cửa hỏng được ghép tạm bởi vài
tấm gỗ. Cử chỉ gần gụi ẫy khơi dậy cả một thời nồng nàn ân ái cũ. Trong phòng họp,
hai cô thư kí đang ngồi ghi chép sổ sách vội ôm chồng sổ đi ra, nhường chỗ cho
nhạc sĩ. Chắc họ xuống phòng quản trị. Trần Phương lấy ghế, ân cần bảo bà tới
ngồi bên cây dương cầm. Và ông bắt đầu đàn bản Xêrênata của Enricô Tosselli. Đấy
là bản nhạc bà Phượng thích nhất suốt thời yêu đương của họ…
Ba giờ chiều bà Phượng trở về nhà. Phố xá, cảnh trí của đời
thường dẫn bà trở lại với đời sống thực tại. Ở cổng, dưới vòm hoa tigôn, một
con bé mười lăm đứng nghêu ngao hát. Vào sân, bà gặp chồng đang dắt chiếc xe
máy đi ra:
- Chào Phượng, Phượng có lá thư tôi đặt dưới lẵng hoa.
Nói xong, ông gật đầu chào rất nhã nhặn và dắt xe đi ra. Đã
mười bảy năm nay, họ sống với nhau như thế. Tấn kịch trong gia đình là tấn kịch
đáng kinh sợ nhất trong kiếp sống của loài người. Chồng bà không tha thứ cho
bà. Ông là người được nhào nặn trong một gia đình cao quý và coi trọng tiết hạnh
tới mức như một thứ tôn giáo. Nhưng ông cũng không thể ly hôn với bà vì ông
thương con và lo sợ cho đời sống tinh thần của chúng, vì ông yêu bà cũng như hận
thù bà…
Bà Phượng tìm phong bì, bóc lấy lá thư. Thư của một cô bạn
gái từ Sài Gòn gửi ra, thăm hỏi đôi điều, kể lể đôi điều, chán ngắt. Bà Phượng
ném bức thư vào chiếc sọt đựng giấy vụn ở góc phòng rồi nằm vật ra giường:
- Cả một ngày trời vô tích sự…
Bà nghĩ, gương mặt và tiếng đàn thánh thót của Trần Phương giờ
đây không còn cuốn hút mà chỉ gợi cho bà nỗi căm giận:
- Mình đã bị mê hoặc, mình đã thua…
Bà lẩm bẩm. Trời mưa từ sáng cho tới lúc chạng vạng. Chưa năm
nào, ngâu rả rích sụt sùi như năm nay. Lá rụng lẫn rác dồn trên các miệng cống,
đám công nhân vệ sinh đội nón, choàng áo mưa lặng lẽ hót rác vào những chiếc xe
kéo tay để đổ lên xe tải. Họ cặm cụi dưới mưa, giờ này qua giờ khác. Thỉnh thoảng
một con bé đang tuổi dậy thì, má đỏ như son đạp xe ngạo nghễ trên đường, mặc
cho áo quần tóc tai ướt dính. Cái cơ thể tươi non, tròn trịa và quyến rũ hiện
lên dưới lớp áo dính sát vào người. Ở quán nước chè, Nguyên đang ngồi, có bốn
người khách: Anh là một, người thứ hai và một một cặp tình nhân đã luống tuổi.
Người đàn ông cỡ ngoại bốn mươi, và người đàn bà cũng trạc cỡ đó – mã đã hơi chảy
dưới lớp phấn - ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn nhỏ bày đĩa bánh đậu còn đầy
nguyên với hai cóc nước chè đã nguội ngắt. Họ mê mải nhìn nhau, quên cả Nguyên
và bà già chủ quán đang ngoáy trầu trong chiếc cối đồng.
- Mưa ngâu, thật buồn như trấu cắn.
Bà già bỗng nói bâng quơ. Nhưng Nguyên biết rằng bà muốn trò
chuyện với mình. Anh đáp:
- Vâng, năm nay ngâu dài thật.
- Hồi tôi còn trẻ, cứ trời này là cả lũ con gái ngồi rang cốm
với rán bánh khoai. Bác đã được ăn bánh khoai Thị Cầu bao giờ chưa?
- Dạ, cháu cũng đã được ăn hai lần. Toàn vào dịp Tết Nguyên
Đán.
- Bánh khoai ấy tìm cả ngày ở đất Hà Nội này cũng không thấy…
Ngon thật là ngon…
Bà già bỏ miếng trầu vào miệng, cặp mắt mờ đục nhìn ra ngoài
trời. Chắc hẳn bà đang trở về tuổi thơ ấy và thời thiếu nữ trên thị trấn quê
hương. Nguyên thôi không nói chuyện với bà lão nữa vì anh bị câu chuyện của cặp
tình nhân lôi cuốn:
- Anh ta đã nói với em như thế…
Người đàn bà vừa nói với bạn tình sau một hồi lâu thầm thì kể
chuyện. Chị ta vụng trộm lau nước mắt. Những sợi gân xanh nổi trên cần cổ gày.
Người đàn ông hói trán nhìn chằm chằm vào những sợi gân ấy, xót xa. Khi người
đàn bà quay ra, mắt chị đỏ hoe và nỗi ngượng ngùng hiện trên vẻ mặt:
- Dạo này em còn uống Rimiphông không?
Ông ta hỏi nhỏ:
- Còn.
Người đàn bà gật đầu:
- Nhưng thuốc dạo này khó mua lắm.
Họ lại im lặng một lúc lâu. Ánh mắt hai người ngoắc vào nhau,
như rễ loại cây chùm mọc trên vùng đất mặn. Trong ánh mát ấy, vẫn còn những đam
mê sôi sục của tuổi trẻ, nhưng nhiều hơn là nỗi xót thương khắc khoải của những
kẻ đã trầm luân. Người đàn bà hoàn toàn không đẹp. Một tấm thân tầm thước trung
bình, một gương mặt trung bình, không nét nào lưu lại trí nhớ những người mới gặp.
Tuy nhiên, chị ta có cái vẻ chân thành và tội nghiệp khiến cho người khác dễ
tha thứ và mủi lòng. Từ cách trang phục xoàng xĩnh đến lối phấn son vụng về. Từ
cái nhìn rụt rè đến những cử chỉ khiêm nhường ngượng ngịu. Người đàn ông còn xấu
xí hơn. Một gương mặt cũ kĩ, một chiếc đồng hồ quai da cũ kĩ nơi tay, một chiếc
sơ mi đã sờn cổ, một chiếc quần lỗi mốt nhiều nếp ly rộng thùng thình…
- Em đã uống hết gói bổ sâm hôm nọ chưa?
- Chưa ạ.
- Thé sau tuần này anh đi Hải Phòng. Anh sẽ nhờ chị Hậu mua
Rimiphông cho em.
- Thôi anh ạ, phiền lắm…
Chị ta ngừng lại, rồi cúi thấp đầu xuống:
- Giá như ngày ấy…
Người đàn ông ngắt lời:
- Thôi em đừng nói nữa… Lỗi tại anh. Thế nào rồi chúng ta
cũng sẽ…
Hai người nhìn nhau. Và trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy họ bộc
lộ tất cả những gì mà lời lẽ không bộc bạch được: nỗi luyến tiếc, lời sám hối
và những trách móc, tình yêu được khơi dậy trong tro tàn của quá vãng và những
hứa hẹn cho hạnh phúc được vớt vát từ những mảnh hồ oan uổng… Trước đây, Nguyên
vẫn nghĩ rằng những bi kịch tình ái chỉ dành tiêng cho lớp người có suy nghĩ phức
tạp và có quá nhiều nhu cầu tinh thần cần thoả mãn. Giờ đây, anh biết mình lầm.
Tai họa ấy phổ biến trong toàn nhân loại, có lẽ có chỉ trỗi lên ở lớp ngời này
và giảm đi ở lớp người khác mà thôi. Hình như loài người luôn luôm tìm kiếm cái
nửa thân thứ hai của họ trên cõi mênh mông trái đất. Họ sẽ vấp ngã lần này rồi
lần khác sẽ thức tỉnh, rồi sẽ ngộ nhận, sẽ quay lại nhìn những lầm lạc của mình
rồi để lại sai sót lần khác… Họ sẽ tiếp tục tìm kiếm cho tới lúc sinh lực khô cạn
như dòng suối trên sa mạc và những khát vọng cũng thui chột hoàn toàn theo quy
luật thời gian. Có bàn tay thần bí vô hình nào đã đánh tráo cỗ bài nhân duyên
trước khi lật. Vì thế con xe hồng phải ghép đôi với con tượng đen, chú tốt điều
lại sóng cùng bà sĩ… Và suốt đời, con tượng sẽ quay lưng lại con xe, quân sĩ sẽ
quay lưng lại chú tốt.
Cặp tình nhân đứng lên, mặc áo mưa. Người đàn ông trả tiền rồi
quay lại bảo bạn tình:
- Này em.
- Gì cơ ạ?
- Từ rày, em đừng đánh phấn nữa nhé.
- Vâng, em có biết đánh phấn đấu, nhưng em tưởng rằng anh
thích thế?
- Không, anh không thích.
- Vậy từ nay em sẽ thôi…
Hai người ra đi. Mưa rắc từng lớp hạt cheo chéo lên vai họ. Một
chiếc ca pốt lính cũ bên tấm vải che mưa màu xám. Họ không thuộc loại người được
chú ý trong xã hội. Một con tốt đi tìm một con tốt khác, đơn giản thế thôi,
nhưng đó là hành trình thật sự của tình yêu. Nguyên đứng lên để nhìn hút theo
bóng họ. Hai người mỗi lúc một xa rồi mất hoàn toàn sau ngã rẽ. Người đàn ông
cô đơn bỗng hình dung tới những hình ảnh của một bộ phim khoa học viễn tưởng vừa
xem. Trên bộ mặt nứt nẻ, lồi lõm của một hành tinh mới, những con người mù loà
vì không thể nhìn thấy gì trong bầu khí quyển đặc màu lam. Họ quờ quạng tìm lối
đi… Phải chăng, những kẻ đi tìm tình yêu cũng giống như vậy?... Phải chăng Linh
cũng ở trong số ấy?... Linh sẽ vấp ngã đau khổ, và một ngày nào đó anh cũng sẽ
hẹn cô ở một quán nước để lại nhìn cô như người đàn ông hói trán nhìn bạn tình
hôm nay?... “Dù thế nào, ta cũng vẫn yêu Linh”. Anh thầm nói với mình những sau
vài phút bình tĩnh, anh chợt thấy mình ngớ ngẩn. Chẳng có gì đồng điệu trong
tình cảnh gia đình anh và hai con người vừa rồi. Những liên tưởng của anh thật
phiến diện và vô căn cứ.
Nhưng dù sao, anh vẫn nhớ cô điên dại. Mùi thơm trong tóc cô
như phảng phất trước mũi anh. Cặp đùi rắn chắc và vòng hông tròn dưới lớp lụa
màu hoàng yến. Chiếc áo cộc tay có viền ren quanh cổ… Nguyên nhớ rành rọt từng
thứ một. và anh cảm thấy không thể nào kiềm chế được ý muốn nhìn thấy cô. Anh mặc
áo mưa, đội mũ, trả tiền bà chủ quán rồi đạp xe tới trường. Dọc đường, anh nghĩ
rằng anh sẵn sàng quỳ xuống chân cô để xin cô trở lại với anh, anh sẽ chứng
minh cho cô hiểu rằng những tình thế con người không thể vượt qua được và bởi
điều ấy cô hãy tha thứ cho anh và hãy thương anh… Không, không có gì trọng đại
hơn đối với con người bằng cái hạnh phúc thật sự mà họ ao ước. Anh đã nắm được
con cá lớn, và anh đã để sổng mất. Bây giờ, anh phải lặn dưới con hồ kia mà tìm
kiếm…
Trước cửa thư viện, chỉ có một ổ khoá lớn. Linh đi vắng. Người
đàn ông đứng tần ngần nhìn những hạt rưa ròng ròng chảy trên mặt kính hồi lâu,
rồi chậm chạp dắt xe đi. Chỉ còn vài chục thước nữa, họ sẽ tới đền thờ Chử Đồng
Tử. Nhưng bà Hoa nhất quyết bắt cậu lái xe dừng lại:
- Cảnh đẹp quá... Chưa bao giờ em thấy hoa dâm bụt đẹp như ở
đây. Lại cả dậu bìm bìm kia kìa...
Bà reo lên nức nở khen ngợi cảnh làng quê. Chiếc xe đậu giữa
đường làng, mỗi bên chỉ chừa ra vừa một sải ty là chạm tới các dậu cúc tần hoặc
dâm bụt. Cậu lái xe đã quen với tính đồng bóng kì cục của bà, rời khỏi xe, rúc
đầu vào một bụi cúc tần hút thuốc. Trần Phương ngồi trong xe, đưa mắt nhìn theo
vợ. Bà đang ngất nghểu dọc theo các bờ dậu, theo sau là một lũ trẻ làng. Chúng
tò mò nhìn bà khách Hà nội ngót nghét năm mươi, bận quần bò, áo thun trắng, chù
tó giả quăn buông tới tận vai. Hai đường chỉ màu nâu kéo từ tinh mũi cho đến
chót thái dương. Một thứ sơn óng ánh như đóm đóm quẹt trên mi mắt:
- Ôi leo ơi, mắt xanh xanh là, nom cứ như mắt mèo ấy.
- Mày dốt, như thế mới đẹp chứ lị.
- Đẹp thì đẹp, nhưng nom sợ bỏ bố...
Chúng thản nhiên bình phẩm.
- Hoa ơi...
Chồng bà gọi. Bà quay lại chống cánh tay lên hông đưa mắt tiếc
rẻ liếc nhìn cảnh vật lần cuối và nói:
- Ở đây thơ mộng thật.
Trần Phương không đáp, ông nhăn nhó gọi cậu lái xe. Chàng
trai nhìn bộ mặt sa sầm của nhạc sĩ, lẳng lặng ngồi vào ghế lái. Cậu đã lái xe
cho bà Hoa bảy năm nay, hồi ông còn giữ chức vụ quan trọng và hai người thường
dùng chiếc Moscovic trắng của ông chứ không dùng chiếc Lađa của bà. Anh thuộc
tính nết họ, từ cách họ ghìm giữ nối tức giận trước mặt người khác tới cách họ
bày tỏ sự yêu chiều nhau vì lẽ nào đó...
- Phong cảnh ở đây giống như thơ Nguyễn Bính ấy.
- Ờ.
- Anh còn nhớ những bài anh đọc cho em nghe hồi chúng mình mới
cưới không.
- Ờ.
- Cái bài gì ấy nhỉ?... À, Hoa chanh nở giữa vườn canh, Thầy
u mình với chúng mình chân quê... Rồi sao nữa anh nhỉ?
- Ờ...
Bà quay sang nhìn chồng. Ông dang nghĩ ngợi điều gì đó, đôi mắt
như trôi dạt trong một vùng đất khác. Bà kêu:
- Anh nghĩ gì mà cứ ờ tràn đi như thế?
- Ờ ờ...
Xe đỗ lại, và tất cả bước xuống con đường lát gạch để đi tới
mái tam quan. Anh chàng lái xe đoán cơn thịnh nộ sắp xảy ra vội vã đi vọt lên
phía trước rồi biến mất sau những gian nhà dài rộng đón khách thập phương. Lúc
đó, bà Hoa năm tay áo Trần Phương kéo lại:
- Anh đứng đây em hỏi đã, anh đang nghĩ gì mà không thèm nghe
chuyện của em?
Trần Phương sực tỉnh. Ông cúi xuống nhìn bà vợ đang túm chặt
tay áo mình, mắt long lên dưới đôi mày kẻ chì giả tạo. Ông chợt cảm thấy như
ông có thể bóp nát bà, hoặc ném bà xuống dòng nước phía trước ngôi đền, hoặc là
chui xuống địa ngục để lần tránh cuộc hôn phối lầm lạc giữa họ. Ông không còn
giữ được vẻ bình tĩnh ngày thường, ông cao giọng hỏi lại vợ:
- Em làm sao mà kiểm soát được mọi ý nghĩ trong anh?
Bà chu chéo lên ngay tức khắc:
- Em là vợ anh. Đã là vợ chồng nghĩa là thuộc về nhau tất cả.
Em có quyền kiểm soát mọi ý nghĩ của anh.
Bà chu chéo lên theo thói quen. Đã từ lâu cứ mỗi bận bà chu
chéo lên là ông đều đấu dịu, giãi bày an tủi, khích lệ bà. Và kết thúc tất cả
những cuộc gay cấn ấy, bao giờ ông cũng để cho bà hiểu rằng trọn đời ông thương
yeu bà, rằng đối với ông không có gì quý hơn tấm tình son sắt thuỷ chung của vợ
ông… Nhưng lúc ấy, ông đã cúi xuống nhìn bà với đôi mắt xa lạ, ánh len những
tia màu tro xám:
- Cứ giả sử như anh đang nghĩ tới một người đàn bà khác, em
làm gì được anh?
Bà chưa chuẩn bị tinh thần để nghe một câu nói lạ tai như thế,
bà đứng đần mặt ra. Ông khẽ khàng nói tiếp:
- Cứ coi như là anh đang nghĩ tới một người đàn bà trẻ trung
và xinh đẹp.
Bà hiểu, mặt bà đỏ lên, và bà dẫm chân bành bạch xuống nền gạch,
hệt như mụ nạ dòng trong làng thuở xưa:
- Anh không được phép, anh không được phép…
Ông lạnh lùng gỡ tay vợ ra, và nói giọng chậm rãi:
- Cô nên nhớ rằng không có thứ phép tắc nào tồn tại trong
tình yêu của một người đàn bà đối với một người đàn ông. Chỉ có một luật lệ
thôi: đó là sự chinh phục lẫn nhau. Chừng nào còn sức mạnh chinh phục, chừng đó
còn tình yêu…
Bà đứng ngây như phỗng, không tìm được lời đối đáp. Xưa nay,
ông vẫn nín nhịn chiều chuộng bà. Chưa bao giờ ông cư xử tàn bạo như hôm nay…
Trần Phương hả hê nhìn vào đôi mắt rối loạn và gương mặt đờ dại của vợ. Hai đường
chì nâu thay thế cặp lông mày giờ bóng nhẫy mồ hôi, trông đến tởm. Mấy giọt mồ
hôi bò dưới mái tóc giả chảy xuống trán. Nỗi căm uất từ hố sâu nhẫn nhịn trồi
lên. Ông khao khát được dày vò bà:
- Cô lấy gì để chinh phục tôi? Nhan sắc của cô chăng, hay đức
hạnh? Sống với cô bụt cũng điên chứ đừng nói người đàn ông bình thường.
Bà Hoa lùi lại một bước. Bà vừa nhận thấy sự kinh tởm trong
ánh mắt chồng. Bà hiểu rằng trong khoảnh khắc này bà chỉ là một đồng xu hoen rỉ
thời Tự Đức không thể tiêu xài được. Dù đã vận thứ áo quần sang trọng nhất,
dùng những đồ mỹ phẩm và nữ trang đắt tiền nhất bà cũng chỉ là một xác chết
trong lòng khinh ghét của ông. Lâu nay, bà vẫn tưởng rằng bên những ưu thế
chính trị, tấm tình thuỷ chung và những gì bà đắp điếm lên thân xác cũng khiến
ông phải yêu mê hơn…
Trần Phương nhìn cặp mắt bạc phếch của vợ. Rồi cơn khát thèm
hung dữ kia mỗi lúc một dậy lên bạo liệt trong ông. Ông khát thèm được làm nhục
bà, được di bà dưới chân như người ta di một con sâu vừa tìm thấy trong mớ rau
hoặc chùm quả sắp đem ăn. Những màn kịch trường kỳ trong quãng thời gian chung
sống đã tích tụ lại trong ông khả năng khuất phục giả tạo. Sự khuất phục đó giống
như con thú rình rập trong bụi rậm – cái hình hài của kẻ thống trị phải thu
mình đợi chờ, mai phục. Giờ đây, con thú đó vươn vai, duỗi vuốt, gầm lên:
- Thế nào, sao cô im lặng thế? Ngày thường cô nói như bắn
súng liên thanh cơ mà? Nói đi, cô có gì để chinh phục tình yêu của tôi?
Ông cười, môi nhếch lên để lộ hàm răng trắng bóng. Bà Hoa tắc
họng, không nói được. Bà nhìn như bị đóng đinh vào hàm răng vô cùng trẻ trung ấy
và cảm thấy mình lún xuống tận dưới bùn. Phải đó là ưu thế của ông. Bà đã si mê
ông hai mươi năm nay nhưng bây giờ bà biết mình chỉ là tên nô lệ cho chồng. Bà
đoán ông có những mối tình trăng gió sau lưng, những lời lẽ ngọt ngào của ông
và lòng tự ái của bà ngăn cản bà công nhận sự phũ phàng ấy. Và bà trang điểm, cố
tỏ ra thông minh, cố tỏ ra hiểu biết để níu giữ ông. Cứ mỗi lần bà quẫy lộn,
quăng chân quăng tay trên giường là ông lại tới giảng giải thề thốt rằng chỉ
riêng bà là người phụ nữ ông tin yêu và kính trọng… Giờ đây, tất cả biến thành ảo
ảnh. Bà thẫn thờ nhìn ông, có lục tìm trong óc não những lý do xui khiến ông
thay đổi cách cư xử với mình:
- Biết thế sớm nay…
Bà hối tiếc. Sáng nay, ông giục bà lên gặp người bạn than thiết
với ông bố liệt sỹ để hoàn thất khâu cuối cùng công việc cho ông. Ông đã gặp cậu
Lưu tuần trước và mọi sự đã tiếp diễn tốt đẹp. Chỉ cần cuộc gặp gỡ này nữa, kết
quả cuối cùng sẽ tới… Nhưng bà, vì muốn tỏ ra mình là người biết thưởng ngoạn
những công trình văn hoá cũ và phong cảnh nên đã buộc ông tới đây.
- Biết thế…
Bà đã sai lầm, những giọt nước mắt nóng hổi tràn qua mi chảy
trên má phấn lem nhem. Bà ngước nhìn chồng với đôi mắt đỏ hoe và đờ dại. Vốn là
một cô hàng xén phố rừng, bà không biết cách tự vệ trong những lúc nguy nan. Bà
cứ khóc nức lên từng hồi như đứa trẻ. Trần Phương nhìn vợ, lòng căm ghét đã
nguôi ngoai, ông bỗng thương bà như người ta thương con mèo ăn vụng bị một gậy
oằn lưng. Ông hạ giọng:
- Đừng khóc nữa, người ta cười cho bây giờ.
Lời an ủi của ông khiến bà mủi lòng, và bà càng nức nở thảm
thiết hơn. Trần Phương vừa buồn cười, vừa bực, ông đặt tay lên vai vợ, hạ giọng:
- Em ngốc thế, sao lúc nào cũng nghĩ chuyện vẩn vơ. Mình có
còn ở tuổi hai mươi đâu mà tơ tưởng trăng hoa. Anh thì đang nẫu cả ruột…
Ông đã bấm trúng huyệt, bà nín ngay tức khắc. Nhạc sĩ biết vợ
tính đồng bóng nhẹ dạ. Ông nghiêm giọng nói thêm:
- Lẽ ra, em phải biết thương anh. Đừng vẽ chuyện mà hành hạ
thêm nữa.
Bà im lặng nhìn chồng với ánh mắt biết lỗi. Bà hoàn toàn tin
mình là kẻ tội phạm, rằng bà đã vô cớ gây cho ông cơn bực tức, rằng bà đã không
làm tròn nhiệm vụ của người vợ là phải san sẻ những gánh nặng cho chồng... Bà
len lén nắm tay ông:
- Em xin lỗi anh... Em xin lỗi...
Trần Phương không đáp, đôi măt ông bất động dưới hàng mi rợp,
tựa như hai mảnh vỡ. Bà Hoa lùi lại sau lưng chồng, vào nhà dân ở gần đó xin nước
giếng rửa mặt. Rồi ngồi dưới rặng dâm bụt, bà tô vẽ lại bộ mặt của mình. Mười
lăm phút sau họ vào đền thăm, bà Hoa lại nói như bắn súng liên thanh đủ mọi thứ
chuyện: nào chuyện chính trị, chuyện thơ ca, dăm ba câu ngạn ngữ, những biến cố
ở một quốc vương nào đó vùng Châu Phi. Tất cả những gì được thu lượm vào cái
trí nhớ cạn cợt, và lộn xộn của bà. Trần Phương im lặng, thỉnh thoảng ông giơ đồng
hồ lên xem và nhắc vợ:
- Còn nửa giờ nữa thôi đấy nhé?
Họ đã trở về thành phố trước lúc trời chiều. Hai người ghé
vào một tiệm ăn rồi về nhà tắm giặt. Lúc thành phố lên đèn, chiếc Lađa xanh đưa
bà Hoa tới nhà ông chú. Ông vốn yêu thương bà. Ai mà chẳng yêu thương đứa con
côi cút của người bạn thời tù đầy đen tối. Ông đã từng tuyên bố trước vợ và bốn
đứa con: "Bố có thể yêu các con vì bố đẻ ra các con. Nhưng thương, bố phải
thương chị Hoa hơn tất cả".
Đám con ông thầm ghen tị bởi những ưu đãi ông dã giành cho chị
Hoa, nhưng không ai dám to nhỏ nửa lời.
- Em mang khăn đi kẻo lúc về trời lạnh.
Trần Phương bảo vợ khi bà bước lên xe. Giá lúc đó vợ ông quay
lại, hẳn bà sẽ thấy mắt ông rực lên một ngọn lửa khó tả. Nhưng bà đang gài chiếc
khuy áo, bà chỉ đáp vắn tắt:
- Em đã bỏ vào trong sắc rồi.
Cánh cửa đã sập lại và chiếc Lađa vụt ra cổng. Trần Phương
leo lên chiếc cầu thang, về phòng. Những khuôn cửa mở toang khién ông nhìn rõ
cùng một lúc cả những ngôi sao liti lẫn ánh đèn thành phố. Vòm cây tối đen lay
động và mùi dạ hương thoang thoảng bay lên. Khung cảnh êm đềm nhưng đầu ông
nóng sực. Những ý tưởng chen lấn, chồng chéo, xô đẩy nhau trong óc não ông, giống
như một lũ ô tô chạy cuồng loại trong ánh đèn pha loang loáng rượt bắt. Nhạc sĩ
đặt tay lên trán, trán ông hầm hập như đang cơn sốt. Ông uống một cốc nước lạnh
nhưng không ăn thua, tâm trí ông bồi hồi bồn chồn, các ý nghĩ xáo trộn không
sao đến đầu đến đãu… Tất cả quay tròn với lực ly tâm.
"Tại sao mình lại đốn mạt thế nhỉ?... Có gì đáng để quay
cuồng lên như vậy?"
Ông thầm mắng mình dữ dội và sải những bước dài trong phòng.
Các ý tưởng, những lo sợ, hy vọng và nỗi phấp phỏng cùng lúc đè trĩu trái tim
ông:
"Danh vọng, ấy là thứ giá trị hư vô nhất trong đời sống.
Nó không phải vàng dưới mỏ, muối trong nước biển, hạt lúa giữa bình nguyên… Nó
không là cây gỗ từ cánh rừng sâu thẳm đưa về thành phố, không là tấm da thú hiếm
hoi người thợ săn tặng cho vợ mình lúc rạng đông… Câu này mình đã đọc ở đâu nhỉ?
Trong một cuốn sách của Châu Mỹ la tinh… Cần phải xem danh vọng như con cáo bị
trúng đạn ngay trước hang ổ của nó anh hãy lột tấm da mà mang về…"
Những lời lẽ ấy gõ vào tai trái nhạc sĩ. Nhưng những lời lẽ
khác lại gõ vào tai phải của ông:
"Thành công, không thành công, thành công, không thành
công… Ngày xưa, người ta bói tình yêu bằng cách bứt những cánh hoa. Giờ, mình
bói chuyện công danh bằng cách đếm những bước chân. Hai mươi, hai mươi hai, hai
mươi bốn… thành công. Hai mươi lăm, hai mươi bảy, không thành công…"
Trong lồng ngực ông, con tim đập dữ tợn như một con chim
trúng thương đập cánh. Ông rót cốc nước lạnh thứ hai, uống cạn rồi tới cây đàn
dương cầm:
- La, si, đô.
Tay ông lần theo bài tập chạy gam La trưởng. Tiếng đàn giống
như những hòn sỏi từ trong ống bị dốc ra, lăn theo mặt phẳng kê nghiêng:
“Nốt đô thăng này hơi mòn, có lẽ phải bảo cậu Hồng tới lên
dây lại…”
Ông nghĩ, cố tập trung toàn bộ thần kinh vào những âm thanh.
Sự cố gắng làm toàn thân tê bại hẳn đi. Một cảm giác bí bức xâm chiếm ông giống
cảm giác của người không được thở đủ lượng oxy cần thiết. Đầu ông nặng tới mức
cổ và hai vai mỏi nhừ. Trần Phương bỏ ra giường nằm và ông thiếp đi ngay. Khoảng
chín giờ, nhạc sĩ tỉnh dậy. Ông rửa mặt rồi ngồi vào đàn ngay. Lần này, những
âm thanh lôi cuốn ống khỏi cơn ám ảnh về sự thành bại. Khi Trần Phương lật mở
cuốn sách chép nhạc của mình, ông lật đúng bản nhạc ông đã viết tặng Phương
Linh:
“Cô bé này đã cứu mình…”
Ông nghĩ và gương mặt xinh đẹp mặn nồng của cô hiện lên ngay
giây phút đó, như một rừng đào chợt hiện lên sau thung lũng đầy sương. Ông gõ từng
nốt và những âm thanh lần mở cho ông khoảng thời gian hạn hẹp vàng ngọc mà họ
đã cùng sung sướng bên nhau. Theo chiều dài của các âm giai tiếp nối, mỗi lúc
những hồi ức yêu đương một lôi cuốn nhạc sĩ và tâm hồn ông trở nên thanh thoát
dần.
Lúc ấy, bà Hoa về:
- Em biết mà, chú thương mình lắm. Chú bảo rừng không có điều
gì cần lo nghĩ…
Trần Phương ngồi lặng đi. Cánh hoa cuối cùng của định mệnh đã
rơi xuống. Ông thắng rồi. Chiếc moscovic trắng lướt qua mảnh sân, cùng với nỗi
chua xót ám ảnh ông lâu nay và niềm say sưa trong cơn hy vọng. Ông quay lại:
- Cảm ơn em!
Bà Hoa cười, sung sướng:
- Chú bảo em ở lại ăn chè nhưng em sợ ở nhà anh sốt ruột.
Bà nhìn vào quyển sổ chép nhạc của ông:
- Anh đang chơi bản đàn gì thế?
-Anh vừa viết xong một bản…
Ông đáp lời, hoàn toàn vô thức, và sau đó một ý tưởng còn
chưa kịp hình thành trong óc não, nhưng lời đã vụt khỏi môi.
- Một bản nhạc dành cho em.
Bà vợ ông kêu to:
- Tuyệt quá...
Bà lao tới bên chồng:
- Nào, anh đàn cho em nghe...
Trần Phương gõ các phím đàn. Vừa gõ ông vừa quay mặt đi mỉm
cười. Gương mặt ông trong tấm kính cửa: hàm răng trắng bóng phô giữa hai làn
môi.
°
Linh nhớ mãi buổi sáng sương mù thời thơ ấu. Thời thơ ấu ngắn
ngủi như cánh chim bay qua lúc rạng đông. Các tia chớp bất chợt loé sáng, các hồ
nước im lặng giữa vùng thiếu gió và tiếng ngân khe khẽ của các âm thanh đơn điệu
mơ hồ. Sương mù, cả một vùng sương mù lảng vảng như khói trên mặt đất. Tại sao
mẹ lại sớm bỏ cô mà ra đi như vậy? Có lẽ, Linh không sao hiểu nổi và trong đáy
sâu tâm khảm mình, cô đã trách móc khôn nguôi. Từ lúc bà chết, cõi đời với cô rộng
rênh, hoang vắng:
- Con gái ơi, ra với bố nào...
Bố cô thường gọi cô như thế, giọng nghẹn ngào, nồng hơi rượu.
Chính ông cũng có lỗi với cô. Ông yêu bà đến nỗi trái tim ông không còn đủ chỗ
dành cho đứa con gái và ông đã bỏ cô để đi về cõi đất âm u tìm vợ. Chính ông đã
dạy cho cô hiểu thế nào là tình yêu. Trí nhớ tản mạn, mong manh của Linh hội tụ,
trở nên sáng rõ dưới mặt trời hiện tại, dưới quyền năng mãnh liệt của mối tình
cô đang thờ phụng. Sự nghiệm sinh có sức mạnh vĩ đại hơn chúng ta tưởng, chính
vì nó đã rọi phóng ánh sáng và hơi ấm vào cuộc đời quá vãng khiến cho những vật
mơ hồ bị vây bọc giữa đám sương mù vô thức trở nên góc cạnh và rõ nét, và tất
thảy những cảm giác vấn vương, tăm tối mà trí não non nớt của tuổi thơ không
sao nắm bắt được bỗng biến thành những ý tưởng sắc bén, những gọi mời quyến rũ.
Linh nhớ những chiều ấm nóng, ánh hoàng hôn diệu vợi trải trên đất đai vườn tược,
bố cô thường lặng lẽ ngồi vài giờ liền bên vợ. Bao giờ bà cũng có một việc để
làm: hoặc đan len, hoặc mạng tất hoặc nhồi bột làm bánh chay... Còn ông, ông cứ
ngồi như cái bóng. Trước đây, Linh thấy bố kì dị. Giờ, cô hiểu rằng niềm đam mê
đã đem lại cho ông dáng vẻ lạ lùng ấy. Giờ đây, cô cũng có thể ngồi vài giờ
lièn cạnh Trần Phương, nghĩ tới ông triền miên ngày này qua tháng khác, có thể
sung sướng nhìn đôi mắt đen u sầu của ông chìm dưới hàng mi rợp, ve vuốt những
nếp nhăn trên gò má và sau đuôi mắt ông... Tình yêu nào cũng thế, nó gán cho đối
tượng những vòng hào quang bí ẩn, những mối cảm thương bị che giấu trong bóng tối
và vì thế nó khơi dậy trong óc não lẫn tâm linh kẻ si mê những thắc mắc khôn
cùng, những quyến rũ khôn cùng, những trắc ẩn không cùng...
Đã bắt đầu mùa thu thực sự. Sau đợt mưa ngâu dầm dề, các rặng
cây ven đường tự dưng bạc hẳn lá đi như được phủ thiếc. Rồi những chiếc lá đầu
tiên rớt xuống hè màu xanh già sau gả sang xám với những đốm vàng nâu lấm tấm.
Đám con gái ở tuổi chưng diện là những kẻ đầu tiên đón nhận thời tiết. Các loại
sơ mi thêu ren lộng lẫy cũng như những tấm áo sợi in hình băng nhạc ABBA,
BONNEY... đã biến mất. Thay vào đó là các loại sơ mi vải bông hoặc áo pun mềm.
Các ông bà già và hưu đi trên hè phố, ngước cặp mắt bạc phếch nhìn vòm cây. Họ
tìm thấy trong cái xao động xanh om của nó tiếng thì thầm vô thanh của thời
gian, cái lặng lẽ khắc nghiệt của tuổi đời. Chốc chốc, những con gió chạy rần rật
trên mái phố, chưa mang nỗi buồn hoang hoải của heo may nhưng đã nhạt phai sắc
màu rực rỡ của mùa hè. Thời khắc những đam mê của tuổi già chưa tới. Thời khắc
các con tàu ngủ trên mép nước và những day neo lững lờ trong bến cảng... Gã trầm
ngâm với những ý nghĩ về thời gian. Chợt gã thấy Linh, người con gái đã biến mất
sau lần gặp gỡ. Cô đang dắt một đứa bé đi phía bên kia đường. Họ đi sát vào các
cửa hiệu và đứa bé đang bi bô gì đó:
- Có lẽ dó là đứa con của anh trai cô nàng?...
Gã nghĩ, băng qua đường, êm nhẹ bước sau lưng cô. Gương mặt
cô nhìn nghiêng và nhìn vát từ phía sau cũng đẹp lạ lùng. Vẻ đẹp khác biệt vẻ đẹp
gã đã ghi nhận trong quán cà phê bữa trước. Linh chợt dừng chân trước một quán
giải khát:
- Mẹ ơi, mua bánh ga tô cho con...
Đứa bé đòi... Gã hoạ sĩ dường như sững lại: Trời ơi, con cô
nàng đó sao? Nàng đã là một thiếu phụ?...
Linh lục túi áo, bảo con:
- Bữa khác con nhé, mẹ không đem theo tiền mua bánh.
Đứa bé kêu to:
- Ứ ừ, con muốn mua bánh cơ. Trong túi mẹ có tiền.
- Đây là tiền mua rau. Người đàn bà giải thích – Mai mẹ sẽ
mua bánh cho con.
- Ứ ừ…
Đứa bé kêu to hơn và chực mếu máo. Linh vội vã bế nó lên:
- Thôi được, mẹ mua cho con ngay đây…
Gã nhìn vào gáy Linh khi cô đứng quay mặt vào cửa hiệu. Tóc
cô cuốn cao lên, để lộ mảng da trắng ngà với lớp tóc tơ mềm mại. Chủ quán, một
ông già có gương mặt khắc khổ ra bán hàng. Đứa con gái kiễng chân nhìn chiếc
bánh trong gói giấy ông già đưa cho mẹ nó:
- Mẹ ơi, sao hôm nay mẹ mua ít thế?
Xưa nay, Linh thường mua một lần nửa tá bánh ngọt cho con. Đứa
bé không hiểu những gì đã xảy ra trong gia đình nó. Trí não non nớt chỉ băn
khoăn bởi những xáo trộn trong nếp sống ngày thường. Trước đây, nó luôn luôn có
cả bố lẫn mẹ. Giờ, nó chỉ được sống với một người. Trước đây, hộp bánh kẹo lúc
nào cũng đầy ắp, và mẹ có thể mua cho nó vài cân kẹo hoặc nửa tá bánh gatô với
nụ cười tươi rói. Giờ đây, hộp bánh chỉ lèo tèo dăm chiếc kẹo vừng hoặc gói chè
lam. Một lần mua bánh ngọt cho nó, mẹ không còn tươi cười như trước. Các bữa
cơm ít thịt cá hơn, mẹ không ăn để nhường cho nó và con bé cảm thấy thiếu vắng
cái gì đó trong đời sống mà nó không hiểu nổi…
- Nào mẹ, đưa cho con.
Hương Ly láu táu đòi. Nó cầm bánh, ăn ngấu nghiến. Linh nhìn
con, nỗi đau dâng tới họng. Lâu nay, cô đã tín tới những món tiêu nhỏ mọn. Vì tự
ái, cô đã không nhận những món tiền chồng gửi qua bà Phượng hoặc Kim Anh - Những
đồng tiền dơ dáy... – Cô nghĩ và con người lý tưởng trong cô lần lượt trải qua
nỗi cay đắng của sự nghèo túng. Ngoài giờ làm việc, Linh nhận viết phích cho một
thư viện và đan len thêm. Nhưng những lao động ấy cũng chỉ đem lại cho cô những
món tiền eo hẹp. Gương mặt Linh tóp lại, xanh xao. Đôi mắt trở nên mênh mông
hơn, sáng chói hơn và vì thế nhuốm vẻ quyến rũ lạ lùng. Cô chịu mọi sự thiếu thốn,
cố gắng để cho con không cảm thấy khổ quá khi sống với mình.
- Mẹ ơi, bánh của ông nhỏ quá, mẹ mua nữa cơ.
Con bé đã ăn quá nửa chiếc bánh ngọt, nhìn tủ bánh vòi vĩnh.
- Mai, mai mẹ sẽ mua... Về nhà đi con...
Người đàn bà nói vội vã rồi bế đứa con đi ngay, sợ rằng chần
chừ thêm một phút nữa, nó sẽ dụ cô vào một tình thế xót xa. Khi vượt qua đường,
Linh chợt thấy gã đàn ông râu ria cô đã gặp vài lần trong quán cà phê. Y đang
nhìn cô, và rõ ràng trong ánh mắt y có một thứ tình cảm nào đấy mà cô không cắt
nghĩa được.
Bé Hương Ly đã quá nặng đối với đôi tay mảnh khảnh của mẹ nó.
Chưa hết dãy phố, Linh đã phải đặt con xuống thở. Ngừng lại vài phút, vẫn thấy
gã đàn ông râu ria ở phía sau, cô lại bế con đi. Lúc tới cổng trường, cảnh vật
bắt đầu xoay quanh cô những những chiếc mâm bạc lốm đốm vệt đen, vừa lấp loáng,
vừa u tối. Rất nhiều bầy đom đóm, không toả sáng mà phát ra những tia lửa đen
như than đá bay lượn trong không trung. Cây phượng vĩ đứng ở đầu hồi văn phòng
chạy tít về phía xa, gù gù như thằng hề mặc áo nhiễu lục.
Mảnh sân trường phồng lên, giãn nở như tấm cao su dưới chân
cô:
- Mẹ ơi i i i...
Cô nghe con gọi. Rồi một tiếng khóc xa vời vẳng tới. Làn nước
đen thẫm từ từ dâng, tràn ngập mọi miền. Phố xá, sông hồ, đất đai chìm dưới những
gợn sóng câm nín và lạnh lẽo. Một âm giai huyền điệu khẽ cấtl ên, lượng lờ trên
đại dương đen kì ảo đó, phiêu diêu trong cõi khôn cùng của vũ trụ - nơi những
giấc mơ của con người hoà nhập với niềm thống khổ mà họ phải chịu đựng trong
cõi đời.
- Anh ơi i i... Em chết mất...
Cô cất tiếng kêu người tình. Trần Phương mỉm cười với cô bên
kia ngọn triều đen thẫm:
- Em không bao giờ chết, tình yêu của anh sẽ giữ gìn em mãi
mãi.
Trời ơi, đã bao lần ông nói với cô điều đó?...
Vào lúc Linh ngã xuống, bé Hương Ly khóc thét lên. Đám học
trò của cô được nghỉ giờ Hoá ùa ra sân chơi. Chúng xô tới, khiêng cô vào văn
phòng. Kim Anh đang làm việc với tổ bộ môn toán tại đấy. Chị bế Linh đặt lên
bàn, cùng vài giáo viên khác làm hô hấp nhân tạo. Những học sinh gái bắt đầu
rân rấn nước mắt. Đám con trai đứng xa hơn, nín lặng nghe ngóng. Một giáo viên
chạy đi gọi y tá. Khoảng mười phút sau, anh hổn hển quay về báo tin:
- Chị Khuyên về đây rồi... May thật...
Y tá trường vừa đi mua thuốc về. Chị bỏ túi thuốc xuống ghế rồi
bảo mọi người:
- Cho tôi thở một tý nào, dãn cả ra.
Đám học sinh lùi ra ngoài cửa văn phòng, hau háu nhìn chờ đợi.
Chị y tá lấy trong túi cứu thương chai cồn, đổ một ít vào hộp ống tiêm, xoè
diêm đốt. Các động tác nhanh nhẹn và chính xác. Kim Anh đặt một ngón tay trước
mũi Linh hỏi:
- Có sao không chị Khuyên?
Chị y ta lắc đầu:
- Không sao cả, tiêm hồi sức và đường glucô là cô ấy tỉnh.
Chị Khuyên rút ống tiêm và kiêm tiêm từ đám lửa xanh ra một
cách cẩn trọng, rồi bẻ ống thuỷ tinh, rút thuốc. Mọi người dán mắt vào đôi tay
chị y tá. Lấy thuốc xong chị bảo một giáo viên đứng bên mình:
- Bóp cánh tay cô ấy lại cho tôi tìm ven… Như thế này này…
Vừa nói, Khuyên vừa xoa cồn. Chị đưa mắt dò tìm trong khoảnh
khắc và loáng một cái, mũi kim đã thọc xuống lớp da xanh nhợt. Khuyên rút cần ống
tiêm, một gợn máu theo mũi kim chạy ngược lên, toả dần những tia mỏng như khói.
Chị hiệu trưởng chăm chú nhìn dung dịch đường glucô tinh lọc
hoà với máu đen trở thành thứ nước màu nâu nhạt. Lúc đó, ai khẽ kéo cánh tay chị:
- Thưa cô…
Một bé gái học sinh vào loại nhỏ tuổi nhất trong lớp học của
Linh kiễng chân, ghé vào tai chị thì thầm:
- Thưa cô, có người hỏi cô Linh ạ.
- Ai thế, em biết không?
- Thưa cô không ạ. Trông ông ta lạ lắm.
Chị y tá tiêm xong, buông một tiếng trống không:
- Yên tâm.
Rồi khoác túi cứu thương lên vai, chị đi ra nhanh như chớp.
Gương mặt Linh đã dần trở lại màu trắng ngà của da thịt. Cô thở đều đặn. Kim
Anh bảo đám học sinh ra sân chơi rồi chị đi cùng với bé gái ra cổng:
- Sao em không mời ông khách vào văn phòng?
- Thưa cô, em có mời nhưng ông ấy bảo phải đi ngay.
- Trông ông ta thế nào?
- Thư cô, râu ria nhiều lắm ạ.
- Ông ta hỏi gì cô Linh?
- Thưa cô, thoạt đầu em đi tìm giẻ lau cho lớp, ông ta tới hỏi:
Cháu có thấy cô nào mặc áo xanh chấm trắng dắt đứa bé buộc nơ đỏ vào đây không?
Em đáp: Đấy là cô giáo Linh. Ông ấy ảo: Cháu mời cô Linh ra gặp người quen. Em
nói rằng cô giáo vừa bị cảm gió đưa vào văn phòng. Ông ấy đứng một lúc rồi bảo
em vào mời cô ra… Đấy, ông ta kia kìa…
Kim Anh nhìn theo hướng tay đứa bé và chị thấy một người đàn
ông râu tóc xồm xoàm, đeo chiếc túi thổ cẩm có tua "trông đến gớm" -
Chị nghĩ thoáng qua nỗi lo lắng. Nhưng gã đàn ông ấy đã đi tới trước mặt chị,
không đủ thời gian để chị ngờ vực thêm:
- Chào chị ạ.
Gã cúi dầu chào, chẳng ra khiêm nhường cũng không ra lấc cấc.
Điệu bộ gã từa tựa như điệu bộ của một thằng bé mười sáu tuổi.
- Chào anh.
Kim Anh đáp lễ và hỏi:
- Chắc anh có điều gì nhắn với Linh?
Chị thấy đôi mắt của gã khách hiền và trong trẻo. Ngoại trừ bộ
râu kiểu Enghel và hàng ria tựa dân Côdắc, trông gã cũng không đến nỗi phải
rùng mình. Gã tự giới thiệu thay vì trả lời câu hỏi của cô:
- Tôi là hoạ sĩ.
- Vâng
- Tôi nợ chị Linh một món tiền.
- Thế ạ…
Đọc thấy vẻ ngạc nhiên trên mặt Kim Anh, gã giải thích:
- Thế này chị ạ… Chẳng là tôi đã nhờ chị Linh làm mẫu để vẽ…Nhưng
tôi chưa trả đủ tiền thù lao.
- Quái lạ, cô ấy có thời giờ ngồi làm mẫu vẽ cho anh à?...
Kim Anh buột nói một câu ngờ vực:
- Có chứ, có chứ chị… Gã hấp tấp:
- Tôi chỉ cần vài giờ ngày chủ nhật thôi… Kim Anh im lặng, chị
biết gã nói dối vì chủ nhật nào Trần Phương cũng chở Linh và họ đi tới nơi nào
đó ở ngoại ô thành phố. Gã đàn ông cúi xuống lúc túi, tìm chiếc phong bì:
- Nhờ chị chuyển giúp cho chị Linh.
Vài giây ấp úng, gã thêm:
- Cho tôi... gửi lời thăm chị ấy.
Kim Anh cầm chiếc phong bì, do dự, rồi chị hỏi:
- Theo nguyên tắc tài chính, tôi là người chuyển giao, vậy
xin anh cho biết tên và số tiền là bao nhiêu?
Gã đàn ông luống cuống:
- À à…
Gã định rút lại chiếc phong bì để mở xem nhưng sau đó lại
thôi. Cuối cùng, gã lắp bắp:
- Chắc là… chắc là…
Mặt ngẩn ra, gã nhìn Kim Anh cười, nhún vai:
- Xin lỗi, thực ra tôi cũng không biết là bao nhiêu… Tôi vốn
có tính đãng trí. Tiền này do anh em trong xưởng vẽ đưa.
Nói xong, gã cúi chào:
- Chị giúp cho, tôi xin cảm ơn chị.
Gã đi, mái tóc dài gần chấm vai lắc lắc. Kim Anh nhìn theo,
và sau một giây đắn đo, chị gọi:
- Này, anh.
Gã, quay lại, đôi mắt hiền nhìn chị thay vì cho một câu hỏi:
Kim Anh không trấn áp được nỗi tò mò, chị bật lên:
- Anh… anh có phải là người… quen của nhạc sĩ Trần Phương
không.
Gương mặt gã tối sầm, gã đáp:
- Tôi không quen con người đó…
Và gã lầm lũi bước.
Kim Anh cùng cô bé học trò trở lại văn phòng trường. Chị ngồi vào bàn làm việc mở phong bì: Một xấp tiền buộc sợi cao su. Một tờ giấy gập làm tư nguệch ngoạc những dòng chữ:
"Tao đã tới triển lãm kí nhận tiền cho mày từ hôm kia nhưng tìm mãi không thấy ông tướng nhà trời đâu nên đành ném qua khe cửa sổ. Mấy hôm nay, mày say sưa ở đâu vậy. Tụi triển lãm keo cú lắm, nó chỉ trả tụi mình mỗi thằng ba nghìn năm trăm rưỡi thôi. Tao nói không tiện, nhưng mày hãy tới dạy bảo chúng đôi điều, cái lũ treo đầu dê bán thịt chó ấy. Này, mồng bảy này thằng Thảo què ở trong kia ra, mày tới uống rượu mừng nó nhé. Địa điểm tại nhà thằng Bách. Sẽ có thịt chó, ngoại hạng. Nhớ gọi cả thằng Đào Hùng sứt răng tới."
Theo thói quen của đàn bà, Kim Anh đếm món tiền. Ba ngàn năm trăm. Chị nghĩ ngợi hồi lâu. Chắc chắn Linh sẽ không đụng đến một xu nếu chị tường thuật lại mọi sự. Cô là người tự trọng tới mức gần như gàn dở. Đã nhiều lần bà Phượng đem tiền Nguyên gửi cho bé Hương Ly tới trường nhưng Linh đều từ chối. Cô muốn nuôi con bằng đồng tiền trong sạch của mình… nhưng lúc này, tình cảnh của Linh thật khó khăn. Kim Anh cất món tiền vào ngăn kéo, khoá lại.Chị quyết định sẽ đưa dần cho Linh từng ít một, dưới danh nghĩa các chi phí hợp lí và các khoản thù lao.
Hà Nội, 27/5/1986
Dương Thu Hương
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét