Thứ Bảy, 10 tháng 1, 2026

Quầng trăng lơ

Quầng trăng lơ

Bông Hoa Nâu
Mọi người đều biết rằng mùa thu bắt đầu với ngọn gió may.
Trời xanh một màu xanh đẹp đẽ, nổi trôi những đám mây xốp như bọt biển. Tít trên cao, từng đàn chim bay qua thành phố, trông xa như những nắm hạt cải bị gió cuốn đi. Không có nắng, chỉ có một thứ ánh sáng màu lơ nhạt tỏa trong không trung, thật dịu dàng.
Chú bé Minh ngồi tựa lưng vào cửa. Trước sân, mẹ đang giặt quần áo, bọt xà-phòng trắng xốp nở phồng trên miệng chậu thau nom như một tảng trứng ếch kỳ dị khổng lồ, nhiều chiếc bọt nhỏ bắn lên, bay lấp lánh.
Minh chống tay vào cằm lặng lẽ nhìn đám bọt xà-phòng, mẹ chú ngạc nhiên vì không thấy con chạy ra chơi thổi bong bóng như mọi bữa. Mẹ lo lắng nhìn chú và hỏi:
— Minh, con ốm phải không?
— Không ạ!
— Sờ trán xem sao?
Minh đưa tay xoa trán mỉm cười:
— Trán con mát rịm mẹ ạ.
Mẹ tiếp tục vò xát quần áo nhưng thỉnh thoảng lại liếc nhìn con.
Minh vẫn đang im lặng theo dõi những chiếc lá trên sân. Cây hoa thùy-liên đã bắt đầu rụng lá, những chiếc lá bé xíu như những mảnh con vàng. Chú nhặt một hạt vàng nhỏ bé đó, tung lên cho gió cuốn trôi đi đến gần mẹ:
— Mẹ ơi!
Mẹ chú quay lại, băn khoăn chờ đợi.
— Mẹ ơi, ngày hôm qua con được điểm chín văn...
Người mẹ cười âu yếm:
— Thế à, con mẹ giỏi quá.
Chú bé phụng phịu, vẻ không bằng lòng. Chú luôn luôn được điểm chín và mười môn văn. Chú khẽ cau mày nói:
— Tuần trước con cũng được điểm chín... Nhưng... cô giáo không phê bài như hôm nay.
Người mẹ bỏ chiếc khăn đang vò dở xuống chậu, ngoảnh mặt nhìn con.
— Cô giáo phê thế nào?
— Cô giáo chỉ phê một chữ thôi... Cô giáo phê là «Lạ!»
Mẹ chú bé nhúng hai cánh tay dính đầy xà phòng vào chiếc thùng chứa nước đặt một bên, mẹ rửa tay thật kỹ, rút khăn lau khô rồi bảo con vào nhà:
— Nào, con cho mẹ xem bài.
Chú bé lấy chiếc cặp da nâu, rút ra một quyển vở mỏng, ngoài bìa đề:
Nguyên Giang Minh
Học sinh lớp 1D
Bên trong là những trang giấy chi chít chữ và nhiều con số 9, 10 đỏ chót. Mẹ chậm rãi lật từng tờ.
— Đây rồi.
Bài văn ra đề: Mùa đông có gió gì?
Chú bé trả lời: Mùa đông gió bấc xám như chì.
Bên cạnh là chữ cô giáo phê: «Lạ», có một dấu chấm than và điểm chín to tướng.
Mẹ gập quyển vở lại, đưa cho Minh. Chú bé mở rộng đôi mắt đen, đầy vẻ thắc mắc:
— Tại sao cô giáo lại phê «Lạ» hả mẹ?
— À à...
Người mẹ lúng túng ậm ừ chưa biết trả lời con ra sao cho phải. Nhưng Minh đã cất vở vào cặp sách, chú cài khóa lại rồi nói tiếp:
— Mùa đông gió bấc xám như chì, đúng thế mà cô lại ghi là «Lạ».
Hai mẹ con im lặng một hồi lâu. Mẹ nhìn Minh chăm chú:
— Con bảo không có gì lạ phải không?
— Vâng.
— Mùa đông gió xám như chì...
Mẹ nhắc lại và nghĩ ngợi. Rồi bỗng nhiên, một tia sáng vui sướng bừng lên trong đôi mắt dài, mẹ ôm Minh, nhìn làn môi hồng của chú và êm ái hỏi:
— Thế còn mùa hè thì sao?
Chú bé nhìn ánh mắt vui tươi của mẹ bất giác nhoẻn miệng cười, để lộ ra những chiếc răng mới thay:
— Mẹ không biết à?
— Không.
— Về mùa hè gió màu hồng rực rỡ, gió có đôi cánh rộng, suốt ngày nhào lộn trên không như một người làm xiếc.
Mẹ lại hỏi:
— Gió mùa xuân thì sao?
— Gió mùa xuân xanh biếc, kéo dài, giống hệt một sợi dây, một sợi dây đàn bé xíu, hễ động đến là nó ngân lên... ngân như là tiếng chuông ấy...
— Và còn mùa thu?
Chú bé trả lời ngay không một chút ngần ngừ:
— Mùa thu lúa chín đầy đồng, lúc ấy gió có màu lúa chín. Gió vàng óng ở Bắc Ninh, vì quê bà ngoại đồng rộng mênh mông. Con còn thấy gió có mùi thơm của cốm, của lá sen già, của xôi mới...
Mẹ lặng lẽ hôn Minh và không hỏi gì thêm. Câu chuyện giữa hai mẹ con dừng lại ở đây. Nhưng từ hôm đó, những ngày chủ nhật dù bận đến đâu mẹ cũng đưa Minh ra ngoại ô chơi. Minh được thấy đồng ruộng, bãi cỏ, dòng sông và những cánh buồm chao lượn. Chú bé tập làm thơ. Chú đọc cho mẹ nghe những câu thơ tả sông Hồng, chiếc sà lan chạy trên đám bọt nước đỏ ngầu, bãi ngô ven bờ cát và bác nông dân đã cho chú mấy bắp ngô non.
Những cuộc đi chơi chủ nhật thật thú vị. Mỗi trưa, khi chú bé ngủ ngon lành thì mẹ lại vào bếp làm thức ăn, giặt giũ quần áo, thu dọn cửa nhà.
Đến một ngày chủ nhật mẹ đưa Minh đi thăm làng hoa Ngọc Hà. Làng hoa thật nhiều hoa. Mỗi thứ hoa gợi cho chú bé một tưởng tượng kỳ lạ.
Này nhé, hoa lay ơn giống những chiếc loa kèn có màu hồng phấn và màu tuyết trắng. Mỗi chiếc hoa ấy giấu một khúc nhạc riêng. Bông màu trắng gợi tiếng hót thánh thót của chim oanh, còn bông hoa màu hồng là khúc ca thanh tao của chim sơn tước.
Hoa hướng dương như vàng mặt trời, vãi tung tóe những tia vàng rực rỡ.
Hoa sói như chiếc mõm xinh xắn, ươn ướt của một con cún nhỏ, cánh mở ra, khép vào đều đặn giữa hai ngón tay Minh, tưởng chừng sắp sửa phát ra những tiếng: «gâu, gâu...» trìu mến và tinh nghịch.
Hoa cẩm chướng là những ngôi sao bảy màu trên vòm trời xanh lợp của lá vườn, chúng rung rinh trong gió hệt như những vì tinh tú nhấp nháy lúc vào đêm.
Hoa đang tiếng rung rinh lanh lảnh trong buổi bình minh màu tím hồng, đỏ và lam thẳm...
Bao nhiêu thứ hoa, bao nhiêu màu sắc.
Nhưng Minh níu áo mẹ và ngước cặp mắt long lanh hỏi:
— Mẹ ơi, mẹ ơi...
— Sao con?
— Không có hoa màu nâu hả mẹ?
"Ồ, không có đâu!" Mẹ vuốt tóc con và mỉm cười. "Chỉ có đất màu nâu thôi, nhưng tất cả mọi thứ cây đều phải có đất mới sống vươn toả."
Ngày Chủ nhật ấy qua đi đã lâu lắm. Tới một đêm mẹ mở cặp sách của Minh ra xem. Mẹ tìm thấy trong ngăn bên một quyển vở làm văn cũ. Ở trang cuối có bài văn sau đây:
Mẹ đưa em đi Ngọc Hà xem hoa. Em được thấy nhiều loài hoa đẹp, hương thơm ngào ngạt và cánh màu rực rỡ. Nhưng em còn biết một thứ hoa khác. Thứ hoa ấy không nhìn thấy được. Thứ hoa ấy nuôi sống tất cả các loài hoa. Đó là Đất, bông hoa màu nâu...
Dưới cùng, một dòng chữ lớn viết nắn nót:
Mẹ cũng là một bông hoa nâu.
Bài văn không có điểm và cũng không được ra đề. Mẹ cảm động xếp vở lại rồi đến bên giường con. Minh đang ngủ say, hai tay dang rộng, cặp má ửng hồng, tấm chăn phập phồng theo hơi thở. Hàng mi đen nhánh của chú bé khẽ rung động. Chú bé mấp máy môi rồi khẽ mỉm cười, một nụ cười dịu dàng, tin cậy, trong mơ.
DẤU CHÂN AI?
Buổi sáng bà ra vườn xới cỏ. Vườn rộng làm sao, rộng đến nỗi tiếng con chèo bẻo hót trên bụi tre cuối vườn nghe mơ hồ như tiếng một chú chim sâu yếu ớt nào đó mới thò chiếc mỏ mềm ra mổ vỏ trứng. Ở đầu vườn đằng này, sát với sân nhà là một ô đất vuông trồng cam. Ngày chú Phong chưa đi bộ đội, chú đã ra tận Vinh xin giống. Toàn một thứ cam trái to tròn xoe, da vàng ươm. Trong đám lá xanh dày phiến, những quả cam chín lấp ló như những quả đèn lồng. Rồi bên ngoài khóm cam là mãng cầu. Mãng cầu là quả na tây, quả na dai múi dài khi chín không tách vỏ, quả na bắc múi nhỏ chín nứt nở trên cành, quả na xiêm màu tím phớt to như chiếc bát sứ. Bà Tứ cầm cuốc nạo cỏ một vòng quanh gốc cam hay vun mấy gốc na là đã đau lưng lắm rồi. Bà đứng thẳng dậy, thở một hơi dài rồi nắm tay lại quàng ra sau đấm vào sống lưng và khẽ lẩm bẩm điều gì đó. Mấy con chim trên cành cam nhảy lích tích, ông mặt trời đã chễm chệ ngồi trên ngọn cây bòng cuối vườn. Bà nheo mắt nhìn ông và vào nhà vo gạo nấu cơm...
Hôm nào bà cũng chỉ xới cỏ quanh quẩn ô đất trồng cam với na, thành ra mấy cuối vườn này cây bòng, cây mít cao lêu nghêu chẳng ai ngó ngàng tới. Trên nền đất mọc dày cỏ ấu và cỏ chỉ, những lá bòng lá mít úa vàng gió thổi xuống ngổn ngang như giãy chết. Vòm lá xanh rậm rạp nuốt hết ánh mặt trời, chỉ còn vài đốm nắng xao động trên mặt cỏ. Gió thổi vào những đốm nắng ấy, làm chúng nhấp nhánh như là những ngôi sao. Lũ chim sâu hẳn yên trí làm chủ cái góc vườn tịch mịch này, nên chúng cứ nhảy tanh tách như châu chấu và léo xéo cãi cọ nhau từ sáng đến chiều. Nhưng một hôm, bầy chim thóc mách ấy bỗng cuống cuồng bay nháo nhác, chúng kêu ầm ĩ như thể cháy tổ. Vườn có khách lạ. Hai đứa trẻ, một trai và một gái. Chú bé chừng lên tám, người mảnh khảnh, da trắng, mắt đen như hột nhãn. Chú mặc một chiếc quần đùi bằng vải xanh, áo dệt kim sọc xanh sọc trắng theo kiểu áo lính thủy. Cô bé lùn như cái nấm béo phục phịch, da ngăm ngăm đen, và mặc bộ quần áo bông màu hoa đỏ chót. Hai cô cậu bước dè dặt trên đám cỏ vườn, thỉnh thoảng lại nắm chặt tay nhau, đứng lại nghe ngóng tiếng sột soạt của lá rụng hay tiếng kêu quác quác của con quạ đậu trên bụi dứa gai ngoài vườn.
Hạnh — cô bé — thì thào:
— Đằng ấy sợ ma à?
Minh — chú bé — trả lời:
— Sợ cóc gì. Nhưng bà tớ bảo là vườn không nhìn mà dẫm vào rắn thì nó quấn chân.
Nắng chiếu lên mái tóc tơ của chú những tia sáng óng ánh. Tóc chú nhỏ sợi và dựng đứng như lông con nhím, những sợi tóc bắt lấp loáng lên những vân li ti bảy sắc cầu vồng. Mùi mít chín thoáng trong vườn. Hai đứa chọn một cái rễ nứt nẻ lòi trên mặt đất và ngồi lén. Chú bé ngước mặt hít từng hơi dài:
— A! Mít chín rồi, cô Huyên về, tớ bảo cô ra chặt bổ ăn.
Cô bé ngồi yên lặng, chú bé nhìn bạn và nói tiếp:
— Đằng ấy sang nhà tớ ăn mít nhớ!
Ngẫm nghĩ một lát, chú nói thêm:
— Tớ chẳng sang nhà Hạnh được. Nhà đằng ấy đông, nhà tớ có mỗi mình bà.
— Ừ, cô Huyên đi làm cả ngày, mình bà làm không hết cỏ, gốc mít lút lên dây này.
Cô bé tiếp lời và hai chân xoa lên cỏ rậm.
Góc vườn bỗng có tiếng kêu ộp oạp của một con ếch cụ. Con ếch ấy ở trong cái hầm chữ A làm từ hồi chiến tranh Giôn-xơn. Mấy năm nay không có ai xuống, nước mưa ngập đáy, và con ếch to xù cứ ngồi trong đó mà thở uệch oạc... Chú bé bỗng thấy thương bà quá. Bố đi bộ đội ở tít trong miền Nam, mẹ công tác dưới huyện, chú Phong cũng mới nhập ngũ. Ở nhà chỉ còn bà với cô Huyên mà cô suốt ngày đi làm bèo với tập quân sự, thành ra không có ai lấp hầm, dọn vườn cho bà. Chú vứt chiếc lá mít buộc thành con trâu xuống đất, ôm lấy bạn thì thầm. Hai cô cậu thì thầm những gì không rõ, nhưng cũng sáng hôm sau bà nấu cơm cho cô Huyên ăn đi gặt đi học một tiếng đồng hồ mà chú Minh còn ngủ ngon lành.
Chú bé đang mơ đến một góc vườn um tùm bóng cây. Nắng rung rinh trên vòm lá như từng đàn đom đóm màu vàng nhạt. Những con đom đóm đậu trên gáy chú, êm và nhẹ như những cánh hoa đào. Chú lại thấy những đám cỏ rậm cao đến bụng, lá cỏ cọ vào da thịt ram ráp, lá mít lá bòng khô gió thả ngổn ngang như thuyền con mắc vào búi cỏ. Chú và bạn Hạnh đang ra sức giẫy cỏ. Cái cuốc bướm lưỡi bén lắm, xới cỏ kêu xoèn xoẹt, cỏ ngã rạp xuống và mặt đất nâu tươi quang quẻ hiện ra. Vòm lá mít rì rào trên đầu như reo. Quả mít ở tít đầu nứt bay mùi thơm lựng.
— Chú bé đang mơ...
Con bà, bà lại cầm cuốc bướm ra vườn. Và bà sững sờ. Trên lối đi nhỏ trong vườn chi chít những vết chân bé xíu đan đi đan lại. Vài sợi cỏ vương trên mặt đất đã héo. Một chiếc lá bòng vàng ối vừa rụng cuộn băng băng trên nền vườn nhẵn nhụi, sạch sẽ.
Bà nheo mắt lại và lẩm bẩm:
— Dấu chân à...
Chắc là bà đang nghĩ đến những tiếng động bé tí xíu trong các chuyện cổ tích. Những câu chuyện bắt đầu bằng câu: Ngày xửa, ngày xưa...
CON BÊ ĐỐM
Ông tôi ấy mà, già lắm cơ. Mùa đông lúc nào ông cũng bịt cái mũ bông sù sụ trên đầu và đi tất nâu dày cộm. Thế mà chuyện ông kể cho tôi nghe thì lại toàn chuyện về trẻ con thôi. Nào là Hoàng tử tí hon trong rừng thẳm. Nào là Chú bé tìm mẹ, Chú bé lười. Nào là Chú bé quàng khăn đỏ. Rồi chuyện về súc vật nữa chứ, nhiều vô số. Chuyện con mèo ăn vụng khóc hu hu vì bị đốt hết râu. Con chó tham lam cắn phũ phàng quả mướp nướng sủa khào khào trong họng. Con hổ độc ác gãy chân liếm mãi vết thương chạy qua ba quả núi thì chết. Con khỉ tinh khôn ngồi đọc sách làu làu trong hang...
Tôi không biết con khỉ có biết đọc sách thật không, và con mèo khóc hu hu như thế nào. Nhưng tôi đã nhìn thấy một con vật khóc thật sự. Con bê Đốm của tôi. Câu chuyện như thế này:
Nhà tôi có một con bò mẹ hiền và khỏe. Tôi đặt cho nó cái tên rất mộc mạc là Vá, vì trên tấm áo nâu mượt mà của nó có một miếng trắng như tuyết. Có miếng vá ấy, trông mẹ bò sang trọng như đeo một Chiếc tạp dề mới tinh trước ngực. Bò Vá đẻ đỏ hai lần. Hai con bê ấy đã lớn và đi cày được. Bác đội trưởng điều chúng cho các đội khác chăn dắt. Mỗi lần điều bê đi, lại thưởng cho tôi một bộ quần áo mới. Năm 1972, bò Vá lại đẻ một con bê nữa. Chú bê này lông vàng mướt, ở trán có một đốm trắng giống hệt đồng xu. Tôi đặt ngay cho nó là con Đốm. Chú Đốm nghịch ngợm vô cùng. Vừa mới ra đời, lông còn ướt, bốn chân mảnh khảnh như cọng rau dớn, chú đã nghênh cái đầu nhỏ nhỏ ngắm đám hoa sim rực rỡ màu tím hồng; những túm cây đuôi chồn bạc trắng phất phơ, những chùm hoa chuông đỏ lúc lắc. Chú muốn chạy đi chơi lắm, nhưng cả bốn cái chân yếu ớt cứ loạng choạng và Đốm ta lăn kềnh xuống đám gai cây xíu xiu gần đầy.
 
— Mẹ ọ... ọ...
Mẹ ơi... chú ta kêu cứu, nhưng mẹ chú còn đang nằm thả mệt nhọc. Tôi đỡ Đốm dậy, dắt chú ta về nhà. Dọc đường chú bê non ngoan ngoãn bước sau đuôi bò mẹ. Bò Vá đi trước, thỉnh thoảng ngoảnh lại gọi con.
— Bò... ò... ò...
Hôm sau tôi đưa mẹ con Đốm ra đồi muộn, vì còn chờ cho bò Vá ăn hết máng cháo cám bồi dưỡng. Ngày hôm ấy mát trời, gió nam thổi quạt ngọn lau, những đám hoa sim rung rinh như một đàn bướm hồng múa trên khóm lá. Túm cây đuôi chồn thì ngoáy tít lên, những cái đuôi bông trắng kỳ lạ. Con Đốm thấy cái cảnh ấy thì nhảy cẫng lên, bốn chân run rẩy ríu lại.
— Bò... à...
Con Vá kêu và chạy vượt lên chặn đường chú Đốm. Cái cổ đeo yếm trắng nõn của nó lúc lắc, Vá cúi đầu vào đầu con.
Bò... ò... ò...
Dường như nó muốn bảo: "Con đừng chạy mà ngã, chân con còn yếu lắm mà..."
Nhưng con Đốm cứ tảng lờ như không nghe thấy gì hết, nó chui qua bụng mẹ và phóc một cái nhảy sang bên kia đường. Từ đây nó lóc cóc nhảy qua mấy tảng đá xám, định giật bông hoa kèn vàng chóe treo lúng liếng trên ngọn cây mâm xôi. Dưới bụi mâm xôi có những dây chạc chìu, hoa chạc chìu đã tàn hết nhưng dây vẫn còn sống. Mà dây chạc chìu thì dai ghê lắm. Đốm vấp phải đám dây chạc chìu, những cái dây quái quỷ ấy làm cho Đốm ta bổ nhào xuống, đầu Đốm đập vào một tảng đá, gần mí mắt có vài giọt máu rịn ra.
— Mẹ ọ... mẹ ọ... ọ...
Con bê nghịch ngợm kêu từng tiếng dài gọi mẹ. Bò Vá chạy lồng lên bên con.
— Bò... ò... ò... ò...
Vá quỳ xuống liếm máu trên trán con, đôi mắt tội nghiệp như muốn nói: "Ôi con tôi! Mẹ đã can ngăn mà con chẳng nghe lời!"
Những đứa trẻ hư thì chúng chóng quên tội lỗi của mình. Chú Đốm này cũng vậy, được vài ngày ngoan ngoãn rồi đâu lại vào đấy. Chiều nào tôi cũng tìm nó đến chóng cả mặt. Ở đường 15 cứ nghiêng; mệt nhoài là phải đưa bò về chuồng. Máy bay Mỹ ném bom từ sớm tinh mơ đến rạng đông. Con bò nào cũng đã quen hối hả ăn cho no để về nhà. Riêng con Đốm thì cứ nhởn nhơ hết đồi này qua đồi khác. Nó cứ tinh bơ mọi sự trên đời, mặc dù tôi gào đến rát cả hơi, chạy tong tả từ đồi này qua đồi khác, còn mẹ nó, con bò Vá hiền lành kêu náo cả ruột.
— Bò... ò...
Chiều hôm ấy cũng vậy. Con bê tinh nghịch trốn ở đâu không biết. Tôi cứ chạy sang ngọn đồi trước mặt thì lại thấy nó lóc cóc ở mé đồi sau lưng, quay lại đồi sau lưng thì nó đã vòng chân đồi lên ra phía trước. Cái đầu nghênh ngáo của Đốm cứ nhấp nhô trên những bụi mâm xôi, những khoảnh lau tím phơ phất, những cây quéo già trơ trụi. Mặt trời mỗi lúc một nhạt màu, ở chân đường 15 những khóm sim phủ đầy bụi đã mất hết bóng trên mặt đất, lặng lẽ như một bầy thỏ lông đỏ đang ngồi ngủ.
Mồ hôi vã đầy mặt, tôi kéo con Vá về.
— Đốm ơi, đêm nay phải ở lại một mình, bom Mỹ nổ bỏ trúng thì đừng có trách tao nhé. Mày bướng bỉnh lắm...
Tôi nghĩ bụng thế và dắt con bò Vá về. Nhưng con bò mẹ không chịu bước.
ò...
Nó rống lên như rung trống vang động cả khu đồi. Cái đầu to lớn quay đi bốn phía ngóng ngóng.
— Bò ò... ò...
Đốm ơi! Mày không nghe tiếng mẹ mày gọi sao? Tôi nhìn quanh những lối mòn vắng vẻ gió chạy ù ù đuổi những cuộn gai lồng bồng. Con chim quay tơ chăm chỉ đang vùn vụt bay về phía làng. Trời mỗi lúc một tối, sao Hôm đã nhấp nháy con mắt trên trời. Con mắt như cười cợt chế giễu tôi:
— Thế nào, chú mình chịu bó tay à?
Tôi bực tức quất vào mông bò Vá:
— Về!
Con bò mẹ giật thót bước lên mấy bước. Nhưng rồi bất ngờ nó rứt dây chạy lồng lên quay lại khu đồi:
— Bò ò... ò...
Con Vá kêu lên những tiếng thảm thiết để gọi đứa con ngỗ ngược, bướng bỉnh.
Một quả pháo sáng cháy rực trên đường 15. Tôi vội vàng nhảy xuống chiếc hầm chữ A của các chị thanh niên xung phong ở gần đây. Và đúng lúc đó máy bay giặc ném loạt bom đầu tiên. Rạng sáng ngày hôm sau tôi đã đi tìm mẹ con Đốm. Cả một đêm nằm trong hầm ẩm ướt, bom nổ ùng ục như sóng dội một bên tai, tôi không sao ngủ được. Bụng vừa tức vừa lo, con bê tai ác này ngày hôm qua không hiểu đi tới đâu?
Tôi vừa đi hết khu đồi sim qua hai con mương cạn nữa đến một cái dốc cao um tùm toàn dây bướm bạc. Tôi đi dọc theo chân dốc và đoán thế nào con Đốm cũng đến đây. Dây bướm bạc nở đầy hoa như từng đàn bướm rung rinh, lá cây ngọt như đường. Con Đốm chắc mải ăn lá, chơi hoa nên không chịu về.
Hết chân dốc tôi dừng lại. Trước mắt tôi là một đám nương hoang rậm rạp, có một vật gì đó màu vàng rung động trong đám cây bụi cao ngập đầu. Tôi rẽ cây bước vào, con bò Vá đang nằm phủ phục trên mặt đất, bê Đốm nằm một bên. Thấy tôi, con bê non đứng dậy chạy vòng quanh mẹ kêu thảm thiết:
Mẹ... mẹ... mẹ... mẹ...
Bò Vá nằm khuỵu hai chân trước, hai chân sau bẻ gập lại trong vũng máu đã loang, máu bết vào lông từng mảng tím bầm. Hai con mắt to, chậm chạp nhìn bê con không chớp, mắt nó long lanh nước.
Đốm chạy xung quanh mẹ:
— Mẹ ọ... mẹ ọ... ọ...
Nó kêu nức lên từng hồi, rồi chuệnh choạng lại gục đầu vào bụng mẹ như muốn xốc bò Vá đứng lên. Nhưng cả hai chân mẹ nó đã giập nát rồi, mẹ nó không bao giờ còn đứng dậy được nữa.
Con bê nhỏ chuệnh choạng, run rẩy. Nó cứ kêu mãi không ngừng.
— Mẹ ọ... mẹ ọ...
Tôi quỳ xuống, vừa động đến chân con Vá thì nó đã thở hộc lên đau đớn và vật xuống. Con Đốm phủ phục bên mẹ nó. Trong hai con mắt đen nhánh và ngơ ngác của nó những giọt nước mắt chảy giàn giụa, trong suốt.
Từ đó tôi mới hiểu ra, những con vật nhỏ cũng biết khóc. Như những chú bé thường nức nở hối hận vì không nghe lời của mẹ mình.
NGÔI NHÀ ÊM ẤM
Quý và Vân ở với mẹ trong thị xã Đồng Hới. Nhà của chúng bé nhỏ, lợp cỏ tranh. Mảnh sân bằng cái chiếu trồng toàn hành với tỏi. Không còn chỗ cho hai anh em chơi bi chơi đáo. Mẹ bảo:
— Nhà mình nghèo, phải trồng thêm rau để đỡ tiền mua!
Hai anh em lúc nào cũng ước một ngôi nhà thật rộng rãi, đẹp như nhà ông cụ Chủ ở phố trước. Cái nhà ấy mới đẹp làm sao! Nền lát toàn bằng gạch men xanh nhạt, chỉ nhìn đã thấy mát rượi, lại có nhiều cây cột đúc xi-măng tròn xoe, gắn những mảnh bát cổ lóng lánh. Còn trước sân nhà là mảnh vườn trồng toàn hoa. Hoa hồng vàng xinh xẻo như những bông nhài nhuộm nắng, hoa hồng nhung to bằng miệng bát ăn cơm màu đỏ thắm, hoa cúc bạch xòe những ngón tay trắng thon thả, hoa mào gà lắc lư cái mào ngổ ngáo... Sân còn có một khoảng rộng xây gạch phẳng lì, chỗ ấy cho ông cụ uống trà, cũng là chỗ hai anh em Vân và tụi trẻ trong phố sang chơi bi nhờ...
Mẹ biết Quý với Vân thích mảnh sân ấy lắm, mẹ bảo:
Bao giờ hết chiến tranh, bố đi bộ đội về, mẹ sẽ xây cho các con sàn gạch to hơn thế nữa. Bây giờ chưa ổn định, chưa thế làm gì được.
Mẹ nói thế rồi xách túi đi họp. Dạo này mẹ bận lắm, đi làm việc cơ quan rồi lại họp cả đêm. Vắng mẹ, hai anh em cứ thơ thẩn sang nhà cụ Ché chơi. Nhưng cả ông và bà cũng không thấy ngồi trước sân uống nước nữa, hai người cứ thu dọn hòm xiểng cả ngày, hình như các cụ sắp dọn nhà đi đâu thì phải, bà ưng mang thứ này, ông lại thích thứ kia. Buổi sáng hôm đó giặc Mỹ bắt đầu ném bom, hai quả đầu tiên rơi xuống cầu Dài. Mẹ đã dặn từ trước: Quý bình tĩnh dắt em Vân xuống hào giao thông, còn ông bà Ché luống cuống chui xuống gầm chiếc phản gụ.
Thế là chiến tranh rồi đây, Quý đã hiểu vì sao mấy tuần nay mẹ cứ đi họp, tập quân sự rồi đào hào giao thông cả ngày cả đêm. Đến trưa máy bay giặc cút, ông bà Ché gọi ngay anh con trai lớn lái xe bên Ty giao thông về, thế rồi suốt buổi trưa ấy ông con hì hục khiêng đồ dọn nhà đi sơ tán. Ông lão nhát thật, chưa có lệnh đã bỏ đi trước. Lúc lên xe cụ còn ngoái lại bảo Quý:
— Này! Trông nhà cho ông nhé!
Thế là bỗng dưng Quý và Vân trở thành chủ nhân của ngôi nhà đẹp nhất thị xã. Hai đứa bé đứng giữa nhà hét:
— U oa... u oa... a... a...
Tiếng những bức tường vọng lại:
— U oa... u oa... a... a...
Như tiếng một người khổng lồ vô hình. Hai anh em đuổi bắt nhau trong gian phòng rộng thênh thang rồi chơi đùa trên những phiến gạch xanh bóng lên, vươn vai. Ồ! Đã mấy khi được thỏa thích. Con mèo nằm thế ngồi trên nóc chiếc tủ thờ cao lênh khênh giương đôi mắt trong suốt nhìn chúng, những tia đồng tử màu xanh lấp lánh. Quý với Vân lăn lộn trên sàn nhà như hai chú mèo con vờn nhau buổi sớm.
Nhưng nắng đã nhạt dần, chiều xuống lúc nào không biết. Rồi một cơn gió mạnh thốc vào đập cánh cửa gỗ đánh sầm.
Cái chốt cửa bằng sắt sập xuống, thanh sắt dài cắm sâu vào lỗ khoét trong sàn. Con mèo ngoao lên một tiếng và nhảy phóc sang ô cửa tròn thông hơi sát trần nhà. Thế là chỉ còn lại hai đứa bé trong căn nhà kín, thoạt đầu con mèo còn gừ gừ trên ô cửa cao, sau nó lỉnh đi đâu không rõ. Vân bắt đầu sợ, cô bé kéo áo anh:
— Về, anh Quý!
Quý phủi quần áo đứng dậy, chú cao hơn em chỉ một ngón tay thôi, nhưng giờ đây là người có sức mạnh và quyền hành nhất với bé Vân.
— Lặng im, anh khắc mở cửa!
Nắm đấm cửa bằng sắt cao đúng chỏm tóc Quý. Chú kiễng chân, hai tay cầm chặt quả đấm vặn. Cái chốt cửa lâu ngày không bôi dầu rít kèn kẹt, thanh sắt gài nặng quá, Quý nín môi mắm lợi xoay nó cũng chỉ khẽ nhích lên một tí, có lẽ chỉ bằng một hạt kê thôi. Chao, ước gì có sức mạnh như chú Kim, cái chốt cửa nào chú khẽ động ngón tay cũng bật ra hết. Quý vã mồ hôi đầy mặt, hai tai nóng bừng. Cửa vẫn đóng im ỉm, trời tối sập xuống, gió thổi ù ù trong căn nhà thênh thang nghe rờn rợn. Vân mếu máo gọi:
— Mẹ! Mẹ ơi!
Cô bé nắm chặt lưng áo anh, khóc tí ti. Giá như lúc khác thì thế nào Quý cũng mắng cho Vân một trận, nhưng bây giờ chú thấy thương em quá. Vả lại, chính chú cũng buồn, cũng sợ và cũng nhớ mẹ làm sao. Gian phòng đã tối mịt, mấy con dơi ngoài vườn bay vào kiếm mồi kêu chít chít. Quý buông cái chốt cửa ra và ôm em. Cái Vân lại nức nở:
— Em đói bụng, anh Quý ơi!
Quý bỗng nhớ nhà, cái nhà tranh bé nhỏ của mẹ. Mọi hôm giờ này ở nhà đã lên đèn và mẹ dọn cơm ra chiếc bàn thấp bằng gỗ kê gần cửa thông ra bếp. Ăn cơm xong mẹ lại có món khoai khô nấu với đỗ rắc đường.
Rồi mẹ rút quần áo phơi ngoài sân vào gập, vừa làm mẹ vừa khe khẽ ngâm thơ, một bài thơ dài về thành phố biển trong đó có câu:
Hoa phượng rung rinh rắc nắng trên đầu
Cánh buồm trắng gọi biển về trước ngõ...
Quý thích bài thơ ấy lắm, nhất là đoạn tả những con cá chuồn bay là là mặt sóng, những con cá ve sáng ngời lấp lánh giống những đàn đom đóm nước. Mẹ vừa ngâm thơ xong là đến giờ đài phát thanh ca nhạc... Buổi tối ở nhà mới vui vẻ làm sao!... Còn bây giờ thì hai anh em ngồi thu lu như con mèo trong xó bếp. Gió lùa qua ô cửa trần kêu u u, u u. Ánh điện ngoài đường hắt vào những khe hở thành những vệt sáng.
mờ vàng nhạt. Chiếc đui đèn ông cụ Chè tháo bóng đi rồi giở đánh lắc lư cái đầu đen thui kỳ dị. Quý ôm em, chứ thấy hai anh em trơ trọi quá, và chỉ một chút nữa thôi là chú cũng oà lên khóc. Đúng lúc ấy có tiếng chân người bước, tiếng người nói lao xào. Cái Vân đứng bật dậy:
— Mẹ!
Con bé thính thật. Quý nghe tiếng mẹ nói với một người nào đó:
— Tôi tìm khắp nơi rồi; chỉ còn đây thôi. Có thể các cháu sang chơi từ lúc chưa có báo động.
Quý mừng rơn, và hét to đến nỗi choáng cả người:
— Mẹ ơi! Con ở đây.
Mẹ chạy, tiếng dép vội vã trên sàn gạch, rồi mẹ áp má sát vào cánh cửa. Quý nghe rõ hơi thở của mẹ bên ngoài:
— Các con có sao không? Em Vân có khóc không?
Cái Vân nghe mẹ hỏi tủi thân nức nở:
— Mẹ! Mẹ ơi...
Dù sao nó vẫn cứ là con gái. Còn Quý, Quý cứng rắn hơn nhiều, chú dõng dạc bảo em:
— Nín đi, để anh nói cho mẹ nghe.
Rồi chú kể lại đầu đuôi: Từ lúc giặc ném bom, chú dắt Vân xuống hào giao thông ra sao, rồi cụ Chè đi sơ tán như thế nào, và hai anh em vào chơi trong nhà cụ bị gió sập cửa nhốt cho đến tận giờ. Cuối cùng chú báo:
— Chúng con chỉ bị đói thôi, còn không sao hết, mẹ mở cửa cho chúng con về nhà mình đi!
Mẹ thở phào cười:
— Thế mà mẹ hết cả hồn.
Rồi mẹ gọi mấy chú tự vệ, chắc từ nãy vẫn đứng ngoài vườn:
— Các chú nạy cửa cho các cháu ra. Hai cô cậu vào nhà cụ Chè chơi thích quá không biết lối về bị gió đóng cửa nhốt lại.
Chú Kim nói tiếp, giọng ồm ồm như tiếng động trong chiếc thùng tôn ở góc bếp mỗi lần Quý thò cổ vào hét, chẳng hiểu chú nói với mẹ hay với anh em Quý:
— May mà tìm ra lũ nhóc, không có đêm nay Mỹ nó quay lại ném bom thì hết chuyện.
Các chú đi tìm xà-beng cạy cửa, mẹ nói với anh em Quý:
— Các con chịu khó chờ một tí nhé rồi về nhà ăn cơm, hôm nay mẹ mua cá nục về luộc, có cả dưa chua nấu giầm nữa.
Quý im lặng, thương mẹ quá, chắc mẹ cũng đói bụng rồi. Đi làm về lại lo tìm con. Quý không dắt em vào chơi nhà cụ Chè thì đâu đến nỗi... Chú Kim ấn xà-beng vào chân cửa, cạy một nhát là cửa bung ra, hai anh em ôm chầm lấy mẹ. Mẹ bế em Vân và dắt Quý về. Chả đứa nào quay lại nhìn cái nhà rộng thênh thang và tối om hai cánh cửa mở toang hoác sau lưng.
Tối hôm đó Quý và Vân mệt, ăn cơm xong hai anh em đi ngủ sớm. Khi máy bay địch đến và tiếng còi báo động rúc lên trong thành phố thì chúng vẫn ngáy pho pho, mẹ phải lần lượt bế cả hai xuống hầm.
Mãi đến lúc những đợt bom dội, những ngôi nhà trúng bom đổ sập trong phố làm rung chuyển cả không gian thì Quý mới tỉnh dậy. Vừa giụi mắt chú đã nghe tiếng mẹ thì thào:
— Bom nổ to quá, con không ngủ được phải không?
Hơi thở mẹ êm ấm nhè nhẹ mơn man trên má, mấy sợi tóc của mẹ khẽ cọ vào mang tai Quý. Lúc ấy, Quý mới thấy mẹ không nằm ôm chú mà mẹ đang ngồi, hai tay mẹ chống xuống sàn lát hầm, hai đầu gối cũng vậy. Cả Quý và Vân nằm lọt thỏm trong lòng mẹ, lưng mẹ che cho hai anh em. Quý nhỏm dậy:
— Mẹ làm gì thế?
Mẹ mỉm cười hôn lên má Quý:
— Mẹ làm nhà cho các con trú ẩn.
À, Quý hiểu. Phải ngồi thế này, nếu hầm sập, lưng mẹ đỡ cho hai anh em, và mẹ sẽ đứng dậy được dễ dàng không bị đất đè nặng.
Quý giụi đầu vào ngực mẹ gà gà ngủ tiếp. Bom vẫn nổ rền, đất rơi rào rào trên lưng mẹ từng đợt. Hai anh em Quý và Vân vẫn ngủ ngon lành. Đã có mẹ chở che. Mẹ là ngôi nhà vững chắc nhất. Mẹ là ngôi nhà êm ấm nhất.
Trên kia, những ngôi nhà gạch trong phố trúng bom đã sập hết. Cả nhà cụ Chè to đẹp là thế cũng đổ nát rồi. Con mèo tam thể bị mảnh bom sát thương chết nằm dưới chân chiếc tủ thờ. Con mèo xinh xắn mọi ngày vẫn chơi với anh em Quý. Tội nghiệp nó quá, nó chẳng có mẹ mà...
Quầng trăng Lơ
Có một đêm rằm tháng Bảy, năm tôi còn bé tí teo, bà ngoại làm cỗ rằm to lắm. Tối hôm ấy bà trải chiếc chiếu hoa lên mặt sân gạch trước nhà, múc chè khao mọi người ăn. Ăn xong, bà bảo tôi nằm xuống.
— Bà cháu mình kềnh càng ra đây nhé!
Đầu tôi gối lên cánh tay bà, vừa ấm ấm hơi người lại vừa mát rượi vì tấm áo lụa tơ tằm bóng mịn.
— Cháu bà có nghe chuyện không? Bà kể tích Mặt Trăng nhé!
Đêm ấy trăng sáng lắm, sáng đến nỗi mái tóc bạc của bà tôi óng ánh lên dưới trăng như những sợi cước. Và những tàu lá cau nhấp nhánh như ướt nước. Chuyện bà kể thế này:
Ngày xưa, có một người đàn bà hiền hậu và xinh đẹp. Khuôn mặt chị đầy đặn, da trắng mịn màng, đôi mắt nhung đen láy, môi đỏ hồng thơm như một cánh hoa lạ. Người đàn bà ấy vốn là con của một ông tiên cai quản những vườn quả của Ngọc Hoàng. Suốt ngày ông bận hái quả và nấu rượu, thứ rượu thì trong như hổ phách và đỏ chói màu hoa lựu, thứ rượu thì sánh như mật ong và có màu vàng của mơ chín. Ngọc Tiên ông thích rượu. Loại rượu ấy và truyền lệnh phải nấu thật nhiều. Thế là tiên ông suốt ngày lúi húi ngoài vườn, hết hái dâu lại lo hái lựu, hái táo, hái mơ... Lò rượu lúc nào cũng nghi ngút khói. Tiên ông bận đến nỗi không có thì giờ chăm sóc con gái, ông phải giao con cho một bà già quét vườn trông hộ. Năm cô mười sáu tuổi đã nổi tiếng khắp cung điện vì nhan sắc lộng lẫy. Một hung thần ở bên kia dòng sông Bằng nghe tiếng rình mò cướp về làm vợ. Ông tiên già mất con than khóc thì đã muộn rồi. Không ai có thể đuổi theo con ngựa bốn cánh của hung thần và vượt qua dòng sông Bằng giá buốt. Cô gái xinh đẹp trở thành một người đàn bà lúc nào cũng buồn rười rượi. Vị hung thần không có con, cả đời hắn chỉ uống rượu và đi đánh nhau hết nơi này đến nơi khác. Người đàn bà thèm trẻ con quá bèn trốn chồng xuống mặt đất. Chị nuôi những đứa trẻ nghèo, tăm rửa; mặc quần áo đẹp, cho chúng ăn, dạy chúng học hành, múa hát. Người ta gọi chị là Mẹ Hiền Dịu vì chị có hàng trăm đứa con ngoan, đứa trẻ nào sống với chị cũng yêu chị như mẹ đẻ.
Hung thần đi đánh trận về mất vợ nổi giận, hắn hét một tiếng mạnh đến nỗi những trái núi đá xung quanh nứt toác, đá lở ầm ầm, rồi hắn cưỡi con ngựa bốn cánh đi tìm. Sau khi sục sạo khắp nơi hắn bay xuống trái đất và thấy người đàn bà đang múa giữa một bầy trẻ. Không nói một lời, hắn túm lưng áo chị ném lên lưng ngựa, con ngựa đập cánh bay vút lên trời. Lũ trẻ khóc lóc gọi Mẹ Hiền Dịu mãi.
Lên trời, người đàn bà nhớ trẻ quá héo hắt đi. Tên hung thần cho phép chị mỗi tháng một lần vén mây nhìn xuống trái đất; nhưng người đàn bà nhớ các con cứ vén mây nhìn trộm. Vì thế, một tháng trăng tròn có một ngày, ngày ấy người mẹ được phép nhìn xuống. Còn những ngày khác chị cứ nhìn trộm nên một phần khuôn mặt khuất sau mây. Người đàn bà ấy tên là Hằng . Mặt trăng còn có tên là chị Hằng là vì thế.
Kết thúc câu chuyện, bà ngoại vỗ vỗ vào lưng tôi: "Thôi khuya rồi, cháu ngủ đi nhé!"
Nhưng nào tôi có ngủ được đâu! Đôi mắt thao láo, tôi nhìn nghiêng gương mặt chị Hằng .
Ôi chị Hằng . Mẹ Hiền Dịu . Ôi vầng trăng.
Bà ngoại mất rồi. Nhưng câu chuyện bà kể tôi còn nhớ như in. Năm tôi lên tám, giặc Mỹ ném bom miền Bắc. Anh chị tôi sơ tán ngoài Thanh Hóa. Tôi với em bé xuống ở địa đạo. Bạn có biết địa đạo thế nào không? Một đường hầm rộng đi chìm dưới đất, nối hầm này với hầm khác. Những căn hầm đào sâu đến nỗi bom loại thường nổ bên trên chỉ nghe như trống rung. Trong hầm có giường ngủ, có bếp luôn khói, có chạn bát, có cả lớp học với đủ bàn ghế và bảng đen...
Thế là chúng tôi phải xa mặt đất. Ở trên ấy có bao nhiêu thứ! Một vườn ổi với táo tiên, một bụi tre vàng gió thổi kêu ken két như chuột đói, một chuồng chim bồ câu sơn xanh hai cửa, tròn xoe như miệng bát. Đôi chim trắng suốt ngày gù... gù... gù... Sau có một dãy đồi, toàn sim, mua và dâu chín. Những đàn chim bay về tìm quả ăn từ tinh mơ cho đến tối mịt. Nhưng nhớ nhất là bầu trời. Bầu trời cao, đầy nắng vàng. Bầu trời đêm xanh mượt như nhung.
Trên ấy đậu một vầng trăng sáng lung linh, ánh trăng rải trên đường làng, trẻ con từng đoàn đi chen chúc rước đèn, gõ trống.
Ở dưới địa đạo ấy mà, tôi ghét lạnh, lại gai gai rét nữa. Bé Hà cứ kêu lạnh chân, có khi đang ngồi một giọt nước rơi bộp vào cổ buốt thót. Những con chuột rúc rích dưới gầm giường, thỉnh thoảng lại nhảy vọt lên người. Những lúc ấy tôi phải làm ra bộ can đảm: "Sợ gì, con gái có khác. Rõ đồ hèn."
Dưới địa đạo không có trăng, buổi tối dài ghê. Tôi học thuộc bảng cửu chương mà vẫn chưa buồn ngủ. Một buổi tối đi làm về, mẹ đổ trong túi vải ra một rá gạo nếp và bảo tôi: "Nhà còn đường, còn đỗ, mẹ mua nếp đây. Hai hôm nữa rằm Trung thu mẹ thổi xôi, nấu chè cho các con nhé!"
"Nhưng dưới hầm làm gì có trăng mà ăn Tết Trung thu?"
Tôi buột miệng nói ngay như vậy. Thế là mẹ tôi thở dài, mắt buồn bã nhìn xuống nền hầm ướt: "Ừ nhỉ..."
Mẹ nói khẽ rồi vội cầm khăn dù ngụy trang ra đi. Hôm sau mẹ gọi bố ở đội trực chiến về. Hai người ôm một chồng ống pháo sáng. Mỗi ống dài hơn cánh tay, bốn miệng rộng bằng miệng bát sắt. Bố mẹ tôi hì hục tháo chiếc ống thông hơi cũ, đó là một đoạn ống nhựa cũ, nhỏ và cong queo. Bố tôi khoét thêm đất rồi nối những chiếc ống pháo sáng lại lắp vào làm lỗ thông hơi. Xong việc, bố tôi vục bi đông nước uống một hơi.
Còn mẹ, mẹ ngồi lên giường cầm nón quạt và xoa đầu tôi nói:
— Mai con với em Hà có trăng Trung thu rồi đấy.
Sáng hôm sau tôi dậy thật sớm. Nhưng bố mẹ tôi dậy sớm hơn và đã ra đội trực chiến rồi. Vừa ở trên giường phóng xuống đất là tôi đã nhớ ngay đến cái ống thông hơi. Tôi chạy đến, và ngửa mặt lên. Trước mắt tôi hiện lên một vầng trăng lung linh xa hút. Vầng trăng màu xanh lơ, lúc thì trong leo lẻo như một cốc pha lê đựng nước, lúc thẫm màu lam biếc, lúc lại chói lọi một làn mây trắng hắt nắng ngời như bạc. Vầng trăng ấy tỏa xuống một thứ ánh sáng ấm nóng, dịu dàng và mềm mại như má của mẹ khi vào bếp. Ánh sáng ấy có mùi thơm của hoa chạc chìu đang nở, của những trái ổi cuối mùa chín nẫu. Ánh sáng gợn sóng như có gió, ngọn gió vẫn đuổi chúng tôi chạy ù ù trên những ngọn đồi bát ngát hoa mua tím. Tôi gọi bé Hà dậy. Nhìn thấy vầng trăng kỳ lạ, nó cười khanh khách rồi đem quyển sách vỡ lòng ra đọc:
Sân nhà em sáng quá
Nhờ ánh trăng sáng ngời
Trăng tròn như cái đĩa
Lử lửng mà không rơi...
Tôi lại nhớ câu chuyện về sự tích mặt trăng của bà ngoại. Ôi vầng trăng Mẹ Hiền Dịu. Ôi chị Hằng.
Vầng trăng vàng rực trên trời cao là của chị Hằng. Vầng trăng lơ thơ dịu tỏa nắng ấm trong lòng đất là của mẹ tôi. Hai vầng trăng ấy là hai chị em sinh đôi của đất nước. Đất Việt Nam yêu dấu có bao nhiêu chuyện thần thoại ngày xưa và hôm nay...
ANH VÀ EM
Bãi cỏ nóng, thơm lừng.
Hoa lan tơ, hoa móng rồng với hoa nàng Ly bé xíu đang nở. Bầy ong nhỏ vo vo bay vòng quanh.
Cỏ mật dưới nắng tỏa hương ngào ngạt.
Thỉnh thoảng gió lại hây hẩy thổi đến, vừa mát, vừa ấm, lại vừa nồng mùi cây cỏ.
Chuồn chuồn nhiều ghê.
Cào cào, châu chấu nhiều ghê.
Chúng lượn như những con én bạc tí hon trên không trung, chúng bay rào rào trên cỏ, chúng nhảy tanh tách như ai búng nước chơi.
Này, thế sao không có châu chấu tre nhỉ?...
Cái lão châu chấu tre to xù như một chiếc xe tăng sơn màu lá cỏ, hai con mắt lươn láo trước giậu và đôi râu ngắn ve vẩy thật ngộ.
Lão châu chấu tre trốn đâu rồi?
Hay bắt lấy lão, lấy chỉ buộc vào chiếc xe bằng đất sét giống như bác Quyết vẫn thắng con ngựa xám vào cái xe thồ, để cho lão kéo chơi. Trò chơi đó thật là tuyệt.
Dưới bóng cây gạo ở Cao, lũ anh em đang ngồi: Cu Anh và Cu Em. Chiếc xe nặng bằng đất sét phơi khô để trước mặt. Chiếc xe rất đẹp, bốn bánh lủng lẳng tròn xoe, trục làm bằng hai đoạn dây thép dẹp thẳng, càng xe uốn một khúc dây thép uốn khum khum như vai cày. Tất cả đã sẵn sàng, chỉ còn chờ ngựa kéo nữa thôi.
— Nào, bắt cho em con châu chấu tre, nào, bắt cho em...
Cu Em nắm lấy chéo áo anh nài nỉ, hai mép nó chảy xuống như hai cái tua chỉ, cặp má phúng phính phệ ra.
— Nào, bắt cho em con châu chấu tre, nào, cho em buộc vào xe kéo...
Cu Anh gỡ tay em khỏi chéo áo của mình:
Để cho anh nghỉ tí đã, từ sáng đến giờ anh bắt cho bao nhiêu chuồn chuồn ớt rồi còn gì?...
Nhưng em nó càng nắm chặt lấy áo và lôi mạnh hơn.
Không, không, chán chuồn chuồn rồi, bắt châu chấu cho nó kéo xe cơ.
— Ừ, tí nữa.
— Không, ngay cơ, ngay cơ.
Cu Em đạp chân lia lịa trên cỏ, giận dỗi, mặt mũi phụng phịu trông vừa đáng ghét lại vừa đáng yêu. Cu Anh đứng dậy xốc quần:
— Nào, thì đi.
Nó chạy ra bãi cỏ. Trên đầu, lũ chuồn chuồn bay phấp phới, cánh chúng óng và trong suốt, lấp loáng dưới ánh mặt trời. Cu Anh phóng ngay đến những lùm cỏ mần trầu rậm rạp, ở nơi đó thường sinh những con cào cào chúa và những con châu chấu cộ. Chừng năm phút sau nó đã trở lại, hai má đỏ ửng:
— Được rồi đấy.
Cu Anh giơ bàn tay nắm chặt ra, em nó rối rít hỏi:
— Đâu, đâu, mở ra, mở ra.
Hai đứa ngồi xuống gốc gạo, Cu Anh xòe tay: Một con châu chấu tre rất đẹp, nhưng còn non nớt, đôi cánh mỏng dính màu lá mạ, hai sợi râu mới nhú run rẩy.
— Bé quá, không lấy, không lấy...
Cu Em kêu ầm lên, rồi nó vùng vằng chụp lấy con châu chấu trong tay anh ném ra bãi cỏ. Cỏ thì dày, con vật lại bé. Thế là mất hút, chẳng thấy đâu.
Cu Anh lại chạy đi tìm con khác, lần này nó phát đến tận cuối bãi cỏ, nơi có những bụi cà dại xơ xác và những cây cỏ lông hôi mù. Chừng mười phút sau nó mới quay về, mặt đỏ gay, mồ hôi đầy trán:
— Này, đây rồi... Toát cả mồ hôi...
Nhưng Cu Em lắc đầu quầy quậy:
— Đưa em xem đã...
Chú bé thận trọng xòe bàn tay, lấy ra một con châu chấu tre thật to, hai con mắt nó lồi như hai hạt kê và cái đầu xù xì trông đen khiếp. Một con ngựa kéo xe thật tuyệt, nhưng đáng tiếc là nó chỉ còn có một càng, chiếc kia Cu Anh đã vô tình làm gãy trong khi bắt.
Cậu em thấy ngay điều đó, nó la to:
— Bắt đền, bắt đền, nó gãy càng rồi, bắt đền anh đấy.
Cu Anh dỗ dành:
— Con này chúa lỳ, gãy càng nó vẫn kéo xe được mà!
— Không, bắt đền, bắt đền...
Cu Em giãy lên đành đạch, nó lại giở cái chiến thuật cũ kỹ là nằm lăn ra ăn vạ.
Ngay lúc ấy, con châu chấu tre đã đạp chiếc càng còn lại tách một cái làm đau nhói tay Cu Anh rồi bay vụt đi. Dù đã bị thương, lão vẫn bay rất xa, đôi cánh quạt vù vù trên cao.
Cả hai anh em đứng ngẩn ngơ nhìn. Mặt trời đã lên đến ngọn cây gạo và tỏa nắng chói lọi. Cỏ nhấp nhô gợn sóng trước những làn gió dào dạt thổi tới. Một bông hoa gạo trên cao bỗng nhiên rơi: Bộp. Cu Em giật thót mình, rồi chợt như nhớ ra, nó lại nũng nịu vòi vĩnh:
— Nó bay mất rồi, nào, mặc kệ anh...
Chú anh đứng thừ người, chú đã mệt quá rồi. Vả lại bắt châu chấu tre đâu phải dễ, chúng tinh khôn và sừng sỏ lắm. Nhưng biết làm sao bây giờ. Chiều đến, Cu Anh lại chạy ra bãi cỏ lần thứ ba. Lần này lâu tới hai mươi phút, những con châu chấu tre ranh mãnh không bay nữa mà nằm bẹp xuống đất, rúc dưới gốc những cây cỏ gà bù xù làm chú bé phải lật từng đám cỏ tìm kiếm. Khi chú quay về mặt đầm đìa mồ hôi, tóc bết vào trán, những hạt cỏ may găm đầy hai ống quần và hai vạt áo nâu. Cu Anh ngồi thở dốc từng hơi, một tay nắm chặt con vật quý báu. Cu Em ngồi chầu hẩu bên cạnh chờ anh. Một lát sau, đỡ mệt Cu Anh mới thận trọng xòe bàn tay ra cho Cu Em nhìn thấy cái đầu to cộ của con châu chấu, xong rồi chú làm một chiếc thòng lọng bằng thừng quàng qua đầu nó, rồi buộc vào càng xe.
Con ngựa đã đứng yên trong ách.
Một con châu chấu tre to cộ, đầu rất câng câng với hai hàm răng dữ tợn chốc chốc lại nhe ra dọa nạt.
Cu Em khoái chí nhảy cẫng lên:
— Con cộ, con cộ, mày hết đường bay, tao trói mày lại, kéo cày cho tao...
Nó rút một cọng cỏ may, ngồi bệt xuống gò ra roi quất:
— Đi đi, bờ rừ, bờ rừ, đi... đi...
Con châu chấu tre lồng lên, đôi càng dài đạp tanh tách. Nhưng nó đã bị trói chặt vào chiếc xe đất sét, không bay được nó chạy bằng bốn chân. Chiếc xe chồm lên và lăn theo, rất nhanh, rất nhanh, chưa biết chừng còn nhanh hơn chiếc xe ngựa thồ của bác Quyền...
Cu Em đắc ý, tít mắt cười.
Lúc ấy, Cu Anh nằm dưới gốc gạo, chú khoan khoái hít từng hơi gió thơm mùi lúa và hương ổi chín từ trong thôn bay ra. Nắng như những chùm tia ngũ sắc nhảy nhót trên tán lá xanh. Cu Anh nheo mắt nhìn em đang khoái chí la hét với chiếc xe ngựa, chú âu yếm nghĩ: Nó thật là trẻ con...
Dù chỉ hơn em ba tuổi nhưng Cu Anh xử sự rất đàng hoàng, chú vẫn nghĩ như mình là người lớn vậy.
Trẻ con, nó thật là trẻ con... Cu Anh tự nhủ. Chỉ vì một con châu chấu tre mà nó làm ầm ĩ, bắt mình phải ra bãi cỏ giữa lúc trời nắng chang chang. Thế mà, chỉ nửa giờ nữa thôi, nó sẽ chán, nó sẽ vứt bỏ con châu chấu tre và vứt ra bãi cỏ... Chắc chắn là như thế. Từ sáng đến giờ nó đã vặt đầu bao nhiêu con chuồn chuồn ớt rồi...
Chú bé nhíu mắt lại vì trời nắng, rồi chú rút cọng cỏ mật nhấm nháp. Ở chỗ cọng cỏ non mềm bị giập, một chút nước ngọt tiết ra.
— Mình chẳng thích chơi những trò vô ích như Cu Em...
Cu Anh tiếp tục nghĩ ngợi, mắt lơ mơ nhìn những chùm hoa gạo đỏ nổi lên khoảng trời trong vắt màu lơ.
—...Mình chỉ thích đọc sách thôi... Những quyển sách Kim Đồng... những quyển truyện thú vị mà chẳng tốn một chút mồ hôi nào...
Một con bọ rùa bò lững thững trên cỏ, Cu Anh phủi nó đi và lại tiếp tục nghĩ:
— Cái trò chơi của mình chẳng vất vả và khó khăn gì... Mẹ chỉ cần vào hiệu sách năm phút sau là đã có sách đọc, những quyển truyện ấy mà... thật nhọc nhằn như cái trò chơi ngựa kéo của Cu Em...
Trong xóm, con gà trống nhà ai cất tiếng gáy. Tiếng gáy vẳng trong buổi trưa lành nghe thật dễ chịu, nó gần như tiếng ru ngủ vậy. Những làn gió mơn man chập chờn lướt qua mắt Cu Anh, chú bé lơ mơ ngủ...
Nào, ngủ đi, chú bé ngoan ngoãn.
Nào, ngủ đi, chú bé ngây thơ. Có lẽ rằng chú đang lang thang trong thế giới của những trang sách. Những trang sách mà chú tưởng rằng người ta tìm ra một cách dễ dàng, nhưng thật ra nó còn khó khăn hơn nhiều lần cái việc tìm bắt con châu chấu tre.
Dương Thu Hương
Theo http://vietnamthuquan.eu/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Hoàng Đăng Khoa viết để truy vấn nhân tính

Hoàng Đăng Khoa viết để truy vấn nhân tính Hoàng Đăng Khoa từng xuất hiện trên văn đàn với danh xưng nhà thơ, trình làng bằng tập thơ Kiếp...