Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng
Bài viết của Tam Ích
Ba chục năm trước…
Có một nhà văn mới ra đời là đã có thế lực: Khái Hưng. Và có
một cuốn tiểu thuyết mới ra đời đã chiếm đứt vị trí của Ngọc Lê
hồn và Tố Tâm: cuốnHồn bướm mơ tiên.
Từ Trẩm Á của văn học cận đại Trung Hoa tới, và Hoàng Ngọc
Phách tại chốn “ngàn năm văn vật” không còn là thần tượng nữa. Giới thanh niên
trí thức tiểu tư sản đã có thần tượng mới: nhân vật của Khái Hưng và Nhất Linh.
Cuốn tiểu thuyết thứ nhất của Khái Hưng là cuốn Hồn bướm mơ tiênhiện
ra trong văn học như một hành tinh sáng. Cùng với tác giả nó: Khái Hưng.
Ra đời trong văn giới, Khái Hưng mang theo với mình một số
mặc cảm: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính… đã lên đoạn đầu đài rồi, còn sĩ phu
của Tân Việt cách mạng đảng đương mạnh ai nấy chạy… Nước đã mất và nước đương
mất… Dân tộc tính văn hóa đương phai lần lần: nếu chẳng phải là Ngũ
kinh Tứ thư đã xưa xửa hay cuốn Ngọc Lê hồn đương gây
nước mắt chan hòa một cách rất… lãng mạn thì cũng là
Chateaubriand hay Lamartine đương thổn thức… Còn chính trường dân tộc đã đẩy
những quan lại phụng sự chính quyền thuộc địa một cách rất “hạo họa nhiên” trong
lúc những đứa con cuối cùng của một lớp nho sĩ bại trận thì đành “hạ Thú dương”
và tự phòng thủ mình với nguyên tắc “thế chiến quốc thế xuân thu, gặp thời
thế…”.
Kết quả là bao nhiêu cặn bã của một lớp trí thức Việt
Nam mới và cũ nổi lên trên, theo thời… với tất cả những lầy
lội ẩn sau mấy hòn non bộ, mấy bức hoành phi, mấy đôi câu đối thếp vàng sơn
son, thêm vào đó mấy cuốn Luận ngữ giấy tuy rách nhưng còn giữ
lấy… lề đặt bên cạnh mấy cuốn sách Tây… xếp có ngăn nắp trong văn phòng Khai
Trí Tiến Đức…
Một người như Khái Hưng phải thở dài… Thở dài mãi và nhiều
rồi, chàng không còn cách gì hơn là tìm lối thoát cho mình: chàng tạo một hình
ảnh của chính mình – cậu Ngọc – và tô thêm phấn son: một tấm gương để
mình soi mình.
Một lối hướng thượng bèo bọt cho một tấm thân mất nước đương
bơ vơ và tự mình dối mình trầm trồ khen mình trước hình bóng của mình trong
tiểu thuyết do mình viết ra. Chàng tạo thêm một mối tình mà chàng muốn cho đẹp:
kết quả ép của tinh thần Á Đông hòa hợp với màu sắc ái tình lãng mạntrong
mấy trang văn học sử Pháp để gần một trăm năm mới từ Âu châu qua đất này. Chàng
còn phải tìm khung cảnh cho mối tình ấy: còn ở đâu hơn là nơi kín đáo xa xôi –
một ngôi chùa, một nơi mà nếp nhân sinh lặng lẽ và vắng vẻ khác hẳn nếp nhân
sinh nơi tưng bừng, nơi mà mọi thứ của con người đều cân nhắc và dựng trên
nguyên tắc buôn bán!
Rồi chàng khai sinh bức tranh ấy dưới một cái tên nghe khá
đẹp, thỏa mãn được ao ước của thính giác, thỏa mãn được sự đòi hỏi của thông
minh: Hồn bướm mơ tiên.
Kể thế đã là đẹp lắm!
Cái giai cấp trí thức tiểu tư sản và giới sinh viên học sinh
của một dân tộc bại trận… trước chính quyền thuộc địa… không đòi gì hơn là được
ngắm những bức tranh ít nét ít màu, đẹp như tranh thủy mạc, kín đáo như sương
và nắng Á Đông những sớm đầu xuân… Hồn bướm mơ tiên.
Hồn bướm mơ tiên được hoan nghênh.
May cho Hồn bướm mơ tiên là thời ấy Phật
giáo chưa phục hưng như bây giờ; và nhà Nguyễn đương chải chuốt nguyên
tắc Nho giáo độc tôn đương suy vi – của nhà Hậu Lê để lại như
để một gia tài sắp khánh kiệt – đã sa đọa và đương sa đọa, một thứ vang bóng xa
xôi của một triều đại quân chủ đã hết sứ mạng lịch sử đương cố giấu bức tranh
vân cẩu của chính mình.
Không may cho tác giả Hồn bướm mơ tiên.
Khái Hưng có thiện cảm với Phật giáo lại làm tổn thương giá
trị Phật giáo mà không biết! Hồi đó, chẳng ai nói đến, mà ngày nay cũng không
ai nói đến cái sở đoản ấy, vì mỗi thời có những tưng bừng riêng, có những vui
buồn và lo âu riêng, có những tấp nập riêng… thiên hạ quên mất cái bảng
giá trị có vị trí tinh thần văn nghệ – có cuốn Hồn bướm mơ
tiên.
Trừ văn nghệ phẩm thuần túy tả chân và duy
nhiên ra, trong những tiểu thuyết của các trường khác, ít nhiều đều có
lờ mờ hình bóng của tác giả. Tác giả lấp ló, khi ẩn khi hiện, khi nghênh ngang
có bề dài bề rộng, khi kín đáo lờ mờ trong truyện… Trong mỗi nhân vật đều có
một mẩu tác giả và trong mỗi một lời nói của nhân vật đều có
bóng thông minh và lý trí của tác giả. Đôi khi đến trang chót, tính sổ tư
tưởng, người ta có thể xếp cả một “hệ thống” ý tưởng của người viết sách: Gide,
Mauriac, Malraux… Kể cả người gần chúng ta: Khái Hưng, Nhất Linh… mà nhiều
người gọi là tác giả tiểu thuyết luận đề.
Cẩn thận một chút, chúng ta thấy Khái Hưng thật không
hiểu Phật giáo: yếu tính Phật giáo, yếu lý phong trào, bản
chất Phật giáo, tinh thần kinh và kệPhật giáo… Kể
cả cái thông thường nhất của Phật giáo: tâm lý siêu hình chính truyền của Phật
giáo.
Cậu Ngọc hỏi chú Lan:
“Chú tu ở trong vùng này thú chú nhỉ?”
Chú Lan trả lời:
“Thưa ông, đã xa nơi trần tục mà mến cảnh thiền am thì không
còn lấy chi làm vui thú nữa”.
Vô tình, cả cậu Ngọc và chú Lan của Khái Hưng đã hiểu lầm
cái thú và cái vui thú của sự tu hành chấp
chính – nói vậy vì tôi tin rằng tác giả Hồn bướm mơ tiên đã
muốn thăng hoa mọi trường hợp, mọi điều kiện và cả mọi luận cứ
của sự tu hành ở cửa thiền – kể cả những người tu hành. Vì cái thú và
cáivui thú của người chân tu – hay đương tìm đường chân tu – phải
nhìn qua một góc lăng kính khác… Ủa, người chân tu họ vui thú
lắm chứ!
Và nguy nhất là Khái Hưng đem hoang sử, huyền sử vào cửa
thiền: muốn thăng hoa thái độ và nếp tu hành của Văn Khôi công
chúa đời Lý Nhân Tôn, người viết truyện đã đem cả Ngọc hoàng Thượng đế và Tiên
Nga giáng thế vào… chùa – thêm vào đó một con rồng vàng và phép mầu
nhiệm của Thích Ca Mâu Ni…
Mô Phật!
Chẳng lẽ Phật giáo – theo cái nghĩa chính truyền của nó –
lại vướng vào chính cái mà Phật giáo chống ở Bà La Môn là
một giáo mà “giấy khai sinh” và “giấy sao lục tư pháp” có cả
một vạn chuyện hoang sử, huyền sử… Và chuyện hoang đường, không khác gì tất cả
những chuyện hoang sử người bình dân kể cho nhau nghe những đêm trăng dài… cho
vơi những nặng nề của thân phận mỗi ngày đầu tắt mặt tối đủ cả hai mươi bốn
giờ… Ấy là chưa nói rằng người viết Hồn bướm mơ tiên đã để vào
miệng sư Cụ một lời nói – nói với Ngọc là cháu – mà một thượng tọa hay đại đức
bây giờ ít khi nói: “Cháu nên biết rằng đạo Phật huyền bí lắm!…”. Thực ra, nếu
nói về tôn giáo, về gốc đạo Phật, thì Phật là một người bằng
xương bằng thịt: thái tử Tất Đạt Đa… Còn nói về triết học như một trong những
hệ thống triết học… thì ai cũng có thể dày công nghiên cứu – hãy bắt đầu bằng
duy thức học…- và có khó hiểu (?) thì chỉ có Thiền (Zen) là
khó nhưng ai cũng có thể đem tất cả cái nhất trí của cá nhân
ra để chứng nghiệm và luyện cái trực giác đến cao độ để ngộ ở
một trình độ nào đó cái thiền… Nói huyền bí cũng
như nói bà Âu Cơ đẻ ra một trăm trứng và mỗi trứng nở ra một người…
Khái Hưng, nhà văn đáng quý và đáng kính của chúng ta đã qua
đời: giá ông còn sống đến bây giờ, ông sẽ không mãn nguyện về cuốn truyện của
mình – vào chính giờ này, ở ngay chỗ này…
Khái Hưng còn làm một chuyện mà tôi cho là chướng nữa.
Trong bức thư Ngọc viết cho Lan – nhưng rồi lại xé đi – có
câu:
“…Dù có muốn xa lánh cõi tục, dứt bỏ trần duyên, song cái
bản tính của con người dễ một lúc mà có xóa bỏ nổi được. Cái bản tính ấy là
tình, là, A Di Đà Phật, là ái tình…
Ái tình là bản tính của loài người mà là hạnh phúc của chúng
ta…
Đức Thích Ca Mâu Ni xuất thế để đưa linh hồn chúng sanh đến
cõi Niết Bàn mà hưởng sự hạnh phúc bất vong bất diệt. Nhưng hạnh phúc của chúng
ta chỉ ở ái tình. Đó là… A Di Đà Phật: Đó là Niết Bàn của chúng ta…
Mấy hôm nay tôi đọc quyển Phật giáo tôi thấy tôi yêu đạo
Phật…”
Những cây ấy thành một bức thư, viết ở đâu, gửi cho ai –
miễn là ở ngoài nơi tu hành – đều có văn chương và bay bướm … Nhưng viết cho
chú Lan và do cậu Ngọc viết nhờ Khái Hưng viết giùm và viết trong cuốn
truyện Hồn bướm mơ tiên, một cuốn tiểu thuyết mà Khái Hưng
muốn dùng để… đề cao cậu Ngọc, vẽ chú tiểu Lan cho đẹp, và thi vị hóa mối tình…
và nhất là hình ảnh từ bi của Phật… thì thật là tôi, kẻ viết bài này, không tán
thành chút nào.
Chú Tâm Quán có viết một tập truyện tên là Tình
người. Trong tập truyện có một truyện tên là Giọt nước cành
dương… Trong truyện này có một nhân vật tên là Vĩnh. Vĩnh hay nói
chuyện với chú Tâm Quán – là tác giả, là “tôi” trong tập truyện. Một hôm Vĩnh
hỏi chú Tâm Quán: “Chú có đọc cuốnThế rồi một buổi chiều của Nhất
Linh chưa? Chú Tâm Quán nói rằng có đọc rồi và nói thêm rằng: “Có thêm
một nhân vật như thế” - nghĩa là cô sư nữ? - “thì đạo Phật
cũng chỉ lấy làm xấu hổ mà thôi”. Bạn đọc muốn hiểu đầu đuôi, xin tìm
đọc Thế rồi một buổi chiều của Nhất Linh và Tình
người của Tâm Quán mới ra đời đây. Chỉ biết rằng kẻ vào chùa, khoác áo
cà sa để quên một mối tình thương tâm, một sớm cũng sẽ cởi áo cà sa trả lại cho
chùa… mà thôi. Nhà Phật chỉ hãnh diện về những kẻ có sẵn bản chất tu hành, có
sẵn cái Nguyễn Du gọi là thiện căn – chứ không hãnh diện về
những người mượn chùa làm nơi quên những chuyện bại trận ngoài đời sống: những
người ấy khi quên được rồi… lại sẽ ra… trận! Tôi đồng ý với
chú Tâm Quán như vậy!
Và nhà chùa quả tình cũng chẳng hãnh diện gì về “hai linh
hồn…” – Ngọc và Lan – “ẩn núp dưới bóng từ bi”. Nhà văn Khái Hưng còn viết ở
trang cuối, để câu nói vào miệng Ngọc: “Yêu là một luật chung của vạn
vật, mà là bản tính của Phật giáo. Ta yêu nhau, ta yêu nhau trong linh hồn,
trong lý tưởng, Phật giáo cũng chẳng cấm đoán ta yêu nhau như thế”. Theo
kẻ viết bài này, nói rằng yêu là luật chung của vạn vật, và là bản tính của
Phật giáo… là nói đúng. Nhưng cái yêu đó là tình
thương của Phật đối với chúng sinh, và là giấc mơ tình cảm chúng
sinh đối với nhau… chứ không phải là tình yêu giữa trai gái – một thứ
ái tình không biết rằng đó là ái tình của hai cái “giống” – amour qui
s’ingore. Và theo tôi thì thứ yêu ấy, Phật giáo có… cấm đoán hẳn hoi!
Vì nếu Ngọc cứ đạp xe đạp lên thăm Lan mãi – như hai người,
Ngọc và Lan đã nói với nhau, hứa hẹn với nhau – thì rồi thế nào cũng “thế rồi
một buổi chiều”… Một việc ở nơi tu hành – xin nói lại: ở nơi tu hành mà thôi –
mà chú Tâm Quán không tán thành. Kể cả một kẻ không có tư cách gì để không tán
thành, và vẫn không tán thành, là tôi.
Còn cái chuyện – mà có người gọi là vấn đề ái tình
và tôn giáo trong Hồn bướm mơ tiên chỉ là truyện trà
dư tửu hậu nói giữa hai ly rượu trắng thì được, nói một cách nghiêm trọng trong
văn học sử thì quả tình là không… ổn! Một câu chuyện đã là dối (faux)
rồi, thì vấn đề cho có đặt ra lẽ tự nhiên cũng chỉ là một vấn đề dối (faux
problème).
1964
Nguồn: Lá Bối xuất bản lần thứ nhất, in tại nhà in Đăng Quang, 734a
Phan Thanh Giản – Sài Gòn. Giấy phép số 481 TBTTCH/BC3/XB Sài Gòn ngày 22 tháng
2 năm 1967, ngoài những bản thường in thêm 100 bản đẹp dành riêng cho tác giả,
nhà xuất bản và thân hữu. Thư từ, liên lạc về Nxb xin gửi cho Từ Mẫn, bưu điện
xin đề tên cô Cao Ngọc Thanh. Giá 120 đồng. Bản điện tử do talawas thực hiện.












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét