Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Có một bến Tầm Dương trong thi ca

Có một bến Tầm Dương trong thi ca
Lê Từ Hiển
Không biết còn bài viết nào hay hơn không về bến Tầm Dương?. Tôi đã đọc bài viết này của thầy Lê Tử Hiển chằng nhớ bao nhiêu lần, mỗi lần đều để lại trong lòng tôi một cảm xúc khó tả. Đúng là “…Hàng hàng gấm thiêu” (Nguyễn Du)

Tôi quyết định lấy câu thơ của Lâm Nghĩa Đường trong bài viết này làm câu Slogan cho trang web của mình. Chi bằng giới thiệu để bạn đọc tự cảm nhận.
1. Ngọn nguồn khơi bến Tầm Dương

Không thể kể hết những địa danh Đường thi đi về trong thi ca. Có khi chỉ một tên riêng mà gọi hồn nghìn xưa trỗi dậy. ”Có phải A Phòng hay Cô Tô” (Xuân Diệu). Những Chương Đài, Hoàng Hạc, Xích Bích…Song có sức vang vọng kỳ diệu hơn cả là Tầm Dương. Tầm Dương đã thoát thai khỏi một địa danh cụ thể mà hòa thành muôn vạn Tầm Dương của lòng người.
Những địa danh trên vốn là những thắng cảnh.Nhưng sự bất hủ chủ yếu gắn với một bài thơ, một người thơ . Xích Bích trở nên mênh mang cảm hoài qua những dòng phú bay bổng của Tô Đông Pha. Bến Phong Kiều, thành Cô Tô, chùa Hàn San mãi mãi mơ màng sương khói dưới ngòi bút Tương Kế.Lầu Hoàng Hạc chỉ trở thành lầu Hoàng Hạc khi Thôi Hiệu đề thơ để rồi sống mãi cùng mây trắng ngàn năm…Những cuộc gặp gỡ tưởng chỉ tình cờ,khoảng khắc vậy thôi mà hóa thành miên viễn.
Tầm Dương vốn là một khúc sông Trường Giang chảy qua địa phận huyện Tầm Dương, phía bắc thành phố Cữu Giang (nay thuộc tĩnh Giang Tây-Trung Quốc) Hữu duyên..thiên lý ngộ,bên bến sông kia,”ai tri âm đó mặn mà với ai“.Đạm đạm trường thanh thuỷ-Du du viễn khách tình(Vi Thừa Khánh). Một bên là chàng Tư mã Giang Châu - nhà thơ tài hoa bị biếm trích-và một bên là nàng ca nữ tài sắc bị xã hội rẻ rúng…mà làm nên danh tác Tỳ bà hành lưu danh thiên cổ. Tiếng đàn vang bến Tầm Dương giao thoa nỗi lòng hồng nhan bạc mệnh-tài tử đa truân vang khúc dạo đầu “Tầm Dương giang đầu hạ tống khách” (bến Tầm Dương canh khuya đưa khách)…và Tầm Dương với sắc đỏ lá phong,sắc vàng hoa lau,hơi thu xào xạc đã trở thành nơi gợi nhớ những gì thật đẹp,thật huyền diệu mà cũng thật buồn ! Cái đẹp của mùa thu,đàn-trăng-nước hội tụ.Cái buồn của tài-tình lận đận gặp nhau”một lứa bên trời“. Tất cả phổ vào một khúc Tỳ bà để rồi âm vang mãi.
2. Sông thơ trôi chảy, Tầm Dương nao lòng…
Thật vậy, Tỳ bà hành là nơi gặp gỡ của cảnh tình diệu viễn nghìn năm phương Đông.Bốn mùa đẹp nhất là thu. Khoảng khắc đời người không gì buồn bằng ly biệt. Vật cảm ở thiên nhiên không gì bằng trăng, ở nhạc không gì bằng đàn. Mênh mang sâu thẳm không gì bằng nước. Trăng-nước phát lộ tính chất lạnh của đàn. Trăng in đáy nước hiện hồn trăng,Đàn loang sóng nước hiện hồn đàn.Trăng-đàn tương giao thành huyền diệu.Chưa có thuyết tương giao của chủ nghĩa tượng trưng,người xưa đã nhận ra mối liên quan giữa ánh trăng và âm
thanh,kiểu”Trống Tràng thành lung lay bóng nguyệt“Sau này Hàn Mặc Tử viết”Tôi bấm một đường tơ ?. Nghĩa là rung rinh một luồng ánh sáng“. Trong Tỳ bà hành, bản nhạc đạt đến chổ màu nhiệm khi đàn-trăng-nước hợp nhất:
Đông thuyền tây phảng tiễn vô ngôn
Duy kiến giang tâm thu nguyệt bạch
(Thuyền mấy lá đông tây lạnh ngắt
Một vầng trăng trong vắt lòng sông)
Xuân Diệu đã nắm bắt được tinh thần của Tỳ bà hành mà làm nên một khúcNguyệt cầm-Đây là một kiệt tác của Xuân Diệu–một thứ “siêu thơ” theo cách nói của Thanh Thảo-kết tinh từ mối giao duyên giữa tượng trưng thơ Pháp và tượng trưng Đường thi. Ngay từ câu đầu tiên Xuân Diệu đã cho trăng đàn nhập vào nhau:”Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh“. Cung đàn chầm chậm đi vào lòng người, sau khoảng khắc “rung mình” đã đạt đến cao trào (ở khổ thứ ba) - Đàn bộc lộ bản chất nước, đi đến chổ sâu nhất của hồn người.
Đêm lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời
Đàn ghê như nước,lạnh,trời ơi
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận
Trăng nhớ Tầm Dương,nhạc nhớ người.
Từ một Nguyệt cầm-thơ, người nhạc sĩ lãng mạn tài hoa Cung Tiến phổ nên một Nguyệt cầm - nhạc du dương. Không chỉ với Cung Tiến. Cả một dòng nhạc tiền chiến “thoát thai từ Đường thi” (Phạm Duy), với những giai điệu đầy thơ mộng mô típ đàn-trăng-nước thấp thoáng bóng dáng một bến Tầm Dương thủa nào. Theo dòng nhạc buông lơi người nghe có khi bồng bềnh trên một dòng sông thu sương khói.
Đêm nay thu sang cùng heo may
Đêm nay sương lam mờ chân mây
Thuyền ai lơ lững trôi xuôi dòng
Như oán thương ai chùng tơ lòng.
(Con thuyền không bến - Đặng Thế Phong)
Có khi lặng lẽ chuồi theo dòng xúc cảm trong một chiều đầy thơ và mộng:
Một chiều xưa mây nước chưa thành thơ
Trầm trầm không gian mới rung thành tơ
Một tiếng chim rơi theo gió mơ hồ
Vang tiếng cầm ca thu tới bao giờ.
(Trương Chi-Văn Cao)
Dù không nhắc đến Tầm Dương,nhưng cái mơ màng kia chẳng phải gọi hồn Tầm Dương thủa trước?. Chưa nói đến khi nghe một cung đàn,chạnh lòng bởi những thanh âm chậm, buồn sâu lắng, thì đàn kia bổng hiện dáng tỳ:
Cung đàn nhỏ lệ Tầm Dương
Ai đó tri âm hững hờ
(Tiếng xưa - Dương Thiệu Tước)
Dù là nơi cái đẹp hội tụ-thăng hoa, nhưng Tầm Dương sẽ không làm xao động lòng người đến vậy nếu không có những giọt lệ ngậm ngùi áo xanh Tư mã.Giọt lệ thương mình,thương người-những kiếp tài hoa bạc mệnh. Đấy cũng là tiếng thơ cảm thương cho thân phận kỳ nữ: ”Một đêm đàn lạnh trên sông Huế - Ôi nhớ thương hoài vạt áo xanh“ (Văn Cao). Người kỳ nữ phả vào cung đàn cả cuộc đời bất hạnh. Bạch Cư Dị luân lạc mà cảm nhận được chổ sâu sắc nhất của đàn. Cuộc bình thuỷ(bèo-nước) tương phùng bổng chốc thành tri âm, tri kỷ.
Những kiếp tài tình xưa nay đều đeo sẵn trong mình mệnh bạc,để gặp mình trong một kiếp Tư mã Giang Châu. Cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Du với nàng ca kỷ thành Thăng Long tái diễn lại cảnh ngộ Tầm Dương thủa nào. Cũng người phụ nữ một thủa phong lưu tuyệt đỉnh,bây giờ chỉ còn lại hình dung tiều tuỵ võ vàng. ”Nỗi niềm xưa tưởng mà đau“. Nguyễn Du thấy trong số phận riêng tây cả bao biến thiên đau khổ của đời.
Thành quách suy di nhân sự cải
Kỷ xứ tang điền bến thương hải
Tây Sơn công nghiệp tận tiêu vong
Ca vũ không đi nhất nhân tại
(Cuộc thương hải tang điền thấm thoát - Cõi nhân gian thành quách đổi dời - Tây Sơn cơ nghiệp đâu rồi - Mà làng ca vũ một người còn trơ). Trước cảnh ấy,tình ấy,ông đau lòng việc cũ mà lệ thấm áo. Phải đâu ”khéo dư nước mắt...”tự chuốc lấy nỗi oan phong vận. Long Thành cầm giả ca là bài thơ mang nặng tâm sự và “con mắt nhìn thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ đến ngàn đời” Nguyễn Du.
Một Vũ Hoàng Chương quay quắt trong bi kịch đời mình,đến Đà Giang mà nhớ Tầm Dương ”Đâu đó Tầm Dương sầu lắng đợi - Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ” (Đà Giang). Một Phùng Quán lăn lóc với đời cơm áo,trong cơn say bổng thấy mình là chàng Tư mã “Ta Bạch Cư Dị - Khách bến Tầm Dương-Tư mã Nghi Tàm - Lệ đầm áo rách - Câu thơ bị biếm -Mềm môi ngâm tràn”(say)…Xoè bàn tay nhân loại mịt mù những đường chỉ ngang dọc,có bàn tay nào giống bàn tay nào. Ai vay kiếp con tằm rút ruột mình nhả tơ mà nhận lấy nỗi đau đứt ruột?. Giọt nước mắt rơi sóng sánh biển nhân sinh. Chỉ làm một gợn sóng giữa bình thản thờ ơ cõi thế. Bản chất của văn chương chỉ vây.
3. Gió đầu dòng mưa cuối chữ Tầm Dương
Các nhà lý luận thường xem xét vấn đề “trên bình diện ảnh hưởng những gì…và ảnh hưởng như thế nào…”để xem xét, phân loại,đánh giá các bến Tầm Dương trên dòng sông thơ Việt.Thực ra ảnh hưởng đích thực bao giờ chẳng phụ thuộc vào chủ thể tiếp nhận, tấm lòng tiếp nhận và sự sáng tạo muôn màu. Tầm Dương nhiều khi chỉ là cái duyên cớ, sự gặp gỡ trên một số phương diện…mơ hồ như một âm giai thứ vang vọng hồn người trên dòng sông thương cảm riêng lòng…Thật khó lấy lý trí phổ quát mà đánh giá lý lẽ riêng của cảm xúc con tim. Và ngược lai,ta tiếp nhận cung đàn Tầm Dương vang vọng kia,trước hết,ở tiếng nói đồng cảm tri âm “Cùng người một hội một thuyền”. Muốn có hai câu thiên cổ danh cú (câu nổi tiếng ngàn năm) khiến người rơi nước mắt “Cùng một lứa bên trời lận đận - Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau” phải có bao lớp trầm tích cảm xúc lắng sâu tự lòng mà thăng hoa trong cảnh ngộ ngoài ý thức chủ quan.
Dễ gì có được một bến Tầm Dương riêng mình nếu lòng không giăng con nước!. Con nước chờ ngày con nước hát. Tiếng hát buồn tự thanh lọc những bi thương. Một Nguyễn Công Trứ vịnh Tỳ bà theo thể ca trù” Chiếc thuyền luống đi về trong bóng nguyệt“ dù chỉ để hát cô đầu chơi, nhưng cũng là một cách chơi ngông của riêng ông, “Tài tử với giai nhân là nợ sẵn“. Cách chơi của con người đa tài - đa tình lắm nỗi thăng trầm “Nhân sinh bất hành lạc - Thiên tuế diệc vi thương“ (Người mà không hành lạc - Dẫu sống ngàn năm cũng như chết non) hẳn có một bến Tầm Dương thoát kiếp, khẳng định con người cá nhân tự do tự biểu hiện và đã trước bạ thể hát nói vào lịch sử văn học. Một Chu Mạnh Trinh ưu tư,đồng cảm “Cho hay danh sĩ với giai nhân cùng một kiếp hoa duyên nặng nợ” mà đau lòng lặng lẽ “Giống đa tình luống những sầu chung,giọt lệ Tầm Dương chan chứa“. Cảm hứng trữ tình bi thiết lọc từ máu mình ngân nhạc bút tài hoa, chứ nào phải “Cái tình đồng loại nhạt nhẽo giữa danh sĩ và giai nhân”.
Trai tài - gái sắc là chuyện muôn đời. Con tạo triêu ngươi cũng là chuyện muôn đời. Nhưng màu sắc thương cảm cung đàn vô thanh là chuyện riêng lòng khoảnh khắc hóa mây trôi. Dẫu mựơn Tầm Dương như một “phương tiện thể hiện ước muốn truy hoan”, nhưng tài tình cũng đọng máu trong lời than của Vũ Hoàng Chương “Niềm giang hồ tan tác lệ. Giang Châu“. Ai một chiều qua bến sông trăng, ”Thuyền mơ bến nơi đâu“. Thương người hay thương mình mãi “kiếp cầm ca” dang dở,trong nụ cười buồn tan con sóng vỗ hắt hiu của nữ sĩ Ngân Giang “Bến Tầm Dương trăng nước một con thuyền,ngán tình ca nữ“…
Đến Xuân Diệu với niềm khao khát giao cảm “Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi“thì bến Tầm Dương kia đã ra “biển lớn”.Nói như Phạm Văn Diêu “Tất cả như đều đã sống trong cái ám ảnh thanh cao tế nhị và kỳ diệu trong áng thơ Tỳ bà hành vậy”. Muôn đời,nói như Lâm Ngữ Đường, ”Một chữ Tình để duy trì thế giới,một chữ Tài để tô điểm càn khôn”. Tài-Tình để khiến trời hờn đất ghen. Nên mang mang tựa bến Tầm Dương.Bến Tầm Dương - bến cảm thương, bến hội tụ cái Đẹp mỏng manh “Hoa phi hoa…” bến Biệt ly - níu giữ…Sông cứ trôi,hoa cứ rơi,đậu bến vô thanh, âm thầm không vọng tiếng. Kiếp người dỡ dang,đời người mấy ai trọn vẹn.Đời buồn tênh như lỡ một cung đàn. Đưa người trên sông thu…ngày ấy thuyền lẻ khách, như tự đưa mình. Rượu Tầm Dương uống mãi chẳng say-Khói sóng nào hiu hắt não nề thay (Bạch Cư Dị - Thu giang tống khách). Chẳng có con nước nào trong tiếng đàn nhạt,ánh trăng suông. Ai chẳng khao khát một bến Tầm Dương tao ngộ,tương tri,đồng cảm.Mang sẵn trong tâm hồn chút thanh âm, tình ý Tỳ bà-Dòng sông đời thoáng neo đậu bến Tầm Dương.
Cung đàn Tầm Dương long lanh lệ. Bao nhiêu bến sông đã chìm trong sương khói thời gian?. Cuộc sống hiện đại mang màu sắc phương Tây ồn ào hối hả,bao dòng sông đã cạn trong trái tin người?. Đôi khi,nửa đêm chợt tĩnh, hồn Phương Đông thao thức bóng trăng im. Lại thấy bảng lảng “Sông lau lách - Nhạc đìu hiu lệ cũ - Gió đầu dòng mưa cuối chữ Tầm Dương” (Lê Đạt)
Lê Từ Hiển

Và đây XL giới thiệu:
Tỳ Bà Hành
Tác giả: Bạch Cư Dị

Tầm dương giang đầu dạ tống khách

Phong diệp dịch hoa thu sắt sắt
Chủ nhân há mã khách tại thuyền
Cử tửu dục ẩm vô quản huyền
Túy bất thành hoan, thảm tương biệt
Bi
ệt thời mang mang giang tẩm nguyệt
H
ốt văn thủy thượng tỳ bà thanh
Ch
ủ nhân vong qui, khách bất phát
Tầm thanh ám vấn đàn giả thùy ?
Tỳ bà thanh đình d
ục ngữ trì
Di thuy
ền tương cận yêu tương kiến
Thiêm t
ửu hồi đăng trùng khai yến
Thiên hô vạn hoán thủy xuất lai
Do bão tỳ bà bán già di
ện
Chuy
ển trục bát huyền tam lưỡng thanh
V
ị thành khúc điệu, tiên hữu tình
Huyền huyền yểm ức, thanh thanh tứ
T
ự tố bình sinh bất đắc chí
Đê mi tín th
ủ tục tục đàn
Thuy
ết tận tâm trung vô hạn sự
Khinh lung mạn nhiên mạt phục khiêu
S
ơ vi ” Nghê thường” hậu “Lục yêu”
Đ
ại huyền tào tào như cấp vũ
Ti
ểu huyền thiết thiết như tư ngữ
Tao tao thiết thiết thác tạp đàn
Đ
ại châu tiểu châu lạc ngọc bàn
Gian quan oanh ng
ữ hoa để hoạt
U y
ết tuyền lưu thủy hạ than
Thủy tuyền lãnh sáp huyền ngưng tuyệt
Ng
ưng tuyệt bất thông thanh tạm yết
Bi
ệt hữu u sầu ám hận sinh
Th
ử thời vô thanh thắng hữu thanh
Ngân bình sạ phá thủy tương bỉnh
Thi
ết kỵ đột xuất đao thương minh
Khúc chung thu bát đ
ương tâm hoạch
T
ứ huyền nhất thanh như liệt bạch
Đông thuy
ền tây phảng tiễu vô ngôn
Duy ki
ến giang tâm thu nguyệt bạch
Trầm ngâm phóng bát sáp huyền trung
Ch
ỉnh đốn y thường khởi liễm dung
T
ự ngôn: ” Bản thị kinh thành nữ ,
Gia t
ại Hà mô lăng hạ trú
Th
ập tam học đắc tỳ bà thành
Danh thu
ộc giáo phường đệ nhất bộ
Khúc băi t
ằng giao Thiện tài phục
Trang thành m
ỗi bị Thu nương đố
Ngũ Lăng niên thi
ếu tranh triền đầu
Nh
ất khúc hồng tiêu bất tri số
Đi
ền đầu ngân tì kích tiết toái
Huy
ết sắc la quần phiên tửu ố
Kim niên hoan ti
ếu phục minh niên
Thu nguy
ệt xuân phong đẳng nhàn độ
Đ
ệ tẩu tùng quân, a di tử
M
ộ khứ triêu lai nhan sắc cố
Môn ti
ền lănh lạc xa mă hi
Lão đ
ại giá tác thương nhân phụ
Th
ương nhân trọng lợi, khinh biệt ly
Ti
ền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ
Kh
ứ lại giang khẩu thủ không thuyền
Nhi
ễu thuyền nguyệt minh giang thủy hàn
D
ạ thâm hốt mộng thiếu niên sự
M
ộng đề trang lệ hồng lan can ”
Ngă văn tỳ bà dĩ thán tức
H
ựu văn thử ngữ trùng tức tức
Đ
ồng thị thiên nhai luân lạc nhân
T
ương phùng hà tất tằng tương thức

“Ngã tằng khứ niên từ đế kinh
Trích c
ư ngọa bệnh Tầm Dương thành
T
ầm dương địa tịch vô âm nhạc
Chung tu
ế bất văn ty trúc thanh
Trú c
ận Bồn giang địa đê thấp
Hoàng lô kh
ổ trúc nhiễu trạch sinh
Kỳ gian đán m
ộ văn hà vật
Đỗ quyên đề huyết viên ai minh
Xuân giang hoa triêu thu nguy
ệt dạ
Văng văng th
ủ tửu hoàn độc khuynh
Kh
ởi vô sơn ca dữ thôn địch
Ẩu á trào triết nan vi thính
Kim d
ạ văn quân Tỳ bà ngữ
Nh
ư thính tiên nhạc nhĩ tạm minh
M
ạc từ cánh tọa đàn nhất khúc
V
ị quân phiên tác tỳ bà hành”
Cảm ngã thử ngôn lương cửu lập
Kh
ước tọa xúc huyền huyền chuyển cấp
Thê thê b
ất tự hướng tiền thanh
Măn t
ọa trùng văn giai yểm khấp
T
ọa trung khấp hạ thùy tối đa ?
Giang châu t
ư mã thanh sam thấp !
Dịch thơ:

B
ến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Qu
ạnh hơi thu , lau lách đìu hiu
Ng
ười xuống ngựa, khách dừng chèo
Chén quỳnh mong c
ạn, nhớ chiều trúc ti
Say những luống ngại khi chia rẽ
N
ước mênh mông đượm vẻ gương trong
Đàn ai nghe v
ẳng bên sông
Ch
ủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá ?
D
ừng dây tơ nấn nà làm thinh
Đ
ời thuyền ghé lại thăm tình
Chong đèn, thêm r
ượu, còn dành tiệc vui
Mời mọc măi, thấy người bỡ ngỡ
Tay ôm đàn che n
ửa mặt hoa
V
ặn đàn mấy tiếng dạo qua
D
ẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay
Nghe não ruột mấy dây buồn bực
D
ường than niềm tấm tức bấy lâu
Mày chau tay g
ẩy khúc sầu
Gi
ải bày hết nỗi trước sau muôn vàn
Ngón buông, bắt khoan khoan dìu dặt
Tr
ước Nghê Thường, sau thoắt Lục Yêu
Dây to nh
ường đổ mưa rào
N
ỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng
Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy
Mâm ng
ọc đâu bỗng nẩy hạt châu
Trong hoa oanh ríu rít nhau
N
ước tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh
Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt
Ng
ừng đứt nên phút bật tiếng tơ
Ôm s
ầu, mang giận ngẩn ngơ
Ti
ếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước
Ng
ựa sắt giong, xô xát tiếng đao
Cung đàn tr
ọn khúc thanh tao
Ti
ếng buông xé lụa , lựa vào bốn dây
Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt
M
ột vầng trăng trong vắt lòng sông
Ng
ậm ngùi đàn bát xếp xong
Áo xiêm khép nép h
ầu mong giãi lời
Rằng “xưa vốn là người kẻ chợ
C
ồn Hà Mô trú ở lân la
H
ọc đàn từ thuở mười ba
Giáo ph
ường đệ nhất sổ đà chép tên
Gă Thiện tài sợ phen dừng khúc
Ả Thu nương ghen lúc điểm tô
Ngũ Lăng chàng tr
ẻ ganh đua
Bi
ết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn
Vành lược bạc gãy tan nhịp gõ
B
ức quần hồng hoen ố rượu oi
Năm năm l
ần lữa vui cười
M
ải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu
Buồn em trảy lại lo dì thác
S
ầu hôm mai đổi khác hình dung
C
ửa ngoài xe ngựa vắng không
Thân già m
ới kết duyên cùng khách thương
Khách trọng lợi, khinh đường ly cách
M
ải buôn chè sớm tếch nguồn khơi
Thuy
ền không, đậu bến mặc ai
Quanh thuy
ền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng
Đêm khua, sực nhớ vòng tuổi trẻ
Ch
ợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen
Nghe đàn ta đã ch
ạnh buồn
L
ại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời

Cùng một lứa bên trời lận đận
G
ặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau
T
ừ xa Kinh khuyết bấy lâu
T
ầm dương đất trích gối sầu hôm mai
Chốn cùng tịch lấy ai vui thích
Tai ch
ẳng nghe đàn địch cả năm
Sông B
ồn gần chốn cát lầm
Lau vàng, trúc v
ơ, âm thầm quanh hiên
Tiếng chi đó nghe liền sớm tối
Cu
ốc kêu sầu, vượn hót véo von
Hoa xuân n
ở, nguyệt thu tròn
L
ần lần tay chuốc chén son ngập ngừng
Há chẳng có ca rừng, địch nội ?
Gi
ọng líu lo, buồn nỗi khó nghe
Tỳ bà nghe d
ạo canh khuya
D
ường như tiên nhạc gần kề bên tai
Hãy ngồi lại gẩy chơi khúc nữa
S
ẽ vì nàng soạn sửa bài ca ”
Đ
ứng lâu dường cảm lời ta
L
ại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây
Nghe não ruột khác tay đàn trước
Kh
ắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
L
ệ ai chan chứa hơn người ?
Giang Châu t
ư mã đượm mùi áo xanh
(Bản dịch : Phan Huy Vinh)
Tỳ Bà Hành

Đêm đưa khách bến Tầm dương,

Gió thu san sạt lá vàng bông lau
Người xuống ngựa, khách đón chào,
Rượu kèo mời uống có đâu sáo đàn
Chén suông ngán nỗi hợp tan,
Trăng sông man mác, ch
ứa chan nỗi lòng
Ti
ếng tì chợt vẳng trên sông,
Ch
ủ quên trở lại, khách không vội về
Lần tìm sẽ hỏi ai kia,
Ti
ếng đàn nín bặt, người e ngỏ lời
Ghé thuy
ền đến cạnh chào mời,
Khêu đèn thêm r
ượu, lại bày tiệc hoa
Nằn nì mời mãi mới ra,
Ôm đàn che n
ửa, mặt hoa thẫn thờ
Ướm dây vặn trục dạo qua,
Ch
ưa thành khúc điệu, thiết tha hữu tình
Đắn đo, nắn nót, rõ rành
D
ường như tố cáo bình sinh nỗi buồn
Dang tay cúi m
ặt gảy luôn,
Xi
ết bao tâm sự như tuôn mạch sầu
Tiếng đàn đi tựa thấp cao,
Nghê Th
ường vừa dứt, lại vào Lục yêu
Dây to s
ầm sập mưa dào,
N
ỉ non dây nhỏ, thì thào nỗi tây
Nhặt thưa réo rắt mấy dây,
H
ạt châu to nhỏ rơi đầy trên mâm
Trong hoa ríu rít oanh ngâm,
Cu
ối ghềnh nước suối réo ngầm bãi khơi
Tiếng đàn, suối lạnh không trôi,
Không trôi ng
ập ngừng, tạm thôi nhịp nhàng
L
ắng nghe sầu oán ngổn ngang,
B
ấy giờ lặng lẽ, lại càng hay hơn
Nước tuôn bình bạc vỡ tan,
Giáo g
ươm thiết kỵ tiếng ran rợn người
Khúc xong g
ảy một tiếng dài,
B
ốn dây một tiếng như ai xé là
Đông tây thuyền lặng như tờ,
Gi
ữa sông bóng sáng thẫn thờ gương nga
Trên dây cày móng ng
ẩn ngơ,
Dung y ch
ỉnh đốn, đứng xa phân trình
Kể rằng xưa ở kinh thành,
Hà Mô lăng
ấy gần quanh là nhà,
H
ọc đàn từ thửa mười ba,
Giáo ph
ường đệ nhất, tiếng đà đồn xa
Thiện tài phục ngón tỳ bà,

Thu n
ương tấm tức, khi đà giồi trau
Ngũ lăng tu
ổi trẻ đua nhau,
Đàn xong m
ột khúc biết bao khăn điều
Lược trăm gõ nhịp gãy nhiều,
Chén m
ời, giọt rượu quần điều ố hoen
Năm qua năm l
ại bao phen,
Xuân thu trăng gió đã quen vui v
ầy
Nỗi buồn dì chết em đày,
S
ớm chiều thấm thoắt, mặt mày kém xuân
Ng
ựa xe lẻ tẻ trước sân,
V
ề già lấy một thương nhân bạn bè
Trọng tài lợi, nhẹ biệt ly,
Phu l
ương tháng trước chồng đi buôn chè
M
ột mình nấp bóng chiếc ghe,
Quanh thuy
ền nước lạnh trăng kề vẩn vơ
Đêm qua mộng thấy chuyện xưa,
L
ệ rơi tầm tã, mắt mờ đỏ hoen
Ti
ếng tì đã gợi nỗi phiền,
L
ại nghe mụ nói, chẳng yên nỗi lòng
Cùng nhau góc bể long đong,
G
ặp nhau lọ phải đã cùng quen nhau
Đ
ế kinh từ biệt bấy lâu,
T
ầm Dương bị chích lại đau bấy chầy
Có đâu âm nhạc chốn này,
Su
ốt năm tơ trúc chẳng ngày nào nghe
B
ến Bồn đất thấp ở kề,
Lau vàng trúc c
ỗi bao vi bốn bề
Sớm chiều nghe tiếng vật gì
Cu
ốc kêu vượn hú, ùa bi đêm ngày,
Xuân thu hoa nguy
ệt khoả khuây,
Th
ường thường chuốc chén lại say một mình,
Ca rừng sáo nội đã đành,
Liu lo ríu rít nào mình có hay
Tì bà gi
ọng ấy đêm nay,
Nghe nh
ư tiên nhạc bên tai rach ròi.
Gảy thêm khúc nữa hãy ngồi,
Tì bà hành s
ẽ vì ai đặt thành
C
ảm lời, đứng lúc lặng thinh,
L
ại ngồi lựa ngón, lanh lanh gảy bài
Véo von khác trước một hồi,
Nh
ững người ngồi đó lệ rơi ngắn dài
Khóc nhi
ều hơn cả là ai
Giang Châu t
ư mã đẫm mùi áo xanh.
Bản dịch: Trần Trọng Kim



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Lại nói về Ba Tàu và Các Chú T rong một bài viết, "Cớ sao gọi người Trung Quốc là "Tàu"!" đăng trên website báo Ngườ...