Gió cũng như thơ, có thể vượt ra ngoài ngữ
pháp…
Chất cổ kính và chất
mới mẻ trong thơ Nguyễn
Thanh Mừng đã hòa quyện hữu cơ vào nhau, không tách bạch và không tạo
ra những ốc đảo thơ biệt lập, nó là một dòng chảy hài hòa, xuyên suốt từ xưa đến
sau, nhịp nhàng và thuyết phục trong thơ anh…
Thi sĩ thời nào mà lại chả
ngông, không kể đến những bậc “ tiên tửu” như Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản
Đà, Trần Huyền Trân, Bùi Giáng…; chỉ ngay trước mắt ta thôi, cái ngông của
thi sĩ thời nay cũng vẫn có gì đáng được nể trọng lắm chứ! Được cầm trong tay tập
bản thảo mới của nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng “Ngữ pháp gió”, tôi đã
nghĩ ngay rằng đây là một tập thơ ngông, một cái ngông đủ sang trọng, lại hồn
nhiên, đáng yêu và hoàn toàn chấp nhận được ở thời chúng ta đang sống! Nhà thơ
chỉ vừa ngửa cổ uống một trái dừa ở trước những tòa tháp cổ thôi mà giọng đã rất
ngông, hơn cả khi tu cạn be rượu tràn đầy chuếnh choáng:
“… ngửa đầu uống một kinh
thành
nét mày Phật Thệ vừa thanh
thản cười,
giang tay viết giữa mây trời
câu thơ hào sảng tặng người
hào hoa!”…
(Uống nước dừa bên tháp Vijaya)
Chỉ say nước dừa Bình Định
thôi khi được uống cạn trong đó hình bóng tháp Vijaya, nét mày Phật Thệ và cả
bóng dáng kinh thành Chăm Pa xưa cũ, thứ “rượu dừa đặc sản” đó đậm chất Bình Định
làm sao và cũng đậm đà chất thơ Nguyễn Thanh Mừng làm sao!. Và khi đã bước vào
khung trời và không gian thơ của Nguyễn Thanh Mừng, chúng ta dễ dàng chấp nhận
thứ “ ngữ pháp gió” huyền ảo của thơ anh, nó cho phép ta chỉ cần khơi gợi,
chỉ cần nói tắt bằng những ký hiệu ngôn từ giản dị là đã đủ mở ra cả một không
gian suy tưởng rộng dài trong đó:
“Rằng từ sỏi đá sim mua
Mẹ tôi đã xếp nắng mưa thành
làng…”
Hai câu mở đầu bài thơ “Bên sườn núi” đó cũng mở đầu cho cả tập thơ, chỉ với 14 âm tiết đã gợi bao
suy tưởng về sự hình thành những làng quê nghèo miền Trung, từ sỏi đá sim mua với
dài dặc nắng mưa trong cuộc đời lam lũ chai sần, liên miên đánh vật với đất với
trời, để tạo dựng nên xóm, nên làng, có đồng lúa, có vườn cây, có ao cá, có hơi
người ấm áp… từ biết bao thế hệ các bà mẹ của chúng ta. Những liên tưởng đầy đặn
như gió chạy ùa qua khe hở vừa được khơi gợi nên từ những con chữ đơn sơ, đã
cho ta thấy trọn những gì mà các cụ ta xưa hay gọi là “ ý tại ngôn ngoại” của
thơ. Toàn bộ các bài trong “Ngữ pháp gió” đều được cấu tạo hầu như theo cách
khơi gợi ấy, nó là một thứ ngữ pháp ở ngoài ngữ pháp, một kiểu liên tưởng đậm
chất thi sĩ chỉ có thể khám phá trọn vẹn khi cộng hưởng cùng cảm xúc. Tôi thích
giọng thơ hàm súc giàu liên tưởng ấy và còn muốn nói thêm rằng, hình như phải
nhờ đến sức cuốn hút ma mị của thể thơ lục bát kỳ diệu thì giọng thơ ấy
mới thật đắc địa, sức liên tưởng ấy mới thật sự dễ bề thăng hoa.
Để làm nên thứ thơ như thứ
rượu dừa say người ấy, nhà thơ không cần khoe sự khôn ngoan, kinh lịch, trái lại
anh chỉ thích trở về những gì thật hồn nhiên, mộc mạc, đến mức tưởng như dại khờ: “Trái
sim chín dại chín khờ/ Người thơ ngây trẻ đã thơ ngây già!”. Ai biết được,
đấy là một câu tự hào hay cũng tự diễu cợt?
Bìa tập thơ Ngữ pháp
gió của Nguyễn Thanh Mừng
Nói vậy mà chưa hẳn vậy - lại
cũng là một kiểu nói tưởng như rất hồn nhiên, buông thả thế thôi, nhưng nghĩ lại
không phải là không ẩn dấu nhiều ngậm ngùi nhân thế bất chợt, nó khiến ta
bỗng chạnh lòng vì cái vẻ bên ngoài, tưởng chừng quá ngây thơ và cũng “quá nhu
mì” của nó:
“Tôi và em chầm chậm đi
cùng muôn khoai lúa nhu mì
dưới mưa,
nhu mì bên cõi sau xưa
nhu mì cả giữa cái chưa nhu
mì!”
(Dưới mưa)
Cái cách nói tưng tửng và ít
lộ gì ra ngoài ấy đôi lúc khiến ta giật mình. Ví dụ như nhà thơ đã
kể rất giản dị và vắn tắt về việc anh nhặt được một trái dừa, anh chưa kịp uống
bèn vùi xuống bên đường để dành tạm đấy. Anh quên đi, và bao năm sau quay lại,
quả dừa vùi dưới đất đã mọc thành cây – chi tiết này không biết có nên tin
không – nhưng nó đã tạo được một câu thơ có sức liên tưởng sâu xa:
“Bao năm quay lại chốn này
lặng nhìn kiệt tác lỡ tay mà
thành!”
Câu thơ ngỡ chừng vụng dại,
ngu ngơ mà bỗng hóa ra rất triết lý!. Ưu thế của “Ngữ pháp gió” đã cho Nguyễn
Thanh Mừng có được cách nói giả bộ ngu ngơ, tuyệt vời khiêm tốn như thế mà lại
cũng không thua kém phần ngông ngạo:
“Thưa tôi gié lúa Rồng Tiên
bước chân Giao Chỉ dạt bên
Chiêm Thành,
sông Hồng ướt áo tàn canh
ngàn năm thấm tháp ngọn
ngành chửa khô
Tôi về gõ cửa muôn xưa
một vong bản phía tiễn đưa
nghìn trùng
một rồ dại giữa anh hùng
một vô danh giữa chập chùng
tuổi tên…”
Đấy là lời tự sự cho “Một
đêm Xuân Hà Nội” của anh, một lời tự sự mà bất cứ người Hà Nội gốc nào
cũng sẵn sàng sẻ chia, cảm thông và trân trọng!
Khi về đến quê hương Nguyễn
Trãi và Nguyễn Thị Lộ, nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng còn có những câu thơ tưởng
cũng ngu ngơ cứ như không, mà khiến ta phải nổi gai người. Tôi nhớ trong một
bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có một câu cũng làm tôi gai người lên như thế,
đó là câu “ Những ngày buồn rủ tóc âm u / Nghe tiền thân về chào tiếng
lạ…”. Nhạc sĩ trong phút giây cảm thông thảng thốt với đất với trời, với
mình và với cả cái vô cùng vô tận của thiên nhiên, đã chợt nghĩ, biết đâu tiếng
dế kêu ri rỉ, tiếng ễnh ương ộp oạp, tiếng chim giẽ giun lách chách trong lùm
cây trước mặt lại chẳng là tiếng của tiền kiếp gọi mình!. Còn Nguyễn Thanh Mừng
thì viết: “Cá chim tráo kiếp anh hùng” - tưởng như kiếp sau của những
người anh hùng, liệt nữ…bị tru di tam tộc ấy, chưa thể nào kịp trở lại làm người
được, đã hóa thân vào kiếp các sinh vật khác. Và không chỉ là cá là chim, họ
còn như con rùa con hạc đội đèn, đội giá thờ… trong đền trong chùa. Và 4 câu
thơ cuối của bài Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ có cái vẻ an phận thật
đau xót:
binh thư đã cũ, trận tiền đã
xưa,
non sông duyên hạc phận rùa
thương nhau gánh miễu gánh
chùa tặng nhau!”
Sức liên tưởng trong “Ngữ
pháp gió” đôi lúc lặng lẽ đến cam chịu như thế, nhưng là một sức nén mang đến sự
bùng nổ. Có nhiều chỗ, cái “ lò xo nén” trong thơ Nguyễn Thanh Mừng làm bùng dậy
khí phách xa xưa thật thú vị,cái hào khí kiểu hiệp sĩ, tưởng chỉ có ở thời
trung đại, biết đâu vẫn còn nóng hổi đến giờ:
“Tôi cầm một nắm đêm tàn
ném vào thành lũy bàng hoàng
cung đao
qua truông mượn gió để chào
mượn đôi cánh én gọi hào kiệt
bay”…
Hay một biến tấu khác khi ngồi
với chén rượu ngả nghiêng bên phế tích:
“Mượn thềm phế tích chiều
rơi
thả vào dâu bể ánh cười phù
du…
ừ mình cũng thích làm vua
sông chưa đến lũ bỗng thừa
con đê!”
Chất cổ kính và chất mới mẻ
trong thơ Nguyễn Thanh Mừng đã hòa quyện hữu cơ vào nhau, không tách bạch và
không tạo ra những ốc đảo thơ biệt lập, nó là một dòng chảy hài hòa, xuyên suốt
từ xưa đến sau, nhịp nhàng và thuyết phục trong thơ anh, và đã có ngay từ những
câu thơ từng xuất hiện trong tập “Ngàn xưa”, in từ cuối thế kỷ trước mà đến
nay nhiều người vẫn nhớ:
“Muốn vo nếp gặp Lang Liêu
muốn trồng dưa gặp mái chèo
An Tiêm
muốn dâng đốt sáo nỗi niềm
ngang trời giăng một bóng
thuyền Trương Chi ”…
Hoặc:
“Nghe đồn vua xứ Chà Bàn
dâng miền Ô Lý rước nàng vu
quy,
tôi mang rượu đến biên thùy
hắt lên mây trắng biệt ly cả
cười…”
Đó không chỉ là tấm lòng “
lân sắc lân tài” với công chúa Huyền Trân trong sử sách, đó là tấm lòng say mê
và ngưỡng mộ Cái Đẹp Vĩnh Cửu và Tình Người Cao Cả, ngay cả hôm nay cũng rất cần
thiết trong thơ. Nguyễn Thanh Mừng đã chứng tỏ được với chúng ta điều quý giá
đó của tấm lòng anh, của chất thi sĩ đích thực trong anh, qua những tập thơ mê
đắm âm điệu và tiết tấu lục bát huyền diệu của anh. Sau nhà thơ Đồng Đức Bốn
khoảng hơn một chục năm về trước (mà tôi cũng đã có dịp giới thiệu về tài làm
thơ lục bát của anh, nay đã quá cố), tôi lại tìm ra được niềm tin vững chắc, rằng
nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng hôm nay, là một trong các nhà thơ hiếm hoi của chúng
ta, hội đủ khả năng để chuyển tải thành công tâm hồn phong phú và tinh tế của
mình đến với đông đảo công chúng yêu thơ, chỉ bằng một bệ phóng Thơ giản dị - một
bệ phóng chuyên dụng mà hiệu nghiệm, xưa cũ mà hiện đại -, đó chính là thể
thơ lục bát.
Bằng Việt



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét