Khái Hưng là bút danh của nhà văn Trần Khánh Giư. Bút danh Khái Hưng là hai chữ Khánh Giư xáo trộn lại. Quê làng
Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương, nay là huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng.
Ông có chân trong nhóm Tự Lực văn đoàn và là cây
bút nòng cốt của nhóm. Nhóm Tự Lực văn đoàn gồm có: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu, Trần Tiêu. Khái Hưng viết nhiều trên hai tờ tuần báo Phong hoá, Ngày nay do
nhóm chủ trương biên tập. Ông chuyên viết truyện ngắn, truyện dài. Ngoài ra,
Khái Hưng cũng là một dịch giả.
Tác phẩm của Khái Hưng thường đề cao tình yêu tự
do, chống lại các lễ giáo phong kiến, ít nhiều mang tính cải cách xã hội. Khái
Hưng cũng có viết một số vở kịch, thường chỉ một hồi, nhưng ít được công diễn.
Trong những năm 1935 đến 1940, Khái Hưng là nhà văn được nhiều thanh niên thành
thị ưa chuộng.
Trong các tác phẩm của Khái Hưng cho thấy ông có
ba phần: Tiểu thuyết, Truyện ngắn, Kịch và một số bài thơ đăng trên báo Phong
Hóa, mà sung mãn nhất là tiểu thuyết. Từ lâu nay các nhà phê bình văn học
ai cũng cho rằng tiểu thuyết là bộ môn sở trường và cũng sắc sảo nhất so với
các tiểu thuyết gia khác.
- Truyện dài: Hồn
bướm mơ tiên, Trống mái, Gia Đình, Nưa chừng xuân, Đợi chờ, Thoát ly, Tiêu
sơn tráng sĩ.
- Tập truyện ngắn: Dọc
đường gió bụi, Tiếng suối reo...
- Các tác phẩm của
ông viết chung với Nhất Linh: Gánh hàng hoa, Đời mưa gió, Anh phải sống.
Ông cũng có sáng tác tập kịch thơ Tục lụy.
Có thời gian ông tham gia vào các đảng phái
chính trị chủ trương chống Pháp, nhưng thất bại trong đường lối và sách lược
của mình. Giới thức giả, chú ý đến ông là qua các công trình văn học, tác phẩm
của ông có chỗ đứng sáng giá trong văn học chữ Quốc ngữ vào thời hiện đại.
Nửa chừng xuân là một tiểu thuyết luận
đề trình bày cuộc xung đột giữa hai phái mới và cũ về vấn đề tự do kết hôn. Kết
thúc tạm thời là sự thắng thế của phái cũ (Bà Án) và thái độ cao thượng của
phái mới (Mai và Lộc) nguyện “vì người khác mà hi sinh ái tình cùng hạnh phúc”.
“Nhân vật chính của cuốn truyện là Mai, con một
nhà nho (cụ Tú Lãm) khảng khái, khoáng đạt. Cha chết đi thì của cải cũng khánh
kiệt. Mai phải lo tiền ăn học cho em trai là Huy đang học năm thứ 3 trường
Trung học Bảo hộ. Trên một chuyến xe lửa, nàng tình cờ gặp Lộc là con một vị
quan, bạn cũ của cha nàng. Lộc say mê cái đẹp dịu dàng của Mai nên tìm cách
giúp đỡ nàng. Hai người yêu nhau. Lộc rủ Mai lên Hà Nội thuê nhà chung sống với
Huy. Nhưng bà Án, mẹ Lộc, không cho phép chàng chính thức hóa cuộc hôn nhân
vụng trộm. Bà tìm cách lợi dụng tính đa nghi của con trai để đuổi Mai đi trong
khi nàng đã có thai... Hai chị em ra đi thì gặp được một người đàn bà bình dân
(bà Cán) tận tình giúp đỡ. Nàng vui lòng chịu khổ làm nghề bán hàng quà để có
tiền nuôi em và nuôi con. Tuy giận Lộc, nàng vẫn một lòng thủ tiết. Trong khi
Huy bịnh, nàng còn được một gái giang hồ (Diên) tỏ lòng thương yêu. Nàng khước
từ lời xin lập gia đình của một bác sĩ (Minh) đã hết lòng chữa cho em khỏi
bệnh, và của họa sĩ Bạch Hải đã thuê nàng làm mẫu trong một thời gian.
Sau khi đỗ bằng Cao đẳng tiểu học. Huy được bổ
làm giáo học tại Phú Thọ, Mai cùng em, con trai (Ái) và người lão bộc trung
thành (ông Hạnh) sống một cuộc đời bình thản. Nàng cố quên người cũ. Về phần
Lộc, chàng mắc mưu li gián của mẹ, vui lòng lấy con một vị tuần phủ rồi đi làm
tri huyện. Nhưng vợ chàng đẻ được hai đứa con gái đều chết cả. Bà Án lo lắng đi
lễ chùa, bói quẻ thẻ bà xin được nối đường tử tức của con bà. Bà hỏi chuyện Lộc
về Mai. Sau khi dò hỏi, Lộc mới được biết nàng vẫn một lòng giữ “tiết sạch giá
trong” và hiện đương sống với em. Bà Án tới Phú Thọ định bắt cháu về nhưng
không được. Lộc viết thơ xin lỗi Mai. Hai người gặp nhau, Mai vẫn còn yêu Lộc
nhưng nhất định khước từ cuộc tái hợp. Nàng bày tỏ cho chàng một quan niệm nhân
sinh lí tưởng: hi sinh ái tình và hạnh phúc riêng cho kẻ khác, cho xã hội. Lộc
vui vẻ hứa sẽ cách mạng đời sống theo quan niệm cao đẹp của nàng”.
Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Khái Hưng, như người ta
đã thấy, là một nhà tiểu thuyết có biệt tài. Ông xét tâm lí phụ nữ Việt Nam rất
đúng, ông lại để tâm đến việc cải cách những hủ tục trong gia đình Việt Nam nên
những tiểu thuyết phong tục của ông đều là những tiểu thuyết có giá trị. Phần
đông thanh niên trí thức Việt Nam là những độc giả trung thành, trong số ấy,
phụ nữ chiếm số nhiều hơn cả. Trước kia người ta thấy ông viết một giọng văn
bay bướm, bây giờ ông viết một lối thật bình dị, thật sáng suốt, rất thích hợp
với những ý tưởng chín chắn của một tiểu thuyết gia có nhiều lịch duyệt” Theo Tri thức Việt






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét