Cảm xúc hoài hương trong thơ Quang Chuyền
Xa quê, nhớ quê là lẽ
đương nhiên. Nhưng cái nhớ, cái thương tới mức trăn trở, đau đáu, da diết một đời
là chuyện chúng ta cần quan tâm chia sẻ. Nói những câu “bâng quơ” này là khi
tôi nghĩ về nhà thơ Quang Chuyền cùng
với gia tài thơ ông có.
Sinh nãm 1945, tính đến nay dù vui hay buồn thì ông cũng đã vin vào cánh cửa “bát tuần” của đời người. Chuối chín cây hay chín buồng cũng đã đều là chín, ấy thế mà ông vẫn còn biền biệt phương Nam (ông ở quận Tân Bình, TP.HCM). Quê nhà với ông vẫn là nơi chân trời, góc biển (ông là người làng Gốm, xã Sơn Đông, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc). Đeo cái ba lô đựng tuổi 80 liệu có kịp về. Nghĩ như thế và cảm như thế, tôi ngồi đọc thơ ông qua tuyển tập “Quang Chuyền Thơ và Đời” – NXBHNV ấn hành năm 2023.
Tôi và Quang Chuyền là
hiện tượng “Văn Kỳ Thanh”, chả là năm 1968 về nhận công tác ở ty giáo dục tỉnh
Tuyên Quang (Nay là Sở GD-ĐT tỉnh Tuyên Quang) ngày nào cũng lên phòng tổ chức
để xem họ quyết định về đâu. Nhớ lại một chiều cuối hạ, nhìn thấy tờ báo Tuyên
Quang để lăn lóc ở ghế ngồi, khi về tôi cầm tờ báo theo. Một mình ra ngồi ở bến
phà Nông Tiến. Giở đọc tờ báo, gặp bài thơ “Chiều Thành Tuyên” của ông. Bài thơ
viết theo dạng thơ tự do. Trong sáng, dễ nhớ, câu chữ dung dị, gợi cảm, về một
chiều thành Tuyên ngày đầu của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước: “Chiều
thành Tuyên/ Nắng khép dần cửa sổ/ Đáy sông Lô nở chùm hoa lửa/ Chim về sải
cánh qua soi…”. Đây là vẻ đẹp muôn chiều của Thành Tuyên. Nhưng chiều nay
đã có biến động: “…Từ bữa quê ta bước vào kháng chiến/ Ngày như ngắn lại-
chóng buông chiều…”
Đúng là không khí chiến
tranh đã phả sức nóng vào cái thị xã miền núi phía Bắc vốn rất yên lành
Đọc thơ nhau từ ngày ấy -
thế mà 42 năm sau (2010), tôi và Quang Chuyền mới biết mặt nhau và nắm tay
nhau. Đấy là cái ngày ông và nhà thơ Gia Dũng đến nhà tôi. Chạy ra cổng đón
khách. Ông Gia Dũng giới thiệu: “Quang Chuyền vừa ở TP.HCM ra. Cùng quê ông.
Nên dẫn đến đây, anh em gặp nhau…”
Tôi bắt tay Quang Chuyền
và tự thú – Nghe về ông nhiều, đọc thơ ông ngày tới Tuyên Quang, thế mà hôm nay
mới gặp. Quang Chuyền cười nhỏ nhẹ cảm ơn. Nhìn vào mắt ông tôi đã cảm tình, vì
ở đấy toát lên sự ấm áp, dịu dàng, chân thực…
Nhà thơ Gia Dũng nói với
tôi: Lão này con nhà lính nhưng nên gọi là “chị” Chuyền, lúc nào cũng thì thầm
nhỏ nhẹ, chứ không chém to, kho mặn như bọn mình
Rồi lại là chia tay mãi tới
năm 2020, tới Đại hội nhà văn Việt Nam lần thứ 10 tôi mới gặp lại Quang Chuyền.
Thật may trong những năm
xa ấy, mỗi khi ra tập thơ mới nào ông cũng gửi tặng tôi với sự trân trọng “Của
tin gửi một chút này làm ghi”
Tôi đã đọc – để đó rồi thấm
thía sự đằm thắm trữ tình cùng vẻ đẹp u hoài, rung cảm, ám ảnh lòng người trong
thơ Quang Chuyền. Bằng cảm thức của mình tôi nhận ra, thơ Quang Chuyền đầy nét
thân phận, kiếp người: “Đời người nay đó mai đây/ Văn thơ chẳng thể lấp đầy
nhớ thương” (Nẻo về). Có thể nói có điều này bởi lẽ nó được nuôi dưỡng
bằng nguồn cảm xúc chân thành, gan ruột… nhuốm đẫm mỗi câu thơ, bài thơ của
ông.
Thơ Quang Chuyền không
triết lý ồn ào nhưng chan chứa những trải nghiệm của đời người. Vì thế ông viết
bất kỳ đề tài nào người đọc cũng dễ dàng tiếp nhận, hòa nhập, chia sẻ…
Nhớ lại ngày giáo sư Nguyễn
Đăng Mạnh nói với tôi về nhà văn Nguyễn Tuân. Cụ khen Nguyễn Tuân rất sành chữ
nghĩa. Ví như Nguyễn Tuân thích gọi người làm thơ là thi nhân, hơn gọi là thi
sĩ. Cụ cho rằng thi sĩ chỉ mang nghĩa là người làm thơ, còn thi nhân nghĩa nó rộng
hơn nhiều. Vì người thơ – điều ấy nói lên thơ của họ là hồn vía, nhân cách, phẩm
giá của họ. Chả thế mà Hàn Mặc Tử đã viết: “Người thơ phong vận như thơ ấy…”.
Nếu là vậy, Quang Chuyền thuộc “tạng” nhà thơ mang đầy đủ nghĩa thi nhân
Vì lẽ này nên khi đọc thơ
Quang Chuyền đòi hỏi chúng ta cần biết đôi điều về cuộc đời của nhà thơ. Bởi vì
cuộc đời ấy đã khúc xạ làm nên thi nghiệp đáng quý của ông.
Từ nhiều nguồn, trong đó
có những điều chính nhà thơ tâm sự. Năm 10 tuổi ông đã trải qua biến cố gia
đình đau xót. Cha ông bệnh trọng ra đi năm cụ mới 36 tuổi. Nhà 5 anh chị em, tất
cả trông vào gồng gánh chạy chợ của mẹ, cùng với đôi ba sào ruộng. Mẹ đành
khuyên Quang Chuyền thôi học, để giúp mẹ việc nhà và trông nom các em.
Thần đồng hay là bất hạnh
- Cậu bé Quang Chuyền làng Quan Tử - Gốm Sơn Đông đã định phận đời mình năm mới
10 tuổi, bằng lời cầu xin: “Mẹ cho con lên Tuyên Quang sống dựa ông bà ngoại và
cậu để con được đi học. Con sẽ làm thêm để có tiền sách, bút…Mẹ không phải lo
nhiều cho con…”
Tôi cho rằng cuộc chia ly
của Quang Chuyền ở tuổi lên 10, với quê, với mẹ, với các em…để lên xứ lạ Tuyên
Quang chính là dấu ấn, là bước ngoặt…ám ảnh suốt cuộc đời ông. Tôi cũng là một
đứa trẻ như vậy nên rất hiểu nội ám ảnh này cùng những hệ lụy của nó. Mười tuổi
tôi cũng xa quê, xa mẹ, xa em… Cho tới hôm nay vẫn nhớ như in cái ngõ Bảo toàn
cuối phố Khâm Thiên - Hà Nội, phía bên kia là Ô Chợ Dừa. Tôi học ở trường cấp 1
Trung Phụng (nay gọi là trường tiểu học) ở cuối ngõ chợ Khâm Thiên. Con đường
đê La Thành tôi đi học, chắc bây giờ đã khác. Ngày xưa nó là làng, xóm. Bao
nhiêu nước mắt tôi đã rơi trên đoạn đường ấy, vì nhớ quê, nhớ mẹ, nhớ em…
Vẫn biết được anh chị con
ông bà chăm sóc, nhưng lúc nào cũng mặc cảm cô đơn, côi cút thua thiệt đầy ắp
trong lòng. Có lẽ những điều này ở tuổi trưởng thành người ta có cách giải tỏa,
nhưng đối với trẻ con nó trở nên bất lực vì thế càng tội nghiệp.
Trở lại với Quang Chuyền.
Học hết cấp 2 – ông rẻ ngang vào trường trung cấp sư phạm Việt Bắc (ngày ấy vẫn
còn khu tự trị Việt Bắc) - Chắc chắn ông mong một ngày ra trường làm anh giáo
viên hiền lành sớm tối ở một mái trường xa, gần nào đó. Sẽ có lương, sẽ có dịp
về quê - Cái làng Gốm Quan Tử ở tận cuối sông Lô…
Ông sẽ mua cho các em
manh quần, tấm áo, gói quà. Đưa cho mẹ dăm ba đồng thêm thắt. Ông sẽ đi dọc đường
làng để người ta nhận ra mình đã lớn khôn…
Không rõ ra trường ông đã
kịp làm ông giáo ngày nào chưa. Chỉ biết ông từng là biên tập viên của tờ tạp
chí Văn nghệ Việt Bắc. Và cũng từ đây ông bước vào cuộc đời quân ngũ. Không phải
riêng ông mà cả thế hệ của ông đã nhiệt tình, tự nguyện làm công cuộc “xẻ dọc
Trường Sơn…” cứu nước, với lẽ sống “không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”.
Chiến tranh với bao sự khốc
liệt của nó… Quang Chuyền đã có mặt khắp các chiến trường Nam, Bắc để cùng đồng
đội và nhân dân làm nên ngày 30/4/1975 ca khúc Khải Hoàn.
Có thể nói những năm
tháng chiến tranh có rất nhiều mất mát. Song điều Quang Chuyền vẫn giữ nguyên vẹn
cho mình, cho thơ, đấy là cái “giọng quê”, “điệu quê”, “hồn quê”, “hồn nhớ”,
“hương tâm”… bền bỉ, dịu dàng, da diết chân thật như thể thơ lục bát muôn đời của
dân tộc.
Tất cả những điều đó đã
làm nên “cái tạng” Quang Chuyền và thơ ông.
Trong sáng tạo văn
chương, đã từng có ý kiến cho rằng: cái “tạng” riêng của mỗi người, chỉ nên sống
và viết theo cái “tạng” của mình. Đó chính là điều mà nhà phê bình văn học Hoài
Thanh từng đề cập “… Người ta viết văn từ những ấn tượng lúc lên 5 lên 7 chứ
không phải ba mươi, ba nhăm và cái đó không thay đổi được.
Cái đào tạo ra tài năng,
phong cách, sở trường là những hoàn cảnh sống từ lên 5 lên 7 – Cánh đồng ấy, bờ
tre ấy, cái ao ấy… Sau này thay đổi quan điểm, lập trường chứ không thay đổi
cái phạm vi đề tài, cái cách viết, cách cảm xúc, cách nghĩ. Không nên bắt họ
thay đổi. Bắt vô ích…” (Hoài Thanh)
Đúng là Quang Chuyền đã
viết bằng cái “tạng” của hồn mình, cái điệu hồn, “Thân phận, kiếp người” mang đậm
chất ly quê.
Trên dưới 20 tập thơ
Quang Chuyền tôi đã đọc. Điều dễ nhận ra ở thơ ông hướng nội rất sâu, hình như
nhà thơ chỉ nhìn vào lòng mình và kể chuyện lòng mình. Với ông thơ không chỉ là
chuyện văn chương mà nó còn là nguồn sống, lẽ sống, đời sống ông với quê hương…
Đọc thơ Quang Chuyền luôn
có cảm giác - thơ ông mang nhịp thở nhân gian, nhịp thở người bộ hành đường trường
mưa nắng. Những cảm giác có thực ấy cứ thấm dần, thấm dần để rồi ta phải thốt
lên: “Thơ Quang Chuyền hay, thấm thía đến mức đau đớn”.
Hãy nghe một đoạn ông viết
về mẹ: … “Bao nhiêu chỗ ướt mẹ nằm/ Câu thơ ai viết đằm đằm mưa rơi/
Cha đi tuổi mẹ ba mươi/ Một thân lầm lụi chống trời nuôi con…” (Con cầu
mong mẹ)
Còn đây là lần ông về
thăm làng cũ: “Nền nhà xưa ở xóm Đông/ Tìm về nơi ấy tôi không còn nhà/ Tôi
đi biền biệt ngày xa/ Thăm quê mà chả nhận ra người làng…” (Nẻo về)
Khó mà cầm lòng khi đọc
những câu thơ như thế.
Đây lại là một đoạn đường
ông đưa tiễn cậu mình về nơi yên nghỉ cuối cùng: “Cháu đưa tiễn cậu chiều
nay/ Cậu ơi còn đoạn đường này nữa thôi…/ Nén nhang cây nến lập lòa/ Tưởng nghe
tiếng cậu- Chuyền à khỏe không?” (Chiều đưa tiễn cậu)
Đoạn thơ làm ta nhớ tới
câu nói của một nhà văn: “Coi người chết như vẫn sống, không phân biệt âm
dương. Thế mới là yêu thương sâu sắc…”
Nhớ lại ngày tập thơ “Lục
bát không mùa” cùa ông ra mắt bạn đọc (2011). Người đọc đều khẳng định: “Quang
Chuyền viết thơ lục bát rất thành công”. “… Ông là một trong những nhà thơ viết
lục bát xuất sắc trong các nhà thơ đương đại” (Nguyễn Quang Thiều)… Ông là người
“đã đóng góp tiếng nói riêng vào tiếng nói chung nhằm đưa thơ lục bát cũ càng
lên tầm cao mới mẻ hiện đại và sang trọng…” (Văn Lê).
Với tôi Quang Chuyền và
thơ lục bát là một. Bởi nhẽ ông đã uống dòng sữa ấy, ông nuôi hồn mình từ những
“…Chiều chiều ra đứng ngõ sau… Anh đi anh nhớ quê nhà…Con cò đi đón cơn
mưa…Con cò lặn lội bờ sông…”. Những âm hưởng lục bát, những nỗi niềm lục
bát nghìn đời đấy là Quang Chuyền- Đấy là thơ ông… Với những suy nghĩ như thế
việc Quang Chuyền thành công với thơ lục bát của dân tộc là lẽ đương nhiên.
Trong tuyển tập “Quang
Chuyền Thơ và Đời” – Nhà thơ đã cặm cụi chia thơ và đời thành ba phần theo dòng
chảy thời gian với những tiêu đề để đánh dấu mỗi giai đoạn. Đó là “Từ nguồn”
(1965-1985); “Theo sông” (1985-2010); “Về biển” (2010-2023)
Còn tôi bằng những gì biết
về thơ và đời ông luôn có suy nghĩ: Quang Chuyền là người từ tuổi ấu thơ đã bị
dẫn thẳng vào “biển đời” – mênh mông sóng gió, được, mất, hơn thua, ngậm ngùi,
kiêu hãnh… Là những năm tháng chiến tranh khốc liệt, là sự vật vã mưu sinh, là
bao ân tình chưa trả, bao mong ước chưa thành…
Với quang Chuyền hôm nay
ông đã đi và đã tới. Đường binh nghiệp cũng đã khép lại. Là một nhà văn, ông có
cả một gia tài văn chương mà người đọc, bạn bè nể trọng. Cuộc sống gia đình vợ
chồng hòa hợp, con cháu trưởng thành… Thế cũng là đủ, thế cũng là vui với một
người đã ở tuổi già…
Song vẫn còn – còn một khỏang
trống không lúc nào Quang Chuyền nguôi ngoai. Đấy là niềm khao khát về lại làng
xưa - bến cũ… Khoảng trống này hình như càng về già nó càng rộng ra, lớn lên.
Vì thế nó trở nên dóng diết, bất lực. Nó như món nợ ân tình mà con người phải
trả, phải về mới trút được mặc cảm… “Nắng mưa thui thủi quê người một thân”
(Nguyễn Du)
Có thể coi bài thơ “Nẻo về”
của ông là một minh chứng. Ôi! Chỉ một “Nẻo về” thật nhỏ nhoi, thật khiêm nhường.
Ấy thế mà xa quá, khó thế: “Ngoài đời hay ở chiêm bao/ Sông Lô thường vỗ
sóng vào đời tôi/ Bài thơ viết thủa thiếu thời/ Đọc lên lại gặp bời bời nỗi
quê/ Núm nhau với một cõi về/ Tôi còn chôn ở chân tre của làng/ Tôi còn khu mộ
Chùa Am/ Vắng thưa màu khói chân nhang thường ngày…” (Nẻo về)
Cúi đầu trước đoạn thơ của
Quang Chuyền làm tôi nghĩ về bài thơ “Bên kia sông Đuống” của thi nhân Hoàng Cầm
và nhận ra: Hoàng Cầm cũng đã từng làm cho mình một cuộc trở về kinh Bắc trong
cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp đó sao!
Từ đó tôi tin sự dang dở: với quê với làng của Quang Chuyền, sẽ cho ta chờ đợi
những sáng tạo mới của ông.
13/4/2024
Trần Khoái
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét