Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Hai nhân vật từ góc nhìn liên văn hóa

Hai nhân vật từ
góc nhìn liên văn hóa

Không hẹn mà gặp, ở hai tác phẩm Năm lá quốc thư và Bà đại sứ đều xuất hiện hình ảnh nhân vật nữ đại sứ. Đây có lẽ là hình ảnh gây chú ý cho người đọc. Bởi người nữ xuất hiện với một vị trí quan trọng, giữ vai trò to lớn, thể hiện khả năng lãnh đạo và điều hành công việc. Tuy vậy, giữa hai nhân vật nữ đại sứ này vẫn có nhiều điểm khác nhau đáng chú ý về lĩnh vực công tác, mục đích hướng đến, tính cách, năng lực…
Không hẹn mà gặp – hai “bà đại sứ”
Văn chương của Hồ Anh Thái mang đậm dấu ấn từ công việc ngoại giao của tác giả. Hồ Anh Thái bắt đầu viết văn từ thời là sinh viên Đại học Ngoại giao Hà Nội, với một số tác phẩm thời kỳ đầu như Nói bằng lời của mình (1978), Chàng trai ở bến đợi xe (1985), Người đàn bà trên đảo (1986), Người và xe chạy dưới ánh trăng (1987), Trong sương hồng hiện ra (1989)… Các tác phẩm nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu và độc giả. Ông song song thực hiện cả hai vai trò, vừa là nhà văn, vừa là nhà ngoại giao. Công việc ngoại giao mang đến cho Hồ Anh Thái vốn sống phong phú, cái nhìn sâu sắc về xã hội, đưa ông đi qua nhiều nơi, làm việc tại nhiều đất nước, trải nghiệm nhiều nền văn hóa. Hồ Anh Thái xây dựng thành công “thương hiệu cá nhân” với những tác phẩm mang đậm yếu tố văn hóa. Không chỉ kể với người đọc về văn hóa của nhiều quốc gia, đó còn là những trăn trở của ông về đối thoại và hội nhập văn hóa, là câu chuyện ngoại giao ở nước mình, nước bạn. Và Năm lá quốc thư[1] là một trong những tác phẩm như vậy.
Mặc dù có đề cập công việc ngoại giao trong một số tác phẩm rải rác, nhưng phải đến tiểu thuyết Năm lá quốc thư (2019), tác giả lần đầu tiên mới thực sự viết về người ngoại giao, nghề ngoại giao đương đại. Tác phẩm được Hồ Anh Thái ấp ủ gần bốn mươi năm, khoảng thời gian làm công tác ngoại giao của ông. Tương tự các ban ngành khác, ngoại giao cũng là “vùng hạn chế” chạm vào đối với nhiều đối tượng, trong đó có văn chương. Hồ Anh Thái đã tận dụng tốt quyền hư cấu của tiểu thuyết để đề cập các vấn đề ngoại giao một cách khéo léo. Đại Sứ Ba là một trong năm vị đại sứ được hư cấu trong tác phẩm và là nữ đại sứ duy nhất trong số đó.
Ở một vị trí khác, Lorena Alice Hickok là một nhà báo nữ, là quan chức quan hệ công chúng của Mỹ. Bà sinh ra trong một gia đình nghèo, mẹ làm thợ may và cha chăn nuôi bò sữa. Bà có một tuổi thơ không mấy hạnh phúc khi mẹ mất sớm, cha lấy vợ khác và bà phải ra khỏi nhà tự lập khi mới mười bốn tuổi. Có lẽ vì tự lập từ rất sớm, phải mưu sinh bằng nhiều công việc để kiếm sống, Lorena đã được tôi luyện thành một người phụ nữ mạnh mẽ. Bằng chứng rõ nhất là khi bà trở thành nữ phóng viên nổi tiếng nhất nước Mỹ vào năm 1932. Để có được sự công nhận này thật không dễ dàng, Lorena đã chứng minh năng lực của mình trong lĩnh vực đưa tin và viết lách để tìm được cơ hội làm việc ở những tờ báo lớn. Năm 1928, bà vào làm việc tại Associated Press và trở thành phóng viên hàng đầu của công việc điện báo. Hơn thế, bà là nữ nhà báo đầu tiên có bài viết được đăng trên tờ The New York Times. Những năm tháng cuối đời, bà viết một số cuốn sách và Bà đại sứ[2] là một trong số đó.
Tiểu thuyết Bà đại sứ viết về Helen Adams Keller, một diễn giả, nhà hoạt động xã hội, nhà văn Mỹ. Đây là cuốn tiểu thuyết mang tính chất tự truyện với nhân vật chính là một nữ đại sứ. Helen là người khiếm thị, khiếm thính đầu tiên tốt nghiệp cử nhân nghệ thuật của Đại học Harvard. Cuốn sách kể về cuộc đời của bà, về cách cô giáo Ann Sullivan đã đưa bà – một đứa bé câm, điếc, mù – ra khỏi “đêm tối cuộc đời”, kể về quá trình bà dùng trí tuệ và trái tim yêu thương của mình để nuôi sống bản thân và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
Không hẹn mà gặp, ở hai tác phẩm Năm lá quốc thư và Bà đại sứ đều xuất hiện hình ảnh nhân vật nữ đại sứ. Đây có lẽ là hình ảnh gây chú ý cho người đọc. Bởi người nữ xuất hiện với một vị trí quan trọng, giữ vai trò to lớn, thể hiện khả năng lãnh đạo và điều hành công việc. Tuy vậy, giữa hai nhân vật nữ đại sứ này vẫn có nhiều điểm khác nhau đáng chú ý về lĩnh vực công tác, mục đích hướng đến, tính cách, năng lực… Tương đồng và khác biệt bắt nguồn từ nhiều lý do, tuy nhiên, văn hóa cộng đồng chi phối phần lớn suy nghĩ, tính cách, hành động của hai nữ đại sứ. Do vậy, từ tầm nhìn liên văn hóa, có thể thấy được căn nguyên của những điểm giống và khác, nhìn nhận khách quan về điểm ưu khuyết của cả hai nhân vật này.
Hư cấu và nguyên mẫu tự truyện
Năm lá quốc thư là tác phẩm hư cấu kể về câu chuyện trình quốc thư của năm vị đại sứ. Đại sứ có vai trò là người đại diện chính thức, giúp củng cố mối quan hệ và quảng bá hình ảnh của quốc gia, khu vực hoặc giá trị mà họ đại diện. Trong Năm lá quốc thư, đại sứ là người vừa xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, vừa thu thập thông tin về nước bạn, góp phần xây dựng đường lối đối ngoại phù hợp cho đất nước mình. Quá trình công tác của các cán bộ ngoại giao ở nước ngoài là một câu chuyện dài, vừa là công tác đối ngoại, vừa phải cân bằng với công tác nội bộ. Khi sang một quốc gia khác, văn hóa, ẩm thực, lối sống, thời tiết… đều thay đổi. Cán bộ ngoại giao trước tiên phải có hiểu biết về văn hóa nước bạn để ứng xử cho phù hợp, sau đó phải thích nghi với vô số khác biệt tại đây. Bên cạnh đó, vì tất cả cán bộ và nhân viên ngoại giao đều cùng sinh hoạt tại sứ quán, đi đâu cũng ở chung một khách sạn, nhiều khác biệt bắt đầu nảy sinh. Hàng loạt câu chuyện dở khóc dở cười ra đời từ đấy. Đại Sứ Một từng mang hàm bộ trưởng, ông thuộc thế hệ không biết tiếng ngoại ngữ, chỉ thích uống rượu cùng cá khô nướng. Đại Sứ Hai xuất thân là thông ngôn, hiểu biết văn hóa rất hạn chế, tuy vậy ông rất giỏi trong việc kết nối với các doanh nghiệp nước ngoài để thu lợi riêng. Đại Sứ Ba là nữ đại sứ duy nhất trong năm vị, bà bổ nhiệm làm đại sứ nhờ khéo ăn nói, biết điều hành và giỏi che đậy mưu mô. Bên cạnh các đại sứ còn có Tham Tán, Quản Trị, Tạp Vụ, Lái Xe… họ hiện lên qua hình ảnh kém chuẩn mực về tư duy, về tác phong và hành vi. Họ là sản phẩm của văn hóa tiểu nông, văn hóa làng xã “nền văn hóa đó chứa đựng nhiều giá trị làm nên diện mạo, bản sắc văn hóa Việt Nam”[3]. Tuy vậy, thời đại đổi mới đã đến, lối tư duy cũ không còn phù hợp, nó là vật cản trở sự phát triển của đất nước. Vì vậy, nhân vật Đại Sứ Bốn và Anh (sau này trở thành đại sứ tại Hamania) được xây dựng hoàn toàn trái ngược. Đại Sứ Bốn và Anh là những người sẵn sàng thay đổi để phù hợp với thời cuộc, để hội nhập toàn cầu, là những người có ý thức trách nhiệm cao và có tinh thần phụng sự Tổ quốc.
Tiểu thuyết Năm lá quốc thư thể hiện nghệ thuật tổng hợp đặc sắc. Tác giả kết hợp đặc trưng tiểu thuyết cùng hình thức tiểu luận với kiến thức về điện ảnh, võ thuật, ẩm thực… một cách hài hòa và độc đáo. Bố cục theo trình tự tuyến tính (từ lá quốc thư thứ nhất đến lá quốc thư thứ năm), nhưng các sự kiện trong tác phẩm lại phân mảnh, lắp ghép, tạo ra những khoảng trống cho người đọc tư duy, tưởng tượng. Cả nội dung và nghệ thuật đặc sắc ấy làm nổi bật thông điệp Hồ Anh Thái muốn gửi gắm thông qua tác phẩm: văn hóa Việt Nam cần thay đổi tích cực để phát triển và hội nhập, mỗi người Việt Nam phải có tầm nhìn rộng mở, thúc đẩy tư duy toàn cầu. Thay đổi không phải là đánh mất chính mình, thay đổi là để phù hợp hơn với sự phát triển chung của toàn nhân loại.
Khác với tính hư cấu của Năm lá quốc thư, tiểu thuyết Bà đại sứ mang tính chất tiểu thuyết tự truyện. Bà đại sứ kể chuyện cô bé Helen Adams Keller, cô bé bị viêm màng não vào năm hai tuổi, sau đó trở thành một đứa trẻ câm, điếc, mù. Tưởng chừng như cuộc đời của Helen sẽ ở mãi trong “đêm tối hãi hùng” ấy thì cô giáo Ann Sullivan xuất hiện và giúp đỡ Helen. Cô đã kiên nhẫn dạy Helen từng chút một, Helen dần ngoan hơn, dần biết chữ, biết đọc, biết viết và học được nhiều kiến thức mới. Cô giáo đã “khai phá” tài năng thiên bẩm và nghị lực phi thường trong Helen. Helen trở thành người khiếm thị, khiếm thính đầu tiên tốt nghiệp cử nhân nghệ thuật của Đại học Harvard. Sau tốt nghiệp, Helen siêng năng lao động để nuôi sống bản thân, Helen viết sách, diễn thuyết, đặc biệt quan tâm đến việc giúp đỡ những người khiếm thị. Cô Ann và Polly là hai người luôn bên cạnh và hỗ trợ Helen trong công việc. Tưởng như mọi thứ suôn sẻ, nhưng sóng gió vẫn bủa vây Helen. Đó là việc cô Ann dần già yếu và qua đời, rồi căn nhà của Helen bị cháy và toàn bộ đồ đạc, bản thảo của Helen bị thiêu trụi. Nhưng Helen vẫn mạnh mẽ vượt qua, cô luôn đặt sự quan tâm dành cho mọi người lên trên và xem những mất mát của bản thân chỉ là một phần nhỏ. Cuốn tiểu thuyết gồm 22 chương, mỗi chương tương đối ngắn, kể lại các sự kiện quan trọng trong cuộc đời Helen. Tác phẩm được kể theo trình tự tuyến tính, dễ đọc, dễ hiểu. Nhân vật được khắc họa rõ nét và chân thực. Cuốn tiểu thuyết làm nổi bật hình ảnh tốt đẹp về Helen, cô Ann và cả Polly. Đó cũng chính là thông điệp tác giả muốn gửi gắm thông qua tác phẩm: đừng bao giờ giới hạn bản thân mà hãy luôn nỗ lực để vươn lên trong mọi hoàn cảnh; hãy sống với lòng nhân ái, sống với tinh thần trách nhiệm cao và sẵn sàng phụng sự xã hội bằng cả sức mình.
Đại Sứ Ba – nữ đại sứ duy nhất trong Năm lá quốc thư của Hồ Anh Thái, là một nhân vật hư cấu. Còn Helen Keller trong tiểu thuyết Bà đại sứ của Hickok là nhân vật có thật và đi vào tác phẩm văn chương. Cả hai nhân vật cùng góp phần làm nên thành công của tác phẩm, đưa thông điệp của tác giả đến với người đọc. Trên nhiều phương diện, hai nhân vật nữ đại sứ tồn tại nhiều điểm tương đồng và khác biệt, mỗi người đều có cá tính, phong cách, quan điểm của riêng mình. Đây là điều thú vị khi quan sát hai nữ đại sứ từ góc nhìn so sánh.
Nét tương đồng ở hai người phụ nữ
Nhân vật nữ đại sứ trong hai tác phẩm Năm lá quốc thư và Bà đại sứ có những điểm tương đồng. Sự tương đồng này bắt nguồn từ nhiều lý do, có thể bởi giới tính (phái nữ), trọng trách (đại sứ) và còn nhiều yếu tố khác trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.
Về địa vị của bản thân, cả hai đều được gọi là “đại sứ”. Đại Sứ Ba trong Năm lá quốc thư của Hồ Anh Thái là người phụ nữ được chủ tịch nước bổ nhiệm làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước tại nước Cộng hòa Dân chủ Malastan (một đất nước hư cấu). Nữ đại sứ trong tiểu thuyết Bà đại sứ là Helen Keller, người phụ nữ khiếm thính và khiếm thị đầu tiên tốt nghiệp cử nhân nghệ thuật tại Đại học Harvard. Cả hai người phụ nữ này đều đại diện cho cộng đồng của mình để thực hiện những nhiệm vụ được giao phó. Đại Sứ Ba đại diện cho cộng đồng người Việt, thực hiện các công tác ngoại giao nhằm phát triển sự hợp tác hữu nghị và phát triển giữa hai nước. Còn Helen, bà là đại diện của cộng đồng người khuyết tật (chủ yếu là người mù, câm, điếc), những người yếu thế và cần được quan tâm, giúp đỡ nhiều hơn. Cả hai người phụ nữ đều mang trên vai mình trọng trách, ảnh hưởng đến nhiều đoàn thể và cá nhân trong xã hội (nơi mà họ đang đại diện).
Về năng lực, vì cùng là đại sứ, hai người phụ nữ thể hiện một số điểm tương đồng. Đầu tiên, cả hai nữ đại sứ đều cố gắng vì lợi ích của cộng đồng mình đại diện. Trong chuyến đi công tác, Đại Sứ Ba chọn đúng thời điểm để mời bộ trưởng ngoại giao của nước bạn cùng một số đại sứ đang có mặt tại địa phương dự tiệc do bà tổ chức. Trong buổi tiệc, bà và cô thư ký mặc trang phục áo dài truyền thống. Phần đầu của tiệc, mọi người cùng xem bộ phim Bao giờ cho đến tháng mười được trình chiếu trên màn hình lớn, thông qua bộ phim, bà giới thiệu đến bạn bè quốc tế nghệ thuật hát chèo của Việt Nam, giới thiệu về đức hy sinh của người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh và thời hậu chiến. Bạn bè quốc tế không khỏi xúc động “Bà phu nhân bộ trưởng ngoại giao kéo tấm khăn choàng trên vai chấm nước mắt. Cả phòng một trăm con người lặng ngắt” (tr.191). Đến phần ẩm thực, nem rán được cô thư ký gói và thuyết trình trước đông đảo quan chức nước bạn, được chiên giòn ngay tại chỗ và mời mọi người ăn thử ngay. Họ đã không khỏi trầm trồ trước sự khéo léo của đôi tay người gói và hương vị của món nem. Văn hóa Việt Nam đã được giới thiệu đến quan chức nước bạn một cách tự nhiên và giàu cảm xúc như thế.
Đối với Helen, sự cố gắng của bà vì cộng đồng người khuyết tật là rất rõ ràng, dễ nhận thấy. Từ khi mới mười một tuổi, Helen đã tìm cách giúp đỡ Tommy Stringer, một cậu bé năm tuổi mù câm điếc bị cha bỏ lại ở trại tế bần, để cậu bé có đủ tiền nhập học chương trình giảng dạy đặc biệt cho trẻ em khuyết tật tại học viện Perkins. Sau khi tốt nghiệp đại học, Helen đã có tầm ảnh hưởng lớn đối với xã hội vì sự thông minh và nỗ lực lớn lao. Từ đây, bà chính thức bắt tay vào làm vô số công việc để giúp ích cho xã hội, cho người khuyết tật. Được giao nhiệm vụ là người xin tài trợ cho Quỹ hỗ trợ người khiếm thị nước Mỹ, Helen làm việc tận tâm để lúc nào cũng xin về được “những khoản tiền đáng mừng” (tr.187). Quỹ đã cùng với Quốc hội soạn thảo văn bản luật, xây dựng các chiến dịch để hỗ trợ cho người mù, giúp họ được tin tưởng, được lao động như người bình thường. Cùng với thư viện quốc gia, Quỹ đã xuất bản nhiều cuốn “sách nói” dành cho người mù, đó là những đĩa nhựa với giọng đọc to, rõ ràng. Tất cả những điều này được thực hiện thành công nhờ sự đóng góp không nhỏ của Helen Keller.
Điểm tương đồng tiếp theo về năng lực của hai nữ đại sứ chính là việc cả hai đều biết cách “dùng người”. Là người có địa vị, có nghĩa vụ lớn lao đối với xã hội thì việc nhìn nhận và lựa chọn người đồng hành để làm việc là rất quan trọng. Việc Đại Sứ Ba chọn Nàng làm thư ký đại sứ, đưa Nàng cùng đi công tác, thể hiện khả năng “nhìn người” của một lãnh đạo. Tuy giữa bà và cô thư ký về sau có xảy ra bất đồng quan điểm, nhưng khoảng thời gian họ đồng hành đã tạo dựng được không ít thành quả. Đó là thời gian cô thư ký hỗ trợ bà rất nhiều trong quá trình bồi dưỡng ngoại ngữ cho đại sứ, thực hiện những văn bản nội dung và các loại hồ sơ thủ tục. Đó là chuyến đi trình Quốc thư thành công, giới thiệu được văn hóa Việt Nam, để lại ấn tượng tốt trong mắt bạn bè quốc tế.
Còn Helen Keller, hai người gắn bó nhất với bà là Ann Sillivan và Polly Thomson. cô giáo Ann là người đầu tiên nắm tay và đưa Helen ra khỏi “ngục tù của đêm tối”. Tuy vậy, việc cô ở lại và đi cùng Helen đến cuối cuộc đời không chỉ là sự lựa chọn của cô, đó còn là lựa chọn của Helen, bà chọn Ann ở lại bên mình vì sự tận tụy và tình yêu thương của cô ấy. Đối với Polly, người xuất hiện ở phần sau cuộc đời của Helen và Ann, Polly ở bên và phụ việc cho Helen vì cảm thấy gắn kết và đồng điệu với bà. Tuy vậy, việc Helen đồng ý cho Polly ở lại bên cạnh mình là một lựa chọn sáng suốt. Trong khoảng thời gian họ đồng hành, Helen đã đạt được không ít thành công, bà đi diễn thuyết khắp các thành phố của Mỹ, bà diễn thuyết mở màn trong các sân khấu tạp kỹ, bà làm đại diện xin tài trợ cho Quỹ hỗ trợ người khiếm thị, bà đi đến nhiều quốc gia để giúp đỡ cho những người mù lòa sau chiến tranh, bà đi đến một số nước Bắc Âu trên danh nghĩa Đại sứ thiện chí của Hoa Kỳ. Tất cả những thành công này, đều có sự hỗ trợ tận tâm của Ann và Polly.
Về tính cách, cả hai nhân vật cho thấy một số nét tương đồng. Trước tiên, cả hai nhân vật nữ đại sứ đều là người có tinh thần học hỏi. Điều này dễ dàng nhìn thấy nhất ở Helen Keller. Từ khi biết đôi tay cũng có thể “nói”, bà đã không ngừng giao tiếp với mọi người xung quanh, đặc biệt là cô Ann để học hỏi những điều mới mẻ. Còn Đại Sứ Ba, tinh thần học hỏi của bà cũng được Hồ Anh Thái nhắc đến qua một số chi tiết, cụ thể là những lúc bà cố gắng học ngoại ngữ từ cô thư ký. Nữ thư ký được Hồ Anh Thái gọi là Nàng – cánh tay phải của Đại Sứ Ba – một cô gái năng động, giỏi ngoại ngữ, vững chuyên môn. Giữa lúc bà và thư ký đang say sưa trong cảnh đẹp ở vùng nam Ấn Độ Dương, bà vẫn hào hứng học thuộc lòng câu thơ tiếng Anh mà cô thư ký ngân nga, vừa là đọc thơ, vừa là ôn luyện tiếng Anh:
“If there is a heaven on earth,
It’s here,
It’s here,
It’s here”.
(tr.183)
Tính cách của hai nữ đại sứ còn có điểm chung khi họ đều là người biết thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên. Trong Năm lá quốc thư, tuy tác giả không đề cập nhiều sự cảm nhận thiên nhiên của Đại Sứ Ba, nhưng người đọc vẫn có thể thấy được điều đó trong một số chi tiết. Khi đến quần đảo ở nam Ấn Độ Dương để làm nhiệm vụ, Đại Sứ Ba đã có khoảng thời gian ngắn để tham quan và cảm nhận thiên nhiên tuyệt vời, “khắp đảo bừng lên cả rừng lá phong vàng lá phong đỏ. Cảnh vật cứ như mùa thu ở xứ Âu Mỹ” (tr.181-182). Chính bà – người phụ nữ có phần lạnh lùng, cứng rắn – cũng đã có lúc thả hồn với thiên nhiên nơi này. Bà ngồi yên trên thảm lá, ngân nga học thuộc lòng câu thơ mà thư ký riêng đang hướng dẫn bà đọc. “Ai đó nói rằng ngoại giao dù có đi một trăm nước thì cũng chỉ nhìn đời qua cửa kính ô tô? Biết thưởng thức và thụ hưởng thì người ta cũng không thể thiếu những giờ phút như thế này” (tr.183-184).
Ở Helen Keller, tình yêu thiên nhiên cũng bộc lộ đặc sắc không kém. Helen là một đứa trẻ mù, điếc, thậm chí gần như câm vào khoảng thời gian c̣n nhỏ tuổi. Nói bà gần như câm là vì bà vẫn phát ra được âm thanh, nhưng không nói được vì điếc và mù, thế giới của bà là một “ngục tù tăm tối”. Helen không nhìn thấy được thiên nhiên đẹp, không nghe được âm thanh xào xạc của cây cối, tiếng kêu của muôn loài, nhưng bà vẫn yêu thiên nhiên từ những ngày còn nhỏ “Helen rất thích vườn. Nó thích mùi của cây kim ngân, mùi của những cây hoa hồng leo bò dọc theo ngôi nhà” (tr.39). Ngày đó, Helen chỉ khoảng bảy tuổi, tuy mất thị lực và thính lực nhưng chính khứu giác đã giúp đứa bé ấy có thể cảm nhận được mùi hương thơm thảo của cỏ cây. Hơn nữa, tuy mắt không nhìn thấy nhưng Helen có đôi tay nhạy vô cùng, không ngoa khi nói đôi tay cũng là đôi mắt của cô bé. “Nó thích sờ những chiếc lá dày và gai sần của hàng rào hoàng dương. Nó cảm thấy trên cánh tay, trên bàn tay cái nóng ấm của mặt trời” (tr.39), nhờ đôi tay, nhờ xúc giác, bà cảm nhận được hình dạng, sự thay đổi của vạn vật xung quanh. Tình yêu thiên nhiên cũng hình thành từ đấy.
Nét tương đồng nữa trong tính cách của hai nữ đại sứ là lòng yêu thương con người. Điều này thấy rõ nhất ở Helen Keller, người phụ nữ mù cố gắng vượt lên số phận và dành tất cả sự quan tâm, yêu thương cho những người kém may mắn như mình. Bao nhiêu chuyến đi, bao nhiêu lời kêu gọi, lời động viên của bà chỉ để những người mù được quan tâm đúng mực, để những người mù được học hỏi, được phát triển một cách tốt nhất. Còn Đại Sứ Ba, tình thương này (dù có điều kiện) thể hiện trong cách bà đối xử với thư ký của mình. Bà đã tìm cách đưa Nàng đi công tác cùng với mình, dù Nàng chỉ mới ra trường ba năm, chưa đủ điều kiện để được đi công tác. Bà đối xử với sự quan tâm và có phần nuông chiều cô thư ký. “Bà đọc theo. Chiều con bé một tí” (tr.183), “Thôi ăn đi cô, kẻo không còn dịp nào được ăn tiệc ở thiên đường” (tr.188).
Điểm tương đồng của cả hai nhân vật nữ đại sứ được cấu thành do nhiều yếu tố, tuy vậy, từ góc nhìn văn hóa, phần nào có thể lý giải được căn nguyên của vấn đề. Việt Nam với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, đồng bằng và các con sông được hình thành, từ đây, người Việt sống dựa vào trồng trọt, là một nền văn hóa nông nghiệp. Vì lẽ đó, những tác động của tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình trồng trọt của người Việt. Khi gặp thiên tai và các điều kiện thời tiết khắc nghiệt, người dân gần như “mất trắng” công sức lao động của mình. Do đó, thiên hướng hoạt động nổi bật của người Việt là hành động. Người Việt Nam cố gắng, nỗ lực để vươn lên, cần cù, chịu khó, chịu vất vả và ít chịu khuất phục, có khao khát đạt được thành công. Đây là một nét nổi bật trong văn hóa Việt. Là phụ nữ, Đại Sứ Ba đã rất nỗ lực để được ngồi vào vị trí đại sứ. Đại Sứ Ba thể hiện sự nỗ lực trong quá trình làm ngoại giao (giới thiệu văn hóa và thực hiện các chính sách đối ngoại của Việt Nam) và đạt được hiệu quả nhất định.
Còn chủ nghĩa cá nhân (individualism) là một nét văn hóa đặc trưng của Mỹ. Vì tính cá nhân được đề cao, các cá nhân Mỹ cũng có thiên hướng hành động, tập trung vào sự nỗ lực của mỗi cá nhân với mong muốn được công nhận, không ỷ lại hay dựa dẫm vào người khác. Giấc mơ Mỹ (American Dream) là “a dream of social order in which each man and each woman shall be able to attain to the fullest stature of which they are innately capable, and be recognized by others for what they are”[4] (tạm dịch: giấc mơ về trật tự xã hội mà ở đó mỗi người đàn ông và phụ nữ sẽ đạt được tầm vóc trọn vẹn nhất mà họ có thể, và được người khác công nhận thực lực của họ). Người Mỹ tin rằng khi cố gắng, chăm chỉ, nỗ lực, họ sẽ đạt được thành công, được xã hội công nhận. Helen đã nỗ lực rất nhiều trong quá trình học tập và làm việc của mình, đó cũng là mong muốn được mọi người công nhận thực lực, bất kể hoàn cảnh riêng của bà.
Dù có những khác biệt sâu sắc, cả hai nền văn hóa Việt Nam và Mỹ đều không thể ở bên ngoài xu thế chung của thời đại là toàn cầu hóa. Văn hóa là vật thể “sống”, có thể thay đổi, có thể phát triển theo từng chặng đường của mỗi dân tộc. Người Việt đề cao tính cộng đồng, vì vậy, ý thức quốc gia của người Việt rất lớn. Cũng vì lẽ đó, “Người Việt Nam, do ý thức quốc gia lớn, cho nên thường ít quan tâm đến những vấn đề quốc tế”[5] (Trần Ngọc Thêm, tr.106). Nhưng nét văn hóa này của người Việt đã dần thay đổi theo thời gian, toàn cầu hóa làm thế giới “phẳng đi và chật lại”, mọi người có thể dễ dàng tìm hiểu, kết nối, người Việt quan tâm hơn đến những vấn đề quốc tế. Đại Sứ Ba cũng vậy, bà cố gắng giới thiệu văn hóa Việt đến bạn bè quốc tế trong bữa tiệc chiêu đãi tại đảo quốc, bà đồng ý dự cuộc họp dưới nước của đảo quốc để hưởng ứng lời kêu gọi, cứu lấy một đảo quốc đang dần chìm. Đó là cách Đại Sứ Ba bày tỏ sự quan tâm, chia sẻ và cảm thông đối với vấn đề quốc tế và bạn bè quốc tế.
Khác với Việt Nam, từ thời xưa, các quốc gia phương Tây “luôn có quan hệ mật thiết với nhau, dù là chiến tranh hay hòa bình” (Trần Ngọc Thêm, tr.106), và Mỹ cũng không ngoại lệ. Việc làm của Helen thể hiện rõ điều này, bà không chỉ quan tâm đến người khuyết tật ở Mỹ, mà cả người khuyết tật ở nhiều quốc gia khác. Đó là những chuyến đi thăm hỏi, động viên, kêu gọi quỹ để cải thiện cuộc sống cho người khuyết tật ở khắp nơi.
Toàn cầu hóa đã giúp văn hóa Việt phát triển hơn dựa trên gốc rễ của văn hóa dân tộc. Và sự phát triển này đã gặp gỡ với một phần của văn hóa phương Tây, cụ thể trong trường hợp này là văn hóa Mỹ.
Họ cũng có nhiều điều khác biệt
Bên cạnh các điểm tương đồng, hai nhân vật nữ đại sứ trong Năm lá quốc thư và Bà đại sứ cũng hiển hiện nhiều điểm khác biệt trong tính cách, năng lực. Chính sự khác nhau này làm bật lên cá tính của mỗi người. Đây cũng là một vấn đề đáng được chú ý.
Mỗi nữ đại sứ đều có sứ mệnh riêng. Đại Sứ Ba trong Năm lá quốc thư là đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam ở nước sở tại. Bà là người đại diện ngoại giao có chức vụ và quyền hạn cao nhất để đại diện cho Việt Nam tại nước bạn. Với địa vị đó, bà đại diện cho chính phủ, người dân và cả cộng đồng người Việt tại đất nước bà đang công tác. Trên vai bà mang sứ mệnh lớn lao, đó là thúc đẩy tình hữu nghị, sự phát triển, hợp tác đôi bên cùng có lợi của hai nước, đó là mang văn hóa Việt Nam đến và giới thiệu với nước bạn, đưa hình ảnh con người Việt Nam chăm chỉ nồng hậu đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Còn Helen Keller được gọi là “đại sứ” vì đại diện cho cộng đồng người khuyết tật. Không là đại diện cho cả quốc gia như Đại Sứ Ba, nhưng sứ mệnh của Helen vẫn rất lớn. Helen hỗ trợ, giúp đỡ những người khuyết tật (câm, điếc, mù) để họ được phát triển bình thường, được học tập, được làm việc, kiếm sống như bao người khác. Sứ mệnh của Helen không dừng lại trong phạm vi nước Mỹ, bà đã đi qua nhiều quốc gia (đặc biệt là từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai), mục đích của các chuyến đi ấy thì không hề thay đổi: “làm tất cả những gì con người có thể để hàng triệu người mù và hàng triệu người câm điếc trên thế giới có cơ may được sống như những người bình thường” (tr.197). Đây là điểm khác nhau cơ bản trong trách nhiệm của hai nữ đại sứ, chính điểm khác nhau đến dẫn đến những khác biệt lớn hơn trong tính cách và năng lực của cả hai.
Về tính cách, Đại Sứ Ba và Helen Keller khác nhau về sự trung thực trong quá trình công tác. Đại Sứ Ba trong quá trình công tác bà đã nhiều lần không trung thực về vấn đề tài chính. Sau buổi chiếu phim và chiêu đãi được bà tổ chức tại nước bạn để giới thiệu văn hóa, ẩm thực Việt Nam, bằng một cách thần kỳ bà đã “hô biến” thành hai hóa đơn, chiếu phim riêng, chiêu đãi riêng và tổng chi phí đội lên rất nhiều. Đây chỉ là một ví dụ điển hình trong quá trình “khai khống” hóa đơn của bà đại sứ, vì “những khoản chi khác, bà cũng đưa cho Nàng một đống hóa đơn, tất cả đều nâng giá lên gấp đôi” (tr.201-202). Đối lập hoàn toàn với Đại Sứ Ba, bà Helen thể hiện sự trung thực trọn vẹn trong quá trình làm công tác. Khoảng thời gian bà làm người đại diện đi xin tài trợ cho quỹ hỗ trợ người khiếm thị, bà đi khắp các thành phố trên nước Mỹ để trình bày mục đích của tổ chức và đề nghị sự giúp đỡ. Các khoản tiền “đáng mừng” cứ thế đổ về quỹ, tất cả được tập trung hỗ trợ cho người khiếm thị có cơ hội được đọc sách, học hành và phát triển tư duy trọn vẹn nhất có thể. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, công việc quyên góp từ thiện lại được Helen thực hiện càng tích cực hơn. Bà mong muốn những người mù lòa đi ra từ cuộc chiến có thức ăn, nơi ở. Họ cần được học ở trường dành cho người mù, có thư viện và máy đánh chữ Braille, những thứ đã bị phá hủy trong cuộc chiến. Helen đã cố hết sức để xin tài trợ chỉ vì mong muốn cuộc sống của những người khuyết tật được đầy đủ hơn.
Trong tính cách của hai nữ đại sứ còn có những khác biệt về lòng quan tâm đến mọi người. Trong quá trình công tác, Đại Sứ Ba đã tìm cách rút quỹ công để chia cho cán bộ và nhân viên sứ quán, “tiền ấy đã được rút ra và chuyển sang công đoàn mà chia thành phúc lợi cho chị em” (tr.208). Bên cạnh đó, bà cho phép sử dụng kinh phí chung để mua đồ dùng riêng cho mọi người trong sứ quán “người ta đã nhân đấy mà mua luôn cả đồ vệ sinh” và đồ gia dụng cho cán bộ nhân viên trong cơ quan (tr.203-205). Tất cả những điều này cho thấy Đại Sứ Ba dành sự quan tâm lớn cho bản thân và những người dưới quyền của bà trong sứ quán. Quan tâm đến cấp dưới và những người gần gũi xung quanh là tốt, nhưng Đại Sứ Ba đã không làm đúng nguyên tắc trong quá trình quản lý các khoản chi tiêu. Còn Helen Keller, bà thể hiện sự quan tâm đối với tất cả, đặc biệt là người kém may mắn. Vì khiếm khuyết, Helen kiếm tiền không hề dễ dàng, và tất nhiên, số tiền đó còn phải đủ lo cho cả cô Ann và Polly. Tuy vậy, Helen sau khi tốt nghiệp đại học đã cố gắng tìm nhiều cách tự nuôi sống bản thân mà không phụ thuộc vào tiền giúp đỡ của bất kỳ ai. Khó khăn là vậy, Helen vẫn là một người rất hào phóng. Khi nghe tin một đứa trẻ, một tổ chức, một trung tâm nào cần sự giúp đỡ, bà sẵn lòng giúp đỡ ngay dù sau đó “phải ăn khoai tây, uống nước trắng trong nhiều ngày để đợi thù lao của những buổi nói chuyện sau” (tr.175). Đó chỉ là đơn cử một việc rất nhỏ trong suốt cuộc đời cống hiến cho xã hội của Helen, người phụ nữ này đã hạ quyết tâm giúp đỡ những người cùng khổ bằng cả cuộc đời mình. Bà đến thăm rất nhiều nước, trong đó, dừng chân tại Nhật Bản ba lần để thăm hỏi các em học trong trường khiếm thị, nơi mà các học trò đều gọi Helen là “mẹ”. Năm bảy mươi tư tuổi, Helen vẫn đi đợt công cán dài 80.000 km vòng quanh thế giới, thăm hỏi những nơi dành cho người mù, người điếc, tìm cách hỗ trợ họ nhiều hơn để họ có cơ hội phát triển như những người bình thường. Helen cho rằng, cô Ann đã dành cả cuộc đời để đem lại may mắn đó cho Helen, giờ đây Helen sẽ “dành tất cả những gì tốt đẹp nhất mà mình có thể cho những người anh em bất hạnh” (tr.198).
Về năng lực, hai nữ đại sứ thể hiện điểm khác nhau rõ rệt. Đại Sứ Ba là người giỏi trong cách “chọn người”, trong suốt quá trình làm đại sứ, theo bên bà là thư ký giỏi, người có thể hỗ trợ bà sắp xếp công việc, lên ý tưởng chương trình, hỗ trợ bà về ngoại ngữ, soạn thảo nội dung và làm các giấy tờ cần thiết cho chuyến đi công tác. Nhìn chung, Đại Sứ Ba là người giỏi trong việc quản lý và thu xếp công việc. Bà không đích thân soạn thư, trả lời thư, soạn thảo các văn bản, không đích thân lên ý tưởng các sự kiện mà là người quan sát và điều hành cấp dưới. Khác với Đại Sứ Ba, Helen Keller là người đích thân làm mọi việc, ở bà thể hiện năng lực chuyên môn cao và vững vàng. Suốt từ những năm tháng còn đi học, Helen đã cố gắng học tất cả các môn như một người không khuyết tật, từ đó bà đủ điều kiện tốt nghiệp Harvard. Sau khi tốt nghiệp, Helen đã tìm mọi cách để truyền tải năng lượng tích cực đến mọi người, tìm cách giúp đỡ những người khiếm khuyết. Bà là người trực tiếp nói chuyện với khán giả trong những buổi diễn thuyết của mình, bà tự tay soạn những bức thư thương thuyết để tìm sự hỗ trợ cho những người cần được giúp đỡ, bà đi đến nhiều nước trên thế giới để hỏi thăm, động viên, hỗ trợ cuộc sống cho những người mù, câm, điếc, bà tìm cách giúp đỡ những người mù lòa sau chiến tranh để họ có nơi ăn, chốn ở, có trường học và thư viện bằng chữ Braille và còn nhiều, rất nhiều hơn thế nữa. Tất cả những điều này cho thấy được Helen Keller làm việc bằng năng lực chuyên môn cao và trái tim đầy ắp tình yêu thương.
Từ góc nhìn đối sánh, nhân vật nữ đại sứ trong Năm lá quốc thư và Bà đại sứ biểu hiện một số điểm khác biệt. Đại Sứ Ba biết cách “dùng người”, cứng rắn, biết cách quản lý và điều hành. Tuy nhiên, khi soi chiếu nhân vật qua lăng kính văn hóa, chúng ta sẽ nhận thấy được phần nào một số yếu tố văn hóa Việt được biểu hiện ở Đại Sứ Ba. Mối quan hệ giữa con người và văn hóa quốc gia (nơi họ sinh ra, sinh sống) là một mối quan hệ tương tác hai chiều. Văn hóa quốc gia có ảnh hưởng lớn đến tư duy, tư tưởng, hành vi… của con người. Và con người cũng chính là chủ thể trong việc duy trì, phát triển và thay đổi nền văn hóa đó. Từ góc nhìn văn hóa cho thấy, trước tiên, người Việt có tinh thần xem trọng ngôi nhà, xem trọng bếp núc, xem trọng người phụ nữ, vì vậy “phụ nữ Việt Nam là người quản lý kinh tế, tài chính trong gia đình – người nắm tay hòm chìa khóa” (Trần Ngọc Thêm, 1999). Hơn nữa, vì xuất phát từ văn hóa nông nghiệp, người đứng đầu trong xã hội nông nghiệp phải biết “dùng người”, phân chia lao động phù hợp, bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng. Ảnh hưởng bởi những yếu tố ấy, Đại Sứ Ba tỏ ra thành thạo trong cách chọn người, điều hành và quản lý. Tuy vậy, bà vẫn còn một số hạn chế trong tính cách, đó là thiếu trung thực về tài chính, thu vén cá nhân, nhiều âm mưu và thủ đoạn hại người không ăn cánh với mình, làm tổn hại thể diện quốc gia. Tính cách của Đại Sứ Ba không phải hiếm gặp, bởi vì Đại Sứ Một và Đại Sứ Hai cũng có những nét tương tự. Điều này có liên quan đến nền văn hóa nông nghiệp, tâm lý tiểu nông. Người ta chỉ thấy được cái lợi trước mắt, trục lợi cá nhân mà không có tầm nhìn bao quát, không có tinh thần phụng sự xã hội. Cũng bởi văn hóa trọng cộng đồng, người ta đâm ra ngại việc, đùn đẩy, trông chờ vào tập thể. Đó còn là kiểu văn hóa làng xã, “trăm cái lý không bằng một tí cái tình”, những người có quen biết, có “gốc rễ”, có “tí cái tình” lại được bổ nhiệm (Đại Sứ Ba là một trường hợp như vậy).
Tuy nhiên, từ góc nhìn toàn diện, Năm lá quốc thư còn xây dựng nên hình ảnh Đại Sứ Bốn và Anh (đại sứ năm), cũng xuất phát từ nền văn hóa nông nghiệp, nhưng họ đã làm tốt nhiệm vụ của mình, hội nhập với thời cuộc, thực sự phụng sự Tổ quốc. Điều này cho thấy, hạn chế không chỉ xuất phát từ văn hóa, nó còn xuất phát từ yếu tố con người. Cố thủ bám lấy những điều đã lỗi thời, không thay đổi nhận thức, tư duy, làm cho Đại Sứ Ba trở nên lạc hậu trong nhận thức, làm nhiều việc sai quy định và ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia. Mặc dù, một cách công bằng, trong “khuôn viên” sứ quán, bà là người sếp khá thông thạo, cũng biết chia sẻ lợi ích cho cấp dưới. Trên góc độ công việc, tuy không “sành” về chuyên môn, nhưng bà cũng có tinh thần học hỏi, biết cố gắng và biết cách “dùng người”, trọng dụng nhân tài.
Nhìn về Helen Keller, bà không hoàn hảo vì thiếu đi đôi mắt và đôi tai, tuy vậy, những điểm không hoàn hảo ấy đã hình thành nên một con người hoàn hảo. Bằng tất cả sức mình, Helen đã nỗ lực chinh phục tri thức, nỗ lực giúp đỡ những người khuyết tật trong và ngoài nước Mỹ. Đi sâu vào khía cạnh văn hóa, Helen thể hiện rõ tinh thần của Giấc Mơ Mỹ. Giấc mơ Mỹ là đặc tính quốc gia của Hoa Kỳ, nó chứa đựng nhiều yếu tố, nhưng thấy rõ nhất ở Helen chính là mong muốn “cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn, giàu có hơn và đầy đủ hơn cho mọi người”[6]. Mang đậm tinh thần Giấc mơ Mỹ, Helen không ngừng nỗ lực, gây quỹ, kêu gọi tài trợ để hỗ trợ cho những người câm điếc mù có cơ hội học tập và lao động. Bà đi nhiều nơi, tận tình thăm hỏi, động viên họ vượt qua khó khăn về thể xác lẫn tinh thần, hướng đến một tương lai tốt đẹp. Giấc mơ Mỹ còn là “giấc mơ về trật tự xã hội mà mỗi người đàn ông và phụ nữ đều có thể đạt được tầm vóc tối đa mà họ có khả năng bẩm sinh, và được người khác công nhận vì chính con người họ” (Adams, tr.404). Điều này cũng thấy rất rõ ở Helen, người phụ nữ không đầu hàng số phận mà cố gắng học tập, tạo ảnh hưởng xã hội, trở thành một con người vĩ đại. Và cách bà giúp đỡ cộng đồng người khuyết tật cũng như vậy, hướng họ đến với giáo dục, tri thức, dùng sức mình để lao động như một người bình thường. Điều mà Helen có không chỉ là tình yêu thương dành cho mọi người, không chỉ là những vinh dự lớn lao do xã hội công nhận, mà đó còn là tình hữu nghị, tình bạn bà đã xây dựng ở nhiều nơi trên thế giới. Sự gắn kết đó không phân biệt giới tính, lứa tuổi, sang hèn. Trên tất cả, Helen Keller xứng đáng là đại sứ cho cả cộng đồng lớn, người phụ nữ vĩ đại đã dành cả cuộc đời mình đem lại niềm tin cuộc sống cho người khuyết tật, đóng góp cho sự phát triển của xã hội và toàn nhân loại.
Thông điệp từ môi trường văn hóa
Tựu trung, từ góc nhìn đối sánh, nhân vật nữ đại sứ trong hai tiểu thuyết Năm lá quốc thư và Bà đại sứ song song tồn tại điểm tương đồng lẫn khác biệt. Cả hai nhân vật đều là kiểu phụ nữ có năng lực và có địa vị trong xã hội. Hành động và suy nghĩ của Đại Sứ Ba cho thấy rõ, bà là người phụ nữ quyết đoán, biết quản lý và điều hành. Tuy nhiên, một số khiếm khuyết ở Đại Sứ Ba cho thấy được tính cách, quan điểm, tầm nhìn của nhân vật. Điều này cũng cho thấy được một số yếu tố của văn hóa tiểu nông đã không còn phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện thời. Từ đây, mỗi độc giả có thể tìm kiếm cho mình những thông điệp văn hóa mà Hồ Anh Thái đã gửi gắm thông qua tác phẩm và nhân vật.
Còn Helen Keller làm nên nhiều điều khác biệt cho xã hội. Những thành tựu Helen đạt được trong quá trình làm việc và những giá trị Helen để lại cho đời đã chứng tỏ được năng lực và tư duy của bà. Không chỉ làm ngoại giao để gây quỹ giúp đỡ người khuyết tật, bà còn là một đại sứ thiện chí bởi lòng nhân ái bao la. Trong bối cảnh của thời đại, giá trị vật chất lẫn tinh thần mà Helen để lại vẫn không lỗi thời, mà còn là nguồn sáng cho những người khuyết tật có niềm tin vào chính mình, vào cuộc sống.
Nhìn vào hai nhân vật nữ đại sứ, ta thấy được hình ảnh người phụ nữ mạnh mẽ, quyết đoán, năng lực thể hiện qua khả năng lãnh đạo và làm việc của họ. Từ đây, cho thấy người phụ nữ hoàn toàn có thể điều hành các vị trí quan trọng trong xã hội. Hai đại sứ là hai màu sắc riêng, cá tính riêng, lối sống và quan điểm riêng. Điều này vừa phản ánh văn hóa quốc gia, vừa phản ánh bản sắc cá nhân của mỗi người. Sự đa dạng này cho thấy được nhiều gam màu đan xen của cuộc sống, nơi mà mỗi cá nhân là một phần tử để vẽ nên bức tranh xã hội đầy màu sắc.
Chú thích:
[1] Năm lá quốc thư, tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, NXB Trẻ 2019.
[2] Bà đại sứ, Lorena Alice Hickok, Trần Thanh Ngọc dịch, NXB Phụ Nữ 2018.
[3] Nguyễn Văn Hạnh (2022). Tiểu thuyết “Năm lá quốc thư” của Hồ Anh Thái – Từ góc nhìn văn hóa. Truy xuất ngày 6/9/2024 từ https://vanvn.vn/.
[4] Adams, J.T. (1931). The Epic of America. Blue Ribbon Books, page 404.
[5] Cơ sở văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm 1999, NXB Giáo Dục.
[6] Adams, J.T. (1931). The Epic of America. Blue Ribbon Books, page 404.
24/5/2025
Huỳnh Kim Phúc
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nam Cao - Một tài năng văn chương xuất sắc XXXXX

Nam Cao - Một tài năng văn chương xuất sắc Nam Cao tên thật là Trần Hữu Trí. Ông sinh năm 1917, quê làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam...