Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

Khi nhạc nhẹ xa rời thi ca

Khi nhạc nhẹ xa rời thi ca

Với sự ra đời của các nền tảng nghe nhạc trực tuyến, các nền tảng chia sẻ video tự quản, các hãng đĩa truyền thống và lừng lẫy đã lui dần vào hậu trường khi các nghệ sĩ có thể tiếp cận khán giả trực tiếp hơn, chủ động hơn. Và sự giao thoa mạnh mẽ, tốc độ của các vùng văn hóa cũng đã tạo nên một thời đại mà âm nhạc đại chúng ít đặc trưng riêng hơn bởi sự ảnh hưởng lẫn nhau theo thiên hướng xu thời.
Thế hệ sáng tác mới của V-pop (vốn dĩ ra đời từ khoảng thập niên 90 trở lại đây) đã chịu rất nhiều ảnh hưởng từ các vùng văn hóa lấn át như Bắc Mỹ hay Hàn Quốc. Họ lớn lên trong tràn ngập thông tin, nội dung giải trí nhập khẩu từ các khu vực đó và dần dần thấm đẫm nó.
Khi sáng tác, họ không thoát khỏi những ảnh hưởng quá lớn kia, tạo ra cả một sự thay đổi rất lớn về diện mạo của nhạc nhẹ Việt Nam hiện đại. Điển hình chính là sự dịch chuyển về cách sử dụng ca từ. Nếu các thế hệ đi trước mạnh về những ca từ nên thơ hơn thì thế hệ hôm nay lại sử dụng ca từ trực diện hơn, nhiều khi tạo cảm giác khó nghe với những ai bảo thủ.
“Đến khi nào anh mới bớt suy nghĩ nhở? Đến khi nào em mới biết bỏ thuốc nhở? Người mà em yêu em còn chia tay được theo anh thuốc lá đã là gì? Thì chẳng qua em đang chưa muốn thôi anh, anh đâu cần quan tâm làm gì?”. Đó chính là đoạn đối đáp trong ca khúc “Em bỏ hút thuốc chưa?”. Nó lập tức trở thành “từ khóa thời thượng” trong một khoảng thời gian không dài.
Ngày xưa, thế hệ trước cũng không hiếm lần đưa hình ảnh điếu thuốc lá vào ca khúc như một minh họa cho sự cô đơn, những phút suy tư. Ví dụ như câu “Hãy chiều anh lần cuối/ Hút chung điếu thuốc đây/ Rồi mai ta cách xa/ Nhớ em trong khói bay” (Phạm Hoàng Dũng) hay câu “Bài hát, tìm trong khói thuốc từng giờ bình yên/ Bài hát, tìm trong lá biếc từng chiều hoàng hôn” (Thanh Tùng). Rõ ràng, thi tính trong lời bài hát Việt ngày trước mạnh mẽ hơn thời nay rất nhiều.
Có người cho rằng thế hệ V-pop đương đại ảnh hưởng nhiều không khí âm nhạc Bắc Mỹ, trong khi thế hệ đi trước lại ảnh hưởng nhiều từ châu Âu lục địa và âm nhạc châu Âu lục địa vẫn giàu thi tính hơn. Điều này không sai nhưng không hẳn các bản hits của Bắc Mỹ là không có thi ảnh mặc cho cách dùng ngôn ngữ quá thẳng thắn. Bản “Darkness” của Eminem, một rapper ngôi sao lừng danh của Mỹ cũng có những câu rất giàu tưởng tượng và thi ảnh:  “Và anh lại đơn độc nơi đây/ Chẳng thoát khỏi cái hố vực này/ Như thể ngàn bức tường cứ bủa vây/ Em chẳng cứu chuộc được anh đâu…”.
Âm nhạc chính là một tiếng vang tiêu biểu của thế hệ. Và thế hệ thì được hình thành từ môi trường giáo dục, giao tiếp mà họ nhận được. Ở đây, mối liên hệ giữa sức hấp dẫn của môn văn trên giảng đường với văn hóa của thế hệ cần được nhắc lại lần nữa, vì khó ai có thể xóa sổ nguyên nhân rất cơ bản này.
Sẽ còn xuất hiện nhiều ca khúc nhạc nhẹ tân thời Việt Nam với lối ca từ mất hoàn toàn thi tính. Cơ bản, chúng ta không thể chống lại sức mạnh của một thời đại được quyết định bởi số đông là người trẻ. Nhưng chúng ta cần phải nhắc lại, âm nhạc vốn được định nghĩa là một thứ giàu “lyric-harmonic” (thi ca - hòa thanh) mà tất cả các giáo trình âm nhạc hàng đầu đều đề cập tới. Khi âm nhạc rời xa thi ca, đó là lúc chúng ta nên bắt đầu mối lo về những thế hệ bắt đầu khô cứng đi, thực dụng hơn, đánh mất ngôn ngữ nhiều hơn và chỉ tôn thờ đúng một thứ ngắn ngủi: tính xu thời.
4/7/2020
Văn Đoàn
Theo https://vanhocsaigon.com/

Tết ở lại với Sài Gòn, nghĩ về hạnh phúc sớm mai

Tết ở lại với Sài Gòn, 
nghĩ về hạnh phúc sớm mai

Tôi mua vé máy bay về Nha Trang ăn tết đúng vào ngày số ca mắc COVID-19 ở TP.HCM lên mấy mươi ca. Thành phố kêu gọi bớt đi, bớt chơi để hạn chế lây lan dịch. Tôi hủy vé, tự nhủ quyết định này đúng đắn rồi, hãy yên tâm để tết ở đâu cũng được vui.
Yên tâm đến sáng hôm sau thì lòng tôi dông bão khi gọi bạn bè, nhiều người đã về quê với niềm tin “dù bị cách ly cũng cách ly gần mẹ”.
Tôi thẫn thờ không biết mình hủy vé đúng hay sai, chỉ cách nhau một tiếng đồng hồ bay là có thể gặp dòng sông hay đi trên con đường làng, mà giờ này tôi còn ở lại nơi lập nghiệp, dọn dẹp nhà cửa và cả tinh thần chuẩn bị cho một cái tết xa quê lần đầu.
Nhà báo Trương Bảo Châu
Về hay không về? Câu hỏi hầu như chưa từng dùng dằng trong tôi và hẳn trong rất rất nhiều người. Tết là phải về. Vẫn còn thời gian để thay đổi, còn nhiều vé lắm, vé giảm giá, nhưng về thì mang nguy cơ từ vùng dịch cho người thân, có thể cách ly 14-21 ngày…
Thật căng thẳng chỉ vì cảm xúc “sến sẫm”: nhớ nhà, người thân, bạn cũ, nhớ mộ ba tôi nằm dưới chân núi. Lâu rồi dường như tôi không còn trải qua nỗi nhớ điều gì một cách… tê liệt. Nỗi nhớ thời COVID hóa ra đã được đúc sang một khuôn khác hẳn, nhớ mà không thể trở về ngay. Không còn “nhớ nhau là gặp” như trước đây.
Tự an ủi thôi được rồi, sẽ đoàn tụ vào ngày hết dịch mà. Nhưng sẽ là ngày nào?
Virus đã không cho chúng ta tư duy về ngày mai theo cách chúng ta từng trải nghiệm. Ngày mai là ngày không chắc chắn.
Tôi thở phào khi cuối cùng cũng quyết định được: ở lại trong lòng dịch. Dọn dẹp nhà cửa giữa Sài Gòn, đeo khẩu trang và đi chợ mua hoa, cúng ông bà thần đất đai ở Sài Gòn, đọc báo tìm tin Sài Gòn căng mình dập dịch.
Thành phố này quen được nhìn như vùng đất làm thứ gì cũng dễ, nhất là kiếm tiền xài tiền, dễ nữa là chấp nhận khác biệt… Vậy thì khi Sài Gòn “bệnh” sẽ ra sao? Người từng nương tựa Sài Gòn có cảm nhận tổn thương của mảnh đất đang nuôi mình, cộng đồng đang cùng nhịp sống với mình đang không may mắc phải?!
Những ngày ở lại thành phố chờ đợt COVID đi qua, tôi nghiệm ra mấy mươi năm qua tôi và triệu người đã quá ít thương Sài Gòn.
Chê thì nhiều, chê thành phố khói bụi, đến cơn mưa cũng so sánh với cơn mưa quê và chê mưa Sài Gòn không thương tiếc. Cuối năm chỉ chờ hết ngày làm là ôm giỏ về quê ngay, Sài Gòn mạnh mà, tết vui hay buồn Sài Gòn tự lo.
Có những lúc Sài Gòn cần được sẻ chia lắm, đó là khi tôi ngồi ôm con ăn bánh mứt trong nhà, ở ngay thành phố này có những người đang căng thẳng chống dịch vì sự an toàn của số đông, họ đâu có tết! Tôi thấy cái tết của mình dù khiêm tốn cũng đã là một thứ niềm vui xa xỉ rồi.
Có thật nhiều tiền, sống trong một đô thị lớn có khi chúng ta vẫn không dễ ra đường ăn bữa ăn hay mua hàng hiệu xa xỉ được. Có nhiều tiền không phải muốn mua vé thương gia để du lịch bốn phương trời là được. Lâu rồi chúng ta quen tiêu xài nhiều hơn mức cần thiết, và giờ COVID cho chúng ta điều kiện để sống vừa đủ với ngôi chợ gần mình, những người liên quan mật thiết với mình, bữa ăn tự nấu…, một đời sống khiêm cung loài người ngày càng rời xa tưởng không cách gì ngoái lại.
Nỗi sợ hãi virus có mặt mạnh của nó, “ra” một lệnh mạnh đến mức hàng tỉ người phải quay về trong mái nhà, trong nỗi nhớ.
Đêm giao thừa Sài Gòn mùa COVID không pháo hoa, tôi coi được thước phim tài liệu trên truyền hình: một nông dân miền Tây tâm sự nhờ canh tác giống lúa ST 25 ngon nhất thế giới do anh hùng lao động Hồ Quang Cua sáng tạo mà năm nay anh đổi được xe máy mới và “hệ thống TV”.
Thành tựu của anh quy ra chỉ ngang bằng đôi ba chiếc áo hay một chiếc giỏ hàng hiệu của tôi hay bạn bè thành thị, nhưng giọng nói anh chân phương và sắc diện đầy mạnh khỏe, lạc quan.
Đón năm mới, dù xa quê nhà 500 cây số và tết hồi hộp cùng Sài Gòn, tôi có dịp nghĩ về hạnh phúc nhiều hơn những giao thừa khác. Giàu hay nghèo mình cũng đừng làm gì thái quá, sáng mai bước ra chào ánh mặt trời thì mình hãy biết mừng vui.
28/2/2021
Trương Bảo Châu
Theo https://vanhocsaigon.com/

Đêm chợ Viềng ngơ ngẩn một miền xuân

Đêm chợ Viềng ngơ ngẩn một miền xuân

Tháng Giêng rét ngọt. Đào hơi phai, đâu đó thấp thoáng vườn nhà vài bông bưởi nở sớm trắng muốt tỏa hương dìu dịu. Cây nêu ngày Tết phần phật trong gió bấc. Câu hát chèo loang xa nơi thôn xóm gần xa. Tiếng hát văn tế lễ hầu đồng khai hội như vẫy gọi trai thanh gái lịch lễ hội cầu may. Tháng Giêng hội hè cầu phúc một nét văn hóa tâm linh đã ăn sâu vào hồn người Việt. Người ta đi chùa lễ Phật cầu bình an, đi chợ xuân để mua may bán rủi.
Nhắc tới Sơn Nam Hạ mảnh đất trù phú bờ xôi ruộng mật có bề dày văn hóa lịch sử, một trầm tích đậm chất dân gian khiến ai đặt chân tới cũng khó có thể quên được. Về với Sơn Nam Hạ đến với chợ Viềng một đêm xuân lòng ta sẽ ngơ ngẩn trước vẻ đẹp tôn nghiêm, nét văn hóa dân gian pha sắc hoài cổ mời gọi bước chân du khách đẹp tới nao lòng.
Chợ Viềng là cách gọi theo lối cổ hay còn gọi là chợ xuân. Từ Viềng là từ Hán Việt còn có nghĩa là thăm hỏi, gặp gỡ viếng thăm và hàn huyên trò chuyện trao gửi ân tình.
Người ta nói rằng Nam Định có bốn chợ Viềng. Đó là Viềng Phủ gần Phủ Dầy nơi thờ Đức Liễu Hạnh tối linh. Chợ Viềng Chùa hay còn gọi là Viềng Tỉnh nằm trên con đường dẫn vào Chùa Đại Bi thuộc huyện Nam Trực. Nhưng còn chợ Viềng ở xã Mỹ Trung huyện Mỹ Lộc thì ít người lui tới giờ chỉ tồn tại như một địa danh. Ngoài ra còn có chợ Viềng Lạng ở thôn Hải Lạng họp vào ngày mùng bảy Tết cũng ít người biết đến.
Tương truyền khi hoàng đế Quang Trung đại thắng quân Thanh mùng năm Tết mùa xuân năm Kỷ Dậu, Thăng Long rực rỡ hoa đào chào đón người anh hùng Nguyễn Huệ. Tấm bạch bào đã biến thành màu đỏ vì vương mùi khói súng và máu thù nhưng nụ cười vẫn rạng ngời trong ánh mắt Bắc Bình Vương. Đi qua miền Sơn Nam Hạ, cho quân lính dừng chân nghỉ ngơi uống rượu mừng ven triền đê và lệnh cho dân chúng vùng đó mở hội chợ xuân để ăn mừng chiến thắng. Cái tên Chợ Viềng cũng từ đó mà có.
Nét đặc trưng nhất của chợ Viềng chính là một lễ hội cầu may, người mua kẻ bán không so đo tính toán thiệt hơn. Người ta trải hồn mình vào cây lá, vật dụng nhà nông. Cai liềm, cái cuốc, cói giỏ tre xinh xắn, cây lá tươi tốt được chào mới niềm nở. Hãy bán cho nhau nụ cười, hãy cho nhau chút hồn hậu mặn mòi của tháng giêng xanh.
Thật lạ lùng khi đi qua Viềng Chùa bạn còn gặp cả những cái nồi còn dính cơm ấm nóng của một ai đó trong làng vừa dỡ vội cơm cầm ra bán cho thiên hạ để xin một chút lộc may. Thế mà vẫn có người mua chả cần mà cả. Nhưng thích nhất với những ai thích hoài cổ tùy túi tiền của mình cũng lựa được món đồ cổ như ý. Tiền xu cổ xếp hàng đống, nậm, ấm, đĩa bát, cũng bày la liệt. Gốm sứ thời Lý, Trần, Lê và cả gốm xứ Minh Thanh cũng có mặt trên những gian hàng đồ cổ. Trầm tích thời gian như sống lại trong từng món đồ cũ kỹ thâm trầm này.
Nhà văn Lê Hà Ngân
Nếu bạn là người thích cái tao nhã của đêm Viềng Chùa không ồn ã náo nhiệt mà đẫm trong không gian ngát thơm hương hoa mộc hãy đến với chùa Đại Bi một ngôi chùa cổ ngay từ đêm mùng Sáu tháng giêng âm lịch. Chùa được xây dựng thời Lý Nhân Tông (1072-1127). Chùa Đại Bi ngoài việc thờ Phật, còn thờ Thiền Sư Từ Đào Hạnh, Đức Bồ Đề Đạt Ma. Một lối kiến trúc thờ tự “Nội công ngoại quốc” một dạng chùa trăm gian, quay hướng Nam hướng Bát Nhã.
Đại hồng chung ngân nga đưa ta về nơi thoát tục. Lầu chuông cổ kính uốn cong, tam bảo ngan ngát hương trầm, cho ta được giãi bày lòng thành cùng Bồ tát. Cầu xin cho mưa thuận gió hòa, cầu cho quốc thái dân an. Cầu cho gia đình được khỏe mạnh được phù tài lai tiếp. Lòng trần sân si xin rửa sạch, thắp nhang trước Phật đài bước chân ra cổng thấy lòng thanh thản tới lạ lùng. Đêm Viềng Chùa không xô bồ tranh chấp, càng về khuya càng đi vào tâm thức, cảm giác như đang hòa hợp với thế giới tâm linh. Người đi bên ta là ai ư? Là nụ cười đằm thắm của nhân gian, hay bước phiêu linh liêu trai của người muôn năm cũ. Nhập nhoạng âm dương dẫn dụ ma mị lôi quấn đến lạ kỳ.
Lòng trần rũ bỏ, phiêu diêu bước chân sang đền thờ hoàng đế Triệu Việt Vương lại nhớ tới công đức của ngài khi hoạn nạn ngài đã dừng vó ngựa ở thôn Cầm Lang (nay là thôn Ba). Hiện nay ở thôn Ba vẫn còn dấu tích của chiến mã nơi quan quân dừng chân ăn cỏ thủa nào. Sau khi Triệu Việt Vương mất để tưởng nhớ công ơn của Ngài, nhân dân Cẩm Nang xưa (nay là thôn Ba, thị trấn Nam Giang) lập đền thờ ông ngay trên khu đất mà ông đã dừng chân. Thắp một tâm nhang cầu xin may mắn an lành.
“Vạn cổ Đại An lưu thánh tích,
Thiên thu Tứ Giáp lại thần hưu”
Nếu từ Viềng Chùa ai có tâm xin qua Viềng Phủ sẽ được nghe câu hát chầu văn ngơ ngẩn một miền xuân. Viềng Phủ chính là nơi thờ Mẫu linh thiêng. Người tứ xứ đổ về lễ hội cầu may, xin Mẫu những điều mình ước vọng. Tiếng hát ngọt ngào thánh thót của các giá đồng như mời gọi sự chiêm nghiệm linh thiêng của người Việt. Lễ hội đông vui ngay từ ngày mùng Bảy. Phủ Vân và Phủ Chính nô nức người tới dâng hương. Núi non sơn thủy hữu tình vẫy gọi bước chân du khách. Khí núi quyện trong nắng xuân ảo mờ trên con đường vào Viềng Phủ càng làm ta nao lòng lưu luyến chẳng muốn trở về. Trên tay một nhành Trạng Nguyên đỏ thắm khiến ta cảm giác như trời đất đang ấm lại lòng xuân phơi phới lộc xuân ùa về.
Về với chợ Viềng ngày xuân đi người ơi…
Mùng 8 tháng Giêng năm Canh Tý 2020
Lê Hà Ngân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Thứ Ba, 2 tháng 3, 2021

Một cách tiếp cận truyện ngắn Việt Nam đương đại

Một cách tiếp cận 
truyện ngắn Việt Nam đương đại

Truyện ngắn là một trong những thể loại năng động nhất và có khả năng nhạy bén khi bắt nhịp với sự thay đổi của mỗi thời đại.
Nhìn vào quá trình phát triển văn học hiện đại Việt Nam có thể thấy vai trò chuyển nhịp, tiên phong của truyện ngắn ở những bước ngoặt lịch sử, khi mà các thể loại khác như thơ, tiểu thuyết còn đang dần dần lột xác, tìm đường. Trong không khí đổi mới văn học từ sau 1986, truyện ngắn chính là thể loại thổi những làn gió mới lạ sớm nhất và mạnh mẽ nhất; cho đến nay dẫu khi trầm lắng khi biến hình đổi dạng thì hành trình phát triển của nó vẫn vô cùng hấp dẫn và bí ẩn khiến người ta phải không ngừng ngạc nhiên, suy ngẫm. Bởi vậy, dẫu đã có không ít công trình nghiên cứu về truyện ngắn Việt Nam đương đại công phu và kỹ lưỡng thì việc đặt vấn đề tìm hiểu “Truyện ngắn Việt Nam đương đại - diễn trình và động hướng” vẫn là một điều hết sức cần thiết.
Nhà phê bình Đỗ Hải Ninh
Trong cuốn sách của mình, Lê Hương Thủy đã bao quát những vấn đề chính yếu của truyện ngắn Việt Nam đương đại: từ việc đặt sự phát triển của thể loại này trong bước chuyển của đời sống xã hội và văn học đến ý thức đổi mới tư duy nghệ thuật và thực hành đổi mới lối viết, kết cấu, các loại hình nhân vật, những động hình ngôn ngữ và thiết tạo điểm nhìn… Với nỗ lực của một người nghiên cứu luôn bám sát tình hình văn học đương đại, tác giả đã nhấn mạnh đến sự tác động của những thay đổi trong đời sống xã hội đối với văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng, đặc biệt là tác động của kinh tế thị trường và sự xuất hiện của không gian mạng. Tác giả đã có những khảo sát cụ thể về những thay đổi của văn học trong sự bùng nổ của internet, sự ảnh hưởng của nó đến việc khai thác thị trường xuất bản và tiêu thụ tác phẩm làm xuất hiện một thế hệ người viết và người đọc có thị hiếu thẩm mĩ khác trước. Mặc dù chưa phân tích để chỉ thật rõ mối quan hệ giữa sự phát triển internet và truyện ngắn, hay giữa cơ chế thị trường và truyện ngắn nhưng trong cách đặt vấn đề của tác giả có thể ngầm hiểu những yếu tố này liên quan mật thiết đến sự phát triển của truyện ngắn bởi đặc trưng thể loại là “ngắn”, mở, hàm súc, là sự trình diễn đầy biến ảo, năng động, là lát cắt bổ ngang của đời sống… Đây cũng chính là những điểm tạo nên sự khác biệt của công trình này so với các công trình nghiên cứu truyện ngắn trước đó.
“Truyện ngắn Việt Nam đương đại - diễn trình và 
động hướng” - tác phẩm của Lê Hương Thủy, 
Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2019
Trong cái nhìn bao quát tiến trình truyện ngắn, Lê Hương Thủy cũng đưa ra được quan điểm riêng khi phân chia những chặng đường của truyện ngắn Việt Nam đương đại với sự tiếp nối các thế hệ nhà văn cũng như chú ý đến một số hiện tượng nổi bật như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, truyện ngắn nữ thập niên 90 của thế kỷ XX, hay sự nở rộ của truyện cực ngắn. Tuy chưa thể điểm hết các hiện tượng truyện ngắn nhưng tác giả cuốn sách đã nỗ lực lý giải từng chuyển động tinh tế của truyện ngắn trong những giai đoạn khác nhau: mười năm sau khi chiến tranh kết thúc là sự mở rộng những vấn đề của hiện thực đời sống, mười lăm năm sau Đổi mới là sự đi sâu vào số phận con người và tìm tòi lối viết, bước sang thế kỷ XXI là sự kiếm tìm những cái “tôi” lạ hóa và phá cách. Đồng hành với truyện ngắn đương đại, tác giả đặc biệt chú ý và nhấn mạnh ý thức về sự đổi mới lối viết ở những cây bút xuất hiện từ đầu thế kỷ XXI như Nguyễn Ngọc Thuần, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Phong Điệp, Đỗ Hoàng Diệu, Uông Triều… Tiếp cận truyện ngắn Việt Nam đương đại, tác giả chọn lựa dừng lại mổ xẻ một số hiện tượng có hiệu ứng rộng sâu đối với người đọc đương thời như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu… Những phác thảo bước đầu về một số hiện tượng nổi bật khiến cho người đọc có thể hình dung được bức tranh sinh động của truyện ngắn đương đại, trong đó truyện ngắn của các cây bút nữ được tác giả đặc biệt quan tâm và dành hẳn phần 5 của cuốn sách để nghiên cứu riêng.
Đi sâu vào đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn đương đại, ở phần 3 và 4, công trình tập trung khảo sát kết cấu truyện ngắn và các loại hình nhân vật, ngôn ngữ và điểm nhìn nghệ thuật từ hướng tiếp cận thi pháp học để thấy diễn trình và động hướng của thể loại này. Trên diện tác phẩm khảo sát khá rộng, từ những tác phẩm đầu Đổi mới đến gần đây (như Nhiệt đới gió mùa, Làn gió chảy qua của Lê Minh Khuê), những nhận định của Lê Hương Thủy cho thấy một thái độ khách quan, điềm tĩnh trong đánh giá và nhận định về truyện ngắn đương đại. Tác giả khẳng định những đổi mới, cách tân nghệ thuật truyện ngắn nhưng cũng chỉ ra được những giới hạn mà truyện ngắn đương đại chưa vượt qua. Ủng hộ xu hướng đổi mới phương thức biểu hiện bằng nghệ thuật “trò chơi”, tác giả lưu ý rằng, “thực tế cho thấy, có những người viết đã tận dụng được những ưu việt của tính trò chơi để xây dựng nên thế giới nghệ thuật có sức lôi cuốn với người đọc, nhưng mặt khác ở nhiều tác phẩm, việc vận dụng chưa nhuần nhuyễn hoặc quá chú trọng đến những cách tân hình thức khiến cho tác phẩm trở nên rối rắm và khó nắm bắt”. Điểm đáng chú ý là trong quan sát truyện ngắn đương đại, tác giả luôn nhìn thấy sự vận động, tương tác và đa dạng hóa: tương tác giữa nhà văn với đời sống văn hóa xã hội, tương tác giữa nhà văn - tác phẩm - người đọc, tương tác giữa các thể loại thơ - truyện ngắn - tiểu thuyết… Đây chính là ưu điểm khiến cho cái nhìn của nhà nghiên cứu không bị đóng băng trong khuôn khổ của một phương diện hay một thể loại, đồng thời giúp người đọc có những tiếp cận uyển chuyển hơn đối với một thể loại vốn được mặc định là “ngắn”, “vừa với trang in của tờ báo”.
Ở phần cuối cuốn sách, Lê Hương Thủy quay trở lại với truyện ngắn nữ như một thành tựu nổi bật của truyện ngắn đương đại. Nắm bắt sự vận động của truyện ngắn đương đại bằng cách nhìn sâu vào sáng tác của các cây bút nữ là một lựa chọn có lý bởi đây chính là giai đoạn bung nở của truyện ngắn nữ, tạo nên một lực lượng nhà văn nữ hùng hậu, không chỉ thể hiện những bí ẩn nữ tính mà còn cất lên tiếng nói nữ quyền mạnh mẽ và làm thay đổi hẳn bộ mặt của truyện ngắn cũng như vẽ lại bản đồ của các khu vực văn học, chẳng hạn như truyện ngắn nữ và đề tài chiến tranh, truyện ngắn nữ và xu hướng tính dục, truyện ngắn nữ và xu hướng tự truyện… Với việc lựa chọn khám phá tác phẩm của Lê Minh Khuê, Y Ban, Đỗ Bích Thúy, tác giả muốn hướng đến sự tiếp nối thế hệ, dẫu chưa thực sự đủ đầy trọn vẹn nhưng cũng đại diện cho những xu hướng truyện ngắn: Lê Minh Khuê với mạch viết về chiến tranh và giọng điệu thâm trầm, Y Ban với xu hướng nữ quyền và chất nổi loạn, Đỗ Bích Thúy với đời sống miền núi và nỗi đau thân phận. Có lẽ, với sự đồng cảm của một người cùng giới nữ, Lê Hương Thủy đã nỗ lực nhận diện những nét riêng, có thể gọi là phong cách sáng tác của các cây bút nữ này, bằng những phân tích sắc sảo, sự cảm thụ tinh tế, sự đánh giá, nhận định cả ưu ái lẫn khắt khe. Những điều đó cho thấy Lê Hương Thủy luôn đồng cảm và đồng hành với truyện ngắn của các tác giả nữ đương đại để nhận biết rõ ưu và nhược điểm, những thành công và cả những gì chưa tới trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của họ.
Với hơn chục năm gắn bó, tâm huyết, dành nhiều trân trọng cho truyện ngắn nữ nói riêng và truyện ngắn Việt Nam đương đại nói chung (bao gồm những tác giả, tác phẩm hiện diện trong cuốn sách này và cả những đối tượng nghiên cứu trong các bài viết chưa có điều kiện công bố), Lê Hương Thủy đã và đang đồng hành, phân tích, lý giải và làm sáng tỏ một cách thuyết phục về diễn trình và động hướng của truyện ngắn hôm nay. Truyện ngắn Việt Nam đương đại là một dòng chảy vẫn đang chuyển động và không ngừng rẽ nhánh, đổi dòng, hy vọng tác giả Lê Hương Thủy sẽ có thêm những cập nhật, bao quát và kiến giải mới trong các công trình tiếp theo.
30/1/2021
Đỗ Hải Ninh
Theo https://vanhocsaigon.com/

 

Chênh chao và khắc khoải trong “Vết bầm giấc mơ” của Lê Tuyết Lan

Chênh chao và khắc khoải trong 
"Vết bầm giấc mơ" của Lê Tuyết Lan

Khi lần đầu tiên tiếp xúc với tập thơ, người ta không khỏi bật ra thắc mắc, tại sao “giấc mơ” lại đi liền sau với “vết bầm”? Sao “vết bầm” là điều không muốn, mang hàm nghĩa không hay, đã rồi, dư âm xấu lại đi cặp cổ bạn bè với từ ngữ diễn tả ao ước, mong ngóng, chờ đợi là “giấc mơ”? Phải chăng tựa đề tập thơ đã manh nha những điều trái ngược, nghịch lý? Tác giả muốn gửi gắm điều gì đây hay cố tình gây ấn tượng lạ để tạo sự tò mò cho người đọc? Một cái tên tập thơ vừa là lạ vừa gời gợi điều gì đó còn đang ẩn khuất…
Tôi đọc tập thơ “Vết bầm giấc mơ” của tác giả trẻ Lê Tuyết Lan trong một tâm thế như vậy.
Tập thơ được chia làm hai phần hẳn hoi như là một sự cố ý sắp đặt (Phần I: Quê nhà yêu dấu; phần II: Tiếng tơ lòng). Ở đây, phải chăng là sự sắp xếp cố ý gọi ra cho bằng được tên tiếng lòng mà tác giả muốn trút lên câu chữ?
Nhà thơ trẻ Lê Tuyết Lan
Điều dễ nhận thấy trước tiên là hình tượng bà nội xuất hiện đậm đặc và trùm phủ phần I tập thơ. Điều ấy cho chúng ta thấy rằng, tác giả đã dành hẳn một vị trí không gian trữ tình đẹp đẽ và trang trọng nhất cho nhân vật bà nội trong thế giới nội tâm nhân vật trữ tình của tập thơ. Chắc hẳn bà nội ở đây có gì rất đặc biệt đối với tác giả? Tác giả đã dành hẳn 6 bài thơ đầu tiên để viết về bà nội: Ngày mai con đi, Về với nội, Ngày mai con đi lấy chồng, Đưa nôi thương nhớ, Thư gửi nội, Nội ngồi vá mây.
Bài thơ mở đầu tập “Vết bầm giấc mơ” là một sự chuẩn bị chia tay cận kề giữa bà và cháu đẫm đầy những lưu luyến. Sao lại có cuộc chia tay bịn rịn và ẩn chứa đau đớn đến vậy?
“Ngày mai con đi
Góc sân nội ngồi
Nước mắt lưng lưng...”
(Ngày mai con đi)
Điệp ngữ “ngày mai con đi” xuất hiện lặp lại tới năm lần như là một dự báo chia lìa quặn thắt. “Nước mắt lưng lưng…” là nước mắt không còn nữa để khóc cho phút giây tiễn biệt. Nỗi đau quặn lại “lưng lưng” diễn tả nỗi niềm ẩn sâu chứa chất trong lòng. Có một chút ánh sáng hy vọng lóe lên ở cuối bài: “Thì đôi bàn tay ngày già trơn vuột/ Để con dìu bà/ Qua hết lênh đênh”, nhưng nhìn toàn thể vẫn là một bài thơ buồn đau và thấm đẫm những kỉ niệm kí ức tuổi thơ trong sáng cùng sự dìu dắt cho cháu lớn khôn ở bà nội. Thì ra, bà nội không chỉ là Nội mà còn là mẹ con, là cha con rồi có lúc bà nội kiêm luôn bạn chơi với tuổi thơ con nữa! Có thể nói tuổi thơ nhân vật trữ tình đứa cháu đã gói gọn trong lòng bà nội. Những câu thơ gợi ra hình ảnh vừa quen vừa lạ:
“Balô con đầy ắp…
Ánh mắt, nụ cười, liếp ruộng, bờ mương…
Có bàn tay gầy guộc
Đưa một kiếp người qua dâu bể biển khơi
Con ốc, cọng rau cũng trở mình nhiều khắc khoải
Bờ ruộng nội cấy, con trườn nhắc nhẵn chuyện ngày xưa…”
(Ngày mai con đi)
Cho nên, khi được về bên bà nội là như được về với yêu thương yên ấm, được hít thở bầu không khí êm đềm của sự chở che đùm bọc. Tình yêu thương và tấm lòng bà nội được Lê Tuyết Lan diễn tả xúc động, giọng thơ tự nhiên, rất gợi:
“Con bỏ lại Sài Gòn những đêm cô đơn trong ánh đèn rực rỡ 
Nơi mà con người nhỏ nhoi như hạt mưa rơi trên dòng nước 
Cựa hoài, chẳng thể trôi.  
Về với Nội
Chẳng còn những ngày chực chờ rơi rớt 
Chạy quanh quanh với những con đường đầy người 
Mà riêng mình khô khốc 
Nhìn đâu cũng biết đớn đau. 
Về với Nội…” (Về với Nội)
“Vết bầm giấc mơ” - Tập thơ đầu tiên của Lê Tuyết Lan
Ở đó, chúng ta còn bắt gặp bao nhiêu những khắc khoải chăm bẵm khi lời thơ đề cập đến hình tượng người mẹ. Đó là những hình ảnh người mẹ hiện ra trong xa xăm mơ hồ, u oa ao ước ôm ấp nhưng lại vời vợi thăm thẳm: “Mẹ đã mệt rồi phải không? Từng tiếng thở héo hon bấu vào đêm ngàn ngạt/ Đôi mắt mờ ảo quơ tìm góc con tong teo bụi bặm dốc đời (Mẹ đã mệt rồi); đó còn là những mong ngóng, những cơn cớ để mong ước chia sẻ bao mất mát hụt hẫng, lời thơ là lời ru cô đơn xa xót: “À ơi con mẹ/ Ngủ đi con những ngày cuối trời buồn bã/ Chấp vá nhọc nhằn mẹ ru con bằng những giấc đời tan vỡ/ Đưa tay mẹ nắm hôn con cả triền miên biển cả/ Con bé nhỏ trong lòng/ Con đã biết gánh gồng mong manh (Ru con). Đôi lúc xuất hiện những câu thơ lạ, ám ảnh đến vênh người khó quên: “Sợi tóc thề thả cong ánh chiều quê/ Gom gió, mây làm đê dài lăn lóc cọng rơm khô” (Bên bến sông xưa)
Ở đó còn là tiếng kêu thảng thốt của đứa con côi cút. Nỗi chênh vênh ấy hụp hửi chới với qua những câu thơ thật lạ, hỏi xoáy buốt rát lòng người: “Cha, mẹ ơi trời đã vào tháng mấy/ Vai con cong hoài những vết hoàng hôn” “Vết hoàng hôn”
Thốt nghĩ, một người chưa từng trải thì không thể viết được những câu thơ cắt cứa thấm đẫm phận người đến như vậy!
Đâu đó, còn là tiếng lòng của đứa con xa xứ luôn hướng về quê hương, giọng thơ đằm dịu, lời thơ khao khát hòa hợp gắn bó: “Ta về ta ở bên người/ Đêm đêm đất thở thay lời thủy chung” (Về ôm quê hương), có khi buồn buồn nhưng không lẻ loi: “Con cá bơi tìm hoa/ Nổi trôi cánh tím/ Mồ côi mây trời” (Đi qua sông quê), có khi là tiếng nói lạ nhưng vẫn tràn đầy năng lượng thương yêu: “Về đây để khóc cùng sông/ Gửi dăm câu chuyện long đong lỡ thì/ Trăm ngàn nỗi nhớ muốn ghi/ Trăm ngàn con sóng siết ghì vực sâu” (Ngồi bên sông), có khi là tiếng nói đẫm đầy ký ức quê rất giàu hình ảnh về người bà, về đồng ruộng: “Ngày qua quê có chéo áo bà sần sật đi hái mây về che nếp rách/ Bụm giọt nước đồng mà nghe cả mùa gặt trên tay” (Qua quê)
Có thể nói, tinh hoa câu chữ tác giả đã dành gần như cho hết bà nội và quê hương, phần sau cảm xúc nhẹ dần đi là điều dễ hiểu. Dẫu vậy, chúng ta vẫn có thể chọn ra một số câu thơ đáng đọc. Đó là những câu thơ giàu hình ảnh, mang đậm hồn vía cuộc sống từng trải: “Tay gầy gỡ sợi cơn mê/ Nhiêu khê vắt võng treo lề đục trong” (Lâu rồi); có câu tưởng cũ kỹ nhưng lại rất mới, rất ấn tượng: “Hồng trần lạc bước bơ vơ/ Có người lầm lũi cơn mơ cũng bầm” (Vết bầm giấc mơ); có những câu thơ như là lời thủ thỉ ấm lòng chờ đợi, mong ngóng qua kiểu nói lạ: “Bụi dừa nước cúi mình ngậm đất/ Anh có về qua từng đêm gió bấc/ Hôn qua xuân em trong hơi lạnh thật thà” (Người góa phụ); có những câu thơ bề ngoài là miêu tả thế giới vất vả mưu sinh, nhưng bên trong lại là tiếng nói diễn tả thế giới tâm hồn ăm ắp ký ức hồn nhiên: “Gập mình giữa phố hẩm hiu/ Chân này bước/ Chân kia khều tuổi thơ” (Sông trinh nữ).
Đôi lúc có những đoạn thơ rất lành nghề, vững nhịp: “Đám mây tự vẫn xuống đời/ Đua nhau những hạt rã rời gió mưa/ Trông chừng sau ánh đèn thưa/ Ai người ở lại đón đưa nhọc nhằn…/ Dắt ngày đi hết hôm qua/ Đem về đốt sợi ta bà bi ai” (Vệt xanh nhau).
Có khi ta bắt gặp cách tả là lạ: “Có con chim bìm bịp/ Khóc thương chiều đã góa màu xanh” (Lỡ làng) đem đến cảm giác ngạc nhiên thú vị, nó như chất xúc tác làm thay đổi mùi vị và tăng cường sự khoan khoái cho giác quan cảm thụ; chỉ tiếc rằng những câu như vậy xuất hiện không nhiều trong tập thơ.
Có những đoạn thơ tác giải pha trộn tình ý rất lạ: “Hẹn mình một buổi chiều đông/ Về nghe gió thổi mênh mông dịu dàng/ Từ ngày chiếc bóng bạt lang/ Thèm nghe tiếng vọng cơ hàn quê xưa” (Hẹn mình) khiến người đọc không khỏi thao thiết cùng con chữ với chị. Cái khát khao đâu đó ẩn trong sự từng trải chấp nhận, rồi chính trong cảm thức từng trải kia lại như mơ hồ hiện hữu vẻ đẹp dịu dàng xa xăm. Giọng thơ thảng thốt cắt cứa mà như lại thong dong tự tại.
Tôi đồ rằng, tác giả viết thơ rất nhanh vì những bài thơ như sự gom chụm kí ức, cất lên từ sự chắt lọc cuộc đời nên giọng điệu tự nhiên, ít thấy dấu vết của sự dụng công thi pháp: “Đã quá chuyến sầu mà vẫn ảo ảnh chuyến thuyền quyên” (Ảo ảnh)
Nếu phải chỉ ra những vết gợn đáng tiếc của tập thơ thì đó là một vài bài lục bát còn nhẹ về cảm xúc và yếu về vần điệu. Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì hình như người mới làm thơ ai cũng thường mắc lỗi này. Rồi đó còn là ở chỗ tác giả sử dụng từ Hán Việt đã cũ, dễ gây cảm giác sáo mòn cho người đọc.
Với tập thơ “Vết bầm giấc mơ” cho dù đây đó còn một vài chỗ non nớt xong nhìn chung tác giả Lê Tuyết Lan đã rất có ý thức chuyển tải những thông điệp tâm tình gọn ghẽ nhất có thể qua nghệ thuật ngôn từ của mình. Những bấp bênh gập ghềnh của cuộc đời đã được tác giả hình ảnh hóa rất rõ nét, bên cạnh đó là tiếng nói lấp lánh ánh sáng của sự khát khao thương mến. Cả tập thơ bàng bạc những hụp hửi phận người, chới với mơ ước xa xăm và cùng cực khát khao chăm bẵm ấp ôm mẫu tử. Chính điều này đã làm nên giá trị nhân văn cho tập thơ. Đọc xong tập thơ “Vết bầm giấc mơ” của tác giả, người ta không thể không xao xác giây phút khi thử nhìn lại phận đời sắc sắc không không của cõi người. Tập thơ là sự kích hoạt con chữ đáng ghi nhận ở một tác giả trẻ. Thiết nghĩ, nó sẽ là bước đà cho sự dậm nhảy về thơ sau này của cây bút Lê Tuyết Lan. Chúng ta có quyền hy vọng và chờ đợi ở tác giả trẻ này!.
Sài Gòn 28.11.2020
Nguyễn Ngọc Tân
Theo https://vanhocsaigon.com/

Trương Thị Thương Huyền và kết tinh từ tình yêu biển đảo

Trương Thị Thương Huyền và 
kết tinh từ tình yêu biển đảo

Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các văn nghệ sĩ gửi gắm trong nhiều loại hình tác phẩm. Và nhiều tác phẩm đã khẳng định được chất lượng của mình, được độc giả đánh giá cao. “Con của đảo”, tập tiểu thuyết của Trương Thị Thương Huyền (NXB Quân đội Nhân dân, 2020) mang đến sự thú vị rất riêng.
Nhà văn Trương Thị Thương Huyền
Viết về biển đảo đã có nhiều tác phẩm, nhưng viết về những “công dân tí hon”, những đứa trẻ là “con của đảo”, hoặc được sinh ra trên đảo, hoặc từ nhỏ xíu đã theo bố mẹ ra giữ đảo, thì đây là tác phẩm văn học đầu tiên tôi được đọc. Thông thường, nhắc đến những đảo nổi, đảo chìm của Tổ quốc nơi đầu sóng ngọn gió, chúng ta thường nghĩ đến những chiến sĩ hải quân đang ngày đêm chắc tay súng để bảo vệ lãnh hải thiêng liêng. Nhưng cuộc sống trên một số đảo, không chỉ có những người lính kiên cường mà còn có tiếng cười con trẻ, có tiếng đọc bài ê a loang trong gió, trong sóng biển. Bằng cách đó, đảo tưởng xa nhưng lại rất gần!.
Tiểu thuyết “Con của đảo” của Trương Thị Thương Huyền
Tiểu thuyết “Con của đảo” xinh xắn, gọn gàng, chưa đầy 200 trang in với 14 chương, mỗi chương cũng chỉ hơn chục trang ngắn ngủi. Tuy nhiên, sức lôi cuốn của tác phẩm có biên độ mở rất nhiều. Nhân vật chính của tiểu thuyết này là những đứa trẻ, gồm cả dân tộc Kinh và dân tộc Chăm, sống trên đảo Song Tử Tây. Là “con của đảo” nên cuộc sống của các em cũng nhiều điều khác biệt so với những đứa trẻ trên đất liền. Khác từ biệt hiệu đi kèm tên gọi: Phác nhà đèn, Thắng bò ngu... cho đến lớp học đặc biệt bên bờ sóng “năm học mới bao giờ cũng bắt đầu cùng với mùa có gió” (trang 61). Cả ngôi trường “khang trang ba tầng; khu nhà đẹp nhất trên đảo” nhưng “mới dùng có một phòng” với năm học trò: “Thắng bò ngu học lớp năm. Phác nhà đèn với Minh đen học lớp ba. Mai mèo học lớp hai. Con bé Bống xù mới học mẫu giáo lớn” (trang 64). Thầy giáo là các chú bộ đội trên đảo. Chương trình học linh hoạt không theo bất cứ giáo trình nào: “Thường thì buổi sáng, thầy Quyết dạy toán cho Thắng bò ngu học trò lớp năm, tiếng Việt cho Phác nhà đèn, Minh đen – hai trò lớp ba rồi quay sang dạy tiếng Việt, đạo đức cho Mai mèo đang học lớp hai trước khi dạy bé Bống xù lớp mẫu giáo tập tô màu. Buổi chiều thầy Mạnh đảm trách nhiệm vụ vừa dạy vừa dỗ tất cả các trò những môn học phụ khác như học buổi hai, quản lớp của các trường trong đất liền” (trang 67).
Tuy nhiên, ngoài những điểm vô cùng độc đáo, thì cuộc sống của lũ trẻ trên đảo cũng không khác gì đất liền. Chúng được sống trong tình yêu vô tận của người lớn; chúng gắn bó với nhau bằng thứ tình cảm trong vắt mà keo sơn, thiêng liêng. Có những lúc cùng nhau tâm tình, dạy nhau những điều kỳ thú của cuộc sống, vui đùa trong các trận đấu bóng nảy lửa; nhưng cũng có lúc cãi vã, giận hờn… Những điều ấy vô cùng thân thuộc, cho thấy đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, của đất liền. Vẫn màu xanh bình yên của vườn rau. Vẫn tiếng chuông chùa ngân nga trong gió. Vẫn tiếng chó sủa thân thương. Vẫn đàn gà ríu rít… Đảo đã thành quê hương máu thịt của các em!
Mỗi chương của tiểu thuyết này vừa kết nối với chủ đề chung, là một mắt xích trong mạch truyện, lại vừa là một truyện ngắn độc lập. Ngòi bút của Thương Huyền trong “con của đảo” thực sự chiếm được cảm tình của người đọc. Vừa linh hoạt, vừa ấm áp lại vừa tỉ mỉ, sắc sảo. Có những trang giàu chất thơ, đọc rất thích: “cuộc đời người thợ đèn như những người đi thắp lửa trong đêm. Mỗi khi nhìn ngọn hải đăng chớp sáng trên bầu trời đen kịt, mình như thấy đó là ánh sáng của Tổ quốc giữa biển trời. Từng nhịp đèn chớp nháy là nhịp thở và sự sống của lính thợ đèn. Âm thầm trầm mình trong gió giông, nắng lửa giữa đại dương, hải đăng Song Tử Tây cứ sừng sững trên đảo như người lính kiên gan canh gác, bảo vệ một vùng biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc và báo hiệu cho các tàu cá tại ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa…” (trang 16). Lối kể chuyện linh hoạt, dí dỏm, có duyên đã tạo nên thần thái rất riêng của tác phẩm. Thêm nữa, những am hiểu của Thương Huyền về cuộc sống, con người trên đảo là điểm cộng lớn cho “Con của đảo”. Có cảm giác đây là mảnh đất màu mỡ, còn rất nhiều trầm tích chờ Thương Huyền khai phá. Những chuyến công tác biển đảo năm này qua năm khác của tác giả đã thực sự kết thành trái ngọt, mà “Con của đảo” chỉ là một trong những trái ngọt đầu mùa. Những kiến thức bạn đọc có được sau khi đọc “Con của đảo” thực sự thú vị, từ những ngọn hải đăng đến tấm bia chủ quyền trên đảo. Từ các loại cá phong phú đến những cách bắt cá độc đáo… Những kiến thức chỉ người trong cuộc, chỉ người đam mê biển đảo, yêu biển đảo bằng tình yêu máu thịt mới có được!
Đọc xong “Con của đảo”, điều tôi muốn nói với Thương Huyền là chị hãy tiếp tục mạch đề tài này. Và tôi mong chờ những tác phẩm tiếp theo!.
10/2/2021
Nguyễn Thị Việt Nga
Theo https://vanhocsaigon.com/

Với Hàn Mặc Tử, làm thơ cũng là một cách định nghĩa thơ

Với Hàn Mặc Tử, làm thơ 
cũng là một cách định nghĩa thơ

Có lẽ không gì mâu thuẫn bằng chú giải một nhà thơ. Người ta không thể làm công việc đó, dửng dưng với ám ảnh đeo đẳng của sự bất lực. Hơn đâu hết trong các bộ môn, thơ mở ra đồng thời đóng lại trước mọi nỗ lực soi sáng. Mọi lời chú giải trên thơ (cũng như trên mọi công trình nghệ thuật?), mang ý nghĩa một sự diễn đạt, diễn đạt một vũ trụ tự nó hầu như đã đầy đủ, không còn gì để nói thêm. Tác giả mặc nhiên không còn. Tác phẩm tự nó biện minh hay ở đời. Không ai lên tiếng biện minh cho nó. Sáng tạo cũng là một cách chết. Sáng tạo là chết đằng sau tác phẩm mình. Tác phẩm trở thành một thực tại hàm hồ. Nó như một chiếc mặt nạ. Sau chiếc mặt nạ, lẩn trốn một người. Nhưng nhìn vào nó, người ta không thấy một ai được xác định. Tác phẩm là một sự giấu mặt đang lên tiếng gọi mời. Nó đòi hỏi được đón nhận, nhìn vào đồng thời là một cản trở.
Hơn là một độc giả, người chú giải, phê bình có bổn phận biến tác phẩm thành một khả hữu và hơn thế nữa, một khả hữu phổ quát cho mọi người, không những chỉ cho riêng hắn. Hắn là một người hòa giải. Ở hắn thể hiện sự dung hòa giữa niềm vui khoái, đam mê của những người thưởng ngoạn và sự sáng suốt của chính người sáng tạo. Nói theo Blanchot, hắn thực hiện một công tác kỳ lạ đối với tác phẩm, vừa tiến lại gần vừa lảng ra xa, phế bỏ, vừa hoàn thành, giản lược vừa đào sâu. Hắn hư vô hóa tác phẩm ngay khi biến nó thành một khả hữu cho mọi người. Tầm quan trọng của hắn hệ ở chỗ hắn vạch cho tác phẩm một ý nghĩa, điều này có thể làm ngạc nhiên tác giả, và chính hành động này, một hành động có thể là tốt, đã giản lược tác giả về hư không: tác phẩm là cơ hội xuất hiện của một ý nghĩa hoàn toàn xa lạ mà tác giả có thể không nhìn nhận hay chống kháng. Nhà chú giải trở thành một căn bịnh cần thiết. Bởi tác phẩm cần tới hắn, một cách nào đó, cần được sáng tạo không ngừng.
Nhà thơ Hàn Mặc Tử
Có thể nói rằng công việc chú giải là một thất bại ngay từ khởi điểm (nó bao hàm một ngụy tín, một thái độ hàm hồ). Cho nên phải chăng sau cùng mọi nỗ lực chú giải, phê bình nhất thiết đưa về im lặng trước chính tác phẩm, tác phẩm tự nó cũng là một thực tại hàm hồ, bí ẩn. Có lẽ càng hàm hồ khi tác phẩm lại là thơ. Có thể thơ hàm chứa nhiều nhất đồng thời thơ lại là nơi ta dễ dàng lạc lối nhất. Nó là một cánh rừng mà mỗi ngõ ngách có thể dẫn ra đồng thời đánh lạc. Một hang động trong đó người ta chỉ có thể tìm ra bí mật bằng sự lạc lõng của chính mình. Bởi thơ là biểu tượng, là hình ảnh. Thơ tạo dựng một vũ trụ qua trung gian biểu tượng, hình ảnh. Một vũ trụ phi thực, một vũ trụ chỉ có ý nghĩa trong tính cách phi thực của nó. Hơn đâu hết, biểu tượng, hình ảnh là điều kiện của thơ, lý do tồn tại của thơ. Biểu tượng chính là thơ. Đâu là đặc tính của biểu tượng, hình ảnh?
Biểu tượng, hình ảnh tự chúng không là gì nếu không có thực tại chống đỡ sự sống của chúng. Biểu tượng đi đôi với một tác động biểu tượng hóa, hình ảnh với một tác động ảnh hóa. Tôi không thể xây dựng hình ảnh cái bàn tách biệt với thực tại bàn, một cái bàn thật, trong một không gian nào đó. Đó là quan niệm thông thường nhất, thực nghiệm nhất. Nhưng cái hiển nhiên thường đến với ta trong sự vô tình hay giấu mặt hầu như không ai hay biết. Hình ảnh thơ không diễn đạt thực tại một cách quá thơ ngây dung dị. Thơ là vũ trụ những hình ảnh có giá trị một sự mê hoặc, một thứ ma thuật. Nó biến thành hình ảnh của chính hình ảnh. Một hình ảnh mê hoặc, ma thuật bắt buộc phải là một hình ảnh lẩn tránh, giấu mặt. Nó không còn là biểu tượng của thực tại đồ vật, nó chính là điều kiện khả hữu của biểu tượng đó. Nó là thực tại đang tiêu hủy hay một ảnh tượng đang hoàn thành. Nói theo M.J. Lefèbvre, hình ảnh là tác động của trí tuệ đang - sau thực tại xuất hiện cho nó, sau và ngoài - tiếp tục hướng về một thực tại hiển nhiên không ngừng thoát chạy. Hình ảnh không là thực tại. Nó là một ý hướng. Nó thể hiện một dự phóng. Nó hoàn thành một ước muốn. Nó không biểu tượng cái hiện hữu. Nó lẩn tránh chính biểu tượng. Nó nhằm đưa tới một vũ trụ hàm hồ, một vũ trụ đồng thời một phủ nhận vũ trụ. Hình ảnh mê hoặc chỉ là một khoảng trống thiết yếu. Thơ không là thực tại, không là tổng số những hình ảnh xác định một thực tại rõ ràng. Nó là một ước muốn hơn thế nữa, là một đam mê, mù quáng cũng nên, có đối tượng là cái chưa có, cái chưa biết được, cái không thể biết, nghĩa là một thực thể vô danh và người đọc thơ hay chú giải thơ thử lên tiếng gọi tên. Thơ thể hiện một ý hướng tính không có ý hướng, nói một cách nào đó, nó hướng về cái không có, nó đòi hư vô, một “đam mê vô ích”. Phải chăng thơ sau cùng chỉ còn là một niềm im lặng tuyệt đối của thi sĩ, vũ trụ thơ chỉ còn là vũ trụ nội giới, chủ quan của thi sĩ. Điều duy nhất người ta có thể thâu tóm ở hắn chính là cách thế phát biểu. Người ta có thể phủ nhận vũ trụ của thi sĩ hay giải thích nó bằng mọi cách (giải thích phải chăng cũng chỉ là một cách phủ nhận?), nhưng người ta không thể chổi bỏ chính cách thế phát biểu của hắn.
Thơ, để làm gì? Thiết tưởng người ta không làm thơ để nói lên một điều gì (có lẽ khi nói ngược lại, người ta đã không làm thơ nữa). Nếu có, phải chăng đó là sự bất lực. Phải chăng bằng chính sự bất lực đến cùng tận đó, thơ phát biểu trung thực nhất thân phận thi sĩ, và nếu cần, thân phận làm người của thi sĩ. Trong ý nghĩa đó, thi sĩ là kẻ tham vọng nhất. Antonin Artaud, một thi sĩ, đã nói: “Tôi luôn viết để nói rằng tôi không làm được gì, không thể làm được gì, và nếu làm được thì thật ra tôi không làm gì hết. Toàn tác phẩm tôi đã xây dựng và chỉ có thể xây dựng trên hư vô”. Thơ tham dự trực tiếp vào hoàn cảnh hữu hạn con người cũng như thơ không thoát ngoài thân phận nó: ngôn ngữ, hình ảnh, biểu tượng. Nói theo Bernard Charbonneau, “đòi hỏi mọi thứ ở ngôn ngữ chính là hủy diệt nó”. Breton và trường phái siêu thực đã đem được gì khi đồng hóa thi ca và cách mạng? Sau cùng phải chăng chỉ còn một cách, trả thơ về với tiếng nói, thứ tiếng nói xao xuyến nhất của nội tâm con người.
Những ý nghĩ trên đây có thể phần nào gây xao xuyến công việc chú giải thơ, cả việc đọc thơ và nói rộng ra, cả việc tìm tới nghệ thuật. Đó là tình cảm e thẹn của người đọc khi đứng trước thơ, tìm mọi cách chọc thủng những chiếc mặt nạ phủ lên hình ảnh, phủ lên thơ: một việc làm đầy hoài nghi, lúng túng.
Thơ Hàn Mặc Tử đã được chú giải bằng nhiều cách, nhìn ngắm từ nhiều khía cạnh. Có thể chiêm ngưỡng thơ ông bằng một tâm hồn sẵn cảm xúc âm nhạc hay màu sắc. Có thể mượn tâm phân học tố cáo ở người thơ một nhân vật bệnh hoạn, và thơ ông như một cách giải tỏa ẩn ức. Có thể tìm thấy trong thơ ông những lời ca tụng hay những xúc cảm chân thật trước cái đẹp, tình yêu, kỷ niệm, đấng thiêng liêng… một thi sĩ biết mình là thi sĩ. Nghĩa là sự cám dỗ, mê hoặc của vũ trụ hình ảnh trong thơ Hàn Mặc Tử có thể đẩy cảm quan theo một chiều hướng hay đến một chân trời nào đó. Làm sao có thể phê phán trên chính những lời chú giải khi thơ tự nó không nói lên gì, nó chỉ nói lên cái người thưởng ngoạn cảm xúc thấy, nghe thấu được: thưởng ngoạn, chú giải là tước đoạt lời nói của người sáng tạo.
Thơ Hàn Mặc Tử? Tại sao không nhìn nó như một kinh nghiệm trước hết của một con người, một thực tại con người ngay trong thân phận, trong sử tính đích thực của nó? Thi sĩ đã nói về công việc làm thơ của mình, là “nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng”, đã nói tới những “âm điệu thiêng liêng tạo ra trong khi máu cuồng rền vang dưới ngòi bút”. Thơ là sự mời gọi tham dự vào chính những cảm xúc, những trạng thái tâm thần, những tình tự, kinh nghiệm của chính người thơ. Thơ trở thành kinh nghiệm tập thể, một kinh nghiệm khởi từ cá nhân để tan vào đám đông được mời tham dự. Kinh nghiệm thơ, kinh nghiệm người làm thơ là một. Kinh nghiệm ẩn sau từng chữ từng tiếng, từng hình ảnh. Đọc thơ, chú giải thơ là tìm tới kinh nghiệm nền tảng của thi sĩ.
Descartes một lần nói rằng, cơn thịnh nộ của thi sĩ nhiều khi hàm chứa nhiều hơn cả túi khôn triết học. Ngày nay, nỗ lực đem thi ca tới gần siêu hình học thiết tưởng chỉ bằng thừa khi ta quan niệm thi ca trước hết là kinh nghiệm sâu thẳm của con người, con người tấn phong bằng tính cách siêu hình của nó. Thực tại kinh nghiệm, thực tại người ẩn sau từng ngôn ngữ, thể hiện ngay trên từng ngôn ngữ. Phải chăng đó là cái gì có thật nhất bên cạnh ngôn ngữ ma thuật, cái gì khẳng định nhất bên cạnh ngôn ngữ hàm hồ. Ta đứng trước một vũ trụ, tự hỏi mộng hay thật, trước mắt hay trong ảo giác, tất cả những sương đục, trăng thề, tơ liễu, những hào quang, châu ngọc, những “vàng sao rơi đầy trên sóng nước”, những “đêm xao xuyến vũng sông Hằng”, những “âm hưởng địa cầu đang vỡ toang ra từng mảnh”… Tất cả tham dự hành trình của một vòng cảm xúc của thơ hay tất cả từng phút từng giây trở về, lảng vảng, xoay quanh, đeo đẳng một cảm xúc, một kinh nghiệm duy nhất, nền tảng. Tất cả, mang vẻ sững sờ. Tất cả: niềm hốt hoảng xao xuyến đang lên tiếng nói. Thi sĩ nói nhiều tới trăng, nhắc nhiều tới trăng. Trăng lấp đầy thi hứng. Trăng biểu hiện niềm cô đơn tuyệt đối. Trăng cưu mang niềm mơ ước. Trăng chính là sự trở về trong cảm xúc thi sĩ, sự trở về trong thảng thốt, kinh hoàng của thi sĩ trong chính hoàn cảnh, thực tại, trong chính kinh nghiệm “qua cầu”.
Ta nhìn trăng khôn xiết ngậm ngùi trăng.
Chỉ còn có trăng, cùng với tình cảm khô chết, hấp hối.
Ánh trăng mỏng quá che không nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ
Những nét buồn buồn tơ liễu rũ
Những lời năn nỉ của hư vô.
Chỉ còn có trăng và kinh khiếp thay, trăng cũng lùi đi dưới mắt nhìn ngưỡng vọng. Còn có trăng nghĩa là không còn gì hết. Bao lời thơ thống thiết chỉ để nói lên rằng không còn gì nữa, trừ “những lời năn nỉ của hư vô”.
Thơ và đau thương. Thơ là kinh nghiệm đau thương đó.
Có lẽ không phải tình cờ mà tập thơ xuất sắc nhất của thi sĩ nhan đề ĐAU THƯƠNG. Nếu cần người ta chỉ có thể thâu tóm thơ Hàn Mặc Tử về một ý niệm tương tự, một ý niệm nền tảng. Thơ vẽ nên dung nhan hư hoại của kiếp người. Thơ đào sâu kinh nghiệm thiếu sót, tình cảm bại vong trong hành trình bát ngát của thân phận người. Hiện tại, ngay cả hiện tại cũng không còn, ngay cả hiện tại cũng không có. Bởi không một niềm vui, một hạnh phúc nào bình yên, vĩnh cửu. Nó già cỗi từ bao giờ, đã vượt khỏi tầm tay, đã rơi vào quá khứ. Thơ không là lời hồn nhiên ca tụng. Thi sĩ đánh mất thơ ngây. Chỉ có quá khứ ngổn ngang đổ vỡ và tuyệt vọng để khóc than. Chỉ có những ám ảnh thời gian với trăm ngàn sụp đổ đón đợi. Con người thất bại vì nhất thiết nó đã hay sẽ bị tước đoạt tất cả: tuổi trẻ, tình yêu, khoái lạc… Tất cả gãy đổ, băng hoại ngay trong dự phóng con người.
Máu đã khô rồi thơ cũng khô
Tình ta chết yểu tự bao giờ...
Ta trút linh hồn giữa lúc đây
Gió sầu vô hạn nuối trong cây...
Trời hỡi bao giờ tôi chết đi?
Bao giờ tôi hết được yêu vì
Bao giờ mặt nhật tan thành máu
Và khối lòng tôi cứng tợ si?...
Tôi vẫn còn đây hay ở đâu
Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu
Sao bông phượng nở trong màu huyết
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?...
Xin dâng này máu đang tươi
Này đây nước mắt giọng cười theo nhau
Mới hay phong vị nhiệm mầu
Môi chưa nhấp cạn mạch sầu đã tuôn.
Cái chết ám ảnh, dọa nạt, cái chết âm ỉ trong tâm hồn. Thi sĩ sống cái chết của mình. Hư vô chính là kinh nghiệm thi sĩ.
Trong ám ảnh của cái chết, trong thôi thúc của thời gian, trong khả hữu của hư vô toàn diện, đâu là cơ hội sau cùng của thi sĩ? Đâu là sự cứu rỗi cho phần số hạn hữu? Phải chăng đó là niềm tin ở một đấng? Phải chăng đó là phút huy hoàng mãnh liệt và đầy ắp? Phải chăng đó là sự kêu đòi hay nguyện cầu vô vọng? Có thể nhà thơ đã không từ chối một cơ hội nào xảy tới. Không cơ hội nào gọi là sau cùng. Không sự cứu rỗi nào gọi là duy nhất. Hàng trăm hàng ngàn vũ trụ hãy còn chưa đủ cho thi sĩ sống kịp đời mình.
Ta vãi tung thơ lên tận sông Hằng
Thơ phép tắc bỗng kêu lên thảm thiết...
Cứ nhắm mắt cứ yêu nhau như chết
Cứ sảng sốt tê mê và rũ liệt
Đứng nghe chi âm hưởng địa cầu đang
Vỡ toang ra từng mảnh cả không gian
Cả thời gian từ tạo thiên lập địa
Đều trộn trạo điều hòa và xí xóa
Thành hư không hư tình ái đôi ta...
Cho tôi thắp hai hàng cây bạch lạp
Khói nghiêm trang sẽ dâng lên tràn ngập
Cả hàng giang, cả màu sắc thinh không
Lút trí khôn và ám ảnh hương lòng
Cho sốt sắng cho đê mê nguyện ước.
Nhà phê bình Huỳnh Phan Anh
Thi ca vạch những con đường cứu rỗi cho ý thức khốn khổ bủa giăng bởi hư vô, hư vô chực làm suy sụp mọi dự phóng. Thi ca chính là sự cứu rỗi của người thơ không bao giờ ôm trọn cuộc sống trong tay. Thơ là đặc ân của thi sĩ. Có thể nói rằng chính sự thức tỉnh trước thân phận bàng hoàng, èo uột của kiếp người (có nhất thiết một người mệnh danh Hàn Mặc Tử?) đã đẩy thơ Hàn Mặc Tử tới những chân trời kỳ diệu của ngôn ngữ. Nó là tiếng kêu hốt hoảng của tâm hồn. Nó là cơn gào thét của khoái cảm sắp tiêu ma. Nó là nỗi kích thích, sức dồn đầy của da thịt, của thần kinh, của não bộ. Nó mặc khải một vũ trụ, vũ trụ mà thi sĩ kêu đòi, vũ trụ trong đó thi sĩ chỉ có thể chiến thắng hư vô bằng nhục cảm có thật đang kêu gào, chới với, ngất ngư:
Ồ say sưa trên hết các tục tình
Ồ thú lạ những phút giây thinh thoát
Hương cho thơm ứ đầy hơi khoái lạc
Máu cho cuồng run giận đến miên man
Hồn hỡi hồn, lên nữa quá không gian.
Vũ trụ thơ là tấm gương trong đó thi sĩ nhận ra hình ảnh của chính mình. Tâm tình bất trắc, đó là kinh nghiệm thi sĩ, kinh nghiệm thống trị trong số kiếp một người. Thơ là sự phục thù của thi sĩ, kẻ bị đè bẹp bởi định mệnh. Ngôn ngữ trở thành một khí giới. Nó đi tìm những khích động thần kinh. Nó đặt thơ và sự thưởng ngoạn thơ vào một cảm xúc mãnh liệt. Thơ hay là máu và nước mắt của thi nhân. Thơ không xuất phát từ trí tuệ. Nó bùng nổ từ những trung tâm thần kinh hệ. Thơ thể hiện những dự phóng hiện thực nhất, thơ ngây nhất của con người trong thi sĩ. Thơ vượt khỏi nguy tín của nghệ thuật.
Và để trở lại với những gì đã nói ở phần trên, ta có thể nói Hàn Mặc Tử thuộc những thi sĩ mà tác phẩm tự nó chối từ chú giải: nó đã là lời chú giải cho chính nó.
Vâng, thơ Hàn Mặc Tử đã tự đầy đủ cho chính nó. Thơ đã tự đầy đủ cho chính thơ. Và tôi không ngần ngại phát biểu rằng đó chính là sự thật sau cùng, nền tảng ở cuối những con đường tìm kiếm của người đọc thơ. Đó cũng là sự thật sau cùng, nền tảng của chính thơ, của chính người làm thơ. Người ta không thể đọc thơ như người ta nhìn ngắm một món đồ tử phía ngoài. Đọc cũng là một cách gia nhập. Người đọc thơ không là kẻ mang đến cho thơ một lời chú giải. Phải nói hắn chỉ là kẻ mang lời chú giải ra khỏi thơ, bởi lời chú giải về thơ không ở ngoài mà ở ngay trong thơ, nó là một với thơ. Nghĩa là thơ không chỉ là thơ nữa. Và thi sĩ không chỉ là người làm thơ một cách thơ ngây hay sung sướng. Có lẽ đây là chỗ cách ngăn khốc liệt giữa hai quan niệm thơ, về phía người thưởng ngoạn cũng như về phía người sáng tạo. Có lẽ ta không còn ở vào thời đại của một dòng thơ và từ đó của một dòng nghệ thuật thơ ngây, vô tội - sản phẩm của một cơn rung động thoáng qua hay một phút tình cờ may mắn nào đó. Có lẽ mai đây người làm thơ bắt đầu cuộc hành trình của mình không từ một khởi điểm nào khác ngoài khởi điểm của thơ. Chính từ khởi điểm của thơ, người làm thơ tìm đến yếu tính của thơ. Người ta có thể làm thơ trong cuộc đời. Nhưng thi sĩ là kẻ làm thơ ở ngay trong thơ của mình. Thơ không còn là tiếng nói của một phút giây hoan lạc hay sầu khổ đã từng lướt thoáng qua tâm hồn thi sĩ. Thơ không là tiếng nói. Thơ không là ngôn ngữ. Thơ là tiếng nói, là ngôn ngữ đã tinh lọc để trở thành tiếng nói của chính tiếng nói, ngôn ngữ của chính ngôn ngữ. Và mai đây người đọc thơ không còn là kẻ chỉ biết rung động và rên rỉ với từng dòng từng chữ của một bài thơ. Hắn phải có can đảm vượt qua những bức tường chữ nghĩa đầy phỉnh gạt để đạt tới cái cốt tủy bên trong. Hắn là kẻ mang mặt nạ của anh chàng Orphée, tình nguyện sa chân vào địa ngục theo tiếng gọi thầm lặng của Eurydice yêu dấu. Vâng, có một thứ tiếng gọi thầm lặng thốt lên từ mỗi một bài thơ. Đó chính là linh hồn của mỗi một bài thơ. Đó chính là bài thơ đích thật ẩn giấu trong mỗi một bài thơ. Đọc thơ? Có lẽ người ta không đọc thơ nữa. Và có lẽ thơ cũng không còn nữa. Điều đáng kể chính là thơ ở ngay trong thơ, chính là tiếng nói về thơ chứa đựng ngay trong thơ. Với Holderlin, với Lautréamont, với Rimbaud, v.v…, phải chăng một dòng thơ mới đã bắt đầu, dòng thơ bao gồm trong nó một ý thức mãnh liệt về thơ. Thi sĩ là người đầu tiên đọc thơ mình. Thi sĩ là người đầu tiên thức tỉnh ngay trong vũ trụ thơ của mình. Thơ thể hiện một cái nhìn về vũ trụ. Thơ đồng thời thể hiện một cái nhìn về chính cái nhìn đó. Đọc thơ Hàn Mặc Tử. Điều này có nghĩa là cùng một lúc tham dự vào hai cuộc hành trình say mê và hứa hẹn, một của nguồn cảm hứng sáng ngời của một tâm hồn bén nhạy và một của ý thức thơ nơi thi sĩ. Mường tượng một cái nhìn bàng bạc trên khắp các lời thơ của Hàn Mặc Tử, một cái nhìn thấu suốt căn phần thi sĩ cũng như căn phần chính thơ:
Phượng trì! Phượng trì! Phượng trì! Phượng trì!
Thơ tôi bay suốt một đời chưa thâu
Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu
Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang.
Thi sĩ làm thơ đồng thời không ngớt nói về thơ, trò chuyện với thơ:
Ta cho ra đời một dòng thơ rất mát
Mới tinh khôi và thanh sạch bằng hương
Trời như hớp phải hơi men ngan ngát
Đắm muôn ngôi tinh lạc xuống mười phương...
Ta há miệng cho nguồn thơm trào vọt
Đường thơ bay sáng láng như sao sa…
Trên lụa trăng mười hai dòng chữ ngọc
Thêu như thêu rồng kết tinh hoa 
Ta cao ngâm giọng vô cùng thanh thoát
Khiến châu thân rung động thể tơ trăng
Toan ngất đi trong cơn mê khoái lạc
Mẹ dấu yêu liền vội đến tay nâng…
– “Đây thi sĩ của đạo quân Thánh giá
Nửa đêm nay vùng dậy để tung hô
Để sớt cho cả xuân xuân thiên hạ
Hương mến yêu là lộc của lời thơ”.
Với Hàn Mặc Tử, làm thơ cũng là một cách định nghĩa thơ rồi vậy.
20/2/2021
Huỳnh Phan Anh
Theo https://vanhocsaigon.com/

Nhớ thương Phạm Công Thiện

Nhớ thương Phạm Công Thiện P hạm Công Thiện, mới qua đời tại Houston ngày 8.3.2011, với tôi là chỗ cố tri thân thiết, ngang trang ngang lứ...