Trường ca Hàn Mặc Tử - Hành trình
của người nghệ sĩ về cái đẹp
Ave Maria
Linh hồn tôi ớn lạnhấn thần ơn thấn tử thấy long nhanấn thần ơn hơi thở chạm tơ vàng...Thơ
Hàn Mặc TửTrường
ca Hàn Mặc Tử (TcHMT) là tác phẩm mới của Phạm Duy vừa ra mắt quần chúng vào những
ngày cuối năm 93. Về hình thức thì đây là một tổ hợp những bài thơ Hàn Mặc Tử
do Phạm Duy phổ nhạc. Nhưng người nghe có thể hình dung được chủ đích của tác
giả tổ khúc này không phải chỉ là phổ nhạc một số bài thơ lẻ của một nhà thơ;
TcHMT có thể xem là một bản diễn giải bằng nhạc những hành trình nghệ thuật của
tâm hồn Hàn Mặc Tử (HMT).Kể từ khi nhà thơ qua đời
đến nay đã hơn 50 năm, không biết bao nhiêu sách và bài báo nỗ lực phân tích
tâm sự nhà thơ bằng nhiều ngả. Nhiều người đã dựa vào căn bệnh hiểm nghèo của
thi sĩ mà nói nhiều về tâm trạng điên loạn bất thường của HMT để dẫn đến sự
nương náu tâm hồn trong ánh sáng tôn giáo; có người đã dùng con mắt của nhà
phân tâm để diễn dịch tâm hồn HMT qua những biểu hiện phức tạp của một người chịu
đựng những ẩn ức tâm lý triền miên từ lúc trẻ đến khi phát bệnh nan y.Rất nhiều ngả đường đã dựng
lên để mong tiếp cận tâm hồn người thơ quá cố. Có điều là nhiều ngả đường đã đi
quanh co qua những điểm tựa bên ngoài tác phẩm của HMT. Rất ít oi những nỗ lực
nghiên cứu vẽ lên được con đường sáng tạo nghệ thuật của HMT dựa trên chính những
biến thiên tâm hồn nhà thơ thể hiện qua tác phẩm của chính ông. TcHMT là một nỗ
lực hiếm hoi của một nghệ sĩ nhằm diễn giải hành trình nghệ thuật của nhà thơ.
Lại là một công trình biểu hiện qua thế giới âm thanh. Cho nên ý nghĩa của
TcHMT sẽ không chỉ là đóng góp vào kho tàng nhạc phẩm vốn đã đồ sộ của Phạm Duy
thêm một tác phẩm thơ phổ nhạc nữa mà còn là ở sự đồng cảm của hai tâm hồn nghệ
sĩ trước phận người không thiếu gì điêu linh, khổ nhục.Hành trình nghệ thuật của trường ca Hàn Mặc TửTrường ca Hàn Mặc Tử được
bố cục làm ba phần mang tựa đề như sau:PHẦN I. TÌNH QUÊPHẦN II. TRĂNG SAOPHẦN III. AVE MARIAMỗi phần gồm có ba phân
khúc nhạc được phổ từ một bài thơ HMT, hoặc phổ từ sự tập hợp của một số trích
đoạn thơ, có khi lại chỉ là phổ nhạc một trích đoạn trong một bài thơ thôi.PHẦN I.- TÌNH QUÊ gồm
ba phân khúc nhạc phổ từ ba bài thơ HMT làm từ những ngày còn trẻ. (Bài TÌNH
QUÊ đã in trong tập thơ GÁI QUÊ - 1936).Phân Khúc 1 là
nhạc mở đầu bằng những âm thanh ngân nga trong nhịp điệu êm ả nhưng rất lãng mạn.
Chất nhạc đã được kỹ thuật hòa âm làm bật lên tính cách đặc trưng của nhạc chiều
(sérénade) quen thuộc trong nhạc cổ điển Tây phương. TÌNH QUÊTrước sân anh thơ thẩnÐắm đăm trông nhạn vềMây chiều còn phiêu bạtLang thang trên đồi quêGió chiều quên ngừng lạiDòng nước luôn trôi điNgàn lau im tiếng nóiLòng anh dường đê mêCách nhau xa muôn dặmNhớ chi tới trăng thềAi dù không lắng đợiHay ai không lặng ngheDù ai không lắng đợiHay dù ai không lắng ngheTiếng buồn trong sương đụcTiếng buồn sau lũy treDù ai bên bờ liễuHay dù ai dưới cành lêVới ngày xanh hờ hữngCố quên tình phu thêTrước sân anh thơ thẩnÐắm đăm trông nhạn vềMây chiều còn phiêu bạtLang thang trên đồi quêDưới trời Thu bàng bạcLả lướt khắp thôn quêRồi khi nhìn mây nướcLòng não nề tình quêTrước sân anh thơ thẩnÐắm đăm trông nhạn vềMây chiều còn phiêu bạtLang thang trên đồi quê...Phân Khúc 2 là
nhạc phổ toàn bài thơ ÐÂY THÔN VĨ GIạ. Nhạc gợi tả một không gian u tịch, vắng
lặng như những buổi hoàng hôn nơi đồng quê những thuở thanh bình: tiếng côn
trùng kêu vẳng, hoàng hôn uốn lượn xa vắng như tiếng phi lao rì rào trong gió,
như tiếng gió thì thầm lúc chiều tà. Không gian âm nhạc thật không còn gì trữ
tình hơn. Tiếng hát Thái Hiền duyên dáng một vẻ đẹp mộc mạc, chất phác như hình
tượng cô gái quê dịu dàng trong thơ HMT. Nhạc và hòa âm trong phân khúc đã chuyển
sang nét u uẩn, gợi tả những cảm giác bâng khuâng man mác mà ta vẫn gặp trong
những ngâm khúc của văn học cổ điển. Không gian nghệ thuật trong phân khúc này
cứ gợi tả những ấn tượng về Tỳ bà hành hay những bài thơ Ðường
của trường phái biên tái, hoặc giả những phân cảnh người tình nhân tha thẩn đi
tìm hương cũ nơi vườn xưa quạnh vắng trong Kiều.ÐÂY THÔN VĨ GIẠ Sao anh không về chơi thôn VĩNhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điềnGió theo lối gió, mây đường mâyDòng nước buồn thiu, hoa bắp layThuyền ai neo bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối naySao anh không về chơi thôn VỹNhìn nắng hàng cau nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điềnMơ khách đường xa, khách đường xaÁo em trắng quá nhìn không raỞ đây sương khói mờ nhân ảnhAi biết tình ai có đậm đà.Từ nét buồn u ẩn mênh
mang trong phân khúc hai, nhạc chuyển sang Phân Khúc 3. Phần
nhạc dạo tạo ngay cảm tưởng về một sự thiêng liêng huyền nhiệm của không gian
qua cảm nhận của nhà thơ. Tâm cảm của HMT trước vẻ Ðẹp của ảnh trí Ðà Lạt có lẽ
cũng không khác gì tâm sự của nhân vật nghệ sĩ mà Vũ Khắc Khoan cũng có lần tìm
cách diễn dịch bằng ngôn ngữ (1).Nhạc đề của phân khúc là
nỗi đắm say trong tiếng gọi ảo huyền của cái Ðẹp mà nhà thơ đã cảm thán rằng
phút thiêng liêng đã khởi đầu. Tiếng hát Tuấn Ngọc có tính cách say đắm mê hoặc
cũng hoà theo nhạc réo rắt mà không kém phần huyền hoặc. Kĩ thuật thể hiện hoà
âm gợi tả rất khéo cảm giác bâng khuâng của Kiều khi thấy Ðạm Tiên in dấu giày
trên ngấn rêu xanh. Ðã thoáng hiện những băn khoăn, khắc khoải khi tiếng nhạc
vút lên niềm u uẩn vang ngân rồi hiện rõ giọng rền như tiếng chuông gọi hồn vừa
u uất rền rĩ như nỗi đơn côi của người nghệ sĩ. Sự cảm nhận tế vi của nhà thơ dễ
chừng chỉ mới đến Phạm Duy mới thấy sự đồng cảm sâu sắc giữa hai tâm hồn nghệ
sĩ như vậy. ÐÀ LẠT TRĂNG MỜÐây phút thiêng liêng đã khởi đầu (3 lần)Trời mơ trong cảnh huyền mơ thực huyền mơTrời sao đắm đuối trong sương nhạtNhư đón từ xa một giấc mơXin hãy nín thinh chớ nói nhiềuXin hãy nín thinh chẳng nói nhiềuÐể nghe đáy nước hồ reo nước hồ reoÐể nghe tơ liễu run trong gióVà để nghe trời giải nghĩa chữ YÊUÐây phút thiêng liêng đã khởi ý đầuHàng thông lấp loáng đứng trong im lìmCành lá in như đã lặng chìmHư thực làm sao phân biệt đượcSông Ngân Hà nổi giữa màn đêmÐây phút thiêng liêng đã khởi đầu (2 lần)Trời mơ trong cảnh huyền mơ thực huyền mơTrời sao đắm đuối trong sương nhạtNhư đón từ xa một giấc mơXin hãy nín thinh chớ nói nhiềuXin hãy nín thinh chẳng nói nhiềuÐể nghe đáy nước hồ reo nước hồ reoÐể nghe tơ liễu run trong gióVà để nghe trời giải nghĩa chữ YÊU.Ðây phút thiêng liêng đã khởi đầuCả trời say nhuộm một mầu trăngCả lòng tôi chẳng nói rằngKhông một tiếng gì nghe đụng chạmDẫu rằng tiếng nổ vỡ sao băngÐây phút thiêng liêng đã khởi đầu.Phần Một vừa
rồi đã khởi đầu từ hành âm êm ả thanh thoát đến vẳng xa u uẩn, rồi chuyển sang
sâu lắng ngẩn ngơ. Diễn tiến âm nhạc gợi được hình ảnh con người đi trên hành
trình hồn nhiên của tuổi nhỏ đến xôn xao tình trẻ, rồi đến tiếng gọi sâu lắng của
nội tâm đã biết băn khoăn thao thức trong sự tìm kiếm. Không gian âm nhạc là
không gian chiều tà đi vào đêm sâu, tính cách của nhạc cũng vì thế mà êm ả lãng
đãng như sérénade và nocturne của nhạc cổ điển.
Diễn biến tâm tình như thế cũng khớp với cảm nhận của chính Phạm Duy khi ông
cho rằng nhạc ở đây đã diễn được thân phận của đất nước chúng ta đi từ thời
thanh bình sang cảnh trạng của sự bất trắc... (1)PHẦN II.- TRĂNG
SAO, gồm các phân khúc số 4, số 5 và số 6:Phân Khúc 4 là
đoạn tán thán về sự mầu nhiệm của ánh trăng. Tính cách của âm nhạc là tính cách
thánh ca, nhưng đối tượng của lời tán thán không là hình tượng siêu nhiên mà chỉ
là ánh trăng. Nhà thơ bị trăng mê hoặc và tắm đẫm mình trong ánh trăng. Ðấy là
khởi điểm của những xúc cảm thơ trong THƠ ÐIÊN - ÐAU THƯƠNG, tập thơ HMT làm từ
khi phát bệnh phong. Hành âm của phân khúc lần lượt đi qua bốn biến điệu: vầng
trăng --> chơi với trăng --> trăng tự tử --> rượt trăng. Có lẽ đây là lần đầu tâm
trạng khúc mắc của HMT được thể hiện một cách cụ thể qua hình tượng gợi tả của
âm nhạc. Nhạc vờn múa như trong cơn say trong một kết cấu đẹp: hình tượng âm nhạc
tăng cường độ xúc cảm dần qua từng biến điệu, cho đến cuối biến điệu thứ tư. Tiếng
hát Tuấn Ngọc vút lên cao như cơn thảng thốt của nhà thơ vừa tắt khi nhà thơ vừa
ngất lịm trong cơn xuất thần. Nhạc đi những bước ma quái làm nổi bật xúc cảm của
người nghệ sĩ trước nỗi cô đơn vì cảm nhận vẻ Ðẹp mê hồn mà nhân gian không thể
hiểu được. Cường độ cảm xúc trong phân khúc này, về mặt bố cục, khá gần với đoạn
Kiều tâm sự với em trước lúc từ giã gia đình lên đường về Lâm Truy. Hoà âm của
Duy Cường đầy tính tưởng tượng khi tận dụng khả năng gợi tả của tiếng sáo Mèo
xa vắng chìm lẩn như chiều sâu của thế giới nội tâm sừng sững thách đố cuộc đời
chung quanh.TRĂNG SAO RỚT RỤNGLạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôiÔi vầng trăng cao sángLạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôiXin ban cho sáng thêm lênSáng thêm lên cho không gian rất đẫmCho hồn thơ mát rợn tới hương nguyềnLạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôiLạy Chúa tôiLạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôiLạy Chúa tôi.Tôi đi trong ánh trăng mờTìm con trăng lạc ngoài bờ bên kiaBan khuya ý tứ tôi dòLiều thân bát ngát tôi lìa xứ yêuTôi gò mây lại tôi tìm sao bayGió nào, gió tràn, gió ngập nơi đâyKhông tràn nước mắt, không thảm thê buồnTôi doạ không gian, tôi rủa tới cùngTôi khát vô cùng, khát vô cùngKhát vô cùng, khát vô cùng...Tôi riết thời gian trong nắm tayCất tiếng cười ròn đụng vùng mâyTôi nhập hồn mình trong khúc hátÐể nhờ khúc hát đẩy lên trăngLên chơi cung Quế đây lần đầuÐể hớp tinh anh của Nguyệt CầuÐể thoát ly ra ngoài thế giớiÐể cười để khóc để yêu nhauHa ha tôi đuổi theo trăng (2 lần)Trăng bay tơi tả trăng tanTrăng ngã trên cành, ngã trên cành vàngVề đây tôi sẽ gặp nàngVề đây tôi lại gặp nàng, nàng ơi !Lòng giếng lạnh sao chẳng ai hayNghe nói mùa thu ẩn náu nơi nàyCả âm dương đều tụ họp (2 lần)Ðể cả trăng mây ngừng lại nơi đâyÐể nghe, à để nghe lời nói thời loạn lyGiọng buồn thương gió, trăng gió đã thềCủa bầy trai gái trong gió não nề, tự tình bên giếngLời oán hận của tuổi si mêLòng giếng lạnh mở miệng bao laGiếng nuốt vì sao rụng với trăng ngàLoạn rồi loạn rồi, tôi hoảng hốt (3 lần)Nhẩy ùm xuống giếng vớt trăng lên.Phân Khúc 5 mở đầu bằng tiếng sáo Mèo rền ma quái để rồi sẽ đeo đẳng
mãi suốt phân khúc. Người nghệ sĩ vừa thoát hồn để dẫn hồn mình đi suốt một đêm
qua những biến điệu đầy kịch tính: Lúc thì cười như điên sặc sụa cả mùi trăng,
lúc thì cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình, lúc thì dìm nhau xuống một
vũng trăng êm, lúc thì lặng yên trăng thổn thức, lúc thì bay lên cho tới một
hành tinh... (3) Hình tượng âm nhạc cũng tràn trề sức quyến rũ: hai giọng hát
sóng đôi nhau gợi tả rất mạnh sự phân thân của người nghệ sĩ trong cơn say nghệ
thuật. Tâm sự HMT trong tập THƠ ÐIÊN - ÐAU THƯƠNG dễ thường tới bây giờ mới được
dẫn giải một cách cụ thể, sinh động. Thể hiện được kịch tính của các biến điệu
âm nhạc trong hai phân khúc này là một thành công xuất sắc của Duy Cường và các
giọng hát. Nỗi lòng u uẩn của người nghệ sĩ đã lẩn khuất đâu đó từ phân khúc cuối
phân khúc I cứ tăng lên dần theo diễn tiến phát triển hình tượng âm nhạc trong
phân khúc này.HỒN LÀ AIHồn là ai, là ai, hồn là ai, tôi chẳng biết (3 lần)Hồn theo tôi, theo tôi, hồn như muốn cợt tôi chơiTôi chết giả và no nê vô vạnCười như điên sặc sụa sụa cả mùi trăngTôi đã cấu đã cào nhai ngấu nghiếnTôi đau vì rùng rợn đến vô biênTôi dìm hồn xuống một vũng trăng êmCho trăng ngập trăng dồn lên tới ngựcHai chúng tôi lặng yên trong thổn thứcRồi bay lên cho tới một hành tinh...A a a àCùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình (2 lần)Ðể gào thét một hơi cho rởn ócCả Thiên Ðàng, Ðịa Ngục, Trần GianHồn là ai, là ai, hồn là ai, tôi chẳng biết (3 lần)Dẫn hồn đi, hồn đi ròng rã một đêm nay!(hát lại đoạn cuối)Phân Khúc 6 có thể xem như một thoái trào của đợt sóng hình tượng
âm nhạc trong phần II. Ba biến điệu nối tiếp nhau nặng nề như cảnh tha ma mộ địa
lẫn khuất tiếng sáo Mèo nghẹn ngào như tiếng cú đêm khuya. Hình tượng âm nhạc
cũng dàn trải như khoảng trống mênh mông của không gian tịch lặng. Nhạc đi êm
nhẹ mà sao vương vấn nỗi thê lương. Lời thì thầm của nhà thơ là lời bộc bạch về
tâm tình ông dành cho cuộc đời thân mến. Ba trích đoạn thơ ghép lại thể hiện
khá rõ tâm sự HMT trong giai đoạn sáng tác THƠ ÐIÊN - ÐAU THƯƠNG.Nghệ thuật phát triển
hình tượng âm nhạc trong phần 2 này là nghệ thuật ba lan; cảm xúc dâng lên từng
đợt như sóng tràn. Không gian nghệ thuật là đêm tối mênh mang. Giai điệu và hoà
âm đều đẫm vẻ ma quái. Nhạc đề rất nhất quán ở điểm thể hiện tâm trạng người
nghệ sĩ. Anh ta cảm nhận tiếng gọi vô hình của cái Ðẹp thể hiện ở ánh trăng. Vẻ
đẹp mê hoặc của ánh trăng hay của nàng thơ hay của âm nhạc nào có khác chi những
cơn say đắm xuất thần của HMT. Diễn đạt được tâm sự nghệ sĩ qua hình tượng âm
nhạc là một thành công của Phạm Duy (mà cũng có phần không nhỏ của Duy Cường
trong nghệ thuật hoà âm).TRÚT LINH HỒNSáng như gươm lạnh như ma (2 lần)Ngọn bút thần khai phước lộc nhàMực lùa khí vị vô hồn chữVăn hút hào quang ở miệng taGiấy trắng tinh khôi tuôn huyết mạchLời vàng nguyên vẹn trổ tài hoa.Thơ chưa ra khỏi bút, giọt mực đã rụng rời (2 lần)Lòng tôi chưa kịp nói, giấy đã toát mồ hôi (2 lần)Máu đã khô rồi thơ cũng khô rồiTình ta cũng đã, đã chết từ lâuTừ nay trong gió và mây gióLời thảm thương rền mọi nẻo mơ (2 lần)Ta còn trìu mến biết bao ngườiVẻ đẹp xa hoa của một thờiÐầy lệ đầy thương đầy tuyệt vọngÔi giờ hấp hối sắp chia phôiTa trút linh hồn giữa nơi đâyGió sầu vô hạn nuối trong câyCòn em sao chẳng hay gì cảXin để tang anh đến vạn ngày(hát lại hai đoạn)PHẦN III.- AVE
MARIA cũng gồm các phân khúc số 7, số 8 và số 9:Phân Khúc 7 là
một lời xưng tụng đấng tinh truyền thánh vẹn. Nhạc bắt đầu bằng đoạn hợp xướng
nghiêm trang, thánh thiện. Toát ra toàn thể phân khúc là vẻ đẹp thuần khiết của
hình tượng người nữ trong nghệ thuật muôn đời. Nhà thơ cũng như người nhạc sĩ đều
rung động nồng nàn trước vẻ Ðẹp nguyên mẫu đó. Trong thế giới nguyên vẹn tinh
tuyền chỉ còn sự yêu thương, sự yên nghỉ. Không còn những dằn xóc của những hệ
lụy của cuộc đời dưới thế. Kĩ thuật đồng ca của nhạc cổ điển tây phương đã góp
phần tăng tính cách thánh đường của phân khúc.LẠY BÀ LÀ ÐỨC TINH TUYỀN
THÁNH VẸNMa ri a Ma ri aMa ri a linh hồn tôi ớn lạnhMa ri a Ma ri aRun như run thần tử thấy long nhanMa ri a Ma ri aRun như run hơi thở chạm tơ vàngMa ri a Ma ri aNhưng lòng nhuần ơn trìu mếnMa ri a Ma ri aLạy Bà là Ðấng tinh truyền thánh vẹnGiầu nhân đức, giầu muôn hộc từ biCho tôi dâng lời cảm tạ dâng phò nguyCơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế.Tôi cảm động rưng rưng hai hàng lệDòng thao thao bất diệt của nguồn thơTrí tôi hút bao nhiêu là khí vịBút tôi reo như châu ngọc đền vuaLạy Bà, Bà rất ư nhiều phép lạ.Ngọc như Ý vô tri còn biết cảHuống chi tôi là Thánh thể kết tinh (2 lần)Tôi ưa nhìn Bắc Ðẩu rạng bình minhChiếu cùng hết khắp ba ngàn thế giớiSáng nhiều quá cho thanh âm vời vợiThơm dường bao cho miệng lưỡi khong khen.Lạy Bà, Bà rất ư nhiều phép lạNgọc như Ý vô tri còn biết cảHuống chi tôi là Thánh thể kết tinh (2 lần)...Sau phần tán tụng vẻ Ðẹp tinh tuyền thánh thiện, Phân Khúc 8 chuyển
sang lời cảm thán về hình tượng thiên thần bằng một biến điệu khác: Kỹ thuật nội
tỉnh như trong kinh cầu nguyện. Tiếng hát an nhiên của Thái Hiền và Thái Thảo
toát ra vẻ thanh thoát cần thiết của hình tượng âm nhạc. Tiếng hát vẳng nhẹ như
lời thì thầm của người con khi ngỏ lời yêu thương với Mẹ, như người nghệ sĩ
ngây ngất trước vẻ đẹp mong manh như gió, như sương huyền diệu, bước đi
sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu...Người nghệ sĩ Phạm Duy
hát về Mẹ bao lần rồi, vậy mà những âm thanh về người Mẹ trong phân khúc này vẫn
quyến rũ, vẫn mới nguyên như vẻ đẹp gặp gỡ lần đầu, giai điệu láy lả lướt vẻ đẹp
dân ca đã khép lại cảm xúc kì lạ về sự thanh thoát an nhiên trong vòng tay yêu
thương của sứ thần thiên chúa Gabriel. Nghệ thuật diễn tả trong phân khúc hai
là nghệ thuật độc thoại khá quen trong đối thoại nội tâm của kịch: nhân vật thì
thầm những lời nói với chính mình. Hành âm của nhạc ở phân khúc này cũng chìm
khuất kín nhiệm như ý thơ.HỠI SỨ THẦN THIÊN CHÚA
GABRIELHỡi Sứ Thần Thiên Chúa Ga bri en (2 lần)Khi Người xuống truyền tin cho Thánh NữNgười có nghe thơ mầu nhiệm ra đờiNgười có nghe náo động cả muôn trờiNgười có nghe xôn xao nghìn tinh túÐể ca tụng bằng hoa hương sáng lángBằng tràng hạt bằng Sao Mai chiếu rạngMột đêm Xuân là rất đỗi anh linhHỡi Sứ Thần Thiên Chúa Ga Bri en (2 lần)Lạy Bà là Ðấng ban đầy ơn phướcCho tình tôi nguyên vẹn tợ trăng rằmThơ trong trắng như một khối băng tâmLuôn luôn reo trong hồn trong mạch máuLạy Bà là Ðấng ban đầy ơn phướcCho đê mê âm nhạc và thanh hươngCho vỡ lở cả muôn nghìn tinh đẩuCho đê mê âm nhạc và thanh hươngChim hay tên ngọc đá biết tuổi vàng (4 lần)Hỡi Sứ Thần Thiên Chúa Ga bri en (2 lần)Khi Người xuống truyền tin cho Thánh NữNgười có nghe thơ mầu nhiệm ra đờiNgười có nghe náo động cả muôn trờiNgười có nghe xôn xao nghìn tinh túÐể ca tụng bằng hoa hương sáng lángBằng tràng hạt bằng Sao Mai chiếu rạngMột đêm Xuân là rất đỗi anh linhHỡi Sứ Thần Thiên Chúa Ga Bri en (2 lần)Lòng vua chúa như lòng lê thứSẽ ngất ngây bởi thơ đầy ứNguồn thiêng liêng yêu Mẹ Sầu Bi... (2 lần)Phân Khúc 9 láy trở lại hành âm của phân khúc một để viên mãn một
chu trình. Bốn câu thơ đã ngân vang âm hưởng của lời tán tụng vẻ Ðẹp thánh thiện
của nàng thơ. Nghệ thuật diễn xướng ở phân khúc này đã không ngừng lại ở nghệ
thuật đồng ca cổ điển mà đã kết hợp với nghệ thuật diễn xướng dân ca: hát đuổi,
hát đối. Hình tượng âm nhạc toát ra tính cách trữ tình, rất người mà vẫn trong
suốt như vẻ đẹp thiên thần.PHƯỢNG TRÌ ÔI PHƯỢNG TRÌMa ri a Ma ri aMa ri a linh hồn tôi ớn lạnhMa ri a Ma ri aRun như run thần tử thấy long nhanMa ri a Ma ri aRun như run hơi thở chạm tơ vàngMa ria a Ma ri aNhưng lòng nhuần ơn trìu mếnMa ri a Ma ri aPhượng Trì ôi Phượng Trì ôi Phượng Trì(Lạy Bà là Ðấng tinh truyền)Phượng Trì ôi Phượng Trì ôi Phượng Trì(Lạy Bà là Ðấng tinh truyền)Phượng Trì ôi Phượng Trì ôi Phượng Trì(Lạy Bà là Ðấng tinh truyềnPhượng Trì ôi Phượng Trì ôi Phượng Trì(Lạy Bà là Ðấng tinh truyềnThơ tôi bay suốt một thời chưa thấuHồn tôi bay biết bao giờ mới đậuTrên triều thiên ngời chói vạn hào quang (2 lần)A MenTrọn phần ba là bài thơ
Ave Maria được phổ thành nhạc. Không gian âm nhạc vẫn là nhạc nocturne nhưng
tính cách đã thay đổi hẳn qua mầu sắc ấm áp của ánh sáng. Nhạc đề là sự xưng tụng
biểu tượng của vẻ Ðẹp thánh thiện thuần khiết được thể hiện qua hình tượng Người
Nữ nguyên mẫu: khi thì là Ðức Bà tinh truyền thánh vẹn, có lúc hoá thân làm sứ
thần Gabriel, rồi Phượng Trì (Âm thanh của tên gọi này sao cứ làm ta liên tưởng
đến hình ảnh toàn bích của người đẹp có đầy đủ Long trì và Phượng các trong tử
vi). Nghệ thuật thể hiện là nghệ thuật nhạc nhà thờ, vừa đồng ca, vừa độc thoại.
Bao trùm toàn thể phần ba này là vẻ đẹp rực rỡ mà tâm hồn nghệ sĩ quay về nương
náu trong sự bình yên của hạnh phúc trong thế giới nguyên tuyền thanh khiết.Trường ca HMT đã thể hiện
tài tình những diễn biến tâm tình của nhà thơ quá cố: từ chất thơ trong sáng buổi
đầu, nhà thơ đã trải qua những cơn đau đớn quằn quại trước khi quay về yên nghỉ
trong vẻ Ðẹp mầu nhiệm thanh khiết của Phượng Trì là hiện thân của vẻ Ðẹp nữ
tinh truyền thánh vẹn. Ðấy là hành trình thơ HMT, mà cũng là hành âm của trường
ca HMT của Phạm Duy.Hành trình thú đau thương của người nghệ sĩTrong lời dẫn giải về tác
phẩm TCHMT, Phạm Duy cho biết rằng ông đã từng làm quen với thơ HMT từ thuở còn
đi học. Ông cảm được những nếp gấp tâm tình của nhà thơ này khi nêu ra những chủ
đề chính trong thơ HMT: tình yêu, tình dục, sự đau khổ, sự đau thương,
sự điên dại, cái chết, Ðạo, Thượng Ðế, Thiên Chúa... (3) Bảng liệt kê
vừa kể thật ra chưa nói đủ hết mối đồng cảm sâu sắc của ông đối với nhà thơ quá
cố. Phải nghe chính tác phẩm mới có thể nhận ra được rằng TcHMT là bản vẽ sâu sắc
bản đồ tâm hồn thơ HMT.Bố cục của TCHMT thể hiện
khá rõ về những biến chuyển trong tâm sự thơ HMT từ tập thơ đầu (GÁI QUÊ) đến
giai đoạn THƠ ÐIÊN - ÐAU THƯƠNG, và cuối cùng là thời kỳ sáng tác XUÂN NHƯ Ý trở
về sau. Ba giai đoạn chính trong hành trình sáng tạo thơ HMT với những nội dung
khác nhau, phản chiếu tâm hồn người thơ một cách sinh động và độc đáo.Có thể phác lại nét chính
của con đường thơ HMT được phác họa qua trường ca của Phạm Duy như sau: 1) thời
thanh xuân lãng mạn đẹp ngời (TÌNH QUÊ) --> 2) thời điên loạn, đau đớn vì thể
nghiệm nỗi đau thương của thân phận (TRĂNG SAO) --> 3) thời tìm lại được yên
ổn tâm hồn trong thế giới của cái Ðẹp vĩnh hằng (AVE MARIA). Cứ thế, nhạc đề
phát triển từng đợt ba phân khúc như những lớp sóng xô cao thấp khác nhau. Con
đường thơ của HMT thể hiện khá sinh động tâm hồn người nghệ sĩ giữa đời.Con tim yêu thương bao la
của người nghệ sĩ rung lên những nhịp điệu tình ca muôn vẻ của thơ tình. Không
biết có ai phân tích hết những dáng vẻ của tình yêu trong thơ HMT hay chưa,
nhưng Phạm Duy đã thể hiện khá đẹp những nét lớn của tình yêu trong thơ HMT: sự
dâng hiến trọn tình, sự e ấp trộn lẫn với nỗi rạo rực, nỗi đắm say trước vẻ Ðẹp
hiện thân của tình yêu. Có thể nhận ra những dáng vẻ tình yêu đó trong thơ HMT
khi thưởng thức phần một TcHMT. Con tim yêu thương của người nghệ sĩ phả vào cuộc
đời xã hội bằng những mối tình người tặng cho những người yêu dấu chung quanh.
Tình yêu ấy đọng lại trong TCHMT là tình yêu ông dành cho đất nước quê hương là
nơi bóng hình những người ông thương mến, là tình yêu ông dâng tặng vẻ Ðẹp
nguyên trinh qua hình tượng Phượng Trì/sứ thần Gabriel/Ðức Bà.Thế nhưng người nghệ sĩ
có trái tim vô số mà anh ta không chỉ dành tặng cho những người yêu dấu trong đời.
Trong đáy sâu thẳm của con tim, người nghệ sĩ luôn cảm thấy có một lời thì thầm
vượt lên khởi bình diện nhân gian. Ở đây cần nhắc lại một bài viết của HMT thường
vẫn bị các nhà nghiên cứu bỏ quên khi muốn tìm hiểu về tâm sự thơ ông. Trong
bài viết về Quan niệm thơ, HMT cho thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một linh
hồn thương nhớ, ước ao trở lại trời, là nơi đã sống ngàn kiếp vô thỉ, vô chung,
với những hạnh phúc bất tuyệt.Nói cách khác, thi sĩ đã
sống cô độc đời mình giữa cuộc thế lao xao, và làm thơ là để tìm người tri kỷ.
Làm thơ là một sự ham muốn vô biên của những nguồn khoái lạc trong trắng của một
cõi trời cách biệt (4) . Người nghệ sĩ thoáng nghe ra những tiếng nói mầu nhiệm
vượt lên khởi chiều kích trần thế. Sự nhạy cảm tột cùng dẫn đưa con đường sáng
tạo của người nghệ sĩ qua những cơn loạn lạc với thú đau thương. Ðó có thể là nỗi
ngậm ngùi về những hoang phế quạnh hiu của những thành quách cũ (Vũ Ðình Liên,
Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương), đó cũng có thể là những lời độc thoại triền
miên của người tình trẻ bên đời hiu quạnh (Trịnh Công Sơn), của người tình già
nghe tiếng gọi nghìn thu (Phạm Duy).Thế thì tại sao không có
một HMT điên mê trong nỗi đau đớn của thân phận vui buồn của nhân gian mà ông tự
cho mình là một đại biểu? (Ý nghĩa của trường thơ Loạn mà HMT và các bạn ông dựng
lên dường như chưa được tìm hiểu, nhưng chúng tôi cho rằng sự nổi loạn của thế
hệ nhà thơ trẻ Quy Nhơn lúc bấy giờ là dấu chỉ của một khao khát về một sự quân
bình mới). Nỗi đau về phận người khổ nhục có khiến thơ ông đẫm máu lệ, vang
vang nỗi đau hận pha lẫn với hoan lạc trong tình yêu thánh hóa.Thơ điên của HMT phản ánh
nỗi bi phẫn về phận người khốn khó, mà sự đau khổ của đời này thì muôn hình vạn
trạng, người nghệ sĩ đau nỗi đau nhân thế và mang thập giá thay cho chúng ta,
có phải đâu chỉ là người ca nhân làm mõ cho những mối tình đôi lứa như người đời
vẫn nghĩ. Một nhân vật của Dostoievsky đã bảo rằng: cả trái đất, từ vỏ
vào trong ruột, đều ướt đẫm nước mắt con người. Thế nên khi người nghệ
sĩ hát về nỗi đau đớn của kiếp nhân sinh hoặc giả cảm nhận được tiếng hát nghìn
thu nơi đầu non thì chẳng phải là lúc người nghệ sĩ đã xa cách đại quần chúng,
trừ phi đại quần chúng muốn giam hãm nghệ sĩ như giam những tên tù trong vũng lầy
nghệ thuật nô dịch.Gần đây khi nhận định về
một số tác phẩm mới của Phạm Duy, có người nghĩ là ông đã dần tách khởi vị trí
của người nhạc sĩ của đại chúng, hiểu theo nghĩa là ông không còn hát về những
vui buồn của nhân thế gần gũi: hát về quê hương dân tộc, về những mối tình rất
riêng tư trong không gian sống của những thị dân. Nếu nghĩ rằng Phạm Duy nay
đang lui dần về sáng tác những tác phẩm để riêng cho ông bởi vì không có bóng
dáng những hình ảnh quen thuộc trong các ca khúc bao lâu nay thì cũng xin lưu ý
là đã từ những ngày xa xưa, khi còn trẻ Phạm Duy cũng đã từng có những bài hát
mang chủ đề hướng nội. Người thanh niên ấy đã từng nghe ra tiếng gọi huyền nhiệm
từ sâu thẳm của nội tâm. Tiếng đời nào phải chỉ có tiếng tình yêu mà còn có tiếng
gọi của thinh không (Lữ Hành), cảm nhận về những biên giới cắt
chia con người trong những không gian tâm tưởng khác nhau (Bên Cầu Biên
Giới)...Cho nên Phạm Duy vẫn chỉ
là một thôi dù là Phạm Duy của Tình Ca, của Cỏ Hồng, của Pháp
Thân, của Ngục Ca, của Bài Hát Nghìn
Thu, của thiền khúc Hát Trên Ðường Về, hay của Trăng
Sao Rớt Rụng. Có thế mới có thể có mối đồng cảm giữa hai người nghệ sĩ
với những thân phận riêng tư rất khác nhau nhưng cũng rung những cung bậc tâm hồn
trước những hoan lạc cùng những khổ nhục của kiếp người. Nghệ thuật, nói cho
cùng, chỉ là những tiếng kêu bất bình của người nghệ sĩ trước những hệ lụy của
cuộc đời. Ðôi mắt người nghệ sĩ là đôi mắt nhìn sâu thẳm vào phận người. Một thời
vàng son của đào nguyên đã vĩnh viễn xa rồi ư, đời ta chỉ còn là một chuỗi những
ngày nơi trần gian khổ lụy (Văn Cao), hát như chưa biết buồn phiền chi dù đường
về quê nhà đã xa, nơi thành cổ rêu mốc của đời ta vẫn đi về một cõi quạnh hiu
và hai vầng nhật nguyệt trĩu hai vai (Trịnh Công Sơn).TcHMT là tiếng hát của
người nghệ sĩ về những ràng buộc của cuộc đời, là sự thăng hoa giữa những khổ
đau và hạnh phúc của phận người thành âm nhạc và thơ. Ba phần của trường ca là
ba dáng vẻ của cuộc đời được phả vào nghệ thuật, trong đó có tình yêu sôi nổi
mà e ấp của một thời hoa niên lãng mạn, có những khổ nhục của một đời lận đận
vì những dằn xóc khác nhau.Trước nỗi khổ mang chất
bi kịch của đời người, người ta có thể phản ứng một cách khác nhau: có người an
nhiên lặng lẽ đi về một cõi quạnh hiu và chấp nhận hạnh phúc trong niềm tuyệt vọng
(Trịnh Công Sơn), có người không nguôi hoài tưởng một thiên thai không bao giờ
trở lại (Văn Cao), có người lại dấn mình sống rất hiện sinh với chính những
vinh nhục của đời và bật lên những tiếng tâm tình trước mọi cảnh huống. HMT và
Phạm Duy đồng cảm với nhau ở điểm này. TcHMT là tác phẩm nghệ thuật thăng hoa
những đau thương khổ nạn của đời người.Hành trình nghệ thuật của
HMT bắt đầu từ những hoa mộng thời trẻ hồn nhiên đến những đau khổ điên loạn vì
những nhục nhằn, và khép lại với tình yêu thanh khiết trong thế giới vĩnh hằng
trong suốt một vẻ Ðẹp tinh tuyền. Nhạc Ðề phát triển nhất quán với chủ ý HMT
khi nhà thơ biểu tượng Maria bằng những tiếng gọi khác nhau: Ðức Bà tinh truyền
thánh vẹn, sứ thần thiên chúa Gabriel, Phượng Trì. Ngôn từ ở đây chỉ là những
chiếc bè giả tạm để chuyên chở một cảm nhận về một thế giới vĩnh cửu của Mỹ thể.HMT về yên nghỉ trong tôn
giáo hay nghệ thuật? Vô thức về người nghệ sĩ trong Phạm Duy đã nghiêng về xu
hướng thứ hai khi ông đã không phổ nhạc bài Ave Maria theo
cách nhìn của ông lúc ông phổ thơ Phạm Thiên Thư trước đây: vẻ đẹp quyến rũ
trong thơ Phạm Thiên Thư là sự nguyên trinh thánh thiện, là vẻ đẹp trong thế giới
nghệ thuật trong đó không gian và thời gian như không còn tuổi trong cõi tuyệt
đối vô cùng. Phạm Duy đã chẳng nói là những bài ông phổ thơ Phạm Thiên Thư là
những bài hát thanh cao nhất của thời đại đấy ư (4) ? Hát lên tiếng hát xưng tụng
một thiên thần là cách thế của người nghệ sĩ xưng tụng cái Ðẹp. Mỹ thể là điểm
đi tới và cũng là điểm quay về của Nghệ thuật.Phạm Duy tâm sự rằng
nguyên ủy của ý định sáng tác TcHMT là: ông muốn tiếp tục nói tới chuyện hóa giải
nỗi oan khiên to lớn của cuộc đời Việt Nam sau nửa thế kỷ chiến tranh và hận
thù bằng con đường đi vào Ðạo để siêu hóa mọi sự (6). Hiểu như thế thì HMT cũng
là một biểu tượng của thân phận Việt Nam, và những biến chuyển tâm tình của HMT là điển
hình cho bi kịch trong đời người VN chúng ta trong một thời oan khổ dài dằng dặc.
Âu cũng là một cao vọng đáng trọng của người nhạc sĩ già. Nỗi trăn trở của Phạm
Duy về đất nước gần đây được tô đậm nét qua một trường ca gây nhiều xúc động (BẦY
CHIM BỎ XỨ - 1990). Ta cũng bắt gặp trong một trang viết, ông cũng đã có lần
trăn trở về thân phận nhục nhằn của người trí thức VN chứ chẳng phải không (7).
Nhưng cứ như sự phát triển của chính nhạc đề của TcHMT thì ý nghĩa của tác phẩm
đã tự nó có sức nặng của một tác phẩm nghệ thuật phản ánh rất đậm những cảm xúc
về phận người biểu hiện qua thân phận một nghệ sĩ. Phạm Duy có nhớ không những
lời ông viết về chính mình khi ông sáng tác TcMHT: đối với tôi chỉ có
ba điều quan trọng: tình yêu, sự đau khổ và cái chết (8)? Tôi muốn
thêm: hận thù, hạnh phúc và vĩnh cửu. Một tác phẩm thơ phổ nhạc
lớn trong sự nghiệp Phạm DuyTrong kho tác phẩm đồ sộ
của Phạm Duy, thơ phổ nhạc có một vai trò rất đáng kể. Phải nhận rằng nhạc của
ông đã làm bất tử một số những bài thơ, và ngược lại thơ đã gợi hứng cho ông viết
những giai điệu mượt mà quyến rũ nhiều thế hệ người nghe. TCHMT là công trình
thơ phổ nhạc rất khác với những bài trước đây thường chỉ là những đoản khúc
hoàn chỉnh riêng rẽ, dù có đặt chúng vào một tập hợp như Ðạo Ca, Ngục
Ca, Hoàng Cầm Ca. Một công trình dài hơi và dài ngày, nếu cứ tính từ
khi lần đầu tiên bài Tình Quê xuất hiện như một phụ bản trong
tập san THẾ KỶ HAI MƯƠI (1960) tại Sàigòn.Ngoài Phạm Duy ra có Hải
Linh và Viết Chung trước đây cũng phổ nhạc HMT, mỗi người một phong cách khác
nhau. Nhưng cũng chỉ với Phạm Duy rất đáng chú ý vì tính cách đa dạng và thể hiện
một phong cách đặc biệt. Trong TCHMT, có đủ các kỹ thuật phổ nhạc mà Phạm Duy
thường vẫn sử dụng: lắp giai điệu vào lời thơ, biến thể các giai điệu để phát
triển nhạc đề, và chuyển ý thơ thành điệu. Kỹ thuật lắp giai điệu và thủ pháp
quen thuộc thường thấy ở thơ phổ nhạc: Bài Chiều Ðông phổ
nguyên lời bài thơ Khoác Kín của Cung Trầm Tưởng là một thí dụ.
Phải nói ngay là Phạm Duy rất hiếm khi phổ nguyên lời thơ của toàn bài, vì đòi
hỏi của cấu trúc câu nhạc cũng có mà vì sự chọn lọc lời ca của ông cũng có. Vì
vậy, bài thơ phổ nhạc của Phạm Duy thường phong phú về giai điệu và nhạc đề nhờ
ở nghệ thuật gây ấn tượng qua những kết hợp kỹ thuật khác nhau.Bài thơ phổ gần như
nguyên vẹn trong TCHMT là Ðây thôn Vĩ Giạ (gồm có ba khổ thơ
thất ngôn) thật ra cũng phải tôn trọng cấu trúc của bài hát mà kết cấu như sau:
đoạn một của bài hát gồm khổ một và khổ hai, đoạn hai gồm khổ một và khổ ba. Sự
láy lại khổ thơ là một nghệ thuật gây ấn tượng bằng sự láy lại nhạc đề của phân
khúc này. Kỹ thuật biến thể các giai điệu để phát triển rộng nhạc đề là thủ
pháp đã được dùng trong khi phổ bài Tình Quê. Ông đã bố cục
bài hát làm hai đoạn lớn có giai điệu không xa nhau lắm và nối chúng lại với
nhau bằng bản lề rất khéo là hai câu thơ ngũ ngôn trong bài thơ nhưng đã phổ
thành hai biến điệu khác nhau cho phù hợp với âm hành của câu nhạc. Sự tròng
tréo các giai điệu trong hai đoạn có tác dụng nghệ thuật đặc sắc cho bài hát. Kỹ
thuật mà Phạm Duy thường sử dụng là kỹ thuật chuyển ý thơ thành giai điệu.Ðây là một kỹ thuật đòi hởi
khả năng thưởng ngoạn văn học ngõ hầu có thể nắm bắt được ý của câu đoạn hay cả
bài thơ để chuyển thành giai điệu. Phạm Duy đã sử dụng kỹ thuật này mà hoàn
thành những tác phẩm bất hủ như Tiếng Sáo Thiên Thai, Vần Thơ Sầu Rụng,
Hoa Rụng Ven Sông... trong TcHMT, phần phổ nhạc nhóm bài thơ về Trăng
là phần rất công phu nhờ sự biến ảo của giai điệu theo nhịp điệu phù hợp với
tâm trạng trong thơ. Phạm Duy đã tổ hợp các bài thơ khác nhau theo một thứ tự
do ông thiết định để làm bật lên trạng thái tâm hồn của nhà thơ trong phân khúc
này. Không có được khiếu thưởng ngoạn thi ca sâu sắc thì không thể có được những
bản thơ phổ nhạc như thế. Cứ so sánh lối tiếp cập của Hải Linh và Phạm Duy khi
phổ bài Ave Maria sẽ thấy ngay phong cách Phạm Duy: ông tước bỏ đoạn đầu của
bài thơ mà Hải Linh đã dùng để phát triển nhạc đề cho bài hợp xướng Ave
Maria giầu tính cách tôn giáo: Như song lộc triều nguyên ơn
phước cả...Phong cách phổ nhạc ở đây
đã phản ánh phong cách người nhạc sĩ. Bao trùm lên các kỹ thuật vừa kể là nghệ
thuật gây ấn tượng qua sự nhấn mạnh nhạc đề. Ðây là điểm đặc sắc của nghệ thuật
sáng tác Phạm Duy. Bài Ðà Lạt Trăng Mờ chẳng hạn, đã láy đi
láy lại nhiều lần nhạc đề bài hát. Ta tìm thấy lại nghệ thuật ấy trong tất cả
các phân khúc của TcHMT. Ấn tượng về câu nhạc được tô đậm trong trí người nghe
là nhờ những sự nhấn mạnh nhạc đề như thế. Ðiều kỳ diệu là những câu hát được
tô đậm bằng sự láy lại đã không hề tạo ấn tượng nhàm chán. Làm sao nắm bắt được
nhạc đề của bài thơ phổ nhạc, hoàn toàn thuộc về sự bén nhạy của tư duy nghệ
thuật của Phạm Duy. Nếu những bài thơ hay là những bài thơ có thần thì những
câu thơ phổ nhạc của Phạm Duy trong TcHMT cũng có thần của chúng, tạo nên khí vị
nhất quán khi nghe riêng từng bài hay lúc nghe toàn thể chín phân khúc. Ma lực
cuốn hút của những phân khúc thơ phổ nhạc TcHMT là ở những đợt sóng cảm xúc xô
đẩy tới lui như những đợt sóng khác nhau dào dạt đuổi bắt không ngừng.TcHMT là một dấu mốc đặc
biệt trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Duy. Nếu thơ phổ nhạc nói chung đã là một
gạch nối đặc biệt giữa văn học và nghệ thuật âm nhạc thì TcHMT còn có ý nghĩa một
phác họa chân dung của một nhà thơ bằng âm nhạc. Giá trị của tác phẩm như vậy
là đa dạng. Hãy chỉ nhìn tác phẩm trong địa hạt âm nhạc thôi, TcHMT cũng là một
công trình đồ sộ: giai điệu phong phú, hòa âm tân kỳ, giọng hát nhã luyện. Tác
phẩm để lại dư vị ngất ngây và những bâng khuâng không dứt về thân phận người
thi sĩ quá cố mà cũng là của mỗi chúng ta. Ðạt được như thế không thể không có
một khí lực âm nhạc dữ dội.Chú thích:(1) Vũ Khắc Khoan, Thằng Cuội Ngồi Gốc Cây Ða (kịch), 1948(2) Phạm Duy, Về các bài thơ phổ nhạc - Về TCHMT. Hợp Lưu 15 (2 & 3/94),
tr. 161-170(3) Phạm Duy, bài đã dẫn, Hợp Lưu 15, tr. 164-166(4) Hàn Mặc Tử, Quan Niệm Thơ, CHƠI GIỮA MÙA TRĂNG. An Tiêm xb, 1972, tr. 31-40(5) Phạm Duy, Hồi Ký 3. PDC xb, 1992, tr. 300(6) Phạm Duy, bài đã dẫn. Hợp Lưu 15, tr. 164(7) Phạm Duy, Hồi Ký 3, sđd. tr. 307.(8) Phạm Duy, Hồi Ký 3, sđd. tr. 123;
Phân Khúc 1 là
nhạc mở đầu bằng những âm thanh ngân nga trong nhịp điệu êm ả nhưng rất lãng mạn.
Chất nhạc đã được kỹ thuật hòa âm làm bật lên tính cách đặc trưng của nhạc chiều
(sérénade) quen thuộc trong nhạc cổ điển Tây phương.
ÐÂY THÔN VĨ GIẠ
Nhạc đề của phân khúc là
nỗi đắm say trong tiếng gọi ảo huyền của cái Ðẹp mà nhà thơ đã cảm thán rằng
phút thiêng liêng đã khởi đầu. Tiếng hát Tuấn Ngọc có tính cách say đắm mê hoặc
cũng hoà theo nhạc réo rắt mà không kém phần huyền hoặc. Kĩ thuật thể hiện hoà
âm gợi tả rất khéo cảm giác bâng khuâng của Kiều khi thấy Ðạm Tiên in dấu giày
trên ngấn rêu xanh. Ðã thoáng hiện những băn khoăn, khắc khoải khi tiếng nhạc
vút lên niềm u uẩn vang ngân rồi hiện rõ giọng rền như tiếng chuông gọi hồn vừa
u uất rền rĩ như nỗi đơn côi của người nghệ sĩ. Sự cảm nhận tế vi của nhà thơ dễ
chừng chỉ mới đến Phạm Duy mới thấy sự đồng cảm sâu sắc giữa hai tâm hồn nghệ
sĩ như vậy.
Phân Khúc 4 là
đoạn tán thán về sự mầu nhiệm của ánh trăng. Tính cách của âm nhạc là tính cách
thánh ca, nhưng đối tượng của lời tán thán không là hình tượng siêu nhiên mà chỉ
là ánh trăng. Nhà thơ bị trăng mê hoặc và tắm đẫm mình trong ánh trăng. Ðấy là
khởi điểm của những xúc cảm thơ trong THƠ ÐIÊN - ÐAU THƯƠNG, tập thơ HMT làm từ
khi phát bệnh phong. Hành âm của phân khúc lần lượt đi qua bốn biến điệu: vầng
trăng --> chơi với trăng --> trăng tự tử --> rượt trăng.
Trường ca Hàn Mặc Tử
của nhạc sĩ Phạm Duy do Phương Nam Film phát hành vào 10.20112/6/1994
Đoàn Xuân Kiên
Theo https://www.art2all.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét