Nghiên cứu và giảng dạy
văn học
Nhật Bản ở Việt Nam trong hai
mươi năm đầu thế kỷ XXI
Trong 20 năm đầu thế kỷ
XXI, văn học Nhật Bản vẫn bền bỉ hiện diện ở Việt Nam thông qua hàng loạt
các ấn phẩm truyện dịch của Junichiro Tanazaki, Haruki Murakami,
Yoshimoto Banana,… và sự tái bản tác phẩm của Ryunosuke Akutagawa, Yukio
Mishima, Yasunari Kawabata… Điều này chứng tỏ văn học Nhật, rộng hơn là
văn hóa Nhật đã được tiếp nhận một cách tích cực và chủ động trong đời sống
tinh thần của người Việt.
Không chỉ ở phương diện dịch
thuật, có thể nói, những công trình nghiên cứu về văn học Nhật ở Việt Nam có
giá trị nhất cũng đều được công bố trong giai đoạn này. Có thể kể, theo thời
gian xuất bản: Đào Thị Thu Hằng (2007), Văn hóa Nhật Bản và Yasunari
Kawabata; Nguyễn Thị Mai Liên (2010), Hợp tuyển văn học Nhật Bản;
Nguyễn Tuấn Khanh (2011), Những cây bút kiệt xuất trong văn
học Nhật Bản hiện đại; Nguyễn Nam Trân (2011), Tổng quan lịch sử
văn học Nhật Bản; Đào Thị Thu Hằng (2018), Nhà văn Nhật
Bản thế kỷ XX… Thực tế này cho thấy, xét từ góc độ tiếp nhận văn học
của một quốc gia thì văn học Nhật Bản hiện đang đứng vào tốp đầu trong số hai
quốc gia (cùng với Mỹ) được dịch, nghiên cứu và giảng dạy ở Việt Nam.
Lần lại những thập niên 1980 khi văn học Nga thống trị văn đàn văn học dịch Việt Nam, độc giả bắt gặp rất nhiều nhà văn Nga trên các quầy sách, từ Anton Chekhov đến Fyodor Dostoievsky, Lev Tolstoi hay Mikhail Sholokhov… Thập kỷ 1990 là sự xuất hiện ưu trội của văn học Mỹ với Edgar Allan Poe, Mark Twain, Jack London, Ernest Hemingway, John Steinbeck… Nếu thập kỷ 2000 ghi nhận sự lan tỏa đa quốc gia của các tác phẩm văn học Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Đức, Anh,… thì thập kỷ 2010 văn học Nhật Bản chiếm vị trí vượt trội.
Trong vòng 20 năm nay,
trong lúc chỉ có đôi ba nhà văn Nga có sách được dịch in mới ở Việt Nam, thì
con số nhà văn Nhật đã gấp cả chục lần. Trong khoảng thời gian này, các nhà văn
Nhật và ấn phẩm xuất hiện trên các quầy sách ở Việt Nam thật ấn tượng: có hơn
20 nhà văn với hơn 200 đầu sách (đặc biệt là Murakami với 23 đầu sách) được dịch
mới hoặc tái bản và phát hành. Đáng ghi nhận ở loại truyện trinh thám, nhà văn
Higashino Keigo dược dịch và in 24 tác phẩm bằng tiếng Việt trong khoảng thời
gian 2009-2021. Điều này phản ánh một chiến lược mới của sức mạnh mềm về văn
hóa của Nhật và quan trọng hơn là việc khẳng định khả năng văn chương của quốc
gia này. Việc chọn lựa tiếp nhận văn học Nhật của người Việt phù hợp với xu thế
chung của thời đại, khi ảnh hưởng của vănhóa Nga, Pháp, Mỹ, Trung Quốc… không
còn mạnh như trước và đặc biệt là Ý thức truyền bá văn học của Nhật Bản đóng
vai trò quan trọng cho cuộc phô diễn này.
Thế kỷ XXI, bên cạnh
thành tựu về kinh tế, văn học Nhật Bản nở rộ nhiều tài năng và đạt được những tầm
cao mới không chỉ ở quốc nội mà còn cả thế giới. Đây là một nền văn học có truyền
thống lâu đời. Nhiều thế hệ nhà văn kế tiếp đã tạo nên một diện mạo văn chương
Nhật Bản đặc thù. Trên hành trình sáng tạo, như mọi quốc gia châu Á, học hỏi
phương Tây là một trong những tiêu chí sống còn để cách tân văn chương, người
Nhật đã làm rất tốt điều này so với phần còn lại của châu lục. Trong ý thức xây
dựng một bộ mặt văn chương mang tầm cỡ nhân loại, và đặc biệt là mở đường văn
hóa để phát triển kinh tế, người Nhật rất xem trọng việc phổ biến văn học Nhật
ra thế giới. Việc làm này được thực hiện theo một chiến lược nhất quán và nhiều
quyết sách cụ thể. Văn học đã trở thành một dạng sức mạnh mềm (soft power) quan
trọng trong việc mở rộng tầm ảnh hưởng văn hóa. Không chỉ các nhà văn Nhật sống
và sáng tác ở nước ngoài đảm nhận nhiệm vụ này, mà chính phủ Nhật cũng đầu tư
thích đáng để đưa tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn kiệt xuất của họ ra thế giới.
Người Nhật muốn thông qua văn học, bắc một cây cầu văn hóa đến những quốc gia
khác. Hầu hết những tác phẩm xuất sắc của Nhật đều được chuyển ngữ sang tiếng
Anh, ngôn ngữ hiện đang được sử dụng toàn cầu. Nhiều tác phẩm văn học Nhật được
dịch ra tiếng Việt cũng từ bản tiếng Anh. Có thể nói, trong chừng mực nào đó,
người Nhật đã Anh ngữ hóa phần lớn các dạng sức mạnh mềm của họ. Cần chú ý, nhà
văn Nhật luôn ý thức kế thừa sâu rộng và phấn đấu bền bỉ vì một nền văn chương
tiến bộ mang tính toàn nhân loại. Đầu thế kỷ XX, ta thấy nổi lên Natsume
Soseki, Ryūnosuke Akutagawa, Dazai Osamu, Junichiro Tanizaki,… giữa và cuối thế
kỷ là Abe Kobo, Yasunari Kawabata, Yukio Mishima, Yuko Tsushima, Kenzaburo Oe;
đầu thế kỷ XXI là Ryu Murakami, Haruki Murakami, Yoshimoto Banana, Yoko Ogawa,
Mitsuyo Kakuta, Murata Sayaka… những nhà văn này lại tiếp tục tỏa sáng sang thập
niên 2020.
Đối với những nhà văn
thành danh ở thế kỷ XX, Kawabata và Mishima là hai tác giả được dịch sớm và nhiều
nhất ở Việt Nam. Hầu hết các tác phẩm lớn của họ được chuyển dịch sang tiếng Việt.
Có tác phẩm được dịch nhiều lần như Người đẹp say ngủ, được Vũ Đình
Phòng dịch từ tiếng Pháp (Nxb Văn học in năm 1990), Quế Sơn dịch từ tiếng Anh (Người
đẹp ngủ mê, Nxb Trẻ in năm 2000) và Uyên Thiểm dịch từ tiếng Nhật (Những
người đẹp ngủ mê, Nxb Hội Nhà văn in năm 2019). Những thập niên đầu thế kỷ
XXI, Haruki Murakami là tác giả có tác phẩm được dịch nhiều nhất ở Việt Nam (14
tiểu thuyết, 07 tập truyện ngắn, 01 tác phẩm không hư cấu). Các tiểu thuyết
tiêu biểu của ông đa phần dịch từ tiếng Anh: Rừng Nauy, Biên niên kí
chim vặn dây cót, Kafka bên bờ biển, Người tình Sputnik… Đặc biệt, các
nữ văn sĩ Nhật Bản cũng có nhiều tác phẩm được dịch ở Việt Nam: Yamada Amy với
03 tiểu thuyết (Đôi mắt ấy vẫn ở trên gường (Nxb Hội nhà văn,
2008), Sống lưng của Jesse (Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2008), Trò
đùa của những ngón tay (Nxb Văn học, 2009) và tập truyện ngắn Phong
vị tuyệt vời (Nxb Hội Nhà văn, 2010). Yoshimoto Banana được độc giả Việt
Nam biết đến với 06 tiểu thuyết (Kitchen, Amrita, Nắp biển, N.P, Vĩnh biệt
Tugumi, Hồ) và 02 tập truyện ngắn (Thằn lằn, Say ngủ). Yoko Ogawa có
03 tiểu thuyết được giới thiệu: Quán trọ hoa diên vĩ (Nxb Văn
học, 2008), Nhật ký mang thai (Nxb Văn học, 2009), Giáo
sư và công thức toán (Nxb Hội nhà văn, 2009)…
Thành tựu dễ thấy của nhà
văn Nhật là dẫu có mở rộng nội hàm văn hóa đến đâu thì họ vẫn có sự gắn kết mật
thiết với xứ sở. Truyền thống Nhật luôn bỏng cháy trên trang sách của bất cứ
nhà văn xứ Phù Tang nào. Murakami được xem là nhà văn đậm chất “Tây” nhất, thì
vẫn cứ là một cây bút đặc thù của văn hóa Nhật. Thậm chí ngay đến một người rời
xa nước Nhật suốt thời gian dài như Kazuo Ishiguro, thì khi được trao tặng
Nobel văn chương 2017, người ta cũng ghi nhận căn tính Nhật sâu đậm trong tiểu
thuyết của ông.
Với chủ trương quảng bá
văn học đúng đắn để làm bàn đạp cho phát triển đất nước, sự nổi tiếng của văn học
Nhật trên thế giới đến nay thì khỏi phải bàn. Họ quá thành công và quá mạnh so
với phần còn lại của châu Á, tuy dân số của Nhật Bản chỉ ở mức khiêm tốn khi đặt
tương quan với Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia… Nếu tính cả nhà văn Anh gốc Nhật,
thì Nhật Bản đã được trao tăng ba giải thưởng Nobel văn học. Chưa hết, cần phải
tính đến Haruki Murakami hay Yoshimoto Banana như những ứng viên tiềm năng, khó
có thể thiếu cho những Nobel tương lai.
Với chủ trương học hỏi thế
giới và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại trong việc đào tạo những công
dân Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu, Việt Nam đã đưa văn học Nhật Bản
vào chương trình đào tạo từ cấp Trung học đến Đại học và Sau Đại học. Việc đào
tạo này, căn bản dựa trên lợi ích của người Việt, song nhờ thế cũng phần nào
giúp truyền bá văn học Nhật rộng khắp Việt Nam. Qua việc dạy học trường quy,
khi nói đến nước Nhật, bất kì người Việt nào cũng biết đấy là xứ sở của hoa anh
đào, kimono và thơ Haiku…
Thực chất của giáo dục phổ
thông là chỉ giúp học sinh biết được một số kiến thức cơ bản về văn hóa của các
quốc gia trên thế giới. Về sau khi trưởng thành, tùy thuộc vào nhu cầu công việc
hay sở thích của bản thân mà học sinh đó sẽ tự nâng cao thêm vốn hiểu biết về
văn hóa của đất nước mình quan tâm. Ở cấp Trung học phổ thông, văn học Nhật Bản
được giảng dạy ở Việt Nam kể từ khi cải cách giáo dục năm 1991. Lúc này, Việt
Nam có hai bộ sách. Bộ sách của miền Nam và bộ sách của miền Bắc đều chọn dạy (ở
phần đọc thêm) tác giả Yasunari Kawabata với đoạn trích Cố đô và
truyện ngắn Trăng soi đáy nước. Năm 2000, khi hợp nhất thành một bộ
sách, Yasunari Kawabata chỉ còn được dạy Thủy nguyệt (cách dịch
khác của nhan đề Trăng
soi đáy nước). Lần thay sách giáo khoa này, kết thúc vào năm 2008, văn học
Nhật Bản, trước đó hoàn toàn lép về trước văn học Pháp, Nga, Trung Quốc, Mỹ… đã
được đưa vào dạy chính thức ở lớp 10, thơ Haiku của Matsuo Basho thay thế cho
truyện của Yasunari Kawabata. Dẫu sao thì, tuy được gọi là “hợp nhất” (Nam – Bắc)
nhưng thực tế ở Việt Nam vẫn cứ tồn tại hai bộ sách, thay vì sách miền Nam và
miền Bắc, thì nay có bộ sách cơ bản (dùng cho các khối lớp không chuyên) và bộ
nâng cao (dùng cho khối chuyên văn).
Những bài thơ Haiku được
chọn dạy trong bộ cơ bản là:
1. Đất
khách mười mùa sương
về thăm quê ngoảnh lại
Ê-đô là cố hương.
2. Chim
đỗ quyên hót
ở Kinh đô
mà nhớ Kinh đô.
3. Lệ
trào nóng hổi
tan trên tay tóc mẹ
làn sương thu.
4. Tiếng
vượn hú não nề
hay tiếng trẻ bị bỏ rơi
than khóc
gió mùa thu tái tê.
5. Mưa
đông giăng đầy trời
chú khỉ con thầm ước
có một chiếc áo tơi.
6. Từ
bốn phương trời xa
cánh hoa đào lả tả
Gợn sóng hồ Bi-oa.
7. Vắng
lặng u trầm
thấm sâu vào đá
tiếng ve ngâm.
8. Nằm
bệnh giữa cuộc lãng du
mộng hồn còn phiêu bạt
những cánh đồng hoang vu.
Bộ nâng cao chỉ
tuyển ba bài, đó là:
1. Trên
cành khô
Chim quạ đậu
Chiều thu
2. Hoa
đào như áng mây xa
chuông đền U-ê-nô vang vọng
hay đền A-sa-cư-sa
3. Cây
chuối trong gió thu
tiếng mưa rơi tí tách
vào chậu
ta nghe tiếng đêm
So với bộ cơ bản,
bộ nâng cao chọn được những bài thơ Haiku nổi tiếng hơn. Việc
chọn ba bài cũng là vừa đủ để giới thiệu thể thơ này với học sinh Việt Nam. Đợt
thay sách giáo khoa đang bắt đầu từ 2019 đến nay, với chủ trương một chương
trình nhiều bộ sách, thơ Haiku vẫn được đề xuất đưa vào chương trình phổ thông.
Hiện tại, Việt Nam đang có ba bộ sách chính (có thể còn thêm vài bộ nữa). Việc
chọn văn bản thơ Haiku của từng bộ sách ắt hẳn cũng sẽ có những khác biệt nhất
định.
Dạy học thơ Haiku là một
thách thức lớn trước khả năng tiếp nhận của học sinh. Thơ Haiku vốn là loại thơ
khó hiểu, khó cảm nhận được cái hay cái đẹp hơn thơ Đường gấp bội phần. Đây là
loại thơ Thiền, đòi hỏi sự tĩnh lặng và suy ngẫm từ chiều sâu của tâm cảm. Loại
thơ này thích hợp với tầm tri nhận của người đã trưởng thành, có nhiều trải
nghiệm cuộc sống.
Trong khi đó, ở bậc Phổ
thông, học sinh chắc chắn chưa có đủ trải nghiệm để có thể hiểu hết cái hay cái
đẹp của thơ Haiku. Tuy nhiên việc chọn dạy này, chủ yếu là để học sinh biết được
một thể thơ độc đáo, không chỉ của người Nhật mà của cả nhân loại. Việc hiểu
sâu sắc thơ Haiku, có lẽ chưa được đặt ra một cách cụ thể với học sinh bậc
Trung học. Các nhà giáo chỉ cần tập trung đề xuất một hiện tượng thơ, một hình
thức thơ và việc hiểu nội dung thơ đó sẽ đòi hỏi một thời gian dài sau này với
khả năng chiêm nghiệm của mỗi một cá nhân.
Lên bậc Đại học, sinh
viên ngành ngữ văn được tiếp xúc với nền văn học Nhật qua nhiều tác gia tiêu biểu.
Tuy chưa có được một chuyên đề riêng biệt về văn học Nhật, nhưng số lượng tác
gia, tác phẩm văn học Nhật được dạy học trong chương trình quả không hề ít: thơ
Haiku, tiểu thuyết Kawabata, tiểu thuyết Murakami và Banana… Cần chú ý thêm một
hiện tượng mà có lẽ trên thế giới duy nhất có ở Việt Nam. Đó là những người dạy
văn học Nhật (hoặc văn học của bất cứ nước ngoài nào) thì đều dạy qua bản dịch,
và ngôn ngữ dạy học là tiếng Việt. Ở các trường đại học ngoại ngữ có khoa tiếng
Nhật, giảng viên chủ yếu dạy tiếng Nhật, được sử dụng trong giao tiếp kinh tế,
xã hội, chứ không chuyên sâu về tiếng Nhật trong văn học. Điều này có nghĩa,
người dạy văn học Nhật chuyên sâu ở Việt Nam thì hầu như không sử dụng thành thạo
tiếng Nhật, còn người dạy tiếng Nhật chuyên sâu thì không mấy am hiểu nhiều về
văn chương. Do vậy, dạy học văn học Nhật ở Việt Nam là việc Việt hóa một nền
văn học và, nếu có chuyên gia giỏi tiếng Nhật đảm trách thì việc hiểu sâu sắc nền
văn học này mới được thực hiện tốt hơn. Vì lẽ đó, Việt Nam đến nay vẫn chưa có
chuyên gia nghiên cứu văn học Nhật mang tầm thế giới.
Bất chấp rào cản về ngôn
ngữ đó, người Việt vẫn đam mê văn học Nhật qua bản dịch.
Như đã nói, trong khoảng
20 năm nay, bình quân số đầu sách văn học Nhật được in mới và tái bản ở Việt
Nam là vào khoảng 200 đầu sách. Đây là con số không hề khiêm tốn chút nào. Đặc
biệt số lượng sinh viên tham gia làm đề tài nghiên cứu khoa học và khóa luận ở
đại học về văn học Nhật ước tính khoảng vài trăm công trình lớn nhỏ trên cả nước.
Con số đề tài luận văn thạc sĩ thì có đến cả trăm, tập trung nhiều nhất ở trường
Đại học Sư phạm Hà Nội. Luận án tiến sĩ thì đã có chín đề tài bảo vệ thành
công:
– Nghệ thuật kể
chuyện trong tác phẩm của Yasunary Kawabata của Đào Thị Thu Hằng bảo vệ
năm 2006. Đây là luận án tiến sĩ về văn học Nhật đầu tiên ở Việt Nam do GS. Hà
Minh Đức hướng dẫn.
– Thơ Haiku Nhật
Bản – Lịch sử phát triển và đặc điểm thể loại của Nguyễn Vũ Quỳnh Như,
bảo vệ năm 2013, do PGS-TS. Lê Giang hướng dẫn.
– Yếu tố hậu hiện
đại trong tiểu thuyết của Haruki Murakami của Lê Thị Diễm Hằng, bảo vệ
năm 2014, do PGS.TS. Trương Đăng Dung hướng dẫn.
– Ảnh hưởng của
Manga Nhật Bản đến học sinh Phổ thông tại thành phố Hà Nội, của Hạ
Thị Lan Phi bảo vệ năm
2017, do PGS.TS. Đinh Thị Vân Chi và PGS.TS. Phạm Hồng Thái
hướng dẫn.
– Mỹ cảm aware
trong văn học Nhật Bản qua tiểu thuyết “Truyện Genji” của Murasaki Shikibu và
“Ngàn cánh hạc” của Kawabata Yasunari của Hoàng Thị Mỹ Nhị, bảo vệ năm
2018, do GS.TS. Nguyễn Đức Ninh hướng dẫn.
– Thân phận con
người trong tác phẩm của Abe Kobo và Oe Kenzaburo: một sự so sánh, của Trần
Thị Thục, bảo vệ năm 2018, do GS.TS. Nguyễn Đức Ninh hướng dẫn.
– Nghệ thuật kể
chuyện trong tiểu thuyết của Haruki Murakami của Đặng Phương Thảo, bảo
vệ năm 2018, do GS.TS. Lê Huy Bắc và TS. Đào Thị Thu Hằng hướng dẫn.
– Tiểu thuyết của
Haruki Murakami từ góc nhìn văn hóa của Phạm Thị Hạnh, bảo vệ năm
2020, do GS.TS. Nguyễn Đức Ninh hướng dẫn.
– Biểu tượng
trong tiểu thuyết của Haruki Murakami của Phan Thị Huyền Trang, bảo vệ
năm 2021, do GS.TS. Lê Huy Bắc và TS. Đào Thị Thu Hằng hướng dẫn.
Ngoài ra, còn ba đề tài
tiến sĩ về văn học Nhật đang được thực hiện ở trường Đại học Sư
phạm Hà Nội và Học viện
Khoa học Xã hội Việt Nam.
Về văn học Nhật, những
nghiên cứu trường quy ở Việt Nam rất đáng ghi nhận, nhưng ở lĩnh vực nghiên cứu
chuyên sâu thì chưa có nhiều công trình. Đến nay, ước tính chỉ có độ mười cuốn
chuyên luận về văn học Nhật được lưu hành. Con số này quả quá khiêm tốn khi so
với các công trình nghiên cứu về văn học Pháp, Mỹ, Nga,… ở Việt Nam. Tình hình
đó đòi hỏi giới nghiên cứu nỗ lực thêm nữa để đưa văn học Nhật đến với bạn đọc
Việt Nam.
Nhật Bản từng xâm lược Việt
Nam vào khoảng giữa thế kỷ XX. Tuy nhiên, thời gian thống trị ít ỏi đó
(1944-45) không đủ để người Nhật áp đặt văn hóa của họ lên một đất nước xa lạ.
Thêm nữa, Việt Nam lúc đó thuộc Pháp và đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn hóa,
văn học Pháp. Sau chiến tranh lạnh 1990, Pháp vẫn quay lại Việt Nam với mục
đích thực hành sức mạnh mềm về ngôn ngữ – văn hóa, hình thành nên cái được gọi
là Francophone. Nhưng hài hước thay, trừ số ít những tri thức lúc đó bước qua
tuổi 60 có thể nói được tiếng Pháp, còn tuyệt đại đa số người Việt đều sử dụng
tiếng Anh trong giao tiếp với người nước ngoài. Tình hình sử dụng tiếng Nhật ở
Việt Nam lại còn nhiều hạn chế hơn. Đội ngũ những tri thức biết tiếng Nhật ở ta
quá ít, nên việc dịch thuật, phổ biến văn học Nhật Bản ở Việt Nam trực tiếp
qua tiếng Nhật cho đến cuối
thế kỷ XX là rất nghèo nàn.
Từ những năm 1960 văn học
Nhật Bản đã được giới thiệu ở Việt Nam, chủ yếu là ở miền Nam. Tác giả được chú
trọng nhất là Yasunari Kawabata. Kể từ Đổi mới 1986, văn học Nhật Bản có điều
kiện xâm nhập sâu rộng hơn vào đời sống của người Việt. Các tập tuyện ngắn của
Nhật Bản được dịch và giới thiệu ở Việt Nam qua ngôn ngữ trung gian là tiếng
Pháp, tiếng Nga và tiếng Anh. Bởi lẽ lúc đó (và cho đến bây giờ) chúng ta vẫn
chưa có một đội ngũ dịch thuật tiếng Nhật đông đảo nên đòi hỏi dịch văn học Nhật
qua một ngôn ngữ trung gian là thực tế.
Dẫu vậy, rào cản ngôn ngữ không hề ngăn được tình yêu văn học mà người Việt dành cho xứ Phù Tang. Thêm nữa, văn học là một kho tàng chứa đựng nhiều giá trị văn hóa mà người Việt cần học hỏi trong quá trình toàn cầu hóa. Việc người Việt dịch và đọc văn học Nhật tăng lên trong hai thập kỷ đầu của thiên niên kỷ 2000 đã cho thấy sự thoái lui của các cường quốc văn học khác như Nga, Trung Quốc, Pháp, vốn từng rất gần gũi với đời sống tinh thần Việt Nam. Hiện tại, chỉ có văn học Mỹ mới có khả năng cạnh tranh mạnh trong việc tạo ảnh hưởng đến sân chơi văn hóa Việt với văn học Nhật mà thôi*.
Tài liệu tham khảo:
* Nghiên cứu này được
tài trợ bởi Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED)
trong đề tài mã số: 602.04-2020.307.
1. Nhật Chiêu
(2007), Văn học Nhật Bản từ khởi thủy đến đến 1868, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
2. Đào Thị Thu Hằng
(2007), Văn hóa Nhật Bản và Yasunari Kawabata, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
3. Đào Thị Thu Hằng
(2018), Nhà văn Nhật Bản thế kỷ XX, Nxb Tổng hợp Tp Hồ
Chí Minh.
4. Nguyễn Tuấn Khanh
(2011), Những cây bút kiệt xuất trong Văn học Nhật Bản hiện đại, Nxb
Khoa học Xã hội, Hà Nội.
5. Nguyễn Thị Mai Liên
(2010), Hợp tuyển văn học Nhật Bản, Nxb Lao động, Hà Nội.
6. Hà Văn Lưỡng
(2014), Sự tiếp nhận văn học Nhật Bản ở Việt Nam từ những thập
niên cuối thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI – Nhìn từ phương diện
dịch thuật và nghiên cứu,
http://vannghehue.vn/.
7. Nguyễn Nam Trân
(2011), Tổng quan lịch sử văn học Nhật Bản, Nxb Giáo dục.
10/5/2021
Đào Thị Thu Hằng
Nguồn: Tạp chí Lý luận, phê bình
văn học nghệ thuật số 4/2021.
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét