Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

Một hướng đi của thơ: Đêm họa mi

Một hướng đi
của thơ: Đêm họa mi

Đêm họa mi có 46 bài là những “khoảnh khắc” của cuộc sống, của sự sống làm nên chất liệu “hiện thực” đã được tinh lọc cảm nhận của tâm hồn. Vậy nên, thường khi trong thơ Lê Anh Phong chúng ta có thể gặp một hiện thực đã được đắn đo, chưng cất.
Bút danh nhà giáo, nhà thơ Lê Anh Phong đã quen với bạn đọc những năm gần đây trong lĩnh vực thơ và phê bình văn học. Năm 2022, anh cho in tập thơ thứ 7 của mình: Đêm họa mi. Tuổi ấy, sức viết ấy không có gì khác thường, không quá nhiều, cũng không phải ít, cho thấy ngòi bút đã hướng đến điềm tĩnh, không ham sự nhiều: biết lấy cái đủ thay cho cái thừa, cẩn trọng với chữ nghĩa: biết lấy tinh thay cho cái thô: viết và xóa/ Buồn vui trong lặng lẽ – (Bản thảo ngày giãn cách).
Đêm họa mi có 46 bài là những “khoảnh khắc” của cuộc sống, của sự sống làm nên chất liệu “hiện thực” đã được tinh lọc cảm nhận của tâm hồn. Vậy nên, thường khi trong thơ Lê Anh Phong chúng ta có thể gặp một hiện thực đã được đắn đo, chưng cất. Nó không còn “nguyên khối” như thực, mà thường khi được “nhào nặn” theo nguyên tắc của thi cảm, nó được nhấn mạnh mặt này hoặc mặt kia tùy theo mức độ cảm nhận của ngòi bút, tùy theo tâm trạng của người viết. Nó không còn là những điều “nhìn thấy”, mà là những điều “cảm thấy”. Nó không còn ở trong tình trạng “khách quan” của cái “chủ quan” bị che giấu, mà là nơi được kích hoạt của cảm giác, nhịp điệu của trái tim, có sự can thiệp của cái chủ quan. Rút cuộc, thơ là để miêu tả hiện thực, hay biểu hiện con người thi sỹ của người viết? “Miêu tả” là sức mạnh của văn xuôi. Sở trường của thơ là biểu hiện cái tôi trữ tình trước hiện thực. Để người đọc bị chinh phục bởi những kiến thức sâu sắc của cuộc sống là nhà văn, để người đọc bị mê hoặc ở nhiều cung bậc khác nhau trước cách tổ chức ngôn từ của mình, đó là nhà thơ. Thơ là một lời nói đẹp về một hiện thực đã được gạt bỏ nhiều thứ để chỉ còn là những điều tinh túy nhất. Nhà thơ là người nhìn thấy sự thi vị trong những điều bình thường:
se se lạnh/ đêm nay ngôi sao cũng lạnh// lam lũ Long Biên bờ bãi mùa người// gặp cuộc hành hương đi về trong nỗi nhớ/ bụi vẫn mịn đêm mơ hồ biến thể/ nhịp thời gian nối hai bờ hư thực/ đất sáng bóng mùa hoa cúc và em – (Đêm họa mi).
Mùa cúc họa mi đã đến. Không cần định vị thời gian thì vẫn nhận thấy đó là mùa gió lạnh: đêm nay ngôi sao cũng lạnh. Không cần chú thích không gian thì cũng có thể nhận thấy đó là sông Hồng: Long Biên bờ bãi mùa người. Không cần nói đến người gieo trồng đã vất vả gian lao thì cũng đủ hình dung: lam lũ Long Biên bờ bãi. Không cần che giấu tâm trạng người viết thì cũng có thể cảm nhận: gặp cuộc hành hương đi về trong nỗi nhớ. Không cần nói đến sự lẫn lộn trong xúc cảm thì cũng không thể không thừa nhận: “nhịp thời gian nối hai bờ hư thực/ đất sáng bóng mùa hoa cúc và em; chập chờn giữa hoa và gió/ cúc sáng lặng thầm mơ giấc hoa mi. Quả là nói yêu mà tránh được từ “yêu”, nói đẹp mà không viện đến chữ “đẹp”. Mùa cúc họa mi Hà Nội hiện lên không phải trong ánh sáng ban ngày mà trong bóng đêm…, như thể được “mờ hóa” giữa sắc màu hư ảo khác thường.
Một khung cảnh khác: thư viện, nơi sự tĩnh lặng, ngăn nắp đang đối lập với phố xá xô lệch ồn ào. Một sự liên tưởng mang tính so sánh thú vị của Lê Anh Phong cốt để đẩy cái thực đi xa hơn những gì vốn có nơi thư viện:
“không gian vẫn một màu trật tự ngăn nắp/ trang sách mở ra trong này/ đường vẫn tắc ngoài kia”
Nếu dừng lại ở đây, cũng đã có thể mơ hồ nhận ra “lý lẽ” trái tim của người viết trong sự so sánh “trong này” “ngoài kia”. Nhưng nếu đi thêm một nhịp nữa sẽ thấy tiếng đập mơ hồ kia đã rõ rệt trong “khoảng trống” hiện hữu từ cấp độ cụ thể đến cấp độ tưởng tượng:
“phía đường xa/ bóng ai ngoảnh lại/ trái tim mình hay chiếc lá trên cây/ …cuốn sách lấy ra để lại nhiều trống vắng/ cuộc gọi nào từ khoảng trống không em” – (Từ thư viện).
Thời gian là một thực thể hiện thực được cảm nhận khác nhau tùy theo tâm trạng của chủ thể: nhanh và chậm, dài và ngắn, đi và đến, mãi còn và biến mất…vốn mang tính khách quan như bao điều giản dị, bỗng nhiên đầy sắc màu gợi cảm. Câu thơ gọn mà mở. Chữ gieo chắc mà thoáng. Trọng tâm trong cảm nhận của Lê Anh Phong chuyển dịch từ thời gian sang sự bất tử của thời gian. Vậy nên thời gian (năm tháng) đã không còn là số đếm nguyên vẹn nữa, không còn mang ý nghĩa thông tin nữa, nó đã được can thiệp bởi thi cảm, trở thành một lời nói đẹp mang ý nghĩa thẩm mĩ. Nó hoán chuyển từ lĩnh vực thông tấn trần trụi (ý nghĩa – duy lí) sang một lĩnh vực “khó hình dung” hơn, thi vị hơn (ý thơ – thi pháp), đòi hỏi phải có năng lực thẩm thấu ngôn ngữ thơ để lĩnh hội được ý nghĩa thẩm mĩ của bài thơ.
“đi và đến/ với bao điều giản dị/ vẫn là em lắng lại giữa phôi pha// ngày tháng gió
ta tin vào hoa dại/ với mơ hồ anh hái tặng em”- (Năm tháng)
Hóa ra là câu chuyện giữa “phôi pha” và niềm tin. Cái tưởng mong manh (tin vào hoa dại) hóa còn, cái tưởng “mơ hồ” bỗng nhiên vượt qua năm tháng như nghịch lí: “em lắng lại/ trước nhành hoa tím/ cỏ bên đường vĩnh cửu của lòng tin”-  (Trước cơn giông). Người viết cố chọn những ngôn ngữ “mơ hồ” để làm “mờ hóa” hiện thực, tăng kích thước của hiện thực. Đây mới là điều nhà thơ cần quan tâm; đây mới là nơi nghe được rõ hơn tiếng đập trái tim của người viết, chính vì thế đây mới là nơi người đọc chờ ở mỗi người viết, cho dù trước đó, trong bài thơ này, Lê Anh Phong phác thảo “bức tranh” cơn giông bằng ngôn ngữ “tả thực” cũng khá ấn tượng: “bao táo tác khi trời xanh nổi gió/ chuồn chuồn bay náo loạn cả trên đầu”- (Trước cơn giông). Nhưng nói đông nói tây là cốt để nói cái dư chấn trong trái tim mình. Ngòi bút của nhà thơ cần cố gắng để chạm đến chữ “cảm” trong phép thuật của thơ trữ tình, để chuyển từ thật đến ảo, từ thực đến siêu, từ thô đến tinh, vượt lên cụ thể để đến khác thường, vượt lên miêu tả để biểu hiện, vượt lên chức năng thông tin để đến chức năng thẫm mĩ: “thơ em tặng/ đọc trong đêm của gió/ thơ em viết/ từ miền gương vỡ/ nhói sáng đêm đêm vẫn lấp lánh nhân tình” – (Đọc trong đêm).
Có thể thấy trong thơ Lê Anh Phong những nét tươi tắn của đời sống đã được lựa chọn theo nhiều hướng của thi cảm tinh tế. Những “thi liệu” đã thông qua bộ lọc, như những đơn vị mang nghĩa của cái đẹp đứng bên nhau, hình thành ý tứ của câu thơ mang nghĩa khác lớn hơn. Cái được biểu đạt (signififie) là Bến nước, cái biểu đạt (signifiant) là ngôn từ trong sự “vây bủa” của liên tưởng như xanh trong, vô tận, lối cũ, mùa thiếu phụ: “sợ lòng mình hẹp lại/ từ lẽ xanh trong, sông chảy vào vô tận/ nơi phên dậu cúc nở thành bến nhớ/ lỗi cũ chạm mùa thiếu phụ”- (Bến nước). Con đường sáng lên trong ký ức, hay còn lại trong ký ức là những gì đáng nhớ nhất: “hương phù sa vẫn hồng ngô nếp nướng/ quán vỉa hè thắp sáng giấc mơ đêm’- (Con đường). Một chuyến trở về với tâm trạng có gì như tiếc nuối, tiếc những gì không thể giữ được vào ngày đang sắp mãn: “ hàng phượng vĩ xưa như được quàng khăn đỏ/ biết lấy gì để nối dây diều/ khi chạng vạng mây bay”-  (Trở về). Một lần ở đường biên với những náo nức: “ đêm trở gió kể cho nhau chuyện cũ/ chợt âm vang ở phía con đường”–  (Viết ở đường biên). Quê hương trong sự trôi chảy của thời gian: “ trong hơi núi/ lặng thầm nghe đá hát/ sông quê chảy hay là ta đang chảy…/chiều dâng bóng mùa/ em mải miết theo sông”-  (Ở nơi nước chảy). Nhớ vỉa hè Hà Nội: “trong khoảng trống của im lặng/ giọt sương vừa đến” – (Nhớ phố)…
Trong thơ Lê Anh Phong chúng ta thường gặp những cặp từ, những đoản ngữ, nhưng câu thơ chứa sức gợi: mùa người (tr.8), mùa thiếu phụ (tr.17), gió dung nhan (tr.25), mực vẫn ấm, phía sau Thơ sao còn nhiều lá rụng (tr.26), chữ chập chờn dự cảm (tr.28), cuốn sách/ được viết bằng/ mây trắng (tr.31), cơm độn sắn, độn buồn vui xa vắng (tr.32), tro tàn bay ra từ kinh kệ (tr.33), những ký tự của một thời mây trắng/…nắng mưa bay ra từ chữ (tr.37), áo lính cũ đổ bóng vào trang viết (tr.42), anh đọc lại sáng bừng nơi cõi tạm (tr.43), chợ âm dương như hiện về phiên gió (tr.46), lặng thầm nghe đá hát (tr.49), câu thơ nào em gửi ở đám mây/ sao mây trắng cứ bay đi vội vã (tr. 53), cây nói bằng khoảng lặng (tr.65), cánh chim bay trong miền lá rụng (tr.67), sao chiếc cúc dự phòng nơi cuối áo/ cứ vu vơ lỗi hẹn với khuy cài? (tr.75), trước trong xanh lại muốn lên đường (tr.77), cây rùng mình trong gió (tr.85), ta lặng im như viên gạch lát đường (tr.91)…Sắc thái biểu cảm của ngôn từ, hệ thống ký hiệu ở đây hình như có sự xô lệch, cố ý vi phạm quy luật thông thường, nhưng đã được lựa chọn công phu để câu thơ trở nên khác thường, cũng có thể gọi là “quái đản” (Phan Ngọc), đầy thi vị, đầy mĩ cảm, làm ý nghĩa thông tin chìm đi chỉ còn thứ yếu, ý nghĩa thẩm mĩ gia tăng trở nên chủ đạo trong từng ngữ cảnh. Đó là nơi đến của thơ!
Lê Anh Phong là cây bút “có nghề”. Hướng đi của tác giả trong Đêm họa mi rất đáng để chúng ta tin cậy.
16/1/2024
Lê Thành Nghị
Nguồn: Tạp chí Nhà văn và Cuộc sống 2023
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Hà Nội, con thuyền, phù sa Đôi khi tôi tự hỏi cái ngày Lý Công Uẩn đến vùng bờ bãi phù sa ven sông Hồng, thấy những ráng mây vàng như mộ...