Giáo án cuộc đời có ai soạn được không?
Đọc thơ Nguyễn Thị Thanh Long tôi có cảm giác "người đàn
bà độc hành trên đường đời mải miết" này luôn tiềm ẩn một cơn bão
"khát" - khát lạc yêu, lạc lối, lạc ngõ, khát lạc lái, lạc mùa, lạc cả
hương... Tự khi nào người đồng hương đa đoan, đa cảm của tôi tự biến mình thành
bức tượng "bên ô cửa đếm ngày qua", đôi khi cào cấu, giận hờn, tha thẩn
"gom lá vàng ký ức xếp đầy ngăn"? Hỡi ôi, "hạnh phúc vuông
tròn", "khát khao một cuộc đời - bình thường giản dị - như bao người
đàn bà khác", dẫu là "nụ khát khao tiềm ẩn", với chị sao mà mong
manh làm vậy. Ở đây, từ "khát" bị vận hành thái quá mà xem chừng người
thơ vẫn không... đã khát! "Đêm đặc quánh mầm khát khao nứt nụ";
"con sóng nào dỗi hờn - Xô nhau về bờ khát". Khát tới mức chẳng cần
giữ gìn: "Người đàn bà trong tôi - lõa lồ - bản thể". Hình tượng thơ
táo bạo gióng lên một tiếng kêu buông thả. Cuộc chia lìa hạnh phúc như một lát
cắt phũ phàng ngấm vào từng chữ trong thơ chị: Ngày đăng ký kết hôn - Lồng
tên nhau chữ ký - Chữ ký giờ vẻn vẹn - Tên riêng của mỗi
người.
Đó là kết cục tất yếu của hai con tim không biết điều. Một
cái gì đó rất linh thiêng liêng bỗng bị giằng dứt ra khỏi hai cơ thể, không còn
cơ đăng nhập. Người viết bài này cũng bị lây cái đau mất mát! Nguyễn Thị Thanh
Long đã nói thay tâm trạng ấy của biết bao cặp vợ chồng sau ly hôn. "Cha
có người đàn bà khác - Đêm tàn đêm - Gối chăn phờ phạc - Trà bỏng môi ta, ngọt
lịm môi người". Tâm sự của chị gửi các con nghe cay đắng tận cùng và
cũng là sự bao dung vô hạn của lòng mẹ trước "đường đời biết bao vực thẳm"
mà các con chị đang trải. Là người vợ độ lượng mỗi khi nói với các con về nửa
kia đã mất của mình chị vẫn không quên nhắc lại kỷ niệm về "chiếc chăm êm
đềm" mà cha mẹ đã đắp chung một dạo. Giáo án cuộc đời khó soạn lắm, người
thơ ơi! Cái cảm giác bị rơi vào trạng thái không trọng lượng "vấp một lần
rồi sõng xoài bậu cửa", thôi đành "ngược dòng tôi vớt bơ vơ"
cũng đã xảy đến. Chữ "sõng xoãi", nói về ánh trăng, rất hay, là của
thi sĩ họ Hàn (Mạc Tử), còn "vớt bơ vơ" mới là tài hoa của nhà thơ
gái họ Nguyễn làng Dòng. Lần này, "tại người lỗi hẹn nên trời đổ
mưa"; lần sau thì "chỉ tại cơn gió". Tại gì thì cũng tại lòng
mình cả thôi. Tôi ưa những câu thơ phảng phất phong vị con gái như thế.
Biết rằng, là đàn bà mà làm thơ là "tự giam mình vào ngục
thất" nhưng chị vẫn tìm đến với thơ và mượn thơ làm phương tiện chuyển tải
những thông điệp của "trái tim máu tướp" không phương thuốc chữa trị
và cũng là để giải tỏa cơn khát đang ứ tràn một cơ thể sung mãn. Từ "đàn
bà" lặp đi lặp lại trong thơ chị như điệp khúc buồn cặp kè với một thái độ
phản kháng thực tại yếu ớt. Tôi hiểu, chị phải trăn trở nhiều lắm trong việc
tìm một hướng đổi mới tư duy thơ, chí ít cũng là để tránh bị cớm bởi cái bóng
thơ đồng nghiệp bằng cách gắng khai thác triệt để những tình huống của riêng
mình, đôi khi rất thật, cốt sao đưa lại cho bạn đọc những cách tiếp nhận không
giống nhau. Nảy sinh từ đó những ý thơ lạ và không ít câu thơ độc đáo.
Tình yêu với chị là thứ "tình yêu gầy tự chít khăn
tang". Gặp Đà Lạt thấy "Gió đưa lời báo bão", ấy là khoảnh
khắc "Bỗng dưng đến rồi anh đi - đi mãi - Vẹn nguyên buồn trước vực
hoàng hôn", đến "khói thuốc cũng ơ hờ lạnh lẽo". Khi
"hạnh phúc - bay theo - tờ lịch mỏng" thì biết bao giờ "em vơi nỗi
nhớ - Trong mơ hồ văng ngược tiếng chuông rơi". Đã tự nguyện làm
"muôn con sóng vá lành biển khơi" mà vẫn phải "cho em mượn bờ
vai - Để nỗi buồn gầy guộc được gục vào". Trung du, quê chị,
nơi tán "cọ xòe xanh in nhớ xuống tháng ngày" cũng không
giúp chị giải mã được được cơn khát. Chị sợ quá nhiều thứ nhưng sợ nhất vẫn là
sự vô cảm. Ghen với "đồi cát khỏa thân", nao lòng vì "vườn cô
đơn - gieo mầm ngang trái" hoặc vì khi mải xếp chữ "... quên xếp chữ tình".
Trung du có người "Anh", một hình tượng xuất hiện
khá đậm nét trong thơ chị, thực đấy mà hư đấy, rốt cuộc chỉ làm người đàn bà
làng đồi đơn côi khát thêm, để rồi lại dại dột "dùng tim mình viết những vần
thơ - dỗ sự thực rêu xanh - không dỗ được lòng mình - Đêm vỡ" và "bản
ngã đàn bà" đã không thắng được "những trang sờn hoen ký ức
đàn ông". Phải vậy chăng mà chị phải mượn thơ văn xuôi để tỏ rõ thêm chính
kiến: "Hạnh phúc ư? Như liều thuốc an thần, uống rồi chỉ ru ngủ được tấm
thân. Còn phần hồn như thoát ra khỏi xác". Nếu "Hoang sơ vườn con
gái" là bài thơ có tứ lạ - con gái đi xa trở về tắm cho người mẹ đã nhiều
năm ốm liệt giường bỗng phát hiện ra vẻ đẹp thời gian trần trụi trên cơ thể mẹ
khiến chị càng thương mẹ hơn lúc nào hết thì bài "Hợp pháp" giúp bạn
đọc nhận thức được một khía cạnh khác trong sự trống rỗng hạnh phúc: Người vợ lộng
lẫy một bà hoàng, ông chồng là "mẫu đàn ông thành đạt" nhưng đó là
cái mẽ ngoài, thực tế, họ chỉ là hai khối thịt bảnh bao đặt bên cạnh nhau khi hồn
đã lìa khỏi xác! Thơ Nguyễn Thị Thanh Long là thế! Dễ đọc, dễ vào. Nhỏ nhẹ, da
diết về mình, nhân hậu, đau đáu về đời. Còn những bài thơ, câu thơ "ngoài
mình" của chị thường là kém hiệu quả về cả ý tưởng lẫn câu, chữ.
Nửa vòng tay là tên một bài thơ cũng là tên chung cho tập
thơ mới xuất bản. Bài Xin trả lại người khép lại tập thứ hai này. Cả
hai đều lấy cảnh và người trung du làm nền cảm xúc. "Sợ tiễn anh rồi em
khóc đấy - Trung du - nợ mãi nửa vòng tay". Ứng xử kiểu con gái mà! Tôi đã
gọi điện vào TP. Hồ Chí Minh cho tác giả: "Còn nửa vòng tay kia sao không
khép nốt lại?" Giọng chị ấm áp qua điện thoại đường dài: "Nếu vậy thì
không còn thơ nữa!"
Nguyễn Văn Toại

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét