Cánh hoa chùm gửi
Chương 1
Những năm dài trôi qua, tôi là của mẹ, mẹ là của tôi, gian
phòng này là của hai người. Thế mà bây giờ, chỉ một khoảnh khắc biến đổi, tất cả
đều thay đổi. Mẹ đã ra đi, tôi lại sắp đi xa, gian phòng này rồi đây sẽ đón nhận
ai. Không biết tôi đứng lặng như vậy bao lâu, việc đón xe lửa cho đúng giờ đã bị
quên lững, mãi đến khi tiếng cửa mở làm tôi giật mình quay lại, bà hiệu trưởng
họ Lâm bước vào vỗ về tôi: - Ức My, con đến Đài Bắc ngay bây giờ sao con? -
Vâng ạ! Tôi nhỏ nhẹ đáp - con đi chuyến xe bốn giờ rưỡi chiều nay. - Sao gấp
quá vậy, con vẫn có thể ở thêm vài ngày nữa được mà. Tôi lắc đầu không đáp. Bà
hiệu trưởng lại nói tiếp: - Thôi được, muốn đi thì đi cho sớm vậy. Bây giờ chỉ
còn bác ở lại, buồn quá. Bà hiệu trưởng lại thở dài chăm chú nhìn tôi:
Này Ức My, bác với mẹ cháu sống gần gũi nhau đã trên mười hai
năm, như thế cũng có thể kể như là tâm tình lắm rồi, thế mà bác vẫn không hiểu
nổi mẹ cháu. Tại sao mẹ cháu lại không tin tưởng bác, bác không thể chăm sóc
cháu được hay sao mà lại phải bắt cháu chạy đến nương trọ nhà một giáo sư ở tận
phương trời xa xôi? Một người bạn mà suốt mười mấy năm không liên lạc, liệu
giáo sư La Nghị có chăm sóc chu đáo cháu được hay không? Tôi vẫn không đáp, tôi
biết là bà làm hiệu trưởng trường tiểu học này đã lâu, lại cũng chơi rất thân với
mẹ, nhưng tôi biết mẹ không để tôi sống với người, vì một mục đích, một hy vọng
duy nhất, đó là làm thế nào tôi có thể lên đại học, “con phải biết chỉ có một
người có thể đưa con đến mục đích, đó là Giáo sư họ La. Mặt khác tuy bà hiệu
trưởng Lâm là người bạn tốt của mẹ, nhưng bà có đến sáu đứa con, một người hiện
học ở đại học, ba ở trung học và hai ở tiểu học, do đó mẹ sợ bà ta không thể lo
thêm cho con”. - Thôi được, bà Lâm nói - Muốn kịp xe lửa thì phải đi nhanh đi kẻo
trễ. Đến đó con xem tình hình xem nếu có thể ở được thì ở, bằng không thì trở về
đây, thêm một miệng ăn cũng chẳng có bao nhiêu con nhé! Tôi gật đầu. Bây giờ
thì chỉ còn đúng một giờ nữa là tàu hỏa bắt đầu chạy. Tôi bước ra cửa, bà Lâm lặng
lẽ theo sau. Ra đến ngoài, nỗi tiếc nuối làm tôi do dự, tôi quay lại nhìn gian
phòng to không hơn sáu manh chiếu mà mẹ con tôi đã sống trên mười hai năm, giờ
phải xa cách. Thôi, tạm biệt! Những giọt nước mắt chua xót làm mờ cả mắt. - Ức
My! Có tiếng ai gọi tôi, tôi quay đầu lại. Một đám đông đầy đủ cả mọi người,
giáo sư Trương Ngụy và hầu như đủ cả những người bạn đồng nghiệp của mẹ tôi.
Tôi hít thở một hơi dài để giọt lệ khỏi lăn xuống má. Phải làm thế nào để tỏ ra
mình đã là người lớn. Tôi thẳng người đến chào từng người một và nói lời từ biệt,
cố giữ vẻ mặt nghiêm trang và yên lặng để nghe những lời chúc may mắn. Lí nhí một
vài tiếng cám ơn. Rồi sau cùng tôi rời khỏi cổng trường tiểu học, rời khỏi một
nơi mà suốt bao năm tôi đã sống yên ấm. Bà hiệu trưởng đưa tôi đến tận ga. Bà đứng
trên sân ga đảo mắt nhìn quanh. Tôi bước lên toa tàu tựa người vào cửa sổ ngắm
khuôn mặt buồn thảm của người bạn già của mẹ. Tôi không biết nói gì, có lẽ vì
tương lai quá mù mịt, không thể đoán được rồi sẽ ra sao khiến cho tôi trầm lặng
không nói được chăng? Bà Lâm không còn vẻ vui tươi hàng ngày, bà cũng lặng lẽ
nhìn tôi. Có phải bà đang chua xót cho tôi, chua xót cho mẹ tôi, hay chua xót
cho chính mình, một người không đủ khả năng bao bọc đứa con côi của người bạn bạc
số của bà! Tiếng còi xe hú to, tiếng máy xình xịch nổ, xe đã bắt đầu chuyển
bánh, Bà Lâm ngoái đầu sang nói to: - Ức My, con nhớ viết thư cho bác nhé! -
Vâng ạ! tôi lớn tiếng- xin tạm biệt bà hiệu trưởng. - Tạm biệt con! Bà Lâm
không tự chủ được, chạy với theo xe, - Ức My! con ráng lo bảo vệ lấy thân vì từ
nay con đã sống tự lập rồi đấy nhé! Xe chạy đã xa, chiếc bóng gầy của bà hiệu
trưởng khuất dần trong tầm mắt. Phải rồi, từ nay tôi đã là người sống tự lập.
Nói khác đi, từ nay tôi sẽ là người không nhà không cửa, không nơi nương tựa.
Giáo sư họ La có thông cảm cho tôi tạm trú chăng? Chấp nhận tôi chăng? Ngồi tựa
lưng vào cửa sổ, nhìn những bóng núi xa xa mờ bên ngoài tôi càng thấy buồn bã
làm sao. Tôi còn nhớ, cách đây năm năm trong một buổi sáng, mẹ đang xem báo, bỗng
bỏ xuống thở dài: - Không ngờ bây giờ La Nghị lại cũng đến Đài Loan rồi! Tôi vội
hỏi: - La Nghị là ai vậy mẹ? - Một nhà Địa Chất học. Mẹ lạnh lùng đáp. Khi bắt
đầu ăn điểm tâm, tôi kéo tờ báo để trước mặt thấy một cái tít: “Địa chất gia trứ
danh, Bác Sĩ La Nghị ngày hôm qua cùng gia quyến đáp tàu từ Hồng Kông qua Đài Bắc
để đảm nhiêm chức vụ giảng huấn tại tường Đại Học Đài Bắc”. Mảnh tin nhỏ trên
không làm cho tôi chú ý mấy, vì hôm ấy hãy còn nghỉ hè và tôi có hẹn cùng mấy
người bạn đến viếng hồ Đại Bối. Bỏ tờ báo xuống, tôi hỏi mẹ: - Mẹ có quen với
ông giáo sư này hả mẹ? - Có, lúc trước khi còn ở Lục Đia, mẹ và vợ ông ta là
đôi bạn thân. - Mẹ có tính đến thăm họ hay không? Vừa hỏi tôi vừa cắn miếng
bánh nướng. - Đến thăm họ à? Mẹ hơi nhíu mày - Không! đến làm chi trong lúc họ
đang vui sướng, mình đến thành ra...
Mẹ bỗng nín bặt, đoạn quay sang nhìn tôi hét:
- My, sao con ăn uống không đàng hoàng để bánh rơi đầy nhà thế
này. Đối với Giáo sư họ La, tôi chỉ biết được có bao nhiêu đó. Từù đấy về sau mẹ
tôi không hề nhắc dến ông ta nữa. Còn riêng tôi ư? chỉ vài phút sau là quên
ngay câu chuyện ở chín từng mây đó. Cho mãi đến ba tháng trước đây, khi mẹ tôi
biết chắc bị bệnh ung thư ở tử cung, thì hai mẹ con tôi đều ý thức rằng bóng
dáng thần chết ngày đêm đang đe dọa chúng tôi.
Một hôm, mẹ bỗng bảo tôi đi gửi một bức thư, trên phong bì đề
tên giáo sư La Nghị, địa chỉ ở đường Roosevelt, Đài Bắc. Khi gửi xong thư trở về,
mẹ mới nói về giáo sư La Nghị cho tôi nghe: - Ông ấy là một nhà học giả rất
thân với gia đình chúng ta. Một mai mẹ có bất hạnh qua đời chỉ có ông ta là người
mà mẹ hy vọng nhất có thể lo lắng cho tương lai con mà thôi. Như mẹ thường nói,
tôi là một đứa con gái ít khi dám nhìn vào sự thật, có lẽ là vì tôi là con gái
độc nhất của mẹ, hay làm nũng và quen được nuông chiều chăng? Mặc dù biết mẹ
mang phải chứng bệnh bất trị, không bao lâu người sẽ từ bỏ tôi, nhưng tôi không
bao giờ dám nghĩ đến những hình ảnh ấy, vì vậy mỗi khi mẹ tôi đề cập đến vấn đề
này là tôi bao giờ cũng quỳ xuống thét to: - Không bao giờ có ngày đó xảy đến.
Mẹ, không bao giờ! Và tôi vụt chạy đến một góc kẹt nào đó dể ngồi khóc. Nhưng
bây giờ cái ngày đó đã đến, trong hành lý tôi có bức thư mà ba ngày trước khi mẹ
nhắm mắt mẹ đã viết và dặn dò tôi phải trao tận tay giáo sư La Nghị. Bức thư được
chính tay mẹ dán kín nên tôi không biết được người đã viết những gì trong ấy,
nhưng tôi nghĩ đó là những lời nhờ vả gửi gấm. Bản tính của mẹ hồi nào tới giờ
chưa bao giờ khuất phục hay van xin một ai, thế mà không ngờ trước khi đến bước
đường cùng của cuộc sống, lại phải nài nỉ một người bạn lâu ngày không qua lại
để nhờ thu nhận gìum đứa con gái “không bao giờ lớn” của mình. “Đứa con gái
không bao giờ lớn”. Mẹ vẫn thường bảo thế và thường hỏi tôi: - Này Ức My, đến
bao giờ con mới hết là đứa con nít. Đến bao giờ con mới biết chuyện người lớn,
không còn là đứa bé tối ngày lẩn quẩn quanh chân mẹ hở con? Đứa con nít! Tôi chỉ
thích làm đứa con nít, để dược suốt ngày nằm vùi trong lòng mẹ. Bất cứ một việc
nhỏ nhặt đến đâu cũng đều có mẹ lo, suốt ngày tôi chỉ ăn, ngủ, học bài rồi đùa
giỡn, không phải bận tâm điều gì cả. Nhưng nay, mẹ đã đi rồi, những chuỗi ngày
không còn tiếng cười đã đến, tôi bỗng cảm thấy mình biến thành người lớn, bắt
buộc phải đối diện với mọi sự thật ở đời.
Chương 2
Bên ngoài khung cửa, bóng tối âm thầm đến, cánh đồng hoang vu
đã bắt đầu lập loè ánh lửa. Bánh xe vẫn quay, vượt qua đồng bằng, phố thị, thôn
xóm để mang cuộc đời tôi vào nơi vô định. Chiếc xe chạy hơi chậm, nên đến Đài Bắc
thì đã gần mười một giờ đêm. Xuống xe, với chiếc sắc nơi tay, bước ra khỏi nhà
ga, tôi đứng nhìn quanh. Suốt mười hai năm dài sống với mẹ tại Cao Hùng, tôi
chưa hề nhìn thấy một thành phố nào tấp nập ồn ào như Đài Bắc. Ngẩng đầu lên,
những ánh đèn màu huy hoàng lấp lánh, phòng ngủ, quán ăn san sát hai bên đường.
Đài Bắc! Thành phố mà bao lâu nay tôi đã ước mơ đến viếng đang ở trước mặt. Những
chiếc xe kéo, xe taxi chạy thành hàng, phố xá tấp nập người qua lại tạo một cảm
giác lo lắng, sợ sệt trong tôi. Lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy được thế giới
rộng lớn như thế, không phải chỉ vỏn vẹn như “chiếc phòng sáu manh chiếu” của mẹ
con tôi. Đường phố đan nhau chằng chịt cộng thêm những kiến trúc đồ sộ chung
quanh, không giống cái xã hội thu hẹp của mẹ con tôi ngày nào. Một chiếc xích
lô chạy trờ đến trước mặt: - Đi xe không cô? Tôi do dự một chút bảo:
Đến số ba đường Roosevelt bao nhiêu? - Mười đồng. Mười đồng!
Tôi không biết là rẻ hay mắc, vì tôi nào có biết đường Roosevelt ở đâu đâu. Leo
lên xe, tôi nghĩ thấy hối tiếc. Bây giờ đã mười một giờ khuya rồi, chạy đến quấy
rầy như thế không quá muộn hay sao? Biết đâu họ đã ngủ cả rồi, đánh thức người
trong giấc ngủ ngon là một việc làm vô lễ. Mẹ thường bảo tôi làm việc gì cũng
không chịu suy nghĩ trước sau, như vậy là tôi vẫn chưa là người lớn được. Nhưng
mà, bây giờ xe đã lăn bánh rồi, biết sao? Những ngọn gió đêm đầu mùa hạ thổi
mát cả người, tôi không còn muốn suy nghĩ thì thêm nữa! Chiếc xe chạy suốt hai
mươi phút mới đến. Bước xuống xe, tôi thấy mình đang đứng trước hai cánh cổng
to màu đỏ, chung quanh là bờ tường cao. Nhìn số nhà, biết mình không lầm, tôi
trả tiền ông phu xe và chờ chiếc xe đi khuất mới quay sang quan sát cánh cổng
và bờ tường. Chiếc cột đèn bên lề đường phản chiếu chiếc bóng gầy còm của tôi
xuống đường trông thật ảm đảm, thật cô đơn! Chiếc đồng hồ trên tay, di vật của
mẹ chỉ đúng mười một giờ ba mươi. Tựa lưng vào tường, lén nhìn qua cổng, bóng tối
bao trùm trên khắp ngôi nhà to lớn vẫn còn để thừa một ít ánh sáng thoát ra
ngoài. Do dự khoảng hai ba phút, tôi nghĩ thầm nghĩ dù đã khuya, tôi cũng không
thể đứng mãi thế này chịu trận suốt đêm được. Cố lấy hết sức bình tĩnh, tôi nhấn
nhẹ vào chuông. Ngôi nhà này chắc to rộng lắm, vì tiếng chuông bấm xong rồi,
tôi đứng ngoài cửa vẫn không nghe thấy. Đợi một lúc lâu vẫn không thấy động
tĩnh gì cả, có lẽ chủ tớ đều ngủ say cả rồi. Không thể chần chờ được, tôi bấm
chuông một lúc ba lần. Một lát sau có tiếng chân người bước ra, tiếng chân nặng
nề bước nhanh ra cửa, rồi cánh cửa mở to. Một gương mặt râu ria xồm xoàm nhô ra
với chiếc trán bóng, đôi chân mày sậm cau lại đôi mắt tóe lửa, bảo tôi: - Mày
có khùng hay không hở con bé? Tiếng hét giận dữ của lão làm tôi giật mình lui lại
hai bước. Tôi lắp bắp trong cơn hoảng hốt: - Tôi...tôi à mà...
- Mày, mày là cái gì, có cút đi ngay không? Tiếng nói như tiếng
rít của con thú dữ. Trong lúc chưa lấy lại kịp bình tĩnh thì hai cánh cửa đã
đóng xầm lại. Tôi hốt hoảng nhảy chồm về phiá trước, đập mạnh vào cửa. Dù sao
đi nữa tôi cũng không thể bị bỏ ngoài cửa được, vì trời đã khuya rồi, tôi biết
đi đâu bây giờ. Đấm thùm thụp vào cửa tôi la lớn: - Ây da. Ông ơi, đợi tôi một
chút, tôi có chuyện muốn thưa với ông! Cánh cửa lại mở ra, chiếc đầu rối khi
nãy lại xuất hiện, gần chạm vào mũi tôi, tiếng gầm gừ lại vang lên: - Cút ngay,
mày có nghe không? Ai là ây da, ở đây không có ai là ây da cả! Đi, cút ngay! Tiếng
rít của lão già nghe thật dễ sợ, tiếp theo sau là một tiếng ầm, cánh cửa lại
đóng kín. Tôi lặng người đứng nhìn hoảng hốt. Tiếng hét của lão làm tôi sợ.
Nhìn cánh cổng đóng kín, tôi bỗng như bị mất cả chủ đích. Trước khi đến Đài Bắc,
tôi đã từng tưởng tượng trăm lần, nhưng không ngờ sự kiện lại xảy ra thảm não đến
thế này. Tôi cũng đã từng nghĩ đến chuyện họ không cho tôi ở trọ, nhưng cũng
chưa hề tưởng dược việc họ lại xua đuổi tôi một cách tàn nhẫn như thế. Tiếng
hét của lão râu xồm khiến tôi không thể tỏ bày được việc gì cả. Bây giờ bị bỏ
ngoài đường, trong một thành phố xa lạ lúc khuya khoắt như thế này, tôi phải
làm sao đây. Đứng chần chờ trước cổng một lúc khá lâu, tôi không biết phải đi
đâu. Gió đêm thổi bùng tóc rối, trời lưa thưa vài cánh sao, tôi cảm thấy lạnh
vì khí hậu giữa miền bắc và nam hơi khác biệt nhau. Nhưng không thể đứng trước
cổng mở rương lấy áo mặc, thôi đành chịu lạnh vậy. Con đường sâu hút không một
bóng người, không một chiếc xe chạy qua, tôi phải đứng đây đợi sáng hay sao?
Nhìn cảnh đêm trống trải, cô độc bỗng nhiên tôi muốn khóc. Phải làm sao bây giờ
đây? Làm sao trời ơi! Mẹ ở dưới tuyền đài có biết rằng tôi đã bị người ta tiếp
đãi như thế này hay không? Đứng như thế một lúc lâu, bỗng nhiên một chiếc xe đạp
từ đầu đường chạy vào. Tôi nhìn trân trối, chiếc xe đạp thắng lại trước mặt
tôi. Một người con trai nhảy xuống nhìn tôi lạ lùng, tôi cũng nhìn anh ta vì
không biết anh ta là ai, cũng không biết nên hay không nên cho hắn biết tại sao
tôi phải đứng trước cổng này. Chúng tôi cứ nhìn nhau như thế, một khắc sau anh
hỏi: - Cô đứng đây làm chi vậy? Đoạn quay sang nhìn chiếc va li để dưới đất cạnh
tôi hắn bỗng khoanh tay lại gật gù, hỏi: - À hay là cô bỏ nhà ra đi vì mẹ mắng
chớ gì, phải không? Thôi được rồi, cho tôi biết địa chỉ, tôi sẽ đưa về nhà cho
nhé. Tôi chăm chú nhìn hắn, tên này thật là lắm chuyện, tôi nào có phải là đứa
trẻ nít lên ba đâu mà hẳn tưởng bị ba mẹ mắng. Chính nhờ nhìn hắn, tôi mới thấy
hắn hãy còn trẻ, chỉ độ 26, 27 tuổi gì đó, mặc áo si trắng dài tay, cúc tay
không cài bỏ lửng. Áo thì hở cổ không cà-vạt, đầu tóc rối bù sù. - Sao, chịu
không? Hắn hỏi tiếp - Bộ có tính ngủ đêm ở đây sao hả? Hay là cô vào nhà ngồi
chơi một chút đi nhé. Vừa nói hắn chỉ vào đôi cánh cổng màu đỏ. Tôi choàng tỉnh,
đứng thẳng người lại, hỏi: - Bộ anh ở đây hả? Nhà này của anh đấy à! - Vâng,
tôi ở đây. Hắn gật đầu - Mặc dù đây không phải là nhà của tôi nhưng có thể tạm
xem như vậy. Tôi sẽ tìm cách để cô ngủ nhờ một đêm, nhưng mai phải về nhà nghe,
chịu không? Tôi gục đầu nhìn xuống muốn khóc...tôi, tôi bây giờ không có nhà cửa.
Nhưng cố trấn tĩnh, bây giờ đâu phải là lúc để xúc động, phải giải quyết vấn đề
của chính mình nữa chứ. - Tôi đến đây, mục đích là tìm giáo sư La Nghị. Gã
thanh niên ngạc nhiên: - Tìm giáo sư La Nghị! Thế sao nãy giờ cô không chịu bấm
chuông? - Tôi đã bấm mấy lần rồi chứ, nhưng đã bị một lão cổ quái đuổi ra. -
Lão cổ quái là ai vậy? - Vâng, một lão già cổ quái, râu tóc bùm xùm, không nhìn
thấy chân mày, mồm miệng đâu cả. Gã thanh niên bỗng nhìn tôi một cách thú vị, hỏi:
- Thế cô tìm giáo sư La Nghị có việc chi? - Có chứ, một vấn đề hết sức quan trọng.
- Vậy cô hãy theo tôi vào nhà nhé. Hắn cho tay vào túi tìm chià khóa mở cửa. Một
tay hắn đẩy cửa ra, một tay xách valise cho tôi, bước vào. Qua khỏi cửa là một
khu vườn hoa rộng lớn. Chàng thanh niên dựng xe bên căn nhà nhỏ, đóng cổng lại
đoạn quay sang nói: - Bây giờ mình vào phòng khách xem có giáo sư ở trong phòng
không nhé! Hắn bước trước, tôi theo sau. Trong đêm tối chỉ trông thấy bóng cây ẩn
hiện. Qua khỏi con đường nhỏ lát đá sỏi, tôi nhìn thấy một tòa nhà đồ sộ hai từng,
phiá trước có bực thềm cao và đèn hãy còn sáng. Qua khỏi bực thềm, đẩy cánh cửa
kính ra, gian phòng bên trong tối om, gã thanh niên tìm công tắc điện, đèn bật
sáng. Tôi thấy mình đang đứng giữa gian phòng khách lộng lẫy, bộ sa lông để cận
tường, chiếc đàn dương cầm ở góc, trên có lọ hoa. - Cô ngồi đây đợi tí, tôi
sang phòng đọc sách tìm giáo sư. Tôi ngồi đấy, trong khi hắn đẩy cánh cửa nhỏ
đi ra. Tôi nhìn quanh, phòng khách này hình như có cửa ăn thông với bên ngoài bằng
tấm màn voan trắng. Bốn bề yên lặng, tôi cảm thấy không an tâm. Sự mệt mỏi và cảm
giác rối rắm phiền muộn bao quanh, khiến cho tôi ước mơ được trở về gian phòng
nhỏ của tôi để đánh ngay một giấc ngon lành. Có tiếng mở cửa, tôi quay lại,
lòng không khỏi khiếp đảm, lão già kỳ quái hồi nãy bỗng xuất hiện, đôi mắt giận
dữ đang tròn xoe nhìn tôi như muốn ăn tươi nuốt sống. Dưới ánh sáng của ngọn
đèn, vóc dáng to lớn với mái tóc bồng của ông càng làm vẻ kinh dị. Tim tôi như
muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Lão bước tới lại gần tôi. Trong một phút, tôi bỗng
có cảm tưởng lão sẽ xách cổ tôi tống ra khỏi phòng. Nhưng lão không làm vậy mà
nện mạnh gót chân rồi hét to: - Ai cho cô vào đây? - Dạ thưa tôi ạ! Có tiếng trả
lời từ bên cửa. Lão già quay sang nhìn gã thanh niên lúc nãy cho tôi vào, hùng
hổ: - Anh à. Tại sao anh cho cô ta vào đây? Ai khiến anh vậy. - Dạ lúc nãy cô
ta nói muốn gặp mặt giáo sư. Hình như cô ta có chuyện quan trọng lắm, nhưng
giáo sư đã làm cho cô ta sợ. Gã thanh niên lơ đãng đáp. Trời! Vậy ra đây là
Giáo sư đây ư? Con người kỳ quái không thân thiện như thế mà mẹ lại bắt tôi đến
với ông ta. Tôi ngạc nhiên tròn xoe mắt nhìn. Giáo sư La Nghị cũng quay sang
nhìn tôi, ông đưa tay lên vuốt mũi, đôi chân mày sâm hơi nhíu lại, đoạn miễn cưỡng
hỏi: - Vậy có phải cô là bạn của Hạo Hạo không? Tôi ngạc nhiên! Hắn muốn nói gì
thế? Nhưng sau đó tôi đoán ngay ra là có lẽ ông ta đã tưởng lầm tôi là người
ông không thích gặp. Dầu sao đi nữa, không thể để tình trạng này kéo dài, tôi
phải tự giới thiệu cho ông ta biết ngay tôi là ai mới được, tôi nói: - Dạ tôi họ
Mẫn, tên là Ức My con của Giang Tú Lâm ạ - Giang Tú Lâm là tên của mẹ tôi - Mẹ
tôi có gửi cho ông bức thư. Nói xong, tôi lấy bức thư trong vali trao ngay cho
ông ta. Giáo sư La Nghị sau khi nghe xong bị xúc động như chạm phải điện. Ông
há hốc miệng, đôi mắt chăm chú nhìn tôi yên lặng không đáp. Một lúc sau, như chợt
tỉnh, ông chộp ngay bức thư xé toạc ra, liếc sơ nhìn những dòng chữ trên giấy,
xong quay sang tôi, lời lẽ cộc lốc: - Mẹ của em giờ ra sao? - Chết rồi. Ông hơi
nhíu mày, hừ một tiếng trong mũi: - Tại sao chết? Chết ở đâu? Tôi cũng đáp gọn:
- Chết ở Cao Hùng, bệnh ung thư tử cung. - Cao Hùng ư? Miệng lảm nhảm không
thành tiếng, một lúc sau ông lại lập lại:
- Cao Hùng? Và quay sang,đôi mắt sáng chăm chú nhìn khuôn mặt
tôi, một lúc lâu ông lại đưa tay lên vuốt mũi. - Thôi được. Em mệt lắm rồi, mọi
chuyện để mai kể tiếp nhé. Giọng nói thô lỗ bỗng trở nên ôn tồn hơn. - Em từ
Cao Hùng đến phải không? Thôi đi ngủ ngay đi. - Dạ. Dáng dấp ông ta có vẻ hơi hối
hận: - Tại sao lúc nãy khi tôi ra mở cửa em không nói ngay? Nếu không gặp Trung
Đan thì em đứng ngoài cửa suốt đêm sao? Tôi bối rối: - Nhưng lúc nãy Giáo sư
nào có để cho tôi nói gì được đâu. - Hừ! Ông ta hừ thêm một tiếng, đoạn quay
sang nhìn gã thanh niên lúc nãy bảo - Lại đây Trung Đan! Gã thanh niên lại gần,
không quên mỉm cười với tôi. - Dẫn cô này lên lầu. Giáo sư ra lệnh xong quay
sang hỏi tôi - Lúc nãy em nói em tên gì họ gì đấy? - Dạ, em tên Mẫn Ức My. Ức
là ký ức, còn My là chữ My có thêm bộ thủy bên cạnh. - Mẫn Ức My! Ông ta nhấn mạnh
từng tiếng như để ghi nhớ. Sau đó lầu nhầu trong miệng như rủa thầm một ai, hoặc
là không thích tên tôi gì mấy, rồi xua tay: - Họ Mẫn ư? Họ không đẹp lắm. Nhưng
thôi, Trung Đan hãy dẫn cô họ Mẫn này lên lầu, phòng bên cạnh phòng của Khởi Khởi
đó nhé. Tôi cúi đầu lúng túng: - Thưa Giáo sư, tôi muốn được tắm một cái trước
đã ạ. Giáo sư La Nghị bực bội: - Trời ơi! Sao lộn xộn vậy. Lên lầu đi, đi chứ.
Tôi chần chờ một lúc xong đứng dậy. Gã thanh niên tên Trung Đan đã xách valise
tôi bước ra cửa, tôi chỉ còn biết bước theo. Đến trước cửa tôi quay lại nhỏ nhẹ:
- Xin chào Giáo Sư, cám ơn Giáo sư đã cho tôi ở trọ. Ông ta vẫn đứng đó, gương
mặt đầy râu tóc dịu hẳn xuống. Những chiếc râu hơi rung động, đôi mắt sáng trộn
lẫn cả nét ôn hoà, ông quay người đến ngồi trên ghế. Tôi vẫn nghe thấy những tiếng
lầu bầu của ông trong phòng, nhưng không rõ lắm! Theo chân Trung Đan, tôi di
qua một gian phòng rộng lớn khác, có lẽ dây là phòng ăn của nhà họ La. Gian
phòng thật rộng và ngăn nắp bên cạnh có một cầu thang dẫn lên lầu. Qua khỏi cầu
thang là một hành lang rộng, hai bên là hai dãy phòng. Trung Đan dẫn tôi dến
phòng thứ ba bên phải, mở cửa, bật đèn xong quay sang nhìn tôi cười: - Cô My
tôi nghĩ có lẽ giáo sư La Nghị chờ đợi cô đã mấy tháng nay rồi. Căn phòng này
đã được sửa soạn từ ba tháng trước. Tôi tò mò nhìn vào phòng, chiếc phòng ngủ
được chăm sóc khéo léo và xinh xắn. Chiếc giường nệm nhỏ, bàn trang điểm, chiếc
tủ đứng đựng quần áo, chiếc bàn giấy xinh đẹp trên có ngọn đèn để bàn, ngoài ra
còn một chiếc kệ sách lồng kính trên có bình hoa hồng. Trên giường, nệm gối xếp
đặt ngay ngắn, chứng tỏ chủ nhân đã sẵn sàng đón nhận tôi. Sự ngỡ ngàng khiến
tôi hơi ngại ngùng. Trung Đan nhìn tôi cười luôn miệng: - Cô thấy có đẹp không?
Cách bài trí nầy tương tợ phòng của Khởi Khởi, con gái giáo sư La Nghị. Tôi rất
sung sướng được biết cô là một nhân vật mới của gia đình họ La. Bây giờ xin
phép không dám làm phiền cô, để mai ta gặp lại nhé. - Cám ơn anh. Tôi không biết
gọi anh ta là gì khác hơn, vì chưa biết rõ địa vị của Trung Đan trong gia đình
này. Có lẽ Trung Đan cũng đoán được ý của tôi, nên hắn nói: - Tôi họ Từ, tên
Trung Đan, chữ Trung là trung gian, còn Đan là tên của một loài cây. Ngưng một
phút, hắn lại tiếp:
- Tôi chưa biết cô là ai, nhưng tôi đoán có lẽ địa vị của hai
ta trong ngôi nhà này giống nhau. Thôi được rồi, mọi chuyện sẽ tính sau, bây giờ
xin phép cô! Hắn bước ra khỏi phòng, thuận tay đóng cửa lại. Và đến lúc này tôi
mới buột miệng: - Chào anh. Tôi chắc hắn nghe rõ lời chào của tôi. Nhìn khắp
gian phòng, tôi có cảm giác như đang sống trong ảo tưởng. Căn phòng này quá huy
hoàng, quá xinh xắn, không thể ngờ lại có thể thuộc về tôi được. Như vậy đây là
sự thật, tôi đã không hề bị nhạo báng, bị bỏ rơi, mà lại còn được đặt vào một
hoàn cảnh mới sang trọng gấp trăm lần căn phòng khi xưa mẹ con tôi đã sống. Đến
bên song cửa, tôi kéo cao tấm màn xanh lơ, mở toang cửa kính, luồng gió đêm từ
ngoài lùa vào mang theo hương hoa thơm ngát. Hít một hơi dài, nhìn ra ngoài cửa
lòng vẫn băn khoăn, tôi tự hỏi. Tôi là ai? Một đưá bé mồ côi vừa mất mẹ? Tôi hiện
ở đâu đây? Ngôi nhà một người bạn xa lạ. Có phải đây là một sự thật chăng? Ngọn
gió đêm luồn qua hàng cây cao trong vườn, quanh quẩn quanh tôi rồi đi ra ngoài
tiếng gió rít nhẹ như lập lại những câu hỏi mơ hồ: - Có phải là ta đang sống thật
hay chăng? Tôi bắt đầu thức giấc khi tia nắng ban mai len vào phòng. Trong cơn
mơ màng tôi không biết mình đang ở đâu. Chiếc nệm êm, chiếc gới mới còn thoang
thoảng mùi vải. Khung cửa kính rung nhẹ bên ngoài khi gió mơn man, tất cả thật
xa lạ với tôi. Đôi mắt khẽ chớp, gió từ phương nào thổi đến mà lại nhẹ nhàng
thơm tho như vậy. Tôi hít lấy một hơi dài, có phải mùi hoa hồng? hoa lài? hay
Diễm kim hương? Trở mình sang một bên, rồi tôi lại nhắm mắt ngủ lại, nhưng gió
thổi lạnh đôi vai. Cuộn kín chăn cả người, thế mà mặt vẫn lạnh, có lẽ tối qua
tôi quên đóng cửa sổ chăng! Nhưng tôi nhớ rõ là mình đã đóng kín rồi cơ mà, thế
thì gió từ đâu đến đây? Tôi lăn người trở lại cố gắng mở mắt và choàng tỉnh.
Đôi mắt nhìn thẳng vào khung cửa sổ, tôi ngạc nhiên vô cùng, vì đôi cánh cửa
đang mở, chiếc màn xanh lơ đang phất phơ trong gió. Nhưng điều tôi ngạc nhiên,
không phải là vì cửa sổ bị mở tung ra, mà vì chiếc bóng trắng đang đứng cạnh cửa,
chiếc bóng bất động mờ ảo như sương. Đó là bóng dáng của người đàn bà, đang hướng
mặt nhìn ra phiá ngoài, quay lưng về phiá tôi. Chiếc áo dài lụa trắng, mái tóc
đen xõa ngang vai bị thổi tung bay trong gió, dáng cao và gầy của bà lồ lộ
trong lớp vải. Tôi chăm chú nhìn, không hiểu tại sao bà ta lại xuất hiện trong
phòng tôi? Bà ta là ai? Chờ đợi một lúc lâu vẫn thấy bà đứng bất động như đang
chú tâm nhìn một cái gì ngoài cửa sổ. Tôi giả vờ ho khẽ một tiếng, bà nghiêng đầu
nhìn sang và nhẹ bước đến cạnh giường. Bà đứng đấy chăm chú nhìn tôi, và tôi vẫn
nằm yên nhìn bà không chớp mắt. Gương mặt thật lạ lùng nghiêm trang, trắng
xanh, chỉ có đôi mắt to là mang vẻ sống động. Đôi mắt sâu hút đó đang chăm chú
nhìn tôi trong khi đôi môi mím chặt như không muốn lời nói thoát ra ngoài.
Chúng tôi cứ thế yên lặng nhìn nhau. Trời sáng dần, ánh sáng tràn ngập căn
phòng khiến tôi dễ dàng nhận diện khuôn mặt bà hơn. Tuy không còn trẻ, đôi mắt
đã có những vết xếp, mép đã hằn vết tích của thời gian, nhưng làn da vẫn mịn
màng. Có lẽ bà đã ngoài bốn mươi. Một lúc sau bà xoay ánh mắt ra song cửa và
buông tiếng thở dài não nuột, chua xót, bà nói nhỏ nhẹ: - Chị ấy chết thật rồi
sao? Tôi không biết có phải bà ấy hỏi tôi hay không? Tôi cũng không biết tiếng
chị ấy là để hỏi ai? Nhưng tiếng nói của bà đã đánh tan lòng nghi hoặc ban đầu.
Ngôn ngữ có thể làm tiêu tan vẻ xa lạ giữa người với người. Tôi đoán có lẽ bà
là bà chủ của ngôi nhà này, vì thế tôi mong chúng tôi có thể thân mật nhau hơn.
- Thưa bà, bà hỏi tôi? Bà ta quay sang nhìn tôi lạnh lùng: - Vậy chớ cô tưởng
tôi nói ai? Tôi cảm thấy hơi ngỡ ngàng: - Bà muốn hỏi mẹ tôi đấy à? Mẹ tôi đã
chết rồi, thưa bà. Bà ta nhìn tôi một lúc, đoạn gật đầu như nói thầm một mình:
- Chết rồi à? Bà quay sang nhìn song cửa với đôi mắt âu sầu. - Chết là đã được
giãi thoát! Bà lại quay sang nhìn tôi, rồi lảng lặng bước ra khỏi phòng. Tiếng
bước thật nhẹ không gây một tiếng động. Khi bóng bà đã khuất, tôi mơ hồ cảm thấy
thái độ của bà như không thân thiện với tôi lắm. Ngồi trên giường, hai tay ôm lấy
gối tôi nghĩ ngợi mãi vẫn khônng tìm thấy một lý do, chỉ biết là mình đang sống
trong một hoài cảnh lạ lùng. Mẹ thường nói tôi không thực tế, hay nghĩ vẫn vơ,
tôi phải học làm người lớn. bỏ cái bản tính trẻ con. Choàng dậy, thay áo quần,
mở cửa ra ngoài hành lang trống vắng không một tiếng động, nhìn đồng hồ đã tám
giờ, có lẽ ngoài tôi ra mọi người trong gia đình này đều quen thói ngủ trưa cả.
Đến phòng rửa mặt, nhìn dáng mình trong gương tôi thấy thích thú, đôi mắt long
lanh với đôi má phúng phính mà mẹ thường bảo là chưa hề biết đau khổ là gì. Đó
là một sự thật vì trước ngày mẹ bệnh, cuộc đời tôi chưa hề khổ đau bao giờ, tôi
thích cười dù sung sướng như cọng cỏ “vô ưu”. Cọng cỏ không bao giờ buồn. Tôi
khôntg biết có cây cỏ nào mang tên như vậy không. Chỉ nghe mẹ thường bảo và gọi
tên tôi như vậy thôi. Nhưng mà, đến khi mẹ bệnh và mất đi, thì niềm vui của tôi
cũng khép lại. Cọng cỏ không buồn của mẹ giờ đang đương đầu với một tương lai mờ
mịt.
Chương 3
Từ phòng rửa mặt trở về, tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy cô tớ
gái khoảng mười bảy, mười tám tuổi đang thu xếp nệm gối và đồ đạc trong phòng
tôi. Áo ngủ đã được bỏ vào ngăn tủ, ngay cả valise của tôi cũng bị mở tung ra,
áo quần trong ấy đã được treo vào tủ đứng, chỉ có hai bức hình là còn nằm trên
bàn giấy mà thôi. Người tớ gái thấy tôi cúi đầu chào: - Thưa cô, em tên là Mạc
Bính, bà chủ sai em đến hầu cô. Tôi quá ngạc nhiên khi thấy mình được sủng ái.
Hồi nào tới giờ, tôi có được ai hầu hạ đâu. Nhìn đứa tớ gái sạch sẽ gọn gàng,
tôi bỗng ngớ ngẩn:
Để đó tôi làm cũng được mà! Mạc Bính nhìn tôi cười, có lẽ nó
cho tôi là đứa con gái nghèo nàn chưa có quen nếp sống trưởng giả, nụ cười của
nó không có vẻ gì ngạo báng. Ôm bình hoa trên tay Mạc Bính hỏi tôi: - Thưa cô
cô thích loại hoa nào à? - Hoa hồng cũng đẹp lắm rồi! Tôi đáp. - Cô chủ tôi
không thích loại hoa có sắc đỏ. Mạc Bính nói. - Cô chỉ thích loại hoa cánh màu
lam, vừa khó trồng lại vừa ít bông, trong khi bà chủ lại thích loại hoa trắng.
Tôi hơi ngạc nhiên: - Thế tất cả những loại hoa đó đều được trồng lấy cả à? -
Vâng ạ! Ngoài vườn hoa ra, chúng tôi còn một nhà mát để nuôi hoa nữa. Mạc Bính
đáp. - Tất cả mọi người trong nhà nầy ai cũng thích hoa. Rồi như sực nhớ điều
gì Mạc Bính hoảng hốt:
- Chết không, tí nữa thì quên rồi, ông chủ đang đợi cô trong
phòng ăn. Đến cửa nó lại quay vào nói:
- Vậy cắm hoa hồng hở cô? - Vâng! Tôi đáp. Mạc Bính ôm bình
hoa bước ra ngoài. Tôi đứng trước bàn trang điểm, chải lại mái tóc ngắn, ngắm
hình ảnh tươi mắt của mình trong gương, hai vết chân mày thẳng làm tôi mang
chút dáng vẻ con trai, đưa tay kéo lại lọn tóc xòa trước má, tôi ngửi thấy
hương hoa. Nhìn xuyên ra cửa kính, những cánh hoa khoe sắc thắm trong rừng cây
xanh um, sắc đỏ chen vàng như lung linh trong nắng sớm khiến tôi lặng người trước
vẻ mê hoặc của thiên nhiên. Hoàn cảnh của cuộc sống mới khiến tôi cảm thấy vui
sướng. Hình ảnh đen tối với cái chết của mẹ tôi đã mờ dần, bản tánh hồn nhiên lại
đến với tôi. Nhìn bầu trời xanh mây trắng, ngắm cảnh xanh um của hoa lá, lòng
tôi mở rộng muốn ca vang. Ra khỏi phòng, qua hành lang tôi chạy nhanh xuống lầu.
Trong gian phòng ăn rộng và sáng sủa, giáo sư La Nghị đang dùng bữa ăn sáng, có
lẽ đã nghe thấy tiếng chân xuống lầu, ông ngẩng lên nhìn. Trong vùng ánh sáng tỏ,
mái tóc ông vẫng bồng bềnh che khuất cả miệng. chỉ có đôi mắt là như hai ngọn
đèn pha trong khu rừng thẳm đang chăm chú nhìn tôi: - Chào giáo sư ạ. Tôi cười
nói. - Ừ. Ông ậm ừ một tiếng rồi lại chăm chú nhìn tôi ra lệnh:
- Ngồi đó đi! Tôi ngồi xuống trước mặt ông, trên bàn đã có
xúc xích và món cải xào. Một người đầy tớ trung niên mang đến cho tôi chén cơm
trắng. Giáo sư La Nghị tiếp tục cúi xuống dùng điểm tâm, không nhìn tôi nữa
trong khi tôi vẫn tò mò nhìn ông.
Bỗng nhiên, ông ngẩng lên nhìn thẳng tôi: - Sao không ăn cơm
đi? Đôi chân mày ông nhíu lại. - Em làm gì nhìn tôi dữ thế? - A. Tôi vội vàng
đáp - Dạ tôi chỉ ngạc nhiên không hiểu bằng cách nào giáo sư cho cơm vào miệng
mà không làm lấm những sợi râu quanh miệng? Tôi vừa dứt tiếng thì một tiếng cười
dòn thật to từ phiá sau đưa tới. Tôi nghiêng đầu nhìn sang, một thanh niên từ
thang lầu chạy bay xuống, đến cạnh tôi mỉm cười thú vị. Tôi chợt thấy đôi mắt của
hắn và giáo sư giống tạc nhau, chỉ khác một điều là hắn sạch sẽ hơn, râu hàm cạo
sạch, đầu tóc chải ngăn nắp, áo sơ mi trắng, cà vạt màu xám bạc. Hắn nhìn tôi
cười, đôi mắt pha lẫn nét tinh quái, đùa cợt không có vẻ đứng đắn tí nào, Giáo
sư trừng mắt nhìn hắn: - Hạo Hạo! mầy làm cái gì đấy? - Phải cô này là cái cô
mà hồi hôm còn chút nữa ba đuổi ra ngoài đó không hở ba? Gã thanh niên vừa nói
xong quay sang tôi cúi mình thật thấp, - Xin lỗi cô, cho phép tôi được tự giới
thiệu, tôi là La Hạo Hạo, nhưng tên Hạo Hạo có vẻ nữ tính quá nên xin được gọi
tắt là La Hạo dễ nghe hơn. Giáo sư hét lớn: - Mầy có ngồi xuống không Hạo? La Hạo
ngồi xuống, đôi mắt trong sáng vẫn tinh quái nhìn tôi. Hắn hãy còn quá trẻ, có
lẽ chỉ là thằng nhóc con lớn hơn tôi ba hay bốn tuổi là cùng. - Thưa cha cô họ
Mẫn này ở luôn trong nhà mình hở cha? La Hạo Hạo quay sang nhìn cha hỏi. - Ừ,
Giáo sư ậm ừ - Việc đó không liên can gì đến mầy cả. Bữa nay có học không mà giờ
còn chưa chịu ăn cơm? - Có hay không có học gì cũng vậy mà thôi. La Hao bất
mãn, nhìn sang tôi gã hỏi:
- Cô tên chi? - Dạ tôi tên Ức My. Tôi đáp. Hắn móc cây bút
nguyên tử trong túi áo ra viết hai chữ “Ý Mai” trên quyển sổ nhỏ và đưa cho
tôi, đôi mắt hắn nhìn tôi dò hỏi: - Phải viết như vầy không? - Không. Tôi đáp,
đoạn lấy bút viết hai chữ “Ức My”. Hắn gật đầu mỉm cười: - Chữ Hán thật phong
phú phải không cô? Cùng đồng âm nhưng lại khác chữ. Giáo sư nghiêm khắc: - Hạo
Hạo! Cút ngay đi, tao có chuyện muốn nói với Ức My. La Hạo chống đối: - Thưa
ba!...
Giáo sư tròn xoe mắt giận dữ: - Tao biểu cút ngay, có nghe
không? - Thôi được để con đi. La Hạo miễn cưỡng đứng đậy, hắn nhìn tôi:
- Ức My, có cơ hội chúng ta sẽ nói chuyện sau. Nhà họ La của
chúng tôi, cha con không thể cùng sống một nhà được, hai người mà ở chung nóc
nhà sẽ sụp ngay. Cha con chúng tôi không ai chịu được ai cả. Nói xong hắn quay
đầu đi ngay ra cửa. Trong nầy, Giáo sư đã dùng xong điểm tâm ông đứng dậy cứng
cỏi và vắn tắt: - Ức My, tôi nghĩ rằng tôi có quyền gọi tên cô, đã từ lâu rồi mẹ
cô là người bạn thân của gia đình chúng tôi. Mẹ cô là người đàn bà cứng cỏi
không phục ai cả. Ba tháng trước, người có viết cho tôi một bức thơ nhưng không
có viết địa chỉ, có lẽ vì bà không muốn cho chúng tôi biết để đến gặp bà. Tuy
nhiên vì bà muốn chúng tôi chăm sóc cô, nên cô sẽ được chúng tôi chu đáo lo lắng.
Nhưng có một điều cô cần lưu ý, là đối với Hạo Hạo, cô cần phải để mặc hắn, đừng
chú ý đến, hắn là thằng lêu lổng không dạy bảo được. Còn riêng đối với Khởi Khởi,
tôi mong rằng cô và nó sẽ là chị em bạn tốt. Giáo sư đưa mắt nhìn lên thang lầu,
như muốn tìm Khởi Khởi, nhưng chiếc thang vẫn vắng lặng. Một lúc ông lại tiếp:
- Khởi là con gái của chúng tôi. Còn riêng đối với vợ tôi. Ông chợt nhìn tôi,
giọng nói biến thành nhẹ nhàng êm ái. - Sáng nay nàng đã gặp em rồi phải không?
- Vâng ạ! Tôi đáp. Tôi hồi tưởng lại hình dáng người đàn bà xanh gầy. - Nhưng
lúc đó cháu không biết đó là bác gái. - Bà ấy rất yếu. Giáo sư nói. - Ít khi rời
phòng. Tốt nhất, em đừng làm phiền bà ấy nhé! - Vâng ạ! Tôi mím chặt môi - Tôi
sẽ cố gắng hết sức không làm phiền mọi người! Giáo sư đăm đăm nhìn tôi: - Tánh
nết của em giống mẹ em như đúc. Ương ngạnh, cố chấp, giàu tình cảm nhất là tự
ái quá cao. Tôi biện hộ: - Nhưng mẹ là người rất tốt! Giáo sư ngắt ngang: -
Đúng vậy. Nhưng thôi hãy ăn cơm đi, cơm nguội rồi! Nói xong ông bước ra khỏi
phòng ăn. Tôi ngồi một mình trong phòng ăn rông thênh thang dùng hết bữa điểm
tâm. Gian phòng này giống như phòng khác có rất nhiều cửa, trong số đó, có một
cánh cửa toàn bằng kính nhìn suốt qua vườn hoa. Có lẽ ngôi nhà này rộng hơn tôi
tưởng. Nếu không vì quá xa lạ với nhà họ La, có lẽ tôi đã đi thám hiểm rồi, bây
giờ chưa quen nhiều thì đành nhẫn nhịn vậy. Buông chén cơm xuống, tôi nhìn
quanh, trên tường treo la liệt ba bốn bức tranh sơn dầu, đa số là những cảnh tối
mờ ảo, dưới mỗi bức đều có ký chữ “K. K.” viết tắt. Bước lên lầu, tôi đi về
phòng, nhưng khi bước qua một gian phòng có cánh cửa sổ, tôi tò mò dừng lại
nhìn bà La đang ngồi trên chiếc ghế trước bàn. Bộ áo trắng thêu hoa với thắt
lưng thả rộng hai bên, đầu tóc được búi cao, để lộ chiếc gáy trắng nõn. Gương mặt
nhìn nghiêng với một nét đẹp tuyệt vời, sống mũi cao, hai hàng lông mi cong
vút. Dáng dấp thật trang trọng, cao quí thanh nhã như một bức họa. - Vào đây
em! Tôi hốt hoảng nhìn quanh, nhưng không có bóng người thứ hai nào khác ngoài
tôi. Vậy có phải bà gọi tôi chăng? Tôi do dự không hiểu nên vào hay không thì
bà ta đã quay sang, đôi mắt to đen chăm chú nhìn tôi: - Tôi kêu em vào đây! Bà
ta nói giọng nói thật lạnh lùng. Tôi bước vào, sực nhớ lại lần gặp mặt ban sáng
có lẽ tôi vô lễ với bà, nên vội cười và gật đầu chào: - Thưa bác ạ. Bà Nghị
nhìn tôi đăm đăm một lúc rồi bảo: - Lại đây em. Tôi bước đến gần. Trong lúc bà
chăm chú nhìn tôi, bỗng nhiên đôi mắt đẹp của bà ta như bị làn sương mờ bao phủ.
Bà nhẹ nhàng đưa tay lên xoa vào vai tôi, rồi lại nắm hai tay tôi, những ngón
tay thon dài trắng bệch so với màu da cháy nắng khỏe mạnh của tôi, tạo nên sự
khác biệt rõ rệt. Bà ta xiết chặt tay tôi, rồi mơ màng nói: - Màu da đẹp quá, đẹp
như nước da của mẹ em. Đoạn ngẩng lên nhìn tôi: - Mẹ em với tôi như hai chị em
ruột, bà ấy thường bảo tôi: “Em đừng làm như vậy, em đừng làm như thế kia, hãy
nghỉ ngơi nhiều để béo ra một tí! “. Bà chăm sóc tôi, tạo cho tôi một cuộc sống
rất đẹp, màn cửa màu trắng, nệm trắng, khăn trải bàn cũng trắng. Tất cả cái gì
cũng trắng cả. ỉ Mẹ em nói, “này Nhã Trúc, chỉ có màu trắng là hợp với em thôi.
Em đẹp quá, phải chi chị đẹp bằng một phần mười của em thì hay biết mấy”. Mẹ em
không cho tôi làm một việc gì cả, thương tôi như thương con búp bê. Bà ấy nói
là: “tôi sẽ chăm sóc em suốt đời, suốt đời”. Tiếng nói của bà Nghị bỗng trầm hẳn
đi, gương mặt càng trắng bệch ra, tia mắt như hôn mê, như hỗn lọan quấn lấy
tôi. Sự thay đổi của bà làm tôi khiếp sợ tôi xụp xuống, lo lắng: - Bác Nghị,
bác làm sao thế? Đôi tay bà vẫn nắm lấy chặt tôi, đôi mắt càng lúc càng hỗn loạn,
càng tóe lửa, như đang chú tâm nhìn một ai ở sau lưng tôi, như không hề nghe thấy
tôi hỏi, miệng bà vẫn lải nhải: - Em là em gái tôi, tôi sẽ chăm sóc em suốt đời,
suốt đời. Cứ mấy câu đó bà nhai đi nhai lại. Đôi mắt càng lúc càng to như đang
tóe lửa. Tôi hoảng hốt cực độ, thử rút tay ra, nhưng bà tay tôi như đang bị kềm
chặt không rút ra được, tiếng lải nhải càng lúc càng nhanh để rồi không biết bà
ta nói gì nữa. Tôi hốt hoảng la to: - Bác Nghị, Bác Nghị, Bác làm sao vậy? Tôi
cố gắng chống trả để rút tay ra, nhưng vẫn không được vì bị siết quá chặt,
chúng tôi đang lấn quấn thì bỗng nhiên một tia sáng lóe trong đầu tôi, hay là
bà ta điên! Ý niệm này càng làm cho tôi khiếp đảm hơn, vì tôi sợ người điên
hơn, gấp trăm lần ma quỷ. Tôi la lớn: - Buông tôi ra! Buông tôi ra! Có tiếng
người chạy vào phòng. Tôi quay sang đó là một thiếu nữ rất đẹp, cô ta chỉ nhìn
thoảng tôi, xong vội chạy ra. Lập tức, tôi nghe gót giày nện mạnh trên cầu
thang, sau đó bóng dáng cao lớn của giáo sư chạy đến. Đặt hai bàn tay to lớn của
ông lên vai bà Nghị, ông lớn tiếng gọi: - Nhã Trúc. Bà Nghị buông lỏng hai tay
tôi ra, đôi mắt quay sang nhìn giáo sư, sau đó lại khóc ngất: - Chị ấy nói là
lúc nào cũng chăm sóc em, chăm sóc em suốt đời kia mà! - Thôi nín đi, Nhã Trúc.
Giọng giáo sư thật nhẹ nhàng giống như đang vỗ về chú mèo con. Ông nẹp đầu bà
Nghị vào lòng, chiếc đầu nhỏ búi cao tựa vào lồng ngực vững chãi. Một mặt ông
đưa tay vuốt ve chiếc lưng gầy của bà, vỗ về. - Thôi nín đi em. Nhã Trúc, nín
đi em. Bà Nghị vẫn còn thút thít khóc, nhưng rồi cũng nín đi. Một lúc khá lâu
ngước đôi mắt đầy lệ nhìn chồng vẻ mặt đã tỉnh hẳn, bà nhẹ nhàng bảo: - Anh Nghị,
em xin lỗi mình. - Không sao cả phải không em? Ông Nghị nói, đôi mắt thật hiền
từ khiến tôi có cảm giác như đó không phải là đôi mắt của giáo sư, vì với một
người có bản tính cộc cằn thô lỗ như ông lại có thể dịu dàng như vậy được sao?
Ông Nghị vỗ nhẹ lên lưng vợ: - Thôi mình đi nằm nhé, để anh bảo Mạc Bính vô hầu
em. Bà Nghị gật đầu, đứng lên, bước về phiá giường ngủ. Ngoan ngoãn như con thỏ
trắng. Tôi bước ra khỏi cửa giáo sư Nghị theo sau, nhìn thấy tôi vẻ dịu dàng
lúc nãy của ông bỗng biến mất ông tròn xoe mắt giận dữ: - Cũng cô nữa, ai bảo
cô đến quấy rầy bà ấy chi vậy? Tôi đã bảo cô rồi mà, cô đừng làm rộn mà chẳng
nghe? Tôi cảm thấy cả một trời oan ức, chỉ có trời mới dám bảo tôi quấy rầy bà
ta, vả lại nếu biết trước bà ta ghê gớm như vậy, thì tôi đã lánh xa từ lâu rồi.
Mở miệng tôi lẩm bẩm: - Không biết ai quấy rầy ai trước. Giáo sư Nghị trợn mắt
nhìn tôi, vẻ mặt bất mãn bỏ đi. Tôi bước về phòng, lòng đầy hối hận và khó chịu,
chỉ mới là buổi sớm mai đầu tiên đến ở nhà này mà đã không may như thế! Vào
phòng ngồi ở mép giường nghĩ đến cuộc sống ăn nhờ ở đậu phải va chạm với bao
nhiêu khuôn mặt bất giác tôi thở dài. Có chiếc bóng đen đứng án trước mặt. Tôi
ngẩng đầu lên, thì ra là cô gái ban nãy trong phòng bà Nghị, cô ta nhìn tôi gật
đầu bảo: - Thấy chị không khép cửa, tôi mới bước vào. Cô ta rất trẻ, có lẽ
không lớn hơn tôi, chiếc robe màu trắng, mái tóc xõa chấm vai. Không cần ai giới
thiệu tôi cũng đoán được cô ta là ai, khuôn mặt giống tạc mẹ cô nhưng đẹp hơn
nhiều. Làn da mịn màng trắng xanh như bà Nghị, đôi mắt đen nháy hơi sâu, hàng
lông mi cong với đôi môi mỏng tạo nên một vẻ đẹp xúc động lòng người. Tôi tuy
không phải là con trai mà vẫn bị mê hoặc như thường. Bản tính tôi từ xưa tới giờ
lúc nào cũng tôn sùng cái đẹp. Tuy nhiên vẻ đẹp tương tợ mẹ cô, vừa cao quý, vừa
trang nhã này khiến tôi cảm thấy thật cách biệt. - Chị là Khởi Khởi phải không?
Tôi hỏi. Cô ta gật đầu không đáp. - Tôi là Mẫn Ức My. Tôi tự giới thiệu. Cô ta
lại gật đầu với vẻ cao ngạo và lạnh lùng như không muốn nói chuyện với tôi. Thế
là, tôi cũng yên lặng, đến một lúc sau, mới nghe cô ta nói: - Mẹ tôi thần kinh
suy nhược, nhưng không đến nỗi nào. Đôi lúc mới nổi cơn một lần, nhưng mỗi lần
có ba tôi bên cạnh là người hồi phục nhanh chóng. Tôi nhìn cô ta, lòng bỗng xúc
cảm. Tôi nghĩ có lẽ cô ta nói như thế là để cho tôi khỏi lo sợ bà Nghị nữa, cho
tôi hiểu rằng dù với vẻ lạnh lùng bên ngoài nhưng bên trong lại chứa đựng trái
tim hiền hoà, vì có nhiều người trời sanh ra không biết biểu lộ tình cảm của
mình cho người biết. Nghĩ thế, tôi càng thấy thích Khởi Khởi hơn. Tôi nhiệt
thành nói: - Vậy hả? Sao không mời bác sĩ đến khám bên cho bác? Cô ta bỗng trừng
mắt nhìn tôi: - Tại sao chị biết chúng tôi không mời bác sĩ đến khám bên cho mẹ
tôi? Lòng nhiệt thành của tôi đã bị dìm vào băng giá. Tôi nghĩ rằng càng ít nói
càng hay hơn, nói nhiều chả ích gì lại đụng chạm nữa thì khổ. Tôi thề với chính
mình là sẽ không nói một câu nào nữa hết. Nhưng rồi bỗng nhiên từ vườn hoa bên
ngoài tiếng hát lanh lảnh của một cô gái đưa vào giọng hát ấm, cao vút. Đây là
bản nhạc quen thuộc mà mẹ tôi thường hát: Hoa phi hoa, vụ phi vụ Dạ bán
lai,thiên minh khứ Lai như xuân mộng bất đa thời Khứ tựa triều vân, vô thỏa xứ.
Tạm dịch: Chẳng phải là sương, chẳng phải hoa, Nửa khuya em đến, sáng em về, Đến
như giấc mộng, xuân không đợi, Đi tựa mây trời không định nơi. Tiếng ca lảnh
lót lập đi lập lại mãi. Tôi như bị lôi cuốn bởi tiếng hát, quên đi lời thề lúc
nãy, tôi hỏi Khởi Khởi: - Ai đang hát thế hở chị? - Gia Gia hát đấy. Cô ta nói,
đoạn lạnh lùng quay đi khi tôi chưa kịp hỏi tiếp câu thứ hai. Gia Gia là ai vậy?
Tôi muốn hỏi nhưng cô ta đã ra khỏi phòng. Không dừng được, tôi nhoài người
nhìn ra ngoài, chỉ thấy vườn hoa dầy dặt, tiếng hát phát ra từ đó mà người đâu
không thấy. Nhịn không nổi tính tò mò, Gia Gia? Ở nhà họ La này lúc nào cũng
thích dùng tiếng lập lại như: Hạo Hạo, Khởi Khởi, rồi lại thêm Gia Gia. Thế Gia
Gia có phải là em út của Hạo Hạo với Khởi Khởi hay chăng? Nghe tiếng hát, có lẽ
cô bé này đẹp lắm! Bước ra cửa, tôi biết rằng ít bước ra khỏi nhà chừng nào tốt
chừng nấy, chỉ mới một buổi sáng đầu tiên mà tôi đã bị rắc rối như vậy. Nhưng rồi
cũng không thoát khỏi sự quyến rũ của tiếng hát, tôi phải tìm cho ra người ca
bài hát trên. Bước xuống lầu, nương theo tiếng hát, tôi bước ra vườn hoa. Mở vội
cánh cửa từ phòng ăn thông ra ngoài, nhảy xuống mấy bực tam cấp, bước vào khu
vườn cây rộng lớn, ven theo con đường nhỏ trải đá mát rượi bởi những hàng cây
cao, tôi bước vào vườn hoa. Vườn hình tròn, chính giữa trồng một trụ sắt, bên
ngoài nhiều loại hoa được vun trồng rất thứ tự, hàng ngoài cùng rộng nhất đầy
hoa hồng, mùi hương thơm ngát, những cánh hoa rơi lả tả chung quanh theo ngọn
gió nhẹ đầu hè. Vượt qua vườn hoa, là khu rừng cây nhỏ, thoáng nhìn không thấy
thứ tự nhưng khi lại gần thì mới nhìn thấy sự chăm sóc khéo léo, những cây
tùng, cây bách tuy chưa thật lớn nhưng thẳng vút lên cao trông rất hùng vĩ. Xen
kẽ là những hoa hướng dương và trà hoa, có lẽ vì chưa đến mùa trà nên chưa thấy
hoa nở, chỉ có loài hoa hướng dương là phô cả sắc hương bên đám lá xanh thu
hút. Bên dưới thân cây các loài hoa khác như hoa hồng, cúc, thạch lựu, tường vị..nở
đầy chen lẫn với những loài hoa khác mà tôi chưa biết tên. Vào vườn cây, tôi có
thể nhận định rõ nơi tiếng hát cao vút thanh tao kia vọng tới. Đôi lúc tiếng
hát như ngưng bặt, có lẽ người hát đang làm việc. Tuy rằng lời ca vẫn bấy nhiêu
lập đi lập lại mãi, lúc cất lên, lúc ngưng bặt, lúc thấp, lúc cao nhưng vẫn đầy
vẻ quyến rũ. Lần theo tiếng hát, bước vào vườn cây, tôi đứng đấy lắng nghe. Tiếng
ca bỗng ngưng bặt, chung quanh không một bóng người, trước mắt chỉ là những
hàng cây xanh điểm những chấm đỏ nơi đầu cành. Vượt qua giàn cây, đưa mắt lục lọi
khắp nơi cũng chỉ thấy hoa và lá. Tôi ngồi xuống ghế tựa lưng suy nghĩ mông
lung và lắng chờ tiếng hát. Tôi cảm giác như mình đang bị trêu chọc, bực tức ngẩng
đầu lên, tôi la lớn: - Có ai trong này không? Tiếng hỏi của tôi như tan biến đi
trong gió. Đứng lặng một lúc, vẻ yên lặng chung quanh như hơi khác thường, tôi
thấy không an tâm lắm, tôi muốn ra khỏi vườn cây. Khi vừa bước được mấy bước
thì tiếng hát khi nãy lại cất lên. Theo những câu cuối của bài hát, tôi chạy
nhanh vào vườn cây, và giờ đây, tôi đã bắt gặp người đang hát. Cô ta đang khom
người trước gốc tùng, lưng quay về phiá tôi. Bên cạnh có bình tưới hoa và cây
cuốc. Cô ta vừa nhổ cỏ vừa hát. Có lẽ vì vừa mải hát vừa chú tâm vào công việc
nên cô ta không nghe tiếng chân của tôi đi đến cạnh, đang nhìn ngắm cô ta. Thân
thể cô gầy ốm trong chiếc áo hoa nội hoá, đầu tóc búi theo kiểu xưa, nhìn cách
ăn mặc, tôi nghĩ có lẽ cô ta là người làm trong nhà. Đứng dừng lại, tôi la lớn:
- Hù! Tiếng “hù” thật lớn của tôi không gây một xúc động nào, cô ta vẫn tiếp tục
ca hát như không nghe thấy gì hết. Tôi ngạc nhiên nhìn, bỗng nhiên tôi khám phá
ra một điều gì không ổn! Đúng rồi mái tóc bạc! Nếu là con gái thì tóc sao lại bạc
như thế! tôi đến trước mặt bà la to: - Hù! Lần này thì bà ta đã chịu ngưng tiếng
hát và ngửng đầu nhìn lên. Tôi chăm chú nhìn gương mặt lạ lùng này. Đó là một
bà già, nhưng gương mặt cũng như tiếng hát ngớ ngẩn một cách hết sức thơ ngây.
Bà ta nhìn tôi với đôi mắt ngơ ngác, miệng há hốc. Một gương mặt không làm sao
cho người ta ghét được. Tôi nhìn bà cười hỏi: - Ngôi vườn này do tay bà chăm
sóc đấy à? Bà đứng lên, tướng người lùn, chỉ cao đến mí mắt tôi. Chăm chú nhìn
tôi không đáp và mỉm miệng cười ngờ nghệch. - Bà ca hay quá! Tôi nói thêm vì nụ
cười của bà làm tôi cảm thấy thân thiện. Bà ta vẫn cười không nói. Nhưng mà đã
hai câu nói của tôi không được trả lời khiến tôi hơi cụt hứng. Tôi nghĩ rằng
hay là mình nên tự giới thiệu trước có lẽ hay hơn chăng? - Tôi là người mới đến
gia đình giáo sư, tôi tên là Ức My. Bà ta lại cười, nụ cười giống như bức tượng
phật. Tôi không vui lắm, tại sao mọi người trong nhà họ La nầy lại đối xử với
tôi lạnh lùng đến thế, bàn tay thân thiện của tôi đưa ra không được một ai bắt
lấy. Quay đầu lại, tôi hơi giận: - Tôi buồn cười lắm phải không? Bộ tôi đui què
sức mẻ gì hay sao mà bà nhìn tôi cười hoài vậy? Có lẽ lời nói của tôi làm cho
bà ta ngượng. Bà cúi xuống, rồi ngồi xuống tiếp tục nhổ cỏ, thờ ơ. Tôi cắn lấy
ngón tay cái, ngẩn người suy nghĩ xem có nên thu xếp đồ đạc trở về Cao Hùng hay
không? Bà hiệu trưởng họ Lâm tuy nghèo, không thể mang đến cho tôi một cuộc sống
đầy đủ, nhưng thành thật và gần gũi hơn, có đủ tình cảm của một con người còn đủ
tim óc. Đang lúc tôi ngẩn người ra suy nghĩ thì bà ngước lên nhìn tôi, nụ cười
vẫn điểm trên môi, tay chỉ về phiá cây tùng, nói từng tiếng trên môi: - Sắp nở
hoa rồi đấy! Tôi kinh ngạc. Sắp nở hoa rồi, mà cái gì sắp nở hoa đây chứ? Nhìn
theo hướng tay, tôi thấy trên thân cây tùng có một loại dây leo không lá màu
vàng, trên có những nụ hoa rung rinh trong gió một cách tội nghiệp. Tôi bỗng thấy
thích thú vì bà ta đã nói chuyện với tôi. Lấy tay vuốt nhẹ nụ hoa màu trắng sữa,
tôi vui sướng hỏi: - Thế hoa nầy tên gì hả bà? Bà ta ngơ ngẩn nhìn tôi làm như
tôi đang nói tiếng Mông cổ không bằng. - Hoa sắp nở rồi! Bà ta lập đi lập lại
và đứng dậy. Sắp nở hoa rồi, khi gió lên lá bắt đầu rụng thì hoa sẽ nở. Bà ta lại
ngẩng lên trời với tất cả sự chú tâm và lập lại:
- Khi gió lên, lá bắt đầu rụng thì hoa sẽ nở. Tôi ngạc nhiên:
- Tại sao phải đợi đến lúc gió lên? Bà ta không đáp, nhìn tôi ngẩn ngơ, một lúc
sau lại nói: - Cô có thấy không? Tôi ngơ ngác:
- Thấy gì? - Hoa sắp nở rồi. Bà ta chỉ lên cây tùng, tôi chăm
chú nhìn bà, người đàn bà nầy sao lạ vậy, hình như có một cái gì bất thường tôi
nghĩ mông lung. Trong lúc tôi đang nghĩ mông lung. thì từ trong lùm cây một
bóng người bước ra. Từ Trung Đan, gã thanh niên đã đưa tôi vào ngôi nhà họ La nầy,
quần áo xốc xếch, tay cầm một quyển sách dầy. Thái độ hết sức tự nhiên, hắn bước
đến bên tôi, nụ cười trên môi gật đầu chào tôi: - Chào cô Mẫn. - Dạ, không dám
chào ông. Tôi gật đầu chào lại. Hắn lại quay sang bà lão gật đầu: - Chào Gia
Gia. Đoạn bước đến đưa tay vỗ vai bà lão như vỗ về trẻ nít. - Sao? Hoa nở chưa?
Gia gia vui vẻ: - Hoa sắp nở rồi! - Ồ! Trung Đan có vẻ vui sướng. - Hoa sắp nở
thật rồi, năm nay hoa nở sớm hơn mọi năm. Hắn lại quay sang tôi. - Cô Ức My đi
đạo quanh vườn với tôi một chút nhé! - Vâng! Tôi đáp. Chúng tôi thả bộ trong
khu vườn cây. Trung Đan nói: - Cô đừng mất công chuyện trò với Gia Gia, bà ta
hơi khật khùng, không biết gì hết. - Vậy sao? Tôi ngạc nhiên. - Nhưng đừng sợ,
coi vậy chứ bà ấy hiền lắm không làm phiền ai hết. Đôi lúc bà ta không có vẻ gì
là ngây ngô cả, thí dụi? như bà ta thích được khen ngợi, biết ăn mặc sạch sẽ,
biết chăm sóc cây cỏ, biết cỏ nào là cỏ dại, biết đâu là mầm hoa. Có nhiều khi
tôi thấy bà ta rất thông minh, biết nhìn người nhìn vật. Trí nhớ rất khá như
bài ca mà bà ta thường hát không bao giờ hát nhảy hay ca sai một câu. Tôi ngạc
nhiên, háo kỳ lắng nghe: - Thế bà ta là gì trong gia đình nầy? - Hình như là có
họ xa. Gia đình giáo sư La đã mang bà ta từ Đại Lục đến đây. Đúng ra bà ấy là
người làm vườn, chăm sóc cả vườn hoa rộng lớn nầy. Khu vườn nầy mà tốt tươi đều
do sự trông nom của Gia Gia. Tôi lắng nghe. Trung Đan tiếp: - Nhưng có một điều,
bà ấy có những ngôn từ riêng của bà ấy. Thí dụ khi nói gió lên thì có nghĩa là
đến mùa giông bão. Gia Gia thích nhất là những sợi dây leo đó, bà ta chăm sóc kỹ
như mẹ chăm sóc con. - Thế dây leo đó tên gì vậy? - Ồ! Trung Đan cười to - Cây
cỏ đối với tôi thật xa lạ Trong khu vườn nầy có nhiều loại hoa tôi không biết gọi
tên, tuy vậy tôi cũng thích nghiên cứu vấn đề nầy lắm. Cành dây leo kia, cô có
bao giờ nghe đến một loài cây có tên là Thố Ty Hoa chưa? - Thố Ty Hoả Tôi nói -
Trong thơ cổ tôi có nghe thấy nói đến, như trong thơ Lý Bạch có một bài thơ hay
nói về Thố Tý Hoa và Nữ Oa Thảo. - Đúng rồi, tôi ngờ rằng loại Thố Ty là lại
dây leo đó, nhưng tôi không chứng minh được. Chỉ biết có lần tra tự điển tôi thấy
giải thích về Thố Ty tương tợ loại dây leo nầy vì vậy tôi gọi nó là thố ty Hoa.
- Tiếc là không có Nữ Oa Thảo ở đây. Tôi cười nói. Bằng không thì: Bá Trượng
thác viễn Tòng. Triển cảm thành nhất gia (Cách xa nhau trăm trượng. Nhờ Tòng kết
thông gia). Như vậy thì đẹp biết bao! Trung Đan quay sang, nhìn tôi thăm dò: -
Cô thích thơ lắm à? - Cũng không thích gì mấy, nhưng tôi hay nghe mẹ tôi ngâm
nga nên quen tai rồi cũng bị ảnh hưởng phần nào. Nhưng mà bản tánh tôi ít khi
chịu chú tâm vào một việc. Sở thích quá rộng rãi, lại không ưa gò bó, mà thi ca
bắt buộc phải để tất cả tâm hồn vào, nên đối với tôi thì cao xa quá. Chúng tôi
đi đến cạnh một băng ghế đá, Trung Đan hỏi: - Chúng ta ngồi một lát nhé. Tôi ngồi
xuống, hắn ngồi bên cạnh, đặt quyển vở lên gối, tôi liếc nhìn thấy đề “Phổ
thông Tâm Lý Học”. - Anh học môn tâm lý à? Tôi ngạc nhiên. - Không. Hắn đáp -
Nhưng, vì đối với tôi cái gì tôi cũng thích, nên tôi nghiên cứu chơi cho vui vậy.
Tôi nhìn hắn: - Thế anh là gì trong nhà họ La nầy? - Tôi là học trò giáo sư La
Nghị, tôi đã học hết hai năm địa chất, sau đó vì thấy nó quá khô khan nên tôi
chuyển qua học mỹ thuật. Tôi tốt nghiệp năm rồi. Bây giờ tôi dạy trường trung học
công lập ở đây. Giáo sư mời tôi đến đây ở, sẵn dịp dạy cho Khởi Khởi vẽ luôn. -
Khởi Khởi à? Tôi hỏi. - Đúng vậy. Khởi Khởi vừa thông minh vừa dễ thương lại
siêng học. Nghĩ đến Khởi Khởi, vẻ xinh đẹp tuyệt vời và nét mặt lạnh lùng của
cô ta, tôi hỏi tiếp. - Thế anh ở đây đã bao lâu rồi? - Khoảng hơn một năm. Tôi
yên lặng nhìn quanh, tia mắt rơi trên bìa quyển Tâm Lý Học: - Quyển tâm lý học
nói gì vậy anh? Nó có thể giúp anh biết được tâm lý người khác không? Trung
Đang ôm sách vào lòng đôi mắt sáng nhìn tôi như cười cợt: - Biết chớ sao không!
Thí dụ như bây giờ tôi có thể phân tách được tâm lý của cô. - Đâu thử xem. Tôi
nói. Hắn nhìn tôi một chập đoạn nói: - Cô ấy à? Tôi biết cô đang nghĩ trong gia
đình họ La nầy người nào cũng lạ lùng ngoài điều cô tiên liệu, cô lạ lùng về sự
kết hợp của gia đình nầy. Một người cha thô lỗ khó tánh, một người mẹ đau thần
kinh, hai đứa con hai bản tánh, một bà làm vườn khật khùng cộng thêm vào một
giáo sư tư gia không ăn lương như tôi. Và cô nghĩ rằng việc cô nhảy vào nhà họ
là nầy ở trọ là một điều thiếu suy xét cẩn thận. Đến đây không được ai đoái
hoài đến, tự ái bị tổn thương và cô đang suy tính tìm cách để ra khỏi gia đình
nầy trở về chốn cũ thích thú hơn. Trung Đan nhìn tôi cười, hắn hất đầu lên để
những sợi tóc trước tránh rơi về sau, hỏi: - Đúng phần nào không cô? Tôi ngạc
nhiên mở to đôi mắt: - Ồ! Anh có thể là nhà tâm lý tài ba lắm đấy. Hắn cười to,
vui vẻ: - Nói cho cô biết, sự thật ra việc phân tách tâm lý cô và quyển tâm lý
học nầy hoàn toàn không giống nhau. Tâm Lý Học là một khoa học còn việc thấu hiểu
tâm lý của một người lại là một chuyện khác. Tâm lý học chuyên môn hơn và có
liên hệ mật thiết với y học và sự cấu tạo thể xác của con người. Còn việc tôi
phân tích tâm lý của cô được, đó là một điều giản dị. Một năm trước, khi mới đến
đây tôi cũng mang một tâm trạng như cô, và tôi nghĩ rằng một người ở cùng hoàn
cảnh sẽ có cùng một tâm trạng, do đó tôi nghĩ rằng cô cũng tương tự. - À thì ra
thế! Tôi cũng cười to. - Giản dị quá phải không cô? - Vâng, thật giản dị, nhưng
mà anh đã làm cách nào thoát được cái cảm giác bị bỏ rơi đó. Trung Đan nhìn tôi
thật lâu, yên lặng một cách kỳ quái. Sau đó hắn đứng lên chậm rãi nói:
- Rồi một ngày nào đó, cô sẽ khắc phục được. Nói xong hắn lại
nhìn ra vườn. - Bây giờ tới giờ dạy Khởi Khởi học. Bỗng nhiên, hắn đứng lại hỏi:
- Cô đậu tú tài chưa? - Dạ, đậu chừng một năm nay rồi. Tôi đi
học sớm lắm, chỉ tại mẹ bệnh nên tôi không thi vào đại hoc. - Thế cô muốn thi
không? Tôi gật đầu. - Cô muốn học ngành nào? - Tôi chưa quyết định. Hắn dừng lại
thêm một lúc, đoạn cười nói: - Cô có thấy loài người lạ lùng không. Mỗi cái miệng
nhưng không bao giờ có cùng một khuôn mặt. Mỗi người đều có cùng một cấu tạo về
nội tạng, xương cốt, đại não, tiểu não, thế nhưng không bao giờ óc có cùng một
bản tánh. Ngay cả trí thông minh cũng có sự khác biệt, mỗi người mỗi dáng trời
sinh ra con người không bao giờ có sự trùng hợp. Như giữa cô và Khởi Khởi đều ở
tuổi mười bảy, mười tám, nhưng cả hai lại hoàn toàn khác biệt. Tôi cười nói:
- Đó có phải là nguyên nhân khiến anh nghiên cứu về tâm lý học
chăng? Rồi tôi thắc mắc- Thế Khởi Khởi không đi học à? - Cô ấy chỉ học đến đệ
tam thôi. - Tại sao vậy? - Tại bệnh phổi hay là bệnh gì khác không biết, cô ấy
quá cô độc không thể sống hợp quần, không thể hòa hợp được với các sinh hoạt
nhà trường. Mặc dù bệnh phổi đã hết hẳn nhưng cô ấy không thích đến trường nữa.
Niềm vui của cô ấy quá nhỏ bé, lối giáo dục phổ thông không thích hợp với cô
ta. - Nói khác đi, có phải bài vở trong lớp của cô ấy quá kém chăng? Tôi hỏi. -
Đúng vậy, trừ môn hội họa và âm nhạc, bài vở của Khởi Khởi ít khi trên điểm
trung bình. Vì vậy trên phương diện nghệ thuật, cô tỏ ra là một thiên tài lãnh
hội rất nhanh chóng, cô đàn piano rất hay. Đối với người có thiên tài như vậy,
nền giáo dục phổ thông chỉ làm thiệt tài năng thôi. - Anh có vẻ bất bình cho cô
ấy lắm. - Đúng! Trung Đan suy nghĩ một lúc đoạn nói - Đó là một cô bé có thiên
tài, rất dễ thương. Tôi nghĩ đến Khởi Khởi, không ai lại không nói là cô ấy dễ
thương. Đẹp là một lợi thế. Thượng đế thật lạ lùng, đã tạo ra con người mà còn
phân biệt đẹp xấu làm chi? Như chợt nhớ ra, Trung Đan cắt đứt dòng tư tưởng của
tôi: - Chết! tôi phải đi đây, cô có thể tiếp tục đi dạo ở đây vừa mát, phong cảnh
lại hữu tình. Trung Đan bước đi một đỗi rồi quay lại cười thật tươi:
- Cô thông minh lắm, nói chuyện với cô thật thích thú. Tôi ngồi
lại, ngắm nhìn cái dáng cao gầy của hắn khuất sau lùm cây. Hai tay ôm gối, tựa
lưng vào thân cây, tôi nghĩ ngợi vu vơ. Cơn gió phất phơ làm vài chiếc lá vàng
rơi trên áo, tôi nhặt một chiếc lá hãy còn màu xanh nhạt, hình quả tim, có mùi
thơm, cọ nhẹ lên mũi. Tạo cho tôi một cảm giác thích thú. Có tiếng chân người
nhẹ bước về phiá tôi. Quay đầu sang, thì ra là Gia Gia, bà ta đang đứng cạnh và
chăm chú ngắm tôi. Đôi mắt không còn ngây dại nữa, mà đăm đăm nhìn tôi như muốn
tìm một ai qua hình ảnh tôi. Tôi vỗ nhẹ tay lên ghế và mời: - Ngồi chơi, Gia
Gia! Tức khắc nụ cười khờ khạo lại xuất hiện và bà ta xoay lưng bỏ đi, vừa đi vừa
lẩm bẩm, tôi chỉ nghe những tiếng đứt đoạn: - Bà ấy nói bà thích.. kêu tôi chăm
sóc hoa. Bà nói tôi với mọi người như nhau cả, nếu không chăm sóc.. sống không
được...
Tôi vẫn cô độc ngồi đấy, đồng hồ trên tay chỉ gần mười hai giờ,
đứng dậy, phủi nhẹ những chiếc lá bám trên áo, tôi bước ra khỏi vườn hoa. Cầm
hoa trên tay tôi bước lên bực tam cấp, mở cửa kính và bước vào phòng. Nhưng tôi
vô cùng ngạc nhiên vì phòng nầy khác hơn lúc nãy. Trong lúc tôi còn đang sửng sốt
ngó quanh, thì tia mắt tôi bắt gặp giáo sư đang ngồi sau chiếc bàn giấy rộng trố
mắt nhìn tôi. - Ủa giáo sư! Xin lỗi, tôi đã đi lộn cửa. Giáo sư vẫn chăm chú
nhìn tôi. Trong đám râu tóc rậm rạp như cỏ dại, đôi mắt ông long lanh một cách
kỳ quái. Tôi không nghe ông la lối, có lẽ việc đường đột xông vào của tôi đã
làm cho ông ta phiền lòng. - Xin lỗi giáo sư. Tôi lập lại, một mắt lui ra cửa -
Xin lỗi đã làm phiền giáo sư. Bỗng nhiên ông ta nói: - Khoan đã, đến đây bảo.
Tôi hơi do dự, đoạn bước tới. Giáo sư vẫn nhìn tôi rồi kéo ghế để trước mặt,
ông nói: - Ngồi xuống đây. Tôi vâng lời ngồi xuống, bây giờ đối mặt ông tôi có
thể nhìn ông rõ hơn. Hai hàng lông mi đen sậm với chiếc trán rộng, một phần phủ
đầy tóc, chiếc cằm vuông đầy vẻ cương nghị, sống mũi hơi cao, chứng tỏ ông là
người cứng rắn. Ông cất tiếng hỏi: - Em đang nghĩ gì đấy? Tôi hoảng hốt: - Dạ,
dạ tôi.. tôi nghĩ là nếu giáo sư cạo sạnh râu đi thì không biết gương mặt sẽ ra
sao! Ông ta lườm tôi. Tôi chợt hối hận, sao lúc nào tôi cũng có thể thốt ra những
tiếng không nên nói như vậy. Giống như mẹ thường nói, tôi chưa thể lớn được phải
không? Len lén nhìn ông, tôi hú hồn, ông không có vẻ gì là giận dữ cả, đôi mắt
vẫn đăm đăm nhìn tôi từ mặt đến đóa hoa trên tay. Ông ôn tồn hỏi: - Em cũng
thích hoa nữa à? - Vâng ạ! Ông đón lấy đóa hoa trên tay tôi, đoạn chăm chú
nhìn: - Đây là hoa của Khởi Khởi, nó đặt tên là Đừng quên tôi. - Có thật đóa
hoa nầy tên là Đừng quên tôi hay không giáo sư? Tôi hỏi. - Có lẽ. Ông liệng đóa
hoa xuống - Hoa cỏ là những món giải trí của đàn bà. Rồi ngước lên ông như xuất
thần, bất động ngắm gương mặt tôi một lúc lâu như trên gương mặt nầy có một cái
gì lạ lùng kỳ quái. Sau đó ông đưa bàn tay to lớn của ông lên, vuốt những sợi
tóc trước trán tôi, hành động bất ngờ nầy làm tôi hoảng sợ. Nhưng nhìn vẻ ôn
hòa dịu dàng của ông tôi an tâm, tia nhìn vẫn còn bị khuôn mặt tôi thu hút, một
lúc sau ông bỏ tay xuống, tựa vào ghế, nhỏ nhẹ bảo: - Em không đẹp lắm, nhất là
không đẹp bằng Khởi Khởi, nhưng nhìn đôi mắt thông minh và gương mặt tươi sáng
của em, tôi biết em là người giàu nghị lực. Ông yên lặng một lúc - Em không những
chỉ thông minh mà còn đầy lòng thương người nữa phải không? Rồi không đợi đáp
ông nói:
- Vẻ đẹp đâu cần chỉ ở bề ngoài. Đoạn ông vỗ về cách tay đặt
trên gối của tôi - Ức My! Em đẹp lắm. Tôi như người mê ngủ trước đôi mắt như
thôi miên của ông, lời nói ôn tồn làm tôi xúc động. Đây là người đàn ông như thế
nào? Trái tim ông ta ra sao mà dễ thay đổi như thế? Gương mặt đầy râu ria của
ông giống như một con sư tử đực hùng tráng. Sư tử đực! Tôi bỗng nghĩ đến cái bờm
của nó, rồi nhìn gương mặt đầy râu của giáo sư, bỗng nhiên tôi không thể nín cười
được. - Hừ! Giáo sư nhíu mày lại - Bộ em thường hay cười khan như vậy sao? Tôi
hốt hoảng: - Dạ xin lỗi, tôi thường cười không nhằm lúc, xin lỗi giáo sư, tôi sẽ
cố gắng bỏ tật đó. - Em nói cho tôi biết, tại sao em cười? - Dạ, dạ.. tôi nói
như đớ lưỡi- Dạ. Tại con sư tử đực. Ông ta lườm lườm nhìn tôi, tất cả vẻ hiền
hòa trên gương mặt lúc nãy đã biến mất: - Em thường nói bậy, nói bạ như vậy lắm
sao? Tôi ngương nghịu: - Dạ không phải tôi nói bậy nói bạ mà vì tôi nói chưa
tròn câu ạ. Giáo sư lại cân nhắc nhìn tôi một lúc, rồi như không nhẫn nại được
nữa, ông xô ghế đứng lên lạnh lùng nói: - Hôm nay là ngày nghỉ cuối cùng của
em. - Dạ thưa chi ạ? Tôi chưa rõ ông bảo gì?
- Bắt đầu ngày mai em phải làm một thời khóa biểu ấn định giờ
giấc đàng hoàng, em sẽ bắt đầu học để sang năm thi vào đại học. Tôi sẽ nhờ
Trung Đan dạy em học toán lý hoá, quốc văn môn nào nó cũng giỏi cả. Đấy cũng là
nguyện vọng của mẹ em, em hãy ráng mà liệu lấy, bây giờ em có thể đi được rồi!
Tôi đứng dậy hơi hối hận nhìn ông:
- Cám ơn giáo sư, Giáo sư đã lo lắng cho tôi quá đầy đủ. Ông
ta ngẩng lên, mắt nhìn tôi trừng trừng như không biết tôi nói những gì.
Chương 4
Hôm ấy, tôi thức dậy thật sớm lúc trời hãy còn mờ sương.
Không khí buổi sáng thật tinh khiết. Rửa mặt xong tôi thấy tinh thần thật sảng
khoái, đứng bên cửa nghe tiếng hát thanh thoát của Gia Gia vương vấn trong gió.
Tôi bước ra khỏi phòng chạy xuống thang lầu, thẳng ra vườn hoa, thiếu chút nữa
đã đụng vào một người, ngẩng lên, thì ra là Trung Đan. Tôi sung sướng: - À anh,
tôi không nghĩ là anh lại dậy sớm hơn tôi thế. - Vậy à? Hắn cười - Sáng nào tôi
cũng dậy sớm, tôi thích ngồi xem sách trong vườn hoa. - Vậy à! Thế mà hồi nào tới
giờ tôi vẫn tưởng người trong nhà họ La nầy không bao giờ thức trước tám giờ chứ!
Nhưng tôi nào có phải là người họ La đâu? Hắn nói. Ngoài ra đến
tám giờ tôi đã phải dạy cô rồi? Cô quên sao? - Thế anh có thấy bực mình không?
- Bực mình chuyện gì? - Thì việc dạy một học trò ngu như tôi đó. - Cô à? Hắn
nhìn tôi cười - Nếu tất cả đứa học trò tại tư gia mà đều “ngu” như cô thì hay
biết mấy! - Mấy đứa học lớp đêm của anh có thông minh không? - Ơ. Hắn nhăn mặt.
Thông minh quá đỗi thông minh. - Sao vậy? - Tôi thí dụ cô nghe nhé, cậu bé đó học
đệ thất tôi phải dạy đủ môn cho cậu ta. Chương trình đệ thất có môn vạn vật cô
biết chứ? - Có. - Một hôm tôi phải mất suốt cả một buổi tối để phân biệt cho cậu
ta biết thế nào là đực cái đồng thể. Thế nào là đực cái dị thể giảng muốn khan
cả cổ, thế rồi tôi hỏi cậu ta hiểu chưa hắn nói hiểu. Tôi mới tìm một câu hỏi để
khảo sát, sợ câu hỏi khó thì cậu ta trã lời không được, nên tôi mới hỏi một câu
thật dễ, tôi hỏi: Con người thuộc loại đực cái đồng thể hay dị thể, cô biết hắn
trả lời ra sao không? - Thế hắn đáp ra sao? - Hắn nghĩ gần cả buổi mới đáp là:
Con người thuộc loại “đực cái đồng thể”! Tôi cười rũ rượi, sau đó chúng tôi bước
vào con đường nhỏ giữa hàng long bá, Trung Đan nói: - Tôi đến Đài loan một mình
khi tôi vừa được mười mấy tuổi. Lúc đầu ở đậu nhà bà dì, sau đó bà dì không
nuôi tôi nữa. Mười mấy năm qua, tôi phải tự lực cánh sinh để học, đến tốt nghiệp
đại học, sống nhờ nghề kèm trẻ. Tôi đã dạy qua không biết bao nhiêu nhà, nhưng
có một hạng người mà tôi ghét nhất không muốn dạy. - Hạng nào? - Đó là hạng bất
tài. - Nhưng mà trên đời nầy hạng bất tài thì lúc nào cũng nhiều hơn thiên tài,
vì vậy tôi không ghét họ, mà chỉ ghét một hạng người. - Hạng người nào? Trung
Đan hỏi ngược lại. - Đó là hạng nô tài. Hắn cười to: - Thật ư? Nhưng bọn bất
tài với bọn nô tài hạng nào đáng ghét hơn thì cần hỏi lại. - Bọn bất tài chỉ
đáng ghét chứ không đáng giận, trái lại bọn nô tài đáng giận hơn. - Cô nói có
lý, bọn bất tài chỉ vô dụng, còn với bọn nô tài thì thật là hạ tiện. Đối với
người chuyên moi móc, luồn cúi thì không thể nào chịu được. Ức My, cô có vẻ
nhìn rõ vấn đề hơn tôi, nhưng có một hạng bất tài, chỉ thích lăn trong bùn nhơ
phân thối, thân thể vừa hôi vừa tởm, thế mà lúc nào cũng cười ngạo kẻ tay trắng
làm nên, họ lại còn tự cho mình hay, mình giỏi không cần ganh đua với đời, chịu
an phận trong cuộc đời hạ tiện và gán cho những kẻ đang nỗ lực xây đựng là những
phần tử có dã tâm, đua chen danh lợi không thanh cao. Đối với hạng thối tha nầy
nói thật, tôi không xem họ ra gì cả. Không lúc nào tôi nghĩ rằng: trên đời nầy
người không xông xáo gì cả mà có được lợi danh. Giả sử như có đi nữa thì chẳng
qua họ chỉ là một thứ bù nhìn. - Đúng vậy. Tôi đồng ý.
- Tôi cũng nghĩ rằng những kẻ nhạo báng sự thành công của người
khác chỉ vì họ không thành công được, hoặc vì họ không chịu cố gắng. Nếu chỉ ngồi
không trong phòng trống, không cần phải tranh giành hay tốn sức lao động thì có
lẽ họ sẽ vui vẻ chấp nhận ngay! Tôi chăm chú nhìn Trung Đan, rồi hỏi:
- Thế anh có thuộc thành phần có tham vọng chăng? Trung Đan
cũng nhìn tôi, gương mặc sáng sủa đầy cương nghị, điển hình cho một tinh thần
tranh đấu giàu nghị lực, nếu so sánh về cái mã đẹp trai thì thua xa Hạo Hạo, Hạo
Hạo đẹp trai hơn lại có vẻ phóng khoáng, nhưng chọn loại điển hình cho hạng người
thực tế và tự lập thì Trung Đan lại hơn. Dù không đẹp trai, y phục xốc xếch, ăn
uống nhanh nhẩu, nhưng khi làm việc hay lúc dạy học chàng đều hết sức chăm chỉ.
Tôi thích nhất vẻ suy tư của Trung Đạn mỗi lần chàng yên lặng nhíu mày là tôi lại
tưởng tượng ra bao nhiêu tư tưởng đang quay cuồng trong bộ óc lớn mà mỗi ngày
phải bao nhiêu việc để thỏa mãn tinh thần cầu tiến của chàng. Trung Đan vẫn
nhìn tôi với đôi mắt hơi khác thường, chàng nói: - Đúng, cô có thể cho tôi là
người đầy tham vọng cũng được, tôi không hề tự cho rằng mình thuộc loại thanh
cao. Lúc nào tôi cũng dùng hết sức mình để làm việc, chinh phục những gì tôi cần
chinh phục, không cần biết đó là danh hay lợi. Nhưng có một điều, đối với lợi lộc
tiền tài tôi chỉ muốn mình không nghèo là được, chớ không đòi hỏi phải là phú
ông, chỉ cần sống không thiếu thốn, tiền tài dư dả không ích lợi gì, vì nếu chỉ
cần năm trăm cho một ngày là cuộc sống của cô được đầy đủ, thì một triệu, chục
triệu, trăm triệu hay một tỷ có nghĩa lý gì thêm nữa đâu, phải không cô? Tôi gật
đầu hỏi: - Thế đối với công danh thì sao? Đôi mắt Trung Đan chợt sáng ra, một
lúc lâu chàng nói: - Thuở nhỏ tôi có xem một quyển sách tên là “Anh hùng và những
kẻ được ngưỡng mộ” cuốn sách nầy đã ảnh hưởng đến cuộc đời tôi, tôi mong rằng
mình được ngưỡng mộ chớ không muốn là một bọt nước trên dòng, có thể vỡ ra
không một âm vang. Sống một cuộc đời bình thản, vô danh là lãng phí! Tôi muốn
được thành công, muốn là một anh hùng được vạn ngàn người ngưỡng mộ. Có lẽ cô
cho tôi là hạng phàm phu tục tử chăng? Ức My.
- Cười anh phàm tục à? Không đâu, tôi hết sức ngưỡng mộ sư
siêu phàm của anh. Thật vậy ai bảo anh phàm tục? Không, anh không phàm tục chút
nào cả, vì có rất nhiều người khao khát được thành công nhưng không dám thú nhận
còn anh thì không thế, anh đã nói thẳng điều anh muốn. Chúng tôi đến cạnh vườn
hoa. Tôi đứng lại. Gia Gia đang trổ tài hát, khoan thai tưới mấy cụm hoa, thấy
chúng tôi đến, bà ngừng tưới, ngẩng đầu nhìn chúng tôi cười ngớ ngẩn. Trung Đan
ôn tồn hỏi: - Hoa nở hết chưa, Gia Gia? - Hoa nở rồi. Gia Gia ngớ ngẩn nói, đôi
mắt tròn xoe nhìn tôi như khám phá ra một điều gì mới lạ. Thùng nước trên tay hạ
dần xuống, nước đổ tung tóe. Để bà nhìn một lúc lâu, tôi cảm thấy hơi dễ chịu
và bước đến gần bà cười: - Nước trong bình đổ ra hết rồi kìa, Gia Gia. Vừa nói
tôi vừa tiếp lấy thùng. - Để tôi giúp bà tưới hoa nhé, được không? Tôi thích tưới
hoa lắm. Bà ngạc nhiên nhìn, nhưng rồi cũng để tôi cầm chiếc thùng tưới lên những
luống hoa, một tay tôi giữ áo vì sợ bị ướt. Nhìn những giọt nước ướt đẫm trên
hoa lá với ánh nắng mới lấp lánh sáng, tôi thích thú vô cùng. Rồi như vô tình một
mặt tưới hoa, một mặt tôi hát bài mà Gia Gia thường hát. Đến khi nước trong
thùng đã hết, tôi ngừng tưới, quay nhìn ra thì bắt gặp Trung Đan đang ngắm tôi
với đôi mắt chiêm ngưỡng và nụ cười trên môi, tôi mỉm cười đáp lại. Kéo thẳng nếp
áo, đưa mắt lên gặp ánh mắt của Gia Gia. Gia Gia nhìn tôi sung sướng, những vết
nhăn trên mặt ửng đỏ, đôi môi khép hờ, thái độ thật giống trẻ thơ khi trông thấy
món quà vừa ý, tôi hơi ngạc nhiên, bước đến nắm lấy cánh tay trơ xương: - Gia
Gia làm gì vậy? Bà vẫn nhìn tôi âu yếm, rồi chạy nhanh vào vườn hoa, ngắt lấy
hai cánh hoa xong chạy trở lại. Hai đoá hoa màu vàng không tên. Cánh hoa không
có vẻ gì quí giá cả, có lẽ là một loài cỏ dại. Bà trao hai cánh hoa cho tôi,
gương mặt hồng hào vui sướng. Tôi Ngac nhiên: - Bà cho tôi đấy à? Hai cánh hoa
được vào lòng tôi với bao nhiêu vẻ thành khẩn, tôi nhận lấy hoa gật đầu: - Cám
ơn Gia Gia nhiều nhé! Quay đầu sang nhìn Trung Đan, thái độ của hắn cũng tương
tợ khiến tôi không hiểu gì cả. Cầm hoa trên tay, tôi tiếp tục bách bộ với chàng
một đoạn xa, quay đầu nhìn lại vẫn thấy Gia Gia đứng sững nơi ấy, chăm chú nhìn
chúng tôi. Đưa hoa lên mũi ngửi, rồi lại cầm xem, tôi tò mò hỏi Trung Đan: -
Anh biết hoa này hoa gì không? - Tôi nghĩ chắc nó thuộc loài Khổ Công Anh, một
thứ cỏ dại. Chàng đáp - Hình như loại hoa nầy là thứ rẻ tiền nhất trong các
loài hoa trong vườn này, nhưng nó lại là bảo vật của Gia Gia đấy. Bà cho mọi
người hái tất cả các hoa nhưng trừ thứ nầy. - Thật không? Tôi nghi ngờ. - Bởi vậy
việc nầy có vẻ hơi lạ lùng đấy. Rồi Trung Đan trầm ngâm nhìn tôi: - Gia Gia có
lẽ rất thích cô nên mới hái thứ hoa mà bà yêu quí nhất để tặng cô. Hành động
hôm nay của bà hồi nào tới giờ tôi chưa hề thấy. Chúng tôi bước vào rừng cây, đến
ngồi đưới giàn hoa giấy. Tôi thẫn thờ nhìn đóa hoa vàng năm cánh của Gia Gia
cho, tuy không đẹp, nhưng vương vấn một vẻ gì mong manh đáng thương. - Đóa hoa
đáng thương, Tôi nói - Hình như nó yếu đuối quá phải không? Cánh hoa nho nhỏ
như có thể rơi ngay khi chạm đến. Tôi đặt cánh hoa lên ghế, ngẫm nghĩ một lát
nói:
- Anh có nghĩ rằng Gia Gia là người có tình cảm, biết vui buồn
giận hờn hay không? - Có chớ, Trung Đan đáp - Có lẽ bà ta còn nhiều ký ức trong
tiềm thức. Chàng nhìn tôi, đôi môi mím lại, đôi mày hơi cau, có lẽ tư tưởng
đang quay cuồng trong đầu chàng. - Tôi nghĩ bà ta cô độc vì không ai chịu kết bạn,
và cô tử tế với bà, nên bà thích cô. Sự thật, bà cũng là người cũng có tình cảm
và tư tưởng. Thế giới riêng của bà có lẽ còn dễ thương hơn xã hội chúng ta nữa
là khác. - Tại sao vậy. - Vì bà chỉ cần có người cho cơm ăn, thấy hoa nở đẹp là
sung sướng. Thỏa mãn rồi không có một đòi hỏi, không biết thất tình, tự ái cũng
không...tất cả những điều phiền não đều không có. Ngoài ra lại không có trách
nhiêm đối với sự hiểu biết, thế có phải bà quá giản dị sung sướng hơn chúng ta
nhiều không? - Trách nhiêm đối với sự hiểu biết là gì? - Thế cô không nghĩ rằng
sự hiểu biết là trách nhiệm của con người à? Rồi chàng cười:
- Sự hiểu biết càng nhiều, con người càng thấy mình có trách
nhiệm vì trí thức vói tư tưởng luôn luôn đi đôi. Cô hãy xem, những người làm việc
lao lực, quần quật suốt một ngày, tối về tắm rửa, ăn cơm xong là nhảy lên giường
đánh một giấc ngon lành không cần suy nghĩ gì ngoài một giấc ngủ thỏa mãn. Trái
lại với người học thức cao, tư tưởng phong phú thì lại khác, không phải chỉ cần
ăn với ngủ mà họ còn cả một trời hiểu biết, suy nghĩ. Họ nghiên cứu bản tính
con người, khoa hoc, xã hội, tìm hiểu cái này tìm hiểu cái kia lúc nào cũng làm
cho đầu óc nứt ra để thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu vô biên của họ. Cô thấy không,
chỉ có hạng người trí thức mới phải dùng đến thuốc ngủ thôi. Những câu nói của
Trung Đan khiến tôi thích thú, hai tay ôm lấy gối nhìn lên những đóa hoa tím
trên giàn tư lự, còn chàng ngã người về sau, cánh tay choàng ra băng ghế phiá
sau, Trung Đan tiếp tục: - Con người có hai trách nhiệm lớn đó là trí thức và
tình cảm. Tôi nhíu mày, suy nghĩ:
- Như thế có ích lợi gì đâu? - Sao lại không ích lợi? Chàng
nói - Nếu mọi người như thế cả, thì cuộc sống vẫn bình thường biết bao. Cô chỉ
cần đi săn thú kiếm thịt cho đầy bụng là thỏa mãn rồi, cuộc sống sẽ giản dị và
sự bực mình sẽ giảm nhiều. Nhất là cô không phải lo lắng sợ thi rớt vào đại học,
cũng như khỏi phải buồn khi chứng minh một bài hình học mãi mà không ra. Tôi mỉm
cười, chàng cũng cười theo, xong quay nhìn đồng hồi giật mình bảo: - Chết chửa,
gần tám giờ rồi. Thôi chúng mình phải trở về thực tế lo học đi là vừa. Ờ, mà
hình như cô chưa ăn điểm tâm phải không? Mau đi ăn đi để học cho kịp. Hôm nay nếu
tôi không lầm thì giờ đầu chúng ta ôn Hình học, môn đau đầu nhất của cô đấy!
Tôi đứng dậy vươn vai, lười biếng đáp: - Ơ! Nói chuyện thích hơn học nhiều, Rồi
nhìn hắn tôi nhăn mặt nói - Anh Trung Đan, anh biết tôi nghĩ thế nào về anh
không? Tôi nghĩ có lẽ anh là người có trái tim sắt đá nhất. - Tại Sao? - Anh
xem, trong một không khí vui vẻ như thế này mà anh nỡ bắt tôi vùi đầu vào sách,
anh thiên về lý trí nhiều quá, vì vậy tôi nghĩ anh là người ít tình cảm. - Thật
à? Chàng mỉm cười, đôi mắt sáng lên - Đối với điều cô nói, tôi nghĩ rằng tốt nhất
là để thong thả hãy kết luận, đợi đến lúc nào chúng ta biết nhau rõ hơn đã nhé!
Tôi nhặt các cánh hoa trên ghế đá sửa soạn đi: - Chúng ta không cùng đi sao?
Anh ăn sáng rồi à? - Tôi để cô 15 phút ăn điểm tâm. Chàng nói- Tôi còn được mười
lăm phút xem sách. Nói xong chàng dở quyển Tâm Lý Phổ Thông ra. Tôi cầm các
cánh hoa bước về phiá khu vườn. Đi một đoạn, tôi quay đầu lại: - Anh biết
không, giờ phút nầy tôi chỉ mong mình biến thành người thượng cổ. Chàng nhìn
tôi: - Nhưng không được phải không? Sống trong xã hội thời đại này lúc nào cũng
phải tranh đấu, vì vậy Ức My, đừng bao giờ làm kẻ yếu hãy làm một kẻ mạnh. Tim
tôi đập mạnh nhìn hắn, gương mặt thành khẩn đầy tình hữa nghị, gương mặt của một
giáo sư tận tâm, tôi gật đầu, lòng mang mang xúc động. - Anh cứ yên trí, tôi nhẹ
nhàng đáp- Tôi sẽ cố gắng thi đậu vào Đại Học. Cầm những cánh hoa, bước lên lầu
trở về phòng, lấy chiếc bình đặt lên kệ sách xuống, thay những cánh hoa hồng bằng
loài hoa vàng không tên nầy. Mãi nhìn những cánh hoa, 15 phút trôi qua, Trung
Đan đẩy cửa bước vào: - Sao? Cô dùng điểm tâm chưa? Hắn hỏi, đoạn ngồi xuống
trước mặt tôi, giở quyển hình học ra sắp sửa giảng bài. - Rồi ạ! Tôi nhẹ nhàng
đáp.
- Ăn rất no.
Đoạn tôi nhìn hắn cười, và miễn cưỡng mở vở ra.
Chương 5
Một buổi chiều, tôi bước vào phòng Khởi Khởi. Khởi Khởi đang
đứng cạnh cửa sổ một tay cầm giá vẽ, một tay cầm bút sơn dầu. Vừa lúc đó cô ta
quay lại nhìn thấy tôi bước vào, chúng tôi gật đầu chào nhau. Tữ ngày dọn vào
nhà họ La đến nay đã hơn tháng, tôi lúc nào cũng tìm cơ hội để gần gũi nàng,
tôi mong ước được làm bạn với Khởi Khởi, có lẽ vì vẻ đẹp lạnh lùng của nàng đã
quật ngã tôi; do đó, chảng ngần ngại tôi bước đến gần nàng. Phòng Khởi Khởi và
của tôi có cùng cách bài trí nhưng phòng của Khởi Khởi trang nhã hơn, màn cửa,
nệm giường tất cả đều xanh nhạt. Chiếc bình hoa trên bàn với những cánh hoa màu
lam thoảng hương. Hôm nay Khởi Khởi mặc chiếc robe mỏng màu vàng nhạt, tóc
buông xõa đứng cạnh cửa dáng dịu dàng như tiên nữ. Tôi bước đến cạnh ngắm bức họa.
Đó là bức họa phong cảnh, màu đỏ xâm chiếm gần hết hình bình nguyên với những
ngọn núi đá và mặt trời sắp lặn, bức họa quá quen thuộc! tôi ngẩn người một
lúc, Khởi Khởi nói: - Tôi đã ăn cắp cách bố cục của bức tranh trong phòng chị.
Nét tang thương và hùng vĩ của nó khiến tôi thích thú. Tôi chợt tỉnh, thì ra thế,
nhưng bức họa của mẹ nền xanh cơ mà (bức họa đó hiện đang treo trong phòng
tôi). Nếu so sánh, bức họa của Khởi Khởi có vẻ tươi sống động hơn bức họa của mẹ,
Hoàng hôn chiếm cả khoảng không, ngọn núi nổi bật hơn. Khi Khởi Khởi vẽ xong,
nàng lui ra sau một bước ngắm nghiá, xong lại cầm bút tô thêm lên nền trời đôi
chim nhạn khiến cho bức họa càng gợi hình. Tôi buột miệng khen: - Chị vẽ đẹp
quá! Khởi Khởi quay sang nhìn tôi lạnh lùng: - Bức họa không do tôi nghĩ ra thì
có gì là đẹp và hay đâu? Lúc nào cũng thế, hình như nàng rất khó khăn trong việc
tạo một gương mặt vui tươi và giọng nói dịu dàng để nói chuyện với người khác.
Đã mấy trăm lần đụng phải trường hợp đó, biết được bản tính Khởi Khởi là như vậy,
nên tôi, tuy có phần ngượng ngùng nhưng cũng không đến nỗi nào, bước đến cạnh
bàn, tôi tìm lời lấp liếm: - Chị thích những cánh hoa màu lam này lắm à? Nghe
nói hình như tên nó là Đừng Quên Tôi phải không chị? Cô ta nhìn tôi, thong thả
đáp: - Tôi thích loài hoa cánh lam vì nó hiếm, với những loài hoa thường thì
tôi không ưa. Hơi nhíu mày Khởi Khởi lại nói - Hoa này có phải là tên Đừng Quên
tôi hay không thì tôi không biết, vì tôi có phải là nhà Thực vật học đâu? Tôi
ngước mặt lên thầm nghĩ, tốt nhất trở về phòng mình nằm sướng hơn. Nhưng bỗng
nhiên cô ta liệng bút đi, rửa những vết dầu sơn trên tay, đoạn quay sang tôi,
đôi mắt mơ màng nhìn tôi chăm chú. Cô ta đang đò xét tôi chăng? Ngẩng đầu lên,
tôi cũng ngắm Khởi Khởi. Trời ơi! Nàng quá đẹp, đẹp đến độ khiến người ta mê mẩn.
Nếu tôi là con trai, có lẽ tôi sẽ vứt bỏ tất cả để theo đuổi nàng. Bỗng nhiên
nàng nói: - Chị giống cha hay giống mẹ? - Theo tôi nghĩ, có lẽ giống mẹ tôi
hơn. Tôi đáp và tiếp - Tôi thấy chị cũng thế. - Đúng vậy. Nhưng tôi thích được
giống cha hơn. Khởi Khởi trả lời. - Sao vậy? Tôi hỏi - Mẹ chị đẹp mà chị còn đẹp
hơn nữa mà! Nàng nhìn tôi một lúc, sắp xếp dụng cụ, giấy bút xong nói: - Chị có
để ý cha tôi không? Ông ta đẹp trai lại có cá tính cứng cỏi, bất khuất giống
nhu cây tòng cao vời vợi, còn mẹ tôi? Nàng cúi đầu xuống suy nghĩ một lúc - Người
giống như những cánh hoa vàng trong phòng của chị. Nghĩ đến sự so sánh của Khởi
Khởi, tôi thấy có đôi phần đúng. Giáo sư cứng cỏi thắng thắn, còn bà Nghị thì
quá yếu đuối. Sự kết hợp giữa hai người là cả một sự lạ lùng, phải chăng có một
sức mạnh siêu việt nào đó an bài tất cả mọi việc ở đời nầy? Có lẽ vì thấy tôi
không nói gì cả nên Khởi Khởi cũng yên lặng theo, nàng tỉ mỉ dọn dẹp bút, giấy
và dầu sơn, trong khi tôi rỗi rảnh tựa lưng vào ghế, thuận tay với lấy quyển
sách để trên bàn lật ra xem, đó là quyển tốc họa của Khởi Khởi. Tấm đầu tiên là
bản phác họa giáo sư với đôi chân mày rậm, râu hàm, tóc rối, mắt quắc thật sống.
Bức thứ hai là cảnh hoa viên, bức thứ ba khiến tôi chăm chú nhìn, đó là gương mặt
đàn ông trán rộng, mắt to, càm vuông, đôi mắt nghiêm nghị đúng là Trung Đan. Lật
thêm vài trang tôi thấy một cánh hoa màu lam nhạt, khung giấy trắng bên cạnh có
tuồng chữ của Khởi Khởi với mấy hàng: Đừng bóp nát những cánh hoa này, Anh có
biết nó mang tâm sự gì trong ấy? Đừng vứt đi cánh hoa xanh nhạt, Vì anh phải biết
nó vẫn có trái tim. Cũng đừng bảo rằng chúng ta chưa hề biết nó. Vì nó mang tên
“Đừng Quên Tôi”! Tôi chăm chú nhìn hàng chữ, rồi cánh hoa xanh nhạt, bỗng nghĩ
vẩn vơ. Trong lúc tôi còn đang xuất thần thì Khởi Khởi chạy vụt đến, giựt lấy
quyển sách trên tay, đôi mắt xinh đẹp kia giận dữ nhìn tôi: - Chị làm gì thế? -
A! Tôi hoảng hốt - Xin lỗi, tôi không cố ý, tôi lật thử xem cái gì đấy mà. - Lật
thử xem à? Cô ta la to - Bộ mẹ chị không dạy chị là không nên tự ý lấy đồ của
người khác xem hay sao? Thái độ ngạo mạn, tàn nhẫn của Khởi Khởi khiến tôi giận
dữ: tôi đứng thẳng người lên, không thể đè nén được cơn giận trong lòng trào
ra, cảm giác bị sỉ nhục làm tôi cứng cỏi: - Mẹ tôi dạy tôi nhiều thứ lắm chứ,
nhất là phải biết thương người phải làm cách nào để thành người. Mẹ tôi nói,
con đừng bao giờ chê cười người vì như thế người ta sẽ mắng vào mặt con. Nếu
con thành thật đối đãi thân tình thì chẳng bao giờ người ta tệ bạc với con.
Nhưng lúc nào con cũng phải biết rõ người, vì có một hạng người không có trái
tim, họ không biết phân biệt thế nào là sự đùa bỡn thế nào là sự thành thật. Cô
ta ưỡn ngực về phiá trước, trừng mắt nhìn tôi một lúc lâu rồi nói: - Chị quả có
người mẹ tốt, bà ta đã dạy cho chị biết là có một giống người không có trái tim
dùng oán để báo đức phải không? Tôi nghĩ không có một người họ La nào trong nhà
nầy lại không tốt với chị cả. Tôi đỏ bừng cả mặt nhìn cô ta. Tôi biết câu nói của
cô ta như thế còn nhẹ lắm, cô ta có quyền nói thêm những câu nặng nề khác nữa
mà. Thái độ của Khởi Khởi như tát vào mặt tôi “Này Ức My, mày đừng quên rằng
mày là đứa bé mồ côi mà nhà họ La này đã cho ở đậu”! Tôi ứa nước mắt bỏ chạy ra
cửa, vì chạy quá nhanh tôi đã va vào một người làm sách vở bắn tung rơi rải đầy
đất, người ấy nắm lấy tôi: - Ức My, lại cũng cô, cô làm gì chạy nhanh thế?.. Rồi
như ngạc nhiên - Cô làm sao thế hở...? Tôi đưa tay quẹt ngang mắt. Biết rằng nếu
muốn khóc chỉ nên đợi lúc trở về phòng đã. Tôi lấy lại điệu bộ ngay ngắn gượng
cười nói:
Không, đâu có gì?
Hắn chăm chú nhìn tôi, đôi mắt tò mò dọ hỏi, hắn gật gù nhỏ
nhẹ nói: - Khoan đã đợi tôi hỏi rõ ràng xem tại sao? Tôi lắc đầu trước đôi mắt
xúc động của hắn: - Không, không có chuyện gì hết. Nói xong tôi cúi xuống nhặt
những quyển vở, hắn cũng cúi xuống phụ nhưng các quyển vở đã lượm hết. tôi thấy
một vật rớt ra từ một quyển sách, đó là vật mà tôi đã nhìn thấy trong phòng của
Khởi Khởi - Một cánh hoa ép màu xanh. - Cái nầy là cái gì vậy? Hắn có vẻ hơi bất
mãn: - Ờ, Khởi Khởi đó, lúc nào nó cùng ép hoa trong vở, tôi cũng không biết
hoa gì! Nói xong, hắn lấy cánh hoa và bóp nát, vo tròn lại sắp sửa vứt đi. Tôi
lặng người, và đột nhiên thốt lên những câu thơ ban nãy.
- Ức My cô đang đọc cái gì đó? Hắn hỏi, đoạn nhìn tôi dò xét.
- Việc học đã làm cô mệt mỏi lắm phải không? Cô cũng nên nghỉ ngơi một chút, để
chiều thứ bảy này tôi mời cô xem hát bóng, xong chúng ta sẽ bát phố. Tôi lúc
nào cũng muốn.. Hắn bỗng thành khẩn nhìn tôi - Muốn mua tặng cô vài bộ áo quần.
Ức My, cô có nghi ngờ sự thành thật của tôi chăng? Tôi nhìn hắn. Tôi làm sao
nghi ngờ hắn được? Đôi mắt hắn quá thành khẩn, lời nói lại ôn tồn thân mật. Những
giọt nước mắt tròn mi, tất cả cảnh vật chung quanh như mờ hẳn. Hắn kinh ngạc: -
Ức My, tôi đã làm cho cô buồn đó à? - Không phải vậy, Trung Đan! Tôi nói, vẫn
không quên nhìn hắn - Tại sao anh lại quá tốt với tôi như vậy? Ai cũng...
Tôi bỗng ngưng bật. Hắn nghi ngờ: - Thế ai đã hiếp đáp cô? -
Không, không có ai cả. Hắn lại đăm đăm nhìn tôi:
- Vậy thì cười lên đi chứ Ức My, tôi biết cô không phải là đứa
con gái đa sầu, đa cảm, đúng không? Hãy nghe tôi nói Ức My, cô không phải là
người cô độc. Hắn lại nhìn tôi cười - Cuộc đời tôi với cô giống hệt nhau, nhưng
tôi không bao giờ để cho nỗi buồn lấn át tôi cả. Tôi gật đầu bước về phòng. Tôi
sẽ không bao giờ buồn nữa, thật vậy, vì tim tôi đang hát một bản nhạc vui.
Chương 6
Chuỗi ngày đài trôi nhanh. Một buổi chiều mưa to đầu hè đuổi
xua đi bao nhiêu nóng bức. Chiếc móng trời chắn ngang rặng cây xanh, ánh nắng
chiều tiếp nối theo sau nhuộm đỏ cả mái nhà mốc xám, rừng cây, đồng cỏ và cả bầu
trời. Cảnh hoàng hôn thật đẹp với những trận gió tươi mát khiến mọi người cảm
thấy sảng khoái. Bước ra khỏi phòng, chạy bay xuống thang lầu, miệng tôi không
quên lẩm nhẩm bài học: - “Thiên tương giáng đại nhậm dữ tư nhân giả, tất tiên
khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cơ cốt. Không phân kỳ thân, hành, phất loạn kỳ sở vi, sở
dư” Bỗng có tiếng người đọc tiếp: - “Đông tâm nhẫn tánh, tăng ích kỳ sở bất
năng”. Tôi ngẩng đầu nhìn, thì ra là Hạo Hạo, hắn đang đứng tì lưng vào lan can
ở cuối thang lầu, hai tay tựa cằm đặt trên cây chống, mỉm nụ cười tinh nghịch
nhìn tôi: - Ức My, bộ cô muốn làm con mọt sách nữa sao? Tôi cười nói: - Anh
Trung Đan là một ông thầy dữ lắm, anh biết không? Nụ cười trên môi hắn chợt
ngưng một lúc xong lại cười xòa. Hai tay vòng ngang ngực, hắn nhìn tôi thăm dò:
Thế, cô với Khởi Khởi đều nể nang Trung Đan lắm à? Theo tôi
nghĩ thì cô hãy còn trẻ phải có một chút sinh khí chớ tối ngày co rút mãi trong
sách vở thì không thể bình thường được. Bản tính cô thuộc vào loại hồn nhiên và
vui nhộn, chớ nào phải mọt sách đâu, phải không? - Sao anh biết? Tôi hất hàm hỏi.
- Nhìn dáng đi của cô là biết chớ gì, đi không ra đi, chạy cũng không ra chạy,
lúc nào cũng như muốn đâm sầm vào người khác. - Hứ! Tôi nguýt hắn, đoạn ngồi
ngay xuống thang lầu, tay chống cằm giận lẫy: - Phải, mẹ tôi cũng thường nói tại
tôi đi đứng không vững vàng nên không thể nào trở thành một tiểu thư trang
nghiêm đài các được? Nụ cười trên môi hắn càng tăng thêm vẻ diễu cợt: - Tiểu
thơ đài các ư? Hắn lại nháy nháy đôi mắt:
- Không, tôi biết nơi cô xuất thân không phải là một gia đình
giàu có, vì vậy ngay cả dáng điệu cử chỉ của cô cũng không có vẻ gì là quí phái
cả. Cô với Khởi Khởi khác biệt với nhau, mặc dù nó có vẻ trang nghiêm, quí phái
hơn cô, nhưng đổi lại cô hồn nhiên và dễ thương hơn nó. Đối với tôi, cô có biết
giữa hai người tôi thích ai hơn không? Tôi thở dài: - Có lẽ chị ấy dễ thương
hơn, tôi cũng muốn bắt chước cách đi đứng dịu dàng, hành động cho trang nhã,
nhưng mà...Tôi lắc đầu - Có lẽ tại Khởi Khởi cao quí hơn tôi nhiều, nhất là
trên phương diện thể chất...
- Cô có nghĩ là Khởi Khởi dễ thương lắm à? Hắn hỏi tôi - Cô
có biết rằng nó còn thiếu một món mà con người cần phải có hay không? - Thiếu
cái gì? - Thiếu sự sống động. Này Ức My, cô nên là cô mà đừng bao giờ bắt chước
nó! Đoạn ngắm nghiá tôi một lúc, hắn nói:
- Ức My cũng đẹp, cũng dễ thương lắm chứ. Tôi thích vẻ ngổ
ngáo và tự nhiên của cô. Ngưng một chập rồi hắn lại cười bảo:
- Khởi Khởi hồi nào tới giờ chưa hề dám ngồi bệt xuống thang
lầu như cô thế này. Vừa nghe hắn nói, tôi nhỏm dậy ngay, hắn lại cười lớn: - Bộ
ở ván cầu thang có đinh hở cô? Hay là có lửa? Cô làm gì mà như bị đốt không bằng!
Tôi tròn mắt nhìn hắn, miệng chu chéo: - Bộ anh trêu được ai anh mới vui thích
được sao mà anh cứ mãi chọc quê tôi hoài thế? Hắn càng cười to: - Đúng vậy,
nhưng đừng có lo, để từ từ tôi dạy cô cái thú trêu người nhé! - Tôi không thú nổi
cái trò đó. - Nhất định sẽ thú lắm mà, tôi biết, vì tôi với cô cùng một loại với
nhau. Tôi quắc mắt nhìn hắn. Đôi mắt to đen tinh quái trên gương mặt sáng, mái
tóc tuy chải xong vẫn lòa xòa trên trán, chiếc mũi hỉnh lên, theo sách tướng
thì những con người có gương mặt này thường là những con người có quyền bính
trong tay. Đôi môi mỏng với nụ cười tinh quái, đó là một nụ cười khiến người mất
cảm tình. Tôi bước xuống thang lầu đi về phiá cửa, mở cánh cửa kiếng ăn thông
ra vườn hoa. Bên ngoài, trên bực thêm một đôi giày trượt tuyết để nằm đấy. Tôi
quay đầu lại nhìn hắn, bộ quần áo thể thao bó sát một thân thể khỏe mạnh, chứng
tỏ hắn vừa mới chơi xong. Hắn bước đến gần tôi, rồi nhìn đôi giày hỏi: - Cô
thích thể thao không? - Thích chứ! Tôi đáp. - Biết bơi không? Tôi gật đầu. - Thế
chủ nhật tới, tôi mời cô đến hồ Bích Đầm bơi nhé? Hắn nói, đoạn bước xuống thềm.
- Cô biết trượt băng không? Tôi lắc đầu. - Xuống đây, tôi dạy cho, học một lúc
là biết ngay! Môn trượt băng như có một cái gì hấp dẫn, lôi cuốn, tôi cưỡng
không lại ý thích. Đã từ lâu rồi tôi hằng ước ao học cách trượt băng nhưng
không có cơ hội. Khoảng sân ciment bên dưới bực thềm không rộng lắm, lại vì vừa
mưa xong nên những vết bùn ẩm vẫn chưa khô. Hạo Hạo cầm lấy chiếc giày nhìn
tôi:
- Ngồi xuống mang vào chân đi! Tôi hơi do dự, rồi cũng ngồi
xuống thềm. Đôi mắt hắn nhìn như đang thích thú. Tôi bắt hắn cười việc tôi vừa
nhảy nhỏm ở cầu thang thì giờ lại ngồi xuống bực thềm. Nhưng mà mặc hắn, việc học
trượt băng làm tôi thích thú hơn là để ý đến hắn. Hạo Hạo cúi người xuống phụ
tôi cột chặt chiếc giày vào chân. - Bây giờ nhé, thử đi một chân trước xem sao,
đừng ham đi quá nhanh. Đứng dậy xem nào! Hắn ra lệnh, tôi đứng lên thử. Trọng
tâm của con người tôi hình như đã đi đâu mất, tôi ngã tới ngã lui, vội vàng lấy
chiếc chân còn lại giữ vững thân thể, nhiều lúc đi thử đều không được, lúc nào
cũng muốn trượt té cả. Hắn đứng bên cạnh khoanh tay nhìn một lúc, đoạn dìu tôi
đến bên thềm, bực dọc: - Tôi thấy cô ngu ơi là ngu! Ngồi xuống coi, có bấy
nhiêu mà học cũng chẳng nên thân, tôi chỉ còn dùng cách cứng rắn để dạy cô
thôi. Vừa nói hắn vừa lấy thêm một chiếc giày còn lại mang vào chân tôi, rồi lại
cười: - Bây giờ thì không còn tựa vào đâu được nữa. Đứng dậy cho cẩn thận xem!
- Đừng đùa, tôi không thích bị ngã chút nào đâu! Tôi đáp. - Vậy thì cô phải
ráng giữ sao cho đừng ngã mới hay chứ! Hắn nói xong không đợi tôi phát biểu ý
kiến gì cả, nắm lấy hai tay lôi tôi đứng dậy. Tôi hốt hoảng hét to, tay vẫn nắm
chặt lấy hắn. Bốn cái bánh xe bên dưới chân vừa chạm đất là như mắc toi không
lăn không được. Thân hình tôi ngã về phiá trước, trong khi đôi chân lại chạy toạc
về sau. Tôi hốt hoảng ôm chặt lấy tay hắn hét: - Làm cái gì kỳ vậy. anh muốn
phá tôi hả? Ôi, ôi. Không được đâu, té bây giờ, ái ái...Không được, ngã cho
coi. Tôi la lớn như thế, mà hắn như giả điếc không thèm để ý đến, lại còn cố gắng
bỏ tay tôi ra. Rút được tay về, hắn nép sang một bên, trong khi tôi bị mất điểm
tựa, giống như đầu xe hỏa bị đứt thắng, trượt tới trượt lui trên sân. Hắn đứng
bên sân, vòng tay trước ngực hét to: - Giảm bớt tốc lực một chút! Để trọng tâm
ra sau một chút. Rồi! Nếu hai chân chạy theo hai ngã phải rút bớt một chân lại.
Có lẽ chỉ có trời mới biết tôi đã làm thế nào để giảm bớt tốc độ, phải để trọng
tâm ra sau một chút là như thế nào? Chỉ biết bản năng sợ té đã khiến tôi phải
tìm đủ cách để giữ thăng bằng cho cơ thể, trong lúc đôi tay quơ quào lung tung
trên không. Thật tội nghiệp cho đôi tay tôi lúc đó biết chừng nào vì có lẽ hắn
cũng muốn giúp tôi lắm trong việc chế ngự đôi chân không còn nghe tôi chỉ huy nữa.
Nhưng rồi sự cố gắng của tôi cũng chẳng giúp ích được gì. Tôi nghe tiếng Hạo Hạo
hét to: - Ức My, chú ý! Coi chừng lọt ra khỏi nền ciment, xử dụng ngay hai bánh
xe đầu mũi giày, chân trái giơ cao lên. Ức My, chú ý! Trời.! Sau tiếng la của hắn,
tôi - chiếc đầu xe hỏa đứt thắng - đâm thẳng ra khỏi nền ciment, lọt ngay vào
vũng đất bùn chưa khô do cơn mưa lúc nãy để lại! Tại sao chui vào đâu không
chui mà chui sang hướng này? Sau tiếng “trời” của Hạo Hạo là tôi không còn biết
gì nữa, chỉ nghe một tiếng “tõm!” thì đã thấy mình đang ngồi trong vũng nước,
hai cánh tay chống sâu xuống bùn, chỉ có đôi chân mang giầy là lú khỏi mặt nước.
Hạo Hạo bước đến, khom người xuống nhìn tôi, chân mày nhướng cao, có lẽ lúc ấy
đôi mày tôi cũng thế. Đôi mắt hắn mở rộng như tôi. Chúng tôi cứ nhìn nhau một
lúc rồi bỗng phá lên cười lớn, cười ngặt nghẽo. Tôi nghĩ rằng có lẽ hắn đang cố
gắng gom góp tất cả nụ cười trong đời hắn ra cười luôn một lần cho thỏa thích.
Tiếng cười của hắn chưa dứt, tôi đã thấy có bóng người chạy về phiá chúng tôi.
Tôi ngẩng đầu lên, trời ơi! Giáo sư La Nghị! Ông ta khom người xuống nhìn tôi.
Thân hình to lớn của ông như cái núi che khuất cả mặt trời trước mặt. Tia mắt
long lanh từ trong đám rừng râu tóc rối kia chiếu vào người tôi, cái nhìn như lạ
lùng, rồi như không tin rằng điều mình nhìn thấy là đúng, ông đưa tay lên dụi mắt,
xong lại mở mắt lớn ra nhìn tôi một lần nữa. Nhìn từ đầu đến chân, miệng lại lẩm
bẩm một tràng dài. Một lúc sau, ông hậm hự: - Hừ, Ức My! Tôi nghĩ rằng việc em
ngồi ở trong vũng bùn như thế này không hay chút nào cả! - Vâng ạ. Tôi gật đầu,
miệng lúng túng - Vâng tôi cũng không thích ngồi đây chút nào hết. Giáo sư lại
nhíu mày, lắc đầu: - Tôi cũng thấy nó không đẹp. - Vâng không đẹp thật. Tôi lại
gật đầu. - Được rồi. Ông ta đăm đăm nhìn tôi - Thế em ngồi trong đó làm gì thế?
- Dạ! Tôi...Đôi mắt mở to, tôi không biết nói sao bây giờ, chỉ biết đưa đôi
chân có mang giày trượt băng lên nói - Tại như thế này này, nếu dưới đôi giầy của
giáo sư cũng có mang mấy chiếc bánh xe như thế này thì ngài ngồi vào nơi này rất
dễ dàng ạ. Đôi mày trên trán ông càng nhíu lại, trợn mắt nhìn đôi giầy hàng mấy
giây đồng hồ sau đó ông gật đầu như hiểu được lý do. Đưa tay lên vuốt mũi, giáo
sư vẫn nhẫn nại: - Thế bây giờ em muốn ngồi trong ấy đến bao giờ. - Dạ! Tôi le
lưỡi liếm mép - Tôi không thích ngồi một giây nào cả, nếu giáo sư chịu giúp kéo
em ra khỏi nơi này. Tôi cố gắng rút cánh tay trong bùn ra, cố nhiên là bùn trên
tay vẫn còn rất “đẹp”. Giáo sư Nghị chăm chăm nhìn vào cánh tay tôi, có lẽ ông
sẽ phải hối hận nếu phụ giúp, nhưng sau đó ông ta vẫn lôi tôi lên. Ông nắm lấy
bàn tay tôi. Trời ơi! Cánh tay sao mạnh và to dễ sợ! Ông kéo mạnh, thân hình
tôi được nhấc bổng lên, nước từ trong robe chảy tuôn xuống. Vì ông nắm quá chặt
nên tôi thấy đau ơi là đau. Khi ra khỏi vũng nước, tôi mới thấy được việc không
ổn, vì vừa đặt chân xuống đất xong tôi mới phát giác đôi giầy trượt băng vẫn
còn trên chân và bánh xe bắt đầu lăn như điên tôi không thể chế ngự được, tôi
ngã người về phiá trước như mũi tên bắn đi, chỉ nghe tiếng của giáo sư La Nghị
hét ầm ĩ: - A, ạ..lại làm cái trò quỷ gì nữa đây? Trong khi tiếng cười của Hạo
Hạo bên cạnh lại dòn tan. Tôi bất cần để mặc cho hai cha con họ cự nự hay cười
đùa, cố giữ thăng bằng cho cơ thể, vì tôi không muốn diễn trò hề một lần thứ
hai nữa. Giữa lúc tôi đang quờ quạng một cách nguy hiểm thì có tiếng mở cửa
phòng ăn, tôi như bị hoa cả mắt vì thân hình đang đổ ập về phiá đó, tôi hét:
- Coi chừng! Coi chừng tôi đâm tới! Vừa dứt câu, thì “ầm!“ một
tiếng, tôi đã ngã người vào lòng hắn. Có lẽ ngoài ý muốn, hắn giữ lấy tôi, định
thần kỹ thì ra là Từ Trung Đan. Sự đau đớn do việc va chạm làm hắn nhăn nhó, một
tay giữ lấy vai tôi, hắn hỏi: - Ức My, cô làm gì mà như hỏa tiễn bay thế này?
Nương theo thế, tôi ngồi xuống bực thềm, việc đầu tiên là tháo đôi giày ăn hại
này ra. Hạo Hạo đã nín cười, hắn bước đến bên cạnh, cúi xuống nhìn tôi với đôi
mắt tinh quái đáng ghét! Tôi quá giận liệng thẳng đôi giày vào người hắn nói: -
Chắc anh sung sướng lắm phải không? Tôi biết mà, anh chỉ vui khi chọc phá tôi
mà thôi! Hắn vẫn nhìn tôi, nụ cười dần dần tan biến, cúi mình nhặt đôi giầy trượt
băng cầm trên tay, hắn nói như không nghe thấy: - Ức My, cô đã tìm thấy được những
bí quyết để trượt băng rồi, từ đây mỗi ngày chỉ cần tập vài phút là cô có thể vững
vàng hơn cả những người biết đi lâu nữa là khác. Lẳng lặng một lúc hắn lại nói:
- Ráng thông minh một chút Ức My nhé, đừng có khù khù khờ khờ như chó cắn tiên
ông Lữ Động Tân! Nói xong, hắn bước lên ngạch cửa sửa soạn quay đi. Tôi đứng
trơ ra đó với áo quần, tay chân đầy bùn nhìn hắn. Bỗng nhiên có tiếng quát lớn:
- Này Hạo Hạo, mày đứng lại đó. Tôi quay sang, giáo sư La Nghị đang hùng hổ bước
đến. ] - Việc gì nữa đó hở ba? Hạo Hạo từ bậc thầm quay sang thái độ khiêu
khích:
- Con có xúc phạm gì tới ba đâu? Giáo sư La Nghị la lớn: -
Tao cảnh cáo mày, từ rày mày muốn làm ma làm quỷ gì bên ngoài cũng được, nhưng
trong nhà này, tao muốn mày để tao được yên ổn một chút! - Con có làm gì khiến
ba không yên đâu? Hạo Hạo nhìn cha với thái độ ngạo mạn. - Bộ ba không cho phép
con dạy cô Ức My trượt băng nữa à? Hắn lại quay sang nhìn tôi, vẻ châm chọc hiện
rõ trên mặt. Tôi không biết hắn đang trêu tôi hay trêu giáo sư La Nghị? Hắn lại
chậm rãi tiếp:
- Thôi được dù sao con cũng mừng cho cha tìm thấy được một cô
bé hợp ý. Nói xong hắn xoay người bước đi luôn. Giáo sư La Nghị giận dữ, như một
hỏa diệm sơn bốc khói, chiếc mũi ông nở to ra, miệng lẩm bẩm cục cằn, âm thanh
vướng víu trong ổ họng. Một lúc lâu quay sang thấy tôi vẫn còn ngồi nơi ngạch cửa
cơn giận như được chỗ trút, ông chỉ vào mặt tôi hét: - Ức My, em làm gì ở đây
chứ? Tôi ngạc nhiên nhìn ông ta, chỉ có trời mới hiểu ông muốn nói gì? Không đợi
tôi đáp ông lại tiếp tục! - Này, tôi cho em hay nhé, ngoài việc học tôi không
cho em làm một cái gì khác, em ở nhà tôi, bắt buộc phải nghe lời tôi, bằng
không.... Câu nói chưa dứt, ông ta đã quay đi, miệng vẫn lẩm bẩm. Bỗng ông quay
lại trừng mắt đe dọa tôi, rồi hậm hực bước vào thư phòng. Tôi vẫn ngồi yên, tay
chống lên gối, tì lên cằm, mắt nhìn trân trối bóng đêm đang che phủ vườn hoa.
Có người vỗ nhẹ lên vai tôi, tôi quay lại thì ra Từ Trung Đan đã ngồi bên tôi
lúc nào không rõ: - Nào, cho tôi biết đầu đuôi câu chuyện ra sao? Tôi vung tay:
- Thì như anh đã thấy lúc nãy đấy! Hắn nhìn tôi mỉm cười - Này Ức My, cô thử
đoán coi cô bây giờ giống cái gì nè? - Thế anh nói tôi giống cái gì? - Giống thằng
hề trong gánh xiệc! - Hứ! Tôi nguýt hắn, xong nhìn đôi tay lấm bùn tôi nghĩ có
lẽ mặt tôi cũng bẩn không ít, thế là tôi nhảy qua bật tam cấp, một tay vén chiếc
áo đầy bùn, vừa đi tôi vừa nói: - Như vậy tôi phải đi tắm ngay mới được! Bước
qua hai bậc thềm tôi lại quay sang hỏi:
- Anh Trung Đan, theo anh việc học Đại Học có cần thiết
không? - Cái gì? Tôi cắn lấy răng đáp. - Tôi không muốn thi vào Đại Học nữa! -
Tại sao? Hắn chăm chú nhìn tôi. - Vì tôi muốn rời khỏi nhà này. Trung Đan bước
đến đứng trước mặt tôi đưa tay ấn nhẹ trên vai, hắn nói: - Ức My, cô cần phải
thi vào Đại Học tại vì cô nghèo, mồ côi lại không nơi nương tựa. Việc học và khả
năng con người là quan trọng hơn cả cô biết không? Hãy thực tế một chút, Ức My ạ!
Tôi nhìn hắn, khẽ gật đầu vì tôi đã biết rồi, biết từ lâu rồi, biết nhiều hơn cả
những điều Trung Đan đã nói. Vâng, chỉ tại tôi nghèo, mồ côi, không nhà không cửa
nên tôi phải cố gắng, phải cố tự chủ để giành lấy một chỗ ngồi trong cuộc đời ở
trọ. Tôi bỏ đi về phòng. Xô cửa bước vào, tôi bỗng ngạc nhiên vì bà La Nghị đã
ngồi trong phòng tôi tự bao giờ, bà ta đang ngắm bức ảnh chụp cha tôi, mẹ và
tôi trên vách. Mái tóc chải thật gọn, vẫn chiếc áo trắng phất phơ trên thân
hình gầy đét của bà, mặt ngước cao để lộ chiếc cằm nhọn và chiếc cổ trắng thật
đẹp...Trông thật giống như bức tượng sáp của các nhà điêu khắc. Bước vào bên
trong phòng, khép cửa lại, có lẽ tiếng khép cửa đã làm cho bà giật mình, bà
quay lại chăm chú nhìn tôi như một người xa lạ. - Chào bác ạ. Tôi mỉm cười chào
bà. Bà Nghị vẫn nhìn tôi không đáp, tôi đến cạnh ngước lên hình giải thích: - Tấm
hình này chụp lúc cháu vừa được 6 tuổi, bác thấy cháu lúc ấy trông dễ ghét ghê
nhỉ. Nghe mẹ thường kể lại thì cháu lúc nhỏ giống như chú mèo con chỉ thiếu những
cọng râu ở mép nữa thôi. Nói xong, tôi cười lớn trong khi bà ta vẫn lặng yên
nhìn tôi, rồi bỗng nhiên bà đưa tay lên vuốt má tôi, đẩy những cọng tóc ngắn
lòa xòa trước trán ra sau, và chăm chú nhìn. Đôi mắt to, sâu hút của bà đẹp làm
sao, dáng điệu khoan thai, từ tốn, khiến tôi như bị bà nuốt hồn. Hôm nay đôi mắt
bà nhìn tôi thật dịu dàng, dịu dàng như đôi mắt của Giáo Sư La Nghị đã từng
nhìn tôi. Một lúc sau, bà bỗng thở dài, nhỏ nhẹ như nói với chính bà:
- Khởi Khởi ơi! Tôi ngờ ngợ: - Khởi Khởi? Bác muốn gọi Khởi
Khởi đến đây à? - Không. Bà nhỏ nhẹ đáp, đoạn nắm lấy tay tôi kéo đến cạnh giường.
Bà ngồi xuống và để tôi đứng cạnh. Bà lại thở dài, trầm mặc. - Lúc em sáu tuổi,
cuộc sống của em có sung sướng không? Cha em là người ra sao? - Dạ, con cũng
không nhớ rõ, chỉ biết người là một giáo sư trung học, cận thị. Nhưng mẹ nói
cha con rất thật thà, siêng học lắm. Con nghĩ có lẽ người rất tốt. Bà Nghị xoa
vai tôi hỏi: - Thế tại sao cha em mất đi? - Nghe nói vì bệnh phổi. Tôi đáp thật
nhỏ - Vả lại lúc đó nhà con cũng quá nghèo. Hình như bà Nghị hơi rùng mình, bàn
tay bà xiết chặt vai tôi hơn: - Gia đình con nghèo lắm hay sao? - Vâng ạ Nếu
không thì có lẽ mẹ con đã không phải chết sớm như thế mà có thể kéo dài thêm 2,
3 năm nữa. Vì nếu có tiền trị bệnh bằng quang tuyến, giải phẫu, hoặc đưa qua Mỹ
chạy chữa thì chưa chắc đã chết. Đằng này. Tôi nói nhỏ - Vì nghèo quá biết làm
sao? Bà Nghị càng lúc càng run rẩy, cánh tay tôi bị bà xiết quá chặt nên tôi phải
quỳ xuống tựa vào gối của bà. ỉ Ngước mắt nhìn lên một thoáng giây, tôi bỗng cảm
thấy như vẻ ngăn cách giữa tôi với bà không còn nữa, chúng tôi như thân thiết
nhau tự bao giờ. Bà Nghị lại vuốt mái tóc ngắn của tôi, run giọng nói: - Nhưng
mà, con rất giống như...
Đôi mày bà hơi chau lại, đôi mắt lờ đờ hẳn. - Con có vẻ rất
sung sướng và không hề buồn khổ. - Vâng ạ, từ nhỏ con chưa hề biết khổ là gì, mẹ
con thường gọi con là vô ưu thảo. - Vô... Ưu Thảo, cỏ quên sầu. Bà ta lập lại từng
chữ một. - Thế còn mẹ của con, người cũng không buồn phiền gì ư? - Không phải
thế. Tôi thở dài - Mẹ thường buồn lắm chứ, nhưng lúc nào người cũng nhìn thẳng
vào thực tế. Người là một người đàn bà can đảm, cứng cỏi. Bà Nghị không nói gì
nữa đăm đăm nhìn tôi, đôi mắt đen thẫm như một màn sa mù vây kín, rồi những giọt
nước mắt long lanh.. Tôi hoảng hốt đứng lên sợ phải gặp trường hợp xảy ra như
hôm trước, nhưng bà ta bỗng vỗ nhẹ tôi, ôn tồn bảo: - Con đừng sợ bác. - Không,
con không sợ. Tôi không biết nói gì khác. - Bác sẽ không bao giờ làm cho con
đau đớn. - Vâng, con biết. - Chị ấy là người tốt. Rồi như sợ tôi không hiểu, bà
Nghị lại tiếp:
- Tôi nói mẹ em đấy! Một giọt nước mắt rơi trên tay tôi, bà
Nghị sụt sùi:
- Chị ấy quá tốt, tốt đến đỗi...
Rồi thêm một giọt nước mắt rớt trên tay tôi khiến tôi hoảng hốt
la to: - Bác Nghị, bác đừng xúc động quá!...
- Tôi không xúc động. Bà Nghị bỗng nhiên như tỉnh hẳn - Vì chỉ
có những con người có trái tim mới biết đau xót, còn những người không có trái
tim như tôi làm sao đau xót! Em không hiểu. Tôi không xúc động bao giờ cả! Lại
một chuỗi nước mắt rơi xuống vỡ tan. Tôi không biết gì hơn là nhìn bà ta. Chết
rồi! Bà ấy lại nổi cơn nữa rồi. Tại sao mỗi lần nhìn thấy mặt tôi là bệnh bà ta
lại tái phát? Phải chăng trên thân thể tôi chứa chấp một cái gì kích thích cơn
bệnh của bà. Bà Nghị vẫn nhìn tôi, tiếp tục những câu nói vớ vẩn: - Trên đời
này không phải ai ai cũng đều có trái tim cả đâu mà hầu như đa số là không có
trái tim, có một số khác lại không có linh hồn. Thật tội nghiệp cho tôi, tôi là
người không có cả trái tim lẫn linh hồn, tôi chỉ có một thể xác... một thể xác
đáng ghê tởm và vô dụng...
Tôi ngạc nhiên tột độ nhìn bà Nghị mà nói không ra tiếng,
trong lúc sợ hãi cực điểm thì phòng mở rộng, chiếc đầu rối bù của giáo sư La
Nghị thò vào. Như gặp cứu tinh tôi la lớn: - Giáo sư! Giáo sư La Nghị bước vào
phòng. Chợt nhìn thấy bà vợ đang sụt sùi khóc, ông có vẻ hoảng hốt hơn cả tôi,
vội nắm lấy vai bà Nghị lắc nhẹ hỏi dồn dập: - Sao thế, sao thế hở em? Bà Nghị
khẽ thở dài, đoạn tựa đầu vào lưng chồng giọng ngọt ngào yếu ớt: - Không có
chuyện gì cả, em chỉ nói chuyện với Ức My thôi. - Có thật vậy không? Giáo sư La
Nghị vừa dỗ vợ vừa hỏi, dáng dấp ông giống như người cha đang vỗ về đứa con gái
cưng đang làm nũng - Thế tại sao em khóc hở? Giọng nói ngọt lịm của ông như có
thể chắt ra nước. - Tại sao vậy. Rồi bỗng nhiên ông quay sang tôi trừng mắt, giọng
điệu trở nên cộc lốc: - Ức My, cô nói gì để cho bác gái khóc đấy hả? - Tôi à?
Tôi ngạc nhiên - Tôi nói gì đâu? - Nhất định cô vừa nói cái gì đây? Ông ta như
đoán chắc. Bà Nghị thở dài: - Anh! Anh đừng dữ dằn như vậy với Ức My, nó là đứa
bé dễ thương lắm. Giáo sư La Nghị vội cải chính: - Không, không, anh nào có dữ
dằn với ức My đâu? Nó là đứa bé ngoan lắm mà. Bà Nghị lại thở dài: - Có, anh đã
dữ dằn với nó. Nghị, anh hãy thương nó, hãy chăm sóc nó chu đáo nghen anh. Bà
Nghị tựa đầu vào ngực chồng, sụt sùi khóc. Giáo sư La Nghị càng hoảng hốt: - Ờ,
ờ, thôi em đừng khóc nữa. Nhã Trúc, Nhã Trúc, em đừng khóc nữa, anh sẽ không dữ
dằn với nó nữa đâu, em xem này, anh đối với Ức My rất tốt cơ mà! Bà Nghị đã nín
khóc. Giáo sư đỡ dậy và dìu bà vợ ra khỏi phòng tôi. Đứng bên trong nhìn theo
dáng hai người đang tựa nhau khuất ngoài cửa, lòng tôi bỗng bồi hồi. Một cảm
giác lạ lùng khó tả như vây quanh lấy tôi, cảm giác đó giống như màn đêm đang
lùa vào từ khung cửa sổ: mù mờ, rối rắm, mông lung và tràn đầy bí mật...
Chương 7
Lại một đêm trăng sáng. Khi lững thững bách bộ trong vườn
hoa, nhìn bóng mình và bóng cây lúc phân lúc hợp, hương hoa thơm ngát khiến tôi
cảm thấy thật dễ chịu. Sau một ngày tập làm quen với thành ngữ Anh văn, cách
ghép câu một cách máy móc làm cho đầu tôi muốn vỡ. Bây giờ thì hãy để cho những
cơn gió đêm quét sạch đi bao nhiêu công thức văn phạm trong đầu. Mặt trăng vừa
to vừa tròn treo lơ lửng trên ngọn cây. Ngắt lấy cánh hoa loa kèn, phần giữa
lõm, trong khi cánh hoa bên trên nở xòe ra tạo nên dạng chiếc cốc rượu vang,
tôi nâng cánh hoa lên cao hướng về mặt trăng mời mọc một cách trẻ thơ: - “Cử
bôi yêu minh nguyệt. Đối ảnh thành tam nhân”. Quay đầu lại nhìn xuống đất tìm
bóng mình dưới ánh trăng ngã dài trên mặt đất với chiếc áo ngủ và mái tóc ngắn
tung bay theo gió. Bỗng nhiên tim tôi nhảy thót, cơn lạnh chạy luồn trong thân
làm nổi da gà, vì dưới đất không những chỉ có một chiếc bóng duy nhất của tôi
mà cách đó khoảng hai ba thước, chiếc bóng thứ hai cũng mang áo ngủ nhưng tóc
dài hiện ra, đó là bóng một người đàn bà. Trong lúc tôi ngẩn ngơ vì kinh ngạc
thì chiếc bóng biến mất. Ngẩng đầu lên gió đêm rít nhẹ trong khu vườn âm u,
chung quanh không có một người, bản năng tự vệ khiến tôi lùi ra sau hai bước.
Lúc đó tôi mới phát giác mình đang đứng bên ngoài khu rừng cây. Từ lúc nghe nói
nơi đây có ma, tôi thường tránh không đi đêm qua đây nữa, thế mà hôm nay có phải
chăng ma đưa lối quỷ dẫn đường về khiến tôi bước đến cạnh nó? Quay người lại đi
vội về phiá nhà, tôi không cần biết rằng chiếc bóng ban nãy vừa bắt gặp có phải
là ma hay không; tôi nghĩ, điều tốt nhất là tránh trước thì hay hơn. - Ôi! Một
tiếng than kéo dài, theo gió lọt vào tai khiến cho tất cả tóc tai tôi muốn dựng
đứng. Tôi đứng lại, lắng tai nghe ngóng rồi nghĩ thầm. Có lẽ Hạo Hạo hắn nhát
mình đấy! Thế là, lấy tất cả can đảm còn lại tôi quay ra sau, nhưng ánh mắt tôi
chỉ chạm vào khoảng không trống trải. Ánh trăng bệnh hoạn với khu rừng âm u, tiếng
côn trùng lẫn trong tiếng gió. Một luồng khí lạnh len lén nhập vào hồn, bất
giác tôi bước nhanh hơn về phiá cửa. - Hự! Lại một tiếng than thứ hai, lần này
tôi có thể nghe rõ đó là tiếng của một người con gái, nơi xuất phát là rừng cây
âm u. Tiếng than lần này có vẻ u uất, đau thương và nặng nề hơn. Tim tôi càng đập
nhanh, cảm giác sợ hãi đã xâm lấn tôi. Tay chân tuy lạnh cóng nhưng mồ hôi đã
thấm ướt hết lưng, càng sợ tôi càng thấy những bóng cây chung quanh hòa lẫn tiếng
gió rì rào như biến thành muôn ngàn hình bóng ma quỷ. Rồi nơi đâu cũng nghe tiếng
than van. Từ chỗ bước nhanh tôi bắt đầu co giò chạy, chạy thật nhanh vì tôi tưởng
tượng rằng ở phiá sau lưng con quỷ tóc xõa kia đang rượt tới. Đến nhà, nhảy
ngay lên bực tam cấp, chui vào phòng ăn ánh sáng chói của ngọn đèn trên cao trấn
tĩnh tôi. Nhìn bóng đêm bị bỏ lại bên ngoài khung cửa kính, tôi thở phào nhẹ
nhõm. - Hắt! Một tiếng ho phát ra bên cạnh, khiến tôi giựt mình quay đầu lại,
thì ra cô bé tóc dài xõa vai. - Khởi Khởi! Tôi đưa tay lên chận lấy ngực và
nghĩ rằng chỉ cần nhìn có lẽ cũng thấy tim tôi đang đập nhanh. Sờ đụng chiếc ghế,
tôi ngồi xuống. - Chị làm gì mà mặt mày trắng bệch ra thế kia? Tôi lắc đầu: -
Không, không có gì cả. Nhưng giọng nói của tôi vẫn không che dấu được sự run rẩy.
Dầu sao cũng đừng để cho cô ta biết tôi sợ ma, vì bóng người lúc nãy và tiếng
than cũng có thể là một việc do tôi tưởng tượng ra kia mà? Khởi Khởi lại thăm
dò: - Thế lúc nãy chị đi đâu vậy. Tôi nhẹ nhàng nói: - Tôi ra vườn cây. Tôi
nhìn chừng chừng cô ta dò xét phản ứng vì tôi không rõ cô ta có biết chuyện đồn
trong khu vườn nhà có ma hay chăng? - Chị đến vườn cây à? Khởi Khởi mở to mắt -
Chị có nghe thấy hay nhìn thấy gì chăng? Tôi mím môi do dự một lát, nói: - Tôi
thấy một chiếc bóng đàn bà, tóc xõa, mặc áo choàng. Tôi cũng nghe tiếng rên rỉ
nhưng không nhìn thấy người thật. Khởi Khởi không ngạc nhiên chút nào cả, cô ta
gật đầu: - Đúng là nó rồi! - Ai vậy. Tôi hỏi. - Thì người đàn bà treo cổ chết
đó. Tôi phản đối ngay: - Không thể có chuyện ma quỷ, tôi nghĩ đó là người thật.
- Người à? cô ta cười khẩy - Vậy là ai? Nhà nầy chỉ có hai người tóc dài là tôi
với mẹ. Tôi thì đứng đây, còn mẹ thì ở trên lầu, thế nó là ai? Tôi rùng mình: -
Thế chị có thấy con quỷ ấy lần nào chưa? Khởi Khởi lắc đầu:
Chưa, nhưng má Lý quả quyết là thường nghe thấy tiếng than
khóc của nó. Dù sao đi nữa tôi vẫn tin có ma quỷ. Tôi biết nó vẫn ở đó, trong rừng
cây, có lẽ lúc chết vì uất ức không nhắm mắt được nên vẫn hay hiện ra trong những
đêm trăng sáng. - Thế tất cả mọi người đều tin chuyện ma này có thật à? - Chỉ
có cha tôi là không tin. Cách đây năm năm, khi chúng tôi vừa đến Đài Loan, cha
tôi muốn mua một ngôi nhà có vườn hoa rộng. Gặp lúc căn nhà này đăng bản bán
giá rẻ nên mua ngay. Sau đó mới biết là mua được rẻ như thế là vì nó có ma,
nhưng cha tôi thì lúc nào cũng cho rằng đó là chuyện nhảm. - Thế tại sao người
đàn bà đó lại treo cổ? Khởi Khởi nhún vai: - Ai mà biết! Chỉ nghe nói hình như
tại chồng bà ấy yêu người khác. Thì cũng quanh quẩn chuyện tình yêu ấy mà. Tôi
đưa mắt nhìn song cửa. Nghĩ đến người đàn bà đã chết vì tình, nhớ lại tiếng thở
dài não nuột và chiếc bóng đen ban nãy, không khỏi rùng mình thầm lần nữa. Nếu
sự thật có linh hồn thì chỉ có trời mới biết con quỷ ấy sẽ làm gi. Nó có còn tư
tưởng và dục vọng? Có biết kính trọng loài người chăng? Hơn nữa, đó là nó phải
có hình dáng vì nếu không sao lại có bóng đen? Khởi Khởi nhìn tôi thăm dò, cô
ta mỉm cười lạnh lùng: - Chị sợ rồi chăng? Tôi có cảm giác như Khởi Khởi đang
nhìn nỗi lo sợ của tôi với vẻ thích thú. Cô ta tiếp:
- Có người bảo rằng, linh hồn của những kẻ chết treo thường
không nơi nương tựa, vì thế trong bóng đêm nó có thể đến tất cả mọi nơi. Thí dụ
giờ này, có thể nó đang đứng bên ngoài cửa sổ. Tôi nhảy nhỏm lên, lườm nó: - Chị
Khởi Khởi, có phải chị muốn nhát tôi không? Khởi Khởi cười nhạt: - Tôi biết chị
sơ, chị đừng gạt tôi là chị không sợ! Hồi nào tới giờ chị có chơi trò cầu hồn
bao giờ chưa? - Tôi nghe nói phải dùng một chiếc đĩa úp xuống tờ giấy viết đủ
chữ cái, trên đĩa có một mũi tên. Mỗi lần cầu cơ cần ba người, mỗi người đặt một
ngón tay mình lên đĩa, khi cơ lên chiếc đĩa sẽ tự động chạy và chúng ta có thể
đặt nhiều câu hỏi. Khi chiếc đĩa ngừng, mũi tên chỉ chữ nào, thì đó là lời đáp,
phải không? Khởi Khởi gật đầu: - Phải, có một lần tôi, anh tôi và Trung Đan
cùng cầu cơ, chúng tôi đã cầu hồn của bà quỷ này. - Thật à, thế bà ta đã nói
gì? - Bà ta đã dùng mũi tên chỉ bốn câu. - Bốn câu đó ra sao? Tôi trở nên thích
thú. Khởi Khởi nhìn tôi dò xét đôi mắt to đen nháy đẹp vô cùng, đoạn đọc bốn
câu sau:
- “Hồn ma phiêu bạt, không nơi nương tựa, muốn tìm lại ân
tình cũ, nhưng sao vẫn hận ngàn trùng.“ - Thật vậy ư? Sao khó tin quá. Tôi nói.
- Nếu chị không tin, chị cứ hỏi Trung Đan xem. Hôm ấy trời mưa, cũng trong căn
phòng này, chúng tôi ngồi quanh bàn ăn, bên cạnh có Mạc Bính đứng hầu. Tôi đã cầu
nguyện một lúc, khi bà ta nhập vào cơ thì một cơn gió lạnh thổi đến làm rung cả
cửa kính, khiến Mạc Bính còn phải run nữa là. Lời nói của Khởi Khởi chưa dứt,
thì một cơn gió thổi đến làm hai cánh cửa kính kêu ken két, tưởng chừng như muốn
mở tung ra. Tôi giật mình nhảy nhỏm lên, trừng mắt nhìn về hướng cửa; không một
bóng người, trong khi Khởi Khởi nhìn tôi, trấn an: - Chị sợ phải không? Nhưng đừng
lo, báo sáng nay có đăng là bão sắp thổi đến đấy! Nói xong, cô ta xoay người đi
lên lầu. Tôi cũng không thể ngồi nơi phòng ăn trống trải này một mình được, nhất
là sau trận gió kỳ quái ban nãy khiến tôi có cảm giác như con quỷ đó đã vào
phòng và đang bước theo Khởi Khởi, nên cũng vội vàng lên lầu. Chia tay với Khởi
Khởi trước cửa phòng, đôi mắt của nó nhìn tôi hơi đặc biệt, một chút khinh thường
pha lẫn ngạo nghễ. Đóng cửa phòng lại, ngồi ở mép giường, bỗng tôi như sực nhớ
lại, biết đâu chiếc bóng ban nãy không là Khởi Khởi vì cũng tóc dài cũng áo
choàng (áo Khởi Khởi mặc lúc nãy là chiếc áo ngủ dài). Anh nó đã từng nhát tôi
một lần, thì sao nó lại không dám nhát tôi một lần nữa chứ? Chỉ cần rên một vài
tiếng, xong chạy ngay vào phòng đọc sách của giáo sư La Nghị, rồi bước qua
phòng ăn trước tôi một bước, và giả vờ tỉnh như không là xong. Nhưng mà tại sao
họ lại nhát tôi chứ? Có mục đích gì chăng? Nhưng Khởi Khởi tính không giống
anh, đâu thích đùa giỡn và châm chọc. Thế thì lúc nãy chiếc bóng tôi thấy có thật
là của quỷ chăng, con quỷ treo cổ trên cành cây đó. Gió lại thổi tung cửa sổ,
làm ớn lạnh cả gáy, khiến tôi rùng mình. Tôi chạy ngay đến cài then thật chặt,
phủ thêm tấm màn xong tôi nhảy lên giường tìm giấc ngủ, nhưng những câu chuyện
ma quỷ này làm tôi tỉnh táo, cảm giác sợ sệt vẫn còn lảng vảng trong tim. Mở vở
sử ký ra, lật phần cận đại, tôi đọc lớn: - “Năm dân quốc thứ hai (1913), quốc hội
được thành lập, chánh phủ được tổ chức Ba Tây và các quốc gia khác thừa nhận
Trung Hoa Dân Quốc. Cũng trong năm nầy Tống Giáo Nhơn bị đâm tại nhà ga Thượng
Hải”. Với tay tắt ngọn đèn ở đầu giường, mồm tôi vẫn lâm râm đọc những sự kiện
lịch sử ở năm Dân Quốc thứ 2: - Tống Giáo Nhơn bị giết tại nhà ga Thượng Hải, Tống
Giáo Nhơn bị giết tại nhà ga Thượng Hải, bị giết ở nhà ga ở Thượng Hải. Rồi mơ
mơ màng màng, hình như tôi đã vào giấc ngủ. Giấc ngủ đến một cách chẳng bình
thường, tôi lăn qua, lăn lại rồi bỗng thấy một dọc xe hỏa, thấy người đàn ông nằm
trên vũng máu trong khi tôi đứng cạnh và bị một lớp người vây quanh hét: - Bắt
lấy nó! Bắt lấy nó! Nó chính là kẻ giết người! Rồi có người nắm lấy tôi, tôi
vùng vẫy la to: - Không! Tôi không biết ông ta là ai cả! Tôi không hề biết ông
ta thật mà! Bỗng nhiên, người đàn ông với gương mặt đầy máu ngồi nhỏm dậy, trợn
mắt nhìn tôi, đôi mắt lòi ra dễ sợ: - Mi không biết ta thật à? Ta là Tống Giáo
Nhơn đây! Tôi lăn qua, ôm chặt lấy mền đầu lắc nhanh. - Tống Giáo Nhơn? Tống
Giáo Nhơn bị giết ở nhà ga Thượng Hải đó ư? Trời ơi! Tôi biết mình đang trong
cơn ác mộng. Cầu trời cho con được giấc ngủ yên lành! Tôi vùi đầu vào gối và lại
tiếp tục ngủ. Cơn ác mộng khác lại đến, tôi bỗng thấy mình đơn độc trong vùng
tuyết băng hoang dã. Trên trời có rất nhiều mặt trăng, nhưng sao lại lạnh thế?
Gió lạnh thổi vào gáy, tôi đi mãi, đi mãi mà sao vẫn không ra khỏi được nơi
hoang vu này? Gió thổi mạnh làm tôi chợt ngã, chồm dậy, bổng nhiên tôi thấy một
con quỷ tóc dài, trên cổ sợi thừng vẫn còn lủng lẳng...Nó càng lúc càng tiến đến
gần, rồi thở phì phào vào mặt, khiến tôi phải né tránh. Mặc dầu vẫn mù mờ hiểu
rằng đây chỉ là giấc mộng, cố gắng thức dậy nhưng chẳng được. Rồi bỗng nhiên
con quỷ chụp được tôi những ngón tay trơ xương đang sờ vào gáy khiến tôi vùng vẫy.
Nhưng càng lúc, gương mặt con quỷ càng kề cận, thở phì phò làn hơi lạnh giá vào
mặt, vào gáy tôi, bàn tay trơ xương lại sờ soạng vào má tôi. Tôi hoảng hốt,
vùng vẫy hét to. Rồi bỗng, những tiếng ầm, ầm do khung cửa kính đập vào tường lọt
vào tai. Tôi nhớ mình đã cài kỹ cửa sổ, thế thì gió nào thổi đến thế? Giựt mình
tôi choàng tỉnh. Trước nhất, tôi cảm thấy có một bàn tay, một bàn tay thật đang
xoa trên mặt, trên cổ tôi. Những ngón tay lạnh lẽo kia làm tôi trở mình, tiềm
thức như đang bảo tôi chưa tỉnh hẳn mà hãy còn trong mộng. Nhưng rồi lại nghe
tiếng cửa đập vào tường. Gió thổi phất vào mặt làm tôi giật mình. Cánh tay! Phải,
cánh tay! Tôi cố gắng mở mắt, trước tiên thấy cửa sổ vẫn mở và ánh trăng lơ lửng
trên không, tôi lại quay đầu nhìn về phiá đầu giường. Tay chân tôi bỗng rụng rời,
máu như ngưng chạy về tim. Một người đàn bà xõa tóc đang đưa tay sờ lấy cổ tôi!
Tôi nhắm chặt mắt lại, hét to. Cánh tay kia đã rút về, nhưng, tôi vẫn hét không
ngừng, ôm chặt chiếc mền, tiếng hét của tôi rền vang trong đêm tối càng khiến
tôi sợ thêm và tôi càng la to hơn. Liền theo đó, có tiếng chân người chạy nhanh
vào phòng, rồi đèn bật sáng. Tôi mở choàng mắt ra, đầu tiên vẫn nhìn thấy người
đàn bà xõa tóc đứng trước giường với chiếc áo ngủ trắng thêu hoa - Trời bà La
Nghị, bà ta đang đứng thẳng nơi đấy giương mắt nhìn tôi với nét sợ sệt, có lẽ
vì tiếng la của tôi quá lớn. - Chuyện gì vậy! Có chuyện gì nữa vậy. Người xông
vào phòng đầu tiên là Từ Trung Đan, hắn mặc chiếc áo ngủ đứng giữa phòng, vẻ hoảng
hốt vẫn còn nguyên trên gương mặt hãy còn ngáy ngủ. Một lúc sau tôi lại nghe
nhiều tiếng chân bước loạn ngoài hành lang, tất cả mọi người đều bước vào
phòng, gồm: giáo sư La Nghị, Hạo Hạo, Khởi Khởi và sau đó là Mạc Bính. Mọi người
đều hoảng hốt hỏi: - Chuyện gì thế? Có sao không? Giáo sư La Nghị thò đầu vô
hét: - Ức My, bộ em điên rồi hở? Tôi ngồi dậy, run run ôm chặt mền. Vừa qua khỏi
cơn kinh hoàng, lại nghe tiếng hét của giáo sư một cách vô cớ, oan ức, nước mắt
từ từ chảy quanh. Chưa trấn áp được sự run rẩy, vừa khóc tôi vừa nói: - Bác Nghị,
sao bác nhát cháu sợ làm chi? Ở nhà này ai cũng muốn nhát tôi cả. Nghĩ đến chiếc
bóng đen trong vườn và lần nhát ma của Hạo Hạo, tôi tiếp: - Tất cả mọi người
trong nhà này, ai cũng ăn hiếp tôi, cũng xem tôi như một trò đùa nghịch cả! Tôi
úp mặt vào tay nức nở khóc. - Hừ, chuyện gì nữa vậy. Ai ăn hiếp em đâu? Giáo sư
La Nghị bực bội gắt. - Xin giáo sư hãy chậm rãi hỏi cô ta, có lẽ có chuyện gì
đã làm cô ấy sợ. Trung Đan nói xong bước đến đứng cạnh giường. Tôi ngước mặt
lên, đôi mắt thành khẩn và tội nghiệp của hắn đang quấn tôi, rồi hắn lại đưa
tay lên vai tôi, bàn tay ấm áp khiến cho sự run rẩy của tôi ngưng hẳn. Hắn nhỏ
nhẹ hỏi: - Ức My, Có phải cô vừa nằm mộng phải không? Tôi nhìn bà Nghị, xong
cúi đầu xuống: - Tại bác Nghị làm tôi giật mình. Tôi...Tôi...không ngờ nửa đêm
thế này bà lại đến đứng ở đầu giường tôi. Tôi bắt đầu lấy lại bình tĩnh, việc
làm chấn động mọi người làm tôi hơi sượng sùng: - Xin lỗi, tôi đã làm cho cả
nhà hoảng hốt. - Thôi được rồi, giáo sư La Nghị ôn hòa nói - Em Nhã Trúc, em ở
đây làm gì thế? Bà Nghị có vẻ ngại ngùng, ngước đôi mắt đẹp và to lên nhìn giáo
sư La Nghị rồi lại nhìn tôi nói:
- Tôi chỉ đến thăm xem Ức My có đắp chăn hay không thế thôi.
Tôi chăm chú nhìn bà Nghị, những sợi lông mi cong vút trong đôi mắt sâu thẳm
kia có thật tình muốn chăm sóc tôi không? Làm sao có thể tin được? Bà khẽ chớp
mắt, tôi nhận thấy vẻ thành khẩn và ngay thật của bà. Trong một lúc, đôi mắt ấy
phân trần như trẻ thơ, bà nói: - Bác chẳng có ác ý nhát em. Ức My, bác chẳng
bao giờ có ý đó cả. Tôi cảm thấy ngượng ngùng khó tả, lí nhí trong miệng tôi
nói:
- Vâng chỉ tại con không phải. Con.. không nhìn cho rõ ràng lại
la lớn lên, thật...con ngượng quá! - Thôi được rồi, không có chuyện gì cả chứ?
Giáo sư La Nghị choàng vai bà vợ - Thế chúng mình về nhé, Nhã Trúc. Bà Nghị có
vẻ ái ngại như tôi, tựa vào chồng bà hối tiếc: - Anh Nghị, em thật ân hận! -
Thôi đừng nghĩ tới nữa, hãy coi như không có chuyện gì xảy ra cả. Khi ông bà
Nghị ra ngoài, Hạo Hạo bước đến, đôi mắt mở lớn nhìn tôi với nụ cười tinh quái.
Nhìn hắn tôi biết hắn rất vui sướng khi thấy tôi sợ muốn chết. Đứng cạnh giường,
hắn đưa tay vò mái tóc rối của tôi, cười nói:
- Ức My, bộ cô cũng sợ nữa sao? Tôi trề môi:
- Sợ là phản ứng tự nhiên của con người. Giữa khuya đang say
ngủ mà bỗng nghe một bàn tay bò trên mặt, ai lại không sợ. Đó là chưa nói ngôi
nhà của anh thuộc vào loại...
Nói tới đây tôi ngưng bặt. - Loại nhà ma phải không? Khởi Khởi
chen mồm vào: - Thế tại sao chị không tin có ma mà lại sợ ma? Tôi lẩm bẩm: - Có
trời mà biết! Nhưng mà đôi lúc người ta còn đáng sợ hơn ma quỷ nữa là đàng
khác. Từ Trung Đan quay lại, tôi nghĩ có lẽ chỉ có hắn là nghe rõ câu tôi nói,
vì đôi mắt kia ra chiều tư lự tìm hiểu. Trong lúc Hạo Hạo cúi xuống nhìn tôi cười
an ủi, nụ cười của hắn bây giờ đã mất hết vẻ trêu chọc. Hắn vỗ nhẹ lên cánh tay
để trên mền của tôi, rồi lấy giọng đàn anh nói: - Thôi ngủ yên đi, đừng tưởng
ma tưởng quỷ nữa, để mai sáng tôi đi mua ông thần trừ tà Chung Cửu cho là cô sẽ
đánh một giấc đến sáng! Tôi cười bị như nhột, Hạo Hạo sung sướng: - Rốt cuộc rồi
cũng thấy cô cười, nụ cười của cô đẹp lắm. Anh có đồng ý không Trung Đan? Hắn
nháy mắt nhìn Trung Đan, Trung Đan nhìn lại với tia mắt không thân thiện lắm.
Tôi nghe có tiếng người tằng hắng, quay sang, Khởi Khởi đang bước ra khỏi
phòng. Mạc Bính cũng rút lui lúc nào không hay. Trong phòng, Trung Đan nhìn Hạo
Hạo xong quay sang nhìn tôi rồi từ tốn nói: - Ngủ ngon nhé, Ức My! Trời sắp
sáng rồi đấy! Rồi quay sang Hạo Hạo với ánh mắt khiêu khích: - Còn anh thì sao?
Nếu thích chúng ta châm bình cà phê đánh vài ván cờ chơi, được không? Đến phòng
tôi đánh luôn tới sáng nhé? - Đánh mạc chược? Hạo Hạo thích chí.
- Được. - Chịu ngay. Hai người cùng bước ra khỏi phòng, đây
là hai tay kỳ phùng địch thủ trên bàn cờ. Ra đến cửa Trung Đan lại thò đầu vào,
chăm chú nhìn tôi, đoạn chậm rãi: - Thôi chào cô, Ức My. Nếu tôi là cô, tốt nhất
trước khi đi ngủ tôi sẽ cài cửa cẩn thận. Hạo Hạo hểnh mũi lên nói: - Bộ anh tưởng
nhà tôi có kẻ trộm, có thể bắt cóc Ức My được sao mà anh nói thế? - Tôi làm sao
biết được? Tiếng của Trung Đan vọng lại. Đợi đến khi họ đã đi xa, tôi cài cửa lại,
tiếp tục ngồi trên giường hai tay ôm gối tư lự nhìn ánh trăng bên ngoài khu vườn
hoa. Biết rằng đêm nay tôi sẽ không thể nào ngủ được nữa. Sáng hôm sau Trung
Đan vác bộ mặt phờ phạc đến dạy tôi học. Ngồi một lúc, hắn mệt mỏi đưa tay lên
xoa cổ, xem gã không có một chút tinh thần nào cả. Tôi hỏi:
- Không khỏe lắm à? - Đánh cờ nhức mỏi cả tay chân. - Thế ăn
hay thua? - Bàn đầu Hạo Hạo thua, bàn thứ hai tôi thua, bàn thứ 3 thì huề. - Thế
các anh đánh ăn gì vậy. Hắn ngẩng lên nhìn tôi, sau đó cúi đầu xuống lật sách
nói: - Chúng tôi đánh với nhau không thể nói ai thua ai thắng được. Còn nếu hỏi
đánh ăn cái gì, thì tôi nói ngay là chẳng qua chỉ để hạ nhau chơi cho vui. - Thế
hai người không ưa nhau à? Anh không thích Hạo Hạo sao? - Vậy cô thích hắn
không? Hắn hỏi ngược lại. Tôi thành thật: - Tôi thích lắm chứ! Nhất là cái vẻ
gàn của hắn cộng với những ý nghĩ lạ lùng. Gần hắn, anh sẽ không bao giờ biết
buồn vì hắn rất nhanh trí. - Đúng vậy! Hắn hơi lạc giọng - Hắn thông minh thật.
Rồi đưa tay chống cằm, Trung Đan nhìn tôi một lúc nói:
- Bây giờ cho tôi biết rõ chuyện gì xảy ra đêm qua đi Ức My.
Tôi nhìn hắn, rồi đem chuyện từ việc bách bộ trong vườn cây, bóng đen, tiếng
than van và những câu chuyện của Khởi Khởi. Rồi giữa khuya tiếng khua động của
cửa, gió, cánh tay lạnh lùng sờ mặt, giấc mơ, kể cả tiếng la hét, nhất nhất tôi
đều kể ra hết. Hắn suy nghĩ một lúc đoạn ngẩng đầu lên: - Ức My, cô phải biết rằng,
trước nhất thế gian này không có ma quỷ, thứ hai bất cứ việc gì cũng đều phải
có cách giải thích hợp lý. Vì vậy theo tôi nghĩ, bóng đen và tiếng than trong
vườn cây chẳng qua là do cô tưởng tượng ra mà thôi. Riêng về việc bác gái vào
phòng cô có lẽ là có liên quan đến bệnh của bà ấy. Hắn chau mày trầm tư, như có
một cái gì làm cho việc suy tư bị bế tắc khiến hắn ngồi không yên. Một lúc, hắn
cắn môi nói:
- Dù sao đi nữa, Ức My, từ nay cô cũng nên cài cửa lại trước
khi đi ngủ. Tôi chẳng yên tâm, lo lắng hỏi:
- Trung Đan, anh nghi ngờ điều gì chăng? Hắn cười, cố ý làm
ra vẻ như chẳng mảy may để ý: - Tôi? Không nghi ngờ điều chi cả, gia đình này
quá đơn thuần, cô cũng thế, thì tôi làm sao nghi ngờ cho được. Thôi, bây giờ
chúng ta bắt đầu vào bài học nhé. Trung Đan mở quyển Anh Văn ra, bỗng có một miếng
gì rơi xuống, tôi nhìn theo thì ra là cánh hoa lam “Đừng quên tôi” đã khô tàn,
tôi thò tay ra lượm lên, chăm chú ngắm cánh hoa ép mỏng, đoạn chậm rãi nói: -
Hoa đẹp quá, đẹp như chủ nhân của hoa. - Có thật không? Trung Đan hỏi, hắn đưa
tay sang nắm cành hoa, tôi giựt lại, hắn chụp lấy hoa lẫn tay tôi, cánh tay ấm
và mạnh mẽ bóp chặt làm đau tay tôi. Đôi mắt nhiệt thành và say đắm của hắn
không rời tôi: - Em thường ca ngợi Hạo Hạo nhanh trí, nhưng tôi lại nhanh trí
hơn hắn nhiều. Em có biết bây giờ tôi đang nghĩ gì chăng? Tim đập mạnh, tôi hỏi:
- Anh đang nghĩ gì? - Muốn hôn em! Rồi hắn chồm sang, thân tôi bị siết chặt
trong lòng Trung Đan, trong một giây phút đê mê lạ lùng...Sau đó, mở choàng mắt
ra tôi chỉ thấy những cành hoa bị bóp nát trong đôi tay chúng tôi đang tả tơi
rơi đầy trên mặt đất.
Chương 8
Chuỗi ngày kế tiếp cuộc sống rối loạn hẳn lên. Vì đã lâu,
tình cảm tôi như chú mèo con yên ngủ, bây giờ lại thức giấc. Mỗi buổi sáng thức
dậy với một cảm giác mơ màng, đêm đến tôi lại thiếp đi với tình cảm lâng lâng.
Ban ngày, tâm hồn ngơ ngẩn. Ban đêm ngủ đầy mộng mơ. Mỗi ngày nhìn vào kính,
lúc nào cũng thấy đôi má tôi ửng hồng, đôi mắt như đắm đuối say mê. Tôi đã biết
chuyện gì xảy ra, vì trên từng lỗ chân lông tôi lúc nào cũng như đang thì thào
lập đi lập lại hai chữ: Tình Yêu! Tình Yêu! Sống trong tình cảm đó, lại phải học
mỗi ngày với Trung Đan khiến tôi nó có vẻ làm sao ấy. Mỗi buổi sáng, tôi hồi hộp
chờ đợi tiếng gõ cửa, rồi trong một thoáng khi Trung Đan bước vào, tôi ngẩng đầu
lên mở to mắt chăm chú nhìn chàng lấy tập ra, tò mò muốn biết chàng sẽ làm cách
nào để tự khắc phục chính mình, để đóng trọn vai trò của một ông giáo. Khi
Trung Đan giảng bài, đôi lúc tôi như đánh mất chính mình, tôi tì tay vào cằm,
thẫn thờ nhìn khuôn mặt của chàng. Có lần Trung Đan để sách bút xuống, chau mày
ngắm tôi một cách ngạc nhiên: - Trời ơi! Ức My, sao em dễ thương quá vậy. Sách
vở bắt đầu bỏ rơi một bên, bút lăn trên đất, còn giấy thì mặc gió thổi bay.
Trong khi mắt anh trong mắt tôi, môi anh lướt qua cổ qua mặt, còn những ngón
tay lướt nhẹ trên mũi, giọng êm ái như ru: - Em có chiếc mũi như đuôi chim, đôi
mắt to như mắt mèo, nhưng đôi mày em quá sậm không đẹp lắm. Mái tóc ngắn ngổ
ngáo quá, lúc nào cũng che bít cả trán. Tay em không mềm, da em không trắng.
Tóm lại anh biết em không đẹp nhưng em có duyên và dễ thương làm sao? Rồi môi
Trung Đan kề cận tai tôi, giọng ngây ngô như trẻ nhỏ: - Em có muốn nghe anh thố
lộ cho biết một chuyện bí mật chăng? Tôi gật đầu: - Muốn. - Thế thì nghe đây
nhé. Chàng cố ý làm ra vẻ quan trọng - Có người muốn ăn thịt em! - Ai? - Anh! -
Tại sao? - Vì anh sợ kẻ khác cướp mất em. - Ai cướp? - Hừ, Trung Đen hểnh mũi
lên, như vừa uống phải hũ giấm chua - Cần gì phải nói ra, vì anh biết, em biết,
cả hắn cũng biết nữa. Tôi cười: - Anh thật đa nghi! - Có đúng là anh đa nghi
không? Trung Đan ngẩn mặt ra, nhìn tôi dò xét, một lúc gật đầu bảo:
Chúng ta cùng biết hết phải không? Nhìn nụ cười rạng rỡ của
em, anh biết em đang tự hào về sức thu hút của mình. Có lẽ trong đáy lòng em,
em đang dự định chinh phục tất cả đàn ông trên đời này. - Đừng đoán ẩu như vậy,
anh tưởng rằng công cuộc nghiên cứu về tâm lý của anh đã đến chỗ toàn bích rồi
sao? - Đúng vậy, nhất là với tâm lý của em! - Thật không? Tôi nhướng mày hỏi. -
Thật! - Thế thì xin anh trả lời tôi ba câu hỏi. Trước nhất, điều tôi hy vọng nhất
là gì? Thứ hai, tôi đang nghĩ gì? Và thứ ba, người tôi yêu mến nhất là ai? - Trả
lời câu thứ nhất là Từ Trung Đan, câu thứ hai cũng là Từ Đan và câu thứ ba lại
là Từ Trung Đan. - Nói mà không biết ngượng. Vừa nói tôi vừa bước xuống. Trung
Đan ngăn lại: - Đừng đi! - Tại sao anh lại cản tôi? - Chỉ vì anh muốn nghe tim
anh đang thổn thức, em thấy không? Tôi kề tai sát vào ngực chàng. Chàng hỏi: -
Nó có đập dữ không em? - Nó đập thùm thụp, thùm thụp...
Trung Đan tựa cằm vào tóc tôi, chàng nói nhỏ: - Em nói sai rồi,
anh nghe nó kêu Ức My, Ức My. Tôi ngẩng đầu lên, môi chàng vôi giữ chặt lấy môi
tôi. Mở to mắt ra, tôi nói: - Anh là ông thầy tồi, anh muốn dạy tôi môn gì đây?
- Dạy môn khó nhất và tế nhị nhất, đó là luyến ái học. - Hứ! Tôi lại cười.
Chàng cúi xuống lật vở ra, tằng hắng, cúi nhặt cây bút chì khi nãy rơi dưới đất,
rồi đứng thẳng người nghiêm giọng: - Thôi bắt đầu giờ phút này không cho lộn xộn
nữa nhé, học hành đàng hoàng đấy! - Hứ! Anh làm như tôi là người gây ra lộn xộn
không bằng! - Thì tại em trước chứ còn ai nữa? Ai bảo em cứ nhìn anh chằm chập
khiến anh phải động lòng. - Thế em không nhìn anh thì nhìn ai? Chính tại mình động
lòng tà rồi đổ lỗi cho người ta. - Thôi được rồi đừng cãi nữa. Trung Đan dằn
chiếc thước kẻ trên bàn tiếp - Bây giờ nếu ai đi ra ngoài phạm vi bài vở trước
sẽ bị đánh. Thước kẻ tôi để đây, đôi bên có thể thi hành. Bây giờ lật trang số
một trăm hai mươi mốt, chúng ta xem các công thức về tam giác. Tôi mở sách ra,
lật đúng trang 121, đoạn quay nhìn chờ đợi. - Kiếm được chưa? - Rồi. Trung Đan
bắt đầu giảng: - Người ta gọi một hệ thức tam giác là...
Và chàng ngưng bặt, nhìn tôi lạ lùng. - Ồ! Ức My, anh vừa
khám phá ra tròng mắt em không phải màu đen mà hình như là màu hổ phách! Tôi cầm
thước lên, đánh thật mạnh vào lưng bàn tay chàng một cái khiến Trung Đan nhảy
nhỏm lên: - Ức My, em đánh mạnh quá! Chàng xuýt xoa. Thật đúng như sách dạy,
trong đời độc ác là trái tim người đàn bà! - Ai biểu anh không lo giảng bài. -
Thôi được để anh giảng. Chúng tôi trở về với sách vở, chàng cầm bút chì lên, bắt
đầu giảng một cách thật tỉ mỉ cho tôi biết thế nào là một hệ thức tam giác, vẽ
hình rồi ví dụ. Trong khi tôi đưa tay nâng cằm lắng nghe giọng nói của chàng,
tiếng nói trầm trầm khiến tôi thích thú. Tôi nghĩ có lẽ chàng hát hay lắm, dù
ít khi chàng hát vì chàng chỉ thích nhạc hòa tấu Nhạc của Schubert là loại nhạc
tuy không hẹn, mà tôi và chàng đều cùng thích. Bỗng nhiên Trung Đan cầm thước
đưa lên: - Nào đưa tay cho tôi! Tôi không chịu trợn mắt: - Cái gì? - Em nghĩ vẫn
vơ không chịu nghe. Em nghĩ gì thế? - Nghĩ về Schubert. - Tốt! Vậy đưa tay ra đừng
nói nhiều! Tôi nhìn chàng, cây thước đưa lên cao, gương mặt không một nụ cười
và nghiêm khắc như một quan tòa, khiến tôi phải miễn cưỡng đưa tay ra, nhắm chặt
mắt, tôi cười: - Này đánh đi thầy! Nhưng tôi thực kinh ngạc, vì chàng đánh thật,
đánh rất đau. Tròn xoe mắt nhìn vết thước đỏ nằm dài, tôi hơi giận, thách thức:
- Muốn đánh nữa không? - Muốn. - Thế thì đánh đi! Chàng đưa
môi hôn lấy bàn tay tôi, ậm ừ: - Ức My ơi! chắc phải tìm một giáo sư khác! Tối
hôm ấy, Trung Đan và tôi đi xi- nê. Khoảng chín giờ đã ra. Chúng tôi đi xe bus
đến góc đường Tân Sanh Nam và Bình Đông, rồi thả bộ đi dọc theo đường Tân Sanh
Nam về nhà. Buổi tối mùa hạ trời thật đẹp, ánh sao lấp lánh trên cao, gió lộng.
Chúng tôi kề vai nhau vừa đi vừa cười nói, lòng vui như khung trời không một gợn
mây. Chàng nói cho tôi biết những cảm nghĩ của chàng về giáo sư La Nghị: - Giáo
sư là người có khuôn mặt dữ tợn nhưng lại có một tấm lòng rất tốt. Tôi phản đối
ngay:
- Chỉ tại ông ấy không chịu chải tóc, chải râu cho đàng
hoàng. Em nghĩ nếu ông ta đầu tóc gọn ghẽ, râu ria cạo sạch, thì gương mặt sẽ đẹp
lắm. Chân mày sậm, mắt sáng, mũi cao, chỉ bao nhiêu đó cũng đủ chứng tỏ ông rất
đẹp trai. Anh nghĩ xem Hạo Hạo đẹp trai như thế thì thuở xưa khi còn trẻ ông ta
nào có thua gì Hạo Hạo đâu? Trung Đan ậm ừ: - Thế em thấy Hạo Hạo đẹp trai lắm
sao? - Đúng vậy, anh không thấy hắn đẹp trai à? Trung Đan nhìn tôi dò xét: - Thế
hắn đẹp trai hơn anh không? - Anh...Tôi đứng lại ngắm nghía, rồi cười - Anh
cũng biết là anh không có vẻ gì đẹp trai cả mà! - Còn hắn đẹp lắm ư? - Vâng. Hắn
rất đẹp. Tôi gật đầu. Trung Đan chau mày. Chúng tôi tiếp tục bước. Chàng bẻ một
cành cây bên vệ đường, miệng lẩm bẩm:
- Mong cho nó xuống địa ngục cho rồi! Tôi hỏi: - Anh nói ai?
- Anh nói Hạo Hạo. - Trung Đạn Nói xấu người vắng mặt là một điều không tốt,
sao anh ích kỷ thế? Chàng thở dài: - Ức My, ai biểu em khen cái vẻ đẹp trai của
hắn làm chi. - Chớ anh không thích thưởng thức cái đẹp à! - Phần nào thôi, anh
thích vẻ trầm lặng và phóng khoáng của hắn, nhưng không thích cái lối sống phù
phiếm của hắn. Ức My, anh biết hình ảnh hắn đang chiếm một vị trí trong tim
em...
Tôi phá ngang:
- Đừng nói khùng! - Anh không khùng, Ức My, nhất là đối với
em, ngoài việc đem tất cả tâm hồn ra để được gần gũi em, anh còn đang tìm tôi để
hiểu tất cả bí mật trong tận cùng quả tim em, kể cả những phần mà em cũng chưa
hề biết. Tôi thấy hơi khó chịu: - Đừng anh, đừng bao giờ nghĩ thế, vì em thấy rằng
chưa chắc chắn viếc làm đã đúng. - Anh cũng mong như vậy. Chúng tôi đến bên bức
tường của trường Đại Học, tôi ngẩng đầu lên nhìn bờ tường cao ngất: - Tường cao
thế này, muốn vào cũng đâu phải là chuyện dễ. Chàng nói. - Nhưng em sẽ vào được!
- Anh chắc như thế? - Ừ! Tôi mỉm cười, không tin tưởng chút nào. Đang bước chợt
thấy một vật gì trăng trắng đang cựa quậy dưới bờ tường. Tò mò nhìn, thì ra là
chú mèo con. Dưới ánh sáng của ngọn đèn đường, chiếc thân ốm nhỏ tựa nơi góc tường
trông nó cô độc và buồn thảm làm sao. Có lẽ nó chỉ mới sinh được khoảng mười bữa
nên trông chẳng khác chú chuột bạch. Tôi cúi xuống, vuốt nhẹ chiếc đầu nhỏ, tội
nghiệp:
- Ôi chú mèo con! Trung Đan nói: - Có lẽ nó bị vứt bỏ đấy. Nó
sống không lâu đâu! Còn nhỏ quá, đang còn bú sữa mẹ mà bị bỏ như vậy, tội nghiệp.
Tôi ôm chú mèo lên, nó khoanh tròn trong tay tôi kêu meo meo, gương mặt nhỏ nhắn
với đôi mắt to nhìn tôi e ngại, có phải chăng nằm trong tay tôi ấm áp hơn là bức
tường? Trung Đan nhìn chú mèo dò xét một lúc rồi nói: - Ối trời ơi! Chú mèo sao
giống em quá. - Nói bậy không à! - Thật mà, nhất là đôi mắt. Tôi nghiêng đầu ngắm
nghía, chú mèo cũng ngẩng đầu nhìn tôi. Trong khi tôi chau mày, hắn lại hỉnh hỉnh
chiếc mũi nhỏ. Trung Đan bật cười: - Em với chú mèo giống nhau thật mà, cả cử
chỉ cũng thế. - Hừ! Tôi đặt chú mèo xuống đất, định bước đi. Bỗng chú mèo bò đến,
đầu cọ vào chân tôi, kêu nhỏ như cầu xin. Lúc ấy, tôi mới nhìn thấy cái chân tật
nguyền của hắn. Lòng chợt rung động, tôi thở dài:
- Lại một cuộc đời đáng thương, nếu không được ân cần chăm
sóc và nuôi nấng, nó không thể nào sống nổi! Thế là tôi cúi xuống bồng chú mèo
lên, nói với Trung Đan: - Anh nghĩ em có thể nuôi chú mèo này được hay không? -
Sao lại không. - Em sợ giáo sư La Nghị nói em lộn xộn. Hình như tất cả những
người trong gia đình họ La đều không thích thú vật. Nhưng em sẽ cố chăm sóc nó
và không để làm phiền mọi người. Tôi vuốt đầu mèo con. - Chú mèo con tật nguyền
tội nghiệp quá! Từ nhỏ em đã thích chăm sóc cho những loài vật xấu số như thế
này rồi anh ạ! - Mang nó về đi, rồi anh sẽ giúp em nuôi. Nhìn xem hình như nó
đói lắm rồi! Thật vậy, chiếc bụng chú mèo xe.p lép, đôi mắt to đang xoe tròn
nhìn tôi, chiếc lưỡi nhỏ liếm quanh bàn tay. Tôi háo hức muốn tìm ngay thức ăn
cho nó thế là chúng tôi kêu ngay chiếc xích lô chạy nhanh về nhà. Bước vào
phòng khách quang cảnh chung quanh làm tôi ngạc nhiên, vì chiếc phòng vắng lạnh
hằng ngày nay bỗng đầy đủ cả mọi người. Điều ngạc nhiên hơn nữa là bà Nghị, hồi
nào tới giờ chưa hề bước xuống thang lầu, thế mà hôm nay đang ngồi ở salon với
chiếc áo cánh trắng, nước da trắng xanh, trông đẹp làm sao! Khởi Khởi ngồi trước
chiếc đàn piano đang dạo “Khúc nhạc ngày xuân” của Mozart. Hạo Hạo đứng tựa
lưng lên cửa sổ lơ đãng. Giáo sư La Nghị ngồi yên trong ghế lắng tai nghe tiếng
đàn của Khởi Khởi. - Ủa? Hôm nay ngày gì thế này? Trung Đan giật mình. - Anh
không biết thật à? Hạo Hạo đốt điếu thuốc, hít một hơi thật dài - Hôm nay là
ngày sinh nhật thứ mười tám của Khởi Khởi. Trung Đan hơi ngại ngùng: - Thế mà
tôi quên mất. Khúc nhạc vừa dứt, Khởi Khởi đậy nắp đàn lại, xong quay qua, đôi
mắt đẹp của nàng lấp lánh nhìn chúng tôi với một vẻ lạnh lùng không cảm giác.
Nhìn Trung Đan, Khởi Khởi lãnh đạm: - Chỉ có mẹ là còn nhớ ngày sinh nhật của
tôi, vì đó là ngày đau đớn nhất của người. Còn đối với người khác thì sinh nhật
của tôi nào có nghĩa gì đâu? Có khi còn coi đó là một ngày đáng phiền nữa là
khác. Trung Đan vồn vã: - Sinh nhật là ngày chào đời của một mạng sống, theo
tôi thì sự ra đời của một sinh mệnh là điều đáng vui, vì thế gian này chỉ tồn tại
khi có sự hiện diện của sự sống, nếu không sẽ không có cuộc đời này. Khởi Khởi
có nhận thấy như vậy không? Hàng mi dài của nàng khẽ rung động, đôi mắt đen
nhánh chăm chú nhìn Trung Đan, nàng chậm rãi: - Lời anh nói như lời của các nhà
truyền giáo. Hẳn nhiên đối với thế giới này, không có sự sống thì chỉ là một quả
thạch cầu to mà thôi, nhưng nếu bàn về cuộc sống riêng rẽ, thì dù có hay không
có cũng không khác chi mấy. Vì đúng ra trước khi thượng đế tạo ra con người,
nên tìm hiểu trước xem họ có chán sống không? Vì cuộc sống đôi lúc chỉ là một
gánh nợ chớ không vui sướng gì! Anh có thấy như vậy chăng? - Cô cũng có lý.
Trung Đan gật đầu - Nhưng mà theo tôi, nếu đã có cuộc sống rồi nghĩa là đã có sự
hiện diện của thể xác chính mình trên đời này thì mình phải biết yêu quí sự sống,
phải biết tìm thú vui trong cuộc đời ô trọc này. Con người còn sống là còn
trách nhiệm với thân xác. Cuộc đời chẳng qua như ngọn đèn sáp, đốt một phút,
cháy một phút, đốt một ngày cháy sáng một ngày, mãi đến khi sáp đã tan, đèn tan
hết thì ánh sáng mới tắt...
Hạo Hạo chịu không nổi, hắn chặn ngang lời Trung Đan: - Thôi
được rồi, đem tất cả cuộc sống của anh, đèn sáp, trách nhiệm.. dẹp hết đi. Giờ
này đâu phải giờ học mà thầy giáo cứ lải nhải mãi những lý luận đó, hãy để đó đợi
đúng lúc sẽ bàn sau. Rồi đi ngang tôi hắn nhìn dò xét:
- Ức My, cô ôm cái gì đó? - Một sinh mạng! Tôi cười đáp, đoạn
đem chú mèo đặt trên ghế salon. Chú mèo con đưa mắt thăm dò hoàn cảnh cuộc sống
mới. - Vì nghĩ là kẻ đã sáng tạo ra nó đã phủi trách nhiệm, nên tôi mang nó về
đây. - Ức My, cho phép tôi nói một câu. Hạo Hạo nói - Sao cô ưa gánh hộ việc
người quá vậy. Cô tưởng là cha tôi cho phép cô thu nhận kẻ bá vơ như vậy sao?
Tôi nhìn giáo sư, ông hơi nhíu mày có vẻ không vui. Mắt ông nhìn tôi đăm đăm,
tôi nghĩ có lẽ ông không hài lòng cho lắm về việc tôi mang về một mạng sống nhỏ
bé. Tôi vuốt nhẹ trên lưng mèo, đưa mắt van xin nhìn giáo sư La Nghị:
- Xin giáo sư cho phép tôi được nuôi nó. Tôi sẽ không để cho
nó quấy rầy ai cả. Tôi nghĩ rằng giáo sư thu nhận một kẻ không nhà, không cửa
như tôi thì có lẽ ngài cũng không phản đối việc tôi thu nhận một con mèo bơ vơ
như thế này, phải không? Giáo sư nhìn tôi một lúc, nói ngắn ngủn: - Liệng nó
đi, nhà này không nuôi thú vật! - Thưa giáo sư, con mèo con này có gì phiền
đâu, nếu liệng đi, nó sẽ chết. Xin giáo sư hãy để tôi nuôi nó, vì nhất là nó
tàn tật làm sao nó có thể sống được? Liệng nó đi tội nó. Hàm râu của giáo sư
rung động, đôi mắt ông như dịu hẳn, ông đưa tay sờ mũi, rồi lẩm bẩm câu gì
trong miệng, hình như tư tưởng ông đang xung đột dữ dội. Một lúc, ông nghiêm sắc
mặt lại, rồi hét: - Tôi nói đem liệng nó ngay nghe không? Tôi bị tiếng hét làm
giựt mình, cúi xuống nhìn chú mèo con lòng tôi thật đau xót, có lẽ con vật đã
biết được vận mạng của mình, hắn nhìn tôi tròn xoe mắt, rồi kêu meo meo thật
não nuột. Tôi ngẩng đầu lên nhìn thẳng giáo sư, cố gắng một lần chót: - Thưa
giáo sư, tại sao giáo sư lại từ chối làm một việc thiện? Nuôi một có mèo có mất
mát gì đâu? Ngoài ra tôi xin cam đoan với giáo sư tôi sẽ cố gắng hết sức không
để phiền lòng giáo sư. Cắn môi, tôi nói - Tôi biết giáo sư có một trái tim hiền
lành và dễ xúc động, thế tại sao người mãi dùng cái bề ngoài tàn ác kia che đậy
nó. Tại sao? Tôi không tin rằng giáo sư tàn nhẫn và vô tâm như thế. Giáo sư đứng
chồm lên, suýt chút làm vỡ bình trà trước mặt, mắt trừng trừng mở lớn, như muốn
rơi ra khỏi đám cỏ rối, miệng ông lẩm bẩm hay tay nắm chặt, như sẵn sàng đập
cho tôi một trận...Nhưng rồi, nắm tay buông thõng, mắt chớp nhẹ, ông nói: - Em
có “nghĩa vụ” phải nuôi nó chăng? - Không có nghĩa vụ mà chỉ vì vui thích. -
Vui thích? Giáo sư La Nghị trừng mắt nhìn tôi - Em đã dùng hai chữ gì kỳ cục thế?
- Vâng, tôi thật tình ưa thích, vì khi còn bé tôi đã thích nuôi loài vật rồi,
nhất là với loại tàn tật, ốm yếu, không nơi cư ngụ. Lúc còn ở Cao Hùng, trước
ngày mẹ bệnh, tôi có nuôi ba con chó, hai con mèo và năm chú thỏ. Tôi thích
nuôi những con vật ốm yếu để nhìn thấy một ngày nó trở nên khỏe mạnh, làm như
thế tôi cảm thấy mình là kẻ quan trọng là kẻ giúp đời. Nhìn sự trưởng thành của
nó ta sẽ thấy vui sướng biết chừng nào. Có một lần...
Tôi ngưng lại vì cảm thấy mình nói quá nhiều, nhưng giáo sư
La Nghị lại chăm chú nhìn tôi: - Nói tiếp đi! - Có một lần, nhà bạn tôi có nuôi
một con khỉ, chú khỉ ấy bị bệnh sắp chết, bạn tôi muốn quăng nó đi, tôi đã xin
về nhà, dùng thuốc giải nhiệt, giải cảm cho uống. Lẽ dĩ nhiên là nó khỏi hẳn,
nhìn nó càng ngày càng khỏe mạnh, tôi sung sướng lắm. Thế mà một hôm nó lại cắn
tôi một phát, tôi phải vào bệnh viện chích hết bốn mũi thuốc. Tôi buồn lắm vì
không ngờ con vật được mình cứu sống lại có thể hại mình như vậy. Mẹ tôi bảo - Ức
My, đây là bài học đầu tiên cho con, con hãy nhớ rằng cuộc đời này đôi lúc
không thể nói chuyện tình nghĩa, kẻ hại con có khi lại là người con tin yêu nhất,
vì thế con đừng quá tin ai, kể cả chị em, bạn bè thân thuộc, chỉ có thể tin ở
chính mình vì đó là người đáng tin cậy nhất. Con cũng đừng quá dễ dãi thương
yêu ai để tránh khỏi phải khóc hận sau này. Việc đó đã ghi sâu vào tâm não tôi,
cũng từ hôm đó tôi không còn nuôi một con vật nào nữa cả. Nhưng bây giờ chú mèo
này lại khiến tôi động lòng. Tôi mỉm cười, vỗ nhẹ đầu chú mèo. - Tôi tin rằng,
nó sẽ không bao giờ cắn hay cào tôi. Giáo sư! Giáo sư có đồng ý cho tôi thí
nghiệm một lần nữa không? Hãy để cho tôi nuôi nấng con vật khốn nạn này, nếu
không nó sẽ phải chết ở đầu đường xó chợ. Ngài có thể nhẫn tâm nhìn nó chết như
vậy không? Giáo sư La Nghị không nói một lời gương mặt đăm đăm kỳ bí, tia mắt
như muốn đi sâu vào trong mắt tôi. Lối nhìn của ông khiến tôi cảm thấy ngại
ngùng, chỉ vì một chú mèo con mà có thể gây nên hoàn cảnh khẩn trương như vậy
hay sao? Hạo Hạo bước đến cạnh salon, ôm chú mèo lên ngắm nghía, cười lớn: - Ô
hô! Đúng là chú mèo sợ chuột gương mẫu. Được rồi! Ức My nuôi nó đi, tôi sẽ giúp
cô, đây là của chung của hai người nhé, chịu không? Nói vậy chứ chú mèo này xem
ra cũng lanh lợi lắm có lẽ bắt chuột được. Bạn tôi cũng có nuôi một con mèo, hết
ăn tới ngủ, mập đi không muốn nổi, đến nỗi các chú chuột chạy quanh mình mà chú
vẫn cứ ngủ tỉnh bơ, cho đến một hôm lũ chuột kéo nhau đến vặt sạch cả râu mép
mà vẫn không hay! Tôi cười to lên dù biết rằng chuyện của hắn là chuyện xạo, những
vẫn không nín được. Trong phòng ngoài tôi không một ai cười hết, không thí thật
nặng nề. Mọi người yên lặng suy nghĩ làm nụ cười nham nhở của tôi bị cụt hứng.
Nhìn ông Nghị, rồi bà Nghị tôi không hiểu gì cả, thắc mắc: - Làm sao vậy? Bà
Nghị đứng dậy, gương mặt trắng bệch ra hơn, đôi mắt đen ưu sầu nhìn tôi, đoạn
quay đi như một xác chết, bà thẫn thờ bước khỏi phòng đi về phiá phòng ăn. Giáo
sư La Nghị bước theo đỡ vợ, nhưng khi bước đến cửa ông lại quay sang nhìn tôi,
lần này với ánh mắt trang nghiêm nhưng không kém phần đau khổ. Kế đến là Khởi
Khởi cũng đứng dậy, lạnh lùng nhìn tôi và Trung Đan một lúc, ho khan một tiếng
rồi bước ra khỏi phòng. Trung Đan quay nhìn tôi, từ mặt đến tay, tôi theo tia mắt
ngó xuống mới thấy mình đang đặt tay trên đầu chú mèo, còn chú mèo thì đang nghẻo
cổ nằm trong lòng Hạo Hạo. Do đó dù muốn dù không tôi cũng đang đứng cạnh Hạo Hạo,
đầu tôi gần như muốn tựa vào vai hắn, Trung Đan hậm hực: - Thế các người định
“nuôi chung” chú mèo đó ư? Hạo Hạo đáp nhanh: - Đúng vậy, tôi đã nghĩ ngay cho
nó một cái tên. - Tên gì? - Tiểu Ba ( Sóng nhỏ). - Tiểu Ba ư? Theo điển cố nào
mà đặt như thế? Hạo Hạo ậm ự:
- Vì tôi thấy hình như có một cơn bão vô hình đang xảy ra
quanh chú mèo, nhưng mong rằng với trí thông minh của tôi, tôi có thể giúp nó
giải quyết. Trung Đan tư lự nhìn Hạo Hạo, Hạo Hạo cũng nghinh lại, Hạo Hạo hỏi:
- Sao, đánh cờ không? - Mạt chược nhé? - Được. Hạo Hạo đưa chú mèo cho tôi, rồi
theo Trung Đan ra khỏi phòng. Trong một thoáng, phòng khách rộng thênh thang chỉ
còn lại mình tôi. Lặng người giữa bao nhiêu chuyện lạ lùng, cho mãi đến lúc chú
mèo kêu meo meo tôi mới chợt tỉnh. Cầm chú mèo trên tay, tôi hỏi: - Chuyện gì
thế hở Tiểu Ba?
Chương 9
Trong rừng cây, Thố Ty Hoa đã nở. Những đóa hoa trắng trên
thân dây xanh nhạt, nhẹ rung theo từng cơn gió mùa hè. Tôi ngồi trên bãi cỏ,
vòng tay ôm gối nhìn theo những dây leo yếu ớt đầy hoa với vẻ to lớn cành lá
xum xuê của cây tòng mà tội nghiệp. Nhìn chúng quấn quýt nhau, bỗng nhiền tôi
chợt có một so sánh lạ lùng chống tay lên cằm lẩm bẩm: - Tạo hóa đã vì cây tòng
mà tạo ra Thố Ty Hoa hay vì Thố Ty Hoa mà tạo ra cây tòng? - Tôi nghĩ là tòng
được tạo ra cho Thố Ty Hoa. Có tiếng người trả lời ngay câu hỏi của tôi. Ngẩng
đầu nhìn lên, Trung Đan đang đứng trước mặt nhìn tôi cười: - Vì cây tòng tách
ra khỏi Thố Ty Hoa vẫn có thể sống được, nhưng Thố Ty Hoa không thể sống xa được
tòng, em hãy đến nhìn kỹ sẽ rõ, Thố Thy Hoa không có rễ, nhánh nó bám sâu vào
thân cây tòng để sống. Tôi chồm người về trước nhìn, thật không sai. Trung Đan
ngồi đối diện, nhìn tôi: - Tòng và Thố Ty Hoa sống tựa nhau thế này có gợi cho
em một hình ảnh nào không? Em thử nhìn kỹ Thố Ty Hoa có giống ai không? Tôi
nhìn một lúc ngẩn ngơ:
Thì nó giống Thố Ty Hoa chứ gì! Trung Đan cười, chàng cầm bút
lên phát họa vào mặt sau quyển sách và cho tôi xem một cây tòng chằng chịt lá,
trên thân cây có một gương mặt màu sậm, mắt to ẩn bên trong lớp lá vây quanh,
ngoài ra còn có một thân dây leo ốm yếu, trên đấy có những đóa hoa nhỏ quấn
quanh thân tòng, trên một đóa hoa có gương mặt một người đàn bà. Tôi ngẩng đầu
lên, ngạc nhiên và cảm động: - Có phải anh vẽ giáo sư La Nghị và vợ ông ta hay
không? - Đúng, có giống không? - Óc tưởng tượng của anh thật phong phú. Trung
Đan đưa tay sờ chuỗi hoa: - Đúng là một đóa Thố Ty Hoa, anh muốn nói bà Nghị đấy.
Em thử nghĩ xem, không nương cậy vào giáo sư, liệu bà có sống nổi hay không, vì
bà ấy đã mọc rễ trên mình giáo sư La Nghị rồi. Nhìn hình ảnh của Thố Ty Hoa với
Tòng nương tựa nhau mà sống, ai lại không cảm động. Nhìn vợ chồng giáo sư La
Nghị mình cũng có cùng một cảm giác. Đời sống thật lạ lùng, như điều em vừa
nói, tạo hóa đã vì cây Tòng mà tạo ra Thố Ty Hoa, hay vì Thố Ty Hoa mà tạo ra
Tòng? Thượng đế đã vì giáo sư La Nghị mà tạo ra bà Nghị hay ngược lại? Cả hai
quấn quýt không rời nhau như hai loại cây này. Rất nhiều lúc anh lạ lùng về sự
kết hợp của cặp vợ chồng này. Tôi chậm rãi ngâm hai câu thơ của Lý Bạch: Khinh
điều bất tự dẫn. Vi trục xuân phong hạc. Tạm dịch: Thân gầy không tự đến. Chỉ tại
gió xuân sang. - Đúng vậy, thân cây yếu đuối kia không thể đưa sang, mà chỉ tại
gió xuân đưa lối dẫn đường. Nhưng ai là cơn gió mùa xuân đưa đường dẫn lối đó!
- Theo anh thì ông bà Nghị có một chuyện tình éo le lắm sao? - Đúng! Trung Đan
tư lự một lúc - Anh thấy chuyện gia đình nhà họ La này không giản dị lắm, kể cả...
Bỗng nhiên chàng ngừng lại, chỉ ra phiá trước. - Gia Gia đến
rồi kìa! Có lẽ bà ta thích em lắm đấy, Ức My. Trên thân thể em hình như có một
sức thu hút đặc biệt, em đã thu hút tất cả mọi người kể cả một bà khùng như Gia
Gia. Thật vậy, Gia Gia đã đến gần chúng tôi, trên tay bà là bó hoa màu vàng mà
chúng tôi cho là Thố Ty Hoa. Nụ cười khờ khạo trên môi, như một tín đồ tôn sùng
một thần tượng, Gia Gia đến trước tôi và trao cho tôi bó hoa. Nhận hoa với một
chút xúc động, tôi vỗ nhẹ lên bãi cỏ nói: - Ngồi chơi nhé, Gia Gia. Bà ngồi xuống,
tia mắt khờ khạo vẫn đăm đăm nhìn tôi. Thái độ này tôi đã quen thuộc nên không
còn ngạc nhiên nữa. Trong lúc này Trung Đan vẫn chăm chú nhìn Gia Gia. Chúng
tôi cứ thế yên lặng. Bỗng nhiên Gia Gia cất tiếng hát: “Chẳng phải là sương, chẳng
phải hoa, Nửa khuya em đến, sáng em về, Đến như giấc mộng xuân không đợi, Đi tựa
mây trời không định nơi.“ Tiếng hát bất thần, khiến tôi ngẩn người ra một lúc,
quay sang thì bắt gặp ánh mắt trìu mến của bà đang nhìn tôi và nói: - Cô ơi! Em
biết hát rồi! - Vâng, Gia Gia hát hay lắm! Bà ta đắc chí cười hớn hở. Trung Đan
hỏi - Ai dạy Gia Gia hát thế? Bà ngẩng đầu lên một cách ngờ nghệch như không hiểu
Trung Đan hỏi gì, vì bà đã trả lời một câu không đầu, không đuôi: - Hoa nở rồi.
Trung Đan thở dài, nắm nhẹ áo tôi:
- Thôi đi em, sắp tới giờ học rồi. Tôi đứng dậy phủi sạch lá
vụn trên người, vẫy tay chào Gia Gia. Trung Đan như thắc mắc một điều gì, chàng
lẳng lặng đi bên tôi không nói không rằng. Lên lầu, bước vào phòng, tôi hỏi: -
Anh đang nghĩ gì đấy? - Nghĩ về em! - Về em! - Ờ, chàng nắm hai tay tôi, nhìn
tôi chăm chăm - Anh muốn tìm xem điểm nào trên người đã thu hút người khác. Lần
đầu tiên khi vừa trông thấy em, anh đã có một cảm giác là lạ như đã quen em từ
thuở nào, gương mặt em sao quen thuộc quá! Tôi cười, cầm nhánh hoa vàng cắm vào
bình: - Anh đã lầm vì anh chưa hề thấy em bao giờ. Cách đây 3 tháng em chưa hề
đặt chân lên Đài Bắc, không thể có chuyện nhìn thấy trên xe bus nữa là quen. -
Thế em tin có giác quan thứ sáu không? - Tin chút chút! - Thế thì có lẽ là do
giác quan thứ sáu anh đã nhìn thấy em trong mộng. Trung Đan vòng tay ôm ngang
lưng tôi chàng hôn lên vành tai. - Ức My! Có lẽ ông trời đã vì anh mà tạo ra em
cũng như vì em mà tạo ra anh, vì vậy vừa gặp nhau ta đã biết nhau. Tôi thấy hơi
ngại ngùng, vì nói thật, lần đầu tiên gặp chàng tôi không hề có cái cảm giác
quen biết như chàng nói. Nếu nó là giác quan thứ sáu, thì tại sao chỉ có chàng
có mà tôi lại không? Trong lúc đang nghĩ mông lung bỗng “Meo! Meo!“ Chú mèo con
từ đâu nhảy rơi trên kệ sách, tôi ôm nó lên vuốt ve, rồi ngồi xuống ghế. Tất cả
mọi việc từ cơ duyên gặp gỡ đến ân oán nhân quả, đều như có số cả. Vì thế có
nhiều chuyện không thể giải thích được như ma quỷ, thần linh, linh hồn...Do đó
tôi tin có định mệnh, cũng như tin rằng có một sức mạnh huyền bí đang chi phốt
tất cả mọi việc ở đời. Lấy Tiểu Ba làm ví dụ nếu không gặp tôi, có lẽ nó đã phải
chết ở đầu đường xó chợ. Ngoài ra nếu hôm ấy chúng tôi không đi xem chiếu bóng
hay là sau khi tan hát xong lại ngồi xích lô về thẳng nhà, thì làm sao lại gặp
nó. Nâng chú mèo lên, tì mặt vào chiếc thân bé bỏng đầy lông mịn, tôi nói: -
Đây là một sinh vật may mắn! Trung Đan nhìn tôi cười, đưa tay sang vuốt lấy
thân chú mèo, rồi nâng cằm tôi lên, chàng nhìn tận vào mắt:
- Ức My, em là người giàu tình cảm. Rồi chàng lắc đầu - Anh
không hiểu sao anh yêu em nhiệt tình như vậy, bất cứ việc làm, lời nói, tiếng
cười của em, đều như cuốn hút từng lỗ chân lông trên người anh. Đôi mắt chàng
mơ màng nhìn tôi, chúng tôi cứ thế nhìn nhau không biết thời gian lạnh lùng
trôi qua. Một lúc, chàng giựt mình. - Này Ức My, mở vở ra học chứ! Tôi ôm chú
mèo trong tay, lười biếng lật sách, mắt vẫn nhìn chàng. Trung Đan liếm mép, bắt
đầu: - Em nói cho anh biết Đại Hội Quốc Dân Đảng lần thứ nhất đã khai mạc nơi
đâu? Lúc nào? Tôi chỉ đưa mắt nhìn chàng. - Tôi hỏi em cái gì, em có nghe
không? Ức My? - Hả? - Tôi hỏi em Đại Hội Quốc Dân Đảng lần thứ nhất mở ra năm
nào? - Suỵt! Đừng nói lớn, Tiểu Ba đã ngủ rồi, anh lắng nghe xem tiếng thở nhè
nhẹ của hắn như muốn nói chuyện gì đấy! Trung Đan nhìn tôi một lúc, bỗng đứng
lên đi đến gần tôi, không nói một tiếng chàng xách chú mèo lên đặt xuống đất, vỗ
nhẹ và đẩy nó vào gầm giường, đoạn quay lại, nghiêm nghị nhìn tôi: - Bây giờ,
em có thể trả lời câu hỏi tôi được chưa? Tôi miễn cưỡng: - Trung Đan, sao anh
nghiêm khắc quá vậy. Chàng đẩy quyển sách qua một bên, nắm lấy tay tôi, trầm giọng
bảo: - Ức My, có lẽ em cũng biết rằng không thể ở nhờ nhà người mãi được phải
không? Vì vậy việc thi vào Đại Học với người khác thì không quan trọng, nhưng với
em thì ngược lại, em phải thành công chớ không thể thất bại. Tiếng nói của
chàng thành khẩn lo lắng, khiến tôi cảm động. Cúi đầu tự hổ thẹn, xác mẹ chết
chưa lạnh, ơn của giáo sư La Nghị lại như núi thì tôi không có quyền thi rớt!
Ngước nhìn lên, lệ đọng quanh mi. Trung Đan xiết chặt tay tôi, chàng dùng lời lẽ
thật ôn hòa: - Ức My, cho anh xin lỗi. Tôi gạt vội nước mắt nhìn chàng cười: -
Không, anh không có lỗi chi cả. Rồi tôi quay sang chuyện khác: - Lúc nãy anh hỏi
em việc gì thế? Ờ có phải Đại Hội Quốc Dân Đảng lần thứ nhất không? Ngẫm nghĩ một
lúc tôi đáp - Có phải triệu tập vào năm Dân Quốc thứ mười ba tại tỉnh Quảng
Châu không anh? Trung Đan nhìn tôi rồi khép mắt lại, cười tươi và thở hắt ra: -
Ức My, em thật tuyệt vời! o0o Một buổi trưa, mọi người đều ngủ yên, tôi mở cửa,
lắng tai nghe ngóng, hành lang trống vắng không một bóng người, quay về phòng mở
ngăn tủ lấy đồi giầy trượt băng mà hôm trước tôi vừa lén mua ngoài phố. Nhè nhẹ
bước xuống lầu, ra chiếc sân ciment ngoài phòng ăn. Ngồi xuống bực thềm, mang
giầy vào chân tôi tự hứa - phải học cho biết cách trượt trước, sao cho hay cho
đẹp để Hạo Hạo ngán chơi. Đã quyết tâm, tôi cẩn thận đứng lên, nhưng bánh xe bỗng
trượt đi làm tôi ngã xuống, rồi tôi đứng lên tập lại. Mặt trời buổi trưa như
thiêu như đốt, nhưng tôi bất cần. Té xuống rồi đứng lên, may nhờ không ai trông
thấy và tôi cũng không thấy ngượng nên một lúc sau, tôi đã đi vững được một đoạn
đường. Bất cứ một trò chơi nào cũng thế, lúc bắt đầu học chính là lúc quan hệ
nhất, càng tập tôi càng thích thú, quên đi thời gian và cả mặt trời đổ lửa đã
làm ướt đẫm lưng áo. Chiếc quần dài tôi dành riêng cho việc tập trượt băng đã lấm
đầy bụi. Tay tôi sưng phù do những lần chống xuống đất. Tuy thế tôi vẫn vui
quên cả đau. Việc trượt té không phải là vô ích, vì lần lần tôi đã khám phá ra
bí quyết vận dụng chiếc bánh xe và đôi chân. Trong lúc quá vui sướng, tôi bất
thần hát to lên bài hát mà mẹ đã dạy khi tôi còn nhỏ: - Bay bay lên đi, bay như
thế này này, Khi lên cao con nhớ vươn đầu ra trước, vảnh đuôi cong lên..... Có
lẽ vì chiếc đuôi tôi đặt không đúng cách, nên khi trượt chân một cái, chiếc bàn
tọa nện ngay xuống đất đau điếng, chưa dứt cơn đau thì đã thấy một chiếc bóng đổ
dài trước mặt. Hạo Hạo đang nghểnh đầu nhìn tôi cười: - Ức My, cô đừng nên tập
bay vì dưới chân cô có bánh xe, và cô thì không có cánh, vì vậy nếu cô muốn bay
thì bay đâu chẳng thấy mà chỉ thấy đo đất mà thôi! Tôi trợn mắt nhìn hắn: - Nãy
giờ anh nhìn trộm tôi bao lâu rồi! - Bắt đầu từ lúc cô giống như kẻ trộm, len
lén xách đôi giày trượt băng chạy xuống lầu. Ối trời ơi, thì ra hắn đã thấy tất
cả rồi, từ việc té lên té xuống đến việc lẩn thẩn cả. Tôi ngượng ngùng nói: -
Thế tại sao lúc thấy tôi té, anh không đến đỡ lên mà còn đứng cười, thất đức
quá. Hắn cười lớn: - Thất đức! Ờ, cô cũng biết là tôi có bao giờ có đức hậu đâu
mà sợ thất hay không. Rồi hắn lại tiếp - Tôi đã nói rồi cô đừng mơ ước được
“bay” thì có lẽ cô sẽ trượt rất khá! Tôi cắn lấy môi, liếc nhìn hắn, lời hắn
nói cũng có lý. Hạo Hạo đưa tay cho tôi nắm lấy và kéo tôi đứng dậy. Hắn dẫn
tôi đi như dẫn một kẻ mù, miệng luôn mồm chỉ bảo: - Dùng tay mặt - Bây giờ đổi
chân trái - Rồi đổi chân mặt - Đổi chân, vận dụng bánh xe dướt gót, quay người
đi - Đúng rồi! Không sai! Tôi buông tay nhé! Hắn buông tay ra, tôi vững vàng
quay đi được một vòng. Hạo Hạo đón tôi lại và dẫn tôi về phiá ngạch cửa cho tôi
ngồi xuống. Hắn lấy chiếc khăn tay ra đặt lên gối tôi, bảo: - Chùi sạch mồ hôi
đi, hôm nay tập bấy nhiêu đủ rồi, từ rày cô nên lựa lúc chiều mát hãy tập, chớ
tập trong lúc trời nóng như thế này dễ cảm lắm đấy. Tôi cầm chiếc khăn tay của
hắn lên chùi lấy mặt. Chiếc khăn ướt và đen bẩn khiến tôi phải đỏ mặt. Hắn có vẻ
vui sướng lắm ngồi xuống cạnh tôi, tay ôm đầu, vừa mỉm cười vừa nhìn tôi. - Cô Ức
My, tôi đố cô chứ cô có biết cô đã mang đến cho nhà họ La này cái gì không? Tôi
không hiểu hắn muốn nói gì, hỏi: - Mang đến cái gì đâu? - Cô đã mang đến sự sống!
Hắn đáp. - Sự sống à? Tôi ngạc nhiên. - Vâng đúng thế, vì trước khi cô đến, nhà
họ La này chỉ là ngôi nhà chết, và khi cô đến, nó mới bắt đầu tỉnh dậy! Nụ cười
của hắn biến dần, hắn chăm chú nhìn tôi. - Cô không nhận thấy là lúc gần đây thời
gian ở nhà của tôi càng lúc càng nhiều hay sao? Tôi ngẫm nghĩ, đúng vậy. Nhưng
đôi mắt như tóe lửa của hắn khiến tôi cảm thấy bất an. Hạo Hạo nhướng mắt nói:
- Cô sợ tôi lắm sao, Ức My? Tôi chu miệng: - Tôi không sợ cái gì cả. - Nhưng
tôi biết cô sợ một thứ, đó là quỷ! Tôi cười to lên và sực nghĩ đến buổi tối bị
bà Nghị nhát. Tại sao người ta thích những chuyện bực mình như vậy. Hạo Hạo vẫn
ngẩng đầu nhìn tôi, hắn nói: - Lúc nãy tôi có nghe cô hát một bài ca rất quen
thuộc, rất gần gũi mà tôi ưa thích. Cô có thể hát lại cho tôi nghe được chăng?
Tôi bắt đầu hát, hát xong một đoạn tôi giải thích: - Bài ca này rất dài, là một
vở kịch dành riêng cho trẻ con. Phiá trước là chim mẹ đang dạy chim con bay, dặn
dò những điều cần thiết mà chim con phải chú ý đến. Hạo Hạo nhìn tôi như ra lệnh:
- Hát tiếp đi! Tôi ca tiếp: - Con đừng hối hả, đừng hoảng hốt, Hãy bay lên đi,
nhưng phải đề phòng, Chú ó, lão diều xấu xa, đáng sợ, Còn ông chim ục, còn rắn
hổ mang...
Mắt Hạo Hạo chợt sáng lên, vẻ sung sướng của hắn làm tôi đỏ mặt,
hắn ca tiếp: - Những kẻ ấy đều có thể chui vào phòng, Những kẻ ấy đều có thể
leo qua tường, Lúc nào con cũng nên ghi nhớ nằm lòng...
Tôi ngạc nhiên: - A, anh cũng biết hát nữa à? Hắn nhíu mày
nghĩ ngợi: - Hình như tôi đã biết hát bản này trong giấc mộng, có lẽ thế. Vì
cho tới bây giờ, tôi chẳng hề nghe một ai hát cả. Tôi nói: - Nhất định là anh
đã nghe ai hát rồi, vì đây không phải là bài ca ít người biết, mấy năm trước bản
này được phổ biến rộng rãi lắm. - Thế cách đây khoảng bao lâu? - Có lẽ hai, ba
chục năm rồi. Hắn trừng mắt nhìn tôi:
- Thế ai dạy cô hát bài này. - Mẹ tôi. Một khoảnh khắc im lặng
trống rỗng, đôi chân mày của hắn nhíu lại suy nghĩ rồi trở lại bình thường. Rồi
hắn vui vẻ cười nói: - Tôi đã tìm được giải đáp rồi. Cô nghĩ xem phải không, mẹ
cô và mẹ tôi hai người thương nhau như chị em ruột, thân thích nhau như thế thì
lúc tôi được ba hay bốn tuổi gì đó, chắc mẹ cô đã dạy tôi hát nên bản nhạc đối
với tôi mới quen thuộc như thế. Tôi nghi ngờ: - Nghe từ lúc ba, bốn tuổi làm
sao có thể nhớ được cho đến bây giờ. - Tôi nghĩ là có thể được, ít nhất nó cũng
có một ấn tượng trong tiềm thức. Tôi bỗng nghĩ đến lần tôi và Trung Đan bàn về
trí nhớ trong tiềm thức rồi liên tưởng đến tiềm thức của Gia Gia. Gạt bỏ những
việc trên qua một bên, tôi cúi xuống tháo chiếc giày trượt băng để qua một bên,
khi vừa tháo xong một chiếc thì tay tôi bị một bàn tay khác chụp lấy, ngẩng đầu
lên mặt tôi chạm phải đôi mắt nóng bỏng của Hạo Hạo dán chặt vào mặt tôi. Hắn
nhỏ nhẹ bảo: - Cô Ức My, cô có còn nhớ cái lý luận về phiếm Ái của tôi đã nói với
cô hay không? Tôi khẽ gật đầu. Hắn nói tiếp, đôi mắt không rời tôi: - Tôi có
cái nhìn khác biệt về đàn bà. Với tôi mỗi người đàn bà đều có những nét đáng
yêu riêng, nhưng bây giờ. Đôi mắt hắn nhìn tôi thăm dò. - Gần đây tôi thấy lý
luận của mình không vững nữa, vì mỗi người con gái có thể có một vài điểm phù hợp
với cái nhìn của mình, nhưng khi có sự xuất hiện của một người hội đủ tất cả những
điều tôi mong ước, thì những người đàn bà khác bị lu mờ ngay. Đôi mắt hắn từ chỗ
nóng bỏng biến dần qua chỗ đắm đuối. - Ức My! Cô có hiểu tôi nói gì không? Tôi
chầm chậm lắc đầu, băn khoăn:
- Tôi không hiểu gì cả! - Thế thì để tôi bảo cho cô biết. Hắn
vừa nói vừa kéo mạnh tôi, mặt đối mặt. Tôi có thể nhìn thấy hình mình trong
lòng tử đen nháy đầy vẻ hoảng hốt, băn khoăn, mê loạn. Hắn nói như thì thầm. -
Trung Đan có chỗ nào đáng yêu đâu Ức My? Hắn chẳng qua chỉ là con mọt sách, đâu
xứng với em. - Không phải thế. Tôi nói, cổ họng như thật khan - Anh không hiểu
được anh ấy, vì anh ấy có tư tưởng, nghị lực và cả lý trí. - Thế tôi không có
tư tưởng, nghị lực và lý trí sao? Tôi cảm thấy thật rối rắm: - Anh hình như
cũng có chứ! - Hình như à? Thế cô giải thích xem tại sao? - Vì tư tưởng anh quá
rộng rãi, thái độ anh đối với mọi người chung quanh lại quá phóng túng, lúc nào
cũng thích châm chọc không cần biết điều ấy đúng hay sai. Anh lại không coi gì
quan trọng kể cả cuộc sống và tình cảm, không trách nhiệm trên cả phương diện học
hành lẫn chuyện tình yêu. - Tôi có nhiều khuyết điểm đến thế sao? Hạo Hạo chớp
mắt - Đó là hình ảnh của một La Hạo Hạo trong mắt em đấy à? - Vâng, nhưng có
đúng không chứ? - Cũng đúng phần nào, nhưng - Môi hắn kề sát mặt tôi - sau khi
thành hôn, cô không được phê bình tôi một cách cẩu thả như thế nhé, bây giờ thì
được, nhưng sau này tôi sẽ là người chồng cứng rắn và độc tài. Tôi hoảng hốt:
- Anh lầm rồi, tôi không hề có ý làm vợ anh. - Tôi không lầm.
Hắn lạnh lùng nói - nhất định cô phải là vợ tôi. - Không bao giờ! - Nhất định
phải như thế. Môi hắn mơn tóc bên tai tôi:
- Sao mặt em lại nóng bừng như vậy. Sao tim em lại đập nhanh
thế? Sao em lại hoảng hốt? Ai làm em xúc động? Em sung sướng? Em sợ hãi? Bên cạnh
Trung Đan có bao giờ em có những cảm giác như thế này không? Ức My, nói cho tôi
biết đi! Tôi chống trả:
- Anh làm tôi hoảng hốt, Trung Đan mang đến cho tôi sự bình
an. - Bình an? Hạo Hạo hểnh mũi, hắn nói - Tình yêu không phải là vấn đề bình
yên. Ức My, để tôi dạy em biết thế nào là tình yêu nhé! Hạo Hạo xiết chặt khiến
tôi ngộp thở, tim tôi đập nhanh, các mạch máu như muốn vỡ tung ra. Tâm thần tôi
mê loạn, tôi chỉ còn biết mở to mắt ra nhìn hắn. Bỗng nhiên thân thể hắn bị
tách rời ra, trước khi biết chuyện gì đã xảy ra tôi nghe tiếng đấm thật to.
Nhìn ra thân hình to lớn của giáo sư La Nghị đang đứng giữa tôi và Hạo Hạo, bên
cạnh đó là gương mặt tái mét của Trung Đan. Hạo Hạo bò dậy, đưa tay sờ cằm, đôi
mắt giận dữ của hắn đang ghìm giáo sư. Những biến động xảy ra làm tôi kinh ngạc,
hoảng hốt không nói được lời nào trong sự xuất hiện bất ngờ của giáo sư La Nghị
và Trung Đan, cùng việc giáo sư đánh Hạo Hạo thẳng tay. Bên dưới cằm hạo Hạo
xanh bầm, đủ thấy giáo sư La Nghị đã đánh thẳng tay như thế nào. Hai cha con đứng
đó nghinh nhau như đôi bò rừng đang chạm sừng trước khi giao đấu. Hạo Hạo lên
tiếng: - Hừ! Tại sao ba làm thế? Tiếng hét to của giáo sư La Nghị: - Tao đã từng
cảnh cáo mày, không cho mày quấy nhiễu Ức My! Hạo Hạo nghênh mặt lên, lạnh lùng
hỏi:
- Ba cho là con không xứng với Ức My hả? Cha tưởng con và Ức
My đóng kịch đấy à? Ba lầm rồi! Đúng ra ba phải sung sướng vì có người kềm chế
được con. Với Ức My, con không có ý qua đường. Ba hiểu không? Ba không muốn có
một đứa con dâu như Ức My hay sao? Giáo sư La Nghị lặng người không thốt lên một
lời nào. Tôi cũng yên lặng, đưa mắt qua bất chợt chạm phải tia mắt lạnh lùng của
Trung Đan. Đôi mắt không mang lấy một vẻ trách móc nào cả, nhưng đầy nét đau khổ,
chua xót, xa lạ Tôi muốn giải thích, nhưng tôi bị bấn loạn. - Đồ điên khùng! Tiếng
hét của giáo sư La Nghị khiến tôi giật mình, tiếp đó một loạt tiếng chửi bới
như sấm nổ vang. - Đồ hư thối! Mày sẽ chết! Sẽ xuống địa ngục, xuống mười tám tầng
địa ngục! Đồ súc vật! Mày muốn cưới đồ quỷ nào thì cưới tao không cần biết,
nhưng nếu mày đụng tới Ức My tao đập mày gảy cẳng, đồ thối tha! Thối tha! Chửi
xong, ông nhảy chồm qua trước mặt tôi, những tiếng chửi như tạt vào mặt tôi:
- Ức My, em là đồ ngu, ngu như bò! Em cũng đáng chết, đáng chết
lắm! Hãy mở mắt ra xem con thú này có chỗ nào đáng cho em để ý hở? Sống sao
không chịu an phận cứ gây rắc rối hoài vậy. Đồ ngu! Đồ hư thối! Cả một lũ hư thối!
- Hừ! Hạo Hạo lạnh lùng cắt đứt tiếng chửi rủa của giáo sư La Nghị - Thôi ba đừng
la lối um xùm nữa, bao nhiêu đó cũng đủ chứng tỏ điều con nghĩ là sự thật. Hắn
ngưng một lúc, đoạn chậm rãi nói:
- Ba đã tự lừa dối chính ba, có phải ba cũng yêu Ức My hay
không? Câu nói cuối cùng của Hạo Hạo như một quả bom nổ tung. Tất cả mọi người
đều sững sờ không ai mở miệng được nữa, kể cả kẻ vừa châm ngòi là Hạo Hạo. Một
thứ yên lặng khó chịu, tôi thấy giáo sư La Nghị nhảy tới trước, rồi Hạo Hạo lăn
tròn trên thềm. Mồm tôi há hốc. Tôi kinh hoàng trước diễn biến này. Hạo Hạo lồm
cồm ngồi dậy, trên mặt hắn lại thêm một vết bầm xanh, mắt hắn đỏ ngầu, hắn lườm
giáo sư đoạn xông đến hai tay nắm chặt, nghiến răng, thái độ như quyết sống chết
một phen. Tôi hoảng hốt la to: - Đừng làm thế! Tôi không thể nhìn thấy cảnh hai
cha con họ đập nhau, nhất là vì tôi, vì thế, tôi nhảy vội xuống chạy về phiá
hai người. Nhưng tôi đã quên mất chiếc giày còn lại trên chân nên khi nhảy xuống,
chân trợt trên thềm, tôi bị ngã ập xuống nền xi măng, cơn đau từ chân như động
lên tim khiến tôi hét lên. Sự đau đớn như xé rách da thịt, rồi tôi nghe tiếng
chân người chạy đến, ba khuôn mặt cúi xuống nhìn tôi - Hạo Hạo, Trung Đan và
giáo sư La Nghị. Tôi cắn răng, nhắm chặt mắt. Có người đụng vào chiếc chân đau,
tôi hét to, mồ hôi ướt đẫm lưng. Tôi nghe tiếng Hạo Hạo bảo:
- Ức My bị gãy xương rồi, phải mời bác sĩ đến ngay mới được.
Rồi có người bồng tôi lên, tôi mở mắt ra thì ra là giáo sư La Nghị, đôi mắt ông
nhìn tôi không những với vẻ lo lắng không thôi mà còn pha lẫn sự xúc động hoảng
hốt. Ông bảo:
- Mau mời bác sĩ đến nhanh đi! Hạo Hạo chạy vụt đi, tôi biết
hắn đi gọi bác sĩ. Giáo sư La Nghị bế tôi vào nhà, sự đau nhức càng lúc càng
gia tăng. Từ đuôi mắt tôi có thể nhìn thấy gương mặt của Trung Đan trắng bệch
như không một giọt máu. Sự đau khổ ẩn hiện trong mắt, chàng quay người đi ra.
Phiá ngoài, ánh nắng cuối cùng trong ngày kéo dài chiếc bóng của chàng trông thật
cô đơn, thật tội nghiệp. Tim tôi đau thắt, muốn gọi chàng lại, nhưng sự đau đớn
làm tôi thốt không ra tiếng. Tôi ngất đi.
Chương 10
Chân đã được bó thạch cao. Tôi bị đọa đày như thế suốt một
tháng trời. Một kẻ lúc nào cũng thích hoạt động nay phải ngồi trên giường nhìn
những buổi bình mình tươi mát hay những buổi hoàng hôn đẹp trời, là cả một cực
hình. Đúng ra tôi phải vào nhà thương dưỡng trị nhưng giáo sư La Nghị lại nhất
định giữ tôi tại nhà. Ông nói như thế việc chăm sóc tôi sẽ dễ dàng hơn. Hơn nữa
tôi cũng sợ nằm nhà thương lắm. Mỗi ngày bác sĩ đều đến xem mạch và chích thuốc
cho tôi. Hạo Hạo thường vịn vào điều này để nhạo tôi: - Lúc này xem cô có vẻ
quý phái lắm rồi đấy! Giáo sư La Nghị cũng thường đến thăm tôi, bàn tay to lớn
đặt nhẹ lên trán thăm dò nhiệt độ. Thực ra tôi nào có phải là loại con gái yểu
điệu, yếu ớt đâu, thân thể tôi rất tráng kiện, cảm mạo phong hàn đều khó mà vật
ngã. Chỉ có lần này bị gãy xương, việc đau khổ nhất là không thể hoạt động được,
tối ngày phải ngồi ì trên giường khiến cho lòng tôi nóng nảy, tinh thần suy sụp.
Một buổi tối, giáo sư La Nghị nhìn tôi xong ông nói: - Này Ức My, tôi thấy sắc
mặt em không khỏe lắm nhé. Đoạn quay sang nhìn Trung Đan vừa bước vào phòng ông
tiếp:
Bắt đầu ngày mai tạm thời ngưng dạy để em nó nghỉ ít bữa.
Trung Đan lẳng lặng không đáp, đến lúc giáo sư La Nghị bước ra khỏi phòng,
chàng mới chầm chậm bước về phiá cửa sổ hai tay chắp sau đít, mắt mông lung
nhìn ra bầu trời bên ngoài, thái độ thật buồn thảm khiến tôi xúc động. Kể từ
ngày cha con nhà họ La gây gổ đến nay, cũng là ngày tôi bị gãy chân, thì Trung
Đan cũng bắt đầu trầm lặng, hình như chàng muốn tránh tôi, tuy vẫn đến thăm tôi
mỗi ngày, nhưng vào xong là đi ngay, tôi khó có cơ hội được ngồi riêng rẽ với
chàng, cũng như khó có dịp để nói chuyện. Tôi hiểu rằng chàng đang muốn xa lánh
tôi, lạnh nhạt với tôi. Điều này làm cho lòng tự ái của tôi bị thương tổn. Thế
nên, trước mặt chàng tôi càng tỏ ra lạnh lùng hơn, khiến cho tình cảm của chúng
tôi càng trở nên nhạt nhẽo. Thấy chàng cứ mãi nhìn màn đêm bên ngoài tôi không
chịu nỗi nữa, gọi lớn: - Anh Trung Đan! - Hử? Chàng vẫn không chịu quay lại. -
Anh có thể đến đây một chút được không? Chàng chậm rãi quay người lại, rồi
thong thả bước về phiá tôi. Đứng cạnh giường, đôi mắt chàng nhìn tôi một cách
lơ đãng, khiến tôi dằn không nổi cơn bực tức, tôi nói: - Anh Trung Đan, câu
chuyện xảy ra hôm ấy, em muốn giải thích cho anh rõ, mà anh có thể bỏ cái lối
nhìn em như thế được không? Chàng miễn cưỡng hỏi: - Anh nhìn em như thế này có
gì khác thường đâu? - Thế anh ngồi xuống được không? Chàng ngồi xuống cạnh giường,
vẫn với cái thế bị động lơ là. Tôi cố gắng đè nén cơn bực bội: - Anh Trung Đan,
anh phải cho tôi cơ hội để giải thích chứ. Hôm ấy như anh thấy, chuyện xảy ra
giữa tôi với Hạo Hạo hoàn toàn do hắn chủ động.. lúc tôi chưa rõ ất giáp gì cả.
Đôi mắt Trung Đan nhìn tôi dò xét, đôi mày hơi cau: - Có đúng vậy không hở Ức
My? Có phải hắn đã mê hoặc em không? Mê hoặc? Tôi ngẫm nghĩ hai tiếng chàng vừa
xử dụng rồi nhớ đến hình ảnh hôm đó, tôi thấy thật sự tôi có phần bị mê hoặc,
hơn thế tôi cũng không quyết liệt chống cự. Tựa lưng vào gối tôi suy nghĩ và
phân tích, và tôi thấy một sự thật không chối cãi được là Hạo Hạo đã quyến rũ
tôi, vẻ trẻ trung, đẹp trai, phóng khoáng, tình cảm...tất cả những ưu điểm đó
làm sao không cuốn hút tôi cho được? Từ trong tiềm thức, tôi băn khoăn không hiểu
tình cảm tôi và Hạo Hạo có vượt qua khỏi tình bạn bè không? Rồi lại nghĩ đến việc
lên học trượt băng, có phải là để mong mỏi được hắn khen ngợi không? Cứ thế suy
nghĩ, tôi bỗng thấy lập trường của mình bị lung lay, khiến tôi không còn can đảm
giải thích cho Trung Đan hiểu nữa. Chăm chú nhìn những đóa hoa, tôi im lặng.
Trung Đan nắm tay tôi, bàn tay còn lại của chàng nâng cằm tôi, nhìn sâu vào mắt
tôi, tôi buồn bã nhìn chàng vì không biết phải làm gì khác hơn. Chàng lắc đầu
thở dài nói: - Ức My, đúng ra anh không có quyền trách em như thế, vì em là một
nguồn sáng, kẻ nào đến gần em, đều bị em chiếu rọi, em đã thu hút người khác
trong sự ngay tình, đó không phải là cái tội. Anh hẹp hòi quá, ích kỷ quá!
Nhưng em hiểu cho anh, anh không thể làm khác được, vì trên phương diện tình cảm
anh là kẻ ích kỷ nhất, anh không muốn bất cứ một thằng đàn ông nào khác được đến
gần em, ngay cả khi nhìn bàn tay của giáo sư La Nghị đặt trên trán em, lòng anh
như bị thiêu, bị đốt...
- Anh đừng nghi ngờ mọi người như vậy. Giáo sư La Nghị chăm
sóc em như bậc cha chú chăm sóc con cái vậy mà. - Đừng bao giờ tự dối lòng
mình, Ức My. Lời nói của Hạo Hạo không phải là không có lý đâu. Em nghĩ cho kỹ
thì biết, giáo sư La Nghị có thật tình chịu chăm sóc em chăng? Ngoài bà Nghị
ra, chưa một ai được ông ta chăm sóc, kể cả Khởi Khởi là con gái ruột, thân thể
yếu đuối, nay ốm mai đau thế mà em có thấy ông ta hỏi han tiếng nào hay sờ đến
chút nào không! Ông ta chỉ biết đi mời bác sĩ đến cho thuốc uống, chích vài mũi
thuốc là xem như đã hết trách nhiệm rồi. Trái lại, em là đứa mồ côi đến nương
nhờ ở tựa, thì tại sao ông ta lại đặc biệt chăm sóc lo lắng như thế? Ức My, em
thông minh thế này mà không nhìn ra sự thật như thế nào sao? Tôi phản đối:
- Không có chuyện đó, Trung Đan. Anh cũng biết em chỉ là đứa
con gái không đẹp lại không thông minh xuất chúng, anh đừng nghĩ là ai cũng yêu
em. Không thể có chuyện như vậy được. Trung Đan ngắm tôi một lúc, chàng nói: -
Em tưởng em không đẹp à, em lầm, Ức My. Chỉ vì em chẳng nhìn thấy nét đẹp của
em cũng như em chẳng nhìn thấy sự dễ thương của chính mình. Em là cả một đời sống
hoàn hảo, đầy nét thu hút và nhiệt tình. Em giống như cánh sao trời lấp lánh, đến
nơi nào nơi đó sẽ được soi sáng theo. Tôi lắc đầu:
- Trung Đan, anh đừng phóng đại như thế, anh đừng ca tụng tôi
như vậy mà làm em không nhận ra sự thực. - Đúng vậy. Chàng nói - Anh không nên
ca tụng vẻ đẹp của em, tuy nhiên anh xin thề là những điều anh vừa nói đều là
những cảm nghĩ chân thật. Ức My, em không hiểu được em trọn vẹn, anh không bao
giờ giả dối ca tụng em, vì không có một điều giả dối nào có thể tồn tại trước mặt
em, em quá thành thật và trinh bạch lại có tư tưởng phong phú giống như một hầm
mỏ khai thác không bao giờ cạn. Rồi chàng lại thở dài. - Anh chỉ mong rằng anh
sẽ ít yêu em một tí, như thế sẽ đỡ phải đau khổ vì ghen, vì sợ mất em...Ức My,
em biết không? Hôm ấy nhìn thấy em và Hạo Hạo, anh đã muốn đánh dập mật hắn và
muốn nghiền nát cả em. Trung Đan bóp mạnh cằm khiến tôi đau nhói - Đúng ra em
phải gãy lìa cả chân mới phải, để trừng phạt tội bội tình của em. - Anh thật giống
như bà vợ đa nghi, em chẳng bao giờ bội tình cả! - Đúng, anh là người đa nghi
và anh muốn em hoàn toàn thuộc về anh, từ nụ cười, tư ngọn chân lông, từ một tư
tưởng, tất cả đều là của anh. Trung Đan bỗng ôm lấy tôi hôn vội. - Ức My, anh
không còn giận em nữa. Giọng chàng thật nhỏ nhẹ - Nếu anh chưa chiếm được quả
tim em, có lẽ là anh chưa đủ khả năng chinh phục, anh sẽ cố gắng. Rồi chàng lại
cười - Sống trên đời, anh không bao giờ chấp nhận thất bại, trên trận chiến ái
tình cũng thế, anh sẽ dùng tất cả nghị lực và bạo lực để chiếm em, rồi em sẽ thấy.
Trông dáng điệu của chàng vừa nghiến răng vừa bậm môi khiến tôi phì cười. Tôi
cười ra nước mắt, bản tính cứng rắn và kiên nghị của chàng với sự nồng nhiệt
kia đã làm tôi mềm lòng. Đưa tay vuốt lấy lưng bàn tay của chàng, tôi nói: -
Anh đã có những điều anh muốn, thế còn chưa đủ sao? Trung Đan nhìn tôi dò xét:
- Có thật thế chăng? Tôi gật đầu, chàng vội ôm lấy tôi, đôi môi nóng bỏng ghì
chặt, chúng tôi ngã lăn trên giường khiến cho chiếc chân tôi đau nhói. Tôi khẽ
kêu, chàng vội nhỏm dậy, sửa chân tôi ngay ngắn rồi nhìn tôi say đắm, và mỉm cười.
Tôi cũng cười theo. Trong mắt chàng hình như có nước mắt, mắt tôi cũng thế,
chàng ngồi xuống êm ái nắm lấy tay tôi nói: - Đây là tình yêu, phải không Ức
My? Sống đã hai mươi lăm năm, bây giờ anh mới biết thế nào là ái tình. Có nụ cười,
có nước mắt, có ngọt mật lẫn chua xót, có đau khổ lẫn vui tươi. Trận gió đầu
thu lướt qua bên song cửa, chiếc lá vàng đầu tiên lọt qua song, rơi ngay trên
bàn của tôi. o0o Buổi sáng, Gia Gia tung tăng bước vào phòng thay những cánh
hoa úa bằng những hoa cúc mới hái. Chân tôi chưa lành hẳn, tôi vẫn nằm trên giường.
Tôi giả vờ ngủ để nhìn trộm Gia Gia. Bà ta lẩn quẩn một lúc, rồi sung sướng như
trẻ thơ khi phát giác ra chú Tiểu Ba đang cuộn tròn trên ghế. Bà ngồi xuống tựa
cằm vào cạnh ghế và lầm thầm với Tiểu Ba. Chú mèo đứng dậy, ểnh cao lưng “Meo”
như chào mừng Gia Gia. Gia Gia như vui sướng lắm cũng nhún đôi vai lên và giả lại
tiếng kêu “Meo!“ khiến tôi không nhịn cười được. Gia Gia đứng dậy, bước đến cạnh
giường cúi xuống nhìn, tôi giả vờ nhắm mắt lại nhưng vẫn không quên theo dõi bà
qua khe mắt. Nét mặt nhăn nhúm vẫn còn mang nụ cười khờ khạo. Bà ngắt một đóa
cúc vàng cài lên gối, rồi nhè nhẹ kéo mền đắp cho tôi như mẹ hiền chăm sóc con
thơ, như một đầy tớ trung thành chăm sóc chủ. Sau đó bà cười mãn nguyện rồi
tung tăng bước ra khỏi phòng, khép cửa lại. Tôi mở choàng mắt ra, tai vẫn còn
nghe tiếng chân bà nện ngoài hành lang và tiếng ca vọng lại khi bà xuống lầu.
Tôi lăn người qua nhìn cánh cúc vàng trên gối, cánh hoa hãy còn những giọt
sương đêm, một mùi hương thoảng nhẹ qua mũi, sự tươi mát của bông hoa khiến tôi
ngây ngất. Bỗng nhiên, cánh cửa lại lay động. Có người vào, ai vậy. Trung Đan
chăng? Tôi sửa người nằm yên rồi giả vờ nhắm mắt. Có tiếng cửa mở, rồi lại
đóng, có tiếng người bước về phiá tôi nhẹ nhàng như chú mèo. Tôi mở hé mắt
nhìn. Một chiếc bóng áo dài trắng phất phơ tiến về phiá tôi như một màn sương
khói. Lại bà Nghị! Bà ta muốn gì nữa đây? Đứng bên giường, bà cúi xuống nhìn
tôi, đôi mắt đen như hai cánh sao lấp lánh. Ánh mắt chạy dài từ khuôn mặt sang
gối, rồi đôi mày bà khẽ chau lại, bà tái mặt khi mắt chạm phải cánh hoa. Bà nhẹ
nhàng nâng cánh hoa lên, bước ra cửa sổ. Tôi không còn nhìn được nét biểu lộ
trên mặt bà, tôi cũng không còn nhìn thấy cánh hoa, rồi tôi thấy những cánh hoa
vàng nhẹ rơi từng cánh trên nền gạch và sau cùng cành, đế hoa rơi xuống tả tơi.
Bà Nghị đứng trước cửa sổ khoảng năm phút, chú mèo Tiểu Ba bỗng nhảy vụt lên
thành cửa khiến bà giựt mình nhìn Tiểu Ba với vẻ không vui. Bà lại quay sang
nhìn tôi khiến tôi không kịp giả vờ nhắm mắt nữa. Chúng tôi cứ thế nhìn nhau,
trong một lúc, cả hai như cùng kinh ngạc. Tôi thì bất mãn cho kiếp hoa còn bà
Nghị có lẽ vì giật mình trước sự thức giấc của tôi. - Bác Nghị khỏe ạ. Tôi lên
tiếng trước. Bà Nghị vẫn nhìn tôi không đáp. Tôi lại tiếp. - Bác không thích
hoa màu vàng sao? - Ai cho cô đấy? - Dạ, Gia Gia ạ. - Gia Gia? Bà trầm ngâm một
lúc rồi lảm nhảm. - Gia Gia đã biết những gì? Còn em có biết điều gì không? Bà
Nghị nhìn tôi - Ức My, sao em lại đến đây? Ở đây có ai quen đâu mà em dám xách
valise đến xin tá túc? Làm sao em biết được mọi người sẽ thích em mà em dám bước
vào một hoàn cảnh xa lạ như hiện tại, em...
Bà Nghị ngưng lại nhìn tôi với đôi mắt hực lửa, thái độ thật
lạ lùng. - Ức My, em đến đây để làm gì? Nói cho tôi nghe đi! Em đến đây để làm
chi? Tôi ngạc nhiên ngồi dậy nhìn bà ta. Bà Nghị muốn gì đây? Không lẽ tôi đến
đây cư ngụ ngoài lý do không nhà không cửa còn lý do nào khác nữa sao? Hay là
bà không ưa tôi? Nhìn thẳng bà Nghị tôi đáp: - Tôi không còn cha không còn mẹ
nên đến tá túc nhà bác chớ không có mục đích gì khác nữa. Bà Nghị, thế theo bác
tôi đến đây để làm gì? - Em...Bà Nghị hạ thấp giọng - Có phải ông ấy cho em đến
ở không? Ngày đầu tiên em đến tôi đã biết. Em đến đây, tất cả đều thay đổi, điều
này tôi biết, Gia Gia cũng biết. Thế em muốn gì? Em dự định sẽ làm gì? Nhưng
tôi van em, em hãy tha thứ cho nó, em hãy tha thứ cho nó! Tôi nhẹ nhàng đáp: -
Bác Nghị, bác nói chi tôi không hiểu? Bác nói nó, mà nó là ai, đàn ông hay đàn
bà? - Tôi biết em biết, phải không? Em hiểu tất cả! - Tôi không hiểu cái gì hết!
Bà Nghị nhìn tôi trân trối, một lúc bà gằn từng tiếng một: - Thế em có biết mẹ
em là ai chăng? - Mẹ tôi? Tôi kêu lên - Tôi phải biết chứ! Người là Giang Tú
Lâm đã qua đời rồi. Bác Nghị, bộ bác muốn thêu dệt thêm huyền thoại hay sao?
Không lẽ mẹ tôi lại là một người khác? - Mẹ của em là...
Bà Nghị nói chưa dứt câu thì giáo sư La Nghị đã xô cửa bước
vào, thân hình to lớn của ông đến bên tôi, đôi mắt sáng trong khuôn mặt râu tóc
rối kia nhìn thẳng vào bà Nghị, ông nói nhẹ nhưng đầy vẻ cảnh giác:
- Tôi đứng bên ngoài cửa nghe hai người nói chuyện. Nhã Trúc
em định nói gì thế? Tôi vội cướp lời, nghi ngờ nhìn ông bà Nghị: - Bác gái đang
nói về mẹ cháu. Hai bác trước kia chơi rất thân với người, vậy thưa giáo sư, mẹ
cháu là ai vậy? Giáo sư La Nghị nhìn tôi giọng gay gắt: - Mẹ em là ai à? Em có
mê không mà mẹ em là ai em cũng không biết còn hỏi tôi nữa. Đầu óc em đâu? Em
có mê không? Chỉ có trời mới hiểu được! Những câu hỏi của bà Nghị đưa ra thế mà
tôi lại lãnh đủ. Tôi trề môi: - Tôi không biết ai mới chính là người không có đầu
óc, ai là người mê sảng, vì tôi chỉ lập lại câu hỏi của một người! Giáo sư La
Nghị liếc vợ: - Nhã Trúc, em về phòng trước đi, anh muốn nói chuyện riêng với Ức
My một chút! Bà Nghị quay lưng bước đi, đến gần cửa phòng bà quay lại nhìn tôi
với đôi mắt bí mật, tôi càng không hiểu. Giáo sư Nghị khép cửa lại, xong ngồi
xuống chiếc ghế tựa ở cạnh giường. Nhìn tôi, ông hỏi: - Ức My, bây giờ em có
chuyện gì muốn nói thì nói đi! Tôi ngẩn người. Chuyện gì đâu? Rõ ràng là lúc
nãy ông nói là có việc muốn nói với tôi, thế mà bây giờ lại đảo ngược lại.
Không chịu được tôi nhăn mặt: - Tôi không có chuyện gì nói cả, mọi người đã làm
tôi rối lắm, ai cũng muốn làm ra vẻ bí mật trước mặt tôi! - Làm ra vẻ bí mật?
Giáo sư La Nghị tròn xoe mắt - Ức My, em đừng nghe Nhã Trúc nói, em không biết
là bà ấy có bệnh thần kinh hay sao? Bà ấy nói chuyện không đầu không đuôi tin
làm gì. Tật em lúc nào cũng muốn nhảy chổm vào việc kẻ khác, ưa hỏi vẫn vơ
thôi! Tôi mở to mắt: - Tôi à? Chỉ có trời mới biết! - Hừ!...Ông ta gằn một tiếng,
rồi đưa tay xoa lấy mũi, chăm chú nhìn tôi rồi bất chợt nói: - Lúc này em có vẻ
ốm đấy? - Thì cũng tại chiếc chân này! Nếu phải ngồi trên giường thêm một tháng
nữa có lẽ tôi sẽ điên mất. Giáo sư Nghị hơi lưỡng lự: - Em cần phải ăn thêm nhiều
chất bổ dưỡng. Thế em thích ăn gì? Tôi nói: - Với em, ăn như vậy là ngon lắm rồi,
đối với cuộc sống ngày trước thì đây là thiên đàng. - Lúc trước em sống kham khổ
lắm sao? - Vâng, nhất là thời kỳ mẹ bệnh. Môi mím chặt, giáo sư La Nghị nhìn
tôi dò xét, bàn tay to lớn của ông đặt lên tay tôi, sự ấm áp đi vào tim, cái
nhìn của ông bắt đầu biến đổi, tia mắt ông hiền hòa, lo lắng như lúc bà Nghị trở
bệnh khiến cho lòng tôi dịu hẳn. Ngoài vẻ hiền hòa, một chút chua xót thương hại
pha lẫn trong ấy làm tôi xúc động. Ông lắc đầu khổ sở và nhỏ nhẹ nói với tôi: -
Ức My, từ đây về sau em sẽ không còn nghèo khổ cô độc nữa, em sẽ xa rời tất cả
những khổ đau đó. Nói xong, ông xiết chặt tay tôi. Trong một khoảnh khắc, tôi
thấy mình nằm gọn trong lòng ông, đầu tôi tựa vào ngực, nơi đây nhất định phải
chứa đựng một trái tim vĩ đại mà tôi có thể nghe được tiếng đập của nọù. Chiếc
cằm đầy râu của ông cọ vào tóc tôi như chiếc bàn chải với những sợi lông cứng
làm tôi đau, nhưng tôi lại cảm thấy dễ chịu và ấm áp. Bàn tay của giáo sư vuốt
nhẹ lên lưng tôi, miệng ông lẩm bẩm: - Thật tội nghiệp cho Ức My! Thật tội nghiệp.
Tiếng lẩm bẩm của ông khiến cho tôi thấy lòng mình thật trống trải, mệt nhọc và
tôi như thiu thiu ngủ. Một thứ tình cảm lạ lùng lại đến với tôi. Tôi có cảm giác
như một kẻ lâu ngày lạc trong rừng sâu bỗng thấy nhà cửa, như một kẻ rét mướt gặp
được đống lửa to. Tứ chi buông thả, tôi thấy ngây ngất như nằm trong cơn sóng
bình yên. Mắt nhắm lại, bản năng như cột chặt tôi vào người giáo sư La Nghị,
tôi không muốn rời xa ông, vì ông đã mang đến cho tôi một cảm giác được bảo vệ
như điều ông vừa nói. Từ rày về sau em sẽ không còn nghèo khổ cô độc nữa, em sẽ
lánh xa nó! Tôi biết rằng đó không là lời nói suông, mà đó là một sự chấp thuận,
tôi sẽ được bảo vệ, được thương yêu. Thế gian này có còn ai sung sướng hơn hạnh
phúc hơn tôi nữa không? Cánh cửa bỗng bật mạnh, tôi lười biếng mở mắt ra. Từ
Trung Đan tay bưng chiếc mâm đựng thức ăn điểm tâm của tôi bước vào. Lúc gần
đây chàng dành lấy công việc của Mạc Bính, chàng giúp tôi mang thức ăn và làm
những công việc lặt vặt. Trung Đan vừa bước vào vừa vui vẻ gọi lớn: - Này cô bé
lười biếng, dậy đi chớ, mặt trời sắp đến gối của cô rồi còn gì. Tôi nhìn thấy nụ
cười trên môi chàng chợt tắt, tôi cũng nhìn thấy những thớ thịt trên mặt chàng
nhăn lại. Máu trên mặt chàng như biến dần và chiếc mâm trên tay rơi xuống rổn rảng.
Nhưng tôi vẫn nằm yên trong lòng giáo sư, không muốn bước ra khỏi nơi ấm áp
này, tôi biếng lười gọi: - Anh Trung Đan! Chiếc mâm rơi trên tủ kê đầu giường,
ve sữa lăn tròn vỡ tan. Sữa bắn tung tóe những vẫn không trắng như gương mặt của
chàng. Tôi chợt tỉnh, hoảng hốt ngồi ngay ngắn lại, gọi to: - Trung Đan! Chàng
vẫn đứng đó, giận dữ nhìn tôi như muốn nuốt sống tôi. Hồi nào tới giờ tôi chưa
hề thấy một đôi mắt giận dữ như thế. Trung Đan đã làm cho tôi hoảng hốt. Mở to
miệng nhưng tôi không biết phải nói gì, phải làm sao giải thích cho chàng biết
những cảm giác mà giáo sư La Nghị đã mang đến cho tôi. Đó không là ái tình,
không là tình cảm trai gái mà vượt lên trên, trên hết như tình tôi đối với chú
Tiểu Ba, hay tình của Gia Gia đối với hoa cỏ. Giáo sư La Nghị thương tôi, tình
thương thật tự nhiên, tinh khiết...tôi biết thế vì tôi đã cảm giác được, thu nhận
được, nhưng không thể giải thích được. - Ức My! Trung Đan bỗng mở miệng, tiếng
nói của chàng như tiếng rít của thép, vừa cứng vừa xa lạ - Em là giống người
thay lòng đổi dạ, vô tình vô nghĩa! Tôi nghe cả tiếng răng cọ sát, thấy cả những
thớ thịt trên miệng chàng rung động nhưng tôi vẫn không thốt được nên lời.
Chàng bước đến gần, bấu mạnh vai tôi. Tôi chưa kịp phản ứng thì chàng đã kéo mạnh,
bả xương vai tôi như muốn vỡ ra, chàng lắc mạnh người khiến tôi choáng váng, miệng
chàng không ngớt thóa mạ: - Nếu tôi giết được em, tôi sẽ bầm nát em ra, đốt em
cháy thành than, xay em thành bột, em là con người dễ đổi tánh, vô tình và độc
ác. Giáo sư La Nghị la lớn: - Thôi im ngay, Trung Đan! Trung Đan im bặt. Tôi thở
dài hất mái tóc ra sau, nhìn rõ giáo sư La Nghị đang nắm lấy tay Trung Đan, tia
mắt chiếu thẳng vào chàng trong lúc Trung Đan tay nắm chặt, nhìn giáo sư. Tôi sợ
chàng sẽ vung thẳng tay đấm giáo sư La Nghị, nhưng có lẽ chàng đang cố gắng dằn
bớt cơn giận, chàng nói: - Thưa giáo sư, xưa nay tôi vẫn tưởng ông là người có
nhân tánh, bây giờ mới biết sự thật ông chỉ là lão già chẳng nên nết. Nói xong,
chàng rút mạnh tay về và quay sang tôi chàng lườm mắt. - Ức My, bây giờ tôi mới
hiểu rõ được con người thật của cô. Rồi chàng bỏ đi. Nhìn theo bóng chàng vừa
khuất lòng tôi đau nhói, quên cả đau, tôi nhoài đuổi theo chàng. Tôi la to:
- Đừng làm thế, anh Trung Đan! Chân tôi vì chưa lành hẳn, nên
khi vừa chạm đất, thì cơn đau kéo đến, làm tôi ngã xoài trên người tới trước xuống
gạch, mồm tôi vẫn gọi to: - Anh Trung Đan! Anh Trung Đan! Tiếng cửa đóng xầm,
chàng bước đi thẳng không quay đầu trở lại. Tôi ngã lên giường khóc ngất, không
biết giáo sư La Nghị đã bước ra lúc nào. Mãi cho đến khi ngừng khóc ngẩng đầu
lên, thì trong phòng chỉ còn lại một mình tôi. Trên nền gạch, những cánh hoa bị
gió thu thổi bạt đi. Chiếc mền một phần bị rơi xuống đất thấm ướt cả sữa. Ngẩng
đầu lên nhìn bức hình chụp chung cả gia đình, đôi mắt mẹ như đang nhìn tôi, tôi
lẩm bẩm: - Mẹ ơi! Mẹ đã sắp đặt con một đời sống lạ lùng như vầy sao mẹ?
Chương 11
Đã 3 ngày qua, Trung Đan không bước vào phòng tôi. Trong suốt
3 ngày đó tôi không biết phải sống ra sao. Buổi sáng, mở to mắt mong chờ cánh cửa
lay động. Khi cánh cửa xịch mở, tim tôi đập nhanh chờ đợi, nhưng lúc nào cũng
như lúc nào, chỉ thấy Gia Gia ôm những nhánh cúc bước vào! Không biết từ bao giờ
Gia Gia đã phụ giúp tôi thay hoa và nuôi chú mèo Tiểu Ba. Bà đã dành lấy công
tác này và nhất định không để cho Mạc Bính chạm đến. Khi Gia Gia bước ra, lại đến
Mạc Bính mang thức ăn điểm tâm vào. Nhìn chai sữa, tôi xúc động không thể uống
nổi, nước mắt rơi xuống ly hòa tan vào sữa. Mỗi lần Hạo Hạo đẩy cửa bước vào là
tôi lại tưởng Trung Đan, đến khi nhìn rõ ra, lòng tôi lại đau thắt, nước mắt lại
lưng tròng. Cho đến bây giờ, tôi mới hiểu rõ mình, hiểu một cách chính xác là
giữa hai người con trai bên cạnh, tình tôi đối với Trung Đan nặng hơn Hạo Hạo
nhiều! Nhưng tại sao chàng không vào thăm tôi, tại sao không để tôi giải thích
rành rẽ. Sao không chịu hiểu tình tôi đối với chàng nặng ra sao? Điều ấy làm
tôi thất vọng, sự giận dữ và đau khổ càng lúc càng gia tăng. Giận là giận chàng
quá cố chấp, chủ quan, giận cả sự xem thường tình tôi như thế. Buổi chiều hôm
thứ ba, Hạo Hạo bước vào phòng, hắn đến ngồi cạnh giường nhìn tôi dò xét rồi lại
nhìn tôi cười. Lúc nào cũng vậy, trông hắn vẫn ung dung và bình thản. - Này Ức
My, suốt ba ngày qua cô đã phí bao nhiêu nước mắt, bây giờ cô định đổ thêm bao
nhiêu tình cảm cho khúc gỗ vô tri ấy nữa? - Khúc gỗ. Tôi không hiểu hắn muốn
nói gì. - Là Từ Trung Đan đó. Ức My, cô hãy cho tôi biết. Hắn có chỗ nào đáng để
cô mềm lòng như vậy. Hắn chỉ biết lý thuyết đạo đức suông chỉ là con mọt sách,
đâu có chỗ nào hơn người đâu? Nói thật hắn không bằng một phần mười tôi, vì một
phần mười của tôi càng hay hơn. Tôi trề môi không đáp. - Ức My, để tôi tính cho
cô thấy nhé! Nếu yêu Từ Trung Đan nghĩa là yêu một phần mười của La Hạo Hạo,
thì nếu La Hạo Hạo yêu cô có phải là cô đã được mười thằng Từ Trung Đan yêu cô
hay không? Tôi phì cười trước lý luận gàn bướng của hắn, chưa bao giờ có một ai
lý luận gàn như vậy. Hắn có vẻ thích chí, nhìn vào mắt tôi, thao thao:
Bây giờ mới thấy cô cười. Ức My, cô ngu thật, cô thử nghĩ xem
giữa tôi với Từ Trung Đan, sống với ai vui hơn? Hắn chỉ biết lẩn quẩn trong ba
mớ lý luận chớ không biết cách làm thế nào cho cô vui vẻ. Tại sao cô không lựa
chọn? Nhiều lúc tôi thấy cô là đứa con gái thông minh nhất, nhưng trên phương
diện ái tình tôi lại thấy cô là kẻ ngu đần nhất. Tôi vẫn giữ vẻ yên lặng. -
Thôi được! Hạo Hạo nắm tay tôi, lấy vẻ thản nhiên nói:
- Tôi đã nghĩ kỹ rồi, việc thi vào Đại Học của em không còn cần
thiết nữa, vì tôi sẽ không để em làm bất cứ một việc gì. Làm vợ không cần phải
làm thêm nghề khác, không tốt. Anh sẽ để em ở nhà, yêu em, cung phụng em, em
không cần làm gì cả ngoài sự vui vẻ tự nhiên và hưởng thụ. Đó là những việc mà
không một trường đại học nào dạy được em cả. Tôi chau mày: - Cái gì? Anh nói
cái gì, tôi không hiểu gì cả. Hạo Hạo thở dài: - Trời, thế linh tính em chạy
đâu mất rồi? Ý tôi muốn nói là hè năm tới tôi ra trường, đến mùa thu chúng ta sẽ
kết hôn, kết hôn vào mùa thu được chứ. Trời không nóng cũng không lạnh...

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét