Thứ Tư, 7 tháng 1, 2026

Tiểu luận của hội viên mới Mai Thị Liên Giang

Tiểu luận của hội viên
mới Mai Thị Liên Giang

Mai Thị Liên Giang sinh ngày 19.9.1975 ở Quảng Bình, tốt nghiệp cử nhân năm 1996, thạc sĩ năm 2001 tại Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế. Năm 2008, chị nhận bằng tiến sĩ tại Viện Văn học, Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, với hướng nghiên cứu chính: Lí luận văn học, Mỹ học và Văn học hiện đại, hậu hiện đại.
Mai Thị Liên Giang từng là giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Bình, Trường Đại học Quảng Bình, hiện là Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Bình.
Nhà lý luận phê bình Mai Thị Liên Giang đã xuất bản các công trình: Chủ thể tiếp nhận và lịch sử tiếp nhận Thơ mới (Chuyên luận, NXB Hội Nhà văn 2015), An trú miền đọc (Tiểu luận phê bình, NXB Hội Nhà văn 2018), Áp lực của phê bình và đề xuất giải pháp tiếp tục thúc đẩy sự phát triển phê bình văn học hiện nay ở Việt Nam, Tạp chí Khoa học và công nghệ, chuyên san Văn Sử Triết học, Trường Đại học Khoa học Huế, số 3/2020. Chị được trao Giải Khuyến khích của Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2018 cho tác phẩm An trú miền đọc.
Nhà lý luận phê bình Mai Thị Liên Giang được kết nạp Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam năm 2023.
NHỮNG KHOẢNH KHẮC IM LẶNG GIÔNG BÃO CỦA NỮ GIỚI
Từ “Bến mê”(1) đến “Đắng ngọt đàn bà”(2), sáng tác của Nguyễn Thị Lê Na đã hòa vào dòng chảy truyện ngắn đương đại Việt Nam. Ngẫm về những khoảnh khắc lịch sử im lặng đầy bão giông của phụ nữ càng thấy rõ sức mạnh tiềm ẩn trong những nhân vật nữ ở truyện ngắn của Lê Na. Đó là những con người  tràn đầy khát vọng được yêu thương và khao khát sống mãnh liệt với bản ngã. Đồng hành với những phụ nữ viết như Thu Hiền, Hương Duyên, Thụy Anh, Trác Diễm… “Đắng ngọt đàn bà” giúp Lê Na “đăng đàn” một cách tự tin, góp thêm một giọng nữ chủ ở thể loại truyện ngắn, thể hiện sự cống hiến tâm lực sáng tạo nghệ thuật nghiêm túc trong quá trình vận động, biến đổi của nền văn xuôi Việt Nam đương đại nói chung và văn học Quảng Bình nói riêng. Quảng Bình lâu nay mạnh/ phát về thơ, hy vọng sự góp sức tích cực của Lê Na cùng các đồng nghiệp nữ của chị những năm gần đây là một dấu hiệu đổi mới văn học nghệ thuật, “cân bằng âm dương” trong đời sống văn học nghệ thuật.
Mỗi tác phẩm trong tập truyện ngắn của Lê Na là một hành trình tìm về với chính mình, là sự trăn trở về những đắng cay, những bất công, thậm chí là những nỗi sợ hãi của phụ nữ về tồn tại, về những thay đổi bất ngờ luôn đến trong cuộc sống con người. Viết về sự im lặng của mình đã khó, viết về những tâm sự thầm kín của các nhân vật ngoài mình càng khó hơn nhưng xem ra Lê Na đã khá khéo léo để các nhân vật nữ trải lòng, dẫn dắt người đọc bước vào những thế giới khác trong cuộc sống của họ. Với trí tưởng tượng phong phú, sự  đa cảm sẵn có, Lê Na đã mang đến những những “ám ảnh” bất ngờ ở những tình tiết mô tả diễn biến hành động, tâm lý nhân vật. Từ trong lịch sử, phụ nữ đã là nạn nhân của văn hóa “duy dương vật”. Đề cao nam giới và tính dục nam, Freud cho rằng, phụ nữ là những người đàn ông bất toàn (imperfect men), mắc chứng ghen tị dương vật và luôn mặc cảm bị thiến hoạn. Phân tâm học đã củng cố vững chắc hơn vị trí thống trị của nam giới và tiếp tục đẩy người phụ nữ xuống hàng thấp kém. Vì vậy, phụ nữ luôn sống trong im lặng, thủ phận với mặc cảm của mình trên tất cả các lĩnh vực. Trong sáng tác văn học, điều này càng thấy rõ. Ở Việt Nam, càng đến gần thời hiện đại, quan niệm này càng thay đổi. Phụ nữ đã tìm mọi cách để “thẩm vấn” lịch sử trong giới hạn có thể và quyền năng ngự trị tính đàn bà của mình. Trong đó có sự đóng góp của sáng tác văn học. Nhân vật trong truyện của Lê Na cũng ngày đêm mất ngủ để đối thoại với hành trình sống này. “Chị chưa quên người cũ. Nhớ lại lần gặp ấy, chỉ thoảng qua thôi, nhưng cũng kịp để chị nhìn rõ những sợi râu mọc lởm chởm trên gương mặt gầy hốc hác của Huân. Suốt mấy đêm liền, chị cũng không ngủ được” (Cầu vồng sau mưa). Nữ giới là nạn nhân của hủ tục và định kiến xã hội. Quan niệm xã hội bắt nguồn từ sự khác biệt giới tính đã đẩy phụ nữ vào vai trò của kẻ thứ yếu. Khổng Tử đã từng nói “phụ nhân nan hóa” (Đàn bà khó dạy bảo). Kinh thánh Kito giáo cho rằng, người đàn bà về bản chất khác đàn ông, không cao quý bằng đàn ông, được sinh ra để phục vụ đàn ông, và là nguồn gốc của mọi thói hư tật xấu trên đời. Nhà nữ quyền Pháp S.Beauvoir đã chứng minh rằng, cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại, người phụ nữ phải gánh chịu ngày càng nhiều những bất công và định kiến. Những đổi thay của thời đại cùng với tiến bộ xã hội đã nới lỏng tự do cá nhân cho nữ giới. Từ đây, họ ráo riết đi tìm lại chính mình, quyết liệt trong việc lựa chọn hạnh phúc. Nhưng ngay cả những người đàn ông “hiện đại” nhất cũng khó chấp nhận thực tế này. “Nói xong, ông ngước lên nhìn người vợ trẻ, nói: “Con gái như chó cái ỉa vườn, chán lắm. Bảo mẹ cố đẻ thêm thằng chống gậy vào!” (Trong khoang tàu chật)…
Không chủ ý xây dựng nhân vật “nổi loạn” như trong sáng tác của Thuận, Y Ban, Dạ Ngân, Hồ Anh Thái… nhưng nhân vật của Lê Na có ý thức tìm cơ hội vượt thoát những định kiến từ lâu đã in bóng lên cuộc đời họ. Họ sẵn sàng dấn thân vào những vấn đề nhạy cảm như tính dục, thẳng thắn thể hiện quan điểm riêng về đời sống hiện thực trong truyền thống như gia đình, phẩm hạnh, hôn nhân và ranh giới của sự chung thủy. Sự phản kháng thực tại bất công, cách ứng xử với kiểu đàn ông hời hợt, vô cảm trở thành phẩm tính chung của giới nữ trong truyện ngắn Lê Na. Đây cũng chính là hành trình nhân vật tự đấu tranh, vượt thoát giới hạn để được hiện thể “nhân vị đàn bà”. Truyện ngắn Lê Na vì thế có ý nghĩa sâu sắc trong quá trình phản biện lại những định chế của xã hội kìm hãm tự do cá nhân của con người. Đó cũng là sự phản kháng vừa âm thầm vừa quyết liệt của các nhà văn nữ về một xã hội vốn hằn sâu tư tưởng nam quyền từ trong lịch sử. Chị có những nhân vật phụ nữ mạnh mẽ, độc lập, sẵn sàng rời bỏ chồng, rời bỏ người đàn ông của đời mình khi nhận ra kiểu sống hai mặt của họ. Đó là những người phụ nữ biết làm chủ cảm xúc của mình, làm chủ cuộc chơi nghiêm túc trong hôn nhân. Việc phát hiện chồng từ lâu đã âm thầm nghi ngờ vợ ngoại tình, chủ động xét nghiệm ADN cho con nhưng bề ngoài vẫn sống tốt, vẫn yêu chiều chăm sóc vợ đến “ớn lạnh” như kiểu chồng của Vy là cái kết sốc/ bất ngờ cho nhân vật nữ.  Đây là một vấn đề khó phân xử trong đời sống hôn nhân hiện đại, là minh chứng cho sự văn minh giết chết tình yêu con người. Simone de Beauvoir từng cho rằng người chỉ là người thực sự nếu biết phản kháng, danh dự, giá trị làm người ở chỗ biết phản kháng, chống lại một thân phận đã bị gán cho một cách phi lí. Từ đây bà cũng đã khái quát: Người ta sinh ra không là đàn bà, người ta trở thành đàn bà! Khát vọng đó xuất hiện trong truyện ngắn của Lê Na qua những câu hỏi tự vấn của nhiều nhân vật cứ xoáy vào tâm can những người đọc. Như vậy sự ăn năn, hối hận của Vy, sự day dứt của Vy trong tình cảm với chồng có nguồn gốc sâu xa từ định kiến và sự áp đặt của chế độ nam quyền. Trong ngôi nhà đó, Vy đã là kẻ thể thứ yếu, phụ thuộc. Vì vậy việc dứt khoát quyết định cắt bỏ phần lệ thuộc vào người đàn ông để xác lập nhân vị độc lập của Vy là phù hợp với xã hội hiện đại. “Nhưng Vy đứng thẳng người, gạt Văn sang một bên. Kiêu hãnh từng bước, cô đến bên bàn viết, bình tĩnh ngồi xuống lấy khăn lau khô nước mắt. Đoạn, Vy khẽ lôi từ hộc bàn ra tờ giấy trắng. Không chút lưỡng lự, cô dứt khoát đặt bút, viết đơn li hôn…” (Đắng ngọt đàn bà ). Một trong những tín hiệu đầu tiên của ý thức xác lập nhân vị đàn bà chính là ở quá trình tự ý thức về sự tẻ nhạt của cuộc sống đang diễn ra, có khả năng ăn mòn tinh thần con người hằng ngày. Khao khát tìm một không gian mới, mong muốn thoát ra khỏi những ràng buộc quen thuộc, tẻ nhạt là biểu hiện quan trọng trong hành trình dấn thân đến chân trời tự do của phụ nữ. Bên cạnh đó, nhân vật nữ dù ở hoàn cảnh nào thì cũng luôn khắc khoải về cuộc đời, về số phận khác với nam giới. Sự giằng xé giữa bản năng sống và bản năng chết trong những thời điểm quyết định số phận của họ cũng có những biểu hiện khác. Họ sống, trước hết vì con. Đó là đức hạnh đáng kính của những người đàn bà Á đông dù ở thời đại nào. “Nhưng rồi cứ mỗi ngày mở mắt ra, Seo lại tự an ủi, rằng ngày mai sẽ đỡ hơn, rằng có một hình hài đang lớn dần trong cơ thể. Seo nghĩ đến bố. Bố đang ở đâu? Seo nghĩ đến Pak. Pak đang làm gì? Liệu anh có tin chuyện này? …Một quyết tâm trỗi dậy. Seo sẽ nuôi con một mình. Sẽ làm mẹ đơn thân (Vùng rừng sáng). Ở chủ đề này, Lê Na có những dòng văn mô tả diễn biến tâm lý nhân vật trong quá trình đấu tranh với nội tâm khá sinh động “Nhiên bặm môi, miệng nhẩm, một hai, ba… Nhưng…/Cơn đau nhói ở bụng dưới khiến Nhiên khuỵu xuống./ Lần đầu tiên đứa bé biết đạp, và cú đạp yếu ớt ấy khiến Nhiên tỉnh giấc. Như nó thức tỉnh Nhiên. Thức tỉnh cả tình mẫu tử, mà bấy lâu Nhiên còn mơ hồ…” (Mùa cà phê hoa trắng). Đôi lúc nhà văn như đã hóa thân vào nhân vật để mô tả tình mẫu tử thiêng liêng, đức hy sinh thầm lặng của người phụ nữ. Đây cũng chính là biểu hiện nỗi lòng riêng của một nhà văn nữ luôn mong muốn có một xã hội tốt đẹp, bình yên hơn. Nói như Nietzsche, (một triết gia xem ra không dành ưu ái cho phụ nữ nhưng đã phải khẳng định phụ nữ luôn khác với đàn ông ở điểm này): Với phụ nữ, tình yêu là “số phận”, là cuộc đời họ. Cuộc sống của đàn ông là niềm vinh quang, còn đàn bà là tình yêu. “Đó là một tuần dài bằng cả thế kỉ, Thư sống dở chết dở trong bấn loạn. Cuộc đời đã gạch tên mình ư! Sao nỡ phũ phàng đến vậy, hả ông trời!/ Số phận đã ngoảnh mặt. Thư thẫn thờ cầm tờ kết quả xét nghiệm trước cái nhìn ái ngại của ông bác sĩ già. Những bước chân không phương hướng. Hình như các dây thần kinh không hoạt động, mọi cung bậc dồn nén, đông đặc. Có lẽ sau một tuần thấp thỏm đợi chờ, mọi cái đã bão hòa. Đôi mắt ráo hoảnh. Tuyệt vọng. Bước chân cao thấp. Con đường dằng dặc về nhà…/Lạ thay, Thư cầm lòng không đậu. Đôi mắt đẹp rưng rưng, nước mắt ứa ra không thể kìm giữ. Người cô rung lên, nức nở… (Một ngày vừa chớm thu…).
Ở xã hội hiện đại, các nhà văn nữ viết về sex để giải bày nỗi lòng, thể hiện cách chiêm nghiệm riêng về cuộc sống của giới mình. Đây cũng là xu hướng sáng tác mới của văn học nghệ thuật những năm gần đây. Viết về tính dục là cách nhà văn nữ tự giải phóng bản thể, tự trào mình để hiểu người, hiểu đời. Lê Na thuộc thế hệ 7x, sinh ra ở thời điểm giao thời của chiến tranh và hòa bình, đó là thế hệ phải chịu sự chi phối giằng xé giữa cái cũ trong văn hóa truyền thống luôn trì níu và cái mới của thời hiện đại luôn thôi thúc chị trong quá trình sáng tạo. Hai tập truyện của Lê Na đã chứng minh cho quá trình lao động sáng tạo vất vả, cực nhọc, là quá trình tháo dỡ cái kén để bước ra thế giới mới với một tâm thế tự tin của người luôn giữ nếp sống truyền thống nhưng không thờ ơ với văn minh của thời hiện đại. Chính vì vậy, từ niềm tự hào thân thể và ẩn ức tính dục, niềm kiêu hãnh về cái đẹp cứu rỗi muôn đời của phụ nữ, chị có những trang viết vừa đủ để thể hiện cách nhìn, trải nghiệm của người đàn bà về con người trong thời đại ngày nay. “Chiếc điện thoại trong tay đã giết âm, chị và Phong thoải mái lời yêu vụng trộm. Như thể hai người mắt trong mắt đắm đuối, tay trong tay nồng nàn. Tin nhắn của Phong thầm thì: “Mình lên giường thôi, em!” Không đắn đo, chị: “Dạ!” Gót sen nhẹ lướt. Cánh tay khẽ đẩy cánh cửa buồng ngủ tràn ngập một màu hồng nhạt, dịu nhẹ. Các bức tường là những cánh đồng sông nước, cỏ hoa. Không gian thần tiên của chốn địa đàng. Chị như cánh hoa quỳnh thơm tho rơi nhẹ xuống mặt nệm…” (Cơn bão). Đọc tác phẩm của chị, người đọc cảm nhận được sâu sắc tuyên ngôn âm thầm về quyền được tự giải phóng của người phụ nữ dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Sự thách đố các thể chế xã hội không còn là sự ngông cuồng mà sự tự đề cao, khẳng định bản ngã của người phụ nữ trong vòng kìm kẹp của luân thường đạo lý. Truyện Cơn bão mô tả khá chi tiết những vấn đề tế nhị của người phụ nữ nhưng không hề dung tục. Đây cũng là cách nhà văn khám phá thế giới cô đơn của phụ nữ trước áp lực của xã hội, của thời đại về những nhu cầu sinh lý bình dị và chính đáng của giới nữ. Dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào, người phụ nữ cũng nên biết cách thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn, cũng như giải tỏa được nhu cầu sinh lý cho bản thân. Trong tác phẩm của chị có dạng nhân vật tồn tại với đời sống tình dục nghèo nàn, tẻ nhạt, thiếu thốn, có khi đến bất lực nhưng không tuyệt vọng. Họ tìm cách giải phóng bản thân bằng việc “ngoại tình trong tư tưởng” hay thậm chí là sex ngay cả trong giấc ngủ. Sau cuộc giao hoan với chính mình, họ lấy lại năng lượng sống, tiếp tục làm tròn trách nhiệm của người mẹ, người vợ… So với các nhà văn nữ cùng thời, với một lối viết nữ mạnh dạn, quyết liệt, truyện ngắn Lê Na đã có xu hướng nghiêng về tính dục nhưng không phải để thụ hưởng hoan lạc, không phải để cổ xúy cho kiểu tình dục đồi trụy. Cách khai thác chủ đề của chị vừa phải, tập trung vào việc diễn đạt diễn biến quá trình nội tâm giằng xé, khao khát sống thực, rất chính đáng của nhân vật. Những khao khát về tính dục của các nhân vật trong tác phẩm của chị là chứng tích của sự “dồn nén” tích tụ bao đời của người phụ nữ  đang muốn thức tỉnh trước thời đại mới. Đây cũng là cách thể hiện quan điểm về người phụ nữ đã biết cách tự lập, tự chủ, tự tìm được tự do và hạnh phúc trong chính cuộc sống của mình. Những ẩn ức tính dục của nhân vật nữ được giải tỏa và được thể hiện sinh động, chân thật, mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Ở một số tác phẩm, Lê Na vận dụng ngôn ngữ thân thể chân thực, sáng tạo, không nhằm mục đích gợi dục, không khiêu khích dục vọng. Phụ nữ mong muốn có sự hòa hợp tâm hồn lẫn thể xác và sex là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống. Nhân vật của chị không chấp nhận cuộc sống tù túng, buồn tẻ và cam chịu mà đã dũng cảm đứng lên bảo vệ tình yêu và chọn lấy cuộc sống yên bình, hạnh phúc cho mình. Đôi khi chỉ là những cảm xúc thăng hoa trong tình yêu, nhưng họ chấp nhận đánh đổi mọi thứ để có được hạnh phúc theo ý nguyện. “Thắm cao ráo, thắt đáy lưng ong, đã có một đứa con gái ba tuổi, ở với bà ngoại, đàn ông nhìn vào không ai giấu được vẻ thèm thuồng. Kiểu đàn bà ngực nở mông nở thường dễ dàng trong chuyện sinh con, Sinh gặp một lần là ưng ngay” (Sinh). Điểm khác trong ngôn ngữ thân thể của Lê Na là vẻ đẹp nhục cảm của nhân vật được trình hiện bằng chất giọng xót xa thương cảm, gợi ý cho người đọc tưởng tượng về những khoảnh khắc cảm xúc của một nhân vật nguyên mẫu ngoài đời, nhà văn không mỉa mai, không chê bai, không can thiệp sâu vào cuộc sống đời thường của nhân vật. Đó là sự thể hiện của sự cảm thông, tình thương của phụ nữ cho người cùng giới có số phận trắc trở, truân chuyên. Đó còn là niềm khích lệ, động viên của nhà văn để phụ nữ biết sống bản lĩnh hơn. Là người trong cuộc nên chị càng hiểu sâu sắc những đau thương mất mát, đau khổ thầm kín của phụ nữ. Những câu chuyện chị kể vì thế bao giờ cũng bắt đầu như một lời tâm tình, như sự cảm thông chia sẻ của người thấu hiểu. Để khái quát được những chân dung phụ nữ từ những hoàn cảnh khác nhau như thế, nhà văn cần có cái nhìn tinh tế, nhiều chiều về cuộc sống. Đây cũng là cách Lê Na góp phần vào việc khẳng định giá trị thiên tính nữ, đức hy sinh thầm lặng, những khát khao chính đáng về tình yêu, hạnh phúc luôn ẩn chứa bên trong tâm hồn mỗi người phụ nữ. Với sự đồng điệu, cảm xúc sâu sắc về tình người, sự thủy chung, son sắt của người cùng giới, Lê Na đã làm chủ nghệ thuật xây dựng nhân vật ở nhiều số phận khác nhau. Chị đã thành công ở nghệ thuật khai thác thế giới nội tâm phức hợp, đa chiều, đôi khi rất khó đoán định của tâm lý phụ nữ. Nhân vật nữ của chị biết thụ hưởng cuộc sống, biết đấu tranh cho quyền sống, quyền tự do, biết giữ đức hy sinh của người mẹ. Khát vọng tình yêu, hạnh phúc làm người, bản năng và nhu cầu giải phóng tính dục, ý thức giải phóng bản thân được nhà văn chuyển tải hợp lý trong từng thông điệp của nhân vật. Tập truyện Đắng ngọt đàn bà sẽ là một điểm nhấn mới của Lê Na trong hành trình sáng tạo.
Có thể nói nhân vật nữ của Lê Na có điểm chung ở những bất trắc, đau khổ, trăn trở về hôn nhân, tình yêu và luôn cố gắng, nỗ lực tìm cách vượt qua những khó khăn thử thách để khẳng định mình trong cuộc sống. Đối với họ, cuộc sống có ý nghĩa nhất là khi người phụ nữ được hy sinh vì công việc, vì chồng con, vì mái ấm hạnh phúc gia đình. Một số nhân vật nữ đã tìm cách phá vỡ quy chuẩn cái đẹp truyền thống đã được định hình trước. Họ không chỉ là những hình mẫu cho vẻ đẹp truyền thống nhu mì, “chân yếu tay mềm” của giới nữ mà còn là vẻ đẹp hiện đại, biết đấu tranh cho hạnh phúc, nhu cầu cá nhân của mình. Họ không ngại bày tỏ nỗi lòng, nói lên tiếng nói riêng của nữ giới khi đối thoại với nam quyền và những tư tưởng xã hội hà khắc, lạc hậu. Với lối viết trần thuật, lựa chọn cách kể chuyện tâm tình, nhấn sâu vào nghệ thuật diễn giải diễn biến tâm lý phức tạp trong nội tâm người phụ nữ, truyện ngắn của Lê Na đã góp phần hình thành diễn ngôn ấn tượng về những khoảnh khắc im lặng đầy bão giông của một nhà văn nữ đáng mến ở miền Trung hiện nay.
________________
(1) Nguyễn Thị Lê Na, Bến mê, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2007.
(2) Nguyễn Thị Lê Na, Đắng ngọt đàn bà, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2019. 
VĂN HỌC GÓP PHẦN XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC NHÂN CÁCH CON NGƯỜI
1. Đạo đức trong văn học xuất phát từ hiện thực cuộc sống cụ thể thông qua cái nhìn, quan điểm, tư tưởng của nhà văn. Đạo đức có thể có từ trong kinh nghiệm của tác giả, hoặc do cuộc sống gợi ra, hoặc được hình thành từ quy ước chung của xã hội. Đạo đức cũng là vấn đề xuyên suốt trong văn học qua các thời kỳ, ở tất cả các thể loại. Trong cuộc sống, đạo đức trong sáng giúp con người gần nhau hơn. Cuộc sống nhờ vào đạo đức nhân cách con người chí thiện mà ngày càng tốt đẹp hơn. Trong sáng tác, phải có đạo đức nhân cách tốt, nhà văn mới viết nên được những tác phẩm có giá trị. Vì vậy, văn học có vai trò lớn trong việc xây dựng đạo đức nhân cách con người.
Văn học góp phần lên án tội ác, thói suy đồi đạo đức. Từ trong lịch sử, chủ đề đạo đức nhân cách con người đặc biệt được các nhà văn quan tâm thể hiện trong quá trình sáng tác. Từ trong lịch sử, đạo đức đã như là một thước đo của tác phẩm văn học, là một trong những yếu tố cơ bản góp phần quyết định giá trị riêng của tác phẩm. Bước sang thời hiện đại, trước thực tiễn đạo đức xã hội ngày càng có dấu hiệu bị băng hoại, vấn đề này ngày càng được các nhà văn quan tâm chú ý hơn. Có đạo đức nhân cách sống đẹp, con người sống với nhau nghĩa tình hơn, xã hội bình yên hơn. Đạo đức cũng có thể được xem là hệ giá trị đo tình yêu thương, đo lòng người. Các quy chuẩn đạo đức của một dân tộc giúp con người tự nhắc mình để biết cách sống hài hòa, hiểu được giới hạn của chính mình, sống tốt hơn. Đặc biệt, trong xã hội ngày nay, quan niệm về đạo đức nhân cách, các mối quan hệ giữa con  người với con  người ngày càng mong manh, dễ bị phá vỡ, dễ bị bôi bẩn, bị tha hóa thì văn học đã/cần/phải/ nên tiếp tục góp phần xây dựng đạo đức nhân cách sống phù hợp. Hơn bao giờ hết, văn học dù có đổi mới nghệ thuật, cách tân hình thức đến đâu thì tận trong sâu thẳm, bản chất tác phẩm vẫn phải phản ánh được những góc khuất của cuộc sống, nếp sống đạo đức con người. Văn học cũng cần phải có cách tạo lập một thiết chế về đạo đức riêng, phù hợp với bản chất ngôn từ nghệ thuật để góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Như vậy, tác phải thực sự là sự thể hiện của quá trình sáng tạo nghệ thuật từ những suy tư trăn trở về cái cao thượng, sự thấp hèn, tình yêu, tình thương, lý giải được những ám ảnh về quan hệ đạo đức bất lương giữa con người với con người ngoài xã hội, trong gia đình, với tự nhiên, với lịch sử và với chính bản thân. Nhà văn dù có viết về những sự thật khốc liệt ngoài cuộc sống đến như thế nào thì bên trong tâm khảm vẫn phải luôn thấm đẫm tinh thần nhân văn, tình yêu thương con người vô bờ bến.
Đạo đức làm người xét đến cùng không có gì mới, nhưng tại thời điểm này, chúng ta cần phải trở lại, nói lại, đặt lại vấn đề: huyết mạch của văn học Việt Nam phải là đạo đức, là nhân cách sống, là tình yêu thương con người. Văn học có chức năng giáo dục, thông qua văn học để giáo dục đạo đức con người là điều cần thiết và nên bắt buộc! Văn học không chỉ dừng lại ở giáo dục nghệ thuật, nếu muốn khẳng định nó như là một khoa học “sánh vai với các khoa học khác”. Bởi tất cả sự thành công của khoa học đều cần đến yếu tố có đạo đức con người. Lịch sử văn học, nghệ thuật nhân loại từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim, trong tất cả ý nghĩa chân chính và cao cả của nó, đều trực tiếp hoặc gián tiếp tìm đến phản ánh, cảnh báo, dự báo và bộc lộ khát vọng về đạo đức con người. Những chuẩn mực đạo đức không phải là một quan niệm nhất thành, bất biến mà được hình thành, kế thừa, phát triển và biến đổi theo quá trình lịch sử. Phản ánh đạo đức xã hội, đấu tranh chống cái ác, cái thấp hèn, bảo vệ cái cao thượng, cái tốt đẹp là nhiệm vụ tự thân của văn học, nghệ thuật. Và qua văn học, nghệ thuật, đạo đức được hun đúc, ý thức đẩy lùi cái ác được bồi đắp, cổ vũ khát vọng hướng tới cái thiện, cái đẹp, thổi lửa tin yêu con người và cuộc sống.
Tác phẩm văn học, nghệ thuật không những khai thác những mặt tốt mà còn phải biết phơi bày những mặt trái của đạo đức xã hội với mục đích là khơi gợi, thức tỉnh con người tránh xa cái ác, cái xấu để nuôi dưỡng, nâng đỡ, bồi đắp cái thiện vốn có trong cuộc sống, chứ không phải vùi dập, chà đạp nhân cách con người. Văn học cần đấu tranh không khoan nhượng với những thói hư, tật xấu của con người. Cao hơn, văn học còn biết giúp công chúng nhận thức vết thương đau và tìm cách vượt qua nó bằng niềm tin sâu sắc vào tương lai. Đây là sứ mệnh cao quý, đồng thời cũng là trọng trách nặng nề của văn nghệ sỹ. Nhà văn không nhất thiết phải viết tác phẩm nhuốm màu đạo đức một cách gượng ép, hoặc cố khoác cho nhân vật thứ đạo đức mà nó không có. Ngay cả những tác phẩm viết về cái ác, người ta vẫn thấy tác giả giúp người đọc hướng tới cái thiện.
Trong giai đoạn tàn khốc của cuộc chiến tranh chống Pháp và Mĩ, nhà văn bắt buộc dùng văn học làm vũ khí chiến đấu cho cả dân tộc, văn học chịu sự chi phối của chiến tranh. Hiện thực đời sống bấy giờ nhằm phê phán, lên án tội ác của giặc và cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân ta. Chủ đề, nhân vật trung tâm trong các tác phẩm chủ yếu là những anh hùng lực lượng, vũ trang, những cô gái thanh niên xung phong, những chàng trai du kích, những người có mặt trực tiếp trên mặt trận hỏa chiến đều có chung một mục tiêu, lí tưởng đó là dành lại hòa bình, độc lập cho đất nước. Họ là những con người sống vì cộng đồng dân tộc, xả thân vì nghĩa như những cô gái trong Những ngôi sao xa xôi (Lê Minh Khuê), anh thanh niên trong Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), ông Sáu trong Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng), anh hùng Núp trong Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), đây là những người mang lí tưởng của thời đại. Trong thời kì này, con người bản năng không có điều kiện để phát triển, bộc bạch, những khao khát tình yêu nam – nữ, đạo đức cá nhân không có lý do để tồn tại. Giờ đây tình yêu gắn liền với dân tộc, với đồng loại, đạo đức đi đôi với cái chung của xã hội. Biết làm sao được, sống trong thời kì này không được phép nghĩ nhiều đến lợi ích cá nhân, nguyện vọng riêng tư mà tất cả những phẩm chất cao đẹp đều lấy ra làm vũ khí chiến thắng quân thù. Chiến tranh kéo dài đã tạo nên một mẫu người phổ biến trong cuộc sống và văn chương phải phù hợp với yêu cầu tất yếu của lịch sử là chiến thắng kẻ thù bất cứ giá nào, đi lên thống nhất đất nước, xây dựng xã hội tiến bộ.
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nước đã có những thay đổi mới mẻ và toàn diện trên nhiều lĩnh vực đời sống, xã hội, bao gồm cả nền văn học. Văn học thời hậu chiến giờ đây không còn đi trên con đường mòn đã có từ trước nữa mà dường như ngày càng thay đổi để mở thêm nhiều lối đi mới với phạm vi phong phú vô cùng. Bây giờ không còn là những vấn đề xoay quanh ta – địch mà nó còn là quyền lợi cá nhân của con người. Sống trong thời bình chúng ta nhận thức rằng cuộc sống giờ đây phức tạp hơn nhiều. Giờ không còn là sống, cầm vũ khí chiến đấu nữa mà cuộc sống mở ra những đòi hỏi cao hơn bắt buộc con người thay đổi. Nhà văn từ đó cũng có cái nhìn khác về hiện thực nhất là những vấn đề riêng tư mỗi cá nhân thông qua đó để phát triển văn học theo hướng dân chủ hóa, nhân đạo hóa. Các nhà văn nói nhiều đến cái tôi cá nhân, đến cá tính, họ đấu tranh với chính mình để được đổi mới… Mỗi con người đều đòi hỏi được xem xét như một nhân vị riêng có nhân cách độc lập. Từ thay đổi này những gì thuộc về con người nhưng trước đây bị lẫn tránh hay che khuất đều được nhà văn nhận thức lại và đưa vào các sáng tác của mình. Đặc biệt từ sau năm 1986, yếu tố tự nhiên, bản thể của con người ngày càng được đào sâu, khắc họa như một nhu cầu tất yếu cần được thõa mãn. Bên cạnh những vấn đề về xã hội thì vấn đề con người cá nhân, bản năng cũng được các nhà văn tập trung phản ánh, đặc biệt là chủ đề tình yêu, đạo đức để nói lên nổi lòng mình.
2. Văn học xây dựng con người biết sống thiện, bồi đắp hành trình ngộ đạo làm người, giúp con người biết yêu thương và có khát vọng sống. Đừng để chính bản thân nhà văn phải tự thốt lên rằng: “xác của các nhà văn đã chất thành núi trên thế gian này. Người ta vẫn bới tìm ở đấy những mẫu vụn của con người, về con người” [51, tr.55- Nguyễn Huy Thiẹp. Con người sinh ra trong cuộc đời, ai cũng luôn có khát vọng sống, khát vọng tình yêu, hạnh phúc cho riêng bản thân mình. Văn học xem con người là đối tượng phản ánh những vấn đề của con người không nằm ngoài sự phản ánh của văn học. Văn học đi sâu vào số phận của đời sống con người cá nhân nên vấn đề khát vọng tình yêu, hạnh phúc cũng được các nhà văn đặc biệt quan tâm. Ta thường nghĩ tình yêu mang đến cho con người cảm xúc, sự thăng hoa và sống có tình người hơn. Trong tác phẩm, con người có thể phải đối diện với những vấn đề sinh tồn, thường nhật nghiệt ngã nhưng phải có sự lựa chọn rạch ròi. Cuộc sống muôn màu nhưng nhà văn phải có lựa chọn để tìm ra những sinh mạng vẫn luôn sống cố gắng chống chọi với hoàn cảnh, với xã hội để giữ gìn lòng tự tôn, phẩm giá cao đẹp của con người.
Trong thời đại mới, thời đại văn minh, khoa học, nhất là sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin làm cho giá trị cuộc sống con người ngày càng thay đổi. Theo đó, giá trị đạo đức đang bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, duy vật chất, kéo theo đó là nhiều hệ lụy. Trong thực tiễn, giới trẻ ngày nay chạy theo lối sống hưởng thụ, bỏ qua những giá trị nền tảng đạo đức vốn là nền tảng cốt yếu của con người. Vấn đề này cũng là một thử thách cần đặt ra đối với thực tiễn sáng tạo, tiếp nhận văn học và cả nền văn học của xã hội. Xã hội càng phát triển, kéo theo đó nhiều tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến đạo đức con người như giết người cướp của, hiếp dâm, trộm cắp, ma túy, làm ăn phi pháp… Đã đến lúc các nhà văn cũng như bạn đọc cần ý thức rõ hơn trách nhiệm của mình trong việc làm thế nào để hạn chế lối sống thực dụng, cá nhân, thiếu tính nhân văn, thiếu tình yêu, coi thường đạo lý, giá trị đạo đức truyền thống trong thời đại ngày nay.
Nhà văn phải là người có trách nhiệm với ngòi bút của mình và luôn băn khoăn, trăn trở đi tìm ý nghĩa văn chương. Nhà văn nên luôn xem vai trò của văn chương là cội nguồn của đạo đức, là nơi nuôi dưỡng bản tính con người và được mọi người xem trọng. Nói như Nguyễn Huy Thiệp, trong thực tiễn đã không chỉ có kiểu văn chương sửa mình mà có cả văn chương kiếm tiền, văn chương trốn đời, trốn việc và kể cả văn chương làm loạn. Và cũng không nên coi văn chương không là “khuôn vàng thước ngọc” để mọi người noi theo.  Học văn cũng không phải để làm quan, không như học làm quan. Công việc viết văn vốn nhọc nhằn, phức tạp, lại buồn tẻ nữa nhưng không vì thế mà nhà văn cho phép mình dễ dãi. Viết văn có thể như một sự giải thoát nhưng có khi cũng là để tự chất vấn lương tâm đạo đức của  chính mình – chất vấn về nghĩa lý của văn chương, về ý nghĩa của cuộc đời cầm bút. Trang viết của nhà văn phải là sự trăn đi trở lại, như một sự dằn vặt, cào xé chính mình. Nhà văn phải biết sợ mình tự trở thành một người lừa đảo trong thế giới ngôn từ. Những kẻ lừa đảo trong văn chương còn đáng sợ hơn nhiều những kẻ lừa đảo tiền bạc, tài sản. Nhưng thật trớ trêu, vì sự thật bao giờ mà chẳng đắng và khó nghe. Dù nhà văn có  đau đớn khi đưa những sự thật vào tác phẩm của mình nhưng không thể viết ra thứ văn chương dễ dãi, sẵn sàng ca ngợi, tung hô, sẵn sàng dối trá. Thà để người ta đau đớn trong đời thật còn hơn chìm đắm trong thứ hạnh phúc giả tạo. Dù loại văn chương nào cũng phải lấy chữ tâm, lấy điều chí thiện làm gốc. Nhà văn là người biết lo lắng, trăn trở cho những con người đang dần mất đi giá trị đạo đức trong xã hội cũng như những người đang theo đuổi sự nghiệp văn chương,  phải luôn hướng con người đến cái chân – thiện – mỹ của cuộc sống, hòa vào giá trị đích thực của cuộc sống thì đó mới là nhà căn chân chính.
Hiện thực cuộc sống bao la, muôn màu muôn vẻ lại không ngừng vận động, phát triển, đổi mới, vì vậy cái nhà văn hướng đến là con người, là tính cách, tâm hồn, số phận là những gì của con người làm nên ý nghĩa của cuộc sống. Con người làm ăn sinh sống, lo toan, hy vọng, hạnh phúc là từ trong một xã hội nhất định, từ những quan hệ ràng buộc con người với nhau. Tình cảm gia đình, đạo đức con người là phần sâu của tâm hồn, từ lâu đã là đối tượng để tìm tòi, thể hiện của văn học.
Văn học nếu tách rời với những thực tiễn đời sống hàng ngày, hay hoàn toàn để chỉ quy về đời sống tâm linh, hay chỉ là thế giới của những con người đau khổ tự gặm nhấm tâm hồn mình trong thế giới ngôn từ,  hay cuồng loạn với việc cách tân quá lố, kêu gọi nghệ thuật ở thế giới siêu hình…thì chắc chắ sẽ không thể hiện được điều gì trong nội dung đạo đức. Tác phẩm văn học phản ảnh đạo đức con người trong đời thực nhưng không nhất thiết phải là phản ánh nguyên bản đời thực, mà là phản ánh của cái được phản ánh. Nên câu chuyện về con người trong văn học có thể xuất hiện hàng loạt những nghịch lý như: Ở hiền thì gặp chuyện bất trắc. Đi tìm cái đẹp thì gặp cái xấu xa, bỉ ổi. Đi tìm điều thiện thì gặp điều độc ác. Những kẻ trí thức có học thì dâm ô, dối trá, bịp bợm. Những nghịch lý ấy là sự thật về cái phi lý của cuộc sống và con người. Khám phá con người bằng cặp mắt nhiều chiều, xoáy sâu vào đời sống nội tâm chằng chịt của con người, nhà văn phải góp được một tiếng nói thành thật về con người.
Thực chất, để góp phần xây dựng đạo đức nhân cách con người hiện nay, văn học cần có sự tích hợp thông minh, sự thương lượng, “hòa trộn” với các khoa học khác một cách khéo léo. Cùng với quá trình đó là sự nỗ lực, tinh thần trách nhiệm, và thái độ sống, hành xử tử tế của nhà văn với mỗi trạng huống khác nhau. Văn học không quyết định được đạo đức con người. Bởi đạo đức là đạo đức của con người! Nhưng với những lợi thế của đặc trưng ngôn từ nghệ thuật được thể hiện bằng nhiều thủ pháp khác nhau, có thể nói văn học đóng một vai trò quan trọng đặc biệt. Muốn vậy, nhà văn phải đồng thời là “nhà đạo đức”. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp từng cho rằng có hai loại văn chương: Văn chương vương đạo và văn chương bá đạo, mà chính ông là người đang theo đuổi loại thứ nhất. Văn chương vương đạo của ông luôn hướng vào một tầng cao hơn là chủ nghĩa nhân đạo. Vì vậy tác phẩm của ông thường phản ánh thân phận con người trong xã hội luôn phải chịu đựng sức nặng duy lý ở chính trị, ở kinh tế, chuẩn mực đạo đức đã định sẵn. Văn học vì thế phải góp phần đánh thức tính thiện của con người. Nhà văn có thể sử dụng tất cả các thủ pháp nghệ thuật, thậm chí cả huyền thoại hóa để xây dựng được các chi tiết, nhân vật, có thể mô tả cả đời sống thực của con người trần tục, thô mộc đôi khi đến mức tàn nhẫn nhưng cuối cùng phải chuyển tải được giá trị đạo đức đến con người. Chúng ta đã từng có cuộc hội nghị lớn bàn về vấn đề đạo đức và văn học với hơn 80 tham luận tại Sài Gòn vào cuối năm 2014 với nhiều ý kiến thiết thực. Tuy nhiên, trải qua thời gian, vấn đề này ngày càng cần được quan tâm hơn, cần được xem như một “chiến lược” để khẳng định vị trí của văn học Việt Nam vốn xuất phát từ văn hóa “trọng nghĩa, trọng tình”.
Tài liệu tham khảo:
1. Đặng Anh Đào (1994), Tài năng và người thưởng thức, Nxb Hội nhà văn
2. Mai Thị Liên Giang (2018), An trú miền đọc (Tiểu luận – Phê bình), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
3. Đỗ Đức Hiểu (2013), Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, Nxb Văn hóa thông tin
4. Lê Ngọc Trà, Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới www.vienvanhoc.org.vn.
17/1/2024
Mai Thị Liên Giang
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Han Kang & Bản chất của người Bối cảnh của tiểu thuyết là phong trào biểu tình ở Gwangju năm 1980, chống chế độ độc tài Chun Doo-hwa...