Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Truyện ngắn hải ngoại tìm về cội nguồn trong cảm hứng tha hương, hoài niệm và phản tỉnh

Truyện ngắn hải ngoại tìm về
cội nguồn trong cảm hứng tha hương,
hoài niệm và phản tỉnh

Tha phương là để kiếm tìm một lối tồn sinh sau những biến động lịch sử mà di dân phần nào là nạn nhân. Tha phương với ý thức mất mát lớn lao chừng nào thì nỗi nhớ quê hương càng thiết tha chừng ấy. Nỗi niềm hoài hương là tâm cảm đầu tiên, thường trực và là dòng chảy cảm hứng bất tận trong văn học hải ngoại. Nỗi niềm hoài hương kéo dắt ký ức trở về nơi những cảnh trí quê nhà thân thương với những ngõ xóm, con sông, ngọn cây bờ ruộng… như một phần máu thịt không thể xóa nhòa.
1. Mở đầu:
Truyện ngắn hải ngoại viết bằng tiếng mẹ đẻ của người Việt, trong dòng chảy văn học di dân, là một bức tranh tinh thần đậm chất nhân văn, nơi những tâm hồn lạc xứ tìm cách níu giữ cội nguồn giữa muôn trùng cách biệt. Với đặc thù viết ngắn, kịp thời thể hiện tâm cảm di dân trên những bước đường lưu xứ trong hành trình tạo dựng diện mạo văn học dân tộc nơi đất khách và kế thừa dòng chảy văn học Việt từ trong quá khứ, truyện ngắn hải ngoại là một bộ phận sáng tác với lực lượng cầm bút đông đảo, với số lượng trang viết đáng kể, với đời sống xuất bản khá sôi động ở hải ngoại và kể cả trong nước.
Trong nhiều khuynh hướng nội dung phản ánh, khuynh hướng “Tìm về cội nguồn” trong truyện ngắn hải ngoại thể hiện sâu sắc cảm hứng tha hương, ghi tạc nhiều hoài niệm và những suy tư phản tỉnh của những “dòng chảy xã hội cuộc đời” người di dân.  Các tác phẩm này không chỉ là lời tự sự của cá nhân mà còn là tiếng nói tập thể, phản ánh bi kịch của những con người bị lịch sử đẩy đưa ra khỏi quê mẹ. Nỗi đau rời bỏ quê hương, sự trôi dạt trên biển cả và cảm thức lưu vong cay đắng đã trở thành những mạch nguồn cảm xúc chủ đạo, hòa quyện trong từng trang viết để khắc họa một hành trình tìm về bản sắc giữa muôn vàn mất mát. Văn học hải ngoại, vì thế, không chỉ là chứng nhân của thời đại mà còn là nơi gửi gắm những trăn trở sâu thẳm về văn chương Việt, về căn cước dân tộc, về sự tồn tại của con người trong cảnh ly tán.
2. Tha hương và hoài niệm
Nỗi đau rời bỏ quê hương là vết thương đầu tiên và sâu thẳm nhất trong tâm hồn người di tản. Các tác phẩm hải ngoại giai đoạn đầu tập trung khắc họa sự đứt gãy không gian và thời gian khi con người buộc phải xa rời “nhà cửa, mồ mả, ông bà, cha mẹ” (Trương Anh Thụy). Ra đi, dù vì thời cuộc hay tỵ nạn, là một cuộc đánh cược với vận mệnh, để lại sau lưng ký ức tuổi trẻ, những mối dây huyết thống, và cả niềm tin đã từng neo đậu. Những trang viết tiếng Việt ấy đã ghi lại nỗi “mê hoảng” của dòng người rời Sài Gòn trong cơn bão di dời rời bỏ quê mẹ (Bùi Bích Hà), sự trôi dạt vô định giữa sống và chết, để rồi khi tỉnh mộng nơi xứ người, quê hương chỉ còn là “một tức tưởi bỏ lại” (Song Thao). Đây là bi kịch của sự mất mát không thể bù đắp, là khởi nguồn cho mọi nỗi đau chồng chất khác. Những trang viết ấy như những vết cắt bén sắc khắc sâu vào lòng người đọc, để lại dư âm của một nỗi buồn tha hương không nguôi, một vết thương vong xứ không bao giờ lành.
Bi kịch thuyền nhân là một chương đẫm nước mắt trong văn học hải ngoại, nơi những con thuyền mong manh chở theo khát vọng tự do u mê và mạo hiểm, đối mặt với sóng dữ, hải tặc và cái chết. Các trang viết như “Hải tặc trong Vịnh Thái Lan” (Nhật Tiến) hay “Sự im lặng của biển” (Trần Trung Đạo), “Đứa con của biển” (Miêng) và những trang viết khác của Trần Hoài Thư, Khánh Trường, Trịnh Y Thư … đã tái hiện sống động nỗi kinh hoàng của những phận người lênh đênh giữa đại dương, nơi những mảnh đời phụ nữ bị hải tặc hãm hiếp, những đôi mắt trẻ em ngập tràn kinh sợ chứng kiến những người mẹ trẻ tả tơi sau cơn bạo cuồng của trò súc vật, bị ném xuống biển, và cả cảnh những người sống sót buộc phải ăn thịt đồng loại để tồn tại qua ngày đợi chờ cơ may thoát chết…
Những trang viết này không chỉ là tài liệu sống mà còn là tiếng kêu cứu nhân bản, lay động lương tri thế giới về cái giá của hành trình tự do. Dù vượt qua được khổ nạn, di chứng tâm lý vẫn đeo bám những thuyền nhân suốt đời, biến họ thành những kẻ “tật nguyền tâm hồn” nơi viễn xứ. Qua ngòi bút đớn đau của các nhà văn, bi kịch thuyền nhân là một nỗi “chấn thương di dời” khó lành, nó không chỉ là câu chuyện của người Việt mà còn là biểu tượng của những phận đời trôi dạt trong cơn bão lịch sử.
Viết về sự kiện thuyền nhân đã khiến cho văn học hải ngoại lớn mạnh thêm về lực lượng cầm bút và giàu tính nhân văn và thời sự về nội dung phản ánh. Và dù sự kiện vượt biển đã chấm dứt, ám ảnh tinh thần này mãi về sau vẫn là nỗi day dứt- trăn trở mang tên “thuyền nhân”, là cảm thức đớn đau trong sáng tác bằng tiếng Việt của người Việt ở hải ngoại hay được viết bằng ngoại ngữ của thế hệ di dân thứ hai. Trong Ru của nhà văn Pháp gốc Việt Kim Thúy, trong Con thuyền của Nam Le- người Úc gốc Việt hay trong những truyện ngắn của Người tỵ nạn của Viet Thanh Nguyen, người Mỹ gốc Việt và nhiều hơn nữa, sự kiện di dân luôn có sức nặng của của một minh chứng cần phải được viết ra, cần phải được tỏ bày. Và vì thế, nó trở thành một đặc điểm nội dung mang sức nặng lịch sử của một hiện tượng di dân kéo dài gần hai thập niên và có sức ảnh hưởng vượt khỏi cộng đồng Việt ngữ
Tha phương là để kiếm tìm một lối tồn sinh sau những biến động lịch sử mà di dân phần nào là nạn nhân. Tha phương với ý thức mất mát lớn lao chừng nào thì nỗi nhớ quê hương càng thiết tha chừng ấy. Nỗi niềm hoài hương là tâm cảm đầu tiên, thường trực và là dòng chảy cảm hứng bất tận trong văn học hải ngoại. Nỗi niềm hoài hương kéo dắt ký ức trở về nơi những cảnh trí quê nhà thân thương với những ngõ xóm, con sông, ngọn cây bờ ruộng… như một phần máu thịt không thể xóa nhòa. Từ sông Hương mộng mơ đằm lịm (Trần Kiêm Đoàn, Thái Kim Lan, Dương Như Nguyện, Hồ Đình Nghiêm…) đến miền phố cổ Hội An với cả eo đất miền trung lửa đạn và bão lũ (Phùng Nguyễn, Nguyễn Mộng Giác, Trần Trung Đạo…), rồi đến miền Nam trù mật nặng nghĩa tình (Kiệt Tấn, Hồ Trường An, Võ Kỳ Điền, Bình Nguyên Lộc…), rồi ngược trở ra với một đất bắc của tiền chiến xa xôi hay thời kham khó với Hà Nội phố xưa (Mai Thảo, Trần Vũ, Mai Ninh, Nam Dao, Hoàng Khởi Phong,  Đỗ Kh., Lê Minh Hà,…).
Các nhà văn tái tạo quê hương từ ký ức với sự sống động và lung linh của hoài niệm. Rau răm ở lại (Cao Vị Khanh) là lời rứt ruột gửi về quê mẹ, nơi hình ảnh bà nội thương yêu và đất nước xa khuất hòa quyện thành một trời thương nhớ vô vọng. Nụ cười tre trúc của Kiệt Tấn đã trở thành một biểu tượng đầy mỹ cảm và giàu hồn Việt của trang viết hải ngoại, là tấm lòng thương nhớ quê nhà được vẽ tạc bằng ký ức, bằng tiếng mẹ qua hình ảnh bà má hiền hậu trong nỗi nhớ hình ảnh quê hương gần gũi và máu thịt. Cảnh trí quê hương, dù là những làng quê dù thanh bình hay trong lửa đạn, những phố thị miền Nam xưa cũ từng một thời sôi động với nhiều ký ức hiện sinh…, trở thành điểm tựa để người xa xứ gửi gắm nỗi lòng, biến ký ức thành một chốn thiêng liêng không gì thay thế được. Những nhà văn của thế hế một rưỡi rời nước ra đi khi nhận thức về quê nhà bản quán và ý thức dân tộc đã chín muồi. Tình thế xa quê từ tâm cảnh lạc trôi đã tái khắc hoạ những mảnh hồn quê thật đau đáu nhớ thương vừa thật cụ thể sinh động vừa xa vời ảo ảnh, vì thế những trang viết này không chỉ là sự neo đậu tinh thần mà còn là cách để người di dân định vị một căn cước ký ức của dân tộc giữa đất khách.
Phong tục tập quán và tiếng Việt là những bảo vật tinh thần mà người di dân cố gắng gìn giữ giữa dòng chảy hội nhập. Tết Việt, món ăn quê nhà, và tiếng nói dân tộc trở thành những ký ức thiêng liêng, được tái hiện trong Những cánh mai trong tách trà (Trần Mộng Tú) hay Cũng đành (Song Thao), Khoảng cuối (Phan Thị Trọng Tuyến)… Ký ức về phong tục được nhà văn viết lại cho chính mình, cho những thế hệ tha hương của cộng đồng Việt, và cũng là để viết cho cháu con, cho những thế hệ sau tiếp- thế hệ mà nguy cơ đứt gãy truyền thống và mất gốc dân tộc là trước mắt và dài lâu. Vì thế, viết về ký ức phong tục là cách nhà văn đã sàng lọc quá khứ bằng nỗi nhớ, đắp tạc lại hiện thực của quá vãng bằng nỗi tiếc nuối nên phong tục và tập quán Việt nơi trang viết hải ngoại được hiện lên lung linh đẹp đẽ mà xa vời. Đó là hình ảnh của vóc dáng thiếu nữ trong tà áo dài thanh tân, là màu mộc mạc trầm ấm của những bộ trang phục quê mùa, của ông già bà cả chất phác hiền hậu,  là hình ảnh của tóc vấn, của tóc búi, của miếng ngon nỗi thèm nhớ quê nhà dù kham khó, của mùi khói đốt đồng khi năm hết tết về…
Người cầm bút hải ngoại viết về nỗi hoài niệm những phong tục như cúng giỗ, tết nhứt, thanh minh, trung thu… với những mô tả đầy thèm tiếc những kỷ niệm tập quán, những món ăn đậm hồn xứ sở Việt Nam.  Những trang viết ấy không chỉ là hoài niệm mà còn là lời khẳng định về sự trường tồn của văn hóa dân tộc, dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt của đất khách. Phong tục quê nhà đối với mỗi một sắc dân trong hành trình đời người là sự luân chuyển theo năm tháng, theo mùa vụ hoặc chu kỳ thời gian. Phong tục đối với đời người bình thường là một sự lặp lại để nhắc nhớ và vận hành một hành trình nhân sinh của cộng đồng, huống hồ là giờ đây, khi bị buộc phải  rời xa không gian bản quán, chu kỳ thời gian của phong tục đối với lưu dân lại trở thành một thứ hoài niệm và một thứ thực hành xa xỉ nơi đất lạ.
Phải chăng địa dư ký ức là một phần máu thịt làm nên giọng văn cá nhân trong trang viết di dân nên tiếng Việt, với vẻ chân thực và mang đậm khí vị vùng miền là sợi dây bền chắc nối kết các cộng đồng Việt rải rác khắp địa cầu. Viết tiếng Việt là cách để những nhà văn thế hệ thứ nhất ra đi từ văn chương miền Nam như Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Cao Tần, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Hoàng Ngọc Biên, Khánh Trường,…; hay thế hệ thứ một rưỡi là du học sinh trước 1975 hoặc rời nước ra đi khi còn trẻ rồi cầm bút và thành danh trên đất người như Võ Đình, Kiệt Tấn, Mai Ninh, Nam Dao, Miêng, Trần Vũ… gửi gắm tâm tư Việt. Nguy cơ mất gốc là nỗi ám ảnh thường trực của người Việt hải ngoại, khi tiếng Việt dần trở thành ngoại ngữ với thế hệ sau, và văn hóa truyền thống bị lai căng, xâm thực.
Khi S trở về C (Trần Diệu Hằng) hay Màu trắng (Hồ Đình Nghiêm) thể hiện sự xung đột giữa thế hệ ông bà và con cháu, giữa tiếng Việt và ngôn ngữ trú xứ. Sự tha hóa không chỉ là mất tiếng mẹ đẻ mà còn là sự biến đổi trong tư duy, hành xử, khiến người di dân lo sợ trở thành một thứ lai căng lố bịch (Trương Anh Thụy). Đây là lời cảnh báo về nguy cơ vong bản, đồng thời là khát vọng giữ gìn bản sắc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Dự cảm mất gốc không chỉ là nỗi lo cá nhân mà còn là tiếng chuông thức tỉnh cả cộng đồng, thúc giục họ tìm cách neo giữ hồn Việt giữa dòng chảy hội nhập không ngừng.Viết về tình yêu tiếng mẹ cũng là viết về nỗi sợ hãi vong bản vì nguy cơ mất tiếng Việt trong các thế hệ di dân đời cháu con, vì hiện thực “lão hoá” và biến mất của thế hệ bạn đọc tiếng Việt của văn chương Việt vì thế việc viết bằng tiếng Việt trở thành hành động cứu giữ bản sắc đầy cô đơn nhưng mãnh liệt.
Tuổi thơ và thời hoa niên là những miền ký ức tươi sáng nhất mà người di dân tìm về để xoa dịu nỗi cô đơn nơi xứ lạ. Nụ cười tre trúc (Kiệt Tấn) hay Tháp ký ức (Phùng Nguyễn) kể lại những ngày ấu thơ hồn nhiên bên làng quê, trong khi “Hỏa châu” (Vũ Hồi Nguyên) hay Quỳnh hương (Nam Dao) tái hiện thời thanh niên sôi nổi giữa chiến tranh và ly loạn. Những trang viết này không chỉ là sự hoài niệm mà còn là lời giải thích cho cuộc ra đi, là điểm tựa tinh thần để đối diện với hiện tại khắc nghiệt. Quá khứ, dù đẹp đẽ hay đau thương, trở thành nơi ký thác những thăng hoa và mất mát của một thế hệ. Qua những câu chuyện tuổi trẻ, nhà văn hải ngoại không chỉ kể lại đời mình mà còn vẽ nên bức tranh chung của một thời đại, nơi những giấc mơ và mất mát đan xen không rời.
3. Sự phản tỉnh
Lưu vong là cảm thức chung và đặc thù của văn học di dân thế giới cũng như của văn học hải ngoại. Cảm thức lưu vong là mạch nguồn cảm xúc đặc biệt sâu sắc trong văn học hải ngoại thời kỳ trước “Hợp lưu” khi mà mọi mối dây liên hệ với quê nhà trong thời kỳ cấm vận là hết sức mong manh. Vì thế người Việt xa xứ luôn mang đậm tâm cảm từ thực chất của lớp nghĩa trực tiếp của từ ngữ này, như cách mà nhà phê bình Thuỵ Khuê đã từng định nghĩa, lưu là trôi dạt, vong là mất mát. Trôi dạt và mất mát là bản chất của những thân phận di dân:
Truyện ngắn hải ngoại, phản ánh nỗi dằn vặt của những con người mất gốc, trôi dạt giữa hai thế giới. Đến xứ người, người di dân đối diện với dị biệt văn hóa: từ ngôn ngữ, phong tục đến lối sống lạnh lùng, thực dụng của phương Tây. Họ phải thích nghi với nhịp sống hối hả, làm việc cực nhọc, và gạt bỏ những giá trị truyền thống để hòa nhập. Các tác phẩm như Mưa trên những bông hồng (Từ Khắc Nguyên) hay Cỏ mềm lãng đãng (Song Thao) khắc họa sự chênh vênh của người lưu vong khi đối diện với những khác biệt không thể hòa giải, từ đó làm sâu sắc thêm cảm giác lạc lõng và mặc cảm nhược tiểu trong tâm hồn họ. Lưu vong không chỉ là sự rời xa về địa lý mà còn là một trạng thái tinh thần lưu lạc, nơi con người bị giằng xé giữa quá khứ và hiện tại, giữa quê nhà đã mất và đất khách chưa từng thuộc về. Cảm thức này được thể hiện tập trung và tô đậm trong những trang viết thời kỳ hình thành và phát triển của văn học hải ngoại khi cộng đồng Việt lưu xứ cần nhất là dựa dẫm vào nhau và chia sẻ với nhau trong nỗi niềm đồng cảnh và trong tâm cảm Việt tính. Từ thực trạng đời sống di dân của cộng đồng mình, người cầm bút hải ngoại thấm cảm niềm chung nhân loại trong cơn bão di dân ngày càng ồ ạt trên địa cầu này, “thi pháp lưu vong” (Nguyễn Hưng Quốc) trong lối viết tự sự của truyện ngắn hải ngoại phần nào gặp gỡ với thi pháp tự sự lưu vong thế giới mà các giải văn chương lớn của thế giới đã đề cập.
Mặc cảm nhược tiểu là một hệ quả tất yếu của người di dân khi bước vào xã hội phương Tây với thân phận thấp kém. Từ những công việc chân tay như rửa chén, bồi bàn đến sự kỳ thị về màu da, tiếng nói, người Việt nhập cư cảm nhận rõ vị thế “ngơ ngơ ngáo ngáo” của mình (Hoàng Khởi Phong). Các truyện ngắn như Nhật ký cuối năm (Túy Hồng) hay Một chỗ trống để điền tên (Quỳnh Trang Cindy Nguyễn) thể hiện nỗi xấu hổ khi nói tiếng Việt nơi công cộng, sự ngượng ngùng với thói quen ăn uống quê mùa, và cả tâm lý tự ti trước sự vượt trội của văn hóa trú xứ. Đây không chỉ là nỗi buồn cá nhân mà là bi kịch chung của những dân tộc từng chịu ách thuộc địa. Nỗi mặc cảm tị nạn ê chề của người di dân khi ngửa tay xin trợ giúp khiến họ cảm giác mình trở thành giống loài dị biệt, thấp kém gây hiếu kỳ và khêu gợi lòng từ thiện có điều kiện của những người bản xứ đủ đầy hạ cố làm việc công đức.
Để tìm được việc làm, di dân phải học thật nhanh tiếng bản xứ bởi vì “văn hóa nào bằng văn hóa Hoa Kỳ”, “giá trị của mỗi cá nhân hồi đó tùy vào số lượng vocabulaire người ấy biết” dù họ có phân vân “không biết giá trị ấy có bao gồm luôn cả nhân phẩm hay không” (Nhật ký cuối năm, Túy Hồng). Mặc cảm ấy như một bóng tối phủ lên tâm hồn, khiến người di dân vừa khao khát hòa nhập vừa không ngừng dằn vặt về gốc gác của mình, tạo nên một mâu thuẫn nội tại không lời giải. Mặc cảm tự ti nhược tiểu từ “tâm lý dĩ Âu vi trung” và cảm giác bên lề của một cộng đồng người tị nạn vì dạt trôi mà trở thành “Kẻ Khác” (The Others) không chỉ với quê nhà mà ngay cả với xứ tạm dung.
We are here because you were there (Chúng tôi ở đây là bởi vì các người đã ở nơi đó) là một diễn ngôn hậu thuộc địa của Ian Sanjay Patel đã gửi đến thế giới một tri thức mới về một vị thế bắt buộc của người nhập cư mà chế độ thực dân phải chịu trách nhiệm. Ý thức về vị thế nhập cư không phải là vị thế chịu ơn vì được cứu trợ hay sự nhân đạo rao giảng của các nước cựu thực dân mà là ý thức về hậu quả của những chính sách thuộc địa trong quá khứ. Trong những ảnh hưởng của các trào lưu ý thức xã hội đó và từ thực tiễn đời sống nhập cư, truyện ngắn hải ngoại đã phần nào gióng lên tiếng nói phản tỉnh như một cách nhìn lại chính mình trong “dòng chảy xã hội cuộc đời”. Phản tỉnh trong truyện ngắn hải ngoại là sự nhìn lại lịch sử, văn hóa dân tộc từ vị thế “ở-giữa” của người di dân.
Tâm thức Mỹ trên đất Việt (Lê Đình Phương) hay Sự tự chủ của những cái hộp lãng mạn cổ điển (Nguyễn Danh Bằng) và  nhiều truyện ngắn khác đã đặt câu hỏi về bản sắc Việt giữa văn minh phương Tây, về thất bại của một chính thể và những giá trị cần tái định nghĩa. Nhà văn không chỉ hoài niệm mà còn đối diện với những mặt trái của văn hóa Việt, từ thói quen sai hẹn đến sự thủ cựu, để từ đó tìm kiếm một con đường trở về cội nguồn đầy minh triết. Những trang viết của Trần Vũ, Hoàng Khởi Phong, Nam Dao, Mai Ninh, Võ Đình, Trịnh Y Thư, Phùng Nguyễn, Trần Hoài Thư, Trần Mộng Tú, Thuận, Phạm Hải Anh, Lê Minh Hà, Thế Giang,… thể hiện những trăn trở nghiêm trang trên những diễn ngôn nghệ thuật về tư cách của một dân tộc nơi xứ người. Với họ, cách thế để giữ gìn căn cước dân tộc trên bước đường tha hương là ý thức về lịch sử- văn hóa dân tộc sau những trải nghiệm, sau những biến thiên của số phận và đất nước từ một khoảng cách để nhìn lại mọi giá trị. Chiêm nghiệm di sản lịch sử dân tộc là một hành trình trở về với cội nguồn của tâm hồn di dân từ vùng khí quyển văn hóa khác. Nhìn về lịch sử- văn hóa dân tộc bằng cái nhìn của “Kẻ Khác” Kẻ đứng giữa những không gian – văn hóa là cái nhìn rất khác…
Đây là hành trình tinh thần vượt lên nỗi buồn lưu vong, khẳng định giá trị Việt trong lòng nhân loại. Phản tỉnh không chỉ là sự chiêm nghiệm mà còn là một loại diễn ngôn kêu gọi thức tỉnh, để người Việt hải ngoại không chỉ sống bằng ký ức mà còn bằng ý thức rõ ràng về vị thế của mình trong thế giới hiện đại.
4. Kết luận
Truyện ngắn hải ngoại, qua hành trình hơn bốn thập niên, đã trở thành một dòng chảy văn học độc đáo, nơi người Việt di dân gửi gắm nỗi niềm tha hương, hoài niệm và phản tỉnh. Từ nỗi đau rời bỏ quê hương đến bi kịch thuyền nhân, từ cảm thức lưu vong đến mặc cảm nhược tiểu, từ tình yêu tiếng Việt trong nỗi nhớ quê nhà đến dự cảm mất gốc và cuối cùng là sự chiêm nghiệm các giá trị lịch sử, các nhà văn đã vẽ nên một bức tranh tâm hồn phong phú và đa chiều. “Tìm về cội nguồn” không chỉ là một hành trình văn chương mà còn là thông điệp yêu nước trong hoàn cảnh bất hạnh của những con người ly tán. Văn học hải ngoại, vì thế, không chỉ góp phần làm giàu có văn chương Việt hiện đại mà còn chứng minh rằng, ở đâu có nhân sinh, ở đó có trăn trở kiếm tìm Chân, Thiện, Mỹ.
Tài liệu tham khảo:
1. Hồng Hoa (tuyển chọn) (2014). Mùi thiên đàng.- Nxb Hội Nhà văn.
2. Hồng Hoa (tuyển chọn) (2014). Mẹ và con – Nxb Hội Nhà văn.
3. Kiệt Tấn (2009). Em điên xõa tóc – Nxb Văn hóa Sài Gòn.
4. Lê Đạt, Lê Minh Hà. (2006). Truyện cổ viết lại – Nxb Trẻ
5. Lê Minh Hà (2005) Thương thế ngày xưa – Những giọt trầm –  Nxb Văn hóa Thông tin.
6. Nguyễn Hưng Quốc (2013). Văn học Việt Nam tại Úc: chính trị và thi pháp của      lưu vong.USA –  Nxb Văn mới.
7. Nguyễn Vy Khanh, Luân Hoán, Khánh Trường. (2020) 44 năm Văn học Việt Nam hải ngoại (1975- 2019). Tập 1. USA- California – Nxb Mở nguồn.
8. Nguyễn Vy Khanh, Luân Hoán, Khánh Trường. (2020) 44 năm Văn học Việt Nam hải ngoại (1975- 2019). Tập 2. USA- California – Nxb Mở nguồn.
9. Nguyễn Vy Khanh, Luân Hoán, Khánh Trường. (2020) 44 năm Văn học Việt Nam hải ngoại (1975- 2019). Tập 3. USA- California – Nxb Mở nguồn.
10. Nguyễn Vy Khanh, Luân Hoán, Khánh Trường. (2020) 44 năm Văn học Việt Nam hải ngoại (1975- 2019). Tập 4. USA- California – Nxb Mở nguồn.
11. Nguyễn Vy Khanh, Luân Hoán, Khánh Trường. (2020)  44 năm Văn học Việt Nam hải ngoại (1975- 2019). Tập 5. USA- California: – Nxb Mở nguồn.
12. Nguyễn Vy Khanh, Luân Hoán, Khánh Trường. (2020)  44 năm Văn học Việt Nam hải ngoại (1975- 2019). Tập 6. USA- California – Nxb Mở nguồn.
13. Nguyễn Vy Khanh, Luân Hoán, Khánh Trường. (2020)  44 năm Văn học Việt Nam hải ngoại (1975- 2019). Tập 7. USA- California – Nxb Mở nguồn
14. Nhiều tác giả. (2005). Khung trời bỏ lại (tái bản) – Nxb Phụ nữ
15. Nhiều tác giả. (2006a) Sông Hương ngoài biên giới – Nxb Trẻ.
26/5/2025
Đỗ Thị Phương Lan
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Tơ trời lắng sâu cùng “Đồng vọng” của Võ Văn Hân Có lần anh Võ Văn Hân nhắn nhủ với tôi: viết kịch bản Trang thơ Đất nước về sợi tơ trời...